Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 16
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Trong phần trên, chúng ta đă
học về mười nguyện của Phổ Hiền
Bồ Tát, cũng có thể nói mười nguyện của
Phổ Hiền Bồ Tát chính là nguyện chung của các
Bồ Tát. Thế nhưng, ngoại trừ những
nguyện chung này ra, lại c̣n có một tổng nguyện,
tức là lời nguyện chung của hết thảy
chư Phật, ngay cả mười nguyện của
Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng thể tách
rời Tứ Hoằng Thệ Nguyện này. Ngay cả bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nếu
quy nạp lại th́ Tứ Hoằng Thệ Nguyện bao trùm
trọn vẹn. Như vậy, Tứ Hoằng Thệ
Nguyện là cương lănh, triển khai thành vô
lượng vô biên đại nguyện của chư Phật,
Bồ Tát. Chúng ta đọc bài kệ đầu tiên:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ,
Phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ
nguyện học,
Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành.
眾生無邊誓願度。
煩惱無盡誓願斷。
法門無量誓願學。
佛道無上誓願成。
Trong Tam Thời Hệ Niệm Pháp
Sự, Tứ Hoằng Thệ Nguyện được
đọc ba lần, mỗi một thời đọc
một lần, bốn câu kệ này chúng tôi dành lại,
sẽ nói sau. Tiếp đến là bài Tam Bảo Tán, phần
tán thán ở đây chính là xưng tán Như Lai. Tam Bảo
Tán là tán Phật, tán Pháp, tán Tăng, gọi là Tam Bảo Tán.
Bảo (寶)
là tỷ dụ, người thế gian có của báu th́
cuộc sống rất giàu có, sung sướng, cuộc
sống rất hạnh phúc, có thể giải quyết
những vấn đề thuộc đời sống
vật chất.
Phật - Pháp - Tăng gọi là Tam
Bảo, là ba món báu thực sự, v́ của cải
thế
gian chỉ có thể giải quyết những vấn
đề trong một đời này, chẳng thể
giải
quyết những vấn đề thuộc đời
đời kiếp kiếp, càng chẳng thể giải
quyết vấn đề sanh tử luân hồi trong lục
đạo. Ngoài chuyện luân hồi ra, c̣n có vấn
đề chẳng thể thoát khỏi mười pháp
giới, c̣n có vấn đề chẳng thể chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề, nhiều
vấn đề quá! Thế nhưng Tam Bảo là của
báu thực sự, chắc chắn của báu thế gian
không thể sánh bằng! V́ sao? V́ Tam Bảo có thể
giải quyết được vấn đề sanh
tử trong lục đạo, giải quyết vấn
đề mười pháp giới, có thể giúp chúng ta trong
vấn đề chứng đắc Phật quả
rốt ráo, đấy mới là đồ báu thực
sự!
Nếu chúng ta hỏi Tam Bảo
có thể giải quyết vấn đề sinh hoạt
trong thực tế hay không th́ câu trả lời là khẳng
định: “Đương nhiên!” V́ sao? Chuyện trong
lục đạo là vấn đề nhỏ nhặt, Vô
Thượng Bồ Đề là vấn đề lớn.
Vấn đề lớn c̣n giải quyết
được th́ vấn đề nhỏ nhoi sẽ thấm
vào đâu! Rất đáng tiếc, trong thế gian rất
nhiều người mê không giác, coi thường Tam
Bảo. Tam Bảo chẳng phải ở bên ngoài mà ở
ngay nơi Tự Tánh. Phật Bảo là Tự Tánh Giác, Pháp
Bảo là Tự Tánh Chánh, Tăng Bảo là Tự Tánh
Tịnh, Giác - Chánh - Tịnh Tam Bảo. Giác - Chánh - Tịnh
là Tánh Đức; bởi vậy, Tam Bảo chẳng ở
bên ngoài, không ai cầu chẳng được, đúng là có
cầu ắt ứng. Cầu nơi đâu? Hướng
về Tự Tánh mà cầu.
Đức Thế Tôn dạy cho
chúng ta lư luận và phương pháp để cầu. Tam
Bảo đă hiện tiền th́ cũng nói được
cảnh giới rất tường tận, rất minh
bạch. Cảnh giới ấy chính là thế giới Hoa
Tạng, thế giới Cực Lạc, Nhất Chân pháp
giới. Như vậy, chỉ có Tam Bảo mới có
thể giúp chúng ta chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm
thành thánh, chuyển Sa Bà thành Cực Lạc, chuyển
uế độ thành tịnh độ, chuyển
mười pháp giới thành Nhất Chân pháp giới.
Đấy mới thực sự là đồ báu! Nay chúng ta
hăy xem đoạn thứ nhất, đoạn thứ
nhất là tán Phật:
14. Tán thán Phật Bảo
Phật bảo tán vô cùng.
佛寶讚無窮。
(Phật
Bảo khen ngợi khôn cùng).
Câu này mang ư nghĩa kép: Phật
Bảo nơi Tự Tánh và Phật Bảo trên mặt
sự tướng. Phật Bảo về mặt sự
tướng th́ nêu lên vị gần nhất là Thích Ca Mâu Ni
Phật. V́ sao? Nếu Ngài không thị hiện thành Phật,
dạy cho chúng ta pháp chân thật Giác - Chánh - Tịnh chân
chánh th́ chúng ta vĩnh viễn chẳng biết, không ai có thể
nói ra cả. Do vậy, tán Phật ở đây bao gồm
cả tán thán Tự Tánh Phật lẫn Sự Tướng
Phật. “Thán vô cùng”: Tự
Tánh vô cùng, sự tướng cũng vô cùng.
Công thành vô lượng kiếp
trung.
功成無量劫中。
(Thành
tựu công phu trong vô lượng kiếp).
Luận trên mặt sự tướng,
“công” (功) là công phu tu hành. Phật là do con
người tu thành, phải tu bao lâu? Tu trong vô lượng
kiếp, không phải là thời gian ngắn. Thoạt nh́n,
vô lượng kiếp rất ư là dài, thường
khiến cho cái tâm tu học của chúng ta khiếp hăi: “Vô
lượng kiếp ư? Đến bao giờ mới
thành tựu được nổi?” Trong giáo pháp Đại
Thừa, đức Phật dạy: “Không những thời
gian là giả, mà không gian cũng chẳng thật!” Thời
gian và không gian do đâu mà có? Do từ vọng niệm
của chúng ta mà sanh ra, không phải là chân thật. Nếu
quư vị chuyển mê thành ngộ th́ vô lượng kiếp
bèn biến thành một sát-na; nếu mê không giác th́ một
sát-na liền biến thành vô lượng kiếp. Trong giáo
pháp Đại Thừa, đức Thế Tôn giảng
về chuyện này rất nhiều, nhất là trong kinh Hoa
Nghiêm, chúng ta đọc thấy: “Mê
không giác th́ quả thật là vô lượng kiếp, giác
không mê th́ nhất niệm đốn siêu” (siêu thoát nhanh
chóng trong một niệm). Chuyện này khó lắm! Khó ở
chỗ nào? Khó ở chỗ chúng ta chưa buông vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước xuống
được, khó ở chỗ này đấy! Lúc nào buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống
được th́ “công thành vô
lượng kiếp trung”, quư vị bèn thành tựu, vô
lượng kiếp không c̣n nữa. Ai làm được
như thế? Thích Ca Mâu Ni Phật làm được, Ngài
nêu gương cho chúng ta thấy.
Nguy nguy trượng lục
tử kim dung.
巍巍丈六紫金容。
(Thân
trượng sáu vàng ṛng ṿi vọi).
Chữ “nguy nguy” h́nh dung sự cao lớn. Lúc Thích Ca Mâu Ni
Phật tại thế, thân Ngài cao một trượng sáu
thước. Chúng tôi nghĩ một trượng sáu quá cao,
hầu như trong hiện tại không có người thứ
hai nào cao được như thế. Há chẳng biến
thành người khổng lồ ư? Thật ra, phép đo
lường của Ấn Độ thời cổ không
giống cách đo lường hiện thời của chúng
ta. Nếu quư vị xem cuốn Luật Học Tam Thập
Tam Chủng Hiệp San (ba mươi loại sách về Giới
Luật được in chung lại) của Hoằng
Nhất đại sư, sẽ thấy có một
chương sách mang tựa đề Châu Xích Khảo (khảo
luận về thước đời Châu). Tính theo thước
của người đời Châu sử dụng th́ một
trượng sáu đại khái chỉ gần bằng sáu
tấc (Trung Hoa) của chúng ta hiện thời. Chúng tôi
nghĩ nhận định ấy rất hợp lư. Thích Ca
Mâu Ni Phật như vậy rất cao, đại khái
Phật phải cao từ một mét tám đến một
mét chín (thước Tây). So với mọi người th́
Phật rất cao nhưng cũng rất b́nh thường,
chứ không như [tính theo] thước tấc hiện tại,
một trượng sáu là quá cao!
Màu da nơi thân đức Phật là màu
vàng tía[1].
V́ thế, câu này nhằm mục đích tán thán, khen ngợi
thân sắc Phật, “nguy nguy trượng
lục tử kim thân”. Tướng
hảo ấy do đâu mà có? Một con người tâm
tốt, tư tưởng tốt, ngôn hạnh tốt, thân
sắc của chính người ấy cũng có thể
chuyển biến theo ư niệm. Người thế gian coi
thân thể và màu da như thế là tôn quư nhất,
người thế gian trông thấy tướng ấy
bảo là quư tướng. Mỗi một tướng
của đức Phật đều là quư tướng, đều
được người thế gian vô cùng hâm mộ,
hết sức yêu thích, mong cầu nhưng không đạt
được tướng ấy. Mỗi một tướng
ấy đức Phật đều có đủ. Thế
nhưng đức Phật dạy chúng ta: Tướng
hảo là quả báo, quả ắt phải có nhân. Tu nhân
thế nào sẽ được quả báo như thế
ấy. Quư vị thấy đức Phật hiện thân
thuyết pháp, dạy chúng ta muốn được
tướng hảo th́ phải khéo tu hành.
Tướng chuyển theo tâm;
thân thể và thể chất cũng chuyển theo tâm.
Sự chuyển biến này hết sức nhanh chóng. Ngay
cả núi, sông, đại địa, hoàn cảnh cũng
chuyển theo tâm, công phu ấy càng phải cao hơn nữa.
Nếu chúng ta chia công phu thành ba bậc th́:
1) Thượng thượng
đẳng th́ hoàn cảnh cư trụ, phong thủy
đều chuyển theo.
2) Trung đẳng th́ thể
chất chuyển biến.
3) Hạ đẳng là
tướng mạo biến chuyển. V́ thế, chuyển
tướng mạo là dễ dàng nhất. Hễ
tướng mạo chuyển th́ quư vị sẽ có tín tâm.
Từ đấy trở đi, quyết định
chẳng khởi một ác niệm, quyết định
chẳng khởi một tâm bất thiện, dần dần chuyển được thân thể, lại c̣n có thể chuyển được
cảnh
giới.
Đến lúc chuyển
được cảnh giới th́ ngay cả hoàn cảnh
nhân sự (quan hệ xă hội, quan hệ giữa con người
với nhau) cũng phải chuyển theo. Hoàn cảnh nhân
sự là lúc kẻ ác trông thấy quư vị chẳng khởi
ác niệm. Khoa học hiện đại đă giảng
thông suốt điều này, người Hoa gọi điều
này là “khí phận”,
người ngoại quốc gọi là “từ trường”. Phật pháp gọi “từ trường” của
quư vị là “quang”. Chúng ta
thường thấy kinh nói “Phật
quang phổ chiếu” (ánh sáng của Phật chiếu
khắp); cái được Phật pháp gọi là “quang” th́ người Hoa
gọi là “khí phận”. Khí
phận của quư vị hết sức từ bi, hiền
lành, kẻ ác bước vào khí phận của quư vị
sẽ bị cảm động, ác niệm tạm thời
không sanh, bị quang minh (tức khí phận) của quư
vị nhiếp tŕ, chẳng thể khởi ác niệm. Lúc
rời khỏi nơi ấy, rất có thể ác niệm sẽ
lại khởi lên; hễ c̣n thuộc ṿng kiểm soát
của khí phận th́ ác niệm chẳng thể sanh
khởi. Đây là thường thức, là thật, chứ
không phải giả.
Do vậy, chúng ta thực sự
hiểu rơ, mong mỏi cảnh giới của chính ḿnh được
nâng cao không ngừng th́ phải dốc sức nơi tâm
hạnh, đó mới là công phu thực sự. Quư vị đổ
công nơi kinh giáo, văn tự, nếu chẳng thực
hiện được [những điều ấy] th́
cũng vô ích, chẳng chuyển được cảnh
giới. Xưa kia, thầy Lư thường bảo: “Sanh
tử như thế nào th́ vẫn là sanh tử đúng
như thế ấy! Quư vị học kinh giáo, giảng kinh,
thuyết pháp, th́ nhiều nhất là vun vén thêm một chút
phước đức, thuộc về phước
đức chứ không phải là công đức”. Công
đức giải quyết sanh tử, giải quyết
được vấn đề. Công là ǵ? Thực hiện
được th́ mới gọi là công phu; không thực
hiện được th́ chẳng thể gọi là công phu;
không có công phu thực sự th́ chỉ là tu một chút
phước. Phước báo ấy được gọi
là “phước báo hữu lậu” trong tam giới. V́ sao là
hữu lậu? V́ phiền năo tập khí chẳng
đoạn, nên là hữu lậu. Quư vị tu phước,
chưa đoạn tập khí phiền năo th́ gọi là “phước báo hữu lậu”.
Câu kế tiếp là:
Giác đạo Tuyết Sơn
phong.
覺道雪山峰。
(Giác
đạo trên đảnh núi Tuyết).
Đây là nói Thích Ca Mâu Ni Phật
tu hành. Câu thứ nhất nói về quả, tức quả
báo, có quả ắt phải có nhân. Nhân là ǵ? Nhân là tu hành.
Tuyết Sơn là núi Hỷ Mă Lạp Nhă (
Mi tế ngọc hào quang xán
lạn,
Chiếu khai lục đạo
hôn mông.
眉際玉毫光燦爛。
照開六道昏蒙。
(Ngọc hào quang rạng
rỡ giữa mày,
Chiếu sáng
rực sáu đường tăm tối).
Tự ḿnh đă thành tựu th́
phải giúp đỡ chúng sanh. Phần trên là tự ḿnh tu
hành chứng quả, tự ḿnh chứng quả rồi th́
phải giáo hóa chúng sanh. “Mi
tế ngọc hào” (tướng Bạch Hào đẹp
như ngọc giữa hai mày) là một trong ba mươi
hai tướng. Chúng ta thường thấy trong kinh nói
đức Phật phóng bạch hào quang (quang minh phát
xuất từ tướng lông trắng giữa hai mày), trong
hào quang có hóa Phật, có hóa Bồ Tát. “Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát
chúng diệc vô biên”, hai câu kệ trong bài Tán Phật
như chúng ta thường đọc chính là [nói đến
chuyện] bạch hào phóng quang. “Mi
tế ngọc hào” thường được gọi
là Bạch Hào, bạch hào phóng quang.
Câu “chiếu
khai lục đạo hôn mông” cho thấy v́ chúng sanh trong
lục đạo có cảm, chư Phật Như Lai bèn có
ứng, tức là ứng hóa trong sáu đường, giáo hóa
hết thảy chúng sanh. Ứng hóa về mặt Lư hết
sức sâu, chúng ta không có cách nào hiểu được;
ứng hóa về mặt Sự hết sức huyền
diệu, chẳng thể nghĩ bàn! Nên dùng thân nào
để độ, bèn hiện thân ấy, bản thân
đức Phật tuyệt đối chẳng khởi tâm
động niệm “nay ta phải nên hiện thân h́nh nào”,
không hề [nghĩ như thế]! Nếu đức Phật
khởi tâm động niệm, chẳng phải là đă biến
thành phàm phu ư? Phàm phu mới khởi tâm động
niệm. Nay chúng ta tham dự bất cứ tiệc tùng nào,
trước hết phải khởi tâm động
niệm: “Bữa nay ḿnh phải ăn diện như
thế nào? Mặc quần áo ǵ?” Phàm phu khởi tâm
động niệm, Phật, Bồ Tát th́ không; ngay cả A
La Hán ứng hóa trong thế gian đều chẳng khởi
tâm, chẳng động niệm.
Không khởi tâm, không động niệm
có được chăng? Được chứ! Nay chúng
ta thấy rất rơ ràng! Quư vị thấy nước
kết tinh đó, nước có khởi tâm động
niệm hay chăng? Không có, cứ tự nhiên mà ứng.
Chúng ta là chúng sanh, chúng ta tạo sự Cảm cho nó bằng
cách viết chữ dán trên b́nh pha lê, tức là dùng văn
tự để cảm, hoặc là dùng âm nhạc, âm thanh
để cảm, quư vị liền thấy nó đáp ứng.
Chúng ta hữu ư, khởi tâm động niệm là hữu ư;
nước lại không, nước phản ứng rất
tự nhiên, đạo lư cảm ứng đạo giao đấy!
Bởi thế, chúng sanh trong sáu nẻo có cầu, đó là
Cảm, Phật, Bồ Tát bèn có Ứng. Nguyên lư này chính là “nhất thiết duy tâm tạo”
(hết thảy chỉ do tâm tạo). Nay chúng ta “duy tâm tạo”, chúng ta yêu
cầu, cầu Phật, Bồ Tát th́ Phật, Bồ Tát bèn
có cảm ứng.
“Nhất
thiết duy tâm tạo” nói
theo ngôn ngữ thế gian là chân lư tối cao. Rốt
cuộc, chúng ta lănh hội câu này được chừng
nào? Đọc hiểu như thế nào? Rất khó! Chớ
nên hiểu lầm! Hiểu lầm th́ quư vị sẽ
phạm sai lầm rất lớn. Trọn pháp giới,
hư không giới, các nhà khoa học hiện tại nói tới
vô hạn “những chiều không gian khác nhau”, chẳng ĺa
duy tâm, toàn là duy tâm sở hiện, duy thức sở
biến. Nếu quư vị hỏi v́ sao ḿnh lại thành ra
nông nỗi này ư? Bây giờ phải làm thế nào ư?
Nay chúng ta đang mê, chưa ngộ, mê vẫn là duy tâm, mà ngộ
cũng là duy tâm; nhưng nay chúng ta c̣n mê chứ chưa
ngộ. Mê chứ không ngộ th́ phải chịu hết những
nỗi khổ trong sáu nẻo. Nằm mộng là duy tâm. Có
người ngày nào cũng mơ những giấc mộng
đẹp, rất sung sướng; có người ngày ngày
gặp ác mộng, đều là duy tâm. Quư vị phải
biết: Chúng ta hiện đang ngày ngày gặp ác mộng,
Phật, Bồ Tát ngày ngày gặp mộng đẹp. Làm
thế nào để biến ác mộng thành mộng
đẹp? Quư vị không cầu Phật, Bồ Tát giúp
đỡ th́ sẽ làm không được, quư vị không
biết cách chuyển biến như thế nào. V́ thế,
Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng ta rất lớn, ân
đức là đây!
Chúng ta có cầu, tức là
cảm; Phật, Bồ Tát bèn ứng. Thành tâm, thành ư
cầu, cảm ứng rất linh, hễ thành kính bèn linh
nghiệm. Do vậy, từng câu, từng chữ trong kinh
Đại Thừa quyết chẳng được
hiểu lầm. Hiểu sai, hiểu lầm, quư vị
sẽ phải tiếp tục ở trong lục đạo
tam đồ, không biết đến kiếp nào mới có
thể quay đầu, mới có thể giác ngộ. V́
thế, phải dùng cái tâm chân thành và tâm cung kính để cầu
pháp! Chúng ta phải thực sự hiểu được ư
tứ giáo huấn của Phật, Bồ Tát, và thiện tri
thức; nếu có ngờ vực th́ phải hỏi. Trong
lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, ngài Triệu Châu
đến tám mươi tuổi vẫn c̣n hành cước.
Một cụ già tám mươi vẫn phải đi tham
học bên ngoài là v́ lẽ ǵ? V́ chưa đoạn nghi
hoặc, phải thân cận thiện tri thức,
đến các nơi thỉnh giáo, đoạn nghi sanh tín th́
sau đấy công phu mới đắc lực.
Người hiện tại
vướng mắc ở chỗ nào? Có nghi hoặc nhưng
không chịu hỏi, dường như hỏi th́ rất
mất mặt, rất áy náy. Đọc kinh, nghe kinh
thường hiểu cong quẹo ư nghĩa. Đó không
phải là hiếu học, không trống ḷng (hư tâm). Có
người dẫu vẫn thỉnh giáo, nhưng thỉnh
giáo rất tùy tiện, thiện hữu khai thị cho ḿnh,
ḿnh cũng chẳng thể hiểu được. Do
đạo lư nào vậy? Ấn Quang đại sư nói
rất rơ: Quư vị không hiểu “một
phần thành kính được một phần lợi ích,
hai phần thành kính được hai phần lợi ích”.
Học sinh hướng về thầy thỉnh giáo, thầy
trả lời có rất nhiều người nghe. Học
sinh nêu lên nghi vấn, có thể nói là nghi vấn chung của
mọi người, thầy trả lời có rất
nhiều học tṛ nghe. Thầy trả lời rồi, có
người khai ngộ, có người vẫn chẳng
hiểu. Mỗi cá nhân nghe thầy thuyết pháp, mỗi
người ngộ khác nhau, quyết định chẳng
có hai người giác ngộ giống nhau. V́ nguyên nhân ǵ vậy?
Tâm thái của mỗi người đối với
thầy khác nhau. Đấy chính là như Ấn Quang đại
sư đă giảng: Ai mười phần cung kính th́
người ấy được lợi ích mười
phần; ai một phần cung kính th́ chỉ
được một phần lợi ích, không giống
nhau!
Trong lịch sử Trung Quốc có
một tấm gương rất nổi danh là Liên Tŕ
đại sư. Lúc c̣n trẻ, Liên Tŕ đại sư
hiếu học. Lúc ấy, có một vị thiện tri
thức là pháp sư Biến Dung, trong Cao Tăng Truyện
cũng chép truyện vị này. Liên Tŕ đại sư
hết sức ngưỡng mộ, đến thân cận pháp
sư Biến Dung. Đi đến dưới ngọn núi
của ngài Biến Dung bèn bắt đầu tam bộ
nhất bái (cứ đi ba bước là một lạy),
Ngài không đi thẳng lên núi gặp pháp sư Biến Dung
mà là vừa đi vừa lạy. Cứ ba bước
một lạy, lạy măi cho đến đại
điện gặp pháp sư Biến Dung. Lúc đó, chúng
tại gia và xuất gia rất đông đều ở cạnh
pháp sư Biến Dung. Trông thấy ngài Liên Tŕ cung kính dường
ấy, lạy dưới ṭa lăo ḥa thượng, cầu
lăo ḥa thượng khai thị. Lăo ḥa thượng nói sao?
Pháp sư Biến Dung chỉ nói một
câu: “Ngươi chớ
để danh văn lợi dưỡng làm hại!”
Người xung quanh nghe vậy đều cười, cười
chuyện ǵ? Cười con người kiền thành
lạy từng bước đến đây, lăo ḥa
thượng chẳng có diệu pháp ǵ để ban cho;
đấy là câu nói tầm thường nghe đă nhàm tai! Câu
nói thông thường quá, mọi người nghe như gió
thoảng qua tai. Thành tựu cả đời của Liên
Tŕ đại sư, trở thành một vị tổ sư
nổi tiếng của Tịnh tông, theo chính Ngài nói ra là
nhờ một câu cảnh tỉnh ấy của pháp sư Biến
Dung. Đây chính là như Ấn Quang đại sư đă
nói: “Mười phần thành
kính” cho nên đối với tổ Liên Tŕ mà nói th́ Ngài được
mười phần lợi ích nơi câu nói ấy. Những
kẻ ở quanh lăo ḥa thượng thường nghe, nghe
riết như gió thoảng qua tai, họ chẳng có tâm cung
kính, nên chẳng đạt được lợi ích.
Lăo ḥa thượng không có ǵ bí mật
để truyền cho Ngài, chỉ nói giữa đám
đông hiện diện, v́ sao Ngài được lợi
ích, người khác không được lợi ích? Ở
đây quư vị có thể hiểu: Đúng là một
phần thành kính được một phần lợi ích,
mười phần thành kính được mười
phần lợi ích. Ngày ngày ở cạnh lăo ḥa
thượng, chẳng có tâm cung kính đối với lăo
ḥa thượng, lợi ích ǵ cũng chẳng đạt
được; một người từ phương xa
tới, do mười phần thành kính nên được
mười phần lợi ích. Phải khéo suy gẫm
chuyện này, rồi hăy hồi quang phản chiếu: Bản
thân ta học Phật v́ sao không được lợi ích? Tôi
lại thưa cùng quư vị: Học tṛ
của Chương Gia đại sư rất đông,
học tṛ của tiên sinh Phương Đông Mỹ cũng
đông, học tṛ của lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam càng khỏi
cần phải nói nữa; trong cả đống
học tṛ như thế, có mấy người
được thành tựu? V́ nguyên nhân nào? V́ tâm thái
đối với thầy không giống nhau.
Cổ nhân nói “tôn
sư trọng đạo”. Tôn sư trọng đạo
chẳng phải là trên h́nh thức mà là tâm hạnh. Quư
vị nghe lời thầy dạy dỗ, thực sự
thực hiện th́ sẽ được lợi ích; nghe
lời thầy giáo huấn nhưng không thể áp dụng
vào cuộc sống thường nhật của chính ḿnh th́
vô ích, lợi ích ǵ cũng không đạt được! Quư
vị thực hiện một phần sẽ
được một phần lợi ích, thực hiện
hai phần bèn được hai phần lợi ích,
thực hiện mười phần sẽ được
lợi ích viên măn, không có ǵ khác cả! Do vậy, thành
Phật rồi phải ứng theo ḷng cảm của chúng
sanh, giáo hóa hết thảy chúng sanh khổ nạn. “Lục đạo hôn mông” (sáu
nẻo tối tăm) không có trí huệ, mê hoặc, điên
đảo; đúng là lục đạo chúng sanh mê chứ
không giác, tà chứ không chánh, nhiễm chứ không tịnh.
Long Hoa tam hội nguyện tương
phùng.
龍華三會願相逢。
(Nguyện
gặp gỡ trọn ba hội Long Hoa).
Những câu trên nói về Phật Thích Ca,
từ ngữ “Long Hoa tam hội”
ở đây nói đến Phật Di Lặc. Quư vị
thường niệm Vô Lượng Thọ kinh, nhất
định quư vị phải hiểu rằng: Thích Ca Mâu Ni
Phật diệt độ rồi, sứ mạng hoằng
pháp lợi sanh trong tương lai được phó thác cho
Di Lặc Bồ Tát. Trong tương lai, Di Lặc Bồ Tát
phải từ trời Đâu Suất giáng hạ nhân gian,
thị hiện thành Phật. “Long
Hoa tam hội” chính là đại hội hoằng pháp
của Di Lặc Phật. Phàm những ai tu tập, tích
lũy thiện căn trong thời Chánh Pháp, Tượng
Pháp, Mạt Pháp, tức pháp vận một vạn hai ngàn
năm của Thích Ca Mâu Ni Phật, nhưng chưa thành
tựu trong pháp vận của đức Thế Tôn, th́
trong tương lai, lúc Di Lặc Bồ Tát thành Phật, những
người ấy sẽ đều thành tựu. Nói cách
khác, nhân được trồng trong hội của Thích Ca
Mâu Ni Phật, quả hiện tiền trong Long Hoa tam
hội. Do vậy, rất nhiều người nghe kinh
dạy như thế, ai nấy đều cầu sanh vào
Tịnh Độ của Phật Di Lặc, hy vọng
tương lai được chứng quả nơi pháp
hội của Di Lặc Bồ Tát, chứng quả A La Hán,
chứng quả Bích Chi Phật, chứng quả Bồ Tát.
Điều này tuyệt lắm, nhưng rất khó đạt
được!
Diễn thuyết pháp chân tông.
演說法真宗。
(Diễn nói pháp chân tông).
“Pháp chân
tông” ở đây là ǵ? “Chân tông” là niệm A Di Đà
Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Nói cách khác, trong tương lai, Di Lặc Phật
xuất thế sẽ thành tựu những người tu
nhân gieo thiện căn nơi Thích Ca Mâu Ni Phật như
thế nào, dùng phương pháp ǵ để thành tựu
họ? Vẫn cứ là giảng pháp môn Tịnh Độ y
như cũ, vẫn cứ giảng kinh Vô Lượng
Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Phật
Thuyết A Di Đà y như cũ, dạy mọi
người niệm Phật cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, thành tựu họ như
vậy đó. Khi chúng tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ
đă nói về “pháp chân tông”
rất nhiều. Di Lặc Bồ Tát tương lai thành
Phật sẽ giảng kinh ǵ? Sẽ giảng pháp môn nào?
Vẫn chủ yếu là giảng ba kinh Tịnh Độ.
Do đây biết rằng: Niệm
Phật cầu văng sanh như thế, tức là đến
thời Di Lặc Phật mới văng sanh th́ gần như
là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm.
Chúng ta đợi đến năm mươi sáu ức
bảy ngàn vạn năm rồi mới niệm Phật
văng sanh, chẳng bằng hiện tại văng sanh ư? Trong
hội Di Lặc sẽ thành tựu như thế nào?
Vẫn là niệm Phật cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới y như cũ. [Hăy so sánh giữa]
hiện tại niệm Phật văng sanh và đến
hội Di Lặc mới niệm Phật văng sanh, quư vị
văng sanh trong hiện tại trở thành đàn anh,
vượt lên trước quá nhiều, những
người kia rớt lại đằng sau. Rớt
lại đằng sau cũng khá rồi! Chỉ cần văng
sanh là khá rồi. Những ư nghĩa được bao hàm
trong bài tán tụng này rất sâu, rất rộng, tùy thuộc
quư vị lănh ngộ như thế nào! Quư vị phải thực
sự ngộ, trong hiện tại hăy nỗ lực,
gấp rút văng sanh thế giới Cực Lạc.
Pháp sự này dành cho những vong nhân (người
đă khuất) nghiệp chướng sâu nặng, trong
một đời này c̣n chưa thể quay đầu,
vẫn chưa giác ngộ, phó chúc họ rốt cuộc
được thành tựu nơi đức Phật
kế tiếp. V́ thế, câu nào, chữ nào cũng đều
mang ư nghĩa kép. Chúng ta phải đại triệt
đại ngộ! Đại triệt đại ngộ ở
đây không phải là minh tâm kiến tánh mà là trong một
đời nhất định phải văng sanh, chớ nên
bỏ lỡ cơ hội này! Nếu bỏ lỡ th́
phải đợi đến khi gặp Di Lặc Bồ
Tát trong tương lai, cũng có nghĩa là phải
đợi năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm sau, thời gian ấy thật là dài quá! Trong thời
gian dài như thế, thầy Lư thường nói: Quư vị
khó tránh khỏi lưu chuyển trong lục đạo,
trong lục đạo (đặc biệt là tam đồ)
phải chịu khổ nạn. Sau phần tán tụng lại
có một phen khai thị, chúng ta hăy xem một đoạn
khai thị:
15. Khai thị
Nhân nhân phần thượng, bổn
hữu Di Đà, cá cá tâm trung, tổng vi Tịnh Độ.
Liễu tắc đầu đầu kiến Phật,
ngộ lai bộ bộ Tây Phương.
人人分上。本有彌陀。箇箇心中。總為淨土。了則頭頭見佛。悟來步步西方。
(Bản
thân ai nấy vốn sẵn Di Đà, trong tâm mỗi
người đều là Tịnh Độ. Hiểu th́
thời thời thấy Phật, ngộ th́
bước bước Tây Phương).
Trong đoạn này, “liễu” (了) là hiểu rơ. Thiền
sư Trung Phong dạy chúng ta: “Nhân
nhân phần thượng, bổn hữu Di Đà” (bản
thân ai nấy vốn sẵn Di Đà), tức là nơi
bản thân mỗi người pháp đă vốn sẵn là như
thế. Đấy là điều hết sức tự
nhiên, xét trên căn bản của mỗi người, Di
Đà chính là tự tâm, ở phần trên đă giảng
rồi: Di Đà là tâm ta, tâm ta chính là Di Đà. Tự tâm và tự
tánh được chúng tôi nói đến ở đây rất
dễ bị hiểu lầm, do cứ tưởng tự
tâm là cái tâm suốt ngày từ sáng đến tối suy
nghĩ lung tung của chúng ta. Không sai! Cái tâm suy nghĩ lung
tung ấy chính là Di Đà, nhưng là Di Đà đă bị
điên đảo, đă bị mê rồi, đă không c̣n
biết chính ḿnh, đă bị luân hồi trong lục
đạo. Giác là Di Đà, mê là phàm phu.
“Cá cá tâm
trung, tổng vi Tịnh Độ” (Trong tâm mỗi người đều
là Tịnh Độ): Hễ giác th́ Tịnh Độ
hiện tiền, hễ mê th́ uế độ hiện
tiền. Cơi nước không có uế hay tịnh, trong tánh chẳng
có phàm hay thánh, chẳng có chúng sanh, chẳng có Phật. Chúng
sanh hay Phật, tịnh hay uế chỉ do Thức
biến, chỉ là hết thảy pháp từ tâm
tưởng mà sanh. Tâm thanh tịnh, Tịnh Độ
hiện tiền; tâm chẳng thanh tịnh, uế độ
hiện tiền. Tâm giác ngộ, phàm phu thành Phật; tâm mê
hoặc, vĩnh viễn làm phàm phu. Đấy chính là ư
nghĩa của hai câu trên đây!
“Liễu
tắc đầu đầu kiến Phật” (hiểu th́ thời thời thấy
Phật); “liễu” là giác
ngộ, là hiểu rơ. Giác ngộ rồi, “bộ bộ Tây Phương” (mỗi bước
là Tây Phương) Câu đầu (tức câu “liễu tắc đầu đầu kiến
Phật”) là chuyển phàm thành thánh, quư vị thấy
Phật tức là thành Phật. Quư vị không thành Phật
làm sao thấy được Phật? Quư vị thấy
Bồ Tát th́ chính là thành Bồ Tát. Thiện Tài đồng
tử tham học năm mươi ba lần là một thí
dụ hay nhất. Ngài tự chứng được Sơ
Trụ, bèn thấy Sơ Trụ Bồ Tát – tỳ-kheo Cát
Tường Vân là Sơ Trụ Bồ Tát. Ngài chứng
được Nhị Trụ bèn gặp tỳ-kheo Hải
Vân, ngài Hải Vân là bậc Nhị Trụ. Bản thân quư vị
tự chứng được Đẳng Giác mới
thấy được Đẳng Giác Bồ Tát. Thế
nhưng Tây Phương thế giới khác biệt ở
chỗ nào? Quư vị chưa chứng đắc, nhưng
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
cũng có thể thấy được những vị
Bồ Tát ấy thật chẳng thể nghĩ bàn, là pháp
khó tin, thực sự là pháp môn đặc biệt!
Người tin có phước,
người không tin chẳng có phước báo; nếu
họ cật lực tu, tu cần mẫn trong vô
lượng kiếp, tu đến khi minh tâm kiến tánh,
sanh vào thế giới Hoa Tạng, lại gặp Văn Thù,
Phổ Hiền dùng mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Người
chịu tin sẽ thành tựu rất nhanh, không chịu tin
phải tiến chầm chậm. Tiến đến bao
giờ mới tin được? Đăng Địa (từ Sơ Địa trở
lên) mới tin được. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Thập Địa Bồ Tát
thỉ chung bất ly niệm Phật” (Thập Địa Bồ
Tát từ đầu đến cuối chẳng rời
niệm Phật). Câu này là khẳng định: Đến
khi nào mới không hoài nghi, hoàn toàn tin tưởng?
Đến bậc Thập Địa. Địa vị
đầu tiên trong Thập Địa là Sơ Địa,
bắt đầu, mở đầu là Sơ Địa,
cuối cùng là Đẳng Giác. Mười một địa
vị này từ đầu đến cuối không rời
niệm Phật, đối với lời khuyên bảo
của Văn Thù, Phổ Hiền không hoài nghi mảy may.
Điều này cho thấy trong thế
giới Hoa Tạng, Bồ Tát thuộc địa vị Tam
Hiền vẫn chưa nhất định thực sự
tin tưởng, phải là “đăng địa” (từ
Sơ Địa trở lên) mới tin tưởng. V́ sao?
Trí huệ đă khai, là bậc đại trí huệ, không
phải là tiểu trí huệ. Đăng Địa là Ma Ha
Tát, không phải là Bồ Tát tầm thường. Ma Ha Tát
không có vấn đề, vừa nghe nói các Ngài bèn hoàn toàn tin
tưởng, bèn niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Nếu nay chúng ta ở trong thế giới này,
ai nghe nói đến pháp môn này mà không hoài nghi chút nào, hoàn toàn
chịu tu tập, th́ nói cách khác, người ấy không
khác ǵ bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên, người
ấy thành tựu chẳng thể nghĩ bàn!
Nói thật ra, người thế gian
bị thua thiệt chỗ nào? Tự cậy ḿnh thông minh,
không chất phác. Tự cho ḿnh thông minh, không biết bao nhiêu
lần bỏ lỡ cơ duyên tốt đẹp, không
chịu trống ḷng, không chịu buông cái thân ḿnh xuống,
đều là tôn sùng tham - sân - si - mạn, những thứ
ấy hại ḿnh thê thảm. Đâm ra chẳng bằng những
ông già bà cả trong làng quê, một chữ không biết,
gặp được thiện tri thức dạy niệm
A Di Đà Phật, họ bèn chết sạch ḷng mong ngóng,
khiêm hư sát đất, không do dự, không hoài nghi, rốt
cuộc họ thành công. Chúng ta thấy bao nhiêu người
đứng mất, ngồi mất, biết trước
lúc mất, không sanh bệnh, tướng lành hy hữu.
Kẻ tự cậy ḿnh thông minh, chẳng thể sánh
bằng những người ấy được, kém xa!
V́ thế, “đầu đầu
kiến Phật” (luôn luôn thấy Phật) là chuyển
phàm thành thánh, “bộ bộ Tây
Phương” (bước bước Tây Phương) là
chuyển uế thành tịnh. A! Nay đă đến giờ
rồi!
*
Chúng ta tiếp tục xem phần
khai thị của thiền sư Trung Phong:
Thượng lai khải kiến
tam thời hệ niệm tịnh nghiệp đạo
tràng, kim đương đệ nhất thời Phật
sự dĩ viên.
上來啟建三時繫念淨業道場。今當第一時佛事已圓。
(Từ trước tới đây
đă tạo lập đạo tràng tịnh nghiệp Tam
Thời Hệ Niệm, nay nhằm lúc Phật sự
thời thứ nhất đă viên măn).
Tiếp theo phần Khai Thị,
thiền sư Trung Phong bèn nói: Trên đây là thời thứ
nhất trong việc thực hiện Tam Thời Hệ
Niệm Pháp Sự, thời thứ nhất đến
chỗ này đă viên măn.
Như thượng thù huân.
如上殊勳。
(Công
huân thù thắng như trên).
Chữ “như thượng” chỉ những điều
chúng ta đă thấy trong những phần trên: Lễ tán đúng
là lễ kính, tán thán, tụng kinh, niệm chú, khai thị,
sám hối, phát nguyện, xưng dương Phật Bảo.
Những pháp sự này đều là v́ siêu độ vong
linh, đến đây là thời thứ nhất. “Như thượng thù huân”:
Huân (勳) là công huân (meritorious deed, achievement), Thù (殊) là thù thắng, người đông dường
ấy cùng nhau thực hiện. Nhất là trong Tam Thời
Hệ Niệm Phật Sự, trừ vị pháp sư
xuất gia lănh chúng ra, đại chúng tham dự
rất đông, tứ chúng đồng tu đều tham gia,
đúng là Vô Già pháp hội[2].
Bao nhiêu người như thế v́ vong linh chúc
phước, v́ người đă khuất trợ niệm,
đấy là công đức thù thắng.
Đầu nhập Di Đà
đại nguyện hải trung.
投入彌陀大願海中。
(Gieo
vào trong biển đại nguyện Di Đà).
Di Đà đại nguyện là
bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng
nhằm độ chúng sanh khổ nạn thuộc chín pháp
giới khắp cùng pháp giới, hư không giới. [Đại
nguyện của Phật] Di Đà được xưng là
“nguyện hải”. Công
đức của chúng ta đă tu tương ứng
với Di Đà nguyện hải, đấy chính là “đầu nhập Di Đà đại
nguyện hải trung” (gieo vào trong biển đại
nguyện Di Đà).
Chuyên vị vong linh cầu sanh
Tịnh Độ.
專為亡靈求生淨土。
(Chuyên
v́ vong linh cầu sanh Tịnh Độ).
Hệ Niệm Pháp Sự này
chẳng v́ chuyện ǵ khác, mà “chuyên
v́” giúp cho “vong linh cầu
sanh Tịnh Độ”. “Chuyên v́” là một lẽ,
những người được siêu độ ké
rất nhiều, tức là những ai có duyên. Có duyên th́ ngay
khi ấy sẽ cùng nhau được siêu độ.
Bởi thế, thông thường chúng ta hồi
hướng, quán tưởng hết thảy chúng sanh trong
chín pháp giới. Nếu là người tâm lượng
lớn hơn nữa th́ hồi hướng, quán
tưởng hết thảy thần linh trọn khắp pháp
giới, hư không giới. Chúng ta có thể quán
tưởng như thế th́ họ đều
được lợi ích. Đây chính là điều
đức Phật đă thường dạy trong giáo pháp
Đại Thừa: “Nhất
thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp
sanh từ tâm tưởng), cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn! Tiếp đó, thiền sư lại v́
chúng ta khai thị, lời khai thị này rất quan
trọng, đều nhằm mục đích khơi gợi
cho chúng ta:
Đản niệm tự tùng vô
thỉ, ngật chí kim sanh.
但念自從無始。迄至今生。
(Chỉ nghĩ kể từ
vô thỉ cho đến đời này).
Đúng là từ vô thỉ
kiếp măi cho đến ngày nay.
Nhất niệm vi chân, lục
căn trục vọng, tùy t́nh tạo nghiệp, túng ngă vi
phi.
一念違真。六根逐妄。隨情造業。縱我為非。
(Một
niệm trái nghịch chân, sáu căn đuổi theo
vọng, theo t́nh tạo nghiệp, buông lung cái Ngă làm
quấy).
Tiểu đoạn này hết
sức cảm khái, thống thiết sám hối. Chúng ta
từ vô thỉ kiếp đến nay, măi cho đến
đời này, đến tận ngày hôm nay “nhất niệm vi Chân” (một niệm trái
nghịch lẽ Chân), tức là khởi Hoặc. “Nhất niệm” là ǵ? Là
khởi tâm động niệm. Nếu hiểu Chân Tâm,
bản tánh sẽ chẳng khởi tâm động niệm,
vĩnh viễn là tướng tịch diệt, tướng
thanh tịnh tịch diệt, sở chứng nơi quả
địa Như Lai vốn tịch. Một niệm
vọng động bèn thành vô minh, động một cái là
phiền phức xảy ra liền!
“Lục
căn trục vọng” (sáu căn đuổi theo
vọng), sáu căn lập tức bị mê. Khi mê bèn
khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, Căn, Trần, Thức đều hư
vọng không thật. Trong Bách Pháp Minh Môn Luận, chúng
đều được gọi là “pháp hữu vi”. Tám
thức, năm mươi mốt Tâm Sở [là pháp hữu
vi]. Sáu căn và sáu trần thuộc về Sắc Pháp, tám
thức, năm mươi mốt Tâm Sở thuộc về
Tâm Pháp, lại c̣n có Bất Tương Ứng Hành Pháp[3], toàn
bộ đều là hư vọng. Chúng ta mê mất chân tánh,
“vi Chân” (trái nghịch Chân): “Chân” là chân tánh, tức là Tự
Tánh. Sau khi mê th́ niệm niệm đều chuyển trong
hư vọng.
“Tùy
t́nh tạo nghiệp, túng Ngă vi phi” (Mặc t́nh tạo
nghiệp, buông lung cái Ngă làm quấy): “T́nh” là ǵ? T́nh chính là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, tức t́nh thức! “Túng Ngă vi phi” (buông lung cái Ngă
làm quấy): Ngă chính là cái thân này, thân miệng tạo
nghiệp. T́nh là mê t́nh, điều ǵ cũng cho ḿnh là
đúng. Trong những buổi giảng, chúng tôi
thường nói là “tùy thuận phiền năo, tập khí”;
ở đây gọi là “tùy t́nh
tạo nghiệp”, nghiệp được tạo
ở đây là ư nghiệp, “túng
Ngă vi phi” là khẩu nghiệp và thân nghiệp. Câu này là nói
tổng quát, câu tiếp theo lại nói riêng [từng
nghiệp].
Thân nghiệp tắc sát,
đạo, tà dâm.
身業則殺盜邪婬。
(Thân nghiệp th́ giết,
trộm, tà dâm).
Đây là ba nghiệp nơi thân. Mê
mất Tự Tánh, tự nhiên sẽ tạo ác nghiệp.
Phạm vi bao hàm của Sát rất rộng. Hễ tổn
người lợi ḿnh đều thuộc về Giết và
Trộm. Hại người là thuộc về Sát,
đoạt lấy danh lợi của người khác là
Trộm. Thân tạo nghiệp giết, trộm, dâm.
Khẩu quá tắc vọng ngôn.
口過則妄言。
(Lỗi
nơi miệng là nói dối).
Vọng ngữ là cố ư lừa
dối người khác.
Ỷ ngữ.
綺語。
(Nói thêu
dệt).
Hoa ngôn xảo ngữ dụ dỗ mê hoặc
người khác. Hiện thời Ỷ Ngữ là chuyện
rơ ràng nhất, người thế gian gọi Ỷ Ngữ
là ǵ? Là Văn Nghệ. Hiện tại biểu diễn
văn nghệ, ca múa, hư kịch, âm nhạc, mỹ
thuật, nay lại c̣n có điện ảnh, truyền h́nh,
quư vị thấy nội dung của chúng là ǵ? Là Ỷ
Ngữ! Dụ dỗ mê hoặc con người, dụ
dỗ mê hoặc quư vị làm ǵ? Dụ dỗ mê hoặc con
người làm chuyện “giết, trộm, dâm, dối”.
Sức dụ hoặc bên ngoài hết sức mạnh
mẽ, dùng truyền h́nh, dùng Internet đưa đến
tận nhà, quư vị bị những thứ này nhiễm ô.
Lưỡng thiệt, ác khẩu.
兩舌。惡口。
(Nói đôi
chiều, nói thô ác).
“Lưỡng
thiệt” là khuấy
động thị phi, dù hữu ư hay vô ư cũng đều
là thích phê b́nh người khác, hủy báng người khác,
tán dương bản thân, trong giới luật Đại
Thừa gọi là [tội] “tự
tán, hủy tha” (khen ḿnh, chê người). Câu này nói về
lưỡng thiệt, ác khẩu, tức miệng tạo
nghiệp. Ư là ư niệm.
Ư ác tắc thường khởi tham - sân,
thâm sanh si ái.
意惡則常起貪瞋。深生痴愛。
(Ư ác th́
thường nổi tham - sân, sanh ḷng yêu mến si mê sâu xa).
Tham - sân - si: Mười ác nghiệp này
(tức ba nghiệp nơi thân, bốn nghiệp nơi miệng
và ba nghiệp nơi ư) ai có thể tránh được?
Trong một ngày, ai có thể không tạo mười ác
nghiệp? Đừng nói chi nhiều, một ngày thôi, ngày
hôm nay từ sáng dậy đến tối đi ngủ,
trong một ngày, vẫn chưa đủ hai mươi
bốn tiếng đồng hồ, trừ lúc quư vị
ngủ ra không tính. Tính từ buổi sáng sáu giờ thức
dậy cho đến buổi tối quư vị đi
ngủ, đến mười hai giờ đêm bèn đi
ngủ, trong mười mấy tiếng đồng hồ
ấy, quư vị có thể không tạo mười ác
nghiệp hay không? Một ngày không tạo mười ác nghiệp,
công đức rất lớn. Nếu quư vị có thể
trong cả một đời không tạo mười ác
nghiệp th́ quư vị là Bồ Tát, chẳng phải là phàm
nhân, phàm nhân không thể làm được như thế.
Ngày nay chúng ta học Phật, học
Phật là học điều ǵ? Học chuyển phàm thành thánh,
phải bắt đầu chuyển từ đâu? Không
tạo mười ác nghiệp. Giảng kinh Thập
Thiện Nghiệp Đạo, chúng tôi đă giảng
mười ác nghiệp rất tường tận. Kinh Vô
Lượng Thọ cũng giảng rất tường
tận. Với mười giới của Sa Di Luật Nghi,
quư vị hăy chú tâm xem xét, nghiêm túc nỗ lực học
tập, phải khắc phục những ư niệm bất
thiện và hành vi bất thiện của chính ḿnh th́ trong
một đời này quư vị mới có lối ra; cầu
sanh Tịnh Độ mới thực sự có thể làm
được. Nếu như mười ác không
đoạn th́ những thứ ấy sẽ là phiền lụy
của quư vị, những phiền lụy ấy khiến
cho quư vị chẳng thể văng sanh. Quư vị niệm
Phật cũng không văng sanh được, v́ sao? Những
thứ phiền lụy ấy giống như dây trói,
buộc chặt quư vị trong lục đạo, không ra
được, quư vị phải cắt đứt
những thứ ấy. Quá khứ vô tri, ngày ngày tạo nghiệp;
nay đă giác ngộ, quyết định chẳng bại,
thà bỏ thân mạng cũng chớ nên làm mười
điều ác.
Nói thật ra, không đếm xỉa
tới thân mạng nữa. Ta bỏ thân mạng, không
tạo mười ác nghiệp, đời sau ḿnh sanh lên
cao; dẫu không niệm Phật, không cầu sanh Tịnh
Độ th́ quư vị cũng được sanh vào Thiên
Đạo. Nếu quư vị tham sống sợ chết,
vẫn cứ tạo mười ác nghiệp y như
cũ, đời sau sanh vào ba ác đạo: Tâm tham biến
thành ngạ quỷ, sân khuể đọa địa
ngục, ngu si biến thành súc sanh. Quư vị phải thọ
sanh nơi đâu? Thọ sanh trong ba đường ác. V́
thế, đối với chuyện này, mỗi tối
trước khi đi ngủ phải tự hỏi ḷng ḿnh
sẽ biết ngay tương lai ḿnh sanh trong đường
nào, không cần hỏi ai khác. Người khác nói ǵ đi nữa
cũng không thể tin tưởng được, tự
ḿnh hỏi chính ḿnh là đáng tin cậy nhất! Mỗi ư
niệm trong tâm đều là A Di Đà Phật, không có tham -
sân - si, không có thị - phi, nhân - ngă. Tôi nói là “không tự
tư tự lợi, không tham - sân - si - mạn”,
người như vậy là người thuộc thế
giới Cực Lạc, không c̣n là người trong thế
giới Sa Bà nữa, niệm niệm chỉ có A Di Đà
Phật. Bởi thế, những thứ đó (tức
mười ác nghiệp) phiền toái rất lớn.
Do tư tam nghiệp.
由茲三業。
(Do ba
nghiệp này).
Ba nghiệp này hễ một
nghiệp khởi th́ cả ba nghiệp đều khởi,
không phải chỉ một nghiệp đơn độc
khởi.
Câu tỏa vọng duyên.
鉤鎖妄緣。
(Vọng
duyên lôi trói).
“Vọng
duyên” là cảnh giới bên ngoài. Trong tâm khởi phiền
năo cùng ác duyên bên ngoài tập hợp, đấy là tạo
nghiệp. Tạo nghiệp phải thọ báo.
Thường cốt cốt ư
trần lao.
常汩汩於塵勞。
(thường
ch́m lỉm trong trần lao)
“Trần lao”
là lục đạo, nếu nói khó
nghe hơn th́ là tam đồ”.
“Cốt cốt” là trầm
luân, thường ch́m
đắm trong tam đồ. “Trần” là
nhiễm
ô, nhiễm ô nghiêm trọng. “lao”
là nhọc nhằn, phiền lụy, khổ sở.
Đản mang mang
ư tuế nguyệt.
但茫茫於歲月。
(Chỉ mờ mịt cùng năm tháng).
“Mang mang” là không bờ bến, chúng ta
thường nói là đời này đời sau chịu
khổ bao kiếp. Quả thật, tam ác đạo, đức
Phật đă nói rất nhiều lần, quư vị bước
vào th́ dễ, thoát ra rất khó! Nếu đọa
địa ngục th́ [thời gian] từ địa
ngục thoát ra phải được tính bằng kiếp,
ngạ quỷ đạo cũng rất nghiêm trọng. Súc
sanh đạo ngu si, quư vị
đừng v́ thọ mạng của súc sanh tợ hồ
không dài [mà cho là không nghiêm trọng], chúng cố chấp,
rất ngu si, đọa vào súc sanh đạo bèn chấp
thân ấy là thân của chính ḿnh; từ đấy trở
đi, chúng không ư niệm đổi lấy thân khác.
Từ kinh
điển chúng tôi đọc thấy Thích Ca Mâu Ni Phật
tại Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên trông thấy
một tổ kiến, đức Phật nh́n rồi
mỉm cười, những đại đệ tử
chung quanh Phật thấy Ngài nh́n tổ kiến mỉm
cười bèn hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật v́ sao lại
cười lũ kiến? Phật dạy:
- Các ông có biết
chăng? Lũ kiến trong tổ này, bảy đức
Phật đă nhập diệt rồi mà chúng vẫn c̣n làm
kiến.
Nào phải là lũ
kiến có thọ mạng dài lâu như thế đâu! Chúng
ta giả thiết cứ mỗi một đức Phật
là ba đại A Tăng Kỳ kiếp th́ bảy vị
Phật là hai mươi mốt đại A Tăng Kỳ
kiếp, lũ kiến ấy vẫn làm kiến. Nguyên do v́
đâu? Chết đi, vẫn cứ đầu thai làm
kiến như cũ. Đời đời kiếp
kiếp không đổi thân kiến. Bảy đức
Phật đă nhập diệt rồi, đức Phật
cười lũ kiến ngu si! Đó là nói về súc sanh
đạo, đọa súc sanh đạo cũng dễ
lắm, thế nhưng muốn giác ngộ trong
đường súc sanh nào phải là chuyện dễ! “Mang mang ư tuế nguyệt“ (mịt
mờ cùng năm tháng).
Dục tư
xuất ly, duy bằng sám hối huân tu chi lực.
欲思出離。唯憑懺悔熏修之力。
(Nghĩ muốn thoát ĺa, chỉ có cách
nhờ vào sức huân tu sám hối)
Muốn thoát ly ba ác
đạo th́ phải “sám
hối huân tu”. Thế nhưng không dễ ǵ sám hối là
v́ chấp trước, vô cùng chấp trước, lúc
đọa ba ác đạo là lúc tham - sân - si - mạn nghiêm
trọng nhất. Người khác bảo cho nghe chuyện
ǵ tốt, vẫn cứ hoài nghi, không tin tưởng: Ông nói
vậy là có ư ǵ? Có phải ông tính lừa tôi hay chăng?
Đa nghi, hay nghi, khiến cho thiện căn, phước
đức, nhân duyên của chính ḿnh đều bị
chướng ngại. Nay nhiều thiện tri thức
như vậy cùng ở một chỗ tu pháp sự Tam
Thời Hệ Niệm, giúp đỡ chúng sanh khổ
nạn. Mỗi một thời đều sám hối, hy
vọng những vong linh đều có thể tùy hỷ;
họ trông thấy, nghe thấy đều giác ngộ, cùng
mọi người tu pháp sám hối. Huân tu: Chúng tôi
thường nói là “trường thời huân tu”. Cách
thức như thế này:
Tỷ nhăn, nhĩ,
tỵ, thiệt, thân, ư chi quá khiên, ứng niệm
đốn tiêu.
俾眼耳鼻舌身意之過愆。應念頓消。
(Mong những tội lỗi nơi mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ư, ngay lập tức nhanh chóng
tiêu tan).
Tiêu nghiệp
chướng chỉ có phương pháp này: Khiến cho quư
vị đối với những lỗi lầm nơi
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, thực sự sám
hối những tội lỗi ấy (phần trên gọi
là “tùy t́nh tạo nghiệp”),
thực sự được Phật pháp huân tu. Đại
chúng cùng hợp sức lại, thiện tâm, thiện
nguyện gia tŕ, hy vọng những lầm lỗi nơi
sáu căn của các vị, tức những lầm lỗi
nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư “ứng niệm đốn siêu“ (ngay
lập tức tiêu tan nhanh chóng). Ngay lập tức tiêu tan
nhanh chóng là thật, chỉ sợ điều ǵ? Chỉ
sợ người ấy không ứng, chẳng hoàn toàn
tương ứng với pháp sự này. Nếu
tương ứng th́ sẽ tiêu trừ rất nhanh chóng,
tội chướng liền tiêu.
Sử sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phù trần, tức
thời thanh tịnh.
使色聲香味觸法之浮塵。即時清淨。
(Khiến cho phù trần sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp ngay lập tức thanh tịnh).
Đây là nói về
quả báo. “Sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp” là sáu trần, chín pháp
giới khác nhau. “Phù trần”
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của nhân gian khác
với ngạ quỷ đạo. Sáu trần sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp của ngạ quỷ
đạo lại khác với địa ngục
đạo, do cảm quả báo mà! Giống như trong
thế giới hiện hữu của chúng ta đây, sáu
trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khác
với sáu trần trong thế giới Cực Lạc. V́ sao
khác nhau? Do nghiệp khác nhau. Do vậy nói: Sáu căn tạo
nghiệp có nặng hay nhẹ sai khác. Tạo nghiệp
nhẹ th́ cảnh giới sáu trần tốt hơn một
chút; tạo nghiệp nặng th́ cảnh giới tệ
hơn. Chúng ta thường gọi [cảnh giới] là hoàn
cảnh sống, tạo thiện nghiệp nhiều, ác
nghiệp ít th́ hoàn cảnh sống tốt đẹp;
tạo ác nghiệp nhiều thiện nghiệp ít th́ hoàn
cảnh sống không tốt, tai nạn lại nhiều.
Hiện tại trong
thế gian này, v́ sao tai nạn lại nhiều đến
thế? Chúng ta hiểu rất rơ ràng, minh bạch: Do
cộng nghiệp chiêu cảm. Người sống trên
quả địa cầu này, người tạo nghiệp
bất thiện rất nhiều, người tạo
thiện nghiệp quá ít. Bởi thế, tần số thiên
tai nhân họa không ngừng tăng thêm, tai nạn ngày càng
nghiêm trọng hơn. Quư vị hiểu rơ sự lư nhân
quả này th́ tự nhiên sẽ thấu hiểu: Chúng ta
phải tự cứu, phải giúp đỡ người
khác. Làm cách nào đây? Phải bắt đầu từ chính
bản thân ḿnh, đoạn ác, tu thiện, sửa lỗi,
đổi mới, hy vọng tội chướng của
chính ḿnh tiêu trừ, hy vọng hoàn cảnh của chúng ta
sẽ chuyển biến thanh tịnh hơn. Tiếp đó,
kinh văn dạy chúng ta phát nguyện:
Hựu Cực
Lạc cầu sanh.
又極樂求生。
(Lại cầu sanh Cực Lạc).
Nay chúng ta phải nghĩ
cầu sanh về thế giới Cực Lạc.
Toàn bằng phát
nguyện.
全憑發願。
(Hoàn toàn nhờ vào phát nguyện).
Câu nói này không khác ǵ
lời Ngẫu Ích đại sư nói cả. Ngẫu Ích
đại sư nói: “Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới
được hay chăng, quyết định ở
chỗ có tín nguyện hay không?” Chúng ta tin chân thành,
nguyện thiết tha th́ được văng sanh; phẩm
vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay
cạn. Cầu sanh “toàn bằng
phát nguyện” (hoàn toàn nhờ vào phát nguyện), nguyện
chân thật, tin thiết tha. Chúng ta phải thật ḷng, tin thực
sự, nguyện thiết tha niệm bài kệ phát
nguyện này th́ mới có thể cảm động quỷ
thần. Cảm động được quỷ thần
bèn có lợi ích. Bản thân chúng ta tín nguyện không
thật, không thiết tha, quư vị dùng ư niệm ấy
niệm bài kệ này sẽ chẳng cảm nhận
được lợi ích rất lớn. Đối
với chuyện này, hiện nay không ít đồng học
đă đọc cuốn sách nói về nước kết
tinh, cuốn sách ấy đă chứng minh điều sau đây:
Tâm chân thành, thành tâm, thành
ư dùng ư nghĩ tốt lành đối với một chén
nước; thực sự dùng thiện tâm, thiện ư, tâm
chân thành, chuyển những ư niệm tốt lành của
chúng ta đến nước, xa đến đâu cũng
không ngại. Bọn họ đă từng làm thí nghiệm:
Đặt một chén nước trên bàn làm việc trong
sở, gọi điện thoại thông báo cho năm
trăm người sống ở những chỗ khác nhau
trên toàn quốc cùng một lúc - thời gian rất quan
trọng - cùng một thời gian, đại khái chỉ
cần chừng ba phút thôi, tự ḿnh dùng thành ư, tâm chân thành,
dùng thiện ư nói với chén nước ấy:
“Ngươi rất trong sạch, chúng ta rất vui thích,
rất cảm tạ ngươi”. Lặp lại câu ấy
mấy lượt trong ṿng ba phút, sau đấy đem
nước đó đi xét nghiệm, nước kết
tinh hết sức đẹp đẽ.
Như vậy, ư niệm
không có khoảng cách thời gian hay không gian, thí nghiệm
trên đă chứng minh điều này! Chúng ta giúp cho chúng sanh
trong chín pháp giới, giúp đỡ hết thảy quỷ thần
chẳng thể không thành tâm thành ư. Tâm quư vị không chân
thành, nguyện không thiết tha, quỷ thần cười
cợt: “Ngươi bày tṛ đùa, ngươi không thực
sự làm!” Quư vị đùa bỡn họ, họ cũng
chọc ghẹo lại quư vị. V́ thế, chân thành, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi phải được
bồi dưỡng trong cuộc sống thường
nhật. Chúng ta sống chân thành, dùng chân tâm xử sự,
dùng chân tâm thành ư để đăi người tiếp
vật, một điều chân thật th́ hết thảy điều
chân thật, một sự thành thực th́ hết thảy
mọi sự thành thực, có như vậy mới có thể
chuyển được cảnh giới của chính ḿnh:
Chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ,
đến rốt cục là chuyển phàm thành thánh,
chuyển Sa Bà thành Cực Lạc. Chúng ta cầu sanh
Tịnh Độ như thế th́ mới ḥng nắm
chắc [chuyện văng sanh], một đời này học
Phật mới không luống uổng, chắc chắc có
thành tựu.
Quư vị có thành tựu
th́ đối với thầy, đối với bạn
lành, đối với hộ pháp, quư vị mới là thực
sự cảm kích. Do vậy, điều kiện tiên
quyết của báo ân là tri ân, thế nào là tri ân? Thực
sự nhận cái ân ấy. Nay bảo quư vị báo ân,
nhưng sao chẳng sanh khởi ư niệm ǵ cả? Do nguyên
nhân nào? Do không cảm nhận ân đức, về căn
bản là quư vị chẳng tri ân. Tri ân là quư vị phải
hoàn toàn thực hiện được lời Phật
dạy dỗ, đấy mới là tri ân. Tâm biến
đổi, tư tưởng biến đổi, hành vi
biến đổi, có vậy mới là tri ân. Ai giúp quư
vị biến đổi? Thiện tri thức giúp ḿnh
biến đổi, hộ pháp giúp ḿnh chuyển biến,
hết thảy chúng sanh giúp ḿnh biến chuyển. Trên báo
bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba
đường, cái tâm ấy phải thực sự sanh
khởi. V́ vậy, cầu sanh Tịnh Độ “toàn bằng phát nguyện” (hoàn
toàn nhờ vào phát nguyện).
Ngưỡng lao
pháp chúng.
仰勞法眾。
(Xin nhọc sức pháp chúng).
Quư
vị thấy đó: Giọng điệu trong câu này
rất khẩn thiết, rất khiêm tốn, rất tôn
trọng người khác! Ngài là bậc đại
đức minh tâm kiến tánh, chẳng phải là hạng
người tầm thường. Đại chúng là phàm phu,
“thỉnh” đại chúng
hăy vui ḷng, “ngưỡng lao” (xin
nhọc sức) tôn kính đến cùng cực! Từ điều
này, quư vị đă thấy nguyện lễ kính chư Phật
trong mười nguyện Phổ Hiền ở phần trên!
“Pháp chúng” là đại chúng
tham gia pháp hội.
Dị khẩu
đồng âm.
異口同音。
(Khác miệng cùng âm).
Mọi người chúng
ta hăy cùng v́ vong linh chúc phước.
Kính vị vong linh
chí tâm sám hối phát nguyện.
敬為亡靈至心懺悔發願。
(Kính v́ vong linh chí tâm sám hối phát
nguyện).
Điều chúng ta
sắp làm đây trong kinh Phật thường gọi là “vị nhân diễn thuyết” (v́
người diễn nói). Chúng ta v́ vong linh biểu diễn,
v́ họ thuyết pháp, v́ hết thảy quỷ thần, v́
chúng sanh trong chín pháp giới “sám
hối phát nguyện”. Sám hối là v́ họ biểu
diễn, v́ họ thuyết pháp. Dưới đây là bài
kệ sám hối, tức bài kệ sám hối của
Phổ Hiền Bồ Tát.
16. Sám
hối, phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện
Văng tích sở
tạo chư ác nghiệp.
往昔所造諸惡業。
(Xưa kia trót tạo bao nghiệp ác).
Hai chữ “văng tích” có thể tính
ngược lên đến vô thỉ kiếp trước,
từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay đă làm vô
lượng vô biên ác nghiệp. Phải thực sự
hiểu được chân tướng sự thật th́
mới có thể lănh hội câu nói trong Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh: “Diêm
Phù Đề chúng sanh, khởi tâm động niệm, vô phi
thị tội” (Chúng sanh Diêm Phù Đề khởi tâm
động niệm không ǵ chẳng phải là tội).
Trước hết là thừa nhận, tỏ bày sám
hối, ta từ quá khứ cho đến hiện tại
đă tạo vô lượng vô biên ác nghiệp.
Giai do vô thỉ tham sân si.
皆由無始貪瞋痴。
(Đều
do vô thỉ tham sân si).
V́ đâu chúng ta tạo nghiệp? V́ sao
Phật, Bồ Tát không tạo nghiệp? Phật, Bồ Tát
không có tham - sân - si, chúng ta chẳng đoạn tham - sân - si.
Từ vô thỉ kiếp đến nay, tham - sân - si không
đoạn. Tham - sân - si là căn bản tạo nghiệp.
Tùng thân ngữ ư chi sở sanh.
從身語意之所生。
(Từ
thân miệng ư phát sanh ra).
Đây chính là nghiệp nhân. Tham - sân - si
là mê, mê rồi sẽ khiến cho thân - khẩu - ư của chúng
ta tạo tác mọi thứ bất thiện, tổn
người, lợi ḿnh. Thế gian thường nói “tổn người lợi ḿnh”,
thật ra nói như vậy là sai, phải nói như thế
nào? Tổn người hại ḿnh mới là đúng!
Nếu tổn người lợi ḿnh th́ tốt quá rồi!
Nếu tổn người lợi ḿnh th́ Phật, Bồ
Tát đều làm hết rồi, tổn người có
thể lợi ḿnh th́ ai lại chẳng muốn làm cơ
chứ? Tổn người chắc chắn hại ḿnh, bởi
thế, Phật, Bồ Tát không làm. Quư vị tưởng tổn
người th́ ḿnh được lợi đôi chút, nhưng
đấy chỉ là cái lợi nhỏ nhoi trước
mắt. Lợi ấy quư vị hưởng
được mấy ngày? Hưởng xong, quả báo
về sau là tam đồ. Bởi thế, tổn
người nhất định hại ḿnh, tự ḿnh
hại ḿnh thê thảm, khiến cho chính ḿnh đọa
lạc trong tam đồ, đọa lạc địa
ngục, khổ chẳng thể nói nổi!
Ở trong địa ngục lúc nào
mới thoát ra được? Thăm thẳm không kỳ
hạn. Lúc c̣n sống không biết, tưởng ḿnh
chiếm được tiện nghi, đâu biết ḿnh
bị thiệt tḥi lớn lắm. Những người
bị quư vị hại, nếu họ không có tội
lỗi, họ bị quư vị hại, người ta sanh
lên trời, hoặc là đời sau lại sanh làm
người. Hăy nghĩ xem: Quư vị có hại
được họ hay không? Không hại được
họ, mà hại chính ḿnh. Tương lai sau khi thoát khỏi
địa ngục rồi, thoát khỏi ngạ quỷ
rồi, vẫn phải biến thành súc sanh trả nợ.
Quư vị hại người, tương lai người
ta đ̣i nợ ḿnh, báo này đền báo kia, đúng là “thiếu mạng phải
đền mạng, thiếu tiền phải trả
tiền”.
Nếu quư vị thực sự thông
đạt nhân quả ba đời th́ tâm sẽ b́nh. Như
vậy rồi mới thực sự biết bất cứ
ai sống trên thế gian này muốn chiếm tiện nghi
th́ chẳng hề có chuyện đó đâu! Nếu bảo
là bị thua thiệt th́ cũng chẳng có chuyện ấy
đâu! V́ sao? Quả báo đền trả thông suốt ba
đời. Hiện tại dường như chúng ta
bị thua thiệt; tương lai người ta phải
đền nợ, đă trả nợ c̣n đèo thêm
tiền lời. Phật, Bồ Tát, A La Hán có Thiên Nhăn Thông,
trong kinh đức Phật dạy chúng ta: “Thiên Nhăn, Túc Mạng của bậc A La Hán biết
được năm trăm đời”. Các Ngài
thấy được nhân quả năm trăm
đời của lục đạo chúng sanh trong thế
giới Sa Bà, nghiệp nhân quả báo! Địa vị
chứng ngộ càng cao hơn, năng lực càng lớn
hơn, đến quả địa Như Lai hoàn toàn không
có chướng ngại. Vô lượng kiếp của vô
lượng kiếp, Phật thấy rơ ràng, minh bạch.
Do tham - sân - si là gốc của hết
thảy ác nghiệp nên chúng được gọi là Tam
Độc. Chúng ta trong có Tam Độc, lại bị bên
ngoài dụ dỗ, mê hoặc, bị những cảnh
giới bất thiện ấy dụ dỗ, mê hoặc,
khiến cho thân - ngữ - ư làm ác. Làm ác chắc chắn không
thể tránh khỏi ác báo. Bởi thế, nếu quư vị
thành tâm thành ư niệm bài kệ này, ắt sẽ ứa
lệ, ắt phải cảm động.
Kim đối Phật tiền cầu sám
hối.
今對佛前求懺悔。
(Nay
đối trước Phật xin sám hối).
Nay chúng ta đối trước tượng
Phật, Phật là bậc đại trí, đại giác,
đại từ, đại bi, cầu Phật chứng
minh, con nay thực sự sám hối. Chẳng phải là
cầu Phật tha tội, Phật chẳng thể tha
tội cho quư vị được. Nếu quư vị
cầu Phật tha tội th́ quan niệm ấy hoàn toàn sai
lầm! Cầu Phật chứng minh, từ nay trở đi
con hối cải. Sám hối chính có nghĩa là sửa đổi
lỗi lầm, sau này không gây tạo nữa, Phật
chứng minh cho con, ư nghĩa là như thế. Chỗ này
chẳng được hiểu lầm kẻo rồi cứ
cầu Phật, cầu Bồ Tát tha tội, tha thứ cho
ḿnh. Phật, Bồ Tát đâu có trách móc quư vị. Phật,
Bồ Tát chẳng bận tâm quư vị đă làm chuyện ǵ
đâu! Quư vị tự làm tự chịu, ai quản quư
vị được? Nay chính bản thân chúng ta phải thống
thiết phát nguyện, sửa lỗi, đổi mới,
đoạn ác, tu thiện, cầu Phật, Bồ Tát
chứng minh, cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ. Sợ chính
ḿnh không có năng lực, vẫn cứ không thể chống
lại dụ dỗ, mê hoặc y như cũ, nên cầu
Phật, Bồ Tát oai thần gia tŕ. Khi dụ dỗ, mê
hoặc hiện diện, Phật, Bồ Tát sẽ khiến
cho ḿnh cảnh giác cao độ, không c̣n làm ác nữa. Đấy
chính là ư nghĩa của câu “kim đối
Phật tiền cầu sám hối” (nay đối
trước Phật cầu sám hối). Sám hối xong
lại phát nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ.
眾生無邊誓願度。
Muốn được như Phật
th́ ta phải học theo Phật, phải làm giống
như Phật. Nguyện của Phật là phổ
độ chúng sanh, phát tâm, phát nguyện, thực sự
nghĩ đến chuyện tạo lợi ích cho hết
thảy chúng sanh. Chúng sanh vô lượng vô biên, ở đây
bao gồm chúng sanh trong chín pháp giới, gồm trọn
khắp pháp giới, hư không giới. Nếu nói như
kinh Hoa Nghiêm th́ là chúng sanh trong trùng trùng vô tận pháp
giới. Ta khởi tâm động niệm nghĩ
đến họ, giúp cho họ phá mê khai ngộ, giúp họ
viên thành Phật đạo. Đấy là bổn nguyện
của hết thảy chư Phật, Bồ Tát. Nay chúng ta
cũng phải phát đại nguyện giống như
thế. Phát được đại nguyện ấy, phi
thường thay! Mười phương ba đời
tất cả hết thảy chư Phật Như Lai
đều bảo hựu quư vị, v́ sao? Quư vị
đồng tâm, đồng nguyện, chí đồng
đạo hợp với các Ngài. Quư vị là đồng
chí của các Ngài, Phật, Bồ Tát lẽ đâu không
hộ niệm! Hết thảy thiện thần vị nào
không ủng hộ? Quư vị không cầu Phật hộ
niệm, Phật vẫn hộ niệm; không cầu
thiện thần ủng hộ, thiện thần vẫn
bảo hựu. V́ sao? Nguyện ấy phi thường
lắm!
Thế
nhưng khi chúng ta niệm câu này có phát được nguyện
ấy hay không? Không phát! Sao biết là ḿnh không phát? Kẻ kia
ḿnh ghét lắm, không lẽ quư vị nói “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” ngoại
trừ kẻ đó; dưới đó bèn mở ngoặc: “Trừ
kẻ đó ra”; lẽ nào có đạo lư như vậy
được! Do vậy, chúng ta ngày ngày niệm nhưng
không phát nguyện. Hễ phát th́ phải làm sao nữa?
Nguyện để dẫn hạnh, phát nguyện rồi th́
phải có hành vi tiếp theo sau đó. Miệng phát
nguyện, chẳng có hành vi tiếp theo th́ nguyện ấy
là giả, là trống rỗng. Nói khó nghe hơn là “dối ḿnh, lừa người”:
Dối gạt bản thân ḿnh, dối gạt Phật,
Bồ Tát, dối gạt chúng sanh, quư vị phải gánh cái
tội ǵ? Mở mắt thao láo mà nói dối! Chúng ta phải
hiểu điều này.
Với nguyện này, Phật, Bồ Tát
không có vấn đề ǵ, các Ngài có trí huệ, có năng
lực, có phước báo, quả thật có thể
độ hết thảy chúng sanh; nay chúng ta phát nguyện
này, không có trí huệ, cũng không có đức hạnh,
cũng không có phước báo, lấy ǵ giúp đỡ
người khác đây? Hoàn toàn không có năng lực, làm sao
giúp đỡ người khác cho được? Tùy hỷ!
Thấy người khác làm việc tốt, chúng ta hoan
hỷ, tán thán, chúng ta làm được chuyện này.
Chỉ cần tận tâm, dốc tận sức của chính
ḿnh th́ công đức viên măn. Do vậy, thực sự phát
nguyện này xong, thiện tâm sẽ sanh khởi, thiện
niệm sanh khởi, thiện hạnh cũng sanh khởi,
tự nhiên có thể sửa lỗi đổi mới. Câu
tiếp theo:
Phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn.
煩惱無盡誓願斷。
Thực sự phát đại nguyện
này th́ trước hết chính ḿnh phải đoạn
phiền năo, thành tựu đức hạnh của chính
ḿnh. Giáo học của Khổng lăo phu tử gồm bốn
khoa, thứ nhất là đức hạnh, thứ hai là ngôn
ngữ, thứ ba là “biện sự” (nay chúng ta gọi là
năng lực về mặt kỹ thuật), thứ tư
mới là văn học. Theo thứ tự ấy,
đầu tiên là đức hạnh. Đức hạnh
nghĩa là trước hết phải là thiện nhân. Căn
bản của thiện nhân là ba thiện căn: không tham,
không sân, không si. Nếu trừ sạch tham - sân - si th́ quư
vị mới là thiện nhân thực sự, con người
như vậy mới không làm ác.
Tất cả hết thảy thiện
pháp thế gian đều sanh từ những căn cội
không tham, không sân, không si này. Tất cả hết thảy
tội ác trong thế gian, tất cả hết thảy ác
nghiệp đều sanh từ Tam Độc tham - sân - si. Tham
- sân - si sanh ra ác nghiệp, nên được gọi là Tam
Độc. Vô tham, vô sân, vô si gọi là ba thiện căn,
sanh ra tất cả hết thảy thiện nghiệp
thế gian. Trước hết quư vị phải
đoạn phiền năo, trong phần trên đă gọi
phiền năo là “vô thỉ tham -
sân - si”, trước hết phải đoạn những
thứ ấy. Phải
đoạn sạch tham - sân - si - nghi - mạn từ vô
thỉ kiếp đến nay.
Đoạn trừ phiền năo rồi
phải học pháp môn. Nếu quư vị không có học
vấn sẽ không có bản lănh, không cứu người
khác được, không thể giúp đỡ người khác
thật hữu hiệu được. Như vậy,
đoạn phiền năo chính là thành tựu đức
hạnh của chính ḿnh rồi mới học pháp môn, theo thứ
tự thuận. Từ xưa đến nay tổ sư
đại đức yêu cầu chúng ta phải thâm nhập
một môn, trường thời huân tu là v́ lẽ ǵ?
Để đoạn phiền năo chứ không có chi khác
cả! Phiền năo đoạn sạch, trí huệ mở mang.
Rồi lại:
Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học
法門無量誓願學。
Trí huệ chưa khai phát, học pháp môn
sao được? Phiền năo đoạn sạch rồi,
pháp môn phải khéo tu. Cuối cùng là:
Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành.
佛道無上誓願成。
Ư nghĩa bài kệ này vẫn giảng
chưa xong, buổi học sau chúng tôi sẽ giảng
tiếp. Bây giờ hết giờ rồi!
Tập 47
Chúng ta lại tiếp tục phần
Tứ Hoằng Thệ Nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ,
Phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành.
眾生無邊誓願度。
煩惱無盡誓願斷。
法門無量誓願學。
佛道無上誓願成。
Trong tiết trước đă giảng
hai câu đầu của bài kệ này, chúng ta hăy xem tiếp
hai câu kế đó. Do bài kệ này là tổng nguyện
(nguyện tổng quát, nguyện chung) của hết
thảy chư Phật Như Lai, là thứ tự tu hành
của hết thảy Bồ Tát, là cương lănh tổng
chỉ đạo; chúng ta sơ học th́ phải khởi
sự học từ đâu? Thứ nhất là phải phát
nguyện, nguyện nếu thực sự phát th́ hành sẽ
không khó. Nói thật ra, Tứ Hoằng Thệ Nguyện thực
sự chỉ gồm có mỗi một câu “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”; ba
nguyện sau hoàn toàn nhằm để viên măn cái nguyện
thứ nhất này nên mới có.
Làm thế nào để có thể phổ
độ chúng sanh? Hết thảy chúng sanh khổ nạn
trọn khắp pháp giới, hư không giới, ta có
năng lực giúp đỡ hay chăng? Chư Phật
Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát dẫu có năng lực, có tâm
nguyện ấy, vẫn phải cần một điều
kiện khách quan. Điều kiện khách quan ǵ vậy?
Chúng sanh phải bằng ḷng tiếp nhận, tức là có
Cảm. Chúng sanh chịu tiếp nhận là có Cảm, không
chịu tiếp nhận là không có Cảm. Không có Cảm th́
không có Ứng, quư vị nhất định phải
hiểu đạo lư này: Có Cảm bèn có Ứng! Cảm là
chúng ta bằng ḷng tiếp nhận oai thần của Phật,
Bồ Tát gia tŕ.
Cũng có nhiều đồng học
muốn hỏi: Chúng tôi đều rất vui ḷng,
đều mong mỏi Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng
tôi; cớ sao Phật, Bồ Tát không đến?
Chương Gia đại sư lăo nhân gia đă nói rồi
đó: “Bản thân chúng ta có chướng ngại”. Chẳng
phải là Phật, Bồ Tát không đến, mà v́ chính ḿnh
có chướng ngại, các Ngài không gia tŕ được.
Phải hiểu đạo lư này, không phải là Phật,
Bồ Tát chẳng linh; Phật, Bồ Tát linh đến
cùng cực! Nghiệp chướng tập khí của chính
ḿnh quá nặng, chúng ta cầu Phật, Bồ Tát đến
giúp đỡ ḿnh, hoàn toàn là tư tâm, hoàn toàn là tự
lợi. Tự tư tự lợi là đại
chướng ngại, không có cách nào hết, không cách ǵ
cảm thông cả. Nếu chúng ta không v́ chính ḿnh, không v́
tự tư tự lợi, mà v́ chúng sanh th́ chúng ta cầu
Phật, Bồ Tát gia tŕ không có chướng ngại chi hết.
Ư niệm vừa chuyển, đại công vô tư, cũng
có thể nói là ư niệm của quư vị tương
ứng với ư niệm của Phật, Bồ Tát,
tương ứng với tánh đức.
Ở đây, thiền sư Trung Phong khai
thị, do Ngài là bậc đại đức trong Thiền
Tông, là bậc đại thiện tri thức đại
triệt, đại ngộ, minh tâm kiến tánh, nên dù nói rất
rơ ràng, nông cạn, vẫn có ư vị sâu xa. Dẫu cho chúng ta
vừa nghe dường như hiểu liền, chứ thực
sự ra chưa hiểu. Cũng giống như bài kệ
sám hối của Phổ Hiền Bồ Tát, Tứ Hoằng
Thệ Nguyện của chư Phật Như Lai chúng ta
đọc quá quen thuộc, tợ hồ hiểu rồi,
thật ra chưa hiểu. V́ sao chưa hiểu? V́ chưa
thể thực hiện, chưa làm được. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ” mà ḿnh vẫn c̣n oán hận rất nhiều
chúng sanh, chán ghét chúng sanh, tuyệt đối chẳng
thể độ họ được. Do vậy, không có
được nguyện này. Nguyện này không có th́ ba
nguyện sau đó chắc chắn chẳng có. Đó là
đạo lư nhất định.
Nếu quư vị thực sự phát cái
nguyện này th́ “chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ”. Thứ nhất là mở
rộng tâm lượng, thực sự giống như
chư Phật, Bồ Tát: Tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới. Thứ hai phải khẳng định oán thân
b́nh đẳng, mới có thể dùng tâm chân thành, thanh
tịnh, b́nh đẳng đối với hết thảy
chúng sanh trọn khắp pháp giới, hư không giới; có như
vậy th́ cái nguyện của quư vị vừa phát mới thực
sự được phát. Thực sự phát nguyện xong,
niệm niệm mong thực hiện, ta thực sự làm
được, để có thể thực sự làm
được th́ trước hết phải tu sửa
chính ḿnh. Trong kinh giáo, đức Phật thường nói: “Bồ Tát tự kỷ vị độ,
nhi năng độ nhân, vô hữu thị xứ” (Bồ
Tát chưa thể độ ḿnh mà có thể độ
người, không có lẽ đó!) V́ thế, quư vị
muốn độ người th́ trước hết
phải độ ḿnh, tức là thành tựu đức
hạnh của chính ḿnh. Đoạn phiền năo là thành
tựu đức hạnh; học pháp môn là thành tựu
học vấn. Thành tựu trí huệ, thành tựu năng
lực th́ quư vị mới có bản lănh giúp đỡ
người khác.
Có
đức hạnh nhưng không có bản lănh th́ cũng
không được.
V́ vậy, tu hành phải có thứ
tự, trước hết tu đức hạnh, rồi
thành trí huệ, cuối cùng c̣n phải thành tựu vô
thượng Phật đạo. V́ sao? Có như vậy th́ mới
có thể phổ độ! Nếu quư vị không thành vô
thượng Phật đạo, sẽ không độ
được Ma Ha Tát. Những bậc Địa
Thượng, Đẳng Giác Bồ Tát cao hơn quư vị
th́ làm sao quư vị độ họ? Quư vị phải cao
hơn họ mới có thể độ họ. V́ thế,
nhất định phải phát nguyện “Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành” th́ cái nguyện chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ mới thực sự làm được viên măn,
mới làm được rốt ráo. Đẳng Giác Bồ
Tát cũng là chúng sanh, trong nhà Phật thường nói là
chúng sanh trong chín pháp giới. Đẳng Giác Bồ Tát hay
Bồ Tát [thuộc những địa vị thấp hơn]
th́ vẫn là chúng sanh trong chín pháp giới, chỉ có ḿnh đức
Phật siêu việt chín pháp giới. V́ thế, phải
ở quả vị Phật th́ mới có thể phổ
độ chúng sanh.
Nói đến chuyện học pháp môn th́
trước khi đoạn sạch phiền năo, học pháp
môn vẫn là để giúp đoạn phiền năo; phải
hiểu đạo lư này. Do vậy, tổ tổ truyền
nhau, dạy răn hàng sơ học phải “thâm nhập
một môn, trường thời huân tu”. V́ sao? Nhằm
đoạn phiền năo, thành tựu Giới - Định
cho quư vị, chính v́ lẽ này vậy. Đến khi
Giới - Định thành tựu, trong Định sanh
Huệ, trí huệ sanh rồi th́ lúc ấy mới thực
sự là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
Chính trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đă
v́ chúng ta thị hiện tham học. Tham học là “pháp môn vô lượng thệ
nguyện học”. Do đây biết rằng: Phát
nguyện (tức là Bồ Đề đại nguyện)
là phát nguyện phổ độ chúng sanh, tu Giới - Định
thành tựu Căn Bản Trí nơi pháp hội của
thầy (thầy của Thiện Tài đồng tử là
Văn Thù Bồ Tát). Giới - Định viên măn, trí
huệ mở mang, Định phát Huệ rồi; lúc ấy
bèn ra đi tham học. Tham học là thành tựu Hậu
Đắc Trí, thành tựu “không
ǵ chẳng biết”. Đấy chính là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
V́ sao phải thành tựu viên măn Hậu
Đắc Trí? Chúng sanh căn tánh bất đồng, tuyệt
đối chẳng thể dùng một phương pháp
để phổ độ được. V́ thế,
phải có đủ mọi phương pháp thích ứng
mọi căn tánh bất đồng của hết
thảy chúng sanh. V́ thế, học vô lượng pháp môn
không phải để học cho ḿnh, mà là v́ chúng sanh mà
học. Thế nhưng quư vị phải hiểu: Vô
lượng pháp môn đều là phương tiện nhằm
tiếp dẫn chúng sanh, lấy từ bi làm gốc,
phương tiện làm cửa. Phương tiện
tiếp dẫn chúng sanh; nói chung là nghĩ cách giúp cho chúng
sanh thành thục thiện căn, phước đức,
nhân duyên, khi nào thành tựu rồi lại trao cho họ pháp
môn chân chánh.
Pháp môn chân chánh là ǵ vậy? Chính là
Niệm Phật văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Chỉ có một pháp này là thật, các pháp
khác đều là phương tiện. Quư vị nghe tôi
giảng kinh Hoa Nghiêm, trong khi giảng kinh Hoa Nghiêm tôi đă
nói rất nhiều lần: “Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa đều là phương tiện, đều
không phải là chân thật, nhằm tiếp dẫn
những vị Bồ Tát vào thế giới Hoa Tạng!”
Tu hành trong thế giới Hoa Tạng, thiện căn,
phước đức, nhân duyên sâu dầy, địa
vị Tam Hiền phát tâm niệm Phật văng sanh. Nếu
thiện căn, phước đức, nhân duyên c̣n kém một
chút, ắt phải ở trong thế giới Hoa Tạng tu
thành Địa Thượng Bồ Tát, đăng
địa[4]
rồi, lúc ấy trí huệ mở mang, không c̣n ngờ
vực, có thể tin tưởng lời của các vị Phổ
Hiền, Văn Thù, mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc.
V́ thế, chúng ta thấy kinh Hoa Nghiêm nói:
“Thập Địa Bồ Tát thỉ
chung bất ly niệm Phật” (Thập Địa
Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng
rời Niệm Phật). Quá rơ ràng! Thập Địa
Bồ Tát th́ “đầu”
tức bắt đầu bằng Sơ Địa Bồ
Tát, “cuối” là địa
vị thứ mười một, tức là Đẳng
Giác. Trong mười một tầng cấp ấy,
khẳng định họ niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Quư vị thấy đó: Rốt cuộc chỉ nhằm tỏ
rơ một pháp khiến cho chúng ta mau chóng thành tựu, thành cái
ǵ? “Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành”. Rốt ráo nhất,
viên măn nhất là Tây Phương Cực Lạc thế
giới, Hoa Tạng quy về Cực Lạc. Nếu quư
vị xem xét kỹ, chú tâm lănh hội th́ chúng ta mới thực
sự hiểu rơ tường tận.
Tôi đă kể các đồng học
nhiều lần rồi, lúc chúng tôi c̣n trẻ học
Phật, không có ai giảng cho tôi rơ ràng, thấu triệt
như thế. V́ sao? Nếu họ giảng rơ ràng, thấu
triệt như thế, tôi đă sớm tin tưởng
rồi. V́ sao thầy không giảng? Cũng là có nguyên nhân.
Thầy của tôi là người thuộc tầng lớp xưa,
có tư tưởng cổ nhân, phương pháp dạy
dỗ cũng theo cổ nhân, cổ nhân không nói. V́ sao không
nói? Nói ra sẽ đóng bít cửa ngộ của học tṛ,
v́ thế không nói, để cho học tṛ tự ngộ. Quư
vị tự ngộ rồi thầy sẽ ấn chứng
cho. Đó là phương pháp của cổ nhân.
Nay tôi không theo đường lối
của cổ nhân, v́ sao? Đi theo đường lối
của cổ nhân chỉ sợ rất nhiều
đồng tu học suốt một đời này
chẳng thể ngộ nhập được, v́ sao?
Phiền năo tập khí của quư vị quá nặng, không
thể ngộ nhập được, tôi đem chuyện
này nói trắng ra, nói toạc ra. Nói trắng, nói toạc ra
có ích ǵ cho quư vị? Tốt hay không rất khó nói, đúng là
Phật pháp không có pháp nhất định. Nếu nghe cách
giảng như vậy mà quư vị hiểu rơ th́ sẽ sanh
tín tâm đối với Phật pháp, chuyên tu Tịnh
Độ, không ngộ cũng chẳng quan trọng. Tổ
sư đại đức nói rất hay: “Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất
khai ngộ?” (Chỉ thấy Phật Di Đà, lo ǵ chẳng
khai ngộ?) Trong thế gian
này quư vị không khai ngộ th́ khi gặp A Di Đà Phật
bèn khai ngộ. Nếu cái tâm nguyện văng sanh không sanh
khởi th́ cũng là đă gieo thiện căn này vào A
Lại Da Thức; sức của thiện căn này rất
mạnh, trong tương lai khi gặp duyên nhất
định chín muồi!
Ở phần trên, chúng tôi đă nói: Chư
Phật, Bồ Tát v́ hết thảy chúng sanh diễn nói,
quan trọng nhất là khế cơ, khế lư. V́ thế,
chúng tôi quan sát căn cơ chúng sanh trong thế gian hiện
thời, phương pháp của cổ đức không c̣n
hợp nữa, không khế hợp căn cơ con
người hiện thời. Thế nhưng chúng ta
nhất định phải tuân thủ nguyên lư, nguyên
tắc, quyết định chẳng thể trái nghịch
nguyên lư, nguyên tắc. Trái nghịch nguyên tắc và nguyên lư th́
là không khế lư. Khế cơ mà không khế lư sẽ
chẳng thể thành tựu, đấy là ma thuyết.
Cả hai mặt Lư và Cơ đều phải quan tâm.
Do vậy, đối với chuyện
học pháp môn này, chúng tôi đặc biệt nói rất rơ
ràng cùng quư vị: “Đức
hạnh chưa thành tựu mà lạm dự nhiều pháp môn
sẽ bị trở ngại, không đạt lợi ích. Nhất
định phải đạt đến tam-muội
hiện tiền [mới được học nhiều
pháp môn]”. Chúng tôi lại hạ thấp tiêu chuẩn này thành
“không có ư niệm tự tư tự lợi, không có ư
niệm danh văn, lợi dưỡng, không bị ngũ
dục, lục trần bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc” th́
mới được, không sai chạy cho lắm. Quư
vị có được công phu ấy, nhưng không có
đại trí huệ, chẳng thể đại triệt
đại ngộ, nhưng vẫn có chút tiểu trí
huệ. Nếu trí huệ của quư vị thực sự
hiện tiền th́ có thể lạm học nhiều pháp môn
khác, có thể tham học, có thể mở rộng không gian
học tập, học rộng, nghe nhiều, thành tựu
Hậu Đắc Trí.
Một mặt thành tựu Hậu
Đắc Trí, một mặt tăng trưởng
Định - Huệ của ḿnh. Trong quá tŕnh tu học,
nếu quư vị thấy ḿnh dần dần xa ĺa Giới -
Định th́ phải đặc biệt chú tâm cẩn
thận, gấp gáp quay đầu. V́ sao? Quư vị đă sai
rồi! Trí huệ đă mở mang, đă đạt
được Hậu Đắc Trí rồi th́ Giới - Định
nhất định phải tăng trưởng, chẳng thể
lui sụt. Huệ giúp cho Giới tăng tấn, giúp cho
Định tăng tấn, đó là điều khẳng
định. Tuyệt đối chẳng thể nói:
Huệ hiện tiền, Giới và Định không c̣n
nữa! Đấy là ma, đâu phải là Phật! Chúng tôi
giới thiệu Tứ Hoằng Thệ Nguyện
đến đây thôi. Câu tiếp theo là xưng tán Phổ
Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát:
南無普賢王菩薩摩訶薩。
“Nam-mô”
nghĩa là quy y, lễ kính. Phổ Hiền Bồ Tát
được xưng là Vương, tức là đặc
biệt tôn kính Ngài. Phổ Hiền Bồ Tát là một vị
trong Hoa Nghiêm Tam Thánh, điều này chúng ta đă biết quá
rơ rồi. Phổ Hiền (Samantabhadra) c̣n được
dịch là Biến Cát: Biến (遍) là
phổ biến, Biến có nghĩa là rộng khắp; Cát
Tường cũng có nghĩa là Hiền. Tại Trung
Quốc, danh hiệu Ngài được dịch là Biến
Cát cũng không ít, nên tôi đặc biệt nêu ra cho mọi
người biết. H́nh tượng và danh hiệu của
Phật, Bồ Tát đều nhằm biểu thị pháp, kinh
Hoa Nghiêm đă nói đến rất nhiều. Phổ
Hiền Bồ Tát đại biểu cho lư đức,
định đức, hạnh đức của chư
Phật. Nói thật ra, những điều ấy
đều là tánh đức của Tự Tánh.
Trong phần trước, thiền sư
Trung Phong đă nói rất hay: “Ngă
tâm tức thị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức
thị ngă tâm” (Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật chính là tâm ta). Hai câu này chúng ta chẳng thể coi
thường lướt qua, chúng có ư nghĩa rất sâu,
đối với sự tu học của chúng ta mà nói th́ chúng
có ích rất lớn. Biết được điều ǵ?
Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm. Nói đến Phật
đức chính là nói đến tánh đức. Phổ
Hiền Bồ Tát tượng trưng cho lư đức,
tức lư Chân Như Tự Tánh của chúng ta. Lư Chân Như
là Biến Cát, là Phổ Hiền: Phổ (普) là b́nh đẳng, không cao thấp. Quư
vị phải hiểu được ư nghĩa này: Tánh
đức, bản đức, đại đức
của chúng ta bất sanh, bất diệt, không đến,
không đi, vĩnh viễn chẳng bị mất đi,
chẳng v́ chúng ta sanh tử luân hồi mà chuyển
biến. Sanh tử luân hồi là duyên, Pháp Tánh chẳng tùy
thuộc cái duyên ấy. Dẫu cho duyên có tụ - tán, có sanh -
diệt, Pháp Tánh chẳng tùy thuộc vào những duyên
ấy. Pháp Tánh không tụ - tán, không sanh - diệt. V́
thế, tánh đức là chân thường. Bọn phàm phu
chúng ta đáng thương, mê mất Tự Tánh ấy; v́ mê
mất Tự Tánh nên đương nhiên tánh đức
chẳng thể hiện tiền.
Nay chúng ta khởi tâm động
niệm, đối với hết thảy người,
sự, vật, nói chung đều thấy ḿnh giỏi,
người khác không bằng ḿnh, [do vậy, ta] không có đức
hạnh Phổ Hiền. Chẳng biết hết thảy
người, sự, vật trọn khắp pháp giới,
hư không giới b́nh đẳng với ta, quyết
định không có cao hay thấp. Chúng ta tôn trọng
người khác là tôn trọng tánh đức của chính ḿnh.
Lễ kính người khác là tôn trọng tánh đức
của chính ḿnh. Chân tướng sự thật này không ai
biết cả. V́ sao chúng ta phải hiếu thảo với
cha mẹ? Hiếu thảo với cha mẹ chính là tôn
trọng tánh đức của chính ḿnh. V́ sao phải tôn
sư? Tôn sư chính là tôn trọng tánh đức của
chính ḿnh, chắc chắn thầy chẳng mong
được người khác tôn kính. Thầy mong
được người khác tôn kính th́ là tiểu nhân,
chẳng phải là quân tử. V́ sao? Không ĺa được
danh văn, lợi dưỡng. Bậc quân tử chân chánh
khởi tâm động niệm, hết thảy hành vi
đều tùy thuận lời thánh nhân dạy dỗ, thánh
nhân không dạy họ những điều ấy (tức là
không dạy con người tùy thuận danh văn lợi dưỡng).
Quân tử là kẻ chưa chứng
đắc, hiền nhân đă chứng được
mấy phần, thánh nhân chứng đắc viên măn. “Thánh,
hiền, quân tử” trong Nho gia được Phật giáo
gọi là Phật, Bồ Tát, A La Hán, là những bậc
thiện tri thức của người học Phật.
Phật và Pháp Thân Bồ Tát chứng đắc viên măn, là
thánh nhân; Thanh Văn, Duyên Giác đă chứng được
một ít, chưa viên măn, là hiền nhân. Chúng ta là phàm nhân, là
phàm phu trong lục đạo, thực sự trừ
được vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, chúng tôi thường nói là “vứt bỏ thành
kiến của chính ḿnh”, hết thảy tùy thuận giáo
huấn của Phật, Bồ Tát, y giáo phụng hành, Nho gia
gọi người như vậy là “quân tử”.
Kinh luận không dạy chúng ta như thế,
mà chúng ta vẫn c̣n có tập khí như thế, đủ
chứng tỏ chúng ta đáng gọi là “hạng nghiệp
chướng sâu nặng”. Vẫn tự ḿnh khen ngợi
ḿnh, hủy báng người khác, ghen ghét người khác,
chướng ngại người khác, trọn vẫn
thấy ḿnh hơn người khác một chút. Ấy là phàm
phu, chưa phải là quân tử. V́ thế, quy mạng,
xưng tán, không ǵ chẳng tùy thuận tánh đức, không
ǵ chẳng nhằm giúp chúng ta khôi phục tánh đức.
Tánh đức là cái vốn sẵn có, nhưng bị mê
mất, nay Phật, Bồ Tát dùng những phương pháp
ấy giúp chúng ta khôi phục. Đạo lư là đây!
Do vậy, chúng ta phải hiểu Phổ
Hiền Bồ Tát tượng trưng cho chân lư, chân
định, tánh định, đại hạnh trong tánh
đức, là Phổ Hiền đại hạnh.
Đại hạnh là ǵ? Ở phần trên đă nói
đến mười nguyện. Trong mười nguyện,
lễ kính là đại hạnh, đại hạnh Phổ
Hiền tự nhiên lưu lộ từ tánh đức. Cung
kính đối với hết thảy chúng sanh và cung kính
đối với chư Phật Như Lai không khác ǵ nhau, nhưng
trên mặt h́nh thức lại khác nhau. Chúng ta thấy h́nh
tượng Phật, Bồ Tát bèn đảnh lễ ba
lạy, nhưng không thể thấy bất cứ muỗi,
trùng, kiến ǵ cũng đảnh lễ chúng nó ba lạy,
làm như thế là trật! Trên mặt h́nh thức th́ không
giống nhau, nhưng ư niệm cung kính bên trong hoàn toàn
tương đồng. Chúng ta cung kính muỗi, trùng, kiến
giống hệt như cung kính chư Phật Như Lai, b́nh
đẳng mà! Nhưng trên mặt nghi thức th́ phải
tùy thuận thế gian. Phải tham thấu lư rồi
mới biểu hiện qua hành động.
Lại nói thêm về Văn Thù Bồ Tát;
hai vị Bồ Tát này (tức Phổ Hiền và Văn Thù)
thường ở cùng một chỗ:
1) Văn Thù Bồ Tát là Trí Đức
của tánh đức. Quư vị thấy Phổ Hiền
tượng trưng cho Lư, Văn Thù tượng trưng
cho Trí, Lư và Trí thành một cặp.
2) Phổ Hiền biểu thị
Định, Văn Thù biểu thị chứng đắc,
chỉ Trí mới có thể chứng; nhưng chỉ có
Định mới có thể khai Trí, chỉ Trí mới có
thể chứng. Trí và Hạnh thành một cặp chẳng
thể tách rời.
3) Thứ ba, Văn Thù biểu thị Tam
Muội, Phổ Hiền biểu thị Bát Nhă. Tam Muội
và Bát Nhă thành một cặp.
Như vậy, quan hệ giữa hai
vị Bồ Tát này rất rơ ràng như sau: Lư - Trí, Hạnh -
Chứng, Tam Muội - Bát Nhă.
Bên cạnh hết thảy chư
Phật Như Lai luôn có Văn Thù, Phổ Hiền, biểu
thị pháp đấy! Do vậy, quư vị thấy trên
Đại Hùng bảo điện thờ Phật, Bồ
Tát, có rất nhiều nơi thờ như thế này: Chính
giữa là Thích Ca Mâu Ni Phật, hai bên là Văn Thù và Phổ
Hiền. Pháp Đại Thừa đại khái đều thờ
như vậy. C̣n cách thờ phượng của pháp
Tiểu Thừa th́ chính giữa thờ Thích Ca Mâu Ni
Phật, hai bên là Ca Diếp và A
Chúng ta thường thấy ngài Văn
Thù cưỡi sư tử ở bên trái đức
Phật, vị trí của Ngài là bên tay trái đức
Phật. Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà,
vị trí của Ngài là bên tay phải đức Phật. Lư
- Trí, Hạnh - Chứng, Tam Muội - Bát Nhă viên măn, thảy
đều viên măn được tượng trưng
bằng Tỳ Lô Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na Biến
Nhất Thiết Xứ, biểu thị đại viên măn.
V́ thế một bộ kinh đồ sộ Hoa Nghiêm chính là
để giảng về pháp môn viên tu viên chứng của
một đức Phật, hai vị Bồ Tát. V́ thế,
các Ngài được gọi là “Hoa Nghiêm Tam Thánh”. Ba vị
tượng trưng cho bản thể của hết
thảy hạnh đức, v́ thế kinh Hoa Nghiêm nói
đến mười đại nguyện. Chúng tôi
giới thiệu Phổ Hiền Bồ Tát một cách
đơn giản. Nếu giảng tường tận th́
khi giảng kinh Hoa Nghiêm chúng tôi đă nói nhiều lắm
rồi.
Ở đây, pháp sự đến chỗ
này th́ hết thảy đều phải kết quy nơi
tánh đức. Ở đây, niệm Nam Mô Phổ Hiền
Vương Bồ Tát Ma Ha Tát nhằm kết quy nơi tánh
đức, phải hiểu đạo lư này. Tiếp theo
lại có một đoạn khai thị, chúng ta hăy xem kinh
văn:
17. Khai thị vong linh
Thượng lai sám hối phát nguyện
dĩ cánh.
上來懺悔發願已竟。
(Trên
đây, sám hối phát nguyện đă xong)
Ở trên nói “văng
tích sở tạo chư ác nghiệp” là sám hối; “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ” là phát nguyện. Đến đây là đă
xong phần sám hối phát nguyện.
Vong linh mỗ đương tri.
亡靈某當知。
(Vong linh…
hăy nên biết)
“Mỗ” là v́ người nào làm [pháp sự này]
th́ ở đây đem tên họ người ấy viết
vào đây. Quư vị nên biết như thế.
Phù Tịnh Độ chi vi giáo dă.
夫淨土之為教也。
(Phàm là giáo
pháp Tịnh Độ)
“Phù” (夫) là trợ từ,
không có ư nghĩa ǵ hết. “Tịnh
Độ chi vi giáo dă” tức là giáo học Tịnh
Độ.
Ngưỡng thừa A Di Đà Phật
tứ thập hữu bát đại từ đại bi
thâm trọng nguyện lực, nhiếp thủ thập
phương nhất thiết chúng sanh. Phàm cụ tín tâm
giả, giai đắc văng sanh.
仰承阿彌陀佛四十有八大慈大悲。深重願力。攝取十方一切眾生。凡具信心者。皆得往生。
(Ngửa
nhờ A Di Đà Phật có sức đại từ
đại bi sâu nặng của bốn mươi tám
nguyện, thâu nhiếp mười phương hết
thảy chúng sanh. Hễ ai đầy đủ tín tâm
đều được văng sanh).
Đây là đặc biệt giảng rơ
giáo học Tịnh Độ cho vong linh. Sự việc này
há chẳng phải là đă dính vào mê tín hay sao? Quư vị chớ
bảo là mê tín, thực sự có việc này đấy.
Không phải chỉ một người, tôi đă gặp
rất nhiều. Có người buổi tối, đại
khái là năm giờ chiều trở đi, muốn niệm
Tam Thời Hệ Niệm bèn có rất nhiều quỷ
thần. Thật đấy, quư vị niệm pháp sự
này th́ quỷ thần đều chiêu tập đến. Có
lúc quư vị chẳng mười phần thành kính, quỷ
thần bèn gây phiền phức cho quư vị. C̣n có kẻ
buổi tối tụng kinh Địa Tạng cũng
gặp quỷ thần đến nhiễu loạn không
thể ngủ được. Chẳng phải là một
hai người mà là rất nhiều người [bị
như thế]. Chuyện này không phải là một hai
người ngẫu nhiên phát sanh, tôi đă thấy rất
nhiều, nghe nói đến rất nhiều.
Hiện thời chúng tôi đọc được
những báo cáo khoa học, nay ở Mỹ, ở Gia Nă
Đại đang nghiên cứu về đời
trước và đời này, người nghiên cứu luân
hồi rất đông, báo cáo rất nhiều. Những
đồng học bên ấy thâu thập cho chúng tôi
đến hơn ba mươi loại nổi tiếng
nhất. H́nh như là lúc phong trào nghiên cứu này
được khởi xướng tại Mỹ và Gia Nă Đại,
mọi người đều biết, họ thâu thập
những bằng chứng rơ ràng nhất nhiều đến
hơn ba mươi loại gởi về học viện
chúng ta. Chuyện này ở Trung Quốc c̣n nhiều hơn
nữa, nhiều hơn ngoại quốc nhiều lắm.
Trong những bút kư đọc sách của cổ nhân,
chắc mọi người rất quen thuộc là bộ
Duyệt Vi Thảo Đường Bút Kư của Kỷ
Hiểu Lam có nhắc đến rất nhiều. Trong bút kư
tiểu thuyết th́ như Liêu Trai Chí Dị, Tử Bất
Ngữ, Di Kiên Chí[5],
trong những loại thư tịch như vậy đă
chép rất nhiều.
Bản thân chúng tôi cũng đă từng
gặp qua, tôi cũng đă từng kể cho đại
chúng nghe rồi. Khi tôi c̣n trẻ, chính bản thân tôi đă
gặp. Bản thân lăo cư sĩ Châu Kính Trụ cũng
từng gặp nên cụ mới tin. Trước khi cụ
gặp chuyện, nhạc phụ của cụ Châu là
cụ Chương Thái Viêm làm phán quan của Đông
Nhạc Đại Đế; cụ Chương kể cho
cụ Châu nghe rất nhiều chuyện quỷ thần.
Cụ Châu đều cho đó là chuyện truyền kỳ,
không thèm tin. Đến khi chính cụ thực sự
thấy, cụ mới tin tưởng [những chuyện cụ
Chương đă kể] hoàn toàn là thật, không giả.
Tôi quen biết ông cụ này (cụ Châu), khi ấy cụ
đă sáu mươi chín tuổi, tôi mới hai mươi
mấy. Cụ xem chúng tôi như cháu nội, rất yêu
mến, thường kể cho chúng tôi những câu
chuyện xưa. Những chuyện cũ ấy đều
là những chuyện chính cụ đă từng trải trong
cả một đời, chứ không phải là nghe ai
kể lại.
Nay chúng tôi thực sự hiểu rơ,
vật chất bất diệt, tinh thần cũng bất
diệt, chỉ là tụ hay tán mà thôi; nhưng vật
chất có khi tụ, có khi tán, chứ linh hồn – như
chúng ta thường gọi – không bao giờ tụ hay tán. Khác
với vật chất, nó không tụ - tán, chỉ tùy theo
nghiệp lực mà chuyển thế đầu thai, linh tánh
bất diệt. Tuy thế, linh hồn vẫn không phải
là thật, ǵ mới là thật? Pháp Tánh là thật. Pháp Tánh
như như bất động. Linh hồn là ǵ vậy?
Nhà Phật gọi nó là “thần thức”, tức là Pháp Tánh
đă bị mê. Pháp Tánh không mê toàn bộ, chỉ mê cục
bộ, nên mới có hiện tượng như thế. Nó
không phải là chân thật nhất, nhưng phải chân
thật hơn vật chất. Vật chất tụ - tán,
sanh - diệt, vô thường; thần thức cũng là
ngưng tụ, do mê vọng ngưng tụ thành, phải
đến khi nào đại triệt đại ngộ, nó
mới trở về với Tự Tánh. Chưa đại
triệt đại ngộ th́ thần thức vẫn
tồn tại. Giống như trong hư không, một chút
mê hoặc giống như một phiến mây bềnh
bồng khắp nơi, không tan. Đến khi đại
triệt đại ngộ th́ cũng như gặp
trận gió lớn thổi tan mây, không c̣n nữa, trở
về với Tự Tánh, đó gọi là “chuyển phàm thành thánh”.
Giáo
pháp Tịnh Độ từ đâu mà có? Căn cứ trên
bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật mà
có. V́ thế, bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô
Lượng Thọ chính là cốt lơi của Tịnh
Độ, là lư luận căn bản của Tịnh
Độ. “Ngưỡng
thừa” là tâm t́nh thái độ tôn kính, “A Di Đà Phật tứ thập hữu bát đại
từ đại bi thâm trọng nguyện lực” (sức
đại từ đại bi sâu nặng của bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật) chính là
những ǵ kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Chúng tôi
giảng kinh Vô Lượng Thọ đă giới thiệu
cặn kẽ cùng quư vị rồi: Một bộ Vô
Lượng Thọ kinh nhằm thuyết minh bốn mươi
tám nguyện, bốn mươi tám nguyện là cốt lơi
của kinh Vô Lượng Thọ. Chúng ta tu hành
đương nhiên phải nắm được cốt
lơi, nắm chắc nguyên lư, nguyên tắc. Những
điều đó Phật pháp gọi là “pháp môn Tổng Tŕ”, bốn mươi tám nguyện
là pháp môn Tổng Tŕ. Thế nhưng chúng ta nhất
định phải hiểu biết cho tinh thuần, tu hành
phải nắm được cương lănh, càng
đơn giản càng hay. Nếu muốn giải thích th́
càng giải thích tường tận càng tốt. Giải thích
nên tường tận, c̣n tu hành phải nắm
được cương lănh.
Bốn mươi tám nguyện nhằm
vào chuyện ǵ vậy? “Nhiếp
thủ thập phương nhất thiết chúng sanh” (thâu
nhiếp mười phương hết thảy chúng sanh).
Nhiếp (攝)
là nhiếp thọ (攝受: thâu nhận,
dung nạp), Thủ (取) nay nói là “ghi
vào sổ bộ”. Hiện nay trên thế giới, quá
nửa các quốc gia mở cửa cho di dân, nếu quư
vị xin vào, họ có nhận quư vị hay không? Thâu nhận,
tiếp nhận mười phương hết thảy
chúng sanh; mười phương hết thảy chúng sanh
muốn di dân sang Tây Phương Cực Lạc thế
giới, A Di Đà Phật đều hoan nghênh, thế
nhưng vẫn có điều kiện, điều kiện
ǵ vậy? Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại
sư đă giảng là phải có tín - nguyện. Quư vị
phải có ḷng tin, phải có nguyện mới
được. V́ thế, ở đây, thiền sư Trung
Phong nói: “Phàm cụ tín tâm giả,
giai đắc văng sanh” (phàm ai đầy đủ tín
tâm đều được văng sanh). Quư vị không tin,
không nguyện là không được, dẫu Phật
nhiếp thọ nhưng không có cách nào giữ lấy quư
vị được.
Tín giả.
信者。
(Tin là).
Thế nào là Tín? Tín gồm ba
điều, thứ nhất là:
Tín hữu Tây Phương Tịnh
Độ.
信有西方淨土。
(Tin có Tây
Phương Tịnh Độ).
Điều này hết sức quan
trọng. Quư vị phải hoàn toàn khẳng định
phương Tây của thế giới Sa Bà có thế
giới Cực Lạc, có một thế giới tên là
Cực Lạc. Đây là điều đầu tiên phải
tin tưởng. Điều thứ hai là:
Tín hữu A Di Đà Phật…
信有阿彌陀佛。
(Tin có A Di
Đà Phật).
Hoàn toàn giảng trên mặt sự tướng.
Thực sự có một đức A Di Đà Phật, có
một vị Phật mang đức hiệu là A Di Đà
Phật.
Nhiếp thủ chúng sanh chi sự.
攝取眾生之事。
([Tin có]
chuyện A Di Đà Phật nhiếp thủ chúng sanh).
Ta thường gọi “nhiếp thủ chúng sanh” là “tiếp dẫn chúng sanh”. Quư vị có tín, có
nguyện th́ quả thật Phật đến tiếp
dẫn quư vị. Đây là điều thứ hai.
Điều thứ ba là:
Ngă đẳng chúng sanh tín hữu văng sanh
chi phận.
我等眾生。信有往生之分。
(Tin
bọn chúng sanh chúng ta có phần được văng sanh).
Quư vị nhất định phải
tự tin điều này, tin tưởng chính ḿnh có bổn
phận văng sanh. Nói theo cách hiện thời, chữ Phận
(分) ở đây chính là “điều
kiện, tư cách”. Chúng ta tin tưởng chính ḿnh có
điều kiện văng sanh, có tư cách văng sanh,
điều này rất quan trọng. Nếu quư vị không
hội đủ ba tín tâm ấy sẽ chẳng thể văng
sanh. Nếu thực sự hội đủ ba tín tâm ấy
th́ trong thế gian hiện thực này, tư tưởng,
ngôn ngữ, hành vi của quư vị không giống mọi
người. Khác ở chỗ nào? Mọi người tham
luyến thế giới này, đâu đâu cũng muốn
làm chủ thế giới. Nếu quư vị thực sự
tin vào Tây Phương Cực Lạc thế giới,
muốn làm người của Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ thế gian này là chỗ ta lữ
du, chúng ta dạo chơi xem phong cảnh, tuyệt
đối chẳng nẩy sanh mảy may ư niệm lưu
luyến ǵ. Nói cách khác, bất cứ khi nào cũng buông
xuống được, mảy may lưu luyến cũng
chẳng có. Nhà của ḿnh ở thế giới Cực
Lạc, chứ đâu phải ở đây, chỗ này là
chỗ dạo chơi thôi! Tư tưởng, ngôn ngữ,
hành vi của người ấy biến đổi.
Nếu đối với thế gian này vẫn c̣n lưu
luyến, c̣n mong đạt được điều ǵ th́
là quư vị chưa tin. Quư vị cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, vừa nghĩ đến thế
giới Cực Lạc vừa muốn được
ở nơi đây, mong được cả hai, chớ
hề có chuyện ấy đâu nhé! A! Bây giờ đă
hết giờ rồi!
*
Xin hăy xem đoạn văn
kế tiếp:
Nhiên tuy vị Di Đà nhiếp
thủ chúng sanh văng sanh, yếu tín duy thị tùy tâm tự
hiện, cảm ứng đạo giao, cứu cánh phi tùng
ngoại đắc. Như thị tín giả, thị vi chân
tín.
然雖謂彌陀攝取眾生往生。要信唯是隨心自現。感應道交。究竟非從外得。如是信者。是為真信。
(Dù
nói là Di Đà nhiếp thủ chúng sanh văng sanh, phải tin
đấy chỉ
là tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao, rốt ráo chẳng phải do từ bên
ngoài mà có. Tin như thế
mới là chân tín).
Đến đây là hết
một đoạn. Đoạn này dạy chúng ta: Không
những tin vào Sự mà c̣n phải tin nơi Lư. V́ sao?
Đấy mới là chân tín. Tin tưởng Sự nhưng
không biết đến Lư th́ có thể văng sanh hay không? Có
thể văng sanh! Sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ.
Nếu quư vị hiểu được đạo lư này
th́ phẩm vị càng cao hơn. Quả thật có chuyện
ấy, Lư cũng là chân, Lư lẫn Sự đều là chân. Chớ
nên tin Lư phế Sự, nếu vậy là hỏng rồi,
chẳng bằng tin Sự không hiểu Lư mà thực sự
được văng sanh. Nếu tin vào Lư mà coi thường
Sự, sẽ chẳng thể văng sanh. Đấy mới
gọi là Chân Tín!
Dẫu nói đến chuyện
A Di Đà Phật tiếp dẫn văng sanh (chúng ta gọi “nhiếp thủ chúng sanh” là
tiếp dẫn, hay tiếp dẫn văng sanh) “yếu tín duy thị tùy tâm tự hiện, cảm
ứng đạo giao” (phải tin đấy chỉ là
tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao). “Tùy tâm tự hiện” là Lư, Kinh
Hoa Nghiêm giảng hết thảy pháp một cách rốt ráo
viên măn, ngay cả hư không, pháp giới, cơi nước,
chúng sanh chỉ do Tâm hiện. Tây Phương Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật cũng chẳng
ĺa tự tâm. V́ vậy, các đồng học tu Tịnh
Độ cũng thường nghe nói “duy tâm Tịnh Độ, Tự Tánh Di Đà”. Tách
rời tâm tánh th́ Di Đà lẫn Tịnh Độ
đều không có, đều chỉ do Tâm hiện, chỉ
do Thức biến. Đó là chân lư. Do vậy, hễ chúng ta
cầu, tức là có Cảm.
Chúng ta hy vọng sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di
Đà Phật để làm ǵ vậy? Hết thảy
chư Phật dạy chúng ta: Chỉ có sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới là hoàn cảnh tu
học tốt đẹp nhất; thân cận A Di Đà Phật
là thân cận vị thầy tốt nhất. Đă có
thầy giỏi lại có hoàn cảnh tu học tốt
nhất, ở nơi đó chúng ta có thể đoạn
phiền năo, có thể thành tựu pháp môn, có thể viên thành
Phật đạo. Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới để làm những chuyện này.
Thực hiện tốt những chuyện này rồi
lại thệ nguyện độ vô biên chúng sanh trọn
khắp pháp giới, hư không giới; chúng ta muốn làm
chuyện này chứ không nhằm chuyện ǵ khác. Muốn
viên thành Phật đạo, muốn tùy theo từng loài mà
hóa thân, rộng độ chúng sanh th́ không về thế
giới Cực Lạc sẽ chẳng được. Không
sanh về thế giới Cực Lạc sẽ không có
khả năng [làm được những việc ấy].
Không sanh về thế giới
Cực Lạc, bất luận tu một pháp môn nào, tu
đến thực sự thành công quả thật thời
gian rất dài, vô lượng kiếp, A-tăng-kỳ
kiếp, rốt cuộc tu đến thế giới Hoa
Tạng. Đến thế giới Hoa Tạng gặp
Văn Thù và Phổ Hiền, các Ngài vẫn bảo quư vị
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Quư vị hăy
nghĩ đi, như vậy nghĩa là sao? Cuối cùng
vẫn phải trở về Tịnh Độ, sao bây
giờ không về đó đi? Nếu đi ngay từ bây
giờ, giảm bớt được bao nhiêu chuyện,
giảm bao nhiêu là thời gian! Thành tựu mau chóng! Nếu
chúng ta hiểu được chân tướng sự
thật này, quả thật là “tùy
tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao”,
đấy chính là tin ḿnh có phần được văng sanh.
Quư vị có biết Tây Phương Tịnh Độ của
A Di Đà Phật có liên quan với chúng ta đến
ngần nào hay không? Đều do chính tâm tánh của chúng ta
biến hiện. Thế nhưng chúng ta mê mất tâm tánh của
chính ḿnh, đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới mới có thể thực sự minh tâm kiến tánh;
đấy mới là thực sự thấy thật rơ chân
tướng.
“Cứu
cánh phi tùng ngoại đắc” (rốt ráo chẳng
phải do từ bên ngoài mà được), bên ngoài không có
ǵ hết, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm. “Như thị tín giả” (tin như thế) là chân
tín. Tin Phật, mọi người chúng ta tin Phật,
nhưng nói thật ra là mê tín! V́ sao gọi là mê tín? Không biết
Phật là ǵ, chuyện ǵ cũng không biết cũng cứ
tin tưởng, cũng đến quy y, v́ thế thực
sự là mê tín. Tốt hơn một chút trong ấy là trong
mê tín lại có điều kiện, có điều kiện
ǵ vậy? Thực sự tin tưởng Thích Ca Mâu Ni
Phật là bậc trí huệ, là người có đại đức
hạnh, đức Phật chẳng lừa dối chúng ta.
Chúng tôi thường nói là tin tưởng vào nhân cách của
Thích Ca Mâu Ni Phật, tin tưởng đức Phật là
người tốt, Ngài chẳng lừa dối chúng ta,
lời Ngài nói nhất định là đúng. Như thế
gọi là Chánh Tín, tức là ḷng tin có lư luận làm cơ
sở, chứ không theo Phật mù quáng.
Càng sâu hơn một tầng nữa là
thân cận Phật đă lâu, đối với những lư
luận sự lư trong giáo nghĩa kinh Phật đă đạt
được tŕnh độ thông hiểu kha khá, đó là Chánh
Tín, Chánh Tín ở mức độ cao, đến mực
này mới gọi là “chân tín”;
nhưng ḷng chân tín ấy vẫn chưa phải thực
sự là chân, mà là Tương Tự Chân. Chúng ta tin “tùy tâm tự hiện, cảm
ứng đạo giao”, hay c̣n có thể nói là “chỉ do tâm hiện, chỉ do
thức biến”. Chúng ta c̣n chưa chứng đắc,
nếu thực sự chứng đắc sẽ được
tự tại. Muốn chứng đắc trong thế gian
này khó lắm, rất ư là khó! Đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới sẽ chứng đắc,
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
mới là chân tín thực sự. Hiện tại chúng ta
chỉ là tương tự chân tín, đă hiểu rơ về
Lư, cũng giống như các nhà khoa học hiện thời
vậy.
Khi trước, Chung cư sĩ đă
đến báo cáo cùng chúng ta: Gần đây nhất, các nhà
khoa học phát hiện ba điều. Phát hiện thứ
nhất là không gian và thời gian dưới một
điều kiện nào đó sẽ không tồn tại.
Điều này kinh Phật đă nói đến rồi, nay
họ mới tin. Tin là tin trên mặt Lư, chứ về
mặt Sự chưa từng thấy. Phát hiện thứ
hai là ǵ? Có từ trong Không mà ra, trong Không sanh ra Có, Không có
thể sanh ra Có, Có lại trở về Không. Đây cũng
là phát hiện trên mặt Lư, họ tin tưởng; chứ
trên mặt Sự, chưa có cách ǵ chứng minh
được. Thứ ba là khởi nguyên của vũ
trụ, hiện tại khởi nguyên ấy là nhất
thời đốn hiện, đây cũng là tin
tưởng trên mặt Lư. Những điều này kinh
Phật đều đă từng nói đến, nhưng
không phải là cảnh giới của chúng ta v́ ḿnh chưa
chứng đắc. V́ thế, niềm tin ấy cũng có
thể nói là chân tín, nhưng chưa phải là chân tín chân
chánh, quả thật có lư luận cao sâu làm căn cứ.
Chúng ta tin tưởng lời giáo huấn của thiền
sư Trung Phong; tin tưởng sâu xa không nghi sẽ
quyết định văng sanh. Tiếp theo, Ngài nói:
Tín nhi vô Hạnh, tức bất
thành kỳ tín.
信而無行。即不成其信。
(Tín nhưng thiếu Hạnh
th́ tín ấy chẳng thành).
V́ Tín - Nguyện - Hạnh tuy một
mà ba, tuy ba nhưng một, có được một th́
nhất định phải có cả ba. Nếu thiếu
một điều, ḷng tin của quư vị không phải là
chân tín, mà Hạnh cũng chẳng phải là chân hạnh.
Hễ quư vị có Tín th́ nhất định phải có
Nguyện, có Hạnh. Có Hạnh nhất định có
Nguyện, nhất định có Tín. Một mà ba, ba nhưng
một, như ba chân của cái đảnh, chẳng
thể thiếu được một. Chúng ta muốn biết
một cá nhân tin hay không tin th́ hăy dựa vào đây để
xét. Do vậy, không có Hạnh th́ “bất
thành kỳ tín” (tín ấy chẳng thành).
Hạnh giả, Lăng Nghiêm kinh
vân: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế, bất giả phương tiện, tự
đắc tâm khai”.
行者楞嚴經云。都攝六根。淨念相繼。不假方便。自得心開。
(Hạnh th́ như kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối, chẳng nhọc phương tiện, tự
được tâm khai”).
Những điều
được giảng trong kinh Vô Lượng Thọ
từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba
mươi bảy chính là tiêu chuẩn thấp nhất
của nhiễm và tịnh, “tịnh
niệm tiếp nối”! Chuyển nhiễm thành tịnh
như thế nào? “Đô nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế” (Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối),
Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta như
thế. Bí quyết tu hành của Tịnh Tông chính là
mười sáu chữ này, “bất
giả phương tiện, tự đắc tân khai” (chẳng
nhọc phương tiện, tự được tâm khai),
[nghĩa là] chẳng cần phải nhờ vào phương
pháp nào khác hỗ trợ, thực sự đơn giản,
dễ dàng, nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, chẳng
cần phải thêm vào loại Thiền nào hay thêm vào chú nào,
không cần thêm ǵ vào hết, chỉ là “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối). Hiệu quả là “tự đắc tâm khai” (tâm tự khai ngộ). “Tự đắc tâm khai” là tâm
khai ư giải, Thiền Tông gọi chuyện này là
đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, có
cùng một cảnh giới, tức là một câu danh
hiệu niệm đến mức nhất tâm bất
loạn.
Công phu tiến triển, tất
nhiên là công phu thành phiến, Sự nhất tâm bất
loạn, Lư nhất tâm bất loạn, mấu chốt
ở chỗ quư vị có thể nhiếp trọn sáu căn
hay không? Hiện tại, ngay cả công phu thành phiến mà chúng
ta cũng không đạt được, gốc bệnh
nằm đâu? Chẳng thể nhiếp trọn sáu căn. Mắt
luôn chạy theo sắc bên ngoài, tai thường chạy theo
tiếng bên ngoài, sáu căn thường chạy theo
cảnh giới sáu trần bên ngoài, không thâu hồi lại.
Nhiếp trọn sáu căn chính là như Mạnh phu tử
đă nói: “Học vấn chi đạo
vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học
vấn không có ǵ khác cả, cốt sao thâu hồi cái tâm đă
buông lung mà thôi). Quư vị buông thả cái tâm ra ngoài th́ làm sao
có thể thâu hồi được? Nhiếp trọn sáu
căn chính là thâu hồi. Thâu hồi mắt từ nơi
sắc, thâu hồi tai từ nơi tiếng, hễ thâu
hồi được th́ quư vị sẽ an tịnh,
sẽ định. Quư vị không thâu hồi
được th́ sẽ chịu ảnh hưởng của
cảnh giới bên ngoài. Nói dễ hiểu nhất theo cách bây
giờ là sáu căn không c̣n chịu ảnh hưởng
của cảnh giới sáu trần bên ngoài nữa th́ quư
vị mới có thể giữ được tịnh
niệm tiếp nối!
Nhĩ căn lanh lợi
nhất, nghe người ta khen ngợi, vui sướng
hết sức; nghe người ta hủy báng, chửi rủa
ḿnh mấy câu, nóng giận mấy ngày. Làm thế nào đây?
Ấy chính là quư vị không có cách ǵ nhiếp trọn sáu
căn, tâm chưa được thanh tịnh. Thực
sự thâu hồi [cái tâm buông lung] th́ thấy sắc
tuyệt đối chẳng chịu ảnh hưởng
của Sắc pháp, nghe tiếng cũng quyết
định chẳng bị ảnh hưởng bởi Thanh
trần, tâm vĩnh viễn trong Định. Mũi ngửi
mùi thơm, thơm hay thối hệt như nhau;
lưỡi nếm vị, năm vị như một, tức
là như nay ta thường nói: “Không
có ngon - dở, không có xấu - tốt!” Tâm
được b́nh đẳng, tâm được thanh
tịnh.
Mọi người chúng ta
niệm Phật, nói đơn giản là “tịnh niệm”, niệm là niệm A Di Đà
Phật, “tịnh” là không có hoài nghi, không xen tạp,
đấy là Tịnh. Không hoài nghi, không xen tạp, tiếp
nối không gián đoạn, không xen tạp là công phu thực
sự. Phàm phu chẳng thể thành tựu công phu ấy v́
không có chân tín, có nghi, có xen tạp, xen tạp với mức
độ lớn, khiến cho công phu niệm Phật hoàn
toàn bị phá hoại. Kinh Lăng Nghiêm nói như vậy
đó, c̣n như kinh A Di Đà giảng th́ chúng tôi đă tŕnh
bày rồi, chúng ta hăy đọc một lần là
được:
A Di
Đà kinh vân: “Nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật,
chấp tŕ danh hiệu, nhược nhất nhật,
nhược nhị nhật, năi chí thất nhật, nhất
tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di
Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ
tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên
đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật
Cực Lạc quốc độ”.
阿彌陀經云。若有善男子。善女人。聞說阿彌陀佛。執持名號。若一日。若二日。乃至七日。一心不亂。其人臨命終時。阿彌陀佛與諸聖眾。現在其前。是人終時。心不顛倒。即得往生阿彌陀佛極樂國土。
(Kinh A Di Đà nói: “Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói đến A
Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu hoặc một
ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm
bất loạn. Người ấy lúc mạng chung, A Di
Đà Phật và các thánh chúng hiện ở đằng
trước. Người ấy khi mạng chung, tâm không
điên đảo, liền được sanh về cơi
nước Cực Lạc của A Di Đà Phật”)
Đoạn này trong phần trên
chúng tôi đă giảng rồi, khi giảng kinh đă nói
rồi.
Như thị hành giả thị
danh Chánh Hạnh.
如是行者。是名正行。
(Hành
như thế th́ gọi là Chánh Hạnh).
Quư vị b́nh thường
niệm Phật là tương ứng với kinh này,
tương ứng với kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng
Nghiêm giảng rất sâu, kinh Di Đà giảng trên mặt
Sự. Giảng trên mặt Sự, tương ứng
với kinh Lăng Nghiêm ở chỗ nào? Chấp tŕ danh
hiệu, nhất tâm bất loạn. “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối” là Nhân, tu nhân; c̣n Quả là nhất tâm bất
loạn. Như vậy, có nhất tâm bất loạn th́
đương nhiên có nhiếp trọn sáu căn và tịnh
niệm tiếp nối; có nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối, đương nhiên có cái
quả nhất tâm bất loạn, nhân quả tương
ứng. Hai bộ kinh này nói khác nhau nhưng cùng một công
dụng. Tu hành như thế mới gọi là Chánh Hạnh.
Đường chủ Niệm
Phật Đường thường ra rả câu Khẩu
Đầu Thiền, chúng ta nói câu ấy là Khẩu
Đầu Thiền v́ thời thời khắc khắc
thường kêu gào: “Phóng hạ
thân tâm thế giới, đề khởi chánh niệm” (Buông
thân tâm, thế giới xuống, dấy lên chánh niệm),
nói như vậy đó. Nhiếp trọn sáu căn là buông
thân tâm, thế giới xuống, chớ có phan duyên. Mắt
chẳng phan duyên theo sắc, tai chẳng phan duyên theo
tiếng, mũi không phan duyên theo hương, lưỡi
không phan duyên theo vị, thân không phan duyên theo xúc, ư không phan
duyên theo pháp. Thâu hồi mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ư lại, chẳng hướng ra ngoài phan duyên, tịnh
niệm tiếp nối, chẳng nhiễm mảy trần.
Lúc ấy, niệm một câu A Di Đà Phật bèn
tương ứng, một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương
ứng niệm niệm Phật. Tương ứng là
tương ứng cùng nhất tâm bất loạn, nhất
tâm bất loạn chính là Phật. Tiếp đó, lại
nói:
Hạnh nhi vô nguyện, tức
bất thành kỳ Hạnh.
行而無願。即不成其行。
(Hạnh nhưng không có nguyện
th́ Hạnh chẳng thành).
Điều này rất trọng
yếu, quư vị thấy đó: Không có Nguyện là không
được! Nguyện là ǵ?
Nguyện giả, yếu dữ A
Di Đà Phật tứ thập bát nguyện, nguyện
nguyện tương ứng, thị vi đại
nguyện dă.
願者要與阿彌陀佛。四十八願。願願相應。是為大願也。
(Nguyện th́ phải
tương ứng với bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật, phải tương ứng
với từng nguyện một. Đấy là đại
nguyện vậy).
Ở đây quan trọng
nhất là “tứ thập bát
nguyện, nguyện nguyện tương ứng”. Có
vậy, quư vị mới hiểu khi Tịnh Tông Học
Hội thành lập, v́ sao chúng tôi lấy kinh văn phẩm
thứ sáu của kinh Vô Lượng Thọ làm khóa tụng
buổi sáng là v́ ư nghĩa này. Tịnh Tông học nhân
khởi tâm động niệm đều phải ứng
với bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng
tương ứng th́ chắc chắn quư vị
được văng sanh, quyết định không có vấn
đề ǵ cả! V́ thế, tôi thường
thường khuyến khích mọi người đối
với những người hiểu lầm ư nghĩa
Bổn Nguyện, ta phải cảnh tỉnh cho họ không
hiểu lầm. Hiểu lầm sẽ phí uổng một
đời này, đến cuối cùng không thể văng sanh
được. Nếu quư vị chỉ tŕ mỗi một ḿnh
nguyện thứ mười tám, các nguyện khác không
cần đến th́ không được rồi!
Tổ sư nói bốn
mươi tám nguyện, nguyện nào cũng tương
ứng, nhưng quư vị chỉ tương ứng
với một nguyện là không được rồi! Bất
cứ một nguyện nào cũng bao quát bốn mươi
bảy nguyện kia. Thiếu một điều th́
nguyện ấy không viên măn. Bốn mươi tám
nguyện, các nguyện dung nhiếp lẫn nhau, bất
cứ một nguyện nào cũng trọn đủ viên măn
bốn mươi tám nguyện. Chúng ta phải hiểu rơ
đạo lư này, phải hiểu chân tướng sự
thật này, ngàn muôn phần chẳng được
hiểu lầm. Xưa nay tổ sư đại
đức đề xướng Bổn Nguyện Niệm
Phật không sai v́ mỗi một nguyện đều
nhiếp hết thảy nguyện. Đề xướng
lấy nguyện thứ mười tám làm trung tâm th́ không
sai, nguyện thứ mười tám bao hàm bốn
mươi bảy nguyện kia. Nguyện nguyện
tương ứng, nguyện nguyện viên măn, đó gọi
là “đại nguyện”. Tổ sư nói không sai, con
người chúng ta hiện thời hiểu sai ư nghĩa; nhưng
không hiểu ư nghĩa lời dạy của Như Lai, không
hiểu ư tứ của tổ sư đại đức;
nói thật ra, người thực sự hiểu
được cũng không nhiều lắm!
Tín - Hạnh - Nguyện tam, như
đảnh tam túc, khuyết nhất bất khả.
信行願三。如鼎三足。缺一不可。
(Tín - Hạnh - Nguyện ba
điều, như ba chân của cái đảnh, chẳng
thể thiếu một).
Câu này hết sức là quan
trọng! Đây chính là điều kiện để văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quư
vị phải trọn đủ Tín - Nguyện - Hạnh,
trong Tín có Nguyện, Hạnh. Trong Nguyện có Hạnh, Tín.
Trong Hạnh có Tín, Nguyện, dung nhiếp lẫn nhau,
quyết định chẳng thể đứng riêng lẻ
được. “Như đảnh
tam túc” (như ba chân của cái đảnh), khuyết
một chân th́ đảnh không đứng vững
được, phải đổ nhào. Điều này
chứng tỏ, thiếu một trong ba điều kiện
sẽ không thể văng sanh được, nhất
định phải hiểu chân tướng sự thật
này! Tiếp theo, Ngài lại khuyên thính chúng, thính chúng ở
đây là các quỷ thần, bảo chúng quỷ thần mà
cũng là bảo đại chúng hiện tiền chúng ta:
Kim nhĩ vong linh đương
tri: Hiện tiền nhất niệm, bổn tự viên
thường.
今爾亡靈當知現前一念。本自圓常。
(Nay vong linh nên biết: Một
niệm hiện tiền vốn tự viên măn, thường
hằng).
Quư vị hăy nên biết, quỷ
thần cần nên biết th́ chúng ta càng phải nên
biết. Một niệm hiện tiền của chúng ta là
viên măn, v́ sao [hiện thời niệm ấy] không viên măn? Là
v́ chính ḿnh có vọng tưởng, có phiền năo, khiến
cho tánh đức vốn sẵn viên măn nơi Tự Tánh
bị phá hoại, chướng ngại. Chúng sanh trong
lục đạo không ai là chẳng như thế.
Tín - Hạnh - Nguyện: Nguyên
thị tự kỷ bổn lai cụ hữu. Như
thị tánh đức.
信行願。原是自己本來具有。如是性德。
(Tín
- Hạnh - Nguyện: Nguyên chính ḿnh vốn sẵn
đủ. Tánh đức như thế).
Nói cách khác, Tín - Nguyện -
Hạnh là đức năng sẵn có của tự tánh,
chẳng phải đến từ bên ngoài. Hiện tại
nhờ chư Phật Như Lai giáo huấn, tổ sư
đại đức chỉ dạy:
Kim giả đản thị bổn
tánh quang minh hiển phát nhĩ.
今者但是本性光明顯發耳。
(Nay chỉ là quang minh của bổn
tánh tỏ lộ mà thôi).
Tín - Hạnh - Nguyện là quang
minh của bổn tánh, vốn sẵn đầy đủ
nơi bản tánh. Vấn đề hiện thời là ǵ?
Phật, Bồ Tát giáo huấn, tổ sư đại
đức chỉ dạy, chúng ta nghe thấy, có giác ngộ
hay chăng? Thực sự giác ngộ chính là quang minh nơi
tánh hiển phát. Tín phóng quang, Nguyện phóng quang, Hạnh
phóng quang, con người hiện tại gọi quang ấy
là “từ trường”, phát
xuất rơ ràng, tức là phá mê khai ngộ! Quư ở chỗ “đương tri nhất niệm
hiện tiền” (hăy nên biết một niệm hiện
tiền), quư ở chỗ “đương
tri” (nên biết), “biết” chính là thực sự giác
ngộ. Nếu quư vị không biết th́ vẫn là mê
hoặc, vẫn y như cũ “mê chứ không
giác, tà chứ không chánh,
nhiễm chứ không tịnh”. Chúng đều liên quan
với nhau, hễ có một cái th́ toàn bộ đều có,
một mê th́ hết thảy mê, một nhiễm th́ hết
thảy nhiễm, một tịnh th́ hết thảy tịnh.
V́ thế, quư vị nghe xong, phải thực sự quay
đầu, phải giác ngộ. Tiếp đó là phần
cuối cùng lúc kết thúc một thời Phật sự này,
ta tán Phật:
18. Tán Phật tổng kết
A Di Đà Phật,
Vô thượng y vương,
Nguy nguy kim tướng phóng hào
quang,
Khổ hải tác từ hàng,
Cửu phẩm liên bang,
Đồng nguyện văng Tây
Phương.
阿彌陀佛。
無上醫王。
巍巍金相放毫光。
苦海作慈航。
九品蓮邦。
同願往西方。
(A Di Đà Phật,
Vô
thượng y vương,
Thân
vàng ṿi vọi phóng hào quang,
Biển
khổ thả thuyền từ,
Cơi
sen chín phẩm,
Cùng
nguyện về Tây Phương).
Tán tụng: Phối hợp
với âm nhạc, dùng tiết tấu ưu nhă xướng
tụng lên, biểu thị chính ḿnh đối với
Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, đối với hết
thảy chúng sanh lễ kính tán thán, cũng là cúng
dường. V́ thế, nội dung của những kệ
tán này hết sức phong phú. Từ xưa, các tổ sư
đại đức nói: Trong hành pháp th́ lễ kính, tán thán,
sám hối, phát nguyện, không ǵ chẳng đầy
đủ.
“A
Di Đà Phật, vô thượng y vương”, trị
được hết thảy bệnh khổ của chúng
sanh. Hết thảy chúng sanh có bệnh khổ ǵ? Luận
theo lục đạo chúng sanh th́ bệnh khổ là tham - sân
- si - mạn. Tham - sân - si gọi là Tam Độc phiền
năo, không có ǵ độc địa hơn chúng. Trong thế
gian này (tức là trong lục đạo), gốc rễ
của tất cả hết thảy độc hại là
tham - sân - si. V́ thế, nếu chuyển biến tham - sân -
si th́ cội rễ độc hại trong lục
đạo sẽ bị diệt sạch. Bồ Tát cũng
có bệnh, Bồ Tát bệnh ǵ vậy? Giải đăi! V́
thế, thiện căn duy nhất của Bồ Tát là Tinh
Tấn. Nếu không biết tinh tấn th́ là giải
đăi. Chúng sanh trong chín pháp giới đều có bệnh,
phải nhờ đến A Di Đà Phật là một vị
y vương vô thượng chẩn đoán, trị
liệu, giúp cho mọi người khôi phục sức
khỏe.
“Nguy
nguy kim tướng phóng hào quang”: Câu này tán thán công
đức
tự hành của A Di Đà Phật. Trong kinh giáo,
đức Thế Tôn thường dạy chúng ta: V́
người khác diễn nói. Câu kệ này chính là diễn, A
Di Đà Phật đang biểu diễn. Chúng sanh trong chín
pháp giới đều có bệnh, A Di Đà Phật
biểu diễn sự khỏe mạnh. “Phóng hào quang” là tướng bạch hào phóng quang.
Chúng ta thường niệm bài kệ Tán Phật: “Bạch hào uyển chuyển
ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại
hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát
chúng diệc vô biên”. “Nguy nguy kim tướng phóng hào quang”
có nghĩa là như vậy đó.
“Khổ
hải tác từ hàng”; từ đây trở xuống là A
Di Đà Phật phổ độ chúng sanh, thực hiện
nguyện “chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ”. V́ thế, ba câu kệ
cuối nói về công của Phật, tức công
đức và quả đức. “Khổ
hải tác từ hàng” (làm chiếc thuyền Từ trong
biển khổ) là công đức, “cửu phẩm liên bang, đồng nguyện văng Tây
Phương” là quả đức: Cửu phẩm liên
bang là quả đức, “đồng
nguyện văng Tây Phương” là trong ấy có nguyện
vọng của chính ḿnh. Nay chúng ta cũng phát ra bốn
mươi tám nguyện, nay chúng ta thực sự tin
tưởng có Tây Phương Cực Lạc thế
giới, có chuyện A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng
sanh, tin rằng ḿnh y chiếu kinh giáo, nghiêm túc nỗ
lực phụng hành, ta sẽ nhất định
được văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, có cùng một thệ nguyện văng sanh Tây
Phương. Lời lẽ không nhiều, chỉ có mấy
câu, nhưng nội dung hết sức phong phú. Sau đây
lại quy mạng Liên Tŕ Hội Bồ Tát để tổng
kết:
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
Nam Mô nghĩa là quy y, quy mạng. Chính ḿnh
bằng ḷng quy mạng Liên Tŕ Hội Bồ Tát Ma Ha Tát, ta
cũng thành một người trong số các vị Bồ
Tát Ma Ha Tát thuộc Liên Tŕ Hội. Thời thứ nhất
đến đây là viên măn.
ĐỆ NHỊ THỜI
Trong thời thứ hai, kinh A Di
Đà, Văng Sanh Chú đều là lập lại, nên chúng tôi
khỏi cần giảng lại, nói một lần
được rồi. Mở đầu thời thứ
hai, nghi thức mở đầu nhất định
cần phải có lễ kính xưng tán.
南無蓮池海會佛菩薩。
Ư nghĩa câu này trong phần trên đă nói
rồi, đây chính là lễ kính, xưng tán. Tiếp đó
là niệm Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Bạt Nhất
Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc
Sanh Tịnh Độ Đà La Ni Chú. Đoạn này chính là
tụng kinh, niệm chú. Sau mỗi một đoạn,
đều lễ kính xưng tán Liên Tŕ Hội Bồ Tát.
Liên Tŕ Hội và Liên Tŕ Hải Hội có khác biệt, nói Liên
Tŕ Hội là nói về thế giới Cực Lạc, Liên
Tŕ Hải Hội bao gồm cả mười phương
thế giới, tất cả đều tính gộp.
Giống như nay chúng ta phát tâm, thậm chí chưa phát tâm,
nghe nói đến danh hiệu A Di Đà Phật, trông
thấy tượng A Di Đà Phật, in dấu vào A
Lại Da Thức, đều được tính là Liên Tŕ
Hải Hội. Bởi thế, Liên Tŕ Hải Hội
rất lớn, trọn pháp giới, hư không giới.
Niệm kinh chú xong, lại lễ kính xưng tán:
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
19. Khai thị
Tiếp theo là phần khai
thị, theo thông lệ, trước phần khai thị có
một bài kệ. Chúng ta hăy xem bài kệ ấy
trước:
Tiện tựu kim triêu thành
Phật khứ,
Lạc bang hóa chủ dĩ
hiềm tŕ,
Na kham cánh dục chi hồ
giả,
Quản thủ luân hồi
một liễu thời.
便就今朝成佛去。
樂邦化主已嫌遲。
那堪更欲之乎者。
管取輪迴沒了時。
(Dẫu về thành Phật
bữa nay,
Lạc
bang hóa chủ chê bai trễ rồi!
Muốn
c̣n bàn luận khơi khơi,
Luân
hồi giữ măi biết đời nào ra!)
Đây là thiền sư Trung
Phong giáng cho chúng ta một gậy, hy vọng
cú
đập ấy đánh thức chúng ta. Nếu c̣n không
tỉnh sẽ thường xuyên bị Ngài đánh. Nếu
quư vị thực sự minh bạch, thực sự giác
ngộ, quư vị sẽ trở thành như thế nào?
Sẽ đúng như đường chủ Niệm
Phật Đường đă nói: “Buông thân tâm thế giới xuống”, tức là
tất cả pháp thế gian và xuất thế gian
đều buông xuống hết.
H́nh như có ai đó từng hỏi tôi,
viết thư hỏi tôi mấy vấn đề. Ông ta
hỏi: “Nếu chúng ta buông
hết thảy xuống th́ có phải là công việc cũng
không cần làm hay không? Cũng chẳng cần chiếu
cố người khác, đem tiền đi bố thí
hết, chúng ta sống trong ngày mai bằng cách nào đây?”
ông ta nêu ra câu hỏi đó. Nói thật ra, nêu ra những câu
hỏi ấy tức là ông ta thực sự không hiểu ư
nghĩa kinh Phật, đă hiểu lầm rồi. Tôi giảng
ở đây mà quư vị c̣n hiểu lầm ư nghĩa. Nói khó
lắm! Tôi giảng quư vị nghe c̣n hiểu sai, vậy th́
lời Phật giảng lẽ nào chẳng hiểu sai?
Quư vị thấy trong “Tịnh nghiệp
tam phước”, câu đầu tiên, đức Phật
dạy chúng ta hiếu dưỡng phụ mẫu. Chúng ta
buông bỏ hết thảy, đối với cha mẹ là
bất hiếu. Trong hiếu dưỡng phụ mẫu bao
gồm cả chuyện chăm sóc gia đ́nh, làm thế nào để
có thể (giống như kinh Phật đă giảng) chiếu
cố cả hai mặt? Phải học tập như
thế nào mới đúng pháp? Tôi tin rằng có không ít
người nghi hoặc như thế. Trên thực tế,
trong những buổi giảng chúng tôi thường nói: “Buông xuống không phải là buông
xuống trên mặt Sự, phải buông xuống nơi
tâm”. Quư vị cần phải hiểu: Buông xuống
nơi tâm không phải là chuyện ǵ cũng không quan tâm. Quư
vị nghĩ chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát,
các Ngài minh tâm kiến tánh, các Ngài buông xuống như
thế nào? Quư vị chỉ nghĩ đến đức Phật
thường dạy chúng ta thọ tŕ, đọc tụng
v́ người khác diễn nói. Thực sự buông xuống,
triệt để buông xuống, nhưng buông xuống
rồi th́ sao? V́ người khác biểu diễn chính là quư
vị thực sự buông xuống. Hiện tại là như
thế nào? Hiện tại quư vị đang diễn
kịch trên sân khấu, quư vị phải diễn cho
thật giống, vậy mới là đúng. Có như vậy
th́ Lư và Sự mới viên dung.
Trong tâm không dính mảy may dơ
bẩn nào, các đại đức nhà Thiền
thường nói: “Bách hoa tùng
trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (Qua rừng
trăm hoa nở, mẩu lá chẳng dính thân). Đi qua
rừng trăm hoa là tùy duyên, Phật pháp tại thế
gian, chẳng ĺa pháp thế gian. Phật pháp tại thế
gian, chẳng hoại thế gian pháp, mọi pháp thế gian
thứ ǵ cũng đều làm đúng như pháp. Hiếu
dưỡng phụ mẫu, tôn kính sư trưởng, yêu
mến anh em, luân lư đạo đức điều ǵ cũng
thực hiện cho thật tốt, cho thật viên măn, trong
tâm thực sự không vướng mắc mảy may.
Đấy chính là Phật, Bồ Tát. Trong tâm có điều
ǵ th́ quư vị là phàm phu. Như vậy, Sự th́ có,
nhưng Lư th́ không, Tướng có, Tánh không, Tánh - Tướng
vô ngại, Lư - Sự như một, như vậy mới
là thực sự hiểu. Do vậy, càng thực sự
hiểu sẽ càng thực sự buông xuống
được, càng thực hiện tốt hơn.
Đối với phụ mẫu, tôn
trưởng phải chăm sóc hết sức viên măn chu
đáo, v́ sao? Nêu tấm gương tốt cho đại
chúng xă hội. Đó gọi là “Phật
pháp tại thế gian, chẳng ĺa pháp thế gian”, nêu
gương tốt nhất cho thế gian. Ngũ luân, bát
đức[6] thảy
đều phải làm, dẫu một chút cũng chẳng
được lơ mơ, lạng quạng; nhưng tâm
địa thanh tịnh, quyết định không tiêm
nhiễm mảy may, đó là Phật pháp. Phật pháp và
thế gian pháp là một pháp, không phải là hai pháp. Quư
vị giác ngộ th́ Phật pháp là thế gian pháp, thế
gian pháp là Phật pháp. Không giác ngộ th́ Phật pháp
cũng trở thành thế gian pháp. V́ sao? Tâm quư vị không
thanh tịnh, quư vị nhiễm ô, quư vị sanh phiền
năo, không sanh trí huệ. Phật pháp tại thế gian, sanh
trí huệ, không sanh phiền năo, khác nhau!
Mặt nào cũng làm hết sức chu
đáo, diễn tuồng, đức Phật gọi là “diễn
nói”, quư vị phải nêu gương giác ngộ, nêu
gương làm Phật, nêu gương làm Bồ Tát. Nếu
quư vị vẫn chưa hiểu lời nói này, hăy xem năm
mươi ba lần tham học của Thiện Tài
đồng tử: Năm mươi ba vị thiện tri
thức ấy đều là chư Phật Như Lai, họ
thị hiện các nghề nghiệp, trai, gái, già, trẻ. Quư
vị t́m vị nào có thân phận, có hạnh nghiệp liên
quan đến ḿnh, thấy vị ấy làm như thế
nào, nghĩa là thấy vị ấy biểu diễn như
thế nào bèn học theo, sẽ giải quyết
được vấn đề của chính ḿnh. Ở
đây, đại sư v́ lũ người mê hoặc
điên đảo, lưu luyến thế gian chúng ta
vẫn không chịu nghiêm túc nỗ lực học Phật
mà giáng ngay cho một gậy vào đầu!
“Tiện
tựu kim triêu thành Phật khứ” (dẫu trở về
thành Phật ngay trong ngày hôm nay) “thành
Phật khứ” (đi thành Phật) chính là văng sanh. Văng
sanh chính là thành Phật, thật đấy, không giả
đâu! Chúng ta sanh về thế giới
Cực Lạc là ra đi trong khi c̣n sống, không
chết, đang sống mà đi, chứ không phải
chết rồi mới đi! Ta c̣n sống, chưa tắt
hơi, sáng suốt, minh mẫn, Phật đến tiếp
dẫn, ta theo Phật ra đi! Đó là “đi”, đang c̣n
sống mà theo Phật ra đi, thân thể không cần
đến nữa, bỏ đi!
V́ thế, văng sanh là ra đi trong khi c̣n
sống, chứ không phải chết rồi mới đi.
V́ vậy, chúng tôi bảo pháp môn này “không già, không bệnh,
không chết”, đó gọi là ǵ vậy? Là đại
sự! Phật v́ một đại sự nhân duyên mà
xuất hiện trong thế gian, đại sự ǵ
vậy? Chính là đại sự này. Quư vị hăy nghĩ
xem: Há c̣n có sự nào lớn lao hơn chuyện này hay
chăng? Ngài thực sự dạy cho chúng ta cách không già,
không bệnh, không chết. Nếu quư vị không chiếu
theo phương pháp này mà thực hành th́ không c̣n có cách nào
nữa. Đức Phật là thầy, thầy chẳng
thể ép buộc học tṛ, học tṛ học
được th́ thành công, nhất định phải
nhờ vào ư chí tự phát khởi và tự lực, thầy
có giúp cũng không được. Nếu chính quư vị
chẳng thể tự động, tự phát, nỗ
lực tự cường, quư vị làm sao có thể thành
tựu cho được?
Do vậy, ở đây,
đại sư giảng: Dẫu cho chúng ta văng sanh ngay trong
hiện tại, th́ “Lạc Bang
hóa chủ” – Lạc Bang là thế giới Cực Lạc,
“hóa chủ” là A Di Đà
Phật – A Di Đà Phật vẫn chê quư vị trở
về quá chậm, v́ sao giờ này quư vị mới đến?
A Di Đà Phật ở trong thế giới Cực Lạc
đă mười kiếp, sao bây giờ quư vị mới
đến? Văng sanh ngay trong hiện tại, mà A Di Đà
Phật c̣n chê là chậm trễ. “Na
kham cánh dục chi hồ giả” (há có nên muốn bàn
luận xuông nữa ư): Câu này cũng là giáng cho chúng ta
một gậy, chẳng được làm những
chuyện “chi hồ giả dă”
nữa! “Chi hồ giả dă”[7] là
ǵ vậy? Chính là đọc kinh, nghiên cứu giáo pháp,
vẫn lưu luyến chốn này, vẫn chưa buông
xuống được, vẫn không muốn ra đi ngay
lập tức.
Nếu vẫn c̣n lưu luyến kinh
giáo, “quản thủ luân
hồi một liễu thời” (vẫn giữ lấy
luân hồi không lúc nào xong), quư vị vẫn tiếp tục
muốn luân hồi trong lục đạo, chẳng thể
xong được. Đúng là phải hiểu rơ, phải
thông suốt, phải giống như Liên Tŕ đại
sư: “Tam Tạng thập nhị
bộ, nhượng cấp biệt nhân ngộ” (Tam
Tạng mười hai bộ kinh nhường cho
người khác ngộ). Muốn học Tam Tạng
mười hai bộ kinh chính là làm chuyện “chi hồ giả dă”. Nếu thực
sự thấu hiểu sẽ không làm chuyện đó
nữa, nhường cho người khác ngộ. “Bát vạn tứ thiên hạnh,
nhiêu dữ tha nhân hành” (tám vạn bốn ngàn hạnh,
nhường cho người khác hành). Tám vạn bốn ngàn
pháp môn, quư vị thích pháp nào th́ hành pháp đó, tôi không hành,
tôi đă quay đầu lại rồi.
V́ thế, các đại đức
tổ sư đến cuối cùng, một bộ A Di
Đà Kinh, một câu Nam-mô A Di Đà Phật bèn thành công, bèn
viên măn. Chúng ta vẫn phải nghiên cứu kinh giáo là v́ sao?
V́ chưa chết sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư sát đất
tin tưởng, vẫn chưa chịu chết sạch ḷng
mong ngóng, khiêm hư sát đất buông xuống. Mục đích
của kinh giáo là khiến cho quư vị triệt để
giác ngộ, hễ giác ngộ rồi th́ phải buông hết
mọi thứ xuống. Ngộ là thấy thấu suốt,
sau khi thấy thấu suốt rồi bèn buông xuống, thâm
nhập một môn, một câu A Di Đà Phật niệm
đến cùng cực bèn thành công, không c̣n luân hồi trong lục
đạo nữa. Bài kệ này rất quan trọng,
hiện thời có được mấy người giác
ngộ quay lại? Mấy người thực sự buông
xuống? A! Bây giờ hết giờ rồi.
Tập
48
Xin hăy xem tiếp phần khai
thị trong thời thứ hai:
Nguyên phù biến thập
phương thị Cực Lạc thế giới. Sơn
quang thủy sắc, tự không hợp không. Tận
đại địa thị Thanh Thái cố hương, hoa
tiếu, điểu đề, như kính chiếu kính.
原夫遍十方是極樂世界。山光水色。似空合空。盡大地是清泰故鄉。華笑鳥啼。如鏡照鏡。
(Vốn trọn khắp
mười phương là thế giới Cực Lạc.
Ánh núi, sắc nước, dường hư không ḥa hợp
hư không. Khắp cơi đất là quê cũ Thanh Thái. Hoa
cười, chim hót, như gương soi gương).
Trước hết chúng ta xem
tiểu đoạn này. “Nguyên
phù”, “phù” (夫) là trợ ngữ từ, nói theo cách bây
giờ th́ “nguyên phù” nghĩa
là vốn là, nguyên lai. Vốn là thật, là sự thật, “biến thập phương”
(trọn khắp mười phương) vô lượng vô
biên thế giới đều là thế giới Cực
Lạc. V́ sao chỗ chúng ta đây lại trở thành khác
hẳn thế giới Cực Lạc? Đạo lư này, chân
tướng sự thật này phải hiểu rơ. Thế
giới vốn là Nhất Chân, thế giới Cực
Lạc là Nhất Chân pháp giới. V́ sao thế giới này
biến đổi? Nguyên nhân là do chúng sanh cư trụ trong
thế giới này đúng như kinh Đại Thừa
đă nói: “Nhất niệm bất
giác, nhi hữu vô minh” (một niệm bất giác bèn có vô
minh), bèn dấy lên vô minh. Vô minh là Hoặc, mê hoặc, mê
rồi bèn vọng động, tạo nghiệp, khiến
cho thế giới vốn là Nhất Chân pháp giới bị
bóp méo.
Chúng tôi lại dùng nước
làm tỷ dụ để diễn tả: Cả thế
giới này giống như nước. Nước vốn
là b́nh tịnh, nó vốn không nhiễm trước. Trong
phần sau, đại sư cũng nêu tỷ dụ: “Như kính chiếu kính” (như
gương rọi gương). Gương vốn không
nhiễm trước, tâm địa của hết thảy
chúng sanh đều tịch tịnh, trạm tịch linh
minh, tướng được hiện chính là thế
giới Cực Lạc. Vốn là như thế đó,
tiếc thay quư vị mê hoặc, bèn vọng động. Do
vọng động nên khởi tâm động niệm, phân
biệt, chấp trước. V́ vậy, Nhất Chân,
Cực Lạc bèn bị bóp méo.
Mỗi một cá nhân tạo
nghiệp mê hoặc khác nhau. V́ vậy, thế giới
của mỗi cá nhân khác nhau. Nói thật ra, chẳng thể
t́m được hai cá nhân có thế giới giống nhau.
Đến lúc nào mới hoàn toàn tương đồng? Khi
thành Phật, như thường nói: “Phật Phật đạo đồng!” [Thế
giới của mỗi vị] Đẳng Giác Bồ Tát
đều khác nhau, vẫn c̣n có sai biệt cực nhỏ
nhiệm; đạt đến quả địa Như
Lai mới hoàn toàn tương đồng. V́ sao? Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước thảy
đều đoạn hết, khôi phục diện mục vốn
có, giống như nước trong ao, một mảy
nhiễm ô cũng không có, một mảy sóng gợn cũng
không có, giống như một tấm gương. Tác
dụng của nó là soi rơ ràng, minh bạch những thứ
ở bên ngoài. Chỉ cần có chút nhiễm ô, một
mảy sóng gợn bèn có sai biệt, huống chi gió to, sóng
lớn.
Tâm của bọn phàm phu lục
đạo chúng ta là gió to, sóng lớn, mừng, giận,
buồn, vui, yêu, ghét, muốn, thất t́nh, ngũ dục là
gió to sóng lớn. Diện mục vốn có (tức Cực
Lạc) không thấy được mảy may nào. Bảo
quư vị rằng có Cực Lạc, quư vị vẫn chẳng
tin. Đối với sự không tin ấy, chúng ta có
thể suy tưởng được: Từ trước
đến nay, [người ấy] chưa từng nghe nói
đến, từ trước đến nay chưa
từng thấy qua, thậm chí nghe người khác nói, [liền
tự nhủ]: “Có lẽ là chuyện lư tưởng, sợ
rằng không phải là sự thật, lẽ nào có sự
thật ấy!” Nói chung không tránh khỏi ngờ vực!
Bởi thế, phải hiểu thế giới Cực
Lạc vốn trọn khắp mười phương, vô
lượng vô biên hết thảy cơi nước
đều là thế giới Cực Lạc. Đạo lư
này đến bây giờ chúng ta mới hiểu, mới tin
tưởng được chân tướng sự thật
này, chúng ta không hoài nghi. Tiếp theo đó là cách nói h́nh dung.
“Sơn
quang, thủy sắc, tự không hợp không” (Ánh núi,
sắc nước, dường như hư không ḥa hợp
với hư không): Giống như nước trong hồ
đầm, ao chuôm vậy, dáng núi in bóng xuống mặt
nước, nước thanh tịnh, nước b́nh
tịnh, không nhiễm ô, không có sóng gợn, giống như
một tấm gương, “tự
không hợp không” (dường như hư không ḥa hợp
hư không). Nếu như tâm chúng ta thanh tịnh th́ như
thế nào? Hoàn cảnh bên ngoài sẽ chuyển theo tâm: Tâm
thanh tịnh, hoàn cảnh bên ngoài thanh tịnh. Tâm b́nh
đẳng, hoàn cảnh bên ngoài bèn b́nh đẳng. Thanh
Tịnh B́nh Đẳng Giác là đức hiệu của A
Di Đà Phật, mà cũng là đức hiệu của tự
tánh chúng ta. Tự tánh của chúng ta vốn là thanh tịnh,
b́nh đẳng, giác. Nay v́ sao không thanh tịnh, không b́nh
đẳng, không giác? Chuyện này phải tự trách ḿnh, không
thể trách ai khác! Đấy là cảnh giới thanh
tịnh b́nh đẳng giác.
“Tận
đại địa thị Thanh Thái cố hương”
(trọn cơi đất là quê cũ Thanh Thái). Thanh Thái chính là thế
giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc c̣n có
tên là Thanh Thái: Thanh tịnh, Thái (泰) là ḥa b́nh an lạc,
hoàn toàn tương phản với thế giới này
của chúng ta. Thế giới của chúng ta là thế
giới ngũ trược ác thế, Tây Phương
Cực Lạc là “ngũ thanh an
thái” (năm điều thanh tịnh, an vui, ḥa b́nh) không
trược, chẳng ác. Đủ thấy rằng sự
thật này đúng như đức Thế Tôn
thường giảng trong kinh Đại Thừa: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng
sanh” (Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng).
V́ thế, ngày nay chúng ta tu hành là tu cái ǵ? Trong kinh A Di Đà,
đức Thế Tôn đă dạy chúng ta: “Nhất tâm bất loạn”, “tâm không điên đảo”,
hai câu như vậy đó.
Nếu tu đến mức
niệm niệm đều là nhất tâm bất loạn th́
cảnh giới thảy đều chuyển. Tôi
thường nói: Trước nhất là tướng
mạo chuyển biến, tiếp đến là thể
chất chuyển biến, rồi đến hoàn cảnh
cư trụ cũng chuyển biến. Giống như
một ngọn đèn, lúc đốt sáng lên, trước
hết soi sáng chính ḿnh, mà cũng chiếu trọn khắp
mười phương xung quanh quư vị. Độ sáng
càng mạnh th́ chiếu càng xa. Độ sáng yếu th́
chiếu rất gần. Độ sáng yếu hay mạnh là
công phu của quư vị cạn hay sâu. Chiếu tan tối
tăm, chiếu tan trược ác, Cực Lạc hiện
tiền, Thanh Thái hiện tiền. “Thanh Thái cố hương”, chữ “cố hương” ư vị
rất nồng nàn! Vốn sẵn là như thế, nay mê
hoặc đă quá lâu, giống như lữ hành bên ngoài,
rời quê cũ quá lâu, quê cũ như thế nào gần
như quên mất. Mê luyến trong hoàn cảnh khổ
nạn bên ngoài, chẳng biết vốn sẵn là an
lạc.
“Hoa
tiếu, điểu đề, như kính chiếu kính”
(Hoa cười, chim hót, như gương soi gương): Hai
câu sau cùng này đều là tỷ dụ nhằm h́nh dung,
nghĩa lư rất sâu, chúng ta phải chú tâm thể hội. “Như gương chiếu
gương”, gương rọi sáng lẫn nhau, cảnh
giới được hiện trùng trùng vô tận. Quả
thật tỷ dụ này có thể dùng để sánh ví
thế giới trùng trùng vô tận được một
chút, mảy trần chẳng nhiễm, trạm tịch linh
minh. “Hoa cười, chim hót”
nhằm h́nh dung sự sung sướng. Tiếp theo, thiền
sư Trung Phong lại v́ chúng ta nói:
Tự thị bất quy, quy
tiện đắc. Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy
tranh?
自是不歸歸便得。五湖煙景有誰爭。
(Tự ḿnh không về, chứ
về liền được. Cảnh mây khói nơi năm
hồ nào ai tranh?)
Chúng ta mê mất tự tánh, không
biết quay đầu. “Tự
thị bất quy” (chính ḿnh không về) nghĩa là không
biết quay đầu! Nếu quư vị quay đầu th́ [tự
tánh] sẽ hiện tiền. Sao gọi là “quay đầu”? Dứt sạch vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước là “quay đầu”; do v́ trong tự
tánh không có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Kinh điển nhà Phật gọi cảnh
giới được hiện bởi tự tánh trạm
nhiên tịch diệt bằng danh từ Cực Lạc, Hoa
Tạng, hoặc là Nhất Chân, đấy đều là tự
tánh duy tâm sở hiện, không phải do duy thức sở
biến. Thức là ǵ? Thức là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước; vừa khởi lên những
thứ này th́ thế giới liền bị biến
đổi ngay lập tức, tùy theo thức tâm của quư
vị mà sanh ra những biến hóa, biến thành mười
pháp giới. Trong mười pháp giới, quư vị chú tâm
quan sát sẽ thấy trong mười pháp giới lại có
mười pháp giới, Thiên Thai đại sư gọi là
“bách giới thiên như”.
Nếu lại chú tâm quan sát, sẽ là vô lượng vô biên
pháp giới, đấy chính là những chiều không gian
khác nhau được phát hiện bởi các nhà khoa học
hiện đại.
Những chiều không gian khác
nhau là do đâu mà có? Từ vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước hiện ra. Chỉ cần
buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ gọi là Thiền Định, hoặc là
tam-muội. Để đột phá những chiều không
gian khác nhau, quư vị buông xuống nhiều sẽ
đột phá nhiều chiều không gian; buông xuống ít th́
đột phá các chiều không gian cũng ít. Người
thế gian thường gọi chuyện này là [người
tu hành] có thần thông nhiều hay ít khác nhau; thần thông
nhiều hay ít là như thế đó: Quư vị buông
xuống được nhiều hay ít. Càng buông
được nhiều, thần thông càng lớn. A La Hán
buông chấp trước (tức Kiến Tư phiền
năo) xuống, siêu thoát sáu nẻo. Bồ Tát lại tiến
xa hơn nữa, buông Trần Sa phiền năo xuống, không c̣n
phân biệt; v́ thế, các Ngài có thể vượt thoát
mười pháp giới. Pháp Thân Bồ Tát lại c̣n
tiến cao hơn nữa, vọng tưởng cũng buông
xuống luôn nên trở về Nhất Chân pháp giới, đạt
đến địa vị ấy th́ gọi là trở
về quê cũ Thanh Thái nơi thế giới Cực
Lạc.
Phá một phẩm vô minh,
chứng một phần Pháp Thân, sẽ nhập cảnh
giới này. Đây không phải là chuyện dễ, nay chúng
ta không có cách ǵ cả. Vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước (tức là phiền năo tập khí) buông
xuống không được, chỉ có cách nhờ vào A Di
Đà Phật giúp đỡ chúng ta, tiếp dẫn chúng ta
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đến nơi ấy sẽ dần dần buông xuống
được. Qua kinh điển
Tịnh Tông, đức Thế Tôn đă giới
thiệu cho chúng ta, đức Phật giảng rất rơ
ràng, rất minh bạch: Phàm phu nghiệp
chướng, tập khí sâu nặng, trừ một môn này
ra, các pháp môn khác dẫu hay, tuy pháp môn b́nh đẳng không
cao - thấp, nhưng hết thảy chúng sanh căn tánh
không b́nh đẳng, mê - ngộ không b́nh đẳng,
nghiệp chướng không b́nh đẳng, cho nên phải
chọn lấy một pháp môn khế cơ th́ mới có
thể thọ dụng được. Pháp môn Niệm
Phật Tŕ Danh của Tịnh Tông thích hợp nhất đối
với căn cơ của mọi chúng sanh. Chỉ cần
quư vị có thể tin, có thể nguyện, có thể
chấp tŕ danh hiệu, như Đại Thế Chí Bồ
Tát đă nói: “Đô nhiếp lục
căn, tịnh niệm tương kế” (Nhiếp trọn
sáu căn, tịnh niệm tiếp nối) th́ quư vị
sẽ thành công. Do vậy, quư vị phải nghĩ
đến chuyện quay đầu, quay đầu là
được, “quy tiện
đắc” (về được liền).
“Ngũ
hồ yên cảnh” (cảnh sắc năm hồ phủ
trong mây khói) chính là tỷ dụ. Trước kia giao thông
bất tiện, địa cầu bị núi sông cách
trở. Mỗi một khu vực khá cô lập, đây kia
chẳng qua lại với nhau. Mọi người
thường gọi chung những khu vực của Trung
Quốc là “ngũ hồ tứ
hải”. Nói “ngũ hồ
tứ hải” cũng như nói đến toàn bộ
Trung Quốc. Tứ hải chính là bốn biển Bột
Hải, Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải[8]
ở phía Đông Trung Quốc. Trong nội địa có
Động Đ́nh Hồ, Bà Dương Hồ, Sào Hồ,
Thái Hồ, Hồng Trạch Hồ[9]
đều ở hai bên bờ Trường Giang, phong
cảnh hết sức đẹp. Hiện tại rất
nhiều khách du lịch đến Trung Quốc ngoạn
cảnh, đại khái những nơi ấy đều
thuộc khu vực du lịch trọng điểm. Phong
cảnh những nơi đó mặc t́nh nh́n ngắm,
thưởng thức, chẳng có ai tranh, nên thiền sư
dùng những cảnh ấy để tỷ dụ
người Tây Phương Cực Lạc thế giới
tiêu dao tự tại. Giữa người với
người không có tranh chấp, không có chiếm hữu; do
vậy không có được mất, chẳng giống
như thế gian chúng ta lo được, lo mất!
Nói thật ra, toàn bộ thiên
nhiên vốn không có giới tuyến; nơi hoàn cảnh
cư trụ của chúng hiện nay đă biến thành [t́nh
trạng] như thế này: Đất đai nhà của quư
vị có giới tuyến phân định nhà ḿnh với nhà hàng
xóm. Chúng tôi đọc cuốn Âm Thanh Hoang Dă, thấy những
thổ dân châu Úc nghĩ bọn người chúng ta (họ
gọi chúng ta là “hạng người biến giống”)
không phải là người nguyên gốc. Người nguyên
gốc không có những quan niệm giới hạn như
vậy. Nếu nay vạch ra một khoảnh đất
rồi cho là của ḿnh, không cho người khác xâm
phạm, quả thật đúng là biến giống, bởi
nguyên khởi vốn không hề có chuyện như vậy. Nguyên
lai, bất luận cuộc sống tinh thần hay cuộc
sống vật chất đều hợp thành một với
thiên nhiên. Tối thiểu là chúng ta sống trên quả
địa cầu này, toàn bộ địa cầu chính là
không gian hoạt động của ta, không câu thúc, không có mảy
may chướng ngại nào. Con người hiện tại
bày ra chướng ngại khắp nơi, tự ḿnh
hạn chế ḿnh, đấy là do con người làm ra,
chứ tự nhiên không như thế.
Như vậy, chúng ta thấy
thiền sư bảo “hoa
cười, chim hót” nhằm h́nh dung cuộc sống
tự nhiên, cuộc sống không trói buộc, tuyệt
đối không nói đến chuyện chiếm hữu, đối
lập, những ư niệm ấy đều không có, không có
những quan niệm ấy. Niệm niệm tương
ứng cùng Pháp Tánh, niệm niệm tương ứng cùng
thiên nhiên. Câu này h́nh dung chúng ta trở về với
đại tự nhiên, trở về thế giới
Cực Lạc chính là về với đại tự nhiên,
ở đây thiền sư Trung Phong khuyên dạy chúng ta
như thế. Tiếp theo là:
Hoàng kim tư trú
dạ thường thùy.
黃金臂晝夜常垂。
(
Đây chính là A Di Đà Phật
x̣e tay tiếp dẫn, từ trước đến nay,
ngày đêm không gián đoạn, hy vọng chúng ta quay đầu.
Duy hứa hành nhân độc
ủy.
惟許行人獨委。
(Chỉ
đợi ḿnh hành nhân nương nhờ).
Ủy (委) là gởi
thân, quy mạng. Trong câu “duy
hứa hành nhân” th́ “hành nhân”
cũng mang ư nghĩa kép:
1) Hành nhân là người tu hành nhất
tâm quy mạng A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tiếp
dẫn người ấy.
2) Ngoài ra, “hành
nhân” c̣n có nghĩa là người đang lữ hành bên
ngoài, xa rời quê nhà. Ở bên ngoài đă lâu lắm rồi,
quên mất cả quê nhà.
Câu nói mang hai nghĩa như vậy.
Nếu chúng ta giác ngộ, thực sự quay đầu, nói
thông tục là hết thảy đều gởi gắm A Di
Đà Phật chiếu cố. A Di Đà Phật thực
sự chiếu cố quư vị, không giả chút nào hết!
Vấn đề là quư vị có thực sự chịu
ủy thác cho Ngài hay không? Nếu thực sự ủy thác,
Phật sẽ thực sự chiếu cố quư vị.
Bạch
ngọc hào cổ kim bất muội.
白玉毫古今不昧。
(Bạch
ngọc hào quang xưa nay chẳng tối).
“Bạch
ngọc hào” chính là A Di Đà Phật phóng quang từ tướng
Bạch Hào, Phật quang chiếu đến quư vị. Trong
nhà Phật chúng ta gọi là Phật quang, nay người Tây
Phương gọi là “từ trường”. Từ
trường của A Di Đà Phật đặc biệt
mạnh mẽ, đúng là vượt trỗi các đức
Phật khác. Từ trường của Ngài trọn
khắp pháp giới, hư không giới, trọn khắp
hết thảy những chiều không gian bất
đồng. Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy là trọn
khắp trùng trùng vô tận thế giới, v́ sao? V́ A Di
Đà Phật biểu thị tánh đức rốt ráo viên
măn, trọn khắp pháp giới hư không giới, trọn
khắp trùng trùng vô tận thế giới, pháp vốn là
như thế, vốn sẵn là như vậy. Hiện
tại:
Toàn bằng nguyện giả
thừa đương.
全憑願者承當。
(Hoàn
toàn nhờ vào tín - hạnh - nguyện gánh vác).
“Thừa
đương” là trực tiếp gánh vác. Chúng ta
được Phật quang soi chiếu lợi ích,
thường gọi là công đức. Thế nào là “nguyện giả”? Có Tín, có Hạnh,
có Nguyện. So với câu “duy hứa
hành nhân độc ủy” (chỉ đợi ḿnh hành nhân
nương nhờ) ở trên th́ câu này lại sâu hơn
một tầng nữa. “Chỉ
đợi ḿnh hành nhân nương nhờ” là có Tín, có Nguyện,
nhưng không thấy có Hạnh. Ở đây, “nguyện giả thừa
đương” là đầy đủ ba tư
lương Tín - Nguyện - Hạnh.
Sở dĩ đạo: Vạn
pháp thị tâm quang, chư duyên duy tánh hiểu, bản vô mê
ngộ nhân, chỉ yếu kim nhật liễu.
所以道。萬法是心光。諸緣惟性曉。本無迷悟人。只要今日了。
(V́ thế mới nói: Muôn pháp là
tâm quang, các duyên chỉ do tánh chiếu rạng, vốn không
có kẻ mê, người ngộ, chỉ cần ngày hôm nay
liễu giải).
Bốn câu này nói rất hay. “Vạn pháp” bao gồm hư
không, pháp giới, cơi nước, chúng sanh, chúng là ǵ vậy?
Đúng là chân tâm, là những ánh sáng, cảnh sắc do tự
tánh rung động (ba động, dao động,
fluctuations). Các nhà khoa học hiện tại cũng nói
như thế. Các nhà khoa học công nhận trong vũ
trụ vật chất không tồn tại, vật chất
là ǵ? Là những tướng hiện ra bởi những rung
động, cách nói như vậy dần dần
tương ứng với Đại Thừa giáo. V́ vậy,
khoa học tiến bộ giúp cho Phật giáo rất
nhiều. Chúng ta đọc kinh Phật, lại nghe
những điều khoa học nói, tín tâm kiên định,
nghi hoặc đều đoạn sạch. Hết thảy
vạn pháp trong vũ trụ quả thật là những
tướng được hiện do những rung động
từ tâm quang.
“
“Bổn
vô mê ngộ nhân” (vốn không có người mê hay kẻ
ngộ). Con người quả thật không có mê và ngộ,
mê và ngộ là ǵ? Là nhận biết sai lầm. Con
người là vật chất, quả thật không mê hay
ngộ. Phật tánh không có mê hay ngộ, Pháp Tánh không có mê hay
ngộ. Mê - ngộ là duyên, đến phần khai thị
trong đoạn sau, thiền sư Trung Phong sẽ giảng
thật rơ. Ngài giảng tâm có nhiều thứ, mê - ngộ là
ǵ? Mê - ngộ là Duyên Lự tâm, là tám thức, năm
mươi mốt Tâm Sở, ở trong những thứ
ấy có thể nói đến mê, nhắc đến
ngộ, chứ trong tự tánh không có mê hay ngộ, trong Pháp
Tánh không có mê hay ngộ, trong pháp giới không có mê hay
ngộ.
V́ thế, “chỉ
yếu kim nhật liễu” (chỉ cần ngày nay liễu
giải), ngày hôm nay đột nhiên giác ngộ, vấn
đề bèn được giải quyết. Nói trên
mặt lư luận, phàm phu thành Phật chỉ trong một
niệm, lẽ đâu phải mất cả một ngày
để giác ngộ? Nào phải mất cả ngày
để quay đầu? Hy vọng quư vị hiện
tại giác ngộ, hiện tại quay đầu, buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
xuống chính là quay đầu. Chúng tôi thường
khuyến khích các đồng học, phải chú trọng
buông tự tư tự lợi xuống, phải buông danh
văn, lợi dưỡng xuống, phải buông sự
hưởng thụ ngũ dục lục trần xuống,
phải buông tham - sân - si - mạn xuống. Từ vô thỉ
kiếp đến nay, những thứ này đă hại
chúng ta phải đời đời kiếp luân hồi
trong lục đạo, đau khổ đă nếm
đủ quá rồi, hăy nên giác ngộ, hăy nên quay
đầu lại, hăy nên buông xuống. Buông xuống chính là
quay đầu về với bản lai diện mục
của chúng ta, thế giới Cực Lạc, quê cũ Thanh
Thái. Hăy xem tiếp đoạn khai thị tiếp theo:
Tức kim hiện tiền chúng
đẳng, hệ niệm đệ nhị thời
Phật sự.
即今現前眾等。繫念第二時佛事。
(Vậy nay đại chúng
hiện tiền, Phật sự Hệ Niệm thời
thứ hai).
Vốn là có ba thời hệ
niệm, đây là thời thứ hai. Đại chúng
hiện đang ở trong thời thứ hai.
Thả liễu chi nhất cú,
như hà cử dương?
且了之一句。如何舉揚。
(Vậy th́ liễu giải
rồi, một câu phải diễn nói như thế nào
đây?)
“Liễu
chi” (liễu giải rồi) do đâu mà có? Từ
phần khai thị trên đă nói: “Bổn
vô mê ngộ nhân, chỉ yếu kim nhật liễu” (Vốn
không có người mê hay kẻ ngộ, chỉ cần ngày
nay liễu giải). Hiện tiền đại chúng chúng
ta, mau đă liễu giải một câu rồi th́ phải
diễn nói như thế nào đây? Ở đây,
đại sư lại y như cũ, trao cho chúng ta thiền
ư. Chúng ta có tham thấu mới ḥng thụ dụng. Tham không
thấu cũng không sao, cứ chất phác niệm Phật
cũng được. Ngài nói hai câu:
Lưu ly tŕ thượng
huyền minh nguyệt,
Hạm đạm hoa gian hư thủy
cầm.
琉璃池上懸明月。
菡萏華間戲水禽。
(Ao lưu ly trăng sáng
vắt ngang,
Quanh
sen búp, thủy cầm đùa bỡn).
Đây là nói hiện tiền
đại chúng chúng ta nên liễu giải như thế nào.
Câu thứ nhất giảng về minh tâm kiến tánh, tâm tánh
vốn sẵn sáng suốt, nay như thế nào? Nay không
trong sáng, v́ sao không sáng? V́ có những thứ đă nói trên
đây chướng ngại, những thứ ǵ vậy?
Phiền năo tập khí, Phiền Năo Chướng, Sở Tri Chướng,
hai thứ chướng ấy ngăn lấp tánh. Tâm tánh
vốn là “lưu ly tŕ thượng
huyền minh nguyệt” (vầng trăng sáng treo ngang ao
lưu ly); nay ao lưu ly biến thành nước
đục, không thấy được vầng trăng
sáng nữa.
Làm thế nào để khôi
phục tự tánh của chính ḿnh? Buông vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước xuống. Tổ
sư đại đức dạy cho hàng sơ học
phương pháp rất tốt, nhưng tự chúng ta quá
lơ đăng, không nghe hiểu, không biết y giáo phụng
hành. Các Ngài dạy chúng ta phương pháp: Trong cuộc
sống thường ngày khởi tâm động niệm,
ngôn ngữ, hành vi chớ tùy thuận phiền năo tập khí
của chính ḿnh, phải tùy thuận giáo huấn của Phật,
Bồ Tát, phải tùy thuận tánh đức. Nếu thực
sự làm được như thế, nghiêm túc làm, đêm
ngày đều không rời th́ nói chung là từ ba đến
năm năm bèn có hiệu quả hết sức tốt đẹp.
Hiệu quả thù thắng nhất có thể là đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh; kém hơn th́
tuy chưa thể triệt ngộ, nhưng khẳng
định là có đại ngộ. Trong ṿng ba đến
năm năm, thời thời khắc khắc có tiểu
ngộ, tích tiểu ngộ thành đại ngộ, tích
đại ngộ thành triệt ngộ; vấn đề
là phải nghiêm túc tu tập, phải khắc phục
phiền năo tập khí của chính ḿnh. Câu tiếp theo nói
đến du hư thần thông.
“Hạm
đạm hoa gian hư thủy cầm” (loài thủy cầm
đùa giỡn giữa các búp sen). “Hạm đạm” là [búp] hoa sen, hoa sen trong ao, loài
thủy cầm[10]
cũng ở trong ao hoa sen, rất tự tại, rất
tiêu dao. Câu này là h́nh dung nhằm làm cho quư vị đối
với cảnh giới ấy phải chú tâm lănh hội. Lănh
hội không được th́ cứ niệm Phật, chuyên
tu pháp môn Tŕ Danh này. Tiếp đó là bài kệ tán Phật,
chúng ta đọc qua một lượt là được
rồi, trước kia đă giảng rồi:
20. Tán Phật Kệ
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô
đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển
ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ
đại hải.
Quang trung hóa Phật vô số
ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện
độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh
đăng bỉ ngạn.
阿彌陀佛身金色。
相好光明無等倫。
白毫宛轉五須彌。
紺目澄清四大海。
光中化佛無數億。
化菩薩眾亦無邊。
四十八願度眾生。
九品咸令登彼岸。
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
Đoạn văn này hết sức quan
trọng, là trung tâm của pháp sự Hệ Niệm.
Tất cả những chuyện niệm kinh, niệm chú,
khai thị đều là trợ duyên, trung tâm của pháp
sự này là niệm Phật. V́ thế, ở đây
thiền sư dặn ḍ chúng ta: Phật hiệu niệm
càng nhiều càng tốt. Thông thường, đơn
giản nhất là niệm một trăm tiếng, nếu thực
sự niệm th́ nên niệm một ngàn tiếng, trong tâm
quư vị mới định lại được,
mới ḥng thọ dụng. Một trăm tiếng là
mới hơi định thôi, sau đấy không c̣n
định nữa, rất khó có hiệu quả. Tiếp
đến là tán Phật:
Đệ nhất đại
nguyện,
Quán tưởng Di Đà,
Tứ thập bát nguyện
độ Sa Bà,
Cửu phẩm dũng kim ba,
Bảo vơng giao la,
Độ vong linh xuất ái hà.
第一大願。
觀想彌陀。
四十八願度娑婆。
九品湧金波。
寶網交羅。
度亡靈出愛河。
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
Đoạn này bảo chúng ta tu hành, chúng
ta là hạng căn tánh như vậy th́ phải tu hành
như thế mới thực sự đạt được
lợi ích.
21. Khai thị
Dưới đây lại là phần khai
thị lần thứ hai, mở đầu cũng là bốn
câu kệ:
Thị tâm thị Phật tương
tâm niệm,
Niệm đáo tâm không, Phật
diệc vong,
Tán thủ quy lai trùng kiểm
điểm,
Hoa khai xích bạch dữ thanh
hoàng.
是心是佛將心念。
念到心空佛亦忘。
撒手歸來重檢點。
華開赤白與青黃。
(Tâm này là
Phật đem tâm niệm,
Niệm
đến tâm không, Phật cũng không,
Thơng tay
quay về kiểm điểm lại,
Hoa chen
trắng đỏ lẫn xanh vàng).
“Thị tâm
thị Phật” (tâm này là
Phật), trong phần trên đă nói qua, “tương tâm niệm” (hăy đem tâm niệm) là
đúng quá rồi! “Đem tâm
niệm” chính là “tâm này làm
Phật”, hoàn toàn tương đồng, hoàn toàn ứng
với lời đức Thế Tôn đă giảng trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật. Quán kinh dạy: “Thị tâm thị Phật, thị
tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Làm
Phật như thế nào? Niệm Phật chính là làm
Phật, cái tâm của quư vị vốn là Phật, nay
lại niệm Phật, sao
không thành Phật cho được! A! Bây giờ đă
hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp bài kệ trong
phần khai thị lần thứ hai:
Thị tâm thị Phật
tương tâm niệm,
Niệm đáo tâm không, Phật
diệc vong.
是心是佛將心念。
念到心空佛亦忘。
(Tâm này là Phật, đem tâm
niệm,
Niệm
đến tâm không, Phật cũng không).
Đây là nói đến lúc công
phu thành thục, tam-muội hiện tiền, bầu
trời tâm tánh hoàn toàn hiện bày. Trong pháp môn Niệm
Phật, cảnh giới này được gọi là nhất
tâm bất loạn, cùng một cảnh giới “đại
triệt, đại ngộ, minh tâm, kiến tánh” của
Thiền Tông. Cũng có thể nói là: Đă đoạn phân
biệt, chấp trước, đối với hết
thảy pháp thế gian và xuất thế gian không phân
biệt, không chấp trước, vọng tưởng
cũng phá được một phần, tối thiểu
là phá được một phẩm [vô minh], vượt
thoát mười pháp giới. Lúc ấy sẽ trụ trong
Nhất Chân pháp giới, pháp Đại Thừa gọi [người
như vậy] là Pháp Thân Bồ Tát hay Pháp Thân đại
sĩ. Hai câu kệ tiếp theo nói đến cảnh
giới của bậc Pháp Thân đại sĩ. Nếu chúng
ta dùng nhân quả để luận th́ hai câu kệ ấy
nói lên quả báo của bậc Pháp Thân Bồ Tát. Chúng ta hăy
xét quả báo của các Ngài:
Tán thủ quy lai, trùng kiểm
điểm.
撒手歸來重檢點。
(Thơng tay quay về kiểm điểm lại).
“Tán
thủ” (thơng tay) là buông xuống, thân tâm, thế giới
hết thảy đều buông xuống. “Quy lai” (quay về) là hồi quy Tự Tánh, như
Lục Tổ đại sư đă nói trong Đàn Kinh: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ
nhạ trần ai” (vốn không có một vật, chỗ
nào nhuốm bụi trần). Chỗ nào nhuốm bụi
trần là câu trả lời của Ngài dành cho thiền
sư Thần Tú, quan trọng nhất là “vốn không có một vật”. Tất cả
hết thảy hiện tượng là “duy tâm sở
hiện”, trong ấy không có Thức biến. Nói theo cách của
chúng ta [thường nói] th́ là hoàn toàn tự nhiên, trong
ấy không có mảy may nào do sức người tạo
tác, hoàn toàn thuộc về đại tự nhiên.
Hoa khai xích bạch dữ thanh
hoàng.
華開赤白與青黃。
(Hoa
chen trắng đỏ lẫn xanh vàng).
Pháp vốn là như vậy, là
cảnh sắc sẵn có trong tự nhiên. Ngài Trung Phong dùng
hoa sen bốn màu trong ao bảy báu để mượn chuyện
này diễn tả chuyện kia, vẽ mây để gợi
trăng[11],
khiến cho chúng ta từ đây hiểu được
cuộc sống của bậc Pháp Thân Bồ Tát: Tùy
thuận Pháp Tánh, tùy thuận tự nhiên, trong ấy
chẳng thêm vào mảy may ư tưởng nào, đấy
mới là trọn vẹn. Những vị Pháp Thân Bồ Tát
ấy sống ở đâu? Ở đâu cũng
được, trọn chẳng chướng ngại ǵ. Trong
thế gian của chúng ta đây có Pháp Thân Bồ Tát hay
chăng? Có! Khẳng định là có. Chư Phật Như
Lai và các Pháp Thân Bồ Tát ứng hóa trong thế gian này
của chúng ta, mang thân phận bất định, chúng ta thực
sự không thể biết được.
Trong kinh, đức Phật
dạy: Những người ứng hóa trong thế gian,
trai, gái, già, trẻ, đủ mọi ngành nghề, nên dùng
thân phận nào để độ bèn hiện thân ấy,
giống như ba mươi hai ứng thân của Quán
Thế Âm Bồ Tát, hoặc [năm mươi ba vị thiện
tri thức trong] năm mươi ba lần tham học
của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, không
hiện thân nhất định nào, chúng ta nh́n không ra.
Họ đúng là niệm niệm hạnh hạnh
đều tương ứng với Pháp Tánh, tương
ứng với pháp giới. Câu thứ nhất nói về Lư,
câu thứ hai nói về công phu, câu ba và câu bốn luận
về cảnh giới. Chư Phật, Bồ Tát, và thiền
sư Trung Phong đều hy vọng chúng ta có thể
niệm Phật có được một chút thành tựu, mà
cũng có thể nhập vào cảnh giới này. Hăy xem
phần khai thị tiếp theo:
Giáo trung đạo:
教中道。
(Trong
giáo pháp đă dạy).
Đức Thế Tôn trong khi
dạy dỗ đă có nói mấy câu như sau:
Duy tâm Phật diệc nhĩ, duy
Phật chúng sanh nhiên. Tâm, Phật, cập chúng sanh, thị
tam vô sai biệt.
惟心佛亦爾。惟佛眾生然。心佛及眾生。是三無差別。
(Luận về tâm, Phật
cũng thế; luận về Phật, chúng sanh cũng
thế. Tâm, Phật và chúng sanh là ba thứ không sai biệt).
Bài kệ đầu tiên rất quan
trọng, giảng: Tâm, Phật và chúng sanh là một nhưng
mà ba, tuy ba nhưng là một. Chúng ta thường thấy
cổ đại đức dẫn dụng “tâm, Phật, chúng sanh, ba
điều này không sai biệt”, nguyên văn giống
như ở đây. Tâm là Thể. “Duy tâm Phật diệc nhĩ”: Tâm là Thể,
Phật là giác tướng. Quư vị đối với tâm
bèn giác chứ không mê th́ gọi là Phật. “Duy Phật chúng sanh nhiên”: Chúng sanh mê nơi
tướng, Phật là giác, quư vị mê chứ không giác, nên
gọi là chúng sanh. Chứ trên thực tế, “tâm, Phật, cập chúng sanh, thị
tam vô sai biệt” (tâm, Phật và chúng sanh là ba thứ không
sai biệt). V́ sao? Cái Thể của giác hay mê trọn
chẳng thể được, giác hay mê là từ duyên sanh.
Phàm những pháp nào là duyên sanh th́ đều không có Tự
Thể, duyên sanh vô tánh. Tánh ấy chính là Tự Thể.
V́ thế, mê th́ gọi là vọng,
chẳng gọi là chân. Chân là như thế nào? Chân phải
có Thể, có Tự Thể. Không có Tự Thể th́ là
vọng, hư vọng, không phải là chân thật. V́
thế, trong kinh Kim Cang giảng về thế giới
như sau: “Nhất thiết hữu
vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng).
Kinh lại c̣n giảng minh bạch: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư
vọng” (Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là
hư vọng). V́ sao? Duyên sanh mà! Kinh Đại Thừa
thường nói: “Duyên khởi
tánh Không”, tánh Không là chẳng có tự tánh, cho nên không sai
biệt, là một. Chỉ là mê hay ngộ sai khác, ngoại
trừ mê hay ngộ ra, về căn bản không có sai
biệt. Ở đây quan trọng nhất là tâm, “nhược nhân thức đắc
tâm, đại địa vô thốn thổ” (nếu ai
biết được tâm, đại địa không
tấc đất). Tâm là ǵ? Tâm rất quan trọng. Dưới
đây, thiền sư Trung Phong khai thị cho chúng ta:
Sở vị tâm giả, tâm hữu đa
chủng, viết: Nhục đoàn tâm, năi hiện tại
thân trung, phụ mẫu huyết khí sở sanh giả
thị.
所謂心者。心有多種。曰肉團心。乃現在身中。父母血氣所生者是。
(Nói
đến tâm th́ tâm có nhiều thứ, như: Nhục
đoàn tâm (quả tim thịt) [tức quả tim] hiện
đang ở trong cái thân do huyết khí cha mẹ sanh ra chính
là cái tâm ấy).
Đây là cái tâm như mọi
người chúng ta thường nói. Cái tâm mà chúng ta
thường nhắc đến là ǵ vậy? Chính là một
khí quan (cơ quan) trong thân thể chúng ta tức tâm tạng
(tim). Quư vị thấy người thế gian nói
đến tâm thường vỗ ngực: Tâm ta đây! Cái
tâm ấy không có công dụng chi cả! Phật pháp nói
đến tâm th́ cái tâm ấy phải linh minh giác tri.
Loại thứ hai là:
Viết Duyên Lự Tâm, tức
hiện kim thiện ác thuận nghịch cảnh giới
thượng chủng chủng phân biệt giả thị.
曰緣慮心。即現今善惡順逆境界上種種分別者是。
(Hoặc Duyên Lự Tâm,
tức cái tâm nay đang phân biệt mọi thứ cảnh
giới thiện - ác, thuận - nghịch vậy).
Chúng ta chú tâm quan sát phàm phu trong thế
gian, ai chẳng nghĩ thân ḿnh chính là
Ngă? Ấy là mê rất nặng, đúng là phàm phu. Hạng
người thông minh bậc nhất biết thân không
phải là Ngă. Triết học gia Tây phương bảo: “Tôi tư duy nên tôi tồn
tại”[12].
Ngă là ǵ? Ngă là cái có thể suy nghĩ, có thể tưởng
tượng, có thể phân biệt đúng - sai, thiện -
ác, cho đó là Ngă, cho đó là tâm ta. Trong hội Lăng
Nghiêm, tôn giả A Nan cũng cho đó là tâm. Thích Ca Mâu Ni
Phật hết sức cao minh, hỏi vặn: “Ông nói
ông có cái tâm, không cần biết là chân tâm hay vọng tâm, cái
tâm ấy ở chỗ nào?” Ngài A Nan cũng thật thông
minh, nói ra bảy chỗ. Chúng ta không thể t́m ra bảy
chỗ, Ngài t́m được bảy chỗ, Ngài cao
minh
hơn chúng ta nhiều lắm! Bảy chỗ ấy
đều bị đức Thế Tôn bác hết!
Nói thật ra, những cái tâm mà ngài A Nan đă
nói đều là Duyên Lự Tâm. Duyên Lự Tâm là vọng tâm,
tức là tám thức, năm mươi mốt Tâm Sở. Duyên
Lự Tâm, nói thật ra, cũng t́m không được. Nó
ở chỗ nào? Giống hệt chân tâm, chân tâm bị mê th́
gọi là Duyên Lự Tâm. Giác ngộ th́ gọi là Linh Tri Tâm. Linh
Tri Tâm là Phật, Duyên Lự Tâm là phàm phu, là chúng sanh. Chúng
sanh và Phật sai khác ở chỗ này: Một đằng
giác, một đằng mê. Tác dụng của mê cũng
rất lớn, cũng chẳng thể nghĩ bàn. Quư
vị thấy mê rồi sẽ biến thành ǵ? Biến thành
mười pháp giới. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong
mười pháp giới do mê biến hiện. Hoàn toàn mê
rồi, không giác ngộ, sẽ biến thành lục
đạo. Trong mê bắt đầu giác ngộ bèn thành
bốn thánh pháp giới Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.
[Nói tới] Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật th́ Phật
ấy chính là Phật trong mười pháp giới. Thiên Thai
đại sư gọi [địa vị trong mười
pháp giới ấy] là Tương Tự Tức Phật,
vẫn chưa phải thực sự là Phật, chỉ
gần giống Phật. Chúng ta chẳng thể không
biết điều này.
Tâm không có xứ sở, quư vị nói tâm
ở trong thân, ở ngoài thân, nói ở chỗ nào cũng
chẳng thể thành lập. Kinh Lăng Nghiêm giảng
rất nhiều, nói thật ra cũng chẳng dễ
hiểu ǵ. Chúng tôi dùng tỷ dụ để diễn
tả: Hiện thời mọi người đối
với cái màn huỳnh quang, bất luận là màn h́nh của
máy computer hay là màn h́nh TV [rất quen thuộc], tâm là ǵ? Tâm
chính là màn h́nh. Nó có thể hiện, có thể biến (năng
hiện năng biến), c̣n những cái được biến,
(sở hiện sở biến) được hiện là những
sắc tướng. Quư vị hăy nghĩ thử xem:
Những sắc tướng ấy có sắc tướng
nào rời khỏi cái màn huỳnh quang hay không? Màn huỳnh
quang chính là cái tâm có thể hiện, có thể biến, không
thể tách rời được! V́ thế, quư vị chẳng
thể nói là nó ở bên trong, cũng chẳng thể nói là
ở bên ngoài, v́ sao? Không chỗ nào chẳng tồn tại.
V́ thế, nếu quư vị hiểu được,
triệt để thấu hiểu th́ quư vị nói là bên
trong, hay nói là bên ngoài, nói sao cũng đúng, đều không
sai. C̣n nếu quư vị không biết th́ suy lường
ở đâu cũng trật, suy xét như thế nào cũng
đều sai.
Bởi
vậy, đối với người giác ngộ, chỗ
nào cũng đúng, c̣n người chưa giác ngộ,
chỗ nào cũng trật, đều là hiện
tượng được sanh ra. Phật khác với
Bồ Tát ở chỗ này. Đối với hết thảy
chân tướng sự thật này: Cái có thể hiện có
thể biến và những cái được hiện
được biến, Phật đều hiểu rơ ràng
thấu suốt, không mê hoặc chút xíu nào. Phàm phu chúng ta
đối với cái có thể hiện có thể biến và
cái được hiện được biến hoàn toàn
không biết. Đây chính là chỗ sai khác giữa mê và
ngộ. Nơi tướng được hiện không có
sai biệt! Giống như chúng ta nh́n vào những sắc
tướng hiện ra nơi màn huỳnh quang, ảnh
tượng được hiện không có sai biệt,
nhưng lúc mỗi một cá nhân chúng ta nh́n vào mỗi
người sẽ cảm nhận sai khác.
Trưa hôm qua, dùng cơm xong,
cư sĩ Chung Mậu Sâm lại yêu cầu tôi giảng
mấy câu. Nói thật ra, tôi đă từng giảng quá
nhiều rồi, mỗi ngày giảng bốn giờ. Ông ta yêu
cầu ba lượt, tôi chẳng thể không giảng
mấy câu, quư vị thấy tôi nói mấy câu, ông ta cảm
động ứa nước mắt, mọi người
đều trông thấy. Bao nhiêu người cùng nghe tôi nói
những lời ấy, có người nghe xong không cảm
thấy ǵ hết, có người nghe xong cảm
động ứa nước mắt. Mỗi một
người nghe thấy cảm xúc khác nhau, là v́ nguyên nhân ǵ
vậy? Mê hay ngộ khác nhau. Có người mê quá sâu, có
người mê rất cạn, có người ngộ
rất sâu, có người ngộ rất cạn. V́ thế,
sáu căn của chúng ta tiếp xúc với cảnh giới
sáu trần bên ngoài, mỗi người cảm nhận hoàn
toàn khác nhau.
Trong phần trên, thiền sư
Trung Phong đă nói một bài kệ, chính là niệm Phật
đến nơi đến chốn, niệm Phật đạt
đến cảnh giới Lư nhất tâm bất loạn. Chúng
ta đọc bài kệ ấy, chẳng biết Ngài nói ǵ! V́
sao? Chẳng phải là cảnh giới của chúng ta! Nếu
chúng ta niệm Phật có công phu kha khá, gần với cảnh
giới của Ngài, sẽ có cảm thọ khác hẳn.
Như vậy, đây là Duyên Lự Tâm, đây là vọng tâm,
chỉ do Thức biến. Tiếp theo đó, Ngài lại
giảng:
Viết Linh Tri Tâm.
曰靈知心。
(Là
Linh Tri Tâm).
Linh Tri Tâm là chân tâm. Chân tâm có
thể hiện, cái được chân tâm hiện chính là
Nhất Chân pháp giới, thế giới Cực Lạc, thế
giới Hoa Tạng. Ấy chính là “phong cảnh sẵn có chẳng bị biến
dạng mảy may”, chẳng bị biến đổi
tí ti nào, cảnh sắc sẵn có tốt đẹp
đến cùng cực. V́ sao biến thành mười pháp
giới? V́ sao biến thành Sa Bà, ngũ trược ác
thế? Đó là do Duyên Lự Tâm biến. Trong Duyên Lự
Tâm có thiện - ác, có thuận - nghịch.
Nếu Duyên Lự Tâm (vọng tâm)
của chúng ta chỉ có thiện, không có ác, chỉ tùy
thuận Pháp Tánh, tuyệt đối chẳng trái nghịch
Pháp Tánh th́ cảnh giới được hiện sẽ là
cảnh giới nào? Là cảnh giới nhân thiên, chẳng
phải là Dục Giới thiên, mà là Sắc Giới thiên, Vô
Sắc Giới thiên, tứ thánh pháp giới, hiện ra
những cảnh giới ấy. Nếu thiện ác xen
tạp, trong thuận có nghịch, trong nghịch có thuận,
chẳng thuần túy thuận mà cũng chẳng hoàn toàn
nghịch th́ là cảnh giới phàm phu. Nếu như ác
nhiều thiện ít, nghịch nhiều thiện ít
(thuận là tùy thuận Pháp Tánh, tùy thuận sự giáo
huấn của Phật, Bồ Tát), quư vị không chịu
tùy thuận sự giáo huấn của Phật, Bồ Tát, mà
tùy thuận phiền năo tập khí của chính ḿnh, ác
nhiều, thiện ít, sẽ hiện ra cảnh giới nào?
Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cảnh giới
tam đồ!
Như vậy, quư vị
phải hiểu: Tam đồ lục đạo
đều do Duyên Lự Tâm biến hiện, thế
nhưng tướng được hiện là do Linh Tri Tâm
biến hiện. Duyên Lự Tâm bóp méo những tướng
được hiện ấy, biến hoại những
tướng ấy. V́ thế, quư vị đừng nên dùng
Duyên Lự Tâm nữa! Ai có thể không dùng tâm này? Chư
Phật Như Lai không dùng tâm này, Pháp Thân Bồ Tát cũng
chẳng dùng tâm này. Pháp Thân Bồ Tát chuyển tám Thức
thành bốn Trí, không dùng tâm này nữa. Do đó, họ
trở về với bản lai diện mục, cái
thiện vốn sẵn có sẽ hiện tiền. Nho gia nói “nhân chi sơ, tánh bổn
thiện” (con người thoạt đầu tánh
vốn lành), bổn thiện sẽ hiện tiền.
Bổn thiện là ǵ vậy? Bổn thiện là Nhất Chân
pháp giới, bổn thiện là thế giới Cực
Lạc, bổn thiện là thế giới Hoa Tạng.
Linh Tri Tâm là công năng của chân tâm, là năng
lực sẵn có của nó, nó bất sanh, bất diệt,
không đến, không đi, không thường, không
đoạn, không phải có, chẳng phải không. Nó ở
đâu? Trọn khắp pháp giới, hư không giới, ngay
cả hư không cũng do nó sanh ra, đều là duy tâm
sở hiện, do tâm Linh Tri hiện. Bởi vậy, Thể
của hết thảy vạn sự vạn vật (có
thể hiện, có thể sanh) là Linh Tri Tâm. Những vật
được hiện bởi nó quyết định
chẳng mất tánh năng, chẳng bị mất đi.
Cổ nhân nêu tỷ dụ: “Dĩ
kim tác khí, khí khí giai kim” (dùng vàng làm đồ vật, món
nào cũng là vàng). Chúng ta lấy vàng ṛng làm đồ
vật, nếu nay quư vị đến viếng những
tiệm bán châu báu, coi những đồ châu báu được
sản xuất bởi những công ty lớn, họ có pḥng
Triển Lăm, chúng tôi từng đến xem một lần,
quy mô kể ra không nhỏ. Hai ba vạn loại, mỗi
một loại đều khác nhau, đúng là lóng lánh chóa
mắt, đẹp không thể diễn tả
được. Xem khắp hết cả xong, nói thật
ra, chỉ có một chữ mà thôi: “Vàng”! Toàn là đồ do
vàng ṛng chế thành, không một món nào mất đi bản
chất của vàng ṛng.
Chúng ta hiểu hư không, pháp giới,
cơi nước, chúng sanh đều do Linh Tri Tâm biến
hiện ra, Linh Tri Tâm giống như vàng ṛng. Vạn sự
vạn pháp trong thế gian giống như những thành
phẩm chế từ vàng ṛng, chẳng mất đi tánh
năng của vàng. Tánh năng của nó là ǵ? Linh tri! Cư
sĩ Giang Bổn Thắng làm thí nghiệm nước
kết tinh, đă nhận thấy nước biết nghe,
biết thấy, lạ lùng quá! Lạ lùng ở chỗ nào? Chẳng
lạ lùng tí xíu nào! Thể tánh của nước là linh tri.
Trong các kinh Đại Thừa, đức Phật thường
gọi Linh Tri là “thấy - nghe - hay - biết”, thấy - nghe
- hay - biết là tánh năng của Chân Như Bản Tánh.
Tánh năng ấy vốn sẵn có, không phải từ bên
ngoài mà có, thấy - nghe - hay - biết là tánh năng của
Chân Như Bản Tánh. Tánh năng ấy vốn sẵn có,
chẳng do từ bên ngoài mà có, cho nên tất cả hết
thảy vạn sự vạn vật được
biến hiện đều có thể thấy - nghe - hay -
biết. Nhờ nước, tức là qua thí nghiệm
kết tinh nước, ta đă thấy được
điều ấy, rồi lại mở rộng ra, dùng
cơm, cũng đem cơm làm thí nghiệm. Quả
thật nó có thể thấy - nghe - hay - biết. Tại
Đài Loan, các học sinh tiểu học lấy bánh mạn
đầu làm thí nghiệm, cũng nhận thấy mạn
đầu cũng có khả năng thấy - nghe - hay -
biết. Chúng nó dùng táo, dùng chuối, dùng trái cây hay ăn thường
ngày, rồi lại dùng những loại cây Bồn Tài
(Bonsai), những thực vật nhỏ, gởi đến chúng
những thông điệp, chúng đều thấy - nghe - hay
- biết, [những người làm thí nghiệm] cảm
thấy thật chẳng thể nghĩ bàn. Thật ra trong
kinh Phật từ ba ngàn năm trước đă nói rơ ràng những
chuyện ấy rồi.
V́ thế, chúng tôi mong mỏi những thí
nghiệm ấy được mở rộng hơn
nữa, thí nghiệm trên khoáng vật. Nước vốn là
khoáng vật, ta sẽ lại thí nghiệm trên cát, bùn. Do v́
kinh Phật đă nói, lớn như thế giới, nhỏ
như vi trần, “nhất
thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành
Thể” (hết thảy nhân quả, thế giới, vi
trần, do tâm mà thành Thể). Tâm ấy là tâm Linh Tri, Thể
đă là linh tri th́ hết thảy hiện tượng
được hiện, ngay cả vi trần cũng
đều có đủ công năng thấy - nghe - hay -
biết. Rất hy hữu, những điều ấy
đă được các nhà khoa học dùng máy móc phát
hiện, thực sự ḍ t́m được. Đối
với những người học Đại Thừa
chúng ta mà nói, những thí nghiệm ấy khiến cho tín tâm [của
chúng ta] tăng thêm gấp bội!
Những lời đức Phật
dạy rất tuyệt vời, thời ấy chưa có
những thiết bị khoa học, đấy là cảnh
giới do chính đức Phật tự chứng, Ngài dùng
phương pháp nào? Dùng Thiền Định rất sâu!
Thấy thấu suốt chân tướng vũ trụ, trong
kinh Phật thường gọi [chân tướng ấy] là
“Thật Tướng của
các pháp”. đức Phật giảng rất thấu
triệt, những điều đă được khoa
học phát hiện trong hiện thời đúng là “một
giọt nước của biển cả”. Thế nhưng
một giọt ấy đáng quư lắm, v́ đủ
để chứng minh câu nào do đức Phật nói ra cũng
đều chân thật, đáng để chúng ta đích thân
chứng nghiệm! Không phải là nghiên cứu đâu nhé! Nghiên
cứu không ra đâu! Phải là tự chứng. Dùng
phương pháp ǵ để chứng? Nhất định
phải chiếu theo những phương pháp do đức
Phật đă dạy chúng ta: Giới - Định - Huệ
chính là tổng cương lănh của phương pháp
tự chứng. Chúng ta không nghiêm túc học sẽ không có cách
ǵ chứng được Thật Tướng của các
pháp, Thật Tướng ấy chính là bản lai diện
mục của chúng ta, chính là trí huệ đức
tướng mà chúng ta sẵn có.
Vừa khế nhập được
đôi chút, quư vị bèn có thể đạt
được một vài lợi ích, những lợi ích
ấy là ǵ vậy? Những điều người
đời mong cầu như thông minh, trí huệ, mạnh
khỏe, trường thọ, ngay cả giàu có, những
điều người đời mong cầu ấy
thảy đều đạt được. Trong cửa
Phật có cầu ắt ứng. Đấy chính là những
lợi ích nhỏ nhoi nhất, chúng ta học Phật mà ngay
cả lợi ích nhỏ bé nhất này cũng không
đạt được th́ nói đến đại
lợi ích làm chi nữa? Lợi ích to lớn nhất là văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đi làm
Phật. Không có bất cứ lợi ích nào khác có thể
sánh bằng lợi ích ấy. Nhà Phật coi toàn bộ
phước báo, giàu có, thông minh, trí huệ, khỏe
mạnh, trường thọ trong thế gian như lông gà,
vỏ củ tỏi, chẳng đáng nhắc đến,
thế nhưng người đời coi chúng rất quan
trọng, tâm lượng hẹp ḥi quá! Người học
Phật chúng ta chẳng nên lưu ư những thứ này,
người học Phật chúng ta nên lưu ư điều
ǵ? Đoạn phiền năo, mở mang trí huệ, cầu
văng sanh, thành Phật đạo. Trong tầm mắt của
chúng ta, hăy nên đặt mục tiêu nơi những điều
này Chân tâm này có thể hiện, quyết định là có.
Không có nó th́ vạn vật do đâu mà có? Ở đây,
đại sư h́nh dung Linh Tri Tâm như thế này:
Thị hỗn thiên sai nhi bất
loạn, lịch tam tế dĩ mị thiên.
是混千差而不亂。歷三際以靡遷。
(Chứa
đựng ngàn thứ sai khác nhưng chẳng loạn,
trải khắp ba đời nhưng chẳng đổi
dời).
“Hỗn” (混) nghĩa là ǵ? Là dung hợp, chứa
đựng lẫn nhau. Quư vị thấy y báo và chánh báo trang
nghiêm trong mười pháp giới và hết thảy chúng sanh
(đặc biệt là lục đạo chúng sanh, chúng sanh
trong tam đồ) dồn lại một chỗ, nhưng
không loạn. Chẳng bị nhiễu loạn tí xíu nào,
vẫn là linh minh giác tri, vẫn là có thấy - nghe - hay -
biết, có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm
nhận, có thể biết, chẳng cảm thấy bị trở
ngại mảy may ǵ!
V́ thế, nói đến cảnh
chuyển theo tâm th́ cách chuyển ra sao? Không cần nghĩ
đến chuyển, chỉ cứ tu thiện tâm: Tâm
thiện, hạnh thiện, chúng tôi gọi là “tư
tưởng thiện, hành vi thiện”, tất cả
hết thảy cảnh giới tự nhiên sẽ
chuyển. Chúng ta ngày ngày mong tướng mạo của ḿnh
tốt đẹp hơn một chút, sẽ không đẹp
hơn được, quư vị đang dấy vọng
tưởng, hễ vọng tưởng th́ làm sao chuyển
biến tướng mạo thành tốt hơn cho được!
Tướng chuyển theo tâm, tâm thiện, tướng
mạo sẽ tốt lành. Tâm ác tướng mạo ác. Tâm
từ bi tướng mạo bèn từ bi. Tâm có trí huệ, bèn
có tướng thông minh, trí huệ, đạo lư là như
thế đó! V́ thế, không cần quan tâm đến
tướng mạo, không cần quan tâm đến thân
thể của chúng ta, cần quan tâm nhất là ǵ? Khởi
tâm động niệm. Tâm phải thiện, tư
tưởng phải thiện, hành vi phải thiện,
niệm niệm nghĩ lợi ích chúng sanh, lợi ích xă
hội, quyết định chẳng được
tự tư tự lợi.
Nghĩ đến tự tư tự
lợi là bất thiện; tướng mạo, thể
chất, hoàn cảnh sống của quư vị sẽ
biến đổi càng tệ hơn, do quư vị nghĩ sai
mất rồi. V́ sao? Nghĩ đến tự tư tự
lợi chính là bất thiện; hoàn toàn đừng nghĩ
đến ḿnh, nhất tâm nhất ư, chúng ta là người
học Phật, phải mong cầu chánh pháp tồn tại
lâu dài, giác ngộ chúng sanh, lợi lạc hữu t́nh, mong
cho hết thảy chúng sanh đều có thể quay
đầu, đều có thể tiếp nhận giáo
huấn của thánh hiền, quyết định chẳng
tiêm nhiễm danh văn, lợi dưỡng, quyết
định chẳng mong cầu hưởng thụ vật
chất, hết thảy tùy duyên, tùy duyên tự tại,
quyết định chẳng phan duyên. Đây là nói “Linh Tri
tâm chính là Pháp Tánh”. Vạn pháp do duyên sanh, Pháp Tánh chẳng
sanh cùng các duyên, cũng chẳng cùng các duyên diệt.
Đấy chính là “hỗn thiên
sai nhi bất loạn, lịch tam tế nhi mị thiên” (dung
chứa ngàn thứ sai khác nhưng không loạn, trải khắp
ba đời nhưng chẳng đổi dời). “Mị thiên” là không biến
đổi.
Bỉnh nhiên độc chiếu.
炳然獨照。
(Riêng
chiếu rạng ngời).
“Bỉnh”
(炳) có nghĩa là quang minh rạng rỡ,
công năng của Linh Tri Tâm “độc
chiếu”.
Trác nhĩ bất quần.
卓爾不群。
(Đứng
riêng không ḥa lẫn).
“Trác” (卓) là đứng
riêng biệt, khác với Duyên. Duyên có sanh, có
diệt,
Linh Tri Tâm không sanh, không diệt. Duyên có mê, có ngộ, Linh Tri
Tâm không mê, không ngộ.
Tại thánh bất tăng, tại phàm
bất giảm.
在聖不增。在凡不減。
(Nơi
thánh chẳng tăng, nơi phàm không giảm).
Hai câu này quan trọng lắm. “Thánh” là chư Phật Như
Lai; Linh Tri Tâm của chư Phật Như Lai chẳng nhiều
hơn chúng ta, chẳng lớn hơn tâm chúng ta. Chúng ta là
phàm phu, cái tâm Linh Tri tức chân tâm của phàm phu chúng ta
quyết chẳng ít hơn Phật chút nào, cũng chẳng
khác với Phật chút nào, hoàn toàn tương đồng, là
một tâm, chẳng phải là hai tâm. Trong kinh Đại
Thừa, đức Phật thường nói: “Thập phương tam thế Phật,
cộng đồng nhất Pháp Thân, nhất tâm, nhất trí
huệ, lực vô úy diệc nhiên” (mười
phương ba đời Phật cùng chung một Pháp Thân;
một tâm một trí huệ, lực, vô úy cũng thế). “Lực” ở đây là
mười lực thuộc quả địa Như Lai,
Tứ Vô Úy hoàn toàn tương đồng. Hết thảy
chúng sanh chúng ta, hiện đang là phàm phu, phàm phu là vị lai
Phật, mười phương ba đời Phật,
tất cả hết thảy phàm phu đều gộp vào
đây. Chúng ta và Phật có cùng một tâm, tâm ǵ vậy? Tâm
Linh Tri tương đồng.
Trong kinh điển, Linh Tri Tâm c̣n gọi
là chân tâm, hoặc c̣n gọi là Chân Như, hoặc lại
gọi là bổn tánh, hoặc là Phật Tánh, lại gọi
là Pháp Tánh, lại c̣n gọi là Đệ Nhất Nghĩa,
tên gọi rất nhiều. Đức Phật nói nhiều
danh từ như thế đó là có dụng ư, khiến cho
chúng ta không chấp vào tướng của danh từ,
liễu giải ư nghĩa này: Đừng chấp
trước vào tướng của danh từ, phá chấp trước,
phá phân biệt! Cốt sao nói đến một việc [ư
nghĩa giống nhau là được rồi], c̣n cách nói th́
như thế nào cũng được, cớ ǵ cứ
phải nhất định nắm giữ chặt [phải
nói đúng theo một cách thức nhất định]?
Nhất định phải nắm giữ chặt sẽ
rớt vào phân biệt, chấp trước. Do đức Phật
lập ra đủ mọi cách dạy dỗ nên gọi là “thiện xảo phương
tiện”, đều nhằm giúp cho chúng ta giác ngộ.
Xử sanh tử lưu, ly châu
độc diệu vu thương hải.
處生死流。驪珠獨耀于滄海。
(Ở
trong ḍng sanh tử, ly châu riêng chiếu trong biển xanh).
Đây là tỷ dụ. Hiện tại,
Linh Tri Tâm của chúng ta tùy thuận lục đạo luân
hồi, tùy thuận lục đạo phàm phu luân hồi
trong lục đạo, nó như thế nào? “Ly châu độc chiếu vu thương hải”
(Ly châu chiếu sáng một ḿnh trong biển xanh), chúng ta
đắm ch́m trong lục đạo, từ trước
đến nay chưa hề rời khỏi, thế
nhưng tâm ấy chẳng bị tiêm nhiễm mảy may.
Giống như viên Ly Châu, Ly (驪) là con
rồng đen, cổ nhân đă nói “thám long đắc châu” (t́m rồng
được châu), Ly Châu là viên châu quư do con rồng đen
nhả ra. “Độc chiếu
vu thương hải”, thương hải (biển
xanh) tỷ dụ biển khổ lục đạo. Nói cách
khác, Duyên Lự Tâm trong lục đạo bị mê hoặc,
bỏ thân thọ sanh, Linh Tri Tâm như như bất
động, không bị khuấy nhiễu mảy may.
Đấy chính là “tại phàm
chẳng giảm”. Tiếp đó là câu:
Cư Niết Bàn ngạn, quế luân cô
lăng vu trung thiên.
居涅槃岸。桂輪孤朗于中天。
(Ở
bờ Niết Bàn, vầng quế rạng ngời một
ḿnh giữa trời).
Đây chính là “tại
thánh chẳng tăng”. “Cư Niết Bàn ngạn” (ở
bờ Niết Bàn) là ai vậy? Chính là Pháp Thân Bồ Tát,
Niết Bàn của các Ngài chứng đắc gọi là Vô
Trụ Niết Bàn, đây chính là loại Niết Bàn thù
thắng nhất, không trụ vào sanh tử, không trụ vào
Niết Bàn, nên gọi là Vô Trụ Niết Bàn. Sanh tử
lẫn Niết Bàn cả hai bên đều không trụ, cao
minh! “Quế luân” (vầng
quế), vầng quế chính là trăng tṛn Trung Thu tháng Tám, trời
Thu cao thẳm, khí trong lành, trăng rạng, sao thưa, trong
tháng ấy trăng sáng đặc biệt, dùng h́nh ảnh
này để tỷ dụ tâm Linh Tri. “Quế luân cô lăng vu trung thiên” (Vầng quế
một ḿnh rạng ngời giữa trời) v́ ánh trăng
sáng ngời, khuất lấp ánh sáng các ngôi sao, trăng
rạng, sao thưa, cũng chẳng bị khuấy
nhiễu, “tại thánh không
tăng, tại phàm chẳng giảm”.
Chư Phật ngộ chi, giả danh duy
tâm.
諸佛悟之。假名惟心。
(Chư
Phật ngộ rồi, giả gọi là duy tâm)
Ngộ ǵ? Ngộ bản tánh, ngộ Chân
Tâm, ngộ cái có thể hiện ra vạn pháp, ngộ
những điều ấy. Có một thứ vĩnh
viễn bất biến, ở đâu vậy? Trong hội
Lăng Nghiêm, đức Phật dạy chúng ta: “Lục căn môn đầu, phóng
quang động địa” (từ sáu căn phóng quang
lay động cơi đất). Mắt chúng ta có thể
thấy, tai có thể nghe, mũi, lưỡi, thân có thể
cảm nhận, ư có thể biết, thấy - nghe - hay -
biết chính là Linh Tri Tâm. Cái tâm này bất sanh bất
diệt, chúng ta luân hồi trong lục đạo thế
nào đi nữa, Linh Tri Tâm vĩnh viễn bất biến,
không bị ảnh hưởng mảy may. Cái nào chịu
ảnh hưởng? Duyên Lự Tâm, v́ trong Duyên Lự Tâm có
đúng - sai, có thiện - ác, có khổ - sướng.
Thưa cùng quư vị: Linh Tri Tâm không có đúng - sai, không có
thiện - ác, không có sướng - khổ. Đức
Phật dạy chúng ta: Linh Tri Tâm ở ngay trong sáu căn.
Trong sáu căn là điều
thường được nói, cổ đức
thường bảo: “Niệm
thứ nhất là Chân Tâm”. Ta mở mắt ra nh́n cảnh
giới bên ngoài, đó chính là tánh Thấy thấy
được Sắc tánh, v́ sao? Quư vị c̣n chưa
khởi tâm động niệm. Thế nhưng cái niệm
thứ hai là phiền toái rồi. Cái niệm thứ hai là
khởi tâm động niệm, khởi tâm động
niệm là mê hoặc, là vọng tưởng. Thuận theo
vọng tưởng bèn có phân biệt, bèn có chấp
trước, bèn tạo nghiệp. Tạo nghiệp đương
nhiên có quả báo. Công phu của chư Phật Bồ Tát
ở chỗ nào? Các Ngài vĩnh viễn giữ
được cái niệm thứ nhất.
V́ thế, chúng ta thường nói, tôi
cũng thường nói, nhưng chính ḿnh chưa thể làm
được! Tôi biết, tôi tận sức nỗ
lực học tập: Mắt thấy sắc, tai nghe
tiếng, chẳng khởi tâm, không động niệm,
không phân biệt, không chấp trước. Đấy là tánh
Thấy nh́n, tánh Thấy nghe, tánh Thấy cảm nhận, tánh
Thấy biết, sử dụng Linh Tri Tâm, chuyển Duyên
Lự Tâm thành Linh Tri Tâm, chuyển tám thức thành bốn
trí. Vọng tưởng là thức thứ tám, phân biệt
là thức thứ sáu, chấp trước là thức
thứ bảy. Không khởi tâm, không động niệm là
chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí; không
phân biệt là chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán
Sát Trí, không chấp trước là chuyển thức thứ
bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Phật, Bồ Tát khác với
phàm phu ở chỗ này, ở ngay chính chỗ này vậy!
“Chư Phật
ngộ chi” (chư Phật
đă ngộ): Ngộ là ngộ được chuyện
này, ngộ là thấy - nghe - hay - biết, sáu căn
đối với cảnh giới sáu trần không khởi
tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp
trước, đó là Ngộ. Lúc Ngộ bèn gọi là “duy tâm”, “giả danh duy tâm” (giả
gọi là duy tâm). Đặt cho nó cái tên như thế,
chứ trên thực tế, quư vị phải hiểu: “Danh khả danh, phi thường
danh; đạo khả đạo phi thường
đạo” (cái tên mà có thể gọi ra được
th́ không phải là cái tên thường hằng, cái
đạo mà có thể diễn tả được th́ chẳng
phải là đạo thường hằng). Cảnh
giới thực sự chẳng thể nghĩ bàn, bất
đắc dĩ phải đặt tên cho dễ nói, ngơ
hầu thuận tiện trao đổi ư kiến. Dùng nó làm
phương pháp, dùng thủ đoạn này, chứ không
phải là mục đích, không phải là chân thật,
chỉ là giả vờ đặt ra
Chúng sanh mê chi, tiện thành vọng
thức.
眾生迷之。便成妄識。
(Chúng sanh
mê nên thành vọng thức).
Chúng sanh đối với việc này
không biết ǵ cả, mê như thế nào? Sáu căn
tiếp xúc cảnh giới sáu trần bèn khởi tâm
động niệm, bèn phân biệt chấp trước, mê
rồi! Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần,
không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt,
không chấp trước, đó là Giác. Trong cảnh giới
giác, sự sự vô ngại. Kinh Hoa Nghiêm nói đến Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Lúc mê th́ quư
vị bèn khởi tâm động niệm, phân biệt,
chấp trước, đâu đâu cũng bị
chướng ngại, chỗ nào cũng thành chướng
ngại. Chướng ngại do đâu mà có? Chướng
do mê mà có, từ khởi tâm động niệm, do phân
biệt, chấp trước, nên mới có những
chướng ngại đó, nó gọi là “vọng thức”. Thế nhưng quư vị
phải hiểu: Tâm và Thức là một, không hai, Thức là
ǵ vậy? Tâm bị mê gọi là Thức, nếu Thức mà
ngộ th́ gọi là Tâm, là một, không phải hai!
Thị dĩ Phật tức chúng sanh,
chúng sanh tức Phật, thả tâm ngoại vô Phật,
diệc vô chúng sanh.
是以佛即眾生。眾生即佛。且心外無佛。亦無眾生。
(Do
vậy, Phật chính là chúng sanh, chúng sanh chính là Phật,
nhưng ngoài tâm không Phật, cũng không có chúng sanh).
Đây chính là duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến, ĺa khỏi tâm, ĺa khỏi thức th́
cái ǵ cũng không có! Đúng là không Phật, không chúng sanh,
cũng chẳng có hư không, cũng chẳng có thế
giới. A! Hôm nay hết giờ rồi, giảng
đến đây thôi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 16 hết
[1] Theo từ điển Bách Độ,
“tử kim” là một loại hợp kim của vàng,
đồng, sắt và kền, có màu sắc vàng hơi ánh màu
tía, trông rất chói lọi, nên gọi là Tử Kim. Đây là
một loại hợp kim tự nhiên, và là sản phẩm
chủ yếu của Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong các
thành phần của Tử Kim, lượng vàng chiếm
từ 58.5% hoặc cao hơn nên Tử Kim rất quư.
[2] Vô Già pháp hội (Pancavarsika Maha): Pháp hội thực hành tài thí và pháp thí b́nh đẳng, không phân biệt hiền thánh, tăng tục, sang hèn, trên dưới. “Vô Già” (c̣n đọc là Vô Giá) nghĩa là khoan dung, không ngăn ngại, thường được cử hành năm năm một lần. Phong tục này được bắt đầu từ thời vua A Dục (Asoka) ở Ấn Độ. Trong quá khứ, vào thời Lương, nhằm tháng 10 năm 529 cũng cử hành Tứ Bộ Vô Già Đại Hội tại chùa Đồng Thái (theo Phật Quang tự điển).
[3] Bất Tương Ứng Hành Pháp
gọi đủ là Tâm Bất Tương Ứng Hành Pháp.
Chữ Tâm chỉ tám thức (tâm vương), Hành có
nghĩa là dời chuyển hay tạo tác. Như vậy, Tâm
Bất Tương Ứng Hành Pháp là các pháp dời
chuyển, tạo tác nhưng chẳng tương ứng
với Tâm. Nói cách khác, những pháp này là khái niệm
trừu tượng, không thể xếp vào Sắc Pháp mà
cũng chẳng thể xếp vào Tâm Pháp. Tâm Bất
Tương Ứng Hành Pháp gồm 24 món: Đắc,
Mạng Căn, Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh, Vô
Tưởng Định, Diệt Tận Định, Vô
Tưởng Dị Thục, Danh Thân, Cú Thân, Văn Thân, Sanh,
Lăo, Trụ, Vô Thường, Lưu Chuyển, Định
Dị, Tương Ứng, Thế Tốc, Thứ
Đệ, Thời, Lực, Số, Ḥa Hợp Tánh và Bất
Ḥa Hợp Tánh.
[4] “Đăng địa” là chứng
nhập từ Sơ Địa trở lên.
[5] Tử Bất Ngữ c̣n có tên là Tân
Tề Hài do Tùy Viên Lăo Nhân Viên Mai (1716-1797) soạn vào
đời Thanh, gồm 24 quyển, về sau lại c̣n có
Tục Tập gồm 10 quyển, nổi tiếng không kém
bộ Duyệt Vi Thảo Đường Bút Kư của
Kỷ Hiểu Lam. Sách tập trung chép những chuyện
quỷ thần quái lạ do chính Viên Mai hay bạn bè ông ta
đă chứng kiến. Tên gọi Tử Bất Ngữ
lấy theo ư một câu trong Luận Ngữ: “Tử bất ngữ, quái,
lực, loạn, thần” (Khổng Tử chẳng nói
tới những chuyện kỳ dị, bạo lực,
động loạn, quỷ thần).
Di Kiên Chí là một tập bút kư do Hồng Mại
soạn vào đời Tống từ năm cuối
Thiệu Hưng (1162) đến năm Thuần Hy thứ
nhất (1174). Nội dung chép t́nh h́nh sinh hoạt đời
Tống, những chuyện kỳ lạ, thú vị trong
thời ấy.
[6] Ngũ luân: Năm mối quan hệ trong
xă hội: Vua tôi, cha con, vợ
chồng, anh em, bằng hữu. Bát đức: Hiếu,
đễ (ḥa thuận, yêu thương anh em), trung, tín,
lễ, nghĩa, liêm, sỉ (biết hổ thẹn).
[7] Chi hồ giả dă: Chi, hồ, giả,
dă (之乎者也) là
bốn hư từ thông dụng trong Hán văn cổ
để làm trợ ngữ từ. Do vậy, chúng
thường được dùng để ví với
những ǵ hư huyễn, không thực tế. Làm chuyện
“chi hồ giả dă” tức
là làm chuyện phù phiếm, không thiết thực. Ở
đây, đại sư có ư nói chê trách những kẻ
chỉ lo đàm huyền thuyết diệu, không lo tu
tập cầu được giải thoát.
[8] Bột Hải là một phần của
Thái B́nh Dương, nằm giữa bán đảo Liêu
Đông và bán đảo Sơn Đông. Đôi khi Bột
Hải c̣n được gọi là vịnh Trực Lệ
hay Thương Hải (biển xanh, không phải
Thượng Hải. Thượng Hải là một thành
phố).
Hoàng Hải là vùng biển phía Bắc của Trung Hoa
tức một phần của Thái B́nh Dương nằm
giữa Trung Hoa và Đại Hàn, bao gồm cả Bột
Hải và vịnh Đại Hàn. Người Đại Hàn
thường gọi Hoàng Hải là Tây Hải. Sở dĩ
có tên là Hoàng Hải v́ băo cát từ sa mạc
Đông Hải là vùng biển Thái B́nh Dương
kể từ cửa sông Trường Giang cho đến eo
biển Đài Loan.
Nam Hải là vùng biển kể từ phía
[9] Thông thường, các tự điển
kể tên Ngũ Hồ là Động Đ́nh, Bà
Dương, Thái Hồ, Thanh Hải, và Hồng Trạch
(liệt kê như vậy chỉ là tính theo kích thước,
ở đây, Ḥa Thượng chỉ kể những hồ
nước ngọt lớn nhất của Trung Hoa. Thanh
Hải thường được coi là biển nội
địa hơn là Hồ). Sào Hồ thuộc tỉnh An
Huy, thuộc địa bàn của hai địa khu Bao Hà và
Cư Sào và ba huyện (Ph́ Đông, Ph́ Tây, Hỗ Giang). Theo
truyền thuyết, Sào Hồ là nơi quê hương
của Hữu Sào Thị (một thị tộc cổ
của Trung Hoa đă phát kiến ra cách kết các cành cây làm
tổ để ở, rồi dần dần phát triển
thành nhà sàn).
[10] Thủy cầm: Những loài chim
sống dưới nước như le le, ngỗng, vịt,
uyên ương…
[11] Nguyên vân “hồng
vân thác nguyệt”. Đây là một cách dùng những
sự kiện liên hệ để gợi ư đến
sự vật ta muốn diễn tả. Từ này có ư
nghĩa gốc là cách vẽ trăng trong hội họa
truyền thống Trung Hoa. Để vẽ mặt trăng
họ vẽ mây vờn quanh một ṿng tṛn hay một
nửa ṿng tṛn. Cách vẽ ấy gọi là “hồng vân thác nguyệt” (dồn mây để
gợi ư liên tưởng đến trăng). Tương
tự, Trung Phong đại sư dùng hoa sen bốn màu
để người nghe liên tưởng đến cơi
Cực Lạc là liên hoa hóa thân rồi nghĩ tới hoàn cảnh
sống ưu nhă trong thế giới Cực Lạc.
[12] Đây là một câu nói nổi tiếng
của René Descartes: “Je pense donc
je suis”. Đây là cách nói rút gọn của nguyên văn câu
nói bằng tiếng Latin của Descartes: “Dubito ergo cogito ergo sum” (Tôi nghi ngờ, như
vậy là tôi suy nghĩ, do đó, tôi tồn tại). René Descartes
(1596-1650) là một nhà triết học Pháp, nhưng sống
phần lớn tại Hà Lan và mất tại