Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 18
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập 52
Xin xem tiếp lần khai
thị thứ hai trong thời thứ ba, chúng ta xem phần
Trường Hàng:
Cổ nhân đạo: Thanh châu
đầu ư trược thủy, trược thủy
bất đắc bất thanh; niệm Phật đầu
ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất
Phật.
古人道。清珠投於濁水。濁水不得不清。念佛投於亂心。亂心不得不佛。
(Cổ nhân nói: “Thanh châu gieo vào
nước đục, nước đục chẳng
thể không trong; niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm
loạn chẳng thể không thành tâm Phật”).
Hai câu đầu là tỷ dụ, là
lời nói tô điểm[1];
câu sau mới chính là câu chủ yếu. Trong phần trên, tôi
đă nói đại lược về Thanh Thủy Châu
rồi, chuyện này không quan trọng, điều quan trọng
là “niệm Phật đầu
ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất
Phật” (niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng
thể không thành tâm Phật). Chúng ta niệm Phật công phu
không đắc lực! Trong tất cả hết thảy
pháp môn Đại Thừa hay Tiểu Thừa th́ pháp môn
Niệm Phật là thuận tiện nhất, đơn
giản nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất. Vậy
mà chúng ta niệm Phật đă bao nhiêu năm rồi, v́ sao
chẳng được thọ dụng ǵ hết? “Loạn tâm” vẫn y như
cũ, nguyên nhân v́ đâu? Có phải là niệm Phật không
linh hay chăng? Nếu phương pháp Niệm Phật này
không linh th́ mọi phương pháp khác nói chung đều
không có hiệu quả!
Nói thật ra, chẳng phải
phương pháp Niệm Phật không linh, mà là do
sự
lư giải của chúng ta đối với phương pháp
này có vấn đề, cách niệm cũng có vấn
đề. Nếu chúng ta không hiểu thấu triệt
phương pháp này, chúng ta sẽ hoài nghi; hoài nghi sẽ chướng
ngại công phu thành tựu. Giảng kinh, thuyết pháp
nhằm mục đích đoạn nghi, sanh tín. Ḷng tin thanh
tịnh đă hiện tiền th́ không cần phải nghe
kinh, không cần phải nghiên cứu giáo pháp nữa,
những việc ấy sẽ biến thành dư thừa!
Quan trọng nhất là tín tâm kiên định và tín tâm thanh
tịnh. V́ thế, khi c̣n tại thế, đức Thế
Tôn v́ mọi người giảng kinh thuyết pháp bốn
mươi chín năm, nhằm mục đích ǵ? Nhằm
mục đích giúp cho mọi người “đoạn nghi, sanh tín, phá mê, khai ngộ”, giúp
đỡ như vậy đó. Khai ngộ rồi tín tâm bèn
sanh khởi, quan trọng nhất là tu hành, thực sự tu
hành! Tŕ danh niệm Phật là hành môn, nguyên lư và nguyên tắc
của tŕ danh niệm Phật là “chân
tín, thiết nguyện, chấp tŕ danh hiệu” (ḷng tin
chân thành, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh hiệu).
Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Tịnh niệm tương kế”
(tịnh niệm tiếp nối). “Tịnh”: Niệm phải thanh tịnh, thanh
tịnh là không hoài nghi, không xen tạp, đó là tịnh
niệm, “tương kế”
là không gián đoạn. Chúng ta niệm Phật có làm
được như vậy hay chưa?
Chúng ta không đoạn ḷng nghi;
trong cuộc sống hằng ngày, đối với chính
ḿnh, đối với người nhà, thân hữu, bè
bạn, đối với hết thảy người,
sự, vật biến hóa trong thế gian, đặc
biệt là những việc liên quan đến mai sau, chúng ta
không đoạn nghi hoặc th́ làm sao niệm Phật mà không
vướng nghi ngờ cho được? Nếu như
niệm Phật không nghi ngờ th́ tất cả hết
thảy những mối nghi bên ngoài đều bị
đoạn trừ. Thật đấy, không giả chút nào!
Quư vị thấy cổ đức buông thân tâm thế
giới xuống, đề khởi chánh niệm, do buông thân
tâm thế giới xuống nên các Ngài không nghi nữa. Nếu
c̣n nghi th́ các Ngài có buông xuống được hay không? Các
Ngài đều hiểu rơ, đều thấu hiểu. Tuy
thế có những người không thấu hiểu, không hiểu
rơ mà vẫn có thể buông xuống được, chúng tôi
nói những người ấy thiện căn,
phước đức sâu dầy. V́ sao?
Niệm Phật là chuyện quan
trọng. Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ trăm ngàn
vạn kiếp khó gặp gỡ, lần này ta gặp
được, nhất định phải nắm
lấy, những chuyện khác không cần nữa. Bỏ
hết đi, không nghi nữa! Niệm Phật quyết
định chẳng xen tạp vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, đó là niệm Phật
đúng pháp. V́ thế, Phật hiệu gieo vào loạn tâm,
loạn tâm tự nhiên mất tiêu. Cách này hay lắm! Rất
hữu hiệu. Nếu quư vị nghiêm cẩn niệm,
đúng lư, đúng pháp, tôi thường nói là từ ba tháng
đến sáu tháng, [sẽ thấy] hiệu quả rất
rơ rệt. Đến khi hiệu quả hiển hiện,
quư vị sẽ tự nhận thấy pháp hỷ sung măn
phát sanh, quư vị hoan hỷ niệm. Bắt đầu th́
khó, bắt đầu như thế nào? Phải chế
phục phiền năo tập khí của chính ḿnh, phiền năo
tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay rất
nghiêm trọng! Quư vị [tu tập] đúng lư đúng pháp
sẽ tự nhiên chế phục được. Quan
trọng nhất là như chúng tôi thường nói: “Thâm nhập một môn,
trường thời huân tu”. Công phu nhất định
chẳng được gián đoạn, nhất định
chẳng được xen tạp, quư vị càng niệm
tâm càng thanh tịnh, cảm thấy vọng niệm bớt
đi. Vọng niệm ít đi chính là phiền năo nhẹ
đi, trí huệ tăng trưởng. Trước kia
thấy những ǵ, nghe người ta nói không hiểu, nghe
rồi cũng không thấu hiểu, nay càng niệm càng rơ
ràng, càng niệm càng sáng suốt, trí huệ tăng
trưởng, niệm Phật công phu đắc lực
rồi đấy!
Chỉ cần niệm
được công phu thành phiến là nắm chắc văng
sanh. Nếu như đạt đến Sự nhất tâm
hay Lư nhất tâm th́ quả thật không phải ai cũng có
thể làm được. Công phu thành phiến, chỉ
cần chúng ta nỗ lực một chút ai nấy
đều có thể làm được; v́ thế, cổ
đức nói pháp môn này là “vạn
người tu, vạn người về”. Niệm
Phật mà không thể văng sanh, chắc chắn là v́ niệm
Phật có hoài nghi, có xen tạp, thường xuyên gián
đoạn. Gián đoạn rất đáng sợ, vừa
gián đoạn, phiền năo bèn khởi hiện hành, chỉ
có công phu không gián đoạn mới có thể khống
chế phiền năo. Phiền năo ấy không phải là
diệt đoạn, mà là phục đoạn (chế
ngự, đè nén xuống). Quư vị có năng lực
khống chế phiền năo, trong tâm chỉ có một câu A
Di Đà Phật, phiền năo sẽ không hiện tiền.
Đấy gọi là “tâm vô nhị dụng”, quư vị chớ nên
nhất tâm nhị dụng, [tức là] vừa niệm
Phật vừa khởi vọng tưởng, chẳng
thể dùng tâm vào hai chuyện được. Lúc niệm
Phật, quyết định không có vọng tưởng.
Lúc vọng tưởng dấy lên th́ niệm Phật
nhất định bị phá hoại, chắc chắn là
như thế! Trước hết, ngài Trung Phong nêu lên ư
nghĩa trọng yếu này giống như nêu lên đề
mục, rồi tiếp đó, Ngài giải thích:
Tây thiên hữu bảo, danh
viết Thanh Châu.
西天有寶。名曰清珠。
(Tây vực có vật báu tên là
Thanh Châu).
“Tây
thiên” chính là Ấn Độ, Ấn Độ có một
loại bảo thạch gọi là Thanh Thủy Châu. Ngài nói:
Vị thử châu đầu
nhập trược thủy trung, nhập thủy nhất
thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy
tức tiện thanh khiết.
謂此珠。投入濁水中。入水一寸。則一寸之濁水。即便清潔。
(Nghĩa là: Loại châu này gieo
vào trong nước đục, ch́m xuống nước
một tấc th́ một tấc nước đục
liền trở thành thanh khiết).
Dùng con mắt khoa học
hiện thời để nh́n sự việc này th́ viên châu
ấy bỏ vào nước sẽ phát sanh tác dụng hóa
học có thể hóa giải những dơ bẩn trong
nước, v́ thế, nước khôi phục sự thanh
tịnh. Ở Trung Quốc, lúc nhỏ tôi sống ở nông
thôn, Trung Quốc thời đó rất lạc hậu,
chẳng những ở nông thôn không có nguồn nước
sạch, mà ngay ở những đô thị, thành phố
nhỏ cũng không có nước máy; chỉ có một
số rất ít những đô thị lớn có
nước máy. Lúc nhỏ, tôi sống ở quê nhà, huyện
Lô Giang không có nước máy. Trong thời gian kháng chiến
[chống Nhật], tôi ở tỉnh Phước Kiến,
tôi sống ở huyện Diên B́nh không có nước máy;
Kiến Âu cũng không có nước máy. Nước
phải đi mua, có người chuyên gánh nước
đến bán; trong nhà có chum nước, mỗi ngày
phải mua nước. Nhà giàu có th́ tự đào giếng
trong nhà, có nước giếng; chúng tôi sống ở nông
thôn th́ dùng nước sông, nước suối, nước
khe. Loại nước này không sạch. V́ thế, chúng tôi
ra sông gánh nước, gánh về nhà xong, nhất
định phải để cho nước lắng
cặn. Dùng phương pháp ǵ để lóng trong? Không có
Thủy Thanh Châu, người Hoa dùng phèn chua (minh phàn,
potassium alum), phèn chua có thể lóng trong nước, cặn
ch́m xuống đáy chum, nước trên mặt rất
sạch. Lúc nhỏ, chúng tôi thường dùng phương
pháp ấy. Chúng tôi tin rằng Thủy Thanh Châu đại
khái giống như một loại phèn chua, cùng một
loại. V́ thế, “nhập thủy
nhất thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy
tức tiện thanh khiết” (ch́m vào nước một
tấc th́ một tấc nước đục bèn trở
thành thanh khiết).
Thử châu nhập thủy
tự thốn chí xích, năi chí ư để, tắc
trược thủy diệc tùy chi nhi trừng trạm.
此珠入水。自寸至尺。乃至於底。則濁水亦隨之而澄湛。
(Châu ấy gieo vào nước
từ tấc tới thước, cho đến tận
đáy th́ nước đục cũng lặng trong theo).
Chữ “trừng trạm” diễn tả nước
rất thanh tịnh, không có mảy may
nhơ
bẩn. Thiền sư dùng điều này làm tỷ dụ,
làm tiền đề để thuyết pháp.
Phần
sau là chánh thuyết (nói thẳng vào vấn đề chánh):
Đương tri thanh châu
giả, dụ niệm Phật chi tịnh niệm dă.
當知清珠者。喻念佛之淨念也。
(Nên biết thanh châu ví như
tịnh niệm niệm Phật vậy).
Tịnh niệm tiếp
nối! Dùng Thanh Châu để ví cho tịnh niệm
niệm Phật. Tịnh niệm giống như Thủy
Thanh Châu.
Trược thủy giả,
dụ tạp loạn chi vọng tâm dă.
濁水者。喻雜亂之妄心也。
(Nước đục ví
như vọng tâm tạp loạn).
Trong tâm chúng ta vọng niệm dấy
lên, ch́m xuống bất định, thật vậy!
Vọng niệm trước vừa diệt, vọng
niệm sau bèn sanh, đêm ngày không ngớt. Tâm chúng ta không
thanh tịnh, giống như nước trong biển
cả, sóng vỗ dâng trào, trước nay chưa hề
ngưng nghỉ. Kinh Phật nói: Tâm thanh tịnh sanh trí
huệ, tâm nổi sóng sanh phiền năo; mức độ
dậy sóng càng lớn th́ phiền năo càng nghiêm trọng,
quả báo là tam đồ. Lục đạo luân hồi
biến hiện ra như thế đó. Học vấn
thế gian hay xuất thế gian không có ǵ khác, chỉ là
thanh tịnh tâm mà thôi!
V́ thế, mấu chốt tu tŕ trong Phật
pháp là chữ Định, Tam Học Giới - Định -
Huệ. Giới là phương cách giúp quư vị đắc
Định, Định trọn chẳng phải là mục
đích, Định có thể mở mang trí huệ, Huệ
mới là mục đích. V́ thế, Phật pháp là trí
huệ pháp, Phật học là trí huệ học. Thiền
Tông không tu Định. Nếu quư vị tưởng
Thiền Tông tu Định th́ quư vị hoàn toàn sai lầm,
quư vị coi Đàn Kinh thấy câu đầu tiên của
Lục Tổ đại sư là ǵ? Câu nói ấy đă
phơi bày toàn bộ tông chỉ của nhà Thiền, Ngài
dạy đại chúng “tổng
niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa” (toàn là niệm Ma Ha
Bát Nhă Ba La Mật Đa). Thiền Tông là Bát Nhă. Bát Nhă
hiện tiền bằng cách nào? Phải Định! V́
thế, Thiền Tông tu Định là phương tiện nhằm
mục đích mở mang trí huệ, mục tiêu là
đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh,
đấy chính là trí huệ Bát Nhă.
Thiền cầu trí huệ Bát
Nhă, Giáo cũng chẳng ngoại lệ, đại khai viên
giải! Quư vị xem [đại khai viên giải] có
phải là trí huệ Bát Nhă hay không? Tịnh Độ Tông
chúng ta đắc nhất tâm bất loạn, nhất tâm
bất loạn bèn sanh trí huệ. Pháp môn bất đồng
là bất đồng về phương pháp, về cách
thức dụng công, chứ phương hướng và
mục tiêu hoàn toàn tương đồng. V́ vậy,
đức Phật mới nói pháp môn b́nh đẳng, không có
cao - thấp. Bất luận tu học pháp môn nào cũng
đều có thể thành vô thượng đạo,
đều có thể minh tâm kiến tánh, đều có
thể kiến tánh thành Phật. Chúng ta phải biết
nguyên tắc này th́ tu hành mới chẳng lầm
phương hướng, chẳng lầm mục tiêu.
Giới - Định - Huệ là phương hướng
chung, là mục tiêu chung; nhân Giới đắc Định,
nhân Định đắc Huệ. Chúng ta phải hiểu
rơ tỷ dụ này, nay chúng ta dùng phương cách nào
để thực hiện công phu? Ở đây, ngài Trung
Phong bảo niệm Phật là phương pháp quan trọng
nhất.
Đương vọng tâm
tạp loạn chi khoảnh, năng cử khởi nhất
niệm.
當妄心雜亂之頃。能舉起一念。
(Ngay trong lúc vọng tâm tạp
loạn, có thể khởi lên một niệm).
“Nhất
niệm” chính là sáu chữ hồng danh, lúc trong tâm chúng ta
rất phiền, rất loạn mà vẫn có thể
khởi lên một niệm này, thế nhưng hiệu
quả của một niệm này không hiển nhiên, do nguyên
nhân nào? Do tâm thái của chúng ta có vấn đề.
Như đối Từ Tôn.
如對慈尊。
(Như
đối trước đức Từ Tôn).
Chúng ta có tâm thái như thế ấy
hay chăng? Chí thành cung kính như đang đối
trước A Di Đà Như Lai, như đang đối
trước Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Chúng ta niệm Phật
thiếu tấm ḷng cung kính ấy, nên hiệu quả
bị suy giảm rất lớn, bị chiết khấu
rất lớn, tợ hồ không thấy hiệu quả ǵ
hết. Dụng công, tâm thái tối thiểu chiếm đến
chín mươi phần trăm, phương pháp tối
đa chỉ chiếm mười phần trăm.
Trước kia, tôi khuyên các đồng học đang học
giảng kinh, tôi từng khuyên như thế này: “Quư vị học giảng kinh,
muốn học phương pháp giảng kinh, tôi
thường nói: Tánh chất quan trọng của phương
pháp giảng kinh nhiều nhất là mười phần
trăm, c̣n chín mươi phần trăm là tâm tư thái
độ của quư vị”.
Trong bài Nội Điển Nghiên
Học Cương Lănh (cương lănh nghiên cứu học
tập kinh điển nhà Phật), tôi đă từng nói:
Chân thành, cung kính quan trọng lắm! Ấn Quang đại
sư nói rất hay: “Một
phần thành kính được một phần lợi ích;
hai phần thành kính được hai phần lợi ích.
Mười phần thành kính được mười
phần lợi ích”. Chúng ta xướng một tiếng
Phật hiệu nhưng miệng có, tâm không, chẳng có tâm
cung kính th́ làm sao có thể thành tựu cho được!
Tâm cung kính được nuôi dưỡng không chỉ trong
lúc niệm Phật. Trong lúc niệm Phật, ta có tâm cung
kính; lúc không niệm Phật, không có tâm cung kính th́ cái tâm cung
kính ấy là giả, không thật! V́ sao? Một tức là
hết thảy, hết thảy chính là một. Nếu quư
vị cung kính Phật th́ cũng phải cung kính hết
thảy chúng sanh. Thậm chí đối với hết
thảy trùng, kiến, muỗi đều cung kính, thấy
chúng nó ta nhất định chắp tay: “Bồ Tát
kiến, Bồ Tát ruồi”, tâm thành kính sanh khởi. Quư
vị chưa làm được như vậy th́ tâm cung
kính chưa sanh khởi. Khởi tâm động niệm
phiền năo làm chủ, chí thành, cung kính không phát ra
được.
Chẳng những đối với
hết thảy động vật mà đối với
hết thảy thực vật cũng phải như
thế. Ở bất cứ nơi đâu, thấy hoa
cỏ, thậm chí với bất cứ vật dụng nào,
quư vị đều cung kính. Bàn phải lau chùi cho sạch
sẽ, sắp đặt cho ngay ngắn, tề chỉnh,
cung kính nó đấy! Từ chỗ này có thể thấy quư
vị có thực sự cung kính đối với Phật
hay không! Chỉ cung kính Phật, đối với những
ǵ khác không cung kính, th́ là cung kính giả tạo, không
thật! V́ sao? “Nhất thiết
chúng sanh giai thị quá khứ phụ mẫu, vị lai chư
Phật” (Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ
trong quá khứ, là vị lai chư Phật). Kinh Hoa Nghiêm c̣n
nói hay hơn nữa: “T́nh dữ
vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (t́nh và vô t́nh
đều thành Phật đạo). Vô t́nh là thực
vật, là khoáng vật; quư vị đối với
thực vật, đối với khoáng vật đều
có tâm cung kính. V́ thế, trước hết phải học
“kính”, câu thứ nhất trong mười đại
nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát là “lễ kính chư Phật”,
chúng ta thiếu sót điều này. Chúng ta thiếu lễ
kính, thiếu tán thán, thiếu cúng dường, thiếu sám
hối. Do vậy, một câu Phật hiệu không linh. Quư
vị đă hiểu rơ hay chưa? Quư vị muốn
niệm một câu Phật hiệu được linh,
niệm có cảm ứng, niệm khởi tác dụng, thực
sự có thể chế ngự vọng tưởng th́
phải từ chí thành cung kính mà niệm mới hữu
hiệu! V́ thế, phải “như
đối Từ Tôn” (như đối trước
đức Từ Tôn).
Án
định lục tự hồng danh.
按定六字洪名。
(Giữ vững
sáu chữ hồng danh).
Tức là Nam-mô A Di Đà Phật từng
chữ rơ ràng, dẫu một chữ cũng không hàm hồ.
Nhất nhất xuất khẩu nhập
nhĩ.
一一出口入耳。
(Mỗi
câu, mỗi chữ từ miệng phát ra lọt vào tai).
Đây là cổ đức dạy chúng ta
phương pháp nhiếp tâm niệm Phật: Phật
hiệu phát sanh từ tâm chí thành, cung kính; từ miệng
phát ra âm thanh, từ tai nghe lọt những âm thanh ấy.
Người hiện thời gọi điều này là “sức
chú ư tập trung chẳng tán loạn”, như vậy th́ mới
có thể chế ngự vọng niệm. Cổ nhân dùng
phương pháp này có hiệu quả, các Ngài đem
phương pháp hữu hiệu này truyền lại cho chúng
ta. Chúng ta phải học tập theo phương pháp này, hăy
thử làm xem, thực sự có hiệu quả đấy!
Tắc thử tạp loạn tự
nhiên tùy niệm tịch tĩnh.
則此雜亂。自然隨念寂靜。
(Do đây
tạp loạn tự nhiên theo niệm mà ngưng lặng).
Đây chính là công phu, không miễn
cưỡng chút nào, tự nhiên vọng niệm chẳng
khởi. “Tạp loạn” là
vọng niệm. Lúc đầu quư vị thấy vọng
niệm ít đi, nếu như nói chúng ta mới học,
vọng niệm có sanh khởi hay chăng? Vẫn khởi,
nhưng ít hơn thôi. Trong Ấn Quang Đại Sư
Văn Sao, chúng tôi thấy có không ít người
thường viết thư hỏi lăo pháp sư: Niệm
Phật đă lâu lắm rồi, trong [thời gian niệm
hết] một cây hương vẫn có rất nhiều
vọng niệm. Một cây nhang: Nhang dài th́ thường
cháy được một tiếng rưỡi, “một cây
hương” là như vậy. Do xưa kia khoa học kỹ
thuật chưa phát triển, người giàu sang mới có
đồng hồ, trong dân gian không có đồng hồ. Tính
thời gian bằng cách nào? Đại khái là lúc trời
quang bèn nh́n xem mặt trời ở nơi đâu để
phán đoán thời gian. Đêm th́ nh́n mặt trăng, nh́n
tinh tú. Những người niệm Phật b́nh
thường như chúng ta đều dùng nhang; v́ vậy
gọi thời gian là “một cây hương, hai cây
hương”. Một cây nhang dài cháy khoảng một giờ
rưỡi. Hai cây nhang là ba tiếng đồng hồ,
không thuận tiện như hiện thời: Trên tay ai
nấy đều đeo đồng hồ, xưa kia không
có.
Trong ṿng một cây hương vẫn
khởi lên rất nhiều niệm, qua Văn Sao của
tổ Ấn Quang ta thấy được điều này.
Tổ Ấn Quang phúc đáp: Phàm những người
dụng công đắc lực cũng chính là những
người thực sự thực hiện được
“tịnh niệm tiếp
nối”, không hoài nghi, không xen tạp, không gián
đoạn. Niệm như vậy ba năm, đại khái
là trong một cây hương vẫn c̣n có dăm ba ư
niệm, rất ít, ngẫu nhiên khởi lên dăm ba
niệm; v́ thế, phải huân tu trong một thời gian
dài. Vọng niệm khởi lên không cần phải bận
tâm, không sợ hăi, đó là chuyện b́nh thường. Lúc
quư vị không niệm Phật, tự ḿnh không nhận
biết vọng niệm hết sức nhiều, quá ư là
nhiều! Muốn dùng một niệm niệm Phật để
chế ngự bèn nhận thấy vọng niệm hết
sức nhiều. V́ thế, có người sợ hăi: “Lúc ta
không niệm Phật không có vọng niệm, cớ sao
niệm Phật th́ vọng niệm lại nhiều
đến thế?” Lúc ấy chính ḿnh không nhận biết,
chứ chẳng phải là không niệm Phật th́ không có vọng
niệm! Không niệm Phật vẫn có nhiều vọng
niệm ngần ấy, nhưng không nhận biết! Nay do niệm
Phật nên đột nhiên nhận ra; do vậy, quư vị
phải biết đó là hiện tượng b́nh
thường.
Quư vị Niệm Phật công phu chớ
nên gián đoạn, phải nghiêm túc nỗ lực niệm,
dần dần vọng niệm càng ngày càng ít, công phu có
tiến bộ! Nếu niệm một thời gian dài mà
vọng niệm vẫn nhiều như thế, không cảm
thấy giảm thiểu th́ tự ḿnh phải khéo kiểm
điểm, phản tỉnh, công phu niệm Phật
của ḿnh nhất định có vấn đề; nói chung,
vấn đề ở chỗ không có tâm thành kính. V́ thế,
hàng sơ học lúc niệm Phật cũng có thể kèm
thêm quán tưởng: Lúc chúng ta niệm Phật giống
như đức Phật đang ở trước mặt
ḿnh, như vậy th́ chính ḿnh mới khởi ḷng chân thành,
cung kính, mới có lợi ích. Hoặc là lúc niệm Phật
đối trước tượng Phật mà niệm, ở
trong Phật Đường giống như ở cùng
một chỗ với đức Phật. Chúng ta
đối trước Phật, chẳng thể không cung
kính, chẳng thể tùy tiện, [nghĩ tưởng như
vậy sẽ] có sức câu thúc ḿnh. V́ thế, công phu
đắc lực, có tâm chân thành, cung kính, tự nhiên
vọng niệm dần dần giảm thiểu, “tùy niệm tịch tĩnh”.
Tự thị nhất niệm nhi chí
thập niệm, năi chí niệm niệm bất di.
自是一念。而至十念。乃至念念不移。
(Từ
một niệm như vậy cho đến mười
niệm, cho đến niệm niệm chẳng dời đổi).
“Bất
di” là không biến
đổi, một câu Phật hiệu cứ một
mực mà niệm, suốt đời không biến
đổi. Nhất tâm nhất ư thành khẩn mong sao
niệm cảm được A Di Đà Phật hiện đến,
làm được như vậy! Từ cổ đến
nay người làm được như vậy chẳng
ít, đấy gọi là “chí
thành cảm thông”, chân thành đến cùng cực sẽ
khởi tác dụng cảm ứng đạo giao. Phật
đến an ủi quư vị, Phật đến chứng
minh cho quư vị. Có lúc Phật bảo quư vị: “Quư vị
c̣n thọ được bao nhiêu năm nữa, đến
khi mạng chung Phật sẽ đến tiếp dẫn!” Đem
tin tức ấy báo cho chúng ta, tin tức ấy hết
sức đáng tin. Khi ấy, có không ít người thông minh thực
sự cảm ứng được Phật hiện
tiền, bảo cho biết c̣n sống bao nhiêu năm
nữa, họ không cần: “Bạch A Di Đà Phật!
Chẳng dễ ǵ niệm được Ngài đến,
nay con theo Ngài ra đi!” Những người như thế
rất nhiều, chứ không phải chỉ ḿnh pháp sư
Oánh Kha, rất nhiều! Chuyện pháp sư Oánh Kha mọi
người đều biết, có rất nhiều người
giống như vậy, nhưng họ không kể với
người khác nên người ta chẳng biết.
Đương nhiên cũng có những
người hoàn toàn chẳng nóng ḷng văng sanh, nghe nói c̣n
sống bao nhiêu năm nữa th́: “Được! Từ
từ giao phó hậu sự rơ ràng, giao phó xong xuôi,
đến lúc sẽ theo Phật ra đi”. Chuyện này chúng
ta chỉ cần đọc kỹ Văng Sanh Truyện hay
đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục sẽ
thấy. Như vậy, ở đây quan trọng nhất là
“niệm niệm bất di” (niệm
niệm không thay đổi).
Tức giáo trung sở vị: “Tịnh
niệm tương kế” giả dă!
即教中所謂淨念相繼者也。
(Tức là
như trong giáo pháp đă nói: “Tịnh niệm tiếp
nối”)
“Giáo” ở đây là kinh Lăng Nghiêm. Kinh
Lăng Nghiêm dạy: “Đô nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối).
Đoạn này nêu rơ ràng, rành rẽ ư “tịnh niệm tiếp nối”. Trong đây, quan
trọng nhất là “cử khởi
nhất niệm, như đối Từ Tôn” (khởi
lên một niệm như đối trước
đức Từ Tôn), đó là thành kính. Tiếp theo là “niệm niệm bất di” (niệm
niệm không thay đổi). Đấy chính là tịnh
niệm tiếp nối, quan trọng lắm! Đấy
chính là “một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
Tiếp theo đó, thiền sư hết sức khẩn
thiết, từ bi dạy chúng ta:
Niệm Phật chi
nhân, tu yếu tín tâm khẩn thiết, chánh nhân lẫm nhiên,
trùng niệm tử sanh luân chuyển chi khả bi, thâm
yếm trần lao phân nhiễu vi khả thống.
念佛之人。須要信心懇切。正因凜然。重念死生輪轉之可悲。深厭塵勞紛擾為可痛。
(Người
niệm Phật cần phải có ḷng tin khẩn thiết,
chánh nhân rạng rỡ, suy đi nghĩ lại tử sanh
luân chuyển đáng buồn thương, chán ngán sâu xa
trần lao rối bời đáng đau xót).
Đoạn này giảng niệm Phật th́
phải dụng tâm giống như lời khai thị ở
đây th́ mới ḥng tương ứng. V́ thế, chúng ta
đọc đến đoạn khai thị này, hoặc là
nghe đến, hăy nghĩ b́nh thường chúng ta niệm
Phật có tương ứng với những lời Ngài
nói ở đây hay chăng? Nếu tương ứng
rất tốt, phải khéo ǵn giữ! Nếu không
tương ứng phải đau đáu sửa đổi
lỗi cũ! Như vậy, điều đầu tiên là “tín tâm khẩn thiết” (ḷng
tin khẩn thiết), chân thành khẩn thiết. “Chánh nhân lẫm nhiên” (chánh nhân
rạng rỡ): Tu pháp môn th́ “phát
Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” chính là
chánh nhân văng sanh. Trong kinh Vô Lượng Thọ, giảng
về văng sanh th́ hai phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc
Văng Sanh) và Văng Sanh Chánh Nhân chuyên giảng
về phương pháp niệm Phật. Chánh nhân rơ ràng, minh
bạch, không hàm hồ một tí nào!
“Trùng niệm tử sanh luân chuyển
chi khả bi” (Suy đi nghĩ lại tử sanh luân
chuyển đáng buồn): Nhất định phải có
cái tâm này! Từ vô lượng kiếp đến nay tử
sanh luân hồi, có thể nói là “thoạt ch́m, thoạt
nổi”. Luân hồi trong lục đạo, ngoi đầu
lên chính là làm được một chút thiện nhân; gặp được duyên, sanh
trong ba đường lành. Quả báo trong ba
đường lành hết rồi, ác nhân hiện tiền,
ngay lập tức ch́m đắm trong ba đường ác.
Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Hễ quư vị
ở trong sáu nẻo th́ chắc chắn thời gian trong ba
đường ác dài lâu, hết sức là dài, thời gian
trong ba đường lành ngắn ngủi. V́ thế, chúng
sanh luân hồi trong sáu nẻo, ba đường ác là quê
nhà, ba đường lành như đi du lịch, thời
gian rất ngắn tạm. Quư vị thấy điều
này rất đáng buồn, cái tâm [chán sợ] sanh tử
mới khởi.
“Thâm yếm” (Chán ngán sâu xa): Yếm (厭)
là “yếm ố, yếm phiền” (厭惡、厭煩: chán ghét, chán ngán). Chán ngán
chuyện ǵ? “Trần lao phân
nhiễu” (trần lao rối bời) chính là những
trạng huống sinh hoạt hiện tiền của chúng
ta. Những người trẻ tuổi chẳng dễ
cảm nhận; chứ người bảy mươi, tám
mươi tuổi, nói thật ra là gần như họ
đă thấy trọn thế gian
này, thấy lâu quá rồi, chán chường lắm!
Người hiện thời bảo những người như
vậy là “yếm thế” (chán đời). Yếm thế
chẳng thể giải quyết vấn đề, hết
sức đáng buồn! Mỗi một ngày, nào là người,
nào là sự, nào là vật quấy nhiễu, thân tâm chẳng
được thanh tịnh, nhất là đối với
những người tuổi tác đă cao, cuộc sống
là đau khổ, nào có sung sướng chi? Luân hồi
khổ, cuộc sống hiện tại đau khổ,
nhất là sống trong xă hội hiện thời, con
người hiện thời chẳng biết thế nào là
nhân nghĩa, đạo đức, không biết
đến! Mê man ngập ngụa trong ṿng dụ hoặc
của ngũ dục, lục trần, chẳng biết quay
đầu. Những thứ dụ dỗ, mê hoặc ấy
toàn là tráo trở, nói khó nghe hơn th́ toàn là tội
nghiệp.
Hiện thời nhất là Internet,
nội dung của Internet là ǵ vậy? Tôi chưa xem qua, tôi
nghe những đồng học kể lại: Trong ấy
toàn là giết, trộm, dâm, dối, đều dạy quư
vị làm ác, quư vị nói xem có đáng sợ lắm hay
không? Những người trẻ tuổi, thậm chí
những đứa bé từ nhỏ đă mê đắm
Internet, mỗi ngày lên mạng xem thứ này thứ nọ,
khiến cho một điểm lương tri lương
năng bị phá hoại toàn bộ, phá hoại sạch sành
sanh! Không ǵ đáng buồn, đáng đau ḷng hơn. Thế
giới này chẳng thể không có tai nạn
được! Tai nạn do đâu mà có? Tai nạn do ác
nghiệp chiêu cảm, chính những kẻ tạo ác
nghiệp không hay biết. V́ sao? Chính họ không có năng
lực phân biệt đúng - sai, thiện - ác, ch́m
đắm mê man trong ấy. Nếu quư vị bảo
với họ những chuyện tốt lành nào, họ
sẽ cảm thấy rất kỳ quái, từ
trước đến giờ chưa từng nghe nói
đến. Nghe như quư vị đang kể chuyện
thần thoại, họ không thể tiếp nhận
được, nghe không lọt tai, tâm họ khởi gió to
sóng lớn, c̣n làm ǵ được nữa! Chúng ta hăy nh́n
những cái nhân và những duyên đă tạo trong xă hội
hiện thời rồi hăy nghĩ đến những kết
quả sau này như thế nào.
Các nhà khoa học nghiên cứu lịch
sử biến thiên và tiến hóa của địa cầu
có đưa ra thuyết như sau: Trong quá khứ
địa cầu có một nền văn minh cao tột,
nhưng văn minh phát triển đến một thời
kỳ nào đó bèn bị hủy diệt. Các nhà khoa học
cho rằng tối thiểu địa cầu đă
từng bốn lần đạt đến văn minh tột
đỉnh rồi đột nhiên bị hủy diệt.
Khoa học kỹ thuật hiện thời của chúng ta
đă đạt đến đỉnh điểm hay
chưa? Tôi cho rằng không xa mấy đâu! Đỉnh
điểm là ǵ? Là phá hoại sinh thái thiên nhiên (natural biological
environment), phá hoại sự cân bằng sinh thái trên
địa cầu. Khoa học kỹ thuật phát triển
đến mức độ này th́ hiện thời chúng ta
hiểu: Thiên nhiên phải báo thù. Hễ thiên nhiên báo thù th́
chẳng những tai nạn xảy ra mà ngày tàn của
thế giới cũng xảy ra, cuối cùng sẽ
thấy ai thắng, ai bại!
V́ thế, cổ nhân nói một câu
ngạn ngữ rất ư vị: “Nhân
định thắng thiên”. Năng lực trí huệ thông
minh của con người chế tạo được
rất nhiều máy móc thắng được tự nhiên
khiến trời giận, quỷ thần ghen ghét. Quỷ thần
ganh ghét, làm cho trời giận, trời nổi nóng là
phiền toái rồi! Có phải là đại hủy
diệt sẽ xảy tới hay không? Trong rất nhiều
ngạn ngữ của cổ nhân có ẩn giấu huyền
cơ, phải chú tâm quan sát th́ mới có thể lănh hội
được. Ư nghĩa của những câu ấy rất
sâu xa, khiến cho chúng ta phải cảnh giác cao độ.
Trong lúc này, chúng ta chỉ c̣n có cách nghiêm túc sám hối,
sửa lỗi, đổi mới, niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Nay đă hết giờ
rồi!
*
Xin tiếp tục xem
đoạn khai thị kể từ “niệm Phật chi nhân, tu yếu tín tâm khẩn
thiết, chánh nhân lẫm nhiên, trùng
niệm tử sanh luân chuyển chi khả bi, thâm yếm
trần lao phân nhiễu vi khả thống” (Người niệm Phật cần
phải có ḷng tin khẩn thiết, chánh nhân rạng rỡ, suy
đi nghĩ lại tử sanh luân chuyển đáng
buồn thương, chán ngán sâu xa trần lao rối
bời đáng đau xót). Bắt
đầu từ chỗ này, ư nghĩa của đoạn
này trong phần trên chúng tôi đă nói rồi, hăy xem
tiếp câu kế đó:
Cử khởi nhất thanh
Phật danh.
舉起一聲佛名。
(Khởi
lên một tiếng danh hiệu Phật).
Cũng là nói trong lúc tâm t́nh
đau xót như vậy, khởi lên một câu Phật
hiệu.
Trực hạ cánh vô dị
kiến, như Thái A kiếm hoành án đương hiên;
như đại hỏa luân tinh đằng diệm xí.
Vạn vật anh chi tắc liệu, xúc chi tắc
thương.
直下更無異見。如太阿劍。橫按當軒。如大火輪,星騰燄熾。萬物攖之則燎。觸之則傷。
(Từ đây không c̣n dị
kiến, như gươm Thái A cầm ngang trước xe,
như ṿng lửa lớn cháy rực như sao sa, vạn
vật chạm phải bèn cháy, đụng vào bèn bị
tổn thương).
Chúng ta xem đoạn này,
quả thật thiền sư Trung Phong đang nói
đến t́nh trạng xă hội hiện thời của
chúng ta. T́nh trạng xă hội cũng đang dần dần
diễn biến thành ngày càng đọa lạc. Đại
khái là kể từ lúc nào? Phải kể từ thời đại
của Thích Ca Mâu Ni Phật, thói đời ngày càng tệ
đi, làm sao chúng ta biết? Qua lời Khổng phu tử,
chúng ta sẽ hiểu rơ ngay.
Lúc Khổng phu tử tại thế, Ngài
nồng nhiệt khen ngợi Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang.
Nghiêu, Thuấn có lẽ ra đời trước Khổng
Tử hai ngàn năm. Khổng lăo phu tử cách chúng ta
khoảng hơn hai ngàn năm trăm năm, vậy
thời Nghiêu, Thuấn phải là bốn ngàn năm trăm
năm trước. Khổng Tử khen ngợi thời
thượng cổ ai nấy đều biết hiếu,
đễ, trung, tín, đều tuân thủ luân thường,
đạo đức. Vào thời Khổng phu tử, Ngài
đă rất cảm khái trước sự động loạn
của xă hội, Ngài sống nhằm thời Xuân Thu
Chiến Quốc, cảm thấy đạo đức bị
ch́m đắm rất sâu, thói đời mỗi ngày mỗi
tệ. Từ thời Khổng Tử đến hiện
thời là hơn hai ngàn năm trăm năm, trong ṿng
một trăm năm trở lại đây, có thể nói là
luân lư và đạo đức đọa lạc, tốc
độ băng hoại càng tăng nhanh, không c̣n là
đọa lạc nữa mà là băng hoại! Đọa
lạc từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20,
đến bây giờ là băng hoại, hoàn toàn không c̣n
nữa. Luân lư, đạo đức biến thành những
danh từ lịch sử, chẳng những không thấy có
trong thực tế xă hội, mà thậm chí những danh
từ ấy cũng không c̣n nghe nói đến nữa. Trong
thời buổi này, rất nhiều tôn giáo ở ngoại
quốc nói đến chuyện ngày tàn của thế
giới.
Trong ṿng ba bốn chục
năm qua, chúng tôi cũng nhận được những
báo cáo, ghi chép; hiện nay dường như chúng ta thấy
các ghi chép đều đoán định [ngày tận cùng
thế giới xảy ra] vào năm 2000. Năm nay là năm
2003, năm sau là 2004. Nếu chúng ta có tánh cảnh giác cao
độ th́ quư vị tự nhiên thực sự buông
xuống vạn duyên, có thể nắm chặt thời gian
hết sức quư báu, nghiêm túc nỗ lực niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Những chuyện
khác đều là phụ thuộc, không phải là chuyện
chánh yếu đáng phải lo toan của ḿnh. Chuyện chánh
yếu phải lo toan của chúng ta là niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Chúng ta vẫn phải nghe
kinh, nghe kinh để làm ǵ? Để giúp chúng ta phá mê, khai
ngộ, giúp chúng ta tỉnh ngộ, giúp chúng ta tăng
trưởng tín tâm, tăng trưởng nguyện tâm, giúp
chúng ta hiểu rơ hết thảy trạng huống trên con
đường về Tây Phương. Nghe kinh để
phụ trợ, lên đường [về gấp Cực
Lạc] quan trọng hơn, vừa đi đường
vừa nghe kinh giới thiệu, không phải là
phương pháp tốt đẹp hay sao? Thực sự
hiểu rơ và thấu suốt th́ những giới thiệu
ấy không cần nghe tới nữa, cứ đi theo con
đường là được rồi. Đi đến
nơi th́ chẳng phải là điều ǵ cũng
đều biết hay sao? Đấy là người thực
sự thông minh.
“Cử
khởi nhất thanh Phật danh, trực hạ cánh vô
dị kiến” (Khởi lên một tiếng Phật
hiệu, từ nay không c̣n dị kiến). “Vô dị kiến” là không c̣n hoài nghi, cũng không
phân biệt, không c̣n chấp trước, điều ǵ
cũng buông xuống hết, cứ thẳng một
đường mà đi. Tiếp đó, thiền sư nêu
tỷ dụ “như Thái A
kiếm, hoành án đương hiên” (như gươm
Thái A cầm ngang trước xe). “Thái A kiếm” là một thanh gươm báu,
giống như những thanh Can Tương, Mạc Gia[2]
thời Xuân Thu Chiến Quốc (hai người này
đều là chuyên gia chế tạo bảo kiếm). Thanh
Thái A cũng do họ đúc ra, bén nhọn khôn sánh. Ở
đây giống như trong lúc đánh nhau, vị
tướng quân tay cầm gươm báu ngồi trên
chiến xa. “Hiên” (軒) là cái bệ nằm ngang ở
trước xe. Chống tay trên xe cầm bảo kiếm,
đó là thái độ trên chiến trường.
Lại “như đại hỏa luân, tinh đằng diễm
xí” (như ṿng lửa lớn, cháy rực như sao sa).
Hai tỷ dụ này không biết nên hiểu như thế
nào? Nói về Thái A Kiếm th́ nói được. Bởi
thời cổ, xung phong hăm trận nơi chiến
trường “hoành án đương
hiên” (cầm ngang trước xe), điều này chúng ta
có thể tưởng tượng được. C̣n thí
dụ tiếp đó “đại
hỏa luân, tinh đằng diễm xí” (ṿng lửa
lớn, cháy rực như sao sa). Cái ṿng lửa lớn này
chắc giống như bom nguyên tử hiện thời. Thiền
sư Trung Phong là người sống vào đầu
triều Nguyên, lúc ấy khoa học kỹ thuật chưa
phát triển, nay chúng ta thấy “đại
hỏa luân tinh đằng diễm xí” ở đây
nếu dùng bom nguyên tử để tỷ dụ th́ không
c̣n ǵ thích hợp hơn nữa. Hai thứ này đều là
chiến tranh, nhân họa, thiên tai nhân họa. Thiền
sư Trung Phong là bậc minh tâm kiến tánh; chúng ta biết
đối với bậc Kiến Tánh, không gian chẳng c̣n
nữa, thời gian cũng không c̣n. Chuyện vị lai Ngài chẳng
thể không biết, Ngài biết chứ. Do vậy, câu này
rất có thể là nói về chúng ta trong hiện tại.
“Vạn
vật”, bất luận vật nào, chỉ cần
tiếp xúc với nó; câu “anh chi
tắc liệu” (chạm vào liền cháy) chỉ ṿng
lửa lớn, tiếp xúc với nó bèn bị cháy. Câu “xúc chi tắc thương” (đụng
vào bèn bị thương tổn) chỉ Thái A Kiếm. Thái
A Kiếm chớ nên đụng vào, đụng vào nhất
định bị thương. Thiền sư dùng h́nh ảnh này để sánh ví một câu
Phật hiệu. Một câu Phật hiệu giống như
Thái A kiếm, giống như ṿng lửa lớn. Vật nào
“anh chi tắc liệu, xúc chi
tắc thương” (chạm vào bèn cháy, đụng vào
bèn bị thương tổn)? Ṿng lửa lớn ví cho
điều ǵ? Sánh ví huệ Bát Nhă, Thái A Kiếm ví như
tam-muội. Ở phần trên đă nói: “Tử sanh luân chuyển, trần lao phân nhiễu” (tử
sanh luân chuyển, trần lao rối bời), chỉ
cần chạm phải Định - Huệ chúng sẽ
không c̣n nữa, tiêu khói, tan mây, dùng những h́nh ảnh
này để tỷ dụ.
Trực chí nhất tâm bất loạn.
直至一心不亂。
(Măi cho
đến khi nhất tâm bất loạn).
“Nhất
tâm bất loạn” là
mục tiêu niệm Phật của chúng ta. Chúng ta niệm
Phật để làm ǵ? Để cầu nhất tâm
bất loạn. Lúc đạt đến nhất tâm
bất loạn th́:
Năng Sở lưỡng vong.
能所兩忘。
(Năng lẫn
Sở cùng mất).
Đây chính là Lư Nhất Tâm, chứ không phải
Sự Nhất Tâm. V́ sao? “Năng
Sở lưỡng vong” (Năng lẫn Sở cùng
mất) chính là nhập pháp môn Bất Nhị. Nhập pháp
môn Bất Nhị chính là cảnh giới Như Lai. Niệm
đến nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất
loạn là Pháp Thân Bồ Tát.
Đáo gia chi thuyết, bất dung tái cử.
到家之說。不容再舉。
(Câu nói
“về đến nhà” chẳng được nêu lên
nữa)
V́ sao? Những lời ấy thành
thừa, “đến” và “không đến” không c̣n
nữa, nhập cảnh giới Bất Nhị mà!
Tiệp kính chi từ, hà lao quải
xỉ.
捷逕之詞。何勞挂齒。
(Từ
ngữ “đường tắt” cần ǵ phải nhắc
đến).
Pháp môn này là đường tắt, trong
phần trên tôi đă tŕnh bày cùng quư vị, đây là
đường tắt nhất trong các con đường
tắt, tức là tu hành chứng quả rất mau, là con
đường gần nhất. Nay quư vị đă
đến nơi rồi, chẳng những lời này không
c̣n nữa, mà ư niệm cũng không có. Mấy câu này hoàn toàn
luận về cảnh giới công phu: Quư vị đă
khế nhập Niệm Phật tam-muội, đă nhập
pháp môn Bất Nhị, đă nhập cảnh giới thuộc
quả địa Như Lai.
Khả vị chứng tu hành chi thần
thuật.
可謂證修行之神術。
(Có thể
nói là cách thần diệu để tu hành chứng quả)
Đây chính là “thân
chứng” (tự ḿnh chứng đắc). “Thuật” (術) là phương pháp. Quư vị dùng
phương pháp tŕ danh niệm Phật, đạt
đến cảnh giới nơi quả địa Như
Lai, quư vị đă tự chứng nghiệm rồi, Tín
nguyện tŕ danh là “thần
thuật” (phương thức thần diệu),
Thuật là “phương
thuật” (cách thức).
Siêu phương tiện chi chánh
đồ.
超方便之正途。
(Là
đường chánh phương tiện siêu thắng).
Trong hết thảy pháp phương
tiện, đây là phương tiện bậc nhất. Con
đường này là con đường chánh thông thẳng
vào Phật đạo, không ngoắt ngoéo, là một con
đường thẳng tắp, phàm phu thành Phật nhanh
chóng, ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ
dàng, thành tựu thù thắng khôn sánh, đạt được
điều khó khăn! Dẫu chư Phật Như Lai, Pháp
Thân Bồ Tát cực lực tuyên dương trong hư không
pháp giới, đúng là vi trần nói, cơi nước nói, không
lúc nào, không chỗ nào chẳng nói, nhưng rất đáng
tiếc, kẻ biết giá trị không nhiều. Chứng
tỏ kẻ không biết giá trị là đa số, cứ
tưởng phương pháp này quá đơn giản, quá
dễ dàng, lẽ đâu đạt thành tựu như
thế ấy được! Chẳng khởi lên ḷng tin, chê
bai là pháp để dạy những bà già tu! Rất
nhiều người cho đến tận bây giờ
vẫn có quan niệm sai lầm ấy, cứ tưởng
những kinh to luận lớn đức Phật dành
để nói với hàng thượng căn lợi trí, c̣n
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ dành cho
bọn hạ hạ căn, chỉ để giảng cho
những kẻ không hiểu biết, ngu si, thiếu tŕnh
độ! Thậm chí c̣n có kẻ lầm tưởng Thích
Ca Mâu Ni Phật kể chuyện cổ tích để an
ủi những kẻ ngu si. Những kẻ ngu si như
thế rất đáng thương, không đúng như
thế đâu! Quư vị hăy xem: Những hiểu lầm như
vậy rất nghiêm trọng. Quư vị đă mắc sai
lầm, lại c̣n làm ảnh hưởng đến
người khác. Đúng là “dĩ
manh dẫn manh, tương khiên nhập hỏa khanh” (kẻ
đui dẫn người mù, kéo nhau vào hầm lửa).
Đây là chuyện đau xót nhất trong thế gian!
Như Lai đem vật quư báu vô
thượng dâng cho quư vị, quư vị không nhận biết,
không biết giá trị, coi nó chưa đáng một đồng,
vứt đi chẳng đoái hoài. Kẻ biết giá trị
– kinh Phật nói – là người đă tu tập, tích tụ
thiện căn, phước đức đời
đời kiếp kiếp trong quá khứ. Họ vừa
tiếp xúc bèn hiểu rơ, không có ǵ khác cả! Đấy là
do thiện căn, phước đức, nhân duyên chín muồi,
họ có thể tiếp nhận. Thế nhưng phàm phu
trong phàm trần bị nhiễm ô nghiêm trọng, dẫu
thiện căn trong đời quá khứ sâu dầy, nhưng
khi được tiếp xúc bèn có thể thực sự
tin sâu phát nguyện lại không phải là chuyện dễ.
V́ thế, trong phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị:
Phải đúng thời tiết nhân duyên, phải gặp
được chân thiện tri thức!
Thế nào là chân thiện tri thức? Người
mà chính ḿnh suốt đời kính ngưỡng nhất, bội
phục nhất, tin tưởng nhất. Ba điều kiện
này t́m ở đâu? Quư vị phải hỏi trong thế
gian lăng xăng này, quư vị bội phục người
nào nhất? Quư vị tin tưởng ai nhất?
Tôn kính ai nhất? Nếu quư vị gặp được
người như vậy, học với người
ấy sẽ nhất định thành tựu. Đây không
phải là vọng ngữ, v́ sao nói khẳng định là thành
tựu? Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật
đă nói rất nhiều, “nhất
thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp
từ tâm tưởng mà sanh). Đối với
người ấy, quư vị có thể sanh tín tâm,
người ấy dạy điều ǵ quư vị sẽ
thực hiện một trăm phần trăm, làm sao không
thành tựu cho được? Cũng cùng một
phương pháp ấy, cùng một câu nói ấy,
người khác giảng cho quư vị, nhưng quư vị
không tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, đương
nhiên chẳng thể phụng hành. Do vậy, quư vị chẳng
thể thành tựu!
Từ cổ đến nay, ai
được gọi là thiện tri thức? Từ
ngữ lục, truyện kư
của
cổ đức, chúng ta thấy chép rất nhiều; lúc
tôi c̣n trẻ mới học Phật thấy vậy rất
lạ: Có người cầu học đến tham học
(những bậc thiện tri thức trong lịch sử
đều là người hữu danh, đều
được người khác xưng tụng là bậc
thiện tri thức đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh, học tṛ đến tham phỏng các
Ngài), Ngài bảo kẻ ấy: “Duyên của ông chẳng
ở nơi tôi, duyên của ông là ở chỗ kia, chỗ
nọ, ông phải đến nơi đó, tham phỏng
vị đó”. Người đến tham học nghe xong,
quả nhiên nghe theo lời vị ấy dạy, đến
nơi kia t́m vị thiện tri thức ấy. Quả nhiên
không lâu sau đại triệt đại ngộ, minh tâm
kiến tánh, thành tựu nơi ấy. Lúc ấy, chúng tôi
cứ nghĩ: “Làm sao mà biết được? Nếu đă
biết, sao không dạy, giới thiệu người ta qua
nơi khác để làm ǵ?” Nghĩ không ra! Những vị
ấy quả thật phi thường, biết
người khác ở chỗ nào, thân cận ai sẽ
được khai ngộ, sẽ chứng quả, có
bản lănh như thế đó.
Đến sau này, học Phật lâu
rồi, dần dần hiểu được đạo
lư ấy. Văn tự, lời lẽ của cổ nhân
đều hết sức đơn giản, mỗi
chuyện chỉ được ghi lại bằng mấy
chữ hay một hai hàng mà thôi. Tưởng tượng
trong cuộc sống hiện thời của chúng ta, nếu
có ai đến bái phỏng quư vị, hướng về
quư vị thỉnh giáo, nhất định phải nói
rất nhiều, những lời ấy nếu ghi xuống
tổng cộng phải là mấy vạn chữ. Các Ngài
chỉ ghi có mấy chục chữ, tinh giản như
thế đó; do vậy, có rất nhiều thứ chúng ta
nh́n không ra, người hiện thời chúng ta xem
đến bèn sanh nghi hoặc. Phổ biến nhất là
nếu có ai đến bái phỏng quư vị, quư vị
nhất định hỏi người ấy: “Tên họ
là ǵ, nhà cửa ở đâu? Từ chỗ nào đến?
Trong quá khứ đă thân cận những vị thiện tri
thức nào? Trong nhiều pháp môn như thế, có hứng
thú với pháp môn nào nhất?” Chắc chắn phải
hỏi những chuyện ấy. Lúc tôi c̣n trẻ gặp
thiện tri thức, thầy cũng hỏi như thế!
Hỏi xong, đến cuối
cùng bảo quư vị: “Ông không có duyên với tôi!” Vậy th́
sao? Thấy được chí hướng và sự ưa
thích của người ấy, thấy người ấy
tôn trọng pháp môn nào, trong tâm người ấy kính
ngưỡng nhân vật nào nhất? Những chuyện
ấy đều phải hỏi rơ ràng, cho rành rẽ,
lại bảo: “Những điều trong tâm ông mong muốn
tôi không có, sự tu học ở nơi đây không hợp
với chí hướng của ông”. Nên nhớ: Phật pháp “hằng thuận chúng sanh, tùy
hỷ công đức”, quyết định chẳng
được thay đổi nguyện vọng của
người khác, chẳng biến đổi hứng thú
của người khác, chứ không phải là “vứt
bỏ những thứ đó đi, học theo tôi mới
tốt”. Trong thiên hạ không có loại thiện tri thức
như thế, đấy không phải là thiện tri
thức thực sự. Thiện tri thức chân chánh
phải nghĩ: Trong xă hội hiện thời c̣n có
những vị đại đức, ở chỗ kia
chỗ nọ có một đại đức mà sở tu và
sở học của vị ấy phù hợp với
hứng thú của ông, ông hăy đến chỗ vị
ấy nhất định sẽ được thành
tựu, giới thiệu như vậy đó! Giống
như đi học, học đại học, quư vị có
hứng thú về phương diện nào th́ có thể theo
học khoa ấy. Trong những đại học lớn,
trường học nào dạy tốt nhất về môn
đó bèn giới thiệu cho quư vị đến đó
học.
Nếu ghi chép lại tỉ mỉ, chúng
ta vừa đọc đến sẽ hiểu rơ ngay, sách
cổ ghi chép quá giản lược! Trọn chẳng
phải là những vị ấy có thần thông, không
phải vậy, nay chúng ta đă hiểu rơ rồi! Ví như
nói có người tuổi trẻ đến chỗ tôi, người
ấy rất có hứng thú đối với Thiền,
niệm niệm chẳng quên, đối với niệm
Phật chẳng thích thú ǵ, nhất định tôi phải
bảo người ấy: “Ông chẳng có duyên nơi tôi”.
Tôi cũng bắt chước lời cổ nhân, “duyên
của ông ở tại nơi nào đó”. Như nay chính tôi
biết: Vị đại đức trong Tông Môn chúng tôi
kính ngưỡng nhất là pháp sư Thánh Nhất ở
Đại Dự sơn, Hương Cảng. Ở Trung Quốc
đại lục cũng có [bậc tri thức trong Thiền
Tông], nhưng tôi rất ít tiếp xúc, không biết rơ. Pháp
sư Thánh Nhất ở Đại Dự Sơn tôi quen
thân, tôi từng đến thăm đạo tràng của
Ngài: Quả thật vẫn giữ được phong thái,
khuôn phép của Tông Môn, mỗi ngày có thời gian tọa
hương nhất định. Lúc tôi đến thăm,
trong Thiền Đường có hơn bốn mươi
người, có cả người ngoại quốc
đều đang học tọa Thiền. Tôi bèn đề
cao! Nếu thích Pháp Tướng Duy Thức ư? Tôi không
biết hiện nay ai sở trường môn này;
trước kia pháp sư Diễn Bồi nghiên cứu môn
này. Nếu quư vị hứng thú đối với pháp này,
tôi sẽ giới thiệu cho quư vị đến thân
cận pháp sư Diễn Bồi, đó gọi là khế
cơ!
Chẳng thể nói pháp môn Niệm
Phật của tôi tốt hơn nhiều, anh phải
bỏ pháp ḿnh hứng thú đi, theo tôi học pháp môn
Niệm Phật, không thể được! Nếu
thuyết pháp như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật lúc tại
thế việc ǵ phải nói nhiều pháp môn đến
thế? Chỉ giảng một pháp môn Niệm Phật là
được rồi! Quư vị hiểu:
Căn bệnh của người
thế gian là thường nghĩ ḿnh đúng, thường
thích sửa đổi người khác, buộc
người khác phải theo ḿnh, người thế gian
như vậy đó. Chẳng thể thuận theo căn
tánh và ḷng ưa thích của người ta, chẳng thể
tùy thuận. Trong mười đại nguyện
vương có nói “tùy hỷ công
đức”, phải học tùy hỷ, phải hằng
thuận. Con người có thể tùy hỷ và hằng thuận,
tâm chính ḿnh nhất định phải thanh tịnh. V́
thế nói phải vĩnh viễn giữ sao cho không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không
chấp trước nơi cảnh giới, hết
thảy tùy duyên, quyết định không phan duyên. Đó là “chứng tu hành chi thần thuật”
(phương thức thần diệu để tu hành
chứng quả”) chữ “thần
thuật” (phương thức thần diệu) chuyên
chỉ pháp môn Tín Nguyện Tŕ Danh, là “siêu phương tiện chi chánh đồ” (con
đường chánh phương tiện siêu thắng).
Phá tử sanh trập hộ chi lôi
đ́nh.
破死生蟄戶之雷霆。
(Sấm
sét phá tan [giấc ngủ] tử sanh
của loài sâu bọ).
“Trập” (蟄) là những loài
trùng nhỏ, có rất nhiều loài động vật
nhỏ ngủ Đông, mùa Đông về bèn ngủ, thời
gian rất dài. Đến lúc nào chúng mới tỉnh? Vào ngày
Kinh Trập, trời Xuân sấm rền, tiếng sấm
kinh động chúng, chúng bèn tỉnh dậy.
Do vậy, tiết khí ấy được gọi là
tiết Kinh Trập (kinh động sâu bọ)[3].
Ở đây nói “phá tử sanh
trập hộ chi lôi
đ́nh” nghĩa là giống như sấm mùa Xuân kinh
động, lay tỉnh những động vật ngủ
Đông thức dậy.
Chúc mê vọng u cù chi nhật nguyệt.
燭迷妄幽衢之日月。
(Như mặt trời, mặt trăng
chiếu tỏ nẻo mê vọng).
“Chúc” (燭) là chiếu sáng,
chiếu tỏ. “Chúc mê vọng
u cù chi nhật nguyệt”: Cù là con đường, “u cù” (幽衢) là con đường nhỏ. Câu này có nghĩa là
Phật hiệu giống như mặt trời, mặt
trăng, chiếu rơ ràng đường lối khiến quư
vị không bị lầm đường, chẳng bị
lạc lối. Đây đều là những tỷ dụ,
nhằm sánh ví công đức thành tựu thù thắng
của pháp môn Niệm Phật, trỗi vượt hết
thảy các pháp môn khác. Tu học mọi pháp môn nhất
định đ̣i hỏi đầy đủ rất
nhiều điều kiện, khuyết một điều
kiện nào sẽ chẳng thể thành tựu. Chỉ riêng
pháp môn này đơn giản, điều kiện ít
nhất, chỉ cần Tín, chỉ cần Nguyện,
cốt sao chịu niệm Phật, cốt sao quư vị có
thể buông xuống vạn duyên là thành tựu. V́ thế,
trong hết thảy pháp môn, pháp môn Niệm Phật ít
điều kiện nhất, đơn giản nhất,
ngay cả kinh điển cũng chỉ có ba kinh một
luận. Nói thật ra, chỉ có ba kinh, c̣n một luận
của Thiên Thân Bồ Tát (tức Văng Sanh Luận) giống
như một bản báo cáo tâm đắc từ việc tu
tập pháp môn Niệm Phật của chính Ngài đưa cho
mọi người tham khảo! Ngài tu hành như thế nào
mà được thành tựu, đó là một phần tài
liệu tham khảo. Kinh điển thực sự chỉ
có ba bộ kinh, quư vị đều đọc cả
rồi, phân lượng không nhiều. Kinh có phân lượng
lớn nhất là kinh Vô Lượng Thọ, hiện
tại có nhiều người mỗi ngày niệm kinh Vô
Lượng Thọ bao nhiêu lượt. Đơn giản
nhất là kinh A Di Đà, từ đầu đến cuối
niệm một biến mất năm phút; đơn
giản, dễ dàng đến như thế đó.
Khó ở chỗ nào? Khó ở
chỗ địch không lại phiền năo, tập khí, khó ở
chỗ này! Không biết dùng phương pháp tốt
đẹp đến ngần này, tức là phương
pháp “tịnh niệm tiếp
nối”, bốn chữ này không làm được! Nói
thật ra, bốn chữ này ai cũng đều phải
làm được, v́ sao làm không được? V́ phiền
năo tập khí quá nặng, chẳng thể khắc phục
phiền năo, chẳng thể biến niệm Phật thành một
thói quen. Vấn đề thực sự ở đây
vẫn như Thiện Đạo đại sư đă
dạy chẳng sai: “Tổng tại
ngộ duyên bất đồng” (toàn là do gặp duyên
bất đồng). Duyên là ǵ? Thầy giỏi, đồng
học tốt, hoàn cảnh học tập tốt,
đấy chính là “gặp duyên
bất đồng”. Nghiệp chướng dẫu
nặng, nhưng nếu gặp được duyên
tốt, có thầy giỏi dạy ḿnh, có đồng
học tốt có thể thường xuyên cảnh tỉnh
ḿnh, có hoàn cảnh tu học tốt đẹp, không ai chẳng
thành công. Tổ sư đại đức nói: “Vạn người tu, vạn
người về” là nói thật đấy, không
giả chút nào! Chúng tôi tin ai cũng có thể tu pháp môn
Niệm Phật, ai trong một đời này cũng có
thể thành tựu viên măn. Chúng ta nói đến duyên th́ pháp
sự Tam Thời Hệ Niệm là duyên thù thắng
nhất, ḥa thượng chủ pháp là thiện tri thức,
chúng xuất gia và tại gia cùng tu là thiện hữu,
đạo tràng là hoàn cảnh niệm Phật tốt
nhất, duyên đầy đủ!
Khải thỉnh giảng giải Tam
Thời Hệ Niệm Pháp Sự lần này là Hồ cư
sĩ. Lúc mẹ bà ta lâm trọng bệnh, trong lúc c̣n đang
nằm bệnh, bà ta đến thỉnh cầu tôi đem
công đức này hồi hướng cho mẹ bà. Nếu
tuổi thọ vẫn c̣n, hy vọng bệnh bà cụ
sớm ngày b́nh phục; nếu thọ mạng đă
hết, sẽ giúp cho cụ niệm Phật văng sanh. Ḷng
hiếu thảo ấy khiến cho chúng tôi cảm
động, v́ thế, đem pháp sự này giảng từ
đầu đến cuối một lượt. Tôi
ước tính phải mất một trăm giờ,
quả nhiên không sai. Bữa nay chúng tôi giảng đến
tập thứ năm mươi hai, mỗi tập là hai
tiếng đồng hồ, tức là một trăm lẻ
bốn giờ. Chúng tôi nghĩ phần sau không nhiều, có
lẽ chừng hai ba lần nữa là giảng xong, tôi
nghĩ nhiều nhất không quá sáu tiếng đồng
hồ, tức giảng ba lần nữa là viên măn. Mẹ bà
Hồ đă văng sanh rồi, đem công đức này
hồi hướng cho bà cụ, giúp cho bà cụ tăng cao
phẩm vị. Phần khai thị của thiền sư Trung
Phong đến đây là hết một đoạn. Chúng ta
xem phần tiếp theo, tức là phần phó chúc và
khuyến khích:
Kim tiêu Tam Thời Hệ Niệm Phật
Sự tương viên.
今宵三時繫念佛事將圓。
(Phật
sự Tam Thời Hệ Niệm đêm nay sắp viên măn).
Đây là thời hệ niệm thứ
ba, nhất tâm hệ niệm A Di Đà Phật, mọi
người chúng ta cùng tu, Phật sự này sắp viên măn
rồi.
Vong linh thừa tư thượng
thiện, quyết định văng sanh.
亡靈承茲上善。決定往生。
(Vong linh
nhờ vào thiện sự bậc thượng này, nhất
định văng sanh).
Tám chữ này quan trọng lắm! “Tư”
(茲) nghĩa là
“này”, nói theo văn Bạch
Thoại là “giá cá” (這個: cái này). Quư vị nhờ vào “thượng thiện này”,
thượng thiện chỉ cho Phật sự này. Phật
sự Tam Thời Hệ Niệm chính là hành pháp
thượng thiện, là phương pháp tu hành “quyết định văng sanh”,
lời lẽ kiên quyết khẳng định, không có mảy
may nghi hoặc nào.
Thả đạo nhất niệm
vị manh dĩ tiền, hoàn hữu giả cá tiêu tức dă
vô.
且道一念未萌以前。還有者箇消息也無。
(Lại
nói: Trước khi một niệm vừa chớm, c̣n có tin
tức nào hay không?)
Lời lẽ này đều là ngữ khí
Thiền tông. Ngài Trung Phong là thiền sư, chúng ta
thường thấy ư vị nhà Thiền trong văn
bản Hệ Niệm. “Thả
đạo nhất niệm vị manh” ư nói: Lúc một
niệm chưa sanh, trước khi một niệm chưa
sanh, “hoàn hữu giả cá tiêu
tức dă vô”: Có tin tức ǵ hay không? Nhà Thiền nói
đến Nghi, tiểu nghi được tiểu ngộ,
đại nghi được đại ngộ. Không nghi
sẽ không ngộ. V́ thế, đường chủ
Thiền Đường thường dùng những
phương cách khơi gợi nghi t́nh của mọi người.
Nghi t́nh ấy không được giải đáp. Nếu
giải đáp, quư vị sẽ không thể ngộ. Nếu
không giải đáp th́ nghe xong, có người hoát nhiên khai ngộ,
có người ngơ ngác không biết, những lời
ấy gọi là “cơ phong
ngữ”, không đạt đến cảnh giới
ấy nghe không hiểu được. Tiếp theo đó,
đại sư lại có một bài kệ:
Thị tâm không tịch niệm hà y?
是心空寂念何依。
(Tâm này
trống lặng, niệm theo đâu?)
“Nhất
niệm vị manh” (một
niệm chưa chớm), một niệm chẳng sanh tâm
ấy không tịch. Hỏi quư vị c̣n có tin tức ǵ hay
không? Niệm nương vào đâu? Nói thật ra, ư nghĩa
của câu này rất phong phú. “Thị
tâm”, ở đây chúng ta đọc thẳng xuống, “tâm này”. “Không tịch” là Bản Giác, tâm là trạm tịch
linh minh, niệm là Thỉ Giác, Thỉ Giác hợp với
Bản Giác, đại giác rạng ngời. Chân Như Lư
địa, pháp vốn là như thế, chẳng thể nói
nó hữu y hay vô y. Hữu y hay vô y, quư vị khởi lên ư
niệm, ư niệm ấy chưa khởi là nhất niệm
chưa chớm. V́ thế, câu này nhằm giải đáp câu
hỏi ở phần trên. Tiếp đó là hoàn toàn áp
dụng vào sự tướng:
Cố quốc vân quy thục vị quy?
故國云歸孰未歸。
(Nước
cũ bảo về, ai chưa về?)
“Cố
quốc” chính là nhà cũ
của quư vị, nhà cũ nơi đâu? Tại thế
giới Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật chẳng
phải là mong sanh về thế giới Cực Lạc ư?
Hiện tại vẫn chưa về. Thế nhưng nay
chúng ta coi như đă hiểu rơ rồi, có thực sự
thấu hiểu hay không vẫn là ẩn số! Thực
sự hiểu thấu th́ hăy tích cực mau trở về
nhà, chúng ta lữ du đến nơi đây, nơi đây
sanh ra lắm chuyện phiền toái lắm, nơi đây có
động loạn. Ngay cả Khổng phu tử c̣n nói: “Nguy bang bất cư, loạn
bang bất nhập” (Nước nguy không ở,
nước loạn không vào!) Nay địa cầu này
vừa nguy vừa loạn, về đi thôi! Lời này có ư
nghĩa là như thế!
Hoa ngoại ngọc kê đề hiểu
nhật.
華外玉雞啼曉日。
(Ngoài hoa gà
ngọc gáy b́nh minh).
“Hoa” (華) là hoa sen, tức
hoa sen trong ao bảy báu. Câu này hàm nghĩa phá mê khai ngộ, ĺa
khổ được vui. “Ngọc
kê đề hiểu nhật” (gà ngọc gáy rạng
đông) là tỷ dụ: Phá mê khai ngộ ví như trời
rạng đông, trời sáng. Lúc nào trời sáng? Nay chúng ta mê
không giác, giống như ở trong tối tăm, một
niệm hồi quang giống như trời rạng sáng.
Trời vừa rạng đông gà bèn gáy, ví như khai
ngộ, ví như từ mê vọng mà quay đầu lại.
Viễn nghênh tân Phật phụng từ
oai.
遠迎新佛奉慈威。
(Xa đón
tân Phật phụng từ oai).
Sanh về thế giới Cực Lạc
bèn thành Phật, “tân Phật”
đấy! Ngoài Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, c̣n có mọi
Bồ Tát, Thanh Văn đại chúng từ Tây Phương
Cực Lạc thế giới đều đến đón
quư vị. Họ là những người đă văng sanh trong
quá khứ, văng sanh trước, đều là người
quư vị quen biết, đều là người nhà thân
quyến của quư vị, là đồng tham đạo
hữu của chính ḿnh, trong đời quá khứ cùng tu hành
một chỗ, họ thành tựu, ta chưa thành tựu. Ta
vẫn ch́m nổi trong luân hồi; kể ra c̣n khá lắm,
hôm nay ta giác ngộ, ta thành tựu, họ bèn theo Phật
đến tiếp dẫn.
V́ thế, phải biết hảo
bằng hữu chân chánh, bằng hữu hiểu ḿnh
đều ở thế giới Cực Lạc. Do vậy,
đến thế giới Cực Lạc không cô đơn,
người nhà quyến thuộc trong đời
đời kiếp kiếp, thân bằng hảo hữu,
đồng tham đạo hữu, đến thế
giới Cực Lạc đều gặp mặt hết.
Hỏi quư vị là thời đại này, thời
đại nọ mới có ư vị. Rồi sao nữa? Ai
nấy đều có thành tựu, không có phàm phu, đúng
như kinh đă dạy: “Toàn bộ
đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát ”, cảnh
giới ấy phi thường lắm! Nếu chúng ta
hiểu rơ chân tướng sự thật ấy sẽ không
c̣n do dự nữa, thật đấy, ư niệm ǵ cũng
đều đoạn, nhất tâm nhất ư niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. “Thừa tư thượng thiện, quyết
định văng sanh” (nương theo thiện sự
bậc thượng này, quyết định văng sanh). Nay
đă hết giờ rồi!
Tập
53
Xin xem tiếp phần niệm
Phật lần thứ hai trong thời thứ ba, nhiễu
niệm:
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
Lần
này cũng nhiễu niệm một ngàn tiếng, chúng ta xem chung
[phần này] với những phần trước: Trong
Hệ Niệm Pháp Sự này, gộp chung cả ba thời lại,
mỗi người niệm khoảng chừng bốn ngàn
tiếng Phật hiệu, mười người là
bốn vạn tiếng, một trăm người là
bốn mươi vạn tiếng. Thông thường trong Hệ Niệm Pháp Sự này,
lúc chúng tôi tổ chức số người tham dự
khoảng từ một trăm đến ba trăm
người. Nếu tính là ba trăm người th́ là ba
lần bốn ngàn là một trăm hai mươi vạn
tiếng Phật hiệu, có phải là sức mạnh
rất lớn hay không? Huống chi lại c̣n có tán Phật,
tụng kinh, niệm chú, khai thị, thuyết pháp, phát
nguyện, hồi hướng, sám hối! Quán sát như
vậy quư vị mới biết pháp sự này thù thắng.
Trong những năm qua, tại
các nơi trên toàn thế giới, chúng tôi đề
xướng, mỗi Tịnh Tông Học Hội đều
thực hiện kèm thêm pháp hội này. Đối với
thời đại tai nạn lớn lao này, chắc
chắn pháp sự này mang lại lợi ích tiêu tai miễn
nạn (tiêu trừ tai chướng, thoát khỏi hoạn nạn).
Lợi ích ấy chúng ta có thể nh́n thấy từ thí
nghiệm của tiến sĩ Giang Bổn Thắng tại
hồ Tỳ Bà[4]
ở Nhật Bản. Số người [tham dự thí nghiệm
ấy] không đông, hơn ba chục người, với
sức mạnh của ngần ấy người, trong ṿng
một giờ, thỉnh một vị pháp sư hướng
dẫn đại chúng niệm kinh, đem ư nguyện và
thiện ư của chính ḿnh hồi hướng cho
nước trong hồ. Trong tâm mọi người có ư
niệm như vậy, ư niệm hết sức thành
khẩn, dị khẩu đồng âm nói: “Nước
hồ thanh khiết, nước hồ trong sạch, chúng tôi
hết sức hoan hỷ, vô cùng cảm tạ”. Cầu đảo
trong một tiếng đồng hồ, hai ba ngày sau,
nước hồ quả nhiên trong vắt, không dậy sóng
ṃi, không ô nhiễm nữa. Quư vị biết là nước
hồ được thiện ư gia tŕ.
Thực vật và khoáng vật
đều có bản năng thấy được, nghe được,
hiểu được, biết được; bản
năng ấy chính là bản năng của Pháp Tánh. Chúng ta
thường gọi những đức tánh sẵn có
nơi Pháp Tánh là “nhân từ, bác ái”. Mười mấy
năm gần đây, chúng tôi quy kết giáo nghĩa
Đại Thừa, nêu ra cương lănh tu hành “chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi”. Đấy chính là các đức
hạnh sẵn có nơi Pháp Tánh. Có thể thấy, có
thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết là
bản năng sẵn có nơi Pháp Tánh. Kinh dạy như
thế, lời khai thị của thiền sư Trung Phong
ở đây cũng nhằm nói như thế. Hiện thời,
khoa học đă dần dần chứng minh
được [những điều này].
Ngày hôm qua tôi nhận
được một bản fax, h́nh như là bản
chụp của một cuốn sách được xuất
bản ở Đài Loan, vốn là một báo cáo mang tựa
đề Đời Sống Bí Mật Của Thực Vật. Có người đă tốn
một thời gian rất dài, dùng phương pháp khoa
học để thí nghiệm, phát hiện thực vật
có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận,
có thể biết, lại không bị ngăn trở bởi
khoảng cách. Thực vật hoàn toàn hiểu rơ tâm ư của
con người đối với chúng. Từ trước
đến nay, chúng ta cứ tưởng thực vật
hoàn toàn không có sanh mạng, nay các nhà khoa học nghiên
cứu, phát hiện thực vật có sanh mạng,
người ta dùng thiện ư chăm sóc chúng, chúng sẽ
cảm ơn. Nếu người chăm sóc chúng có
chuyện đi xa, chúng cảm thấy rất buồn bă,
rất đau xót, gục đầu ủ rũ. Nếu
người chăm sóc chúng trở về, chúng rất vui
vẻ, thấy rất rơ điều này. Toàn thể vũ
trụ là sống động!
Chúng ta có cả mấy trăm
người ở cùng một chỗ, niệm Phật là thông
điệp thù thắng nhất, chân thật nhất, là lời
chúc phước tốt lành nhất, thiên địa quỷ
thần đều cảm động! V́ thế, trong
Hệ Niệm Pháp Sự, chánh yếu nhất là niệm
Phật. Nghe khai thị xong, buông xuống vạn duyên,
nhất tâm nhất ư chấp tŕ Phật hiệu, thực
sự không xen tạp, câu này tiếp nối câu kia không gián
đoạn. Niệm một ngàn tiếng, thông thường
chúng ta niệm một ngàn tám mươi tiếng. Mỗi
một xâu chuỗi là một trăm lẻ tám tiếng,
mười chuỗi là một ngàn lẻ tám mươi
tiếng. Đương nhiên lúc niệm Phật thời
gian càng dài càng tốt, nhân v́ trong Pháp Sự, khai thị
rất nhiều, khai thị hết sức quư báu, đúng là
dương gian và âm cảnh cùng được lợi.
33. Từ Vân Sám Chủ
Tịnh Độ Văn
Trong đoạn tiếp theo, thiền
sư Trung Phong sử dụng bài Tịnh Độ Văn
của Từ Vân Sám Chủ, giống như trong thời
thứ hai, thiền sư trích dẫn bài văn phát
nguyện của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây,
chúng ta dường như thấy được tâm
lượng của cổ đức, các Ngài bao dung, không
phân biệt đây - kia, không cứ nhất định cái
ǵ cũng phải là của ḿnh. Trong thời thứ hai chúng
ta thấy bài “thập
phương tam thế Phật, A Di Đà đệ
nhất, cửu phẩm độ chúng sanh, oai đức vô
cùng tận”. Đấy chính là bài văn phát nguyện
của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây, chúng ta
đọc bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám
Chủ[5].
Từ chỗ này chúng ta có thể thấy được
tâm lượng của thiền sư: bao dung, tự - tha
bất nhị. Lời người khác nói hay dạy
tương ứng với những ǵ chính ḿnh đang tu th́
không c̣n là của người khác nữa mà là của chính
ḿnh!
Quư vị thấy trong những phần
trước, thiền sư dạy: “Ngă tâm tức A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức
thị ngă tâm” (tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật chính là tâm ta). A Di Đà Phật và ta đă là không hai
th́ Đại Từ Bồ Tát cũng không hai, Đại
Từ Bồ Tát chính là tâm ta, tâm ta chính là Đại Từ
Bồ Tát. Ở đây cũng giống như vậy, tâm ta
chính là Từ Vân Sám Chủ, Từ Vân Sám Chủ chính là tâm
ta, tự - tha bất nhị, tánh - tướng như
một. Con người khế nhập được
cảnh giới này th́ thiên hạ thái b́nh, há c̣n có tranh
chấp nữa ư? Không c̣n! Tự ḿnh không tranh chấp
với chính ḿnh! Bài văn này chúng ta đọc rất
nhiều, có rất nhiều đồng tu thường
xuyên niệm. Nay chúng ta cũng đọc đoạn văn
này.
Nhất tâm quy mạng.
一心歸命。
(Một
ḷng quy mạng).
Vừa mở đầu đă chỉ
điểm chúng ta. Quy Mạng cũng là Quy Y. Từ mặt
chữ, có thể thấy là quy mạng so với quy y càng
phải chân thành hơn, chân thành đến cùng cực. Quy (歸) là quay về, toàn bộ quay trở
lại. “Nhất tâm quy
mạng”, quy về đâu?
Cực Lạc thế giới A Di Đà
Phật.
極樂世界。阿彌陀佛。
Đây là
người thực sự giác ngộ triệt để. Nếu không phải là người thực sự giác
ngộ triệt để, sẽ không thể quy y hoàn toàn “Cực Lạc thế giới A
Di Đà Phật”. Thực sự làm được
như vậy, cổ đức thường nói có hai
loại người:
1) Một là
người thượng căn lợi trí, họ hoàn toàn
hiểu rơ Thật Tướng của các pháp, không ngờ vực mảy may.
V́ thế họ có thể triệt để buông xuống
vạn sự vạn pháp dù là thế gian hay xuất thế
gian, “nhất tâm quy mạng”.
Thượng căn lợi trí mà! Những ai vậy? Nay
chúng ta thấy họ chính là Pháp Thân Bồ Tát trong pháp Đại
Thừa. Nhất là Thập Địa Bồ Tát, từ
đầu đến cuối chẳng rời niệm
Phật, đúng là nhất tâm quy mạng.
2) Ngoài ra là hạng người hạ
căn, ngu độn, ngạn ngữ thường nói là “ngu bất khả cập” (ngu
không ai bằng). Hạng người hạ căn ngu
độn ấy chúng ta không thể sánh bằng. V́ sao?
Họ cũng nhất tâm quy mạng, hỏi đến
đạo lư họ hoàn toàn không hiểu, thầy họ
dạy bảo, họ bèn thật thà niệm Phật.
Họ ngoan ngoăn niệm Phật, rơ ràng là một vọng
niệm cũng chẳng có, hoàn toàn phó thác, nhất tâm quy
mạng, họ thực sự làm được. Hỏi
họ đạo lư ǵ họ cũng chẳng biết,
thầy dạy tôi làm sao, tôi cứ làm như thế đó.
Cận đại, chúng ta đọc
cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục, thấy pháp
sư Tu Vô, hoặc vị “pháp sư phơi nến” (tên
họ vị này là ǵ trong nhất thời tôi không nhớ,
trước kia nhớ kỹ lắm)[6].
Ngoài ra, lăo pháp sư Đàm Hư thường kể lăo ḥa
thượng Đế Nhàn có một đồ đệ
làm nghề vá nồi, chưa hề đi học, không
biết chữ, chất phác. Sư phụ bảo làm sao, bèn
làm đúng y như thế, làm triệt để, suốt
đời không hoài nghi. Họ thực sự tu tập không
xen tạp, không gián đoạn, bèn thành công. Đúng là
chẳng thể nghĩ bàn! Khó nhất là những kẻ
thượng chẳng phải thượng, hạ
chẳng phải hạ, những kẻ được
gọi là “lơ lơ lửng lửng” ở giữa là phiền
toái nhất! Quư vị bảo họ không có trí huệ ư?
H́nh như cũng thông minh. Quư vị bảo họ thực
sự có trí huệ ư? Họ nghi lự trùng trùng,
người như vậy khó độ lắm! Chúng ta
biết lúc đức Phật tại thế giảng kinh
thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm là v́ ai mà
giảng vậy? Chính v́ những kẻ này. Thượng
trí, hạ ngu đơn giản lắm, đức Phật
độ bọn họ chẳng tốn sức, độ
rất dễ dàng. Ân đức của Phật đối
với chúng ta lớn lao quá! Đọc đến
đoạn văn của Từ Vân đại sư ở
đây, chúng tôi có cảm xúc rất sâu! Phải
thường nghĩ bản thân chưa thực hiện
được chuyện nhất tâm quy mạng “Cực Lạc thế giới, A
Di Đà Phật”! Bài Tịnh Độ Văn vẫn là
văn cầu nguyện, cầu đảo, phát nguyện:
Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă,
từ thệ nhiếp ngă.
願以淨光照我。慈誓攝我。
(Nguyện
dùng quang minh thanh tịnh chiếu đến con, dùng thệ
nguyện từ bi nhiếp độ con).
Lời nguyện này rất linh, cảm
ứng hết sức linh mẫn. V́ sao? Nhất tâm quy
mạng mà! Nhất tâm là tâm chí thành, chân thành đến cùng
cực. Trong tâm không xen tạp mảy may vọng
tưởng nào, đương nhiên phân biệt, chấp
trước không có. Đúng là thực sự không hoài nghi,
không xen tạp, đấy mới là nhất tâm. Nhất tâm
cầu nguyện th́ cảm ứng chẳng thể nghĩ
bàn. “Nguyện dĩ tịnh
quang chiếu ngă”: A Di Đà Phật dùng ánh sáng Bát Nhă viên
măn rốt ráo nơi tự tánh, quang minh ấy không nhiễm
ô, vốn sẵn thanh tịnh, vĩnh viễn chẳng
bị nhiễm ô. Tâm tánh của Phật phóng quang, thế
giới cũng phóng quang minh, thế giới là Pháp Tánh.
Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh. Quang minh của thế
giới là ǵ? Người Hoa gọi quang minh của thế
giới là Khí. Người Hoa gọi là Khí hoặc Phong
Thủy. Ở chỗ này, Phong Thủy tụ khí cực
tốt, trong nhà Phật gọi là “thế giới phóng quang”, người ngoại
quốc gọi là Từ Trường.
Địa cầu có từ trường
của địa cầu, thái dương hệ có từ
trường của thái dương hệ. Khoa học gia thường
nói như vậy, chúng ta nghe đă quen tai. Thế giới
phóng quang! Sát-độ (cơi Phật) phóng quang! Quang minh
ấy chính là đức năng sẵn có của hết
thảy các pháp, không từ bên ngoài đến, mỗi
một chúng sanh đều có, không khác biệt, hoàn toàn
tương đồng. Vậy th́ tại sao lại có
sự khác biệt rất lớn nơi sự tướng?
Đức Phật dạy: “Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ đức
tướng, đản dĩ vọng tưởng chấp
trước nhi bất năng chứng đắc” (Hết
thảy chúng sanh đều có trí huệ đức
tướng của Như Lai, nhưng v́ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước nên chẳng
thể chứng đắc). Đức Phật dạy rơ
ràng, minh bạch như thế đó, v́ sao quư vị bị
mất quang minh? V́ có vọng tưởng, có phân biệt, có
chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước khiến cho đức năng nơi
tự tánh bị che lấp. Quư vị phải biết:
Bị che lấp, chứ hoàn toàn chẳng bị mất
đi. Giống như ngày mưa trời u ám, mây đen dày
kịt che khuất thái dương, thái dương không
mất đi, vẫn tồn tại, chỉ bị chướng
ngại, che khuất, tỏa ánh sáng yếu ớt, chẳng
thấy được đức dụng chói lọi viên
măn. Nguyên do là như vậy đó!
Nếu chúng ta trừ khử mây đen
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́
đức năng nơi tự tánh sẽ hiện tiền
viên măn. Ánh thái dương lại chiếu khắp nơi.
Nay chúng ta đang mê, tịnh quang của tánh đức
bị khuất đi, nay cầu Phật gia tŕ, Phật
quang chiếu gội, khiến chướng ngại của
chúng ta bị hóa giải, đây là chuyện thật, không
giả đâu! Nay chúng ta phải thực hiện cụ
thể bằng cách nào? Phật quang chiếu đến ta,
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
đều bị hóa giải; phiền năo tập khí dần
dần tiêu trừ, chuyện tốt! Phật quang nhiễu
quanh thân chúng ta, vấn đề là quư vị phải
tiếp nhận. Quư vị nói: “Tôi không thấy Phật
quang, làm sao tiếp nhận?” Kinh sách ở đâu là Phật
phóng quang tại chỗ đó. Do vậy, v́ sao chúng tôi
thường nghĩ phải ấn tống Đại
Tạng Kinh ḥng giới thiệu kho báu chân thật nhất
(Pháp Bảo) trong thế gian và xuất thế gian cho
hết thảy
chúng
sanh? “Tịnh quang chiếu ngă”
đấy!
Trong thời gần đây, lại có thêm
một tầng chướng ngại. Chướng ngại
ǵ vậy? Người hiện tại không học văn
chương Văn Ngôn. Phải biết văn chương
Văn Ngôn là một sáng tạo trí huệ khôn sánh của
tổ tiên xa xưa Trung Quốc. Bởi lẽ, họ
biết ngôn ngữ sẽ bị biến chuyển theo
thời đại; nếu văn tự giống hệt
như ngôn ngữ [thường nhật] th́ người
hiện thời nghe những lời cổ nhân nói sẽ chẳng
hiểu ǵ. Văn tự cổ nhân viết nay ta không có cách
ǵ đọc được, phải t́m chuyên gia, học
giả khảo cổ, mà vẫn chưa chắc thực
sự hiểu được ư nghĩa, đa số
chỉ là suy đoán. V́ thế, lăo tổ tông của
người Hoa thông minh, tách rời ngôn ngữ và văn
tự. Không cần biết ngôn ngữ biến hóa ra sao,
văn tự quyết định không thay đổi. Chiêu
này lợi hại lắm, văn tự là công cụ, dùng
văn tự ghi chép lại những trí huệ và kinh
nghiệm của tổ tiên xa xưa, truyền lại cho
con cháu đời sau, khiến cho con cháu đời sau
đọc đến văn tự cũng giống như tṛ
chuyện trao đổi ở ngay trước mặt nhau.
Đấy là một phát minh hết sức vĩ
đại, cả thế giới có dân tộc nước
nào có được như thế đâu?
Hiện tại người ta
không muốn học nữa, cho là văn chương Văn
Ngôn khó khăn quá. Thật ra, văn chương Văn Ngôn
không khó khăn chút nào hết, vô cùng dễ dàng! Không học
th́ khó, nếu quư vị học rồi sẽ không khó
nữa. Xưa kia tôi đến Đài Loan, tôi c̣n thâu
thập được mười mấy bản, không
nhiều, h́nh như mười hai, mười ba bản
thôi, những bản văn ấy là sách giáo khoa của
học tṛ Tiểu Học thời đầu Dân Quốc.
Trong những sách ấy, có sách dạy học tṛ tiểu
học làm văn thời đầu Dân Quốc, tức là
sách làm văn mẫu. Khi ấy, tôi thường dọn nhà
trôi nổi khắp nơi, những cuốn sách ấy
bị thất lạc, nay ước chừng chỉ c̣n
năm, sáu quyển. Những loại văn chương
dành cho trẻ nhỏ khoảng mười tuổi ấy
nay sinh viên học khoa Văn của đại học
chẳng những viết không được, mà
đọc cũng thấy khó khăn, vẫn phải tra
tự điển t́m tài liệu; chứng tỏ sinh viên
khoa Văn trong đại học hiện thời tŕnh
độ không bằng học tṛ tiểu học thời
đầu Dân Quốc!
Trẻ nhỏ độ
mười tuổi c̣n có thể viết được
văn chương, đương nhiên kinh Phật
đối với bọn chúng chẳng khó khăn ǵ. Kinh
Phật là loại văn Văn Ngôn đơn giản, rơ
ràng nhất. Vào thời đầu Dân Quốc, với tŕnh
độ văn học như vậy, học tṛ Tiểu Học
có thể đọc kinh là v́ khi tổ sư đại
đức dịch kinh, các Ngài đặc biệt dùng
loại văn tự đơn giản, rơ ràng nhất. Trong
văn học sử Trung Quốc, văn tự
được dùng trong kinh Phật được gọi
là Biến Thể Văn. Nếu quư vị đem so với
cổ văn, chẳng hạn như lấy bộ Cổ
Văn Quán Chỉ ra so, bất cứ thiên văn
chương nào trong Cổ Văn Quán Chỉ cũng
phức tạp hơn kinh Phật. Kinh Phật có thể nói
là văn Bạch Thoại của thời ấy, ư các
tổ sư phiên dịch kinh đều mong mỏi kinh
Phật được lưu thông phổ biến,
chẳng bị văn tự gây chướng ngại. Nay
không đọc được văn chương Văn
Ngôn là tăng thêm một tầng chướng ngại. Hiện
nay, trong những điều khó khăn, lại có thêm
một chuyện khó khăn nữa! Hiện thời mọi
người dùng lối viết Giản Thể, không
biết Phồn Thể[7],
khó khăn lại nhiều thêm lên; có phải là rắc
rối lắm hay không? Khiến cho Pháp Bảo thực
sự vô thượng, là sách vở có thể giúp cho chúng ta
giải quyết hết thảy vấn đề thế
gian và xuất thế gian càng ngày càng cách xa chúng ta! Nghĩ
đến điều này đúng là khiến cho người
ta đau ḷng buốt dạ!
Bọn con cháu đời sau
chúng ta quên mất ân đức tổ tiên, không biết
tổ tiên dụng tâm khổ sở, yêu thương con cháu
sâu đậm. Do vậy, nay chúng ta đọc đến
câu “tịnh quang chiếu ngă,
từ thệ nhiếp ngă” ở đây, th́ “thệ” là bốn mươi
tám nguyện, nguyện nào cũng đều nhằm giúp cho
hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, văng sanh Tịnh
Độ, một đời thành Phật. Phật có
nguyện ấy, nay chúng ta có tâm, dùng chân tâm cầu khẩn,
tương ứng với bổn nguyện của A Di
Đà Phật. Phải thực sự tương ứng, chúng
ta phải giống với bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật. Chúng ta đọc tụng kinh
điển mỗi ngày, mỗi lần quư vị đọc
tụng là một lần Phật quang chiếu soi, Phật
quang chiếu rọi quư vị. Quư vị niệm Phật,
mỗi câu Phật hiệu là một lần Phật quang
chiếu đến.
Trong Mật Giáo có Đại
Quán Đảnh, Quán Đảnh nghĩa là ǵ? Trong bản
chú giải Vô Lượng Thọ Kinh, lăo cư sĩ Hoàng
Niệm Tổ đă giảng rất rơ ràng. Cụ vốn
là một vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông,
cụ giảng rất dễ hiểu. Trong từ ngữ Quán
Đảnh, chữ Đảnh (頂) chỉ
cho Phật pháp tối cao, đại pháp vô thượng chí
cao. Quán (灌) là ǵ? Quán là truyền thụ. Nói cách
khác, ư nghĩa thực sự của Quán Đảnh là đem
vô thượng đại pháp truyền cho quư vị th́
gọi là Quán Đảnh. Nay chúng ta biết vô thượng
đại pháp là ǵ? Là Vô Lượng Thọ Kinh, là A Di
Đà Kinh, vô thượng đại pháp đấy!
Vào thời đại Tùy - Đường,
những cao tăng đại đức là tổ sư các
tông phái, hầu như đều công nhận kinh Hoa Nghiêm là
kinh bậc nhất trong hết thảy các kinh do đức
Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, gọi
Hoa Nghiêm là “kinh trung chi vương” (vua của các kinh). Hoa Nghiêm đến cuối cùng
quy về Tịnh Độ. V́ thế, tổ sư
đại đức nói Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, những bộ
kinh lớn ấy đều là những kinh chỉ dẫn [hành
nhân học Phật] hướng về kinh Vô Lượng
Thọ, những kinh to luận lớn chỉ dẫn quư
vị hướng về kinh Vô Lượng Thọ,
dẫn dắt quư vị quay về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Chúng tôi thấy những lời
ấy không sai chút nào, xác thực là như thế, dẫn
dắt về Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Tây phương Cực Lạc thế giới
mới là bậc nhất trong những thứ bậc
nhất, thù thắng khôn sánh.
Khi giới thiệu những bộ
kinh lớn ấy, chúng tôi đă nói rất rơ ràng, chúng ta
đọc kinh Vô Lượng Thọ từ đầu
đến cuối một lượt chính là A Di Đà
Phật và mười phương chư Phật Như Lai
đă quán đảnh cho ḿnh một lượt. Quư vị
đọc hai lần là được quán đảnh hai
lần. Trong một đời này, quư vị
được chư Phật Như Lai quán đảnh
không biết bao nhiêu lần! Thế mà vẫn không khai
ngộ, vẫn cứ hồ đồ! Hăy nghĩ xem! Quư
vị nghĩ xem: Nghiệp chướng sâu nặng quá, hằng
ngày quán đảnh mà quư vị vẫn không khai ngộ. Do
đây phải biết nghiệp chướng, tập khí,
phiền năo đáng sợ! Làm thế nào để tiếp
nhận Phật quang chiếu gội, tiếp nhận
đại pháp quán đảnh? Trong những buổi
giảng, chúng tôi cũng thường nói: “Phải trừ
khử chướng ngại của chính ḿnh!” Chúng ta có
chướng ngại nghiêm trọng, chướng ngại
ḿnh, ḱm hăm ḿnh, Phật quang không chiếu gội
được, không có cách ǵ tiếp nhận quán
đảnh! Tôi thường khuyên các đồng học,
không biết đă khuyên bao nhiêu lần, phải dẹp
trừ ư niệm tự tư tự lợi, buông tự
tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi
dưỡng xuống, buông hưởng thụ ngũ
dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn
xuống. Nếu thực sự buông xuống
được, chướng ngại sẽ không c̣n
nữa, “tịnh quang chiếu
ngă”, thực sự chiếu đến, “từ thệ nhiếp ngă”, thực sự có
sức nhiếp thọ mà quư vị sẽ cảm nhận
được. Đem đảnh pháp (pháp vô thượng)
rưới vào ḿnh, ḿnh cũng cảm nhận
được.
Có thể nói là phiền năo
của quư vị mỗi tháng nhẹ đi, phiền năo
nhẹ đi theo từng tháng, trí huệ tăng
trưởng theo từng tháng, pháp hỷ sung măn, quư vị bèn
hết sức vui vẻ, yêu thích học tập những
pháp môn ấy. V́ sao? Quư vị thực sự
được lợi ích, công phu quả nhiên đắc
lực. Mỗi một tuần quư vị cảm thấy
khác hẳn, tức là tuần nào cũng tiến bộ, rơ
rệt, hiển nhiên. Lúc công phu đạt đến
một mức độ cao, quư vị cảm thấy
như thế nào? Mỗi ngày khác nhau. Ngày hôm nay khác với
ngày hôm qua, ngày hôm qua khác hẳn ngày trước đó,
tiến bộ nhanh chóng! Chỉ cần thực sự
thực hiện, chuyện này mọi người
đều b́nh đẳng, vốn sẵn b́nh đẳng,
vấn đề là quư vị có chịu thực hiện hay
không? Chịu buông xuống hay không? Mấu chốt là ở
chỗ này. Thấy thấu suốt bèn buông xuống, buông
xuống bèn thấy thấu suốt. Thấy thấu
suốt hỗ trợ buông xuống, buông xuống hỗ
trợ thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt là
trí huệ, buông xuống là công phu. Hễ buông xuống tâm
bèn thanh tịnh, tâm thanh tịnh sanh ra trí huệ.
V́ sao không chịu buông xuống?
V́ sao đối với tập khí, phiền năo vẫn tham
đắm như thế? Phải thường ghi nhớ
những ǵ đức Phật giảng trong hội Bát Nhă là
sự thật: “Phàm sở hữu
tướng, giai thị hư vọng” (phàm những ǵ
có h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp,
như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng),
phải thường suy tưởng! V́ sao? Để
đối phó mê hoặc, tham luyến từ vô thỉ
kiếp đến nay. Quư vị không buông xuống
được là v́ mê hoặc, tham luyến, bất cứ
ǵ vẫn muốn giành lấy. Thực sự thấu
hiểu th́ người ta có đưa cho ḿnh, ḿnh cũng
không cần. V́ sao? Hư vọng! Không thật! Vạn pháp
đều không, kể cả thân thể của chính ḿnh
cũng đều hư huyễn, chẳng thể
được! Kinh Bát Nhă giảng rất hay: “Nhất thiết pháp vô sở hữu,
tất cánh không, bất khả đắc” (hết
thảy pháp vô sở hữu, rốt ráo không, chẳng
thể được). Thực sự thực hiện
những lời giáo huấn ấy của đức
Thế Tôn trong cuộc sống thường ngày th́ mỗi
ngày quư vị có tiến bộ, ngày ngày tăng trưởng
trí huệ, giống như trong Đàn Kinh, Huệ Năng
đại sư đă nói, Ngài thưa cùng Ngũ Tổ: “Trong tâm đệ tử
thường sanh trí huệ”. Cảnh giới ấy không
phải là ngày ngày sanh trí huệ, mà là niệm niệm sanh
trí huệ! Đó là hạng người nào vậy? Pháp Thân
Bồ Tát! Minh tâm kiến tánh, niệm niệm sanh trí
huệ, chẳng sanh phiền năo, phiền năo không có,
đoạn sạch sẽ rồi!
V́ thế, ở đây, chúng ta
nhất định phải biết nhất tâm quy mạng,
nhất tâm cầu nguyện, cầu Phật gia tŕ, chúng ta
sẽ tiến bộ rất nhanh. Cầu nguyện th́
tự ḿnh phải có hành động; không có hành động
chỉ nói xuông th́ là hư vọng, chẳng thể có
cảm ứng, phải có hành động. Hành động
như thế nào? Câu tiếp theo sẽ cho biết:
Ngă kim chánh niệm, xưng Như
Lai danh, vị Bồ Đề đạo, cầu sanh
Tịnh Độ.
我今正念。稱如來名。為菩提道。求生淨土。
(Con
nay chánh niệm, xưng danh Như Lai, v́ đạo Bồ
Đề, cầu sanh Tịnh Độ).
Đây là thể hiện ra hành
động, thực sự mong cầu. Niệm Phật
nhằm loại bỏ, xa ĺa tà niệm. Tà niệm là ǵ? Là
tham luyến đối với hết thảy pháp thế
gian và xuất thế gian. Trong những buổi giảng,
chúng tôi thường nói: Đối với hết thảy
người, sự, vật, có ư niệm khống chế, có
ư niệm chiếm hữu, những ư niệm ấy là tà
niệm, đâu phải là chánh niệm! Ư niệm tổn
người lợi ḿnh, ư niệm kiêu mạn, ghen ghét là tà
niệm nghiêm trọng, thảy đều phải buông xuống.
Chánh niệm là ǵ? Nhất tâm quy mạng, phát tâm Bồ
Đề, chuyên cầu Tịnh Độ, đấy là
chánh niệm. Tiếp theo đó lại nói rất rơ ràng: “Xưng Như Lai danh”, chánh
niệm đấy! Trong tâm chỉ có A Di Đà Phật,
đó là chánh niệm. Ư niệm thuần chánh, trừ A Di
Đà Phật ra, quyết định chẳng có một tà
niệm nào xen tạp.
Ta xưng danh, ta cầu văng sanh, ta hy
vọng thành Phật đạo, nhằm để làm ǵ? “Vị Bồ
Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ”. Bồ Đề đạo chính là thấu
hiểu triệt để rốt ráo viên măn chân
tướng của nhân sinh vũ trụ, đó gọi là
Bồ Đề đạo. Hiểu rơ rồi mới
biết: Khắp pháp giới hư không giới chỉ
là chính ḿnh. Ai biết sự thật ấy ? Không ai
biết, chỉ có Pháp Thân Bồ Tát biết. Từ ngữ
lục của Tông Môn, chúng ta nghe những người giác
ngộ nói ra cảnh giới giác ngộ, họ nói: “Hư không pháp giới thị
sa-môn nhất chích nhăn” (Hư không pháp giới là một
con mắt của sa-môn). Nghĩa là sao? Hư không, pháp
giới, sát-độ, chúng sanh và chính ḿnh là một Thể,
gọi là Pháp Thân, thanh tịnh Pháp Thân. Pháp là ǵ? Pháp là
hết thảy các pháp; v́ thế, đối với
người thực sự giác ngộ hiểu thấu th́
hết thảy các pháp là tự thân, là chính ḿnh, “duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến”.
Tâm hiện là Nhất Chân pháp giới,
thức biến là mười pháp giới. Hoàn toàn là chính
ḿnh, giống như nằm mộng. Mộng cảnh hoàn
toàn do chính ḿnh tâm hiện thức biến, không có ǵ là pháp
ngoài tâm cả! V́ vậy, nói: “Tâm
ngoại vô pháp, pháp ngoại vô tâm” (Ngoài tâm không pháp, ngoài
pháp không tâm). Tâm ở đâu? Tâm ở nơi các pháp. Pháp
ở đâu? Pháp do Tâm hiện, Tâm và Pháp là một, không hai. Ngài
A Nan t́m Tâm ở chỗ nào? Nói thật ra, về căn
bản, Ngài cũng không hiểu, chẳng những không
hiểu Chân Tâm, mà cũng không biết vọng tâm. Hiểu
được một thứ th́ hiểu hết thảy. Quư
vị hiểu chân tâm bèn biết vọng tâm. Triệt
để hiểu rơ vọng tâm sẽ thấu hiểu chân
tâm. Vũ trụ là một, sống động, là chính ḿnh.
Chính ḿnh đối với chính ḿnh, lẽ đâu không yêu
thương! V́ thế, Phật pháp nói: “Đồng thể đại từ, vô duyên
đại bi”. Từ bi không có điều kiện,
cũng không có đẳng cấp, b́nh đẳng.
Khắp pháp giới, hư không giới
do chính ḿnh tâm hiện thức biến; v́ thế, trong hết
thảy vạn pháp, vạn vật là chính ḿnh, là tự
phần! Cớ sao không thương tiếc? Ta tiếc quư
tṛng mắt của chính ḿnh, chẳng để cho một
hạt bụi tro nhiễm ô [tṛng mắt]. Ta yêu mến thân
thể ḿnh, nay hiểu rơ rồi, yêu mến hết thảy
cơi nước và chúng sanh trọn khắp pháp giới,
hư không giới. Đấy là Bồ Đề
đạo! V́ vậy, cầu sanh Tịnh Độ chính là
viên măn rốt ráo Phật quả vô thượng Bồ
Đề, ta v́ điều đó mà cầu sanh Tịnh
Độ. Đấy chính là bổn nguyện của Như
Lai, hy vọng hết thảy chúng sanh nhanh chóng thành
Phật, hoàn toàn tương ứng với bổn
nguyện của Như Lai. A! Bây giờ đă hết
giờ rồi!
*
Xin xem tiếp bài Tịnh Độ
Văn của Từ Vân Sám Chủ trong thời thứ ba:
Phật tích bổn thệ: Nhược
hữu chúng sanh, dục sanh ngă quốc, chí tâm tín nhạo,
năi chí thập niệm, nhược bất sanh giả,
bất thủ Chánh Giác.
佛昔本誓。若有眾生。欲生我國。志心信樂。乃至十念。若不生者。不取正覺。
(Phật
xưa đă thề: Nếu có chúng sanh muốn sanh cơi ta, chí
tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm, nếu
chẳng được sanh, chẳng lấy Chánh Giác).
Chúng ta xem đoạn này. Đoạn này
nhắc tới lúc A Di Đà Phật tu hành Bồ Tát đạo.
Từ kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đọc thấy,
sau khi Ngài xuất gia, trở thành tỳ-kheo Pháp Tạng,
đối trước Tự Tại Vương Phật
phát bốn mươi tám nguyện. Chữ “bổn thệ” chỉ bốn mươi tám nguyện.
Mỗi một nguyện trong bốn mươi tám
nguyện đều nhằm dẫn dắt mười
phương thế giới hết thảy chúng sanh văng sanh
Tịnh Độ. Nguyện được nêu ở
đây chính là nguyện thứ mười tám, bốn
mươi tám nguyện quả thật lấy nguyện
thứ mười tám làm trung tâm. Nguyện thứ
mười tám nói ǵ? “Thập
niệm tất sanh” (Mười niệm ắt
được văng sanh). Mười niệm này là
mười niệm lúc lâm chung, giả sử một
người cả đời chưa từng tiếp xúc
Phật pháp, lúc lâm chung có ai dạy kẻ ấy niệm
Phật; kẻ ấy chịu tiếp nhận, thực
sự chịu niệm, cầu nguyện văng sanh đều
được văng sanh, pháp môn này chẳng thể nghĩ
bàn!
V́ thế, ở Nhật Bản nay có
một tông phái mang tên Bổn Nguyện Niệm Phật. Nói
thật ra, cổ nhân, cổ đại
đức đề xướng bổn nguyện niệm
Phật không sai, quyết định chính xác; nhưng con
người hiện tại đề cao bổn nguyện
niệm Phật lại là đầu cơ, mánh khóe, không
thể văng sanh v́ không có thành ư! Bốn mươi tám
nguyện họ không cần biết đến, chỉ
chuyên biết đến nguyện thứ mười tám,
sai lầm rồi! Chúng ta xem lời khai thị của
thiền sư Trung Phong ở phần trên: Phát nguyện! Pháp
môn này là Tín - Nguyện - Hạnh, hội đủ ba
điều kiện. Nguyện phải tương ứng
với bốn mươi tám nguyện, thiền sư Trung
Phong giảng rất rơ ràng, rất minh bạch. Lời
ấy không phải chỉ ḿnh Ngài nói mà tổ sư
đại đức xưa nay đều nói như
thế. Từ giáo pháp Đại Thừa chúng ta hiểu
được ư nghĩa này, kinh Hoa Nghiêm thường nói: “Nhất tức nhất thiết,
nhất thiết tức nhất”
(Một chính là hết thảy, hết thảy chính là
một). Đây là một
nguyên tắc cơ bản bất biến trong Phật pháp.
Do vậy, quư vị phải hiểu: “Mỗi một nguyện trong bốn mươi tám
nguyện nhất định phải bao hàm bốn
mươi bảy nguyện kia, thiếu một nguyện
th́ Nguyện sẽ không viên măn, bị khiếm khuyết!”
Do con người hiện tại không
hiểu đạo lư này, cho là trong bốn mươi tám
nguyện chỉ cần nguyện thứ mười tám là
được rồi, lâm chung mười niệm ắt
văng sanh, những thứ khác không cần đến. Trơ
trọi một ḿnh nguyện ấy, không có bốn
mươi bảy nguyện kia th́ nguyện ấy chẳng
thể thành lập. V́ sao nói cổ đức không sai
lầm? Bốn mươi tám nguyện cổ đức
biết cả, nguyện mười tám này bao hàm trọn vẹn
bốn mươi bảy nguyện kia, dẫu một
nguyện cũng không thiếu, đấy là đúng! Do
vậy, không sai. Người hiện thời không hiểu,
nói khó nghe hơn là dạy chúng sanh sai lầm, [khiến cho] những
chúng sanh hảo tâm ấy cuối cùng chẳng
được văng sanh. Chuyện này xưa nay tổ sư
đại đức không ngừng cảnh tỉnh chúng ta,
chỉ sợ chúng ta hiểu lầm ư nghĩa: [Nhiều người
cứ tưởng] b́nh thời không học Phật, ăn
uống, vui chơi, đến khi lâm chung niệm Phật
là được, cớ ǵ lúc b́nh thường cứ phải
nhọc nhằn? Tợ hồ niệm Phật tiện nghi
như thế đó! Xưa nay đại đức khuyên
dạy chúng ta: Lâm chung mười niệm phải hội
đủ ba điều kiện, lúc lâm chung quư vị có
đủ ba điều kiện ấy hay không?
1) Thứ nhất, lúc lâm chung sáng
suốt, tỉnh táo, không mê hoặc, không điên
đảo, điều này quư vị có làm được
hay không? Quư vị hăy chú tâm quan sát những người
mắc bệnh rất nặng, cái chết gần kề.
Quư vị thấy đại đa số ngay cả người
nhà mà họ c̣n không nhận biết được, mê
hoặc, điên đảo. Trong t́nh huống ấy, thậm
chí một niệm trong mười niệm ấy c̣n không
khởi tác dụng, chẳng thể niệm
được! Con cái, cháu chắt mà họ c̣n không nhận
biết, đều không biết, làm sao biết đến
A Di Đà Phật cho được? Không thể nào! V́
thế điều kiện đầu tiên này hết
sức khó khăn. Lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo là
đại phước báo, quư vị có đạt được
phước báo này hay chăng? Quư vị có đảm
bảo lúc ấy ra đi rất sáng suốt, tỉnh táo hay
không?
Nhất là trong hiện tại, trong xă
hội hiện thời chúng ta thường nghe nói tới
chứng bệnh si ngốc ở tuổi già (Alzheimer’s
disease), mắc bệnh si ngốc lúc tuổi già ấy là
xong, không c̣n hy vọng ǵ nơi Tây Phương Cực
Lạc thế giới nữa. Tây Phương Cực
Lạc thế giới không có người si ngốc, kinh Di
Đà giảng rất rơ ràng: “Bất
khả dĩ thiểu thiện căn, phước
đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân
duyên để sanh về nước ấy). Nói cách khác, phàm
ai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều là người đại thiện căn,
đại phước đức. Đại thiện
căn, đại phước đức th́ làm sao si
ngốc được? Không có đạo lư ấy! Si
ngốc là nghiệp chướng hiện tiền! V́
thế, Phật, Bồ Tát, tổ sư đại
đức dạy chúng ta: Lúc c̣n sống tu phước, tu
huệ. Quư vị có phước, có huệ th́ lúc lâm chung
mới được sáng suốt, minh mẫn, mới không
bị si ngốc. Quư vị hăy nghĩ xem ḿnh có nắm
chắc được điều kiện đầu tiên
này hay không?
2) Điều kiện thứ hai: Trong lúc
khẩn yếu, lúc sắp mất, lúc sắp thở
hắt ra hơi cuối cùng, lúc ấy phải gặp
được thiện tri thức khuyên quư vị niệm
Phật. Lúc đó quư vị có chắc chắn gặp
được người như vậy cảnh tỉnh quư
vị hay không? Nếu lúc ấy không có ai cảnh tỉnh,
dẫu tỉnh táo vẫn không thể văng sanh. Lúc ấy
phải có người cảnh tỉnh, nay chúng ta gọi là
“trợ niệm”. Tự ḿnh có công phu thực sự th́ có
thể không cần đến người khác trợ
niệm; nếu tự ḿnh không có công phu th́ trợ niệm
rất quan trọng, bên cạnh có người cảnh
tỉnh. Đây là điều kiện thứ hai.
3) Điều kiện thứ ba,
người ta cảnh tỉnh, quư vị bèn lập tức
tin tưởng, có thể tiếp nhận, y giáo phụng
hành, nói dễ dàng sao? Phiền năo rành rành, người khác
cảnh tỉnh, khuyên quư vị niệm Phật, vẫn
cứ nửa tin, nửa ngờ, lúc ấy làm sao có thể
tin tưởng được? Làm sao có thể phát
nguyện được? V́ thế, trên mặt lư luận
th́ “mười niệm ắt văng sanh” chẳng có vấn
đề ǵ, chứ xét theo sự thật th́ khó khăn
lắm!
Nhưng trên thực tế, có ai như
vậy hay không? Có chứ! Đúng là trong
vạn
ức người khó t́m được một kẻ! Đối
với người như vậy, tổ sư đại
đức nói rất hay: Chẳng phải là ngẫu nhiên,
người ấy đời đời kiếp kiếp
trong quá khứ đă tu pháp môn Niệm Phật, thiện
căn rất sâu dầy, chỉ v́ trong một đời
này không gặp được thiện duyên, mê hoặc,
đúng là “cận châu giả xích,
cận mặc giả hắc” (gần son th́ đỏ,
gần mực th́ đen), trong một đời này không
gặp được Phật pháp, bị hoàn cảnh
nhiễm ô, nhưng đến lúc lâm chung, có người
cảnh tỉnh như thế, thiện căn và
phước đức sâu dầy trong đời quá
khứ lập tức hiện tiền, bèn tiếp nhận,
ra đi như thế không phải là chuyện ngẫu nhiên!
Cách giải thích này phù hợp lời Thiện Đạo
đại sư đă giảng trong Quán Kinh Tứ Thiếp
Sớ, Thượng Phẩm Thượng Sanh Chương.
Ngài nói văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới bốn cơi, ba bậc, chín phẩm “tổng tại ngộ duyên bất đồng” (toàn
là do gặp duyên khác nhau). Câu nói này rất hay, toàn là do
gặp duyên khác nhau. Suốt một đời này, quư
vị chẳng gặp được thiện tri thức,
không gặp được nhân duyên tốt, dẫu trong quá
khứ có thiện căn và phước đức sâu
dầy vẫn chẳng thể hiện tiền.
V́ thế, chúng ta phải thực sự
nắm vững chuyện văng sanh thế giới Cực
Lạc, lúc lâm chung muốn có thể đảm bảo chính
ḿnh tỉnh táo, sáng suốt th́ phải hạ công phu ngay
trong hiện tại, phải thực hiện công tác
chuẩn bị. Công phu ấy chính là đoạn ác tu
thiện, đoạn ác tu thiện là phước báo. Lâm
chung không bị bệnh khổ rơ ràng là phước báo, quư
vị phải có phước. Hiện thời có
phước đừng nên hưởng, hưởng
hết phước báo ấy th́ lâm chung không có
phước. Hiện tại có phước báo th́ phải
nhường phước ấy cho người khác
hưởng, cúng dường đại chúng, phước
báo càng lớn. Chúng ta mong cầu phước báo đến
lúc nào mới hưởng? Lúc lâm chung sẽ hưởng.
Lúc lâm chung tâm không điên đảo, ư không tán loạn, rơ ràng,
minh bạch, đấy là đại phước báo thù
thắng khôn sánh. Bởi lẽ, thời khắc quan yếu
ấy dính líu đến đời sau, đời sau
phải đi theo Phật đạo chứ không đi vào
lục đạo.
V́ thế, ngàn vạn, ngàn muôn phần chớ
nên hiểu lầm ư nghĩa mười niệm, chẳng
nên có tâm lư cầu may. Hiện tại có không ít kẻ tu
Bổn Nguyện Niệm Phật, tự quư vị phải
suy nghĩ cho kỹ: Tốt nhất là xem kinh, nghe kinh cho
nhiều, thấu hiểu đạo lư này. Pháp thế gian
cầu may c̣n chẳng thể thành tựu, huống chi
đại pháp thành Phật! Tâm cầu may, tâm đầu
cơ, mánh mung, lẽ đâu có chuyện tiện nghi dường
ấy! Chính ḿnh phải suy nghĩ, dẫn dụng thệ
nguyện của Phật, nay nguyện vọng của chúng
ta tương ứng với thệ nguyện của
Phật.
“Nhược
hữu chúng sanh” (nếu có
chúng sanh): Phạm vi rất lớn, lục đạo chúng
sanh trong hết thảy các cơi Phật trọn pháp giới,
hư không giới, chủ yếu là đối với
lục đạo chúng sanh mà nói. “Dục
sanh ngă quốc” (muốn sanh về cơi ta), “dục” là bằng ḷng, là
hướng theo, mong mỏi sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Tiếp đó, kinh văn nói
đến điều kiện quư vị phải hội
đủ: “Chí tâm tín nhạo”
(Chí tâm tin ưa). Chí tâm tin ưa là giống như một câu
văn ngay trong thiên phát nguyện này: “Nhất tâm quy mạng”. Nhất tâm quy mạng
mới là thực sự chí tâm tin ưa. Chí tâm có thể
hiểu là tâm chân thành, cũng có thể hiểu là chí
nguyện, nguyện tâm; chí tâm là nguyện tâm. Ta tin vào Tây
Phương Cực Lạc thế giới, quả thật
có Tây Phương Cực Lạc thế giới, quả thật
có chuyện A Di Đà Phật đến tiếp dẫn
văng sanh, tin chính ḿnh thực sự hội đủ
điều kiện văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Đầy đủ ba thứ tin
tưởng như vậy mới gọi là tín tâm thành
tựu. “Nhạo” (樂) là ưa thích, hoan hỷ, tức là có Tín,
có Nguyện. Trong Di Đà Yếu Giải, đại sư
Ngẫu Ích bảo chúng ta: Điều kiện để
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là tín -
nguyện: “Chân tín, thiết nguyện,
tất định đắc sanh” (Ḷng tin chân thành,
nguyện thiết tha, nhất định được văng
sanh). Tiếp đó, Ngài nói công phu niệm Phật sâu hay
cạn liên quan đến phẩm vị sẽ cao hay thấp.
Người có công phu niệm Phật sâu th́ phẩm vị
cao, người có công phu niệm Phật cạn th́
phẩm vị thấp. Phẩm vị cao hay thấp là do
công phu niệm Phật sâu hay cạn: “Đắc sanh dữ phủ, tại tín nguyện chi
hữu vô” (Được văng sanh hay chăng là do tín - nguyện
có hay không?). Đối với ba điều kiện Tín -
Nguyện - Hạnh ấy, lâm chung mười niệm th́
mười niệm chính là Hạnh, cũng đầy
đủ Tín - Nguyện - Hạnh; dẫu cho lâm chung một
niệm th́ niệm ấy cũng là Hạnh, ba điều
kiện được tương ứng.
Hai câu sau chúng ta nghe đă quá quen, rất
quen thuộc: “Nhược bất
sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (Nếu [hành nhân Tịnh
Độ đă đầy đủ những điều
kiện như đă nói trên đây] mà chẳng
được sanh [về Cực Lạc], chẳng lấy
Chánh Giác). [A Di Đà] Phật đă từng phát nguyện
như thế, nếu ai hội đủ những
điều kiện ấy mà không thể văng sanh th́ Pháp
Tạng Bồ Tát chẳng thành Phật, “thành Chánh Giác” chính là thành Phật. Pháp Tạng
Bồ Tát nay đă thành Phật nơi Tây Phương
Cực Lạc thế giới, thành A Di Đà Phật, thành
Phật đến nay đă mười kiếp. Nói cách
khác, nguyện nào trong bốn mươi tám nguyện của
Ngài cũng đều được thực hiện hoàn
tất; nếu c̣n một nguyện nào chưa hoàn tất,
Ngài không thể thành Phật. Câu nói này có ư nghĩa rất sâu,
nhất định phải hiểu: Một nguyện chưa
hoàn tất th́ chẳng thể thành Phật, chứ không phải
chỉ có một nguyện thứ mười tám. Ở đây,
thiền sư Trung Phong khai thị rất hay: Nếu nhất
định tương ứng với mỗi nguyện
trong bốn mươi tám nguyện th́ quư vị sẽ
tương ứng với nguyện thứ mười tám.
Sao lại có thể chuyên giữ lấy một nguyện,
vứt bỏ bốn mươi bảy nguyện kia, A Di
Đà Phật làm sao thành Chánh Giác cho được? Nghĩa
lư kinh Phật luôn giảng hết sức viên măn, chính chúng
ta phải chú tâm đọc tụng, quan sát, chẳng
thể nh́n lệch lạc. Nếu quư vị nh́n lệch
lạc, hiểu sai, nguyện vọng muốn sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới trong một đời
này sẽ chẳng đạt được, uổng công mất
rồi! Chúng ta lại xem đoạn văn tiếp theo:
Dĩ thử niệm Phật nhân duyên,
đắc nhập Như Lai đại thệ hải
trung.
以此念佛因緣。得入如來大誓海中。
(Do nhân
duyên niệm Phật này được vào trong biển
đại thệ của Như Lai).
Do đức Phật đă từng phát
nguyện ấy, nay chúng ta phát tâm tương ứng
với bổn nguyện của A Di Đà Phật, nay chúng
ta nghiêm túc niệm Phật. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật xuất
hiện trong thế gian này, giảng kinh, thuyết pháp
bốn mươi chín năm nhằm mục đích giúp cho
chúng ta trong một đời viên măn thành Phật.
Đấy là tấm ḷng của đức Phật, là ư
của đức Phật. Thế nhưng đức Phật
giáo hóa chúng sanh hy hữu nhất là tùy duyên, đức Phật
không phan duyên. Từ mười nguyện của Phổ
Hiền Bồ Tát trong kinh giáo, quư vị thấy “tùy hỷ công đức,
hằng thuận chúng sanh”. Tùy hỷ, hằng thuận,
Phật chẳng mảy may miễn cưỡng hết
thảy chúng sanh. V́ thế, quư vị thích pháp môn nào, Ngài
giảng cho quư vị pháp môn ấy. Quư vị thích tu pháp nào,
Ngài dạy quư vị tu pháp môn ấy. Ngài không nói pháp môn này
hay hơn pháp môn nọ, trong hết thảy kinh điển
quư vị chưa hề thấy đức Phật nói
như vậy. Tùy thuận căn tánh của mỗi
người, tùy thuận duyên phận của mỗi
người từ vô thỉ kiếp đến nay.
Mỗi cá nhân trong một đời,
như nay chúng ta ưa thích pháp môn này, chẳng phải là
chuyện trong một đời này đâu nhé! Trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ đă từng tu
học pháp môn này, vừa được tiếp xúc bèn sanh
ḷng hoan hỷ, các pháp môn khác quư vị tiếp xúc rất
nhiều, nhưng tâm hoan hỷ không sanh khởi, v́ nguyên nhân
nào? V́ cảm thấy không thân thuộc. Từ trước
đến nay chưa từng qua lại, c̣n pháp môn này
rất quen thuộc. Bởi vậy, hết thảy chúng
sanh căn tánh không giống nhau, chí thú khác nhau, yêu thích khác
nhau, đức Phật có thể tùy thuận bởi tâm
Phật thanh tịnh. Đức Phật làm như thế,
đúng là độ chúng ta. V́ sao chúng ta chẳng thể
tự độ ḿnh? Ta đối với pháp môn này hoan
hỷ, khuyên người khác cũng tin theo pháp môn này,
người ấy cũng tin theo pháp môn này. Nếu lúc
người ấy không tin, chính ḿnh sanh phiền năo là xong
rồi! Phiền năo tập khí vừa hiện khởi bèn bị
đọa lạc. Quư vị phải giống như
đức Phật, tấm ḷng mở rộng, tùy thuận
ḷng người ta ưa thích, mới tốt! Bất
luận học pháp môn nào cũng tốt cả, không có ǵ chẳng
tốt. Quư vị thấy bụng dạ của ḿnh rộng
răi hơn nhiều, thanh tịnh b́nh đẳng lắm;
như vậy là tự độ.
Sự thị hiện của đức
Phật mang ư nghĩa rất sâu, khiến cho chúng ta trông
thấy bèn giác ngộ, chúng ta phải học theo
đức Phật, chớ có chấp trước. Nếu
người ta muốn học theo những pháp môn khác, ta có
năng lực giúp đỡ kẻ đó, như Thích Ca Mâu
Ni Phật có năng lực: Quư vị muốn học Thiền
bèn dạy Thiền, mong học Mật bèn dạy Mật,
muốn học Luật bèn dạy Luật, bất luận
muốn học pháp môn nào, đức Phật đều có
năng lực dạy, toàn tri toàn năng! Do vậy, đức
Phật có thể phổ độ chúng sanh, chúng ta không có
được trí huệ và năng lực như thế,
chỉ có thể học pháp môn này.
Người khác muốn học những
pháp môn khác, chúng ta bèn giới thiệu người khác cho họ.
Trong phần trên, tôi đă nêu thí dụ rồi đó: Có ai
muốn học Thiền, tôi đều giới thiệu
đến học với pháp sư Thánh Nhất, tôi
biết Ngài là bậc đại đức trong Tông Môn. Ngài
là một vị pháp sư giỏi, chuyên tu, chuyên môn tham
Thiền. Tôi hết sức kính ngưỡng Ngài. Quư vị muốn
học Thiền tôi đều giới thiệu đến
chỗ Ngài học. Muốn học Duy Thức, trong quá
khứ tôi giới thiệu đến học với pháp
sư Diễn Bồi, Ngài chuyên tu học Pháp Tướng
Duy Thức Tông. Tôi giới thiệu người khác, không nhất
định cứ phải lôi kéo: “Pháp môn ấy tu không
tốt đâu, chẳng bằng pháp môn này đâu!” Chẳng
thể nói như vậy được, nói như thế
không phải là ư Phật. Nói như vậy th́ trong tâm ḿnh
phải mang gánh, mang gánh những ǵ? Gánh lấy nhân quả,
tâm của chính ḿnh không thanh tịnh, b́nh đẳng.
“Pháp môn
b́nh đẳng, không có cao - thấp”, bất b́nh đẳng là v́ chúng sanh
căn tánh không b́nh đẳng, phước đức
của chúng sanh bất b́nh đẳng, nhân duyên của chúng
sanh bất b́nh đẳng, chứ pháp môn quyết
định là b́nh đẳng. Ḿnh là hạng người
căn tánh như thế nào, pháp môn nào thích hợp cho ḿnh,
tự ḿnh phải hiểu rơ ràng, thâm nhập một môn,
trường thời huân tu, không ai chẳng thành công. Nếu
quư vị muốn thành tựu, viên măn thành Phật trong một
đời này, quyết định phải buông bỏ
hết thảy ô nhiễm thế gian và xuất thế gian,
phải buông tập khí phiền năo xuống. Những
thứ ấy chướng ngại tâm tánh và sự tu
học của chúng ta. Người thực sự học
đạo công phu đắc lực, tâm cảnh của người
ấy vĩnh viễn thanh tịnh, vĩnh viễn khoái
lạc, quyết định chẳng nẩy sanh phiền
năo.
Không những học đạo, mà
những Nho sĩ đọc sách ở Trung Quốc trong quá
khứ, họ đọc sách cũng hiểu rơ đạo
lư! Quư vị thấy Luận Ngữ là sách ghi chép ngôn
hạnh cả một đời của Khổng phu
tử, câu thứ nhất là: “Học
nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học
rồi thường tu tập, cũng chẳng vui ư?)
Từ kinh nghiệm một đời của Khổng lăo
phu tử, tất cả hết thảy pháp trong thế gian
này, nay chúng ta gọi là tất cả hết thảy
nghề nghiệp thế gian, tất cả hết thảy
sự nghiệp, nghề ǵ tốt nhất? Quư vị hăy xem
điều tâm đắc của Khổng lăo phu tử lăo
nhân gia, Ngài nói: “Ngô
thường chung nhật bất thực” (Ta
thường suốt ngày không ăn), ta cả ngày không
ăn cơm, “chung dạ bất tẩm” (suốt
đêm không ngủ), “dĩ
tư” (để
suy nghĩ), suy nghĩ rất kỹ, nghĩ đến
rốt ráo, “bất như
học dă” (không ǵ bằng học cả). Đấy
chính là sự sung sướng nhất trong thế gian,
bất cứ sự nghiệp nào, bất cứ nghề
nghiệp nào chẳng bằng học! Học xong là dạy!
Nói như bây giờ là theo đuổi nghề dạy
học, nghề này thanh cao, nghề ấy vui sướng, “học nhi thời tập chi,
bất diệc duyệt hồ”. Trong nền giáo dục
thời cổ, học những ǵ? Học theo hiền thánh,
đọc sách chí muốn làm hiền thánh. Cổ nhân Trung
Quốc đọc sách cầu học nhằm mục
đích ǵ? Mục đích là muốn chính
ḿnh trở thành thánh nhân, thành hiền nhân; mục đích
ấy chính xác, nhà Phật chúng ta gọi là “chuyển phàm thành thánh”.
Cả một đời đức
Phật dạy dỗ, theo đuổi công tác dạy
dỗ, mục đích dạy dỗ của Phật chúng ta
có thể quy nạp thành ba câu. Câu thứ nhất là giúp cho
hết thảy chúng sanh “chuyển
ác thành thiện”, đấy là mức thấp nhất,
nhằm nói với mọi người b́nh thường.
Những ai thiên phận cao hơn một chút, thông minh linh
lợi th́ giúp cho họ “chuyển
mê thành ngộ”. Kẻ lợi căn bậc nhất th́
thành tích cao nhất, nâng cao hơn một bậc nữa,
giúp cho họ “chuyển phàm
thành thánh”, đấy là mục đích giáo dục. Ngày
nay phiền phức rất lớn, hiện thời giáo
dục không c̣n nữa, trường học rất
nhiều, nhưng dạy điều ǵ? Dạy danh văn
lợi dưỡng. Trường học ngày nay nhắm tới
mục đích cầu danh, cầu lợi, chứ không
phải là làm hiền làm thánh, giáo dục hiền thánh không
c̣n nữa. Do vậy thế giới động loạn,
tai nạn dồn dập, rất nhiều tôn giáo ngoại
quốc nói đến chuyện tận thế. Chúng ta
thấy hiện tượng xă hội hiện thời
đúng là giống như những điềm báo
trước ngày tận thế, rất đáng sợ!
Giáo dục của Trung Quốc lẫn
ngoại quốc trong mấy ngàn năm đều lấy
thánh học làm chủ đạo, tức là học làm thánh,
làm hiền là chuyện sung sướng nhất. Bởi
thế, “học nhi thời tập
chi, bất diệc duyệt hồ?” (học rồi
thường tu tập, cũng chẳng sướng sao), pháp
hỷ sung măn. “Hữu bằng
tự viễn phương lai, bất diệc lạc
hồ?” (Có bạn từ xa đến, cũng chẳng
vui sao?) “Bằng” (朋) ở đây là ai? Là người
truyền pháp. Học thuật, đạo đức
của quư vị có người kế thừa, vui
sướng lắm! Sự nghiệp nơi pháp thế gian
phải có người kế thừa, sự nghiệp
của quư vị thực sự có thành tích. Dẫu một
đời quư vị làm tốt đến cách mấy,
về sau không có ai kế thừa, ḿnh mất đi là xong,
sự nghiệp thành tích cũng như không. Đạo
học cũng thế, đạo học phải có người
kế thừa, có truyền nhân. Truyền thừa quan
trọng nhất, đời đời truyền nhau. Ở
Trung Quốc, trong nhà Phật có rất nhiều tông phái là
tổ tổ tương truyền, cái được
truyền là đạo, là đức. Cận đại,
trong thế kỷ này, dường như đă đoạn
tuyệt, đều là hiện tượng của ngày tàn.
Ấn Quang đại sư là
Đại Thế Chí Bồ Tát từ Tây Phương
Cực Lạc thế giới tái lai, đại từ,
đại bi, hy vọng cứu văn kiếp nạn này, Ngài
dùng phương pháp ǵ để cứu văn? Ngài dạy chúng
ta trong thời kỳ Mạt Pháp học tập tổng
cương lănh, tổng nguyên tắc gồm mười sáu
chữ “đôn luân, tận
phận, nhàn tà, tồn thành, tín nguyện niệm Phật,
cầu sanh Tịnh Độ” (giữ vẹn luân thường,
tận hết trách nhiệm, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành,
tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ). Tổ sư Tịnh
Độ Tông dạy như vậy đó! Đối
với quảng đại quần chúng, dù không tu Tịnh
Độ đi nữa, tu theo những tông phái khác, hai câu
đầu nhất định phải tuân thủ. “Đôn luân, tận phận, nhàn
tà, tồn thành” chính là đạo đức. Đôn luân
tận phận là đạo, đại đạo; nhàn tà
tồn thành là đức. Bất luận tu học một tông
phái nào, chẳng thể không có đạo đức. Không
có đạo đức th́ chẳng phải là Phật pháp,
mà là ma pháp!
Đối với sự truyền
thừa Phật pháp, Ngài nói hết sức hay: Lập
đạo tràng nhỏ, đồng tu không được
quá hai mươi người, không hóa duyên, nhất
định phải nhớ điều này, quyết
định chẳng được hóa duyên, chẳng
được quyên mộ. V́ sao? Tâm định.
Thường phải động cân năo để hóa duyên,
để quyên mộ, tâm sẽ vĩnh viễn không
định, tâm không định là xong luôn! Tâm muốn
định th́ đừng hóa duyên, không làm pháp hội, không
truyền pháp, không thâu đồ đệ, không truyền
giới, không làm kinh sám Phật sự, chuyên môn niệm
Phật tu Tịnh Độ. Phương pháp này hay
lắm, tâm quư vị định được. Chúng tôi là
truyền thừa trực tiếp của Ấn Quang
đại sư, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam thầy tôi là
học tṛ của pháp sư Ấn Quang, chúng tôi
được truyền thừa từ cùng một
mạch, quyết định tuân thủ sự giáo huấn
của thầy. V́ thế cái đạo tràng nhỏ này của
chúng ta xây cất sắp hoàn tất, đạo tràng nhỏ
bé như vậy, chúng thường trụ tuân theo nguyên
tắc của thầy “không quá hai mươi người”,
đấy là nói về chúng xuất gia chúng tôi không đông
hơn hai mươi người. Mọi người khéo ở
cùng một chỗ niệm Phật, dạy học.
Niệm Phật là v́ chính ḿnh, để
chính ḿnh được văng sanh. Dạy học là truyền
pháp, chúng tôi hy vọng thánh giáo của Như Lai
được truyền từ đời này sang
đời kia, có người kế tục. Học Giáo là
ngày ngày giảng kinh, hằng ngày giảng kinh có khó khăn,
v́ sao? Viết bài giảng không kịp. V́ thế, trong
đạo tràng nhỏ này của chúng ta, học Giáo th́
mỗi tuần tối thiểu giảng kinh hai lượt,
quư vị lên giảng đài giảng hai lần. Mỗi
lần giảng hai tiếng, hai lần là bốn tiếng.
Mỗi tuần là bốn giờ, đại khái quư vị có
thể soạn bài giảng được. Một giờ
phải viết một vạn chữ, một tuần
viết bản thảo dài bốn vạn chữ
được. Thường trụ có chuyện ǵ quư vị
cũng không quan tâm tới, chuyên môn học kinh giáo, lên ṭa
giảng cho mọi người chúng ta nghe. Mọi
người chúng ta nghe không vừa ư, quư vị bèn bị
gạch tên, bỏ tên quư vị ra, lại có người
khác muốn học bèn bổ sung vào đó. Danh sách ghi tên
đủ rồi, người ngoài muốn tham dự
cũng không ghi tên được, khác nào chúng ta khai trừ.
Do vậy, nếu quư vị không dụng công th́ không phải
là chân chánh học Giáo, không dụng công nơi học
vấn, nơi đạo đức, rất dễ bị
khai trừ!
Xưa kia, Huệ Viễn đại
sư ở Lô Sơn có Tuyển Phật Điện
để tuyển lựa. Ở đây, chúng ta cũng
tuyển Phật, không hội đủ tŕnh độ bèn
bị đào thải. V́ thế, quư vị nhất
định phải dụng công, chẳng thể có tạp
niệm, cũng chẳng thể có tạp sự. Người
đến hầu hạ, phục vụ cho quư vị đông
dường ấy, nếu quư vị không thành tựu
đạo đức, học vấn, tức là ḿnh coi
thường những người ấy, quư vị chỉ
đành nhanh chóng ra đi, nhường chỗ cho
người khác. Ở đây không nói chuyện t́nh cảm,
nếu nói t́nh cảm th́ Phật pháp bị hủy diệt
do chính quư vị, chúng ta cần phải nghiêm ngặt tuân
thủ giáo huấn của tổ Ấn Quang, hy vọng
trong ṿng mười năm ở nơi đây sẽ có
được mấy nhân tài xuất hiện. Không cần
nhiều! Có được dăm ba vị là chúng ta thành
công rồi. Phải khổ luyện, khổ học!
Chúng ta do nhân duyên niệm Phật này “đắc nhập Như Lai
đại thệ hải trung” (được vào trong
biển đại thệ của Như Lai), tức là bốn
mươi tám nguyện. Tâm nguyện, tư tưởng,
hành tŕ của chúng ta tương ứng với Phật tức
là tương ứng với kinh giáo. Kinh điển
dạy chúng ta như thế nào, chúng ta đều phải
thực hiện, phải làm cho được. Có như
vậy th́ mới có thể tương ứng với
từng nguyện trong bốn mươi tám nguyện, tương
ứng chính là “nhập Như
Lai đại thệ hải trung” (vào trong biển
đại thệ của Như Lai). Nếu tương
ứng với bốn mươi tám nguyện mà chỉ
tương ứng được một nửa, c̣n
một nửa vẫn chưa tương ứng th́ không
được rồi! Nguyện nào cũng tương
ứng, chẳng thể có nguyện nào không tương
ứng, đấy mới là “nhập
Di Đà nguyện hải”. Lúc ấy đương nhiên
sẽ...
Thừa Phật từ lực, chúng
tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng.
承佛慈力。眾罪消滅。善根增長。
(Nương
từ lực Phật, các tội tiêu diệt, thiện
căn tăng trưởng).
Đây là điều khẳng
định. Được từ lực của Phật gia
tŕ. Từ lực nào của Phật gia tŕ? Chính là kinh giáo
của Phật gia tŕ. Chúng ta biến những tư
tưởng trong kinh giáo thành tư tưởng của chính
ḿnh, b́nh thường chính ḿnh suy nghĩ lung tung nay
đều buông bỏ hết. Buông xuống những thành
kiến của chính ḿnh, buông xuống cách nghĩ và cách nh́n
của chính ḿnh; cách nói và cách làm tùy thuận lời giáo
huấn của Phật, tùy thuận kinh giáo, biến
những đạo lư trong kinh giáo thành tư tưởng
của chính ḿnh. Những giáo huấn trong kinh giáo biến
thành hành vi sinh hoạt của chính ḿnh. Đó là “học Phật”, học
giống lắm. Phật là tấm gương, là khuôn
mẫu cho chúng ta, ta phải học giống hệt như
Ngài. Dù chẳng thể học hoàn toàn giống hệt
như Ngài, nhưng cũng phải tương tự.
Học như vậy th́ mới chẳng luống uổng! Chúng
ta tiếp nhận mười phương tín chúng cúng dường.
Tôi vừa mới nói rồi đó, nếu chẳng đạt
đến cảnh giới ấy th́ như cổ nhân đă
nói rất hay:
Thí chủ
nhất lạp mễ,
Đại
như Tu Di sơn,
Kim sanh
bất liễu đạo,
Phi mao
đới giác hoàn!
(Một hạt gạo thí chủ,
To như núi Tu Di,
Đời này không liễu đạo,
Mang lông, đội sừng đền!)
Quư vị mắc quả báo, lúc chịu
xong quả báo, vẫn phải đền nợ. Những
năm qua, trong những buổi giảng chúng tôi thường
nói: “Một bát cơm xuất
gia khó nuốt lắm, khó hơn kẻ ăn mày xin cơm
nhiều!” Kẻ ăn mày xin cơm được
người ta thí cho, không phải đáp đền. C̣n
ở đây là người ta đến trồng
phước. Tam Bảo là ruộng phước, họ
đến gieo phước! Quư vị có phải là
phước điền hay không? Người ta có thực
sự gieo phước được hay không? Nếu
người ta không gieo phước được,
người ta sẽ tính sổ với ḿnh. Do vậy,
ở đây “thừa Phật từ
lực” (nhờ vào từ lực của Phật). Phải
biết: Từ lực của Phật chính là kinh giáo, quang
minh của Phật cũng chính là kinh giáo. Ngày ngày chẳng
tách rời kinh giáo, ngày ngày đọc kinh, ngày ngày nghiên
cứu kinh giáo, ngày ngày ở đây nghiên cứu, thảo
luận kinh giáo, phóng quang đấy! Phật phóng quang
phổ chiếu nơi đây!
“Chúng tội
tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng” (các tội tiêu diệt, thiện căn
tăng trưởng): Hai câu này suy nghĩ sẽ biết
ngay. Quư vị buông bỏ những tập khí phiền năo
nơi bản thân, hết thảy tùy thuận lời giáo
huấn của Phật, đương nhiên tội tiêu
diệt, tự nhiên thiện căn tăng trưởng!
Thiện căn là ǵ? Tội là ǵ? Gốc của tội là
tham - sân - si; bởi thế, tam độc phiền năo là
tội căn (gốc tội). Thiện căn là ǵ? Tương
phản với tội căn là thiện căn. Vô tham, vô
sân, vô si là ba thiện căn. Tham - sân - si trừ rồi, vô
tham, vô sân, vô si hiện tiền, tất cả hết
thảy thiện pháp thế gian đều sanh khởi
từ ba thiện căn này. Tham - sân - si không c̣n, phiền
năo bèn đoạn, tội bèn diệt. Điều này các
đồng học chúng ta phải hằng ngày phản
tỉnh, hằng ngày phải kiểm điểm.
Thực hiện công khóa sáng tối, khóa
sáng tụng kinh nhằm lay tỉnh chính ḿnh. Quư vị nh́n
vào nghi thức tụng niệm của chúng ta sẽ
hiểu ngay, Tịnh Tông Học Hội thành lập, tôi cho
soạn một cuốn nhật tụng, bản khóa
tụng này do thầy Ngộ Hạnh phụ trách, tôi
bảo thầy ấy soạn. Kinh đọc trong khóa sáng
là bốn mươi tám nguyện [trích từ] kinh Vô
Lượng Thọ. Nói đến đây, trong tâm quư vị
vỡ lẽ, bèn hiểu rơ v́ sao lại dùng bốn
mươi tám nguyện làm kinh văn khóa sáng? Khóa tối
chúng tôi dùng phẩm ba mươi hai đến phẩm ba
mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ, tôi
chỉ chọn hai đoạn kinh văn ấy. Khóa sáng
để cảnh tỉnh chính ḿnh, suốt ngày hôm nay tư
tưởng và hành tŕ của chính ḿnh phải tương
ứng với bốn mươi tám nguyện. Kinh văn
khóa tối là Ngũ Giới, Thập Thiện khiến cho
chúng ta phản tỉnh, đức Phật dạy chúng ta
làm như thế nào, chúng ta có làm được hay không? Đức
Phật bảo chúng ta đừng làm, chúng ta có trái phạm
hay không? Đấy là tu sám hối!
Đức Phật dạy chúng ta làm ǵ mà
nếu chúng ta chưa làm, ngày mai nhất định
phải làm. Phật dạy chúng ta không được trái
phạm điều ǵ, chúng ta phạm phải th́ ngày mai
nhất định phải răn dè. Đấy chính là công
đức của khóa tụng sáng tối, khóa tụng sáng
tối nhằm diệt tội sanh thiện. Khóa tụng
sáng tối không phải là để niệm cho Phật,
Bồ Tát nghe. Đối trước Phật, Bồ Tát
tụng khóa niệm sáng tối với ư nghĩa nhờ
Phật, Bồ Tát trông chừng, đốc thúc, chứng
minh cho chúng ta: Ta có y giáo phụng hành hay không? Đó chính là “thừa Phật từ lực” (nương
vào từ lực của Phật) gia tŕ, thực sự gia
tŕ, không giả chút nào, trong đây không có mảy may mê tín.
Phật, Bồ Tát dùng sự giáo huấn để gia tŕ
chúng ta, bản thân chúng ta vui vẻ tiếp nhận giáo
huấn, sửa lỗi, đổi mới, đổi mê
thành ngộ, chẳng phải là được gia tŕ đó
ư? Huân tập trong một thời gian dài, hằng ngày
thực hiện, chẳng bỏ sót ngày nào.
Chúng ta phiền năo tập khí nặng
nề, sức dụ dỗ, mê hoặc bên ngoài quá lớn.
Một ngày không tu tập, tâm bèn biến đổi; ba ngày
không tu tập, chắc chắn toàn bộ tập khí ác
đều hiện hành, quư vị tạo tội nghiệp,
ắt đọa tam đồ. Trong xă hội thời
xưa vẫn duy tŕ mỗi nửa tháng tụng giới,
đấy chính là quy củ Phật môn. Vào thời ấy th́
được, chứ hiện tại không
được, bây giờ mỗi nửa tháng tụng
giới một lần không có tác dụng chút nào hết!
Phải như thế nào? Ngày ngày tụng, chúng tôi đem
phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi
bảy của kinh Vô Lượng Thọ đặt làm khóa
tối, v́ đoạn này là giới luật, hằng ngày
phải tụng giới, ngày ngày phải phản tỉnh, ta
đă làm được hay chưa? Quư vị hiểu rơ ư
nghĩa này, mới hiểu lời giáo huấn và văn
tự của cổ nhân, quư vị thực sự học, làm
sao không được thọ dụng? Kẻ thông minh lanh
lợi, trong một đời nhất định
chuyển phàm thành thánh chẳng phải là chuyện giả.
Bây giờ hết giờ rồi!
Tập
54
Xin xem từ nửa đoạn sau bài
Tịnh Độ Văn của pháp sư Từ Vân trong
thời thứ ba:
Nhược lâm mạng chung, tự tri
thời chí, thân vô bệnh khổ, tâm bất tham luyến, ư
bất điên đảo, như nhập Thiền
Định.
若臨命終。自知時至。身無病苦。心不貪戀。意不顛倒。如入禪定。
(Nếu
sắp mạng chung, tự biết lúc mất, thân không
bệnh khổ, tâm không tham luyến, ư chẳng điên
đảo, như nhập Thiền Định).
Đến đây là một tiểu
đoạn. Mỗi một người thọ mạng
trong thế gian dài hay ngắn đều là nhất
định, phàm phu hoàn toàn bị nghiệp lực làm
chủ, cũng có thể nói là nghiệp báo. Nếu thực
sự hiểu rơ nghiệp báo, tự nhiên sẽ coi nhẹ
sanh tử, chẳng tham sống sợ chết; bởi
lẽ, quả báo của nghiệp nhân này đă hết,
nghiệp nhân tiếp đó lại sanh khởi, giống
như thực vật đơm hoa, kết trái, quả chín
nẫu th́ phải rụng. Trong quả lại có nhân: Trong
quả có hạt, hạt chính là nhân, nhân rơi xuống
đất, đại địa là duyên, lại đâm
rễ, lại nẩy mầm, tương lai lại đơm
hoa kết quả, đó chính là quả báo lần thứ
hai. Nhân quả tuần hoàn vĩnh viễn không ngưng
dứt, trong nhân có quả, trong quả có nhân.
Chúng ta hiểu được
đạo lư như vậy, tâm không hề có mảy may kinh
sợ sanh tử, quư vị sẽ như thế nào?
Nhất định phải gieo thiện nhân trong lần
quả báo này. Quả báo lần này như quả đào
chẳng hạn, nay quư vị đă có quả ấy. Quả
ấy đă tăng trưởng thành quả đào, nhưng
vẫn chưa chín rục. Chín rục th́ phải rụng
xuống, giống như chính cái cây ấy tự gạt
bỏ đi, không cần ai hái. Trong quả đào có hạt,
tức là lại có nhân, đấy là nhân đă tạo trong
một đời này, nhân ấy phải tốt! Nhân
tốt th́ quả báo lần sau chẳng thể không thù
thắng hơn, càng tốt đẹp hơn! Nếu Nhân
không tốt, Quả cũng không tốt. Do vậy, hễ hiểu
rơ đạo lư này, chắc chắn sẽ không làm càn, làm xằng, quyết định ghi
nhớ giáo huấn của cổ thánh tiên hiền, kinh
nghiệm, trí huệ của họ chúng ta đều
hấp thụ, biến thành trí huệ, thành kinh nghiệm
của chính ḿnh, sáng tạo tiền đồ tốt
đẹp cho ḿnh trong đời sau; như vậy là chính
xác! Đó là lục đạo phàm phu.
Nếu là Phật, Bồ Tát, A La Hán, là những
bậc chánh giác ứng hóa trong thế gian này th́ các Ngài sẽ
chẳng do nghiệp lực mà do nguyện lực. Các Ngài
đến trong nơi này chẳng v́ chuyện ǵ khác, không
thọ quả, mà đến để giáo hóa chúng sanh,
đến để diễn tuồng: Nêu gương cho
hết thảy chúng sanh, đoạn ác tu thiện, phá mê khai
ngộ, ĺa khổ được vui, siêu phàm nhập thánh, nêu
gương như thế cho đại chúng xem. Như vậy,
trong thế gian các Ngài có thọ mạng hay không? Vẫn có!
Thọ mạng dựa vào đâu? Dựa vào duyên! Duyên nói
theo như bây giờ nghĩa là Ngài ở nơi nào diễn
nói, biểu diễn, thuyết pháp, có người tiếp
nhận hay không, có người vui thích nghe, thích học
tập hay không? Nếu có th́ là hữu duyên; nếu không có,
duyên ấy bèn hết. Duyên tận, Ngài ra đi. Có duyên bèn
trụ thế; không duyên bèn tách ĺa, ẩn mất, đi qua thế
giới khác.
Chúng ta biết vũ trụ to lớn,
thế giới vô lượng vô biên, Ngài đắc
đại tự tại, thế giới nào có duyên bèn vào
thế giới ấy; Ngài không có nghiệp. V́ sao không có nghiệp?
V́ đâu mà không có? Không có ư niệm tự tư tự
lợi th́ nghiệp không c̣n nữa. Đây là nói tổng
quát. Ai không có ư niệm tự lợi, không có ư niệm
tự tư, bèn không có Nghiệp. Tự tư tự
lợi đều không có, quư vị nghĩ xem c̣n có danh
văn, lợi dưỡng nữa hay không? C̣n có ngũ
dục, lục trần hay không? C̣n có tham, sân, si, mạn nữa
hay không? Đương nhiên cái ǵ cũng không có. Tự
tư tự lợi giống như rễ cây, danh văn,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân,
si, mạn là cành, lá, hoa, quả. Rễ đă không có th́
hết thảy đều không có.
Do vậy, Phật pháp coi trọng Vô Ngă;
kinh Kim Cang nói Bồ Tát khác với phàm phu ở chỗ
Bồ Tát không có Ngă Tướng. Nói thật ra, bốn
tướng (nhân tướng, ngă tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng) đều có cội rễ là
Ngă Tướng. Đă không có ta, nào c̣n có người? Há c̣n
có chúng sanh, thọ mạng nữa ư? Ba tướng sau
chẳng phải đều từ Ngă Tướng sanh
khởi hay sao? Ngă Tướng là rễ; bởi thế,
không có Ngă th́ thứ ǵ cũng không có. Nay chúng ta nói
đến phiền năo, ư niệm tự tư, tự
lợi không có th́ tất cả hết thảy phiền năo,
nghiệp chướng tập khí đều không có, chúng đều
do từ Ngă tướng mà có! Đấy chính là lằn ranh
phân định giữa phàm và thánh, tự chúng ta phải
hiểu.
Con người đạt đến vô
ngă, há phải đâu không biết ứng xử! Giữa
người và người v́ sao không thể cư xử
tốt với nhau? V́ quyền lợi bị xung
đột. Đấy chính là tự tư, tự lợi,
có lợi cho ḿnh th́ người này tốt, tôi rất thích
anh ta. Đối với ḿnh vô ích hoặc quyền lợi
bị đụng chạm th́ gă đó là địch nhân, là
kẻ đối đầu, chẳng phải là như
vậy hay sao? Do vậy, đạt đến vô ngă, vô
tư th́ sẽ thực sự chuyển phiền năo thành
Bồ Đề, chuyển nghiệp lực thành nguyện
lực. Do nguyện lực vào trong thế gian này th́ không ǵ
chẳng tự tại! Các Ngài quả thật không có sanh
tử, chẳng phải là nhân duyên quả báo, mà là “thừa nguyện tái lai” (nương
theo bổn nguyện mà ứng hiện trở lại)! Duyên
tụ, duyên tán, có duyên bèn ứng hiện, duyên là Năng
Cảm, tự nhiên vị ấy bèn ứng. Duyên hết,
không c̣n Ứng nữa, ẩn mất đi. Duyên do là như
vậy.
Bởi thế, “nhược lâm mạng chung, tự tri thời chí” (nếu
sắp mạng chung, tự biết thời giờ đă
đến), đây là tu hành có công phu, tự ḿnh biết
nghiệp báo đă tận. Đây là phàm phu, phàm phu biết
nghiệp báo của đời này đă tận. Nghiệp
báo một đời này đă tận, nghiệp báo
đời sau đă chín muồi, tự ḿnh biết, đa
số sanh lên trời. Sanh lên trời tự ḿnh biết: Đây
là trong một đời này gieo nhân lành, làm chuyện
tốt, đời sau sanh lên trời. Nếu là bậc thừa
nguyện tái lai, đương nhiên càng không có vấn
đề, cảnh giới càng cao hơn. Nơi này hóa duyên
đă hết, Ngài đến ứng hóa trong thế giới
khác. Nói thật ra, phạm vi ứng hóa là trọn pháp
giới, hư không giới, thân ứng hóa vô lượng vô
biên, không ở nơi đây th́ hiện nơi kia. Thật
ra, chẳng phải là nơi đây thực sự không có,
hiện ở nơi kia, không phải vậy! “Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra ở chỗ nào,
diệt tận ngay chỗ đó)[8].
Đấy mới là chánh lư, đấy mới là chân
tướng sự thật. Không như lục đạo
phàm phu, phàm phu quả thật ĺa khỏi đường
này bèn đầu thai vào đường khác. Quư vị không
được đại tự tại như thế này: “Sanh ra ở chỗ nào, diệt
tận ngay chỗ đó”. Quư vị không được
tự tại như thế. Bậc đại triệt
đại ngộ tự tại như thế ấy!
Văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới th́ hầu như ai cũng có năng lực
này; dù ai nấy đều có năng lực này, nhưng lúc
lâm chung không thể hiện tướng lành là v́ đâu?
Họ vẫn c̣n nghiệp chướng khá nặng gây chướng
ngại, lúc trợ niệm chúng ta thường thấy
chuyện này. Lúc người ấy ra đi, có rất
nhiều người trợ niệm, thấy người
ấy môi mép cũng động, tợ hồ cũng niệm
Phật theo chúng ta. Không sai! Có lúc người ấy
niệm Phật cùng đại chúng, nhưng có lúc
người ấy trông thấy Phật đến tiếp
dẫn, miệng họ mấp máy là muốn bảo
đại chúng: “Phật đến tiếp dẫn, tôi
muốn theo Phật ra đi”. Kẻ ấy không nói ra
tiếng, không có hơi sức, nói không nổi. Quư vị chú
tâm quan sát nơi sự biểu lộ t́nh cảm th́ rơ ràng
là người ấy rất an tường, người
ấy rất hoan hỷ; ta thấy người ấy biểu
lộ thái độ ra đi rất an tường, rất
hoan hỷ, Phật đến tiếp dẫn mà!
Nhưng cũng có lúc, họ đi
rồi, biểu lộ thần thái không tốt, mọi
người trợ niệm, niệm hai, ba tiếng sau,
biến thành rất đẹp đẽ, có hai khả
năng:
a) Một là người ấy đă văng
sanh.
b) Hai là người ấy đă tiêu
nghiệp chướng, tuy không thể văng sanh, nhưng sanh
trong đường lành là chuyện chắc chắn.
Bởi thế, công đức trợ
niệm chẳng thể nghĩ bàn. Ngày nay, khoa học
đă chứng minh hiệu quả của việc trợ
niệm: Đây không phải là chuyện giả, là
chuyện công đức lợi ích chân thật. Gặp
được cơ duyên như thế này đừng
bỏ lỡ. Chúng ta thường trợ niệm giúp
người khác, lúc ḿnh lâm chung ắt có người
trợ niệm. Đây đều thuộc về quả
báo: Quư vị gieo nhân tốt, sau này nhất định có
quả báo tốt. Trong một đời này, chúng ta
hiểu rơ điều này, dùng thiện tâm đối xử
hết thảy mọi người, sẽ được
báo đáp là tất cả hết thảy mọi
người đều dùng thiện ư đối với
ḿnh. Ta dùng thiện ư đối với người ta mà người
ta vẫn dùng ác ư đối với ḿnh, nghĩa là thiện
ư của ta chưa đủ, đừng trách móc
người khác, phải trách chính ḿnh: Ta thành tâm, thiện ư
chưa đủ, ta phải gắng hơn, vĩnh
viễn chẳng có lầm lỗi nơi cảnh giới
bên ngoài.
Hăy nhớ kỹ Ngẫu Ích đại
sư giáo huấn: “Cảnh duyên
vô hảo xú, hảo xú tại ư tâm” (Cảnh duyên không
tốt - xấu, tốt - xấu tại
nơi tâm), do chính tâm ḿnh. Tâm ḿnh tốt th́ cảnh
giới nơi hết thảy người, sự vật
đều tốt. Tâm ḿnh không đủ tốt th́ cảnh
giới bên ngoài chẳng tốt. Nếu quư vị oán
trời trách người là lầm lẫn quá đỗi,
hoàn toàn mê chẳng giác. Người học Phật chúng ta,
đừng nói chi ta là phàm phu, hăy xem tổ sư đại
đức, Thanh Văn, Bồ Tát: Mỗi ngày các Ngài đều
nghiêm túc phản tỉnh, sửa lỗi, đổi
mới. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n phải ngày ngày sửa
lỗi, huống ǵ những kẻ thấp hơn
Đẳng Giác! Phải trống ḷng, phải khiêm hư,
phải cung kính, phải biết tôn trọng người
khác, chúng ta mới có thể viên măn đức hạnh
của chính ḿnh. Trong xă hội, bất luận pháp thế gian
hay pháp xuất thế gian, chuyện tốt nhường
cho người khác, chuyện khổ sở chính ḿnh phải
vui ḷng gánh vác, làm như vậy th́ tiêu nghiệp
chướng, tăng phước huệ không c̣n ǵ nhanh
hơn được nữa!
Thân vô bệnh khổ, tâm bất tham
luyến, ư bất điên đảo, như nhập
Thiền Định.
身無病苦。心不貪戀。意不顛倒。如入禪定。
(Thân không bệnh khổ, tâm chẳng tham luyến, ư
chẳng điên đảo, như nhập Thiền
Định).
Cảnh giới này
tôi nghĩ không ít đồng học đă tự thấy
được, cũng có thể là thấy không ít lần. Quư vị từ nơi ấy có giác
ngộ hay không? Người ta làm được th́ ḿnh
cũng làm được! Hy vọng ḿnh c̣n làm hay hơn người
ta nữa kia! Nhưng lúc mạng sắp hết, thực
sự không có bệnh khổ th́ hạng người ấy
ít lắm! Đại đa số người niệm
Phật văng sanh lúc lâm chung vẫn đổ bệnh,
dẫu mắc bệnh, nhưng bệnh khổ của
họ rất nhẹ nhàng, không nghiêm trọng. Nghiệp
chướng hoàn toàn tiêu sạch lúc lâm chung.
Như vậy th́ cớ sao không tiêu nghiệp chướng
lúc b́nh thời? Lúc b́nh thời, nhẫn nhục chính là tiêu
nghiệp chướng, cớ sao không thể nhẫn?
Hết thảy những chuyện do người, sự,
vật dồn đến cho ḿnh như: Hiểu lầm,
hủy báng, tinh thần lẫn vật chất mọi
mặt đều vất vả; đó đều là
tiêu nghiệp chướng! Ta vui vẻ, hoan hỷ hứng
chịu, không mang tâm nóng giận, không có ư niệm áo năo, càng
chẳng báo thù. Trong cuộc sống thường nhật
phải huấn luyện như thế, lúc lâm chung sẽ
không có bệnh khổ, tự nhiên biết trước lúc
mất, lúc nào ra đi bèn biết rơ ràng, minh bạch.
Trong thế gian này, khởi tâm
động niệm, làm việc ǵ đều nhằm
lợi
ích
chúng sanh, ta niệm một câu Phật hiệu, đem công
đức lợi ích của Phật hiệu ấy hồi
hướng cho hết thảy chúng sanh, ta v́ hết thảy
chúng sanh mà niệm. Đặc biệt là nghĩ đến
chính ḿnh hiện tại, oán thân trái chủ bao kiếp
chất chồng, ḿnh niệm niệm v́ họ. Chúng tôi
mỗi ngày ở nơi đây đem Phật pháp giới
thiệu cho đại chúng; trước lúc vào giảng,
chúng tôi cung kính quán tưởng hết thảy thần linh
khắp pháp giới, hư không giới, hết thảy
thành hoàng, thổ địa, tôn thần nơi này
phương khác. Trong bài kệ hồi hướng có câu: “Nguyện dĩ thử công
đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, thượng
báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” (nguyện
đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh
Độ, trên đền bốn ân nặng, dưới
cứu vớt tam đồ). Tất cả hết thảy
chúng sanh thảy đều bao gồm trong ấy. V́ họ
mà chúng ta làm chuyện này, chẳng nhằm lợi ích chính
ḿnh, v́ sao? Tự ḿnh và pháp giới chúng sanh là một Thể,
niệm niệm đều v́ pháp giới chúng sanh, không
nghĩ đến chính ḿnh, điều này rất khẩn
yếu, v́ sao? Nghĩ đến chính ḿnh th́ tự tư
tự lợi không đoạn, Ngă Chấp không phá. Nếu
khởi tâm động niệm chỉ có hết thảy
chúng sanh th́ Ngă Chấp chẳng phá mà tự nhiên không c̣n,
đấy chính là pháp phương tiện của
Đại Thừa.
Ngă Chấp phá rồi, mọi
người biết luân hồi không c̣n nữa, đời
sau chúng ta sanh về đâu? Tuyệt đối chẳng
đọa trong lục đạo luân hồi nữa. Quư
vị thấy Tiểu Thừa phải đoạn tám
mươi tám phẩm Kiến Hoặc, tám mươi
mốt phẩm Tư Hoặc mới có thể vượt
thoát lục đạo luân hồi. Đại Thừa cao
minh hơn Tiểu Thừa, thuận tiện hơn Tiểu
Thừa, Tiểu Thừa dùng phương pháp cực
nhọc vất vả như vậy, phải trải qua một
thời gian rất dài lâu. Bảy lần sanh vào cơi trời
và nhân gian mới thoát khỏi lục đạo. Đại
Thừa biết chỉ cần phá được Ngă
Chấp là đủ, phá Ngă Chấp bằng cách nào? Từ
tư tưởng, từ khởi tâm động niệm, cho
đến hết thảy hành vi trong cuộc sống
thường nhật, chẳng v́ ḿnh mà v́ chúng sanh, khẳng
định chúng sanh chính là ḿnh, tự ḿnh là chúng sanh. Ḿnh và
người là một chứ không hai, so với Tiểu
Thừa phải nhanh hơn! Thù thắng hơn nhiều, ai
v́ chính ḿnh là ngu si!
Trong giáo pháp Đại Thừa, đức
Phật nói quá nhiều, chúng ta phải hiểu, phải giác
ngộ, quyết định chẳng c̣n v́ chính ḿnh nữa.
Trong cuộc sống thường nhật, chính ḿnh phải
thường nhớ đến Thích Ca Mâu Ni Phật; lúc
tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật sống như thế
nào? Ba y một bát, đêm ngủ dưới gốc cây, ngày
ăn một bữa. Không có ǵ cả! Ngài trí huệ siêu
phàm, lời Ngài nói ra chính là Đại Tạng kinh. Đại
Tạng Kinh không do Ngài trước tác, mà do Ngài tùy cơ
giảng giải cho mọi người, ghi chép lại thành
Đại Tạng Kinh. Nay chúng tôi đem ra dạy dỗ
vẫn phải chuẩn bị một đống tài
liệu, Thích Ca Mâu Ni Phật không có ǵ cả, quư vị nói có
phải là tự tại lắm không, đại tự
tại! Đây chính là điều chúng ta phải học.
Trí huệ của Phật do đâu mà có?
Ngài dạy chúng ta “tự tánh bổn
cụ” (tự tánh vốn sẵn đủ), đức
Thế Tôn nói “ta có, ngươi cũng có”. Quư vị có,
cớ sao chẳng hiện tiền? V́ quư vị có nghiệp
chướng. Cội rễ của nghiệp chướng
là Ngă Chấp, là tự tư tự lợi, quư vị
chẳng thể vứt bỏ những thứ ấy, nếu
bỏ được th́ phàm phu bèn thành Phật. Trên lư
luận, phàm phu thành Phật chỉ trong một niệm,
một niệm quả nhiên giác ngộ, triệt để
giác ngộ, phàm phu bèn thành Phật. Thể hiện của sự
triệt ngộ là như thế nào? Triệt ngộ là Vô
Ngă, chẳng những Vô Ngă, mà c̣n Vô Pháp.
Vô Ngă bèn giải thoát phiền
năo, cũng có thể nói là đức hạnh sẵn có
nơi tự tánh bèn hiện tiền; không có Pháp th́ trí
huệ Bát Nhă sẵn có nơi tự tánh bèn hiện
tiền. Vô Pháp th́ phá được Pháp Chấp, Vô Ngă là phá
Ngă Chấp, trong kinh Đại Thừa, đức Phật
giảng rất nhiều về điều này. Sở
dĩ chúng sanh trở thành chúng sanh, chẳng thể thành
Phật là v́ hai thứ chấp: Ngă Chấp và Pháp Chấp.
Chúng c̣n được gọi là Nhị Chướng:
Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng.
Phiền Năo Chướng là Ngă Chấp, Sở Tri
Chướng là Pháp Chấp. Do vậy, Ngă Chấp phá
rồi, đức hạnh tṛn đủ; Pháp Chấp phá
rồi, trí huệ viên măn. Người thực sự biết
dụng công phải dụng công nơi đây. Công phu thành
tựu sẽ giống như Từ Vân đại sư
đă nói ở đây: Đấy chính là hiện thân
thuyết pháp, chứng tỏ công phu thành tựu. Mạng
chung tự ḿnh biết, người công phu giỏi biết
trước một hai năm.
Từ Đàn Kinh chúng ta thấy
Lục Tổ Huệ Năng đại sư biết
trước lúc mất, bao lâu? Hơn cả năm
trước. Hơn một năm trước đó Ngài
đă biết rơ, phái người chuẩn bị hậu
sự cho ḿnh, bảo người ấy đến gặp
Ngài chuẩn bị hậu sự. Trước kia, lăo cư
sĩ Lư Bỉnh
- Thầy quả thật nói chỉ
giảng kinh hai năm nữa thôi ư?
Người ấy nói:
- Đúng vậy!
Tôi nói:
- Vậy th́ hai năm nữa thầy
sẽ văng sanh.
Người ấy hỏi:
- Sao pháp sư biết thầy sẽ văng
sanh?
- Lăo nhân gia đến thế
gian này chẳng làm chuyện ǵ khác, chỉ là để
giảng kinh. Nếu Ngài không giảng kinh, Ngài không có
chuyện ǵ khác để làm; đương nhiên phải
ra đi.
Quả nhiên hai năm sau [cụ
Lư văng sanh], tâm địa thanh tịnh, nghiệp
chướng tiêu trừ, sớm biết rơ như thế
đó. Thông thường tôi thấy người niệm
Phật đại khái biết từ ba tháng trước,
hai tháng trước, một tháng trước, là chuyện
thường thấy. Họ bảo quư vị lúc nào đó
họ sẽ ra đi, đại khái thời gian chừng
một, hai tháng, hay ba tháng đă rất khá rồi. Lăo lâm
trưởng Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba là cụ Trần Quang
Biệt biết trước ba tháng, xác định rơ ngày
giờ nào, không sai tí nào. Tuy nhiên cụ có bệnh, nhưng không
bị bệnh khổ, đầu óc sáng suốt dù thể
lực suy, đó là ǵ? Đó là tàn dư nghiệp
chướng tiêu hết rồi. Nếu b́nh thường
chịu dụng công, nghiệp chướng b́nh thời
đều tiêu sạch, lúc lâm chung không có nghiệp
chướng, lúc lâm chung chẳng sanh bệnh, nói đi là
đi, đều là do trong cuộc sống hằng ngày,
người ấy dùng tâm hạnh xử sự đăi
người tiếp vật như thế nào, từ
chỗ này chúng ta phải thực sự phản tỉnh, ư
thức, bởi lẽ, xử sự đăi người
tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày đều
gọi là “chân tu hành”.
Do vậy, chúng tôi thường
nghe nói, lăo pháp sư Đàm Hư lăo nhân gia kể lại, lăo
ḥa thượng Đế Nhàn có một người
đồ đệ là thợ vá nồi. Vị ấy lúc
mất là đứng mà mất, đợi thầy ḿnh
đến thay ḿnh lo liệu hậu sự. Suốt ba ngày
ba đêm, ông ta đứng sững nơi đó, không
giả đâu, thật đấy! Chuyện thật
đấy! Một bà cụ ở làng Tướng Quân thuộc
Đài
Những người như
vậy v́ người khác mà thị hiện, đúng là
đă thực sự làm được chuyện thọ tŕ
đọc tụng, v́ người khác diễn nói. Dù không
nói, nhưng bà cụ biểu diễn chính là nói, làm cho quư
vị thấy. Quư vị thấy niệm Phật văng sanh và
chăm nom việc nhà chẳng trở ngại nhau chút nào. Nếu
bà cụ không biết trước lúc mất, làm sao may đầy
đủ đồ tang cho con trai, con dâu và cháu? Có thể
nói là cụ đă lo một nửa chuyện hậu sự.
Do v́ ở ngoại quốc không tiện tay làm sẵn như
thế, lúc lâm chung t́m đâu ra? Cụ biết trước
bèn chuẩn bị sẵn, cũng chẳng hé môi câu nào,
đột nhiên người trong nhà nhận ra bà cụ
đă mất, ngồi tịnh tọa trên giường,
không mắc bệnh khổ! Biết trước lúc
mất, chẳng bị bệnh khổ!
“Tâm
bất tham luyến, ư bất điên đảo” (Tâm
không tham luyến, ư không điên đảo): Hai câu này
hết sức trọng yếu, nghĩa là ǵ vậy? Thực
sự buông xuống. Thực sự buông xuống trong lúc
b́nh thời, ngay bây giờ phải buông xuống, quư vị c̣n
đợi lúc nào nữa! V́ sao lâm chung bị sanh bệnh? Do
quư vị chưa hoàn toàn buông xuống. Nếu hoàn toàn buông
xuống, làm sao sanh bệnh cho được? Không tham
luyến, trong tâm chẳng tham luyến hết thảy pháp thế
gian hay xuất thế gian, không nóng giận, rơ ràng, minh
bạch, không ngu si. “Ư bất
điên đảo” chính là không ngu si, hai câu này (tức câu
“tâm bất tham luyến, ư
bất điên đảo”) là “tham - sân - si” quả
thật không có. Đối với hết thảy pháp,
hết thảy người, hết thảy sự không có
chút ư niệm tham - sân - si nào, trong Phật pháp thường
nói là thấy thấu suốt, buông xuống. “Ư bất điên đảo”
là thấy thấu suốt, “tâm
bất tham luyến” là buông xuống, triệt để
buông xuống, phải buông xuống ngay trong hiện
tại.
Sáu căn của chúng ta tiếp xúc
cảnh giới sáu trần bên ngoài (tức là hết
thảy người, sự, vật), ư niệm vừa
động đă sai. Ư niệm vừa động là ǵ? Quư
vị không buông xuống, không thấy thấu suốt. Lúc
đó phải làm sao? Ngay lập tức khởi lên một
câu Nam-mô A Di Đà Phật để khuất phục ư
niệm ấy, khuất phục được th́ tự
nhiên không khởi, vậy là tốt. Cùng mọi người
tiếp xúc, đúng là “bách hoa tùng
trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (qua rừng
trăm hoa nở, mẩu lá chẳng dính thân). Thực
sự thấy thấu suốt, thực sự buông
xuống. Đối xử mọi người hết
thảy tùy duyên, nhưng trong ấy vẫn có nguyên nhân: Toàn
là v́ lợi ích chúng sanh, toàn là v́ chánh pháp tồn tại lâu
dài. Nếu không v́ lợi ích chúng sanh, không v́ chánh pháp tồn
tại lâu dài, quyết chẳng tham dự bất cứ hoạt
động nào. Vậy nghĩa là sao? Chẳng gây tạo
danh văn lợi dưỡng, cũng chẳng tham cầu
ngũ dục, lục trần; trong xă hội có rất
nhiều hoạt động như thế nếu quư
vị tham dự th́ có nghĩa lư ǵ chăng? Không nghĩa lư
ǵ hết. Dẫu là luyện tâm bằng cách trải qua
mọi việc, nhưng phải thực sự nhờ
những việc ấy để tu hành, rèn luyện
bản thân. Rèn luyện điều ǵ? Luyện tâm không tham
luyến, ư chẳng điên đảo, luyện những
điều này, ra công rèn luyện. Ra công rèn luyện cũng
là v́ lợi ích chúng sanh.
“Như
nhập Thiền Định”:
Đây là thành tích. Trong kinh Kim Cang, đức Thế Tôn
dạy tôn giả Tu Bồ Đề trong cuộc sống
thường ngày “bất thủ
ư tướng, như như bất động” (chẳng
chấp lấy tướng, như như bất
động), đó chính là Thiền Định. Một
người lúc sắp mạng chung cũng là “như nhập Thiền
Định”, biểu diễn cho mọi người
thấy, giống như lúc b́nh thường tịnh
tọa nhập định, nhưng lúc b́nh thường
tịnh tọa xong bèn xuất định, đến lúc
nào đó sẽ ra định. C̣n người này nhập
định rồi không xuất định, đi luôn.
Người học Phật có thể đạt
được công phu như thế th́ mới tính là thực
sự thành công. Thành tựu ấy có lớn, có nhỏ,
nghĩa là sao? Ra đi được thành tựu như
vậy th́ chỉ cần sanh lên trời Đao Lợi
của Dục Giới là đă có năng lực như
thế, đă đều hiện tướng như
thế, những ai sanh lên trời Đao Lợi hay những
cơi trời cao hơn đều hiện tướng lành
như thế. Người niệm Phật càng hy hữu
hơn, lúc người niệm Phật ra đi, nếu có
tướng lành hiện tiền, khẳng định
sẽ giống như trong những câu sau đây:
Phật cập thánh chúng, thủ chấp
kim đài, lai nghênh tiếp ngă, ư nhất niệm
khoảnh, sanh Cực Lạc quốc.
佛及聖眾。手執金臺。來迎接我。於一念頃。生極樂國。
(Phật
và thánh chúng tay cầm đài vàng, đến tiếp đón
con, trong khoảng một niệm, sanh cơi Cực Lạc)
A Di Đà Phật, Quán Âm Bồ Tát,
Đại Thế Chí Bồ Tát, nếu quư vị
đồng thời thấy vô
lượng chư Phật th́ là Thượng Thượng
Phẩm văng sanh. Nếu chỉ thấy A Di Đà Phật,
Quán Âm, Thế Chí theo Phật hiện đến, có rất
nhiều Bồ Tát, A La Hán, cảnh giới ấy là văng sanh
bậc Thượng, tức Thượng Bối Trung Phẩm
hay Thượng Bối Hạ Phẩm. Quư vị chú
tâm quan sát những ai theo A Di Đà Phật đến
tiếp dẫn ḿnh, trong ấy nhất định có
người ḿnh quen biết. Đương nhiên quư vị
không bỡ ngỡ, họ là những vị thiện tri
thức quư vị đă từng thân cận trong một
đời này, họ văng sanh trước, thực sự
văng sanh. Lúc quư vị văng sanh, họ nhất định
đến, cùng theo Phật đến tiếp dẫn quư
vị, quen biết mà!
Như lúc Viễn công đại sư (tổ
Huệ Viễn) văng sanh thấy A Di Đà Phật, Quán Âm,
Thế Chí đến tiếp dẫn, Ngài thấy ông Lưu
Di Dân, trông thấy mấy vị thuộc liên xă đă văng
sanh trước, cùng theo Phật đến tiếp dẫn
Ngài. Ông Lưu Di Dân cười bảo Ngài: “Đại
sư! Chúng tôi đều theo Ngài học Phật, chúng tôi
về thế giới Cực Lạc trước, bây
giờ Ngài mới về, sao chậm thế!” Do vậy, tôi
thường nói về đến thế giới Cực
Lạc mới có bè bạn thực sự, mới có tri giao thực
sự, về thế giới Cực Lạc không tịch
mịch. Trong thế gian này, cổ nhân thường cảm
thán: “Tương tri măn thiên
hạ, tri tâm hữu kỷ nhân?” (Quen biết khắp
thiên hạ, mấy người hiểu được ta?)
Một người t́m cũng không ra! Thế nhưng
khắp thế giới Cực Lạc đều là tri giao,
v́ sao? Ai cũng tâm địa thuần tịnh thuần
thiện, đều không có tư tâm, đều không
chấp Ngă, đều không chấp Pháp, thế giới
ấy có phải là tốt đẹp lắm hay không? Quư
vị thực sự hiểu rơ, minh bạch th́ hăy gấp
lên, đừng lưu luyến thế gian này nữa,
chẳng lưu luyến mảy may nào, v́ sao không gấp ra
đi?
“Phật cập
thánh chúng, thủ chấp kim đài” (Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng):
Ở đây, chúng ta chẳng cần phải phân biệt
đài vàng hay đài bạc chi hết, không cần
thiết. Thời cổ thiền sư Hoài Ngọc thấy
đức Phật cầm đài bạc đến, Ngài
nhíu mày: “Tôi suốt đời cầu được
đài vàng văng sanh!” Đức Phật cầm đài
bạc đến, Ngài không muốn đi, đức Phật
biến mất. Ngài lại thực sự nỗ lực
niệm suốt bảy ngày bảy đêm, đức Phật
hiện đến, lần này quả nhiên thấy là đài
vàng, Ngài rất hoan hỷ, theo Phật văng sanh. Chúng tôi
nghĩ những người như vậy đều là v́
chúng ta thị hiện, nhưng chúng ta bất tất
phải chấp nhặt như thế, đài bạc
cũng không sao! Cớ ǵ cứ nhất định phải
đài vàng? Cần ǵ phải chấp trước như
thế?
“Lai nghênh
tiếp ngă, ư nhất niệm khoảnh, sanh Cực
Lạc quốc” (đến
nghênh đón con, trong khoảng một niệm, sanh cơi
Cực Lạc): Câu này bao hàm ư nghĩa rất sâu. “Nhất niệm khoảnh” (trong
khoảng một niệm) là thời gian rất ngắn,
đúng là một cái khảy ngón tay, thế giới Cực
Lạc cách chỗ chúng ta bao xa? Mười vạn ức cơi
Phật. Điều này cho thấy không có xa hay gần. Nói
cách khác, quư vị thấy Phật, lúc Phật đến
tiếp dẫn th́ trước hết Phật phóng quang
chiếu quư vị. Phật quang chiếu đến là
Phật lực gia tŕ, công phu của quư vị nhất
định được nâng cao hơn một bậc: Công
phu niệm Phật của chúng ta là công phu thành phiến,
nâng cao hơn một bậc thành Sự nhất tâm bất
loạn. Nếu chúng ta niệm đến Sự nhất
tâm bất loạn th́ nâng cao hơn một bậc là Lư
nhất tâm bất loạn. V́ thế, La Thập đại
sư dịch là “nhất tâm
bất loạn, tâm bất điên đảo” không sai
chút nào! Nhưng nguyên bản Phạn Văn ghi là “nhất tâm hệ niệm”,
nhất tâm hệ niệm là chưa được Phật
lực gia tŕ. Lúc lâm chung, Phật quang chiếu gội là
nhất định gia tŕ, do sự gia tŕ ấy, công phu
của quư vị nâng cao hơn một bậc. Nâng cao hơn
một bậc là nhất tâm bất loạn. La Thập
đại sư đối với cảnh giới này
hiểu rất rơ ràng, thấu suốt, Ngài cũng văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới. A! Bây giờ
đă hết giờ rồi.
*
Xin xem tiếp câu cuối cùng của bài
Tịnh Độ Văn:
Hoa khai kiến Phật, tức văn
Phật thừa, đốn khai Phật huệ, quảng
độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện.
華開見佛。即聞佛乘。頓開佛慧。廣度眾生。滿菩提願。
(Hoa nở
thấy Phật, liền nghe Phật thừa, mau khai
Phật huệ, rộng độ chúng sanh, măn nguyện
Bồ Đề).
Chúng ta hăy xem mấy câu tổng kết
này. Nếu công phu thực sự khá th́ Thượng Thượng
Phẩm văng sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, không
phải ai cũng làm được điều này.
Chắc chắn đại đa số văng sanh Phàm Thánh
Đồng Cư Độ. Ở đây là Lư nhất tâm
bất loạn, v́ sao? “Sanh Cực
Lạc quốc, hoa khai kiến Phật” (sanh cơi Cực
Lạc, hoa nở thấy Phật) chính là Lư nhất tâm
bất loạn, cảnh giới này hoàn toàn giống như
cảnh giới minh tâm kiến tánh, đại triệt
đại ngộ của Tông môn. Đương nhiên
cũng là thiểu số, bởi Kiến Tư phiền năo
đă đoạn sạch, Trần Sa phiền năo cũng
đă đoạn hết, Vô Minh cũng phá được
mấy phẩm, đấy là “ư
nhất niệm khoảnh, sanh Cực Lạc quốc, hoa
khai kiến Phật” (trong khoảng một niệm, sanh
cơi Cực Lạc, hoa nở thấy Phật).
“Tức văn
Phật thừa” (liền
nghe Phật thừa): Chúng ta thường gọi “Phật thừa” là pháp
Nhất Thừa. Trong Đại Thừa, Nhất Phật Thừa
là pháp chân thật nhất. Trong hội Pháp Hoa, đức Thế
Tôn nói: “Duy hữu Nhất Thừa
pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ Phật phương
tiện thuyết” (chỉ có pháp Nhất Thừa; không
hai cũng không ba, trừ khi đức Phật nói
phương tiện). Do đây biết rằng chư
Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín
pháp giới, thực sự dạy người quả thật
chỉ có pháp Nhất Thừa. Chỉ có pháp Nhất
Thừa mới là thực sự b́nh đẳng, mới thực
sự là từ bi. Tam Thừa là ǵ? Tam Thừa là Đại
Thừa, Đại Thừa là Bồ Tát Thừa, [hợp với]
Duyên Giác Thừa, Thanh Văn Thừa thành Tam Thừa. Bồ
Tát Thừa là Đại Thừa, Duyên Giác Thừa là Trung
Thừa, Thanh Văn Thừa là Tiểu Thừa; đó là Tam
Thừa. Nếu nói Nhị Thừa th́ là Đại Thừa
và Tiểu Thừa; Đại Thừa là Bồ Tát, Tiểu
Thừa là Thanh Văn và Duyên Giác gộp chung lại gọi
là Tiểu Thừa. Trong hội Pháp Hoa, đức Thế
Tôn “khai quyền hiển
thật” (mở ra quyền giáo, chỉ bày thật giáo),
chỉ rơ pháp nào là pháp quyền xảo phương
tiện. Nói hai thừa hay nói ba thừa chính là đức
Phật nói một cách phương tiện, chứ không nói
chân thật. Nói chân thật th́ chỉ có pháp Nhất
Thừa. Kinh Pháp Hoa là Nhất Thừa, kinh Hoa Nghiêm là
Nhất Thừa, kinh Phạm Vơng là Nhất Thừa.
Do vậy, ở đây chúng ta thấy: “Hoa khai kiến Phật, tức văn
Phật thừa” (hoa nở thấy Phật, liền nghe
Phật thừa), Phật thừa chỉ cho điều ǵ?
Theo ư chúng tôi, nhất định là Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh! Pháp Nhất Thừa rốt
ráo viên măn; do vậy, đương cơ kinh Hoa Nghiêm là ai?
Bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ.
Pháp Thân đại sĩ trụ ở nơi đâu? Trụ
trong Thật Báo Trang Nghiêm độ. Chúng ta phải biết
Tây Phương Cực Lạc thế giới có bốn cơi,
Phàm Thánh Đồng Cư Độ [của Cực
Lạc] tương đương với Phàm Thánh
Đồng Cư Độ trong thế giới này của
chúng ta. Địa cầu của chúng ta chính là Phàm Thánh
Đồng Cư Độ, chúng ta biết A La Hán tu hành
tại nơi đây. Thế nhưng do khác chiều không
gian, chúng ta không thấy được A La Hán. A La Hán
cũng chẳng khinh dị để cho chúng ta thấy.
Quư vị đă từng
đọc Tam Muội Thủy Sám thấy quốc sư Ngộ
Đạt nghiệp chướng hiện tiền, đau
đớn v́ mụt ghẻ mặt người, gần
như muốn chết. Lúc ấy chợt nhớ khi
trước có một vị ḥa thượng, vị ḥa
thượng ấy sanh bệnh khắp ḿnh lở loét, hôi
thối không thể diễn tả nổi. Sư không
ngại, Sư phát tâm từ bi săn sóc vị ḥa
thượng ấy. Sau này, vị ḥa thượng đó
bảo Sư: “Trong tương lai khi ông có đại
nạn, hăy đến t́m tôi”. Ngài cho biết ḿnh ở
tại ngọn núi đó thuộc Tứ Xuyên, trên núi ấy
có hai cây tùng, “Cứ đến đó t́m tôi, tôi sẽ giúp
đỡ ông!” Sau này, khi Sư bị bệnh ghẻ
mặt người, nhớ lại lời ấy, bèn đi
t́m, kết quả mới biết vị ḥa thượng
ấy chính là A La Hán thị hiện. Sư đến
chỗ ấy t́m Ngài, quả nhiên thấy đạo tràng A
La Hán, bảy báu trang nghiêm! Vị ḥa thượng ấy vốn
là tôn giả Ca Nặc Ca, ḥa giải, hóa trừ oan kết
cho Sư. Oán gia trái chủ bỏ đi, dùng nước
tam-muội rửa vết thương mới khôi phục.
Sau đấy, Sư rời đi, ngoảnh đầu nh́n
lại không c̣n ǵ nữa, chỉ c̣n một giải núi hoang,
cái ǵ cũng không có, mới biết trong nhân gian có
đạo tràng của A La Hán, không có duyên phận thù
thắng đặc biệt sẽ chẳng thấy
được!
Vị tổ sư đời
thứ tư của Tịnh Độ Tông chúng ta là ngài Pháp
Chiếu, Ngài cũng là thiền sư, có duyên với Tịnh
Độ rất sâu. Có một ngày vào lúc quá
đường (tức là ăn cơm), trong tự
viện quá đường dùng bát, hôm ấy ăn bữa
sáng. Bữa sáng ăn cháo, Ngài cúi đầu nh́n vào bát,
chợt thấy cảnh Ngũ Đài Sơn hiện ra trong
bát. Chùa Đại Thánh Trúc Lâm Tự của Văn Thù
Bồ Tát hiện ra trong bát, thấy thật rơ ràng, Ngài không
biết đấy là đâu, hỏi người khác.
Người khác nh́n vào, có người đă từng
đến Ngũ Đài Sơn, vừa nh́n là biết
cảnh Ngũ Đài Sơn. Do vậy, Tổ phát tâm
triều bái Ngũ Đài. Lúc triều bái Ngũ Đài,
đến được Ngũ Đài Sơn, quả nhiên
thấy con đường này giống hệt như
cảnh đă hiện trong bát, bèn lần theo con
đường ấy đi t́m, quả nhiên t́m
được Đại Thánh Trúc Lâm Tự. Văn Thù,
Phổ Hiền hai vị Bồ Tát đều ngự trong
đó, Văn Thù Bồ Tát giảng kinh, Ngài ngồi nơi
đó nghe hết buổi giảng. Sau đấy
hướng về Văn Thù Bồ Tát thỉnh giáo: “Thế gian này đă bước
vào thời Mạt Pháp, căn tánh con người ngày càng kém
cỏi, phiền năo tập khí ngày càng sâu hơn người
đời trước, phải tu pháp ǵ mới ḥng thành
tựu?” Văn Thù Bồ Tát bảo Tổ: “Phải tu pháp môn Niệm
Phật”.
Cách niệm như thế nào? Văn Thù
Bồ Tát niệm mấy câu cho Tổ nghe, Tổ bèn học
lấy. Sau này ra khỏi Trúc Lâm Tự, ven theo
đường đi vẫn đánh dấu, sợ lạc
đường, để lần sau trở lại!
Vừa đánh dấu, quay đầu nh́n lại đă thành
một giải núi hoang, chùa miếu không c̣n nữa, thật
đúng như một giấc mộng. Do vậy mới
hiểu đấy là cảnh giới của thánh nhân.
Trở về, Tổ bèn đề xướng pháp môn
Niệm Phật, Ngũ Hội Niệm Phật do chính thiền
sư Pháp Chiếu đề xướng. Thanh điệu
Ngũ Hội Niệm Phật do chính Văn Thù Bồ Tát
truyền cho Tổ. Hiện tại cũng có Ngũ Hội
Niệm Phật nhưng tôi nghe qua, không giống! V́ sao?
Ngũ Hội Niệm Phật hiện thời, chúng ta nghe
xong tâm không định; c̣n phương pháp Niệm Phật
do Văn Thù Bồ Tát truyền không thể nào khiến cho
quư vị nghe xong tâm chẳng thanh tịnh, không thể nào!
Nhất định phải rất nhiếp tâm. Như
vậy, phương pháp Ngũ Hội Niệm Phật
ấy đúng là đă thất truyền. Khúc nhạc Ngũ
Hội Niệm Phật hiện thời là do vào thời
đầu Dân Quốc có một vị pháp sư soạn ra
nhạc phổ, giống như xướng ca, nghe rất
êm ái. Tôi nghe xong, tôi nói tốt lắm, đây là một
phương pháp tốt để tiếp dẫn những
người trẻ tuổi hiện thời, nhưng thực
sự niệm Phật nhiếp tâm, muốn niệm
đến mức công phu thành phiến, nhất tâm bất
loạn th́ phương pháp ấy có vấn đề.
Như vậy, Bồ Tát, A La Hán ở
cùng một chỗ với chúng ta là thật, không giả.
Sử sách, bút kư, tiểu thuyết của cổ nhân đă
ghi chép rất nhiều, c̣n như chuyện chư Phật,
Bồ Tát ứng hóa trong thế gian này càng nhiều hơn
nữa! Chúng ta là phàm phu nhục nhăn không thấy
được, đây là Phàm Thánh Đồng Cư Độ.
Phương Tiện Hữu Dư Độ giống
như tứ thánh pháp giới, Phàm Thánh Đồng Cư Độ
giống như lục đạo của chúng ta. Trong
lục đạo, kinh điển nói Phàm Thánh Đồng
Cư Độ có ba chỗ: Chỗ nhân gian của chúng ta là
Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Trong Dục Giới
thiên có trời Đâu Suất, nội viện của
Bồ Tát Di Lặc ở trên trời Đâu Suất, Đâu
Suất thiên là Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong
Dục Giới. Đệ Tứ Thiền
trong Sắc Giới có Ngũ Bất Hoàn Thiên là nơi tu hành
của chư thiên thuộc cơi trời Tịnh Cư. Chư
thiên cơi trời Tịnh Cư đều chứng từ Tam
Quả trở lên; do vậy nơi ấy cũng là một
cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Những cơi này tương
đương với cơi Phàm Thánh Đồng Cư của
Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng không
thù thắng. Ở chỗ chúng ta, tuy là cơi Phàm Thánh Đồng
Cư, nhưng cảnh giới phàm và thánh khác nhau, phàm
phu không thấy được thánh nhân, thánh nhân cũng
chẳng thấy phàm phu. Trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ
của Tây Phương Cực Lạc thế giới, phàm và
thánh hằng ngày gặp nhau, sống cùng một chỗ,
chẳng thể nghĩ bàn!
Do vậy, đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới, ở Phàm Thánh Đồng
Cư Độ hằng ngày gặp mặt Văn Thù,
Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, cũng như hằng
ngày gặp mặt các vị đại Thanh Văn. Ngày ngày
cùng học một chỗ, rất hy hữu, thù thắng
khôn sánh. Phương Tiện Hữu Dư Độ
tương đương với bốn thánh pháp giới
của chúng ta, Thật Báo Trang Nghiêm Độ [của hai cơi
Sa Bà và Cực Lạc] giống nhau, không phân biệt ǵ. Cơi
Thật Báo của Thích Ca Mâu Ni Phật và cơi Thật Báo
của thế giới Cực Lạc không khác ǵ nhau. V́
thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới thù
thắng nhất là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, có
thể làm cho phàm phu chúng ta chẳng đoạn một
phẩm phiền năo mà vẫn có thể một đời
viên thành Phật đạo. Do vậy, thập phương
chư Phật tán thán thế giới Cực Lạc, tán thán
A Di Đà Phật, đạo lư là đây! Đă thế, sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới, dù là Hạ
Hạ Phẩm văng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ,
như chúng ta xem trong Quán Kinh, đến khi hoa nở
thấy Phật chỉ là mười hai kiếp, Hạ Hạ
Phẩm văng sanh đấy nhé!
Mọi người chúng ta văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới có thể không
phải là Hạ Hạ Phẩm, tối thiểu là Hạ Trung
Phẩm, Hạ Thượng Phẩm, Trung Hạ Phẩm, Trung
Trung Phẩm, rất có khả năng. Hạ Hạ Phẩm
tạo Ngũ Nghịch, Thập Ác, nhưng chúng ta không
tạo tội nghiệp, không tạo tội nặng như
thế. Trong hiện tại, tạo tác ác nghiệp rất
có khả năng, chứ thời cổ rất khó, quư
vị thấy: Giết cha mẹ, tội đại
nghịch bất đạo hiện thời là có, chúng ta
thường nghe tin tức nói đến. Trước kia,
đúng là hết sức khó nghe nói có những chuyện
như vậy, con người dẫu tệ hại cũng
không đến nỗi giết cha mẹ, giết hại
anh em.
Nghe kinh Hoa Nghiêm hết sức khó khăn
v́ kinh này giảng cho Pháp Thân đại sĩ. Ngày nay chúng ta
gặp được duyên phận này, mọi người
cùng học kinh Hoa Nghiêm, tuy chúng ta không phải là Pháp Thân
Bồ Tát, nhưng chúng ta học chương tŕnh học
của Pháp Thân Bồ Tát, nhân duyên hy hữu khó
được! Chúng ta được huân tập, dù học
Hoa Nghiêm, nhất định phải nhớ chuyên tâm tu
Tịnh Độ. Chúng ta nghe kinh Hoa Nghiêm, đọc kinh
Hoa Nghiêm, công phu của chúng ta vẫn là niệm A Di Đà
Phật y như cũ, cầu sanh về thế giới Cực
Lạc, kinh này giúp cho chúng ta rất lớn. V́ sao? Quư vị
thấy Vô Lượng Thọ Kinh vừa mở đầu
đă nói: “Hàm cộng tuân tu Phổ
Hiền đại sĩ chi đức” (đều cùng
tuân tu đức hạnh của Phổ Hiền đại
sĩ). Đức của Phổ Hiền đại sĩ
chính là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
Do vậy, học Hoa Nghiêm, niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ chính là nâng cao phẩm vị văng sanh
của chúng ta rất lớn, nâng cao thứ bậc lên.
Cơ duyên khó được, chẳng dễ gặp
được, nhất định phải quư tiếc.
“Đốn
khai Phật huệ” (mau khai
Phật huệ) chính là minh tâm kiến tánh, đại
triệt đại ngộ, chúng ta chẳng dám mong mỏi
cảnh giới ấy. Nếu thực sự hiểu rơ, thực
sự giác ngộ, buông tự tư tự lợi xuống,
đối với chính ḿnh không chấp trước,
đối với hết thảy người, sự,
vật, hết thảy vạn pháp chẳng c̣n chấp
trước nữa. Hai thứ chấp Ngă Chấp và Pháp
Chấp dẫu chưa thể nói là đă đoạn
sạch, nhưng đă nhạt đi rất nhiều th́
phẩm vị của quư vị tự nhiên nâng cao. Do
vậy, đối với những bộ kinh giúp cho chúng ta
rất lớn, phải nghiêm túc nỗ lực học
tập.
“Quảng
độ chúng sanh”: Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới “quảng
độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện” (rộng
độ chúng sanh, măn nguyện Bồ Đề) là
điều khẳng định. Dù chính ḿnh chưa khai
ngộ, văng sanh bậc Hạ trong Phàm Thánh Đồng
Cư độ nhưng vẫn có thể rộng
độ chúng sanh, dựa vào đâu? Dựa vào bổn
nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. Do người
ấy chưa kiến tánh, những thứ trí huệ,
năng lực, tướng hảo trong tự tánh chưa
hiện tiền, nhưng do Phật lực gia tŕ, được
bốn mươi tám nguyện đại từ
đại bi của A Di Đà Phật gia tŕ nên trí huệ,
đức năng, tướng hảo liền chẳng kém
Thất Địa Bồ Tát cho mấy, A Duy Việt Trí
Bồ Tát mà! Phàm ai văng sanh đều là A Duy Việt Trí
Bồ Tát. Trong tất cả hết thảy các cơi
nước khác, t́m chẳng ra chuyện này, mười
phương thế giới chư Phật đều
chẳng có! V́ vậy, hết thảy chư Phật tán thán
Tây Phương Cực Lạc thế giới, tán
dương A Di Đà Phật, đạo lư là đây! Đây
chính là chân chánh thỏa măn đại nguyện Bồ
Đề của chư Phật, mà cũng là thỏa măn
nguyện Bồ Đề của chính ḿnh.
Một thiên Tịnh Độ
Văn của Từ Vân Sám Chủ được rất
nhiều người thọ tŕ. Không chỉ những
vị đồng học Tịnh Độ Tông khi tụng
kinh, niệm Phật, sám hối, hồi hướng
thường tụng bài này, mà ngay cả những
người không chuyên tu Tịnh Độ; thậm chí trong
Tông Môn, Giáo Hạ, những người nương theo bài
văn này để phát nguyện rất nhiều. Thiên
văn tự này có vô lượng vô biên công đức, giúp
không ít người văng sanh Tịnh Độ. Chúng ta
lại xem bài kệ tiếp theo:
Niệm Phật lâm chung kiến
bảo đài,
Bảo phan, bảo cái măn không
bài,
Di Đà, Thế Chí, Quán Âm
đẳng,
Hiệp chưởng
tương tùy quy khứ lai.
念佛臨終見寶臺。
寶幡寶蓋滿空排。
彌陀勢至觀音等。
合掌相隨歸去來。
(Niệm
Phật lâm chung thấy bảo đài,
Lọng
phan quư báu ngập trời bày,
Chắp
tay theo gót Di Đà Phật,
Quán Âm,
Thế Chí trở về Tây).
Bài kệ này tán thán người
niệm Phật lâm chung văng sanh, quư vị thấy thù
thắng như thế đó! Người thế gian chúng
ta gọi là “phô trương, chưng bày”, phô bày sự thù
thắng khôn sánh, dù là pháp thế gian hay xuất thế gian
đều t́m không được, chỉ có người
chân chánh niệm Phật, công phu niệm đến nơi
đến chốn không c̣n phân biệt, chấp
trước Ngă và các pháp, như kinh Kim Cang đă nói: “Vô ngă tướng, vô nhân
tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả
tướng”. Niệm đến cảnh giới
ấy, lúc lâm chung sẽ giống như bài kệ này đă
nói: “Kiến bảo đài” (thấy
đài báu), tức là thấy hoa sen, “Phật cập thánh chúng, thủ chấp kim đài,
lai nghênh tiếp ngă” (Phật và thánh chúng tay cầm
đài vàng đến tiếp đón con). Quư vị thực
sự thấy như vậy, chứ không phải là giả
vờ thấy. “Bảo phan,
bảo cái măn không bài” (Lọng, phan quư báu bày đầy
hư không), quư vị thấy những thứ cúng
dường theo chân Phật, Bồ Tát: Lọng báu, tràng phan
báu tràn ngập hư không. Nay chúng ta ít thấy nhà Phật
chưng bày như thế, chứ trước kia th́ có, trước
kia trong đại pháp hội quả thật phô
trương như thế đó, nay rất ít thấy,
thời đại đă khác rồi! Người ta coi
sự chưng bày choáng lộn ấy là mê tín.
Thế nhưng nay ở Trung Quốc, Tây
Tạng, Thanh Hải, các dân tộc Tây Tạng trên cao nguyên
hoặc dân Mông Cổ theo Mật Tông vẫn c̣n duy tŕ như
vậy. Chúng tôi thấy ở những nơi đó khắp
núi non, đồng trống là tràng phan, lọng báu. Bất
cứ nơi nào chúng tôi báo tin đến thăm,
người ta vẫn đem những thứ ấy
đến cúng dường. Tràng phan, bảo cái đều
mang ư nghĩa biểu thị pháp. Nay chúng ta coi trọng
việc biểu thị pháp. Những thứ ấy
đều thuộc loại cờ xí, thứ dẹp và dài
gọi là Phan (幡); thứ tṛn, giống như một cái
ống thông gió th́ gọi là Tràng (幢). Cái (蓋) là tàn lọng để ngăn che
bụi bặm. Tràng biểu thị thuyết pháp, Phan
biểu thị pháp hội. Ở nơi nào thực hiện
những hoạt động với quy mô lớn th́ dùng
tràng phan, bảo cái. Mỗi một người văng sanh là
đại sự, chư Phật, Bồ Tát đều
đến. Số người đông đảo chúng ta không
có cách ǵ tưởng tượng được, xếp bày
đầy ắp hư không.
“Di
Đà, Thế Chí, Quán Âm” là Tây Phương Tam Thánh, là
những nhân vật chính đến tiếp dẫn!
Người lâm chung trông thấy những tướng lành
như thế quyết định văng sanh. Tướng lành
như vậy ma không thể hiện được,
quả thật là lâm chung Tây Phương Tam Thánh đến
tiếp dẫn, an tâm theo các Ngài đi, ổn thỏa, thích
đáng không sai lầm chút nào! V́ thế “hiệp chưởng tương tùy quy khứ lai”
(Chắp tay theo chân Phật, Bồ Tát trở về). “Quy khứ” là văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, “lai” là hy vọng quư vị sẽ nương theo bổn
nguyện trở lại (thừa nguyện tái lai). Trong bài
này có đủ những ư tán thán, phó chúc, cầu nguyện.
34. Tam Bảo Tán – Tán Tăng
Bảo
Tiếp theo là phần tán thán
Tăng Bảo thuộc phần tán Tam Bảo của
thời thứ ba. Trong những phần trên chúng ta đă tán
thán Phật Bảo, tán thán Pháp Bảo, nay là tán thán Tăng
Bảo.
Trước hết, chúng ta chỉ nói
về Tăng, tiếng Phạn là Tăng Già Da (Sanghaya),
người Hoa thích đơn giản nên những âm cuối
đều lược bớt, chỉ gọi là Tăng. Kỳ
thật chữ Da ở cuối chữ mang ư nghĩa tôn
kính. Quư vị thấy Phật Đà Da (Buddhaya), Đạt
Ma Da (Dharmaya), Tăng Già Da, Da mang ư nghĩa tôn kính. Tăng: Từ
bốn người trở lên cùng nhau tu hành, tuân thủ giáo
giới của Phật Đà (giáo giới ấy chính là
Lục Ḥa Kính), bốn người cùng tuân thủ Lục
Ḥa Kính th́ mới gọi là Tăng. Do vậy, Tăng là
một đoàn thể, không phải chỉ một
người. Đoàn thể từ bốn người
trở lên như thế được gọi là Tăng
Đoàn. Người dẫu đông nhưng không tu Lục
Ḥa Kính, không thể gọi là Tăng Đoàn, chẳng
thể gọi là Tăng. V́ vậy, Tăng nhất
định phải ḥa kính.
Tăng nghĩa là thanh tịnh,
sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần.
Nếu quư vị nghĩ bất ḥa, bất kính, tâm quư
vị thanh tịnh sao được? Đă bị
nhiễm ô mất rồi! Thực sự thực hiện
được “ḥa kính” sẽ
tự nhiên chẳng nhiễm mảy trần, thân tâm thanh
tịnh. Do đây biết rằng: Lục Ḥa là nhân, sáu
căn thanh tịnh là quả. Tu nhân nhất định
phải đạt được quả báo. Quả báo là
sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần. Tu
nhân quan trọng lắm! Trong Lục Ḥa, điều thứ
nhất là Kiến Ḥa Đồng Giải, nay chúng ta gọi
là “thiết lập nhận thức chung”, rất khó
khăn. Giữa người với người, đây kia
đều có ư kiến, mỗi người nghĩ một
cách, mỗi người nh́n một cách, phiền toái
lắm. Làm sao mới có thể tương đồng? Quư
vị nói: “Tốt! Chúng ta đều nương theo
lời Phật dạy, đức Phật dạy như
thế nào, chúng ta nương theo đức Phật, c̣n ǵ
bất đồng nữa!”
V́ sao? Ư kiến của Phật khác
với ư kiến của chúng ta. Có người nói: “Y theo ư
kiến của Phật ư? V́ sao không thể theo ư
kiến của chúng ta?” Là v́ chư Phật Như Lai cao
minh, cao minh đến cùng cực, lời Ngài nói ra đúng là
khế lư, khế cơ, hết sức công bằng, hết
sức công chánh. Vậy th́ mọi người chúng ta buông
hết thảy cách nghĩ, cách nh́n của ḿnh xuống, há
chẳng b́nh đẳng ư? Chúng ta buông xuống, Phật
cũng buông xuống, đấy gọi là “trở về
với Nhất Chân”, quư vị thấy phương pháp này
cao minh lắm! Đức Phật nói: Quư vị không cần
phải theo tôi, mọi người chúng ta đều buông
xuống, b́nh đẳng. Thực sự b́nh đẳng,
không có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, Kiến Ḥa Đồng Giải mà! Có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ cách
nghĩ và cách nh́n đều khác nhau. Có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước bèn sanh
phiền năo; không có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước bèn sanh trí huệ. V́ thế, kinh
luận thường nói: “Phiền
năo tức Bồ Đề” (phiền năo chính là Bồ
Đề). Buông vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước xuống, Bồ Đề bèn hiện tiền;
cứ hễ kèm vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước vào th́ phiền năo bèn hiện tiền. Phiền
năo và Bồ Đề là một, từ quan điểm này đức
Phật lập ra “kiến ḥa
đồng giải”.
Chúng tôi thường nói: Thật
ra, chúng ta chưa buông xuống được, chưa buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
xuống được; buông xuống không được
th́ làm sao đây? Đó là chuyện bất đắc dĩ,
mọi người chúng ta phải nghĩ: Nên y theo lời giáo
huấn của đức Phật, y giáo phụng hành; nói
chung là căn cứ vào đó. Đây là phương pháp
bất đắc dĩ, rớt vào Đệ Nhị
Nghĩa; chứ trong Đệ Nhất Nghĩa, ngay cả
Phật cũng buông xuống, đó là thật, thực
sự sanh, chân thật sanh. Nay chúng ta dựa vào những
giáo huấn của Phật, Bồ Tát trong kinh luận
để tu hành, nói thật ra là Tương Tự Vị,
không phải là Chân Thật Vị, mà là Tương Tự
Vị, rất giống nhưng chưa phải là thật,
nhưng cũng kể là khá lắm: Từ Tương
Tự có thể dần dần chứng được chân
thật. Nếu chẳng trải qua Tương Tự,
chắc chắn chẳng thể đạt được
Chân Thật. Do vậy, chúng ta phải thừa nhận bản
thân nghiệp chướng sâu nặng, là phàm phu không có
năng lực buông phiền năo, tập khí xuống. Nếu
nay chúng ta không nhờ vào kinh giáo để giúp đỡ, ngoài
cách này ra, không c̣n có cách thứ hai nào để theo! Ta là
hạng căn tánh trung hạ th́ nhất định
phải tuân theo giáo huấn của thánh hiền. Giáo
huấn của thánh hiền là sự chứng đắc
từ trong tự tánh của chính họ, là trí huệ chân
thật! Tánh đức vốn có đức năng.
Đức năng vốn có nơi tánh đức chính là Giới
Luật. Trí huệ vốn sẵn đủ chính là kinh giáo.
Như vậy, tuân theo những
giáo huấn trong kinh điển chính là tuân theo tánh
đức của chính ḿnh. Khi bản thân quư vị đă minh
tâm kiến tánh rồi, tư tưởng, kiến giải
và hành vi của quư vị nhất định hoàn toàn giống
với chư Phật, Bồ Tát. Phật Phật
đạo đồng, chúng ta phải hiểu đạo
lư này. Hiểu rồi mới chết ḷng trọn ư nơi
kinh giáo, ta niệm kinh là niệm ǵ vậy? Chính là niệm
trí huệ, công đức của tự tánh. Chúng ta y giáo
phụng hành là y theo ǵ? Y theo trí huệ, đức năng
sẵn có nơi tự tánh để hành động,
để sống, chẳng trái nghịch tánh đức. Ngàn
vạn phần phải nhớ kỹ, không phải là ta
bị Phật, Bồ Tát xỏ mũi lôi đi đâu nhé! Hiểu
như vậy là lầm lẫn quá đỗi! Ngay cả
Ấn Quang đại sư trong thời hiện tại, thực
sự là Phật, Bồ Tát, quư vị thấy Ngài dạy,
Ngài chỉ đạo chúng ta: “Đôn
luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, tín nguyện
niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” (Giữ
vẹn luân thường, trọn trách nhiệm, dứt ḷng
tà, giữ ḷng thành; tín nguyện niệm Phật, cầu
sanh Tịnh Độ), hoàn toàn là tánh đức, tuyệt
đối chẳng phải là chúng sanh trong chín pháp giới
có thể nói ra [những lời như vậy]
được. Lời này lưu xuất từ tánh
đức, nhất định phải hiểu rơ ràng
những chữ này.
Tu hành bắt đầu từ
đâu? Nhất định phải bắt đầu
từ tŕ giới. Theo truyện kư về Phó Đại
Sĩ trong nhà Phật, Ngài là hóa thân của Di Lặc Bồ
Tát; quả thật, Bồ Tát đều có năng lực như
thế này: Nên dùng thân cư sĩ để độ, bèn
hiện thân cư sĩ thuyết pháp. Di Lặc Bồ Tát
hiện thân cư sĩ là Phó Đại Sĩ; Di Lặc
Bồ Tát hiện tướng xuất gia là ḥa
thượng Bố Đại. Ḥa thượng Bố
Đại cũng là Di Lặc Bồ Tát hóa thân; hiện
tướng tại gia cư sĩ là Phó Đại Sĩ.
Ngài dạy chúng ta không phải là Di Lặc Bồ Tát dạy
chúng ta hay sao? Ngài dạy chúng ta như thế nào? Ngài
dạy: “Thị tâm thị
Phật, thị Phật thị tâm, niệm niệm
Phật tâm, Phật tâm niệm Phật, dục đắc
tảo thành, giới tâm tự luật, tịnh luật
tịnh tâm, tâm tức thị Phật” (Tạm dịch:
Tâm này là Phật, Phật này là tâm, trong mỗi niệm [tâm
là] tâm Phật, [dùng] tâm Phật để niệm Phật,
muốn được sớm thành th́ phải dùng cái tâm
giới luật để tự ước thúc ḿnh,
giữ giới thanh tịnh th́ tâm thanh tịnh, tâm chính là
Phật). Không một vị Phật hay Bồ Tát nào
chẳng dạy người phải khởi đầu
bằng Giới Luật!
Cận đại, lăo ḥa
thượng Hư Vân thường dạy hàng sơ
học, câu đầu tiên là “nghiêm
tŕ giới luật”. Bởi thế, điều thứ
hai trong Lục Ḥa Kính là “giới ḥa đồng tu”. Giữ
giới luật, giữ quy củ th́ Tăng đoàn của
quư vị mới được mọi người tôn
kính, có trật tự, có quy củ, là tấm gương
tốt cho tất cả hết thảy những đoàn
thể trong xă hội. V́ người khác diễn nói
đấy! Toàn bộ đoàn thể biểu diễn
nơi đấy, biểu diễn cho đại chúng xă
hội xem, mong tất cả hết thảy đoàn thể
đều ḥa thuận giống như thế. Mọi
người đều biết tôn kính lẫn nhau, kính yêu
lẫn nhau, quan tâm đến nhau, hợp tác với nhau. Làm
như thế nào mới đạt được như
thế? Tŕ giới mới có thể đạt. Quư vị
không tŕ giới, không tuân thủ quy củ sẽ không thể
làm được. Một đoàn thể như vậy thực
sự chẳng những được người
thế gian tôn trọng, mà chư thiên cũng đều
ủng hộ, đều khen ngợi. Trong cuộc sống
hằng ngày th́ thực hiện “thân
đồng trụ, khẩu vô tranh, ư đồng duyệt, lợi
đồng quân” (thân cùng ở, miệng không căi, cùng chia
sẻ ư kiến, lợi chia đều), thực sự
thực hiện Lục Ḥa Kính. Đối với chính ḿnh
th́ chính ḿnh tu dưỡng bằng Ngũ Giới, Thập
Thiện; sau đấy nâng cao lên thành Thập Giới, hai
mươi bốn oai nghi, đấy chính là Sa Di. Nay chúng tôi
chỉ mong mỏi làm được tiêu chuẩn này.
V́ thế, sau khi học viện mở
cửa, hết thảy mọi việc đi vào khuôn
khổ, môn học đầu tiên tức môn học chung cho
mọi lớp chính là Sa Di Luật Nghi, tại gia hay
xuất gia đều phải học Thập Giới hai
mươi bốn oai nghi. Tương lai, học viện
chúng ta mỗi một quư (Xuân, Hạ, Thu, Đông mỗi
một quư) mở một lần Phật học giảng
ṭa. Trong Phật học giảng ṭa, có ba môn học cơ bản
cần phải có, tức là mỗi lần chúng ta
đều phải giảng ba môn ấy. Môn thứ nhất
là Nhận Thức Phật Giáo. Học Phật mà quư vị
không biết rơ ràng Phật giáo là ǵ th́ học cái ǵ đây?
Đấy chính là khoa mục chung của chúng ta. Môn thứ
hai chính là tác phẩm mà Ấn Quang đại sư lăo nhân
gia suốt đời cực lực đề
xướng, tức Liễu Phàm Tứ Huấn. Môn thứ
ba là Sa Di Luật Nghi. Ba môn ấy là công khóa chủ tu (tu học
chánh yếu) của chúng ta, nhất định phải
giảng. Một năm giảng bốn lần, nếu
không thường xuyên cảnh tỉnh chúng ta như thế,
ấn tượng sẽ không sâu, không thể giác ngộ. V́
thế, quư vị tu rất khổ sở, rất khó khăn,
không muốn thực hiện. Nếu thực sự
hiểu rơ, quư vị sẽ rất hoan hỷ thực
hiện, quyết định chẳng trái nghịch.
V́ sao? V́ quư vị đạt
được pháp hỷ từ đó, quư vị biết
làm như vậy sẽ thực sự vui sướng,
nếu trái nghịch sẽ thực sự đau khổ.
Khoan nói đến nghiệp báo, lương tâm bị
cắn rứt; nhưng nay quư vị hoàn toàn ngược
lại, tợ hồ chẳng bị lương tâm cắn
rứt là v́ sao? Quư vị không có lương tâm! Tâm ôm ấp
những điều xấu xa, chẳng lành, bởi thế
lương tâm không cắn rứt, quư vị không có
lương tâm! Nếu có lương tâm sẽ bị
lương tâm cắn rứt. Người không có
lương tâm chính là người thuộc ba ác đạo,
không c̣n thuộc nhân đạo nữa, đương nhiên
càng chẳng thể là người thuộc về thiên
đạo. Lư và Sự này chúng ta đều phải
hiểu, phải thấy rơ. Do vậy, ba môn trên đây chúng
tôi ấn định là ba môn phải tu học đối
với hàng sơ học. Ngoài ra, trong những điều
phải tu c̣n có những môn tuyển tu, tức là những
môn học phụ trợ cũng rất quan trọng:
Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Đức Dục Khóa
Bản, về kinh điển th́ có Thập Thiện
Nghiệp Đạo, kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung,
những môn học ấy chúng tôi đều phải mở.
Nếu những môn học ấy không thiết lập được
cơ sở sâu dầy th́ chúng ta học Phật sẽ không
có gốc rễ!
Chúng ta niệm Phật muốn thực
sự niệm đến “lâm mạng
chung thời, dự tri thời chí, một hữu bệnh khổ,
như nhập Thiền Định” (lúc mạng sắp
hết, biết trước lúc đi, không bị bệnh
khổ, như nhập Thiền Định), rất khó
đạt được. Quư vị chú tâm quan sát phàm ai lâm
chung có những tướng lành như thế, quư vị chú
tâm quan sát: Những người ấy dầu không học
vẫn có thể làm được; họ thực sự
có lương tâm, đúng là thiện nhân, đăi
người, tiếp vật, không có tí xíu ác ư nào. V́ thế,
lâm chung mới có được tướng lành như
thế. Do vậy, nay ở học viện này của chúng
ta, tốn mất thời gian hai năm để đặt
vững cơ sở, các kinh luận khác dù chúng ta chưa
học, thậm chí chúng ta không cần phải học,
cứ một câu niệm Phật niệm đến
triệt để, lúc lâm chung quư vị sẽ có
tướng lành như thế. Thượng phẩm văng
sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, tướng
lành hết sức hy hữu, đều có thể biết
trước lúc mất, thân không bệnh khổ, [văng sanh trong]
ba bậc Thượng của Phàm Thánh Đồng Cư Độ.
Tất cả hết thảy pháp trong thế gian
đều là giả, c̣n điều này là thật, chúng ta
phải tranh thủ cái thật, buông cái giả xuống.
Danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục
trần là giả, triệt để buông xuống. A! Nay
đă hết giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm Pháp Sự
Toàn Tập Giảng Kư,
Phần 18 hết
[1] Nguyên văn “thị
bồi sấn đích thoại” tức là lời nói
dẫn khởi với mục đích làm nổi bật ư
sẽ được nói trong câu kế tiếp.
[2] Can Tương và Mạc Gia (thời cổ thường dùng
lẫn lộn chữ 鋣 và 邪, nên tên của bà này thường viết thành 莫邪, do vậy, đôi
khi bị đọc sai thành Mạc Tà) là hai vợ chồng người
nước Ngô, là thợ giỏi đúc kiếm thời
ấy. Mạc Gia là vợ của Can Tương. Vua
nước Ngô là Hạp Lư sai Can Tương đúc
kiếm, nhưng sắt đun măi không chảy. Vợ
hỏi phải làm như thế nào? Can Tương nói: “Thuở xưa, đại sư
Âu Dă Tử đúc kiếm, sắt nấu không chảy, do
vậy, cậy một nữ nhân làm thần ḷ, bèn đúc
thành công rất nhanh”. Mạc Gia nghe nói như vậy bèn
lập tức nhảy vào ḷ đúc, sắt liền chảy
tan ra. Can Tương đúc thành hai thanh kiếm báu, thanh hùng
kiếm đặt tên là Can Tương, thanh thư kiếm
đặt tên là Mạc Gia. Có truyền thuyết khác nói Can
Tương đúc hai thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia,
nhưng chỉ dâng thanh Mạc Gia cho vua Sở, biết
chắc vua phát giác sẽ bị kết tội chết, nên
dặn vợ là Mạc Gia: “Sau này con sanh ra, khôn lớn, hăy
bảo nó t́m kiếm bên Nam Sơn trong hang đá”. Về sau,
Mạc Gia sanh con trai tên là Xích. Khi Xích khôn lớn, toan đi
báo thù cho cha, nhưng Sở Vương nằm mộng
thấy một thanh niên sẽ đến giết ḿnh bèn ra
lệnh truy nă con trai của Can Tương. Xích phải
bỏ trốn, trên đường bôn tẩu, ca lên một
khúc bi thương. Khi bị kẻ truy sát bắt
được, Xích kể lể đầu đuôi rồi
tự trao kiếm và cắt đầu ḿnh cho kẻ truy
sát. Kẻ truy sát đem đầu và kiếm về dâng cho
vua Sở, khuyên vua hăy đem đầu Xích nấu lên. Vua
Sở nghe lời, nhưng nấu măi không chín. Kẻ truy sát
ấy mời vua nh́n vào vạc, bảo hễ vua nh́n vào,
đầu Xích sẽ chín ngay. Vua vừa cúi nh́n, kẻ truy
sát thừa cơ vung gươm chặt đứt
đầu vua lọt vào vạc, rồi cũng tự
chặt đầu ḿnh cho lọt vào vạc. Đầu vua,
đầu kẻ truy sát lẫn đầu của Xích cùng
bị nấu nát bét, không phân biệt được
đầu ai với ai, phải cùng chôn chung tại ranh
giới huyện Nghi Xuân, gọi là mộ Tam Vương.
[3] Kinh Trập (c̣n
gọi là Khải Trập, hoặc Khải Triết) là
một trong 24 tiết khí trong một năm (sau tiết
Lập Xuân và Vũ Thủy, trước các tiết Xuân
Phân, Thanh Minh và Cốc Vũ của mùa Xuân). Tiết khí này
được bắt đầu từ khoảng mồng
Năm hay mồng Sáu tháng Ba Dương Lịch, kéo dài 2
tuần lễ. Lúc này trời ấm lên, đă có sấm mùa
Xuân, vạn vật hồi sinh, bắt đầu
bước vào mùa Hạ. Chữ Tiết Khí là nói gọn
của thời tiết và khí hậu. Theo cách ấn
định của lịch pháp, chữ Tiết Khí nhằm
mô tả một giai đoạn trong năm mà thời
tiết khí hậu mang một tính chất đặc
trưng, chẳng hạn Vũ Thủy là lúc có mưa Xuân
lất phất, c̣n Kinh Trập là lúc sâu bọ thức
giấc, hồi sinh, sinh sản.
[4] Hồ Tỳ Bà (Biwa) c̣n có tên là Ōmi
(Đạm Hải), là hồ nước ngọt lớn
nhất của Nhật Bản thuộc huyện Tư
Hạ (Shiga-ken) thuộc vùng Quan Tây (Kansai) trên đảo Honshū
(Bản Châu, đảo chính của Nhật Bản) của
Nhật Bản. Hồ rộng đến 670 km2, là
nguồn cung cấp nước chính cho hai thành phố Kyoto
(Kinh Đô) và Ōtsu (Đại Tân). Vào
mùa Xuân, khi tuyết tan, nước hồ dâng lên cao
đến 3m, nhưng không gây ngập lụt v́ có sông Yodo
(Đính Xuyên) đă tháo nước từ hồ Tỳ Bà
vào vịnh Osaka (Đại Bản).
[5] Từ Vân Sám Chủ chính là ngài Tuân
Thức (964-1032), tự Tri Bạch. Ngài c̣n được
tôn xưng là Từ Vân Tôn Giả, Linh Ứng Tôn Giả,
Thiên Trúc Sám Chủ. Do Ngài soạn rất nhiều bản
sám pháp nên c̣n có mỹ hiệu là Bách Bổn Sám Chủ. Ngài
là một vị cao tăng của tông Thiên
[6]
Vị pháp sư này giữ nhiệm vụ Hương
Đăng trong chùa Kim Sơn ở Dương Châu, quá
thật thà đến nỗi ngờ nghệch. Ở Hoa
[7] Giản Thể và Phồn Thể là hai cách viết chữ Hán. Giản Thể là những chữ Hán được bớt nét, cho dễ nhớ, dễ viết (chẳng hạn chữ Quảng (廣), chỉ giữ lại bộ Nghiễm, bỏ chữ Hoàng bên trong đi, viết thành 广), hoặc sử dụng những chữ đồng âm dị nghĩa (chẳng hạn chữ Vân (雲: mây) bèn dùng chữ Vân (云: nói), hoặc chế ra những chữ mới đơn giản hơn chữ cũ (chẳng hạn Đăng (燈) viết thành 灯); c̣n Phồn Thể là viết đủ nét theo truyền thống. Lối viết Giản Thể được áp dụng chính thức tại Hoa Lục; c̣n Phồn Thể vẫn được sử dụng tại Đài Loan, Tân Gia Ba... Nói chung chữ Giản Thể tiện dụng, nhưng đánh mất vẻ đẹp cân đối hài ḥa của chữ Hán, trông khá lệch lạc, què quặt, cũng như dễ gây hiểu lầm nếu đọc các văn bản cổ. Chúng tôi đă gặp một số đồng nghiệp đến từ Hoa Lục rất lúng túng khi phải đọc các văn bản viết bằng lối Phồn Thể.
[8] Theo pháp sư Tịnh Giới, chữ
“đương xứ” ở đây phải hiểu là chân
tánh, chân tâm. Hết thảy các hiện tượng do nhân
duyên hội đủ bèn hiện ra, nhưng chân tâm bất
động, khi các nhân duyên đă hết, các tướng
đă hiện bèn mất, nhưng chân tâm chẳng tổn
giảm mảy may.