Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
phần 4
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện
Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập 10
6.3. Chánh
Tông Phần
Xin xem tiếp
đoạn lớn thứ hai của kinh A Di Đà trong Hệ
Niệm Pháp Sự, tức phần Chánh Tông. Đoạn lớn
này là một bộ phận trọng yếu nhất của kinh A Di Đà; được
chia thành ba đoạn vừa (trung đoạn):
1) Đoạn
thứ nhất là “quảng trần
bỉ độ y chánh
diệu quả dĩ khải tín” (tŕnh bày rộng răi về
diệu quả y báo và chánh báo của cơi kia để
khơi gợi ḷng tin).
2) Đoạn thứ
hai là “đặc khuyến chúng
sanh ưng cầu văng sanh dĩ phát nguyện” (đặc
biệt khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu văng sanh).
3) Đoạn thứ
ba là “chánh thị hành giả chấp
tŕ danh hiệu dĩ lập hạnh” (dạy hành giả
chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh).
Phần Chánh Tông
cũng là ba đoạn tương ứng với Tín, Nguyện,
Hạnh. Cả ba đoạn này đều khá dài; nay chúng
ta học tập một đoạn.
6.3.1. Rộng
bày diệu quả y báo, chánh báo để khởi tín
Xin hăy xem kinh văn từ:
Xá Lợi Phất! Bỉ độ
hà cố danh vi Cực Lạc?”
舍利弗。彼土何故名為極樂。
(Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao có tên là Cực Lạc?)
Đấy là đoạn
bắt đầu cho đến:
độ, thành tựu như thị công
đức trang nghiêm.
諸菩薩眾亦復如是。舍利弗。彼佛國土。成就如是功德莊嚴。
(Các vị Bồ Tát cũng giống như vậy.
Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy thành tựu
công đức trang nghiêm như thế đó).
Chúng ta lại
phải chia [đoạn lớn này] thành những tiểu
đoạn để nghiên cứu, học tập.
6.3.1.1.
Minh định tông chỉ: Tín nguyện tŕ danh
Tiểu đoạn thứ
nhất là “Tín nguyện tŕ danh,
nhất kinh yếu chỉ, tín nguyện vi Huệ hạnh,
tŕ danh vi Phước hạnh” (Tín nguyện tŕ danh là tông
chỉ trọng yếu của kinh, tín nguyện là hạnh
thuộc về Huệ, tŕ danh là hạnh thuộc
về Phước). Học tập kinh này, trước hết
phải nhận biết chính xác mới ḥng nhận thức
chính xác, hiểu rơ ràng. Ở phần trên, tôi đă báo cáo
cùng quư vị sự thù thắng của bản kinh này,
mười phương chư Phật cùng tán thán! “Tuyệt đối viên dung, siêu
t́nh ly kiến, chẳng thể nghĩ bàn”. Tông chỉ trọng
yếu của bản kinh này là giềng mối để
ta học tập, trong nhà Phật nói: Cương lănh tu hành,
tổng nguyên tắc tu hành chính là “tín nguyện tŕ danh” hay Tín - Nguyện - Hạnh.
Tín - Nguyện là Huệ, tức là thiện căn như
đă nói ở phần trên. Tŕ Danh là phước! Người
chịu niệm Phật là có phước. Không thể niệm
Phật là v́ sao? V́ bạc phước! Đúng là có không ít
người, dạy họ niệm một câu Phật hiệu
sáu chữ “Nam-mô A Di Đà Phật”,
thậm chí đơn giản hơn một chút là bốn chữ
A Di Đà Phật, họ cũng chẳng thể niệm
được.
Nếu chẳng nghiên cứu,
thảo luận kinh điển th́ chúng tôi chẳng nói;
nhưng nếu nghiên cứu, thảo luận kinh điển,
tự bản thân chúng ta phải hiểu rơ, phải biết
rơ tướng trạng ấy là tướng trạng bạc
phước; ta thường nói là “không có phước báo”. Trong mười hai thời,
chấp tŕ danh hiệu; đó là phước báo thù thắng
khôn sánh, phước báo hiếm có trong thế gian. Chúng ta thấy
có rất nhiều người nghèo khổ, suốt ngày miệng
chẳng ĺa A Di Đà Phật, tay chẳng ĺa xâu chuỗi, một
ngày niệm mười vạn tiếng. Niệm rất
siêng năng, nhanh lẹ! Tôi nghe nói trước khi văng sanh
độ hai, ba tháng, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ mỗi
ngày niệm Phật mười sáu vạn câu. Ngài là một
vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông, lúc lâm chung
nhất tâm niệm Phật, nêu khuôn phép, làm gương cho
chúng ta, chúng ta phải biết như thế. Đấy là
Ngài đại từ đại bi thị hiện.
Các vị hăy chú tâm suy
nghĩ, có phước báo thế gian, xuất thế gian
nào lớn bằng phước báo niệm Phật hay chăng?
Quư vị t́m không ra. Ai là người có phước báo? Nếu
chú tâm quan sát, đó là người “tay chẳng ĺa xâu chuỗi, miệng chẳng ĺa Phật
hiệu”. Người như vậy phước báo lớn
nhất. V́ sao biết? Người ấy trong một đời
này sẽ sanh về thế giới Cực Lạc làm Phật,
ai sánh bằng người ấy được? Đừng
nói là trong nhân gian không ai sánh bằng, Đại Phạm
Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương trên trời
cũng không có cách ǵ sánh bằng được! Đại
Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương c̣n
là phàm phu trong sáu đường, chưa ra khỏi lục
đạo, chẳng niệm Phật! Người ấy chịu
niệm Phật, văng sanh ngay trong một đời này; thực
sự hiểu rơ, thực sự minh bạch, thực sự
giác ngộ, quyết định tu tập pháp này. Trong thế
gian này, dù có cho họ vinh hoa, cho họ
hưởng thụ thế nào, người ấy đều
chẳng thích thú. Hứng thú, chí hướng của
người ấy là sống qua ngày tháng, thật thà niệm
Phật! Đấy phải là người chân chánh giác ngộ,
triệt để giác ngộ th́ mới có thể làm
được như vậy!
Thế
gian đă loạn quá, cụ Lư Bỉnh
“Đắc sanh dữ phủ, toàn
do tín nguyện chi hữu vô. Phẩm vị cao hạ, toàn do
tŕ danh chi thâm thiển” (Được văng sanh hay không, hoàn
toàn là do tín nguyện có hay không? Phẩm vị cao hay thấp,
hoàn toàn là do tŕ danh sâu hay cạn). Có được văng sanh
hay không do tín nguyện quyết định, tín nguyện có
nghĩa rất sâu. Quư vị thực sự tin tưởng,
thực sự phát nguyện, tự nhiên quư vị rất lănh
đạm đối với thế gian này. Thấy thế
gian này như thế nào? Coi như một cuộc lữ du,
nơi này như lữ điếm (quán trọ), như lữ
quán. Tốt cũng được, không tốt cũng xong,
ở đôi ba ngày rồi đi. Chỗ này chẳng mảy
may liên quan ǵ đến ta, nó có chủ nhân, ta là khách đi
đến. Tự nhiên quư vị có ư tưởng ấy; bởi
thế, đối với hết thảy mọi sự
trong thế gian này, quư vị tuyệt đối chẳng
để tâm.
Có rất
nhiều người trong cơi đời niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, suốt đời niệm Phật
rốt cuộc chẳng thể văng sanh, là v́ nguyên nhân nào?
Quư vị nói họ chẳng tin ư? Họ rất tin
tưởng, tin rất kiền thành. Quư vị nói họ chẳng
có nguyện ư? Suốt ngày miệng cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới; v́ sao chẳng
đến được? V́ xen tạp! Xen tạp duyên cơi
đời, chẳng buông xuống được! Trong tâm kẻ
ấy vướng mắc, đến lúc lâm chung vướng
mắc chẳng dứt, bị chúng lôi lại! Duyên do là như
vậy. Khi xưa, thầy Lư rất cảm khái nói: “Một vạn người niệm
Phật, thực sự được văng sanh chỉ có
hai, ba người mà thôi!” Trong một vạn người
mà chỉ có hai, ba người, chín ngàn chín trăm chín
mươi bảy người kia chẳng được
văng sanh.
Chúng ta phải
hiểu nguyên nhân v́ sao chẳng được văng sanh, đó
là v́ tâm có vướng mắc. V́ sao tâm họ có vướng
mắc? Chẳng thực sự tin, nguyện chẳng chân,
hành chẳng hết sức, luống uổng một đời,
chỉ tăng cường được chủng tử
tịnh nghiệp trong A Lại Da Thức, đến khi nào
lại gặp được duyên phận để tiếp
nhận tu tập thật rất khó nói! Chắc chắn là
có lần sau, nhưng thời gian lần sau ấy dài hay ngắn,
khó nói lắm. Có kẻ lui sụt, bèn lui sụt mấy
đời, thậm chí có kẻ lui sụt bèn lui sụt cả
mấy kiếp, đáng sợ lắm! Nếu quư vị hỏi
là do nguyên nhân ǵ ư? Thiện Đạo đại sư nói
rất rơ: “Gặp duyên bất
đồng”. Phải biết: Được làm thân
người, nghe Phật pháp, gặp được pháp môn
Tịnh Độ, đúng là trăm ngàn vạn kiếp khó
gặp gỡ, là một ngày khó gặp gỡ từ vô
lượng kiếp đến nay.
Mọi
người chúng ta cũng là đối với một ngày
khó gặp trong vô lượng kiếp mà ngày hôm nay chúng ta
được gặp. Gặp được mà chẳng
biết quư tiếc, chẳng biết sốt sắng nỗ
lực tu tập, đáng tiếc lắm! Đối với
cơ hội, người thế gian thường nói là “hễ
bỏ lỡ là xong luôn”, chẳng biết năm nào, tháng
nào, ngày nào mới gặp lại. Phàm những người
có thành tựu xuất thế gian hay thành công trong thế
gian, chẳng có bí quyết mầu nhiệm chi khác, chỉ
là nhận biết cơ hội, chụp lấy cơ hội
bèn thành tựu. Người chẳng nhận biết cơ
hội, hoặc nhận biết cơ hội nhưng không
chịu chụp lấy, đều thất bại! Chẳng
thể buông duyên trong cơi đời (thế duyên) xuống
được! “Buông xuống” không có nghĩa là mặc kệ,
chẳng quan tâm tới. Quư vị thấy điều ǵ phải
quan tâm cứ quan tâm, nhưng đồng thời lại
buông xuống, tuyệt diệu như thế đó! Đấy
là ǵ? Là trí huệ. Người thế gian nếu đă quan
tâm bèn bận ḷng, chẳng buông xuống được. V́
nguyên nhân nào? V́ t́nh chấp, do họ có t́nh chấp.
Sao Phật,
Bồ Tát vừa quan tâm, vừa chiếu cố, lại
buông xuống được? Các Ngài có trí huệ, trí huệ
chân thật, hoàn toàn chuyển t́nh chấp thành trí huệ, ta
thường nói là “trí huệ
viên măn rốt ráo”. Phương tiện thiện xảo
thù thắng diệu tuyệt, nói theo kiểu bây giờ là “thủ
đoạn khéo léo cao độ”. Trong nhà Phật gọi thủ
đoạn khéo léo cao độ là “phương tiện
thiện xảo”. Trong tâm chẳng vướng mắc mảy
may dấu vết nào th́ gọi là “buông xuống”. Lại
đại từ đại bi phổ độ chúng sanh,
dù phổ độ chúng sanh nhưng tâm chẳng có mảy
may nhiễm trước, đấy là diệu dụng của
tánh đức.
Đức Phật
thường dạy chúng ta: Loại diệu dụng trí huệ
ấy chẳng phải chỉ riêng một cá nhân nào có, mà hết
thảy chúng sanh ai nấy đều sẵn có. Trọn chẳng
phải chỉ ḿnh Phật, Bồ Tát mới có, không phải
vậy! V́ sao nay các Ngài có, chúng ta không có? Các Ngài giác, chúng ta c̣n
mê. Giác chẳng có chướng ngại, lư sự vô ngại,
sự sự vô ngại. Mê th́ nơi nào cũng thành chướng,
chốn chốn đều là chướng ngại. Chúng ta
cam bề chịu mê, mê mất tự tánh. Chân tướng sự
thật ấy chúng ta chẳng thể không biết. Nay Phật,
Bồ Tát giúp chúng ta, giúp điều ǵ? Phá mê khai ngộ!
Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát đều coi
giúp hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ là công đức
bậc nhất, không ǵ có thể thù thắng hơn
được, không ǵ tốt hơn được nữa.
Đó là lợi ích chân thật rốt ráo viên măn, là sư
đạo (đạo làm thầy).
Trong kinh Phật dạy
“sư ân siêu quá phụ mẫu” (ơn thầy vượt trỗi ơn cha mẹ),
vị thầy vừa nói đó chẳng phải là những
thầy giáo thông thường trong thế gian. Trong tâm mục
của người Trung Quốc, thường xem những
vị thầy trong thế gian như cha mẹ. Ân đức
của thầy lớn như ân đức của cha mẹ,
tương đương, bằng với ân cha mẹ; nhưng
trong Phật pháp, những vị thầy vừa nói trên đây
chính là chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát, ân đức
các Ngài vượt trỗi ân đức cha mẹ; v́ sao? Ân
đức cha mẹ đối với chúng ta là ân đức
một đời; nhưng chư Phật Như Lai, Pháp
Thân Bồ Tát có ân đức vĩnh hằng đối với
chúng ta, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn
chiếu cố, vĩnh viễn quan tâm. Chỉ cần ta có
một chút giác ngộ, các Ngài chẳng ĺa bỏ, liền
nhanh chóng đến giúp đỡ, mong mỏi một điểm
giác ngộ ấy được khuếch đại, trở
thành sâu đậm hơn. Ân đức
ấy cả thế gian lẫn xuất
thế gian không có ǵ sánh bằng được!
Do đây biết rằng:
Nói trên mặt hiện thực, công đức lợi ích thù
thắng bậc nhất là ǵ? Là giúp cho chúng ta TIN pháp
môn này, nguyện sanh Tịnh Độ. Đấy là đức
bậc nhất, là đại sự bậc nhất của
hết thảy Như Lai độ chúng sanh. Chúng sanh căn
tánh chưa chín muồi th́ không có cách nào hết. Chưa chín
muồi th́ Phật, Bồ Tát giới thiệu các pháp môn khác.
Quư vị phải biết: Giới thiệu các pháp môn khác cho
quư vị là chuyện bất đắc dĩ! Bởi vậy,
Thiện Đạo đại sư nói một câu mà chúng
tôi cho khắc thành ấn chương. Ngài nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất
thế, duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải” (Sở
dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm
để nói biển bổn nguyện Di Đà). Câu nói này thật
hay. Hết thảy chư Phật Như Lai, hết thảy
Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới của
hết thảy cơi nước trọn khắp pháp giới
hư không là v́ lẽ nào? V́ thành thực nói cùng quư vị, v́
giúp cho quư vị tin có Tây Phương Cực Lạc thế
giới, tin có A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh, tin
chính ḿnh có duyên văng sanh cơi Phật. Giúp cho quư vị tin tưởng
sự việc ấy, giúp cho quư vị phát nguyện, giúp cho
quư vị niệm Phật!
Do đây
biết rằng: Chư Phật Như Lai hóa độ chúng
sanh chỉ có một môn là pháp môn Tịnh Độ, một
môn như vậy. Nếu đối với một môn này, quư
vị có chướng ngại, chẳng thể tiếp nhận,
có nghi hoặc, có hứng thú khác th́ Phật luôn hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công đức, đức Phật tuyệt
đối chẳng miễn cưỡng. Thiện căn,
phước đức, nhân duyên của quư vị chưa chín
muồi, miễn cưỡng cũng vô ích! Chẳng những
miễn cưỡng vô tác dụng, mà phải nói thật là:
Miễn cưỡng c̣n tạo thành chướng ngại bất
lợi. Chẳng miễn cưỡng, quư vị thích học
điều ǵ, bèn dạy quư vị học điều
đó. Thích Thiền dạy Thiền, thích Mật dạy Mật,
thích Giáo dạy Giáo, thích Giới Luật bèn dạy Giới
Luật, thích môn ǵ, dạy môn đó. Do đây biết rằng:
Tất cả hết thảy pháp môn, tám vạn bốn ngàn
pháp môn, vô lượng pháp môn là phụ; pháp môn cốt lơi, pháp
môn chủ chốt của hết thảy pháp môn là niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Bởi
thế, quư vị thấy trong kinh Vô Lượng Thọ,
Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật. Thích Ca Mâu Ni
tán thán là thay mặt cho mười phương ba đời
hết thảy chư Phật Như Lai tán thán A Di Đà Phật
“quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (tôn quư nhất trong các quang minh, là
vua của các Phật), tán thán đến cùng cực.
Chúng ta nghe hết thảy chư Phật tán thán A Di Đà Phật
như thế mà vẫn c̣n nghi hoặc, chẳng thể hạ
quyết tâm, vẫn chẳng thể buông xuống muôn duyên,
đấy chẳng phải là nghiệp chướng sâu nặng
th́ là ǵ vậy? Nghiệp chướng sâu
nặng đấy!
Kinh Bát
Nhă giảng thế gian rất rơ ràng: “Phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng”
(phàm tất cả h́nh tướng đều là hư vọng),
“nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào,
ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng,
huyễn, bọt, bóng). Người thông minh, người
có trí huệ phải lắng tịnh, phải chú tâm quán sát,
nh́n thấu suốt thế giới. V́ sao nói là hư vọng,
là mộng, huyễn, bọt, bóng? Lời Phật nói là chân
thật, Phật giảng cho chúng ta biết chân tướng
của vũ trụ. Từ kinh điển Đại Thừa,
chúng ta thường đọc thấy cảnh giới của
Như Lai, của Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài thấy mười
phương các cơi Phật như ở ngay trước mắt.
Mười phương các cơi Phật ở tại đâu?
Ở ngay trước mắt, chẳng xa cách ǵ!
Chẳng
phải giống như chúng ta hiện nay đối trước
màn ảnh máy truyền h́nh, chúng ta có thể nghe họ nói,
nhưng họ chẳng nghe thấy chúng ta nói, chúng ta có câu hỏi
ǵ cũng không hỏi họ được. Trong cảnh giới
của các Ngài, quư vị thấy mười phương
chư Phật. Mười phương chư Phật không
đến đây, quư vị cũng không đi qua đó,
nhưng ở ngay trước mặt, có thể nắm tay,
có thể tṛ chuyện! Điều đó nói lên điều
ǵ? Cho thấy trong Nhất Chân pháp giới không có không gian,
ta muốn thấy Phật quá khứ, chư Phật
cũng như đang ở ngay trước mặt; chúng ta
muốn thấy Phật vị lai, vẫn là như ở
ngay trước mặt. Trong cảnh giới ấy, chẳng
có không gian, chẳng có thời gian, nên gọi là Nhất
Chân. Nếu có quá khứ, hiện tại, vị lai th́ là ba
chẳng phải một; có xa - gần th́ là hai, cũng chẳng
phải một. Chẳng có hai, ba, nên gọi là Nhất Chân Pháp
Giới.
Hiện
tại, các nhà khoa học dùng Toán Học suy tính bèn nhận
thấy “chẳng có thời
gian, chẳng có không gian” là điều hoàn toàn có khả
năng. Trong một điều kiện nào đó, thời
gian và không gian hoàn toàn tiêu mất, đấy chính là điều
kinh Phật thường nói, thường gọi là “chân
tướng sự thật”. Ngoài ra, họ c̣n phát hiện
Hữu từ Vô biến hiện ra, trong Vô sanh Hữu. Thật
ra, kinh Bát Nhă đă giảng đạo lư này quá nhiều lần
rồi: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Sắc
chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Sắc là Hữu,
Không là Vô, Hữu do đâu mà có? Từ Vô sanh Hữu. Bởi
thế, cái Vô ấy chẳng thể nói là cái ǵ cũng đều
không có! Cái ǵ nó cũng có, lại c̣n hết sức viên măn.
Đó là ǵ vậy? Là tự tánh! Kinh Phật gọi là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như vậy), đó là
đức năng của tự tánh, chúng ta thường
nói “tự tánh vạn đức vạn năng”.
Thật
ra, ai cũng biết nói “vạn
đức, vạn năng”, nhưng không ai thực sự
hiểu được ư nghĩa. Thế nào là vạn đức,
vạn năng? Vốn chẳng có, cái ǵ cũng không có, lại
có thể biến hiện hư không, biến hiện thế
giới, biến hiện vạn vật, đó là vạn
đức vạn năng. Kinh Hoa Nghiêm gọi cái có khả
năng, có khả năng hiện ấy là “duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”. Thức vẫn là tự
tánh. Do vậy, Chân Như bổn tánh là vạn đức vạn
năng, có khả năng hiện, có khả năng biến.
Chân Như bổn tánh cái ǵ cũng không có, nhưng có thể
hiện ra vạn pháp, biến hiện toàn thể vũ trụ.
Hiện
thời, các nhà khoa học cũng khẳng định, họ
nói toàn thể vũ trụ lúc chưa biến hiện th́ giống
như thế nào? Toàn thể vũ trụ co rút, đậm
đặc, cô đặc lại thành một lạp tử
rất bé. Bé đến mức độ nào? Các nhà khoa học
nói bé đến mức nhổ một sợi tóc, đem sợi
tóc đó cắt ngang; nơi mặt cắt ngang đó, ta có
thể xếp khít những lạp tử bé tí. Mỗi lạp
tử bé tí ấy là vũ trụ co rút lại. Nơi mặt
cắt ngang của một sợi tóc ấy, có thể xếp
được bao nhiêu hạt nhỏ ấy? Họ nói sau
con số một trăm vạn, phải thêm ba chữ Ức,
tức là một trăm vạn ức ức ức; hết
sức nhỏ bé! Mỗi một lạp tử bé tí ấy
có thể biến thành đại thế giới.
Phương pháp tính toán của họ là dùng số thập
phân. Sau dấu phẩy có ba mươi ba con số zéro, lạp
tử nhỏ bé như vậy đó lại biến hiện
thành thế giới lớn như thế đó.
Trong kinh
đức Phật dạy tự tánh không lớn hay nhỏ;
phát hiện khoa học nói trên đă chứng minh kinh Hoa
Nghiêm. Ở phần trên tôi đă nói qua, trong vi trần có thế
giới, Phổ Hiền Bồ Tát có thể vào được.
Vi trần ấy nhỏ đến đâu chúng ta chẳng
có cách ǵ tưởng tượng được, kính hiển
vi hiện thời chưa thấy được. Mặt cắt
ngang của sợi tóc chứa được một
trăm vạn ức ức ức lạp tử bé xíu
như thế, xếp theo hàng ngang, xếp kín mặt cắt
ngang của một sợi tóc. Các nhà khoa học nói những
thứ ấy sau một cơn bùng nổ lớn (Big Bang) sẽ
biến thành thế giới.
Thế
giới này, tức thế giới chúng ta đang cảm nhận
đây, biến hiện ra như thế nào? Hiện thời,
các nhà khoa học cũng phát hiện thế giới này chẳng
phải là tiến hóa (phát triển từ từ), họ gọi
là “nhất thời đốn
hiện”, [tức là] đột nhiên hiện ra. Cách giải
thích ấy rất gần gũi kinh Hoa Nghiêm. Rất giống!
Hăy nhớ những ǵ đức Phật thường dạy
chúng ta, bốn câu kệ trong kinh Kim Cang là:
Nhất
thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ, diệc như điển,
Ưng tác như thị
quán.
(Hết
thảy pháp hữu vi,
Như
mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như
sương, cũng như chớp,
Phải
thường quán như vậy!)
Chúng ta thấy những
điều các nhà khoa học nói giống như kinh Hoa Nghiêm
đă nói, đúng là nhất thời đốn hiện! Cái “nhất
thời” ấy là lúc nào? Nhất thời đó là “đương hạ” (ngay
trong lúc ấy). Chẳng phải là quá khứ. Không có quá khứ
mà cũng không có vị lai; ấy chính là “đương
hạ”. Việc này rất khó hiểu. Trước hết,
chúng tôi dùng huyễn đăng phiến[1] [để
tỷ dụ]. Trong quá khứ, ở Hoa Tạng Đồ
Thư Quán h́nh như có ba cái máy chiếu huyễn
đăng phiến (slide projector). Lúc ấy, chúng tôi có khoảng
chừng sáu, bảy ngàn tờ, rất có thể có đến
cả vạn tờ huyễn đăng phiến; rất
nhiều lúc chúng tôi dùng chúng trong giảng dạy.
Huyễn đăng phiến
là một tấm phim trong suốt, chúng tôi bỏ vào máy, liền
thấy hiện h́nh toàn bộ trên màn chiếu, nhất thời
đốn hiện! Chẳng có trước - sau, chẳng
có xa - gần, thời gian, không gian đều chẳng có,
nhất thời đốn hiện một trang. Trang thứ
hai đặt lên rồi, trang đầu tiên biến mất
ngay, trang thứ hai lại nhất thời đốn hiện!
Quư vị hăy nghĩ kỹ lời tôi vừa nói đó, hăy nghĩ
đến cảnh giới ấy. Máy chiếu huyễn
đăng phiến chạy bằng điện, quư vị ấn
nút một cái bèn đổi được một trang,
trang thứ ba đưa lên th́ trang thứ hai bèn mất, trang
thứ ba nhất thời đốn hiện. Mỗi trang
đều nhất thời đốn hiện. Hiện
tượng ấy, chúng ta nghĩ kỹ xem, có phải là
như đức Phật đă nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Ngay nơi
đây sanh ra, cũng từ nơi đây diệt mất)
chăng? Huyễn đăng phiến chiếu nhanh chậm
tùy ư chúng ta. Nếu ta thấy ảnh đó nh́n rất đẹp,
xem hai ba phút mới đổi qua trang khác; ảnh không đẹp
th́ chừng mấy giây liền đổi qua trang khác, đều
là nhất thời đốn hiện.
Sau
đó, chúng ta lại tăng tốc độ nhanh hơn, khi
tăng tốc, quư vị sẽ thấy những tấm
phim trở thành điện ảnh. Trong quá khứ ở Hoa
Tạng, chúng tôi có một cái máy chiếu phim tám ly (8mm); h́nh
như có một máy chiếu phim, hai máy quay phim, ra bên ngoài quay
phim rồi đem về chiếu lại. Toàn bộ thiết
bị chúng tôi đều có. Lúc đó, chúng tôi tự chiếu,
tự ḿnh cắt ghép phim rồi chiếu cho mọi người
xem. Máy chiếu phim tám ly có hai tốc độ: Tốc
độ chậm th́ một giây chiếu được
mười tám tấm ảnh; tốc độ nhanh một
giây chiếu được hai mươi bốn tấm.
Quư vị tưởng tượng xem: Những h́nh ảnh
hiện trên màn bạc, mỗi một tấm (v́ tốc
độ chiếu nhanh) lọt vào ống kính lúc nó mở
ra, bèn nhất thời đốn hiện, lập tức hiện
h́nh, rồi ống kính đóng lại, biến mất. Chiếu
qua tấm thứ hai có phải là tấm thứ nhất “tùy
xứ diệt tận” hay không? Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận, chẳng phải là hiện
tượng đó hay sao? Đấy là chân tướng
vũ trụ. Bởi thế, nhất thời đốn hiện
là hiện tiền, chẳng phải là quá khứ, cũng chẳng
phải là vị lai.
Thế
giới được cảm nhận bởi sáu căn của
chúng ta trong hiện tại cũng giống như các nhà khoa
học nói, nhưng dùng phim ǵ? Tấm phim rất nhỏ,
trong mặt cắt ngang của một sợi tóc có thể
xếp kín một trăm vạn ức ức ức, tốc
độ chiếu rất nhanh, đại khái là một ức
vạn phần của một giây, chẳng phải là một
phần hai mươi bốn giây, mà là một phần vạn
ức giây, thế giới hiện tiền của chúng ta là
như vậy đó! Đương xứ xuất sanh, tùy
xứ diệt tận! Bởi thế, kinh Kim Cang nói: “Như
lộ diệc như điển” (như sương
cũng như chớp), “điển”
(電) là “thiểm
điển” (閃電: ánh
chớp), ví cho cái ǵ rất nhanh (thật ra, tốc độ
của tia chớp c̣n chậm rất nhiều). Rất nhanh!
Làm sao phàm phu chúng ta biết được? Đức Phật
nói: Phải là Bát Địa Bồ Tát mới thấy
được chân tướng của những hiện
tượng ấy !
Các nhà
khoa học hiện thời chẳng thể thấy
được, chỉ từ Toán Học mà tính toán ra, chứ
không thấy. Nếu thấy được, phải là Bát
Địa Bồ Tát. Cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn, nếu quư vị thực sự thấu hiểu
chân tướng của sự thật, há c̣n tham luyến thế
giới này chăng? Há c̣n khởi tâm động niệm
nơi thế giới này chăng? Thật đấy! Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước thảy
đều đoạn hết. V́ sao thế giới này biến
hóa nhiều như thế? Những biến hóa ấy đều
do năng lượng của vọng tưởng, chấp
trước, phân biệt; những thứ đó khiến
cho tất cả hết thảy hiện tượng phát
sanh phản ứng. Biến hóa là do đạo lư như vậy.
Trong Nhất Chân pháp giới v́ sao chẳng có những phản
ứng đó? Trong Nhất Chân Pháp Giới, chư Phật,
Bồ Tát đều đă giác ngộ, thảy đều
không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
V́ thế, cảnh giới của họ vĩnh hằng bất
biến, chân thật viên măn, chẳng có một chút khuyết
hăm nào; đạo lư là đây!
Chúng ta hy
vọng khoa học không ngừng phát triển, sẽ chứng
thực hết thảy mọi điều kinh Phật
đă nói. Họ chứng thực được, nhưng họ
chẳng nhập cảnh giới. V́ sao chẳng nhập cảnh
giới? Do chẳng đoạn vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước. Đoạn được vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước rồi, quư vị
liền khế nhập cảnh giới, mới thấy
được chân tướng sự thật. Bởi vậy,
kiến lập tín tâm không dễ! Tín tâm kiến lập, nguyện
tâm kiến lập, hành tâm kiến lập, triệt để
liễu giải chân tướng sự thật, sẽ giải
quyết được vấn đề. Nếu quư vị
chẳng triệt để liễu giải chân tướng
sự thật ấy, chẳng đoạn vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước được, sẽ có
chướng ngại. A! Nay đă đến giờ rồi.
*
Chúng ta
coi tiếp tiểu tiết thứ nhất trong đoạn
lớn thứ nhất của phần Chánh Tông. Chúng ta đọc
qua một lượt, tiểu đoạn thứ nhất
là: “Tín nguyện tŕ danh, nhất kinh yếu chỉ, tín
nguyện vi Huệ hạnh, tŕ danh vi Phước hạnh; đắc
sanh dữ phủ, toàn do tín nguyện chi hữu vô” (Tín nguyện tŕ danh là tông chỉ
trọng yếu chỉ của kinh này, tín nguyện là hạnh
thuộc về Huệ, tŕ danh là hạnh thuộc về Phước.
Được văng sanh hay không, hoàn toàn do có tín nguyện hay
không). Lần trước, chúng tôi đă giảng đến
chỗ này, hăy xem tiếp đoạn dưới đây:
“Phẩm
vị cao hạ, toàn do tŕ danh chi thâm thiển, tín nguyện
vi tiền đạo, tŕ danh vi chánh tu” (Phẩm vị cao hay thấp, hoàn toàn do tŕ danh sâu hay
cạn. Tín nguyện để dẫn đường, tŕ
danh là cách tu hành chánh yếu). Chúng tôi sẽ giảng
đoạn này. Tín - Nguyện - Hạnh có thứ tự,
đặc biệt là đối với hàng Sơ Học.
Trước hết, chúng ta phải phát khởi được
tín tâm, tín tâm thực sự chẳng dễ dàng. Trong phần
trước, chúng tôi đă nói khá nhiều, không điều
nào chẳng nhằm khiến cho chúng ta phát khởi tín tâm
đối với Phật pháp, liễu giải chân tướng
của nhân sanh và vũ trụ. Hiện nay, khoa học đă
chứng thực, nhưng nói thật ra, chỉ chứng thực
ở một mức độ hết sức hữu hạn.
Đối với sự tướng, lư luận ở một
mức độ sâu hơn, khoa học chẳng có cách nào
để giải thích được cả.
Ví như nói đến
sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp
giới, khoa học không có cách nào giải thích được.
Các nhà khoa học biết trong vũ trụ này tồn tại
những chiều không gian (spatial dimensions) khác biệt; sự
trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp giới
chính là t́nh trạng thuộc về những chiều không
gian khác biệt, khoa học không có cách nào hiểu được.
Thù thắng hơn cảnh giới của chúng ta là thiên
đạo. Trong thiên đạo có Dục Giới thiên, có Sắc
Giới thiên, có Vô Sắc Giới thiên. Ngoài lục đạo
lại c̣n có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; dưới
đó lại có ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục.
Trong súc sanh lại phức tạp hơn nữa! Hiểu biết
của chúng ta hết sức hữu hạn! Bởi thế,
theo nhận định của Phật pháp, tri thức khoa
học nói trắng ra, thật hết sức hữu hạn,
thật nhỏ nhoi, chẳng đáng để nói tới!
Một
nhà khoa học chân chánh sẽ có thái độ rất rơ ràng,
điều ǵ ông ta chứng thực được bèn tin
tưởng, điều ǵ chẳng thể chứng thực,
chẳng dám nói là không có. V́ sao? Khoa học kỹ thuật vẫn
c̣n đang tiến bộ không ngừng. Trong quá khứ, các nhà
khoa học tưởng những ǵ họ đă phát hiện
là chân lư; chẳng ngờ không lâu sau, các nhà khoa học lớp
sau lại có những phát hiện mới, phải thay đổi
những định luật. T́nh trạng như thế rất
nhiều! Bởi vậy, nhà khoa học thông minh trong hiện
tại luôn nói những chân lư được phát hiện chỉ
là tạm thời, nói như vậy rất thông minh. Sau này lại
có những phát hiện mới, những phát hiện mới
vượt trỗi hơn [những phát hiện cũ]. Những
điều uyên áo, kỳ diệu trong vũ trụ không có
giới hạn, sâu không đáy, rộng vô biên, c̣n đang đợi
con người từ từ phát hiện ra. Dùng kỹ thuật
khoa học và phương pháp cơ giới th́ những ǵ
quư vị nghiên cứu được vẫn là hữu hạn.
Kinh Phật nói họ dùng “nhất
thời” để nghiên cứu; hiện tại [khoa học]
vẫn chưa tách rời “nhất thời”, nên [những
sự phát hiện] có hạn chế.
Theo Phật
pháp, “nhất thời” chỉ có thể duyên A Lại
Da Thức, chứ không thể duyên Chân Như tự tánh. Bởi
vậy, đối với Chân Như tự tánh, đức
Phật chỉ nói gọn một câu “chẳng thể
nghĩ bàn”. Chẳng thể nghĩ là chẳng thể
dùng cái tâm ư thức để hiểu rơ nó; chẳng thể
bàn là chẳng thể dùng ngôn ngữ để tŕnh bày rơ rệt
được. Đối với chân tướng của sự
thật, ngôn ngữ chỉ có năng lực hữu hạn,
không diễn tả được nổi. Năng lực
tư duy cũng hữu hạn, quư vị tư duy, suy
nghĩ cũng có mức giới hạn tột cùng. Cái giới
hạn tột cùng nằm trong A Lại Da Thức. Chân
Như bổn tánh chẳng phải là A Lại Da thức nên
[cái tâm ư thức của] quư vị duyên không được.
Bởi vậy, trong lúc ấy, tất cả hết thảy
phương pháp khoa học đều vô tác dụng.
Điều
này do tiên sinh Phương Đông Mỹ nói với tôi. Do v́
trước kia, tôi ở Đài Loan, pháp sư Đạo An
chủ tŕ Phật Giáo Hội. Khóa Đại Chuyên Phật Học
Giảng Ṭa do hội Phật giáo Trung Quốc tổ chức,
mời tôi đảm nhiệm vai tṛ tổng chủ giảng.
Tôi rất mong mở lớp Nhân Minh trong khóa giảng ấy.
Nhân Minh[2] là
la-tập (logic), thuộc biện chứng pháp, cũng thuộc
vào phương pháp khoa học. Chúng tôi rất hy vọng mời
được tiên sinh Phương Đông Mỹ đến
giảng môn học này. Tôi đến t́m cụ,
Phương tiên sinh nói: “Phật pháp giảng đến
một mức độ cao th́ môn này vô dụng. Nhân Minh, biện
chứng pháp lẫn la-tập thảy đều vô ích”.
Không sai! Cụ nói chẳng sai chút nào. Trong Phật pháp ở
tŕnh độ cao, đúng là chúng vô dụng. Giảng những
môn đó cho ai? Cho hàng sơ học. Với sơ cấp,
trung cấp c̣n có ích, chứ với cao cấp, chúng trở
thành vô dụng. Họ vượt khỏi rồi, những
môn ấy đều thuộc về phương pháp luận
của khoa học. V́ thế, sau này chúng tôi không mở lớp
đó.
Phật
pháp cao cấp dùng ǵ? Dùng Thiền Định, dùng tâm thanh tịnh.
Thiền có nghĩa là “tịnh lự”, Tịnh là Chỉ,
Lự là Quán. Bởi vậy, Thiền c̣n gọi là Chỉ
Quán. Chỉ là buông xuống, Quán là thấy thấu suốt.
Buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, quư vị sẽ thấy được chân
tướng sự thật. Tất cả phương pháp
luận thế gian hay xuất thế gian đều chẳng
ĺa khỏi ư thức. Nguyên nhân thực sự v́ sao bản
chú giải Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại
sư có mặt cũng là v́ đạo lư này. Kinh Lăng
Nghiêm do tôn giả Bát Lạt Mật Đế truyền sang
Trung Quốc vào cuối đời Vơ Tắc Thiên. Kinh
Lăng Nghiêm phiên dịch xong nhằm thời vua Đường
Trung Tông. Kinh được phiên dịch xong, tất cả
chú sớ, giảng giải đều dùng nguyên lư, nguyên tắc
Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai để giải
thích.
Giao Quang
đại sư là người đời Minh, đồng
thời với Liên Tŕ đại sư. Ngài cho rằng cách
suy nghĩ trên (tức là cách dùng Tam Chỉ Tam Quán để
giải thích kinh Lăng Nghiêm) chẳng phải là chỉ thú
của kinh Lăng Nghiêm ; bởi lẽ, Tam Chỉ Tam Quán là
dùng Ư thức, chẳng ĺa khỏi tâm ư thức. Bởi vậy,
lăo nhân gia chủ trương ứng dụng giáo nghĩa “xả
Thức dùng Căn” của chính kinh Lăng Nghiêm, hoàn toàn chẳng
dùng đến thức thứ sáu là Ư Thức. Dùng ǵ? Dùng
căn tánh của lục căn. Cách giảng này chính xác, chứng minh được.
Ngài Giao Quang cũng là người niệm Phật, cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đại
khái, thọ mạng Ngài đă hết, A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn, Ngài thấy A Di Đà Phật,
thưa cùng A Di Đà Phật: “Kinh Lăng Nghiêm là một
bộ kinh trọng yếu trong Đại Thừa Phật
pháp, điều hết sức đáng tiếc là từ cổ
đến nay, rất nhiều người chú giải bộ
kinh này đều chẳng nắm được chỉ
thú chân chánh”. Ngài muốn viết một bộ chú giải
mới, “xin A Di Đà Phật
cho phép con nay tạm thời chẳng văng sanh, đợi khi
con chú giải bộ kinh này xong xuôi, sẽ văng sanh thế giới
Cực Lạc”. A Di Đà Phật chấp thuận, Phật
liền rời đi. Câu chuyện này được ghi
trong Lời Tựa của sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, chúng
tôi tin tưởng Giao Quang đại sư chẳng dối
người, chẳng bịa ra câu chuyện ấy.
Xả Thức
dùng Căn, nói thật chẳng sai, nhưng khó quá, không ai có
thể tu được! Dùng phương pháp Tam Chỉ Tam
Quán, người căn tánh trung hay thượng làm
được, vẫn c̣n có thể tu học được.
Nếu bỏ Thức dùng Căn th́ giống như Thiền
tông, người thượng thượng căn mới
hành được; chẳng phải thượng thượng
căn sẽ chẳng có phần. Kinh Lăng Nghiêm giảng
chân tướng của nhân sanh và vũ trụ; bởi vậy,
nó là một bộ kinh rất nổi danh trong Phật môn. Từ
cổ, tổ sư đại đức thường nói:
“Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, thành Phật là kinh Pháp
Hoa”, hai câu nói ấy, những người học Phật
đều biết. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, v́ sao nói
thành Phật là kinh Pháp Hoa?
Bởi lẽ,
trong quá khứ, trong rất nhiều kinh, đức Phật
đều nói Nhất Xiển Đề chẳng thể
thành Phật. Nhất Xiển Đề (Icchantika) là ǵ? Nhất
Xiển Đề dịch nghĩa sang tiếng Hán là “người
không có thiện căn”, hoặc dịch là “người
đoạn thiện căn”. Không có thiện căn làm sao
thành Phật được? Đấy là điều đức
Phật thường nói! Nhưng trong hội Pháp Hoa, đức
Phật lại nói Nhất Xiển Đề cũng có Phật
tánh, Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật,
tức là “không một ai chẳng
thể thành Phật”. Ư nghĩa này tương ứng với
câu kinh Hoa Nghiêm: “T́nh và vô t́nh đều viên măn Chủng
Trí”.
Kẻ ngũ nghịch
thập ác, tạo tội ác cùng cực trong thế gian
đều có Phật tánh, chẳng thể nói kẻ ấy
tội ác lớn cùng cực, chẳng thể thành Phật
được! Chẳng có đạo lư ấy! Kẻ ấy
có Phật tánh, nếu kẻ ấy gặp duyên cũng thành
Phật. Thiện Đạo đại sư nói tuyệt
diệu: “Tổng tại ngộ duyên bất đồng”
(Đều do gặp duyên
khác nhau). Kẻ ấy chưa gặp duyên bèn tạo tội
nghiệp, phải chịu quả báo, quả báo cũng có
ngày xong. Khi nào xong hết quả báo? Không nhất định,
nghĩa là sao? Nếu kẻ ấy giác ngộ th́ tội báo
đó tiêu diệt; nếu kẻ ấy chẳng giác ngộ
th́ vẫn c̣n tội báo phải thọ. Giống hệt
như nằm mộng, gặp ác mộng khổ ghê lắm,
nhưng nếu tỉnh giấc, mộng ấy không c̣n nữa.
Khi nào kẻ ấy tỉnh mộng? Tỉnh mộng rất
nhanh th́ thọ tội rất ngắn, ĺa khổ rất
nhanh. Nếu tỉnh mộng chậm, thọ tội lâu dài.
Bởi vậy,
người phạm tội đại cực ác, đọa
A Tỳ địa ngục, lúc nào sẽ thoát
ra? Không nhất định! Tùy thuộc lúc nào người ấy
giác ngộ, lúc nào sám hối, hồi đầu, tự ḿnh thực
sự biết ḿnh lầm. Do một niệm sám hối ấy,
Phật tánh bột khởi. V́ thế, trong kinh giáo, Phật
thường chỉ dạy chúng ta đừng coi thường
kẻ ác, v́ sao? Không chừng kẻ ấy thành Phật
trước chúng ta, ta phải làm đệ tử kẻ ấy,
rất có khả năng! Sức mạnh của sám hối
chẳng thể nghĩ bàn! Thực sự biết sai, thực
sự hồi đầu, ngạn ngữ Trung Quốc có
câu: “Lăng tử hồi đầu kim bất hoán” (lăng tử
quay đầu, vàng chẳng đổi). Bởi vậy, tín
nguyện trọng yếu hơn bất cứ điều
ǵ.
Chúng tôi hết
sức kính ngưỡng Giao Quang đại sư, tán thán
Ngài là một vị đại thiện tri
thức. Pháp sư Viên Anh suốt đời nghiên cứu
kinh Lăng Nghiêm. Qua truyện kư viết về Ngài, chúng ta
thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài hết sức
thích thú kinh Lăng Nghiêm, lập chí chuyên dốc công nghiên cứu,
đến năm bảy mươi lăm tuổi, hoàn
thành Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, nay rất phổ
biến. Chúng tôi xem kỹ bản ấy, hơn sáu phần
mười lư luận trong ấy dựa theo sách Lăng
Nghiêm Chánh Mạch, cho thấy Ngài chịu ảnh hưởng
sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch rất sâu. Nay chúng ta học
Lăng Nghiêm, học theo sách Giảng Nghĩa của pháp
sư Viên Anh. Tốt! Ngài là người cận đại,
văn tự khá đơn giản, rơ ràng; Giao Quang đại
sư là người đời Minh, văn tự đúng là
sâu hơn.
Nhất là trong thời
hiện tại, chúng ta coi thường văn học cổ
Trung Quốc, không có căn bản Hán học, đọc những
tác phẩm của cổ nhân khá khó khăn. Học kinh
Lăng Nghiêm hăy nên bắt đầu bằng sách Giảng
Nghĩa của pháp sư Viên Anh, sau đấy mới đọc
chú giải của cổ nhân. Quư vị phải có cơ sở
trước rồi quư vị đọc chú giải của
ngài Giao Quang, ngài Trường Thủy. Kinh Lăng Nghiêm được
chú giải rất nhiều, những chú giải trứ danh
có tới hai mươi, ba mươi loại. Kinh Lăng
Nghiêm khai trí huệ! Nhưng những vị đại gia,
thiện tri thức ấy cuối cùng đều cầu
sanh Tịnh Độ. Giao Quang đại sư văng sanh Tịnh
Độ. Quư vị thấy Tam Cầu Đường của
Viên Anh Pháp Sư: “Cầu phước, cầu huệ, cầu
sanh Tịnh Độ”. Bậc thực sự có trí huệ,
có kiến địa, chẳng một ai không cầu sanh Tịnh
Độ.
Văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta đọc
được rất nhiều về Tây Phương Cực
Lạc thế giới từ kinh Vô Lượng Thọ. Trong
quá khứ, chúng tôi đă giảng mười lần bản
hội tập của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư. Giảng
lần này ở Tân Gia Ba là lần thứ mười một,
vẫn chưa giảng xong. Cứ cách một, hai tháng, chúng
tôi lại phải qua Tân Gia Ba giảng tiếp. Lần này,
chúng tôi chẳng bị hạn chế thời gian, có thể
nói tường tận, các đồng tu bên ấy thích nghe,
người đến nghe giảng ước chừng một
hai ngàn người. Kinh Vô Lượng Thọ cho chúng ta biết
bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, phẩm vị trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Do đâu h́nh
thành phẩm vị cao - thấp? Ngẫu Ích đại
sư nói: “Toàn do tŕ danh chi thâm thiển” (Hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn).
Ngài nói vậy có lư chăng? Có đạo lư! C̣n như bốn
cơi, ba bậc, chín phẩm, Thiện Đạo đại
sư bảo là “tổng tại ngộ duyên bất đồng”
(đều do gặp duyên
bất đồng), Ngẫu Ích đại sư
bảo “hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn”. Lời hai vị
đại sư nói chẳng hề mâu thuẫn, mà có thể
bổ túc lẫn nhau. Tŕ danh sâu hay cạn cũng chính là nói
quư vị niệm Phật có biết niệm hay không?
Đúng là gặp duyên bất đồng. V́ sao? Nếu quư vị
gặp được thiện tri thức chân chánh, dạy
cho quư vị phương pháp chẳng giống nhau. Duyên trọng
yếu nhất là thầy! Quư vị học với ai? Công
phu tu hành của người đó như thế nào? Kế
đó là đồng học. Đồng học cũng là
duyên hết sức trọng yếu. Bạn đạo
đồng tham khích lệ, thiết tha giùi mài lẫn nhau. Kế
đến là hoàn cảnh học tập. Những điều
đó đều là gặp duyên bất đồng.
Trong hoàn
cảnh th́ đại hoàn cảnh là quả địa cầu
chúng ta đang sống, hoàn cảnh kế đó là khu vực
chúng ta đang sanh sống, hoàn cảnh nhỏ hơn nữa
là đạo tràng. Thiện duyên giúp ích cho chúng ta tu học.
Duyên bất thiện thường dẫn dụ, phát khởi
những tập khí phiền năo trong A Lại Da Thức của
chúng ta, những duyên ấy là bất thiện! Thiện
duyên là ǵ? Những ǵ có thể hóa giải phiền năo tập
khí, tăng trưởng đạo tâm, tăng trưởng
Tín - Nguyện - Hạnh, đó là duyên thù thắng. Bởi vậy,
hết thảy duyên đều thù thắng, hết thảy
đều đạt được, đấy chẳng
phải là chuyện dễ dàng! Chúng tôi thấy rất nhiều
người lúc mới học rất giỏi, học chừng
đâu mười mấy năm sau, thậm chí hai
mươi năm sau, ba mươi năm sau, gặp phải
chướng duyên, bèn buông bỏ, chẳng c̣n học pháp môn
này nữa, xoay sang pháp môn khác. Những người như vậy
rất nhiều, trong nước lẫn ngoài nước thấy
rất nhiều, há chẳng phải là gặp duyên bất
đồng ư?
Hoàn cảnh
căn bản nhất là sư thừa, anh không có sư thừa,
hoặc chẳng gặp được
thầy giỏi, chẳng có ḷng tin đối với thầy,
trí huệ chẳng khai, làm việc theo cảm t́nh, chẳng
chống đỡ nổi dụ dẫn, mê hoặc,
nhà Phật gọi những điều đó là “ma chướng”,
anh gặp phải ma chướng. Nh́n từ nhân quả,
chúng ta hiểu rơ ma chướng có nghĩa là trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ có lầm lỗi, toàn
là ḿnh chướng ngại người ta, đời này
ḿnh tu đạo, lại gặp phải người ta
đến chướng ngại ḿnh, oan oan tương
báo măi không xong!
V́ vậy,
thiện căn chân chánh dù là pháp thế gian hay xuất thế
gian đều kiến lập trên cơ sở hiếu
đạo. Thiện căn chân chánh là hiếu đạo.
Việc này khó lắm! Một đời chúng tôi gặp rất
nhiều chướng ngại, thử thách rất nhiều,
bị đả kích rất nhiều, vẫn có tín tâm, vẫn
có nguyện tâm, vẫn chẳng lui sụt, vẫn có thể
tinh tấn nỗ lực, là do nguyên nhân nào? Do thực sự
có chút cơ sở lúc nhỏ. Cơ sở ấy chẳng
phải là khi học tiểu học, mà là khi học ở
trường tư, lúc nào? Lúc sáu, bảy tuổi, được
“bén rễ” trong khoảng thời gian đó, thầy dạy
học tṛ hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ dạy con
cái tôn sư trọng đạo, có căn cơ từ
đó. Nếu bây giờ tôi chẳng tôn kính thầy, chẳng
xem trọng đạo nghiệp, tôi cảm thấy ḿnh có lỗi
với cha mẹ, chẳng dám! Đấy là như cổ
nhân Trung Quốc thường nói: “Thiếu thành nhược
thiên tánh, tập quán thành tự nhiên” (Lúc nhỏ tập
thành bẩm tánh, theo thói quen trở thành tự nhiên): Giáo dục
lúc nhỏ ảnh hưởng cả một đời! Một
đời tôi có được một chút thành tựu
đều là do lúc nhỏ, lúc đó học đâu chừng
hai năm, c̣n sống ở quê nhà. Sau này học ở
trường, sự giáo dục trong trường dạy những
điều này rất ít!
Bởi
thế Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Thành tựu
dữ phủ, tại ư thành kính” (Có thành tựu hay không là do thành kính [hay không]).
Chân thành, cung kính, “một phần thành kính được
một phần lợi ích, mười phần thành kính
được mười phần lợi ích”. Nếu
chẳng thành, chẳng kính, chẳng đáng bàn tới nữa!
Nói cách khác, chẳng thành tựu ǵ! Bởi thế, chúng tôi
có thể chịu đựng được đả
kích, chịu đựng được thử thách; người
khác tranh, chúng tôi nhường, người khác chửi chúng
tôi, sỉ nhục chúng tôi, chúng tôi quyết chẳng đáp
trả. Người khác đánh chúng tôi, chúng tôi nhất
định không đánh trả. Kinh luận dạy chúng ta: “Chẳng
những không có tâm oán hận mà c̣n phải có tâm cảm
ơn”. Cảm cái ơn ǵ? Ơn tiêu nghiệp chướng.
Họ hủy báng tôi, nhục mạ tôi, v́ sao họ chẳng
hủy báng người khác, chẳng nhục mạ người
khác, chỉ t́m tôi? Nếu tôi có thần thông, tôi sẽ biết
chuyện trong đời quá khứ, rất có thể trong
quá khứ tôi đă đối xử với kẻ ấy
như vậy, ngày nay họ đối với tôi như vậy
là đền trả. Lần lượt đền trả,
người hiểu biết cứ tiếp nhận sẽ
hóa giải được. Đời sau, đời kế,
gặp nhau nữa bèn thành bạn tốt, báo đền xong
rồi!
Chẳng
nên tranh, chẳng nên có chút ḷng oán hận. Có một chút tâm
oán hận, oan kết ấy vĩnh viễn tồn tại,
sẽ biến thành ǵ? Oan oan tương báo chẳng xong, vậy
là không được rồi! Đời đời cả
hai bên đều đau khổ, đó là sai lầm vô cùng.
Người giác ngộ, người hiểu biết chẳng
tạo chuyện tồi tệ ấy. V́ vậy, giữ ǵn
cơi ḷng ḿnh thanh tịnh, quyết định chẳng mê, quyết
định chẳng loạn, quyết định chẳng
điên đảo, vĩnh viễn trong t́nh trạng trong lặng,
tỉnh thức, chúng ta chịu đựng quả báo. Chịu
đựng quả báo, nghiệp chướng bèn tiêu! Nghiệp
chướng tiêu rồi, phước huệ liền hiện
tiền. Pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng ra
ngoài lệ đó. Bởi vậy, công phu tŕ danh sâu hay cạn
vẫn cần phải có trí huệ, vẫn cần có thiện
tri thức chỉ dạy. Trong đây, để có thể
tránh được hết thảy chướng nạn th́
điều trọng yếu nhất là phải nhờ vào
trí huệ, phải nhờ vào công phu định lực, phải
nhờ vào nhẫn nhục. Thực sự học theo
người tu đạo thời cổ, làm một người
có học vấn, vĩnh viễn tuân giữ “không tranh
cùng người, không cầu nơi sự”.
V́ thế,
pháp sư Ấn Quang dạy con người hiện tại
chúng ta: Nếu các đồng học chí đồng đạo
hợp cùng tu một chỗ, số người chẳng
được quá hai mươi người, đạo
tràng theo quy mô nhỏ. Tại Trung Quốc, trước kia chúng
tôi nói ở am tranh rất tốt. Cuộc sống rất
đơn giản, ít người! Chẳng cần hóa duyên,
chẳng phải lôi kéo tín đồ, chẳng cần phải
làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, Phật thất
suốt năm, đả Phật thất theo cách thông
thường[3], Phật thất suốt
năm! Nỗ lực tu! Nếu thực sự có thể tu
học theo đúng phương pháp ấy của Ấn
Quang đại sư, tôi tin tưởng sâu xa rằng trong
ṿng từ ba năm đến năm năm, hai mươi
người ấy thảy đều văng sanh.
Nếu
quư vị nghe lời đó mà run sợ là không được
rồi! Trong ṿng từ ba năm đến năm năm phải chết ư? Thôi đi! Không tu nữa!
Vậy là không có cách ǵ hết! V́ sao? Mục đích của
quư vị chẳng phải là cầu văng sanh ư? Thế giới
Cực Lạc tốt như vậy, ở đây khổ nạn
quá chừng, bên kia không có khổ nạn. Do đây biết rằng:
Quư vị chỉ nói cái miệng là văng sanh; chứ thật
ra, tâm quư vị tham sống sợ chết, chẳng thể
thành tựu nổi! Cụ Lư nói một vạn người
tu, thực sự chỉ có hai ba người văng sanh rất
có lư! Hai ba người đó thực sự muốn đi,
c̣n đại đa số miệng nói muốn văng sanh,
nhưng mong sống ở đây đến một trăm
tuổi, hai trăm tuổi, họ không muốn đi, không
c̣n cách nào nữa cả!
Nói tóm lại,
những chuyện như thế vẫn là gặp duyên bất
đồng, chẳng gặp được thiện tri thức
chân chánh, chẳng được nghe lời chỉ dạy
chân chánh, tự ḿnh vẫn mê chứ không giác, đối với
duyên thế gian vẫn tham luyến rất sâu, nên công phu niệm
Phật chẳng đắc lực! Bởi thế, người
chân chánh tu hành trong hiện tại, chí đồng đạo
hợp, đồng tham đạo hữu t́m được
hai ba người, nói thật ra là rất khó! T́m đâu
được hai mươi người? T́m không ra! Nói thật
đó!
Thích Ca
Mâu Ni Phật đầu tiên độ năm vị tỳ-kheo
tại vườn Lộc Dă, kể cả chính Ngài là sáu
người. Sáu người đồng tâm đồng
đức có thể lập giáo, chí
đồng đạo hợp. Bởi thế, trong quá khứ
tôi đă từng nói: Vào thập niên bảy mươi, pháp
sư Tẩy Trần ở Hương Cảng đến
Đài Loan t́m tôi, cùng tôi thảo luận cách nào hưng
vượng Phật giáo. Tôi bảo pháp sư: “Muốn
hưng vượng Phật giáo th́ phải có người
chân chánh phát tâm, chân tâm cầu đạo”. Tôi nói: Bao nhiêu
người? Năm người là được rồi!
Thích Ca Mâu Ni Phật năm người lập giáo. Nay có
được năm người th́ có thể hưng giáo;
nhưng năm người ấy hành tŕ nhất định
phải học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, phải thực hành
chế độ khất thực. Ngày nay ngủ dưới
gốc cây, chúng ta chẳng cần phải cất đạo
tràng nào; tôi nói năm người đó du hóa nhân gian. Lúc ấy
tôi đề nghị: “Chúng ta ở trong một cái lều
tranh nhỏ, mỗi một người sống một lều,
năm người thôi!”
Những
cái lều hiện tại, quư vị thấy lều cắm
trại của đồng tử quân (hướng đạo
sinh hay thiếu sinh quân) hết sức gọn nhẹ, mỗi
một cái lều (tôi đă hỏi rồi) dùng được
ba năm. Năm người sống vây quanh dưới gốc
cây, là một Tăng đoàn nhỏ. Ngày ăn một bữa,
đi khất thực. Chúng tôi làm như vậy, nhất
định có thể xin được một bát cơm. Mỗi
ngày một bát cơm là được rồi, trở về
năm người chúng ta cùng nghiên cứu kinh giáo, niệm
Phật. Tăng đoàn như thế nhất định
có thể hưng vượng Phật giáo. Lúc ấy, pháp
sư rất có hứng thú, tôi nói: “Thầy về
Hương Cảng trù bị. Lúc nào trù bị sẵn sàng,
t́m được năm người, tôi nhất định
đến tham gia”. Sư trở về bên đó, dần dần
bặt tin tức, t́m đâu ra năm người chịu đựng
khổ sở, thực sự có thể buông xuống
được? Chẳng dễ đâu!
Bởi
thế, hiện thời chúng tôi có một đạo tràng nhỏ
như thế này, đạo tràng nhỏ này cũng là gặp
duyên bất đồng. Hàn Quán Trưởng
sáng lập Hoa Tạng Đồ Thư Quán, bản thân
tôi th́ suốt đời chẳng có ư niệm tạo dựng
đạo tràng. Hoa Tạng Đồ Thư Quán do bà ta lập,
chúng xuất gia ở Đồ Thư Quán cũng do bà ta tuyển
chọn. Thâu được nhiều vị xuất gia
như thế xong, bà ta bèn tịch. Bà ta tịch rồi, tôi
chẳng thể không coi sóc. Nếu tôi chẳng coi sóc là có lỗi
với bà ta. Thành tựu của tôi chính là thành tựu của
bà ta, tôi thất bại chính là bà ta thất bại; mọi
người đều hiểu như vậy. Bà ta hộ
tŕ tôi suốt ba mươi năm, tôi mới có thành tựu
như ngày nay, mở được một chút trí huệ,
có nhận biết đôi chút đối với Phật
pháp. Chúng tôi cảm cái ơn của bà ta, nay ở đây kiến
lập được đạo tràng thế này, đạo
tràng được lập to lớn như thế này
cũng là quá vượt phận; nhưng so với đạo
tràng của bà ta, đạo tràng chúng tôi vẫn là đạo
tràng nhỏ. Bởi thế, hết thảy kiến thiết
làm đến đây là thôi, chúng tôi hạ quyết tâm nghiên
cứu kinh, niệm Phật!
Kinh Vô
Lượng Thọ và Di Đà Yếu Giải là nguyên tắc
chỉ đạo trọng yếu nhất của chúng ta.
V́ thế, hai câu tiếp đó: “Tín nguyện vi tiền đạo,
tŕ danh vi chánh tu” (Tín nguyện
để dẫn đường, tŕ danh là phương cách
tu hành chánh yếu). Chánh tu không phải
là giảng kinh, chánh tu là niệm Phật. Giảng kinh giúp
cho chúng ta tin sâu, nguyện thiết, khiến cho chúng ta có nhận
thức chánh xác đối với y báo và chánh báo trang nghiêm của
Tây Phương Cực Lạc thế giới, cũng
như y báo và chánh báo của thế giới Sa Bà chúng ta đang
sống và mười pháp giới khắp hư không pháp giới.
Tuyển chọn ổn thỏa nhất là tuyển chọn
Tây Phương Tịnh Độ. Nếu quư vị chẳng
thể nhận biết, trong tâm có nghi hoặc: C̣n có pháp môn
nào tốt hơn pháp môn này, c̣n có thế giới nào lư tưởng
hơn thế giới Cực Lạc, tâm sẽ chẳng thể
buông xuống được! Quư vị phải hiểu rơ,
phải minh bạch, chết sạch tấm ḷng mong ngóng,
khiêm hư sát đất tu hành pháp môn này.
Tiếp
đó là: “Tŕ danh thời, tâm như Phật, nguyện như
Phật, giải như Phật, tắc nhất niệm tương
ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương
ứng niệm niệm Phật” (Lúc tŕ danh, tâm như Phật, nguyện như Phật,
giải như Phật, hành như Phật, th́ một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật). Đó gọi
là Niệm Phật, đó gọi là Tŕ Danh. Tŕ Danh tuyệt
đối chẳng phải là “miệng có, tâm không”. Tâm quư vị
có phải là tâm Phật hay chăng? Phật có tâm ǵ? Mười
năm trước, chúng tôi đă nêu rơ: “Chân thành tâm, thanh
tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”.
Chúng ta có những tâm ấy hay không? Những tâm ấy là tâm
Phật. Tuy những thứ đó là tâm Phật, nhưng tâm
A Di Đà Phật c̣n thù thắng hơn nữa. Thù thắng
ở chỗ nào? Thù thắng ở nơi bốn
mươi tám nguyện. Bốn mươi tám nguyện tổng
kết: Niệm niệm v́ cứu độ hết thảy
chúng sanh. Cứu độ bằng cách nào? Niệm niệm
giúp cho hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, đấy là tâm A Di Đà Phật.
“Chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi” là
tâm của hết thảy chư Phật, chúng ta có hay không?
Nếu chẳng có cái tâm ấy, niệm Phật chẳng
tương ứng! Bởi thế, quư vị công phu chẳng
đắc lực, suốt ngày vẫn suy nghĩ bậy bạ,
tâm chẳng thanh tịnh, ngu si, chẳng có trí huệ, tự
tư, tự lợi, chẳng từ bi, cái ải đầu
tiên không vượt qua được. Niệm Phật
như thế chỉ là một loại thiện căn, chẳng
thể dễ dàng văng sanh trong một đời. Bởi vậy,
đầu tiên là “tâm phải
như Phật”. Nay đă hết giờ rồi, buổi
học hôm nay giảng đến đây thôi!
Tập 11
Xin xem tiếp
đoạn Tín Nguyện Tŕ Danh trong cuốn A Di Đà Kinh
Nghiên Tập Báo Cáo, chúng tôi giảng đến: “Tŕ danh thời,
tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật,
tắc nhất niệm tương ứng nhất niệm
Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm
Phật” (Lúc tŕ danh, tâm
như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật,
hành như Phật, th́ một niệm tương ứng một
niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm
niệm Phật).
Ở trên, tôi đă
thưa cùng quư vị, tâm chúng ta vốn là tâm Phật, đáng
buồn là bản thân chúng ta mê mất nên mới luân lạc
làm phàm phu, luân lạc trong lục đạo bao kiếp chẳng
thể xuất ly, càng mê càng lún sâu, càng hăm càng khổ trong ấy.
Nếu trong một đời này, chúng ta chẳng nghe đến
Phật pháp, làm sao hiểu được chuyện ấy?
Chẳng biết chân tướng sự thật ấy, làm sao
có thể quay đầu? Đấy là một vận hên lớn
nhất trong đời này, là duyên phận thù thắng khôn
sánh, được nghe Phật pháp, được nghe Đại
Thừa, được nghe pháp môn Tịnh Độ, đấy
chẳng phải là chuyện dễ dàng ǵ!
Bao nhiêu Bồ
Tát, Thanh Văn trong thế gian này muốn được nghe
pháp môn này, nhưng chẳng có cơ hội. Chính như
đức Thế Tôn đă nói trong kinh Vô Lượng Thọ,
mỗi một vị đồng học chúng ta trong vô
lượng kiếp đến nay đă kết pháp duyên rất
sâu dầy với A Di Đà Phật, nên trong một đời
này mới có cơ hội gặp gỡ. Kết pháp duyên rất
sâu, nhưng v́ sao vẫn chẳng thể văng sanh? Pháp duyên dù
sâu vẫn chưa đủ, trong kinh, đức Thế Tôn
đă dạy chúng ta: “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân
duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng
chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên
để sanh về cơi ấy). Chữ “thiểu” (ít) thông cả ba câu, tức là chẳng
thể ít thiện căn, ít phước đức, ít nhân
duyên. Nói cách khác, thiện căn phải nhiều, phước
đức phải nhiều, nhân duyên phải nhiều th́ một
đời này nhất định được văng sanh.
Ba điều kiện ấy thiếu một điều
không được, đều thành chướng ngại!
Chúng ta làm
thế nào để đầy đủ cả ba điều
kiện trên trong một đời này? Câu hỏi này rất
hợp lư. Thật ra, có đủ ba điều kiện ấy
hay không, tự ḿnh biết, thiện tri thức biết, thậm
chí quỷ thần cũng biết. Nói chung, quỷ thần
có Ngũ Thông, họ có thể thấy được. Chuyện
đó không quan trọng, quan trọng nhất là chính ḿnh.
Chính ḿnh làm sao biết? Tổ sư đại đức
thường nói: Quư vị có chân tín hay không? Chân tín đă có th́
tư tưởng, kiến giải, hành vi tự nhiên khác rất
nhiều so với lúc chưa gặp Phật pháp! Ḷng tin chân
thành mà!
Quư vị
có thực sự nguyện được sanh về thế
giới Cực Lạc hay không? Nếu thực sự nguyện
sanh thế giới Cực Lạc, hết thảy người,
sự, vật trong thế gian này, quư vị tự nhiên buông
xuống hết. Nếu quư vị không buông được,
chỉ cần một sự chưa buông được,
cái nguyện của quư vị chẳng chân thật. Có chân
tín, chân nguyện, lại phải coi quư vị có chân hạnh
hay không! Nếu quư vị thực sự niệm Phật,
coi niệm Phật là chuyện quan trọng nhất trong một
đời này, biến niệm Phật thành chuyện quan trọng
nhất trong suốt một ngày từ sáng đến tối.
Việc xảy đến phải làm, đành để Phật
hiệu xuống, chuyên tâm làm việc. Lúc xong việc, buông
công việc xuống, Phật hiệu lại dấy lên, thực
sự niệm!
Tịnh Tông
Học Viện chúng ta đề xướng kinh giáo; kinh
giáo là chuyện chúng ta làm kèm thêm, chẳng phải là quy củ
chánh yếu, chỉ là phụ thuộc! Phải phân định
chủ - khách rơ ràng; bởi lẽ, kinh giáo không phải là
chuyện ai cũng có thể học được, chính
ḿnh phải hiểu rơ điều này, muôn vàn chẳng
được điên đảo! Văng sanh là chuyện lớn!
Chúng ta học kinh giáo ở đây là do chính ḿnh có đủ
thiện căn, phước đức, nhân duyên kinh giáo nên
quư vị học được. Chẳng hoài nghi kinh giáo,
hiểu được kinh giáo th́ có hai điều kiện
trọng yếu: Một là kư ức, hai là giải ngộ.
Quư vị thực sự nhớ được kinh giáo là
trí nhớ tốt. Trước kia, thầy Lư bảo chúng
tôi: “Nghe pháp sư giảng kinh, nghe xong, anh nhắc lại một
lần, anh có khả năng giảng được tối
thiểu sáu phần. Anh có năng lực ấy th́ có thể
học kinh giáo được. Không có năng lực ấy
th́ tùy hỷ. V́ sao? Không có năng lực th́ đừng miễn
cưỡng quá phận, học chẳng thành công!”
Khi
xưa, lúc tôi cầu học ở Đài Trung, tôi quen biết
pháp sư Huệ Nhẫn là một người rất thông
minh. Nếu vị này thực sự khéo học, trong
tương lai sẽ trở thành một nhân tài giảng
kinh hoằng pháp. Tôi giới thiệu ông ta đến
Đài Trung, thầy Lư gặp mặt cũng rất hoan hỷ.
Ông ta lớn hơn tôi chừng năm tuổi, cùng tuổi
với Hàn Quán Trưởng, xuất gia từ nhỏ,
chưa từng học kinh giáo, nghe tôi giảng kinh hết sức
hoan hỷ. Tôi nói: “Chúng ta cùng đến học với nhau”.
Đến Đài Trung, tôi học Lăng Nghiêm với thầy
Lư, khi đó thầy Lư đang giảng kinh Lăng Nghiêm.
Chúng tôi học từ đầu, c̣n ông ta thầy dạy
được một nửa mới đến học,
tôi khuyên ông học một bộ kinh nhỏ, đừng học
Lăng Nghiêm. Lăng Nghiêm lớn quá! Tôi bảo ông ta: “Tôi đă
nghe thầy Lư giảng hơn ba mươi bộ kinh nhỏ”.
Nói cách khác, tôi đă có hơn ba mươi bộ kinh nhỏ
làm cơ sở, hễ nghe qua bộ nào một lần tôi
đều có thể giảng được.
Tôi từng
bảo các vị đồng học tôi có khả năng phúc giảng lại chín mươi
lăm phần trăm, tôi có khả năng ấy. Có trí nhớ
như vậy, cũng như có khả năng hiểu.
Tôi khuyên ông ta nên học dần dần từ những kinh
nhỏ, theo học từng bộ; ông ta chẳng vui lắm,
nghĩ tôi coi thường ông ta: “Ông học Lăng Nghiêm,
sao tôi không thể học được?” Vậy là hết
cách, chịu thôi! Đương nhiên, căn tánh của mỗi
người không giống nhau, cũng có thể ông ta có căn
tánh cao hơn tôi, tôi chẳng bằng được ổng.
Tôi từ những bộ kinh nhỏ tiến lên dần dần,
ổng vừa bắt đầu đă học ngay kinh lớn,
thật bất phàm!
Pháp sư
Huệ Nhẫn hết sức dụng công, ngày đêm chẳng
gián đoạn nghe thầy giảng kinh, đọc chú giải
của cổ nhân, t́m kiếm tài liệu tham khảo, mỗi
tối đều học đến hai, ba giờ sáng. Tôi
thấy ông ta thật dũng mănh, tinh tấn, được
khoảng mười tháng, thân thể suy sụp. Có một
buổi tối đang xem kinh, bỗng thấy tối
đen, không thấy ǵ nữa cả. Đến hôm sau, Sư
bảo tôi v́ dụng công quá độ, không có cách nào nữa,
đành phải rời Đài Trung lên Đài Bắc. Ông ta xuất
gia từ nhỏ, xướng niệm hết sức hay.
Khi đó, trong số những pháp sư trẻ tuổi giỏi
xướng tụng, ông cũng là người có hạng.
Do giỏi dùng pháp khí, ông đi làm pháp hội, làm kinh sám Phật
sự. Làm độ hai năm, dành dụm được
không ít tiền, mua một kư nhi viện (nhà giữ trẻ) ở
vùng Mộc San thuộc Đài Bắc. Người ta muốn
bán kư nhi viện ấy, ông ta liền mua ngay, lập một
tiểu đạo tràng, gọi là Pháp Tạng Liên Xă. Đến
Đài Trung bảo tôi: “Nay tôi có đạo tràng, thỉnh thầy
lên Đài Bắc giảng kinh”. Tôi nói: “Tốt lắm! Chúng
ta là bạn bè cũ mà!”
Lúc ấy,
ông ta bảo tôi: “Tôi hối hận không nghe lời ông. Nếu
tôi bắt đầu từ những kinh nhỏ, học dần
dần từng bộ, há cũng chẳng thành công ư?”
Đúng vậy! Khi đó, tôi đă đề nghị, khuyên
chỉ ông ta lời hay, tuyệt đối chẳng coi
thường ông ta. Học tập pháp thế gian hay xuất
thế gian đều có thứ tự, từ cạn đến
sâu, từ bộ nhỏ sang bộ lớn mới không mất
sức v́ dụng công quá độ. Vị pháp sư ấy
h́nh như mấy năm trước, độ chừng bốn
năm năm trước đă văng sanh tại Hương
Cảng. Về sau, ông ta qua Hương Cảng, chúng tôi rất
ít qua lại với nhau.
Bởi
thế, học kinh giáo phải có điều kiện học
kinh giáo. Mục đích trọng yếu nhất của việc
học kinh giáo là tự ḿnh đoạn nghi sanh tín. Tôi đề
xuất “tâm, nguyện, giải,
hạnh”, v́ sao chúng ta chẳng được như Phật?
Chúng ta chẳng thể lư giải thấu triệt. Nếu
quả thật lư giải thấu triệt khá, tức là
đối với chân tướng của nhân sanh vũ trụ,
chân tướng của nghiệp nhân quả báo có tŕnh độ
lư giải kha khá sẽ đoạn nghi hoặc rồi, chẳng
c̣n vấn đề ǵ nữa! Khi trước, tôi thường
nói: “Các đồng học niệm Phật, quư vị gặp
tôi nêu lên rất nhiều câu hỏi, tôi dùng một câu chung
để đáp, câu ǵ vậy? Chẳng thật thà!” Nếu
quả thật quư vị thật thà niệm, há c̣n vấn
đề ǵ nữa ư? Vấn đề ǵ cũng chẳng
có! Đó là lời thật. V́ sao chẳng thật thà? Vọng
tưởng quá nhiều, phân biệt, chấp trước
quá nhiều; bởi vậy, quư vị không chắc thật.
V́ sao vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
nhiều đến thế? V́ chưa hiểu rơ chân tướng
sự thật.
Do vậy,
chúng ta học kinh giáo nhằm mục đích ǵ? Mục
đích chủ yếu nhất là giúp chính ḿnh đoạn
nghi sanh tín, chân chánh chắc thật niệm Phật, tự
ḿnh được thọ dụng, tự ḿnh có thành tựu!
Tôi chẳng giúp chúng sanh hay sao? Quư vị đă giúp, nhưng
chính ḿnh không hiểu. Tôi giúp như thế nào? Quư vị
đă là tấm gương niệm Phật tốt nhất
cho người khác nh́n vào. Người hữu duyên trông thấy
hành vi, ngôn ngữ quư vị, kẻ ấy sẽ cảm
động, giác ngộ. Người vô duyên nh́n chẳng ra,
người hữu duyên nh́n ra: Đây là người chân
chánh niệm Phật!
Bởi vậy,
tự hành chính là hóa tha, chúng tôi thường nói bất luận
tại gia hay xuất gia, đệ tử Phật môn niệm
niệm, thời thời, chốn chốn đều phải
là gương tốt cho hết thảy đại chúng
trong xă hội. Làm người phải là một con người
tốt, làm gương tốt cho hết thảy mọi
người. Những đồng học tại gia, gia
đ́nh ḿnh phải là gương tốt cho mọi gia
đ́nh khác trong xă hội, là gia đ́nh mô phạm. Trong đạo
tràng này, nhất định phải biến đạo
tràng này thành gương tốt cho hết thảy các đạo
tràng. Chớ cầu ai hết, phải cầu chính ḿnh;
người khác làm ǵ chẳng ăn nhập ǵ đến ḿnh!
Nhất là trong thời đại hiện tại, dân chủ,
tự do, cởi mở, mỗi cá nhân có tự do ngôn luận,
được tự do xuất bản. Bởi thế, phải
dốc ḷng nhớ kỹ giáo huấn chân thật của các
cổ đức, ta đối xử với người,
quyết định chẳng thể nói lỗi lầm của
người khác. Nói lỗi lầm của người khác,
gây thị phi, kết oan cừu, tự ḿnh đă sai mất
rồi!
Cổ
đức dạy chúng ta: “Tịnh
tọa thường tư kỷ quá” (Tịnh tọa thường
nghĩ đến lỗi ḿnh). Tự ḿnh phản tỉnh,
kiểm điểm, sám hối, sửa đổi cho tốt
hơn, “nhàn đàm mạc luận
nhân phi” (chuyện gẫu đừng bàn luận khuyết
điểm của người khác), chẳng những không
nên nói mà hết thảy những điều bất thiện
của người khác đừng ghim vào ḷng. Quư vị
để tâm là sai rồi. Tôi thường hay nói như vầy:
“Để tâm đến hết thảy những chuyện
bất thiện của người khác, tâm quư vị biến
thành cái thùng rác!” Chuyên môn thâu thập những thứ phế
thải của người ta, tâm ta biến thành thùng rác,
tâm hỏng mất rồi, chẳng c̣n là tâm Phật nữa,
tâm ḿnh làm sao biến thành tâm Phật được? Quư vị
chuyên môn thâu thập mọi ngôn luận, mọi đức
hạnh của chư Phật Như Lai, tâm không c̣n chứa
đựng những thứ ǵ khác, chỉ toàn trang hoàng bằng
những thứ tốt đẹp của chư Phật
Như Lai. Đọc tụng kinh điển, tư duy ư
nghĩa kinh, nghiên cứu làm sao để thực hiện
những giáo huấn trong kinh vào cuộc sống, áp dụng
vào công việc, áp dụng vào xử sự, đăi người,
tiếp vật. Đấy là tâm Phật.
Tâm giống
Phật, nguyện như Phật, Phật nguyện ǵ? Nói
chung, các nguyện của mười phương tam thế
hết thảy chư Phật dẫu rất nhiều, nhưng
quy nạp lại, không ngoài bốn nguyện lớn, đức
Thế Tôn gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện; quy nạp
lại, chẳng ngoài bốn nguyện lớn! Bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nếu
quư vị quy nạp lại cũng chẳng ngoài bốn
đại nguyện ấy. Chúng tôi thường nói bốn
đại nguyện ấy thực sự chỉ gồm một
nguyện, chỉ có một điều thôi: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Những
chúng sanh nào? Chúng sanh trong chín pháp giới, ai chưa chứng
đắc Phật quả đều là chúng sanh. “Độ” (度) có nghĩa là ǵ? Nói theo ngôn ngữ hiện
tại, độ là giúp đỡ, thành tựu cho người
ấy. Chư Phật Như Lai chỉ có một nguyện ấy,
giúp đỡ hết thảy chúng sanh, chẳng riêng ǵ loài
người mà là chúng sanh trong chín pháp giới. Trong đó bao
gồm ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, bao gồm
cả yêu ma quỷ quái, họ đều là chúng sanh. Quư vị
phải giúp họ thành Phật. V́ sao họ lại biến
thành ra như thế? Mê mất tự tánh, do vậy mới
biến thành ra như thế.
Phật
đă giác ngộ, đă hoàn toàn hiểu rành hết thảy
chân tướng. Hết thảy chúng sanh có quan hệ ǵ với
ḿnh? Quan hệ rất mật thiết! Trong kinh điển
Đại Thừa chúng ta thường đọc thấy “tự - tha bất nhị”.
Tôi và anh về h́nh dáng chẳng giống nhau, nhưng Phật
tánh giống hệt như nhau, cùng một Phật tánh. Bởi
thế, trong kinh điển Đại Thừa, đức
Phật đă nói bao nhiêu lần: “Thập
phương tam thế Phật, cộng đồng nhất
Pháp Thân” (Mười phương tam thế Phật cùng
chung một Pháp Thân). Mười phương tam thế Phật
bao gồm cả anh lẫn tôi, loài người chúng ta, thậm
chí tất cả chúng sanh trong lục đạo, ngạ quỷ,
địa ngục, hết thảy chúng sanh đều là vị
lai Phật. Nói tam thế là quá khứ Phật, hiện tại
Phật, vị lai Phật; vị lai Phật là hết thảy
chúng sanh hiện tiền, cùng chung một Pháp Thân, “một tâm, một trí huệ”. Chúng
ta thường nói một tâm một đức, chẳng
sai chút nào.
Chúng sanh mê
mất tự tánh, chẳng biết chân tướng sự thật, khởi
vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước trong hết thảy cảnh giới. Từ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, lại khởi
tham - sân - si - mạn. Mê mất tự tánh, càng đi càng xa.
Mê quá lâu, càng mê sâu hơn, chẳng biết mối quan hệ
giữa ḿnh và chúng sanh, chẳng những ta cùng hết thảy
hữu t́nh chúng sanh là một thể, mà với vô t́nh chúng
sanh (như cây cối, hoa cỏ, núi, sông, đại địa),
toàn thể vũ trụ đều là Pháp Thân thanh tịnh của
chính ḿnh. Ai biết? Pháp Thân Bồ Tát biết, họ chứng
đắc được. Chứng đắc là hiểu
rơ, chẳng c̣n nghi hoặc. Bởi thế, họ chủ
động giúp hết thảy chúng sanh vô điều kiện.
Tự ḿnh giúp chính ḿnh, tự ḿnh thành tựu chính ḿnh! Sự
nhận biết ấy trong Phật pháp gọi là “đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh”. Hiểu rơ ràng quan hệ giữa hết
thảy người, sự, và vật trong vũ trụ, hiểu
minh bạch; đến lúc đó, nguyện của người
ấy tự nhiên giống hệt như nguyện của
Phật.
Quư vị
muốn độ chúng sanh th́ độ bằng cách nào? Phải
biết chúng sanh đang mê, chính ḿnh khai ngộ rồi, giác
ngộ rồi, làm thế nào khiến cho chúng sanh hồi
đầu, giúp họ thành tựu bằng cách nào? Ba điều
nguyện sau chính là phương pháp: “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”.
Quư vị phải cho họ thấy đoạn phiền năo
như thế nào, họ thấy rồi sẽ giác ngộ,
sẽ hiểu rơ: Phải làm như thế nào! Bồ Tát
sơ học th́ chư Phật Như Lai v́ kẻ ấy thị
hiện, có đức Phật nào chẳng thị hiện
tŕ giới trong chín pháp giới? Tŕ giới để làm ǵ?
Để đoạn phiền năo! Tŕ giới là
phương pháp, đoạn phiền năo là mục đích.
Nhân Giới đắc Định, Định khuất phục
được phiền năo. Nhân Định khai Huệ, Huệ
chuyển được phiền năo, chuyển phiền năo
thành Bồ Đề. Đấy là công khóa tu hành thứ nhất,
tức đức hạnh! Giáo học thế gian lẫn xuất
thế gian đều lấy đức hạnh làm đầu.
Quư vị muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh, bọn
họ là chúng sanh đang điên đảo, mê hoặc, là
chúng sanh mê mất tự tánh. Quư vị muốn giúp đỡ
họ, điều trước tiên là phải thành tựu
đức hạnh của chính ḿnh. Nay chúng ta chẳng phải
là Phật, Bồ Tát tái lai; chúng ta xác thực là phàm phu. Phàm
phu th́ càng phải làm! V́ sao? Độ chính ḿnh, đoạn
phiền năo là thành tựu đức hạnh của chính
ḿnh.
Điều
này tôi phải học mất năm mươi năm, chẳng
phải trong thời gian ngắn. Thoạt đầu,
Chương Gia đại sư dạy tôi, quả thật
lăo nhân gia dùng trí huệ chân thật, thiện xảo
phương tiện khiến tôi thay đổi quan niệm,
tiếp nhận Giới học. Tôi vốn nẩy sanh quan
niệm sai lầm nghiêm trọng đối với Giới
học, hết sức ưa thích kinh luận, nhưng đối
với Giới Luật rất coi nhẹ, chẳng buồn
để mắt đến. Chương Gia đại
sư lao tâm khổ tứ khiến tôi giác ngộ. Giới
Luật chẳng phải là những khuôn mẫu sanh hoạt
thế gian như ta thường tưởng; nó chính là ranh
giới phân chia phàm - thánh, là khuôn mẫu sinh sống của
thánh nhân, chẳng phải của phàm nhân. V́ vậy, nó
vĩnh hằng bất biến, siêu việt không gian lẫn
thời gian. Chúng ta phải hiểu đạo lư này!
Thông
thường, Đại Thừa Phật pháp thường
nói hai mươi sáu món phiền năo, tức hai mươi
sáu loại. Phiền năo vô lượng vô biên; v́ để dạy
dỗ cho thuận tiện, đức Thế Tôn quy nạp
thành hai mươi sáu loại. Trong hai mươi sáu loại
này, lại chia thành hai loại lớn: Thứ nhất là Căn
Bản phiền năo, thứ hai là Tùy phiền năo. Căn Bản
phiền năo sáu điều, Tùy phiền năo hai mươi
điều. Trong Tùy phiền năo lại chia thành Đại Tùy
phiền năo, Trung Tùy phiền năo và Tiểu Tùy phiền năo. Nếu
đoạn được hai mươi sáu loại phiền
năo này th́ mọi phiền năo đều đoạn sạch,
khởi công từ đó. Đặc biệt là căn bản
phiền năo; sáu điều căn bản phiền năo
cũng là sáu loại lớn: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Trong ác kiến lại chia thành năm loại lớn: thân kiến,
biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến,
tà kiến. Bởi thế, trong sáu món phiền năo, ác kiến
lại chia ra thành năm thứ, trên thực tế thành ra
mười điều. Mười điều đó chia
thành Kiến phiền năo và Tư phiền năo, gọi chung là
Kiến Tư phiền năo.
Đức
Phật bảo luân hồi lục đạo là do năm món
tham, sân, si, mạn, nghi trong Kiến Tư phiền năo biến
hiện. Nếu quư vị thực sự đoạn
được Kiến Tư phiền năo, sẽ không c̣n
luân hồi lục đạo nữa. Kiến Tư phiền
năo chưa đoạn, vĩnh viễn ở trong lục
đạo luân hồi, lục đạo do đâu mà có? Do
Kiến Tư phiền năo biến hiện thành. Quư vị muốn
vượt thoát lục đạo, đức Phật dạy
rất đơn giản: Quư vị phải bỏ hết
những thứ có khả năng biến hiện ra luân hồi
lục đạo th́ lục đạo luân hồi sẽ
chẳng c̣n nữa! Ai làm được? A La Hán làm
được. A La Hán đoạn Kiến Tư phiền
năo, vượt thoát lục đạo luân hồi.
Trong Chứng
Đạo Ca của Vĩnh Gia đại sư có mấy
câu:
Mộng lư minh minh hữu lục
thú,
Giác hậu không không vô đại
thiên.
(Trong mộng
rành rành phân sáu nẻo,
Giác rồi
ba cơi rỗng toang hoang).
A La Hán
giác ngộ rồi, hễ giác ngộ th́ sáu nẻo không c̣n nữa,
sáu nẻo trống rỗng không c̣n tam thiên đại thiên
thế giới. Chúng tôi nói thế giới Sa Bà là một đại
thiên thế giới, tức là lục đạo luân hồi.
Trong kinh giáo, Phật thường giảng về tam thiên
đại thiên thế giới rất rơ ràng: Trong kinh Phật
gọi tinh cầu mà chúng ta đang sống đây là Nam Thiệm
Bộ Châu (Jambudvīpa). Tinh cầu này di chuyển trong
hư không, xoay chuyển quanh núi Tu Di (Sumeru). Núi Tu Di là trung
tâm. Thái dương, mặt trăng, rất nhiều tinh cầu
đều xoay quanh eo (khoảng giữa) núi Tu Di. Lăo cư
sĩ Hoàng Niệm Tổ giảng rất có lư. Quư vị thấy
đó: Chẳng phải là Thái Dương hệ (solar system)
chuyển động trong Ngân Hà Hệ đó ư?
Hoàng lăo cư
sĩ gọi trung tâm của Ngân Hà Hệ là núi Tu Di. Núi Tu Di
chẳng ở trên địa cầu, cũng chẳng thuộc
Thái Dương hệ. Thiên văn học cổ truyền Trung
Quốc gọi trung tâm của Ngân Hà Hệ là Hoàng Cực.
Hoàng Cực là núi Tu Di. Chúng ta biết Hoàng Đạo là quỹ
đạo của chín đại hành tinh[4] xoay
quanh mặt trời, chúng ta gọi quỹ đạo ấy
là Hoàng Đạo. Trước kia, người ta không biết
địa cầu xoay quanh mặt trời, ngỡ địa
cầu là trung tâm, trông thấy các hành tinh (mặt trời, mặt
trăng, các ngôi sao) có quỹ đạo nên gọi là Hoàng
Đạo. Lúc các hành tinh xoay quanh địa cầu, họ
phát hiện ra Nam Cực và Bắc Cực, hoàn toàn lấy
địa cầu làm bản vị. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm
Tổ bảo trên thực tế, Phật đă dạy trong
kinh, nếu quư vị chú tâm quan sát, tư duy, sẽ thấy
núi Tu Di chính là trung tâm của Ngân Hà Hệ.
Hiện
nay có người nói trung tâm của Ngân Hà Hệ là lỗ
đen (black hole), có năng lượng rất lớn, ngay
cả ánh sáng chiếu đến lỗ đen cũng bị
nuốt mất. Đến bên nó, chịu ảnh hưởng
bởi dẫn lực (sức hấp dẫn, sức hút),
ánh sáng đều bị co rút lại. Năng lượng lớn
như thế đó. Một Ngân Hà Hệ như vậy là một
đơn vị thế giới, một ngàn đơn vị
thế giới gọi là một tiểu thiên thế giới.
Ở ngay thiên đỉnh của một đơn vị
thế giới (Ngân Hà Hệ) là Sơ Thiền Thiên; một
Ngân Hà Hệ chỉ có một Sơ Thiền Thiên. Như vậy,
một ngàn đơn vị thế giới, tức là một
ngàn Ngân Hà Hệ, là một tiểu thiên thế giới. Ở
ngay thiên đỉnh của một tiểu thiên thế giới
chính là Nhị Thiền Thiên. Một tiểu thiên thế giới
chỉ có một Nhị Thiền Thiên. Tiếp đó, lấy
tiểu thiên thế giới làm đơn vị, hợp một
ngàn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế
giới, trên thiên đỉnh của trung thiên thế giới
là Tam Thiền Thiên. Rồi lại dùng trung thiên thế giới
làm đơn vị, gộp một ngàn trung thiên thế giới
lại, gọi là một đại thiên thế giới, một
đại thiên thế giới chỉ có một Tứ Thiền
Thiên.
V́ vậy,
lục đạo là thế giới Sa Bà, thế giới Sa
Bà là một tứ thiên hạ, một ngàn Tam Thiền Thiên,
một ngàn nhân một ngàn, thành một trăm vạn Nhị
Thiền thiên, lại nhân cho một ngàn, thành mười ức
Sơ Thiền Thiên. Vậy th́ nếu coi một Ngân Hà Hệ
là đơn vị thế giới, phạm vi sẽ rất
lớn. Chúng ta độ chúng sanh, tối thiểu phải phát
nguyện độ một cơi như vậy. Sa Bà thế giới
là bổn quốc, quư vị phải có tâm lượng lớn
như thế. Quư vị phải dùng tâm lượng ấy
đối với hết thảy chúng sanh. Nếu ai đối
với chúng sanh thấy chẳng thuận mắt, tức là
có thành kiến đối với kẻ ấy, người
ấy chẳng phải là học Phật, chẳng đoạn
được phiền năo. Làm sao đoạn được
phiền năo? Quư vị c̣n học pháp môn nào nữa? Nguyện
chẳng phải là chuyện dễ! Nay đă hết giờ
rồi!
*
Chúng tôi lại
giảng tiếp về “nguyện
đồng Phật”, chẳng thể giảng quá nhiều,
chỉ đơn giản giảng Tứ Hoằng Thệ
Nguyện.
Phải
hiểu chánh xác Tứ Hoằng Thệ Nguyện, phải
phát nguyện, phải thực hiện, phải làm
được những nguyện đó. Bởi lẽ,
đoạn được Kiến Tư phiền năo bèn
vượt khỏi lục đạo, thoát ly biển khổ
Sa Bà. Niệm Phật là một pháp môn nhanh chóng, ổn thỏa,
thích đáng, dễ dàng, đơn giản, lại thành tựu
thù thắng khôn sánh. Bởi vậy, trong kinh này, đức
Thế Tôn bốn lần khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh
Độ, một rồi hai, hai rồi ba, ba rồi bốn
lần khuyên, buốt ḷng rát miệng như thế, tất
cả chúng ta phải nhớ kỹ. Bởi vậy, chẳng
thể không đoạn phiền năo, chẳng thể không học
pháp môn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, nay
chúng ta chỉ học một môn, học đến mức
áp dụng được, chuyên tu Tịnh
nghiệp. Pháp sư Ấn Quang thường dùng bốn chữ
“chuyên tu Tịnh nghiệp”
để khích lệ, khuyến tấn học nhân.
Đối
với các kinh luận khác, tôi đă có nói rồi, quư vị
tu Tịnh nghiệp th́ phải nắm cho chắc, có
nghĩa là nắm chắc văng sanh. Nếu quư vị c̣n có nhiều
thời gian th́ nghiên cứu các kinh giáo khác chẳng trở
ngại ǵ, có thể học được. Nếu chưa
nắm chắc Tịnh nghiệp, quư vị hăy nghĩ xem có
nên buông xuống, chuyên tu hay không? Rất nhiều kinh luận
ḿnh chưa học đến th́ làm thế nào đây? Về
Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ học
sau, c̣n trong thế gian này, ta không quan tâm đến chúng; v́
sao vậy? Ta là hạng căn tánh trung hạ, ta không có
năng lực ấy!
Nếu
quư vị thực sự đủ sức, đủ điều
kiện như vậy th́ được! Quư vị học
những điều đó để làm ǵ? Để giúp
đỡ người khác. Trong thế gian này có những
người không thuộc căn cơ Tịnh Độ, họ
chẳng thể tiếp nhận kinh giáo Tịnh Độ.
Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, trong một đời
Ngài, đức Phật giảng rất nhiều kinh luận,
rất phong phú! Bất luận ai t́m đến, đức
Phật đều có khả năng dạy hết, đúng
như vậy. Chúng ta không có năng lực như Phật,
tốt nhất là ngoan ngoăn nghe lời, thâm nhập một
môn. Thực sự thông được một môn; thế
nào là thông? Ngộ nhập môn ấy, khai ngộ, đại
triệt, đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Trong Tông môn
gọi là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ gọi là “đại
khai viên giải”, pháp môn Niệm Phật gọi là “nhất
tâm bất loạn”. Danh từ khác nhau, nhưng cảnh giới
hoàn toàn tương đồng, đều là minh tâm kiến
tánh, đều cùng một cảnh giới. Đến lúc ấy,
cái ǵ cũng thông. Bởi thế, nói: “Một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Quư vị
thông suốt toàn bộ, chẳng có ǵ quư vị chẳng thể
giảng được!
Đến
lúc đó, tôi có cần phải giảng hết thảy các kinh
nữa hay không? Rất có thể. Hết thảy các kinh là
để tiếp dẫn các căn cơ bất đồng,
nhưng tự ḿnh th́ chuyên tu Tịnh Độ. Quư vị
chẳng tin tưởng ư? Quư vị hăy nh́n vào Văn Thù
Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát! Văn Thù, Phổ Hiền
giáo hóa hết thảy chúng sanh, pháp môn ǵ cũng nói, nhưng
như quư vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm đó, chính họ
phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc.
Tự ḿnh nêu gương cho chúng ta thấy, ḥng bảo với
đại chúng: “Bất luận các ngươi tu học
pháp môn nào, rốt cuộc quay về Tịnh Độ là bậc
nhất; bất luận tu học pháp môn nào, phải đem
công đức tu học của ḿnh hồi hướng cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy
đều văng sanh”.
Chúng ta thấy
trong khoa phán của Vô Lượng Thọ Kinh, pháp sư Từ
Châu phán định đoạn cuối của phẩm Tam Bối
Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) là “nhất
tâm tam bối”, nghĩa là đoạn kinh ấy nói về
những người tu các pháp môn Đại Thừa khác, chẳng
phải là chuyên tu Tịnh tông. Bất luận tu theo tông phái
Đại Thừa Phật pháp nào, Hiển giáo, Mật giáo,
đến cuối cùng đem công đức đă tu học
hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, th́ đều
được văng sanh cả. Pháp môn rộng lớn thay! Trọn
chẳng nhắc tới A Di Đà Phật, chẳng tu pháp
môn Tịnh Độ, quư vị chẳng thể văng sanh
ư? Không phải vậy! Bất luận quư vị tu học
pháp môn nào, chỉ cần quư vị tu có thành tựu; thành tựu
điều ǵ? Đoạn được phiền năo, mở
mang trí huệ, có đại nguyện độ chúng sanh,
[Phật] đều nhất loạt hoan nghênh. Pháp môn rộng
lớn thay! Nói rơ hơn, bản kinh ấy giảng về bốn
mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật.
Chúng tôi
thành lập Tịnh Tông Học Hội, đặc biệt
lấy chương thứ sáu “phát đại thệ nguyện”
của kinh Vô Lượng Thọ làm kinh văn để đọc
tụng trong khóa sáng, nhằm dụng ư ǵ? Nguyện như
Phật! Dụng ư là đây! Kinh văn để tụng
vào khóa chiều chọn từ phẩm ba mươi hai
đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng
Thọ nhằm dụng ư ǵ? Hành như Phật. Từ phẩm
ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là
Như Lai hạnh, nội dung những phẩm ấy quư vị
đều đă biết cả rồi: Ngũ Giới, Thập
Thiện, chẳng giảng quá cao, quá huyền, quá diệu,
rất chất phác, thành thật. Đấy là ưu điểm
của kinh Vô Lượng Thọ, đặc biệt là bản
hội tập, càng đọc, càng thích thú.
Lăo cư
sĩ Hạ Liên Cư là bậc tái lai, chẳng phải
người tầm thường! Không phải là tôi nói
như vậy, một người có công năng đặc
dị ở Mại A Mật (
Hội tập chẳng
phải là việc dễ dàng ǵ, cụ hội tập khéo
như thế. Cư sĩ Vương Long Thư đời
Tống là người thứ nhất soạn hội tập,
cư sĩ Ngụy Mặc Thâm là người thứ hai,
các bản hội tập ấy vẫn c̣n! Quư vị mở
ba bản hội tập ra so sánh, quư vị mới thấy
bản hội tập của cụ Hạ rất tuyệt,
đúng là khiến cho người đời phải khen là
quán chỉ[5]. Lăo cư sĩ Mai
Quang Hy tán thán khẳng định: “Trong kinh, Phật từng thọ kư, đến lúc Phật
pháp diệt, tất cả hết thảy kinh giáo thảy
đều diệt mất, kinh Vô Lượng Thọ c̣n
lưu lại trong thế gian này hơn một trăm
năm nữa. Bản diệt sau cùng chắc chắn là bản
hội tập của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư”.
Chúng tôi tin tưởng
điều này! Nếu quư vị hỏi v́ sao tôi tin
tưởng?
Tôi có số liệu thống kê để
làm căn cứ. Trong mười mấy năm qua, bất
luận quốc nội hay quốc ngoại, chưa có ai chẳng
yêu thích bản kinh này, cho thấy bản này rất khế
cơ! Khế lư, khế cơ, bản này đương
nhiên trường tồn trong thế gian, đó là đạo
lư! Bởi thế, chúng tôi hữu duyên được giảng
kỹ càng bản này một lần nữa để lưu
lại cho hậu học tham khảo. V́ vậy, chúng tôi dùng
bốn mươi tám nguyện làm khóa sáng, dùng một đoạn
kinh lớn đức Phật giảng rất tường
tận về Ngũ Giới, Thập Thiện làm khóa tối.
Khóa sáng là cảnh tỉnh chính ḿnh: Ngày hôm nay tâm nguyện
chúng ta phải giống như Phật. Khóa tối là để
phản tỉnh, phải sám hối, những ǵ Phật dạy
ta làm, ta có làm được không? Những ǵ Phật dạy
chúng ta đừng làm, chúng ta có vi phạm hay không? Phải
phản tỉnh, phải kiểm điểm, sửa lỗi,
đổi mới.
Trước khi Hành, nhất
định phải Giải, chữ Giải (解) ở đây hiểu theo nghĩa rộng,
tức là liễu giải chân tướng của nhân sanh và
vũ trụ, liễu giải hết thảy người,
sự, vật, giống như trí huệ của Phật,
hiểu rơ mọi thứ, thấu hiểu mọi thứ,
đối với mọi thứ chẳng mê hoặc; xử
sự, đăi người, tiếp vật chẳng sai lầm.
Có như vậy th́ mới có thể thực sự diễn
nói cho người khác. Chúng ta thường nghe cổ đức
nói: “Nhất niệm
tương ứng nhất niệm Phật; niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”. Một niệm
ấy tương ứng với ǵ? Tương ứng tâm,
nguyện, giải, hạnh của Phật. Nếu quư vị
chẳng biết rơ, chẳng hiểu rơ tâm, nguyện, giải,
hạnh của Phật th́ làm sao tương ứng được? Muốn hiểu rơ,
muốn thấu hiểu th́ phải nương vào lời dạy.
Bởi thế, khi Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế,
Ngài theo đuổi việc dạy học suốt bốn
mươi chín năm. Dạy điều ǵ? Vẫn dạy
chẳng ngoài những điều “tâm như Phật tâm, nguyện như Phật nguyện,
giải như Phật giải, hành như Phật hành”,
dạy những điều như thế.
Chớ lấy tri kiến
của ḿnh làm tiêu chuẩn, chớ lấy cách nghĩ, cách
làm, cách nh́n của ḿnh làm tiêu chuẩn. V́ sao? Chúng ta là phàm
phu, thành kiến sai lầm; tư tưởng, kiến giải
chẳng chánh xác. Những điều Phật dạy trong
kinh thật ra cũng là phương tiện nói, vẫn
chưa phải là nói chân thật. Phật nói: Đợi
đến khi nào quư vị chứng đắc quả A La
Hán rồi, tức là khi đoạn được Kiến
Tư phiền năo rồi, quư vị mới có thể tin vào
ư nghĩ, cách nghĩ, cách nh́n của chính ḿnh, đức Phật
nói phương tiện như thế. Bây giờ đừng
nói chi quả A La Hán, ngay Sơ Quả Tu Đà Hoàn ta cũng
chẳng có phần, v́ sao? Tu Đà Hoàn đă đoạn hết
Kiến phiền năo, thân kiến, biên kiến, kiến thủ
kiến, giới thủ kiến, tà kiến, thực sự
đoạn sạch. Kiến giải như Phật,
nhưng suy tưởng vẫn chưa giống hệt như
Phật. Kiến giải như Phật, chứng Tiểu
Thừa Sơ Quả, trong kinh Hoa Nghiêm của Đại Thừa
gọi [địa vị ấy] là Sơ Tín Vị Bồ
Tát. Ngay địa vị ấy chúng ta c̣n chưa đạt
được, làm sao có thể tin vào chính ḿnh được?
Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán là bốn
quả Tiểu Thừa, quư vị thấy đối với
ba quả đầu, đức Phật chẳng nói: “Các
ngươi có thể tin vào suy nghĩ của chính ḿnh!” Nói
cách khác, đều chưa thể tin vào suy nghĩ của
chính ḿnh. Tôi thường hay nói: “Phải buông xuống thành
kiến, vứt bỏ cách nghĩ, cách nh́n, cách nói, cách làm của
chính ḿnh, tùy thuận sự giáo huấn của đức
Phật”. Trong cách nghĩ, cách nh́n đối với vũ
trụ, đối với hết thảy con người,
sự vật, chúng ta phải coi đức Phật nghĩ
như thế nào th́ học theo như thế đó. Phật
thấy như thế nào, ta phải học theo thế ấy.
Như vậy là đúng! Dù đă chứng quả A La Hán, Tiểu
Thừa thoát khỏi lục đạo, nhưng chưa ra
khỏi mười pháp giới; dẫu ḿnh là chánh giác,
nhưng c̣n kém Bồ Tát rất xa, Bồ Tát là chánh đẳng
chánh giác. Bởi vậy, tốt nhất vẫn là tiếp tục
không ngừng tùy thuận lời Phật răn dạy, sẽ
chẳng sai, chúng ta sẽ sớm có một ngày thành Vô
Thượng Đạo.
Lời giáo huấn chân
thật của chư Phật Như Lai là khuyên chúng ta niệm
Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ;
như Thiện Đạo đại sư đă nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất
thế, duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải” (Sở
dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm
nói ra biển bổn nguyện của Phật Di Đà). Chúng
ta phải nhớ kỹ, đấy mới là giáo huấn
chân thật bậc nhất. Tùy thuận lời giáo huấn
của đức Phật là tương ứng, đấy
mới là “một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”.
“Cố kinh vân: Ức Phật, niệm Phật, hiện
tiền, đương lai, tất định kiến Phật”
(Bởi thế, kinh dạy:
“Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền,
tương lai, nhất định thấy Phật”).
Mười hai chữ ấy nằm trong kinh văn của chương
Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông trong
kinh Lăng Nghiêm. Nhớ Phật, niệm Phật là nhớ
ǵ, niệm ǵ? Phải biết điều này! Nhớ tâm - nguyện
- giải - hạnh của Phật, niệm tâm - nguyện -
giải - hạnh của Phật. Đó gọi là “thực
sự niệm Phật”, chẳng phải là nghĩ đến
tướng hảo hay danh hiệu Phật. Tướng hảo
và danh hiệu là phương tiện. Chẳng thể buông
bỏ phương tiện, do phương tiện mà nhập
chân thật, chân thật là tâm - nguyện - giải - hạnh.
Chúng ta nghĩ đến
tướng hảo của Phật, trông thấy tượng
Phật có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ
đẹp, trông thấy tượng Phật bèn nghĩ
đến tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật.
Niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật phải
nghĩ đến thực chất của danh hiệu Phật.
Thực chất của danh hiệu Phật là ǵ? Phật
tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh! Ta
tự ḿnh niệm một câu Phật hiệu, hoặc nghe
người khác niệm một câu Phật hiệu, lập
tức nhắc nhở, đánh thức chính ḿnh, phải giữ
tâm ḿnh sao cho tâm giống hệt như Phật, nguyện giống
hệt như Phật, giải giống hệt như Phật
(giải là trí huệ), hạnh giống hệt như Phật
(hạnh là đức hạnh). Một câu Phật hiệu
chứa đựng thật viên măn tâm - nguyện - giải -
hạnh của Phật, không thiếu sót chút nào.
Nếu chúng ta lại hỏi:
“Có tài liệu tham khảo nào để chúng ta học tập
tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật hay không?”
Có chứ! Đơn giản nhất là kinh A Di Đà. Đó
là tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Tỉ
mỉ hơn chút nữa là kinh Vô Lượng Thọ, tỉ
mỉ hơn chút nữa là Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm kinh. Cổ đức nói Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh là đại bổn
của kinh A Di Đà; nay chúng ta niệm kinh A Di Đà chính là
niệm tiểu bổn kinh Hoa Nghiêm. Vô Lượng Thọ
kinh là trung bổn. Ba kinh này giảng những điều rộng
lược khác nhau. Kinh A Di Đà nói lược, nói rất
đơn giản, rất thiết yếu, nói lược.
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nói rộng,
nói rất chi tiết. Toàn kinh giảng điều ǵ? Giảng
Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh.
Quư vị nghĩ xem có phải như vậy hay không? Hiểu
được đạo lư này, quư vị sẽ hiểu v́
sao chúng tôi coi trọng nghiên cứu kinh giáo và nghiên cứu
giáo lư đến thế! Chẳng có ǵ khác cả, chúng ta học
Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh.
Đó là niệm Phật, đó là nhớ Phật.
Sau câu “ức Phật, niệm Phật” là Quả: “Hiện tiền, tương lai,
tất định kiến Phật”. Hiện tiền là
hiện tại, tương lai là sau khi văng sanh; hiện tiền
là lúc ta chưa văng sanh. “Tất
định”: Chúng ta thấy ngữ khí câu này rất khẳng
định, người ấy lúc lâm chung thấy Phật
đến tiếp dẫn, nói với người bên cạnh:
“Tôi thấy A Di Đà Phật rồi!” Đó là hiện tiền
thấy Phật. Kẻ ấy được thấy, chúng
ta cùng ở trong pḥng bệnh, chẳng ai thấy cả mà kẻ
ấy thấy được. Chuyện này chẳng phải
giả, là thật đấy!
Vào lúc ấy, người
b́nh thường sẽ trông thấy người nhà thân quyến,
bảo mọi người chung quanh: “Tôi thấy ông X. đến,
ổng đứng ngoài cửa”. Những người
được nhắc đến ấy đều là
người nhà, thân quyến của kẻ ấy, đều
đă chết rồi, lúc ấy kẻ sắp chết trông
thấy. Đó có phải là người nhà, thân quyến của
kẻ ấy hay chăng? Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện giảng rơ sự t́nh này: Chẳng phải là
người nhà, quyến thuộc của kẻ ấy, mà là
ai vậy? Là oán thân trái chủ. Oán thân trái chủ biến hiện
ra h́nh dạng người nhà, quyến thuộc đến
để làm ǵ? Đến kéo kẻ ấy đi, kéo kẻ
ấy đi tính sổ, trong kinh Địa Tạng, đức
Phật dạy như vậy.
Người niệm Phật phải đặc biệt
cẩn thận, người lâm chung nói những
câu ấy, phải đặc biệt cảnh
tỉnh kẻ ấy: “Đừng quan tâm đến! Bất
luận thấy ai cũng đừng quan tâm đến, cứ
nhất tâm niệm Phật. Ông (bà) thấy A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn th́ ông (bà) có thể theo Ngài; ngoại
trừ A Di Đà Phật ra, Phật, Bồ Tát nào khác đến
cũng chẳng được theo. Trong số đó chỉ
có Quán Âm, Thế Chí, A Di Đà Phật, đó là Tây
Phương Tam Thánh; c̣n tất cả Phật, Bồ Tát
khác, ông (bà) trông thấy đều chẳng được
theo. V́ sao? Ma có thể giả mạo đấy!”
Ma giả mạo Phật,
Bồ Tát, giả mạo người nhà, quyến thuộc
đều chẳng phạm pháp, nhưng nó chẳng thể
giả mạo Bổn Tôn. Chúng ta tu Tịnh Độ, Tây
Phương Tam Thánh là Bổn Tôn của chúng ta. Yêu ma quỷ
quái chẳng thể giả mạo Bổn Tôn, giả mạo
Bổn Tôn, thần Hộ Pháp bèn trừng phạt nó, nó chẳng
dám làm vậy. Nó giả mạo Phật, Bồ Tát khác, hộ
pháp thần chẳng can thiệp, nhất định chẳng
được giả mạo Bổn Tôn. Bởi thế, mọi
người đừng sợ hăi: Lúc lâm chung gặp A Di
Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, cứ an tâm đi theo,
đó là thật, chẳng giả đâu! “Hiện tiền, tương lai, nhất định
thấy Phật”.
6.3.1.2. Y
Báo diệu nghiêm
6.3.1.2.1. Tổng
thuyết y báo diệu nghiêm
Chúng ta xem tiếp
đoạn dưới, giảng về sự mầu nhiệm
của Y Báo. Đoạn kinh văn này tiếp theo đoạn
Tự Phần ở trên, trước hết là:
Xá Lợi
Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?
舍利弗。彼土何故名為極樂。
(Này Xá Lợi
Phất! Cơi ấy v́ sao tên là Cực Lạc?)
C̣n
đây là câu giải đáp:
Kỳ
quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ
chư lạc, cố danh Cực Lạc.
其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。
(Chúng sanh cơi ấy không có các sự
khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên tên là Cực Lạc).
V́ sao thế giới
ấy có tên là thế giới Cực Lạc? Câu này giải
thích: Chúng sanh sống trong thế giới ấy gồm có
trời, người, Thanh Văn, Bồ Tát, không có ba ác
đạo, Tây Phương Cực Lạc thế giới
không có ba ác đạo. Cư dân nơi đó không khổ,
không khổ là lạc; v́ vậy thế giới ấy tên là
Cực Lạc.
Dưới đoạn
này, chúng tôi thuyết minh đơn giản “tổng thuyết, vô chúng khổ, thọ chư lạc”
(nói chung, không có các khổ, hưởng các sự vui). Các khổ
rất ư là nhiều, trong kinh Đại Thừa, đức
Phật nói có vô lượng khổ; lại nói đến
tám vạn bốn ngàn nỗi khổ. Tám vạn bốn ngàn
chẳng phải là nói tùy tiện, quư vị hăy tra trong Phật
Học Từ Điển, hoặc tra Giáo Thừa Pháp Số,
[những sách ấy] sẽ thực sự liệt kê từng
điều cho quư vị thấy tám vạn bốn ngàn sự
khổ! Trong nền giáo học nhà Phật, tất cả hết
thảy sự khổ quy nạp thành ba loại lớn,
thường được nói đến rất nhiều
trong khi dạy dỗ. Đại Thừa Phật pháp
cũng thường gọi ba loại lớn ấy là Tam
Khổ, tức là ba loại khổ lớn: Thứ nhất
là Khổ Khổ, thứ hai là Hoại Khổ, thứ ba là
Hành Khổ. Trong các từ ngữ này, chữ thứ nhất
là động từ, chữ thứ hai là danh từ. Như
Khổ Khổ, chữ đầu là động từ, chữ
sau là danh từ.
Ǵ gọi
là Khổ? Nói chung là “phiền
năo bức bách thân tâm” (nay ta gọi là “áp lực”), thân chịu
áp lực, tinh thần chịu áp lực. Thân thể có áp lực,
chẳng tự tại, rất đau khổ, nỗi khổ
ấy nói măi chẳng tận. Phật lại chia [Khổ Khổ]
thành tám loại lớn. V́ thế, Khổ Khổ cũng gọi
là Bát Khổ, tức là tám thứ Khổ Khổ. Khổ Khổ,
Hoại Khổ, Hành Khổ gọi là Tam Khổ; đó là ba
loại lớn. So Bát Khổ với Tam Khổ th́ Tam là ba loại
lớn, c̣n Bát [là những sự khổ nói chi tiết hơn],
thuộc về một loại trong ba loại [khổ lớn].
Bát Khổ thuộc về Khổ Khổ, tám cái khổ nào vậy?
“Sanh khổ, tử khổ, bệnh khổ, lăo khổ” là bốn
loại lớn; “Cầu bất đắc khổ, ái biệt
ly khổ, oán tắng hội ngộ khổ, ngũ ấm xí
thạnh khổ” (khổ v́ cầu chẳng được,
khổ v́ yêu thương biệt ly, khổ v́ chán ghét mà cứ
phải gặp gỡ, khổ v́ năm ấm lừng lẫy)
là bốn loại lớn nữa, gộp thành tám loại, gọi
là Bát Khổ. Khổ được định nghĩa
như sau: “Phiền năo bức
bách thân tâm”.
Chúng ta thấy
hết thảy chúng sanh đều chẳng thể tránh khỏi
tám loại khổ lớn ấy như đức Thế
Tôn đă nói. Đă ở trong lục đạo th́ phải
chịu đựng hết. Đúng là người người
b́nh đẳng. Đừng nói là đế vương,
ngay cả thiên vương – thiên ở đây là Dục Giới.
Sắc Giới thiên không có Khổ Khổ, nhưng có Hoại
Khổ, có Hành Khổ – trong Dục Giới thiên, Khổ Khổ,
Hoại Khổ, Hành Khổ thảy đều đầy
đủ. Đúng là khổ chẳng thể nói nổi!
Cái ải
Sanh Khổ chúng ta đă trải qua, khổ đến mức
nào nay đă quên hết rồi. Trong kinh đức Phật
đă giảng, chúng ta phải chú tâm tư duy quán sát mới
hiểu được đôi chút. Chúng tôi lấy con người
làm thí dụ, tất cả hết thảy hữu t́nh chúng
sanh chẳng ra ngoài lệ ấy. Quư vị sanh vào thế
gian này là v́ có duyên với cha mẹ; không có duyên chẳng thể
biến thành người cùng một nhà. Đức Phật
nói những duyên nào? Duyên rất phức tạp! Đức
Phật giảng kinh quả thật có phương tiện
thiện xảo, Ngài đem những thứ duyên phức tạp
đó quy nạp thành bốn loại lớn, rất dễ
nói. Thứ nhất là báo ân, thứ hai là báo oán, thứ ba là
đ̣i nợ, thứ tư là trả nợ. Người
cùng một nhà chẳng ra ngoài bốn mối quan hệ này. Nếu
chẳng có bốn mối quan hệ ấy, chẳng thể
trở thành người một nhà!
Trong một đời
quư vị, quư vị quen biết bất cứ ai, bất luận
nhân vật nào cũng đều là bốn mối duyên ấy.
Bốn mối duyên ấy sâu, cạn, dầy, mỏng khác
nhau. Duyên sâu, duyên dầy sẽ biến thành người một
nhà. Người duyên cạn, duyên mỏng hơn một chút
biến thành thân thích, bằng hữu. Cạn hơn nữa,
mỏng hơn nữa, sẽ biến thành những người
quen thân. Thậm chí, ngay cả những người ta gặp
trên đường, cười với họ, gật
đầu chào nhau là duyên rất cạn. Phải có duyên! Không
có duyên, họ chẳng chào quư vị. Thậm chí, người
ta bất ngờ gặp ngoài đường, vốn chẳng
quen biết, người ta thấy ḿnh ngứa mắt, trừng
mắt một cái cũng là duyên, nhưng duyên ấy rất
cạn, cũng có thể là những người ấy cả
đời ta chỉ gặp một lần. Cổ nhân
thường nói: “Hữu duyên
thiên lư lai tương ngộ, vô duyên đối duyện bất
tương phùng” (Hữu duyên ngàn dặm gặp nhau, vô
duyên đối diện nh́n nhau chẳng màng).
V́ thế,
Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thường chỉ
dạy chúng ta phải kết thiện duyên cùng người
khác, phải kết pháp duyên, điều này rất có lư.
Đă hiểu bốn mối quan hệ giữa người
với người, nếu ai trong quá khứ chịu ơn
ḿnh, họ sẽ đối xử hết sức tốt với
ta. Lúc ta gặp gian nan, khốn khổ ǵ, kẻ ấy chẳng
tiếc nuối mảy may, toàn tâm toàn lực giúp ḿnh, báo ân
mà! C̣n báo oán th́ kẻ ấy thấy ḿnh hoàn toàn gai mắt,
thường hay lăng nhục, hủy báng, dối trá, thậm
chí làm thương tổn ḿnh, báo oán đấy! Kẻ
đến lừa đảo tài vật, trộm cắp của
cải của ḿnh đều là đ̣i nợ. Ai đến
giúp quư vị kiếm tiền, giúp cuộc sống quư vị
được giàu có, dư dật, là trả nợ vậy!
Chú tâm
quan sát, tùy thuận lời đức Phật răn dạy,
ai báo ân th́ hy vọng đôi bên chúng ta ân đức càng sâu,
chẳng những càng sâu thêm mà c̣n phải giác ngộ, chúng
ta đền đáp bằng cách nào? Phải giúp cho kẻ ấy
giác ngộ. Với kẻ báo oán, muốn hóa giải oán th́
phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện
xảo. Phương pháp không nhất định, cốt
sao vận dụng hết sức thích đáng, oán ấy sẽ
hóa giải; nhưng nguyên tắc, cương lănh quan trọng
nhất để hóa giải oán kết là nhẫn nhục,
nhường nhịn.
Cổ
nhân thường dạy chúng ta nghịch cảnh xảy
đến phải thuận chịu, ta vĩnh viễn ǵn
giữ tấm ḷng nhân từ, ḷng khoan dung, tha thứ, ḷng
báo ân. Người ta đến lừa dối hay đến
báo oán là có ân ǵ với ḿnh? Hóa giải oán kết là ân. Huống
hồ chẳng cần biết những kẻ ấy có lư
hay vô lư, họ đến lừa dối, hủy báng, khinh
nhục ḿnh, không phải là quư vị chẳng có khả
năng báo thù, quư vị có năng lực ấy, nhưng
không báo thù, đó chính là đức hạnh, chính là giác ngộ.
Trong tâm không oán hận, hiểu rơ ràng, minh bạch, sổ nợ
của ḿnh với họ đến đây thanh toán xong. Vui
mừng, cũng như tôi ghi sổ nợ trong quá khứ: Tôi
lừa dối anh, trong đời này, anh cũng lừa dối
tôi, có đi, có lại là huề, rất vui mừng, xóa nợ
rồi!
Ân ở
chỗ nào? Thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật cho ḿnh,
Nhẫn Nhục Ba La Mật được hiển thị
vào lúc nào? Trong những lúc ấy, quư vị thấy có Nhẫn
Nhục Ba La Mật hay chăng? Có Bát Nhă Ba La Mật hay
chăng? Có Thiền Định Ba La Mật hay chăng? Có
Tŕ Giới Ba La Mật hay chăng? Có Bố Thí Ba La Mật
hay chăng? Nhẫn một điều là tu trọn sáu Ba La
Mật. Người ta giúp ḿnh, thành tựu “lục độ
đều tu” cho ḿnh, quả là việc tốt, chứ không
phải việc xấu! Bởi vậy, quư vị phải
hiểu đạo lư ấy, tự ḿnh thực sự thọ
dụng, sao chẳng cảm ơn?
Nếu quư vị chẳng
tiếp nhận sự răn dạy của thánh hiền,
do thói quen, nhất định chúng ta sẽ làm sao? Ôm ḷng sân
hận, nay ta chẳng có năng lực th́ trong tương
lai sẽ báo thù, nếu ta có năng lực sẽ phản
kháng ngay trong hiện tại. Nhất định là như vậy!
Thế th́ oan oan tương báo đến bao giờ xong? Chẳng
phải chỉ một đời này đâu! Một đời
này lầm lỗi nhỏ nhặt, đời sau càng nghiêm trọng
hơn, cứ mỗi một đời lại càng nghiêm trọng
hơn; hai bên cùng đau khổ, lầm lạc quá! Bởi
thế, phải có trí huệ cao độ, phải thực
sự nhẫn nhục, hóa giải oán kết, đôi bên cùng
có lợi. Chỉ có bậc thánh hiền mới dạy chúng
ta như thế, c̣n những kẻ tầm thường chẳng
thể. Vậy th́ bốn mối duyên ấy chúng ta phải
hiểu biết rơ ràng. “Sanh” chính là đến thọ sanh.
Sanh vẫn chưa giảng xong, bây giờ đă hết giờ
rồi. A! Ngày mai chúng tôi giảng tiếp.
Tập 12
Xin xem tiếp
phần “Y báo diệu” (y báo
mầu nhiệm), chúng ta đọc kinh văn tới câu
này:
Kỳ
quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ
chư lạc. Cố danh
Cực Lạc.
其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。
(Chúng sanh cơi ấy không có các nỗi khổ,
chỉ hưởng các niềm vui, nên cơi ấy có tên là Cực
Lạc).
Tiết
trước, chúng tôi đă giảng “vô chúng khổ”, đă nói đến Khổ Khổ,
Hoại Khổ, Hành Khổ. Trong Khổ Khổ, giảng
tám thứ khổ: sanh, lăo, bệnh, tử, cầu chẳng
được, thương yêu chia ĺa, chán ghét phải gặp
gỡ, năm Ấm lẫy lừng. Tám thứ phiền năo
ấy bức bách thân tâm, nói theo kiểu bây giờ là “thân thể
chịu áp lực rất lớn, tâm t́nh chịu áp lực rất
lớn”. Ở phần trên, chúng tôi đă giảng đến
Sanh, tức Sanh Khổ. Thật ra, chúng tôi nói Sanh Khổ vẫn
chưa xong. Trước hết, nói đến việc thọ
sanh hay đầu thai, đầu thai (sanh vào thai mẹ) th́ có
bốn duyên: Báo Ân, Báo Oán, Trả Nợ, Đ̣i Nợ.
Con
người, thật ra là hết thảy động vật,
xả thân thọ sanh trong lục đạo, nói chung chẳng
ngoài bốn duyên. Chúng ta liễu giải chân tướng của
sự thật ấy, nhất định phải nhớ
cho thật kỹ: Nhất định đừng để
thiếu nợ, nhất định chẳng nên kết oán.
Hai việc ấy trọng yếu hơn bất cứ ǵ
khác. Trong một đời này, chúng ta gặp được
thánh nhân giáo huấn nên hiểu biết. Nếu trong một
đời này, chúng ta chẳng gặp được thánh
nhân giáo huấn sẽ chẳng hiểu, chẳng biết,
chẳng thể liễu giải đạo lư ấy, chẳng
liễu giải chân tướng sự thật; thử hỏi
có kết oán cừu với chúng sanh hay chăng? Chắc chắn
là có! Có thiếu nợ hay chăng? Chắc chắn là có! Thiếu
nợ người những ǵ? Chiếm tiện nghi của
người ta, đó là thiếu nợ. Thiếu nợ th́
phải trả nợ, kết oán phải bị báo đền,
oan oan tương báo măi chẳng thôi. Sự t́nh ấy
đáng sợ, đáng hoảng hốt hơn bất cứ
chuyện ǵ khác.
Con
người chẳng biết chịu lép! Chịu lép là có
phước, nói như vậy chẳng sai chút nào! V́ sao chịu
lép là phước? Chịu lép th́ nghiệp chướng từ
trước bèn tiêu, tu như thế nào? Tu hành: Hành (行) là hành vi, hành vi sai lầm; Tu (修) là sửa cho đúng, sửa đổi
cho đúng những hành vi sai lầm th́ gọi là “tu hành”. Từ
trước đến nay, chúng ta chẳng chịu thiệt;
ư niệm ấy, hành vi ấy là sai lầm. Nói chung, khi chúng
ta bị thiệt tḥi, bị lừa gạt, bèn oán hận,
bèn mong báo thù. Hễ tâm niệm ấy khởi lên th́ chủng
tử bèn gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp
duyên, chủng tử ấy sẽ khởi hiện hành rất
phiền phức, rất đáng sợ!
Phải
làm sao chân chánh giác ngộ, thực sự hiểu thấu suốt
giống như Phật! Trong một đời này, nhất
định chẳng kết oán cừu với người
khác. Ḿnh bị thiệt tḥi chuyện chi, bị người
khác lừa gạt điều ǵ, bị người khác hăm
hại như thế nào, trong tâm cảm thấy như không
chuyện ǵ xảy ra, nhất định chẳng để
tâm, đó gọi là “tu hành”. Chẳng
có tâm oán hận, chẳng có tâm báo thù. Sửa đổi
như thế; đời sau lúc gặp lại sẽ thành bạn
bè tốt. Giải được oán kết rồi, hóa giải
rồi th́ đó chính là phước. Người bị thiệt
tḥi trong tương lai nhất định có phước
báo. Chẳng chịu thiệt tḥi, ôm hận trong ḷng, niệm
niệm chẳng quên, sau này gặp lại nhau, báo thù, oan oan
tương báo. Báo thù như vậy chẳng phải là đôi
bên đều đau khổ ư?
Đó là họa, đâu phải phước! Đời
đời kiếp kiếp, oan oan tương báo không xong, quư
vị nói xem: Chẳng phải là rất khổ ư?
Oan gia
đối đầu phải là hai bên, nếu một bên
đă giác ngộ sẽ bèn hóa giải. Chúng ta chẳng cần
đợi người khác giác ngộ, tự ḿnh hăy giác ngộ;
hễ tự ḿnh giác ngộ sẽ hóa giải. Cam ḷng chịu
thiệt, cam ḷng bị lừa gạt, nhất tâm nhất ư
tích cực nỗ lực tu học, học tập, nỗ lực
niệm Phật, quyết định trong một đời
này sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi,
trí huệ mở mang, đức năng, thần thông hiện
tiền, thả chiếc bè Từ, lại
trở vào chín pháp giới giúp đỡ chúng sanh hữu
duyên trong quá khứ. Duyên ǵ vậy? Chính là những kẻ ân,
oán, đền nợ, đ̣i nợ, họ có những duyên ấy
cùng ta, chúng ta giúp đỡ họ, độ họ.
Hăy nhớ
kỹ “Phật chẳng độ
kẻ vô duyên”, chỉ cần có duyên là quư vị đều
có thể dùng trí huệ, phương tiện thiện xảo
giúp đỡ họ phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành
thánh. Phải hiểu đạo lư này, phải liễu giải
chân tướng sự thật. Thành tựu người
khác chính là thành tựu đức hạnh, trí huệ, thần
thông, phước báo của chính ḿnh. Chướng ngại,
ngăn trở người khác, dù hữu ư hay vô ư gây
thương tổn người khác, ngạn ngữ gọi
là “tổn người, lợi
ḿnh”. Nhất định chớ nên tổn người
lợi ḿnh! Nếu quư vị vị kỷ[6], một
đời này thọ mạng rất ngắn, có thể hưởng
nhiều lợi ích, thụ hưởng lâu dài ư?
Nhưng tội báo trong tam đồ, trong địa ngục,
chẳng biết phải chịu khổ như thế gấp
trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, cớ ǵ cứ
phải làm những chuyện như thế?
Trước
kia, thầy Lư có kể cho chúng tôi một câu chuyện, thuộc
loại chuyện ngụ ngôn, thầy kể đâu chừng
mấy lần. Bởi vậy, chúng tôi có ấn tượng
rất sâu. Thầy kể chuyện một gă thầy lang bất
tài giết người. Chẳng phải là cố ư, nhưng
y thuật không cao minh nên chẩn đoán sai lầm, dùng trật
thuốc! Phàm ai để cho thầy lang chữa bệnh, bệnh
nhẹ không sao, c̣n bệnh nặng mời gă đến, trị
một cái là chết, làm chết chẳng ít người!
Đến lúc chính gă chết, tiểu quỷ bắt đi,
giải đến chỗ vua Diêm La. Gă ta đến trước
điện Diêm La, thấy trong điện Diêm La có không ít
người, đều là những người bị gă làm
chết. Vua Diêm La phán đày gă thầy lang xuống
tầng địa ngục thứ mười
tám, gă tâu cùng vua Diêm La:
- Oan uổng! Tôi đâu
cố ư hại người! V́ tôi y thuật không cao minh,
dùng sai thuốc, tôi chẳng cố ư giết hại họ!
- Chẳng phải cố
ư, nhưng mạng người nhiều như thế, mi phải
gánh chịu. Trước hết đọa địa ngục,
từ địa ngục trở ra lại phải đền
mạng. Hữu ư th́ hữu ư đền mạng, vô ư th́ vô
ư đền mạng, vô ư là ngộ sát. Chẳng tránh khỏi
nhân quả, cổ nhân nói đúng đấy, chẳng giả
đâu; nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai, tống hắn
xuống địa ngục tầng thứ mười tám!
Xuống đến
địa ngục vẫn kêu oan, chẳng cam ḷng, chạy
loạn lên trong địa ngục. Gây náo loạn như thế,
chợt nghe phía dưới có người nói: “Lăo huynh! Ông
đừng chạy lung tung như thế. Ông vừa cất
bước, tro bụi đều rớt đầy xuống
người tôi!” Ông ta nghĩ: “Ḿnh đă ở tầng
địa ngục thứ mười tám, sao c̣n có tầng
địa ngục thứ mười chín?” Bèn hỏi: “Lăo
huynh làm ǵ vậy?”
- Tôi dạy học! Thầy
thuốc dở làm chết người đọa tầng
địa ngục thứ mười tám. Thầy dạy dở
đọa tầng địa ngục thứ mười
chín, tức là anh dạy học, dạy lầm con em người
ta c̣n nặng tội hơn thầy thuốc dở làm chết
người.
Nhưng quư vị phải
biết: Một vị thầy giỏi có công đức cả
pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian không ǵ sánh bằng
được. Ở Trung Quốc, quư vị thấy có ai
sánh bằng Khổng lăo phu tử hay chăng? Ngài có công
đức ǵ? Dạy học! Ông thầy tốt chẳng dạy
lầm con em người ta. Quư vị thấy Thích Ca Mâu Ni
Phật là vị thầy tốt, tuyệt đối chẳng
dạy người lầm lạc, dạy suốt bốn
mươi chín năm. Bởi thế, công đức dạy
học của đức Phật là bậc nhất trong mọi
pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Dạy học
phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả, giống
như thầy thuốc vậy. Dạy học vụng về
phải đọa tầng địa ngục thứ
mười chín! Đó là ngụ ngôn, chưa chắc là sự
thật, nhưng quư vị phải hiểu, như chúng ta mới
vừa đọc trong kinh, tôn giả Châu Lợi Bàn Đà
Già đời xưa kia là Tam Tạng pháp sư: Tuy không dạy
sai lầm, nhưng v́ tiếc pháp, dạy cho người ta,
chỉ dạy một nửa, nửa sau không dạy. V́ sao?
Sợ người trong tương lai hơn ḿnh, đấy
là ǵ? Tâm ghen ghét, tiếc pháp! Đọa địa ngục,
tội báo địa ngục măn rồi, được ra,
tuy được làm thân người, nhưng ngu si! Tiếc
pháp mắc quả báo ngu si như thế, chúng ta phải hiểu
việc ấy.
Ở Trung Quốc, công
án “dă hồ” (chồn hoang) trong Thiền Tông rất nhiều
người biết. Con chồn hoang ấy trong năm
trăm năm trước là một pháp sư giảng kinh,
thuyết pháp, nói sai một câu, tức là nói câu chuyển ngữ
sai một chữ. Nói sai một chữ thôi, bị quả
báo đọa làm thân chồn hoang năm trăm năm, được
Bách Trượng đại sư cứu vớt. Nếu chẳng
gặp ngài Bách Trượng, vẫn phải thọ tội
trong đường súc sanh; nghĩa là ǵ? Dạy học chẳng
thể không cẩn thận.
Biết th́ nói biết,
không biết nói không biết, chẳng được miễn
cưỡng không biết nói biết, chẳng được
thể diện hăo. Người ta đến hỏi ḿnh,
ḿnh không biết cảm thấy quê quá, phải dùng đại
điều ǵ đó để đáp cho xuông, làm vậy rất
đáng sợ! Nếu quư vị dạy điều ǵ sai lầm,
hăy nghĩ đến chuyện con chồn hoang trong nhà Thiền,
hăy nghĩ đến Châu Lợi Bàn Đà Già, ḿnh sẽ gặp
phải quả báo. Nếu nói người ta đến hỏi
ḿnh, cái ǵ ḿnh cũng không biết th́ làm cách nào đây? Niệm
A Di Đà Phật là xong. A Di Đà Phật là vô thượng
pháp môn, quyết định chẳng hại người,
quyết định chẳng dối người. Khuyên mọi
người cầu sanh Tịnh Độ, thù thắng
hơn bất cứ ǵ khác. Sao chúng ta không làm như vậy?
Các đại đức, thiện tri thức xưa kia làm
như vậy không ít; bất luận quư vị hỏi các
Ngài điều ǵ, các Ngài đều niệm một câu Nam
Mô A Di Đà Phật. Ngoại trừ một câu A Di Đà Phật
ra, chẳng có câu thứ hai nào hết. Các Ngài tự ḿnh tu
hành thành công, dạy hết thảy chúng sanh cũng thành
công, đạo lư ấy hết sức sâu xa.
Chúng tôi giảng pháp nhiều
năm, nói thật ra, cũng nêu lên vô lượng vô biên Phật
pháp, nhưng đến cuối cùng đều quy vào một
câu A Di Đà Phật. Quư vị nêu lên một câu A Di Đà Phật,
đấy chính là vô thượng pháp bảo. Vạn pháp quy
nhất, nhất là ǵ? Nhất chính là một câu danh hiệu,
vạn đức hồng danh. Nhất quy về đâu? Quy
về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới, được
oai thần và bổn nguyện của A Di Đà Phật gia
tŕ. Tu học trong hoàn cảnh ấy, một đời chứng
đắc quả Phật rốt ráo viên măn chẳng thể
nghĩ bàn! Đúng là như trong kinh nói: “Vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc”
(không có các khổ, chỉ hưởng các vui) nên thế giới
ấy tên là Cực Lạc, quyết định chẳng
sai!
Bởi vậy, chúng ta
phải hiểu rơ nhân duyên của việc đầu thai,
giữa con người với nhau không tránh khỏi bốn
duyên ấy. Sanh là khổ, phần trên đă giảng rồi,
chúng tôi đă nói rồi, [quư vị] quên rồi! Trong kinh
đức Phật giảng rất rơ ràng, quư vị đầu
thai th́ đầu thai là mê hoặc; nếu quư vị hiểu
rất rơ ràng, rất tỉnh táo, sẽ chẳng đầu
thai nữa. Hữu t́nh đến đầu thai, đến
thọ sanh trong lục đạo do nguyên nhân nào? Trong kinh Phật
nói là v́ dâm dục. Hết thảy chúng sanh (chỉ lục
đạo chúng sanh) đều lấy dâm dục làm tánh mạng
chánh, đều đến đầu thai như thế. Nếu
lúc đầu thai, quư vị mang thân nữ, tức là quư vị
thích thân nữ bèn mang thân nữ; nếu thích thân nam, bèn mang
thân nam. Bởi vậy, chẳng
đoạn t́nh dục,
chẳng thể không đầu thai.
Do đó, chẳng đoạn
t́nh dục, chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi.
V́ vậy, giới luật tại gia, đặt Sát làm
đầu, chẳng sát sanh, chứ không phải tà dâm; c̣n
trong giới luật xuất gia, chẳng dâm là điều
đầu tiên. V́ sao? Xuất gia muốn liễu sanh tử,
muốn thoát tam giới, chẳng đoạn dâm dục sẽ
chẳng thể thoát tam giới được. Trong kinh
Lăng Nghiêm, đức Phật nói rất tường tận:
Dục là cội gốc của luân hồi lục đạo;
chẳng nhổ tận rễ, làm sao ly khai lục đạo
được? Bởi vậy, quư vị đầu thai, sau
khi đầu thai, nằm trong bụng mẹ, đức Phật
gọi mười tháng hoài thai ấy là “thai ngục”, trong
bụng mẹ chịu nỗi khổ giống như trong
địa ngục. Khi mẹ uống một chén nước
lạnh, quư vị cảm thấy như đang ở trong
địa ngục Hàn Băng. Mẹ ăn thứ ǵ nóng, cảm
thấy như đang ở trong Đại Hỏa địa
ngục, khổ chẳng thể nói nổi, “thai ngục” là
như vậy! Bởi thế, mười tháng hoài thai, quên
sạch sành sanh những kư ức thuộc đời
trước, rất khổ! Chúng ta phải tin vào sự kiện
này.
Trong quá khứ, tôi có một
người bạn già, đứa con của ông ta độ
chừng mười mấy tuổi, rất khờ khạo.
Ông ta bảo tôi: “Đứa nhỏ này hồi bé hết sức
thông minh, lên ba bốn tuổi mắc phải một trận
bệnh nặng. Lành bệnh rồi, thông minh, kư ức
đâu mất hết!” Một trận bệnh nặng trong
thế gian c̣n có thể khiến kư ức bị mất, mất
sạch thông minh, trí huệ. Thời gian mười tháng rất
dài, ở trong thai, tất cả hết thảy kư ức
đời trước đều quên sạch hết,
đẻ ra không biết ǵ hết. Trong kinh Phật nói: Thai
nhi nằm trong bụng mẹ cứ mỗi bảy ngày lại
biến hóa, đức Phật giảng sự biến hóa
cách mỗi bảy ngày rất tường tận, đó là “khổ chẳng thể nói nổi”.
Bởi vậy, đứa nhỏ sanh ra, âm thanh thứ nhất
là ǵ? Quư vị có chú ư chăng? Âm thanh thứ nhất là “khổ
a!” Sanh ra là khổ, khổ suốt đời, đó là Sanh
Khổ!
Có một số nhỏ
trẻ sanh ra c̣n nhớ được chuyện đời
trước là do nguyên nhân ǵ? Trong kinh, đức Phật gọi
t́nh trạng đó là “đoạt thai”. Lúc mẹ nó hoài thai
chẳng phải là hoài thai nó, mà là mang thần thức của
người khác. Kẻ ấy đến đ̣i nợ,
nhưng không thiếu nợ nhiều lắm. Người mẹ
mang thai phải thọ tội, phải chịu tội hoài
thai mười tháng, thân thể chẳng được
thong dong. Vừa sanh ra liền chết, tức là thần thức
ly khai liền, v́ sao? Hai bên chỉ có quan hệ đến
đó mà thôi; nhưng kẻ khác có duyên đối với gia
đ́nh đó, khi thần thức kẻ kia vừa ly khai, thần
thức kẻ này bèn dựa ngay vào thân thể đó. Nói cách
khác là thay đổi thần thức, trong nhà Phật gọi
chuyện ấy là “đoạt thai”. Lúc hoài thai chẳng phải
kẻ này, lúc sanh ra kẻ này mới đến. V́ thế,
cái ǵ nó cũng hiểu rơ, chẳng quên một mảy sự
t́nh đời trước; nhưng hiện thời biến
thành một đứa trẻ nhỏ. Cũng có lúc đứa
trẻ [mới sanh ra đă] nói được, mọi
người chẳng chấp thuận, cho nó là quái vật.
Bị quở như vậy chẳng dám nói nữa, nhưng
hiểu rành rẽ, minh bạch. Đoạt thai chỉ là một
số ít, nhưng không phải chẳng có. Người
đoạt thai như vậy không có Sanh Khổ, không phải
ở trong thai mười tháng, chẳng chịu nỗi khổ
thai ngục; nhưng đó chỉ là thiểu số, hết
sức là ít!
Hễ có sanh th́ nhất
định có lăo, cho nên con người phải giác ngộ.
Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện: Ngài có giác tánh
rất cao, hết sức linh mẫn, linh hoạt mẫn tiệp.
Tuy ḿnh chưa già, nhưng trông thấy người già, trông
thấy nỗi khổ của người già cả, lập
tức nghĩ trong tương lai ḿnh có bị già hay không? Già
rồi có giống như người kia hay không? Cảm thấy
rất hoảng sợ. Người sống trong thế
gian sống nhờ vào ngũ cốc và các món lương thực,
chẳng thể không sanh bệnh. Dẫu tự ḿnh chưa
sanh bệnh, nhưng thấy người khác mắc bệnh
khổ sở mọi bề như thế liền giác ngộ.
Những tướng ấy (sanh, lăo, bệnh, tử) không một
cá nhân nào có thể tránh khỏi được.
Sanh - lăo - bệnh - tử
là tướng bày ra trước mắt ta mỗi ngày, vây bủa
ta khắp bốn phía, thời thời khắc khắc cảnh
cáo chúng ta, nhưng quư vị có nhận biết hay không? Trong
Phật pháp nói người thiện căn sâu dầy rất
dễ nhận biết. Nhận biết rồi, liền
nghĩ cách giải quyết vấn đề như thế
nào? Tất cả hết thảy phương pháp thế
gian đều chẳng thể giải quyết được
chuyện này! Thích Ca Mâu Ni Phật vứt bỏ ngôi vua, vứt
bỏ sự hưởng thụ vinh hoa, phú quư, đi tu,
đi xuất gia, để giải quyết vấn đề
“tử sanh đại sự” ấy.
Suy lăo, ngạn ngữ
cổ Trung Quốc nói rất hay: “Ưu năng sử nhân lăo” (Lo buồn lo khiến
con người già cỗi). Một con người trong
đời ưu lự quá nhiều, vướng mắc quá
nhiều, buông không được, rất dễ dàng suy lăo.
Ưu tư khiến con người già cỗi! Lại nói: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa
tùng khẩu xuất”, những câu như vậy đều
rất có lư. Nhiều chứng bệnh, đa phần là v́
tham ăn, tham uống, ăn bậy bạ. Gần đây
nhất, có nhiều báo cáo cho thấy virus gây bệnh SARS do
đâu mà có? Không ít người nói do từ động vật
hoang dă. Ở phía Nam Trung Quốc, người ta thích ăn thịt
động vật hoang dă (“dă vị”).
Hiện tại, người ta truy t́m căn nguyên bệnh
SARS, nghi ngờ bệnh này h́nh như truyền từ các món
dă vị. Đấy đều là truy tầm trên sự
tướng biểu hiện, thực sự đă chứng
minh “họa tùng khẩu nhập”, tham ăn! Phật dạy
chúng ta: Nguyên nhân chân chánh chẳng ngoài nhân quả nghiệp
báo; nói như vậy mới là thực sự thấu triệt,
mới giải thích minh bạch được.
Như trong kinh nói, lục
đạo phàm phu trong tâm chẳng buông Kiến Tư phiền
năo xuống được, liền phải thọ nghiệp
báo. Thiện nghiệp th́ được thiện quả
nơi ba đường lành; ác nghiệp th́ nhất định
phải thọ báo nơi ba đường ác. Nhưng đối
với hết thảy chúng sanh, ta chẳng t́m được
người nào thuần thiện không ác, t́m không ra; cũng
chẳng t́m được một ai thuần ác vô thiện.
Hạnh nghiệp của hết thảy chúng sanh là thiện
- ác lẫn lộn, mỗi một chúng sanh vừa có thiện
vừa có ác, nhưng có nặng - nhẹ, nhiều - ít, lớn
- nhỏ chẳng giống nhau. V́ thế, sau khi thọ sanh,
quả báo chẳng giống nhau. Thiện nhiều, ác ít, trong
đời này sẽ hưởng phước báo nhiều,
tai nạn ít. Nếu ác nhiều, thiện ít, một đời
này phải gặp lắm đổ vỡ; nhưng v́ có
chút điều thiện, nên cũng có những thời gian
ngắn rất b́nh tịnh. Nói chung, chẳng ngoài nhân quả
báo ứng, quư vị phải thực sự hiểu
được đạo lư này, liễu giải chân tướng
sự thật này, mới ḥng bổ cứu trong một
đời này, tức là có thể xoay chuyển quả báo và
vận mạng.
Thiền sư Vân Cốc
dạy Viên Liễu Phàm điều này. Tiên sinh Liễu Phàm
là người đọc sách, có trí huệ, vừa nghe bèn
hiểu rơ, lại chịu làm theo. Đổi lỗi, hướng
lành hết sức tích cực, thực sự thay đổi
quả báo, thay đổi rất nhanh, thay đổi rất
hữu hiệu. Cuốn sách thứ nhất tôi đọc
khi học Phật là Liễu Phàm Tứ Huấn do lăo cư
sĩ Châu Kính Trụ tặng. Khi tôi có được cuốn
sách nhỏ đó, xem từ đầu đến cuối hơn
ba mươi lần, hết sức cảm động; v́
tôi lúc trẻ tuổi đă phạm những tật giống
như tiên sinh Viên Liễu Phàm, nhưng bất luận trí huệ
hay phước báo của tôi đều chẳng bằng
tiên sinh Liễu Phàm, cuộc sống của tôi c̣n đáng
thương hơn nữa, càng khổ hơn nữa! Có một
phương pháp thay đổi vận mạng như thế
th́ tốt quá, như gặp được vật quư báu nhất,
tiếp nhận lời thầy răn dạy, tiếp thọ
thiện tri thức chỉ dạy.
Tôi quen biết
lăo cư sĩ Châu Kính Trụ, h́nh như cụ đă sáu
mươi tám tuổi, tôi mới hai mươi sáu. Lăo
cư sĩ hết sức yêu
thương, che chở bọn người trẻ tuổi
chúng tôi, nhất là thấy ai đọc thiện thư liền
nẩy ḷng ưa thích, có thể y giáo phụng hành th́ cụ
bèn đặc biệt yêu mến người ấy.
Đúng là xem như con của chính ḿnh vậy. Cụ dạy
chúng tôi phải biết nhân quả báo ứng, dạy chúng
tôi phải biết sửa lỗi làm lành, “chớ làm các điều ác, vâng làm các điều
lành”. Chúng tôi tiếp thọ sự giáo huấn từ bi,
thiện ư của cụ, được thật nhiều lợi
ích, có dịp chuyển được sanh - lăo - bệnh - tử
của cả một đời ḿnh. Đúng là giảm chậm
sự lăo hóa, chẳng phải là không già, nhưng là giảm
chậm, giống như kéo dài thời gian vậy. Điều
này về sau học Phật, mới dần dần hiểu
ra đạo lư, đó chính là như cổ nhân nói “ưu lự khiến con người
già cỗi”. Đối với hết thảy sự
trong thế gian tôi xem nhẹ hơn, chẳng c̣n bận ḷng
nữa.
Từ nhỏ hiếu
học, thích đọc sách, lúc tuổi trẻ sống rất
khổ, thâu nhập ít ỏi. V́ thế, những người
tuổi trẻ thường t́m đến những nơi
ăn chơi, chúng tôi tuyệt đối chẳng dám la cà,
gần gũi. Nguyên nhân ǵ? Chẳng có tiền bạc. Bởi
thế, tuổi trẻ sanh trong nhà giàu có chưa phải là
chuyện tốt. Người gia cảnh bần cùng chẳng
dám đến những nơi ăn chơi, suy nghĩ cuộc
sống tương lai của ḿnh sẽ ra sao? Nếu chẳng
phát phẫn, chẳng nỗ lực, chẳng gắng học
hành giỏi giang, sau này sẽ ra sao? Bởi thế chúng tôi
có quan niệm khác với những người tuổi trẻ.
Khi họ rảnh rỗi, thường đến những
nơi ăn chơi vui thú, tôi gần gũi những vị
thầy nổi tiếng. Tôi đi đến đâu? Đến
thư viện, tiệm sách, đấy là những nơi
tôi la cà.
Không có tiền mua sách
th́ đến tiệm đọc sách. Ở tiệm sách có
lúc giở sách ra, đọc cả một hai tiếng. Xem
xong, đặt trả sách lên giá, đi qua tiệm khác xem
sách. Người thời đó rất tử tế, tôi
thường ghé tiệm sách, chủ tiệm quen mặt, có
lúc c̣n giới thiệu sách hay cho chúng tôi xem. Chúng tôi muốn
mua, không có tiền, không sao cả! Cứ lấy trước,
khi nào có tiền trả sau. Chủ tiệm tin tôi, hễ lúc
nào tôi có tiền sẽ mau mắn đem đến trả,
có tín nhiệm. Hầu như mấy tiệm sách ở Đài
Bắc, tôi đến mua sách đều có thể ghi nợ,
có tín nhiệm mà! V́ tâm địa thanh tịnh, chẳng bị
ngũ dục lục trần ô nhiễm, con người chẳng
dễ bị suy lăo. Sống cuộc đời đơn
giản, chẳng ăn quà vặt (không có tiền ăn!), sống
quy củ, ít đổ bệnh.
Sau khi học Phật,
phải hai ba chục năm mới hiểu ra, hết thảy
chúng sanh vốn đều chẳng sanh chẳng diệt. Chẳng
riêng ǵ chư Phật, Bồ Tát, mà tất cả hết thảy
chúng sanh đều chẳng sanh chẳng diệt. Chết
giống như thay một bộ y phục. Tôi thường
nói là thân thể này đă già rồi, đă dùng không ít
năm, dùng cũ mèm rồi, chẳng tái sử dụng
được nữa, phải thay đổi, càng thay càng
tốt, càng đổi càng thù thắng. Đó chẳng phải
là chết, chỉ thay đổi thân thể mà thôi, giống
như quần áo mặc cũ, mặc rách
rồi, không cần đến nữa, bỏ
đi, đổi lấy bộ mới.
Trong sanh - lăo - bệnh
- tử, phải hiểu rơ, thấu hiểu lư sự th́
chính ḿnh mới làm chủ được! Nếu chẳng
hiểu rơ lư, chẳng minh bạch sự tướng th́
đối với bốn sự việc này, ta rất sợ
sệt, ta suy nghĩ không thích đáng, xử sự chẳng
thích đáng, càng rắc rối to! A! Bây giờ đă hết
giờ rồi.
*
Chúng ta coi tiếp:
Kỳ quốc chúng sanh vô hữu
chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực
Lạc.
其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。
(Chúng sanh cơi ấy không có các sự
khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên tên là Cực Lạc).
Trong Khổ Khổ,
chúng tôi giới thiệu đơn giản Sanh - Lăo - Bệnh
- Tử, thứ năm là Cầu Bất Đắc. Hết
thảy chúng sanh có ai không có dục vọng? Cá nhân nào chẳng
mong cầu? Dục vọng, mong cầu, hết thảy
chúng sanh đều có; nhưng dục vọng, mong cầu
chẳng có giới hạn, mong cầu phần nhiều
đều thất vọng, chân tướng sự thật
ấy rất khổ. Dục vọng nhiều, khổ càng
nhiều; mong mỏi nhiều, thất vọng càng nhiều!
Người chân chánh tu đạo đối với sanh hoạt
vật chất lẫn sanh hoạt tinh thần đều
tùy duyên, thế nào cũng xong, chẳng mong cầu nên ít khổ.
Trong tâm ít vọng niệm, ít mong cầu, chỉ cần duy
tŕ được cuộc sống đă hết sức thỏa
măn. Người như vậy luôn luôn mạnh khỏe, sống
lâu, thế mà rất ít người hiểu được!
Xưa kia, lúc Trung Quốc
mới mở cửa, rất nhiều người đến
thăm viếng du lịch, nhận thấy nội địa
Trung Quốc bần cùng lạc hậu, nói như bây giờ
là điều kiện vệ sinh, điều kiện vệ
sinh ǵ cũng không có, thế mà dân cư sống rất lâu
khỏe mạnh. Tám chín mươi tuổi vẫn là trẻ,
người một trăm hai mươi, một trăm ba
mươi tuổi không ít, do nguyên nhân nào? Tôi nghe nói người
ngoại quốc đến đó khảo sát, t́m chẳng ra
nguyên nhân. Nguyên nhân thực sự rất đơn giản,
trong kinh Phật thường nói là tâm thanh tịnh, ít ham muốn,
ít mong cầu. Đấy là nguyên nhân khỏe mạnh sống
lâu. Biết đủ, thường vui, chẳng có những
sự phiền muộn trong tâm, chẳng có điều ǵ phải
lo lắng, mỗi ngày được no bụng đă rất
đẹp dạ rồi! Bởi thế, ngạn ngữ
thường nói: “Ưu lự
khiến cho con người già cỗi”. Những quốc
gia đă phát triển, cuộc sống người dân hết
sức giàu có, nhưng thường ưu lự, chẳng
tri túc, ngày đêm truy cầu hưởng thụ, theo đuổi
việc nâng cao phẩm chất cuộc sống, sao không bị
lăo hóa? Rất dễ dàng suy lăo, đạo lư là đây.
Thế gian cũng có hiền
thánh, vấn đề là chưa thấy ai gặp
được, chưa thấy ai gặp được
thánh nhân mà có thể tiếp nhận giáo huấn, chuyện
này tùy thuộc phước báo của mọi người.
Thánh hiền thế gian, xuất thế gian chỉ dạy
chúng ta, ta có thể cầu được, chẳng phải
là không cầu được. Trong Phật pháp càng nói hay
hơn: “Phật thị môn
trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa Phật,
có cầu ắt ứng). Chẳng có ǵ không cầu
được, nhưng quư vị phải hiểu đạo
lư và phương pháp để cầu! Nếu mong cầu đúng
lư, đúng pháp, không ǵ chẳng đạt được. Những
ǵ thiền sư Vân Cốc truyền cho tiên sinh Liễu Phàm
chính là đạo lư này. Tiên sinh Liễu Phàm nghiêm túc làm theo,
quả nhiên có ứng nghiệm, cầu công danh được
công danh, cầu con cái được con cái, chứ trong mạng
ông ta không có.
Số mạng ông ta
không có công danh, thời cổ gọi “công danh”, nay gọi là
“học vị”, Trung Quốc vào thời cổ chẳng gọi
là học vị, mà gọi là công danh. Công danh c̣n chia thành ba
đẳng cấp: Thấp nhất là Tú Tài, nói thật ra,
Tú Tài chẳng thể tính là công danh. Cao hơn Tú Tài một bậc
là Cử Nhân, Cử Nhân có thể tính là công danh. Cao nhất
là Tiến Sĩ. Trên thực tế, Tiến Sĩ có thể
sánh với học vị Bác Sĩ[7] hiện
tại. Học vị tối cao là Tiến Sĩ, thấp
hơn là Cử Nhân, tương đương với Thạc
Sĩ [hiện tại], Tú Tài tương đương Học
Sĩ, hiện thời. Đó là ba đẳng cấp của
người có học ở Trung Quốc vào thời cổ.
Liễu Phàm tiên sinh chỉ
đậu Tú Tài, trong mạng không có Cử Nhân, Tiến
Sĩ đương nhiên khỏi bàn tới. Quư vị thấy
trong mạng ông ta không có công danh, ông ta cầu công danh, quả
thật ông ta đậu Cử Nhân, đỗ Tiến
Sĩ. Trong mạng không có con cái, kết quả ông ta
cũng có con cái. Đúng là “trong nhà Phật, hữu cầu
tất ứng”. Mạng ông ta chỉ thọ
năm mươi ba tuổi, gần như kéo dài tuổi thọ
hai mươi năm nữa, sống đến năm bảy
mươi bốn tuổi, đúng là hữu cầu tất
ứng!
Thánh nhân chẳng
lừa dối người, phàm muốn cầu phải hiểu lư luận,
hiểu phương pháp. Lư luận là
nhân quả, gieo nhân thế nào, được quả báo thế
ấy. Nay trong thế gian này, mong mỏi, dục vọng
đă biến thành chuyện lớn nhất trong tư
tưởng con người hiện tại, cả đời
người theo đuổi phương hướng ấy,
hướng theo mục tiêu ấy liều mạng truy cầu.
Chẳng hiểu lư luận, chẳng biết phương
pháp, cứ cậy vào phiền năo tập khí, tri kiến thế
tục để phán đoán, cho nên cạnh tranh! Tranh có
được hay chăng? Tranh không được! Tranh
không được bèn dùng thủ đoạn phi pháp, tổn
người, lợi ḿnh, xâm phạm người khác, xâm
đoạt người khác nhằm thỏa măn dục vọng
của chính ḿnh. Có lúc tợ hồ có hiệu quả, thực
sự đoạt được của cải người
ta, nào biết ḿnh đoạt được rồi, hưởng
thụ trong một thời gian ngắn, vẫn là v́ trong mạng
ḿnh có. Nếu mạng ḿnh không có, dẫu tranh cũng chẳng
được, có đoạt cũng chẳng được.
Ví dù đoạt được, chính ḿnh chẳng thể hưởng
dụng được, trong mạng không có mà! Đấy mới
là cái nhân chân chánh, trong mạng đă có, cớ ǵ phải
tranh?
Thoạt đầu, Liễu
Phàm tiên sinh được Khổng tiên sinh đoán mạng,
đoán mạng ông ta có của cải, mỗi năm có bao
nhiêu thâu nhập nhất định. Mỗi năm ông ta thử
thí nghiệm, chẳng sai chút nào, chẳng sai chạy chút mảy
may nào so với lời đoán của Khổng tiên sinh. Bởi
thế, ông ta tin tưởng con người có vận mạng
chẳng thể miễn cưỡng. V́ thế, ư niệm cạnh
tranh, tranh thủ đều buông xuống hết, cũng chẳng
cầu, cũng chẳng tranh. V́ sao? Cầu không được,
tranh chẳng được, trong mạng không có mà! Những
vọng niệm ấy thảy đều không có, tâm định,
nên mới cùng thiền sư Vân Cốc ngồi trong thiền
đường ba ngày ba đêm không có một vọng niệm
nào. Thiền sư Vân Cốc cảm thấy rất hy hữu,
ba ngày ba đêm chẳng khởi vọng niệm, chẳng
phải người tầm thường làm được
như vậy, rất bội phục: “Công phu tu hành của
ông khá quá!”
Tiên sinh Liễu Phàm nói:
- Chẳng phải là
tôi không có vọng niệm, nhưng khởi vọng niệm
cũng vô ích, chẳng làm được ǵ, nên tôi mặc kệ,
không nghĩ tới nữa.
Thiền sư Vân Cốc
hỏi:
- Tại sao?
- Mạng tôi đă
được Khổng tiên sinh đoán định rồi.
Những ǵ tôi gặp gỡ, thành tựu trong một đời
này, tôi đều đă biết rơ cả rồi, đều
hiểu hết rồi, khởi vọng tưởng ích ǵ
cơ chứ?
Thiền sư Vân Cốc
nghe xong bèn cười ha hả:
- Tôi vốn tưởng
ông có công phu tu hành, nào ngờ là như vậy, phàm phu, phàm
phu!
Bèn khai thị cho ông ta:
- Không sai! Phàm phu
đúng là có vận mạng, ai cũng chẳng thoát khỏi
vận mạng, v́ sao? Chỉ cần ông có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, ông bèn có vận mạng.
Ai không có vận mạng? Người đoạn sạch vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Thánh nhân
đă vượt khỏi vận mạng.
Nói cách khác, nếu anh
có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
chắc chắn anh là lục đạo chúng sanh, anh
đương nhiên bị câu thúc bởi mạng số
trong lục đạo, động đậy chẳng
được, “nhất ẩm,
nhất trác, mạc phi tiền định” (một hớp
uống, một miếng ăn không ǵ chẳng phải là tiền
định). Nếu anh không hiểu đạo lư này, cứ
muốn cùng người tranh đoạt, làm bậy làm bạ
th́ sao? Tổn hại phước báo nơi mạng. Chẳng
hạn như (chúng tôi nêu thí dụ để giảng), trong
mạng anh giàu có đến một triệu, trong mạng
anh có như vậy, giàu có một ức, nhưng anh khởi
tâm động niệm, toàn làm chuyện bất thiện,
toàn làm chuyện ác, ác niệm, ác hạnh. Kết quả là
một ức của cải trong mạng anh bị hao tổn,
chỉ c̣n năm ngàn vạn. Anh kiếm được
năm ngàn vạn tự cảm thấy rất phi thường,
nhưng phải dùng phiền năo làm như thế này như
thế nọ, bị giảm bớt rồi. Nếu tạo thành ác nghiệp rất nặng,
đoạt được tài sản bằng cách
thương thiên hại lư, đại khái càng bị hao tổn
lớn hơn nữa. Rất có khả năng một ức
tiền tài của anh biến thành một ngàn vạn. Cổ
nhân Trung Quốc bảo “tổn phước, tổn thọ”.
Đấy là chẳng hiểu đạo lư, chẳng biết
phương pháp chính xác, làm sai!
Trong mạng
chẳng có của cải,
người ấy phải biết tích đức, tu thiện,
dùng thiện tâm, thiện hạnh đăi người, tiếp
vật, có thể bỏ ḿnh v́ người. Của cải
là Tài Bố Thí, dẫu tự ḿnh chẳng có tiền của,
ta vẫn có một bát cơm ăn, người ta không có ǵ
ăn, ḿnh xẻ nửa bát cho. Đó đều là cái nhân của
giàu có. Trong mạng đă có của cải, càng chứa, càng
nhiều, của cải hiện tiền, phước báo hiện
tiền, trí huệ hiện tiền. Trong mạng của tiên
sinh Liễu Phàm có một chút của cải, chẳng nhiều,
rất ít! Thiền sư Vân Cốc dạy ông ta như vậy,
ông ta hiểu rơ, hoảng nhiên đại ngộ. Mạng do
đâu mà có? Do đời trước tạo, mạng do
chính ḿnh tạo, tự ḿnh tạo th́ tự ḿnh thay đổi.
Bởi thế, hiểu được đạo lư, hiểu
phương pháp, vấn đề bèn được giải
quyết.
Trong kinh luận, đức
Phật thường dạy chúng ta rất nhiều, bố
thí được giàu to. Những người giàu có trong thế
gian này, của cải do đâu mà có? Do đời trước
tu Tài Bố Thí; bởi vậy, trong mạng có kho tàng dư
dật đến thế, bất luận làm việc ǵ, của
cải cuồn cuộn kéo tới. Tài Bố Thí càng thí càng
nhiều, nhất định chẳng được keo lẫn.
Làm nhiều việc tốt, chẳng sợ bị gạt,
chẳng sợ người khác dối ḿnh. Hiện tại,
rất nhiều người làm việc tốt, người
xấu trong thế gian này rất nhiều, ta làm việc tốt
đều bị họ lừa gạt. Chẳng sao, cứ
lừa đi, trong tương lai họ sẽ phải trả
nợ. Nhân quả thông ba đời, ḿnh bị người
ta gạt th́ sao? Của cải ḿnh lưu lại kiếp
sau, trong đời sau, bọn chúng đền trả cho
ḿnh. Quư vị hoàn toàn chẳng bận tâm; quyết định
chẳng để chuyện đó gây chướng ngại
rồi chẳng dám làm việc tốt.
Ví như cứu tai ách,
cứu tai nạn, chúng ta biết quả thật phải
qua tay rất nhiều người lo liệu, có rất nhiều
người nói phát tài nhờ tai nạn, đó là chuyện
của họ, ai có nhân quả nấy. Có người nói: “Như
vậy khác ǵ tôi giúp kẻ ấy tạo tội nghiệp
đâu?” Nếu quư vị có tâm giúp kẻ ấy tạo tội
nghiệp th́ quư vị mắc tội báo. Ta không có tâm đó,
nhưng người ta ôm ḷng bất thiện, trộm tiền
tài để cứu tế tai nạn, nhân quả kẻ
đó phải gánh! Chúng ta phát thiện tâm, là cứu tế
tai nạn. Thiện tâm, thiện hạnh ấy của quư vị
không bị hao tổn một chút nào, đó là chánh lư. Nếu
v́ có vài kẻ thừa cơ nuốt mất tiền bạc
ấy, người mắc tai nạn chẳng được
hưởng, hoặc được hưởng rất
ít, mà quư vị không làm th́ chính ḿnh chẳng có phước
báo, đă đánh mất cơ duyên tu phước báo.
Như vậy là không có trí huệ, là làm việc theo cảm
t́nh. Người chân chánh tích đức tu phước không
có tâm niệm ấy, đối với ai cũng tin tưởng,
đúng như cổ nhân nói: “Nghi
nhân bất dụng, dụng nhân bất nghi” (Ngờ
người chẳng dùng, dùng người chẳng ngờ).
Tôi tin tưởng anh, chính anh làm sai th́ anh phải gánh lấy
trách nhiệm nhân quả!
Toàn bộ vấn đề
là giáo dục, nhưng hiện tại giáo dục băng hoại,
chúng ta chỉ có thể cảnh tỉnh, khuyên người
tu phước. Quư vị phụ trách vấn đề cứu
tế tai ương, tất cả tiền tài nằm trong
tay quư vị, nếu đối với tiền tài ấy
quư vị chẳng chút tư tâm, đem đi cứu tai nạn,
quư vị sẽ có phước báo rất lớn, phước
sau này vô cùng! Quư vị nuốt mất tiền tài cứu tế
tai nạn, hậu quả chẳng thể tưởng
tượng được! Kẻ ấy chẳng hiểu
đạo lư đó, ngu si, chúng ta chỉ có thể cảnh tỉnh
kẻ đó. Cảnh tỉnh nhưng hắn vẫn cứ
làm, tương lai hắn đọa lạc ta chẳng lạ
ǵ hết, hắn vẫn phải cảm tạ: “Đáng tiếc
khi ấy, tôi không nghe lời ông, hiện thời phải chịu
khổ nạn lớn lao như thế!”
Giáo dục phải bắt
đầu từ lúc nhỏ, đă trưởng thành rồi
th́ tập khí đă dưỡng thành thói quen, quan niệm sai
lầm đă ăn sâu, chẳng dễ ǵ cải biến.
Nhưng phải nhớ kỹ: “Trong
cửa Phật, chẳng bỏ một ai”, phải có
ḷng nhẫn nại, phải có trí huệ, phải có
phương tiện thiện xảo, thành tựu chính ḿnh, thành
tựu chúng sanh. Đừng sợ! Phải tin tưởng
Phật, Phật dạy chúng ta càng thí sẽ càng nhiều.
Thí tài được của cải, quư vị liên tục
đem của cải bố thí cho hết thảy chúng sanh
khổ nạn, vĩnh viễn chẳng ngơi nghỉ. Cuộc sống của chính ḿnh tàm
tạm là được rồi, chớ mong cầu hưởng
thụ quá phận, kẻo tạo oan nghiệt! Người
thế gian khổ rất nhiều.
Bố thí Pháp tăng
trưởng thông minh, trí huệ. Vô úy bố thí, thường
hay nói ăn chay là bố thí vô úy, chẳng sát sanh! Tích cực
hơn nữa th́ phóng sanh, bố thí thuốc men, giúp kẻ
quan quả cô độc[8],
chúng sanh tàn tật đau khổ. Quư vị toàn tâm toàn lực
giúp đỡ họ, sẽ được quả báo ǵ? Mạnh
khỏe, sống lâu, vô úy bố thí sẽ được sống
lâu mạnh khỏe. Quư vị phải làm! Không làm là không
đúng. Bởi thế, phước báo, trí huệ, khỏe
mạnh sống lâu là do chính ḿnh tu được, cầu
được, chẳng phải là không cầu được.
Thánh nhân hiểu đạo lư, hiểu nhân quả, muốn
có quả tốt th́ phải tu nhân tốt. Nếu quư vị
tạo nhân sai trái, gieo đủ mọi nhân bất thiện,
hậu quả sẽ rất khổ, khổ chẳng thể
nói nổi! Bởi vậy, chúng tôi thấy chữ “Cầu Bất
Đắc”, đúng là người thế gian cầu chẳng
được, nhưng chúng ta có cầu ắt ứng.
Thứ sáu là Ái Biệt
Ly (yêu thương phải chia ĺa). Phạm vi sự khổ
này rộng lớn phi thường. Quư vị chẳng
thường được kề cận người ḿnh
yêu mến, đó là Ái Biệt Ly. Những
thứ vật chất quư vị yêu thích dẫu có thừa,
nhưng không hưởng thụ được; điều
ḿnh ưa thích, thường hay có biến hóa. Phàm những
ǵ quư vị yêu, ưa thích, nhưng chẳng dễ ǵ đạt
được, chẳng dễ ǵ hưởng thụ
được th́ đều thuộc về loại
này. Nhất là sanh ly tử biệt, lúc sống rất ít khi
được đoàn tụ, thậm chí những người
ḿnh rất yêu thích, tuổi trẻ mất sớm để
lại người già buồn tủi, khổ lắm!
Oán Tắng Hội là
oan gia đối đầu, chẳng thích gặp, chẳng
thích gặp th́ sao? Ngày ngày chạm mặt nhau. Khi xưa, lúc
tôi mới giảng kinh, giảng đến tám nỗi khổ,
tôi nêu lên thí dụ: Khi c̣n đi học, đa phần là nêu
những thí dụ trong thời gian đi học, có rất
nhiều bè bạn tốt, rất ưa thích ngày ngày ở
cùng một chỗ, rồi sao? Đến khi chia lớp, học
trong những lớp khác nhau. Oan gia đối đầu,
người ḿnh chán ghét nhất cứ ở gần ḿnh suốt,
thầy xếp hai đứa ghét nhau vào cùng một bàn, quư vị
nói có bực hay không? Tôi nghĩ mỗi cá nhân chúng ta đều
có kinh nghiệm đó, đúng là Oán Tắng Hội. Người
ḿnh chán ghét cứ gặp mặt hoài, người ḿnh ưa
thích mong gặp không gặp được. Trong nỗi khổ
này có người, có sự, có vật, cảnh giới rộng
lớn không ngằn mé.
Đức Phật dạy
chúng ta tất cả đều là duyên, thiện duyên hay ác
duyên,
chẳng ngoài bốn mối duyên quan hệ
như phần trên đă nói: Báo oán, báo ân, đ̣i nợ, trả
nợ. Làm sao ĺa được nỗi khổ này? Phải
giác ngộ, khổ đều do mê sanh khởi. Mê chấp,
t́nh chấp, những thứ khổ ấy. Giác ngộ rồi
trí huệ nắm quyền, trí huệ làm chủ. Bởi thế,
đối với Ái nhất định chẳng tham luyến,
đối với Oán tuyệt đối chẳng sân hận,
hai thứ khổ đó được hóa giải. Trong Ái
chẳng thể không có t́nh chấp. Cái Ái của lục
đạo phàm phu chẳng rời khỏi t́nh chấp, bởi
thế mới khổ. Ḷng thương yêu to lớn của
chư Phật, Bồ Tát là đại từ đại bi,
tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng giác. Tâm ấy chẳng
có t́nh chấp, bởi thế không khổ, chẳng thuộc
vào loại này.
Chúng ta phải hiểu
đạo lư này, chúng ta phải chuyển biến, hóa t́nh chấp
thành trí huệ. Bởi vậy ḷng ái của Phật, Bồ
Tát là chân thành, là thanh tịnh, là b́nh đẳng, là trí huệ.
Phật pháp sợ mọi người hiểu lầm chữ
Ái này, nên gọi bằng danh từ khác là Từ Bi, hoặc
chỉ nói độc một chữ là Từ. Ḷng Từ ấy
là Ái. Trong ḷng Từ Ái ấy chẳng có vọng tưởng,
không có phân biệt, không có chấp trước, chỉ có
chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, trí huệ. Ái t́nh của
lũ phàm phu chúng ta chẳng b́nh đẳng, trong ḷng ái
đó chẳng chân thành, v́ sao không chân thành? Ḷng ái ấy biến
thành luyến, thậm chí luyến như thế nào, luyến
đến mức độ nào chính ḿnh cũng chẳng biết,
không tin tưởng được.
V́ thế, qua lại
cùng lục đạo phàm phu, quư vị phải có trí huệ
cao độ, giác ngộ cao độ. V́ sao? Lục đạo
phàm phu như đứa trẻ lên ba, quư vị phải nh́n
họ bằng tâm thái ấy, tánh t́nh họ chẳng ổn
định. Vừa mới nói tôi rất thích anh, rất mến
anh, chập sau lại chán ghét anh lắm. Chẳng nghiêm túc
ǵ cả! Nếu quư vị nghiêm túc sẽ khổ đấy.
Quư vị biết sao không? Họ hỷ nộ vô thường,
biến hóa quá chừng, biến hóa không lường
được. Họ sử dụng vọng tâm, bị
chuyển theo cảnh giới, bị bên ngoài khích động,
tâm t́nh sanh ra biến hóa. V́ vậy, chẳng ổn định!
Không như chư Phật, Bồ Tát, tâm chư Phật, Bồ
Tát định, chẳng bị cảnh giới bên ngoài quấy
nhiễu; do vậy, ḷng ái của các Ngài vĩnh hằng, từ
bi vĩnh hằng.
“Từ bi là gốc, phương tiện là cửa”, thế nào là phương tiện? Rất
nhiều người không hiểu. Phương (方) là phương pháp, tức là ta dùng phương
pháp nào để biểu lộ; người hiện thời
gọi là “biến thành hiện thực”. Quư vị có phương
pháp [làm như vậy]. Tiện (便) nghĩa là ǵ? Tiện là tiện nghi. Nói
cách khác, đó là phương pháp thích đáng nhất.
Phương pháp rất nhiều, phương pháp nào đối
phương thích nhất, dễ dàng tiếp nhận nhất,
đó là tiện nghi. Ḿnh có phương pháp, nhưng người
ta không tiếp nhận, chẳng hoan hỷ, th́ phương
pháp ấy không thuận tiện. Bởi vậy,
phương tiện là cửa, ḷng từ bi, trí huệ,
đức năng của quư vị nếu không có
phương tiện th́ hoàn toàn chẳng thể bày tỏ
được. Từ bi là như trong các buổi giảng
tôi thường nói, trong Đại Thừa Phật pháp, từ
bi nhất định phải bao gồm chân thành, thanh tịnh,
b́nh đẳng, chánh giác. Từ bi? Phương tiện! Quư
vị khiến cho người ta thực sự sanh tâm vui
thích, khiến người ta vui vẻ tiếp nhận, y
giáo phụng hành.
Do đây biết rằng,
đức Thế Tôn v́ chúng ta thị hiện, dạy dỗ
chúng ta, nguyên tắc tối cao của phương tiện
là v́ người khác diễn thuyết; đặc biệt
chú trọng đến diễn. Diễn là biểu diễn,
quư vị phải thể hiện ra. Nói cách khác, trước
hết phải thực hiện ngay trên thân ḿnh, áp dụng
ngay trong cuộc sống của chính ḿnh, thực hiện
ngay trong cách ḿnh xử sự, đăi người, tiếp vật.
Quư vị chẳng thực hiện được, há phải
là phương tiện ư? Độ người trước
hết phải độ ḿnh, cứu người trước
hết phải cứu ḿnh; nói chung, chính ḿnh phải niệm
niệm đều là gương tốt cho xă hội đại
chúng, phải có ư niệm đó. Hễ có ư niệm ấy sẽ
tự nhiên có hành vi ấy; không có ư niệm ấy, chẳng
thể khởi lên hành vi. Đấy là Phật tâm, đấy
là chân tâm. Trong vọng tâm chẳng có! Vọng tâm là tự lợi,
khởi tâm động niệm chỉ nghĩ đến lợi
ích của chính ḿnh!
Phật tâm, chân tâm
nghĩ lợi ích hết thảy chúng sanh trong pháp giới
hư không giới. Nếu khởi tâm động niệm
được như vậy, sẽ chẳng khác ǵ Phật,
Bồ Tát. “Tâm bao thái hư,
lượng châu sa giới”. Thực hiện tám chữ
này ra sao? Là khởi tâm động niệm đều
nghĩ đến lợi ích hết thảy chúng sanh trong
hư không pháp giới, ḿnh phải giúp đỡ họ
như thế nào. Quư vị có được ư niệm ấy,
phước báo của quư vị sẽ chẳng thể
nghĩ bàn. Lại c̣n có những hành vi như thế th́
phước báo của quư vị sẽ hiện tiền rất
nhanh chóng. Tâm yêu thương trọn khắp pháp giới,
thiện xảo phương tiện đầy ắp Sa
Bà. Nỗi khổ Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội tự
nhiên hóa giải. Tâm lượng càng nhỏ càng khổ,
người tự tư tự lợi đáng thương
nhất. Người tự tư tự lợi khổ nhất,
hiện tại đă khổ, tương lai càng khổ hơn.
V́ sao nói tương lai càng khổ? Hiện tại tự
tư tự lợi, việc làm đều là tổn người,
lợi ḿnh, tổn người th́ chẳng tránh khỏi quả
báo! Đừng nói tổn người lợi ḿnh không sao! Sau
này ắt có quả báo. Anh hại người càng sâu,
tương lai người ta báo đền chẳng chỉ
có thế thôi đâu mà c̣n gấp bội, có phiền phức
hay không vậy?
Bởi thế, có nên ở
thế gian này hay chăng? Nói thật ra, chẳng thể ở
được. V́ sao chẳng thể ở được?
V́ chắc chắn chẳng thể bảo đảm
tương lai gặp được Phật pháp, chẳng
thể bảo đảm đời sau giác ngộ. Đời
sau chẳng gặp được Phật pháp, lại hồ
đồ tùy thuận phiền năo, chẳng hiểu lại
tạo nghiệp nhiều đến đâu nữa! Lại
làm bao nhiêu chuyện lầm lỗi! Chúng ta phải hiểu
rơ, phải minh bạch lẽ này: Tiền đồ càng ngày
càng tệ! Một đời sau chẳng bằng được
đời trước, đi lên rất khó khăn, đọa
lạc đi xuống rất dễ dàng!
Trong thế gian hiện
tại này, các đồng học học Phật chúng ta nếu
thực sự giác ngộ một chút sẽ bèn hiểu rơ:
Trong thế giới này, làm quan lớn, đại phát tài, cuộc
sống tợ hồ rất khiến cho người khác
hâm mộ, chết đi quá nửa đọa trong tam đồ. Rất nhiều đồng học đều
hiểu đọa tam đồ là khổ! Quư vị thấy
người trong thế gian hưởng thụ phước
báo nhân gian, hưởng được mấy năm? Nếu
quư vị chú tâm quan sát, có thể nói là họ chẳng
hưởng được ngày nào cả! Sống trong
địa vị cao như thế, dẫu có tài sản nhiều
như thế, tâm chẳng được tự tại! Bận
tâm, lo lắng quá nhiều, lo được, lo mất, một
mặt phải nghĩ cách làm sao để giữ ǵn, làm
sao kiếm nhiều hơn một chút, thời thời khắc
khắc nhọc ḷng, chẳng có một ngày có thể buông xuống
hết thảy để sống được một
ngày thanh nhàn, chẳng bao giờ có! Vui ở chỗ nào?
Địa vị cao nhất
là làm người lănh đạo một quốc gia, bị
kẻ dưới lừa dối, chẳng báo tŕnh chân
tướng sự thật, bị che giấu! Chuyện
như vậy từ cổ đến nay thường có; có
được bao nhiêu vị minh quân chẳng bị dối
gạt đâu? Văn vơ đại thần đều lừa
dối vua: “Thiên hạ thái b́nh, rất tốt!” Nhân dân phải
chịu khổ nạn to lớn đến mấy cũng
không cách nào tâu lên được. Bản thân vua chẳng biết
một điều ǵ, tự nghĩ cả đời ḿnh
là một vị thái b́nh thiên tử. Đâu đâu cũng tạo
tội nghiệp như thế, chết đi đều có
báo ứng.
Lúc tôi c̣n trẻ,
Chương Gia đại sư dạy tôi tŕ giới, Ngài
dạy tôi đừng dính đến chánh trị. Một
quan niệm lầm, một chánh sách lầm, bao nhiêu người
mắc hại! Anh phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả,
có dám chắc cả đời anh không làm sai điều ǵ
hay không? Cả một đời chẳng hại ai hay
không? Có rất nhiều trường hợp vô ư tổn hại
người, hữu ư càng không được, tội càng nặng
hơn, đấy đâu phải là chuyện dễ dàng. V́
vậy, đại sư chỉ cho tôi một con đường
ra: “Đă muốn phát tâm giúp đỡ hết thảy chúng
sanh khổ nạn, phục vụ hết thảy chúng sanh
khổ nạn, ngài bảo tôi xuất gia tốt nhất! Hoằng
pháp lợi sanh, theo đuổi việc giảng kinh thuyết
pháp, làm công tác dạy dỗ, vậy là tốt! Tôi thích đọc
sách, đấy cũng là điều anh ham thích”. Ngài chỉ
dạy tôi như vậy, tôi đi theo con đường
đó. Con đường ấy do Chương Gia đại
sư thay tôi chọn lựa, tôi tin tưởng Ngài. V́ sao?
Ngài hết sức thương yêu tôi. Ngài thương yêu
tôi, tôi cũng
tôn kính Ngài, y giáo phụng hành. Ngài chỉ
cho tôi con đường chẳng lầm.
Vậy th́ hết thảy
khổ nạn trong nhân gian chẳng dễ dàng ĺa thoát. Nói
cách khác, không có cách nào thoát được. Muốn thoát khỏi,
phải ra khỏi lục đạo. Muốn thoát ly, trừ
Phật pháp ra, không c̣n ǵ hết. Bao nhiêu tôn giáo trong thế
gian, cảnh giới tối cao của họ là thiên đạo,
Dục Giới thiên, Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới
thiên, chẳng có cách nào vượt thoát lục đạo,
nên Thích Ca Mâu Ni Phật mới xuất thế. Thích Ca Mâu Ni
Phật nói lời chân thật, lăo nhân gia thân tâm thanh tịnh:
“Nhiều thêm một việc chẳng bằng ít đi một
việc, ít đi một việc chẳng bằng vô sự”.
Nếu có kẻ có thể giúp cho chúng sanh trong thế giới
Sa Bà thoát ly luân hồi lục đạo, chắc chắn
Ngài chẳng giáng sanh. Ngài đến đây làm chi? Chẳng
có ǵ để làm cả! Thực sự nghĩ [chúng sanh muốn]
siêu việt lục đạo luân hồi mà chẳng có biện
pháp nào cả, quư vị nói xem Phật có cần phải vào
thế gian này chăng? Ngài không vào không được; Ngài
chẳng vào thế giới này là chẳng từ bi. Trong lục
đạo, quả thật có không ít người giác ngộ,
mong cầu vượt khỏi lục đạo luân hồi,
đó là Cảm, Phật phải Ứng. Chúng sanh hữu Cảm,
Phật bèn Ứng, bèn đến nơi đây. Phật giúp
chúng ta siêu việt luân hồi, siêu việt mười pháp
giới. V́ vậy, Phật đến trong thế gian này.
Đấy là Ái Biệt
Ly, Oán Tắng Hội, chúng ta phải nhận biết rơ
ràng, Ái chẳng được tham luyến, Oán nhất
định phải hiểu cách hóa giải. Nay đă hết
giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 4 hết
[1] “Huyễn đăng phiến” (reversal
film) tức là những tấm slide trong suốt, hoặc
microfilm, có in những văn bản hay h́nh ảnh đen trắng
hay có màu, ta thường dùng trong máy slide projector để
chiếu lên một tấm màn cho thính chúng thấy để
tŕnh bày một vấn đề. Chúng tôi không biết tiếng
Việt gọi chính xác là ǵ nên đành để nguyên tiếng
Hán. Trong nước, thường dùng từ ngữ “phim
đèn chiếu” để gọi những tấm phim này;
nhưng loại máy chiếu được nói ở đây
(slide projector) có thể tự động đổi qua
trang khác khi ta bấm nút, không cần phải đặt từng
trang lên như trong loại máy “phim đèn chiếu” thường
dùng trong nước.
[2] Nhân Minh (Hetuvidyā) là một
trong Ngũ Minh (Pañcavidyâ,
tức năm chủng loại kiến thức cần thiết
mà Bồ Tát cần phải hiểu biết. Ngũ Minh là
Thanh Minh, Công Xảo Minh, Y Phương Minh, Nhân Minh và Nội
Minh). Nhân Minh là môn nghiên cứu lư luận trong Phật
giáo nhằm biện luận khuất phục ngoại đạo,
xiển dương chánh giáo và khơi gợi tín tâm cho
người nghe bằng lư luận chặt chẽ. Lư luận
căn bản của Nhân Minh là mỗi vấn đề, luận
thuyết đều gồm ba phần Tông. Nhân, Dụ. Tông
là chủ đề lập luận, Nhân là nguyên nhân, Dụ
là thí dụ để giải thích v́ sao có nguyên nhân. Đây
là cách lư luận căn bản. Do chú trọng đến
Nhân nên gọi là Nhân Minh. Vị luận sư nổi tiếng
của Nhân Minh là Trần Na (Mahādinnāga) với tác phẩm
Nhân Minh Chánh Lư Môn Luận được coi là người
đă hệ thống và tập thành môn Nhân Minh. Pháp sư Huyền
Trang rất ưa thích Nhân Minh và đă phiên dịch nhiều
tác phẩm thuộc Nhân Minh.
[3] Đây là “phổ thông Phật thất”
nhằm phân biệt với “tinh tấn Phật thất”. Phổ
thông Phật thất niệm Phật chỉ có sáu thời,
c̣n tinh tấn Phật thất là niệm Phật suốt 24
tiếng đồng hồ.
[4] Chín đại hành tinh là Thủy Tinh
(Mercury), Kim Tinh (Venus), Địa Cầu, Hỏa Tinh (Mars), Mộc
Tinh (Jupiter), Thổ Tinh (Saturn), Thiên Vương Tinh (Uranus) và
Hải Vương Tinh (Neptune).
[5] Quán chỉ (觀止): Hiểu theo mặt văn tự, “quán
chỉ” là đáng khen ngợi hết lời, tuyệt diệu
tột bậc. “Quán chỉ” thường được
dùng như một mỹ từ để khen ngợi những
tác phẩm văn chương hay. Thuật ngữ “quán chỉ”
xuất phát từ một câu nói của Quư Trát trong Tả
Truyện: Công tử Quư Trát của nước Ngô đi sứ
sang nước Lỗ, nghe nhạc Thiều xong, nức nở
ca ngợi: “Quán chỉ tai!
Nhược hữu tha nhạc, ngô bất cảm thính
dĩ”. Câu này được chú giải là: “Nhạc Thiều
đă đạt đến mức cao tột nhất trong
các thứ âm nhạc, đă được thưởng thức
xong ta không c̣n muốn nghe loại nhạc nào khác nữa!”
[6] Vị kỷ (selfish), chỉ biết
nghĩ đến ḿnh, không hề biết quan tâm, nghĩ
đến lợi ích của người khác.
[7] Bác Sĩ ở đây chính là học vị Tiến Sĩ (PhD). Người Hoa không gọi bác sĩ y khoa là “bác sĩ” như người Việt mà gọi là y sinh. Người Hoa gọi ba bậc học vị hiện thời như sau: Học Sĩ (Cử Nhân, Bachelor), Thạc Sĩ (Cao Học, Master) và Bác Sĩ (Tiến Sĩ, PhD).
[8] Quan: góa vợ, quả: góa chồng, cô:
không cha mẹ, độc: không con cái.