Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
phần 15
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập
43
Xin xem tiếp phần khai
thị của thiền sư Trung Phong, tức phần khai
thị trong thời thứ nhất.
Chỉ nhân tối sơ bất
giác, hốt nhĩ động tâm, nhận vọng vi chân, mê
kỷ trục vật. Do thị nghiệp vơng khiên
triền, lưu chuyển ngũ đạo. Hằng tùy sanh
tử dĩ thăng trầm, cắng cổ chí kim nhi
mị gián.
只因最初不覺。忽爾動心。認妄為真。迷己逐物。由是業網牽纏。流轉五道。恆隨生死以升沉。亙古至今而靡間。
(Chỉ v́ thoạt đầu
bất giác, đột nhiên động tâm, tưởng
vọng là chân, mê mất bản thân, chạy theo vật
dục. Do vậy, lưới nghiệp quấn
trói, lưu chuyển trong năm đường. Luôn thăng
trầm theo sanh tử, suốt từ xưa đến
tận nay chưa hề gián đoạn).
Chúng ta đọc đến
đoạn này. Trong phần trước, thiền sư
dạy chúng ta về chân tướng sự thật của
Pháp Tánh và nghiệp quả; đồng thời lại
giảng: Pháp Tánh linh minh trạm tịch, không ǵ chẳng
có, ai nấy sẵn đủ. Chúng tôi nói: Nơi hoàn
cảnh y báo, đặc biệt là tại thực vật và
khoáng vật [Pháp Tánh ấy cũng thể hiện sự
linh minh trạm tịch]; trên thực tế, điều rơ
ràng nhất là thân thể chúng ta cũng là y báo, v́ sao? Thân
thể là cái được hiện, cái được
biến, so với núi, sông, đại địa, cây
cối, hoa cỏ bên ngoài là vật chất, th́ vật
chất nơi thân thể và vật chất bên ngoài không khác
ǵ nhau. Kinh Kim Cang nói tới “nhất
hiệp tướng” chính là đă giảng rất rơ,
rất minh bạch.
Nếu nói theo học thuật hiện tại
th́ “nhất” là lạp
tử cơ bản. Tất cả hết thảy vật
chất đều do những hạt này hợp thành.
Nhưng lạp tử cơ bản rốt cuộc là ǵ
vậy? Hiện thời, [khoa học] chưa phát hiện
được, vẫn khó nói lắm. Nay
khoa học đă phát hiện điện tử, nguyên
tử, lạp tử; lạp tử có c̣n chia chẻ ra
được nữa hay không? Trên mặt lư luận th́ sự
chia chẻ ấy vĩnh viễn bất tận, nhưng
trên thực tế, khoa học kỹ thuật mới
chỉ đạt đến mức độ này:
Hiện thời, vật chất nhỏ nhất
được phát hiện được gán cho cái tên là “khoa-khắc” (quark)[1].
C̣n có thể tách nó ra nhỏ hơn nữa được
không? Các nhà khoa học chẳng dám quyết đoán. V́ sao?
Khoa học kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Trên
mặt lư luận, đương nhiên là có thể chia
nhỏ được. Những thứ này đều là các
thứ được hiện, được biến,
đúng là “cá cá bất vô, nhân nhân
bổn cụ” (không ǵ chẳng có, ai nấy sẵn
đủ).
Vật thể dù nhỏ
đến đâu, cho dù nó là căn bản của hết
thảy vạn vật trong toàn thể vũ trụ, tức
là hết thảy vạn vật đều do nó hợp
thành, th́ nó vẫn có Pháp Tánh. Phải biết điều
này: Nó có Pháp Tánh. Pháp Tánh trạm nhiên, chẳng biến
đổi mảy may. Vậy th́ rốt cuộc cái ǵ đă
biến đổi chúng ta? Trong kinh Lăng Nghiêm có một
đoạn Văn Thù Bồ Tát giảng rất khéo, tức
là trong phần Tuyển Trạch Viên Thông (chọn lựa pháp
Viên Thông), Ngài đă nói:
Giác
hải tánh trừng viên,
Viên
trừng giác nguyên diệu,
Nguyên minh
chiếu sanh sở,
Sở
lập chiếu tánh vong.
(Tánh biển giác trong lặng, viên măn,
Tánh giác
tṛn lặng vốn mầu nhiệm,
Tánh
nguyên minh chiếu, sanh ra Sở,
Sở
đă lập, tánh chiếu liền mất[2]).
Đây là nói: Vô minh do đâu mà khởi?
Cũng là do vọng tưởng. Vọng tưởng khởi
lên như thế nào? Cũng chính trong kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật đă giảng rất rơ ràng, rất minh
bạch [như thế này]:
Tôn
giả Phú Lâu Na hỏi đức Thế Tôn: “V́ sao lại
có vọng tưởng? Vọng tưởng khi nào sanh?” Vọng
tưởng ấy là vô minh căn bản. Đức Thế
Tôn đáp rất hay: “Đó là
do một niệm vọng giác”. Chúng ta phải chú ư
chữ “vọng”. Vọng (妄) là không thật, nhưng vọng là do mê
chân mà sanh ra, quư vị chẳng thể nói là nó không có,
cũng chẳng thể nói nó là có. Đức Thế Tôn nói:
“Tri kiến lập tri, thị
vô minh bổn” (Từ nơi tri kiến, lại lập
ra một cái biết nữa th́ đó là cái gốc của vô
minh)[3].
Lời giảng của Văn Thù Bồ Tát có cùng ư nghĩa
với lời Phật dạy: “Nguyên
minh chiếu sanh sở” tức là đối với “tri
kiến” (tức đức năng sẵn có của tâm tánh)
lập ra [quan niệm hư vọng] ta có thấy biết
(kinh gọi quan điểm hư vọng ấy là “lập tri”). “Sở lập, chiếu tánh vong” chính là gốc
của vô minh. Lập thành cái biết! Không thể lập! Phật
pháp Đại Thừa thường nói: “Nhất pháp bất lập” (một pháp chẳng
lập), hễ lập một pháp là mê, một pháp chẳng
lập sẽ rất tự tại. Một pháp không lập
th́ quư vị hoàn toàn nhất trí với Pháp Tánh, cùng một
Thể, một Tướng, một Lực Dụng với
Pháp Tánh. Đấy chính là chư Phật Như Lai,
đắc đại tự tại, vô chướng, vô
ngại, nhập pháp giới vô chướng ngại,
cảnh giới vô chướng ngại. Quyết
định chẳng thể lập, hễ lập là
hỏng!
V́ thế, Bồ Tát nói “sở lập, chiếu tánh vong” (do có quan niệm
hư vọng về “tri
kiến” (ta biết, ta thấy) được thành lập,
nên phải có cái được biết, cái được
thấy h́nh thành. Những đối tượng [được
biết, được thấy, được cảm nhận]
ấy gọi là Sở. Sở đă có th́ thành ra đối
đăi, cho nên tánh Chiếu, hay c̣n gọi là linh tri bị mất
đi). Tánh của Chiếu là linh tri, linh minh trạm tịch.
[Do đă có Năng và Sở đối ứng với công năng
Chiếu chân thật trong tánh] nên “linh minh trạm tịch” (tức
đức năng sẵn có chân thường của tánh, không
hề bị sai lệch bởi vọng tưởng) bèn bị
mất đi, sanh ra những biến đổi[4].
Giống như thí nghiệm nước kết tinh vậy,
nó sanh ra những biến đổi không đúng đắn,
b́nh thường. Nếu đúng đắn, b́nh thường
th́ phải đẹp đẽ tột bậc, xinh đẹp
chẳng thiếu khuyết mảy may. Một niệm của
chúng ta vừa dấy động, nước bèn sanh ra
những biến hóa. Dẫu [những biến hóa ấy] vẫn
rất đẹp đẽ, nhưng so với sự
đẹp đẽ vốn có đă bị sai khác rất
lớn. Càng mê sâu hơn, càng biến thành xấu xí hơn. Pháp
Tánh tùy duyên mà!
Hễ mê là xong rồi, “mê vọng hữu hư không”
(do mê vọng nên có hư không), Văn Thù Bồ Tát giảng
như vậy đấy. Hư không từ đâu mà có? Do mê
vọng mà có. “Y không lập
thế giới” (nương vào hư không tạo thành
thế giới), thế giới do đâu mà có? Thế
giới từ trong Không mà sanh ra. Không là Vô, vô trung sanh
hữu, sanh ra thế giới. “Tưởng
trừng thành quốc độ” (Tưởng lắng
đọng thành cơi nước); Tưởng (想) ở đây là vọng tưởng,
vọng tưởng ngưng tụ biến thành vật
chất. Vật chất là ǵ? Nói theo cách bây giờ, vật
chất là do tinh thần ngưng tụ, biến thành.
Vật chất là tinh thần; vật chất chính là Pháp
Tánh đang được nói đến ở đây. Pháp
Tánh ở tại đâu? Vật chất là Pháp Tánh, [vọng
tưởng] ngưng tụ bèn biến thành Pháp Tánh, vô tướng
biến thành hữu tướng; do đó, Có là do Không mà có.
Dù hiện tướng, biến thành vật chất, nhưng
bản năng (những năng lực, đức năng
sẵn có) của Pháp Tánh không bị mất đi, vĩnh
viễn chẳng bị hư mất. Bản năng
của Pháp Tánh là ǵ? Chính là linh tri! Kinh Đại Thừa
gọi linh tri là thấy - nghe - hay - biết! Bởi
vậy, thứ ǵ cũng đều có thấy - nghe - hay -
biết!
Trên thân thể của chúng ta,
nay ta gọi là tế bào (tế bào hăy c̣n lớn lắm), chẳng
biết có bao nhiêu tế bào (theo thuật ngữ Phật
pháp là “vi trần” và Cực Vi Vi), Cực Vi Vi[5]
ngưng tụ thành tế bào. Mắt thịt của chúng ta
không thể thấy được Cực Vi Vi, nói thật
ra, chúng ta cũng không hiểu được, nhưng
rất nhiều Cực Vi Vi nhóm lại một chỗ sẽ
h́nh thành một tế bào. Chúng ta có thể thấy và hiểu
tế bào. Tế bào có linh tánh hay không? Có chứ! Nó có
thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có
thể biết, quư vị phải khéo đối đăi nó.
Thế nào là khéo đối đăi? Tâm
thiện! Tế bào thuận theo ư niệm. Trong kinh
Đại Thừa, đức Phật thường nói: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng
sanh” (Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh), “tướng tùy tâm chuyển” (tướng
chuyển theo tâm), “nhược
năng chuyển vật, tắc đồng Như Lai” (nếu
chuyển được vật th́ giống với Như
Lai). Những câu nói này hết sức quan trọng! Chỉ
cần quư vị nắm được những câu này, sẽ
thực sự hiểu rơ, thực
sự biết dùng. Tâm thiện, tư tưởng
thiện, ngôn ngữ và hành vi đều thiện th́ tất
cả tế bào trên toàn thân sẽ phản ứng đúng
mực. Chúng ta thường nói là “thực sự hiểu
được đạo dưỡng sanh”! Tuổi cao
cũng không sao, vẫn có thể phản lăo hoàn
đồng. Có thực sự làm được như vậy
hay chăng? Thực sự được! Quư vị đă
hiểu th́ sẽ dùng tâm tưởng để khôi phục
tất cả những khí quan và tế bào trên thân thể ḥng
trở lại tuổi trẻ, khôi phục sự b́nh
ổn, khôi phục sức khỏe, về lư vốn là
như vậy. Nếu không hiểu th́ sao? Không hiểu th́
chính ḿnh tàn hại chính ḿnh mà thôi! Tàn hại như thế nào?
Suốt ngày từ sáng đến tối khởi vọng
tưởng, tâm bất thiện, tư tưởng bất
thiện, hành vi bất thiện, tự ḿnh tàn hại ḿnh,
tự ḿnh hủy diệt thân thể của chính ḿnh!
Tôi chỉ giảng tới
đây thôi, không giảng thêm nữa, càng giảng mọi
người càng không hiểu, sợ rằng càng nghe càng mê
thêm. Tôi nói đến đây, nếu quư vị lănh hội
được sẽ rất có ích. Lời khai thị này
hay lắm! Ngài Trung Phong là bậc tái lai, trọn chẳng
phải là phàm nhân. Trong đoạn văn này, Ngài khai
thị v́ đâu chúng ta thành ra nông nỗi này:
“Chỉ
nhân tối sơ bất giác” (chỉ do thoạt
đầu bất giác): “Tối
sơ” là thời gian nào? Đừng hỏi ai khác,
nếu hỏi ai khác lại càng khởi vọng
tưởng! Nếu quư vị đi t́m coi “tối sơ” là
lúc nào th́ trong vọng tưởng lại tăng thêm
vọng tưởng; chẳng thể chuyển biến
vọng tưởng, chẳng thể hóa giải. Nói
thật ra, thưa cùng quư vị, thời gian là giả, không
thật! Giáo pháp Đại Thừa nói thời gian không có
khởi đầu, mà cũng không có kết thúc. Nếu nói
có khởi đầu, có kết thúc th́ là thật, không c̣n
giả nữa. Do vậy, nói thời gian chẳng có
khởi đầu chẳng có kết thúc th́ nó là giả,
không thật. Đầu cũng vậy, mà cuối cũng vậy,
thảy đều là nhất niệm. Thế nhưng
rất ít ai hiểu được chân tướng sự
thật, những điều này đều là chân
tướng sự thật.
“Tối
sơ bất giác” là một niệm hiện tiền
bất giác. Cổ nhân nói “tối
sơ nhất niệm bất giác”, nói “tối sơ” cũng rất hợp lư. Chúng ta
không hiểu lời này, cứ tưởng “tối sơ” là quá khứ, quá khứ xa xôi hơn
nữa, hiểu lầm mất rồi! Chẳng hiểu ư
của người ta! “Tối
sơ” là lúc thoạt đầu của một niệm, lúc
thoạt đầu của một niệm hiện
tiền. Cái “tối sơ”
ấy khoảng chừng một phần ức vạn giây,
hoặc một phần ức ức vạn giây, không có cách
ǵ nhận biết được. Đó là một niệm
bất giác. Bất giác là ǵ? Chính là quư vị động,
tức tâm quư vị động vậy.
Nếu quư vị nh́n vào tự
tánh th́ Pháp Tánh của tự tánh là trạm nhiên,
trạm
nhiên là bất động. Trong phần trên, [thiền sư
Trung Phong] đă giảng: “Vô
sanh giả, tức chư Phật tịch diệt chi bổn
dă” (Vô sanh là tâm tánh tịch diệt của chư Phật),
tịch diệt là bất động, đó là Pháp Tánh.
Vốn bất động, bất động là thật. Nếu
quư vị động th́ động là vọng. Động
gọi là “vọng động”.
Sự động ấy cực kỳ vi tế,
đừng nói là bọn phàm phu chúng ta không nhận biết
được, ngay cả bậc Đại Thừa
Bồ Tát từ Thất Địa trở xuống cũng
chẳng thể biết được, Bát Địa
mới cảm nhận được. Vừa động
tí ti, Bát Địa Bồ Tát nhận biết liền. Bát
Địa Bồ Tát được gọi là Bất
Động Địa là v́ “động” dù cực kỳ vi
tế Ngài vẫn cảm nhận được; thoạt
động liền biết ngay. Đến Quả
Địa Như Lai mới thực sự là tịch
diệt, hoàn toàn bất động, khôi phục bất
động. Toàn thể đại dụng (tác dụng to lớn)
của Tánh Đức hiện tiền viên măn, cảnh
giới trong quả địa Như Lai mà! Đẳng Giác
Bồ Tát vẫn c̣n một phẩm sanh tướng vô minh,
cực kỳ vi tế, toàn thể đại dụng
vẫn c̣n thiếu một phần. Do vậy, chúng ta bèn hiểu
rơ: Chư Phật, Bồ Tát dạy con người tu hành
tám vạn bốn ngàn pháp môn hay vô lượng pháp môn là tu ǵ
vậy? Tu bất động!
Trong phần trên, khi giảng kinh Di
Đà, chúng ta thấy danh hiệu của chư Phật
nhằm biểu thị pháp. Vị Phật thứ nhất
ở phương Đông trong chư Phật sáu
phương là Bất Động Phật. Vừa mở đầu
đă hiển thị: Bất Động là chân, c̣n
Động là vọng. A Súc Bệ Phật là Bất
Động Phật; v́ sao quư vị phải khởi tâm
động niệm trong hết thảy cảnh giới?
Đây chính là nguyên nhân khiến quư vị đọa
lạc, luân hồi, khiến cho cả đời này nơi
nào quư vị cũng gặp chướng ngại.
Chướng ngại do đâu mà có? Là v́ quư vị
động. Nếu quư vị bất động, sẽ
không có chướng ngại. Chúng ta thấy v́ sao Pháp Thân
Bồ Tát, chư Phật Như Lai trong Hoa Tạng, trong thế
giới Cực Lạc đều là pháp giới không
chướng ngại; Lư vô ngại, Sự vô ngại, Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại? Pháp giới
vốn không chướng ngại là v́ lẽ nào? Là v́ không
động tâm, không động niệm. Cớ sao ḿnh
lại động niệm?
Như vậy, nói tới khởi tâm
động niệm th́ khởi tâm động niệm là vô
minh, tức vô thỉ vô minh. Quư vị có hiểu “vô thỉ”
nghĩa là ǵ hay không? Chư Phật, Bồ Tát dạy cho
chúng ta biết chân tướng sự thật của vũ
trụ, trọn chẳng gây khó dễ, hoàn toàn không đàm
huyền thuyết diệu, không nói những ǵ chúng ta chẳng
hiểu. Nếu không, làm sao gọi là “từ bi” cho
được? Các Ngài giảng rất rơ ràng, minh bạch,
lại c̣n giảng hết sức nông cạn, dễ
hiểu. Nói “vô thỉ vô minh”
tức là không có khởi đầu, cái khởi tâm
động niệm hiện tiền của quư vị có
khởi đầu hay chăng? Nếu hiện tại quư
vị chẳng khởi tâm động niệm th́ quư vị đă thành Phật
rồi, Sự Sự vô
ngại
mà!
“Bất
giác” là khởi tâm động niệm, giác tâm bất
động, vô minh vọng động, cho nên vừa
động bèn bất giác. Giống như nước, dùng
nước làm tỷ dụ cho quư vị dễ hiểu.
Nước đứng lặng th́ mặt nước không
có một tí sóng gợn nào, mặt nước giống
như một tấm gương, bất động! Lúc
ấy, nó sẽ in bóng cảnh giới bên ngoài rất rơ
ràng. Giác là giác chiếu, rơ ràng rành rẽ. Nếu
động th́ nước vừa động bèn gợn
sóng, tuy gợn sóng nước vẫn có thể chiếu,
nhưng chiếu không rơ ràng, mê rồi! Do vậy, chúng ta cúng
dường Phật, Bồ Tát th́ vật cúng dường
quan trọng nhất là ǵ? Chính là một chén nước. Tôi
thường dạy người khác: Chén đựng
nước cúng Phật tốt nhất là chén pha lê; nay có
người dùng chén bằng thủy tinh cũng rất
tốt, nó trong suốt, quư vị thấy rất rơ ràng.
Hăy học bất động như
nước, học thanh tịnh như nước, không ô
nhiễm mảy may, không lay động mảy may, đó là
Phật! Phàm phu và Phật khác biệt ở chỗ này. Tâm
phàm phu động, tâm phàm phu nhiễm ô, nay chúng ta gọi sự
nhiễm ô ấy là “tâm ghi ấn tượng”. Trong tâm
họ có tham - sân - si - mạn; có những thứ ấy là
nhiễm ô. Trong chân tâm không có những thứ ấy, không có
tự tư tự lợi, không có danh văn, lợi dưỡng,
không có tham - sân - si - mạn, không có ghen ghét, đố
kỵ. Những thứ ấy đều là hư vọng.
Nói rốt ráo nhất, trong chân tâm không khởi tâm
động niệm, không phân biệt, chấp trước.
Phân biệt chấp trước, khởi tâm động
niệm là vọng tâm. Tâm thủy vừa gợn sóng bèn
dậy gió cảnh giới, cảnh giới là hoàn cảnh
bên ngoài. Sáu căn của quư vị tiếp xúc cảnh
giới bên ngoài bèn bị động, vậy là xong rồi!
Phật, Bồ Tát cao minh, sáu
căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài giống như tấm
gương chiếu mọi vật, chiếu rất rơ ràng
rành rẽ. Gương quyết định không phân biệt,
quyết định không chấp trước, trong trẻo
hơn mọi thứ, chẳng mê hoặc chút nào, Huệ
đấy! Như Như bất động, đó là
Định! Định và Huệ đều đạt
đến viên măn rốt ráo, Định và Huệ là
một không hai. Định chính là Huệ, Huệ chính là
Định. Đấy chính là con người thật
của chúng ta, trong Tông môn gọi là “bản lai diện mục trước khi cha mẹ
sanh ra”; nó chính là con người thật của chúng ta.
Học Phật không có chi khác, chỉ là t́m cho ra, khôi
phục bản lai diện mục của chính ḿnh mà thôi.
Bản tánh trạm tịch là Căn
Bản Trí, bản tánh tịch chiếu là Hậu
Đắc Trí, không ǵ chẳng biết. Trạm tịch là
không biết, Bát Nhă không biết, giác chiếu là không ǵ chẳng
biết. Không ǵ chẳng biết nhưng tâm vẫn
định, nhất định chẳng khởi tâm
động niệm, nhất định không có phân
biệt, chấp trước. Chỉ cần quư vị
khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp
trước là xong, đọa lạc mất rồi, thành
phàm phu mất rồi. Bởi thế, “tối sơ bất giác” chỉ v́ bất giác tâm
bị động, không c̣n tịch nữa, “nhận vọng vi chân” (tưởng vọng là chân),
phiền phức ngay! Vọng là ǵ? Vọng là cái
được hiện, cái được biến. Coi cái
được hiện, được biến là thật;
không biết cái làm chủ thể biến hiện (năng
biến, năng hiện) mới là thật, cái
được hiện, được biến là hư
vọng, phiền toái rất lớn, “tưởng vọng là chân”.
“Mê kỷ
trục vật” (mê mất chính ḿnh, chạy theo vật
dục), Kỷ (己)
là chính ḿnh. Thế nào là chính ḿnh? Cái tâm năng hiện, cái
thức năng biến là chính ḿnh, tánh thức là chính ḿnh;
c̣n cái được hiện, được biến không
phải là chính ḿnh. Chúng tôi dùng những tỷ dụ thô
thiển để giảng giải: Thân thể của
chúng ta là chính ḿnh, y phục ta mặc không phải là chính
ḿnh. Y phục do chúng ta làm ra, tự ta mặc vào thân,
Phật pháp gọi nó là Ngă Sở (cái của ta). Thân là Ngă, vật
ngoại thân là Ngă Sở Hữu (cái mà ta có). Mọi
người biết rành chuyện này. Nay tôi bảo cùng quư
vị, thân ta cũng là Ngă Sở Hữu, cái có thể hiện,
có thể biến ra thân ta mới là Ngă. Nó không có h́nh
tướng, vô h́nh, vô tướng, nhưng thực sự
có, chẳng phải là không có. Phật pháp gọi nó là Chân
Tâm hay Bản Tánh; ngay cả hư không cũng do nó biến
hiện ra, hư không cũng là cái được hiện,
được biến.
“Mê
kỷ trục vật”: “Trục
vật” (chạy theo vật) là vọng tâm, không phải là
chân tâm. “Trục vật”
thường được hiểu là bị cảnh
giới chuyển, đó là phàm phu. Người giác ngộ
chuyển được cảnh giới. Ví dụ rơ ràng
nhất là thân thể của chúng ta, đối với
người thực sự giác ngộ th́ thân thể này
sẽ chuyển theo Pháp Tánh của chính ḿnh, chuyển
được vật! Chuyển theo Pháp Tánh th́ không những
thân thể này không già, không bệnh, hoàn toàn chẳng có sanh -
lăo - bệnh - tử, mà c̣n chẳng có những chuyện ba
khổ hay tám khổ! Đâu có những chuyện ấy!
Người thế gian có những nỗi khổ là v́
đâu? V́ bị cảnh giới xoay chuyển, không
chuyển được cảnh giới, đó là “mê kỷ trục vật” (mê
mất chính ḿnh, đuổi theo vật dục). Chuyển
không được cảnh giới th́ chắc chắn
bị cảnh giới chuyển, không có con đường
thứ ba. Chư Phật, Bồ Tát chuyển
được cảnh giới, lục đạo phàm phu
bị cảnh giới chuyển. V́ bị cảnh giới
chuyển nên mới có sanh - lăo - bệnh - tử, mới có
nào là Ái Biệt Ly (yêu thương mà phải chia ĺa),
Cầu Bất Đắc (cầu mong mà không được
thỏa ư), Oán Tắng Hội (chán ghét mà cứ phải gặp
gỡ), mới có những chuyện như thế. Hễ
bị cảnh giới chuyển th́ phiền phức lớn
lắm!
Bị cảnh giới
chuyển nhưng người ta cứ nghĩ ḿnh bị
mạng vận chuyển, tức là nói trên phương
diện hoàn cảnh th́ là “bị Phong Thủy chuyển”, quư
vị không có cách ǵ vượt thoát vận mạng, không có
cách ǵ vượt thoát Phong Thủy! Thế nhưng
người thực sự giác ngộ bèn có phước. Phước
ấy tuyệt đối chẳng phải là phước
như trong quan niệm thông thường của mọi
người. Chúng ta không nghĩ ra, không thể nghĩ bàn
được [loại phước ấy], v́ đó là [phước
của] người thực sự giác ngộ. V́ sao?
Người ấy chuyển được cảnh
giới; cho nên “phước
nhân cư phước địa, phước địa
phước nhân cư” (người có phước
sống nơi phước địa, phước
địa [ắt có] người có phước sống).
Người có phước ấy chuyển được
cảnh giới, người ấy đến sống
ở một nơi nào th́ núi, sông, đại địa,
phong thủy nơi ấy cũng chuyển theo tâm
người đó. Người ấy tâm thiện, tư
tưởng thiện, hành vi thiện th́ núi, sông, đại
địa không ǵ chẳng thiện, thảy đều
thành thiện. Quư vị chẳng tin ư? Thế giới Cực
Lạc chuyển như vậy đó, thế giới Hoa
Tạng chuyển như vậy đó!
Thật ra, Hoa Tạng và Cực
Lạc có khác ǵ địa cầu của chúng ta đâu!
Không khác ǵ hết! Chỗ nào Phật, Bồ Tát ở,
nơi đó thuần tịnh, thuần thiện. Do vậy,
núi, sông, đại địa, hết thảy vạn
vật, không thứ ǵ chẳng thuần thiện, thuần
tịnh. Cư dân trên quả địa cầu này tâm
bất thiện, tư tưởng bất thiện, hành vi
bất thiện, nên núi, sông, đại địa thảy
đều bất thiện; hiện tượng của
bất thiện là thiên tai, nhân họa. Trời cũng chẳng
giáng tai ương, người cũng chớ hề gây họa,
đều là do nghiệp bất thiện chiêu cảm nên [những
tai họa ấy] biến hiện ra, càng mê càng sâu hơn.
“Do
thị nghiệp vơng triền khiên” (do vậy,
lưới nghiệp quấn trói): Nghiệp do chính quư
vị tạo tác. Ngày nay quư vị tạo tác thiện
nghiệp, nhưng nói thật ra, [những thiện nghiệp
ấy] cũng chẳng phải là thiện nghiệp thực
sự. V́ sao? Cái thiện đó là thiện đối với
ác! Phật pháp nói đến “chân thiện, chí thiện” th́
chính là [nói tới] cái thiện nơi Pháp Tánh. Nay quư vị
đă mê mất Pháp Tánh, nói cách khác, là mê mất “chân
thiện, chí thiện”. Đă mê rồi th́ những cái
thiện trong tư tưởng và tâm tư quư vị hiện
thời chỉ là thiện tương đối, tức
là cái thiện trong ṿng Thiện - Ác. Thông thường, cái
thiện của người giác ngộ là Bản Thiện:
“Nhân chi sơ, tánh bản
thiện” (con người ban đầu tánh vốn lành).
Hết thảy chúng sanh b́nh đẳng, đúng như
đại sư đă giảng ở đây: “Cá cá bất vô, nhân nhân bổn cụ”
(Không ǵ chẳng có, ai nấy sẵn đủ), vốn
là Thiện. Thiện - ác như Mạnh Phu Tử và Tuân Phu
Tử đă giảng là tập tánh, chứ không phải là
bản tánh. Chúng ta hoàn toàn mê mất bản tánh, chúng sanh
trong lục đạo nào ai biết đến bản tánh?
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát tuy biết đến
bản tánh, nhưng chưa chứng đắc. Nếu
chứng đắc bản tánh sẽ vượt thoát
mười pháp giới, chúng ta thường gọi
người như vậy là Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân
Bồ Tát chứng đắc bản tánh, phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, cảnh
giới như thế đó.
Như vậy, chúng sanh trong
lục đạo phiền toái lớn lắm, “nghiệp vơng khiên triền” (lưới
nghiệp trói buộc), nghiệp đă tạo vô
lượng vô biên, dày đặc, xen kín như lưới
giăng. Cớ sao tạo lắm nghiệp đến
vậy? Khởi tâm động niệm là tạo nghiệp,
đó là ư nghiệp. Ngôn ngữ nơi miệng, chúng ta nói
quá nhiều những điều tệ hại! Những
lời tệ hại là ǵ? Nói dối, nói đôi chiều,
nói ác, nói thêu dệt. Từ sáng đến tối quư vị
nói không ngừng; nếu đem những lời ḿnh nói phân
loại cẩn thận th́ chẳng ngoài bốn loại
lớn vừa nói trên đây. Người giác ngộ,
người có đạo hạnh nói năng rất ít, tâm
người ấy định, ngày nay chúng tôi giảng kinh
thuyết pháp nói năng quá nhiều.
Khi xưa, chúng tôi thân cận
Chương Gia đại sư, tôi ngồi cùng Ngài hai
tiếng đồng hồ. Trong hai giờ ấy, những
câu Ngài nói chúng tôi nhớ từng chữ một, tôi cho
rằng không thể nhiều hơn năm trăm chữ
được. C̣n tôi trong một buổi giảng hai
tiếng đồng hồ, những đồng học
tham gia giảng diễn đều biết cả, nếu quư
vị chép lại thành bản thảo th́ sao? Tối
thiểu là hai vạn chữ. Tôi và Chương Gia
đại sư mỗi lần gặp nhau, mỗi Chủ
Nhật gặp gỡ một lần, nếu ghi lại toàn
bộ những lời Ngài nói trong hai tiếng đồng
hồ th́ không quá năm trăm chữ, khiến cho chúng tôi
cảm thấy Ngài như đang luôn ở trong
Định.
Ngài tặng cho tôi một bức ảnh,
quư vị thấy đó, Ngài ở trong Định, bất
luận lúc nào, quư vị đều thấy Ngài ở trong
Định. Ngài đi rất chậm, động tác
từ tốn, nói rất ít. Tôi chỉ thấy Ngài như
thế này: Môi luôn máy động không ngừng, đại
khái là tŕ chú theo cách Kim Cang Tŕ, động môi nhưng không
phát ra tiếng. Ngài nêu gương tốt cho chúng ta
thấy, tu hành thực sự như vậy. Nay chúng tôi
hiểu rơ: Thực sự tu th́ trong mười hai thời
sáu chữ hồng danh liên tục không gián đoạn,
đó là công phu thực sự, thực sự chẳng
thể nghĩ bàn. Rất đáng tiếc, chúng ta bỏ
lỡ tấc bóng, suốt ngày từ sáng đến tối
không biết niệm Phật, không biết nhớ Phật,
niệm Phật, suốt ngày khởi vọng tưởng.
Nói cách khác, suốt ngày từ sáng đến tối tạo
nghiệp.
“Nghiệp
vơng khiên triền” (lưới
nghiệp quấn trói),
tức là quư vị tạo tác nên “lưu
chuyển ngũ đạo” (lưu chuyển trong năm
đường); đấy là quả báo. “Ngũ đạo” là sáu nẻo luân hồi, v́ sao
gọi là “ngũ đạo”?
Không kể đường A Tu La th́ thiên đạo, nhân
đạo, súc sanh đạo, địa ngục
đạo, và ngạ quỷ đạo là năm
đường. V́ sao không tính A Tu La? A Tu La trên cơi trời
th́ tính gộp trong thiên đạo, trong cơi người th́
tính gộp vào nhân đạo, trong súc sanh th́ gộp trong súc
sanh đạo, trong đường ngạ quỷ th́
gộp trong trong ngạ quỷ đạo. Kinh Lăng Nghiêm
nói: Trong bốn đường ấy đều có A Tu La,
địa ngục không có. Thông thường tính A Tu La thành
một đường riêng, tức là thiên A Tu La, nhưng
trên thực tế, có thể tính gộp A Tu La vào nhân
đạo lẫn thiên đạo. Do vậy, kinh Phật
thường nói “ngũ
đạo” hay “ngũ thú”,
ngũ thú luân hồi, đều do nghĩa này. “Lưu chuyển ngũ đạo”
là luân hồi, quả báo hiện tiền, luân hồi từ
đâu mà có? Luân hồi do lưới nghiệp giăng
mắc, nên quư vị mới lưu chuyển trong năm
đường.
“Hằng
tùy sanh tử dĩ thăng trầm” (luôn thăng trầm theo sanh tử) tùy theo quư vị tạo
nghiệp thiện hay ác, đó là ǵ? Tập khí, tập tánh. Quư
vị làm lành th́ là hai đường trời - người;
tạo ác th́ súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ ba
đường ác, vĩnh viễn lưu chuyển trong
ấy. V́ sao? Tạo nghiệp trong khi đang thọ báo, do
tạo nghiệp nên lại phải thọ báo. Quư vị hăy
chú tâm quan sát liền nhận thấy sự t́nh phiền
phức rất lớn, v́ sao? Trong lục đạo khó
thể vươn lên, đọa lạc rất chóng! Càng
đọa càng sâu!
Nếu chúng ta chú tâm quan sát điều
này sẽ chẳng khó hiểu chi. Quư vị nghĩ xem: Nay
quư vị đă mấy chục tuổi rồi, hăy chú tâm suy
tưởng, quan sát. Ta năm nay bảy mươi
tuổi, xă hội lúc ḿnh sáu mươi tuổi ra sao?
Mười năm trước đó, lúc năm mươi tuổi
lại như thế nào? Lúc bốn mươi tuổi, ba
mươi tuổi, hai mươi tuổi, lúc mười
tuổi. Quư vị cứ lấy mười năm mà so sánh
sẽ nhận thấy điều ǵ? Khoa học kỹ
thuật tiến bộ, nhưng luân lư đạo
đức thụt lùi, ḷng người thiện hay ác? Thiện
tâm, thiện niệm, thiện hạnh bị suy thoái
với một mức độ lớn. Chúng tôi nói
thiện lương,thiện ư, thiện hạnh trong ḷng
người hiện tại không bằng người lúc
mười năm trước. Người thuở
mười năm trước không bằng người hai
mươi năm trước, người hai mươi
năm trước không bằng người ba mươi
năm trước. Quư vị cứ nghĩ như thế
bèn thấy đáng sợ thật, đời sau kém hẳn
đời trước! Tương lai chúng ta phải bị
đọa lạc đáng sợ lắm, phải chịu
khổ trong ngạ quỷ, địa ngục.
Cũng thế, trong đường
ngạ quỷ, trong đường địa ngục, con
người hiện tại đọa lạc vào
đấy chịu khổ nếu so với những kẻ
đọa địa ngục, đọa ngạ quỷ
trước kia không biết là khổ sở hơn gấp
bao nhiêu lần! Khổ do đâu mà có? Do nghiệp của chính
ḿnh chiêu cảm, chẳng phải từ bên ngoài đưa đến;
do nghiệp chiêu cảm nên trong Phật pháp thường nói
“nhân quả chẳng không”.
Trong cuộc sống hằng ngày, đối người,
đối sự, đối vật, khởi tâm
động niệm, ngôn ngữ, hành vi chẳng thể không
cẩn thận, chẳng thể không dè dặt. Chớ mặc
t́nh buông lung, kẻo sau phải chịu khổ! Chẳng ai
gánh chịu thay cho ta đâu! Không ǵ chẳng phải là
tự ḿnh làm, tự ḿnh chịu, chẳng mảy may liên can
đến người khác. Nếu quư vị trách móc
người khác th́ là tội chồng thêm tội, khổ
chồng thêm khổ, “hằng tùy
sanh tử dĩ thăng trầm” (luôn thăng trầm
theo sanh tử).
“Cắng
cổ chí kim nhi mị gián” (suốt
từ xưa đến nay chưa hề gián đoạn). “Mị gián” nghĩa là từ
trước đến nay chưa hề gián đoạn, suốt
từ xưa đến nay. Câu này nói về t́nh h́nh cuộc
sống của chúng ta sau khi mê cho đến hiện
tại. Ở đây, thiền sư Trung Phong chỉ nêu
nguyên tắc, nếu chúng ta chú tâm suy tưởng quan sát,
mới biết những hiện tượng ấy đáng
sợ. Phải giải quyết vấn đề như thế
nào? Ngày nay chúng ta học Phật không có ǵ khác, chỉ là
nhằm giải quyết vấn đề này, muốn
hiểu rơ chân tướng sự thật này. Không hiểu
rơ chân tướng sự thật th́ ư niệm muốn
giải quyết vấn đề sẽ chẳng thể sanh
khởi. Phải hoàn toàn hiểu rơ, thông suốt chân
tướng sự thật th́ mới biết vấn
đề này phải giải quyết, không giải
quyết không được! A! Bây giờ đă hết
giờ rồi.
*
Xin xem tiếp đoạn khai
thị tiếp theo:
Đương tri sanh tự duyên
sanh, nhi pháp tánh bất dữ duyên câu sanh. Diệt tự
duyên diệt, nhi pháp tánh bất dữ duyên câu diệt.
Sở dĩ vân: “Pháp Tánh trạm nhiên”. Thị vị: “Sanh
nhi vô sanh” giả dă.
當知生自緣生。而法性不與緣俱生。滅自緣滅。而法性不與緣俱滅。所以云。法性湛然。是謂生而無生者也。
(Nên biết: Sanh tự duyên
sanh, nhưng Pháp Tánh chẳng sanh cùng với duyên. Diệt
th́ duyên tự diệt, chứ Pháp Tánh chẳng cùng diệt
theo duyên. Do vậy, nói: “Pháp Tánh trạm nhiên”. Đó là nói
về: “Sanh nhưng không sanh” vậy!)
Đến đây, đại sư bảo
cho chúng ta biết chân tướng sự thật. “Đương tri” là hăy nên
biết. Tuy nói là hăy nên biết, nhưng lục đạo
chúng sanh đều không biết. V́ sao không biết? V́ mê! Do
vậy, Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian
nhằm giúp đỡ chúng ta, tới cứu độ chúng
ta. Công đức lớn lao bậc nhất là ǵ? Là giúp chúng
ta phá mê khai ngộ. Nỗi khổ luân hồi trong lục
đạo là do mê, ai có thể cứu được?
Phật, Bồ Tát có thể cứu được!
Do vậy, chỉ có Phật, Bồ Tát
mới có thể làm chuyện từ thiện cứu tế
triệt để nhất, rốt ráo nhất, viên măn
nhất. Chẳng phải là quư vị không có ǵ ăn, bèn cho
quư vị một chút thức ăn, quư vị không có áo
mặc bèn cho một ít y phục, quư vị không có nhà ở
bèn xây cho quư vị mấy gian nhà để ở; người
thế gian chúng ta bảo [hành động] đó là rất
từ bi, là từ bi cứu tế. Phật, Bồ Tát không
như thế! Phật, Bồ Tát muốn cứu quư vị
thoát khỏi luân hồi trong lục đạo, muốn
cứu quư vị ra khỏi mười pháp giới,
muốn giúp cho quư vị thành Phật, giúp quư vị vĩnh
viễn thoát khỏi hết thảy các nỗi khổ
thế gian. Sự nghiệp từ bi cứu tế lớn
lao như thế, hết sức đáng tiếc là rất
ít người thế gian biết được. Bậc
đại thiện nhân như thế không ai nhận
biết, dẫu không ai nhận biết nhưng Ngài vẫn
thời thời khắc khắc chẳng rời khỏi
chúng ta, đó mới là từ bi đến cùng cực. Ngài
không rời khỏi chúng ta, thời thời khắc
khắc, vĩnh viễn không gián đoạn chăm sóc chúng
ta. Chúng ta phải nên giác ngộ, phải nên hiểu rơ,
phải nên thấu hiểu chân tướng sự thật
này.
Sanh là duyên sanh, “nhi Pháp Tánh bất dữ duyên câu sanh” (nhưng Pháp
Tánh chẳng sanh cùng với duyên); diệt là duyên diệt, “nhi Pháp Tánh bất dữ duyên câu
diệt” (nhưng Pháp Tánh chẳng cùng diệt theo duyên).
Chúng tôi đổi một chữ sanh diệt [thành “sống
chết”] chắc quư vị dễ hiểu hơn. Sanh là thân
thể của chúng ta được sanh, diệt là thân
thể này chết. Chúng tôi dùng “sống, chết” để
nói chắc quư vị dễ hiểu hơn. Sanh, đúng là
duyên sanh. Thân thể của chúng ta do Tứ Đại,
Ngũ Ấm, các duyên ḥa hợp tạo thành. Nói theo cách bây
giờ th́ thân thể này do rất nhiều khí quan, kinh
mạch và tế bào hợp thành; nhưng tâm tánh của chúng
ta không phải là những khí quan, không phải là kinh
mạch, cũng không phải là tế bào, cái nào cũng
đều không phải. Tâm tánh không phải là vật
chất, vật chất có sanh diệt; tâm tánh của chúng
ta không sanh diệt, điều này cũng rất khó
hiểu.
Hiện thời nói chung quư
vị nhờ vào Internet để tiếp nhận những
tin tức của chúng tôi, hoặc là qua CD, qua băng thâu
h́nh do chúng tôi chế tác, quư vị nh́n vào màn huỳnh quang của
TV sẽ trông thấy tôi. Tôi dùng tỷ dụ này để
giảng cho quư vị dễ hiểu. Màn huỳnh quang của
computer hay máy truyền h́nh giống như Pháp Tánh, những
h́nh ảnh hiện nơi màn h́nh là “duyên sanh sanh diệt” (sự sanh diệt do các duyên
tụ tập hay tán hoại). Quư vị hăy nghĩ coi:
Những h́nh ảnh hiện trên màn h́nh có sanh, có diệt,
nhưng cái màn h́nh ấy có sanh diệt hay không? Không có!
Lại dùng điện ảnh để tỷ dụ: Tôi
cho rằng người hiện thời ai nấy đều
đă từng coi phim, cái phông màn để chiếu phim
giống như Pháp Tánh mà chúng ta đang đề cập
ở đây. Những h́nh ảnh chiếu trên phông màn có sanh
diệt, đó là duyên sanh. V́ thế, cái hiện
tướng (tướng được hiện) này có sanh
có diệt, c̣n cái phông màn có thể hiện ra h́nh tướng
(không có phông màn, h́nh ảnh không hiện được) th́
không sanh, không diệt.
Từ những tỷ dụ
này, quư vị thấu hiểu: Pháp Tánh giống như cái màn
để chiếu phim, cái ǵ cũng không có, nhưng nó
lại có thể hiện tướng, dẫu hiện
tướng, nhưng lại không nhiễm trước. Dùng
chuyện này để tỷ dụ chân tâm rất hay! Có
đôi chỗ tương tự! Nếu chúng ta hiểu
được đạo lư này, chúng ta sẽ dụng tâm
giống như cái màn để chiếu phim, mặc
sức quư vị hiện tướng này nọ. Quư vị
hiện tướng Phật, Bồ Tát rất tốt, mà
hiện tướng địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh cũng tốt, không ǵ chẳng tốt, chắc chắn
không phân biệt, chắc chắn không chấp trước,
chắc chắn không nhiễm ô mảy may.
Có thể nói là hiện tại, quư vị
ngày nào cũng phải tiếp xúc với màn huỳnh quang
của máy truyền h́nh hay màn h́nh của computer, cái ǵ chúng cũng
không có, nhưng cái ǵ cũng hiện được.
Thế nhưng những máy móc ấy có thể hiện
được là nhờ vào ngoại duyên, [vẫn là] duyên
sanh. Sanh là hiện ra tướng, tướng chính là duyên
sanh. “Pháp Tánh bất dữ duyên
câu sanh” (Pháp Tánh chẳng sanh cùng với duyên). Cái màn h́nh
có thể hiện được h́nh ảnh ấy
chẳng sanh cùng một lúc với h́nh ảnh, không phải
thế. Diệt th́ những h́nh ảnh trên màn h́nh đă
hiện xong; tắt nguồn điện đi, không c̣n
nữa, những tướng ấy diệt mất, không
c̣n nữa, nhưng cái màn h́nh tuyệt đối chẳng
bị tiêu diệt theo tướng ấy.
Như vậy, màn h́nh là bất sanh
bất diệt, h́nh ảnh là hữu sanh hữu diệt.
H́nh ảnh chính là cảnh giới sáu trần bên ngoài hiện
thời mà sáu căn của chúng ta tiếp xúc. Các căn
của chúng ta lẫn cảnh giới bên ngoài đều là
hữu sanh hữu diệt. Pháp Tánh có thể hiện
tướng, nó là bất sanh bất diệt, giống
như cái màn h́nh không có sanh diệt, nó vĩnh hằng,
đó mới thực sự là ḿnh. Nhà Thiền nói “bản lai diện mục
trước khi cha mẹ sanh ra”, đó mới thực
sự là chính ḿnh, không đâu chẳng tồn tại.
Lại thưa cùng quư vị: Từ trước đến
nay, nó không hề lay động. Pháp Tánh trạm nhiên,
từ trước đến nay chưa từng lay
động, từ trước đến nay chưa
từng bị nhiễm ô, có đủ thấy - nghe - hay - biết.
Như vậy, [khả năng]
thấy - nghe - hay - biết của con người chúng ta là
do đâu mà có? Do Pháp Tánh mà có. Khả năng thấy - nghe - hay
- biết của hết thảy vạn vật do đâu mà
có? Cũng là từ Pháp Tánh. Không lạ lùng chút nào cả! Nó
vốn sẵn là như vậy, kể cả hư không,
nếu hư không chẳng thấy - nghe - hay - biết, nó sẽ
chẳng thể truyền đạt sự thấy - nghe -
hay - biết. Hiện thời có rất nhiều tín hiệu
phải nhờ vào hư không để chuyển đi là v́
hư không có thấy - nghe - hay - biết. Do đây biết
rằng: Toàn thể vũ trụ sống động, không
phải chết cứng, sống động, hoạt bát.
Quư vị thấy núi, sông, đại địa, cây cỏ,
bùn cát, đá tảng dường như ù ĺ, không linh
hoạt, chứ thật ra chúng linh động.
Văn Thù Bồ Tát nói: “Tưởng trừng thành
quốc độ” (tưởng ngưng đọng
thành cơi nước), nói theo ngôn ngữ hiện thời th́
câu này có nghĩa là: Vật chất do đâu mà có? Ngài
giảng rất rơ ràng: “Tri giác
năi chúng sanh” (Do tri giác bèn thành chúng sanh), câu này giảng
rất hay: Hết thảy chúng sanh đều có tri,
đều có giác, v́ sao? Pháp Tánh đấy! Tại
động vật th́ gọi là Phật Tánh, tại
thực vật và khoáng vật th́ gọi là Pháp Tánh. Phật
Tánh và Pháp Tánh là một tánh, đều là thấy - nghe - hay
- biết. Chúng tôi hết sức cảm tạ những nhà
khoa học, hiện tại họ dùng phương pháp khoa
học chứng minh thực vật cũng thấy - nghe -
hay - biết, khoáng vật cũng thấy - nghe - hay -
biết. Điều này giúp chúng tôi lư giải, hiểu sâu
thêm một tầng, giúp ích cho việc dạy dỗ của
chúng tôi, có tác dụng rất lớn; đặc biệt là
đối với chính bản thân chúng tôi. Trong quá khứ, bản
thân chúng tôi nghiên cứu kinh giáo, thực sự không có
chứng cứ khoa học. Chúng tôi tin tưởng là
nhờ vào Thánh Ngôn Lượng[6],
tức là thánh nhân chẳng lừa dối chúng ta [cho nên, những
ǵ kinh điển Phật giáo đă nói chẳng phải là bịa
đặt]. Sau đấy, nhờ vào công phu tu hành của
chính ḿnh mới đạt đến một tŕnh
độ nhất định. Đấy là tu Định.
Đạt đến một mức độ nhất
định th́ cảnh giới ấy hiện tiền,
tự ḿnh chứng ngộ, quư vị đă chứng
đắc rồi.
Hiện nay, dùng phương pháp
khoa học th́ dù chúng ta chưa đạt đến
mức độ tu hành như vậy, cũng vẫn có
thể thấy được, dùng máy móc, dụng cụ
giúp chúng ta chứng minh. Đương nhiên, máy móc chỉ
giúp chúng ta chứng minh một cách hữu hạn, lại chỉ
chứng minh được những ǵ rất thô tháp.
Từ Thiền Định mà chứng đắc sẽ
thấy chúng tột bậc vi tế, lại c̣n rộng sâu.
Chúng ta cảm tạ những nhà khoa học đă cung
cấp những tin tức này, khiến cho tín tâm của
chúng ta tăng gấp bội, chúng ta biết phải khéo
đối xử với chính ḿnh như thế nào, biết
phải khéo đối đăi trong hoàn cảnh sống của
chính ḿnh như thế nào. Trong hoàn cảnh bao gồm cả
hoàn cảnh nhân sự (quan hệ giữa con người với
nhau, quan hệ trong xă hội) lẫn hoàn cảnh vật
chất. Đối với hết thảy hữu t́nh chúng
sanh, đó là hoàn cảnh nhân sự. Đối với
hết thảy vô t́nh chúng sanh, đó là hoàn cảnh vật
chất. Chúng ta giống như Phật, Bồ Tát, dẫu
chẳng thể nói là hoàn toàn giống hệt, nhưng
dần dần rất gần giống. Đăi người,
xử sự, tiếp vật giống hệt như
Phật Như Lai, sẽ dần dần khế nhập
cảnh giới của Phật.
Đoạn khai thị này nhằm
giải thích cho chúng ta biết: “Sở
dĩ vân: Pháp Tánh trạm nhiên, thị vị sanh nhi vô sanh
giả dă” (Cho nên nói: “Pháp
Tánh trạm nhiên”. Đây là nói về “sanh nhưng không sanh” vậy). Thế nào là “sanh nhưng không sanh”? Điều
này được giải thích nhiều như thế đó.
Sanh là dấu vết sanh diệt của chúng sanh. Nói cách
khác, sanh là tướng được hiện ra. Pháp Tánh
bất sanh bất diệt, Pháp Tánh không phải là
tướng được hiện. Nói theo cách bây giờ,
Pháp Tánh không phải là vật chất, vật chất sanh
khởi từ Pháp Tánh. Do vậy, tướng được
hiện của vật chất có sanh diệt; c̣n tướng
được của Pháp Tánh không có sanh diệt. Từ
Tướng quư vị thấy được Tánh, đó là “sanh nhi vô sanh” (sanh nhưng
không sanh). Đúng là như chúng ta trông thấy những
tướng được hiện ra trên màn huỳnh quang,
đồng thời ta cũng thấy được chính
cái màn huỳnh quang ấy. Quư vị biết tướng
được hiện trên màn h́nh có sanh diệt, c̣n màn h́nh là
bất sanh bất diệt. Trong sanh diệt, quư vị
thấy không sanh không diệt, chuyện này dễ hiểu.
Từ chỗ này, quư vị phải chú tâm lănh hội. Chúng
ta lại đọc tiếp đoạn kế:
Vô sanh nhi sanh giả…
無生而生者。
(Vô
sanh mà sanh là).
Đây là luận về
Tướng. Tướng vốn không có, không có tướng
mà nay lại có. Có như thế nào? Ở đây, thiền
sư Trung Phong bảo chúng ta:
Chúng sanh mê vọng nhập tâm.
眾生迷妄入心。
(Chúng sanh do mê vọng đă
nhập tâm).
Thưa cùng quư vị, cái tâm
ấy là vọng tâm, chẳng phải là chân tâm.
Do
v́ mê vọng nên không nhập được chân tâm. Chân tâm
thuần chân, tuyệt đối không thể kèm theo
vọng. Tâm ấy là ǵ? Tâm ấy là thức thứ tám, chúng
ta thường gọi là A Lại Da Thức. Thực
sự nhập A Lại Da Thức! A Lại Da Thức
giống như cái kho, tất cả hết thảy mê
vọng đều cất chứa trong A Lại Da Thức.
A Lại Da Thức là kho lẫm; v́ thế, trong kinh
điển, đức Phật gọi thức này là Hàm Tàng
Thức hoặc Tạng Thức. Tạng (藏) là kho lẫm. Chúng ta khởi tâm
động niệm bèn ghi ấn tượng (người
hiện thời nói là “ghi ấn tượng”) vào đâu?
Chính là cất giữ trong A Lại Da Thức. A Lại Da
Thức là vọng tâm, nó cũng rộng lớn không
ngằn mé, giống như hư không. Những ấn
tượng ấy không phải là vật chất, cho nên
không có thể tích. Trong kinh, đức Thế Tôn đă từng
nhắc đến. Đức Phật nói: Nếu ấn
tượng có thể tích th́ tột cùng cơi hư không
chẳng thể chứa đựng hết. May là chúng không
có thể tích, chúng được tàng trữ trong A Lại
Da Thức.
Ngày hôm qua chúng ta làm những chuyện ǵ,
quá khứ làm những việc ǵ, hoặc là mấy chục
năm trước làm chuyện ǵ, có những ấn
tượng rất sâu đậm, hễ nghĩ tới bèn
tưởng tượng được ngay. Nếu
những ấn tượng ấy không có một chỗ nào
giống như một cái kho tài liệu để cất
giữ, ngơ hầu lúc nào chúng ta cần rút tài liệu ra th́
sự việc trong quá khứ bèn hiện bày ngay
trước mặt; nếu không có một cái kho như
vậy th́ chẳng phải là cái ǵ cũng không có hay sao? Cái
kho tài liệu ấy không bị hư nát, vĩnh viễn
tồn tại bất hoại. Những thứ
được tàng trữ trong kho ấy là đời
đời kiếp kiếp, từ vô thỉ đến nay,
tất cả hết thảy điều thiện cũng
vậy, mà tất cả hết thảy điều bất
thiện cũng thế, điều vô kư (không thiện không
ác) cũng thế, hết thảy đều
được cất giữ trong kho ấy. Chúng ta
muốn lấy ra một điều nào th́ điều ấy
bèn lập tức xuất hiện, hết sức nhanh chóng;
ngay cả máy điện năo (computer) hiện tại cũng
chẳng thể sánh kịp. Máy điện năo do con
người phát minh, vĩnh viễn không thể nào sánh
kịp bộ óc con người. Cái tâm ấy “mê vọng nhập tâm”, tâm
ở đây là A Lại Da Thức.
Tích nghiệp thành quả.
積業成果。
(Chứa
nghiệp thành quả).
“Tích”
(積) là tích lũy (chất chứa),
những tội nghiệp đă tạo tác từ vô thỉ
đến nay được chất chứa, đến
bây giờ biến thành quả, báo bèn hiện tiền,
tức là Báo Chướng trong ba chướng. “Mê vọng nhập tâm” là
Phiền Năo Chướng, “tích
nghiệp” là Nghiệp Chướng, “thành quả” là Báo Chướng. Thôi rồi! Quả
báo hiện tiền!
Hư thọ luân chuyển,
vọng kiến sanh diệt.
虛受輪轉。妄見生滅。
(Dối chịu luân chuyển,
lầm thấy sanh diệt).
Luân hồi không thật, lục
đạo không thật, là huyễn tướng. Kinh Kim Cang
ví rất khéo: “Mộng, huyễn,
bào, ảnh” (Mộng, huyễn, bọt, bóng). Phàm phu không
biết, cho đó là thật, bởi thế, đối
với những chuyện đó bèn nẩy sanh vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, tức là
bị cảnh giới xoay chuyển. Không như
người giác ngộ, người giác ngộ chuyển
được cảnh giới, hoàn toàn làm chủ cảnh
giới. Phàm phu đáng thương, coi cảnh giới
hư vọng chẳng thật là thật, tâm bị
cảnh giới chuyển. Tâm ấy là vọng tâm, c̣n chân
tâm chẳng khởi tác dụng, v́ mê rồi, bị mê
mất rồi, không biết một tí nào cả! Quư vị
suốt ngày từ sáng đến tối khởi tâm
động niệm, những điều ḿnh nghĩ, ḿnh
tưởng đều là vọng tâm. Nếu chúng ta hỏi
chân tâm có tồn tại hay chăng ư? Chân tâm tồn
tại. Tôi vừa mới nói chân tâm giống như cái màn
h́nh, nó không sanh, không diệt, không đến, không đi,
như như bất động, nó tồn tại. Tồn
tại như thế nào? Chẳng khởi tác dụng! Quư
vị không nhận biết nó, sẽ không dùng
được nó. Người giác ngộ biết dùng,
biết dùng th́ được đại tự tại. V́
sao? Chẳng bị cảnh giới chuyển. Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nhược năng
chuyển vật, tắc đồng Như Lai” (Nếu
chuyển được vật th́ giống như Như
Lai). Bản lănh của Pháp Thân Bồ Tát và chư Phật
Như Lai là nhận chân chứ không nhận vọng,
chẳng bị cảnh giới xoay chuyển.
Pháp Tánh ở tại đâu? Pháp
Tánh chẳng ĺa Pháp Tướng. Có thể nói là giống
như chúng ta xem truyền h́nh, màn h́nh ở đâu? Chỗ
nào quư vị thấy được h́nh ảnh th́ chỗ
đó chính là màn h́nh, màn h́nh không tách rời h́nh ảnh, h́nh
ảnh chính là màn h́nh. Như vậy, thánh nhân từ h́nh
ảnh mà thấy được màn h́nh bất sanh bất
diệt, thấy được màn h́nh như bất
động, tâm Ngài không động, chẳng bị cảnh
giới nơi màn h́nh xoay chuyển. H́nh ảnh rơ ràng, sáng
tỏ, chẳng mảy may dính dáng ǵ đến Pháp Tánh
cả, nó giữ được cái tánh.
Do đó, từ đây ta cũng có
thể hiểu được cảnh giới của các bậc
thánh nhân, dẫu nay chúng ta chưa làm được,
nhưng đă suy tưởng được. Ở trong
ngũ dục lục trần, trong đại thiên thế
giới, các Ngài đúng là giống như đang xem phim hay
đang coi truyền h́nh vậy, nhất định chẳng
sanh nhiễm trước, thấy rất rơ ràng, rất minh
bạch. Đó là Huệ, chính là như kinh Bát Nhă đă nói: “Bát Nhă vô tri, vô sở bất tri” (Bát
Nhă vô tri nhưng không ǵ chẳng biết). Các Ngài thấy
rất rơ ràng, không ǵ không biết. Vô tri là ǵ? Vô tri là Pháp
Tánh, vô tri mới là chân tri (thực sự biết).
Lục đạo phàm phu hoàn toàn
tương phản, họ có biết, nhưng cái họ
biết chỉ là tất cả hết thảy những tướng
hiện ra trên màn h́nh, quên mất cái màn h́nh, hoàn toàn quên
bẵng, không biết những h́nh ảnh đó phải nhờ
vào màn h́nh mà biến hiện, quên tuốt cái màn h́nh, hoàn toàn
chấp tướng. Lục đạo phàm phu là như vậy
đó! Cho những tướng ấy là chân thật,
đối với tướng bèn khởi vọng
tưởng, khởi phân biệt, khởi chấp
trước, niệm niệm so đo, chẳng biết
chúng là hư huyễn, hư vọng, về căn bản
chẳng hề tồn tại. V́ sao? V́ những
tướng ấy sanh diệt trong từng sát-na.
Quư vị hăy nghĩ xem có phải là
những h́nh ảnh trên màn h́nh sanh diệt trong từng
sát-na hay không? Chắc chắn chẳng có hai tướng nào
giống nhau. Dễ thấy nhất là phim ảnh, [h́nh
ảnh hiện ra hay biến mất] là do ống kính
đóng hay mở, rơ rệt quá! Truyền h́nh tiến bộ
hơn phim ảnh, người xem truyền h́nh rất
nhiều, nhưng người hiểu được nguyên
lư của truyền h́nh không nhiều. Người hiểu
được nguyên lư của truyền h́nh sẽ hiểu tướng
là hư vọng. Tướng của truyền h́nh là ǵ
vậy? Là tổ hợp của những tia quét, mỗi tia
quét do các vi điểm (pixel)[7] hợp
thành, nhiều điểm hợp thành tia quét, nhiều tia
quét hợp thành h́nh ảnh. Nguyên lư là vậy. Do các tia quét di
động rất nhanh nên ta chẳng biết [h́nh ảnh được
tổng hợp bởi các tia quét ấy] là giả
tướng. Mỗi giây, nơi ống kính của máy
chiếu phim, h́nh ảnh được sanh diệt hai
mươi bốn lần (ống kính mở là sanh, ống
kính đóng là diệt). Nh́n trên màn bạc, những h́nh
ảnh trông rất thật, không biết chúng là giả
tướng. Những tia quét trong máy truyền h́nh di động
nhanh hơn tốc độ đóng mở ống kính
của máy chiếu phim không biết gấp bao nhiêu lần, nên
chúng ta bị lừa dối. Nếu tốc độ di
động chậm lại, quư vị sẽ hoàn toàn
hiểu rơ. Mỗi tia quét di động chậm lại,
chuyển động từ từ th́ quư vị sẽ
hiểu rơ h́nh ảnh được xuất hiện ra sao;
v́ chúng xuất hiện quá nhanh nên quư vị không biết
được.
Như vậy, nói “luân hồi” là giả,
không thật! Thế nhưng quư vị không hiểu,
giống như nằm mộng. Mộng là giả, nhưng
lúc quư vị nằm mộng không biết ḿnh đang nằm
mộng; bởi thế mới có chuyện quư vị chịu
khổ, hưởng vui trong mộng. Nếu biết là đang
nằm mộng, cổ nhân nói: Nếu biết ḿnh đang
nằm mộng, trong mộng thấy cọp muốn ăn
thịt ḿnh, ta cũng hết sức phát tâm, phát khởi
ḷng từ bi, đem thân này thí cho cọp, mộng cảnh
mà! Quư vị không biết là nằm mộng, cứ cho đó
là thật, nên thấy cọp chạy đến, kinh hoảng
toát mồ hôi lạnh khắp ḿnh.
Chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong
chín pháp giới, đến hóa độ chúng sanh, chúng ta
thường nghe nhà Phật có câu nói: “Đại tác mộng trung Phật sự, khải
kiến thủy nguyệt đạo tràng” (Làm Phật
sự lớn lao trong mộng, xây dựng đạo tràng
bóng trăng trong nước). Đạo tràng là bóng trăng
trong nước, Phật sự là chuyện trong mộng. V́
thế, bậc ứng hóa rất tự tại, ở trong
những pháp giới ấy giáo hóa chúng sanh, giúp đỡ
chúng sanh, đúng là chẳng lưu lại vết tích.
Nếu quư vị hỏi các Ngài có tạo tác ǵ hay chăng
ư? Các Ngài không tạo tác, làm nhưng không làm, không làm mà
làm. Nh́n từ quan điểm của chúng sanh, các Ngài làm
rất nhiều, nhưng trên thực tế, chuyện ǵ các
Ngài cũng không làm.
Bởi thế, quư vị phải
hiểu: Nay chúng ta luân hồi trong lục đạo,
nhưng Phật, Bồ Tát, người giác ngộ thấy
chúng ta chỉ luân hồi một cách hư giả; v́
thế, chúng ta được gọi là những “kẻ rất đáng
thương xót”. V́ sao đáng thương xót? Thực
sự đáng thương xót lắm! “Vọng kiến sanh diệt” (Lầm thấy sanh
diệt): Đối với sanh diệt, đối với
chết chóc sợ hăi như thế ấy, sợ phát
khiếp như thế là v́ vọng kiến (thấy sai
lầm). Khi quư vị đă thực sự hiểu rơ th́
không có sanh diệt, không có sống chết, chỉ là thay
đổi cảnh giới mà thôi. Chỉ là đổi
một cảnh mộng này sang một cảnh mộng khác,
không có cách nào lay tỉnh quư vị được! Hễ
tỉnh ra th́ sáu nẻo không c̣n nữa. Vĩnh Gia
đại sư nói rất hay: “Trong
mộng đành rành phô sáu nẻo, tỉnh rồi ba cơi
rỗng toang hoang”. Giác
ngộ rồi th́ không c̣n nữa! Tiếp theo đây, thiền
sư Trung Phong dùng tỷ dụ để thuyết minh, hy
vọng rằng: Nếu với những điều
vừa nói ở trên, quư vị không có cách ǵ lănh hội
được th́ sẽ nhờ vào tỷ dụ này mà giúp
cho quư vị hiểu được!
Ư Pháp Tánh thể thượng, như
kính hiện tượng, tự châu tùy sắc.
Đương tri kính quang bổn tịnh, châu thể
tuyệt ngấn. Vật cảnh hỗ chương,
bất vi sắc tượng. Bỉ sắc tượng
chi khứ lai, do nghiệp quả chi nghiễm nhiên dă.
於法性體上。如鏡現像。似珠隨色。當知鏡光本淨。珠體絕痕。物境互彰。不違色像。彼色像之去來。猶業果之儼然也。
(Pháp Tánh
về bản thể giống như h́nh ảnh
được hiện nơi gương, giống như viên
ngọc phản chiếu màu sắc [của những
vật xung quanh]. Phải biết: Ánh sáng của
gương vốn tịnh, Thể của châu trọn không
có tỳ vết. Vật và cảnh soi rơ lẫn nhau, h́nh
sắc chẳng trái nghịch. H́nh sắc ấy đến
đi giống như nghiệp quả đành rành vậy).
Đọc đến đoạn này, có
thể nói là giống như những tỷ dụ về màn
h́nh trong phim ảnh, của máy truyền h́nh, hay của máy
điện năo mà chúng tôi đă dùng. Từ những tỷ
dụ ấy, nếu chúng ta chú tâm thể hội th́ quả
thật y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp
giới đều giống như vậy, đều không
thật, Nhất Chân pháp giới mới là thật! Hoa
Tạng, Cực Lạc là thật, là Nhất Chân pháp
giới. Mười pháp giới đều là mộng,
huyễn, bọt, bóng, chứ không riêng ǵ lục
đạo.
“Ư Pháp
Tánh thể thượng, như kính hiện tượng” (Pháp Tánh về bản thể giống như
h́nh ảnh được hiện nơi gương):
Thời cổ chưa có khoa học, kỹ thuật, trong cuộc
sống hằng ngày, mọi người thường dùng
đến gương. Sáng sớm ngủ dậy, buổi
tối trước khi ngủ, rửa mặt đều
phải soi gương, “Pháp
Tánh thể thượng, như kính hiện tượng” (Pháp
Tánh về bản thể giống như h́nh ảnh
được hiện nơi gương). Lại nữa,
“tự châu tùy sắc” (giống
như viên ngọc phản chiếu màu sắc [của
những vật xung quanh]), bảo châu là thứ
được mọi người yêu thích, thế nhưng
người có châu báu không nhiều, nói chung phải là
hạng phú quư; c̣n gương hầu như nhà nào cũng
có, là một vật dụng rất thông dụng.
Châu có màu chẳng phải v́ chính nó có màu,
mà do phản chiếu màu sắc bên ngoài. Nay bảo châu
được dùng rất nhiều v́ có rất nhiều
loại bảo châu nhân tạo, làm gần giống như
thật, rất khó phân biệt. Chiếu ánh sáng vào châu theo
những góc độ khác nhau, nó bèn hắt ra những tia
sáng có màu sắc khác nhau. Điều này con người
hiện thời hiểu rất rơ rệt: Châu vốn không
có ánh sáng, được ánh mặt trời hoặc ánh
đèn soi vào, sẽ thấy nó tỏa ra ánh sáng có màu
sắc. V́ thế, “đương
tri kính quang bổn tịnh” (phải biết ánh sáng
nơi gương vốn tịnh): Gương vốn thanh
tịnh, nơi gương vốn chẳng có h́nh sắc;
châu cũng rất thanh tịnh, cũng không có màu sắc
sáng chói. V́ thế, đại sư bảo chúng ta: “Đương tri kính quang bổn
tịnh, châu thể tuyệt ngấn” (Phải biết: Ánh
sáng của gương vốn tịnh, thể của châu
trọn không có tỳ vết), không có vết sứt mẻ,
hoàn toàn thanh tịnh.
“Vật cảnh
hỗ chương, bất vi sắc tượng” (Vật và cảnh soi rơ lẫn nhau, h́nh
sắc chẳng trái nghịch): Những cảnh giới bên
ngoài gương là “vật
cảnh”. Vật là gương hay châu, cảnh giới
bên ngoài soi vào [những vật] đó, chúng bèn phản chiếu
lại, đó là “hỗ
chương”. Chương (彰) có nghĩa là sáng rơ.
Gương chiếu soi cảnh giới bên ngoài, cảnh
giới bên ngoài hiện bóng trong gương; ánh sáng
chiếu vào châu, châu tỏa ra màu sắc. “Bất vi sắc tượng” (h́nh sắc chẳng
trái nghịch), h́nh tượng tự nhiên hiện ra
những tướng như vậy, điều này rất
dễ hiểu!
Những h́nh sắc ấy có sanh, có
diệt, lúc chiếu là sanh, lúc không chiếu là diệt.
Nếu chúng ta di động cái gương, dùng mặt này
soi th́ cảnh giới sẽ sanh nơi mặt này, soi
bằng mặt kia th́ cảnh giới bên mặt này không c̣n
nữa, diệt mất; mặt kia lại sanh. Soi mặt
mũi tôi, mặt mũi tôi bèn sanh trong gương; đem
soi vào mặt anh, mặt tôi bèn biến mất, mặt anh
bèn sanh. Cảnh giới dường như có sanh, có
diệt, nhưng cái gương (có khả năng chiếu
soi) không sanh, không diệt. Châu biến đổi màu sắc
thuận theo ánh sáng, biến đổi là có sanh có diệt,
chứ bản thể của châu không sanh không diệt.
Như vậy, “sắc tượng khứ lai” (h́nh sắc
đến đi): Chữ “sắc”
(色) chỉ cho châu v́ châu hiện sắc, gương
hiện h́nh. “Do nghiệp
quả chi nghiễm nhiên dă” (giống như nghiệp
quả rành rành), “nghiễm
nhiên” là tự nhiên. Hết thảy bọn chúng sanh chúng
ta v́ mê hoặc chân tướng sự thật (Thật
Tướng của các pháp), nên khởi Hoặc tạo
nghiệp, biến hiện thành quả báo, giống như
h́nh ảnh hiện trong gương, giống như màu
sắc xuất hiện nơi châu, không phải là chân
thật. Ǵ là chân thật? Tánh của chúng ta là chân thật,
ở đây nói Pháp Tánh là chân vậy.
Nếu bây giờ chúng ta hỏi Pháp Tánh
ở nơi đâu th́ như kinh Lăng Nghiêm đă giảng: “Lục căn môn đầu, phóng
quang động địa” (Từ cửa ngơ sáu căn
phóng quang lay động cơi đất). Chư Phật
Như Lai thấy được điều này nên chắp
tay gọi quư vị là Phật, v́ sao? V́ quư vị có Phật
Tánh, tánh của quư vị và tánh của Phật không hai, không
khác. Các Ngài là Phật nhưng v́ sao quư vị không là
Phật? Hết thảy chúng sanh đều là Phật, vô
t́nh chúng sanh có Pháp Tánh. Trong pháp Đại Thừa
thường nói: “Minh tâm
kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Ta thấy
được Tánh, từ nơi Tướng thấy
được Tánh sẽ thành Phật. Tuyệt đối
chẳng mê nơi tướng th́ gọi là “đại
triệt đại ngộ”, Giáo Hạ gọi là “đại
khai viên giải”, Niệm Phật gọi là “Lư nhất tâm
bất loạn”, thực sự nhất tâm bất loạn!
Thế nào là nhất tâm? Hóa giải
hết thảy tất cả đối lập th́ mới
gọi là “nhất tâm”. Có người, có ta, ta và
người đối lập th́ chẳng phải là
nhất tâm; trong nhất tâm không có đối lập. Chúng
ta thường hay nói đến Phật và chúng sanh, tức
là vẫn c̣n có Phật và chúng sanh, như vậy là c̣n mê,
chưa giác ngộ. Giác ngộ th́ sao? Giác ngộ rồi th́
không Phật, không chúng sanh, Phật chính là chúng sanh, chúng sanh
chính là Phật, là một, không phải hai, đó là nhất
tâm. Phàm những ǵ đối lập hay tương
đối đều không có. Chân - vọng không có, tà - chánh
không có, thiện - ác không có, đúng - sai không có, ta -
người không có, xa - gần không có, trước - sau
không có, đó mới là nhất tâm bất loạn, đó là “nhập pháp môn Bất Nhị”,
đó là “nhập Phật
cảnh giới”. Cảnh giới của Phật là giác
ngộ triệt để, được đại
tự tại, “Lư vô ngại,
Sự vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô
ngại”.
Hết thảy mọi thứ không ǵ chẳng
tùy thuận Phật Tánh, chẳng tạo nghiệp, không có
phiền năo. Phiền năo không c̣n, nghiệp không c̣n; v́
vậy, quả báo trong sáu nẻo và mười pháp giới
không c̣n nữa. Đó là “giác
rồi ba cơi rỗng toang hoang”, chỉ c̣n sót lại
cảnh giới nào? Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân
pháp giới là Hoa Tạng, là Cực Lạc. Chúng ta xem
đoạn tiếp theo, nếu quư vị muốn thực
sự hiểu được những tỷ dụ trên,
quư vị phải chú tâm lănh hội:
Cố chư Phật ư nghiễm nhiên
sanh diệt trung, duy kiến vô sanh.
故諸佛於儼然生滅中。唯見無生。
(Bởi
thế, chư Phật trong sự sanh diệt rành rành,
chỉ thấy vô sanh).
Câu này rất dễ hiểu. Chư
Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát thấy hết thảy
vạn vật, dẫu là lục đạo hay là
mười pháp giới đều là bất sanh bất
diệt. V́ sao? Các Ngài từ Tướng thấy
được Tánh, Tánh cũng như Tướng không
trở ngại; cốt sao quư vị hiểu
được chân tướng sự thật này. V́ sao?
Như tấm gương soi chiếu vạn vật bên
ngoài có trở ngại ǵ hay không? Vạn vật hiện
trong gương, gương trọn chẳng nhiễm,
mảy may trở ngại cũng không có. V́ sao nay chúng ta có
chướng ngại? Do chúng ta nhiễm trước. Chúng
ta mắt thấy, tai nghe, tiếp xúc cảnh giới bên
ngoài bèn khởi tâm, động niệm, sanh khởi
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vậy
là hỏng bét rồi! Phật, Bồ Tát hiểu rơ chân
tướng sự thật rơ ràng minh bạch, chẳng
khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng phân
biệt, chẳng chấp trước. Những lời này
tôi đă nói rất nhiều năm rồi, ai thực
hiện được th́ người ấy thành tựu.
Lời này chẳng phải để nói
xuông, có nói cũng vô ích, [chỉ là] kể tên món ăn,
đếm của báu nhưng chính ḿnh chẳng
được thọ dụng! Nếu chính ḿnh đối
với cảnh giới hiện tiền, ta thấy sắc,
nghe tiếng, quả thật biết chân tướng
sự thật rơ rệt, minh bạch: Đây là Tướng
Phần, kia là Tánh Phần, thực sự khế nhập
cảnh giới, Tánh và Tướng như một. Nếu Tánh
và Tướng vẫn là đối lập th́ vẫn là đang
mê, chưa ngộ! Thực sự giác ngộ th́ Tánh và
Tướng là một, Sự - Lư là một, nhân quả là
một, quư vị nhập Nhất Chân, đắc nhất
tâm. Do như vậy mà đắc nhất tâm .
Bởi thế, tách ĺa hết thảy
cảnh giới th́ quư vị sẽ đạt
được nhất tâm từ đâu đây? Huống
hồ quư vị có ĺa được cảnh giới hay
chăng? Không ĺa được! Quư vị chỉ có thể
chuyển đổi, chứ chắc chắn không thể
ĺa khỏi được. V́ sao không tách ĺa
được? Pháp Tánh tự nhiên hiện, có thể tánh
th́ tự nhiên bèn hiện tướng, hễ có hiện
tướng th́ tự nhiên có tác dụng. Thể - Tướng
- Dụng là một nhưng ba, tuy ba mà một, giống
như h́nh tướng hiện trong gương, là một
không hai. Đúng là mê - ngộ bất đồng, do vậy:
“
Chúng sanh ư trạm nhiên vô sanh trung, duy
kiến sanh diệt.
眾生於湛然無生中。唯見生滅。
(Trong vô
sanh trạm nhiên, chúng sanh chỉ thấy sanh diệt).
Chúng sanh đang mê, vô sanh là Pháp Tánh.
Nơi Pháp Tánh, chúng sanh thấy hiện tướng sanh
diệt, chỉ thấy được Pháp Tướng,
coi Pháp Tướng là đối lập, quên mất Pháp Tánh
vô sanh, hoàn toàn không biết ḿnh đối lập nơi
tướng hư vọng. Giống như chúng ta thấy
cái phông màn đây; cái phông màn này là tướng, phía sau có núi,
có mây vờn, có cây cối, phân biệt như thế. Sự
phân biệt ấy là khởi tâm động niệm: Đây
là núi, đây là mây, đây là cây, cây không phải là núi, núi
không phải là mây. Dấy lên vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước là hỏng rồi, mê rồi,
càng mê sâu hơn, càng chấp trước nghiêm trọng
hơn. Chư Phật, Bồ Tát không vọng tưởng,
không phân biệt, không chấp trước, thấy rất
rơ ràng, không khởi tâm động niệm. Các Ngài không nói
đây là cây, đây là mây, đây là núi, không hề có,
nhất thể! Bất đắc dĩ th́ gọi bằng
một danh từ, đó là Pháp Tướng.
Pháp Tánh có thể hiện (năng hiện),
Pháp Tướng là cái được hiện (sở hiện),
Pháp Tánh là một, Pháp Tướng bất nhị, đó là
trí huệ chân thật. Có như vậy mới thấy chân
tướng sự thật rơ ràng, minh bạch, không mê, không
nhiễm. Chúng ta học Phật phải lấy việc
khế nhập cảnh giới này làm mục tiêu tu học,
kinh thường gọi điều này là “nhập Phật tri kiến”. A! Nay đă
đến giờ rồi!
Tập
44
Xin xem tiếp phần khai thị của
thiền sư Trung Phong trong thời thứ nhất. Chúng
tôi đă đọc đoạn sau đây:
Cố chư Phật ư nghiễm nhiên
sanh diệt trung, duy kiến vô sanh; chúng sanh ư trạm
nhiên vô sanh trung, duy kiến sanh diệt.
故諸佛於儼然生滅中。唯見無生。眾生於湛然無生中。唯見生滅。
(V́
thế, chư Phật đối với sự sanh
diệt đành rành, chỉ thấy vô sanh; chúng sanh
đối với vô sanh trạm nhiên chỉ thấy sanh
diệt).
Hai câu này tôi đă giảng rồi. Thiền
sư Trung Phong quả thật đă dùng lời giải
thích trực tiếp, thích đáng nhất để
thuyết minh chúng sanh khác với Phật ở chỗ nào.
Chúng ta hăy xem đoạn văn khai thị tiếp theo
đó:
Chỉ nhân mê ngộ chi hữu
sai, toại trí hiện lượng chi bất nhất; thật
năi sanh vô tự
tánh, vô sanh diệc vô tự tánh, ngộ tắc sanh diệt
giai vô sanh, mê tắc vô sanh giai sanh diệt. Sở dĩ, ly
thử biệt vô, thị năi nhất thể nhi dị danh
dă.
只因迷悟之有差。遂致現量之不一。實乃生無自性。無生亦無自性。悟則生滅皆無生。迷則無生皆生滅。所以離此別無。是乃一體而異名也。
(Chỉ do
mê - ngộ sai khác mà đến nỗi hiện lượng[8] khác
nhau, chứ thật ra, sanh không có tự tánh, vô sanh cũng
không có tự tánh. Hễ ngộ th́ sanh diệt đều
là vô sanh, c̣n mê th́ vô sanh đều thành sanh diệt. Do
vậy, ĺa khỏi cái này th́ không
c̣n ǵ khác, đấy chỉ là một Thể mà tên gọi
khác nhau).
Chúng ta đọc đến đoạn
này. Trong đoạn trên, đại sư đă v́ chúng ta
thuyết minh tỉ mỉ: Chúng sanh và Phật sai biệt
ở chỗ nào? Sai biệt ở chỗ mê hay ngộ, mê
th́ gọi là chúng sanh, giác ngộ th́ gọi là Phật. V́
vậy, ở đây, thiền sư nói: “Chỉ nhân mê ngộ chi hữu sai” (Chỉ do mê hay
ngộ mà có sai khác). Mê hay ngộ là quư vị thấy
cảnh giới bên ngoài, tức sáu căn tiếp xúc
cảnh giới bên ngoài, mắt thấy, tai nghe, thân thể
tiếp xúc, cho đến tất cả hết thảy
cảm thọ đều khác nhau. Những đạo lư
như vậy nếu giảng giải một cách nông cạn
th́ không đến nỗi khó hiểu lắm. Ví như chúng
ta cùng sống trong thế gian này như nhau, nhưng do tŕnh
độ văn hóa khác biệt, sự tu dưỡng sai
khác, thấy cảnh giới bên ngoài – tức là đối
với hết thảy người, sự, vật – mỗi
người cảm nhận khác nhau. Đấy là một
sự thật rất rơ ràng. Ngoài ra, cũng có thể nêu một
thí dụ khác: Như khi mỗi một người chúng ta
đang vui vẻ, thấy hết thảy người,
sự, vật đều cảm thấy vui thích; nếu
khi chúng ta đang lo buồn, phiền năo, nh́n vào hết
thảy người, sự, vật, ắt cảm thấy
chán ghét, đều không đáng ưa.
Do vậy, biết rằng: Cảnh
giới bên ngoài là một, tùy theo mức tu dưỡng, tùy
theo t́nh cảm của chúng ta, sau khi ta tiếp xúc, trong
sự cảm nhận của ta cảnh giới sẽ
bị biến đổi rất lớn. Ngay từ bản
thân mỗi người chúng ta, hoặc là từ giữa chốn
bạn bè thân thiết, mọi người cùng tụ
hội, dễ thấy chuyện này rơ rệt nhất.
Từ đây chúng ta có thể suy đoán là bọn phàm phu
chúng ta và Phật khác biệt rất lớn. Sự khác
biệt trong việc nhận biết vũ trụ và nhân
sinh là rất lớn. Chư Phật thấy
được chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh, chúng ta chỉ thấy vọng tướng của nhân
sinh và vũ trụ. V́ sao chúng ta thấy hư vọng? Chỉ
v́ chúng ta mê mất chân tướng. Mê như thế nào? Trong
phần trên đă nói rồi đó: Phật, Bồ Tát giác
ngộ, triệt để giác ngộ, viên măn giác ngộ;
bởi vậy, các Ngài trông thấy chân tướng của
vũ trụ và nhân sinh.
Ở đây, thiền sư dạy chúng
ta: “Chỉ nhân mê ngộ chi hữu
sai, toại chí hiện lượng nhi bất nhất” (Chỉ
v́ mê ngộ sai biệt, đến nỗi hiện
lượng khác nhau) – cách thấy của chúng ta và cách
thấy của Phật khác nhau. Cách thấy của chúng ta
là đối với cảnh giới bèn sanh khởi
vọng tưởng, bèn khởi tâm động niệm, bèn
phân biệt, chấp trước. Sáu căn của Pháp Thân
Bồ Tát và chư Phật Như Lai tiếp xúc cảnh
giới sáu trần chẳng khởi tâm động
niệm, không phân biệt, chấp trước. Khởi tâm
động niệm là vô minh; vọng tưởng và chấp
trước là tạo nghiệp. Trong hết thảy
cảnh duyên, Phật, Bồ Tát không mê hoặc, không tạo
nghiệp, đắc đại tự tại! Sai biệt
ở chỗ này, ngoài điều này ra, sai biệt ǵ
cũng chẳng có. V́ thế, tiếp theo đó, thiền sư
lại nói:
“Thật
năi” nghĩa là nói thật ra,
“sanh vô tự tánh” (sanh không
có tự tánh). Sanh là hiện tướng của hết
thảy vạn vật. Hết thảy vạn sự,
vạn vật sanh khởi, kể cả hư không, hư
không vốn cũng chẳng có, hư không sanh khởi
như thế nào? Nếu nói hư không chẳng có, ắt
mọi người cảm thấy rất lạ lùng;
thế nhưng qua tỷ dụ sau đây, có lẽ quư
vị sẽ lănh hội được. Ví như nằm
mộng, trong mộng có hư không hay chăng? Có! Vậy tôi
hỏi quư vị: “Hư không trong mộng do đâu mà có?” Lúc
quư vị nằm mộng, hư không hiện hữu, lúc
tỉnh dậy, cái hư không trong mộng không c̣n nữa.
Như vậy, nếu quư vị chú tâm quan sát: Hiện
tướng ấy thực sự tồn tại, hư
không có sanh diệt, cái hư không trong giấc mộng
của chúng ta có sanh diệt.
Đương nhiên, hết thảy
hiện tượng, thế giới, vi trần, chúng sanh
được hiện trong cái hư không đó, những
cảnh giới vốn có trong mộng tợ hồ
hiện hữu đối với chúng ta, chúng có sanh, có
diệt. Nay cái hư không, thế giới, núi, sông,
đại địa, chúng sanh lăng xăng đang
hiện diện này do đâu mà có? Đúng là từ hư
không sanh, hư không là Không, trong Không sanh ra Có. Hiện tại,
khoa học đă phát hiện: Quả thật trong Không sanh
ra Có, đă thế lại c̣n nhất thời đốn
hiện, hoàn toàn giống với những ǵ kinh Đại
Thừa đă nói, nhưng không diễn giải
được tường tận như trong kinh điển.
“Sanh vô tự
tánh” (Sanh không có tự tánh),
tự tánh ấy chính là tự thể, sanh không có tự
thể. V́ không có tự thể nên mới gọi là
vọng, nó không phải là chân. Kinh Lăng Nghiêm giảng
rất khéo: “Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Từ
đâu sanh ra th́ cũng chính từ ngay đó mà diệt).
Tốc độ sanh diệt rất nhanh, không có cách ǵ h́nh
dung được nên đức Phật bảo là “chẳng thể nghĩ bàn”, tức
là không có cách ǵ để h́nh dung tốc độ nhanh chóng
ấy. Trong những buổi giảng, chúng tôi thường
dùng chuyện chiếu bóng làm tỷ dụ, tấm phim
lọt vào ống kính của máy chiếu phim khi nó mở ra,
chẳng phải là h́nh ảnh bèn được chiếu ngay
lên màn bạc hay sao? Đó là Sanh. Ống kính đóng lại,
h́nh ảnh ấy không c̣n nữa. Đó là Diệt. Ống
kính lại mở ra, tấm ảnh thứ hai lại
xuất hiện, đó lại là Sanh; rồi lại đóng
vào, bức ảnh thứ hai lại diệt. Đó là
sự sanh diệt quư vị trông thấy rất rơ ràng.
Sự sanh diệt ấy là nhất thời đốn
hiện, Sanh là nhất thời đốn sanh, không có
trước sau; Diệt cũng là nhất thời
đốn diệt, cũng không có trước sau.
Đấy chính là như kinh Lăng Nghiêm đă giảng: “Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận” (Từ đâu sanh ra th́
cũng chính từ ngay đó mà diệt).
Thế nhưng sự sanh diệt do
ống kính của máy chiếu phim đóng hay mở trong
một giây chỉ là hai mươi bốn lần. Những
hiện tượng hiện đang ở trước
mắt, kể cả thân thể chúng ta, kể cả
những ǵ chúng ta cảm nhận, những ǵ chúng ta có thể
thấy được, nghe được, suy nghĩ,
tưởng tượng đều được tính
gộp trong đó. Trong một giây, những hiện
tượng ấy sanh diệt bao nhiêu lần? Kinh Nhân
Vương bảo một cái khảy ngón tay là sáu
mươi sát-na, trong một sát-na có chín trăm lần sanh
diệt. Chiếu theo đó, trong một giây tối
thiểu chúng ta khảy ngón tay được bốn
lần, bốn lần sáu mươi nhân chín trăm gần
bằng hai mươi vạn tám ngàn, tức là hai
mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt. Không [chậm]
như tốc độ của ống kính trong máy chiếu
phim mà nhanh như thế nào? Một giây không phải là hai
mươi bốn lần mà là hai mươi mốt vạn
sáu ngàn lần, làm sao quư vị biết [những tướng
được biến hiện] là giả cho
được!
Tôi cho rằng trong kinh Nhân Vương,
đức Thế Tôn giảng như vậy chỉ là nói một
cách phương tiện, chứ chưa phải là đă nói
sự thật. V́ sao? Sự thật, tốc độ c̣n
nhanh hơn thế nữa, không có cách ǵ tưởng
tượng được. Tợ hồ nhanh đến
mức độ nào? Gần như sanh diệt đồng
thời. Bởi vậy, kinh Phật thường bảo là
“bất sanh, bất diệt”,
bất sanh bất diệt là sanh diệt đồng
thời, vừa nói sanh th́ đă diệt, vừa nói diệt
bèn lại sanh, nhất thời đốn hiện. Nhất
thời đốn hiện là ngay trong cùng một thời,
tính như thế nào là “một
thời”? Trong một thời sanh, lại diệt trong
cùng một thời ấy, sanh diệt đồng thời.
Bởi thế, sanh không có tự tánh, vô sanh cũng chẳng
có ự tánh.
“Ngộ tắc
sanh diệt giai vô sanh” (Hễ
ngộ th́ sanh lẫn diệt đều là vô sanh): Chư
Phật, Bồ Tát giác ngộ, biết sanh và diệt
đều là bất sanh, hết thảy pháp không sanh, không
sanh th́ làm sao có diệt? Đấy mới là chân
tướng của vũ trụ và nhân sinh. Do vậy,
chư Phật, Bồ Tát đối với những
hiện tượng này từ trước đến nay
chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, hoàn toàn
tương ứng với chân tướng. Do vậy, Thanh
Lương đại sư khi chú giải kinh Hoa Nghiêm
đă bảo: Chư Phật, Bồ Tát thuộc về vô
ngại pháp giới, tức Lư vô ngại, Sự vô ngại,
Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, pháp giới không
chướng ngại.
Pháp giới không chướng ngại
ở đâu? Ở ngay trước mặt chúng ta. V́ sao
chúng ta không thấy? V́ chúng ta đă mê rồi! H́nh dáng
của mê là ǵ? H́nh dáng của mê là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, quư vị khởi lên
những thứ ấy là bị phiền phức rồi!
Như thế gọi là “khởi
Hoặc, tạo nghiệp”. Tạo nghiệp chính là quư
vị đă bóp méo những tướng được biến
hiện của vũ trụ và nhân sinh, những tướng
ấy cũng là được hiện bởi tâm.
Những hiện tướng ấy vốn là thế
giới Cực Lạc, là Nhất Chân pháp giới, là thế
giới Hoa Tạng rốt ráo viên măn, không khiếm
khuyết mảy may nào. Sau khi bị bóp méo, cảnh giới
bên ngoài bèn nảy sanh biến hóa, biến thành mười
pháp giới, biến thành sáu nẻo, biến thành tam
đồ, biến hóa như vậy đó!
Thế nhưng nếu quư vị hiểu
biết th́ chủ thể gây ra sự biến hiện
(năng biến) ấy chính là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. Do vậy, cái cảnh
giới được biến hiện do cái năng
biến này (cái được biến là lục
đạo, tam đồ) sanh ra cũng chẳng phải là
thật. Tuy không thật, nhưng quư vị chẳng giác; do
bất giác nên phải gánh chịu, phải chịu khổ,
chịu nạn trong ấy, khác nào quư vị nằm mộng
trong khi đang mộng. Quư vị
gặp ác mộng, gặp ác mộng rất khó chịu! Có
lúc sợ đến nỗi mướt mồ hôi lạnh
khắp thân, tỉnh phắt dậy, sợ điếng
người. Kết quả chỉ là một cơn
mộng. Nay chúng ta đang luân hồi trong lục
đạo cũng là đang mơ một giấc mộng
lớn trong mười pháp giới. Cơn mộng ấy
từng giấc nối tiếp nhau, nằm mộng trong khi
đang mộng, vĩnh viễn không tỉnh
được, có phải là phiền phức quá hay
chăng? Phật, Bồ Tát không dạy chúng ta điều
chi khác cả, chỉ là nhằm đánh thức chúng ta
khỏi giấc mộng đó thôi.
V́ thế, câu này nói rất khéo, rất
thật: “Sanh vô tự tánh, vô
sanh diệc vô tự tánh” (Sanh không có tự tánh, vô sanh
cũng không có tự tánh). Đối với người
giác ngộ, sanh lẫn diệt đều là vô sanh, họ
thấy rất rơ ràng, rất minh bạch; người mê
không vậy, “mê tắc vô sanh
giai sanh diệt” (mê th́ vô sanh đều là sanh diệt).
Người mê chấp trước, phân biệt, trong
sự cảm nhận của họ, tất cả hết
thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ
đều có sanh, có diệt.
Mỗi khi đức Phật giảng
kinh, chúng ta biết Ngài căn cứ trên Nhị Đế. Nhị
Đế là ǵ? Thứ nhất là thuận theo cảnh
giới do chính ḿnh đă chứng đắc, đó gọi
là Chân Đế. Giảng cho quư vị những điều
chân thật: Những kinh như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa là những bộ
kinh lớn giảng về lẽ chân thật, giảng
về cảnh giới của Phật, Bồ Tát, bọn
lục đạo phàm phu chúng ta rất khó tiếp nhận,
rất khó thấu hiểu. V́ sao? Đó chẳng phải là
cảnh giới của chúng ta, hoàn toàn khác với cảnh
giới của chúng ta. V́ vậy, ngoài ra đức Phật
c̣n thuyết pháp thuận theo chúng sanh, tùy thuận chúng sanh
chính là Tục Đế. Tùy thuận Tục Đế th́
đức Phật giảng có sanh - lăo - bệnh - tử,
động vật có sanh - lăo - bệnh - tử, thực
vật có sanh - trụ - dị - diệt, khoáng vật như
tinh cầu th́ có thành - trụ - hoại - không. Những
điều này chúng ta hiểu, chúng ta đồng ư, thừa
nhận những cách giảng như thế, không sai chút nào.
Đó là thế giới theo cảm nhận của phàm phu, đức
Phật cũng thường giảng như thế. V́ sao?
Quư vị chưa giác ngộ; nếu giảng sự
thật, quư vị sẽ không hiểu được,
giảng điều giả th́ quư vị hoàn toàn
đồng ư, đấy chính là “mê
tắc vô sanh giai sanh diệt” (hễ mê th́ vô sanh
đều là sanh diệt). Kiến giải của Phàm và
Thánh bất đồng, chứ thật ra Lư và Sự
chẳng hai!
Tôi thường nói tiến sĩ Giang Bổn
Thắng của Nhật Bản đă dùng phương pháp
khoa học [để chứng minh] đạo lư này,
tức là dùng nước làm thí nghiệm (nước là
khoáng vật), phát hiện nước có thể thấy, có
thể nghe, có thể hiểu được ư nghĩ của
con người. Dùng thiện ư đối với nó, nó
kết tinh rất đẹp đẽ. Dùng ác ư đối
với nó, nó kết tinh hết sức xấu xí. Những
điều này chứng minh lời Phật đă giảng:
Nước có khả năng thấy - nghe - hay - biết,
thấy - nghe - hay - biết là Pháp Tánh. Nó không phân biệt,
vọng tưởng, chấp trước, nhưng nó có
thể bị ảnh hưởng bởi vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước của
những thứ khác mà biến dạng, tướng
trạng của nước bị biến dạng.
Từ thí nghiệm này, chúng ta có thể
nhận hiểu một điều: Nước nơi Tây
Phương Cực Lạc thế giới, nước
trong thế giới Hoa Tạng nhất định không
hề bị thiếu khuyết mảy may, hết sức
viên măn, thực sự đầy đủ “chân thiện
mỹ huệ” như ta thường nói. V́ sao? Người
trong những thế giới ấy toàn là bậc giác
ngộ. Thế giới Hoa Tạng toàn là Pháp Thân đại
sĩ, không có phàm phu. Mức thấp nhất đều là
hàng Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, cho đến hàng
Đẳng Giác, cho đến quả địa Như Lai.
V́ vậy, nơi ấy không có người mê hoặc, mà toàn
là người thực sự giác ngộ. Tất cả
hết thảy vật chất đều biến thành hoàn
mỹ nhất, nên gọi là Nhất Chân. Địa cầu
của chúng ta đây vốn vẫn là Nhất Chân, v́ sao
lại biến ra nông nỗi này? Cư dân trên địa
cầu mê không giác, suốt ngày từ sáng đến tối
khởi vọng tưởng, những điều suy
nghĩ, tâm niệm, lời lẽ, việc làm đều
hoàn toàn trái nghịch Pháp Tánh. Do vậy, núi, sông, đại
địa, tất cả hết thảy vật chất
nơi đây đều bị biến đổi theo tâm
tưởng của chúng ta, biến thành hết sức
xấu xí.
Núi, sông, đại địa nơi cơi
này và núi, sông, đại địa cơi Cực Lạc
giống hệt nhau, v́ sao bên họ đẹp đẽ dường
ấy, ở chỗ chúng ta lại xấu tệ
đến thế? Không có ǵ khác cả, tướng
chuyển theo tâm! Tâm chúng ta bất thiện, nó bèn phản
ứng bất thiện; tâm chúng ta thiện th́ ngay lập
tức nó phản ứng tốt lành! Do vậy, chúng ta bèn
hiểu được rằng: Nếu như tất
cả cư dân trên thế giới này buông hết thảy
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
xuống được th́ thế giới của chúng ta
chính là thế giới Cực Lạc. V́ sao? Tất cả
hết thảy vật chất lập tức biến
đổi. Từ thí nghiệm nước kết tinh, chúng
ta thấy rằng nếu dùng ác ư đối với
nước, nó sẽ kết tinh hết sức xấu xí.
Chúng ta thay đổi ư niệm, dùng ư niệm tốt lành
nhất đối với nó, ngay lập tức sự kết
tinh của nước bèn biến đổi, biến
hiện những kết tinh rất đẹp cho ta
thấy, biến đổi theo ư niệm của chúng ta.
Tiến sĩ Giang cho biết: Trong
suốt tám chín năm, ông ta chưa hề thấy có hai mẫu
kết tinh nước hoàn toàn giống nhau, chúng tôi có
thể khẳng định điều này. V́ sao? Mỗi ư
niệm của quư vị khác nhau, nước phát sanh
những biến hóa theo từng ư niệm. Quư vị không có
hai ư niệm hoàn toàn tương đồng nên chẳng
thể xuất hiện hai kết tinh hoàn toàn giống nhau,
đạo lư là vậy!
Hy hữu thay! Khoa học đă phát
hiện được điều này, coi như là đă
bước đầu chứng thực được chân
tướng vũ trụ (nói theo thuật ngữ nhà
Phật là “Thật
Tướng của các pháp”) như trong kinh đă nói.
Phật và các đại Bồ Tát chẳng cần
đến những máy móc khoa học, các Ngài tận mắt
thấy, dùng phương pháp ǵ vậy? Thiền
Định rất sâu. Cũng có nghĩa là: Hoàn toàn buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
xuống th́ chân tướng phơi bày lồ lộ.
Tướng giác ngộ, tướng mê hoặc, y báo và chánh
báo trang nghiêm trong mười pháp giới thấy rất rơ
ràng, minh bạch, rốt cuộc là nguyên nhân ǵ, là duyên do nào
cũng đều rất rơ ràng minh bạch.
“Sở dĩ,
ly thử biệt vô, thị năi nhất Thể nhi dị
danh dă” (Do vậy, ĺa
khỏi cái này th́ không c̣n ǵ khác, chỉ là cùng một thể
mà tên gọi khác nhau). Thế nào là “dị danh” (tên gọi khác nhau)? Tướng khác
nhau, nhưng vốn cùng một Thể. Phải biết
địa cầu của chúng ta, tức địa cầu
của thế giới Sa Bà, tinh cầu của thế
giới Cực Lạc, và tinh cầu của thế
giới Hoa Tạng đều là một Thể, giống
hệt nhau, đều là vật chất. Các nhà khoa học
hiện thời bảo chúng đều do những nguyên
tố [giống nhau], nhưng được tổ hợp
khác nhau, nay ta thường nói là công thức cấu tạo
khác nhau. V́ sao kết cấu khác nhau? Kết cấu do ai
chủ tŕ? Ư niệm! Tâm quư vị thanh tịnh, những
nguyên tố cảm nhận được, nó thấy - nghe
- hay - biết mà! Đó là bản năng của Pháp Tánh chẳng
bị tiêu mất, bất sanh, bất diệt, không có h́nh
tướng, nhưng hiện hữu trong h́nh tướng.
V́ thế, bất cứ h́nh tướng nào, bất cứ
vật chất nào cũng đều có khả năng
thấy - nghe - hay - biết, thuận theo hữu t́nh chúng
sanh mà biến hóa. Hữu t́nh chúng sanh thiện th́ chúng
biến hóa rất tốt, hữu t́nh chúng sanh bất
thiện th́ chúng cũng biến hóa rất tồi tệ.
Bởi thế, “chỉ cùng là
một thể mà tên gọi khác nhau”, bởi nó chỉ
cùng một Thể mà h́nh tướng khác nhau. Tiếp
đó, đại sư giảng mấy câu về lẽ
thực tế.
Thẩm như thị.
審如是。
(Xét như
vậy).
“Thẩm
như thị”: Thẩm (審)
có nghĩa là xem xét kỹ càng, rất nghiêm túc, rất chú tâm
xem xét vấn đề này thật minh bạch, rơ ràng.
Chữ “như thị”
chỉ những điều đă nói ở phần trên.
Tắc A Di Đà Phật tức thị
ngă tâm, ngă tâm tức thị A Di Đà Phật.
則阿彌陀佛即是我心。我心即是阿彌陀佛。
(Th́ A Di
Đà Phật chính là tâm ta, tâm ta chính là A Di Đà Phật).
Quư vị bèn có thể khẳng
định, A Di Đà Phật từ đâu mà có? Từ tâm
hiện, thức biến. Tâm của ai? Chính cái tâm của
chúng ta. Quư vị phải hiểu cái tâm này là cùng chung,
thức cũng là của chung, chân tâm là của chung, c̣n
vọng tâm bất đồng. Vọng tâm của tôi khác
với vọng tâm của anh, cũng có thể nói là
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
mỗi người mỗi khác, nhưng chân tâm giống nhau.
Chân tâm: Ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước chính là chân tâm.
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
có nêu một tỷ dụ, từ tỷ dụ này chúng ta có
thể hiểu được [chân tâm]. Đức Phật
nói chân tâm giống như cái ǵ? Biển cả! Biển
cả là chân tâm. Vọng tâm là ǵ? Vọng tâm là một
bọt nước trong biển cả. Biển cả là
một, nhưng các hoa sóng xuất hiện do sóng vỗ th́ vô
lượng vô biên, mỗi một bọt nước
giống như vọng tâm của những chúng sanh chúng ta,
ta chấp trước vọng tâm là chân tâm của chính ḿnh,
quên mất chân tâm thực sự. Chân tâm là biển cả
kia mà! Khi nào cái bọt nước ấy bị vỡ tan,
tan đi sẽ dung hợp với biển cả thành
một Thể. Chân là một, vọng là hai, ba, là vô
lượng vô biên.
V́ thế, kinh Đại Thừa
thường nói: “Thập phương
tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân, nhất
tâm, nhất trí huệ, lực, vô úy diệc nhiên” (Mười phương tam thế, cùng chung
một Pháp Thân, một tâm, một trí huệ, lực, vô úy
cũng thế). Do vậy, chân tâm là một, không
phải hai. A Di Đà Phật chỉ do tâm hiện, chỉ
do thức biến. Ngă ở đây là Chân Ngă, chứ không
phải là Ngă nơi cái thân xác thịt, xác thịt không
phải là Ngă. Kinh Phật thường nói Vô Ngă, Vô Ngă là nói
về nhục thân, nơi nhục thân không có Ngă (vô ngă),
nhưng quư vị có Chân Ngă. Nhà Phật nói đến
bốn tịnh đức Thường - Lạc - Ngă -
Tịnh, đó là thật. Trong Pháp Tánh có Ngă, Pháp Tánh có Thường
- Lạc - Ngă - Tịnh, Pháp Thân có Ngă, Pháp Thân có
Thường - Lạc - Ngă - Tịnh. Mười
phương tam thế Phật cùng chung một Pháp Thân, Pháp
Thân ǵ vậy? Pháp Thân chính là Pháp Tướng. Chân tâm, Chân Ngă
là Pháp Tánh, tướng được hiện bởi Pháp
Tánh gọi là Pháp Tướng. Pháp Tướng là ǵ? Hư
không, thế giới, hết thảy chúng sanh là Ngă!
Chuyện này rất khó hiểu, rất khó lănh hội.
Tôi lại dùng chuyện mộng
để tỷ dụ, chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nằm
mộng. Tôi hỏi quư vị nhé: Trong khi quư vị đang
nằm mộng, nếu quư vị bất chợt giác
ngộ: “Ḿnh đang nằm mộng mà!” th́ mộng ấy
từ đâu mà có? Con người hiện thời nói
mộng do tâm ư thức biến hiện, tâm ư thức
biến hiện thành cảnh giới trong mộng. Trong
mộng có hư không, trong mộng có núi, sông, đại
địa, trong một có rất nhiều nhân vật.
Vậy th́ quư vị phải hỏi: Có cái ǵ trong mộng
không phải là quư vị hay chăng? Mộng do tâm ư thức
của ta biến hiện, thứ ǵ cũng đều là
ta; quư vị bèn hiểu rơ: Không ǵ chẳng phải là ta. Lúc
ấy, quư vị mới thực sự hiểu lời
Phật đă nói: “Đồng
thể đại bi, vô duyên đại từ”.
V́ sao đức Phật phải yêu
thương, che chở hết thảy chúng sanh, phải
độ chúng sanh khổ nạn? Không có ǵ khác cả! V́ cùng
chung một Pháp Thân. Ta có cái thân này, thân của hết
thảy chúng sanh cũng là thân của ta, núi, sông, đại
địa cũng là cái ta có, thậm chí hư không cũng
là cái ta có. Chúng ta nói đến người một nhà,
người một nhà vẫn chưa thân thiết, thân
thiết nhất chính là “cùng
chung một Pháp Thân”, lẽ đâu không yêu thương,
che chở? Do vậy, trông thấy hết thảy chúng sanh
chịu khổ chính là bản thân ta chịu khổ,
thấy hết thảy chúng sanh hưởng vui chính là
tự ḿnh hưởng vui. Chúng sanh và Phật không hai, chúng
sanh và Phật là một, không phải hai. Chúng sanh và ta không
hai, ta và chúng sanh là một Thể. Không chỉ cùng một
thể với hữu t́nh chúng sanh, kinh Hoa Nghiêm nói: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên
Chủng Trí” (T́nh và vô t́nh cùng viên măn Chủng Trí). Ta và cây
cối hoa cỏ, núi, sông, đại địa, hư không
rộng lớn có cùng một thể. Đạo lư này sâu xa
lắm, chỉ có kinh Đại Thừa mới giảng
thật rơ ràng, thật thấu triệt. Đó là Thật
Tướng, là chân tướng sự thật, vốn
sẵn là như thế.
Mười pháp giới là một Thể
nhưng khác tên, thực sự là một Thể. Chúng ta nói
đến Phật pháp giới, Bồ Tát pháp giới, Thanh
Văn pháp giới, Duyên Giác pháp giới, thiên pháp giới,
nhân pháp giới, ngạ quỷ pháp giới, súc sanh pháp
giới, địa ngục pháp giới, một Thể nhưng
khác tên. V́ sao khác tên? Do khác tướng, tướng không
giống nhau, nhưng quả thật là một Thể.
Vốn chỉ là một tướng, tướng bị
sai khác là v́ chúng sanh khởi vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, bóp méo tướng ấy.
Tướng bị bóp méo khác nhau, nên mang tên khác nhau, chứ
thật ra chỉ là một Thể. Có thể khôi phục
tướng ấy thành giống hệt nhau hay chăng?
Được chứ! Chỉ cần ĺa được
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, hết
thảy tướng sẽ biến thành một
tướng. Một tướng có nghĩa là núi vẫn là
núi, nước vẫn là nước, cây vẫn là cây, hoa
vẫn là hoa, nhưng biến thành tướng đẹp đẽ
nhất!
Giống như trong kinh Phật đă
giảng: Trong các cơi Phật, cây cối, hoa, cỏ vĩnh
viễn không điêu tàn, vĩnh viễn xanh tươi,
thật lạ lùng! Nói cách khác, thực vật không có sanh - trụ
- dị - diệt, động vật không có sanh - lăo - bệnh
- tử, khoáng vật không có thành - trụ - hoại - không,
chẳng thể nghĩ bàn! Con người thọ vô
lượng, cây cối, hoa, cỏ cũng thọ vô
lượng, núi, sông, đại địa cũng thọ
vô lượng, chúng ta thấy đó: Cảnh giới của
chư Phật chẳng thể nghĩ bàn! Cảnh giới của
chư Phật là thật, bị biến thành nông nỗi này
là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
nơi bản thân chúng ta biến hiện ra, lầm lẫn
chịu khổ chịu nạn trong ấy. Vạn pháp có cùng
một Thể nhưng tên khác biệt, một Thể là Pháp
Tánh. Chúng ta lại thấy: Ở đây, đại sư
lại nói A Di Đà Phật chỉ do tâm hiện, chỉ do
Thức biến, lại xét đến y báo:
Tịnh Độ tức thử
phương, thử phương tức Tịnh
Độ.
淨土即此方。此方即淨土。
(Tịnh
Độ chính là phương này, phương này chính là
Tịnh Độ).
Quả địa cầu của chúng ta
đây và Tây Phương Cực Lạc thế giới là
một không hai, không khác ǵ nhau. Tây Phương Cực
Lạc thế giới trang nghiêm như thế đó,
tốt đẹp như thế đó. Đức Thế
Tôn dạy chúng ta: Mặt đất của Tây Phương
Cực Lạc thế giới không phải là đất cát,
không phải là śnh lầy mà là ǵ? Là bảy báu. Đại
địa là lưu ly, người thế gian chúng ta
gọi lưu ly là Phỉ Thúy, tức một loại ngọc
có màu xanh lá cây trong suốt. Như vậy đại
địa của Tây Phương Cực Lạc thế
giới trong suốt, từ trên mặt thấy thấu
tận đáy, thuần sắc xanh tuyền. Bảy báu trong
thế giới của chúng ta rất cứng rắn như
đá tảng vậy, rất cứng nên chỉ có thể
làm những món châu bảo, làm đồ công nghệ, làm thành
sản phẩm nghệ thuật để thưởng
thức. Bảy báu của Tây Phương Cực Lạc
thế giới mềm mại, đại địa
rất mềm, ta bước lên giống như đi trên
một cái mền bằng đất rất dầy, đi
lên đó rất dễ chịu, không cứng chắc.
Ở chỗ chúng ta đây, làm đường
bằng nhựa đường, phủ nhựa
đường hoặc tráng xi-măng. Đường sá
ở Tây Phương Cực
Lạc thế giới bằng vàng ṛng, quư vị hiểu vàng
ṛng biết là bao nhiêu, vàng ṛng đem lót đường.
Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mă năo, phần lớn
những thứ quư báu ấy được dùng làm vật
liệu xây dựng. V́ sao trong thế giới chúng ta,
những thứ này bị biến thành đất sét, cát,
đá, đều bị biến thành những thứ
như vậy? Không có ǵ khác cả, hoàn toàn giống như
phản ứng kết tinh của nước! Người
sống nơi này tâm bất thiện, bởi thế,
phản ứng kết tinh bèn biến thành những thứ
ấy. Người Tây Phương Cực Lạc thế
giới hiền lành, vật chất bèn phản ứng, biến
thành vô lượng trân bảo, chứ thật ra, chúng
chỉ là một thứ, không khác ǵ nhau! Bởi thế, “Tịnh Độ tức thử
phương, thử phương tức Tịnh
Độ” (Tịnh Độ chính là phương này,
phương này chính là Tịnh Độ).
Khởi phi mê ngộ chi tự thù, hà
hữu thánh phàm nhi bỉ thử.
豈非迷悟之自殊。何有聖凡而彼此。
(Há
chẳng phải do mê ngộ nên tự khác nhau, nào có thánh
phàm sai biệt!)
Phàm hay Thánh bất quá chỉ là danh
từ mà thôi, tên gọi khác nhau, nguyên nhân thực sự gây
nên những hiện tượng bất đồng chính là
mê hay ngộ. Người Tây Phương Cực Lạc
thế giới giác ngộ, tất cả hết thảy
vạn vật, cảnh giới biến hiện theo cái
ngộ đó đều là tốt đẹp chẳng
thể nghĩ bàn. Con người trong thế gian chúng ta hiện
thời tâm hạnh bất thiện, cho nên tất cả
hết thảy vạn vật ở nơi đây biến
thành xấu tệ, đạo lư là như vậy. Do đó,
y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới chính là
những h́nh ảnh biến hiện từ chính cái tâm
của chúng ta. Kinh Kim Cang dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn,
bào, ảnh” (Hết thảy pháp hữu vi, như
mộng, huyễn, bọt, bóng), chúng là những h́nh
tướng do cái tâm của chúng ta biến hiện. Chúng ta
phải biết rơ ràng, phải thấu suốt, phải
hiểu rơ đạo lư và chân tướng sự thật
này. Như vậy, phải sửa đổi từ nơi đâu?
Từ ngay nơi cái tâm chúng ta, đó là thực sự tu
đấy.
Chân tu không phải là h́nh thức, mà cốt ở thực chất.
Thực chất là ǵ?
Khởi tâm động niệm. Thoạt
đầu, Chương Gia đại sư dạy tôi câu này: “Phật
pháp trọng thực chất chứ không trọng h́nh
thức. Tâm anh biến thành thiện th́ không ǵ chẳng
thiện”. Đầu tiên là tướng mạo
chuyển biến, tướng chuyển theo tâm,
tướng mạo trang nghiêm; tiếp đến là thể
chất, thân thể mạnh khỏe, không có bệnh
tật. Đó là vật chất gần ḿnh nhất. Chúng ta
khởi tâm động niệm, tất cả hết
thảy vật chất đều có phản ứng, giống
như nước kết tinh vậy. V́ thế, tâm quư
vị lành, tư tưởng lành, ngôn ngữ, hành vi lành th́
mỗi tế bào khắp toàn thân, mỗi một khí quan
đều tốt lành, mọi thứ đều tốt
lành cả, lẽ nào quư vị không khỏe mạnh cho
được, làm sao sanh bệnh cho được!
Nói cách khác, nếu quư vị sanh bệnh,
có bệnh tật ǵ th́ bệnh do đâu sanh ra? Chủ
yếu là do ư niệm bất thiện tạo thành. Đương
nhiên vẫn c̣n có những nhân tố khác, những nhân
tố khác là ăn uống, khí hậu, bị hoàn cảnh
bên ngoài công kích, nhưng quan trọng nhất vẫn là tâm
tư của chính ḿnh. Nay y giới cũng đang nghiên
cứu sức khỏe tâm lư, người tâm lư khỏe
mạnh dẫu bị bệnh v́ nhiễm lạnh, trúng gió
cũng rất dễ chữa trị, rất mau lành, khôi
phục b́nh thường. Nếu tâm lư không khỏe mạnh,
ắt phiền toái vô cùng, rất dễ bị virus bên ngoài
công kích, lại c̣n khó lành bệnh, tâm lư không khỏe mạnh
mà! Hiện tại, các bác sĩ thường nói như
thế, nhưng chưa biết được tiêu
chuẩn của tâm lư khỏe mạnh là ǵ, c̣n trong Phật
đă nói về điều này rất rơ rệt.
Lần thứ nhất chúng tôi
được nghe câu: “Phật
pháp trọng thực chất chứ không trọng h́nh
thức” là từ Chương Gia đại sư
dạy. Lần thứ hai được nghe câu này ở
Tân Gia Ba, Tổng Thống Nạp Đan (Sellapan Rama Nathan) bảo
tôi như vậy. Ông ta theo Ấn Độ Giáo (Hinduism), cho
biết bản thân hết sức tôn trọng Phật giáo,
ông ta bảo: “Phật giáo
trọng thực chất chứ không trọng h́nh thức”. Tôi nghe xong cảm thấy hết
sức kinh ngạc, bởi lẽ, sau khi tôi được
nghe câu nói này từ Chương Gia đại sư, trong
mấy mươi năm chưa có ai nói câu này trước
mặt tôi. Chẳng phải là người nội hạnh
(có công tu dưỡng thực sự bên trong, người thông
hiểu sâu sắc một lănh vực nào đó) chẳng
thể nói nổi câu này.
Cái “thực
chất” đó chính là khởi tâm động niệm,
ngôn ngữ, và hành vi nhất định phải
tương ứng với chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng,
chánh giác, từ bi, không ǵ là bất thiện. Chúng ta xử
sự, đăi người, tiếp vật, nhất là
đối với những người hiểu lầm,
hủy báng, tổn hại chúng ta, chúng ta phải dùng ḷng
chân thành đối với họ, dùng tâm thanh tịnh, b́nh
đẳng đối với họ, dùng tâm chánh giác từ
bi đối với họ, chân tâm! Quyết định
chẳng được nói gă đó chơi xấu ḿnh,
cần ǵ phải xử tốt với hắn? Nếu
vậy là quư vị trật rồi! Kẻ ấy
đọa địa ngục, v́ sao ta không đọa
địa ngục? Nói vậy chẳng phải là nói lời
ngốc nghếch hay sao? Kẻ ấy gây tạo lục
đạo, v́ sao ta không gây tạo lục đạo? Nay ta
cùng kẻ ấy chẳng đi cùng một
đường; kẻ ấy theo con đường
lục đạo, chúng ta theo con đường thành
Phật. Con đường họ đi là mê không giác, con
đường nay chúng ta đang đi là giác chứ không
mê, khác nhau! Như vậy nếu cảm thấy bị thua
thiệt, vẫn c̣n ḷng giận hờn, vẫn có tâm báo thù,
há chẳng phải là lầm lạc quá đỗi ư?
Chẳng những người ta sai lầm, ḿnh cũng
lầm luôn! Đoạn khai thị này là đại
đạo lư, cũng chứa đựng chân tướng
sự thật. Nói xong, trong tiểu đoạn cuối
cùng, thiền sư dạy chúng ta:
Năi tri hiện tiền chúng đẳng.
乃知現前眾等。
(Vậy
th́ hiện tiền đại chúng).
Chúng ta hiện đang ở cùng một
chỗ làm pháp sự này, làm pháp sự này để cùng
học tập, cùng tu hành.
Dĩ tự tánh A Di Đà Phật.
以自性阿彌陀。
(Hăy đem
A Di Đà Phật nơi tự tánh).
Hiểu rồi th́ A Di Đà Phật chính
là tự tánh.
Dữ đại chúng thiệt căn.
與大眾舌根。
(Cùng
với cái lưỡi của đại chúng).
“Cái
lưỡi của đại chúng” ư nói chúng ta hăy xưng niệm A Di Đà
Phật.
Phổ đồng vận chuyển
căn bản pháp luân.
普同運轉根本法輪。
(Cùng xoay
chuyển rộng khắp căn bản pháp luân ).
“Căn
bản pháp luân” chính là
Nhất Chân pháp giới; y báo và chánh báo trang nghiêm trong
mười pháp giới đều là những h́nh ảnh do
tự tánh hiện, do thức biến. Đó là “căn bản pháp luân”. Việc
này chỉ có chư Phật Như Lai, Pháp Thân đại
sĩ thấu hiểu, thông suốt. Ngày nay chúng ta có tín tâm,
tin rằng chư Phật không nói dối, Phật chẳng
lừa dối chúng sanh, Phật nói ra câu nào cũng chân
thật, chúng ta nghe lời Phật chắc chắn không
bị lầm lạc. Chúng ta chẳng phải chỉ nghe xong
lời Phật dạy rồi thôi, không phải vậy, nghe
xong phải chiếu theo những lời dạy ấy để
tu học, sau đấy tự ḿnh đích thân chứng
đắc cảnh giới. Đấy
chính là chỗ phi thường của đức Phật,
Ngài yêu cầu chúng ta phải tự ḿnh chứng minh
được những điều đức Phật
đă giảng, chứng thực vũ trụ nhân sinh có
đúng như vậy hay không, nhất định chúng ta phải
đích thân chứng đắc. Cái “phổ đồng căn bản pháp luân” ở
đây theo chúng tôi hiểu trên mặt Sự chính là mọi
người hăy cùng xưng niệm một câu Nam Mô A Di
Đà Phật.
諸仁還委悉麼。
(Các nhân
giả c̣n ǵ vướng mắc nữa chăng? Hiểu
thấu chăng?)
“
*
Hăy xem tiếp bài kệ tiếp theo
của thiền sư Trung Phong:
12. Thiền kệ
Sanh diệt vô sanh, sanh bất sanh,
Lạc bang na khẳng cấm nhân hành,
Thùy tri vạn trượng
hồng trần lư
Hạm đạm hoa khai nguyệt
chánh minh.
生滅無生生不生。
樂邦那肯禁人行。
誰知萬丈紅塵裡。
菡萏華開月正明。
(Tạm
dịch:
Sanh
diệt vô sanh, sanh chẳng sanh,
Cực
Lạc sanh về há cấm ngăn?
Hồng
trần muôn trượng nào ai biết:
Búp sen x̣e
nở rạng trăng thanh).
Câu nào trong bài tụng này cũng mang Thiền
cơ thâm diệu. Phần khai thị ở trên cũng
khiến cho chúng ta hiểu được đôi chút bài
kệ này. “Sanh diệt vô sanh,
sanh bất sanh”, đối với Sự - Lư trong câu này
chúng tôi chẳng thể nói là ḿnh đă thấu hiểu
thật rơ ràng, tối thiểu chỉ có khái niệm lờ
mờ, như vậy đă rất hy hữu; v́ sao?
Trước kia, về căn bản, chúng ta chẳng có khái
niệm ǵ, nay có chút khái niệm như thế, nhà Thiền
gọi khái niệm ấy là “nghi
t́nh”. Có nghi t́nh th́ mới có chỗ ngộ; bởi
lẽ, tiểu nghi th́ tiểu ngộ, đại nghi bèn
đại ngộ. Ở đây, không phải là hoài nghi, mà
là nghi t́nh.
Nghe Phật, Bồ Tát, tổ sư
đại đức giảng cho chúng ta nghe chân
tướng của vũ trụ và nhân sinh, chúng ta phải
thường đọc, thường nghe, thường suy
nghĩ cho đến khi nào tâm định, định có thể
khai huệ. Tâm lao chao, vọng niệm quá nhiều sẽ
không có cách nào, cũng không có cách ǵ ngộ nhập
được; chúng tôi thường nói là “khai ngộ”, quư
vị không có cách ǵ khai ngộ. Khai ngộ th́ nhất
định tâm phải định. V́ thế, cổ nhân
Trung Quốc nói: “Độc thư
thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (Đọc
sách ngàn lần tự thấy được nghĩa).
Người học Phật hiểu đạo lư này
rất dễ dàng, sau khi đọc một ngàn lần, tâm
bèn định. Tâm đă định ắt có chỗ
ngộ. Không cần nghĩ đến nghĩa, chẳng
cần phải hỏi mà có thể thấu suốt, hoát
nhiên khai ngộ mà! Đạo lư là đây. Bởi thế,
nghe nhiều, đọc nhiều, v́ nhiều người
tuyên giảng, trí huệ càng được mở mang nhanh
chóng!
Đây là kinh nghiệm của suốt
một đời tôi, như quư vị đều thấy
đó. Tôi học Phật đến năm nay là năm
mươi hai năm, đă giảng kinh được
bốn mươi lăm năm, trong suốt bốn
mươi lăm năm không gián đoạn, ngoại
trừ những lúc phải đi đây đi đó,
hầu như ngày nào cũng giảng, mà đọc kinh
cũng chưa hề gián đoạn, khi du hành cũng không
gián đoạn. Nếu tâm quư vị định, không có
vọng niệm, không bị tạp loạn thế gian gây
rối th́ mới khế nhập được mấy phần.
Câu thứ hai nói về Tây Phương
Cực Lạc thế giới. “Lạc
bang na khẳng cấm nhân hành” (Cực Lạc sanh về
há cấm ai?): Quyết định chẳng cấm ai văng
sanh Cực Lạc thế giới. Nơi thế giới Cực
Lạc, A Di Đà Phật dang rộng hai tay hoan nghênh
mọi người di dân sang đó, không hề cự
tuyệt. Nói thật ra, cũng giống như Úc châu
hiện thời, bộ trưởng Cái Thụy (Gerry Hand)
bộ Di Dân của Úc Châu có lần chủ tŕ lễ tuyên
thệ nhập tịch, khi ấy tôi vẫn chưa là công
dân Úc, nhưng t́nh cờ lần ấy, ông ta mời tôi tham
dự lễ nhập tịch. Ông ta tuyên bố trong buổi
lễ: “Úc châu hoan nghênh di dân từ mọi nơi, chẳng
giống như những quốc gia khác đặt ra
rất nhiều hạn chế theo từng khu vực
địa lư”. Úc châu hạn chế rất ít, hoan nghênh di
dân, trở thành công dân Úc rất dễ!
Tây Phương Cực Lạc thế
giới cũng thế, hoan nghênh chúng sanh từ các cơi
Phật trong mười phương, chỉ cần quư
vị muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, điều kiện rất đơn
giản: Quư vị thực sự tin tưởng, có
nguyện vọng, muốn sanh về đó rồi nhất
tâm nhất ư niệm một câu A Di Đà Phật. Câu A Di
Đà Phật ấy giống như tín hiệu, chúng ta
ở đây phát đi tín hiệu, A Di
Đà Phật ở bên đó liền nhận
được. Chúng ta dùng phương pháp này để tâm
tâm tương ứng cùng A Di Đà Phật, giữ
mối quan hệ. Đến khi duyên chín muồi, A Di Đà
Phật sẽ đến tiếp dẫn chúng ta.
Thông thường khi duyên chín muồi là
lúc chúng ta mạng chung trong thế gian này. Quư vị phải
hiểu: Lục đạo phàm phu đều có thọ
mạng, v́ sao có mạng vận? Là v́ họ có vọng
tưởng, có chấp trước. Trong Liễu Phàm
Tứ Huấn, thiền sư Vân Cốc giảng: “Hễ ai có chấp trước,
có vọng tưởng th́ phải có số mạng, không
thể tránh khỏi số mạng. Ai vọng tưởng,
chấp trước, phân biệt đều buông xuống
được hết sẽ không c̣n số mạng nữa!”
Người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ
chúng ta có buông vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước xuống được hay chưa? Chưa!
Nếu chưa th́ vẫn c̣n có số mạng, đó gọi
là “đới nghiệp văng sanh”. Nếu vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước đều
buông xuống th́ sự văng sanh ấy gọi là “tự tại văng sanh”,
muốn đi lúc nào bèn đi ngay lúc ấy, không bị
mạng vận trói buộc, không c̣n mạng vận nữa;
v́ thế, sanh tử tự tại. Mức độ
tự tại cũng khác biệt, [tùy theo] công phu của quư
vị cao hay thấp mà [tự tại] sâu hay cạn khác
nhau. Bởi vậy, thế giới Cực Lạc luôn hoan
nghênh, tuyệt đối không ngăn cấm.
“Thùy tri
vạn trượng hồng trần lư;
hạm đạm hoa khai nguyệt chánh minh” (Ai biết trong hồng trần
vạn trượng: búp sen x̣e nở dưới trăng thanh). Từ ngữ “vạn trượng hồng trần” h́nh dung
lục đạo luân hồi. “Thùy
tri” là ai có thể nghĩ được? Trong lục
đạo luân hồi nghiễm nhiên có búp sen của Tây
Phương Cực Lạc thế giới. “Hạm đạm” là búp sen chưa nở, lúc
nở rồi th́ gọi là “liên
hoa”, lúc chưa nở gọi là “hạm đạm”. Hạm đạm là búp sen. Nói
về điều ǵ vậy? Chính là người niệm
Phật, mỗi một người niệm Phật phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ, trong ao bảy báu
nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn sanh
ra một đóa sen. Trên hoa đề tên người
ấy, trong tương lai, khi người ấy văng sanh
sẽ sanh trong hoa sen ấy.
Nay chúng ta chưa sanh vào thế giới Cực
Lạc, nay đang phát tâm, trong ao báu bên thế giới
Cực Lạc bèn có hoa sen. Tín hiệu của chúng ta là
niệm A Di Đà Phật, niệm Phật chính là tín
hiệu, tín hiệu ấy sẽ vun quén đóa sen đó. Quư
vị niệm Phật công phu càng siêng, tâm niệm càng
thuần, càng chân thật th́ hoa sen dần
dần tăng trưởng, càng ngày càng to, ánh sáng và màu
sắc càng đẹp. “Hạm
đạm hoa khai nguyệt chánh minh”: Vầng trăng
biểu thị Chân Như Tự Tánh, vẫn chỉ là do tâm
hiện, chỉ do thức biến, trọn chẳng
rời khỏi tâm tánh. Tâm tánh có thể hiện, có
thể biến; tất cả hết thảy hiện
tượng là cái được hiện, được
biến, nhất định phải hiểu đạo lư
này. Khai thị đến chỗ này là hết một
đoạn, tiếp theo là phần quan trọng nhất:
Niệm Phật, v́ Hệ Niệm Pháp Sự lấy
việc niệm Phật làm chánh, niệm Phật, phát
nguyện. Ở đây, chúng ta thấy có tám mục, phần
này là thuyết pháp. Sau khi khai thị, thuyết pháp xong
lại niệm Phật.
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
Tiếp đó,
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát ba lần, niệm
Đại Thế Chí Bồ Tát ba lần, niệm Thanh
Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ba lần,
những nghi thức này ắt chư vị rất quen
thuộc, mọi người thường làm thế. Sau phần Niệm Phật là phát
nguyện, trong thời thứ nhất nêu lên mười
đại nguyện vương của Phổ Hiền
Bồ Tát. Khi Tịnh Tông Học Hội của chúng ta thành
lập, trong phần duyên khởi chúng tôi đặt ra
năm khoa mục tu hành, cũng có nghĩa là những giáo
huấn chân thật mà trong cuộc sống thường
nhật, làm việc, xử sự, đăi người,
tiếp vật, chúng ta nhất định phải tuân
thủ, quyết định không được trái
nghịch. Năm khoa mục ấy đều trích từ
kinh luận ra.
1) Thứ nhất là “tịnh nghiệp tam phước” trích từ Quán
Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Điều thứ
nhất là “hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm không giết, tu Thập Thiện nghiệp”, chúng
ta phải thực hiện, phải làm được. Điều
thứ hai là “thọ tŕ Tam Quy,
đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”.
Điều thứ ba là “phát
Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng
Đại Thừa, khuyến khích, sách tấn hành giả”.
Đó là khoa mục tu hành thứ nhất của chúng ta.
Chúng ta có thể văng sanh Tịnh Độ hay không là do chúng
ta làm được bao nhiêu phần của mười
một câu trong ba điều này Nếu quư vị hoàn toàn
không làm được th́ trong một đời này
chẳng thể văng sanh, rất quan trọng đấy nhé!
2) Khoa mục thứ hai là Lục Ḥa Kính.
Lục Ḥa Kính là cách đối xử giữa đại
chúng ở cùng một chỗ với nhau. Con người là
động vật có tính xă hội, quyết định
chẳng thể sống một ḿnh. Dẫu là tại gia th́
vợ chồng cũng là hai con người cùng sống
một chỗ, bởi thế, phải đối xử
thuận ḥa với nhau, tôn kính lẫn nhau là điều quan
trọng hơn hết. Để dạy đại chúng
đối xử với nhau như
thế nào, đức Phật nêu ra sáu điều.
“Kiến
ḥa đồng giải” nói theo ngôn ngữ bây giờ là tạo dựng
sự hiểu biết chung. Cách nghĩ, cách nh́n của chúng
ta đối với vũ trụ, đối với nhân sinh,
đối với hết thảy người sự
vật phải rất gần giống nhau. Gần
giống nhau theo cách nào? Phật pháp giảng hết sức cao minh: Phải buông
hết thành kiến, cũng như cách nghĩ, cách nh́n
của ḿnh xuống, ai nấy đều buông xuống,
đấy chẳng phải là hoàn toàn nhất trí hay sao?
Kiến giải, cách nghĩ, cách nh́n tương đồng,
phương pháp ấy hay khéo đến cùng cực. Tuy
vậy, buông xuống chẳng phải là chuyện dễ
dàng, Bồ Tát mới có thể buông xuống
được, A La Hán vẫn chưa buông xuống hoàn toàn,
nhưng đă buông xuống không ít. Phàm phu không làm
được, vậy th́ làm thế nào đây? Phàm phu
phải nương theo lời Phật, Bồ Tát răn
dạy, vậy là tốt, chớ có nương theo vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Nếu
nương theo những giáo huấn trong kinh điển th́
bọn phàm phu chúng ta có thể làm được
điều này, hết sức cụ thể! Phật
dạy chúng ta làm như thế nào, chúng ta cứ làm như
thế đó; đức Phật dạy chúng ta đừng
làm những ǵ, chúng ta quyết định không làm. Đó là
biện pháp tốt.
Thứ hai là “giới
ḥa đồng tu”. Giới (戒) nghĩa là đại chúng sống cùng một chỗ phải có quy củ,
phải có luật lệ, mỗi một cá nhân trong chúng ta đều
phải tuân thủ. Đức Phật v́ chúng ta chế
định những giới luật, pháp tắc, là khuôn
mẫu sinh hoạt được chế định
dựa trên hoàn cảnh sinh hoạt hiện thời của
chúng ta. Nay chúng ta gọi đó là công ước sinh
hoạt. Tiếp đến là “thân
ḥa đồng trụ”, “khẩu ḥa vô tranh”, “ư ḥa
đồng duyệt”, cuối cùng là “lợi ḥa đồng quân”. Lợi ḥa đồng
quân là cuộc sống vật chất lẫn cuộc
sống tinh thần đều b́nh đẳng, không
đặc biệt (tức là không ai được ưu đăi
đặc biệt hơn người khác), không cao
thấp, chúng ta sống giống hệt như nhau, nay
gọi “cộng hữu tài
sản”. Do vậy, trước kia chúng tôi giảng kinh
thường nói Phật giáo chính là sở hữu tài sản
chung một cách tối cao. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật tại
thế, nhà Phật hoàn toàn nói đến quyền sở
hữu tài sản chung, không có tư hữu tài sản,
chỉ có đoàn thể. [Mỗi cá nhân trong] đoàn thể
sống b́nh đẳng nhất loạt như nhau, đích
thân Thích Ca Mâu Ni Phật làm mẫu mực. Cả một
đời đức Phật, cơm, áo, ăn ở
đều giống hệt đại chúng, không khác
biệt chút nào. Do vậy, mọi người khâm phục
Ngài đă làm được hết sức triệt
để. Đó là Lục Ḥa, tức khoa mục thứ
hai.
3) Khoa mục thứ ba là Tam Học.
Đây là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc tu
hành của chúng ta. Tam Học là Giới - Định - Huệ,
quyết định chẳng được trái nghịch,
quyết định chẳng được ĺa khỏi,
4) Khoa mục thứ tư là Lục
Độ của Bồ Tát: Bố thí, tŕ giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhă.
5) Khoa mục thứ năm là
mười đại nguyện vương của Phổ
Hiền Bồ Tát được nói đến ở
đây. Tịnh tông học nhân chúng ta tu hành thường
phải dựa vào đâu? Dựa vào mười nguyện
này!
Năm khoa mục này được
gọi là “hành kinh” (khuôn phép để
tu hành), phải đưa chúng vào hành động, chẳng
được nói xuông. Kinh này không phải để quư
vị tụng, cũng chẳng phải để cho quư
vị giảng giải, mà là yêu cầu quư vị thực
hiện, áp dụng vào cuộc sống của chính quư
vị, thực hiện trong cách xử sự, đăi
người, tiếp vật, quư vị phải làm cho
được. V́ thế, chúng ta tu hành, dùng năm khoa
mục này làm tiêu chuẩn ḥng sửa đổi những
hành vi sai lầm. Ở đây, chúng ta hăy xem mười
nguyện Phổ Hiền ấy, nguyện thứ nhất
trong mười nguyện Phổ Hiền là:
13. Phát nguyện (Phổ
Hiền thập đại nguyện)
Nhất giả lễ kính chư
Phật.
一者禮敬諸佛。
(Một là
lễ kính chư Phật).
Chư Phật là ǵ? Luận theo Lư,
chư Phật là Pháp Tánh. Pháp Tánh phủ trùm cả vô t́nh
lẫn hữu t́nh, bao gộp toàn bộ, chúng ta phải chân
thành, b́nh đẳng cung kính hết thảy chúng sanh trong toàn
thể vũ trụ. V́ sao? Hết thảy hữu t́nh chúng
sanh là vị lai Phật, kinh Phật dạy như thế.
Quá khứ Phật, hiện tại Phật, đức
Thế Tôn đă giới thiệu với chúng ta không ít, c̣n
vị lai Phật? Tất cả hết thảy chúng sanh
đều có Phật Tánh, trong tương lai đều sẽ
làm Phật, bởi thế, hết thảy chúng sanh
đều là vị lai Phật. Trong“lễ kính chư Phật”, quan trọng nhất là
dạy chúng ta phải lễ kính vị lai Phật. Đó là
ư nghĩa thực sự. Do vậy, trong nhiều nghi
thức nhà Phật, mở đầu bằng “nhất thiết cung kính”
(hết thảy cung kính), “nhất
tâm đảnh lễ” đều là v́ ư nghĩa này.
Không riêng ǵ Phật pháp giảng như
thế, Nho gia Trung Quốc cũng nói như vậy. Quư
vị đọc thiên sách Khúc Lễ trong Lễ Kư, câu
đầu tiên là “Khúc Lễ
viết: Vô bất kính” (Khúc Lễ nói: ‘Đừng
bất kính’). Đúng là câu đầu tiên ấy và nguyện
Phổ Hiền thứ nhất khéo sao chỉ khác cách nói
nhưng có cùng một tác dụng. Người Hoa thường
nói: “Anh hùng sở kiến
đại lược tương đồng” (cái
thấy của những bậc anh hùng nói chung giống
nhau). Đức Phật nói tu hành thực sự th́ phải
bắt đầu từ chỗ này, Nho gia cũng khởi
đầu từ đây, cung kính! Chúng ta đối với đức
Phật cung kính như thế nào th́ nói cách khác, đối
với hết thảy mọi người cũng phải
cung kính như cung kính đức Phật. Sau đó lại
mở rộng ra, đối với hết thảy vạn
vật, đối với cây cối, hoa cỏ, đối
với núi, sông, đại địa, đối với
thần linh trong chín pháp giới, đối với các loài
quỷ trong ba ác đạo đều cung kính như cung
kính Phật. Đối với họ phải thanh tịnh,
phải b́nh đẳng, phải chân thành, chẳng
được có ư nghĩ cao thấp, v́ sao? Là v́ cùng một
Thể khác tên, một Thể nhưng khác tướng,
đạo lư này đă giảng trong phần trên rồi đấy!
Trong mấy năm qua, tôi qua lại
với rất nhiều tôn giáo khác, chúng tôi xây dựng
một nhận thức chung: “Trong
vũ trụ chỉ có một chân thần duy nhất.
Vị chân thần duy nhất ấy trong Phật giáo chúng ta
gọi là Pháp Tánh”. Chân thần sáng tạo trời,
đất, vạn vật, trong kinh Phật nói trời
đất vạn vật chỉ do tâm hiện, chỉ do
thức biến, chính Tánh Thức sáng tạo trời,
đất, vạn vật. Các tôn giáo gọi cái
được pháp tánh hiện, pháp tánh biến ấy là “chân
thần”. A Di Đà Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật đều
do Pháp Tánh hiện, Pháp Tánh biến. Các thần linh trong
những tôn giáo khác cũng là đối tượng
được hiện, được biến bởi Pháp
Tánh; do vậy, [các tôn giáo] là một chứ không phải hai.
Chúng ta hiểu nguyên lư này, biết chân
tướng của sự thật này. Luận trên mặt
Sự, chúng ta có thể nói hết thảy các vị
thần trong tất cả các tôn giáo đều là hóa thân
của Thích Ca Mâu Ni Phật. Lấy ta làm bản vị th́
ta là chủ, họ là khách. Nếu luận trên căn
bản của Cơ Đốc giáo (Christianity) th́ Cơ
Đốc Giáo là chủ, ta là khách, tất cả hết
thảy các thần trong những tôn giáo khác đều là hóa
thân của Gia Tô (Jesus). Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy,
Khổng Tử, Lăo Tử của Trung Quốc cũng
thế. Do vậy, chủ không nhất định là
chủ, mỗi người đều có thể làm chủ,
khách cũng có thể làm chủ, đứng ra làm chủ,
ai nấy đều có thể làm bạn. Kinh Hoa Nghiêm gọi
điều này là “chủ
bạn viên dung”.
Do đó, tất cả hết thảy
tín đồ tôn giáo là người một nhà, đều là
hóa thân của một chân thần. Tôi vào giáo
đường của tôn giáo khác, tôi lễ bái,
người khác thấy vậy ngạc nhiên lắm, cớ
sao ông lại lễ bái? Tôi lễ là lễ hóa thân của
một vị chân thần, thần của họ không khác ǵ
Thích Ca Mâu Ni Phật cả, là một, không phải hai.
Phổ Hiền Bồ Tát c̣n mở rộng ư nghĩa này
hơn nữa: Không những hết thảy thần là
một, mà hết thảy chúng sanh đều là một.
Chúng ta đối với tất cả hết thảy chúng
sanh đều lễ kính, coi họ như chư Phật
Như Lai, coi như chân thần duy nhất không hai, không
khác. Ai làm được như thế? Phổ Hiền
Bồ Tát làm được. Nếu quư vị làm
được như thế, quư vị chính là Phổ
Hiền Bồ Tát.
Phổ Hiền Bồ Tát có năm
mươi mốt tầng cấp: Sơ Phát Tâm Phổ
Hiền Bồ Tát, Thập Tín Vị Phổ Hiền Bồ
Tát, Thập Trụ Phổ Hiền Bồ Tát, Thập
Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Thập Hồi
Hướng Phổ Hiền Bồ Tát, Thập Địa
Phổ Hiền Bồ Tát, Đẳng Giác Phổ Hiền
Bồ Tát. Cứ hễ là người tu hạnh Phổ
Hiền th́ đều gọi là Phổ Hiền Bồ Tát.
Tịnh tông học nhân chúng ta tu hạnh Phổ Hiền, quư
vị hăy mở kinh Vô Lượng Thọ ra xem đi, không
phải là trong phần Chánh Tông, mà là trong Tự Phần,
mở đầu bằng phần liệt kê đại
chúng tham dự pháp hội, sau phần nêu danh hiệu
đại chúng có một câu: “Hàm
cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi
đức” (đều cùng tuân thủ, tu tập
đức của Phổ Hiền). Đức của
Phổ Hiền chính là mười nguyện này đấy.
V́ thế, phải biết Tịnh tông đồng học nếu
là người thực sự tu Tịnh tông th́ người
ấy tu như vị Bồ Tát nào? Tu theo Phổ Hiền
Bồ Tát.
Cận đại, Hoằng Nhất
đại sư như ai nấy đều biết, khóa
niệm sáng tối của Hoằng Nhất đại
sư là ǵ? Niệm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm. Ngài tu Tịnh Độ, cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, Ngài không
niệm kinh Vô Lượng Thọ, không niệm kinh A Di
Đà, mà niệm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm,
mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. Do đây biết rằng: Hoằng Nhất
đại sư cả một đời tu mười
đại nguyện vương. Quư vị hăy chú tâm quan sát
Ngài, sau khi Ngài học Phật, quy tín Tịnh Độ rồi,
Ngài biểu hiện, Ngài sống, xử sự, đăi
người, tiếp vật có giống với mười
nguyện hay chăng? Có phải là thực sự thực
hiện hay không? Tôi chú tâm quán sát thấy Ngài thực sự
làm được. Bất luận đối với ai Ngài
đều cung kính, Ngài xử sự, đối vật
đều cung kính. “Lễ kính
chư Phật” được thể hiện trong cuộc
sống thường nhật. Hoằng Nhất đại
sư đă nêu gương cho chúng ta thấy.
Chúng ta học Phật phải khởi
đầu từ đâu? Từ lễ kính! Đối
với người khác ngạo mạn, đối với
người khác không biết tôn trọng, không biết quan
tâm, không biết giúp đỡ tức là không biết
học Phật, vẫn là mê hoặc, điên đảo, không
làm được một câu nào! Bởi thế, ngàn muôn
phần mọi người chớ hiểu lầm “chư Phật” chỉ là
những vị đă thành Phật! Không phải thế! “Chư Phật” ở đây
là tam thế chư Phật, quan trọng nhất là vị
lai chư Phật. Vị lai chư Phật là tất cả
hết thảy chúng sanh trong hiện tại, bao gồm
cả động vật, muỗi, kiến đều là
Phật. Quư vị có lễ kính được hay không? Cây
cối hoa cỏ cũng đều là Phật, phạm vi
rất rộng lớn, nghĩa lư rất
sâu xa, vi diệu đến cùng cực! V́ thế, đó là
tiêu chuẩn tu học của Tịnh Tông.
Căn bệnh lớn nhất của
chúng ta là không biết cung kính, hiện thời đúng là vô
lễ vô kính, làm sao văng sanh cho được? Tây
Phương Cực Lạc thế giới, khi tôi giảng
kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà đă bảo cùng
quư vị rồi: Thế giới Cực Lạc chỉ là
Phổ Hiền pháp giới. Hễ ai sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới cũng
đều là Phổ Hiền Bồ Tát, ba bậc chín phẩm
trong bốn cơi đều tu hạnh Phổ Hiền. Trong
kinh Vô Lượng Thọ có một đoạn nói rơ ràng:
Phổ Hiền Bồ Tát là Sơ Tổ Tịnh Tông của
thế giới Sa Bà, Ngài dạy dỗ chúng ta chính là thay
mặt đức A Di Đà Phật giáo hóa. Chúng ta phải
tin, phải hiểu, phải tiếp nhận, phải nghiêm
túc phụng hành, phải dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh,
tâm b́nh đẳng, tâm từ bi để học tập.
Khắp pháp giới, trọn hư không
giới, Phổ Hiền Bồ Tát cùng hết thảy chúng
sanh (chúng sanh ở đây bao gồm hữu t́nh lẫn vô
t́nh) quyết định không đối lập, như
thế là lễ kính thực sự. Nếu có đối
lập sẽ chẳng thực hiện được câu “lễ kính chư Phật” này.
V́ vậy, hạnh Phổ Hiền khó tu nhất. Kinh giáo
Đại Thừa thường nói: Bồ Tát không tu
hạnh Phổ Hiền sẽ chẳng thể viên thành
Phật đạo. Nếu quư vị muốn chứng
đắc Phật quả viên măn th́ quư
vị phải tu hạnh Phổ Hiền. Do đây, ta có
thể hiểu được sự thù thắng của
Tây Phương Cực Lạc thế giới: Tây
Phương Cực Lạc thế giới toàn là
người tu hạnh Phổ Hiền, đều đă tu
Phật đạo rốt ráo viên măn.
Nhị giả xưng tán Như Lai.
二者稱讚如來。
(Hai là khen
ngợi Như Lai).
Ở đây, chúng ta phải chú ư, ở
trên nói “chư Phật”, c̣n
ở đây lại đổi thành Như Lai. Nghĩa là
sao? Chư Phật và Như Lai chẳng phải là một,
không phải là hai hay sao? Thưa cùng quư vị, chư
Phật và Như Lai không một, không khác, chẳng thể
nói là một, mà cũng không thể nói là hai; thế nhưng
quả thật có hai cách giảng. Chư Phật là nói trên
mặt Tướng, c̣n nói Như Lai là luận trên mặt
Tánh. Chúng ta đă biết Tự Tánh có bản năng,
bản năng là ǵ? Là giác tri, như trong hội Lăng
Nghiêm, đức Thế Tôn bảo là “thấy - nghe - hay - biết”. Thấy - nghe - hay -
biết là Tự Tánh, hoặc như kinh thường
gọi là Pháp Tánh, nó có bản năng (năng lực sẵn
có) vĩnh viễn bất sanh bất diệt trọn khắp
pháp giới, hư không giới. Ngoại trừ bản
năng ra, c̣n có bản đức (phẩm đức chánh
yếu, phẩm đức sẵn có), đức ấy
cũng trọn khắp hư không, pháp giới. Bản
đức là ǵ vậy? Chính là từ bi, là yêu thương.
Do vậy, tôn giáo nào cũng đều
nói đến từ bi, đều nói đến yêu
thương. Phật pháp nói đến từ bi, kinh Cổ
Lan (Koran) nói đến nhân từ, kinh Tân Cựu Ước
nói đến yêu thương, Chúa yêu thương con
người, Thượng Đế yêu thương người
đời, mọi tôn giáo đều nói đến yêu
thương. V́ vậy, yêu thương là chân lư của
vũ trụ, chân lư của vũ trụ chính là bản
đức của pháp tánh, vốn sẵn đủ tánh
đức. Từ thí nghiệm kết tinh nước,
tiến sĩ Giang Bổn Thắng đă phát hiện
được chuyện này, gởi những thông
điệp đến nước, nước có thể
thấy, có thể nghe, có thể tiếp nhận những
thông điệp từ con người. Thông điệp nào
tốt lành nhất? Chính là yêu thương và cảm tạ.
Hai thông điệp ấy gây nên những phản ứng
kết tinh đẹp đẽ nhất. Thí nghiệm
suốt tám, chín năm, ông ta khẳng định yêu
thương và cảm tạ chính là chân lư trong vũ
trụ, chúng ta đă biết rồi! Chúng ta biết
đấy chính là tánh năng, tánh đức; tánh năng là
thấy - nghe - hay - biết, tánh đức là nhân từ, bác
ái.
Ở Tân Gia Ba, chúng tôi qua lại cùng chín
tôn giáo[9],
tôi cũng viết mấy câu: “Căn
bản của mọi tôn giáo là nhân từ, bác ái”. Tông
chỉ cứu độ chúng sanh của mọi tôn giáo là
giúp cho chúng sanh ĺa khổ được vui. Nhân từ, bác
ái, ĺa khổ được vui là quan niệm chung của
tất cả hết thảy tôn giáo, là mục tiêu giảng
dạy chung. V́ sao tôn giáo không thể
đoàn kết? V́ sao không thể đối xử ḥa thuận
với nhau? V́ sao không thể hợp tác với nhau? Có
thể được chứ! Chúng tôi cân nhắc kỹ
chuyện này, quả nhiên là có thể thực hiện được!
Năm ngoái, tôi hai lần qua thăm Nhật Bản, gặp
gỡ hàng lănh đạo Cơ Đốc Giáo đều
hết sức vui vẻ, hết sức ḥa hài. Quan niệm
cơ bản của chúng tôi là nhân từ bác ái, ĺa khổ
được vui.
Ĺa khổ được vui là luận
theo mặt Quả. Có quả ắt phải có nhân, chúng ta phải
thực hiện công phu từ nơi nhân. Nhân là ǵ? Phá mê khai
ngộ! Hết thảy khổ do mê mà có, hết thảy vui
do ngộ mà sanh. Hễ ngộ bèn vui, hễ mê bèn khổ. V́
vậy, quả báo của phá mê khai ngộ là ĺa khổ
được vui. Phá mê khai ngộ nhất định
phải là người đă khai ngộ rồi đi
dạy dỗ người chưa khai ngộ. Trong kinh, đức
Phật thường nói: Người đă khai ngộ
phải v́ người chưa khai ngộ, v́ bọn họ
diễn nói. “Diễn” là biểu
diễn, làm cho người ta thấy; “nói ” là v́ họ thuyết minh. Cuộc sống
rất vui sướng ấy của chúng ta phải làm cho
họ biết, khiến cho họ trông thấy sanh ḷng vui
vẻ, hướng về ḿnh thỉnh giáo, ta sẽ
giải nói tường tận cho họ khiến họ
cũng giác ngộ. Giác ngộ rất vui sướng,
đă ĺa được khổ rồi!
V́ thế, trong phần trên tôi đă nói
hai câu, trong câu đầu tiên, chư Phật là nói trên
mặt sự tướng, cung kính hết thảy,
quyết định chẳng được phân biệt, đừng
chấp trước. “Xưng
tán” khác với lễ kính, phải tương ứng
với tánh đức mới xưng tán, không tương
ứng tánh đức th́ chẳng xưng tán. Không như
lễ kính, lễ kính là hoàn toàn b́nh đẳng, không
điều kiện; xưng tán có điều kiện. Nói
cách khác, chỉ khen ngợi điều thiện, không khen
điều bất thiện. Chúng ta phải hiểu
đạo lư này. Nếu khen ngợi điều bất
thiện, làm sao giáo hóa chúng sanh cho được? Sao có
thể biến đổi phong tục xă hội cho tốt
lành hơn được? V́ vậy, xưng tán điều
lành, không xưng tán điều bất thiện.
Người bất thiện, chuyện
bất thiện, chúng ta lễ kính, nhưng không xưng tán.
Người lành, việc lành, ta vừa lễ kính lại
vừa xưng tán, khác biệt ở chỗ này. Trong năm
mươi ba lần tham học của Thiện Tài
đồng tử, quư vị thấy rồi đó: Ngài
đến tham phỏng bà-la-môn Thắng Nhiệt, có lễ
kính nhưng không xưng tán; tham phỏng Cam Lộ Hỏa
Vương, có lễ kính nhưng không xưng tán; v́ sao? Bà-la-môn
Thắng Nhiệt tượng trưng cho ngu si, bất
thiện; Cam Lộ Hỏa Vương tượng trưng
nóng giận, bất thiện! V́ thế đối với
tham - sân - si, hết thảy tâm hạnh bất thiện
không xưng tán, chỉ có lễ kính, như thường hay
nói (chính Khổng lăo phu tử nói như vậy) “kính nhi viễn chi” (tôn
trọng, nhưng không gần gũi). “Viễn” không có nghĩa là không qua lại với
họ, không có nghĩa như vậy, mà là không học theo
họ, ta chỉ nên học theo cái lành, chẳng
được học theo điều bất thiện.
Bởi lẽ, không được xưng tán bất
thiện, đối với chuyện này phải cân
nhắc; lễ kính không giống như vậy, lễ kính
không cần cân nhắc chút xíu nào, lễ kính là b́nh
đẳng.
Do hết thảy chúng sanh tánh vốn lành
nên chúng ta tôn kính điều ấy. Xưng tán là ǵ?
Người ta có tập tánh, trong tập tánh có thiện, có
bất thiện. Lễ kính hoàn toàn dựa trên bản tánh,
chứ không nh́n vào tập tánh; v́ thế, đối với
kẻ ác cũng phải lễ kính. C̣n xưng tán th́
phải chú trọng tập tánh, trong tập tánh có thiện,
có ác, chúng ta phải đề cao điều thiện,
ẩn giấu điều ác. Thiện phải
được biểu dương, phải tán thán. Ác
chớ nói, đừng ghim vào ḷng, cũng đừng
để nơi miệng, khiến cho kẻ làm ác tự
phản tỉnh. Những điều ấy đều
thuộc về giáo dục, khiến cho người làm ác
tự cảm thấy: “Ḿnh làm một điều lành
nhỏ nhặt liền được mọi người
khen ngợi, ḿnh làm điều ác nhiều ngần ấy,
chẳng ai nói một câu nào. Chẳng phải người
ta không biết, người ta biết chứ, biết
nhưng không phê b́nh một câu nào, khiến cho lương
tâm của chính ḿnh bị cắn rứt, khiến tự
ḿnh quay đầu là bờ”, như vậy là hay lắm!
Nói thô thiển là ḿnh phải tha thứ
cho lỗi lầm của người khác, không cần
phải trách móc lỗi lầm của người ta, mong
mỏi người ta sửa lỗi đổi mới,
đấy gọi là “phổ
độ chúng sanh”. Lại ǵn giữ thân tâm của chính
ḿnh cho thanh tịnh, thuần thiện, thuần tịnh,
quyết chẳng để điều bất thiện vào
tâm, quyết chẳng thể nói đến điều
bất thiện. Thân - ngữ - ư của chúng ta thuần
thiện, thuần tịnh, lại c̣n có thể cảm hóa
những kẻ bất thiện, cảm hóa những sự
bất thiện. Có phải là tốt đẹp hơn
không? Thánh nhân giáo hóa chúng ta như thế đó.
Tam giả quảng tu cúng dường.
三者廣修供養。
(Ba là
rộng tu cúng dường).
Ở phần trên đă nói không chỉ là
h́nh thức, nói xuông, mà phải có hành động cụ
thể. Nghĩa là sao? Thấy người khác có khổ
nạn, quư vị phải thực sự giúp đỡ.
Không cần người ta thỉnh cầu, chúng ta trông
thấy, nghe thấy, phải tận tâm tận lực giúp
đỡ, giúp đỡ không kèm thêm bất cứ điều
kiện nào. Cúng dường là bố thí, trong bố thí có
ḷng cung kính th́ gọi là “cúng
dường”. Trong bố thí không có tâm cung kính th́ chỉ
gọi là “bố thí”, thêm vào
ḷng cung kính chân thành th́ sự bố thí ấy
được gọi là “cúng
dường”. Do vậy, Phổ Hiền Bồ Tát không tu
bố thí mà tu cúng dường.
“Quảng
tu cúng dường”: Chúng ta
nghe nói người khác gặp tai nạn, tự ḿnh
phải chú tâm xem xét, quan sát có đúng như vậy hay không.
Nếu quả thật là đúng th́ khi chúng ta nghe nói
đến chuyện đó, phải tận tâm tận
lực giúp đỡ, đó là nghĩa vụ, không có
bất kỳ điều kiện ǵ. Mấy vị cán
bộ chủ yếu của hội Ḥa Thống của Úc
Châu, ở ngay tại thành phố
Tôi hỏi: “Chữa bệnh miễn phí
ǵ vậy?” Họ nói: “Người Tây Tạng sống trên
cao nguyên, tia tử ngoại tuyến (ultraviolet ray) rất
mạnh, nên bị bệnh cườm mắt rất
nhiều. Mỗi năm có thêm khoảng gần sáu bảy
ngàn bệnh nhân, mỗi năm càng tăng thêm, nghiêm
trọng hơn, bị mù ḷa”. Những người phát tâm
gồm năm bác sĩ mắt, năm bác sĩ đa khoa
tổng quát, lại c̣n một số y tá, ước
chừng gần hai mươi người, lập thành
một đội y tế qua đó giúp đỡ những
người bị cườm. Nghe nói hiện thời
dụng cụ mổ cườm hết sức tiến
bộ, chỉ mổ trong thời gian rất ngắn, không
đau đớn ǵ, ngay lập tức mổ bỏ
được cườm, khiến cho người
bệnh khôi phục thị lực. Đây là chuyện
tốt lành! Chuyện này khác ǵ nhà Phật chúng ta
thường nói “thắp
đèn sáng” khiến cho những chúng sanh khổ nạn
được khôi phục ánh sáng.
Tôi nghe vậy, tôi vẫn c̣n có chút
khả năng, tôi bảo: “Hay lắm! Tôi cúng dường
chút tiền thuốc men”. Họ cũng không yêu cầu tôi,
cũng không đến xin xỏ tôi, tôi nghe được
chuyện tốt lành, đây là sự thật. Đại
khái là đồng bào ở Tây Tạng, hầu như
mắc bệnh cườm rất nhiều, gần như
chiếm một phần ba dân số, rất nghiêm trọng!
Cứ trong ba người có một người mắc
bệnh cườm, hết sức nghiêm trọng! Đây là
chuyện tốt [chúng ta cần phải giúp đỡ].
Sau khi tôi hiểu rơ chuyện này, tôi
cũng tỏ thái độ. Ít lâu sau, từ Tây Tạng có
một đoàn khách đến viếng thăm Úc châu,
đại sứ Trung Quốc tại Úc châu thông báo cho tôi
biết, mong tôi sẽ tiếp đoàn khách viếng thăm
này. Chúng tôi cùng ăn một bữa cơm tại bờ
biển Hoàng Kim[10],
người lănh đạo bọn họ là tiên sinh
Nhiệt Địa, là người Tạng, ngỏ lời
mời mong mỏi tôi sang thăm Tây Tạng, đúng lúc
đang có phái đoàn này, tôi đi cùng mọi người luôn.
Tôi cũng rất hưởng ứng, từ trước
đến nay chưa hề đi. V́ thế, lần này có
cơ duyên như vậy bèn đi theo đoàn luôn.
Như vậy, hễ biết ai có
khổ có nạn th́ phải tận tâm tận lực tu cúng
dường! Không đợi người ta khuyên nhủ, đợi
đến khi người ta khuyên th́ không c̣n ư nghĩa ǵ,
quư vị không thật tâm, bị ép buộc; giống như
bị người ta khuyên, ḿnh không vui ḷng, vẫn là bị
ép buộc một chút. Nếu chúng ta dưỡng thành cái tâm
bố thí cúng dường, có hành vi bố thí cúng dường,
chẳng đợi người khác mở miệng,
nhưng tự ḿnh phải xem xét chuyện ấy là thật
hay giả. Trong xă hội chuyện giả rất nhiều,
người lừa tiền cũng không ít, chúng ta cũng
đừng bị mắc lừa, đừng bị
lừa dối. Do vậy, nhất định phải chú
tâm quan sát, thẩm tra là thật hay giả. Nếu quả
thật họ cần th́ chúng ta phải bỏ tiền, ra sức,
tận tâm tận lực giúp. Nay đă hết giờ
rồi!
Tập
45
Xin xem tiếp phần sám hối trong
phần Khai Thị của thời thứ nhất. Xem
từ nguyện thứ tư của mười nguyện
Phổ Hiền.
Tứ giả sám hối nghiệp
chướng.
四者懺悔業障。
(Bốn là
sám hối nghiệp chướng)
Cổ nhân thường nói: “Nhân phi thánh hiền, thục
năng vô quá, quá nhi năng cải, thiện mạc đại
yên” (Con người chưa phải thánh hiền, ai mà
không lầm lỗi. Có lỗi biết sửa, c̣n ǵ tốt
lành hơn được nữa). Như vậy, có thể
nói cách tu Sám Hối này phổ biến trong mọi thánh giáo
dù là thế gian hay xuất thế gian. Chúng ta xem khắp
những tôn giáo trên thế giới, những vị giáo
chủ, tiên tri, thầy truyền giáo của họ không ai chẳng
dạy con người phải thường hối
cải. Hối (悔) là sám hối, Cải (改) là sửa lỗi. Trong nhà Phật, hai
chữ Sám Hối là hợp dịch cả tiếng Phạn
lẫn tiếng Hoa. Sám là Sám-ma (ksama), là tiếng Phạn,
Hối là hối cải (hối lỗi, sửa ḿnh),
đây là ư nghĩa tiếng Hán [của chữ sám-ma]. Do ư
nghĩa chữ Sám-ma của tiếng Phạn và chữ
Hối Cải của tiếng Hán ư nghĩa gần
giống nhau, nên ghép chung lại gọi là Sám Hối.
Cách sám hối chú trọng phát lộ. Phát
lộ là ǵ? Lộ (露) là bày rơ ra. Ta có lầm lỗi, làm
bậy, chẳng được giấu diếm, phải
báo cùng đại chúng, nay gọi là “thản bạch” (坦白: nói
thẳng thắn). Ở trước đại chúng nói ra
lầm lỗi của chính ḿnh, chịu đựng
đại chúng quở trách, giáo huấn, sau đấy,
đổi mới, sửa lỗi, về sau không c̣n tái
phạm. Sám hối như vậy thực sự có công
đức, sau này không c̣n tái phạm nữa! Trước
kia, tôi thân cận Chương Gia đại sư,
Chương Gia đại sư dạy dỗ tôi. Khi
ấy, tôi vừa mới được tiếp xúc
Phật pháp, trong Phật pháp có những quy củ, nghi
thức tôi không biết một điều nào hết.
Đại sư hết sức từ bi, bảo tôi
Phật pháp trọng thực chất, chứ không trọng
h́nh thức, trong Phật pháp, sám hối hết sức quan
trọng. Thế nào là sám hối? Biết lỗi, sửa được
lỗi, sau này không tái phạm nữa, đó là sám hối
chân chánh. Ngài nói nghi thức không quan trọng, đối
với tôi là kẻ sơ học mà nói như vậy, tôi
được rất nhiều lợi lạc.
Sám hối quan trọng nhất là tự
ḿnh phải biết lỗi của chính ḿnh. Từ khi tôi
học Phật măi đến khá nhiều năm sau này, tôi
mới thực sự hiểu thế nào là khai ngộ
như nhà Phật thường nói. Khai ngộ là ǵ? Chúng ta
nghe nói “khai ngộ” thấy rất huyền diệu; sau này,
khi được tiếp xúc kinh giáo đă nhiều, tôi
mới thực sự thấu hiểu thế nào là khai
ngộ? Biết lỗi lầm của chính ḿnh, ấy là
khai ngộ! Sửa đổi lỗi lầm là sám hối. Sám
hối là công phu tu hành chân chánh. Trong phương pháp tu
học này, khó nhất là biết lỗi của chính ḿnh. Ai
biết được lỗi của chính ḿnh,
người ấy chẳng mê, người ấy giác
ngộ.
Lỗi lầm vô lượng vô biên, từ
khởi tâm động niệm cho đến ngôn ngữ,
hành vi. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
nói: “Diêm Phù Đề chúng sanh
khởi tâm động niệm vô phi thị tội” (chúng
sanh Diêm Phù Đề (nói đơn giản là chúng sanh trên
quả địa cầu này) khởi tâm động
niệm không ǵ chẳng phải là tội). Kẻ mới
học Phật chúng ta nghe được lời ấy,
tưởng như kinh Phật nói quá đáng. “Khởi tâm động niệm,
vô phi thị tội” (Khởi tâm động niệm
không ǵ chẳng phải là tội), chưa chắc! Có
những người khởi tâm động niệm là
thiện, chẳng lẽ cũng là tội hay sao? V́ thế
sanh tâm kính ngưỡng đối với Phật pháp,
nhất là đối với Đại Thừa Phật
pháp quả thật khó khăn lắm!
Đức Phật thuyết pháp, tiêu
chuẩn bất đồng, bất luận cá nhân nào thiện
niệm hay ác niệm; thiện hạnh vẫn là ác hạnh
nếu không thể vượt khỏi lục đạo
luân hồi; trong mắt của chư Phật, Bồ Tát, và
bậc đại triệt đại ngộ, [những thiện
hạnh như thế] đều không phải là chân
thiện. Cái thiện thực sự sẽ như thế
nào? Cái thiện chân chánh nhất định phải
vượt thoát luân hồi, vượt thoát mười
pháp giới; không thể vượt thoát luân hồi nếu
chẳng phải là tội th́ sẽ là ǵ đây? Nh́n từ
mức độ này, quư vị mới hiểu kinh Phật
nói không sai.
Chúng sanh
trong lục đạo luân hồi, tâm địa thiện
lương, chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ quốc gia, v́ dân
tộc, v́ hết thảy chúng sanh là tốt lắm! Khó có, [người
như vậy] là bậc thánh nhân trong thế gian! Nhưng
như thế nào? Chẳng đoạn Kiến Tư
phiền năo, danh văn, lợi dưỡng có thể
nhạt một chút, nhưng không nhổ được
tận rễ, chuyện bỏ ḿnh v́ người vẫn
c̣n có giới hạn. Dẫu là “sát
thân thành nhân, thành nhân thủ nghĩa” (hy sinh thân ḿnh để
hoàn thành điều nhân, thành tựu điều nhân, giữ
được điều nghĩa), nhưng vẫn c̣n phân
biệt chấp trước, vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước này là nhân, kia là nghĩa: “Ta
phải làm người có nhân, ta phải là người có
nghĩa”, không ra khỏi tam giới được! Lư này
rất sâu, nếu không thâm nhập kinh tạng, khế
nhập Đại Thừa và rất nhiều ngôn luận
của Phật, Bồ Tát, thật chẳng dễ ǵ
thấu hiểu được! Không dễ hiểu vẫn
c̣n chưa sao, có rất nhiều chỗ ta hiểu lầm ư
nghĩa, đúng là “sai chỉ
hào ly, lầm cả ngàn dặm”. Điều này khiến
chúng tôi mỗi khi đọc câu kệ Khai Kinh “nguyện giải Như Lai chân
thật nghĩa” cảm thấy câu này không dễ ǵ
đọc lên.
“Nguyện
giải Như Lai chân thật nghĩa” là chuyện khó khăn hết sức.
Xưa kia, thầy Lư từng bàn luận với tôi về câu
này trong bài kệ Khai Kinh. Cụ nói: “Chúng ta ư nghĩa này
nọ đều không biết, làm sao có thể hiểu
được nghĩa chân thật của Như Lai?” Chúng
tôi suy nghĩ: Không sai! Ai có thể hiểu được
nghĩa chân thật của Như Lai? Chúng ta hạ mức
độ xuống thấp nhất th́ cũng
phải là đoạn được Kiến Tư
phiền năo, đoạn được Trần Sa phiền
năo, cũng như phá được một hai phẩm vô
minh th́ quư vị mới có thể hiểu nghĩa chân
thật của Như Lai. Phiền năo tập khí chưa
đoạn, quư vị làm sao có thể hiểu nghĩa chân
thật của Như Lai? Nghĩa chân thật của
Như Lai là từ tâm tự tánh thanh tịnh viên măn hiển
lộ, chúng ta hoàn toàn mê mất cái tâm thanh tịnh nơi
tự tánh, đạo lư là như thế đó. Chúng tôi
hiểu được đạo lư này, chúng tôi gật
đầu, đúng là không thể hiểu được
nghĩa chân thật của Như Lai.
Nếu như nay chúng ta nỗ lực
thực hiện, trước hết phải đoạn
Kiến Tư phiền năo. Bắt đầu đoạn
từ đâu? Điều này chúng tôi thường nói,
thường khuyến khích các đồng học, tôi
cũng nghiêm túc nỗ lực học tập: “Chúng ta
phải buông tự tư tự lợi xuống, buông danh
văn, lợi dưỡng xuống, buông sự
hưởng thụ ngũ dục, lục trần
xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống!” Đấy là
cái ải đầu tiên. Nếu vẫn c̣n những thứ
này th́ ngay cả ngoài ŕa pháp Đại Thừa chúng ta cũng
chẳng sờ đụng được! Làm tới, làm
lui cũng vẫn là tâm luân hồi
tạo nghiệp luân hồi. Làm thế nào để không
mắc lầm lỗi? Phải thực sự buông xuống
được, buông xuống rồi quư vị mới
có thể thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt
th́ trí huệ hiện tiền, hoảng nhiên đại
ngộ. Đại ngộ có nhiều mức độ; “hoảng
nhiên đại ngộ” nói thật ra chỉ là ngộ
một chút. Qua mấy ngày, hoặc mấy tháng, lại có một
lần hoảng nhiên đại ngộ khác, lại ngộ
nhiều hơn một tí. Cổ đức thường
nói: “Chúng ta tích tiểu ngộ
thành đại ngộ, tích đại ngộ thành
đại triệt đại ngộ”.
Nếu quư vị muốn khai ngộ mà
không buông phiền năo tập khí xuống
được
th́ quư vị không thể ngộ nổi. Những ǵ
Phật, Bồ Tát nói trong kinh điển, chúng ta nghe xong,
nói thật ra dường như hiểu mà không phải hiểu,
chứ không thực sự hiểu. Thực sự hiểu
th́ tư tưởng, kiến giải, ngôn ngữ, và hành vi
của chúng ta sẽ biến đổi, khác với lúc
chưa hiểu, hoàn toàn khác hẳn. Khi chưa hiểu, quư
vị là phàm phu; thực sự hiểu th́ quư vị là thánh
nhân, siêu phàm nhập thánh, phá mê khai ngộ. Tâm tư, hành vi và
biểu hiện của thánh nhân là bỏ ḿnh v́
người. Quư vị hăy chú tâm quán sát [sẽ thấy] khởi
tâm động niệm, ngôn ngữ, hành
vi của các Ngài hoàn toàn tương ứng với những
ǵ kinh điển đă nói. Quư vị hăy chú tâm quan sát
những lời các Ngài nói, những điều các Ngài làm
được kinh điển gọi là sở hạnh
của Phật, Bồ Tát. Thế th́ chúng ta hăy chú tâm quan sát
Thích Ca Mâu Ni Phật, thấy hạnh nghiệp cả
một đời Phật có giống với những ǵ
đă giảng trong kinh hay không?
Phàm là bậc giác ngộ,
biểu hiện cả một đời, bất luận là
trong sinh hoạt, trong công việc, trong xử sự, đăi
người, tiếp vật, cứ lấy kinh luận làm tiêu chuẩn để đo
lường, chắc chắn tương ứng, ấy là
“thực sự học Phật”. Thực sự sám trừ
sạch nghiệp chướng của chính ḿnh, sám hối
là đặc biệt nói về nghiệp chướng. Ở
phần trên chúng tôi đă giảng về nghiệp
chướng, trong bài kệ Hồi Hướng
thường niệm câu: “Nguyện
tiêu tam chướng trừ phiền năo”, câu ấy chính
là sám hối nghiệp chướng. Phía trước
của Nghiệp Chướng là Hoặc Chướng,
tức mê hoặc, phía sau của Nghiệp Chướng là Báo
Chướng, báo là quả báo. “Hoặc” (惑) là vô minh. Nghiệp là phân biệt,
chấp trước. Chúng tôi nói theo cách kinh Hoa Nghiêm đă
giảng. C̣n nếu theo các kinh Đại Thừa, theo
thuật ngữ đức Phật đă dùng, th́ Hoặc Chướng
là vô minh phiền năo, Nghiệp Chướng là Trần Sa
phiền năo, Kiến Tư phiền năo, đều thuộc
về nghiệp. Báo Chướng là lục đạo luân
hồi, lục đạo luân hồi là quả báo. Đó là
Tam Chướng. Trong Tam Chướng có nhân, có quả,
nếu nói tỉ mỉ, có nhân, có duyên, có quả. Nghiệp
là nhân, Hoặc là duyên, y báo và chánh báo trang nghiêm trong lục
đạo chính là quả, là nỗi khổ trong lục
đạo.
Trong kinh, đức Phật
dạy chúng ta: “Tam giới thống
khổ” (tam giới đều khổ). Trong Dục
Giới th́ ba loại khổ lớn là Khổ Khổ,
Hoại Khổ, Hành Khổ ta đều phải hứng
chịu hết, không cách ǵ tránh khỏi được.
Bất luận quư vị làm thiện hay tạo ác, cũng
đều phải hứng chịu. Trời Sắc
Giới có công phu Thiền Định, đè nén
được một phần tập khí phiền năo nên
không có Khổ Khổ, chỉ có Hoại Khổ và Hành
Khổ. Đến Vô Sắc Giới là cao rồi, ngay
cả thân thể cũng không có. Chúng ta thường
gọi Vô Sắc Giới là “linh giới”, họ không có
sắc tướng, nên không có Hoại Khổ, nhưng có
Hành Khổ. V́ thế, đức Phật bảo tam
giới đều khổ, tam giới là nhà lửa. Chúng ta
chỉ có cách sám hối nghiệp chướng, thực
sự trừ sạch nghiệp chướng mới
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, đó mới là chân
thiện.
V́ thế, nh́n từ góc độ này,
những lời kinh Địa Tạng đă giảng là
đúng, không giả: “Diêm Phù Đề
chúng sanh, khởi tâm động niệm, vô phi thị tội”
(Chúng sanh Diêm Phù Đề, khởi tâm động
niệm không ǵ chẳng phải là tội), ư nghĩa
rất sâu xa. Ngài lấy Pháp Thân Bồ Tát làm tiêu chuẩn,
dùng cái thiện của Pháp Thân Bồ Tát làm tiêu chuẩn
để nh́n chúng sanh trong lục đạo luân hồi. Cho
đến thiên đạo vẫn chưa phải là
thiện, chưa ra khỏi luân hồi! Hưởng hết
phước trời, trong A Lại Da Thức vẫn c̣n có
chủng tử của tập khí ác, vẫn phải
đọa xuống, không thể tính là thiện
được! Nếu là thiện thực sự, sẽ
vĩnh viễn không đọa lạc nữa. Vậy th́
chỉ có vượt thoát, ngoại trừ vượt thoát
ra, không c̣n cách nào khác nữa! Vượt thoát lục
đạo, đạt đến bốn thánh pháp giới,
bốn thánh pháp giới được tính là thiện,
nhưng là tiểu thiện chứ chưa phải
đại thiện, chưa phải là cái thiện viên măn
rốt ráo. Thiện viên măn rốt ráo là trong Nhất Chân pháp
giới; do vậy, quư vị vẫn c̣n phải vượt
thoát Tứ Thánh.
Nói cách khác, trong nhà Phật từ
Sơ Phát Tâm cho đến Đẳng Giác Bồ Tát không ai
ĺa khỏi pháp sám hối được. Đẳng Giác
Bồ Tát vẫn phải tu sám hối nghiệp
chướng, Ngài có những nghiệp chướng nào?
Ấy là một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá,
đó là nghiệp chướng của Ngài. Như vậy,
quư vị phải hiểu: Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, Đẳng Giác
Bồ Tát vẫn là đới nghiệp văng sanh, nhưng Ngài
mang theo nghiệp ít nhất, chỉ mang theo một phẩm
sanh tướng vô minh. Pháp môn Tịnh Tông chẳng thể
nghĩ bàn, trong các tịnh độ của chư Phật
Như Lai th́ đới nghiệp chỉ là đới vô
minh nghiệp, chắc chắn không mang theo Kiến Tư,
quyết định không mang theo Trần Sa. Chỉ riêng Tây
Phương Cực Lạc thế giới là tịnh
độ của Phật Di Đà, là có thể mang theo
Trần Sa phiền năo, có thể mang theo Kiến Tư
phiền năo, trong tất cả các cơi Phật khác, không t́m
đâu được một cơi giống như vậy.
Tu các pháp môn khác, quư vị sám
hối nghiệp chướng giống như điểm số
học tập của quư vị trong trường học,
nói chung phải đạt đến năm mươi điểm
th́ mới coi là trúng cách; c̣n Tây Phương Cực Lạc
thế giới khác hẳn, tiêu chuẩn của Tây
Phương Tịnh Độ thấp nhất, sám hối
nghiệp chướng chỉ chừng năm phần bèn
được văng sanh. Các pháp môn khác, các cơi Phật khác
đ̣i hỏi năm mươi điểm mới ḥng văng
sanh, ở những nơi đó đặt ra tiêu chuẩn:
Phải đạt năm mươi điểm mới
được; c̣n ở đây lấy tiêu chuẩn đạt
năm điểm là được rồi. Đối
với bọn phàm phu nghiệp chướng sâu nặng
chúng ta mà nói, chúng ta phải nỗ lực măi, sao cho
nghiệp chướng tiêu trừ được một
chút mới ḥng văng sanh. Điều này chẳng thể
nghĩ bàn! Chúng ta phải hiểu điều này cho rơ ràng,
hiểu rơ rồi mới chịu thực sự khẳng
định, ngoài pháp môn này ra, chúng ta tu học bất
luận pháp môn nào khác đều chẳng thể thành
tựu. Ấy là v́ chính ḿnh không có năng lực sám hối
nghiệp chướng với một mức độ
lớn lao, nên chẳng làm được!
Phương pháp thực
hiện là mỗi ngày phải phản tỉnh, mỗi ngày
phải nghĩ đến lầm lỗi của chính ḿnh. Chúng
ta tụng niệm công khóa sáng tối, v́ sao phải thực
hiện công khóa sáng tối? Thực hiện công khóa sáng
tối có ǵ tốt? Công khóa sáng tối chẳng phải là làm
cho Phật, Bồ Tát, mà làm v́ chính ḿnh, nhất định
phải hiểu rất rơ ràng, rất minh bạch ư nghĩa
này, khóa tụng sáng tối nhằm tu pháp môn sám hối! Khóa
sáng lay tỉnh chính ḿnh, v́ thế, chúng tôi chọn kinh
văn để đọc là bốn mươi tám
nguyện của A Di Đà Phật, nhằm cảnh
tỉnh chính ḿnh, hy vọng cách suy nghĩ, tư
tưởng và hành vi của chúng ta ngày hôm nay sẽ
tương ứng với bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật. Mỗi ngày tụng khóa sáng
để cảnh tỉnh chính ḿnh. Khóa tối là phản
tỉnh, ta tương ứng lời Phật răn
dạy là tốt, ngày mai cứ làm như thế, ngày mai
phải giữ ǵn, chớ nên để mất đi.
Điều ǵ không làm được, phải sanh tâm hổ
thẹn, nhất định phát tâm sửa lỗi, ngày mai
ta nhất định phải làm cho được. Công khóa
sáng tối như thế ắt có công đức, giúp quư vị
sám hối, giúp quư vị phát hiện lầm lỗi, giúp quư
vị sửa đổi lầm lỗi, đó là tu hành.
Tu hành là sửa cho đúng những tư
tưởng sai quấy, những hành vi lầm lạc, những
ngôn ngữ sai trái. Ngôn ngữ và hành vi đều sanh từ
ư niệm. Bởi thế, tư tưởng lầm lạc
hơn bất cứ điều ǵ khác. Do v́ cách nghĩ sai
lầm mới dẫn đến hành vi và ngôn ngữ sai
lầm. Do vậy, tu hành ư nghiệp quan trọng hơn
bất cứ ǵ khác! Sửa đổi cho đúng những
tư tưởng lầm lạc của chúng ta, mong có
được chánh tri chánh kiến, trong giai đoạn
này, ngoại trừ đọc kinh, nghe kinh ra, không c̣n có
phương pháp thứ hai nào! Đọc kinh, nghe kinh,
lấy kinh làm chủ. Quư vị hăy nhớ kỹ,
trước khi đức Thế Tôn nhập diệt, Ngài chỉ
dạy chúng ta pháp Tứ Y: “Y
Pháp, bất y nhân” (Nương vào Pháp, không nương
theo người). Đối
với những điều người ta nói, ta phải
t́m cho ra căn cứ lư luận từ kinh điển.
Bởi lẽ, hết thảy những ǵ người ta nói,
chúng ta chỉ có thể dùng để tham khảo mà thôi,
rốt cuộc người ấy nói đúng hay không chúng ta
phải có trí huệ phân biệt, chẳng thể mù quáng hùa
theo. Mù quáng hùa theo là ngu si, là đi vào con đường
lầm lạc. Bởi thế, phải có trí huệ
quyết định, chọn lựa. Chuyện này đâu
phải là chuyện dễ!
Chúng sanh căn tánh bất nhất, tùy
theo căn tánh của mỗi loại mà đức Phật có
từng cách thuyết pháp. Ví dụ rơ ràng nhất là
đối với kẻ chấp trước Có,
đức Phật giảng Không. Giảng Không nhằm ư nghĩa
ǵ? Phá cái chấp Có của kẻ đó. Thế nhưng đối
với hạng người chấp Không, đức Phật
bèn giảng Có, để phá cái chấp Không. Đức Phật
thuyết pháp nhằm phá chấp trước, phân biệt,
vọng tưởng của chúng sanh. Chúng sanh vọng
tưởng, chấp trước khác nhau, đức Phật
dùng phương pháp thiện xảo phương tiện
khác nhau. Chúng sanh không có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước th́ đức Phật không có pháp nào
để nói cả. Không có pháp nào để nói mới là thực
sự thuyết pháp. Ai hiểu? Chỉ có Pháp Thân Bồ Tát,
những vị Pháp Thân Bồ Tát thuộc địa vị
sâu mới hiểu được, đừng nói là lục
đạo phàm phu không hiểu, ngay cả Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát trong chín pháp giới cũng không hiểu. V́
thế chuyện này thật khó khăn lắm!
Thế nhưng có một nguyên tắc
chung, nếu chúng ta nắm được nguyên tắc chung
ấy, đối với các cách thuyết pháp bất
đồng của chư Phật, Bồ Tát, trong tâm sẽ
lănh hội được một ít. Thế nào là tổng
nguyên tắc? Đó là khế cơ, khế lư khế cơ.
Khế cơ là thích hợp với nhu cầu hiện
tại của người đó, đối với
người đó có lợi lạc, có lợi ích, đó là
khế cơ. Về Lư th́ quyết định chẳng được
trái lư. Khế cơ, khế lư là đúng. Đấy là
tổng nguyên tắc, tổng cương lănh để hết
thảy chư Phật, Bồ Tát độ chúng sanh trong
khắp pháp giới, hư không giới. Danh hiệu của
tổng nguyên tắc, tổng cương lănh trong
Đại Thừa Phật pháp gọi là một câu A Di
Đà Phật. A Di Đà Phật là tên gốc của tánh
đức, là tên gọi của năng lực sẵn có trong
tự tánh của mỗi chúng sanh. Tŕ danh niệm Phật,
hết thảy chư Phật đều dạy chúng ta
như thế, dùng danh hiệu này để đánh thức
tánh đức của chính ḿnh, gọi nó trở về, ư
nghĩa là như vậy đó!
Cần phải nhận thức rơ ràng
Phật và Phật giáo. Phật là ǵ? Pháp Đại Thừa
giảng về Phật rất nhiều, Phật là chân tâm,
không phải là bên ngoài, tự tánh chân tâm gọi là Phật.
Tiếng Ấn Độ gọi là Phật, là tánh, là “bản
lai diện mục” (diện mạo sẵn có). Hiểu rơ ư
nghĩa những danh từ ấy, có hiểu thấu
suốt th́ mới lănh hội chút ít những danh từ
thuật ngữ ấy. Tin Phật là tin ḿnh có chân tâm, tin
ḿnh có bản tánh. Quư vị xem kinh, như trong phần
trước chúng ta đă đọc thấy: “A Di Đà Phật tức thị
ngă tâm” (A Di Đà Phật chính là tâm ta). Tin A Di Đà
Phật là tin vào cái tâm của chính ḿnh, niệm A Di Đà
Phật là niệm cái tên gốc của chính tâm ḿnh. Ta không
tin Phật là không tin vào chân tâm của chính ḿnh, không tin vào
cái tên gốc của chính ḿnh, vậy là sao? Là mê hoặc,
điên đảo! Thiền sư Trung Phong giảng rất
rơ ràng: “A Di Đà Phật tức
thị ngă tâm, ngă tâm tức thị A Di Đà Phật. Tịnh
Độ tức thử phương, thử phương
tức Tịnh Độ” (A Di Đà Phật chính là tâm
ta, tâm ta chính là A Di Đà Phật. Tịnh Độ chính là
phương này, phương này chính là Tịnh Độ).
Hết thảy chư Phật
đều nói pháp này là pháp khó tin, v́ sao? Con người mê
rồi. Họ tin tưởng điều ǵ? Tin vào
phiền năo tập khí của chính ḿnh, cho tham - sân - si -
mạn, danh văn, lợi dưỡng là Ngă. Bởi thế,
họ bèn luân hồi trong lục đạo, khởi tâm
động niệm tạo vô lượng vô biên nghiệp,
nghiệp cảm luân hồi, trong luân hồi thọ khổ
thọ nạn rất oan uổng! Họ vốn là Phật,
vốn rất tự tại, có vô lượng vô biên trí
huệ, vô lượng vô biên đức năng, vô
lượng vô biên tướng hảo, nay đều mê
mất hết.
Chư Phật, Bồ Tát cũng như
những bậc tái lai là những vị giác ngộ, các Ngài đem
kinh nghiệm và phương pháp giác ngộ, khôi phục
của chính ḿnh ban cho chúng ta, để chúng ta thuận
tiện đối chiếu học theo; chiếu theo
những phương pháp ấy mà tu học sẽ đỡ
mất công nhiều lắm. Nếu chúng ta thực sự
hiểu được, thực sự thấu suốt,
trong một đời này khéo tu học, th́ trong một
đời này quư vị nhất định chứng
đắc. Nếu quư vị hỏi chứng đắc
điều ǵ ư? Xin thưa cùng quư vị một chuyện
hiện thực nhất: Chứng đắc rơ ràng nhất
là tướng mạo quư vị càng ngày càng tốt đẹp,
càng ngày càng trẻ ra, càng ngày càng mạnh khỏe. Trong
một đời này, có thể đạt được
thân Kim Cang bất hoại, vĩnh viễn không đổ
bệnh, vĩnh viễn không suy lăo, vĩnh viễn vui
sướng. Bất luận làm chuyện ǵ, việc ǵ
cũng thuận ḷng, việc ǵ cũng như ư, trong nhà
Phật có cầu ắt ứng. Những chuyện tốt ấy
quư vị đều có thể đạt được, đấy
là nói về chuyện hiện thực nhất, không có chút xíu
ǵ huyền diệu cả! Nếu quư vị không làm
được là v́ quư vị chưa hiểu đạo lư
này, không hiểu phương pháp này, quư vị học sai
mất rồi!
Nếu thực sự hiểu
được lư luận này, hiểu được
phương pháp này, tu học không sai lầm chút nào,
chắc chắn quư vị đạt được
những quả báo nói trên. Phải mất bao lâu quư vị mới
cảm thấy có hiệu quả? Ba tháng, từ ba tháng
đến nửa năm, quư vị sẽ nhận biết
hiệu quả, quư vị sanh ḷng tin. Tư tưởng và
hành vi bèn biến đổi. Sự biến đổi
ấy quư vị thực sự làm được. Từ tướng
mạo, thể chất, tâm t́nh thái độ xử sự
đăi người tiếp vật, quư vị có thể
thấy được sự biến đổi ấy
rất rơ rệt: Quư vị thực sự làm
được, quư vị thực sự dụng công.
Nếu giả th́ không được rồi, người
ta nh́n qua một cái là thấy ngay, v́ sao? Quư vị chẳng
có biến hóa ǵ cả!
Đạo lư này khoa học hiện
thời đă chứng minh. Bởi thế, lần này chúng tôi mời
tiến sĩ Giang Bổn Thắng đến thăm
nơi đây. Rất tiếc là ông ta đến thăm
nhằm lúc tôi đi thăm Tây Tạng, lịch tŕnh bị
kẹt không thể tiếp đăi ông ta được.
Chậm nhất là tháng Giêng năm sau tôi sẽ đến
Đông Kinh dự hội nghị, đi họp ở
Nhật Bản, tôi có thể đến thăm ông ta. Ông ta
dùng phương pháp khoa học chứng thực: Chúng ta dùng
thiện ư, lấy nước để thí nghiệm, dùng
thiện ư đối đăi nước th́ nước bèn
kết tinh rất đẹp! Chúng ta dùng ác ư đối
với nó, nước bèn phản ứng hết sức xấu
xí. Đây chính là chứng minh rơ ràng nhất!
V́ sao nói quư vị thực sự tu hành,
tướng mạo của quư vị sẽ thực sự
biến đổi rất đẹp? V́ quư vị tu hành là đem
tất cả hết thảy ư niệm bất thiện
đổi thành những ư niệm tốt lành nhất. Tâm
quư vị thiện, tư tưởng thiện, hành vi
thiện, th́ phản ứng đầu tiên là ǵ? Những
bộ phận và tế bào trên thân sẽ có phản ứng
ban đầu giống như phản ứng của nước.
Mỗi một bộ phận đều biến
đổi hết sức đẹp đẽ, mạnh
khỏe nhất. Mỗi một tế bào cũng biến
đổi hết sức tốt đẹp, nên quư vị
bèn trẻ ra, đạo lư là như vậy.
Trong quá khứ, chúng tôi chỉ nghe theo
những ǵ kinh Phật đă giảng, thật thà chất
phác y giáo tu hành, cũng không nghĩ ǵ đến
tướng hảo ǵ hết, thân thể khỏe mạnh,
không nghĩ đến những chuyện đó, đó là
quả báo. Chúng tôi chỉ nghe lời thầy giáo huấn,
đúng là tâm lư biến đổi một trăm tám
mươi độ. Quả nhiên, sự biến đổi
ấy bèn khởi tác dụng, chúng tôi chưa tự ḿnh nhận
biết tác dụng nhưng người khác đă nhận
ra. Người khác nhận thấy tướng mạo khác
đi, tướng mạo hiện thời so với
tướng mạo xưa kia tốt hơn nhiều
lắm, khí sắc khác hẳn, sức khỏe khác hẳn,
trước kia hay bệnh, nói chung là eo nhức, lưng
mỏi, nay không c̣n nữa. Xưa kia, thỉnh thoảng c̣n
bị cảm mạo đôi chút, mấy năm nay không c̣n
nữa. Chú tâm quan sát, chúng tôi tự ḿnh chú tâm quan sát
phản tỉnh, đó là ǵ vậy? Chính là hiệu ứng
của nghiệp chướng tiêu trừ.
Xưa kia, Chương Gia đại
sư dạy tôi: Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt
ứng. Ngày dạy tôi cầu Phật, dạy tôi chớ
cầu nơi người. Ngài nói cầu nơi
người, người ta không đáp ứng, ḿnh chẳng
sanh phiền năo sao? Tôi nói không sai, quả nhiên sanh phiền
năo! V́ thất vọng, bị ngăn trở, trong tâm khó chịu.
Ngài nói cầu Phật, Bồ Tát; cầu Phật, Bồ Tát
không có cảm ứng là v́ nguyên nhân nào? Do chính ḿnh có
nghiệp chướng. Sám trừ nghiệp chướng
rồi th́ cảm ứng bèn hiện tiền. Đúng là có cầu
ắt ứng. Cái cầu ấy đúng pháp, đúng lư,
quyết định chẳng v́ ḿnh hưởng thụ,
quyết định chẳng v́ chính ḿnh, v́ cá nhân. Danh
văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần
trong thế gian này, quyết định chẳng
được cầu những thứ ấy. Cầu
những thứ ấy là tăng trưởng tham - sân - si,
Phật, Bồ Tát đại từ đại bi tuyệt
đối chẳng thể tăng trưởng tham - sân -
si - mạn của quư vị; Phật, Bồ Tát từ bi
giúp cho chúng ta tiêu trừ tham - sân - si - mạn.
Nếu sám trừ được tham -
sân - si - mạn, niệm niệm mong chánh pháp tồn tại
lâu dài, tiếp nối huệ mạng của Phật, v́
giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, th́ hết
thảy chư Phật, Bồ Tát đều hộ niệm
quư vị, đều giúp đỡ quư vị. V́ sao? Quư
vị và các Ngài đồng tâm, đồng chí, đồng
hạnh. Chư Phật, Bồ Tát là như thế đó,
quư vị giống như các Ngài th́ sức mạnh của
các Ngài mới gia tŕ cho quư vị được! Ở
đây, thiền sư Trung Phong khuyên chúng ta nên phát
nguyện, hy vọng chúng ta nguyện nào cũng tương
ứng với bốn mươi tám nguyện của A Di
Đà Phật, có như vậy quư vị mới
được gia tŕ viên măn. A Di Đà Phật gia tŕ quư
vị, mười phương hết thảy chư
Phật đều gia tŕ quư vị, làm sao quư vị không
tự tại? Làm sao quư vị không vui sướng?
Mười phương hết thảy chư Phật gia
tŕ, th́ xin thưa với quư vị, mười phương
hết thảy thiện thần đều gia tŕ quư vị,
tâm - nguyện - giải - hạnh của họ đều
tương đồng. V́ thế, chúng ta phải hết
sức coi trọng cái nguyện này.
Đối với người khác, chúng
ta thiếu lễ độ, kiêu căng, tự đại,
không để ai vào mắt, đấy đều là
nghiệp chướng. Bởi thế, lễ kính chư
Phật là sám hối nghiệp chướng, xưng tán Như
Lai cũng là sám hối nghiệp chướng. Nghiệp
chướng lớn nhất là ganh ghét, ganh ghét gây
chướng ngại. Chúng ta thấy người khác có
chuyện tốt, miệng trọn chẳng đề cao,
người khác có lúc bất thiện, ḿnh bèn suốt ngày
từ sáng đến tối rêu rao, khen ḿnh, chê
người. Xưng tán Như Lai cũng nhằm sám hối
nghiệp chướng ấy. Rộng tu cúng dường
cũng là sám hối nghiệp chướng, tâm lượng
của bản thân chúng ta nhỏ nhen, tự tư tự
lợi, chẳng thể bỏ ḿnh v́ người, làm sao
rộng tu cúng dường cho được? Quư vị hăy
nghĩ xem đấy có phải là sám hối nghiệp
chướng hay không? Sau đấy, quư vị thấy mười
nguyện Phổ Hiền, không nguyện nào chẳng
phải là sám hối nghiệp chướng.
Như vậy, trong mười
nguyện, sám hối nghiệp chướng là nguyện
tổng quát. Chúng ta cũng có thể nói là Bồ Tát
đạo từ Sơ Phát Tâm đến địa vị
Như Lai tu điều ǵ? Chính là tu sám hối nghiệp
chướng. Nếu nghiệp chướng nào cũng
đều sám được sạch sành sanh, không c̣n
mảy may nào th́ quư vị đă viên thành Phật
đạo. Ở phần trên, chẳng phải tôi đă
từng nói đó ư? Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n
mang theo một phẩm sanh tướng vô minh, đó chính là
nghiệp chướng của họ. Họ vẫn phải
sám hối cho hết một phẩm sanh tướng vô minh
mới chứng đắc Phật quả viên măn. V́
thế, chúng ta nhất định phải chịu sám
hối nghiệp chướng sâu nặng của chính ḿnh, hằng
ngày phải phát hiện nghiệp chướng của chính
ḿnh. Hằng ngày phải sám trừ nghiệp chướng
của chính ḿnh th́ mới ḥng tiến bộ trên
đường Bồ Đề.
Ngũ giả tùy hỷ công đức.
五者隨喜功德。
(Năm là
tùy hỷ công đức).
Điều này hết sức quan
trọng, nhằm đối phó điều ǵ? Đối trị
ganh ghét, chướng ngại. Chúng ta thấy những
người khác làm việc tốt, trong tâm không vui thú. Nghiêm
trọng nhất là nghĩ cách gây chướng ngại, không mong chuyện tốt đẹp của người
ấy thành công. Trong một đời này, không biết chúng
tôi gặp phải bao nhiêu lần. Năm 1999, kỷ
niệm năm mươi năm lập quốc của
Trung Quốc[11],
tôi được mời tham dự lễ ngũ thập
chu niên đại khánh. Tôi ở Bắc Kinh viếng thăm
kinh khắc đá ở Pḥng Sơn[12],
hết sức hoan hỷ, nhằm đúng ngay lúc đó, có
một vị cư sĩ tặng tôi một món tiền,
số tiền cũng không ít, để in số kinh
khắc đá ở Pḥng Sơn.
Tôi đến Bắc Kinh,
được cục trưởng cục Tôn Giáo nhà
nước họ Diệp
tiếp
đăi, tôi nêu lên chuyện ấy. Tôi nói tôi hy vọng in
lại một ngàn bộ kinh khắc đá để gởi
tặng nước nhà, chứ bản thân tôi không cần.
Hy vọng nhà nước sẽ gởi tặng các thư
viện quốc gia trên toàn thế giới ḥng bảo
tồn vĩnh viễn, đó là nghệ thuật phẩm
cao cấp. Tất nhiên bọn họ in, nhưng in chữ
quá nhỏ, đọc không được, chỉ có
thể dùng làm tài liệu. Bởi thế, chúng tôi hy vọng
in chữ to hơn, in chữ to th́ đương nhiên là
số tập sẽ nhiều hơn, phân lượng
lớn hơn, giá thành phải cao. Không sợ giá thành cao,
cốt in cho đẹp đẽ, tinh xảo, khiến ai
trông thấy cũng đều sanh tâm hoan hỷ. Khi ấy,
nhà nước cũng đồng ư, cấp cho tôi một tờ
giấy phép. Về sau, chướng ngại rất
nhiều, việc ấy không thành, đáng tiếc quá!
Họ chẳng thể tu tùy hỷ công đức, không
thể cho phép được.
Năm ngoái, tại Đài Loan bàn
đến chuyện in Tứ Khố Hội Yếu, nhân v́
số tiền kia vẫn c̣n, tôi nghe như vậy rất
hoan hỷ. Nếu như tôi có được bản
quyền Tứ Khố Hội Yếu, tôi cũng mong in
một ngàn bộ, gởi tặng thư viện các
đại học nổi tiếng và các thư viện quốc
gia trên toàn thế giới. Dường như cũng có
mấy người tranh giành, chèo kéo không buông, việc
ấy cũng hỏng luôn. Không biết học tùy hỷ
công đức, ai nấy đều tranh giành, công
đức này tôi làm, kẻ kia muốn tranh làm, mấy
người đều muốn tranh, thế là xong luôn, hết
chuyện, không làm được ǵ hết! Bao nhiêu chuyện
tốt đẹp muốn phát tâm làm đều bị phá
hoại như thế cả. Mỗi cá nhân đều
muốn tranh công, rất đáng tiếc. Đây là chúng sanh
thiếu phước, chúng tôi muốn làm, mà làm không thành
công. A! Nay hiện tại đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp nguyện
thứ năm của mười nguyện Phổ Hiền
trong phần khai thị phát nguyện:
Ngũ giả tùy hỷ công
đức.
五者隨喜功德。
(Năm
là tùy hỷ công đức).
Điều này hết sức quan
trọng, hết thảy chúng sanh đều có nghiệp
chướng, đều có căn bệnh sau đây: Không vui
ḷng tùy hỷ [công đức của] người khác. Trọn
chẳng biết “tùy hỷ công
đức” và công đức của chính ḿnh đă tu
không hai, không khác. V́ thế, người thực sự có
trí huệ, ngạn ngữ thường nói: “Thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác” (thành
tựu điều tốt đẹp cho người, không
thành tựu điều ác cho người khác). Chuyện
bất thiện chúng ta không tùy hỷ. Thiện sự,
hảo sự, chuyện có lợi ích cho xă hội và
đại chúng, hăy nên tùy hỷ. Chẳng nên có tâm
lượng hẹp ḥi như thế, phải mở
rộng tâm lượng.
Trước kia, tôi ở tại Tân Gia
Ba, một nữ tu Thiên Chúa Giáo gọi điện thoại
cho tôi, cho biết họ có một đoàn y tế (Thiên Chúa
Giáo lập trường học, lập bệnh viện,
các bác sĩ trong bệnh viện của bà ta lập một
đoàn y tế) qua Phi Châu chữa bệnh miễn phí. Đây
là một việc tốt, tôi nghe xong hết sức hoan
hỷ, tôi lập tức bảo bà ta: “Tôi gởi bà năm
vạn đồng tiền thuốc men, hăy mua nhiều
thuốc men một chút để mang qua bên đó”. Bà ta làm
chuyện tôi muốn làm, tôi vẫn chưa có
được cái duyên ấy, người ta làm
được, tôi bèn đầu tư, khác ǵ chính tôi làm!
Hết sức tốt đẹp, v́ sao không làm? V́ sao cứ
nhất định phải do chính ḿnh làm? Ngốc quá, tự
ḿnh làm sẽ bận bịu đến chết! Người
khác làm, chúng ta tán trợ, tốt đẹp hơn nhiều!
V́ sao phải ngăn trở người khác?
Một thời gian không lâu sau, bà ta lại
gọi điện cho tôi mong tôi lại giúp đỡ
lần này. Bà nói bên Phi châu hết sức nghèo khổ, con
người rất đáng thương. Bà ta cho biết
hết thảy những thiết bị đều không có, thiếu
thốn nhất là xe cứu thương, giao thông rất
bất tiện. Bà ta đề xuất: “Pháp sư! Ông có
thể tặng cho tôi một cái xe cứu thương
được hay không?” Tôi nói: “Được chứ!” Tôi
gởi một xe cứu thương cho bà. Không cần
biết là tôn giáo hay đoàn thể nào, chuyện
người ta làm là chuyện tốt, xă hội, thực
sự hữu ích đối với xă hội và chúng sanh
khổ nạn th́ chỉ cần tôi trông thấy, nghe
thấy, không cần ai phải bảo tôi, tôi đều
tận tâm tận lực giúp đỡ người khác. Tôi
biết người ta làm chuyện ấy chính là tôi làm, tôi
làm chính là người khác làm, việc ǵ phải phân
biệt đây kia? Cớ ǵ cứ nhất định phải
nhọc sức th́ mới là của ḿnh?
Hết thảy công lao chuyện
tốt cứ cho là của ḿnh, quư vị sẽ không thoát
khỏi tam giới. V́ sao? Ngă Chấp quá nặng! Luân
hồi trong lục đạo do Ngă Chấp tạo thành.
Trong kinh đức Phật giảng rất hay, Ngă Chấp
bị phá th́ lục đạo luân hồi không c̣n nữa,
quư vị bèn vượt thoát luân hồi; đoạn
được Pháp Chấp th́ vượt khỏi
mười pháp giới. Do đây biết rằng: Lục
đạo luân hồi do Ngă Chấp và Pháp Chấp tạo
thành. Trong mười pháp giới th́ bốn thánh pháp
giới do Pháp Chấp tạo thành, không có Ngă Chấp nhưng
c̣n Pháp Chấp. Pháp Chấp không có th́ mười pháp
giới không c̣n nữa, thế giới ấy gọi là
Nhất Chân. Chấp trước chẳng thể không phá,
tùy hỷ giúp chúng ta phá chấp trước. Hết
thảy việc tốt không nhất định phải là
của ḿnh, phải hiểu đạo lư này. Phải
nhiệt tâm, tích cực, nỗ lực thực hiện tùy
hỷ công đức.
V́ vậy, chuyện in lại
những kinh khắc đá ở Pḥng Sơn đến nay
tôi vẫn không lúc nào quên. In Tứ Khố Hội Yếu
bất kể là ai in, tôi đều tùy hỷ, chỉ
cần có ai làm là được rồi. Tôi tuyệt
đối chẳng cho công đức tốt lành ấy là
của chính ḿnh, không có ư niệm ấy, không có ư
tưởng ấy. Ai làm tôi đều giúp đỡ
cả, tôi toàn tâm toàn lực giúp đỡ, tiếng tốt
hoàn toàn thuộc về người ấy, tôi chỉ mong
chuyện ấy thực hiện thành công. Hễ có lợi
ích đối với xă hội và hết thảy chúng sanh,
chúng tôi thấy như vậy bèn rất hoan hỷ.
Những thứ ấy thực sự là kho báu của Trung
Quốc. Tứ Khố Hội Yếu và Thạch Kinh đúng
là kho báu, hy vọng kho báu ấy có thể lưu truyền
tới mọi nơi trên toàn thế giới, khiến cho
chúng sanh trên toàn thế giới đều được
tiếp xúc. Chúng tôi chỉ có nguyện vọng như
vậy, không hề mảy may cầu danh văn, lợi
dưỡng cho bản thân ḿnh. V́ vậy, phải tích
cực tùy hỷ. Tùy hỷ có công đức vô lượng
vô biên, phải hoan hỷ thực hiện, thành tựu
điều tốt đẹp cho người, không thành
tựu điều ác cho họ. Nguyện thứ sáu là:
Lục giả thỉnh chuyển
pháp luân.
六者請轉法輪。
(Sáu là khuyên mời chuyển
pháp luân).
Chuyển pháp luân: Chúng tôi
thường nói pháp luân về căn bản vốn là
một biểu tượng thường được
dùng trong Phật giáo, đức Phật dùng biểu
tượng này. V́ sao dùng luân? Luân (輪: bánh
xe) tượng trưng cho sự viên măn. Đức
Phật giảng cho chúng ta hết thảy pháp, chân
tướng của hết thảy pháp hay Thật
Tướng của các pháp chẳng phải có, chẳng
phải không, Luân có thể biểu thị điều này.
Luân h́nh tṛn, h́nh tṛn ấy không có tâm, phía ngoài là vành tṛn bao
quanh, như vậy luân chẳng phải là không. Luân chẳng
phải có, chẳng phải không, luân có thể biểu
thị được những điều ấy. V́
thế, đức Phật dùng Luân làm biểu tượng,
ngụ ư: Về Sự là có, vành tṛn bao quanh phía ngoài, như
vậy Luân là Sự, về mặt Sự th́ có; về Lư là
không, v́ tâm của h́nh tṛn không có. Chẳng thể nói tâm là
không có, tâm thực sự có, nhưng tâm không có h́nh
tướng.
Như vậy, Tâm là Không, Luân là
Sắc, một đằng Sắc, một đằng
Không. Tâm kinh nói: “Sắc bất
dị Không, Không bất dị Sắc. Sắc tức
thị Không, Không tức thị Sắc” (Sắc chẳng
khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc tức là Không,
Không tức là Sắc). Luân
thể hiện được điều này. Suốt
một đời đức Thế Tôn, Phật v́ hết
thảy chúng sanh thuyết minh chân tướng của nhân sinh
và vũ trụ suốt bốn mươi chín năm.
Bởi thế, đức Phật nói Tướng có, Tánh
không, Sự có, Lư không. Có và Không là một, không phải hai,
chẳng hề rời khỏi Luân. Quư vị thực
sự thông đạt: Không vốn là Sắc, Sắc chính là
Không, Có chính là Không, Không chính là Có. Đạo lư này rất
huyền diệu, rất sâu xa, nhưng nó là chân
tướng sự thật. Do thông đạt điều
này sẽ không chấp trước vào hai bên Có và Không
nữa, tâm của quư vị bèn định.
Quư vị chấp Không là sai lầm,
chấp Không vô ích, chẳng có tác dụng ǵ. Nếu quư
vị chấp Có là v́ chẳng hiểu rơ Có từ đâu mà
có, căn bản của Có là ǵ quư vị không biết! Như
vậy, Không lẫn Có đều hiểu rơ, không chấp
trước cả Không lẫn Có, sống “hết thảy tùy duyên” như vậy th́ mới là
đại tự tại! Một tí ti chấp trước
cũng không có. Chẳng những phân biệt, chấp
trước đều không có, mà vọng tưởng
cũng không có, con người như vậy sao không tự
tại cho được? Đạt đại tự
tại! Quư vị thực sự đạt được
pháp hỷ, thường sanh ḷng hoan hỷ, pháp hỷ sung
măn. Quư vị hoàn toàn tùy thuận Pháp Tánh, tùy thuận tự
nhiên, không có vọng niệm, không phân biệt, không chấp
trước. Đức Phật giảng cho ta đạo
lư này và chân tướng sự thật này, khiến cho chúng
ta trong một đời này đạt được
cuộc sống hạnh phúc viên măn.
“Thỉnh
chuyển pháp luân” có nghĩa là thỉnh Phật
thường dạy dỗ chúng ta. Đức Phật là
bậc ứng hóa, Ngài đă khôi phục tự tánh, đă
đạt trí huệ viên măn rốt ráo, đức năng
rốt ráo viên măn, tướng hảo rốt ráo viên măn,
những ǵ hết thảy chúng sanh mong cầu đức Phật
đều đạt được, đều biểu
hiện cho quư vị thấy. Quư vị đều thấy:
V́ sao Ngài có trí huệ viên măn như thế, đức
năng như thế, tướng hảo như thế?
Đức Phật dạy: Hết thảy chúng sanh mỗi
người đều có [trí huệ, đức năng, tướng
hảo] như thế, nhưng mê hay ngộ khác nhau. Do mê nên
vận dụng sai cái tâm, biến thành nông nỗi ấy;
nếu giác ngộ th́ sẽ khôi phục, khôi phục
giống như chư Phật Như Lai không hai, không khác.
Bởi thế, mới nói hết thảy chúng sanh vốn
sẵn thành Phật.
“Thỉnh
chuyển pháp luân” là
thỉnh chư Phật, Bồ Tát, thỉnh những
bậc giác ngộ thường đến dạy dỗ
chúng ta. Nói một cách thông tục th́ là thỉnh Phật
giảng kinh, thuyết pháp. Do trước kia, danh từ “giảng kinh, thuyết pháp”
chưa có vấn đề ǵ, nay con người nghe
đến th́ từ ngữ ấy bèn biến thành tôn giáo,
nghĩ ngay đến tôn giáo, nên chúng ta phải thay bằng
danh từ khác, gọi là “khế
cơ”. Nói cách khác, thuyết pháp như thế nào? Mời
đến dạy bảo chúng ta, giảng kinh thuyết pháp
nhằm chỉ dạy chúng ta. Dạy dỗ chúng ta không
phải là dạy một lần đă hiểu ngay, vừa
dạy bèn hiểu rơ là quá tốt. Chúng ta phiền năo
tập khí rất nặng, dạy một lần không
hiểu; v́ thế cổ nhân dạy chúng ta: “Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự
kiến” (Đọc sách ngàn lần, tự thấy
được ư nghĩa), “thâm
nhập một môn, trường thời huân tu”, chúng ta
mới ḥng giác ngộ. Làm cách nào đây? Lại tiến thêm
một bước nữa:
Thất giả thỉnh Phật trụ
thế.
七者請佛住世。
(Bảy là
mời đức Phật ở lại nơi đời).
Thầy ở lại nơi đây
dạy dỗ chúng ta, chúng ta cảm thấy rất lợi
lạc, rất vui sướng, chúng ta thỉnh thầy
thường trụ ở nơi đây. Nói cách khác, dạy
dỗ chúng ta lâu dài, dạy trong thời gian ngắn không
được. Phải thỉnh thầy bằng cách nào?
Tuyệt đối chẳng phải là ḿnh đối
xử lễ phép với thầy, đăi đằng
trọng hậu, khiến cho cái ăn, cái mặc, chỗ
ở của thầy sung túc, không hề có ư nghĩa như
vậy đâu nhé! Người thực sự có đạo
đức tuyệt đối chẳng tham cầu ngũ
dục, lục trần cúng dường, quyết
định chẳng tham cầu danh lợi, họ không có ư
niệm ấy. Dùng danh lợi, dùng ngũ dục lục
trần lưu giữ họ, sẽ giữ không
được. Họ đă hoàn toàn vứt bỏ những
thứ đó, làm sao giữ chân họ được?
Phải làm sao mới giữ được? Phải y giáo
phụng hành, thực sự học, thực sự thực
hành! Có bảo họ đi, họ cũng không đi. V́ sao? Họ
nhất định phải thành tựu cho quư vị, giúp
quư vị phá mê khai ngộ, giúp quư vị minh tâm kiến tánh,
giúp quư vị tu hành chứng quả, chẳng thể bỏ
quư vị được.
Như vậy, chư Phật, Bồ Tát,
những vị thiện tri thức thường ở
lại một chỗ nào th́ ta thường nói là [các Ngài] có
duyên phận [với chúng sanh ở chỗ ấy], cơ
duyên chín muồi, Ngài bèn đến; duyên phận không c̣n, các
Ngài bèn đi. Thế nào là không có duyên phận? Mọi
người chẳng chịu nghiêm túc học, chỉ
học bề ngoài, không tích cực học, Phật, Bồ
Tát bèn bỏ đi. Điều kiện để “thỉnh Phật trụ thế”
không có ǵ khác cả, cuối mỗi bộ kinh đều có
một câu: “Tín thọ phụng
hành”! Nếu quư vị làm được bốn chữ
này th́ không thỉnh Ngài cũng trụ thế, Ngài cũng
ở lại nơi đó. Quư vị tin tưởng lời
Ngài dạy, không hoài nghi tí nào, hiểu được,
tiếp nhận được, áp dụng được
những điều Ngài dạy vào cuộc sống, áp
dụng vào công việc, vào xử sự, đăi
người, tiếp vật, quư vị là người thực
sự học Phật, không phải là giả. V́ vậy,
chúng ta phải dùng cái tâm chân thành, tin sâu chắc, huệ
giải, y giáo phụng hành.
Chúng ta phải thỉnh
Phật, Bồ Tát, thỉnh thiện hữu ở lâu dài
trong thế gian này. Chúng ta biết phiền năo tập khí
quyết chẳng thể đoạn hết trong một
thời gian ngắn được; bởi lẽ, thời
gian bị phiền năo tập khí tiêm nhiễm của chúng ta
rất dài. Giống như khúc gỗ ngâm nước cả
mười mấy năm, ngấm đẫm nước,
nay lôi lên, châm chút lửa toan đốt cháy nó th́ không
phải là chuyện dễ. Phải tốn một thời
gian dài, dần dần mới đốt cháy
được. Nay chúng ta giống như khúc gỗ
ngấm nước nhiều năm, ướt đẫm
rồi, nay phải dùng lửa mạnh để
đốt; nếu lửa ấy không mănh liệt, chẳng
ăn thua ǵ! Khúc gỗ ấy phải thiêu ở đâu
mới có thể cháy được? Trong ḷ luyện thép,
phải bỏ vào ḷ luyện thép. Ḷ luyện thép cháy không
ngừng, hai mươi bốn tiếng đồng hồ
đốt không ngừng. Một ngày không thiêu
được th́ hai ngày, tôi tin rằng, hai ba tuần
chắc chắn phải cháy. Điều này nói rơ sự việc
trường thời huân tập, ngày ngày nghe giảng.
Nói thật ra, bản thân chúng tôi là
hạng người căn tánh bậc trung, không phải
hạng thượng căn lợi trí. Nay chúng tôi có một
chút thành tựu là nhờ đâu? Nhờ thầy dạy
dỗ. Tôi theo thầy, đầu tiên là học ba năm
với Chương Gia đại sư. Chương Gia
đại sư viên tịch rồi, tôi học với
thầy Lư mười năm; [tất cả là] mười
ba năm! Mười ba năm bén rễ rồi sau đấy
tôi mới có thể tự tu. Mỗi ngày tự ḿnh
đọc tụng kinh luận, đồng thời
tiếp nhận lời khuyến thỉnh của các
đồng tu giảng giải cho họ. Đến nay là
năm mươi hai năm, suốt năm mươi hai
năm tôi đọc kinh luận không gián đoạn,
giảng kinh bốn mươi lăm năm không gián
đoạn. Do vậy, đối với danh văn,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần dụ
hoặc trong thế gian này tôi mới có thể không
động tâm. Nếu không có thời gian huân tập lâu dài
như thế, nếu bảo là danh văn, lợi
dưỡng, ngũ dục, lục trần không
động tâm th́ phải là bậc thánh nhân, đâu phải
là phàm nhân, nói dễ dàng sao! Phải như vậy mới
chuyển được cảnh giới.
Tôi chuyển được cảnh
giới, nếu quư vị cứ lấy từng
mười năm một mà quan sát sẽ thấy rơ ràng; v́
thế, tôi nói Khổng lăo phu tử quả thật là
hạng căn tánh bậc trung, không phải là bậc
thượng căn lợi trí. Thích Ca Mâu Ni Phật là
bậc thượng căn lợi trí, quư vị thấy:
Ngài thị hiện thành Phật năm ba mươi
tuổi, giảng bộ kinh đầu tiên là Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh chẳng thể
nghĩ bàn! Đúng là bậc thượng thượng
căn! Nhưng chúng ta thấy Khổng lăo phu tử lăo nhân
gia thành tựu như thế này: Ngài nói mười lăm
tuổi chí dốc nơi việc học, ba mươi
tuổi căn bản vững vàng, bốn mươi
tuổi không lầm lẫn, năm mươi tuổi biết
vận trời, sáu mươi tuổi tai nghe đă
thuần, bảy mươi tuổi tùy ḷng mong muốn không
vượt quy củ. Mức tiến triển của tôi
không khác Khổng phu tử cho lắm: Nâng cao dần
dần, không phải là đốn ngộ, không phải là viên
chứng, mà là từng bước tu dần, chứng
dần. Hơn năm mươi năm dùi
mài không ngơi, càng học càng hoan hỷ, măi
đến mấy năm gần đây mới khế
nhập cảnh giới một chút, đúng là pháp hỷ sung
măn. Câu mở đầu sách Luận Ngữ minh
định: “Học nhi
thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học
rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?) Đối
với câu nói này, tôi lănh hội rất sâu.
Sự vui lớn nhất trong đời
người là học! Bởi thế, trong Luận Ngữ,
Khổng lăo phu tử nói mấy câu: “Ngô thường”: Ngài nói chính bản thân ḿnh
thường xuyên. “Ngô
thường chung nhật bất thực”: Ta suốt
ngày không ăn. “Chung dạ
bất tẩm”: suốt đêm không ngủ. “Dĩ tư”: suy nghĩ. “Vô ích, bất như học dă”:
Bất cứ sự việc ǵ trong thế gian này, việc
ǵ tốt đẹp nhất? Học! Học theo thánh nhân,
học theo hiền nhân, học làm người tốt. Không
ǵ bằng học, có việc ǵ sánh bằng học! “Học nhi thời tập chi,
bất diệc duyệt hồ; hữu bằng tự
viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?”
(Học rồi thường thực tập, cũng
chẳng sướng ư? Có bạn từ phương xa
đến, cũng chẳng vui sao?) “Bằng” ở đây là ǵ? Là người hiếu
học! Mọi người chúng ta chí đồng
đạo hợp, đều là người ham học. Hy
vọng mọi người đến học viện chúng
ta đều là người hiếu học, mọi
người chúng ta cùng ở trong hoàn cảnh nhỏ này cùng
nhau học tập. Thực sự hiếu học mới có
điều kiện thỉnh Phật trụ thế. Không
hiếu học, chỉ mang h́nh thức, chỉ làm ra vẻ
th́ Phật không trụ thế, Bồ Tát cũng chẳng
trụ thế. Cũng vậy, thiện tri thức cũng chẳng
trụ thế! Chỉ có thực sự hiếu học
[mới giữ các Ngài trụ thế được mà
thôi!]
Mười đại nguyện Phổ
Hiền theo giảng giải của cổ đức, chúng
tôi cũng xem các chú giải, trên thực tế chỉ là
bảy nguyện từ “lễ
kính chư Phật” đến “thỉnh Phật trụ thế”, bảy
điều ấy là nguyện. Ba điều sau đều
là hồi hướng. Chúng tôi suy gẫm kỹ những
lời tổ sư đại đức giảng,
thấy rất hợp lư. Giáo pháp Đại Thừa nói
đến ba thứ hồi hướng: Hồi
hướng Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh,
hồi hướng Thực Tế. V́ sao phải hồi
hướng? Hồi hướng để mở rộng
tâm lượng, chúng ta làm việc này chẳng v́ tự ḿnh,
mà v́ chúng sanh khắp pháp giới hư không giới, tâm
lượng bèn lớn lao, đấy mới là hạnh
Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền khác với hạnh
của các Bồ Tát ở chỗ nào? Chính ở chỗ này
đây! Mọi Bồ Tát cũng có lễ kính, cũng có
xưng tán, cúng dường, sám hối nghiệp chướng,
nguyện nào cũng có, nhưng v́ sao không gọi là hạnh
Phổ Hiền? V́ tâm lượng không rộng lớn
như thế này.
Quư vị giống như chúng tôi là phàm
phu, phàm phu thế gian bảo tâm
lượng
của hạng người sau đây rất lớn: “Tể tướng đỗ tử
năng xanh thuyền” (Bụng tể tướng
chứa được cả chiếc thuyền), ông ta
nghĩ đến điều ǵ? Nghĩ đến
đất nước, dân tộc của ḿnh, đúng là
không v́ cá nhân, không v́ gia đ́nh ḿnh, mà v́ đất
nước, v́ dân tộc ḿnh, thật bất phàm! Tâm
lượng ấy vẫn c̣n nhỏ, ông ta v́ đất
nước dân tộc ḿnh, nhưng đất nước
dân tộc khác th́ sao? Nước ḿnh mạnh nhất trên
thế giới, những nước khác đều yếu
kém nhất, ḿnh phải làm sao đây? Đối xử như
thế nào? Tâm lượng vẫn chưa đủ
lớn! Tâm lượng ấy có thể làm người lănh
đạo quốc gia, tâm lượng ấy dung nạp
một đất nước. Nếu tâm lượng
lớn hơn nữa, bao dung được cả thế
giới, bao dung cả địa cầu, khởi tâm
động niệm không chỉ nghĩ đến nhân dân,
đất nước ḿnh, mà ta c̣n nghĩ đến nhân
dân toàn thế giới, làm sao cho nhân dân toàn thế giới
đều hưởng cuộc sống tốt đẹp;
người như thế là lănh tụ của toàn thế
giới, tâm lượng của người ấy lớn
lao!
Người ấy vẫn không bằng
Bồ Tát. Bồ Tát khởi tâm động niệm nghĩ
tới ǵ? Nghĩ đến tam thiên đại thiên thế
giới, người thế gian chúng ta không thể sánh
bằng được. Tâm lượng của Bồ Tát là
phổ độ chúng sanh, muốn độ chúng sanh trong
chín pháp giới khắp tam thiên đại thiên thế
giới, nhưng vẫn không bằng Phổ Hiền Bồ
Tát! Tâm lượng của Phổ Hiền Bồ Tát
trọn khắp hư không giới, pháp giới. Trọn
khắp pháp giới, hư không giới, quả thật có
không ít những vị Pháp Thân Bồ Tát cũng có tâm
lượng như thế, nhưng Phổ Hiền Bồ
Tát vẫn thù thắng hơn, thù thắng ở chỗ nào?
Nhờ kinh Hoa Nghiêm chúng ta mới thấy, tâm Phổ
Hiền Bồ Tát bao gồm cả những thế giới
trong vi trần. Trong hội Hoa Nghiêm, đức Phật
đă dạy chúng ta như thế, các kinh khác không nói
đến điều đó. Trong mỗi một vi trần
đều có thế giới, vi trần không phóng to, thế
giới không rút nhỏ, thế giới trong vi trần
giống hệt thế giới bên ngoài, không khác nhau! Ai có
thể vào được trong ấy? Phổ Hiền
Bồ Tát vào được.
Tâm lượng của Phổ Hiền
Bồ Tát có thể nhập, có thể độ trùng trùng vô
tận thế giới. Thế giới trong vi trần
lại có vi trần, trong những vi trần ấy lại
có thế giới, do đó, thế giới trùng trùng vô
tận. V́ sao có hiện tượng ấy? Đức Phật
dạy chúng ta: Tự Tánh vốn là như thế. Chân tâm,
bản tánh vốn sẵn là như vậy, trong ấy không
có lư do ǵ cả, nó chỉ như vậy mà thôi. Như tánh
đức, chúng ta thường gọi là tánh năng. Năng
lực của tánh vĩnh viễn không mất, nó như
vậy đó, đức của tánh cũng giống như
thế đó.
Năng lực của tánh là ǵ? Trong Pháp
Sự này, thiền sư Trung Phong gọi là “linh tri tâm”.
Bản năng của tánh là linh tri, tức là nó thấy -
nghe - hay - biết. V́ sao lại có thể thấy - nghe - hay
- biết? Vốn sẵn là như vậy. Đó là bản
năng. Nơi thân thể chúng ta, mỗi một tế bào
đều thấy - nghe - hay - biết. Hiện thời có
thể dùng phương pháp khoa học để thăm ḍ
điều này. Đức của tánh là ǵ? Chính là cái mà kinh
Đại Thừa thường gọi là trí huệ,
năng lực, đức năng, tướng hảo,
đó là tánh đức. Vô lượng trí huệ, vô
lượng năng lực (không ǵ chẳng thể), vô
lượng tướng hảo. Kinh Đại Thừa
thường nói: Thân có vô lượng tướng, mỗi
tướng có vô lượng hảo. Một cách diễn giải
khác là “thường - lạc - ngă
- tịnh”, đó cũng là những đức mà bản
tánh sẵn có. Đó là tánh đức (những phẩm
chất tốt đẹp của bản tánh). Đấy
chính là những điều “cá
cá bất vô, nhân nhân bổn cụ” (không ǵ chẳng có, ai
nấy sẵn đủ).
Phật, Bồ Tát không dạy
điều ǵ khác, chỉ nhằm dạy chúng ta khôi
phục bản năng, bản đức, đức
năng sẵn có của chính ḿnh, chỉ như vậy mà
thôi! Đến khi nào chính quư vị hoàn toàn khôi phục,
Phật sẽ giảng cho quư vị về viên măn Bồ
Đề, quy về Vô Sở Đắc, đấy là
điều bản tánh vốn sẵn có. Phật, Bồ Tát
không trao tặng cho ḿnh điều ǵ cả, chỉ là do
chính ḿnh tự chứng đắc. Phật, Bồ Tát
chỉ làm người giới thiệu, là Tăng
Thượng Duyên mà thôi, pháp b́nh đẳng mà! Phật,
Bồ Tát chẳng cậy công: “Ta dạy ngươi, ta có
ân đức đối với ngươi”. Không hề có!
Phật, Bồ Tát dạy ta cảm ân, cảm cái ơn
của hết thảy chúng sanh trọn khắp pháp
giới, hư không giới, dạy chúng ta cảm ơn cha
mẹ, cảm ơn sư trưởng, cảm ơn
hết thảy chúng sanh, tâm lượng ấy lớn
lắm. V́ vậy, hồi hướng là mở rộng tâm
lượng, tâm lượng có mở rộng th́ mới có
thể khôi phục tự tánh. Tâm lượng nhỏ là
không được, chẳng thể thấy
được Tánh. Do vậy, nguyện thứ tám là:
Bát giả thường tùy Phật
học.
八者常隨佛學。
(Tám là
thường học theo Phật).
Đây là hồi hướng Bồ
Đề, Bồ Đề là điều chúng ta mong
cầu, là mục tiêu của chúng ta. Ta học, ta tu, ta hành
là v́ lẽ ǵ? V́ Bồ Đề. Nói thật ra, trên mặt
sự tướng, mọi người hăy khéo hiểu, v́
Bồ Đề chính là v́ chánh pháp tồn tại lâu dài.
Nền giáo dục của đức Phật là nền giáo
dục trí huệ, Bồ Đề là giác ngộ, là giáo
dục đại trí đại giác, ta mong mỏi nền
giáo dục ấy c̣n măi trong thế gian, vĩnh viễn
không dứt, phần trên gọi là “Phật trụ thế”. Thỉnh Phật trụ
thế nhất định phải “thường tùy Phật học” th́ Phật
mới trụ thế, hai câu này liên quan với nhau. Nếu
chúng ta chẳng tùy thuận Phật, không học theo
Phật, Phật chẳng thể trụ thế. Chúng ta
muốn thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ
thế th́ điều kiện quan trọng nhất là “thường tùy học Phật”.
Ta ưa thích nền giáo dục này, ta yêu mến nền giáo
dục này, ta học tập nền giáo dục này, Phật
bèn trụ thế, Ngài chẳng thể ĺa khỏi chúng ta.
Loại hồi hướng thứ hai là:
Cửu giả hằng thuận chúng sanh.
九者恆順眾生。
(Chín là
hằng thuận chúng sanh).
Quư vị hăy nh́n kỹ chữ “thuận” này, không những
phải “thuận” mà c̣n “hằng thuận”, vĩnh
viễn tùy thuận chúng sanh th́ quư vị mới có thể
giúp đỡ chúng sanh được. Quư vị có hảo ư
giúp đỡ người ta, nhưng không thuận theo ư
họ, họ sẽ phản kháng, không thể tiếp
nhận ḿnh, vậy là không c̣n có cách ǵ hết. V́ thế, quư
vị hăy xem chư Phật, Bồ Tát độ chúng sanh,
các Ngài thuận theo chúng sanh. Quư vị thấy trong phẩm
Phổ Môn có nói đến ba mươi hai ứng thân
của Quán Thế Âm Bồ Tát, nên dùng thân nào để
độ bèn hiện thân ấy, hằng thuận
đấy! Người ta thích Phật, Quán Âm Bồ Tát bèn
hiện thân Phật, chúng sanh bèn vui thích. Nên dùng thân nào để
độ bèn hiện thân ấy, hoàn toàn thuận theo chúng
sanh, chứ không chiều theo ư của riêng ḿnh. Nếu
thuận theo ư ḿnh th́ chẳng phải là độ chúng sanh,
dẫu hảo tâm, dẫu có ư nghĩ tốt, chúng sanh
chẳng tiếp nhận ḿnh. Bởi thế, quư vị
phải biết tùy thuận chúng sanh, nhất là “hằng thuận chúng sanh”, khó
đấy!
Nay chúng ta giúp đỡ chúng sanh ở bên
ngoài, mọi người không tiếp nhận là v́ nguyên nhân
nào? Chúng ta không tùy thuận họ, mà hoàn toàn thuận theo ư của
chính ḿnh. Thuận theo ư của chính ḿnh th́ người ta bài
xích, làm không xong! Ai thích Cơ Đốc (Christ), thích Gia Tô
(Jesus), Quán Thế Âm Bồ Tát bèn hiện thành Cơ
Đốc, biến thành Gia Tô, họ cũng vui vẻ!
Năm ngoái, h́nh như vào tháng Mười Một, tôi qua
thăm Nhật Bản, giảng kinh ở Nhật Bản,
gặp mặt lăo ḥa thượng Trung Thôn Khang Long. Vị lăo
ḥa thượng này tuổi ngoài chín mươi, là quốc
bảo của Nhật Bản. Trong giới Phật Giáo
Nhật Bản, ḥa thượng rất có tiếng tăm,
có địa vị. Lúc gặp gỡ, tôi không ngờ Ngài
bảo tôi một câu khiến những pháp sư Nhật
Bản hiện diện lúc ấy đều hết sức
kinh ngạc. Ngài nói ǵ vậy?
Ngài nói: “Người sáng lập mỗi
một tôn giáo trên thế giới đều là hóa thân
của Quán Thế Âm Bồ Tát!” Điều này hoàn toàn
tương đồng với những điều tôi
thường nghĩ, thường nói. Vị lăo ḥa
thượng ấy thật phi phàm! Những vị pháp sư
Nhật Bản ở quanh Ngài bảo tôi: “Trước nay
lăo ḥa thượng chưa hề nói như thế!” Họ
nói: “Pháp sư! Hôm nay ông đến đây, Ngài bảo ông
như vậy, chứ trước nay Ngài chưa hề nói
như thế”, khiến tôi cảm thấy được
khích lệ lớn lao! Ngày nay chúng ta tiếp xúc các tôn giáo khác
nhau trên toàn thế giới, thực hiện công tác đoàn
kết đa nguyên văn hóa, lăo ḥa thượng nói câu
ấy ủng hộ tôi. Nói thực ra, ḥa thượng
tuổi tác quá cao, ngoài chín mươi tuổi, đầu óc
hết sức minh mẫn, nhưng nay cũng phải
ngồi xe lăn, thân thể cử động không
thuận tiện lắm, nhưng đầu óc sáng suốt,
nói năng cũng rất minh mẫn, gặp mặt Ngài vô
cùng hoan hỷ. Thật là người có trí huệ, thật
sáng suốt, “hằng thuận
chúng sanh”.
Thuyết pháp th́ không có pháp nhất
định để nói. Chúng sanh thích pháp ǵ bèn nói cho
họ nghe pháp ấy, không có pháp nào nhất định
để nói cả. Chư Phật, Bồ Tát cũng không
có h́nh tướng, thân tướng nhất định,
hoàn toàn hằng thuận chúng sanh. Kinh Lăng Nghiêm nói “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng”. Hai câu ấy chính là như Đại
Thừa Phật pháp thường nói: Nên dùng thân nào
để độ được, bèn hiện thân ấy,
nên nói pháp nào bèn nói pháp ấy. Sự ứng hiện ấy
đều là ứng theo [căn cơ của] chúng sanh, chúng
sanh có cảm, Phật, Bồ Tát bèn có ứng. Hiện thân
tướng là “thân ứng”, v́ họ thuyết pháp là
“thuyết ứng”, đều phải ứng theo chúng sanh.
Chúng sanh là cơ, ứng cơ thuyết pháp, ứng cơ
hiện thân, tất cả hết thảy không ǵ không
phải ứng cơ (thích ứng với căn cơ của
đối tượng được hóa độ),
đó gọi là “hằng
thuận chúng sanh”.
Quư vị hiểu thấu đại
đạo lư, đại nguyên tắc, đại
phương châm này th́ quư vị sẽ thấy thế
giới ngày nay hướng theo khoa học kỹ thuật,
trong khoa học kỹ thuật, các phương tiện
truyền thông phổ biến nhất và quen thuộc
nhất là truyền thanh, truyền h́nh, hiện thời là
Internet. Chúng tôi thấy vậy, phải hằng thuận
chúng sanh, chúng tôi cũng phải đi theo con
đường ấy. Chúng tôi giảng kinh, không thể
giảng trên giảng ṭa, giảng tại giảng
đường không được, nay chúng tôi giảng
trong pḥng thâu h́nh. Đồng thời, h́nh ảnh và âm thanh
của chúng tôi theo đường Internet phổ biến
toàn thế giới, cứ vào trang web của chúng tôi sẽ
thâu nhận được. Đó là hằng thuận chúng
sanh, là ứng cơ thuyết pháp. Hiện tại
người ta cảm như vậy th́ chúng tôi phải
ứng như thế, hễ có cảm bèn có ứng, cảm
ứng đạo giao.
Hiện nay có cần xây dựng một
đạo tràng rất lớn hay không? Không cần thiết!
Đạo tràng hoằng pháp ngày nay (tổ sư đại
đức vẫn là tổ sư đại đức,
đối với họ chúng tôi không lạm bàn), vị
tổ sư gần nhất của Tịnh Độ tông
chúng ta là Ấn Quang đại sư. Lăo nhân gia dạy chúng
ta đạo tràng không cần to, Ngài không chủ
trương dựng đạo tràng lớn, mà là đạo
tràng nhỏ. Mọi người cùng tu một chỗ
với nhau không cần đông, chúng thường trụ
lấy hai mươi người làm hạn định,
không được vượt quá hai mươi
người. Càng suy gẫm lời dạy ấy, chúng tôi
thấy càng hợp lư. V́ sao? Phù hợp t́nh huống xă
hội hiện thời, không hóa duyên, cuộc sống
của hai mươi người dễ dàng duy tŕ.
Đạo tràng quá lớn, chúng thường trụ quá
đông, nguồn sống cho đại chúng từ đâu mà
có? Nhất định phải làm pháp hội, nhất
định phải làm rất nhiều, phải chèo kéo.
Hiện thời giống như du lịch văn cảnh,
đạo nghiệp hoàn toàn bị hủy mất, tâm thanh
tịnh không đạt được.
V́ thế, Tổ dạy không hóa duyên,
không làm pháp hội (không làm hết thảy pháp hội), không
thâu đồ đệ, không truyền giới, không
giảng kinh, chuyên môn niệm Phật. Công khóa b́nh
thường giống như khóa niệm Phật thất
phổ thông. Hai mươi người cùng tu, ai nấy
đều có thể thành công. Lời khai thị ấy
thật phi thường, là lời giáo huấn chân thật!
Đương nhiên người đến đạo tràng
tu hành đều hiểu Phật pháp, nên không cần
giảng kinh, giảng kinh tại đâu? Giảng kinh trên
truyền h́nh, trên Internet. Đối với kinh giáo mọi
người đều hiểu được, chúng ta
chọn nơi đây để tu hành, rất đơn
giản, hai mươi người tụ tập, t́m
một căn nhà nhỏ là đủ rồi, quư vị bèn
có thể thành công. Nhất định phải đoạn
tuyệt ngoại duyên. Nếu đạo tràng nào trở
thành đạo tràng du lịch văn cảnh th́ không phải là
đạo tràng để tu hành, chẳng thể tu thành
tựu ở nơi ấy. Phải hiểu đạo lư
này!
Như vậy, giảng kinh thuyết pháp
trên truyền h́nh là đưa việc
giảng kinh thuyết pháp đến tận gia đ́nh của
mỗi người. Chúng ta thấy khoa học kỹ
thuật hiện nay phát triển, chúng tôi tin rằng năm
năm sau, Internet thay thế truyền h́nh. V́ sao?
Năm ngoái chúng tôi thấy ở Nhật Bản,
điện thoại cầm tay (cell phone) có thể nối vào
Internet, từ màn h́nh nhỏ trên máy có thể thâu nghe
được Internet. Tôi tin rằng năm năm sau, các
băng thông Internet càng mở rộng hơn, bất cứ
nơi nào trên thế giới, dùng cell phone đều có
thể thâu bắt được. Chúng tôi tưởng
tượng màn h́nh của điện thoại nếu
được làm lớn hơn một chút, quư vị bèn
thấy rơ ràng, âm thanh, h́nh ảnh đều thấy nghe
rất rơ. Nói cách khác, khác nào một cái máy truyền h́nh
nhỏ có thể mang bên người, đưa Phật pháp
đến tận tay quư vị.
Hiện tại, những cái máy truyền
h́nh to được bày trong nhà, đưa Phật
pháp
đến tận nhà, độ mấy năm nữa,
tiến hơn bước nữa, đưa Phật pháp, h́nh
ảnh, âm thanh giảng kinh thuyết pháp đến tận
ḷng bàn tay quư vị. Bất luận quư vị ở đâu,
tùy tiện bất cứ lúc nào muốn nghe, đều có
thể nghe được. Thực sự nghe hiểu, nghe
thấu suốt, giác ngộ, muốn tu hành, t́m một
đạo tràng nhỏ, đạo tràng nhỏ có hai
mươi người, quư vị thực sự thành
tựu. Tổ sư đại đức chỉ dạy
chúng ta như thế. Ấy đều là hằng thuận
chúng sanh, đều là ứng cơ thuyết pháp.
V́ thế, những đạo tràng
lớn ngày nay nói thật ra là chỗ để du lịch
ngoạn cảnh, là nguồn thâu nhập cho quốc gia,
thuộc về dịch vụ. Đồng thời,
những nơi ấy có thể phát huy một hiệu
quả là cơ hội giáo dục, từ cơ hội du
lịch ngắm cảnh, đem Phật pháp giới
thiệu cho du khách, khiến du khách hiểu, khiến họ
có thể từ máy truyền h́nh, từ trong ḷng bàn tay,
được nghe Phật pháp. Đấy là thích ứng
với căn cơ của chúng sanh hiện đại,
hằng thuận chúng sanh hiện đại, chúng ta
phải hiểu như vậy. Nếu quư vị không
hiểu đạo lư này, sẽ chẳng thể phổ
độ chúng sanh. Điều cuối cùng:
Thập giả phổ giai hồi
hướng.
十者普皆回向。
(Mười
là hồi hướng khắp tất cả).
Đây là hồi
hướng Thật Tế. Thực Tế là ǵ? Chính là
hồi hướng bản tánh. Hết thảy sanh từ
bản tánh, tối hậu quy về bản tánh. Bản tánh
c̣n gọi là Tự Tánh, Chân Như, Thật Tế, vẫn
là hồi quy về đó, từ đâu sanh ra th́ quay về
đó. Chúng ta thường nói trở về với thiên
nhiên, người thế gian thường hay nói như
thế. Trong Phật pháp nói quay về với Thật
Tế, trở về với Chân Như. Quay về như
thế nào? Chính là niệm niệm, hạnh hạnh
đều tương ứng với Chân Như, phải
hiểu điều này, đó gọi là Khế Lư. Chín
điều nguyện trước là Khế Cơ,
điều này là Khế Lư, quyết định chẳng
được trái nghịch Thật Tế Lư Thể.
Pháp Thân Bồ Tát có thể làm
được điều này, ngoài Pháp Thân Bồ Tát ra,
như Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát chỉ có
thể làm được tương tự. Đối
với điều này, bọn phàm phu chúng ta ngơ ngác,
chẳng biết thế nào là “phổ
giai hồi hướng”, không hiểu nó có nghĩa là ǵ!
Hôm nay tôi xin thưa cùng quư vị: Quư vị chỉ có khái
niệm lờ mờ, muốn hiểu thật rơ ràng, th́ nó có
nghĩa là “công phu tu hành của quư vị phải khế
cơ, khế lư”. Phần trên là giảng về khế
cơ, nguyện này là khế lư. Lư ấy phải dựa vào
đâu? Đơn giản là chúng ta chưa chứng
đắc lư Chân Như th́ phải nương vào kinh giáo.
Chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy hành
vi đều tương ứng với kinh giáo, chẳng
trái nghịch những ǵ kinh giáo răn dạy, đấy
chính là “phổ giai hồi
hướng”. Trái nghịch sự giáo huấn của
kinh điển th́ một điều cũng chẳng có,
thuyết pháp khế cơ nhưng không khế lư.
Đoạn này chúng tôi giảng đến đây thôi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
phần 15 hết
[1] Khoa-khắc (quark): Tuy khoa-khắc là
lạp tử cơ bản nhỏ nhất cấu thành
vật chất, nhưng hầu như không bao giờ
thấy chúng tồn tại độc lập. Quark
thường kết hợp thành những cấu trúc
lớn hơn gọi là hardron (cường tử). Quark do
Murray Gell Mann và George Zweig phát hiện vào năm 1964.
[2] Trong Lăng Nghiêm
Kinh Giảng Nghĩa, pháp sư Viên Anh đă giảng
đoạn này như sau: “Nguyên
minh là chẳng sanh tác dụng soi chiếu sai lầm,
đấy gọi là bổn minh (vốn sẵn sáng
suốt), trọn chẳng có một vật mảy may nào.
Nay từ tánh nguyên minh ấy sanh tác dụng chiếu soi
(nhận biết sự vật) một cách lầm lạc,
nên Chiếu ấy là vọng chiếu! ‘Sanh Sở’: Do
vọng chiếu nên mới có Vọng (mê lầm)
được sanh ra. Do vọng cảnh là đối
tượng của Chiếu đă được tạo
lập nên tánh chân chiếu liền mất (tức là có
đối đăi, thấy có Năng Chiếu và Sở
Chiếu), nên mới nói: “Sở lập, chiếu tánh vong”.
[3] Sở dĩ là vô
minh v́ chữ ‘tri kiến’ ở đầu câu này nói về
năng lực sẵn có bản tánh (thường gọi là
‘bản năng’ hay tánh đức), tánh có thể nhận
biết thông suốt mọi sự vật, hiện
tượng, không cần phải thông qua suy lường,
phân biệt. Nếu đối với những đức
năng sẵn có của tâm tánh ấy lại khởi lên ư
niệm suy lường, phân biệt, cho là ta có cái tâm
nhận biết, có đối tượng được
nhận biết bởi ta, tức là hư vọng lập
ra quan niệm ‘ta thấy, ta biết’, th́ đó gọi là
‘lập tri’. Do đă có hư vọng, vọng tưởng
xen vào nên đức năng thanh tịnh sẵn có của
tâm tánh bị khuất lấp, những thứ đó là
gốc rễ tạo ra vô minh.
[4] Do có phân biệt
đối đăi, vọng tưởng, ta người
v.v... nên những ư niệm hư vọng, phân biệt,
chấp trước ấy sẽ che lấp đức
năng sẵn có của chân tánh khiến cho ta luôn nh́n
nhận, cảm thụ sự vật qua lăng kính
vọng tưởng, không thấy sự vật đúng
với bản chất của nó. Do vậy, không c̣n thuộc
trong Nhất Chân pháp giới nữa mà trở thành
mười pháp giới, lục đạo luân hồi. V́
thế, nói là ‘sanh ra những biến đổi’.
[5] Cực Vi Vi là
sắc chất nhỏ nhất, thường gọi là Lân
Hư Trần. Nếu chia chẻ Lân Hư Trần ra
nữa th́ không c̣n ǵ nữa, do vậy gọi là Lân Hư
(gần với hư không).
[6] Thánh Ngôn
Lượng là một trong ba thứ so sánh (Hiện
Lượng, Tỷ Lượng và Thánh Ngôn Lượng)
để nhận định, phán định chân lư. Thánh
Ngôn Lượng c̣n gọi là Thánh Giáo Lượng chính là
dựa trên những lời dạy của chư Phật,
Bồ Tát, A La Hán để luận định sự
việc.
[7] Khi TV vận hành,
để hiển thị h́nh ảnh, h́nh ảnh
được chia thành tập hợp những dải
nhỏ (gọi là scan line), máy truyền h́nh sẽ phóng ra
những chùm điện tử dựa theo cấu trúc
của h́nh ảnh trong các dải ấy để quét ngang
màn h́nh theo từng đường (thường gọi là
raster), khi quét hết chiều ngang, sẽ đi xuống
ḍng kế tiếp. Khi nào quét hết màn h́nh sẽ trở
lại ḍng đầu tiên. Mỗi một raster bao gồm
nhiều pixel. Pixel là cách gọi tắt chữ ‘picture
element’, là đơn vị nhỏ nhất của h́nh
ảnh. Mỗi pixel chính là h́nh ảnh được mă hóa
(digitalized) tại một vị trí nhất định, nó
chứa đựng giá trị của những tham số
(parameters) về màu sắc (RGB), cường độ sáng
v.v...
[8] Hiện Lượng (Pratyaksa
pramàna): Đây là thuật ngữ của Nhân Minh Học, có
nghĩa là sự nhận biết thông qua tác dụng phân
biệt suy nghĩ. Có hai loại:
- Chân Hiện Lượng là sự nhận biết chính
xác, chưa bị ảnh hưởng bởi những
huyễn tưởng, chưa thông qua kinh nghiệm trực
tiếp của khái niệm.
- Tự Hiện Lượng là sự nhận biết
đă bị huyễn tưởng chi phối hoặc thông
qua kinh nghiệm trực tiếp của khái niệm (theo
Phật Quang Đại Tự Điển)
[9] Chín tôn giáo chính
ở Tân Gia Ba là Phật Giáo, Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo,
Đạo Giáo, Ấn Độ Giáo, đạo Sikh, Do Thái
Giáo, Bái Hỏa Giáo, và Bahá’i.
[10] Tức là thành
phố Gold Coast ở phía Đông Nam
tiểu bang Queensland, nằm ngay phía Nam thành phố
Brisbane, rất gần ranh giới giữa tiểu bang
Queensland và New South Wales.
[11] Đây chính là ngày
quốc khánh lần thứ 50 (mồng Một tháng Mười)
của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc (Hoa Lục), không
phải là quốc khánh của Trung Hoa Dân Quốc (Đài
Loan). Chánh quyền Mao Trạch Đôn tuyên bố thành lập
Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc vào ngày mồng Một tháng
Mười năm 1949.
[12] Đây là một di
sản văn hóa Phật giáo hết sức quư báu. Pḥng
Sơn Thạch Kinh là các bản kinh Phật giáo
được khắc vào đá tàng trữ trong Thạch
Kinh Sơn chùa Vân Cư huyện Pḥng
Sơn (phụ cận Bắc Kinh). Núi Thạch Kinh nằm
ở phía Đông chùa Vân Cư nên c̣n có tên là Đông Phong,
trong núi gồm chín hang động, chia thành hai tầng: Trên
bảy, dưới hai. Mỗi động đều có tên
riêng, động chính được gọi là Lôi Âm
Động. Công tŕnh khắc kinh trên đá này do ngài Tịnh
Uyển (Trí Uyển) khởi xướng từ đời
Tùy, theo di nguyện của thầy Ngài là pháp sư Huệ
Tư. Công cuộc khắc kinh trên đá được
bắt đầu vào khoảng giữa niên hiệu
Đại Nghiệp (605-617). Đến khi ngài Tịnh
Uyển mất, đă khắc được 146 khối
đá gồm các kinh Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Duy Ma, Thắng Man
v.v... Các đệ tử như Đạo Công, Nghi Công, Tiêm
Công... tiếp tục sự nghiệp của thầy. Trong
niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, hoàng
đế nhà Đường tiếp tục sự
nghiệp này. Việc khắc kinh bị đ́nh đốn
vào thời Ngũ Đại, rồi lại tiếp tục
măi cho đến đời Kim Chương Tông (1149-1190),
dưới sự chủ tŕ của chú nhà vua là Hán
Vương và phu nhân của Lưu Thừa Tướng,
Trương Nhân Tông v.v... công cuộc khắc kinh mới
hoàn tất. Hiện thời tại Thạch Kinh Sơn có chứa
hơn 1,4 vạn tấm đá khắc kinh. Sau khi khắc
xong, Kim Chương Tông ra lệnh phong bế các hang
động này, và sai nhà thư pháp Đổng Kỳ
Xương viết hai chữ Bảo Tạng trên vách núi.