Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 17
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Xin xem tiếp phần khai
thị của thiền sư Trung Phong. Ngày hôm qua giảng
đến “tâm, Phật, chúng
sanh”. Về Tâm, giảng đến Duyên Lự Tâm và Linh
Tri Tâm. Những danh từ này rất quan trọng, chúng ta
phải hiểu ư nghĩa của những danh từ
ấy. Vũ trụ vạn hữu, những hiện tượng
ấy do đâu mà có? Hư không do đâu mà có? Pháp giới do
đâu mà có? Sát-độ (ksetra), nay chúng ta gọi là rất
nhiều “tinh cầu” trong không gian (trong kinh Phật gọi vô
lượng vô biên tinh cầu và tinh hệ ấy là “sát-độ”) do đâu mà có?
Chúng sanh do đâu mà có? Hữu t́nh chúng sanh và vô t́nh chúng sanh
do đâu mà có? Chúng ta gọi cái có thể sanh ra vạn
vật, hư không, sát-độ và hết thảy chúng sanh
là Tâm.
V́ thế, Tâm ấy chẳng
phải là tâm tạng (quả tim) trong thân thể chúng ta, tâm
tạng chẳng thể sanh ra trời đất vạn
vật được. Kinh Phật gọi “có thể sanh” (năng sanh) là “có thể hiện” (năng hiện), không gọi
là Sanh mà gọi là Hiện. Nói Hiện có ư nghĩa hay hơn
Sanh, bởi lẽ, chúng ta đều lầm tưởng
Hữu Sanh Hữu Diệt là thật; Năng Hiện là
hư huyễn. Giống như chúng ta xem phim, cái màn bạc
có thể hiện ra tướng, gọi là “hiện tướng”,
chứ không gọi là “sanh”. V́ thế, “hiện” có ư nghĩa hay hơn. Năng Hiện,
hoặc như ta gọi là Năng Sanh, những danh từ ấy
đều có thể gọi là Tánh. Lại c̣n có Năng
Biến, hiện tượng thiên biến vạn hóa,
Năng Biến là ǵ vậy? Chúng ta gọi Năng Biến
là Thức.
Thức và Tâm là một chuyện.
Tâm không đèo thêm vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước th́ gọi là Tâm; nếu kèm thêm vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ gọi là
Thức. Trong Phật pháp cũng thường nói
đến chân tâm và vọng tâm. Chân tâm không kèm thêm vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước; c̣n thức tâm
xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, nên gọi là vọng thức. Phải hiểu
rành rẽ, rơ ràng sự việc này th́ mới biết
được chân tướng sự thật của vũ
trụ và các pháp, kinh gọi sự thật ấy là “chư pháp Thật Tướng” (Thật
Tướng của các pháp), tức chân tướng của
vũ trụ vạn hữu, chúng ta phải hiểu rơ ràng.
V́ thế, ở đây thiền sư nêu lên
một
tổng kết:
Thị dĩ Phật tức chúng
sanh, chúng sanh tức Phật.
是以佛即眾生。眾生即佛。
(Do vậy, Phật chính là chúng
sanh, chúng sanh chính là Phật).
Nói như vậy nghĩa là sao?
Tâm chính là Thức, Thức chính là Tâm. Thức và Tâm là
một, không phải hai, lúc mê gọi là Thức, lúc ngộ
gọi là Tâm. Ở đây chỉ có mê và ngộ, ngoại
trừ mê và ngộ ra, cái ǵ cũng không có. V́ thế, ở
đây mới nói: “
Thả tâm ngoại vô Phật,
diệc vô chúng sanh.
且心外無佛。亦無眾生。
(Nhưng ngoài tâm không có Phật,
cũng không có chúng sanh).
Phạm vi của “chúng sanh” rất rộng.
Chữ “chúng sanh” này bao quát
tất cả hết thảy những hiện tượng
do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi, những hiện
tượng ấy đều được gọi là “chúng sanh”. Ngay cả hư
không cũng là chúng sanh. Phạm vi của các hiện
tượng do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi rất
lớn. V́ thế, chúng ta phải hiểu cách sử dụng
danh từ này: Tên gọi tương đồng, danh từ
tương đồng, nhưng tùy mỗi chỗ lại
giải thích khác nhau, phạm vi bao quát của danh từ
ở mỗi chỗ khác nhau.
Duy mê ngộ chi hữu gián.
唯迷悟之有間。
(Chỉ
do mê hay ngộ mà có sai biệt).
“Gián”
(間) là sai biệt, gián cách (間隔) là sai biệt. Nói thật ra, do mê hay
ngộ mà có sai biệt.
Cố phàm thánh nhi huưnh dị.
故凡聖而迥異。
(V́
thế, phàm - thánh sai khác vời vợi).
Do vậy mới nói đến
phàm và thánh. Mê là phàm, ngộ là thánh. Phàm và thánh là một,
không hai, vẫn chỉ là một người mà thôi. Nay chúng
ta vẫn chưa ngộ th́ gọi là phàm; ngày nào đó ḿnh
giác ngộ th́ gọi là thánh. Ngộ là người nào th́ mê
cũng là người ấy. V́ vậy, trong hết
thảy cảnh duyên không có mê hay ngộ. Mê hay ngộ là do
con người, con người có mê - ngộ, cảnh giới
bên ngoài chẳng có mê lẫn ngộ. Nếu nói thân thiết
hơn một chút (ư nghĩa này lại càng sâu hơn, nói
thật ra không dễ hiểu ǵ), mê hay ngộ tại ḿnh,
chẳng do người khác, chỉ do mỗi một ḿnh ta
mà thôi. Cảnh giới bên ngoài chẳng những vô t́nh chúng
sanh không có mê hay ngộ, mà ngay cả hữu t́nh chúng sanh
đối với ta mà nói th́ cũng chẳng mê hay ngộ.
Mê hay ngộ là chuyện của người ta, đối
với chúng ta mà nói th́ cũng chẳng có mê hay ngộ.
Đạo lư này rất sâu. Đó là chân tướng sự
thật, hăy chú tâm quan sát, mong rằng quư vị sẽ
hiểu thấu suốt chân tướng sự thật này.
Khởi tri tâm, Phật, chúng sanh,
tam vô sai biệt.
豈知心佛眾生。三無差別。
(Há biết tâm, Phật, chúng
sanh, ba thứ không sai biệt).
Câu này nêu rơ quan hệ giữa
tâm, Phật và chúng sanh. Quan hệ ǵ vậy? Một mà ba, ba
nhưng một. Tâm có thể hiện, có thể biến
(năng hiện, năng biến), chúng sanh và Phật là cái
được hiện, cái được biến (sở
hiện, sở biến). Năng và Sở là một, không
hai. Trong Năng Hiện không có mê hay ngộ, phải
biết điều này. Trong Năng Hiện đă không có mê
hay ngộ th́ trong Sở Hiện cũng không có mê hay ngộ;
nhưng Năng Biến, Sở Biến lại có mê và
ngộ. Năng Biến, Sở Biến là vọng tâm,
vọng cảnh. Năng Hiện, Sở Hiện là Nhất
Chân pháp giới. Phải hiểu rơ điều này th́ sau đấy
chúng ta tu hành mới biết phải nên tu những ǵ? Xa ĺa
Năng Biến và Sở Biến như thế nào? Làm
thế nào để ǵn giữ Năng Hiện và Sở
Hiện? Công phu là ở chỗ này.
Thực sự khế nhập
cảnh giới rồi th́ Năng - Sở không hai, Năng
Hiện - Sở Hiện không hai, Năng Biến - Sở
Biến không hai, Năng Hiện - Năng Biến bất
nhị, Sở Hiện - Sở Biến bất nhị. Chúc
mừng quư vị đă nhập pháp môn Bất Nhị, đây
là cảnh giới của Pháp Thân Bồ Tát, là cảnh
giới Hoa Nghiêm, là cảnh giới vô chướng ngại
chẳng thể nghĩ bàn, Lư vô ngại, Sự vô ngại,
Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. V́ sao Sự vô
ngại? Sự là hư huyễn, không thật, hết
thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng;
bởi thế, không có chướng ngại. Kết
luận cuối cùng cho chúng ta là: “Tâm,
Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt” (Tâm, Phật, chúng
sanh, ba thứ không sai biệt). Đây là tánh b́nh đẳng
hiện tiền, cảnh giới không chướng ngại
hiện tiền.
Vĩnh Gia vân:
永嘉云。
(Ngài
Vĩnh Gia nói).
Trong Chứng Đạo Ca
của thiền sư Vĩnh Gia có hai câu:
Mộng lư minh minh hữu lục
thú,
Giác hậu không không vô
đại thiên.
夢裡明明有六趣。
覺後空空無大千。
(Trong mộng rành rành bày sáu
nẻo,
Giác
rồi ba cơi rỗng toang hoang).
Lúc mê th́ Duy Thức Sở Biến,
giống như cảnh mộng; giác rồi bèn hiểu rơ,
hoảng nhiên đại ngộ, giống như tỉnh
giấc mộng. Tỉnh giấc rồi, những cảnh
giới trong mộng không c̣n nữa. Nếu đă tỉnh
rồi th́ chẳng những sáu nẻo không c̣n nữa, mà
mười pháp giới cũng không c̣n! Lục đạo và
mười pháp giới đều là cảnh mộng, không
thật, do vọng thức biến ra, Thể của nó là
Nhất Chân pháp giới, Thể của nó là nhất tâm
bất loạn. V́ thế, Tịnh Độ Tông (tức Tịnh
Độ Giáo) nói: “Nhất tâm bất loạn là giác
ngộ, tam tâm nhị ư là mê hoặc”. Thật
Tướng của các pháp rốt cục là như thế
đó, nói đại lược như vậy. Dẫu nói
không nhiều, nhưng giảng rất rơ ràng, rất minh
bạch, chúng ta không dễ ǵ thấu hiểu, ư nghĩa sâu
xa quá!
Chẳng thể thấu
hiểu cũng không sao, ngày ngày đọc, ngày ngày có cơ
hội nghe đến, một thời gian lâu sau, tâm quư
vị định lại. Quan trọng nhất là tâm
định th́ trí huệ sẽ khai phát, sẽ nghe hiểu.
Tâm chao động th́ nghe chẳng hiểu. Tâm phải thanh
tịnh th́ mới có thể nghe hiểu, mới có thể
thấu hiểu: Tịnh có thể sanh ra Huệ. Cổ nhân
nêu tỷ dụ ngọn đèn: Nếu ngọn đèn
bị lay động th́ chiếu vật ǵ cũng không rơ
ràng; nước nếu không có sóng gợn sẽ soi bóng
cảnh giới bên ngoài chi li, tường tận. V́
thế,
chữ Tịnh hết sức quan trọng!
Làm thế nào để giữ cho
lục căn của chính ḿnh như như bất
động đối với cảnh giới lục
trần? Như như bất động là sử dụng chân
tâm. Điều này phải rèn luyện, rèn luyện chính là
tu hành, phải thực sự thực hiện! Cách thực
hiện như thế nào? Luyện sáu căn nơi cảnh
giới sáu trần, luyện chẳng khởi tâm, không
động niệm, không phân biệt, không chấp
trước. Pháp Tướng Tông gọi phương pháp
này là “chuyển tám Thức thành
bốn Trí”. Chuyển bằng cách ấy, học sao cho
không khởi tâm, không động niệm. Không khởi tâm,
không động niệm là không dùng thức thứ tám; không
phân biệt là không dùng thức thứ sáu; không chấp
trước là không dùng thức thứ bảy. Chỉ
cần quư vị không dùng đến chúng th́ rơ ràng là ngay
lập tức chân tâm được sử dụng.
A Lại Da Thức biến thành
Đại Viên Kính Trí, trí huệ chân thật, rơ ràng, rành
rẽ, hiểu thấu suốt. Thức thứ bảy
biến thành B́nh Đẳng Tánh Trí, không chấp
trước, vạn pháp b́nh đẳng. Thức thứ sáu
biến thành Diệu Quan Sát Trí, [các thức] bị chuyển
đổi đi, cách chuyển như thế đó! Hễ
khởi tâm động niệm là xong, lại rớt vào hai
ba (tam tâm, nhị ư), lại biến thành chúng sanh. Phật và
chúng sanh khác nhau ở chỗ này. Phật và Pháp Thân Bồ
Tát có năng lực ấy, chắc chắn chẳng
rớt vào hai hay ba. Không rớt vào hai hay ba th́ chắc chắn
sẽ chẳng khởi tâm động niệm, phân
biệt, chấp trước. Khởi tâm động
niệm thuộc về vọng tưởng.
Kư nhiên như thị, tắc kinh
vân: “Tùng thị Tây Phương, quá thập vạn ức
Phật độ, hữu thế giới danh viết
Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A
Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.
既然如是。則經云。從是西方。過十萬億佛土。有世界名曰極樂。其土有佛號阿彌陀。今現在說法。
(Đă là như vậy th́
như kinh nói: “Từ đây đi về phương Tây qua
khỏi mười vạn ức cơi nước, có một
thế giới tên là Cực Lạc. Cơi ấy có Phật,
hiệu là A Di Đà nay đang thuyết pháp”).
Đây chính là những điều
kinh Phật đă nói. Đoạn kinh này giảng về
Sự. Sự và Lư nhất định phải tương
ứng, Sự chẳng trái nghịch Lư, Lư nhất
định không trở ngại Sự. Lư - Sự bất
nhị. Có Lư đương nhiên có Sự, có Tánh
đương nhiên có Tướng. Quư vị hiểu rơ ràng
điều này rồi th́ mới hiểu được
những tướng được hiện ấy.
Tổng bất xuất duy tâm Tịnh
Độ, bản tánh Di Đà dă.
總不出唯心淨土。本性彌陀也。
(Nói chung, chẳng ngoài duy tâm Tịnh
Độ, bản tánh Di Đà).
“Bản
tánh” chính là tự tánh. Như vậy, Tây Phương
Cực Lạc là Tịnh Độ, là do chân tâm của chúng
ta hiện ra. A Di Đà Phật ở thế giới
Cực Lạc là do tự tánh của chúng ta hiện ra. Cơi
nước được hiện bởi tự tánh, đức
Như Lai được hiện bởi tự tánh, lẽ
nào chúng ta không thể thân cận được, chúng có quan
hệ quá mật thiết đối với chúng ta. V́
thế, quư vị nhất định phải tin
tưởng ta có phần văng sanh. Ở phần trên,
đại sư đă bảo chúng ta hăy tin tưởng: Tin
thực sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Thứ hai, phải tin trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới quả thật có A Di Đà Phật phát
nguyện tiếp dẫn chúng sanh hữu duyên trong mười
phương. Thế nào là hữu duyên? Có thể tin, có
thể nguyện, có thể chấp tŕ danh hiệu, đó là
hữu duyên. Nay chúng ta tin, ta có thể tin, ta phát nguyện,
ta suốt ngày từ sáng đến tối niệm A Di
Đà Phật tức là ta hữu duyên, khẳng định
ta phải có phần văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
Do thị nhi tri, tức kim
hiện tiền.
由是而知。即今現前。
(Do vậy biết rằng: Ngay
trong hiện tiền đây).
Dựa
trên những đạo lư ấy, chúng ta nên hiểu rơ:
Vong
linh, kỳ sanh dă liên hoa đóa đóa, kỳ một dă hàng
thụ trùng trùng.
亡靈,其生也蓮華朵朵。其歿也行樹重重。
(Vong linh sống th́ hoa sen
đóa đóa, thác th́ hàng cây tầng tầng).
Hai câu này nghĩa là sao? Sống
lẫn chết đều chẳng ĺa thế giới Cực
Lạc, thực sự không tách ĺa. Vấn đề là
ở chỗ nào? Vấn đề là giác hay mê. Nếu quư
vị giác là được, ngay nơi này chính là Cực
Lạc. Nếu mê th́ Tây Phương Cực Lạc thế
giới t́m không ra. Ngộ th́ ngay nơi này chính là Cực
Lạc.
Vô nhất thời bất
đạt liên bang, vô nhất niệm bất y từ
phụ.
無一時不達蓮邦。無一念不依慈父。
(Không lúc nào chẳng
đến cơi sen, không niệm nào chẳng nương
từ
phụ).
“Liên
bang” là thế giới Cực Lạc, “từ phụ” là A Di Đà Phật. Chúng ta ngày nay
khẩn thiết cầu mong, tức là cầu mong sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân
cận A Di Đà Phật. Xưa kia, thiền sư Tử
Tâm tức ngài Triệt Ngộ, những đồng học
tu Tịnh Độ chắc không ít vị đă đọc
cuốn Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, tôi
đang nói đến vị này. Ngài đại triệt
đại ngộ nơi Thiền Tông xong, khuyên những ai
học Thiền phải niệm A Di Đà Phật. Ngài nói
người tham Thiền tốt nhất nên niệm
Phật, v́ nguyên nhân nào? Sợ rằng cả một
đời này không có cách ǵ đại triệt đại
ngộ được. Nếu Thiền không đại
triệt đại ngộ, sẽ không ra khỏi lục
đạo, vẫn phải sanh tử luân hồi, là hỏng
rồi! V́ thế phải nương vào nguyện lực của
A Di Đà Phật tiếp dẫn văng sanh.
Ngài nói nếu chịu niệm
Phật, có thể tin, có thể nguyện, có thể
niệm Phật mà nếu chẳng sanh về Tịnh
Độ th́ “lăo tăng đương
đọa Bạt Thiệt địa ngục” (lăo
tăng sẽ đọa vào địa ngục bị quỷ
sứ kéo lưỡi tội nhân ra cho trâu cày). Ngài bảo
đảm như vậy, pháp môn này đúng là “vạn người tu, vạn
người về”. Hiện tại, v́ sao người
niệm Phật rất đông, người văng sanh lại
ít? V́ họ niệm không đúng như pháp! Căn bản là
họ không hiểu được đạo lư và phương
pháp niệm Phật. Họ không hiểu, cho nên miệng có,
tâm không, chẳng tương ứng. Nếu đối với
những đạo lư, cảnh giới ấy quư vị
đều hiểu rơ, đều thấu suốt, đúng
lư, đúng pháp, chẳng để sót một điều ǵ
th́ đúng là vạn người tu, vạn người văng
sanh. Đến đây cũng là hết một đoạn
khai thị, chúng ta xem tiếp phần sau, ngài Trung Phong
lại tổng kết:
Thẩm như thị, thả
đạo: Ly thử tâm Phật chúng sanh ngoại, biệt
hữu thương lượng xứ dă vô.
審如是。且道。離此心佛眾生外。別有商量處也無。
(Xét
như thế, nên nói: Ĺa tâm, Phật, chúng sanh này ra, c̣n có
chỗ thương lượng nào khác hay không?)
“Thẩm”
(審) là thẩm sát (xem xét, suy xét) kỹ càng,
cũng có nghĩa là quan sát. Những Sự - Lư vừa nói
trên đây, nếu quư vị đều hiểu rơ,
đều thấu suốt, th́ nay phải hỏi: “Thả đạo: Ly thử tâm
Phật chúng sanh ngoại, biệt hữu thương
lượng xứ dă vô” (Nên nói: Ĺa tâm, Phật, chúng sanh
này ra, c̣n có chỗ thương lượng nào khác hay không?):
Ĺa ngoài tâm, Phật, chúng sanh ra, c̣n có ǵ hay không? Một câu
này đă nói hết sạch. Tâm, Phật, chúng sanh bao quát
hết thảy vạn sự vạn pháp trong toàn bộ
vũ trụ. Ở đây thiền sư dùng phương
cách trong Thiền Tông để hỏi: “Ngươi
hiểu chưa?” Một phen giảng cho các ngươi
đại đạo lư này, các ngươi nghe rồi đă
hiểu hay chưa? Các ngươi có hiểu thấu hay
chăng? Các ngươi thực sự rơ thấu hay
chưa? Tiếp đó, thiền sư lại nói một bài
kệ:
Đại viên kính lư tuyệt tiêm
ai.
大圓鏡裡絕纖埃。
(Nơi
gương tṛn lớn sạch tinh khôi).
“Đại
viên kính” là tâm tánh. Trong tâm tánh không có vật ǵ. Trong
Đàn Kinh, Lục Tổ đă nói rất hay: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn
không có một vật). Đại viên kính là chân tâm, trong chân
tánh vốn chẳng có một vật nào. “Ai” (埃) là trần ai (塵埃: bụi bặm), “tiêm” (纖) là rất nhỏ. Một mảy
trần ai cũng không có, chân tâm mà! Câu này giảng về
Thể, về Lư, chân tâm, bản tánh. Câu tiếp theo
luận về Sự, tức những tướng
được hiện. Hễ có Lư nhất định
phải có Sự. Có Tánh nhất định có hiện
tướng. Hiện những tướng nào?
Bích ngẫu hoa trung hữu thánh
thai.
碧藕華中有聖胎。
(Xanh
biếc gị sen nẩy thánh thai).
Câu này nói về ao sen bảy báu
nơi thế giới Tây Phương. Bốn câu kệ này
nhằm dạy chúng ta; trong hai năm gần đây, chúng tôi
đặc biệt đề cao “thuần tịnh, thuần
thiện”. Tâm chúng ta phải thuần tịnh, hạnh
của chúng ta phải thuần thiện. “Thuần tịnh,
thuần thiện” tương ứng với tánh
đức, tương ứng với Di Đà, tương
ứng Tịnh Độ. Câu kệ này nói đến ao sen
bảy báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế
giới, “bích ngẫu hoa trung
hữu thánh thai” (trong đóa sen biếc có thánh thai). Ở
đây, chúng ta vừa phát tâm, trong ao bảy báu mọc lên
một búp sen, trên hoa ghi tên họ của chúng ta. Chúng ta
niệm Phật công phu càng siêng năng, hoa sen ngày càng to. Khi
nào tâm quư vị lui sụt, hoặc đổi sang tu pháp môn
khác, hoa ấy bèn khô héo, không c̣n nữa!
Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, hết thảy các pháp đều
bất sanh bất diệt, chỉ riêng hoa sen trong ao bảy
báu có hiện tượng sanh diệt. Quư vị thấy hoa
sen liền biết có một người phát tâm chân chánh,
muốn sanh về thế giới Cực Lạc. Mấy
bữa sau, thấy hoa sen không c̣n nữa, biết
người ấy đă ngă ḷng, thay đổi ư niệm.
Lúc nào phát tâm, lúc ấy đóa sen bèn trổ. Câu kệ này
đúng như kinh đă nói: “Tịnh
cực quang thông” (Tịnh đến cùng cực th́
sẽ chiếu sáng thông suốt), tướng báu thanh
tịnh được hiện ra. Thật đấy! Chính
chúng ta có thể làm được điều này, chớ
bỏ mất. Chuyện ǵ trong thế gian này cũng
đều là giả, chỉ có ḿnh chuyện này là thật.
V́ thế, quư vị phải biết buông cái giả
xuống, phải biết buông bỏ. Riêng chuyện này là
thật.
Dao vọng kim sa tŕ chiểu
ngoại.
遙望金沙池沼外。
(Cát
vàng ao báu ngoài xa ngắm).
Tây Phương Cực Lạc
thế giới cách chúng ta mười vạn ức cơi
Phật. Nay chúng ta là phàm phu chưa đạt đến
cảnh giới ấy; v́ thế, không gian vẫn c̣n xa - gần,
đạt đến cảnh giới nào th́ sẽ không c̣n
xa - gần nữa? Khi kiến tánh th́ sẽ không c̣n nữa,
khi minh tâm kiến tánh th́ xa - gần không c̣n nữa. Chúng ta
chưa đạt đến cảnh giới ấy, “dao vọng kim sa tŕ chiểu
ngoại” là phía ngoài ao sen bảy báu. Trong ao bảy báu
ấy, có nước tám công đức, có hoa sen.
Bảo quang thường chiếu
ngọc lâu đài.
寶光常照玉樓臺。
(Bảo
quang chiếu măi ngọc lâu đài).
Phía ngoài ao bảy báu là nơi
hoạt động của những người sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới hoa nở
thấy Phật, họ tự hành, hóa tha, thân cận Như
Lai, rộng độ chúng sanh. Thiền sư dùng từ
ngữ “ngọc lâu đài”
để h́nh dung. Phần sau là nói đến chuyện
Chánh Tu. Đoạn khai thị này nhằm lay tỉnh
mọi người đang mê chấp hăy thực sự
tỉnh ngộ, hết thảy vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước tự nhiên buông xuống. Buông
xuống rồi th́ công phu của chúng ta mới đắc
lực. Một tiếng Phật hiệu, một tiếng
ḷng, một niệm tương ứng một niệm
Phật, phải niệm Phật liên tục. Nay chúng ta quen
thói lúc nhiễu Phật bèn vừa đi nhiễu vừa
niệm Phật một ngàn câu, đấy là Chân Tu.
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
Niệm một ngàn tiếng là
chánh xác, tiêu chuẩn đấy! Tiếp đó, niệm ba
lần “Nam-mô Quán Thế Âm
Bồ Tát, nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát, nam-mô Thanh
Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát”, mỗi danh
hiệu ba lần. Phật sự ấy hoàn tất, tức
niệm Phật xong xuôi, tiếp đó lại khai thị
lần thứ hai, đúng là rát miệng xót ḷng. Pháp Sự
này có Sự, có Lư, hỗ trợ nhau, hoàn thành cho nhau,
niệm Phật thành tựu tam-muội, khai thị nhằm
khải phát trí huệ. V́ thế, pháp sự này là học
Định lẫn Huệ một cách quân b́nh, phước
huệ song tu, hết sức thù thắng, nhất
định phải thành tâm thành ư tu tập. Xin xem phần
Khai Thị tiếp theo, cũng là phần phát nguyện, khai
thị bằng cách phát nguyện.
22. Phát nguyện
Thập phương tam thế
Phật,
A Di Đà đệ nhất.
十方三世佛。
阿彌陀第一。
(Mười phương tam
thế Phật,
A
Di Đà bậc nhất).
Từ kinh Vô Lượng
Thọ chúng ta có thể thấy được điều
này. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn
khen ngợi A Di Đà Phật, khen A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung
chi vương” (ánh sáng tôn quư nhất, vua trong chư
Phật). Thích Ca Mâu Ni Phật xưng tán A Di Đà Phật
như vậy, mười phương ba đời
hết thảy chư Phật Như Lai cũng giống
hệt như Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thay
mặt cho hết thảy chư Phật, Thích Ca Mâu Ni
Phật tán thán như thế chính là mười
phương ba đời hết thảy chư Phật tán
thán. Chúng ta nhất định khẳng định được
điều này.
“Thập
phương tam thế Phật, A Di Đà Phật
đệ nhất” (mười
phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất):
Lời này nào phải tùy tiện nói! Không phải là chúng ta
tu Tịnh Độ rồi cố ư tán thán Tịnh
Độ. Không phải vậy, mà là sự thật
đấy nhé! V́ sao phải tán thán như thế? Trong
những bộ kinh to luận lớn cũng tán thán rất
nhiều. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư cũng
nói hết sức rơ ràng: Cơi thù thắng nhất của A Di
Đà Phật không phải là cơi Thật Báo, cũng không
phải cơi Phương Tiện, mà là Phàm Thánh Đồng
Cư độ. Ngài thiết lập cơi Phàm Thánh
Đồng Cư độ quá khéo, khiến cho hết
thảy những chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng
đều có thể đới nghiệp văng sanh. Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
được bốn mươi tám nguyện và oai
thần của A Di Đà Phật gia tŕ, khiến những
người ấy được thọ dụng hoàn
cảnh tu học bằng với hàng Thất Địa
Bồ Tát. V́ thế, họ đều là A Duy Việt Trí
Bồ Tát. Mười phương hết thảy các cơi
Phật đều chẳng có được điều
này, chỉ riêng thế giới Cực Lạc là có, nên
hết thảy chư Phật đều xưng tán Ngài.
Trong hết thảy các cơi
Phật đều có lục đạo chúng sanh, lục
đạo chúng sanh chẳng dễ ǵ được thành
tựu. V́ thế, hết thảy chư Phật Như Lai
đều giảng Tịnh Độ tam kinh, đều
khuyên lục đạo chúng sanh trong những cơi ấy hăy niệm
Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc,
thân cận A Di Đà Phật. V́ vậy, thế giới Cực
Lạc giống như một đại học Phật giáo
do hết thảy chư Phật cùng lập ra, chư
Phật gởi các đệ tử của chính ḿnh
đến trường đó học, A Di Đà Phật là
hiệu trưởng của trường ấy. Vị
hiệu trưởng ấy giỏi giang, khéo dạy, nên
tất cả hết thảy chư Phật đều tôn
kính Ngài, đều bội phục Ngài. Quư vị hăy từ
tỷ dụ này mà thấu hiểu, mới biết lời
xưng tán này không phải là hư giả.
Cửu phẩm độ chúng
sanh,
Oai đức vô cùng tận.
九品度眾生。
威德無窮盡。
(Chín phẩm độ chúng
sanh,
Oai
đức không cùng tận).
Trước kia, có kẻ nói Tây
Phương Cực Lạc thế giới không thể
đới nghiệp, chỉ có thể tiêu nghiệp văng
sanh, chứ không thể đới nghiệp văng sanh.
Những lời lẽ ấy gần như khiến cho toàn
bộ những người niệm Phật trên thế
giới bị chấn động, gây ra một phen hoang
mang, không biết phải làm sao: “Không đới nghiệp
th́ biết làm sao đây? Chúng ta tu pháp môn này cũng như
không!” Nói thật ra, trong thời Mạt Pháp hiện
tại, nếu không đới nghiệp văng sanh, bất
luận tu học pháp môn nào cũng không ai có thể thành
tựu được. V́ sao? V́ không tiêu được
nghiệp chướng tập khí, trong ức vạn
người khó có được một ai. V́ vậy, không
đới nghiệp văng sanh sẽ chẳng thể phổ
độ chúng sanh. Quư vị thấy “cửu phẩm độ chúng sanh” (chín phẩm
độ chúng sanh) th́ là đới nghiệp hay là không?
Nếu không đới nghiệp th́ chín phẩm do đâu mà
có? Chín phẩm há chẳng phải là do đới nghiệp
nhiều hay ít khác nhau hay sao? Cho dù chưa đoạn được
một phẩm phiền năo nào mà niệm Phật vẫn
được văng sanh, sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư
độ.
V́ thế, đem so thế
giới Tây Phương với hết thảy các cơi
Phật th́ Phàm Thánh Đồng Cư độ của
Cực Lạc thù thắng khôn sánh, qua kinh luận chúng ta
đă đọc thấy rất nhiều. Tây Phương Tịnh
Độ sanh về một là sanh về hết thảy,
ở trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, quư vị có
thể thân cận Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ
Hiền, những bậc Pháp Thân đại sĩ như
thế. Trong những Tịnh Độ các phương khác,
những vị đại sĩ đó trụ trong Thật
Báo Trang Nghiêm độ, quư vị không tiến vào Thật
Báo Trang Nghiêm độ sẽ không thể gặp những
vị ấy. Thế nhưng tại Phàm Thánh Đồng
Cư độ của Tây Phương Cực Lạc
thế giới vẫn có thể suốt ngày từ sáng đến
tối ở cùng một chỗ với các Ngài, thù thắng
khôn sánh! “Cửu phẩm độ
chúng sanh, oai đức vô cùng tận” (chín phẩm
độ chúng sanh, oai đức không cùng tận). Sự
thù thắng ấy do oai đức từ bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ.
Ngă kim đại quy y,
Sám hối tam nghiệp tội.
我今大歸依。
懺悔三業罪。
(Con nay đại quy y,
Sám
hối tội tam nghiệp).
Nay chúng ta gặp
được duyên này, kinh Di Đà dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn,
phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc”
(Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước
đức, nhân duyên để được sanh về cơi
ấy). Chúng ta ngày nay gặp được duyên này,
thiện căn là ǵ? Có thể tin, có thể phát nguyện,
mong cầu văng sanh, đấy là thiện căn. Phước
đức là ǵ? Phước đức là niệm Phật,
nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối. Đấy là phước đức. Vậy th́
chúc mừng quư vị, quư vị thoát ly lục đạo
luân hồi, thoát ly mười pháp giới, về Tây
Phương Cực Lạc thế giới làm Phật.
Đối với chúng sanh trong chín pháp giới, chẳng
những pháp môn này độ được người,
mà c̣n độ được cả súc sanh đạo. Quư
vị thấy trong Tịnh Tông có cuốn sách Vật Do
Như Thử (loài vật c̣n như thế)[1]
chuyên ghi chép những chuyện súc sanh niệm Phật văng
sanh, ngạ quỷ niệm Phật văng sanh, thậm chí c̣n
có chuyện địa ngục niệm Phật văng sanh.
Đúng là phổ độ chúng sanh. Nay chúng ta gặp
được [pháp môn Tịnh Độ], đă gặp th́
phải nên phát tâm, “đại
quy y”.
“Sám
hối tam nghiệp tội” giống như trong bài
kệ Sám Hối của Phổ Hiền Bồ Tát đă nói trong
phần trên. Sám hối phải phát xuất từ nội
tâm, thực sự sám hối. Trong tam nghiệp tội th́
tội ǵ nặng nhất? Thưa cùng quư vị: Không
phải là sát sanh, trộm cắp, hay dâm dục, không
phải những tội đó, tội lớn nhất là
không tin vào Tịnh Độ. V́ sao? V́ chẳng thể văng
sanh, bỏ lỡ mất cơ hội này. Quư vị nên
biết: Qua kinh luận, đức Phật dạy chúng ta,
Ngũ Nghịch Thập Ác tội nặng đến
đâu? Giết cha mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật
chảy máu, phá ḥa hợp Tăng, những tội nặng
nề! Nếu như sám hối, quay đầu niệm
Phật th́ đều được văng sanh. Như
vậy, tội lỗi nặng nhất khiến cho quư vị
chắc chắn chẳng thể văng sanh chính là v́ quư vị hoài
nghi, không tin tưởng, tội lỗi ấy quá nặng.
Ngày nay chúng ta “sám hối tam
nghiệp tội” phải chú trọng điều này,
không chịu niệm Phật, không tin vào niệm Phật.
Hiện tại chúng ta có cái tội này hay không? Mỗi
người hăy tự phản tỉnh!
Chúng
tôi thường nghĩ đến lời giáo huấn
của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, những lời
dạy ấy được ghi trong tập sách nhỏ [mang
tựa đề] Tây Phương Xác Chỉ. Ngài dạy
chúng ta niệm Phật “không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn”. Chúng ta không làm được những
điều ấy là có tội! Những tội nghiệp
ấy khiến cho chúng ta trong một đời này
chẳng thể thành tựu. Khi sám hối tam nghiệp
tội, chúng ta phải đặt chuyện này lên
đầu. Thực sự không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn. Chúng ta niệm Phật, câu niệm Phật
nơi miệng có thể gián đoạn, nhưng niệm
Phật nơi tâm không được gián đoạn.
Miệng niệm th́ phải coi ḿnh đang ở nơi đâu,
có những chỗ không thuận tiện niệm [ra tiếng],
nhưng Phật hiệu trong tâm chưa hề bị gián
đoạn.
Trong đời này, tôi đă
thấy một người từ trước đến
nay chưa hề thấy có lúc gián đoạn, gây ấn
tượng rất sâu cho tôi, người ấy chính là
Chương Gia đại sư. Lăo nhân gia không niệm
Phật mà tŕ chú, Ngài tŕ chú theo cách Kim Cang Tŕ. Trong bất
cứ hoàn cảnh nào, chẳng trở ngại người
khác, miệng Ngài động, tay lần xâu chuỗi; tay
động, miệng động nhưng không phát ra âm thanh.
Chúng tôi đến gặp lăo nhân gia, Ngài cùng tôi tṛ
chuyện, lúc đang tṛ chuyện, chúng tôi thấy rơ tay
lần chuỗi không động, tay cầm xâu chuỗi
không động. Ngài nói chuyện với quư vị, nói xong,
ngay lập tức lại lần chuỗi tiếp. Từ
trước đến nay chưa hề thấy Ngài thay
đổi cách ấy, đúng là đă thành thói quen, tâm Ngài
định, tâm thanh tịnh.
Thầy Lư từng thân cận đại
sư, lúc tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lư,
nhắc đến chuyện ấy, [tôi thưa với thầy
Lư là] trong quá khứ tôi chỉ có một vị thầy là
Chương Gia đại sư dạy tôi ba năm.
Thầy Lư đối với Chương Gia đại
sư rất khâm phục, thầy nói chúng ta là phàm phu không
thể suy lường nổi cảnh giới của Chương
Gia đại sư. Thầy nói nh́n vào cách hành tŕ của
đại sư, bất luận quan sát bất cứ khi
nào, đại sư luôn đang ở trong Định. Thầy
nói không biết đại sư đă khai ngộ hay
chưa, nhưng đại sư đă đắc
tam-muội, thật đấy, không giả đâu! Quả
thật đại sư đi, đứng, nằm,
ngồi đều trong Định. Công phu của
đại sư (chúng tôi không biết Ngài ngủ như
thế nào), bất luận trong trường hợp nào
mỗi khi quư vị quan sát đại sư, quư vị quan
sát kỹ thấy đại sư công phu không gián
đoạn, chẳng bị khuấy nhiễu. Bất
luận trong hoàn cảnh nào, dù là thiện duyên hay ác duyên,
nghịch cảnh hay thuận cảnh, chẳng mảy may
liên can đến Ngài. Ngài lần chuỗi, niệm chú không
ra tiếng. Đấy là sám hối chân thật.
Sám hối phải thể
hiện bằng hành động. Không phải là đối
trước Phật, Bồ Tát cầu xin, van vái, nói: “Con sám
hối, cầu Phật Bồ Tát tha tội!” Không hề
mang ư nghĩa ấy, làm như vậy sẽ chẳng sám
hối được, nhất định phải
hiểu lư! Chương Gia đại sư chỉ cho chúng
ta cách tu sám hối, cách tu như thế nào? Sau này không làm
nữa, đó mới thực sự là sám hối. Niệm
Phật là sám hối rốt ráo. Trong mười hai
thời, từ nay trở đi Phật hiệu trong tâm
không gián đoạn. Quư vị chẳng có vọng
tưởng th́ khuất phục được phiền
năo. Phật hiệu vừa đoạn th́ vọng niệm
bèn khởi. Vọng niệm là tội nghiệp, quư vị tạo
nghiệp nơi ư. Ư tạo nghiệp, thân khẩu tự
nhiên sẽ tạo nghiệp theo. Do vậy, pháp sám hối
rốt ráo chính là “đô nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp).
Đấy mới là cách sám hối rốt ráo. A! Nay đă
đến giờ rồi.
*
Chúng ta lại xem tiếp phần Khai Thị của thiền sư Trung Phong.
Trong
buổi trước, chúng ta đă đọc đến:
Ngă kim đại quy y,
Sám
hối tam nghiệp tội.
我今大歸依。
懺悔三業罪。
(Con nay đại quy y,
Sám hối tội
tam nghiệp).
Đối với người niệm
Phật mà nói th́ câu này là xưng niệm sáu chữ hồng
danh Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô là Quy Y, A Di Đà Phật
là chân chánh sám hối diệt tội. Trong quá khứ,
Phật môn đặc biệt là Tịnh Độ Tông yêu
cầu học nhân trong từng niệm tâm phải luôn có A
Di Đà Phật, phải dưỡng thành thói quen. B́nh
thường tiếp xúc người khác, thậm chí
người ta gọi tên ḿnh, phải trả lời như
thế nào? Đều trả lời: “A Di Đà Phật”.
Dưỡng thành thói quen đó, trong tâm chỉ có A Di Đà
Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật ra, cái ǵ cũng
không có, gần như biến thành một loại quy củ
trong nhà Phật.
Người có tâm cầu văng sanh niệm
một câu A Di Đà Phật, phước huệ tăng
trưởng. Không có ư nghĩ mong văng sanh, thậm chí không
muốn học Phật pháp th́ niệm một câu A Di Đà
Phật sanh phước báo, diệt tội sanh
phước, vô lượng vô biên công đức. Vô cùng
đáng tiếc, người ấy không hiểu, mà cũng
không biết, cho nên trong cuộc sống thường ngày
không biết tu. V́ nguyên nhân nào vậy? V́ mê hoặc, v́ mê
mất. A Di Đà Phật là đức hiệu của tự
tánh, là tên gốc của Chân Như Bản Tánh, trong
những phần trên chúng tôi đă giảng rồi, A Di
Đà Phật là tên gốc của hết thảy chư
Phật, chẳng thể nghĩ bàn!
Ngay trong số những người tu Tịnh
Độ chúng ta, số người biết [điều này]
cũng không nhiều. Nếu thực sự biết, sẽ
quư trọng một câu [danh hiệu] này, sẽ coi một câu
danh hiệu này là vô thượng trân bảo, không có một
pháp thế gian hay xuất thế gian nào có thể sánh
bằng! Quư vị chỉ cần một mực niệm,
đúng như Chương Gia đại sư đă nói
trước đây: “Phật thị
môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa nhà
Phật, có cầu ắt ứng). Quư vị muốn cầu
văng sanh, muốn cầu thành Phật, đều dễ dàng
đạt được, huống chi tất cả
hết thảy những pháp thế gian? Thực sự là “hữu cầu tất ứng”.
Vấn đề là phải niệm đến mức
độ nào? Phải niệm đến khi không hoài nghi,
không xen tạp, không gián đoạn. Trong một đời
này (thế giới hiện tại đúng là quá nhiều tai
nạn), gặp hung hóa cát, gặp nạn thành lành,
chuyện ǵ cũng xứng tâm như ư. Mỗi câu tôi
vừa nói đều là lời chân thật, hiện tại
quư vị được hết thảy chư Phật
hộ niệm, hết thảy các thiện thần ủng
hộ. Hai câu trên đây lợi ích vô biên, sâu rộng không ngằn
mé, nhưng những người học Phật
thường coi thường, thuận tiện như
thế mà bỏ qua, đúng là v́ nghiệp chướng sâu
nặng mà thành ra như vậy. Tiếp đó nói:
Phàm hữu chư phước thiện,
Chí tâm dụng hồi hướng.
凡有諸福善。
至心用回向。
(Bao
phước thiện đă có,
Chí tâm
đem hồi hướng).
Trong cuộc sống thường
nhật, làm được những “phước thiện”, khởi thiện tâm,
thiện niệm, thiện hạnh, v́ xă hội, v́
đại chúng tu phước. Tuy vậy, phải nhớ
rơ: Chớ tự ḿnh hưởng thọ phước báo,
tự ḿnh sống khổ sở một chút. Tốt ở
chỗ nào? Đối với thế gian này không có tâm
lưu luyến, thường có tâm xuất ly, chẳng
khởi tham ái đối với thế gian này. V́ thế,
có phước báo phải chia cho chúng sanh hưởng,
phải giúp đỡ chúng sanh khổ nạn. Trong khi giúp
đỡ th́ quan trọng nhất là giúp chúng sanh phá mê khai ngộ,
điều này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác.
Bởi lẽ, phá mê khai ngộ th́ người ta mới có
thể đoạn ác tu thiện, mới có thể thoát sanh
tử, xuất tam giới, triệt để vượt
thoát hết thảy khổ nạn, các phương pháp khác
làm không được. Đó gọi là Phật sự.
Phật sự là việc của bậc đại trí
đại giác, không phải là chuyện nhỏ!
Nếu có phước báo mà tự ḿnh
hưởng thụ, rất dễ bị mê hoặc.
Một người hưởng phước bèn mê, bèn
điên đảo, bèn tạo ác nghiệp, bèn đọa
lạc; phước báo nên dành cho mọi người
hưởng. Tự ḿnh mỗi ngày ăn không cầu no,
chớ ăn quá no. Ăn quá no sẽ hôn trầm, trọn
chẳng tham cầu ăn uống. Ăn uống nhằm bù
đắp thể lực, bù đắp năng
lượng cho thân thể của chính ḿnh, vừa
đủ là tốt rồi, cũng đừng quá phận,
hết thảy tùy duyên. Nghĩ đến đức Thích
Ca Mâu Ni Phật khi c̣n tại thế ôm bát đi khất
thực, người ta cho thứ ǵ ăn thứ nấy;
có thứ ǵ vui thích hay không vui thích chăng? Không có! Trong tâm
vẫn là một câu A Di Đà Phật. Ăn ngon, A Di Đà
Phật; khó nuốt cũng là A Di Đà Phật. Như
vậy mới tốt! Tiêu nghiệp chướng, tăng
phước huệ.
“Chí tâm
dụng hồi hướng”:
“Chí tâm” là tâm chân thành, thành
tâm thành ư hồi hướng. Trong phần giảng về
mười nguyện Phổ Hiền trước đây,
chúng tôi đă nhắc đến hồi hướng Bồ
Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi
hướng Thật Tế. Nay chúng ta hồi hướng
chúng sanh, hồi hướng thế giới Cực
Lạc, nguyện đem công đức này trang nghiêm Tịnh
Độ Phật, niệm niệm chẳng quên cầu sanh
Tây Phương Tịnh Độ, niệm niệm
chẳng quên thân cận A Di Đà Phật.
Nguyện đồng niệm Phật
nhân,
Cảm ứng tùy thời hiện.
願同念佛人。
感應隨時現。
(Nguyện
người cùng niệm Phật,
Cảm
ứng tùy thời hiện).
Chỉ cần chân thành, thầy Lư
truyền cho tôi bốn chữ “chí
thành cảm thông”. Chân thành đến cùng cực, đó là
Năng Cảm, chư Phật, Bồ Tát bèn Ứng. “Cảm ứng tùy thời
hiện”, thế tục thường gọi chuyện
này là “Phật, Bồ Tát gia tŕ, Phật, Bồ Tát bảo
hựu[2]”. “Tùy thời hiện”: Trong
hết thảy thời, hết thảy nơi chẳng ĺa
Phật, Bồ Tát, trong tâm chúng ta chỉ có A Di Đà
Phật, trong hết thảy thời, hết thảy
xứ, chẳng tách ĺa, trong hết thảy thời,
hết thảy xứ, Phật, Bồ Tát thường chiếu
cố.
Lâm chung Tây Phương cảnh,
Phân minh tại mục tiền.
臨終西方境。
分明在目前。
(Lâm chung cảnh Tây
Phương,
Hiện
rơ ràng trước mắt).
Ở Trung Quốc, người
đầu tiên đề xướng niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ là Huệ Viễn đại
sư thuộc thời đại Đông Tấn. Ngài
dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn,
tập hợp một trăm hai mươi ba người
chí đồng đạo hợp, không xuống núi, lấy
Hổ Khê làm giới hạn, chí đồng đạo
hợp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Trong
suốt một đời Ngài, ba lần thấy thế
giới Cực Lạc, thấy trong Định, nhưng
từ trước đến nay chưa hề kể
với người khác, giấu kín không nói. Ngài thấy t́nh
trạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
giống hệt như kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Trước
khi văng sanh bảy ngày, A Di Đà Phật hiện ra
trước mặt, bảo Ngài: “Tịnh
nghiệp của ông đă chín muồi, bảy ngày nữa
ông sẽ văng sanh thế giới Cực Lạc”. A Di
Đà Phật đến tiếp dẫn Ngài. Đến
ngày thứ bảy, quả nhiên A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn. Ngoài Quán Âm, Thế Chí, lại
c̣n có mấy người thuộc liên xă đă văng sanh
trước Sư cũng đứng gần bên A Di Đà
Phật. Ngài Huệ Viễn bảo với mọi
người như thế; nói xong, Ngài ngồi ngay nơi
đó, viên tịch, không sanh bệnh.
Một trăm hai mươi ba
người thuộc Liên Xă khi ấy gần như
đều văng sanh hết, chẳng thể nghĩ bàn! Là v́
mọi người lúc sơ phát tâm không giống nhau,
Viễn Công từ nhỏ đă thông minh tuyệt
đỉnh. Truyện kư chép lúc Ngài c̣n bé, sáu kinh[3] của
Nho Gia đọc rất nhuần, không những đọc
nhuần nhuyễn c̣n hiểu được ư nghĩa.
Năm mười mấy tuổi, dường như là
năm mười ba tuổi, nghe biết Phật pháp, thân
cận vị thầy đương thời là pháp sư Đạo
An[4],
nghe pháp sư Đạo An giảng kinh Bát Nhă bèn khai
ngộ. Khai ngộ rồi bèn phát tâm xuất gia. Về sau, Ngài
lập đạo tràng tại Lô Sơn, trở thành tổ
đời thứ nhất của Tịnh tông, thành khai
sơn tổ sư. Bốn câu kệ trên nếu áp dụng
vào Niệm Phật Đường ở Lô Sơn quả
thật hoàn toàn tương ứng. “Nguyện đồng niệm Phật nhân, cảm ứng
tùy thời hiện, lâm chung Tây Phương cảnh, phân minh
tại mục tiền” (Nguyện người cùng
niệm Phật, cảm ứng tùy thời hiện, lâm chung
cảnh Tây Phương, hiện phân minh trước
mắt).
Từ xưa những vị
đại đức, đặc biệt là các tổ
sư đại đức của Tịnh Độ tông
cho đến những bậc đại đức trong hàng
cư sĩ tại gia, đă nêu những tấm
gương vô cùng tốt đẹp. Chúng ta thấy trong Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục hay Văng Sanh Truyện, chỉ
cần là người thực sự niệm Phật, thực
sự thực hiện được hai câu kệ ở
phần trên: “Ngă kim đại
quy y, sám hối tam nghiệp tội” (con nay đại
quy y, sám hối tội tam nghiệp), một câu A Di Đà
Phật chết ḷng[5]
niệm, quyết định chẳng c̣n xen tạp
những pháp môn nào khác, nhất tâm niệm th́ không ai chẳng
được văng sanh.
Nay Ấn Quang đại sư
dạy chúng ta, Ngài nói rất hay: Dựng đạo tràng
trong thời hiện tại, đạo tràng dù nhỏ
vẫn là đạo tràng thập phương. Nếu ai không
có tâm riêng tư, nếu không tự tư, tự lợi,
bất luận từ địa phương nào
đến, cốt sao chí đồng đạo hợp, thực
sự tu Tịnh Độ th́ chúng ta đều hoan nghênh
dự vào đạo tràng chuyên tu Tịnh nghiệp. Chúng
thường trụ trong đạo tràng không
được vượt quá hai mươi người,
đạo tràng ấy không hóa duyên[6],
không làm pháp hội, không truyền pháp, không thâu đồ
chúng, không truyền giới, không làm những Phật sự
kinh sám thù tạc, mà chuyên nhất niệm Phật, công khóa
mỗi ngày giống như Phật thất phổ biến
vậy.
Nay chúng tôi đề
xướng, Ấn Quang đại sư dạy không
giảng kinh, nay chúng tôi lại đề xướng
phải nghe kinh, v́ sao? Là v́ con người hiện thời
không hiểu Lư. Giảng kinh hạn cuộc trong năm kinh
một luận Tịnh Độ, trừ những thứ
ấy ra th́ không giảng. Có thể giảng năm kinh
một luận của Tịnh Độ, hoặc ngữ
lục của những tổ sư Tịnh Độ tông,
đặc biệt là ngữ lục của Liên Tŕ
đại sư, Ngẫu Ích đại sư, Ấn Quang
đại sư, chúng ta rút gọn lại trong phạm vi
nhỏ như vậy. Mọi người hiểu lư minh
bạch, rành rẽ phương pháp, chất phác niệm,
chắc chắn thành tựu. V́ thế, đạo tràng
tốt nhất phải có giảng đường, có
Niệm Phật Đường. Giảng đường
để nghe kinh, không hạn chế. Quư vị thích nghe th́
nghe, quư vị không thích nghe th́ đi niệm Phật.
Lấy Niệm Phật Đường làm chủ, dùng
giảng đường để phụ trợ, giải
hạnh tương ứng, Định lẫn Huệ
được học cân bằng, đó là đạo tràng
đúng pháp. Chúng ta lại xem đoạn văn tiếp
theo:
Kiến văn giai tinh tấn,
Đồng sanh Cực Lạc
quốc.
見聞皆精進。
同生極樂國。
(Thấy, nghe đều tinh
tấn,
Cùng
sanh cơi Cực Lạc).
Đây là đoạn văn
mở đầu phần hồi hướng, phát
nguyện.
Kiến Phật liễu sanh
tử,
Như Phật độ
nhất thiết.
見佛了生死。
如佛度一切。
(Thấy Phật hết sanh
tử,
Độ
hết thảy như Phật).
Đây là nguyện vọng duy
nhất của chúng ta: Chúng ta nhất định phải
thấy A Di Đà Phật, tu hành trong thế giới
Cực Lạc, đoạn xong hai thứ Biến Dịch
và Phần Đoạn sanh tử. Quyết định
phải chứng được Phật quả rốt ráo
th́ mới có thể phổ độ chúng sanh trong
mười phương pháp giới. Tiếp theo:
Vô biên phiền năo đoạn.
無邊煩惱斷。
Đây chính là “phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn”.
Vô lượng pháp môn tu.
無量法門修。
Đoạn phiền năo, thành
tựu đức năng cho chính ḿnh, bèn học pháp môn
để thành tựu học vấn của chính ḿnh, sau
đấy mới có thể thực hiện ư nguyện
độ chúng sanh.
Thệ nguyện độ chúng
sanh.
誓願度眾生。
Câu tiếp theo sau câu này có phạm
vi rất lớn, nguyện cho hết thảy chúng sanh
đều thành Phật đạo.
Tổng nguyện thành Phật
đạo.
總願成佛道。
(Nguyện
cùng thành Phật đạo).
So với Tứ Hoằng
Thệ Nguyện, cảnh giới của nguyện này càng
rộng hơn nữa. “Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành” của
Tứ Hoằng Thệ Nguyện chỉ nói về chính ḿnh,
c̣n ở đây nói đến tất cả hết thảy
chúng sanh, “tổng nguyện thành
Phật đạo” (nguyện đều thành Phật
đạo).
Hư không hữu tận,
Ngă nguyện vô cùng.
虛空有盡。
我願無窮。
(Hư không có thể tận,
Nguyện
của tôi khôn cùng).
Phải phát đại
nguyện lớn lao như thế mới tương
ứng với nguyện của Như Lai, không có mảy may
tự tư, tự lợi nào. Ta đoạn phiền năo là
v́ chúng sanh, ta học pháp môn cũng là v́ chúng sanh. Ta thành
Phật đạo vẫn là v́ chúng sanh. V́ chúng sanh mới
chính là thực sự v́ ḿnh, v́ riêng ḿnh chính là tự hại
ḿnh. Phải hiểu đạo lư này! Chúng ta có phước
trao cho hết thảy chúng sanh hưởng th́ quư vị thực
sự có phước, phước vĩnh viễn chẳng
hưởng hết. Nếu phước báo để chính
ḿnh hưởng, dẫu là phước báo tích tập
nhiều đời nhiều kiếp, thường chỉ
hưởng trong một đời, hai ba mươi năm
là hết. Sự t́nh này nếu quư vị chú tâm quan sát
những đế vương trong lịch sử [sẽ
thấy]: Kẻ làm vua chúa, phước báo không phải do tu
được trong một đời, hai đời, mà là
do tu tập tích tụ phước đức từ
nhiều đời, sanh vào nhân gian hưởng
phước, nên mới được làm đế
vương. Họ hưởng được bao nhiêu
năm?
Trong số đế vương các
đời, người có thể sống đến
tuổi sáu mươi rất hiếm. Chúng ta chú tâm quan sát
lịch sử, có rất nhiều vua chúa mới ba, bốn
mươi tuổi đă mạng chung. Dẫu cho họ sanh
trưởng trong nhà đế vương, từ nhỏ
đă hưởng thụ phú quư, về sau kế thừa ngôi
vua; ba bốn mươi tuổi đă chết rồi. Quư
vị nghĩ xem nhiều đời nhiều kiếp tu
tập, tích tụ phước đức cũng không quá
ba, bốn mươi năm là hết, kể cả
thời gian làm vương tử. Thực sự làm
đế vương th́ có rất nhiều kẻ làm vua
chưa đầy mười năm! Có vậy quư vị
mới hiểu phước đức ḿnh tích tụ
để cho chính ḿnh hưởng sẽ bị hết
đi rất nhanh. Nếu cấp cho mọi người
hưởng, phước báo ấy sẽ cuồn cuộn
đưa tới, vĩnh viễn không gián đoạn,
đấy mới là tốt, đúng là đại
phước báo. V́ thế, nguyện của chúng ta phải
lớn, phải giống với chư Phật, Bồ Tát, “hư không hữu tận, ngă nguyện
vô cùng” (hư không dẫu có tận, nguyện của tôi
vô cùng). Tiếp theo đây là bài kệ Hồi Hướng,
cũng là bài kệ Hồi Hướng của những
người chuyên tu Tịnh Độ chúng ta:
23. Hồi hướng
Nguyện sanh Tây Phương Tịnh
Độ trung,
Thượng phẩm liên hoa vi
phụ mẫu.
願生西方淨土中。
上品蓮華為父母。
(Nguyện sanh trong Tây
Phương Tịnh Độ,
Hoa
sen thượng phẩm là cha mẹ).
Thế giới Cực
Lạc không có cha mẹ, chẳng có thai sanh mà là liên hoa hóa
sanh, nên ví hoa sen như cha mẹ, chứ không phải là cha
mẹ thật. “Thượng
phẩm liên hoa” là Thượng Phẩm Thượng Sanh.
Con người phải có chí khí, chúng ta đă tu Tịnh
Tông, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, v́ sao không cầu Thượng Phẩm Thượng
Sanh? V́ sao Hạ Hạ Phẩm là đă măn nguyện rồi?
Những thứ khác đều buông xuống, chỉ yêu
cầu mỗi một điều sau đây. Cầu
điều ǵ? Cầu sớm thành Phật đạo, thành
sớm một ngày sẽ giúp chúng sanh khổ nạn,
vẫn là v́ chúng sanh, chứ không v́ chính ḿnh. Nếu v́ chính
ḿnh chứ không v́ chúng sanh th́ nói thật ra, quư vị không thể
văng sanh được đâu! V́ sao? Nguyện ấy khác
với nguyện của A Di Đà Phật, không giống
với nguyện của tất cả các thượng
thiện nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, trái nghịch với họ, nên không văng sanh
được. Hết thảy v́ chúng sanh, đoạn
phiền năo v́ chúng sanh, thành Phật đạo v́ chúng sanh,
cầu Thượng Phẩm Thượng Sanh vẫn là v́
chúng sanh.
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô
Sanh,
Bất thoái Bồ Tát vi bạn
lữ.
華開見佛悟無生。
不退菩薩為伴侶。
(Hoa nở thấy Phật
ngộ Vô Sanh,
Bất
thoái Bồ Tát là bè bạn).
Sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, liên hoa hóa sanh, thượng
phẩm thượng sanh, đến nơi ấy hoa
nở rất nhanh. “Hoa nở”
tượng trưng cho điều ǵ? Tượng trưng
cho chính ḿnh, không phải do A Di Đà Phật gia tŕ, mà do công
phu tu hành của chính ḿnh đă đạt đến Lư
nhất tâm bất loạn. Chúng ta văng sanh đại đa
số là công phu thành phiến, sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới ở trong hoa sen, hoa sen
chưa nở. Đến lúc nào hoa mới nở?
Đến khi nào chứng được Lư nhất tâm
bất loạn, cũng tức là đă đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Do v́ quư vị ở
trong hoa sen, Phật đến dạy quư vị, chư
Phật, Như Lai đến giảng kinh thuyết pháp cho
quư vị, quư vị thích tu pháp môn nào đều có thể học
pháp môn ấy.
“Bất
Thoái Bồ Tát”: Các vị Bồ Tát viên chứng ba
thứ Bất Thoái từ Thất Địa trở lên là
đồng tham đạo hữu của quư vị, là
đồng học của quư vị, là bằng hữu
ở cùng một chỗ với quư vị. Nhiều
đồng tham đạo hữu tốt lành đến
như thế, lại có chư Phật Như Lai tới dạy
dỗ, quư vị nghĩ thử xem: Khai ngộ rất nhanh
chóng! Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến
tánh, hoa sen bèn nở. V́ thế, hoa sen vừa nở th́
đó là cảnh giới nào? Là Thật Báo Trang Nghiêm Độ!
Trong hoa sen là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, là
Phương Tiện Hữu Dư Độ. Hoa nở
rồi là Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Đấy là
cảnh giới quư vị đích thân chứng
được.
Tất cả hết thảy khai
thị, tán tụng, phát nguyện, không ǵ chẳng nhằm
hiển
thị y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương
Cực Lạc thế giới thù thắng khôn sánh. Chúng ta
nghe xong, thấy xong, hăy nên phát nguyện văng sanh cơi Phật.
Duyên ấy đúng là “bách thiên vạn
kiếp nan tao ngộ” (trăm ngàn vạn kiếp khó
gặp gỡ). Cư sĩ Bành Tế Thanh nói rất hay: “Vô lượng kiếp lai, hy hữu
nan phùng chi nhất nhật” ([ngày được gặp
gỡ, nghe nói pháp môn Tịnh Độ] là một ngày hiếm
có, khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay).
Ngày hôm nay chúng ta đă gặp. Tiếp đến là
phần tán thán Pháp Bảo trong phần tán thán Tam Bảo.
Ở trên, chúng ta đă đọc qua về phần tán thán
Phật Bảo. Ở đây là tán thán Pháp Bảo trong thời
thứ hai:
24. Tam Bảo tán – tán thán Pháp Bảo
Pháp Bảo thực nan
lượng.
法寶實難量。
(Pháp
Bảo thật khó lường).
“Lượng”
(量) là đo
lường, suy lường. Nói cách khác, “Pháp Bảo thực nan lượng” nghĩa là Pháp
Bảo quả thật chẳng thể nghĩ bàn. Không
cần phải xem kinh luận nào khác, nay chúng ta chỉ
đọc ḿnh Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự này thôi,
quư vị thấy kinh Di Đà, chú Văng Sanh, lại c̣n tán
Phật, phát nguyện, khai thị, nh́n vào một chút nhỏ
nhặt dường này mà đă [thấy Pháp Bảo] chẳng
thể nghĩ bàn, huống chi cả một Đại
Tạng Giáo, quả thật khó nghĩ khó bàn, chẳng
thể nghĩ bàn!
Như Lai kim khẩu tuyên
dương.
如來金口宣揚。
Chữ “kim khẩu” (miệng vàng) hàm ư xưng tán. Nh́n
từ mặt Sự, Phật là kim sắc thân, [nghĩa là] thân
Phật màu vàng ṛng, bởi thế chúng ta nói mặt Phật
là “kim diện” (mặt vàng), gọi miệng Phật là “kim
khẩu”. Nếu luận theo Lư th́ trong bảy báu, v́ sao vàng
được mọi người coi trọng đến
thế? V́ vàng chẳng biến đổi, những thứ
khác như bạc chẳng hạn có thể bị “dưỡng
hóa” (oxidize: ốc-xít hóa), biến thành màu đen. Riêng màu vàng
của vàng trong bất cứ t́nh huống nào cũng
vẫn giữ được bản sắc, nên trong
những thứ kim loại, mọi người đều
quư vàng. Chữ “kim khẩu”
ư nói những lời Như Lai nói đều là vĩnh
hằng bất biến, chữ Kim có ư nghĩa như
vậy, biểu thị ư nghĩa này. Hết thảy pháp do
từ miệng vàng của đức Như Lai tuyên
dương.
Long cung hải tạng tán thiên
hương.
龍宮海藏散天香。
(Cất
tại cung rồng trong biển cả, rải hương
trời)
Lúc đức Thế Tôn
thuyết pháp, nói xong, Đại Long Bồ Tát thâu thập
lại, cất giữ trong thư viện của ḿnh,
cất giữ trong cung rồng. Câu này chỉ kinh ǵ vậy?
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Lúc
đức Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện mới thành
Phật, ở dưới cội Bồ Đề, đức
Phật nói kinh này trong Định, thời gian không dài, trong
hai tuần, có chỗ nói là ba tuần. Nói cách khác, tính là ba
tuần th́ mới là hai mươi mốt ngày, đức
Phật giảng kinh trong Định. Phàm phu chẳng có
phần, chẳng thể tham dự pháp hội trong
Định của Như Lai, bởi lẽ, đại chúng
tham dự pháp hội là bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ. Chúng tôi
thường nói: “Phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Chân Tánh”.
Người như vậy mới đủ tư cách tham
dự pháp hội Hoa Nghiêm, nghe đức Phật giảng
kinh Hoa Nghiêm, đi vào trong Định của Như Lai.
Cũng có nghĩa là người trong mười pháp
giới chẳng có phần.
Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy
có rất nhiều thiên chúng, thần chúng, v́ sao họ
cũng tham dự được? Phải biết:
Những loại chúng quỷ thần ấy đều là
chư Phật hay Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín
pháp giới, không thực sự là phàm phu. Nếu thực
sự là phàm phu, họ làm sao có thể tham dự pháp
hội ấy được? V́ thế, trong số các
quỷ thần cũng có chư Phật, Bồ Tát ứng
hóa, họ là ứng hóa nên có thể tham gia. Họ tham gia
cũng như đại diện cho một loài chúng sanh,
chứ không phải là phàm nhân, mà toàn là Pháp Thân Bồ Tát.
Trong thời gian ngắn
ngủi như thế, đức Phật giảng bao nhiêu?
Giảng quá ư là nhiều! Đức Phật diệt
độ sáu trăm năm, Long Thọ Bồ Tát sanh ra. Ngài
Long Thọ là Sơ Địa Bồ Tát, đi vào long cung,
thấy Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
kinh lớn đến chừng nào? Ngài nói: “Mười đại thiên thế giới vi
trần kệ, một tứ thiên hạ vi trần
phẩm”. Trong thế gian này không có ai có thể đọc
hết nổi! Lại xem có bản nào đơn giản
hơn hay không? À! Lại coi đến Trung Bổn,
người thế gian chúng ta vẫn không thể lănh
thọ được nổi, v́ phân lượng quá
lớn. Cuối cùng, c̣n có thứ nào đơn giản
hơn hay chăng? Đại Long Bồ Tát liền
đưa phần mục lục đề yếu của
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh cho ngài
Long Thọ xem. Giống như Tứ Khố Toàn Thư
của chúng ta vậy. Quư vị thấy bộ Tứ
Khố Toàn Thư ở giảng đường chúng ta, nay
là bản in chữ rút nhỏ lại, tổng cộng
một ngàn năm trăm tập. Bộ sách này có bản
Mục Lục Đề Yếu đơn giản nhất,
in thành năm tập; phần này do Kỷ Hiểu Lam biên
soạn: Mỗi một cuốn sách, tựa đề, tác
giả, sáng tác trong niên đại nào, nội dung nói
những ǵ, đều được giới thiệu
đơn giản. Những thứ này trước đây
được soạn cho vua Càn Long xem. Hoàng đế Càn
Long không có thời gian xem nhiều sách đến thế, do
vua muốn hiểu nội dung mỗi cuốn sách như
thế nào, nên [Kỷ Hiểu Lam] đặc biệt
soạn tóm tắt cho vua xem.
Ngày nay chúng ta đọc kinh Hoa Nghiêm,
chính là mục lục đề yếu của kinh
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Quư
vị mới hiểu đức Thế Tôn nhập
Định, quư vị phải biết là thời gian trong
Định đem so với thời gian hiện tại
của chúng ta phải có sai biệt. Kinh Đại Thừa
thường nói: “Một niệm có thể mở
rộng thành vô lượng kiếp, vô lượng kiếp
có thể rút gọn thành một niệm”. Niệm và
kiếp viên dung. V́ thế, đức Phật có thể
trong khoảng một niệm giảng vô lượng vô biên
Phật pháp, biến thành vô lượng kiếp. Đấy
chính là ư nghĩa của câu “long
cung hải tạng tán thiên hương”. Đại Long
Bồ Tát thâu cất trong cung rồng. Bản Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh do Long Thọ Bồ
Tát truyền ra gồm mười vạn kệ[7],
bốn mươi phẩm, đều là phần mục
lục đề yếu.
Giác giả tụng lang hàm.
覺者誦琅函。
(Bậc giác ngộ đọc
kinh văn).
Chỉ
có người thực sự giác ngộ mới hiếu
học, mới thích thú, thích thọ tŕ, đọc tụng.
Từ ngữ “lang hàm” (琅函) ngày nay cũng ít
người hiểu. Lang Hàm là ǵ vậy? Lang Hàm là cái
hộp chứa đựng sách thời cổ. Như nay quư
vị thấy những cuốn sách in theo lối cổ, bên
ngoài có một cái hộp đựng để bảo
vệ. Câu này có ư nghĩa là đọc quyển kinh, nói theo
cách bây giờ là đọc bản kinh.
Ngọc
trục, hà điều, kim tả tự.
玉軸霞條金寫字。
(Trục ngọc, lụa màu ráng
trời, viết chữ vàng).
Những
bản kinh xưa kia, những bản kinh cổ nhất
được viết trên lụa, giống như thư
họa hiện tại. V́ thế gọi là một Quyển
(卷: cuộn lại). Quyển ấy
viết xong, cuộn lại, gắn trục, trục
được làm bằng ngọc. Dùng lụa loại
tốt nhất nhằm tôn trọng kinh điển, coi kinh
điển như của báu vô thượng. Kinh quyển
thời cổ như thế – nói theo cách bây giờ là “trang
hoàng” – dùng cách trang hoàng kinh điển đẹp
đẽ, quư trọng nhất, chữ viết bằng
vàng. Hiện tại quư vị có thể thấy những
quyển kinh như thế trong những viện bảo
tàng, có loại viết chữ vàng, có loại viết
chữ bạc; dùng [bột] vàng hay bạc [ḥa vào mực hay
chất son] để viết.
Tự
bài thu nhạn thành hàng.
似排秋雁成行。
(Như chim nhạn bay thành hàng
trong mùa Thu).
Câu này
có ư chỉ Phạn văn, cũng có thể hiểu là
thư pháp viết hết sức đẹp đẽ,
thư pháp tinh xảo, tề chỉnh. Phạn văn
được viết theo hàng
ngang, c̣n Hán văn viết theo hàng dọc. Văn tự Tây
Tạng là biến thể trực tiếp của văn
tự tiếng Phạn, giống như văn tự Nhật
Bản do học từ Trung Quốc rồi biến đổi
đi, có quan hệ hết sức mật thiết. Nay chúng
tôi đến Nhật Bản, nói thật ra, không khác ǵ ở
Trung Quốc cả, dẫu ngôn ngữ không thông, nhưng
văn tự xem đến liền hiểu
được. Chúng tôi đọc tên mỗi
đường phố đều hiểu, dù âm đọc
khác nhau, nhưng nhận biết được mặt
chữ, hiểu được ư nghĩa. Câu này chúng ta có
thể giải thích là văn tự chỉnh tề, lối
chữ khéo léo, ngay ngắn, chỉnh tề, đều hàm ư
tôn trọng Pháp Bảo.
Tích nhân tam tạng thủ lai
Đường.
昔因三藏取來唐。
(Xưa
nhờ Tam Tạng đem qua Trung Hoa).
Mọi người vừa
đọc đến câu này, thấy từ ngữ “Tam Tạng” bèn nghĩ ngay
đến pháp sư Huyền Trang, tức Đường
Tam Tạng. Trên thực tế, câu này mang ư nghĩa rất
rộng. Thời cổ, rất nhiều pháp sư từ
Trung Quốc qua Ấn Độ thỉnh kinh, học
tập. Cao tăng đại đức Ấn Độ
mang theo tượng Phật, kinh sách đến Trung
Quốc cũng không ít. Vào thời đó, những pháp sư
phiên dịch kinh điển đều gọi là “Tam Tạng pháp sư”. Kinh
Phật [dịch sang tiếng Hán] bắt đầu từ
thời Hán, vào đời Hậu Hán[8] kinh
Phật được chánh thức truyền sang Trung
Quốc, truyền sang rồi mới bắt đầu
phiên dịch, nhưng kinh được phiên dịch
nhiều nhất là vào đời Đường. V́
thế, vào đời Đường, mười tông phái
Đại Thừa và Tiểu Thừa[9]
của Phật giáo Trung Quốc được thành
lập, có thể nói là Phật pháp Ấn Độ đă
di thực[10] hoàn
toàn đến Trung Quốc. Vào đời Đường
có thể nói là [Phật giáo] đă di thực hết sức
viên măn, biến thành một bộ phận của văn hóa
Trung Quốc, ảnh hưởng hết sức rộng
lớn. Có rất nhiều thuật ngữ trong cuộc sống
thường ngày của chúng ta phát xuất từ Phật
giáo. V́ vậy, lăo cư sĩ Triệu Phác Sơ từng nói
rất hay; cụ nói: “Nếu
chúng ta vứt bỏ Phật giáo sẽ không thể nói
năng ǵ được nữa!” Cụ nói như
vậy là đúng đấy, nhưng người hiểu
được câu nói ấy không nhiều. Trong những
thuật ngữ thường dùng hằng ngày của chúng ta
có rất nhiều từ ngữ lấy từ kinh Phật.
Vạn cổ vị phu dương.
萬古為敷揚。
(Phô
diễn đến muôn đời).
Tức là đời đời truyền tụng, lưu thông muôn đời, lợi ích rộng răi
chúng
sanh. Đây là đại ư của bài tán Pháp Bảo.
Trong Phật sự có
xướng niệm, do vậy thời gian làm Phật
sự phải dài. Nếu rất nghiêm túc, rất chân thành
làm Phật sự th́ một buổi Phật sự phải
mất ba tiếng. Ba tiếng đồng hồ, sức
lực ai nấy đều kém đi một chút, cảm
thấy mỏi mệt. Bởi thế, trong Phật sự
phải có âm nhạc, phải có xướng tụng, có
nhiễu Phật, có hoạt động. Phối hợp
rất nhiều phương tiện thiện xảo
lại, khiến chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, rất
nhanh chóng, không biết là thời gian kéo dài, cũng không
cảm thấy nhọc nhằn. Tâm chân thành thực
hiện được một buổi Phật sự viên
măn, cơi âm lẫn cơi dương cùng được lợi.
Nói thật ra, người làm Phật sự chúng ta
được lợi ích lớn nhất. Kinh Địa
Tạng dạy không sai, bảy phần công đức th́ bản
thân chúng ta được hưởng sáu phần, vong linh,
quỷ thần được hưởng một phần
bảy.
Thế nhưng Phật sự
ấy có lợi ích rất thù thắng đối với
vong linh. Do nguyên nhân nào? Người làm pháp sự rất
đông, chẳng phải chỉ là mấy vị pháp sư
làm, không phải thế, mà là đại chúng đều có
thể tham dự. V́ vậy, nay chúng ta thường làm
Phật sự Tam Thời Hệ Niệm; tại Đài
Loan, tại Trung Quốc, có đến hơn cả trăm
người tham dự, thậm chí có khi đến hơn
ba trăm người, quư vị nói xem công đức
ấy lớn đến đâu! Lợi ích ấy rất
lớn. Từ báo cáo nước kết tinh, chúng ta có thể
hiểu được đạo lư này: Tập hợp
sức mạnh của đại chúng, công đức thù
thắng! Nhất là tập hợp những người thực
sự có tu hành, những người tâm địa thanh
tịnh, tâm địa thiện lương, những
người ấy tâm ít nhiều tương ứng cùng
kinh giáo. Trong khi làm Phật sự, họ có thể buông
xuống vạn duyên, tối thiểu là trong lúc làm pháp
hội, trong thời gian ngắn ngủi, buông xuống
hết thảy tạp niệm, chuyên tâm thực hiện
buổi công khóa ấy. Người [tham dự] lại
đông ngần ấy, có pháp sư dẫn đầu; do
vậy, Phật sự như vậy thù thắng hơn
những Phật sự khác quá nhiều! Ví như nói
Lương Hoàng Sám, người tham dự không đông được
như thế; thực sự làm pháp sự chỉ có vài
vị pháp sư, chứ đại chúng không thực sự
tham dự; nhưng Tam Thời Hệ Niệm là thực
sự tham dự, khác hẳn. A! Bây giờ đă hết
giờ rồi.
Tập
50
25. Khai thị
Xin xem tiếp phần khai
thị lần thứ ba trong thời thứ hai, tiếp
ngay sau phần tán thán Pháp Bảo. Chúng tôi đọc lời
khai thị một lượt:
Cái văn: Hư nhi hữu minh
đáp chi thanh, tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng.
Nhiên cốc hưởng tự nhiên, phi hô chi nhi bất
đáp. Phật thân vô tác, phi khấu chi nhi bất chương.
蓋聞虛而有鳴答之聲。寂而無形影之相。然谷響自然。非呼之而不答。佛身無作。非扣之而不彰。
(Từng
nghe: Trống rỗng mà có tiếng đáp ứng, tịch nhưng
không có tướng h́nh ảnh. Thế nhưng, hang dội
tiếng vọng là tự nhiên, không bao giờ kêu mà
chẳng đáp. Phật thân vô tác, không bao giờ gơ mà
chẳng hiển bày).
Chúng ta xem tiểu đoạn này
trước. Đoạn này giảng về đạo lư cảm
ứng đạo giao. “Cái
văn” (từng nghe) – “văn” (聞) là nghe –
từng nghe đức Thế Tôn khi giảng kinh, thuyết
pháp thường nói đến. “Hư
nhi hữu”: Hư (虛) là hư vô, con
người hiện nay gọi “hư
nhi hữu” là “từ trong Không sanh ra Có”. Trước kia
thường tưởng chuyện trong Không sanh ra Có không
thể nào xảy ra được. Các nhà khoa học
cận đại đă chứng thực: Quả thật,
Hữu từ Vô sanh ra, đúng là trong Không sanh ra Có. “Hư nhi hữu minh đáp chi
thanh” (trống rỗng mà có tiếng đáp vọng), “minh đáp chi thanh” (tiếng
đáp vọng lại) là cách nói h́nh tượng, ở
phần sau thiền sư sẽ nói cụ thể cho chúng ta
hiểu, dẫn sự tướng làm chứng. “Tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng”
(tịch nhưng không có tướng h́nh ảnh), trong
thanh tịnh tịch diệt không có tướng h́nh
ảnh, pháp vốn là như thế. H́nh tướng do
đâu mà có? Nói chung không ngoài cảm ứng. Tiếp đó,
dùng sự thật để nói. Hai câu đầu giảng
về Lư Thể, Thể của Pháp Tánh vốn là như
vậy, thanh tịnh tịch diệt!
“Nhiên
cốc hưởng tự nhiên, phi hô chi nhi bất đáp” (nhưng
hang dội tiếng vọng là tự nhiên, không bao giờ
kêu mà chẳng đáp). Đây là nêu thí dụ minh họa ư
đầu tiên “hư nhi hữu
minh đáp chi thanh” (trống rỗng mà có tiếng đáp
vọng). Hang núi quả thật không có âm thanh, nhưng
nếu quư vị hú dài một tiếng sẽ có tiếng
vọng; bởi thế, “phi hô
chi nhi bất đáp” (không bao giờ kêu mà chẳng
đáp). Nếu quư vị không hú dài một tiếng, hang núi
cũng không vọng lại tiếng. Đấy chính là “trống rỗng mà có tiếng
đáp vọng”. Tiếng đáp vọng ấy phải
do chính quư vị dẫn khởi; hang núi có khả năng ứng
tiếng, nhưng quư vị phải cảm, cảm ứng
mà, tướng được hiện bèn hiện tiền.
Trong câu kế đó, “Phật thân vô tác” chính là “tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng”
(tịch nhưng không có tướng h́nh ảnh). Quả
thật chư Phật Như Lai không có h́nh tướng,
nhưng nếu quư vị đánh động, chư
Phật liền hiện ra. Khấu (扣: gơ, đánh
động) là Cảm, Chương (彰) là
hiển hiện rất rơ rệt, tức là Ứng. Chúng
sanh có Cảm, Phật bèn có Ứng. Cảm khác nhau, thiên sai
vạn biệt (muôn vàn sai khác) nên Ứng cũng khác nhau,
cũng là thiên sai vạn biệt. Người cảm có lúc
hữu ư, có lúc vô ư, hoặc có thể nói là chúng ta hữu tâm
hay vô tâm, nhưng Ứng luôn luôn là vô tâm. Vô tâm, vô ư, tùy quư
vị cảm như thế nào sẽ ứng như thế
đó, cảm ứng đạo giao, hiển hiện vô
lượng vô biên sắc tướng. Sự cảm
ứng ấy đều là duy thức sở biến, nó có
thể hiện th́ là duy tâm sở hiện, tâm hiện,
thức biến. Thức do tâm hiện, biến thành vô
lượng vô biên sắc tướng, trong Phật pháp
gọi là “vô lượng vô biên pháp giới”. Vốn là
Nhất Chân, kết quả Nhất Chân biến thành vô
lượng vô biên pháp giới, trong ấy có khổ hay vui
khác nhau. Tiểu đoạn này nói không nhiều, nhưng
nghĩa lư sâu rộng vô tận, người học
Phật chẳng thể không biết.
Tin Phật th́ dựa vào đâu
để tin? Dựa vào đạo lư mà tin, nhờ vào
những sự thật mà tin tưởng. Phá mê khai ngộ,
phản vọng quy chân (bỏ vọng trở về chân) là
nhờ vào đâu? Cũng nhờ vào đạo lư này.
Nếu quư vị thực sự hiểu được
đạo lư này sẽ có thể thay đổi
được vận mạng hiện tiền. Ta muốn
được vận mạng tốt, ta hy vọng
suốt đời gặp may, không khó đâu, chỉ
cần quư vị có Cảm tốt, tự nhiên sẽ có
Ứng tốt. Cổ đức đă nói: “Chủng thiện nhân đắc thiện quả” (Trồng
thiện nhân được thiện quả). Trong kinh
Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Thế
Tôn đă dạy chúng ta: “Thường
niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện
pháp, bất dung hào phân bất thiện hiệp tạp” (Thường
nghĩ đến thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán
sát thiện pháp, chẳng để mảy may bất
thiện xen tạp), quư vị sẽ được
hạnh phúc vĩnh hằng, rốt ráo, viên măn, “năng ly nhất thiết thế
gian khổ” (ĺa được hết thảy nỗi khổ
trong thế gian). Đó là cảm ứng! Lư cảm ứng
pháp vốn là như thế, là đức năng của
tánh đức. Tự tánh vốn sẵn có, vốn có
năng lực, vốn có đức tướng. Nay chúng ta
thành ra nông nỗi này th́ không có chi khác cả, chỉ do mê
mất mà thôi! Đă mê mất nên khởi tâm động
niệm đều là bất thiện, nếu cảm là bất
thiện th́ sự hồi đáp làm sao thiện cho
được? Không có đạo lư ấy đâu!
Người thế gian cầu
tài, hiện tượng này phổ biến nhất, tài
ở nơi đâu? Tài ở ngay trong mạng của quư
vị. Trong mạng quư vị không có của th́ quư vị
cầu nơi đâu? Dẫu của cải ngập
đất quư vị cũng không dùng được! Nếu
quư vị cố làm cho được th́ họa hại
xảy ra liền. V́ sao? Không có số để
hưởng. Trong mạng không có tiền của, phải
tu! Chẳng phải là cầu không được, có
thể cầu, hăy tu đi! Tu ǵ? Đức Phật dạy
chúng ta tu Tài Bố Thí. Càng không có tiền của, càng keo
kiệt, đúng là sai lầm, phải cùng quẫn suốt
đời. Nếu quư vị thấy ai cùng khổ, đúng
là người ấy không có chút phước báo nào. Nếu
quư vị thấy họ là người rất rộng răi,
dẫu không có, vẫn bỏ ra một chút, cũng chịu
bố thí, chúng ta biết người ấy sau này nhất
định sẽ khá giả. V́ sao? Hiện tại
người ấy gieo nhân, trong mạng dẫu không có tiền
của, nhưng người ấy có thể dần
dần chất đầy cái kho tiền tài trong số
mạng.
Tài Bố Thí được giàu có, Pháp
Bố Thí được thông minh, trí huệ, Vô Úy Bố Thí
được khỏe mạnh, sống lâu. Đức
Thế Tôn thường nói như vậy trong các kinh
luận Đại, Tiểu Thừa. Trong những buổi
giảng, chúng tôi cũng không ngừng lặp lại, quư
vị nghe có hiểu hay chăng? Quư vị có nghe lọt tai
hay không? Quư vị có y giáo phụng hành hay chăng? Chỉ
cần quư vị chịu làm, đừng lo lắng, năm
năm, mười năm, hai mươi năm sau, quả
báo sẽ hiện tiền. Không phải ta bố thí hôm nay,
ngày mai sẽ được phát tài liền, không có
đạo lư như vậy đâu! Chỉ thành tâm thành ư mà
làm, ngạn ngữ thường nói: “Chỉ vấn canh vân, mạc vấn thâu hoạch” (chỉ
hỏi cấy cày, chớ hỏi thâu hoạch). Chỉ cần
[quan tâm] ta phải trồng nhân lành, ta phải tu Tài Bố
Thí, Pháp Bố Thí, Vô Úy Bố Thí, đừng hỏi
đến quả báo. Nhân duyên chín muồi, quả báo
sẽ tự nhiên hiện tiền. Như vậy rồi quư
vị mới thực sự hiểu rơ lời Phật nói
là thật, không giả! Cảm và Ứng thực sự
hiện tiền. Hiện tiền rồi, quư vị phải
có trí huệ, quả báo hiện tiền nhưng chính ḿnh
không hưởng thụ, lại phải bố thí cho
hết thảy chúng sanh hưởng thụ, như vậy
mới là tốt!
Những vị lăo đồng
học, quư vị theo tôi đă lâu, bao nhiêu năm rồi, quư
vị đă thấy, đều thấy cả rồi. Lúc
tôi mới học, tôi là người có phước hay không,
nh́n tướng mạo là biết liền. Quư vị
thấy tướng mạo tôi lúc mới xuất gia, quư
vị biết ngay: Một tí phước báo cũng không có!
Nếu quư vị chú tâm quan sát thêm, lại c̣n là tướng
đoản mạng. Lúc tôi xuất gia là đă học
Phật bảy năm rồi. Nói cách khác, lúc ấy đă có
chút chuyển biến nhỏ nhoi. Lúc vừa mới học
Phật, tướng mạo lúc ấy đúng là bất
hảo. V́ thế, chính tôi cũng chẳng biết nói làm
sao! V́ lẽ nào thầy lại chiếu cố đến
tôi? Đây không phải là chuyện dễ dàng! Người
ta thường chiếu cố ai đó đều là v́
thấy kẻ ấy có tương lai, người ấy
có thể dạy được. Thấy kẻ nào vừa
không có phước lại vừa đoản mạng, trong
cái nh́n và ư nghĩ của mọi người, ắt họ
kính nhi viễn chi kẻ đó, buông bỏ kẻ đó.
Những vị thầy của tôi quả thật chẳng
phải là phàm nhân!
Đại khái trong đời
quá khứ, tôi không tu Tài Bố Thí, coi thường, mà cũng
chẳng tu Vô Úy Bố Thí. Đời này khi trẻ tôi c̣n
đi săn, đi săn cả ba năm, hằng ngày sát
sanh, không ngày nào chẳng sát sanh. Sát nghiệp rất
nặng. May là trong đời quá khứ tu được
chút Pháp Bố Thí, có được một chút trí huệ.
Lúc nhỏ (thời gian không dài, đại khái chỉ
chừng hai ba năm, lúc c̣n rất nhỏ), đại khái
khoảng năm sáu hay bảy tuổi, trong khoảng
thời gian ấy được cha mẹ dạy dỗ.
Lúc ấy tuy chưa lớn, nhưng đă bén rễ
khiến cho tôi hiếu học, biết hiếu thuận cha
mẹ, tôn sư trọng đạo, nền tảng
rất sâu dầy. Trông thấy miếu Thành Hoàng bị quân
đội phá hủy, Thành Hoàng phải dọn nhà; ba ngày
trước khi miếu bị phá hủy, tôi giúp Thành Hoàng
dọn nhà, bởi thế tôi kết duyên rất tốt
với Thành Hoàng. Vị Thành Hoàng ấy thường thân
cận bên tôi.
Được thầy quan tâm
chiếu cố, cuối cùng tôi hiểu rơ, giác ngộ, quay
đầu, đoạn ác, tu thiện, tự ḿnh nhận
thấy trước đây ḿnh sát nghiệp rất
nặng, khi hiểu ra, tôi bèn ăn chay trường, phóng
sanh! Dẫu thâu nhập hết sức ít ỏi, tôi bằng
ḷng bỏ hết tiền để phóng sanh. Học xong,
xuất gia, xuất gia năm ba mươi ba tuổi, bắt
đầu nhận lời người khác mời giảng
kinh, giảng kinh được cúng dường. Tôi có
tiền bèn phóng sanh, có tiền để bố thí thuốc
men, có tiền bèn in kinh. Có lúc in kinh, chúng tôi không có tiền để
in kinh một ḿnh, xưởng in kinh in kèm thêm[11],
gởi trước một ít tiền thôi. Kinh sách in xong,
họ gởi cho tôi mấy bản. Tôi làm chuyện như
vậy, làm như vậy suốt đời. Đến khi
ngoài bốn mươi tuổi, cúng dường dần
dần nhiều hơn, tôi có khả năng đứng ra
in kinh một ḿnh, chính ḿnh muốn in bao nhiêu cũng
được, suốt đời làm chuyện này,
cuộc sống hết sức đơn giản.
Gần đây nhất,
khoảng chừng hơn ba mươi năm, tôi không dùng
đến tiền. Ở Mỹ, ngân hàng Mỹ Quốc cấp
cho tôi thẻ tín dụng, tôi có khá nhiều thẻ tín dụng
loại vàng (gold credit card), từ đó đến nay
chưa dùng tới lần nào. H́nh như họ cấp cho
đôi ba lượt, về sau không cấp nữa, chưa
hề dùng đến. Như vậy phước báo như
quư vị hiện đang thấy đó h́nh như là càng ngày
càng nhiều, đúng là tâm tưởng sự thành. Chúng tôi
không có ư niệm ác, không có ư niệm hưởng thụ,
toàn là tất yếu “có cảm ắt có ứng”. V́ thế,
chính ḿnh chẳng nên thụ hưởng phước báo, nhường
cho hết thảy chúng sanh hưởng, đặc biệt
là chúng sanh khổ nạn.
Sau khi hiểu rơ đạo lư
này, quư vị mới thực sự làm, thực sự có
cảm ứng. Quư vị càng làm càng hoan hỷ, v́ sao? Có
thể giúp cho rất nhiều chúng sanh khổ nạn. Giúp
đỡ quan trọng nhất vẫn là Pháp Bố Thí.
Hiện tại, chúng ta thực hiện Pháp Bố Thí,
ngoại trừ công khai giảng diễn ra, có không ít
bản giảng kư được lưu thông. Rốt
cuộc số lượng là bao nhiêu? Chúng tôi không biết,
không phải do tôi in. Thậm chí rất nhiều bản
giảng kư không do tôi viết. Tôi giảng xong, có
người chép lại từ băng thâu h́nh hay băng thâu
âm, soạn thành sách để lưu thông. Rất nhiều
thứ ghi chép tôi chưa từng xem đến, tôi cũng
không muốn xem. V́ sao? Nói xong th́ thôi. Cớ ǵ phải
lưu lại vết tích? Ai thích làm th́ tùy duyên, quư vị
thích làm th́ cứ làm!
Hiện thời c̣n lợi dụng
kỹ thuật cao, chúng ta có Internet, có vệ tinh. Internet hay
vệ tinh cũng không do tôi làm, ai làm tôi đều hoan
hỷ, tôi cũng chẳng chướng ngại người
ấy, mà cũng chẳng tán trợ người ấy.
Nếu tôi tán trợ quư vị, tôi phải đi hóa duyên, tôi
phải đi kêu gọi quyên góp, suốt đời tôi không
làm chuyện ấy. Có không ít người hảo tâm làm
chuyện đó, làm khá thành công, đều là chuyện
tốt. Bản thân chúng tôi suốt đời không nhọc
ḷng, không phan duyên. Không nhọc ḷng th́ chuyện ǵ cũng
tốt, như vậy mới tự tại, tâm mới thanh
tịnh. Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, trí huệ mở
mang rồi mới có thể hiểu kinh giáo, mới có
thể lănh hội. V́ thế, tâm phải thuần thiện
thuần tịnh, chẳng những tiếp xúc với kinh luận
của Phật, Bồ Tát, trí huệ của quư vị
mở mang mà ngay cả những pháp thế gian, sáu căn
tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài thảy
đều mở mang trí huệ. Đấy chính là năm
mươi ba lần tham học của Thiện Tài.
Từ kinh giáo mở mang Căn Bản
Trí, từ cuộc sống thường ngày khai phát Hậu
Đắc Trí. Suốt một đời chúng ta có thể
sống trong trí huệ, không sống trong phiền năo, không
sống trong ưu lự, quư vị nói xem: Hạnh phúc nào
sánh bằng? Hạnh phúc ấy do Phật, Bồ Tát,
thầy, thiện tri thức ban cho chúng ta, ân đức
ấy niệm niệm chẳng quên, tri ân báo ân, báo ân
bằng cách nào? V́ người khác diễn nói. Trong kinh,
đức Phật dạy chúng ta: Thọ tŕ, đọc
tụng, v́ người khác diễn nói th́ mới là báo ân Phật,
mới ḥng báo ân thầy, mới ḥng báo ân thiện tri
thức, mới ḥng báo ân hết thảy chúng sanh. Xin xem
tiếp đoạn văn kế đó:
Thượng lai khải kiến
đệ nhị thời Hệ Niệm Phật Sự
dĩ viên.
上來啟建第二時繫念佛事已圓。
(Từ trên
tới đây tạo tác Hệ Niệm Phật Sự
thời thứ hai đă viên măn).
Hệ Niệm Phật Sự thời
thứ hai tới đây đă viên măn.
Như thượng thù huân, đầu
nhập Như Lai đại nguyện hải trung,
xuất
sanh công đức.
如上殊勳。投入如來大願海中。出生功德。
(Công huân
thù thắng như thế, gieo vào trong biển đại
nguyện của Như Lai, sanh ra công đức).
[Ư nghĩa] hoàn toàn giống như trong
thời thứ nhất.
Chuyên vị vong linh tẩy
trừ nghiệp cấu.
耑為亡靈洗除業垢。
(Chuyên
v́ vong linh rửa trừ nghiệp cấu).
Phần trên là thời thứ
nhất, đây là thời thứ hai. Có nhiều
người như thế cùng hợp lại tu pháp sự
này, nhằm để làm ǵ? “Chuyên
v́ vong linh”, cũng v́ hết thảy quỷ thần, “rửa trừ nghiệp
cấu”.
Tăng trưởng thiện
căn, xả thử báo duyên, văng sanh Tịnh Độ.
增長善根。捨此報緣。往生淨土。
(Tăng trưởng thiện
căn, bỏ báo duyên này, sanh về Tịnh Độ).
Chúng ta tu pháp sự này nhằm
vào mục đích này đây. Lợi người, đương
nhiên cũng là tự lợi. Chúng ta nhất định
phải hiểu rơ “tự - tha
không hai”. V́ sao? Trên kia đă nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt”.
Tâm, Phật, chúng sanh nguyên là một thể. V́ thế,
lợi tha mới là thực sự tự lợi, tự
lợi nhất định phải lợi tha. Nếu
tự lợi, chẳng lợi tha th́ chẳng phải là
tự lợi mà là “tự ḿnh hại ḿnh”! Phần khai
thị tiếp theo đây đối với chúng ta có tánh chất
khải phát rất mạnh.
Đản niệm tự tùng vô
thỉ, ngật chí kim sanh.
但念自從無始。迄至今生。
(Nhưng nghĩ từ vô
thỉ cho đến đời này).
“Đản
niệm” là chúng ta hồi tưởng, phản tỉnh,
từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay.
Âu sanh cự hải, trục
thức lăng dĩ cao đê.
漚生巨海。逐識浪以高低。
(Bọt nước sanh trong
biển cả, theo sóng thức lên cao xuống thấp).
Đây là nói tỷ dụ. Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn từng nhắc đến tỷ dụ này. Trong kinh Lăng
Nghiêm có tỷ dụ như sau: Đức Phật ví Chân Tâm,
Tâm Tánh, Pháp Tánh như biển cả, ở phần
trên gọi là Linh Tri Tâm, tâm Linh Tri như biển cả. Tâm phân
biệt, tức là Duyên Lự Tâm, là ǵ? Duyên Lự Tâm là
một cái bọt nước sanh từ nước
biển. “Âu” (漚) chính là bọt nước. Đấy
chính là ư nghĩa của câu “âu
sanh cự hải”. Thức sanh từ Pháp Tánh, mê mất
tự tánh, do mê mất tự tánh bèn sanh ra vọng tâm,
vọng tâm là A Lại Da Thức. Từ A Lại Da Thức
biến ra [các thức khác] (nó có thể biến), biến
thành thức thứ bảy, thức thứ sáu, và năm
thức đầu, lại biến thành Tâm Sở, lại
biến thành Sắc pháp, thảy đều biến
hiện ra, [những thức, tâm sở, sắc pháp này so với
chân tâm chỉ là] “âu sanh cự
hải”.
“Trục
Thức lăng dĩ cao đê” (theo sóng Thức mà lên cao
xuống thấp). “Sóng
Thức” là ǵ? Sóng là động, không tịnh. Tâm tánh
chúng ta tịnh, trạm tịch linh minh, trong Phật pháp
thường dùng bốn chữ [“trạm tịch linh minh”] này
để h́nh dung. Thức (vọng tâm) không như vậy;
vọng tâm là động, vọng tâm là sóng ṃi. Sóng ṃi có cao hay
thấp, gió lớn sóng to, gió nhỏ sóng bé. Gió to sóng lớn
là lục đạo tam đồ. Gió nhẹ sóng bé là
Tứ Thánh Pháp Giới. Trong lục đạo, gió to sóng
lớn là ba ác đạo; gió nhẹ sóng bé là ba thiện
đạo, lục đạo luân hồi. Câu này giảng v́
sao có lục đạo luân hồi. Tiếp theo lại là
một tỷ dụ:
Vân điểm thái thanh, nhậm
t́nh phong nhi nhân ngă.
雲點太清。任情風而人我。
(Mây điểm hư không,
mặc t́nh nổi gió ta - người).
“Thái
thanh” là hư không, dùng hư không sánh ví tâm tánh. Một áng
mây trong hư không ví cho mê hoặc. Áng mây trong hư không
bị gió đùa, gió Đông thổi bạt sang phía Tây, gió
Tây đánh dạt về phía Đông, tự ḿnh hoàn toàn
chẳng tự chủ được. Câu này h́nh dung
điều ǵ? H́nh dung sự lưu chuyển theo nghiệp
lực, tự ḿnh chẳng thể làm chủ. “Nhậm t́nh phong nhi nhân ngă” (mặc
t́nh nổi gió nhân ngă). Đây là giảng về Lư, câu kế
giảng về Sự.
Ư thị tuần hoàn chư
thú, lưu chuyển tứ sanh, nghiệp hải mang mang,
tội sơn ngập ngập.
於是循環諸趣。流轉四生。業海茫茫。罪山岌岌。
(Do vậy xoay vần các
nẻo, trôi lăn tứ sanh, biển nghiệp mênh mông,
núi tội chót vót).
A! Quả báo hiện tiền,
luận trên mặt Sự. “Tuần
hoàn chư thú”: “
“Nghiệp
hải mang mang, tội sơn ngập ngập” (Biển
nghiệp mênh mông, núi tội chót vót): “Ngập ngập” là cao lớn, giống như
một ḥn núi lớn, tội lớn đến như
thế, nặng đến như thế. Đoạn này
thuyết minh đạo lư luân hồi, mà cũng chỉ ra
chân tướng sự thật của luân hồi. Nói xong,
phải làm sao? Làm thế nào để tiêu tội
nghiệp, thoát luân hồi?
Phỉ bằng phát lộ.
匪憑發露。
(Không
nhờ bày tỏ).
Nếu không nhờ vào phát
lộ sám hối, thế nào là “phát
lộ”? Làm chuyện sai trái, tự ḿnh đă tạo
tội nghiệp, chớ có giấu diếm, phải nên
tuyên bố cùng đại chúng: “Tôi đă làm chuyện chi chi
đó!” Mạnh bạo nhận sai, thừa nhận lỗi lầm
của chính ḿnh. Mọi người đều biết,
người ta trừng mắt nh́n ḿnh, phê b́nh mấy câu. Thôi!
Báo hết rồi. Đó nghĩa là ǵ? Tội nặng báo
nhẹ, báo trả hết rồi. Chớ nên giấu diếm
tội nghiệp của chính ḿnh, giấu diếm không xong
đâu. V́ sao? Tội ấy càng tích lại càng nặng thêm,
tương lai quả báo to lớn đáng sợ lắm.
V́ thế, đức Phật dạy
chúng ta làm chuyện sai trái th́ phải phát lộ, làm
chuyện tốt phải giấu diếm. Làm chuyện
tốt chẳng cần phải cho người khác
biết, v́ sao? Đức càng ẩn càng dầy, quả báo
tốt đẹp. Sự t́nh tốt chẳng cần
phải phô trương, tích âm đức mà! Ngạn
ngữ Trung Quốc thường nói: “Quả báo của âm đức lớn nhất, báo
rất dầy”. Nếu quư vị làm chuyện tốt, ai
nấy đều biết, người ta đến
biểu dương, khen ngợi, vỗ tay, tặng
bằng tưởng thưởng cho ḿnh, thế là báo xong
rồi, chuyện tốt của ḿnh đă xong, báo hết
sạch rồi! Chuyện tốt chớ để cho
người khác biết; làm chuyện bất thiện, làm
chuyện tội lỗi th́ mong mỏi mọi người
đều biết, dù người ta chửi ḿnh, chán ghét
ḿnh đi nữa th́ báo cũng xong rồi. Nếu quư vị
hiểu rơ đạo lư này th́ mới thực sự
biết: Người hủy báng, lăng nhục, hăm
hại chúng ta, đều là tiêu nghiệp chướng cho
ḿnh, ta phải cảm ơn họ. Nếu không như
thế, nghiệp chướng làm sao tiêu được!
Người hủy báng càng
nhiều, nghiệp chướng càng tiêu nhiều. Trong hai
năm qua, tại Đài Loan, tại Trung Quốc và ngay
cả những nơi khác, không những người ta
chửi tôi rất nhiều, mà ngay trên báo chí, trên tạp chí
c̣n đăng nhiều bài viết gọi đích danh tôi ra
chửi, nói tôi đề cao bản hội tập của
cụ Hạ Liên Cư là lỗi lầm không ǵ lớn
hơn nữa. Thoạt đầu, pháp sư Ngộ
Đạo không nén được giận, thầy ấy muốn
hợp mấy người lại, mọi người cùng
nghiên cứu, viết bài công kích họ. Thầy c̣n đem
những tài liệu ấy gởi cho tôi, cũng như
gởi cả những báo chí, tạp chí ấy cho tôi, tôi
đều đem chúng quăng vô sọt rác hết. Tôi
gọi điện thoại cho Ngộ Đạo: “Đừng
quan tâm đến, quyết định chẳng
được làm như thế. Làm như vậy giống
như chửi lộn, người ta chửi ḿnh, ḿnh không
nhịn được, chửi lại là xong rồi. Coi
như đă giải quyết xong chuyện đó”. Chẳng
nên chửi qua chửi lại, không lúc nào xong, lầm
lạc quá đỗi!
Người ta đến chửi ḿnh,
hủy báng ḿnh, chính ḿnh phải phản tỉnh, có lỗi
th́ sửa, không có lỗi th́ càng thêm gắng sức, như vậy
mới là tốt! Nếu đúng là ḿnh có lầm lỗi th́
ngay lập tức phải sửa lỗi, tự đổi
mới, sao lại có thể biện bác, tranh căi cho
được? Ḿnh biết ḿnh không có lỗi lầm ấy
th́ ḿnh được tiêu túc nghiệp, trong đời quá
khứ ḿnh tạo tội quá nhiều, họ đến thay
ḿnh tiêu nghiệp chướng, ḿnh càng phải cảm kích
người ta.
C̣n chuyện phản đối
bản hội tập dù hữu ư hay vô ư, thôi đừng bàn
luận! Có rất nhiều bản hội tập, cớ
sao lại phản đối bản hội tập này mà
không phản đối những bản khác? Đấy có
phải là có dụng ư riêng hay chăng, chúng tôi không biết
được! Họ đem tựa đề kinh ra công
kích. Tôi đă từng có nói: “Người trên cả thế
giới đều phản đối bản hội
tập này, tôi vẫn cứ chiếu theo bản hội
tập này mà học tập”. V́ sao? Do quan hệ thầy tṛ!
Pháp môn này do thầy truyền cho tôi. Nếu tôi nghe theo
những lời đó, chẳng dám đọc bản này,
vậy th́ tội của tôi nặng quá. Mắc cái tội
ǵ? Nghịch thầy phản đạo; quư vị nghĩ
xem tôi có gánh nổi tội danh ấy hay không? Bọn họ
phản đối cách nào, tôi vẫn cứ tu như
vậy, tôi tôn sư trọng đạo, báo Phật ân, báo
tổ ân, báo ân thầy!
Tôi tin tưởng thầy tôi có
tu tŕ, có đức hạnh, có trí huệ. Quư vị phản
đối thầy v́ quư vị không phải là học tṛ của
thầy, không có quan hệ ǵ với thầy hết. Tôi
với thầy có quan hệ, tôi chẳng thể phản
đối, đó là đại nghĩa. Con người
nếu không có đạo nghĩa th́ làm người sao
được? V́ thế, mặc kệ người ta
hủy báng, lăng nhục thế nào, một câu tôi cũng
không đáp, tối thiểu tôi tuân thủ đại
nghĩa, tối thiểu là trong tương lai có ai đó
phê b́nh: “Người như vậy vẫn c̣n tôn sư
trọng đạo, biết ân, báo ân!” Bởi thế, tôi
chẳng thể tin nghe theo mấy câu của người ta
rồi chẳng dám đọc kinh này nữa, như thế
mới là được! Học tṛ của thầy rất
đông, v́ sao thầy không đem chuyện này phó thác cho họ,
mà lại phó thác cho tôi? Thầy nh́n tôi chẳng lầm,
thầy biết tôi chẳng thể nghịch thầy
phản đạo, tôi chẳng thể vong ân phụ
nghĩa.
V́ thế, có lầm lỗi
phải phát lộ sám hối. Người khác hủy báng,
nhục mạ, th́ chính ḿnh phải nghiêm túc phản
tỉnh, có th́ sửa, không th́ càng cố gắng. Vĩnh
viễn dùng cái tâm báo ân để đối đăi hết
thảy chúng sanh. Đấy là nói về phát lộ sám
hối. “Phỉ bằng phát lộ”
(nếu không nhờ vào phát lộ) là như vậy!
Hạt toại tiêu trừ, sám-ma
dĩ văng, phát nguyện đương lai.
曷遂消除。懺摩已往。發願當來。
(Sao tiêu trừ
được! Sám hối cho quá khứ, phát nguyện cho
tương lai).
Hai câu này nói lên cách thực
hiện như thế nào. Thực hiện phát lộ sám
hối bằng cách nào? Phải “sám-ma”,
tức là sám hối, quá khứ đă làm bậy phải
biết sám hối, phải biết sửa lỗi. “Phát nguyện đương lai”
(phát nguyện cho tương lai), nguyện sẽ phát
ấy phải nương theo bốn mươi tám
nguyện của A Di Đà Phật, phải nương theo
Tứ Hoằng Thệ Nguyện của chư Phật,
nhất định phải phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ. Có vậy mới là không sai.
Tái lao pháp chúng, chí tâm sám hối
phát nguyện.
再勞法眾。至心懺悔發願。
(Lại phiền pháp chúng chí
tâm sám hối phát nguyện).
26. Sám hối phát nguyện
Thời thứ nhất có sám hối phát
nguyện, thời thứ hai cũng có sám hối phát
nguyện. H́nh thức sám hối phát nguyện không khác ǵ
với lần trước, sám hối dùng mười
đại nguyện vương, Sám Hối Kệ, tức bài
kệ sám hối của Phổ Hiền Bồ Tát. Phát
nguyện th́ vẫn là Tứ Hoằng Thệ Nguyện y
như cũ. Chúng tôi đọc bài kệ này một
lượt, hơi khác với phần trên một chút.
Văng tích sở tạo chư ác
nghiệp,
Giai do vô thỉ tham - sân - si,
Tùng thân - ngữ - ư chi sở
sanh.
往昔所造諸惡業。
皆由無始貪瞋痴。
從身語意之所生。
(Xưa kia trót tạo các ác
nghiệp,
Đều
do vô thỉ tham - sân - si,
Từ
thân - miệng - ư phát sanh ra).
Phần này giống hệt
phần trước, khác biệt ở chỗ nào ư?
Ở chỗ này đây:
Nhất thiết tội
chướng giai sám hối.
一切罪障皆懺悔。
(Hết
thảy tội chướng đều sám hối).
Đây là chỗ khác biệt.
Không phải là cầu mà là “đều
sám hối”. Cầu sám hối cũng được.
Ở phần trước trong thời thứ nhất câu này
là “ kim đối Phật
tiền cầu sám hối” (nay đối trước
Phật cầu sám hối). Trong thời thứ hai là “nhất thiết tội chướng
giai sám hối” (hết thảy tội chướng
đều sám hối), khác biệt ở chỗ này. Cứ
mỗi lần sám hối càng triệt để hơn, v́
sao? So với thời thứ nhất, thời thứ hai có
chỗ ngộ rồi, có tiến bộ rồi, từ bài
kệ sám hối này cũng có thể thấy
được quư vị có tiến bộ. Phát nguyện
vẫn giống hệt như trước:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ,
Phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ
nguyện học,
Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành.
眾生無邊誓願度。
煩惱無盡誓願斷。
法門無量誓願學。
佛道無上誓願成。
Sám hối phát nguyện phải
nương theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền
Bồ Tát, trong phần trên tôi đă giới thiệu cùng quư
vị rồi, Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng
cho lư luận và phương pháp tu nhân chứng quả của
hết thảy Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát
đại diện cho những điều ấy. Nếu
nói gộp cả hai vị lại, tức là gộp cả
Văn Thù vào th́ Phổ Hiền tượng trưng cho
tam-muội, Văn Thù tượng trưng cho Bát Nhă. Nếu
nói một ḿnh Ngài th́ Ngài hoàn toàn tượng trưng cho
cả hai điều đó. Lại xem đoạn khai
thị cuối cùng. Đoạn khai thị cuối cùng là:
27. Khai thị
Thượng lai sám hối phát
nguyện dĩ cánh, cụ hành do nhân cụ nhăn mục,
nguyện như nhật, nguyệt, đăng quang minh.
上來懺悔發願已竟。具行猶人具眼目。願如日月燈光明。
(Từ
trên tới đây sám hối phát nguyện đă xong, Hành đầy
đủ th́ giống như người đầy
đủ mắt, Nguyện như ánh sáng của mặt
trời, mặt trăng, đèn đóm).
“Cụ
hành”, hành ở đây là hành động. Câu này có nghĩa
là quư vị đều có thể đem những đạo
lư, phương pháp ḿnh đă học tập áp dụng vào
cuộc sống thường nhật. Ở đây quan
trọng nhất là tŕ danh niệm Phật, hạnh quan
trọng nhất là hạnh này. Đây chính là như phẩm
Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) trong kinh Vô Lượng
Thọ đă nói: “Phát Bồ
Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” (phát
Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm). Chữ “hạnh” này chỉ việc
niệm Phật, chứ không nhằm vào những hạnh
khác. Bây giờ đă hết giờ rồi.
*
Xin xem tiếp đoạn khai
thị cuối cùng trong thời thứ hai:
Thượng lai sám hối phát
nguyện dĩ cánh.
上來懺悔發願已竟。
(Từ
trên tới đây, sám hối phát nguyện đă xong)
Câu này là lời tổng kết,
tổng kết những phần trên.
Cụ hành do nhân cụ nhăn
mục, nguyện như nhật, nguyệt, đăng quang
minh. Y quang chiếu chúc kiến phân minh, hành giả
phương năng đạt tiền cảnh.
具行猶人具眼目。願如日月燈光明。依光照燭見分明。行者方能達前境。
(Hạnh đầy đủ
như người đủ đôi mắt, nguyện
như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đèn
đóm. Nương theo ánh sáng chiếu tỏ mà thấy phân
minh, hành giả mới ḥng thấu hiểu tiền cảnh[12]).
Câu này là nói chung, chứ không
nhất định chỉ là pháp môn Niệm Phật. Có
thể nói là trong Phật pháp, bất luận kinh
Đại Thừa hay Tiểu Thừa, bất luận tông
phái nào, bất luận pháp môn nào, những điều nói
ở đây là nguyên tắc, là nguyên lư, nguyên tắc chung,
chẳng những chung cho hết thảy Phật pháp, mà c̣n
đúng cho mọi pháp thế gian. Hết thảy pháp
thế gian chẳng thể vượt ra ngoài những
điều này được.
Chúng ta phải thấu hiểu
những câu nói này. “Cụ hành”:
Hành (行) là tu hành. Tu hành là sửa đổi cho đúng
những hành vi lầm lạc th́ gọi là tu hành. Những
hành vi sai quấy rất nhiều, đúng là “nhân phi thánh hiền, thục năng vô quá” (con
người không phải là thánh hiền, ai có thể không có
lỗi?) Thánh hiền là chư Phật Như Lai, Pháp Thân
Bồ Tát. Dưới Pháp Thân Bồ Tát, như là Thanh
Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát, Phật trong
mười pháp giới, không ai có thể nói ḿnh không có lầm
lỗi được! Thánh hiền thế gian càng
chẳng thể nói như vậy được! Theo
những ǵ ghi chép trong những thư tịch cổ Trung
Quốc, bậc thánh hiền thế gian như Nghiêu,
Thuấn vẫn chẳng thể đảm bảo chính ḿnh
không có lỗi lầm, huống ǵ những người khác?
V́ vậy, tu hành là một khoa
mục quan trọng nhất, việc này phải
được thực hiện trong cuộc sống
thường nhật, khởi tâm động niệm, nói năng,
hành vi, phải hiểu chi ly từng chút một, thời
thời khắc khắc phải cảnh giác cao độ,
nhận biết ư niệm của chính ḿnh vừa khởi
lên, biết ngay ư niệm ấy là thiện niệm hay ác
niệm, biết ư niệm ấy có nên khởi lên hay không.
Nếu không cần thiết, dẫu là thiện niệm, th́
tốt nhất ư niệm thứ hai là “Nam-mô A Di Đà
Phật”, vậy là tốt! Sao cho trong mười hai
thời trong tâm có Phật, trong mỗi niệm có Phật,
h́nh ảnh đều là Phật; tâm ḿnh là tâm Phật, hành
động là Phật hạnh, thân là thân Phật. Như
vậy mới là tốt, mới thật nên làm.
Đầy đủ hạnh,
ở đây được ví như người có
đủ cả hai mắt, có được cặp
mắt sáng. Dù có được cặp mắt sáng nhưng
trong chỗ tối tăm không thấy được,
giữa ban ngày có mặt trời, dương quang (ánh sáng của
mặt trời); ban đêm có ánh trăng, có ánh đèn, quư
vị mới không lạc mất phương hướng.
“Quang” rất giống
như Nguyện, v́ thế Hạnh chẳng thể tách
rời Nguyện. Nếu Hạnh ĺa Nguyện th́ chính là
mắt đui. Nói cách khác: Không biết phương
hướng, chẳng biết mục tiêu. Dẫu quư vị
rất tinh tấn, rất nỗ lực tiến lên,
nhưng rốt cuộc đi về đâu? Không biết được!
V́ thế nói: “Nguyện
như nhật nguyệt đăng quang minh” (Nguyện
như ánh sáng của mặt trời, mặt trăng,
đèn đóm). Câu này chỉ rơ Hạnh và Nguyện chẳng
thể tách rời nhau. Đúng như Ngẫu Ích đại
sư đă nói: Có được văng sanh Tịnh Độ
hay không hoàn toàn nhờ vào tín nguyện có hay không. Có Hạnh mà
không có Nguyện, hoặc có Nguyện mà không có Hạnh
đều chẳng thể văng sanh! Trong các pháp môn khác, có
Hạnh không có Nguyện hoặc là có Nguyện không có Hạnh
cũng đều chẳng thể thành tựu, uổng phí
một đời này! Nhiều lắm là gieo
được một chủng tử thiện căn trong
A Lại Da Thức, trong đời này, [chủng tử ấy]
chắc chắn không khởi tác dụng. Đấy chính là
như thầy Lư thường nói khi xưa: “Nên sanh tử như thế nào th́ vẫn cứ sanh
tử như thế đó”. Quư vị vẫn cứ
bị nghiệp lực xoay chuyển như cũ, không làm
chủ được. V́ thế mới nói: “Y quang chiếu chúc kiến phân
minh” (Nương theo ánh sáng chiếu tỏ mà thấy
phân minh); quư vị phải có Nguyện, Nguyện là quang
minh, Nguyện để dẫn Hạnh th́ quư vị
mới có thành tựu, mới có thể đạt
đến mục tiêu và quả đức mà chính ḿnh hy
vọng. Phải hiểu đạo lư này, người
niệm Phật cũng không ngoại lệ.
Thị dĩ niệm Phật chi nhân,
nhược bất phát nguyện văng sanh, túng hữu công
hạnh, diệc thành hư thiết, dĩ bất thuận
Phật cố.
是以念佛之人。若不發願往生。縱有功行。亦成虛設。以不順佛故。
(Do
vậy, người niệm Phật nếu không phát
nguyện văng sanh, dẫu có công hạnh cũng trở thành đặt
bày hư huyễn, v́ không thuận theo Phật vậy).
Quư vị phát tâm niệm Phật, tốt
lắm! Niệm Phật nhất định phải phát
nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. V́
sao? Nếu không phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ, dẫu quư vị công phu niệm Phật rất
sâu vẫn như không. V́ sao vẫn như không? Vẫn
bị lưu chuyển theo nghiệp, vẫn không ra khỏi
lục đạo luân hồi được! Niệm
Phật là thiện nghiệp, thiện nghiệp th́ có sanh vào
ba thiện đạo được hay không? Không nhất
định! Nếu quư vị chỉ là khẩu thiện (chỉ
tốt lành nơi cửa miệng), tâm hạnh bất
thiện, sẽ chẳng sanh vào ba đường lành.
Thế nhưng không cần biết quư vị sanh vào
đường nào, quư vị vẫn có một chút
phước báo. Nếu tội nghiệp rất nặng,
đọa trong địa ngục đạo, phước
báo ấy vẫn tồn tại. Lúc nào quư vị thoát
khỏi địa ngục, lúc sanh vào các đường
khác, phước báo ấy lại hiện tiền, biến
thành phước báo hữu lậu thế gian.
Tuy thiền sư Trung Phong là
bậc đại triệt đại ngộ của Thiền
Tông, Ngài lại niệm Phật văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới; v́ thế, Ngài khuyên lơn
chúng ta, tự Ngài thực sự làm được. V́ sao? V́
quư vị “bất thuận Phật
cố” (chẳng thuận theo Phật). Quư vị trái
với nguyện của Phật, ư nguyện của
Phật là mong chúng ta sanh về thế giới Cực
Lạc. Quư vị cũng trái nghịch lời Phật
dạy. Đúng là nghịch thầy phản đạo! Tu
pháp môn này, đúng như Phật nguyện, đúng như
lời Phật dạy th́ mới là tôn sư trọng
đạo. Trên thực tế, thiền sư nói những câu
này là nói với chúng ta đấy!
Kim nhĩ vong linh đương
tri thử ư.
今爾亡靈。當知此意。
(Nay các vong linh hăy biết ư
này).
Trên h́nh thức là nói với vong
linh, nói với quỷ thần, chứ trên thực tế là
bảo cùng chúng ta. Vong linh c̣n phát nguyện văng sanh, mà chúng ta
không thể phát nguyện văng sanh; nói thật ra, c̣n thua
cả quỷ! Ngay cả quỷ mà c̣n thua th́ c̣n xứng đáng
là người nữa ư? Lời ẩn trong lời, quư
vị phải nghe hiểu những ư nghĩa ẩn trong ư
nghĩa, ư tại ngôn ngoại (ư nằm ngoài lời). Quư
vị phải hiểu được âm thanh ngoài dây đàn
th́ mới có chỗ ngộ, mới ḥng có thụ dụng,
nhất định phải thực sự thực hiện.
Tiếp đó là bài kệ tán Phật để tổng
kết một thời:
28. Tán Phật tổng kết
A Di Đà Phật,
Vô thượng y vương,
Nguy nguy kim tướng phóng hào
quang,
Khổ hải tác từ hàng,
Cửu phẩm liên bang,
Đồng nguyện văng Tây
Phương.
阿彌陀佛。
無上醫王。
巍巍金相放毫光。
苦海作慈航。
九品蓮邦。
同願往西方。
(A Di Đà Phật,
Vô
thượng y vương,
Tướng
vàng ṿi vọi phóng hào quang,
Biển
khổ thả thuyền từ,
Chín
phẩm liên bang,
Đồng
nguyện về Tây Phương).
Nội dung bài tán này hết
sức khẩn thiết.
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
ĐỆ TAM THỜI
Tiếp theo, chúng ta xem đến
thời thứ ba. Thời thứ ba, tụng kinh, niệm
chú hoàn toàn giống với thời thứ nhất,
đều là hồi hướng Liên Tŕ Hội Bồ Tát Ma
Ha Tát. Nay chúng ta xem từ phần Khai Thị, xem đoạn
khai thị lần thứ nhất trong thời thứ ba.
29. Khai thị
Thập vạn dư tŕnh bất
cách trần,
Hưu tương mê ngộ
tự sơ thân,
Sát-na niệm tận Hằng sa
Phật,
Tiện thị liên hoa quốc
lư nhân.
十萬餘程不隔塵。
休將迷悟自疏親。
剎那念盡恆沙佛。
便是蓮華國裡人。
(Đường hơn mười
vạn cơi,
Chẳng xa
cách mảy trần,
Thôi
đừng đem mê ngộ,
Để
tính kể sơ thân,
Sát-na
niệm chư Phật,
Số
nhiều đến Hằng sa.
Liền
thành người đă ở
Trong cơi
nước hoa sen).
Trong bài kệ này, thiền
sư Trung Phong chân thành khôn sánh, khẩn thiết khuyên
dạy chúng ta, cũng như phó chúc chúng ta: Cơ duyên này
rất khó được, là cơ hội khó gặp gỡ
hiếm có từ vô lượng kiếp đến nay, hôm
nay chúng ta được gặp, chớ có bỏ lỡ.
Bỏ lỡ th́ đúng là chẳng xứng với lời
khuyên dạy khẩn thiết dường ấy của thiền
sư Trung Phong.
“Thập
vạn dư tŕnh” (đường xa hơn mười
vạn) chính là như kinh A Di Đà đă nói, từ thế
giới Sa Bà qua khỏi mười vạn ức cơi
Phật có một thế giới gọi là thế giới
Cực Lạc. Nay thiền sư nói “thập vạn dư tŕnh” (đường xa
hơn mười vạn cơi),
khoảng cách lớn như thế, “bất cách trần” (không cách biệt mảy
trần). Trần là nhỏ nhất, tức vi trần, xa
bao nhiêu? Giữa các vi trần không có kẽ hở, nói lên
điều ǵ? Nói lên xa và gần không hai, không gian bị phá
mất, không c̣n xa hay gần. Tây Phương Cực Lạc
thế giới ở đâu vậy? Ở chính ngay nơi
đây, không hề cách biệt mảy trần. Chúng ta nói đến
khoảng cách th́ vẫn c̣n có đường xa một
dặm, đường xa nửa dặm, thậm chí
vẫn c̣n có khoảng cách một mét, hoặc một centimetre,
c̣n “bất cách trần”
(không cách biệt một mảy trần) nghĩa là một centimetre
cũng không có! Câu kệ tiếp theo nói rất hay.
“Hưu
tương mê ngộ tự sơ thân” (thôi đừng để
mê hay ngộ khiến cho [Cực Lạc] đối với
ḿnh trở thành sơ hay thân). Mấu chốt ở chỗ
nào? Giác ngộ! Chuyển mê thành ngộ. Ở trên, thiền
sư đă nói rất hay: “A Di
Đà Phật thị ngă tâm, ngă tâm thị A Di Đà Phật”
(A Di Đà Phật là tâm ta, tâm ta chính là A Di Đà Phật).
Thế giới Cực Lạc là phương này, “Tịnh Độ tức thử
phương, thử phương tức Tịnh Độ”
(Tịnh Độ chính là phương này, phương
này chính là Tịnh Độ). Đường xa
mười vạn không cách biệt mảy trần, quư
vị thấy trước và sau tương ứng,
mấu chốt là mê hay ngộ. Mê th́ [cách xa] mười
vạn ức cơi Phật, ngộ th́ ở ngay trước
mặt. Phật có vọng ngữ hay không? Không! Mê th́
quả thật có không gian, không gian có xa và gần. Lúc
ngộ th́ không gian chẳng c̣n. Chuyện này rất hiếm
có, chúng tôi cảm tạ các khoa học gia hiện
đại đă chứng tỏ trong một điều
kiện nào đó, không gian sẽ bằng zéro.
Khoảng cách ư? Trong một
điều kiện nào đó, mọi khoảng cách
đều bằng zéro. Điều kiện ǵ vậy?
Ngộ! Các khoa học gia không biết điều kiện,
chỉ nói “trong một
điều kiện nào đó”, đức Phật
bảo chúng ta “ngộ!” Điều
kiện chính là Ngộ. Mê th́ có khoảng cách, có xa hay gần;
ngộ bèn không có. Ngộ th́ không gian bằng với zéro. Tin
tức ấy của các nhà khoa học tốt lắm, chúng
tôi dùng ngay điều này, bởi nếu không có tin tức
này, cảnh giới ấy rất khó thể diễn tả
rơ ràng. Trong khoa học c̣n có công thức, công thức ấy lần
sau tôi sẽ ghi lại. Nói thật ra, chỉ là mê hay
ngộ, “hưu tương mê
ngộ tự sơ thân” (thôi đừng v́ mê hay ngộ
khiến cho [Cực Lạc] đối với ḿnh thành ra
sơ hay thân), ngàn muôn phần chớ bỏ lỡ cơ
duyên hy hữu khó gặp này! Thân hay sơ chỉ trong
một niệm, sơ là mê, thân là giác ngộ, ngộ th́
chính nơi đây là Cực Lạc, mê th́ cách xa mười
vạn ức cơi.
“Sát-na niệm tận Hằng sa Phật,
tiện thị liên hoa quốc lư nhân” (Trong sát-na niệm hết Hằng sa
Phật, bèn là người trong cơi hoa sen). Hai câu kệ
đầu giảng về Lư, hai câu sau luận về
Sự. Đối với Lư, chúng ta không thể ngộ
nhập cảnh giới vẫn không sao cả, quư vị chỉ
cần biết tín nguyện tŕ danh, cầu sanh về Tịnh
Độ là được rồi. Ấn Quang đại
sư suốt đời dạy người, tôi c̣n cho
khắc một con ấn: Ấn Quang Đại Sư
Truyền Pháp Ấn. Pháp Ấn của Ngài là ǵ vậy?
Suốt đời Ngài nói nhiều nhất, viết
nhiều nhất – thật đấy, tự hành, hóa tha – là
bốn câu, mười sáu chữ sau đây: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, tín
nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ”
(Giữ trọn luân thường, tận hết trách
nhiệm, ngăn ḷng tà, giữ ḷng thành, tín nguyện
niệm Phật). Lăo pháp sư cả một đời
thực sự thực hiện cũng như dạy
người khác điều này. Mười sáu chữ
ấy theo cái nh́n của tôi, chính là “truyền tâm pháp ấn” tự hành, hóa tha của
Ấn Quang đại sư. Đây là nguyên tắc chỉ
đạo tối cao, tôi khẳng định trong chín ngàn
năm thuộc đời Mạt Pháp của đức Thế
Tôn chẳng thể biến đổi [nguyên tắc này]. Nếu
nhất định tuân thủ nguyên tắc chỉ
đạo này th́ trong một đời này chúng ta nhất
định sanh về Tịnh Độ.
Hai câu đầu (tức “đôn luân tận phận, nhàn tà
tồn thành”) nói về pháp thế gian. Phật pháp
kiến lập trên cơ sở thế gian pháp, không làm
người tốt trong thế gian th́ làm sao có thể văng
sanh thế giới Cực Lạc cho được? Quư
vị muốn văng sanh thế giới Cực Lạc th́ quư
vị nhất định phải làm một người
tốt trong thế gian. Tiêu chuẩn của một
người tốt là như hai câu nói của Ấn Quang
đại sư: “Đôn luân,
tận phận, nhàn tà, tồn thành”. Đây là tiêu
chuẩn của một người tốt trong thế gian
như trong Phật pháp gọi là “thiện
nam tử, thiện nữ nhân”. Trước hết, quư
vị phải đạt tiêu chuẩn thiện nam tử,
thiện nữ nhân, sau đó niệm Phật, tín nguyện
niệm Phật th́ mới được văng sanh.
Chữ “sát-na”
(ksana) chỉ một thời gian rất ngắn, chỉ
điều ǵ? Chỉ một câu Phật hiệu A Di Đà
Phật. Quư vị thấy nhiều nhất là trong khoảng
một giây, người tầm thường
chúng ta niệm được một câu A Di Đà Phật,
một giây thôi, trong một giây ấy niệm hết Hằng
sa Phật. Đến bây giờ chúng tôi mới lănh hội
được đôi chút ư nghĩa này. Trong Sớ Sao, Liên
Tŕ đại sư nói: “Niệm
một đức Phật (một đức Phật
ở đây là A Di Đà Phật)
không khác ǵ niệm hết thảy chư Phật”.
Niệm một câu A Di Đà Phật chính là niệm hết
mười phương ba đời chư Phật, chẳng
sót một vị Phật nào. Niệm một đức
Phật chính là niệm hết thảy chư Phật. Ư
nghĩa này hay lắm, là thật đấy, không giả
đâu. V́ sao biết là thật? Qua kinh A Di Đà, chúng ta
thấy sáu phương Hằng hà sa số chư Phật
tán thán A Di Đà Phật. Những lời tán thán
ấy chính là niệm A Di Đà Phật, hết thảy
chư Phật đều niệm A Di Đà Phật.
Vậy th́ chúng ta niệm A Di Đà Phật chẳng
phải là niệm hết thảy chư Phật hay sao?
Bởi vậy, niệm một câu A Di Đà Phật,
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật đều sanh tâm hoan hỷ, hết thảy
chư Phật đều hộ niệm, có thể lấy
kinh A Di Đà làm chứng. Sáu phương chư Phật là
chứng minh, chứ c̣n ǵ nữa! Pháp môn nào có thể sánh
bằng được? Thực sự là t́m chẳng ra!
V́ thế, chỉ cần quư vị làm
được mười sáu chữ của pháp sư Ấn
Quang th́ quư vị đă thực hiện được bài
kệ này của thiền sư Trung Phong, quư vị “tiện thị liên hoa quốc lư
nhân” (liền thành người thuộc cơi nước
hoa sen). Dẫu hiện thời quư vị chưa sang [Tây
Phương Cực Lạc], nhưng chắc chắn
được sang, không hoài nghi chút nào hết; giống
như nói quư vị đă ghi tên vào sổ bộ ở Tây
Phương Cực Lạc thế giới rồi.
Giống như nay chúng ta muốn di trú, quư vị đă
cầm được sổ thông hành, cầm
được giấy phép cư trú vĩnh viễn,
chắc chắn sẽ đi được, muốn đi
lúc nào cũng được. Cầm được
giấy thông hành th́ quư vị là người của thế
giới Cực Lạc. Bài kệ này hay lắm, phải
thực hiện cho thật tốt. Lại xem tiếp
phần Khai Thị.
Hiệp trần bối giác, tài kinh
cức ư thất bảo viên lâm. Xả vọng quy chân,
liệt châu vơng ư tứ sanh môn hộ.
合塵背覺。栽荊棘於七寶園林。捨妄歸真。列珠網於四生門戶。
(Xuôi
trần nghịch giác, trồng gai góc nơi vườn
rừng bảy báu. Bỏ vọng về chân, giăng
lưới châu nơi cửa ngơ tứ sanh).
Chúng ta hăy xem câu này trước. “Hiệp trần bối giác”
là bọn phàm phu lục đạo chúng ta. Tâm chúng ta là
vọng tâm, vọng tưởng, phân biệt, hiệp với
ǵ? Hiệp với ngũ dục lục trần, niệm
niệm đều là ngũ dục, lục trần.
Giống như thế nào? Giống như “tài kinh cức ư thất bảo viên lâm” (trồng
gai góc trong vườn rừng bảy báu). “Thất bảo viên lâm” chính là Chân Như Bản
Tánh của chúng ta. Nơi Chân Như Bản Tánh của chúng
ta nay đang trồng kín gai góc. “Gai
góc” là khởi Hoặc, tạo nghiệp, khổ báo. Gai
góc là tỷ dụ Hoặc nghiệp khổ, tam
chướng. Tam chướng sanh khởi trong Chân Như
Bản Tánh của chúng ta v́ chúng ta trái nghịch Tự Tánh Giác,
không giác ngộ, mê hoặc, điên đảo, niệm
niệm đều là ngũ dục, lục trần. Câu này
có ư nghĩa như vậy. Lục đạo phàm phu ai
nấy đều như thế cả!
Lại thưa rơ cùng mọi
người, nói rơ ràng hơn chút nữa, rừng
vườn bảy báu chính là căn tánh nơi sáu căn
của chúng ta, nơi mắt gọi là tánh Thấy, nơi
tai gọi là tánh Nghe, nơi mũi, nơi lưỡi,
nơi thân gọi là tánh Cảm Nhận, nơi ư gọi là
tánh Biết. Thấy - nghe - hay - biết là vườn
rừng bảy báu, là tánh đức, tánh năng, nhưng mê
rồi. Mê rồi bèn biến thành sáu thức, nơi mắt
là Nhăn Thức, nơi tai là Nhĩ Thức, nơi ư gọi là
Ư Thức. Quư vị thấy đó, tánh đức vừa mê
bèn chuyển thành tám thức, đó gọi là “hiệp trần bối giác”,
chính là hiện tượng hiện tiền của chúng ta.
Quay đầu lại là tốt, vừa
quay đầu lại chính là “xả
vọng, quy chân”. Xả vọng, quy chân là chuyển
Thức thành Trí, buông vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước xuống, bỏ đi, khôi phục thấy
- nghe - hay - biết, vĩnh viễn giữ được
thấy - nghe - hay - biết, trọn chẳng rớt vào ư
thức, cũng quyết định chẳng để sáu
căn khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp
trước nơi sáu cảnh. Khởi tâm động
niệm, phân biệt, chấp trước là hỏng
rồi, là mê rồi. Thấy sắc, nghe tiếng, không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp
trước, đấy chính là “xả
vọng, quy chân”. Mọi người nhất
định phải hiểu: Khởi tâm động
niệm, phân biệt, chấp trước là vọng, quư
vị phải bỏ chúng đi.
Trong Tánh (tánh đức) quyết
định chẳng có khởi tâm động niệm,
quyết định chẳng phân biệt, chấp
trước, giống như là “liệt
châu vơng ư tứ sanh môn hộ” (giăng lưới
châu nơi cửa ngơ tứ sanh).
“Tứ sanh môn hộ” chính là lục đạo luân
hồi. Trong lục đạo luân hồi, trong đời
ác năm trược, có lưới mành bảo châu, tức
y báo trang nghiêm nơi Cực Lạc thế giới, do tánh
đức hiển hiện. Tánh đức ở chỗ
nào? Tánh đức ở ngay trong đời ác năm
trược!
Tung hoành vạn pháp, viên khỏa nhất
tâm.
縱橫萬法。圓裹一心。
(Dọc
ngang vạn pháp, nhất tâm bao trọn).
Đến đây là một đoạn.
Hai câu này để tổng kết. “Tung” (縱: chiều dọc) chỉ thời gian, “hoành” (橫:chiều
ngang) chỉ không gian. Trong nhà Phật thường nói: “Hoành biến thập
phương, thụ cùng tam thế” (Theo chiều ngang
trọn khắp mười phương, theo chiều
dọc khắp cùng ba đời), Tung chính là Thụ (竪). Ở đây, “tung hoành”
chỉ cho thời gian và không gian. Trong không gian và thời
gian có tất cả hết thảy vạn pháp. Hết
thảy vạn pháp chẳng tách ĺa không gian và thời gian,
đều thuộc trong không gian và thời gian. Vạn pháp
trong không gian và thời gian, “viên
khỏa nhất tâm”, Khỏa (裹) là bao trùm,
“viên khỏa” (圓裹) là bao bọc trọn vẹn, ai bao trùm?
Nhất tâm, không thoát khỏi nhất tâm, chẳng ĺa
nhất tâm. Vậy th́ chúng ta niệm Phật, chúng ta
niệm Phật chuyên môn cầu nhất tâm, quư vị
thấy đó: Cao minh đến cùng cực! Mục tiêu công
phu của chúng ta là nhất tâm bất loạn, nhất tâm
tung hoành vạn pháp, bao trọn hết thảy. Đoạn
này giảng về Lư, hễ có Lư th́ nhất định có
Sự. Đoạn tiếp theo giảng về Sự
Tướng. Chúng ta xem đoạn kế tiếp:
Phi tư lượng xứ, A Di Đà
Phật. Tọa đoạn lục căn, vô tạo tác
thời. Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực, phá
quần hôn như cảo nhật lệ thiên, liệu chúng
bệnh như Thiện Kiến thần dược.
非思量處。阿彌陀佛。坐斷六根。無造作時。清泰故鄉
。橫吞八極。破群昏如杲日麗天。療眾病如善見神藥。
(A Di Đà Phật không chỗ
nghĩ lường. Nhằm lúc khuất phục sáu căn,
không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt trọn khắp tám
phương, phá các tối tăm như mặt trời chói
rực giữa trời, trị các bệnh như thuốc
thần Thiện Kiến).
Đây là một đoạn,
thuộc về sự tướng. Trong đoạn này quan
trọng nhất là “phi tư lượng
xứ” (không chỗ nghĩ lường), “vô tạo tác thời” (lúc không tạo tác). Giác và
mê khác biệt ở chỗ này! Lúc mê, vọng niệm
tơi bời, chúng tôi thường bảo là suy nghĩ loạn
xị (hồ tư loạn tưởng). Tư
tưởng của kẻ ấy chưa từng ngưng
nghỉ, đêm ngủ vẫn suy tưởng nên mới có
mộng cảnh. Nếu không suy tưởng, sẽ không
nằm mộng. Mộng do nguyên nhân nào? Chính là do A Lại Da
Thức của quư vị hoạt động không ngừng,
chẳng ngưng lặng trong mỗi sát-na. Phàm phu chúng ta
biết được những ư niệm thô, biết
được nó sanh diệt, nhưng không biết
những ư niệm vi tế. Những ư niệm cực
kỳ vi tế, những chủng tử trong A Lại Da
Thức th́ kinh Phật nói phải là Bát Địa Bồ
Tát trở lên mới biết được sự sanh
diệt của chúng. Bát Địa Bồ Tát là Bất
Động Địa, kinh Nhân Vương gọi là Vô Sanh
Pháp Nhẫn. Bát Địa Bồ Tát là Trung Phẩm Vô Sanh
Pháp Nhẫn, Thất Địa là Hạ Phẩm. Hạ
Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn c̣n chưa thấy
được [sự sanh diệt của ư niệm vi
tế], Trung Phẩm Vô Sanh thấy được. Phải
thấy mới đoạn được, quư vị không
thấy th́ đoạn chỗ nào? V́ thế, kiến
đạo rồi mới có thể tu đạo,
đạo không thấy, quư vị tu ở chỗ nào? Chúng
ta phải học điểm này. “Phi tư lượng xứ”, quư vị thấy A
Di Đà Phật đă đạt được cảnh
giới ấy.
Như vậy, “tọa đoạn lục căn” (khuất phục
sáu căn) tức là nói sáu căn không c̣n khởi tác dụng
nữa[13]. Nói “lục căn” hàm ư những
Thức nơi sáu căn, những Thức ấy vĩnh
viễn không khởi tác dụng. Người ấy
khởi tác dụng nào? Khởi những đức năng
sẵn có (bản năng) trong Pháp Tánh; bản năng
của Pháp Tánh là thấy - nghe - hay - biết. Thấy - nghe
- hay - biết trọn khắp pháp giới, hư không
giới. Các nhà khoa học ngày nay dùng phương pháp khoa
học để thí nghiệm, chứng minh thực vật
và khoáng vật có khả năng thấy - nghe - hay -
biết, đấy chính là bản năng của Pháp Tánh.
Thực vật và khoáng vật mê hay không mê? Cũng là mê. V́
thế, sự thấy - nghe - hay - biết của chúng
chẳng thể trọn khắp pháp giới, hư không
giới. Quư vị xem nhé: Viết chữ Ái (yêu) cho
nước thấy, để xa quá không được,
phải dán lên b́nh đựng nước cho gần,
đại khái phải mất một tiếng đồng
hồ nước mới phản ứng. Nó cũng mê, so
với con người nó c̣n mê tệ hại hơn. Con
người chúng ta vừa trông thấy chữ ấy
từ xa đă có phản ứng; c̣n nước phải dán
cho gần, vẫn phải tốn một thời gian dài, điều
này chứng tỏ thực vật và khoáng vật mê nặng
hơn chúng ta, khoáng vật so ra mê c̣n nặng hơn thực
vật.
Kinh Lăng Nghiêm nói thuần t́nh
thành thực vật hay khoáng vật. Kinh Lăng Nghiêm nói
đến t́nh và tưởng; thuần tưởng th́ bay
lên, thuần t́nh th́ đọa xuống. “Thuần t́nh” là ǵ? Chấp trước! Chấp
trước quá mức, nhưng tánh năng chẳng bị
vùi mất. Chấp trước nghiêm trọng hơn,
chẳng hạn như khoáng vật sẽ rất khó
chuyển biến. Trong khoáng vật th́ nước có
thể nhận được những tin tức từ
chúng ta, sau một tiếng đồng hồ nó sẽ có
phản ứng. Đại khái, quư vị gởi
đến bùn, cát, đá những thông điệp, rất
có thể cần đến cả mười tiếng, hai
mươi tiếng, thậm chí ba mươi tiếng, chúng
mới phản ứng. Quư vị thấy đó: Chúng
phản ứng. Đương nhiên phản ứng cực
kỳ vi tế, chúng ta không thấy được. V́
thế, bọn họ dùng trái cây, dùng cơm, dùng mạn
đầu làm thí nghiệm, trong hai tuần phản ứng
hết sức rơ ràng. Đó là nói về khoáng vật, không
phải là thực vật. Thực vật là hoa, cỏ, cây
cối, chúng cảm ứng cũng khá linh mẫn, quả
thật có thấy - nghe - hay - biết. Bản năng
nơi Pháp Tánh, những đức sẵn có nơi Pháp Tánh
không hề bị mất đi, mà bị mê t́nh che lấp.
Dẫu che lấp vẫn có tác dụng, vẫn khá rơ ràng.
Ở đây, chúng ta phải thực
sự hiểu rơ: Tận sức bớt suy lường,
cũng có thể hiểu là tận sức ít khởi vọng
tưởng. Vọng tưởng càng ít càng tốt,
nhưng như thế nào? Vọng tưởng không
ngừng được, vấn đề ở chỗ
này! Chúng ta muốn ngừng dứt, bởi không vọng
tưởng sẽ thành Phật; nhưng có những
chuyện ta muốn buông xuống, lại không buông xuống
được, ta muốn bỏ đi, chẳng những
bỏ không được, càng muốn bỏ đi lại
càng nhiều. Làm thế nào đây? Đức Phật
dạy cho chúng ta một phương pháp hay: Niệm A Di
Đà Phật. Ư niệm vừa dấy lên, cấp tốc A
Di Đà Phật, A Di Đà Phật, giữ ǵn một
niệm này. Quư vị muốn đoạn một niệm
này, đoạn không được, vậy th́ nay dùng
một niệm thay thế hết thảy niệm, cách này
hay lắm! Một niệm ấy không đoạn nên
gọi là “đới nghiệp văng sanh”. Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới tu hành một
khoảng thời gian, niệm ấy không c̣n nữa, bèn
thành công, đạt đến Lư nhất tâm bất
loạn.
Niệm
ấy không c̣n nữa th́ minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật.
Thành Phật rồi c̣n niệm A
Di Đà Phật nữa hay không? Vẫn niệm. Niệm lúc
đó và niệm lúc này hoàn toàn khác nhau. Niệm ấy là ǵ?
V́ người khác diễn nói, làm gương cho hết
thảy chúng sanh khổ nạn: Các ngươi muốn thành
tựu th́ phải làm giống như ta đây! Trong kinh Di
Đà, Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị hiện, Ngài
niệm Phật chứng vô thượng Bồ Đề;
bởi thế, đấy chính là làm gương cho
người khác xem, là lợi tha đấy! Hiện
tại, chúng ta chưa đạt đến Lư nhất tâm
bất loạn th́ tự lợi, tự lợi cũng là
lợi tha, lợi tha cũng là tự lợi, tự - tha
bất nhị. V́ thế, để đạt đến
chỗ không suy lường, chúng ta dùng một câu Phật
hiệu, trong mười hai thời, suốt ngày từ sáng
đến tối, trong mỗi niệm, tâm chỉ có một
câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, niệm
ǵ cũng chẳng có.
Nếu quư vị hỏi:
Việc này phiền quá, trong cuộc sống thường ngày
nhiều chuyện ḿnh không biết, niệm xuông một câu
Phật hiệu th́ lo liệu mọi việc ra sao đây?
Giải quyết như thế nào? Đúng là ư niệm quy
về một câu Phật hiệu th́ trí huệ bèn mở
mang, bất luận chuyện ǵ cũng không cần phải
biết, quư vị vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, tự
nhiên sẽ có phương pháp ổn thỏa tốt lành
để giải quyết, chẳng cần phải suy
nghĩ, t́m ṭi, chẳng cần phải biết
trước. Biết trước, suy nghĩ cặn kẽ
như thế nào đi nữa, nhưng đến lúc
đụng chuyện vẫn làm sai. Đó là phàm phu. Chư
Phật, Bồ Tát giải quyết hết thảy mọi
chuyện vặt vănh, tạp nhạp của đại
chúng, Phật, Bồ Tát có làm sai chuyện nào hay không? Không!
Từ trước đến nay chưa từng làm
chuyện ǵ sai quấy, do nguyên nhân nào? Trí huệ! Tâm các Ngài
thanh tịnh, không nhiễm ô, không có tạp niệm, “tọa đoạn sáu căn”.
“Tọa đoạn” là chữ dùng để h́nh dung,
không thực sự đoạn, ở đây có nghĩa sáu
thức nơi sáu căn không khởi tác dụng.
Lúc không tạo tác, “Thanh Thái cố hương, hoành
thốn bát cực” (quê cũ Thanh Thái nuốt trọn tám
phương): Thanh Thái là thế giới Cực Lạc , “bát cực” là tám phương.
Người Hoa thường nói “tứ phương, tứ
duy” (bốn phương chánh, bốn phương bàng[14]),
thêm vào thượng, hạ thành mười phương. “Hoành thôn” (nuốt ngang) là bao
quát toàn bộ, hoàn toàn bao trùm. Thế giới Cực
Lạc được h́nh thành như thế nào? Thế
giới Cực Lạc không do con người tạo tác,
cũng có thể nói là không phân biệt, không chấp
trước, “phi tư lượng
xứ”, không có vọng tưởng. Nói gộp lại là
“không có phân biệt, không
chấp trước”. Người trong thế giới
Cực Lạc không chỉ học với A Di Đà Phật,
dù là những người thuộc Hạ Hạ Phẩm –
chúng ta đọc thấy trong kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật
đă giới thiệu – bọn họ mỗi ngày nghe kinh,
nghe pháp, mỗi ngày đi tham phỏng mười vạn
ức Phật. Thật ra, “mười
vạn ức” không phải là con số mà là mười
phương thế giới hết thảy đạo tràng
của chư Phật, Bồ Tát, họ đều
đến tham phỏng, đến cúng Phật, nghe
Phật thuyết pháp, cúng Tăng, giúp đỡ Phật
giáo hóa chúng sanh. Bận bịu như thế cũng
chẳng vui ư?
V́ sao gọi là “vô tạo tác thời” (lúc không tạo tác)? Quả
thật, họ bận rộn cũng chẳng vui ư? Họ
không có ư niệm ấy, cũng không khởi tâm động
niệm, không phân biệt, chấp trước. Chúng sanh có
Cảm, họ bèn Ứng. Cảm ứng hoàn toàn tự
nhiên, quả thật chẳng khởi tâm, chẳng
động niệm, chẳng chấp trước, nên
mới có Ứng. Chúng ta nay không có cách nào làm như vậy
được. Do nguyên nhân nào? Bản năng ấy
của chúng ta bị chướng ngại, bị nghiệp
chướng chướng ngại. Nghiệp chướng
là ǵ? Nghiệp chướng là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, chúng ta không buông những
thứ ấy xuống được. Những thứ
ấy chướng ngại tánh đức, tánh năng
của chúng ta. Người văng sanh Hạ Hạ Phẩm
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu
chưa phá được một phẩm vô minh, nhưng họ
được bổn nguyện và oai thần của A Di
Đà Phật gia tŕ, đức năng nơi tự tánh của
họ không bị chướng ngại nên khởi tác
dụng; v́ thế, họ có thể tự do tự tại
thị hiện trong mười phương thế
giới, thật chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu chúng ta học theo họ
sẽ học không được, làm cách nào đây?
Thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ.
Đến thế giới Cực Lạc, cảnh giới
ấy sẽ hiện tiền. V́ thế, nay chúng ta
đọc đoạn kinh này, phải áp dụng vào
hiện tại như thế nào? Tùy duyên, đừng phan
duyên! Trọn đừng nghĩ ḿnh phải làm điều
này, điều nọ, hết thảy mọi việc
cứ để “nước chảy thành suối!” Có
cơ hội, biết là chuyện tốt, ḿnh có khả
năng có thể làm được th́ hăy toàn tâm toàn lực
mà làm; không đủ sức th́ chẳng cần phải
khởi vọng tưởng, chẳng cần khởi ư
niệm nào. Có khả năng nhưng việc ấy đă
có người làm, ḿnh không bắt buộc phải làm,
cũng chẳng cần phải bận tâm nữa. Việc
tốt, đúng là việc tốt, lại không có ai làm, ḿnh
có sức làm th́ ḿnh tùy hỷ. Tốt! Tự tại
lắm!
Như vậy, trong cuộc
sống hiện thời, học tùy duyên đừng phan
duyên, quư vị được đại tự tại.
Thấy thấu suốt, buông xuống, tự tại, tùy
duyên, đấy chính là những ǵ thầy truyền cho tôi,
trong bao nhiêu năm qua, tôi tùy tâm sử dụng, rất
tự tại! Càng làm, ḷng tin càng trọn đủ, càng làm,
càng cảm tạ thầy dạy dỗ. A! Bây giờ đă
hết giờ rồi!
Tập
51
Xin xem phần khai thị
thứ nhất trong thời thứ ba của Hệ
Niệm Pháp Sự. Buổi học trước chúng tôi
đă giảng đến đây:
Phi tư lượng xứ A Di
Đà Phật, tọa đoạn lục căn, vô tạo
tác thời, Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực.
非思量處。阿彌陀佛。坐斷六根。無造作時。清泰故鄉。橫吞八極。
(A Di Đà
Phật không chỗ nghĩ lường. Nhằm lúc khuất
phục sáu căn, không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt
trọn khắp tám phương).
Trong hai câu này, quan trọng nhất là “phi tư lượng xứ” (chỗ
không suy lường) và “vô tạo
tác thời” (lúc không tạo tác), thánh - phàm sai biệt
cũng ở chỗ này. Thánh nhân (chúng ta gọi là “bậc
giác ngộ”), bậc giác ngộ tâm địa thanh tịnh
không có vọng niệm. Phàm phu không giác ngộ, mê hoặc,
vọng niệm chẳng đoạn. Phàm - thánh sai biệt,
nói thật ra, chính là ở chỗ này. V́ thế, thời
cổ thánh nhân dạy người “khắc niệm tác thánh” (chế ngự
được ư niệm th́ thành thánh), quư vị thấy
bốn chữ này rất thú vị! Phàm ai có thể chế
ngự được ư niệm sẽ thành thánh, ai không
khắc phục được ư niệm của chính ḿnh
th́ là phàm phu. Chư Phật, Bồ Tát cũng không có ǵ khác,
đoạn được vọng niệm mà thôi,
đoạn sạch sẽ, mảy may cũng không c̣n, nên
gọi là Phật Đà, là chư Phật Như Lai!
Đoạn nhưng c̣n một chút, hăy c̣n một chút cực
kỳ vi tế chưa đoạn th́ là Đẳng Giác
Bồ Tát. Do đây biết rằng: Tu hành nói đến
tổng nguyên tắc, tổng cương lănh th́ không có ǵ
khác cả, khắc phục vọng niệm mà thôi! Như
vậy, A Di Đà Phật làm được điều
này. “Phi tư lượng xứ”
A Di Đà Phật làm được, v́ thế, lục
căn của Ngài tịch tĩnh. Lục căn tịch
tĩnh, phản bổn hoàn nguyên (trở về với nguồn
cội), thành công! Câu này giảng về chuyện khắc
phục vọng niệm.
Câu thứ hai giảng về
tạo tác. Phật, Bồ Tát hiện vô lượng vô biên
thân trong mười phương pháp giới, độ vô
lượng vô biên người, quư vị nói thử xem: Các
Ngài có tạo tác hay chăng? Không tạo tác! V́ sao bảo là
không tạo tác? Rành rành là tạo tác, v́ sao nói là không tạo
tác? Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni
Phật v́ mọi người giảng kinh, thuyết pháp suốt
bốn mươi chín năm, hằng ngày giảng, không
nghỉ một ngày nào, thế nhưng trong kinh Bát Nhă
lại bảo “Phật không nói một câu nào, ai nói
Phật thuyết pháp chính là báng Phật!” Trong giáo pháp
Đại Thừa chúng ta cũng đă từng nghe nói, có
khi là: “Thuyết nhi vô thuyết,
vô thuyết nhi thuyết” (nói mà không nói, không nói mà nói).
Phật, Bồ Tát đến hiện thân trong chín pháp
giới thuyết pháp chính là “hiện
nhi vô hiện, vô hiện nhi hiện, thuyết nhi vô thuyết,
vô thuyết nhi thuyết” (hiện nhưng không hiện,
không hiện mà hiện, nói mà không nói, không nói nhưng nói).
Những câu ấy khiến chúng ta như đang ở trong
đám sương phủ mù mịt[15],
nghe xong mê muội luôn: Sao lại nói hiện nhưng không
hiện, nói nhưng không nói? Trong những phần trên đă
nói rất nhiều lần về hiện thân thuyết pháp
rồi: Ứng theo ḷng Cảm của chúng sanh mà tự nhiên
hiện, tự nhiên nói, không hề có ư nghĩ nào trong
ấy cả. Không có một ư nghĩ nào là “không nói”, ứng theo ḷng Cảm của chúng sanh là “có nói”. V́ thế, nói mà không
nói, không nói mà nói; nghĩa là như vậy đấy.
Đúng là nói rất nhiều, nhưng đức Phật
tuyệt đối chẳng khởi tâm động
niệm, tuyệt đối chẳng phân biệt, chấp
trước.
Chúng ta nghe những lời này
chẳng hiểu! Rốt cuộc, chúng có nghĩa là ǵ? Chúng
tôi vẫn dùng cái màn huỳnh quang như trong phần trên
để tỷ dụ. Màn huỳnh quang của TV, hoặc
màn huỳnh quang của computer sạch sẽ chẳng
nhiễm mảy trần! Đúng hay không? Quư vị gật
đầu, đúng rồi! Nay quư vị thâu nhận tín
hiệu, màn h́nh bèn hiện tướng. Nếu chúng ta
hỏi: Màn huỳnh quang hiện tướng rốt
cuộc là chuyện ǵ vậy? Chẳng phải là hiện mà
không hiện hay sao? Tướng th́ hiện, nhưng màn
huỳnh quang quả thật chẳng tiêm nhiễm mảy
may, quư vị nghĩ xem có phải là “hiện nhưng không
hiện, không hiện mà hiện” đó ư? Những h́nh
ảnh được hiện ấy cũng là giảng
kinh, cũng là thuyết pháp, chẳng phải là “nói nhưng không nói, không nói mà nói”
hay sao? Chư Phật hiện thân thuyết pháp trong chín pháp
giới cũng giống như những tướng được
hiện trên màn huỳnh quang. Đạo lư thuyết pháp
giống như vậy đó.
Như vậy, trong nhà quư vị ai
cũng có TV, mỗi ngày người biết tu hành xem TV đều
là tu hành, nhờ vào đó mà đại triệt đại
ngộ, nguyên lai là như thế đó! Màn huỳnh quang
tượng trưng cho Pháp Tánh, tướng hiện nơi
đó. Màn huỳnh quang có thể hiện (năng hiện),
tướng ấy là cái được hiện (sở
hiện), Năng Hiện - Sở Hiện, Năng - Sở
là một, tuyệt đối không phải hai. Năng
Hiện quyết định bất biến, Sở
Hiện bị biến, biến ra sao? Khởi tâm
động niệm bèn biến; không khởi tâm, không
động niệm th́ chẳng biến. Không khởi tâm,
không động niệm gọi là Nhất Chân pháp giới.
Nhất Chân pháp giới sống động, không chết
cứng; “bất biến” hàm nghĩa không động,
giống như màn h́nh vậy. V́ thế, năng hiện -
sở hiện, năng biến - sở biến là một,
không hai. Có như vậy quư vị mới thực sự
hiểu rơ, thực sự thấu hiểu Thật
Tướng của các pháp.
V́ thế, “vô
tạo tác thời, Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực”
(lúc không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt trọn tám
phương): Chúng tôi dùng cái màn huỳnh quang để
tỷ dụ. A Di Đà Phật và quê cũ Thanh Thái
đều dùng cái màn huỳnh quang để làm tỷ
dụ, “tọa đoạn lục
căn” (khuất phục sáu căn), “hoành thôn bát cực” (nuốt trọn tám
phương), chúng tôi dùng những h́nh ảnh hiện ra
nơi màn h́nh để tỷ dụ. Tôi giảng như
vậy chắc mọi người hiểu được,
nhưng quư vị vẫn phải chú tâm quán sát, không chú tâm sẽ
chẳng hiểu những thứ ấy đều ở
ngay trước mặt. Lúc quư vị hiểu
được th́ trí huệ sẽ sanh khởi, đối
với hết thảy những tướng
được hiện quư vị mới thực sự bội
phục. Kinh Kim Cang dạy: “Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm
những ǵ có tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp,
như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Đức
Phật nói ra được những lời ấy quả
thật là phi phàm, một lời vạch trần Thật
Tướng của các pháp. Hôm nay chúng ta lại xem tiếp,
xem tiếp đoạn văn sau đây:
Phá quần hôn như cảo nhật
lệ thiên.
破群昏如杲日麗天。
(Phá
các tối tăm như mặt trời chói rực giữa
trời).
Trí huệ hiện tiền! Trí
huệ hiện tiền có thể phá mê hoặc, có thể
phá chướng. Trong Tam Chướng, khó phá nhất là
Hoặc Chướng, tức là Phiền Năo Chướng,
mê hoặc đấy! Phá được mê hoặc th́
vấn đề nào cũng giải quyết
được; chỉ cần phá được mê
hoặc th́ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước tự nhiên bị khống chế, không thể
sanh khởi được nữa, đấy chính là
cảnh giới nơi quả địa Như Lai. “Phá quần hôn”: Hết
thảy mê hoặc đều dùng hai chữ “quần hôn” (các thứ tối
tăm) để tượng trưng. “Như cảo nhật lệ thiên” (như mặt
trời chói rực giữa trời): “Cảo nhật” là mặt trời. Chữ “cảo” (杲) viết theo cách Hội Ư, nhằm làm cho
quư vị nh́n vào tướng (tức mặt chữ) sẽ
thấu hiểu được ư nghĩa. Mặt trời
mọc lên, cao lắm, đă vượt lên đầu
ngọn cây. V́ thế, chữ Cảo dưới là chữ
Mộc (木), trên là chữ Nhật (日), ngụ ư Thái Dương nay đă
vượt khỏi ngọn cây, rất cao rồi, hết
sức sáng chói. Thái Dương quá xa, v́ thế nó mang ư
nghĩa cao xa, mang ư nghĩa sáng sủa. “Cảo nhật lệ thiên” biểu thị ư
nghĩa ǵ? Biểu thị đại triệt đại
ngộ, biểu thị thông đạt, hiểu rơ, khai
ngộ rồi. Câu kế
tiếp:
Liệu chúng bệnh như
Thiện Kiến thần dược.
療眾病如善見神藥。
(Trị
các bệnh như thuốc thần Thiện Kiến).
“Chúng
bệnh” (các bệnh) chỉ chúng sanh trong chín pháp
giới vẫn c̣n mê hoặc, vẫn c̣n tạo nghiệp,
vẫn c̣n chịu báo, nhất là chúng sanh luân hồi trong
lục đạo rất đáng thương, rất khổ!
Phật, Bồ Tát thị hiện trong thế gian
để làm ǵ? Cứu khổ, cứu nạn, giúp cho
những kẻ khổ nạn ấy, đến trị
bệnh cho họ! Giống như “Thiện Kiến thần dược” (thuốc
thần Thiện Kiến) là nói tỷ dụ. Trong kinh Phật
có tỷ dụ một loại thuốc, loại thuốc này
có thể trị hết thảy các bệnh, loại thuốc
ấy có tên là Thiện Kiến. Chữ Kiến (見) này nên đọc là Hiện
(現), thời cổ
chữ Kiến và Hiện có cùng một âm, cũng mang cùng một ư nghĩa, nay thêm bộ
Ngọc (玊) vào bên cạnh [chữ Kiến thành
chữ Hiện]. Thần dược Thiện Kiến
(Hiện): Chúng sanh trông thấy thuốc ấy, (theo cách nói
bây giờ của chúng ta) tất cả hết thảy virus
đều bị hóa giải, chúng ta nghĩ xem thuốc
ấy là thuốc ǵ vậy? Thuốc ấy chẳng
phải là Tam Bảo như Phật pháp thường nói
đó chăng? Tam Bảo là ǵ? Tự Tánh Giác, Tự Tánh
Chánh, Tự Tánh Tịnh. Tự Tánh Giác - Chánh - Tịnh là đức
hạnh vốn sẵn có trong tự tánh, đức Phật
nói tới thần dược Thiện Kiến chính là nói điều
này. Tự Tánh Giác - Chánh - Tịnh hiện tiền, virus nào
cũng không c̣n nữa, đều bị hóa giải
hết. Thiên địa, vạn vật, hết thảy
chúng sanh đều chuyển biến thành Giác - Chánh -
Tịnh, trong tự tánh há có virus!
Như vậy, nay chúng ta
chuyển tham - sân - si thành Giác - Chánh - Tịnh, chuyển keo
tham thành thanh tịnh như thế nào? Keo tham (keo kiệt,
tham lam) là nhiễm ô nghiêm trọng nhất. Chuyển sân
khuể thành thuần chánh. Chuyển ngu si thành thuần giác.
Chuyển được th́ là Phật, Bồ Tát; chuyển
không được th́ là phàm phu. Chúng tôi muốn chuyển
th́ xin hăy dạy cho tôi phương pháp nào để
chuyển? Phương pháp rất nhiều, tám vạn
bốn ngàn pháp môn, tám vạn bốn ngàn loại
phương pháp, vô lượng pháp môn, vô lượng vô
biên phương pháp đều có thể chuyển.
Nhiều phương pháp như vậy, chúng ta phải
học theo phương pháp nào mới là tốt nhất? Đức
Phật dạy chúng ta: “Pháp môn b́nh
đẳng, vô hữu cao hạ” (Pháp môn b́nh đẳng,
không có cao hay thấp). V́ sao? Mỗi phương pháp
đều có thể giúp cho chúng ta chuyển Mê - Tà - Nhiễm
thành Giác - Chánh - Tịnh. Mê - Tà - Nhiễm là Tham - Sân - Si,
chuyển thành Giác - Chánh - Tịnh. Bởi vậy, “pháp môn b́nh đẳng, không có cao
hay thấp”.
Thế nhưng chúng ta là chúng
sanh nghiệp chướng, tập khí, phiền năo rối
bời, mỗi người khác nhau, sâu - cạn, dày - mỏng
khác nhau. Người lợi căn phiền năo tập khí
mỏng một chút, cạn một chút, học pháp môn ǵ
cũng đều dễ dàng. Người phiền năo
tập khí rất nghiêm trọng, có rất nhiều pháp môn
người ấy không có cách ǵ học được. V́
thế gian này hiện thời quá khổ, tai nạn quá
nhiều, chúng ta nhất định phải t́m lấy
một pháp môn nào dễ dàng nhất, nhanh chóng nhất,
ổn thỏa, thích đáng nhất để nương
cậy. Chư Phật Như Lai dạy chúng ta: “Có! Có
một pháp môn: Niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh
Độ”. Pháp môn này là pháp môn lư tưởng. Chúng ta hăy xem
đoạn văn tiếp theo:
Sở dĩ vân: Nhất xưng A
Di Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn
ức kiếp sanh tử chúng khổ.
所以云。一稱阿彌陀佛名號。能滅八萬億劫生死眾苦。
(Bởi thế nói: Vừa
xưng danh hiệu A Di Đà Phật, diệt
được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh
tử).
Đây chính là lời chư
Phật Như Lai đă nói! Chúng ta có tin tưởng hay
không? Nếu quư vị tin, chứng tỏ quư vị có
thiện căn to lớn. Trong đời quá khứ đă
có thiện căn rất sâu dầy, trong đời này mê
hoặc, khi nào có người cảnh tỉnh quư vị,
vừa tỉnh th́ thiện căn trong đời quá khứ
liền phát khởi, quư vị bèn tin tưởng. Lúc nào
thiện căn chín muồi, đúng đấy, nhất
định phải có lúc đó, trong nhà Phật thường
gọi là “thời tiết nhân
duyên”. Thời chưa đến là chưa
được.
Tôi thừa nhận, trong đời quá khứ,
tôi có thiện căn sâu dầy, nhưng trước khi tôi
tṛn hai mươi tuổi, chắc chắn tôi không thể
tiếp nhận Phật pháp. Ai đến giảng giải
cho tôi cũng uổng công, tôi chẳng thể tiếp
nhận. Hết sức chấp trước, hết
sức ngoan cố, tự cho ḿnh đúng, tự cậy ḿnh
thông minh. Năm hai mươi sáu tuổi thân cận tiên sinh
Phương Đông Mỹ, Phương tiên sinh là bậc
thiện tri thức được ngưỡng mộ
trong tâm tôi, là vị thầy tôi kính ngưỡng nhất. Gặp
được cụ, cụ giới thiệu Phật pháp
cho tôi, tôi không nói ǵ cả, tin tưởng ngay. Thầy chẳng
lừa dối tôi, đối với tôi cụ hết
sức tốt, hết sức yêu thương. Năm hai
mươi sáu tuổi chính là lúc thời tiết nhân duyên
chín muồi, gặp được bậc thiện tri
thức như vậy. Thật đấy! Cụ là
đại triết gia, chẳng những là vị giáo
sư nổi tiếng tại Đài Loan mà c̣n là bậc
thầy nổi danh trên thế giới. Tôi bị
đạo đức, học vấn của cụ
chiết phục, cụ nói: “Kinh
Phật là triết học cao sâu nhất trong triết
học toàn thế giới (tôi học Triết Học
với cụ), học Phật
là sự hưởng thụ cao nhất trong đời
người”. Tôi bị hai câu nói ấy của cụ
dẫn vào cửa Phật. Nếu không phải là
Phương tiên sinh mà là người khác nói hai câu ấy,
tôi chẳng tin tưởng; nhất định phải
từ miệng cụ nói ra tôi mới tin tưởng
được. Ai độ người nào đều là
có duyên phận. Duyên phận ấy chỉ có thể gặp
chứ không thể cầu. Tôi được cụ
tiếp dẫn vào cửa nhà Phật như thế đấy!
Tiếp dẫn vào cửa
Phật rất hy hữu! Chưa đầy một tháng sau
tôi quen biết Chương Gia đại sư, tôi có
người để thỉnh giáo về những
chuyện liên quan đến Phật giáo. Tôi tự ḿnh t́m
kinh điển đọc, có ngờ vực ǵ, bèn
hướng về Chương Gia đại sư
thỉnh giáo. Chương Gia đại sư giúp tôi
suốt ba năm, căn cơ Phật giáo của tôi
được xây đắp vững vàng từ nơi lăo
nhân gia. Nói cách khác, năm hai mươi sáu tuổi,
trước khi gặp Phương tiên sinh, bất cứ ai
muốn giới thiệu Phật giáo cho tôi cũng
đều không thể được. Tôi tranh căi với
người ấy, tôi có cả một đống lư
luận vặn vẹo, quư vị không có cách ǵ đả phá
lư luận vặn vẹo của tôi, nên tôi chẳng thể
tin tưởng.
Lúc c̣n trẻ, độ những
người như tôi rất khó khăn. Lúc ấy tôi c̣n
đang đi học, c̣n chưa đến hai mươi
sáu tuổi, lúc mười mấy tuổi, thường hay
thân cận Cơ Đốc giáo. V́ tôi có rất nhiều
bạn học là tín đồ Cơ Đốc Giáo,
thường đi nhà thờ, tôi theo họ đi nhà
thờ, cũng đọc Kinh Thánh của họ, tôi
đọc hết sức nghiêm túc, bọn họ đều
kém tôi. Mục sư mấy lần rủ rê, hy vọng tôi
chịu rửa tội. Tôi nói tôi có nghi vấn, đợi
khi nào thấu hiểu những nghi vấn ấy tôi sẽ
rửa tội, chứ hiện nay những nghi vấn
ấy không có cách ǵ giải quyết được. Ông ta
hỏi những nghi vấn nào? Tôi nhớ h́nh như ḿnh nêu
lên hơn bảy mươi điều, ông ta không trả
lời được một điều nào. Ông ta nghe xong,
lắc đầu: “Khó quá, không cách ǵ độ cậu
được!” Thế trí biện thông mà! Nay học
Phật mới biết, đời quá khứ tu Huệ
không tu Phước; v́ thế, có Thế Trí Biện Thông,
không có phước báo, cũng không có thọ mạng.
Học Phật rồi mới biết, mới biết ḿnh
nên tu bổ cứu như thế nào, không có phước báo
th́ phải bổ cứu. Không có thọ mạng cũng
phải bổ cứu. Nhất là Chương Gia đại
sư dạy tôi: “Phật thị
môn trung, hữu cầu tất ứng” (trong cửa nhà Phật,
có cầu ắt ứng). Thật ra, tôi trọn chẳng
cầu phước, cũng trọn chẳng cầu
trường thọ, nhưng tôi cầu trí huệ là
thật. Đại khái là đời đời kiếp
kiếp trong quá khứ chú trọng nơi tu Huệ, nay c̣n
mang theo tập khí nhiều đời nhiều kiếp
trước, chú trọng tu Huệ; nhưng tu Huệ bao
gồm cả Tài Bố Thí và Vô Úy Bố Thí trong ấy. Thầy
Lư khuyên tôi học giảng kinh: “Học giảng kinh th́ ba
thứ bố thí đồng thời đầy đủ!”
Quư vị lên giảng đài v́ đại chúng, đem
Phật pháp giới thiệu cho đại chúng, giảng
giải cho đại chúng nghe, phải có thân thể,
phải có sức khỏe. Thân thể và sức khỏe
chính là Nội Tài Bố Thí, so ra c̣n thù thắng hơn
Ngoại Tài. Ngoại Tài là những tài vật ngoài thân. Quư
vị giúp cho người khác có phước báo, dùng thân
thể và sức lực để giúp đỡ người
khác, phước báo càng lớn. Phước báo của
Nội Tài so với Ngoại Tài c̣n lớn hơn.
Đấy là Tài Bố Thí! Những ǵ chúng ta giới
thiệu chính là Phật pháp, thuộc về Pháp Bố Thí.
Mọi người thực sự hiểu rơ, thông suốt
Phật pháp, phá trừ nghi chướng, đấy là Vô Úy
Bố Thí. V́ thế, làm một chuyện đạt được
cả ba, thầy Lư dạy tôi như vậy.
Trước khi gặp
được thầy Lư, tôi chỉ biết chăm chú
học Phật; Phương tiên sinh giảng cho tôi. Cho
đến lúc ấy tôi chẳng hề khởi ư niệm
lên đài giảng kinh, chẳng dám khởi ư niệm
ấy. Chính là thầy Lư dạy dỗ, dẫn dụ tôi lên
giảng đài. Lên giảng đài rồi vui sướng
không mệt mỏi, nói thật ra là do thiện căn trong
đời quá khứ dẫn khởi phát hiện. V́ thế,
thầy Lư thường nói chúng ta lên đài giảng kinh
không phải là một đời, một kiếp, mà là trong
quá khứ đời đời kiếp kiếp
đều lên giảng đài. Bởi vậy, quư vị lên
giảng đài mới được tùy ḷng ứng
đối, pháp nào cũng giảng được, không
bị khó khăn. Thật đấy! Quả thật là
thiện căn trong quá khứ, là hạnh nghiệp trong quá
khứ. Trong quá khứ từng làm hạnh này, làm sự
nghiệp này, nên trong một đời này có thể
tiếp tục làm nữa, nguyên do là như vậy.
Vậy th́ “nhất xưng A Di Đà Phật danh hiệu, năng
diệt bát vạn ức kiếp sanh tử chúng khổ” (xưng
danh hiệu A Di Đà Phật một tiếng, diệt
được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh
tử). Chư Phật nói như vậy, chúng ta phải tin.
Chư Phật nói mà không tin th́ c̣n tin cái ǵ được
nữa? Chuyện ấy nếu đợi chúng ta chứng
minh được th́ đâu phải là chuyện dễ
dàng. Nếu quư vị muốn chứng minh chuyện này th́
phải là bậc Bát Địa trở lên mới có thể
chứng minh chân tướng sự thật này rơ ràng: “Nhất xưng A Di Đà
Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức kiếp
sanh tử chúng khổ” (Niệm danh hiệu A Di Đà
Phật một tiếng, diệt được các khổ
trong tám vạn ức kiếp sanh tử). Rất đáng
tiếc! Người thế gian không chịu niệm, không
biết niệm. Người chịu niệm, hiện
tại người niệm Phật chúng ta rất
nhiều, mà có diệt được các khổ trong tám
vạn ức kiếp sanh tử hay không? E rằng không
được! Không được th́ lời Phật hóa
ra không đúng hay sao? Đức Phật chắc chắn
chẳng nói dối, nhưng chữ “diệt” ở đây có hai loại: Trong kinh
Phật thường dạy có Đoạn Diệt và
Phục Diệt. Hai thứ khác nhau!
Nay chúng ta niệm Phật
diệt được các khổ trong tám vạn ức
kiếp sanh tử, nói thật ra, không phải là
đoạn diệt, không đoạn được! Chúng ta
niệm Phật một tiếng sẽ khuất phục,
đè nén [được các nỗi khổ]. Thế
nhưng khi không niệm, chúng lại trỗi dậy, như
thế là lấy đá đè cỏ, chứ chưa trừ
được rễ. Người biết niệm trừ
được cả rễ. Nay chúng ta không biết niệm,
thế nào mới là “biết niệm”? Trong những
phần trên tôi đă giảng rồi! Nói thật đơn
giản, thật minh bạch, thật rơ ràng th́ không ǵ
hơn lời Đại Thế Chí đă dạy: “Đô nhiếp lục căn, tịnh
niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối). Đó là biết niệm.
Biết niệm th́ trước hết vẫn là chế
phục, rồi sau mới đoạn. Đấy là đạo
lư nhất định, trước chế phục, sau
đoạn trừ. Quư vị niệm Phật, phải
tịnh niệm, tịnh là thanh tịnh, không hoài nghi, không
xen tạp. Hoài nghi: không thanh tịnh; xen tạp cũng
chẳng phải là thanh tịnh, khó lắm! Trong khi quư
vị niệm Phật mà vẫn c̣n khởi vọng
tưởng, vẫn có tạp niệm th́ công phu chưa
thuần, đó gọi là không thanh tịnh!
Niệm Phật, có lúc niệm,
có lúc gián đoạn, chẳng thể liên tục, lúc
niệm th́ khuất phục được phiền năo, lúc
gián đoạn th́ phiền năo lại hiện hành. Do
vậy, niệm đă lâu như thế nào đi nữa, vẫn
không chế phục được. Quư vị không khuất
phục được phiền năo là v́ có gián đoạn.
Một ngày hai mươi bốn tiếng đồng
hồ, thời gian niệm Phật ngắn ngủi,
thời gian không niệm Phật lại dài. Nói cách khác,
mỗi ngày quư vị dùng đá đè cỏ, thời gian
đè nén ngắn; lúc không chèn ép, cỏ lại tăng
trưởng. V́ thế, quư vị hao sức niệm bao
nhiêu năm dài lâu như thế, niệm mấy mươi
năm, ngay cả tin tức cũng chẳng có ǵ hết,
nghĩ lại vẫn không khác ǵ lúc chưa học Phật
cho mấy, đấy chính là công phu không đắc lực!
Công phu không đắc lực là v́ quư vị không biết
niệm, quư vị niệm Phật khi có, khi không, cổ nhân
bảo là “lộ thủy đạo
tâm” (đạo tâm như nước trong giọt
sương đọng). V́ thế, dù quư vị niệm
Phật chỉ là gieo chủng tử vào A Lại Da
Thức, không địch lại nổi tập khí phiền
năo, không chế phục được. Vậy th́ phải
niệm ra sao?
Chính là “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối), phải làm theo cách ấy. Làm theo cách
như vậy, từ những ghi chép về sự tu hành chứng
quả của cổ đức, chúng ta thấy: Nếu là
bậc lợi căn th́ ba tháng liền thấy hiệu
quả, người căn tánh bậc trung phải mất
sáu tháng, tức là trong nửa năm bèn thấy hiệu
quả. Hiệu quả hiện hữu rồi, tín tâm
lớn bội phần. Thật đấy! Đúng là có
lợi ích, v́ sao? Phiền năo ít đi, vọng niệm ít
đi, vọng niệm ít đi rồi th́ trí huệ tăng
trưởng. Chuyện ǵ cũng vậy, bắt
đầu đều khó, quư vị muốn đè nén
tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay mà! Lúc tôi
mới học Phật, thân cận Chương Gia
đại sư, Chương Gia đại sư nói và làm khác
nào nêu gương cho tôi, tôi hiểu rơ: “Phật hiệu quyết định chẳng
được gián đoạn!” Đại sư tŕ chú,
tŕ chú giống như niệm Phật, không gián đoạn!
Mỗi Chủ Nhật tôi
đến gặp Ngài, thời gian là hai tiếng
đồng hồ. Trong hai tiếng đồng hồ
ấy, Ngài tŕ chú không ngừng. Tôi hướng về Ngài
thỉnh giáo, Ngài trả lời câu hỏi, đáp xong
lại niệm chú. Ngài tŕ theo lối Kim Cang Tŕ, không phát ra
tiếng, chỉ động môi, toàn thân ở trong
Định. Ngài gởi cho tôi một bức ảnh,
mọi người đă thấy rồi đó, b́nh
thường Ngài luôn như vậy, chứ không phải lúc
chụp h́nh cố ư làm ra vẻ. B́nh thường Ngài là
như vậy, ở trong Định, đi, đứng,
nằm, ngồi đều trong Định. V́ vậy,
thầy Lư rất bội phục, cả đời chúng tôi
chưa thấy được một người thứ
hai như thế. Động tác, hành động của
Ngài hết sức từ tốn, nói năng cũng chậm
răi, không gấp gáp, lụp chụp tí xíu nào, ôn ḥa. Những
đức tánh “ôn, lương,
cung, kiệm, nhượng” (ôn ḥa, hiền lành, cung kính,
tiết kiệm, khiêm nhượng) như Khổng phu
tử đă nói trong Luận Ngữ đều thấy
thể hiện nơi đại sư, thánh đức
đấy! Đó là Ngài nêu gương cho chúng ta thấy,
măi cho đến nay chúng tôi vẫn chưa học
được. Ngài tịnh như thế, định
như thế, ổn trọng như thế khiến ai
thoạt nh́n đều tự nhiên sanh ḷng cung kính, sức
nhiếp thọ rất lớn. V́ thế, niệm Phật
phải biết niệm, chúng ta phải tin vào lời
Phật, đúng là trong một câu Phật hiệu không xen
tạp, không hoài nghi, không gián đoạn.
Trước kia, lần thứ
nhất tôi đến hội Phật giáo Cát Long Ba (Kuala
Lumpur) không phải để giảng kinh mà là giảng
diễn, h́nh như liên tục suốt năm ngày. Cuối
cùng, tôi dạy mọi người pháp Thập Niệm. Pháp
Thập Niệm ấy như sau: Một ngày chín lần,
mỗi lần chỉ niệm mười câu A Di Đà
Phật, niệm bốn chữ thôi: A Di Đà Phật, A Di
Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật,
mười câu liên tục như thế. Trong mười
câu ấy quả thật không hoài nghi, không xen tạp.
Niệm quá lâu sẽ xen tạp vọng niệm, niệm
mười câu ấy chỉ cần một phút, một phút
th́ chúng ta có thể làm được: Trong một phút
quyết định không xen tạp, mười câu Phật
hiệu, vả lại, mười câu ấy câu này tiếp
theo câu kia là liên tục, cũng có thể phù hợp với
nguyên tắc như Đại Thế Chí Bồ Tát đă
nói. Quư vị nghiêm túc làm, một ngày chín lần, ngày ngày
không gián đoạn. Có không ít đồng học nghe như
vậy bèn làm theo, làm một hai tháng rất có hiệu
quả, gọi điện thoại cho tôi, viết thư
cho tôi, nói phương pháp này tốt lắm. V́ thế,
phương
pháp ấy được truyền bá.
Sau này ở Mỹ, Gia Nă
Đại có nhiều đồng tu áp dụng phương
pháp này. Dùng phương pháp này kể ra rất thích hợp
đối với người hiện tại, công việc
bề bộn, chẳng tốn thời gian. Sáng dậy
rửa mặt xong, trong nhà có tượng Phật th́
đối trước tượng Phật mà làm. Không có
tượng Phật th́ hướng về phương Tây,
một phút là thực hiện xong công khóa. Đêm
trước khi đi ngủ làm một lần, sáng tối
hai lần. Trước ba bữa ăn, do làm vậy nên ba
bữa ăn chúng ta không cần phải niệm chú Cúng
Dường, chúng ta niệm A Di Đà Phật, niệm
mười câu rồi mới ăn cơm, đó là ba
lần. Vậy là năm lần, cộng hai lần sáng
tối thành năm lần. Vô làm việc, về nghỉ,
buổi sáng bắt đầu vào làm việc, nghỉ
trưa; buổi chiều trở vào làm việc tiếp, ra
về, trước lúc bắt đầu làm việc
chắp tay niệm Phật hiệu mười tiếng
rồi hăy làm việc. Lúc hết buổi, làm xong việc,
xếp gọn sổ sách, rồi lại chắp tay
niệm Phật mười tiếng. Một ngày chín
lần, phù hợp “tịnh
niệm tiếp nối”. Rất có hiệu quả đối
với người công việc bận rộn trong hiện
tại.
Nếu về hưu th́ quư
vị nên học theo Chương Gia đại sư, suốt
ngày từ sáng đến tối Phật hiệu không gián
đoạn, không cần phát ra tiếng. Nếu niệm ra
tiếng trong một thời gian dài sẽ rất mệt,
thân thể không kham nổi. Kim Cang Tŕ, hoặc là mặc niệm,
mặc niệm là niệm không ra tiếng, miệng cũng
không động, Phật hiệu trong tâm câu này tiếp theo
câu kia, vọng niệm không có, quư vị thực sự làm
được! Vọng niệm không có, hoàn toàn bị
khống chế, gọi là “công phu thành phiến”,
đấy chính là Niệm Phật tam-muội [ở mức
độ] nông cạn nhất, quư vị đă đắc
Niệm Phật tam-muội. Cũng có thể nói là quư
vị đă hoàn toàn khống chế vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, chẳng trở ngại
công việc. Cứ làm lụng, thù tiếp như cũ. Không
phải là dứt tuyệt mọi ngoại duyên; ngoại
duyên tất yếu phải có, chẳng thể đoạn
tuyệt được, nhưng không trở ngại chút
nào. Chuyện không cần thiết th́ hăy đoạn đi,
nghĩa là: Những chuyện không quá cần thiết, cấp
bách trong cuộc sống thường ngày th́ đừng
quan tâm đến nữa.
Cổ nhân nói hai câu rất hay: “Thức nhân đa xứ thị
phi đa; tri sự đa thời phiền năo đa” (Càng
biết nhiều người càng lắm chuyện, càng
biết nhiều chuyện càng phiền năo). Nếu không
biết rất nhiều chuyện, không cần phải
đi khắp nơi t́m nghe. Người ta đưa tin
đến, bảo cho ḿnh chuyện ǵ, chuyện nào không liên
can đến ḿnh ta không thèm nghe. Biết càng ít chuyện càng
tốt, quen càng ít người càng hay, không cần thiết!
Vĩnh viễn giữ được cái tâm thanh tịnh,
tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi của chính ḿnh,
bản thân chúng ta tu học như thế th́ mới có
thể ảnh hưởng người khác. Người
khác thấy quư vị tu học như thế, tu tốt
lắm, người ta học theo quư vị. Người ta
học bao nhiêu năm công phu không đắc lực, v́ sao
công phu không đắc lực? Nếu quư vị thực
sự muốn công phu đắc lực th́ cách tu là như
thế, duyên nào nên buông xuống th́ nhất định
phải buông xuống. Quư vị phải nhớ kỹ, chuyện
ǵ không nên buông xuống chớ nên buông xuống, không có
trở ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô
ngại.
Người trong nhà ḿnh th́ ḿnh
phải yêu thương, phải chiếu cố, chuyện
này không thể buông xuống, không được nói là chẳng
quan tâm đến gia đ́nh nữa. Học Phật như
vậy sẽ chẳng thể thành tựu! Hết thảy
chư Phật đều dạy chúng ta phải hiếu
dưỡng cha mẹ, ngay cả cha mẹ mà quư vị cũng
không màng th́ làm sao có thể thành Phật đạo? Bởi
vậy, chẳng được buông bỏ đạo
đức luân thường thế gian, người
học Phật sống trong thế gian phải thể
hiện sự giáo hóa người đời như
vậy. Ấn Quang đại sư giảng rất hay: “Đôn luân, tận phận, nhàn
tà, tồn thành” (Giữ trọn luân thường,
tận hết trách nhiệm, ngăn ḷng tà, giữ ḷng
thành). Đôn luân tận phận là về mặt Sự, nhàn
tà tồn thành là không ngăn ngại. Pháp thế gian chính là
Phật pháp, giác rồi th́ pháp nào chẳng phải là
Phật pháp? Không giác th́ có pháp nào là Phật pháp đâu nhỉ?
Không giác th́ thứ ǵ cũng chẳng phải, niệm
Phật cũng chẳng phải!
Trước kia, tôi từng nghe
những vị lăo ḥa thượng bảo tôi: Tại
nhiều nơi trong nội địa có những bà cụ
niệm Phật, hỏi họ v́ sao phải niệm A Di
Đà Phật? Họ nói niệm A Di Đà Phật
để trữ tiền[16].
Tôi chết đi rồi, có rất nhiều tiền trữ
sẵn để dùng. Niệm Phật như vậy không
phải là Phật pháp, họ hoàn toàn sai lầm. Họ
muốn tương lai chết đi làm quỷ, làm một
con quỷ giàu có, không làm một con quỷ nghèo nàn. Ngày ngày
niệm A Di Đà Phật để kiếm tiền, quư
vị nói xem có phải là hoàn toàn sai lầm hay không? Như
vậy, hễ mê rồi th́ Phật pháp cũng trở thành
pháp thế gian; ngộ th́ hết thảy pháp thế gian
đều là Phật pháp. Thật vậy! Ở đây thiền
sư Trung Phong giảng rất nhiều, giảng rất
hay, quan hệ giữa chúng sanh và Phật, phàm và thánh là ở
chỗ này. Nhất định phải hiểu đạo
lư này. V́ thế, đối với lời chư Phật
đă nói: “Nhất xưng A Di
Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức
kiếp sanh tử chúng khổ” (xưng danh hiệu A Di
Đà Phật một tiếng, diệt được các
khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử), chúng ta tin
tưởng sâu xa không nghi.
Lợi ích như thị, khởi
thí dụ ngôn thuyết chi khả cập hồ!
利益如是。豈譬喻言說之可及乎。
(Lợi ích như thế, há có
thí dụ, lời lẽ nào diễn tả trọn vẹn
cho được!)
Lợi ích ấy quá lớn. Tất
cả lợi ích thế gian hay xuất thế gian đều
không thể sánh bằng lợi ích do niệm Phật.
Của cải vạn ức trong thế gian không bằng
chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật. Chí tâm là thành tâm
thành ư, thành tâm thành ư chính là niệm niệm tiếp nối.
“Đô nhiếp lục căn,
tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu
căn, tịnh niệm tiếp nối), tương
ứng với tiêu chuẩn ấy, niệm một tiếng
A Di Đà Phật như thế th́ của cải ức vạn
chẳng thể sánh bằng. Ức ức vạn của
cải cũng không thể sánh bằng. V́ sao? Dẫu
nhiều của cải ngần ấy, quư vị vẫn
không thể thoát khỏi luân hồi, chỉ có thể
giải quyết cuộc sống vật chất giàu có, dư
dả một chút, chứ ngoài điều này ra, chẳng thể
giải quyết vấn đề nào khác cả! Một câu
A Di Đà Phật phi thường, vấn đề nào
cũng đều có thể giải quyết
được hết, cuộc sống vật chất
trước mắt quyết định chớ nên bận
ḷng, v́ sao? Quư vị có phước mà! Người có
phước há có thể bị lạnh, bị đói hay
chăng? Không thể! Chịu khổ nạn một chút th́
có, v́ sao phải bị khổ nạn? Do nghiệp
chướng trong đời đời kiếp kiếp quá
khứ, chịu khổ nạn bèn tiêu nghiệp
chướng, nghiệp chướng tiêu rồi sẽ thành
Phật đạo.
V́ thế, chúng ta thấy
rất nhiều người chân chánh tu hành, cả một
đời tu khổ hạnh, như trong cận đại
ai nấy đều biết lăo ḥa thượng Hư Vân
suốt đời tu khổ hạnh, Ngài có phước báo
rất lớn. Ở Nam Dương (Indonesia) có rất
nhiều quốc vương, đại thần
đều tôn Ngài làm thầy, tín đồ đại phú
quư, đồ đệ tại gia không biết là bao nhiêu,
cúng dường hết sức phong phú, lăo ḥa thượng
đúng là muốn ǵ có nấy, nhưng Ngài dùng trà thô, cơm
nhạt, mặc áo vá chằng, vá đụp, suốt một
đời không thay đổi, tiêu nghiệp chướng! Đối
với phước báo, tất cả hết thảy cúng
dường, lăo nhân gia chuyên dùng để tu sửa chùa, tu
bổ chùa, cất chùa, làm những chuyện như thế.
Chùa sửa chữa hay xây dựng xong, Ngài trọn chẳng
làm trụ tŕ, mời người khác làm trụ tŕ, cúng
dường cho chúng xuất gia tu hành, suốt đời
làm như vậy. Ấn Quang đại sư suốt
đời in kinh để bố thí, lăo ḥa thượng Hư
Vân suốt đời dựng chùa, đều là nêu
gương mẫu cho chúng ta, khiến chúng ta tự trông
thấy phải khéo suy nghĩ ḿnh nên làm như thế nào!
Phước đức ấy vô lượng vô biên, không có cách
ǵ tỷ dụ được, không có cách chi diễn
tả được. Nay đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta lại xem tiếp
phần Khai Thị trong thời thứ ba, đoạn
văn trong phần Khai Thị lần thứ nhất là
như sau:
Chỉ như tức kim Hệ Niệm,
đệ tam thời Phật sự. Thả đạo:
Hiện tiền chúng đẳng, đồng thanh
tương ứng nhất cú, như hà chỉ trần?
只如即今繫念。第三時佛事。且道。現前眾等。同聲相應一句。如何指陳。
(C̣n
như nay Hệ Niệm Phật Sự, nhằm thời
thứ ba. Vậy th́ hiện tiền đại chúng,
đồng thanh tương ứng một câu, chỉ bày
như thế nào đây?)
Mấy câu này gần như là một
loại nghi thức thuyết pháp trong nhà Phật chúng ta;
trong nhà Phật, có thể nói là chẳng phân biệt Tông Môn,
Giáo Hạ, [mấy câu này] gần như
là thông dụng, chúng ta phải nên biết. “Chỉ như tức kim”: Nay chúng ta đang làm “Hệ Niệm Tam Thời
Phật Sự, vậy th́ hiện tiền đại chúng”
đại chúng đang cùng tham dự pháp hội này,
chúng ta cùng nhau thành tâm thành ư đến điện
đường này làm Phật sự, “đồng thanh tương ứng một câu” là
ǵ? “Chỉ trần” (chỉ
bày) như thế nào đây? “Chỉ”
là “chỉ thị” (chỉ ra, nêu ra), “trần” là “trần
thuyết” (diễn tả, nói phô bày). Như nhà Thiền
thường nói, tức là như tổ sư trong Tông Môn bảo:
“Đạo nhất cú lai!”
(Hăy nói một câu xem!), tức là hăy nói một câu nghe thử
coi. “Như hà chỉ trần”
mang ư nghĩa như vậy đó, hăy nói một câu xem, ư nói:
Mọi người hiện đang cùng ở đây làm pháp
sự, đồng thanh tương ứng. Rồi
thiền sư bảo chúng ta:
Nhất tùng Phật hướng
thiệt căn niệm,
Bất giác hoa tùy túc để
sanh.
一從佛向舌根念。
不覺華隨足底生。
(Nhất tâm theo Phật
nguyện xưng niệm,
Nào
biết hoa sen dưới gót sanh).
Ở đây thiền sư không
nói “nhất thanh Phật hiệu
thiệt căn niệm” (một tiếng Phật
hiệu dùng lưỡi niệm), nói như vậy dễ
hiểu rồi, Ngài không nói như thế, Ngài nói “Nhất tùng Phật hướng
thiệt căn niệm”. “Nhất tùng Phật hướng”
nghĩa là ǵ? “Nhất” là “nhất tâm”, mấu chốt là
có khế nhập cảnh giới Phật hay không, nhất
tâm sẽ có thể nhập được. Nhập
được cảnh giới Phật, cảnh giới
Phật là cái bị nhập (sở nhập), Nhất Chân
pháp giới là sở nhập, Nhất Chân là năng
nhập. Như vậy, pháp môn này chẳng tu hành
điều ǵ khác, chỉ là tu “nhất
tâm bất loạn”. Pháp môn Niệm Phật không niệm
ǵ khác, mà là niệm đến nhất tâm, nhất tâm là chân
tâm. Hai tâm, ba tâm là vọng tâm, đưa vọng trở về
chân tâm, pháp môn này là như vậy đó!
Tây Phương Cực Lạc
thế giới là Nhất Chân pháp giới, bởi thế,
chúng ta phải “nhất tâm tùng Phật”,
“tùng” (從) là thuận tùng, thuận tùng
điều ǵ của Phật? Thuận tùng “Phật hướng”. Phật hướng (phương
hướng của Phật) chính là Phật nguyện. Quư
vị nghĩ coi có đúng hay không? Chính là Phật
nguyện. Phương hướng của đức Phật
là ǵ? Phương hướng của đức Phật là
phổ độ hết thảy chúng sanh, mong hết
thảy chúng sanh sớm thành Phật giống như Ngài. Đức
Phật dạy chúng ta phương pháp nào để thành
Phật? Niệm Phật thành Phật. Niệm Phật thành
Phật là phương hướng của Phật. Nay chúng
ta dùng “thiệt căn
niệm”, công đức của thiệt căn chẳng
thể nghĩ bàn; đặc biệt là trong thế
giới Sa Bà, trong sáu căn th́ công đức của
thiệt căn rất lớn. Giảng kinh, thuyết pháp
phải dùng thiệt căn, Thích Ca Mâu Ni Phật rộng
độ chúng sanh, v́ hết thảy chúng sanh giảng kinh,
thuyết pháp phải dùng thiệt căn. Chúng ta muốn
thành tựu th́ vẫn phải dùng thiệt căn để
niệm Phật. Đấy là “nhất
tùng hướng Phật thiệt căn niệm”. V́
thế, ngài Trung Phong không nói “nhất
thanh Phật hiệu thiệt căn niệm” (dùng
thiệt căn niệm một tiếng Phật hiệu), một
tiếng Phật hiệu ư nghĩa c̣n cạn, nói theo ư nghĩa
trên đây sẽ sâu xa hơn. Niệm Phật như
thế chính là “một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”, thực
sự tương ứng! Chính là những điều
thiền sư Trung Phong đă nói trong những lời khai
thị ở những phần trước đă được
thực hiện ở đây: Thực hiện tương
ứng niệm Phật, đầy đủ ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha, không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn, đó là “chất
phác niệm”.
Niệm Phật như vậy
hiệu quả thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Câu
tiếp theo nói đến sự việc sau đây: “Bất giác hoa tùy túc để
sanh” (nào biết hoa sen dưới gót sanh). Nơi ao sen
bảy báu trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, đóa hoa sen của quư vị đă mọc, mọc
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Giống như chư Phật, Bồ Tát; chúng ta nh́n vào
Biến Tướng Đồ[17]: Chư
Phật, Bồ Tát đều ngồi hay đứng trên hoa
sen, dưới chân chúng ta cũng trổ hoa sen, hễ
niệm bèn sanh. Nhớ kỹ: Không niệm bèn chẳng có,
bị diệt mất. V́ thế, mỗi ngày quư vị
niệm Phật không gián đoạn th́ hoa sen trong ao bảy
báu ngày càng lớn, ánh sáng và màu sắc càng xinh đẹp thù
thắng khôn sánh. Tương lai văng sanh, A Di Đà Phật
cầm hoa ấy, hoa do chính quư vị niệm, chính quư
vị trồng, vẫn là chính quư vị thâu lấy quả
báo. Hoa sen trong ao sen không phải do A Di Đà Phật
trồng, mầu nhiệm chẳng thể nói.
Hết thảy pháp thế gian và
xuất thế gian, chỉ có ḿnh pháp này là thật;
những pháp khác “phàm sở hữu
tướng giai thị hư vọng” (phàm những ǵ có
h́nh tướng đều là hư vọng). Danh văn,
lợi dưỡng thế gian, công danh, phú quư, ngũ
dục, lục trần, sanh ra chẳng mang theo đến,
chết không mang đi, chớ nên tham luyến! Nói thật
ra, không có mảy may ư nghĩa nào! V́ thế, người
giác ngộ tùy duyên, nhất định không phan duyên. Giúp
đỡ chúng sanh th́ chúng sanh phải có phước báo,
chúng sanh không có phước báo th́ Phật cũng không có cách
ǵ giúp đỡ được, huống chi là chúng ta!
Thế nào là chúng sanh có phước? Chúng sanh có thể tin,
có thể nguyện, có thể hành, chúng sanh nghe nói
đến Phật pháp, trông thấy những sự thị
hiện bèn có thể giác ngộ, có thể quay đầu,
có thể đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, những
chúng sanh ấy có phước. Tai nạn dù lớn
đến mấy đều có thể hóa giải, dẫu
chẳng thể hoàn toàn hóa giải th́ tai nạn cũng giảm
nhẹ, đó là điều khẳng định!
Đại chúng cùng nhau tu tập “đồng
thanh tương ứng một câu”. Hai câu này của Ngài
không sâu xa lắm, nếu chúng ta lănh hội được
th́ quả thật sẽ rạng rỡ ngay trong hiện
tiền, Tiếp đến, phải nghiêm cẩn niệm
Phật, bởi lẽ, Hệ Niệm Phật Sự
lấy niệm Phật làm chủ. Ngàn tiếng niệm
Phật này chẳng thể ơ hờ. Tiếp theo đây
là bài kệ Tán Phật, tức kệ Tán Phật trong
thời thứ ba, bắt đầu niệm Phật.
30.
Kệ Tán Phật
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô
đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển
ngũ Tu Di,
Cám mục trừng thanh tứ
đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số
ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện
độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh
đăng bỉ ngạn.
阿彌陀佛身金色。
相好光明無等倫。
白毫宛轉五須彌。
紺目澄清四大海。
光中化佛無數億。
化菩薩眾亦無邊。
四十八願度眾生。
九品咸令登彼岸。
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
Lúc xướng kệ Tán Phật, quan
trọng nhất là phải “tùy
văn nhập quán” th́ tự ḿnh mới đạt được
lợi ích. Nếu chỉ là miệng xướng, chẳng
thể khế nhập nghĩa lư tám câu kệ này sẽ
chẳng thể khế nhập cảnh giới của tám
câu kệ, được lợi ích rất nhỏ. Nếu
có thể khế nhập th́ được lợi ích
rất lớn. Không chỉ khi xướng kệ Tán
Phật hoặc nghe kệ Tán Phật mà lúc b́nh
thường đọc kinh hay nghe kinh cũng như
vậy. V́ thế, cổ nhân thường nói và hết
sức coi trọng chuyện “tùy
văn nhập quán”. Cũng v́ những đạo lư
ấy, nhân lần này có cơ hội, chúng tôi bèn giảng
Hệ Niệm Pháp Sự tỉ mỉ một phen, mong
mọi người trong tương lai khi làm Hệ
Niệm Pháp Sự có thể tùy văn nhập quán,
đều có thể hiểu rơ. Tốt nhất là
trước khi làm Hệ Niệm Phật Sự, hăy nghe phần
giảng diễn lần này một lượt, nghe từ
đầu đến cuối rồi mới làm, sẽ khác
hẳn, công đức lợi ích khác hẳn. Tiếp theo là
niệm Phật, ở đây niệm Phật một
trăm tiếng, rồi lại có kệ Tán Phật. Trong ba
thời, phần Tán Phật này hoàn toàn tương
đồng.
31. Tổng tán Di Đà
Đệ nhất đại
nguyện,
Quán tưởng Di Đà,
Tứ thập bát nguyện
độ Sa Bà,
Cửu phẩm dũng kim ba,
Bảo vơng giao la,
Độ vong linh xuất ái hà.
第一大願。
觀想彌陀。
四十八願度娑婆。
九品湧金波。
寶網交羅。
度亡靈出愛河。
Tiếp đó niệm:
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
32. Khai thị
Tiếp theo là phần Khai
Thị, thuyết pháp lần thứ hai. Trước
phần Khai Thị thuyết pháp cũng có một bài kệ
dẫn khởi.
Đả phá hư không tiếu
măn tai,
Linh lung bảo tạng khoát nhiên
khai,
Trực nhiêu không kiếp sanh
tiền sự,
Lục tự hồng danh
tất cánh cai.
打破虛空笑滿腮。
玲瓏寶藏豁然開。
直饒空劫生前事。
六字洪名畢竟該。
(Đả phá hư không
cười toét miệng,
Kho
tàng lóng lánh mở toang ra,
Thấu hiểu chuyện xưa
bao kiếp trước,
Hồng
danh sáu chữ trọn thâu gồm).
Ư nghĩa của bốn câu
kệ này rất sâu! Hai câu đầu h́nh dung người
tu hành đại triệt đại ngộ. “Đả phá hư không”: Các
nhà khoa học hiện thời biết thời gian và không
gian chẳng thật, họ nói dưới một
điều kiện nào đó, thời gian và không gian
bằng zéro. Không gian không có xa - gần, thời gian không có
trước - sau. Các nhà khoa học nay đă phát hiện lư
luận này, nhưng chưa làm được. Nếu
họ thực hiện được, nhất định
sẽ “tiếu măn tai”
(cười ngoác tận mang tai). Nay chúng ta thường nói “tiếu măn tai” là “pháp hỷ sung măn”, vui mừng
vô lượng! Thật đấy, từ vô thỉ
kiếp đến nay, luôn bị hạn cuộc trong
thời gian và không gian, không thể chuyển động
được tí ti nào! Người chưa giác ngộ,
chưa đại triệt đại ngộ th́ không gian có
xa - gần, thời gian có trước - sau, ngày hôm
trước, ngày hôm sau, đó là thời gian. Chúng ta nói ngày
hôm qua, ngày mai tức là thời gian đấy! Chúng ta
chẳng thể quay lại ngày hôm qua, nay chúng ta cũng không
có cách ǵ tiến trước vào ngày mai được; nhưng
đến khi quư vị công phu thành tựu, tức là quư
vị đă đạt được “điều kiện nào đó” như các nhà khoa
học đă nói, quư vị bèn có thể trở về quá
khứ, cũng có thể thấy được vị lai,
xa - gần không có, đột phá những chiều không gian
khác nhau, lúc ấy có phải là rất khoái lạc hay
chăng?
Phật pháp dùng ǵ để
đột phá? “Đả phá
hư không”. Câu “đả
phá hư không” chẳng phải là giả thiết, mà là
sự thật, các nhà khoa học hiện tại đă
chứng minh cho chúng ta: Họ nói dưới một
điều kiện nào đó, Phật pháp gọi
điều kiện ấy là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Trong tâm
tánh không có xa - gần, trong tâm tánh không có trước - sau,
trong tâm tánh chẳng t́m được điều ǵ
đối lập. V́ thế, trong tâm tánh không có chúng sanh và
Phật (chúng sanh và Phật là đối lập), không
Phật, không chúng sanh, nhất thể! Trong ấy lại
không có chân - vọng, không có tà - chánh, không có đúng - sai,
không có thiện - ác, v́ thế, gọi là Nhất Chân pháp
giới. Nhất Chân là nói theo mặt Lư, tức là tâm tánh thực
sự đạt đến thanh tịnh tịch diệt;
một niệm chẳng sanh, chúng tôi thường nói là “không
khởi tâm, không động niệm”, thật vậy
đó! Đă không khởi tâm, không động niệm, c̣n
đâu phân biệt, chấp trước? Phân biệt,
chấp trước là thô tướng của khởi tâm động
niệm, tế tướng c̣n không có, huống chi thô
tướng? Khắp pháp giới hư không giới là
một thân thanh tịnh, quư vị chứng đắc
rồi.
V́ thế, câu thứ hai nói “linh lung bảo tạng khoát nhiên
khai” (kho tàng lóng lánh mở toang hoang). “Linh lung” là tỷ dụ những ǵ chói ngời
sáng lóa, kho báu mà! “Lung linh
bảo tạng” là nói về chân tâm, bản tánh. “Khoát nhiên khai” (mở toang ra)
là kiến tánh. Vô lượng trí huệ, vô lượng
đức năng, vô lượng tài nghệ, vô
lượng tướng hảo, vô lượng
phước báo trong tâm tánh thảy đều hiện
tiền, chúng không do tu được, mà là sẵn có nơi
tự tánh, hết thảy chúng sanh b́nh đẳng. Giống
như núi, sông, đại địa tươi đẹp
rực rỡ, phàm những ai sống trên mặt
đất đều được b́nh đẳng
hưởng thụ, quyết định không có mảy may
nào phân biệt, chấp trước. Hết thảy chúng
sanh là người một nhà, là nhất thể, ai nấy
đều biết [điều này], v́ thế, tôn kính lẫn
nhau, yêu kính lẫn nhau, quan tâm đến nhau, hợp tác
với nhau, quư vị nói xem có phải là thế giới
tốt đẹp lắm hay chăng? Đấy chính là
Nhất Chân pháp giới. Trong ấy không có phiền năo, không
có tai chướng, không có khổ nạn, chỉ có ngày ngày
tăng trưởng trí huệ. Ngày ngày tiêu, vẫn c̣n
một chút tập khí sót lại, tập khí ǵ vậy? Vô minh
phiền năo, bốn mươi mốt phẩm vô minh
chưa đoạn hết. Đoạn vô minh, khai trí
huệ, tăng phước đức, ngày ngày làm như
vậy măi cho đến khi viên măn rốt ráo, chứng
đắc quả địa Như Lai. “Linh lung bảo tạng khoát nhiên khai”! Như
vậy, câu này nói về khai ngộ; tự ḿnh đạt
được trong nhà Phật thường nói là “hồi đầu thị ngạn”
(quay đầu là bờ), quư vị đă t́m
được bờ, mới biết bờ ấy vốn
phong phú như thế đó, viên măn như thế ấy, không
mảy may khiếm khuyết ǵ.
Câu thứ ba nói về quả
đức: “Trực nhiêu không
kiếp sanh tiền sự” (thấu hiểu chuyện
xưa bao kiếp trước), chuyện trong vô
lượng kiếp trước quư vị đều
thấy được toàn bộ, chuyện vô lượng
kiếp sau quư vị cũng thấy được, v́ sao?
Thời gian không c̣n nữa! Trong vô lượng kiếp mê
hoặc, điên đảo, đời đời kiếp
kiếp trong quá khứ mê hoặc, điên đảo,
tạo nghiệp, thọ báo, đường nào trong
lục đạo luân hồi đă đi vào, lúc ấy
đều thấy được hết, mới biết
trước kia [chính ḿnh] ngu muội vô tri, sao lại gây tạo
những điều đó! Hiện tại đều
hiểu rơ hết. Hiểu rơ rồi lại chú tâm quan sát:
C̣n có rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ, vẫn
chưa quay đầu, vẫn tiếp tục gây tạo
những chuyện ấy, tâm đại từ đại
bi tự nhiên sanh khởi. Do đấy bèn cảm ứng
các căn cơ, những chúng sanh trong ấy có cảm, quư
vị đương nhiên có ứng. Lúc ứng, chẳng
khởi tâm động niệm; nếu khởi tâm
động niệm th́ quư vị là phàm phu, đă mê hoặc
mất rồi; không khởi tâm động niệm mà tự
nhiên cảm ứng.
Cảm ứng hết sức
kỳ diệu, chúng sanh hữu duyên với ta vừa
cảm, ta bèn ứng. Chúng sanh vô duyên với ḿnh mà cảm th́
ta không thể ứng. Người nào khác có duyên với
người ấy th́ người đó ứng, chứ ta
không ứng. Giống như ǵ? Giống như băng
tần (channels) trong TV hiện thời vậy, mỗi
một người trong chúng ta đều có một băng
tần, không ai giống ai. Người kia cảm th́ cũng
như một băng tần, ai tương ứng với
băng tần ấy sẽ tự nhiên hiển hiện. Đấy
chính là như trong Phật pháp thường nói: “Phật bất độ vô duyên
chi nhân” (Phật chẳng độ kẻ vô duyên).
Thoạt nghe như vậy dường như bọn chúng
sanh ta chẳng c̣n hy vọng ǵ, không phải vậy! Mỗi
cá nhân đều có một vị Phật hay Bồ Tát có
duyên với ḿnh; vị Phật, Bồ Tát có duyên với quư
vị chưa chắc có duyên với người khác.
Người kia có vị Phật, Bồ Tát khác có duyên
với họ; v́ thế, hết thảy chúng sanh không ai chẳng
đắc độ.
Phải hiểu đạo lư
sau đây: Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng
khởi tâm động niệm, tuyệt đối không có “tôi
yêu mến anh, tôi ưa thích anh, tôi đến độ anh;
kẻ kia tôi chán ghét, tôi chẳng thích độ hắn”,
không phải như vậy! Nơi đây không có chán ghét, mà
là trong đời quá khứ từng kết duyên với quư
vị th́ gọi là người hữu duyên. Duyên ấy
bất luận thiện duyên hay ác duyên đều là duyên.
Thiện hay ác không quan trọng, đến lúc ấy
thiện và ác không c̣n nữa, chỉ sợ quư vị không
kết duyên, không có duyên là không được rồi.
Nếu quư vị biết chân tướng sự thật
ấy, quư vị sẽ tự nhiên kết duyên rộng răi
với hết thảy chúng sanh. V́ sao? Thiện duyên dễ
độ nhất, kết ác duyên cũng là duyên, nhưng
chúng ta đừng kết ác duyên với chúng sanh nữa! Từ
nay trở đi, ta kết thiện duyên cùng hết thảy
chúng sanh. Vun bồi tâm cảnh thuần tịnh, thuần
thiện của chính ḿnh, không sanh phiền năo, chẳng
khởi tâm động niệm, chẳng phân biệt,
chấp trước nữa. Phải hiểu
được đạo lư này, phải hiểu
được ư nghĩa này.
Câu cuối cùng là phương pháp: “Lục tự hồng danh
tất cánh cai” (Sáu chữ hồng danh rốt ráo bao
gồm trọn vẹn). Đây là nói hết thảy pháp môn
cùng quy về Niệm Phật. Vô lượng vô biên pháp môn
đến cuối cùng đều quy về pháp môn này, do
chỗ nào mà thấy như vậy? Từ kinh Hoa Nghiêm quư
vị sẽ thấy được. Vô lượng pháp
môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, đến khi thành tựu
viên măn rốt ráo đều quy về Hoa Tạng. Tương
lai quư vị thoát khỏi lục đạo luân hồi, ĺa
khỏi lục đạo đương nhiên vào tứ
thánh pháp giới, ĺa khỏi tứ thánh pháp giới nhất
định vào Hoa Tạng, Nhất Chân pháp giới. Quư
vị gặp Tỳ Lô Giá Na Như Lai, gặp gỡ Văn
Thù, Phổ Hiền Bồ Tát. Lúc ấy, Văn Thù, Phổ
Hiền đem mười đại nguyện vương
dẫn về Cực Lạc. Như vậy, cuối cùng
vẫn là “lục tự hồng
danh tất cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu
gồm). Lúc này chúng ta nhận được thông
điệp này, thông điệp ấy rất quư báu.
Nếu thiện căn sâu dầy, phước đức
viên măn, vừa nghe liền hiểu rơ, vừa nghe liền
tiếp nhận, vừa nghe th́ mọi pháp thế gian và
xuất thế gian đều buông xuống hết,
chết sạch ư niệm so đo, khiêm hư sát đất
niệm Phật sẽ thành công.
Pháp thế gian hay xuất
thế gian dù hay đến cách mấy, đến thế
giới
Cực
Lạc sẽ học. Ở nơi đây, chúng ta không có
thọ mạng dài đến như thế, không có tinh
lực nhiều như thế, học không nổi. Học
quá nhiều sẽ nẩy sanh nghi ngờ đối với
pháp môn Niệm Phật. Do vậy phải triệt
để buông xuống, một câu Di Đà niệm
đến rốt ráo sẽ thành công. Ấn Quang đại
sư dạy chúng ta phương pháp sau đây, chính là
phương pháp “nhất tùng
tâm hướng” (nhất tâm đi theo phương hướng)
của chư Phật, Bồ Tát. Lăo nhân gia dạy chúng ta
phương pháp: Tiểu đạo tràng, không cần
lập đạo tràng lớn. Đạo tràng lớn th́
quư vị phải nhọc ḷng, phải phân tâm. Đạo
tràng nhỏ dễ duy tŕ, cất một cái cḥi tranh là
được, là thành một đạo tràng không ǵ thù
thắng hơn. Hai mươi người cùng tu với
nhau, không hóa duyên là điều thứ nhất. V́ sao? Hóa
duyên th́ quư vị sẽ không có cách nào ĺa được tham
- sân - si, đây là điều đầu tiên. Không hóa duyên,
không làm pháp hội, không truyền pháp (không thâu đồ
đệ), không truyền giới, không làm kinh sám Phật
sự thù tạc, cũng không giảng kinh. V́ sao? Mọi
thứ đều buông xuống. Pháp xuất thế gian hay
thế gian đều buông xuống, chuyên nhất niệm
Phật. Công khóa mỗi ngày giống như Phật thất
thông thường. Đấy chính là thực sự hiểu
“lục tự hồng danh tất
cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu gồm). Sáu
chữ hồng danh ấy thâu trọn hết thảy các
pháp, là tinh túy của hết thảy Phật pháp! Quư vị
c̣n làm chuyện khác nữa ư?
Thế nhưng vấn
đề là đâu? Cần phải thực sự hiểu
rơ, thấu suốt, quư vị mới chịu tu. Muốn dạy
cho người khác thông đạt hiểu rơ mà chẳng giảng
kinh th́ sẽ không được! Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng cho chúng ta suốt bốn mươi chín năm,
mục đích của bốn mươi chín năm
giảng kinh là nhằm giúp cho chúng ta niệm Phật. Do
khuyên dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ nên trong những kinh điển của
đức Thế Tôn, trong những bản dịch bằng
tiếng Hán, đại khái có gần hai trăm loại kinh
luận, đều dạy cầu sanh Tịnh Độ.
Chuyên giảng về cầu sanh Tịnh Độ là ba kinh:
Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, A
Di Đà Kinh là chuyên giảng. Giảng kèm về Tịnh
Độ, cổ nhân bảo là “ngàn kinh, vạn luận”.
Chúng ta không đọc hết ngàn kinh vạn luận,
nhưng những kinh điển được lưu hành
bằng tiếng Hán ta thấy có gần hai trăm loại,
đủ thấy đức Phật dạy người ta
văng sanh Tịnh Độ, thường xuyên giảng,
thường xuyên nói.
Kinh điển do đức
Phật đă nói trong cả một đời Ngài, phần
lớn chưa truyền đến Trung Quốc, v́ khi
ấy giao thông hết sức bất tiện,
đường sá xa xôi ngần ấy. Bất luận là
cao tăng đại đức Ấn Độ, hay pháp
sư từ Trung Quốc qua Ấn Độ thỉnh kinh,
đều chọn lọc kỹ càng, tinh vi những kinh
điển thích hợp khẩu vị người Hoa,
chọn lấy những kinh điển nào người Hoa
rất yêu thích, rất vui thích để truyền sang
trước. V́ thế, kinh Phật truyền đến
Trung Quốc rất hữu hạn, chưa phải là hoàn
toàn truyền đến Trung Quốc. Trải qua gần ba
ngàn năm, có rất nhiều sách vở bị thất
truyền; rất may mắn là những kinh điển
truyền đến Trung Quốc được bảo
tồn. Sau này có một bộ phận kinh điển
được truyền sang Tây Tạng, truyền sang Tây
Tạng khá trễ. Đời Đường, công chúa
Văn Thành[18]
được gả về Tây Tạng, Phật pháp ở
Tây Tạng do công chúa Văn Thành mang đến. V́ thế,
Phật giáo ở Tây Tạng trễ hơn ở Trung
Quốc gần một ngàn năm.
Tây Tạng gần với
Ấn Độ hơn, v́ thế, những kinh điển
tiếng Phạn được truyền sang Tây Tạng.
Tây Tạng là vùng núi cao, chuyên chở cũng hết sức
khó khăn, nên chúng ta có thể suy ra kinh điển nhà
Phật cũng chưa được truyền toàn bộ
sang đó, cũng chỉ là một bộ phận. Kinh
điển được truyền thừa ở Tây
Tạng và kinh điển Hán truyền so ra rất giống
nhau. Có những cuốn bản tiếng Tây Tạng có, bản
tiếng Hán cũng có. Chỉ có một số rất ít là
Hán văn có, Tạng văn không có; hoặc Tạng văn
có, Hán văn không có. Thế nhưng trong quá khứ, kinh
điển được phiên dịch qua lại.
Những bản Tạng văn không có bèn dịch từ Hán
văn, dịch sang tiếng Tạng. Bản nào Hán văn
không có bèn dịch từ Tạng văn sang Hán văn,
hiện thời sự sai biệt không lớn lắm.
Đến cuối cùng, quư
vị thấy là quy về Hoa Tạng, Hoa Tạng quy về
Tịnh Độ, đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, chúng
ta đọc thấy Thập Địa Bồ Tát từ
đầu đến cuối chẳng rời niệm
Phật, “lục tự hồng
danh tất cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu
gồm!) Có rất nhiều người coi thường
một câu A Di Đà Phật, nghĩ câu Phật hiệu
tầm thường quá, không có ǵ là hiếm lạ! Đúng
là không có ǵ hiếm có, kỳ lạ cả! Do nguyên nhân nào?
Tâm khinh mạn. Chúng ta phải nhớ: Đức Thế
Tôn giảng cho chúng ta một câu chân lư, một câu thành
thật: “Nhất thiết pháp
tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp từ tâm
tưởng mà sanh). Tâm quư vị tôn trọng th́ câu danh
hiệu này sẽ sanh ra những hiệu quả chẳng
thể nghĩ bàn. Tâm địa quư vị rất khinh
mạn, về căn bản là không coi trọng, tùy tiện
niệm một câu A Di Đà Phật sẽ chẳng
khởi tác dụng. Dẫu không khởi tác dụng, nhưng
vừa xưng một câu Nam-mô A Di Đà Phật là đă gieo
chủng tử vào A Lại Da Thức. Chủng tử
ấy trân quư khôn sánh, chủng tử ấy vĩnh viễn
chẳng hoại. Chẳng biết là đời nào,
kiếp nào, quư vị gặp được thiện duyên, gần
như nghiệp chướng tiêu trừ, chủng tử
ấy sẽ khởi hiện hành, quư vị vẫn là
niệm Phật văng sanh Tịnh Độ, chẳng thể
nghĩ bàn!
“Danh
hiệu công đức bất khả tư nghị” (Danh
hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn):
Một câu này rất nhiều người nghe đă nhàm tai,
nhưng hoàn toàn không hiểu. Danh hiệu rốt ráo có
lợi ích ǵ, không hiểu! Lúc chúng tôi giảng kinh đă
giảng về điều này không ít lần, hy vọng
mọi người phải ghi nhớ, hy vọng mọi
người chú tâm lănh hội. Trong một đời này
chúng ta may mắn khôn sánh, hiểu rơ công đức của
danh hiệu. Nếu có thể tín nguyện thọ tŕ, trong một
đời này quư vị sẽ siêu phàm nhập thánh, một
đời này vĩnh viễn thoát khỏi lục
đạo mười pháp giới, c̣n chi hơn! Nay quư
vị không thành tựu, v́ sao? Đối với lục
đạo mười pháp giới, quư vị chưa buông
xuống được, nên không văng sanh, lầm lạc
một đời này mất rồi! V́ vậy, tôi
thường bảo các đồng học: Phát tâm giảng
kinh là tốt, hiếm có, chư Phật tán thán; phát tâm
đến Niệm Phật Đường là đi thành
Phật. Do vậy, công đức lănh chúng niệm Phật
trong Niệm Phật Đường trỗi vượt
công đức của pháp sư giảng kinh.
Pháp sư giảng kinh hằng
ngày khuyên, mọi người chưa chắc tin
tưởng. [Những người niệm Phật trong] Niệm
Phật Đường là đă tin tưởng, không tin
tưởng làm sao đến Niệm Phật
Đường được? Chỉ là mức
độ tin tưởng sai khác, nói chung có một hai kẻ
mức độ tin tưởng cao, Niệm Phật
Đường thực sự văng sanh. Ai văng sanh
người ấy thành Phật. Quư vị đọc bài
kệ khuyên người niệm Phật của Đại
Từ Bồ Tát: Quư vị khuyên được hai
người niệm Phật là hai người văng sanh, trong
số những người được quư vị khuyên
dạy, có hai người thực sự niệm Phật
văng sanh, công đức ấy thù thắng hơn chính ḿnh
niệm Phật. Nếu những người
được quư vị khuyên có mười mấy người
văng sanh, phước đức của quư vị vô
lượng vô biên. Nếu có được mấy trăm
người cho đến cả ngàn người, những
người được quư vị khuyên văng sanh, quư
vị thực sự là Bồ Tát. Khuyên được
vạn người văng sanh, quư vị là A Di Đà Phật
tái lai! Bài kệ khuyên người
niệm Phật của Đại Từ Bồ Tát là
như vậy đó! Tôi thỉnh lăo pháp sư Mính Sơn (茗山) viết bài kệ khuyên người niệm Phật của
Đại Từ Bồ Tát, viết xong, chúng tôi đem in,
hiện tại ở trai đường có treo một
bức.
Giảng kinh là khuyên dạy, là
tiếp dẫn, rất trọng yếu. V́ sao? Không có ai
giảng kinh sẽ không có ai biết cái hay của việc
Niệm Phật, không biết chân tướng của Tây
Phương Cực Lạc thế giới và thế
giới Sa Bà. Pháp sư giảng kinh giảng rơ ràng,
giảng minh bạch, khiến cho mọi người
tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ rồi th́ quan trọng
nhất là phải về thế giới Cực Lạc.
Về thế giới Cực Lạc
không phải ở nơi giảng đường mà là
ở Niệm Phật Đường. V́ thế, ngàn
vạn phần mọi người chẳng
được khinh thị, pháp sư giảng kinh là
tốt, mọi người đều tôn trọng vị
ấy; nhưng coi thường pháp sư niệm Phật
là điên đảo! Tín, Giải, Hành, Chứng! Pháp sư
giảng kinh giúp người khác “Tín Giải” (tin hiểu), những vị pháp sư
trong Niệm Phật Đường giúp cho mọi người
“Hành Chứng”. Do đây có
thể biết: Tín - Giải - Hành - Chứng phải hỗ
trợ nhau, hoàn thành lẫn nhau. Giảng đường và
Niệm Phật Đường chẳng được
đối lập, hễ đối lập th́ cả hai
đều bị phá hoại, phải biết cả hai là
một thể; v́ thế, phải khen ngợi lẫn nhau.
Nếu muốn cho Phật pháp hưng thịnh, trừ phi
Tăng khen ngợi Tăng [nếu không, Phật pháp sẽ
chẳng thể nào hưng thịnh được!].
Nếu muốn Tịnh Độ hưng thạnh, pháp
sư giảng kinh phải biết tán thán pháp sư
thuộc Niệm Phật Đường, pháp sư
thuộc Niệm Phật Đường phải biết
tán thán pháp sư giảng kinh, Tịnh Độ mới
hưng khởi được. Tín - Giải - Hành - Chứng,
khuyết một điều chẳng được!
Như vậy, hai
mươi tám chữ trong bài kệ này, nghĩa lư và
cảnh giới vô cùng vô
tận, đấy là cảnh giới Lư Nhất Tâm Bất
Loạn. Chư Phật, Bồ Tát, chân thiện tri thức
hy vọng chúng ta trong một đời này đều có
thể khế nhập cảnh giới ấy. Bài kệ này
chúng tôi giảng đến đây thôi. Lại xem tiếp
phần Khai Thị kế đó, phần Khai Thị này chú
trọng phương pháp niệm Phật, trong ấy có
Sự, có Lư. Xin hăy xem phần Khai Thị lần thứ
hai
của Thiền sư Trung Phong trong thời thứ ba:
Cổ nhân đạo: Thanh châu
đầu ư trược thủy, trược thủy
bất đắc bất thanh. Niệm Phật đầu
ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất
Phật.
古人道。清珠投於濁水。濁水不得不清。念佛投於亂心。亂心不得不佛。
(Cổ
nhân nói: Thanh châu gieo vào nước đục, nước
đục chẳng thể không trong; niệm Phật gieo
vào tâm loạn, tâm loạn không thể chẳng thành tâm
Phật).
Chúng ta thấy câu này dùng tỷ
dụ để nói. Thanh Thủy Châu (Viên châu có tác dụng
lắng trong nước đục) đem bỏ vào
nước đục, nước đục là
nước nhiễm ô. Viên châu ấy có công năng khiến
cho nước đục lắng cặn hoặc là – nói theo
phương thức hóa học hiện thời – hóa
giải nhiễm ô biến thành nước trong. V́ thế, “trược thủy bất đắc
bất thanh” (nước đục chẳng thể
không trong). Đây là tỷ dụ, dùng chuyện này làm tỷ
dụ.
Nói “niệm
Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc
bất Phật” (niệm Phật gieo vào loạn tâm, tâm
loạn không thể chẳng thành tâm Phật). Đây chính là
đạo lư niệm Phật làm Phật. Tâm chúng ta vọng
niệm rất nhiều! Tâm loạn! Lục đạo phàm
phu có ai tâm không loạn? Chỉ là mức độ loạn
khác nhau. Có người vọng niệm ít một chút, có
người vọng niệm nhiều một chút, có
người vọng niệm nhẹ một chút, có
người vọng niệm nặng một tí, chỉ là
nặng nhẹ nhiều ít khác nhau, lục đạo phàm
phu ai nấy đều có vọng niệm. Có vọng
niệm là phàm phu, phải luân hồi lục đạo.
Đoạn vọng niệm rồi th́ mới có thể vượt
thoát sự luân hồi trong lục đạo. Lục
đạo luân hồi do đâu mà có? Do vọng niệm
tạo thành. Quư vị nhất định phải hiểu:
Có vọng niệm bèn có lục đạo, có vọng
niệm bèn có mạng vận (số mạng), bèn có
nghiệp lực, bèn có luân hồi. Không có vọng niệm
th́ nghiệp lực không c̣n, luân hồi không c̣n. Chúng ta làm
thế nào để đoạn được những
vọng niệm ấy; ở đây, dùng phương pháp
Niệm Phật. Đem niệm Phật gieo vào vọng
niệm, vọng niệm sẽ không c̣n nữa. Bây giở đă
hết giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 17 hết
[1] Vật Do Như Thử có nghĩa là loài
vật mà c̣n biết hiếu hạnh, nhân nghĩa, tu hành
như thế, há con người lại thua kém ư? Tác
phẩm này do Từ Hạc Tử biên soạn vào
đời Thanh, chép những gương hiếu hạnh,
trung tín cũng như niệm Phật văng sanh của các loài
vật.
[2] Bảo hựu (保佑): Che
chở và ban phước, gia tŕ.
[3] Sáu kinh của Nho Gia (Nho gia lục kinh): Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu.
[4] Đạo An (312-385) là một vị cao
tăng lỗi lạc, có đóng góp rất lớn trong
lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Ngài có họ ngoài
đời là Vệ, người xứ Phù Liễu,
Thường Sơn (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), là
người đi tiên phong trong nghiên cứu học
thuyết Bát Nhă tại Trung Quốc, được pháp
sư Cưu Ma La Thập tôn xưng là Đông Phương
Thánh Nhân. Ngài mồ côi từ bé, được
người anh họ nuôi dưỡng. Tuy diện mạo
xấu xí, nhưng Ngài thông minh tột đỉnh, mới
lên bảy đă biết đọc, sách nào cũng chỉ
cần đọc hai lượt là thuộc nằm ḷng.
Ngài xuất gia năm 12 tuổi. Do bổn sư của Ngài
thấy Ngài quá xấu xí, không coi trọng, sai trông coi
việc cày bừa. Ngài chăm chỉ cày cấy suốt ba
năm rồi mới xin học kinh Phật. Thầy
thuận tay trao cho cuốn Biện Ư Kinh năm ngàn chữ,
Sư chỉ học trong một buổi nghỉ trưa mà
thuộc ḷng, thông hiểu nghĩa kinh. Đến tối
trả lại kinh cho thầy, xin học bộ khác,
thầy tức giận quở trách, Sư bèn đọc
thuộc ḷng và c̣n giảng được ư nghĩa.
Thầy thử sức, trao cho bộ Thành Cụ Quang Minh
Kinh một vạn chữ. Sư lại học thuộc
ḷng trong lúc nghỉ trưa ngày hôm sau. Thầy kinh ngạc,
bèn chú tâm bồi dưỡng Sư thành nhân tài hoằng pháp.
Khi ngài Phật Đồ Trừng từ Thiên Trúc
đến Nghiệp Quận, Sư theo học với ngài
Phật Đồ Trừng, rất được ngài
Phật Đồ Trừng ưa thích. Do diện mạo
xấu xí, đại chúng vẫn có ư coi thường
Sư. Do vậy, ngài Phật Đồ Trừng mỗi
lần giảng kinh xong, đều yêu cầu pháp sư
Đạo An giảng lại, Sư giảng không sai
một chữ, khiến đại chúng bội phục.
Sư được vua chúa thời ấy rất
trọng. Vua nhà Tiền Tần là Phù Kiên đă nói: “Ta đem 10 vạn quân đánh
Tương Dương chỉ để lấy
được một người rưỡi, một
người là ngài Đạo An, c̣n Tập Tạc Xỉ là
nửa người” (Tập Tạc Xỉ là một
văn nhân kiêm sử gia trứ danh thời ấy). Ngài là
người đề xướng phương pháp “cách
nghĩa” để giải thích kinh Phật, tức là dùng
ngay những tư tưởng và điển cố sẵn
có của Trung Hoa để giải thích những nghĩa lư
phức tạp trong kinh Phật. Ngài c̣n đề
xướng khi giảng giải một bản kinh, nếu
có nhiều bản dịch th́ sẽ đối chiếu, so
sánh để hiểu trọn vẹn bản kinh ấy.
Ngài đề xướng chia một bản kinh ra thành ba
phần Tự, Chánh Tông và Lưu Thông, cũng như chế
định nghi thức, phẩm phục của tăng
sĩ cho thích hợp với văn hóa Trung Hoa, đề
xướng Tăng sĩ dùng chữ Thích trước pháp
danh v.v...
[5] Chết ḷng (tử tâm), không phải là
‘hết ḷng’. Nói “tử tâm” với ư nghĩa những ư
niệm so đo, chụp giựt, đứng núi này trông núi
nọ đều đă hết sạch, cơi ḷng lặng
lẽ, không lay động trước những lời
giảng thuyết của các pháp sư, đại đức,
thiện tri thức dè bỉu Tịnh Độ, khuyên
dụ hành nhân hăy tu tập pháp môn khác, không c̣n dấy lên
hồ nghi, xao động nên gọi là “chết ḷng”.
[6] Hóa duyên: Khuyến hóa, kêu gọi
người khác đóng góp tiền bạc để xây
dựng điện đường, tô chuông, đúc
tượng v.v...
[7] Theo ḥa thượng Tịnh Không đă giảng trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện Đích Khải Thị, “kệ” là cách người cổ Ấn Độ tính kích thước một tác phẩm. Cứ bốn câu gọi là một Kệ (không phân biệt mỗi câu dài ngắn khác nhau); chữ Kệ này có ư nghĩa khác với chữ Kệ Tụng (cũng thường gọi tắt là Kệ). Kệ Tụng cũng gồm bốn câu, nhưng số chữ có hạn định, có vần điệu, thường được dùng để trùng tuyên những ư nghĩa đă giảng hay thưa thỉnh hoặc giải đáp.
[8] Hậu Hán tức là nhà Đông Hán
(25-234). Đông Hán là nhà Hán được phục hưng
sau khi Hán Quang Vũ Đế (Lưu Tú), là người
đă diệt trừ Vương Măng (người soán
đoạt ngôi vua của nhà Tây Hán) và đánh tan các
tướng lănh quân phiệt, tái lập nhà Hán. Do đóng
đô tại Lạc Dương (nằm về phía Đông
của cố đô Trường An của nhà Tây Hán) nên
gọi là Đông Hán. Kinh Phật được hai vị
Trúc Pháp Lan và Ca Diếp Ma Đằng truyền vào Trung Hoa
vào năm Vĩnh B́nh thứ 10 (67) đời Hán Minh
Đế. Hai vị này trụ tại chùa Bạch Mă ở
Lạc Dương để phiên dịch kinh điển,
bộ kinh đầu tiên được dịch sang
tiếng Hán là Tứ Thập Nhị Chương Kinh.
[9] Mười tôn phái của Phật giáo
Trung Hoa là Câu Xá Tông (Tiểu Thừa Hữu Tông), Thành
Thật Tông (Tiểu Thừa Không Tông), Tam Luận Tông (Pháp
Tánh Tông), Luật Tông (Nam Sơn Tông), Từ Ân Tông (Du Già Tông,
Duy Thức, Pháp Tướng Tông), Mật Tông (Chân Ngôn Tông), Tịnh
Độ Tông (Liên Tông), Thiên Thai Tông (Pháp Hoa Tông), Hiền
Thủ Tông (Hoa Nghiêm Tông, Pháp Giới Tông) và Thiền Tông (Tâm
Tông, Tông Môn).
[10] “Thực” (植) ở đây là gieo trồng. Đem loại cây nào trồng sang một nơi khác không phải là quê hương của cây ấy gọi là “di thực” (移植, transplant).
[11] Tức là đă có người khác đặt in với số lượng lớn, nên nhà in nhân tiện in thêm vài bản nữa cho ḿnh.
[12] Tiền cảnh: Cảnh đối
trước các căn, tức là các trần do đối
ứng với các căn mà gọi là “tiền cảnh”.
[13] Ở đây nói sáu căn không c̣n
khởi tác dụng không có nghĩa là sáu căn mất
hết khả năng nhận biết (linh minh giác tri) mà là
sáu thức không c̣n khởi phân biệt, vọng
tưởng, chấp trước mà nh́n thấy sự
vật đúng như bản chất của nó, thấy
được chân tánh của vạn vật, vạn pháp.
Nói cách khác, sáu căn dùng sáu tánh để liễu tri
vạn pháp, chứ không dùng Thức. Thức đă
chuyển thành Trí.
[14] Bốn phương bàng là Đông
[15] Nguyên văn “ngũ
lư vụ trung” (ở trong đám sương phủ
đến năm dặm).
[16] Niệm Phật để được tiền: Có một tà thuyết khá phổ biến ở Trung Hoa là cứ niệm Phật một câu sẽ để dành được một ít tiền nơi cơi âm, khi chết đi ḿnh sẽ được hưởng dụng số tiền đó nơi cơi U Minh. Trong Ấn Quang Văn Sao, Tổ có nhắc đến chuyện này, như vậy, tà thuyết này đă có từ trước thời Dân Quốc, ít nhất nó đă có từ thời Minh - Thanh.
[17] Biến Tướng Đồ: Những h́nh vẽ thuyết minh cảnh giới trong kinh điển, phổ biến nhất là Cực Lạc biến tướng đồ (h́nh vẽ mô tả cảnh tượng Cực Lạc), hoặc Địa Ngục Biến Tướng Đồ (h́nh vẽ mô tả cảnh địa ngục)…
[18] Công chúa Văn Thành (623-680), có tên
tiếng Tạng là Giáp Tát Hán Công Chúa (Gyasa, hoặc Mung-chang
Kungco, hay Mung-chang Konchu), cháu của Đường Thái Tông
(Lư Thế Dân), là hoàng hậu thứ hai của Tsanpo Songtsan
Gampo, là vua đời thứ 33 của vương triều
Yarlung của Cổ Tây Tạng nhằm mục đích
cầu thân và tái lập ḥa b́nh giữa Tây Tạng và Trung
Hoa. Lúc ấy, người Tây Tạng (thường
được sử Trung Hoa gọi là Thổ Phiên) rất
hùng mạnh, thường xuyên quấy nhiễu biên giới
phía Tây của Đại Đường. Sau khi Songtsan Gampo
(Tùng Tán Cam Bố) đánh bại Thổ Cốc Hồn
(vương quốc của dân tộc Azha), cắt
đứt con đường giao thương của nhà Đường
sang Tây Vực, vua Đường phải gả công chúa
Văn Thành cho Songtsan Gampo và kư ḥa ước, phong cho Songtsan
Gampo làm Pḥ Mă Đô Úy Tây Hải Quận Vương. Theo
truyền thuyết, công chúa Văn Thành đem theo một
tượng Thích Ca Mâu Ni Phật bằng vàng ṛng và 360
quyển kinh như của hồi môn. Songtsan Gampo đă xây
chùa Đại Chiêu (Jokhang) để thờ tượng
này. Cùng với hoàng hậu Bhirukti Devi (Xích Tôn Công Chúa
hoặc Ba Lợi Khố Công Chúa) của Nepal, Songtsan Gampo và
Văn Thành Công Chúa được người Tây Tạng
coi là ba vị thánh có công truyền bá Phật giáo vào Tây
Tạng. Songtsan Gampo được coi là hóa thân của Quán
Thế Âm, công chúa Văn Thành là hóa thân của Bạch
Độ Mẫu (White Tara, một hóa thân của Quán
Thế Âm Bồ Tát), c̣n Xích Tôn Công Chúa là Lục Độ
Mẫu (Green Tara). Tara Bồ Tát lại có hai mươi
mốt hóa thân (21 vị Độ Mẫu), được
tôn sùng nhất là Lục Độ Mẫu, Bạch
Độ Mẫu và Xích Độ Mẫu (Red Tara).