Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư
phần 6
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Chúng tôi giảng tiếp đoạn
nhỏ thứ tư Ngũ Căn và đoạn nhỏ
thứ năm Ngũ Lực trong phần “thuyết pháp trang nghiêm”. Ngũ Căn và Ngũ
Lực có thể cùng gộp lại để giảng,
đó là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ.
Căn (根) có nghĩa là giống như thực
vật có rễ. Rễ có thể sanh và tŕ. Tŕ (持) là “bảo tŕ” (ǵn giữ), Sanh (生) là có thể sanh trưởng, chữ
Căn có nghĩa như vậy. Căn gồm có năm
thứ nên gọi là Ngũ Căn, tức Tín Căn, Tấn
Căn, Niệm Căn, Định Căn, Huệ Căn. Nói
đến đây, chúng ta phải nhớ kỹ: Trong
phần đầu [của bảy khoa Đạo Phẩm]
là ba khoa, có tổng cộng mười hai phương pháp
tu học, tức là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh
Cần, Tứ Như Ư Túc. Mười hai khoa mục này
hết sức quan trọng, thông cả thế pháp lẫn
xuất thế pháp.
Tứ Niệm Xứ dạy chúng ta
thấy thấu suốt, nhận thức, hiểu rơ chân
tướng nhân sinh và vũ trụ, chẳng mê hoặc;
bởi thế, chúng thuộc về trí huệ. Chúng tôi nói
Tứ Chánh Cần là học tập tích công lũy
đức; đoạn ác tu thiện phải căn cứ trên
những chuẩn tắc này. Ba mươi bảy Đạo
Phẩm là ba mươi bảy công khóa siêu việt thời
gian lẫn không gian, cũng như siêu việt hết
thảy pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Chúng là
nguyên tắc, nguyên lư, giống như công thức trong Toán Học;
ứng dụng triển khai của chúng đúng là vô
lượng vô biên, không một pháp nào chẳng dựa theo
nguyên lư, nguyên tắc này để đạt đến
thành tựu viên măn cả.
Hôm nay, chúng tôi giảng đến Ngũ
Căn và Ngũ Lực, kinh Di Đà chỉ nói bắt đầu
từ những pháp này. V́ sao vậy? Giảng về
đại pháp xuất thế gian. Phần trên là những
pháp chung cho cả thế gian lẫn xuất thế gian; nay
phải giảng đại pháp xuất thế gian. Chúng ta
cầu điều ǵ? Cầu Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, Phật quả viên măn rốt ráo.
Căn là ǵ ta phải hiểu rơ! Căn là tự tánh của
đương nhân, đương nhân là chính ḿnh, chính
bản thân ḿnh, là tự tánh của chính ḿnh; chân tâm, bổn
tánh chính là Căn. Trong Phật pháp thường nói hết
thảy chúng sanh vốn sẵn là Phật, vốn sẵn là
Phật chính là Căn. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ
Tát nói: “Bản Giác vốn có”,
Bản Giác là Căn. “Vốn
sẵn thành Phật” và “Bản
Giác vốn có”, hai câu này cùng một ư nghĩa, cùng nói
về một sự. Kẻ học Nho nói: “Nhân chi sơ tánh bản thiện” (Con
người lúc đầu vốn là lành), “bản thiện” chính là Căn.
Trong Hệ Niệm Pháp Sự, Trung Phong
đại sư nói: “Ngă tâm tức
thị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức thị
ngă tâm” (Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật
chính là tâm ta), “tâm tức thị
Phật, Phật tức thị tâm” (tâm chính là Phật,
Phật chính là tâm). Tâm và Phật là một, chẳng
phải hai. Đó chính là Căn! Tất cả hết
thảy thiện pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều
sanh từ Căn này. Người thế gian chẳng tin
trong thế giới này có người tốt, chúng ta nghe
rất nhiều người nói: “Tánh
con người đều là thiện”, hay “tánh con người đều là
ác”, “người như vậy không có căn!” Chẳng
phải không có căn, kẻ ấy chỉ không tin chính ḿnh
có Căn, chẳng tin tưởng hết thảy chúng sanh
đều có Căn, nên phiền toái rất lớn. Tất
cả hết thảy ác niệm, ác pháp, ác nghiệp
đều sanh từ đó, nó là gốc của hết
thảy tội ác, hết thảy tai nạn. Kẻ ấy
chẳng tin tưởng tánh con người vốn lành,
chẳng tin hết thảy chúng sanh vốn sẵn thành
Phật, chẳng tin “tâm tức
thị Phật, Phật tức thị tâm” (tâm chính là
Phật, Phật chính là tâm). Chuyện này rắc rối
lắm đây!
Kẻ ấy chẳng tin tưởng, ta
cũng chẳng thể trách móc hắn được! Nho
và Phật giảng rất rơ ràng, rất minh bạch; v́ sao
kẻ ấy chẳng tin. Tam Tự Kinh nói: “Cẩu bất giáo, tánh năi thiên” (Nếu không
dạy, tánh bèn đổi), “tánh
tương cận, tập tương viễn” (tánh
vốn gần [điều thiện], nhưng do hoàn
cảnh, huân tập mà tánh bèn xa dần [điều lành]). Luận
trên phương diện “tánh
người vốn lành” th́ tất cả hết
thảy chúng sanh đều có bổn tánh là lành, đều giống
hệt như nhau, v́ sao trở thành khác biệt? Biến
thành khác biệt là v́ tập tánh, chứ chẳng phải là
bổn tánh. Nhưng v́ các chúng sanh ngỡ tập tánh là bổn
tánh, hiểu sai lầm. Sự sai lầm ấy đúng là
sai chỉ hào ly, lầm đến ngàn dặm. Chẳng
dễ dàng đâu! “Cẩu bất
giáo, tánh năi thiên” (nếu không dạy, tánh bèn thay đổi
[theo chiều hướng xấu]). Nếu chúng ta gặp
được thầy tốt dạy dỗ, chúng ta sẽ
hiểu rơ, sẽ giác ngộ. Chúng ta khẳng định
tự tánh của chính ḿnh vốn lành, tâm ḿnh đích xác là
Phật, khẳng định chính ḿnh có chân tâm.
Tâm của chính ḿnh đích xác là chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi, chẳng c̣n
chút nào nghi ngờ; nay v́ sao Tánh Đức ấy chẳng
có? Do v́ đối với người, đối với sự,
đối với vật đều hư ngụy,
nhiễm ô, bất b́nh đẳng, ngu si, tự tư, tự
lợi. V́ đâu mà đến nỗi như thế? Do
tập tánh, do không có người dạy, chẳng được
thầy tốt dạy dỗ. Ngày nay xă hội bất
hảo, xă hội là một cái chum lớn dơ bẩn,
trong kinh Phật gọi là “ngũ
trược ác thế”, Trược (濁) tức là nhơ bẩn. “Kiếp trược”: Thời
đại này bất hảo, là đời loạn. Nói “kiếp trược” th́ mọi
người không hiểu lắm, nói “đời loạn” mọi người hiểu
dễ dàng. “Phiền năo
trược”: Chúng sanh đông đảo ai mà chẳng có
phiền năo? Ai nấy đều phiền năo hết
sức nghiêm trọng. “Kiến
trược” là nói đến phiền năo nơi tư tưởng
và kiến giải. Tư tưởng hỗn loạn,
kiến giải ngoắt ngoéo; đó là
Kiếp Trược, đấy là gốc của Ngũ
Trược. Nếu đối với vũ trụ và nhân
sinh, đối với hết thảy người, sự,
vật, quư vị nh́n lầm lạc th́ đó là Kiến
Trược. Suy nghĩ sai lầm là Phiền Năo
Trược. Một thứ đă trược th́ hết
thảy đều trược, phiền năo cũng xảy
ra liền.
Như vậy, chúng ta hiện đang
sống trong thời đại nào? V́ sao lại có thứ
thời đại như vậy? Thời đại này
không có bậc thánh hiền răn dạy, nên thành ra như
thế. Mọi người chẳng tin tưởng
lời giáo huấn của thánh hiền. Sách vở của
thánh nhân hết sức quư báu, nhưng quư vị đâu có tin!
Dẫu sách vở c̣n đó, quư vị chẳng buồn
giở ra xem. Quư vị cứ cho những thứ đó là
đồ cũ rích, chẳng hợp thời nữa, nên không
có cách chi t́m được căn bản, không cách nào
thấu hiểu. Đấy là sai lầm, chẳng phải
là thái độ của người học vấn, tâm không
chút cởi mở nào!
Người thực sự có học
vấn th́ nếu người ta nói điều ǵ hay, ta
phải chú tâm t́m hiểu; ai nói thứ khác bất hảo, ta
cũng phải chú tâm quan sát. Ai cũng nói [điều ǵ đó
là] tốt th́ ta phải biết nó tốt tại chỗ
nào! Ai cũng chê không tốt, ta phải biết nó xấu
tại chỗ nào. Đều phải nghiêm túc nghiên cứu,
có như vậy mới trở thành học vấn chân chánh.
Những lời trên đây do tiên sinh Phương Đông
Mỹ dạy cho tôi để làm cơ bản cho thái
độ học vấn, quyết chẳng đến
nỗi thấy người ta bảo tốt bèn mù quáng hùa
theo, người ta chê xấu ḿnh bèn cự tuyệt.
Nếu vậy là lầm lạc mất rồi. Nhất
định phải đích thân ḿnh tiếp xúc, nghiên
cứu. Rất nhiều khi ḿnh nghiên cứu mới phát
hiện những thứ người khác chê dở lại thực
sự là hay, có những điều thực sự là tốt!
Người ta nói tốt, ḿnh nghiên cứu kỹ, thấy cả
trăm điều tệ hại, chưa chắc đă thực
sự tốt. Người ta nói sao ḿnh nghe vậy, sẽ thường
hay bị mắc lừa, bị người ta che mắt.
Người học vấn chân chánh
vĩnh viễn khiêm hư, cung kính, th́ mới có thể thành
tựu đạo đức, học vấn thực
sự được. Đạo lư này nói thật ra
chẳng khó hiểu chi, chúng tôi cho rằng: Trong thời
cổ, dường như tất cả những ai
đọc sách đều biết đến đạo lư
này; nhưng hiện nay, trong thế kỷ này, người
ta lại không biết. Những người trẻ
tuổi, chúng tôi nói “những người trẻ tuổi”
th́ đại khái là những ai vào độ tuổi
năm, sáu chục, cả đời chưa từng nghe
đến chuyện này, có đáng buồn bă chăng? Lũ
chúng tôi đă gần tám mươi, chỉ là thiểu
số cỏn con, đúng là ít ỏi, sau này không c̣n ai nói
đến nữa. Nếu tôi không nói ra, quư vị làm sao
biết được? Sẽ chẳng nghe được
những thanh âm này. V́ thế, thiện tâm, thiện ư
phải phát sanh từ sự nhận
biết chính xác, khẳng định hết thảy chúng
sanh tánh vốn lành, khẳng định hết thảy
chúng sanh đều có Phật tánh, khẳng
định hết thảy vô t́nh có pháp tánh, pháp tánh và
Phật tánh chỉ là một tánh.
Nếu quư vị thâm nhập Đại
Thừa, quư vị khẳng định tất cả
hết thảy vạn pháp “duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến” th́ đó là
Căn, là căn cội của vũ trụ vạn
hữu! Chúng ta tin cái căn này tương đồng,
căn là b́nh đẳng, căn chẳng có hai. Tôi và anh, tôi
cùng người khác, mọi người chúng ta chẳng giống
nhau, đều thực sự là ḍng dơi thổ dân Úc châu bị
biến chất. V́ sao biến? Mê rồi! Mê mất căn
bản. Mê mất căn bản sẽ trở thành chủng
loại bị biến đổi, chủng loại bị
biến đổi đáng thương thay! Suy nghĩ
bậy bạ, làm bậy, làm càn, chuốc lấy rất
nhiều tai nạn, tự gây, tự chịu. Người
nào nhận biết Căn, hiểu rơ Căn, đối với
hết thảy chẳng quên căn bản, cuộc
đời người ấy rất mỹ măn, rất
hạnh phúc, hoàn cảnh sống của người ấy
là Nhất Chân pháp giới, là thế giới Cực
Lạc. Hễ có Căn bèn có Lực. Đại học
vấn thế gian hay xuất thế gian đều
đặt nền tảng trên đây.
Quư vị thấy thế giới ngày nay tranh
chấp tưng bừng, người mắt sáng, Phật,
Bồ Tát, đại thiện tri thức trông thấy đều
cảm thán! Thật đúng như kinh Vô Lượng
Thọ nói: “Tiên nhân vô tri”: Người
đời trước coi thường, “bất thức đạo đức, vô hữu
ngữ giả” (không biết đạo đức, không
có ai nói): Bọn họ chẳng nói với chúng ta, chẳng
dạy chúng ta, “thù vô quái dă”
(c̣n trách móc ǵ được nữa). Ngày nay, chúng ta tạo
tác những tội lỗi ǵ, chịu những khổ
nạn quả báo ǵ, bậc thánh hiền chẳng trách móc
ta. V́ sao? V́ những kẻ này chưa từng
được dạy dỗ! Sự lầm lạc của
họ phải truy từ sự coi thường của
người đời trước; đời trước
đó của đời trước cũng coi thường.
Chúng tôi truy cứu tối thiểu phải là hai trăm
năm trước; từ hai trăm năm trước [con
người] đă coi thường sự răn dạy
của thánh hiền. Lúc đó cũng có dạy, nhưng
chẳng tích cực, dạy trẻ con, dạy người
trẻ tuổi chẳng nghiêm khắc, chẳng nghiêm ngặt
như thời cổ. Tam Tự Kinh có câu: “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (Dạy
chẳng nghiêm v́ thầy lười), cha mẹ, sư trưởng chưa tận
hết trách nhiệm!
Quư vị phải hiểu rơ đạo
lư này, hiểu rơ chân tướng sự thật này th́ quư
vị mới biết căn nguyên lầm lỗi nằm
đâu! Căn nguyên ở nơi cha mẹ, sư
trưởng; v́ thế, làm cha mẹ chẳng đơn
giản! “Dưỡng bất
giáo, phụ chi quá; giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (Nuôi
không dạy là lỗi cha, dạy không nghiêm do thầy lười).
Đời sau không đi theo chánh đạo, đi theo
đường tà, cha mẹ, sư trưởng phải
chịu trách nhiệm nhân quả. Trách nhiệm nhân quả ấy lớn lắm. Từ chỗ này
chúng ta mới có thể nhận hiểu sâu xa, công
đức bậc nhất, đại thiện bậc
nhất trong thế gian và xuất thế gian là ǵ? Dạy
học, đem chánh pháp truyền trao cho chúng sanh. Ở Trung
Quốc thấy rơ nhất: Khổng lăo phu tử dạy
học năm năm, năm năm chuyên tâm, tận hết
trách nhiệm, nghiêm khắc dạy dỗ học tṛ, [nên
Khổng Tử] trở thành vị Vạn Thế Sư
Biểu (bậc thầy gương mẫu của muôn
đời).
V́ sao? Có rất nhiều người
suốt đời theo đuổi công tác giáo dục,
nhưng mười mấy năm vẫn âm thầm không có tiếng
tăm. V́ sao Khổng lăo phu tử
chỉ dạy học năm năm lại có thành tựu
như vậy? Do tận tâm tận lực dạy, thực
sự hy vọng đời sau có nhân tài. Học sinh thực
sự giác ngộ, thực sự tu dưỡng đạo
đức, đoạn ác tu thiện, v́ nhân dân, v́ quốc
gia, v́ chúng sanh tạo phước, đó là thành tựu
của thầy! Thầy (dùng cách nói của nhà Phật là “phổ độ chúng sanh”)
phổ độ chúng sanh, khiến cho học sinh thực sự
thực hiện được những điều đó.
Nếu chẳng thể tận tụy dạy dỗ,
học sinh chẳng thể thành tựu, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” trở
thành chuyện hư dối.
Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị
hiện: Vứt bỏ tất cả hết thảy danh
văn, lợi dưỡng thế gian, địa vị,
quyền lực đều vứt bỏ, theo đuổi
công tác giáo dục xă hội, v́ sao? Thị hiện cho chúng ta
thấy sự việc này là đại sự nghiệp
bậc nhất trong thế gian lẫn xuất thế gian.
Không có trí huệ chân thật sẽ không thể làm
được, chẳng bằng ḷng làm! Trí huệ chân
thật chính là sự nghiệp chân thật! Xưa nay trong
nước, ngoài nước, biết bao là đế
vương trải bao đời, có mấy ai biết đến?
Nhưng người thực sự theo đuổi giáo
học trên thế gian th́ không ai là chẳng biết, không ai
chẳng kỷ niệm! Mỗi một vị sáng lập
tôn giáo đều là những nhà giáo dục xă hội đa
nguyên văn hóa vĩ đại nhất, ngàn năm vạn
đời, bao nhiêu người tôn kính, sùng bái, lại c̣n
học theo. Bởi thế, Căn hết sức trọng
yếu. Quư vị phải nhận biết ǵ là Căn, ǵ là
Thiện Căn, ǵ là Ác Căn? Tùy thuận Tánh Đức là
thiện căn, trái nghịch Tánh Đức là ác căn.
Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ
ai mà không có, nhưng vấn đề ở chỗ Tín
của quư vị là ǵ? Theo các chú giải của cổ
đức, Tín có Chánh Đạo và Trợ Đạo. Thế
nào là Chánh Đạo, thế nào là Trợ Đạo,
phải hiểu thật rơ, thật thấu suốt, không
thể hàm hồ! Chánh Đạo: Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác viên măn rốt ráo mỗi chúng sanh
đều có, vốn sẵn có, nay quư vị mê mất.
Thế nào là Trợ Đạo? Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng cho chúng ta tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô
lượng pháp môn, đấy là Trợ Đạo.
Ở đây, chúng ta phải chú tâm
kiểm điểm, quan sát pháp môn nào thích hợp với
ḿnh th́ ta chọn lấy pháp môn ấy, thâm nhập một
môn th́ pháp môn ấy biến thành Chánh Đạo để
ta tu học. Quư vị phải hiểu Chánh Đạo và Trợ
Đạo này. Trong Chánh Đạo lại có Chánh Đạo
và Trợ Đạo; trong Trợ Đạo cũng có Chánh Đạo
và Trợ Đạo! Nay chúng ta chọn lựa pháp môn
Tịnh Độ, kinh điển y cứ (căn cứ để
lập luận, tu học) của pháp môn Tịnh tông là “năm kinh một luận”,
đó là Chánh Đạo của chúng ta. Các kinh luận khác do
các vị tổ sư đă chọn lựa cho chúng ta, khuyên
chúng ta phải xem, phải tu học để bổ
trợ pháp môn Niệm Phật, đó là Trợ Đạo.
Chúng ta phải tin tưởng điều này.
Tin Chánh Đạo và Trợ Đạo th́
phải có Căn, Căn chẳng thể biến. Lúc tin, lúc
ngờ, lúc tin, lúc không tin, tức là niềm tin của quư
vị không có Căn. Ḷng tin có Căn, tức là ḷng tin
của quư vị đối với Tịnh Độ tông
có Căn th́ trong ao bảy báu bên Tây Phương Cực
Lạc thế giới mọc lên một đóa sen, trên hoa có
tên quư vị. Ḷng tin phải có Căn, nhất định
chẳng được ngờ vực. Hiện tại,
nguyên bản và bản hội tập của kinh Vô
Lượng Thọ tổng cộng có chín bản, chớ
có hủy báng, chớ có ư kiến, quư vị thích bản nào
th́ chọn dùng bản đó. Giống như ăn uống,
khẩu vị mỗi người khác biệt: chua,
ngọt, đắng, cay, mặn; tôi thích ăn ngọt,
chẳng thể ép mọi người đều ăn
ngọt hết. Nếu không như vậy, Thích Ca Mâu Ni
Phật cần ǵ phải giảng nhiều kinh điển
đến thế? Cần ǵ phải nói nhiều pháp môn
như vậy? Một môn không đủ hay sao? Quư vị
thấy đức Phật rất từ bi, rất tùy
thuận nhân t́nh, quư vị thích điều ǵ, đức Phật
dạy điều đó, chẳng miễn cưỡng mảy
may! Đó là chỗ vĩ đại của đức Phật,
đức Phật đại đức đại trí,
khiến cho hết thảy chúng sanh tôn kính, ngưỡng
mộ.
Chúng ta mở xem chín bản ấy;
trước kia, chúng tôi in chín bản ấy thành một
bộ, tức là với một bản Tịnh Độ
Ngũ Kinh Độc Bản quư vị đọc được
toàn bộ [chín bản dịch và hội tập của kinh
Vô Lượng]. Trong chín bản ấy, quư vị thích
bản nào th́ dùng bản đó, không có bản nào chẳng tốt
cả! Bởi lẽ, chúng đều giới thiệu Tây
Phương Cực Lạc thế giới, giống như
sách thuyết minh hay sách giới thiệu, đều dạy
cho quư vị phương pháp Tŕ Danh Niệm Phật. Kinh dạy
chẳng sai một chút nào, “phát
Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”. Cả
chín bản đều nói như vậy. Người
niệm Phật tu điều ǵ? Quư vị phải biết
nhé: Tu nhất tâm bất loạn, tu tâm chẳng điên
đảo! Nếu đối với hết thảy các pháp,
quư vị có nghi hoặc, làm sao tâm quư vị định
được? Làm sao có thể thành tựu nhất tâm? Làm
sao bất loạn được? Bất loạn là trí
huệ, nhất tâm là Thiền Định. [Tu nhất tâm
bất loạn] là tu Định - Huệ. Quư vị có quá
nhiều ư kiến, chấp trước rất nặng là
tự ḿnh chướng ngại ḿnh, không ai chướng
ngại quư vị cả!
Chính ḿnh tuyển chọn th́ có một
tiêu chuẩn rất đơn giản: Thứ nhất, lư
luận, phương pháp, cảnh giới không sai lầm. Đối
với kinh điển Đại Thừa chúng ta có thể
so sánh không sai lạc: Kinh văn nào rơ ràng, không quá sâu, dễ
đọc tụng, dễ hiểu, thích hợp với tŕnh
độ người hiện thời th́ bản đó là
bản kinh hay. Nay đem chín bản đó bày trước
mặt, quư vị đọc mỗi bản một
lượt, bản nào đọc hay nhất? Bản này
đọc hay nhất. Bản của cụ Hạ khá lắm,
là bản dễ đọc nhất trong chín bản,
chẳng có câu nào khó khăn, trúc trắc, vậy cụ
hội tập có sai lầm hay không? Đem năm bản
dịch gốc đối chiếu tỉ mỉ th́ tín tâm
bèn trọn đủ.
Xin thưa cùng các đồng học: Tôi
không bằng mọi người, tôi chẳng bằng ai,
mọi người tâm tư rất tế nhị, tôi không
được tế nhị như vậy; nhưng tôi có
ưu điểm là tin tưởng thầy. Thầy đem
bản này giao cho tôi, tôi hoàn toàn chẳng đối
chiếu với năm bản dịch gốc, tôi chẳng
làm chuyện đó; cho đến tận bây giờ cũng
không làm chuyện ấy. Tôi tin tưởng thầy,
thầy chẳng hại tôi. Thầy học suốt
đời, trí huệ, đức hạnh, giáo huấn
của thầy rất đáng để tôi tôn kính, tôi chẳng
hoài nghi thầy chút nào. V́ thế, thầy dạy ǵ, tôi bèn
tiếp nhận, tôi bèn y giáo phụng hành. Ai ở
trước mặt tôi nói ba điều bốn chuyện,
tôi không tiếp nhận, cũng không phản đối, v́
sao?
Tôi tuân thủ lời đức Phật
răn dạy, tôi tuân thủ lời tổ sư răn
dạy. Đức Phật dạy chúng ta: Đối
với những tri kiến bất đồng, kiến
giải bất đồng – trong Đàn Kinh, Lục Tổ
Huệ Năng đại sư cũng dạy chúng ta
như thế – nên làm như thế nào? Dùng tâm tư thái độ
ǵ? Chắp tay hoan hỷ! Tôi chẳng biện bác cùng anh,
chắp tay cung kính anh; nhưng tôi vẫn đi
đường cũ, vẫn dùng phương pháp cũ
của tôi để tu hành, chẳng bị anh làm dao
động. Tôi tôn kính anh, tôi không phản bác anh một câu
nào, Phật dạy chúng ta “mặc tẫn”[1].
Nói thật ra, Nho Gia gọi mặc tẫn là “kính nhi viễn chi”. “Viễn” không phải là tách
rời ra xa, không có nghĩa như vậy. “Viễn” nghĩa là cách nghĩ, cách làm của anh
tôi không bắt chước theo, tôi vẫn đi theo kinh
luận. Nếu tự tôi có năng lực, tôi sẽ
tuyển chọn kinh luận; nhưng tôi không có năng
lực, thầy giúp tôi chọn kinh luận. Những kinh
luận tôi học trong một đời này đều là
do thầy giúp tôi chọn lựa, đều là do thầy
chỉ dạy.
Nói thật ra, bản thân tôi vẫn
chưa có năng lực chọn lựa kinh luận, tôi
thừa nhận ḿnh thuộc căn tánh trung hạ,
chẳng phải là thượng căn. Người
thượng căn phải có, chắc chắn có
người thượng thượng căn, nhưng tôi
chưa từng gặp được. Chuyện ấy
không quan hệ, dẫu là hạ hạ căn mà gặp
được thiện tri thức, giống như
người đồ đệ làm nghề vá nồi
của pháp sư Đế Nhàn, ông ta là hạ hạ
căn, gặp vị chân thiện tri thức là pháp sư Đế
Nhàn dạy một câu Nam-mô A Di Đà Phật niệm
mệt cứ nghỉ, nghỉ khỏe lại niệm
tiếp. Thực sự chẳng hoài nghi, chẳng xen
tạp, chẳng gián đoạn, ông ta thực sự thành
công. Nếu ông ta hoài nghi hay xen tạp sẽ chẳng
thể thành công. Bí quyết thành công của ông ta là “chẳng
hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn”, nên
thành công. Tín chẳng phải là chuyện dễ, tín phải
có Căn. Tín quyết định chẳng bị dao
động, cả đời chẳng biến đổi,
người như vậy đạo nghiệp nhất
định thành công!
Thứ hai là Tấn Căn. Tấn là
đối với Chánh Đạo và Trợ Đạo, cầu
tiến bộ chẳng ngơi, dũng mănh, tinh tấn,
quyết định chẳng có một ngày nào buông lung, có
chút khế nhập cảnh giới bèn vui sướng
chẳng mệt. “Học nhi thời
tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học
rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?),
đúng là vui sướng chẳng mệt.
Niệm là hệ niệm nơi tâm. Điều
được hệ niệm nơi tâm là Chánh Đạo
và Trợ Đạo. Nay mục tiêu của người
niệm Phật chúng ta là cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật; đấy
chính là Chánh Đạo và Trợ Đạo của chúng ta
trong giai đoạn này. Trợ Đạo là ǵ? Đoạn
ác, tu thiện, tích công lũy đức. Cổ đức
thường dạy chúng ta: “Đoạn
hết thảy ác, tu hết thảy thiện”. Tự
ḿnh phải hiểu rơ, phải minh bạch tiêu chuẩn
thiện - ác. Ǵ là ác? Tự tư tự lợi là ác;
đại công vô tư, lợi ích xă hội, lợi ích chúng
sanh là thiện. Có người nghe nói như thế
chẳng đồng ư, làm sao mà có lợi cho bản thân ta lại
là ác được cơ chứ? Với pháp thế gian nói
như vậy th́ được, chứ đối với
pháp xuất thế gian, nói như thế là sai lầm quá
sức. Sai lầm ở chỗ nào? Ngă Chấp không thể phá
được! Cửa ải đầu tiên của pháp
xuất thế gian là phá Ngă Chấp. Có lợi cho ḿnh là
tăng trưởng Ngă Chấp! Kinh Kim Cang nói “ngă
tướng, ngă kiến” niệm niệm đều
chấp trước kiên cố, tăng trưởng ngă
tướng, tăng trưởng ngă kiến th́ tới lúc
nào mới có thể phá hết sạch Ngă Chấp
được? Chẳng phá Ngă Chấp, sẽ chẳng
thoát khỏi lục đạo luân hồi. V́ thế, đức
Phật đặt điều này lên đầu.
Chúng ta khởi tâm động niệm
đúng là vô ngă. Nói cụ thể, vô ngă là nhất
định không v́ lợi ích của chính ḿnh; bởi
thế, phải triệt để buông tự tư tự
lợi xuống. Phá Ngă Chấp bằng cách nào? Bí quyết
để phá Ngă Chấp là khởi tâm động niệm,
làm hết thảy chuyện ǵ đều v́ xă hội, v́
chúng sanh, v́ để chánh pháp tồn tại lâu dài, nhất
định không có mảy may ư niệm nào làm lợi cho cá
nhân ḿnh, một chút ǵ khiến việc văng sanh Tây
Phương thế giới bị vướng mắc
cũng không có, ra đi rất tự tại. Thường
xuyên nhớ kỹ đức Phật dạy chúng ta
phải sửa đổi, uốn nắn cách nh́n lầm
lạc đối với vũ trụ, nhân sinh và hết
thảy người, sự, vật. Kinh Kim Cang nói rất
khéo: “Phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có h́nh
tướng đều là hư vọng). Vậy th́,
khởi lên một niệm rất ưa thích một
cảnh giới, đó chính là tâm tham luyến, “phàm những ǵ có h́nh
tướng đều là hư vọng”, bị một
chén nước lạnh ấy hắt vào, tâm ta bèn b́nh
tịnh. Gặp phải oan gia đối đầu
rất trái mắt, gặp người, gặp sự,
gặp vật trong tâm rất chán chường, [liền khởi
tâm niệm] “phàm những ǵ có
h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết
thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”,
tâm lập tức b́nh ngay, dấy lên một câu “A Di Đà
Phật”, biết ḿnh đến thế giới này là lữ
du, [tạm ngụ] hai ba ngày rồi sẽ đi, thế
giới này tốt cũng được, xấu cũng
xong, ăn nhằm ǵ đến ḿnh? Cớ chi phải
nhọc ḷng? Có duyên để khuyên th́ khuyên người ta,
khuyên người ta làm lành; không có duyên th́ làm gương cho
người ta thấy, người ta thấy mà hiểu th́
họ có phước báo; họ dẫu thấy nhưng không
hiểu th́ cũng đành thôi. Chẳng cần phải so
lường từng chút! Phật, Bồ Tát thị hiện
trong thế gian, khởi tâm động niệm, nói năng,
tạo tác, từng điểm, từng giọt đều
nhằm giáo hóa chúng sanh, v́ người khác diễn nói
từ trước đến nay chưa từng ngưng
nghỉ.
V́ người diễn nói, “diễn” là biểu diễn,
làm cho người ta thấy, “nói”
là
thuyết minh cho người ta; chẳng hề có chút
mảy may danh lợi nào xen vào đó, chẳng xen tạp
một mảy nào. V́ thế, các Ngài làm nhưng không làm, không
làm mà làm, rất tự tại! Xen tạp chính ḿnh vào đó
sẽ phiền lắm, v́ sao? Quư vị có lợi - hại,
được - mất trong ấy; chỉ cần có
lợi - hại, được - mất trong ấy. Hễ
quư vị vừa khởi tâm động niệm, bèn nghĩ
ngay đến lợi ích của chính ḿnh, sẽ
thường mắc sai lầm. Người hoàn toàn không có
lợi - hại, được - mất mới có thể thực
sự buông xuống được, hết thảy thân tâm,
thế gian đều buông xuống, tâm được
giải thoát, trí huệ mở mang. Trừ điều này
ra, không được xen tạp niệm ǵ, bất
luận niệm ǵ xen tạp trong đó cũng không
được. Đúng là chẳng dung một hào, một
phân bất tịnh nào xen tạp! Chẳng dung một hào,
một phân bất thiện nào xen tạp! Tâm phải
thuần tịnh, thuần thiện.
“Định”
là nhiếp tâm, thâu tâm. Mạnh phu tử nói rất hay: “Học vấn chi đạo vô
tha, cẩu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học
vấn không có ǵ khác, cốt sao thâu hồi cái tâm đă buông
lung mà thôi!). Đó là công phu định lực. Tâm ta
chẳng c̣n hướng ra ngoài nắm níu nữa, chẳng
những không nắm níu pháp thế gian, mà Phật pháp
cũng chẳng nắm níu th́ tâm quư vị thực sự
định! Ấn Quang đại sư cả đời
dạy chúng ta phương pháp này, chính là như trong kinh
Đại Tập đức Thế Tôn đă gọi Tŕ
Danh Niệm Phật là “vô
thượng thâm diệu Thiền”. Thiền Định
sâu mầu vô thượng chính là Niệm Phật! Nhiếp
tâm nơi Phật hiệu, trừ một câu Phật
hiệu ra, niệm ǵ trong tâm cũng không có. Đó là
Định Căn. Định ấy là Niệm Phật Tam
Muội, Niệm Phật Tam Muội có Căn vậy!
Trừ điều này ra, cái ǵ cũng không có. Niệm
niệm tương ứng với A Di Đà Phật,
niệm niệm tương ứng với kinh giáo Tịnh tông.
Đó chính là “nhất niệm
tương ứng nhất niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
Huệ Căn: Trí huệ quán chiếu,
soi thấy chân tướng của hết thảy pháp
thế gian, xuất thế gian. Quư vị có Huệ Căn,
có căn th́ khá lắm! Quư vị chẳng bị dao
động, tự ḿnh chân bước vững vàng, như
như bất động, thực hiện xong việc
tự độ, lại c̣n nghĩ giúp cho người khác
được đắc lực. Ngũ Căn tăng
trưởng bèn đắc lực. Nói tới Lực th́
thật ra chính ḿnh phải có Căn càng sâu th́ mới có
thể giúp người khác phá trừ nghi hoặc, giúp
người khác kiến lập Ngũ Căn. Nay đă
hết giờ rồi!
*
Xin tiếp về phần Ngũ Lực.
Lực là đoạn nghi, thành tựu phẩm đức.
Danh tướng của Ngũ Lực hoàn toàn giống
với Ngũ Căn: Tín, Tấn, Niệm, Định,
Huệ. Ngũ Lực là sự tăng trưởng của
Ngũ Căn. Đạo lư này đối với chúng ta
không khó hiểu. Cái được Huệ Căn tăng
trưởng quan trọng nhất là trí huệ, sau khi Huệ
Căn tăng trưởng, Ngũ Căn sẽ có sức
mạnh; giống như thực vật, nó có rễ
rồi, từ rễ dần dần tăng trưởng
trở thành mầm cây. Mầm cây lại dần dần
tăng trưởng trở thành cây lớn, nó có sức
như vậy, chịu đựng được gió
thổi, mưa dập v́ đă trưởng thành rồi.
Tín Căn tăng trưởng bèn phá
được nghi hoặc; quyết định chẳng
nghi hoặc đối với chánh pháp, chánh tri kiến.
Bởi thế, nó có thể phá được nghi, phân
biệt tà tri tà kiến; nó có năng lực như thế,
tất nhiên có thể làm cho phiền năo nhẹ đi. Chúng
sanh trong thế gian phiền năo tập khí nặng nề,
chẳng tin tưởng chánh pháp, chẳng tin vào giáo huấn
của thánh hiền. Nếu chúng ta có ḷng tin sâu xa chẳng
nghi đối với chánh pháp, đạo đức, tánh
đức và giáo huấn của thánh hiền th́ phiền
năo đă giảm quá nửa! Điều tốt nhất
đối với chính ḿnh, như tôi thường hay nói, là
con người chẳng thể không già, nhưng
người có tín tâm kiên định sẽ lăo hóa khá
chậm chạp, đấy là đạo lư nhất
định. V́ sao? Kẻ ấy sống cuộc đời
sung sướng, có phương hướng, có mục tiêu,
chẳng mê hoặc chút nào, mỗi ngày có tiến bộ,
thường sanh tâm hoan hỷ! Cuộc đời
người ấy rất sung măn, rất khoái lạc,
đều là do từ trong tâm phát sanh. Tín tâm có sức
mạnh như vậy.
Tinh Tấn có sức mạnh, chẳng
lười nhác. Quư vị phải biết lười nhác
chính là phiền năo nghiêm trọng; trong Lục Ba La Mật
của Bồ Tát, Tinh Tấn đối trị giải
đăi. Nếu một con người chẳng giải
đăi, bất luận làm chuyện ǵ, dù pháp thế gian hay
xuất thế gian, chẳng lẽ nào không thành tựu. V́
sao chẳng thành tựu? V́ sao thất bại? V́ giải
đăi! Lúc vừa mới làm, tinh thần đầy
đủ trăm phần; làm được ít lâu bèn
giải đăi, chẳng thể duy tŕ được,
chẳng có tâm thường hằng. Đấy là nguyên nhân
thứ nhất khiến cho rất nhiều sự
nghiệp thế gian hay xuất thế gian chẳng thể
thành tựu, không có cách ǵ ǵn giữ được! Học
Phật cũng chẳng phải là ngoại lệ, cổ
đức chẳng thường nói: “Học Phật nhất niên, Phật tại nhăn
tiền” (Học Phật một năm, Phật ngay
trước mặt) đó ư? Vừa mới học
Phật, bèn nhiệt tâm, bèn chân thành như thế, quư
vị phải ǵn giữ, cổ nhân nói “thành Phật hữu dư” (thành Phật có
thừa), [nghĩa là] người giữ được
cái tâm ban đầu thành Phật cả đống. “Học Phật lưỡng niên,
Phật tại thiên biên” (Học Phật hai năm,
Phật ở trên trời), cái tâm kiền thành, cái tâm tinh
tấn đă suy thoái rồi. “Học
Phật tam niên, Phật hóa vân yên” (Học Phật ba
năm, Phật hóa thành mây khói), không c̣n nữa! Học
Phật bèn biến thành một con cáo già, vậy th́ sao
vẫn phải học Phật?
Học Phật có lợi cho chính ḿnh,
chẳng nghĩ đến Phật, chẳng nghĩ
đến chúng sanh, chỉ nghĩ đến ḿnh, v́ có
lợi cho ḿnh, giương chiêu bài nhà Phật, lợi
dụng chiêu bài nhà Phật để lừa bịp, mưu
cầu danh văn, lợi dưỡng cho chính ḿnh, ḥng
hưởng thụ ngũ dục, lục trần, v́
những thứ đó mà thôi! Những lợi dưỡng
họ đạt được, nói trắng ra, chỉ là
v́ trong mạng họ có, nhưng tâm ấy là tâm chẳng
lành, hành vi ấy chẳng phải là thiện hạnh,
khiến cho phước báo trong mạng họ bị
tổn thất lớn lao. Chúng tôi thường
nói: Phước báo một trăm phần trăm trong
mạng rất có thể bị tổn hoại chỉ c̣n có
hai mươi phần trăm hay ba mươi phần
trăm mà thôi! Tổn thất với một mức
độ lớn, tâm hạnh chẳng lành mà! Người
thành công, tu hành chứng quả, chẳng có bí quyết chi
khác, chỉ là giữ được cái tâm ban đầu,
tinh tấn chẳng lùi, bèn thành công, có bí quyết ǵ
đặc biệt đâu!
Mỗi đồng học chúng ta bất
luận tại gia hay xuất gia, hăy nghĩ lúc ḿnh mới
phát tâm là như thế nào, tâm hiện nay là như thế
nào? Quư vị có thấy rơ v́ sao ḿnh chẳng tiến bộ
hay không? V́ sao học nhiều năm như vậy mà
đối với việc văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng có một chút nào nắm
chắc cả, vẫn cứ nửa tin nửa ngờ,
biết làm sao được! Bởi thế, trong kinh
luận, đức Phật thường nói thế pháp
thiện căn (thiện căn trong lục đạo,
thiện căn nơi thế gian pháp) là ba thiện căn, không
ngoài “chẳng Tham, chẳng Sân, chẳng Si”. Ba thiện
căn này thành tựu hết thảy thiện pháp của thế
gian. Nay chúng ta muốn thành một người lành trong
thế gian th́ quư vị phải nhớ kỹ lời
Phật giáo huấn: Đối với hết thảy pháp
thế gian và xuất thế gian chẳng tham, chẳng sân,
chẳng si. Thiện căn xuất thế gian chỉ có
một: Tinh Tấn! Tinh Tấn là thiện căn duy nhất
của Bồ Tát! Bồ Tát có thể chứng đắc Vô
Thượng Bồ Đề chẳng có ǵ khác cả,
vĩnh viễn giữ được cái tâm ban đầu
chẳng biến đổi đó thôi!
Chúng ta phải hiểu đạo lư này,
ứng dụng vào pháp xuất thế gian sẽ thành Vô
Thượng đạo, ứng dụng vào pháp thế gian
sẽ thành tựu đại đức, đại nhân đại
đức! Chúng ta giao thiệp cùng hết thảy chúng sanh,
lúc mới tiếp xúc, đầu tiên đều hết
sức khiêm hư, hết sức lịch sự, hết
sức thân thiện, quư vị có giữ măi được
như vậy hay không? Nếu quư vị giữ măi được
như vậy th́ chính là đại nhân đại
đức. Thánh nhân chẳng có ǵ khác cả, giao tiếp
cùng hết thảy chúng sanh dẫu lâu ngày vẫn không thay
đổi, không lui sụt. V́ sao? Các Ngài dùng cái tâm chân thành,
tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ
bi, vĩnh viễn chẳng biến đổi! Đối
phương biến đổi là chuyện của
đối phương, chẳng phải là chuyện
của ḿnh. Ta chỉ có thể bảo đảm chính ḿnh, chứ không bảo đảm cho
người
khác được! Ta thành tựu đức hạnh của
chính ḿnh.
Chư Phật, Như Lai cũng
chẳng thể thành tựu đức hạnh cho
người khác. Nếu có năng lực thành tựu
đức hạnh cho người khác th́ hết thảy
chúng sanh chẳng cần phải tu hành nữa, Phật,
Bồ Tát đại từ đại bi chẳng làm cho hết
thảy chúng sanh đều thành Phật hay sao? Làm không
được! Chúng ta phải hiểu điều này! Thành
tựu đức hạnh của chính ḿnh để giúp
đỡ người khác, làm cho người khác thấy,
người ta thấy ḿnh cũng là phàm phu, ḿnh thành tựu
được th́ họ cũng có thể thành tựu.
Đó là biểu diễn, biểu diễn cho người
khác xem. Nếu ta cả đời giữ vững chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi bất
biến, trong thuận cảnh chẳng có tâm tham luyến,
trong nghịch cảnh cũng chẳng có tâm sân khuể, nhất
định phải giữ vững, nhất định
phải làm được, vĩnh viễn chẳng lui sụt;
đó là thanh tịnh. Tinh tấn có thể hoàn thành hết
thảy mọi sự thế gian và xuất thế gian.
Niệm Căn tăng trưởng, tà
niệm chẳng sanh, từ bản thân ḿnh th́ nói là “tà
niệm chẳng sanh”, từ hoàn cảnh th́ nói “tà niệm
chẳng nhập”. Chúng ta biết những tà tri tà kiến
trong xă hội hiện thời có thể nói là tràn ngập
cả thế gian, quư vị mỗi ngày hai mươi
bốn giờ đều tiếp xúc với những tà tri
tà kiến được truyền bá trong thế gian.
Nếu Niệm Căn của quư vị hữu lực th́ tà
tri tà kiến chẳng thể ảnh hưởng quư vị.
Dù quư vị mắt thấy, tai nghe, tiếp xúc, cũng không
bị ảnh hưởng tí nào! Giống như các
đại đức trong Tông Môn thường nói: “Bách hoa tùng trung quá, phiến
diệp bất triêm thân” (Qua rừng trăm hoa nở,
mảnh lá chẳng dính thân). V́ sao vậy? V́ Niệm hữu
lực! Có thể thành tựu hết thảy công
đức chánh niệm thế gian và xuất thế gian.
Định Căn tăng trưởng,
trong tâm có chủ tể, quyết định chẳng
bị dao động. Nh́n trên mặt h́nh tướng,
tối thiểu là như tiên sinh Liễu Phàm và ḥa
thượng Vân Cốc cùng ở trong Thiền
Đường không khác ǵ nhau, ba ngày ba đêm không có
vọng niệm. Người niệm Phật định
lực hiện tiền, tối thiểu là công phu thành
phiến, công phu thành phiến là Niệm Phật tam-muội,
đă đạt được Niệm Phật tam-muội!
Niệm Phật tam-muội là ǵ? Trong hết thảy
thời, hết thảy nơi, trong tâm niệm của quư
vị đều là A Di Đà Phật; ngoại trừ A Di
Đà Phật ra, quyết định chẳng có một
tạp niệm nào, đó là Niệm Phật tam-muội! Ngoại
trừ một câu A Di Đà Phật ra, nếu vẫn c̣n ư
niệm nào khác th́ công phu chưa thành phiến. Bởi
thế, nhất định phải nhớ kỹ, phải
chịu thừa nhận ḿnh là kẻ sơ học. Con
người quư nhất là tự biết rơ ḿnh, quư nhất
là tự ḿnh hiểu ḿnh, tự ḿnh hiểu bản thân là hạng người nào: Ta là phàm phu, chẳng phải là
thánh nhân, ta là
sơ
học, chẳng phải tu thuần thục.
Phàm phu sơ học th́ quan trọng
nhất là thâm nhập một môn, trường thời huân
tu. Tam Tự Kinh nói: “Giáo chi
đạo, quư dĩ chuyên” (đạo dạy dỗ, quư
nơi chuyên tinh). Thế nào là chuyên? “Thâm nhập một môn, trường thời huân tu”
là chuyên đấy! Chẳng được tham quá
nhiều, chẳng được quá tạp! Quá tạp, quá
nhiều là tạp tu, loạn tu; ta đă là phàm phu lại
c̣n sơ học, làm sao thành tựu được? Bởi
thế, nếu quư vị chú tâm suy nghĩ [sẽ thấy] bao
nhiêu năm qua, ta đă lăng phí ngần ấy thời gian,
thật đáng tiếc quá! Nếu chịu chuyên tu, chịu
buông xuống vạn duyên, dẫu trong nhà Phật có kinh giáo
nào đi nữa cũng đều chẳng động tâm.
Ba năm khéo công phu sẽ đắc nhất tâm bất loạn;
công phu kém hơn một chút là công phu thành phiến. Công phu
thành phiến sẽ có năng lực sanh vào Phàm Thánh
Đồng Cư độ, muốn đi lúc nào là đi, rất
tự tại vậy! Nếu đắc Sự nhất tâm
bất loạn sẽ sanh vào Phương Tiện Hữu
Dư độ. Công phu thành phiến đă có thể sanh
tử tự tại th́ Sự nhất tâm bất loạn chẳng
cần phải nói nữa!
V́ sao chúng ta chẳng đạt
được mức độ ấy? Là v́ cái ǵ cũng
muốn học, cái ǵ cũng thích hết, rốt cuộc
cái ǵ cũng chẳng thể thành tựu. Sai lầm
rồi, lầm quá đỗi rồi! Phàm những ai thành
công nơi pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng có
bí quyết nào khác để thành công cả, chỉ chuyên
nhất mà thôi! Toàn bộ tinh thần, ư chí, thời gian
đều tập trung, sẽ thành tựu được
việc ấy. Quư vị thấy rất nhiều các
chủ nhân đại xí nghiệp, dẫu các hạng
mục trong xí nghiệp của họ rất nhiều, nhưng
nếu hỏi họ, sẽ thấy thoạt đầu
chỉ là một dạng, một thứ, chuyên môn kinh doanh
một thứ. Thành công rồi, sau khi thành công mới có tài
lực, có thừa lực lượng bèn kinh doanh thêm
thứ khác, dần dần mới có thể phát triển
đến mấy chục thứ. Sanh từ một căn
bản, chẳng phải là vừa thoạt đầu
đă có được bao nhiêu thứ như thế. Có
nhiều thứ như thế chắc chắn thất
bại, chúng ta phải thấy rơ như vậy!
Có người không hiểu, tính gom tiền
vốn bỏ vào nhiều ngành để kiếm lời, làm
chưa được mấy năm công ty phải đóng
cửa. Do nguyên nhân nào? Chẳng có căn bản. Rất
nhiều người chẳng hiểu đạo lư này! Quư
vị cứ chú ư quan sát một đại xí nghiệp gia thực
sự hay một tay công thương nghiệp lăo luyện,
quư vị sẽ thấy họ rất có căn bản.
Nếu chúng ta chú tâm quan sát về mặt xuất thế
pháp, sẽ thấy chư Phật, Bồ Tát học
rộng nghe nhiều, điều ǵ cũng thông đạt
là v́ có cơ sở, tuyệt đối chẳng phải là
vừa bắt đầu đă học quá nhiều thứ.
Chẳng phải vậy, họ có căn bản. Sau
đấy, học rộng nghe nhiều, vẫn là do căn
bản ấy sanh trưởng. Dẫu căn bản khác
nhau, mỗi cá nhân học một pháp môn bất đồng,
nhưng không hề chi, pháp môn b́nh đẳng, không có cao hay thấp,
quư vị phải hiểu đạo lư này.
Biết đạo lư này th́ cái tâm tham
luyến, cái tâm hâm mộ sẽ chẳng sanh khởi.
Nếu chúng ta không chuyên học một môn, cứ măi măi hâm
mộ rất nhiều pháp môn, kết quả cuối cùng là
môn ǵ cũng chẳng thành. Phải chết chặt một
môn! Chết tươi ḷng mong ngóng, khiêm hư sát đất!
Sau khi thành một môn rồi, một môn thông th́ hết
thảy các môn đều thông. Một kinh thông th́ hết
thảy các kinh đều thông! Một pháp môn thông, tất
cả hết thảy pháp môn đều thông. Tiêu chuẩn
của “thông” là ǵ? Là minh tâm kiến tánh. Mỗi một pháp
môn đều có thể giúp quư vị minh tâm kiến tánh,
bởi vậy, pháp môn b́nh đẳng, không có cao - thấp.
Quư vị phải thâm nhập, không thâm nhập sẽ chẳng
kiến tánh. Cổ nhân cầu học cũng tốt đẹp,
tu đạo cũng tốt đẹp, chưa đạt đến
cảnh giới kiến tánh th́ nhất định chẳng
lạm tu pháp môn thứ hai, quư vị phải liên tục
nỗ lực, không ngừng ra sức.
Trong phương diện Trợ Đạo, thầy dạy, đồng
học, hoàn cảnh tu học đều là duyên trợ
đạo. Đức Phật giảng rất rơ bốn
thứ duyên: Thân nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên,
tăng thượng duyên. Trợ Đạo là tăng
thượng duyên. Tăng thượng duyên cũng rất
quan trọng, quư vị phải tin tưởng thầy
dạy, phải tin vào đồng tham đạo hữu,
trong nhà Phật c̣n gồm cả “hộ pháp”, đều là
trợ đạo. Những vị hộ pháp dùng tài
lực, vật lực giúp đỡ quư vị, khiến cho
quư vị sống an định, thân tâm an ổn. Trong kinh, đức
Phật thường nói: “Pháp
luân vị chuyển, thực luân tiên” (Pháp luân chưa
chuyển, bánh xe ăn đă xoay trước). Nếu
cuộc sống quư vị chẳng an định, làm sao quư
vị yên ḷng tu tập đạo? Giúp cho quư vị thân tâm
an định, đó là hộ pháp. Hộ pháp có đại
ân, nội hộ có đại đức, khiến quư
vị thân tâm an ổn, vô ưu, vô lự, một ḷng tu
đạo dễ dàng thành tựu.
Điều cuối cùng là Huệ
Lực, Huệ Căn tăng trưởng, trí huệ hiện
tiền, có năng lực phân biệt chân - vọng, có
năng lực phân biệt thị - phi, thiện - ác,
lợi - hại. Những điều này bày ra trước
mắt rơ ràng, rành rẽ, minh bạch, không mê hoặc chút
nào. Tư tưởng kiến giải thuần chánh, ngôn
ngữ, hành vi thuần chánh, đoạn nghi, thành tựu đức
hạnh, thành tựu đại đức đại
năng của chính ḿnh, toàn là nhờ vào trí huệ. Trong kinh
điển, đối với ba mươi bảy Đạo
Phẩm, đức Thế Tôn khởi sự nói từ
Ngũ Căn, Ngũ Lực, ba khoa trước lược
đi. Trong chú sớ, chú giải của Ngẫu Ích
đại sư và Liên Tŕ đại sư, dẫu
đức Phật không nói, nhưng các Ngài đều nói
thêm vào, có lợi rất lớn cho bọn sơ học
chúng ta.
Kế đó là tiểu đoạn
thứ sáu: “Thất Bồ
Đề phần”. Bồ Đề (Bodhi) là tiếng
Phạn, phiên dịch sang nghĩa tiếng Hán là Giác. Bồ
Đề có nghĩa là giác ngộ, bởi thế “c̣n gọi là Thất Giác
Phần”. Giác chứ không mê. “Ư
nhất thiết pháp thiện năng giác liễu” (khéo có
thể hiểu hết thảy các pháp), đấy là công
phu! Đối với những khoa mục lớn, chúng tôi
đều dùng phương pháp giới thiệu đơn
giản để nhắc nhở quư vị: Tứ Niệm
Xứ là thấy thấu suốt, trước tiên là phải
thấy thấu suốt. Tứ Như Ư Túc là buông xuống,
quư vị phải buông xuống được. Khi tôi vào
cửa Phật, thân cận vị xuất gia thứ
nhất, vị thứ nhất ấy dạy tôi “khán đắc phá, phóng đắc
hạ” (thấy cho thấu suốt, buông xuống
được). Thất Bồ Đề Phần là công phu
chân chánh, bảy thứ này đều là giác ngộ chân chánh,
“Huệ Lực sở phát, vô lậu
chánh trí” (do Huệ Lực phát sanh, là chánh trí vô lậu). Ngũ
Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần do
đâu mà có? Do Huệ Lực mà có; Thất Bồ Đề
Phần cũng phải nương vào Huệ Lực.
Nếu Huệ Quán vô lực, nhờ vào đâu mà giác
được?
Tiếp đây sẽ giảng bảy
hạng mục. Cả bảy hạng mục này
đều là giác ngộ, trong Phật pháp gọi giác
ngộ là Bồ Đề.
Thứ nhất là trạch pháp (chọn lựa
pháp); tức Trạch Pháp Giác Phần. Trạch pháp là “thiện biệt” (khéo phân
biệt), “biệt” (別) là phân biệt. Quư vị khéo có thể
phân biệt chân - vọng, tà - chánh, đúng - sai, thiện - ác,
chẳng lấy pháp hư ngụy. Đó gọi là Trạch
Pháp Giác Chi (ở đây gọi là Giác Phần). Người
học Phật hoặc cầu học trong thế gian, tu
đạo - đạo có thế gian đạo và xuất
thế đạo. Thế gian đạo có thiên
đạo, tiên đạo; xuất thế gian đạo
có Thanh Văn đạo, Duyên Giác đạo, Bồ Tát
đạo, quư vị phải biết chọn lựa. Tiêu
chuẩn chọn lựa phải dựa vào lư, tức chánh
lư. Lại phải dựa vào sự, sự là ǵ? Sự là
những điều kiện bản thân ta sẵn có. Chánh
pháp không phải chỉ có một loại, trong Đại
Thừa Phật pháp thường nói là vô lượng pháp
môn, trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện có câu “pháp môn vô lượng thệ
nguyện học”, vô lượng pháp môn đều là
chánh pháp. Với những điều kiện sẵn có
của chúng ta th́ trong vô lượng pháp môn, hoặc nói là
tám vạn bốn ngàn pháp môn, ta có thể học
được pháp nào?
Tôi đă thưa cùng quư vị
đồng tu rất nhiều lần, trong những
buổi giảng cũng đă nói rất nhiều. Tôi thích
học kinh giáo, tôi thích thâm nhập một môn, tôi có
nguyện vọng học đ̣i tổ sư đại
đức; tôi nhớ h́nh như Đạo Xước
đại sư một đời giảng Quán Kinh hơn
hai trăm lần. Ngài không giảng kinh nào khác, chỉ
giảng một loại, cũng giống như những
vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần
tham học của Thiện Tài đồng tử: “Pháp môn vô
lượng vô biên, tôi chỉ hiểu một môn, anh
đến đây th́ tôi có thể nói cho anh nghe [môn này].
Giảng xong, nếu anh muốn nghe pháp khác th́ hăy đến
chỗ vị thiện tri thức khác. Những vị
đó biết nhiều hơn tôi, tôi chẳng bằng các
vị đó. Thành tựu một môn thôi!”
Năm mươi ba lần tham học,
năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi vị
đều là “thâm nhập một môn”, đều không có pháp
môn thứ hai. V́ thế, Thiện Tài tham học: “Anh
đến đây, tôi đem pháp do chính ḿnh tu bảo cho anh
biết. Nếu anh muốn học rộng, nghe nhiều,
tôi giới thiệu anh đến chỗ khác”. Tự ḿnh
khiêm hư, tán thán người khác. Đấy đều là
thị hiện để dạy chúng ta! Căn bệnh lớn
của chúng ta là “khen ḿnh, chê người”, tự cho ḿnh là
phi phàm, coi rẻ người khác. Sai rồi, sai lầm quá
đỗi rồi! Chẳng biết hết thảy chúng
sanh vốn sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh là cha
mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai,
chẳng biết ǵ cả! Cuồng vọng tự
đại. Bởi thế, trên con đường Bồ
Đề, quư vị đi rất khổ sở, đi
chẳng thành công dường ấy. Thường là
nửa đường ngă ḷng, thất bại hoàn toàn,
chẳng phải là không có nguyên nhân: Tâm tư thái độ
tu học của quư vị đă sai bét rồi!
Nói thật ra, cội rễ là do
chẳng biết hiếu thuận đối với cha
mẹ, chẳng biết tôn kính sư trưởng, đă
hư từ căn bản! Đạo Nho của Trung Quốc
và đạo Phật đều kiến lập trên cơ
sở Hiếu đạo, Hiếu đạo là gốc!
Sư đạo (đạo thầy tṛ) kiến lập
trên cơ sở hiếu đạo. Nho là sư đạo,
Phật cũng là sư đạo. Tôn sư trọng
đạo kiến lập trên cơ sở hiếu thảo
với cha mẹ. Nếu ai chẳng hiếu thuận với
cha mẹ, chẳng hiểu đạo Hiếu, làm sao
kẻ ấy tôn trọng sư trưởng cho
được? Bởi vậy, học tập không có
căn bản, giống như cất nhà, xây lầu không có
nền móng, làm sao thành công được? Trong Ngũ
Căn, Ngũ Lực đă giảng ở phần trên, tôi
đặc biệt đề xuất Tín Căn, hết
sức trọng yếu! Một bề tu dần dần cho
tăng trưởng, trí huệ bèn mở ra, có năng
lực chọn lựa pháp môn; lúc ḿnh chưa có năng
lực th́ thầy thay thế ḿnh chọn lựa.
Pháp môn thầy đă chọn, ḿnh có
được thay đổi hay không? Được
chứ! Quư vị tu học đến một giai đoạn
nào đó, nhận thấy ḿnh c̣n có thể tu một pháp môn
khác, chính quư vị đă có năng lực chọn pháp.
Nếu ḿnh không có năng lực ấy, th́ cứ ngoan ngoăn
tuân thủ lời thầy chỉ dạy là an toàn, bảo
đảm! Nếu quư vị thực sự thấy rơ các
pháp b́nh đẳng, không có cao - thấp, pháp nào thầy
chọn lựa cho ta rất thích hợp với căn tánh,
lại phù hợp với tŕnh độ của ḿnh, mà cũng
thích hợp với hoàn cảnh sinh
hoạt của ḿnh th́ đó là chọn lựa tốt!
Chết sạch tấm ḷng mong ngóng, chụp giựt, thâm
nhập một môn, có ai chẳng thành tựu? Đến khi
chính ḿnh thực sự thành tựu, mới cảm mộ ân
đức thầy. Nếu thầy không răn dạy,
nếu thầy không thay ḿnh chọn lựa, làm sao ta có
thể thành tựu được?
Phương hướng chung, mục
tiêu lớn của cả đời tôi là học Phật.
Chương Gia đại sư thay tôi chọn lựa, Ngài
dạy tôi bỏ đi các nghề nghiệp khác, đi theo
con đường xuất gia hoằng pháp, Chương Gia
đại sư dạy tôi như vậy đó. Ngài đă
suy nghĩ rất lâu, Ngài nói: “Bất cứ sự
nghiệp nào khác đều chẳng tốt bằng; sự
nghiệp này đối với chính ḿnh, đối với
chúng sanh là trăm điều lợi, chẳng có một
điều tệ”. Tôi nghe dạy xong, suy nghĩ rất
lâu, quyết định tiếp nhận lời thầy giáo
huấn. Lúc ấy tôi vẫn đang đi làm, tôi từng
hỏi Chương Gia đại sư: “Nếu con
xuất gia th́ phải tu pháp nào?” Đại sư bảo
tôi: “Ông phát tâm ấy, ông không cần phải t́m pháp sư”.
Ngài dạy rất hay: “Nếu ông cần t́m một vị
pháp sư thế độ cho ông, nếu vị ấy không
đáp ứng, ông có sanh phiền năo hay chăng?” Tôi thưa
có. Chẳng cần t́m thầy, cũng chẳng cần t́m
đạo tràng. Tôi hỏi làm như thế nào đây? [Ngài đáp]:
“Cầu Phật, Bồ Tát gia
tŕ!”
Rồi Ngài dạy tôi: “Nếu tâm ông
phát là chân tâm, nguyện là chân nguyện, Phật, Bồ Tát
sẽ thay ông an bài cả một đời, ông không cần
phải lo lắng chi cả, đến khi duyên thành
thục, ông sẽ biết ngay!” Đấy là chuyện
tốt, tôi cảm ơn thầy. Một đời
chịu ân huệ của thầy! Đúng là chuyện ǵ
cũng chẳng bận ḷng, một đời tùy duyên,
chẳng phan duyên. Độ mấy năm sau, quả nhiên
có một vị sư phụ xuất gia đến t́m tôi,
mời tôi xuất gia. Thọ giới cũng như
thế. Khai giới rồi, tôi rất muốn đến
thọ giới, nhưng không có duyên phận. Lúc đó,
lại có người đến mời tôi đi thọ
giới. Lúc đó thọ giới phải đóng lệ phí,
khi tôi mới xuất gia cũng chẳng có cúng
dường, khoản tiền chi phí ấy rất lớn,
kiếm chẳng ra. Có người đă chuẩn bị
đầy đủ mọi khoản lệ phí thọ giới
đưa cho tôi, bảo tôi đi thọ giới, duyên chín
muồi vậy! Cả đời bị động,
chưa hề chủ động, bất luận
đến địa phương nào cũng đều là
bị động, tùy duyên, chẳng phan duyên, không có
vọng tưởng, cuộc sống quá sướng!
Rất là khoái lạc, rất tự tại, thầy
dạy tôi như vậy đó!
Nếu quư vị chẳng tin
tưởng thầy th́ không có cách nào hết! Tự ḿnh hằng
ngày khởi vọng tưởng, cuộc sống ấy
chắc chắn chẳng sung sướng, tự tại
như tôi đang được hưởng. V́ thế, tôi
thường rất cảm thán nói: “Người thế
gian hiện thời chẳng nghe lời người xưa,
chịu đựng thiệt tḥi trước mắt”. Tôi
được hưởng một chút tiện nghi là
nhờ tin tưởng thầy, tôi rất nghe lời.
Những vị thầy tôi được thân cận
đúng là chân thiện tri thức, thực sự có
đức hạnh, có trí huệ, có học vấn, có tu
dưỡng. Cả đời tôi có ba vị thầy,
mọi người đều biết cả, vị
tại gia là tiên sinh Phương Đông Mỹ, những
vị dạy tôi Phật pháp th́ thứ nhất là
Chương Gia đại sư, vị thứ hai là lăo
cư sĩ Lư Bỉnh Nam. Tôi học với Chương Gia
đại sư ba năm, học với Lư lăo cư sĩ
mười năm. Cả đời chẳng trái nghịch
lời thầy dạy dỗ, những ǵ thầy dạy
tôi đều tốt lành, đều có đạo lư,
quyết định chẳng phải là ác pháp, hoàn toàn
đúng với kinh giáo. Bởi thế, tự bản thân
chúng tôi không có năng lực chọn lựa pháp (trạch
pháp), thầy v́ tôi chọn lựa pháp môn Tịnh Độ.
Sau này, tôi đọc kinh Đại
Tập, thấy Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng sanh
đời Mạt Pháp chọn lựa pháp môn này. Đức
Phật dạy trong thời kỳ Chánh Pháp,
Giới Luật thành tựu; thời kỳ
Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu; thời
kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu. Chúng ta
chọn lựa pháp môn này đúng với ư Phật, rất
khế hợp căn tánh của chính ḿnh. Tôi tự chọn
Di Đà Kinh Yếu Giải v́ nó khế hợp với căn
tánh của ḿnh nhất. Trước kia, ở
- Đại Tạng kinh nhiều như
vậy, nếu chỉ cho phép thầy chọn một môn, thầy
chọn môn nào?
- Tôi chọn A Di Đà kinh, nhưng trong những
chú giải kinh A Di Đà, tôi chọn sách Yếu Giải.
Tôi nhớ đă giảng Yếu Giải
một lần ở Gia Châu (
Có rất nhiều kinh luận
được giảng chẳng do chủ ư của tôi. V́
nguyên nhân ǵ? Trong thời đại này, pháp sư giảng
kinh rất ít. Có nhiều vị đồng học
đến khải thỉnh, bất đắc dĩ
phải phân tâm giảng những kinh luận ấy! Nếu
pháp sư giảng kinh nhiều, mỗi một tông phái
đều có pháp sư giảng kinh th́ quư vị biết
đó: Cả đời tôi chỉ nhất định
học đ̣i bậc cổ đại đức, một
đời chuyên giảng A Di Đà Kinh Yếu Giải,
trở thành chuyên gia, chứ không làm bậc thông gia. Hiện
tại thế giới to lớn như thế này,
đến mỗi thành phố giảng một lần,
giảng cả ba trăm năm cũng chưa giảng
xong, có phải là rất tự tại hay chăng?
Tôi đă thưa cùng thầy Lư chuyện
này, thầy cười cười: “Ông rất tự
tại, nhưng những lời sau đây rất khó nghe: Ông
chẳng thể độ chúng sanh”. Tôi hỏi v́ sao?
Thầy dạy: “Ông có thấy lúc nào chúng sanh nhờ nghe
một bộ kinh mà khai ngộ, chứng quả hay
chăng?” Thực sự chẳng có! V́ thế, lăo nhân gia
dạy thật chánh xác, đúng là phải giúp đỡ
chúng sanh, thành tựu chúng sanh, phải ở một nơi,
chẳng đi cùng khắp mọi nơi được.
Đấy là những điều thầy dạy tôi. A! Nay
đă đến giờ rồi, chúng tôi giảng
đến đây thôi!
Tập
17
Chúng ta lại xem đến phần
Thất Bồ Đề Phần trong kinh.
Trong Thất Bồ Đề phần,
phần thứ nhất là Trạch Pháp: Trạch Pháp Giác
Phần. [Sách Yếu Giải giảng]: “Thiện biệt chân - vọng, tà - chánh, thị - phi,
thiện - ác, bất thủ hư ngụy pháp” (Khéo phân
biệt chân - vọng, tà - chánh, đúng - sai, thiện - ác,
chẳng lấy pháp hư ngụy). Trong điều này, quan
trọng nhất vẫn là dạy chúng ta phải khéo
chọn lựa pháp môn. Trên thực tế, chuyện này
chẳng dễ dàng đâu nhé! Giống như thầy lang
trị bệnh, kê toa nhất định phải phù hợp
căn bệnh. Toa hoàn toàn tương ứng với
bệnh th́ uống thuốc vào, bệnh sẽ lành. Muốn
hiểu rất rơ, muốn nắm rất chắc căn
tánh của hết thảy chúng sanh, th́ so với việc thầy
lang chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh càng khó khăn hơn
rất nhiều. Bởi vậy, chuyện này đúng là
chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu
hiểu rốt ráo; nếu chúng sanh gặp được
Phật là một vị thầy thuốc tốt lành dường
ấy th́ không có vấn đề ǵ, trong kinh thường
gọi đức Phật là Đại Y Vương. Ngài
có trí huệ viên măn, thần thông viên măn, đức năng
viên măn, đức Phật thấy đời đời
kiếp kiếp trong quá khứ của mỗi cá nhân, Ngài làm
được chuyện này rất tốt!
Bởi thế, khi đức Phật v́
chúng sanh thuyết pháp, trong kinh chúng ta thường thấy,
khi một bộ kinh chưa giảng xong, đă có khá
nhiều thính chúng khai ngộ, chứng quả rồi. V́ sao
nay chúng ta dù nghe, nhưng lại không đạt được
như vậy? Đức Phật biết rơ chuẩn xác
căn bệnh của chúng ta, thuyết pháp đúng với căn
cơ. Nói trắng ra, sau khi Phật nhập diệt, đúng
là hàng đệ tử mỗi đời sau kém hẳn
đời trước. V́ sao chư Phật, Bồ Tát
chẳng đến ứng hóa trong thế gian? Nói đúng ra,
chư Phật Bồ Tát, đúng là vẫn ứng hóa trong
thế gian, nhưng chúng sanh căn tánh bất đồng,
chẳng được như trước. Trước
kia, chúng sanh căn tánh sâu dầy, dù đối với
người, với sự, hay với vật, đều
có ḷng thành kính, hiện thời chẳng được
vậy. Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính
được một phần lợi ích; mười
phần thành kính được mười phần lợi
ích”. Hiện nay chẳng có thành kính, dẫu cho Phật,
Bồ Tát đến giáo hóa, chúng ta vẫn không đạt được
lợi ích là v́ không có tâm cung kính! Bởi vậy, trách
nhiệm hoàn toàn chính nơi bản thân chúng ta, chứ
chẳng phải là Phật, Bồ Tát!
Đối với Trạch Pháp, trong
thời đại này chúng ta chẳng thể không lưu ư. Tự
ḿnh nhất định phải biết
tŕnh độ của bản thân, biết căn tánh
của chính ḿnh, biết hoàn cảnh sinh hoạt của
ḿnh. Chúng ta tu tập pháp môn này, chúng ta chiếu theo đó tu
hành, trong hiện tại sẽ giảm thiểu
chướng ngại đến mức tối thiểu, mong
rằng thành tựu tu học của chúng ta càng ngày càng
lớn. Chẳng được nói pháp môn này hay, pháp môn
nọ hay. Pháp môn nào cũng hay cả, chẳng có pháp môn nào
không hay! Vấn đề là [pháp môn ấy] có thích hợp cho
ta tu học, có thích hợp với hoàn cảnh sinh hoạt
hiện tại của chúng ta hay không, chuyện đó
mới rất quan trọng!
Tự chúng ta không có năng lực
tuyển chọn, Phật, Bồ Tát, tổ sư
đại đức đă ban cho chúng ta rất nhiều
tài liệu tham khảo. Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta
chọn lấy pháp môn Tịnh Độ trong thời
kỳ Mạt Pháp; chúng ta hiện đang sống trong
thời kỳ Mạt Pháp. Kinh luận Tịnh Độ ít
nhất, kể cả những kinh do các tổ sư
cận đại thêm vào, tổng cộng chỉ có năm
kinh một luận. Năm kinh một luận ấy
thứ nào hợp với chúng ta, chỉ chọn lấy
một loại là đủ. Tu học một thứ có
thành tựu th́ sẽ đạt được pháp ích (lợi
ích nơi pháp). Nếu vẫn c̣n có sức th́ lại
học thêm một thứ, hai thứ nữa, chẳng
được lan man quá nhiều. Lan man quá nhiều th́ tinh
thần, tâm lực của chúng ta bị phân tán, rất khó
thể thành tựu!
Ở đây, câu cuối cùng rất
trọng yếu: “Bất thủ
hư ngụy pháp” (Chẳng lấy pháp hư ngụy).
Trong những pháp hư ngụy, đặc biệt là tà tri
trà kiến, chẳng phải là chánh pháp. Chúng ta phải phân
biệt chuyện này cho rơ ràng! Trong pháp môn Tịnh
Độ, hai năm gần đây nhất, có rất
nhiều người phản đối bản hội
tập, chê bản hội tập là ngụy kinh, những
lời lẽ ấy đúng là khiến những vị thông
hiểu phải ph́ cười. Thế nào là ngụy kinh?
Ngụy kinh là kinh do tự ḿnh bịa đặt ra,
ngụy tạo! Bản hội tập này không ngụy
tạo, từng chữ từng câu đều có căn
cứ, đều do chính Phật nói, sao gọi là ngụy
kinh được? Nếu bảo những bản hội
tập đều là ngụy tạo th́ ngụy kinh quá
nhiều. Hiện tại, những sám nghi (nghi thức bái sám)
trong tất cả đạo tràng, cho đến khóa
bản để tụng trong khóa lễ sáng tối
đều là những bản hội tập, vậy th́ toàn
bộ đều ngụy kinh. Vậy th́ những ǵ
Phật pháp thực hành trong hơn hai ngàn năm đều
là tầm bậy ư? Có đạo lư ấy hay chăng?
Chẳng thể nói tùy tiện như vậy
được! Nói năng là cả một môn học vấn
lớn.
Trong nền giáo dục của Khổng
lăo phu tử, ngôn ngữ là khoa thứ hai,
đức
hạnh là khoa thứ nhất. Do đây biết rằng: Ngôn
ngữ được coi là rất quan trọng. Cát - hung,
họa - phước, ngôn ngữ chiếm quá nửa.
Thiện ngôn, thiện hạnh công đức vô
lượng. Nếu như vọng ngữ, nói đôi
chiều, tội lỗi vô biên, chẳng thể không cẩn
thận, chẳng thể không biết. Nếu nói bản
hội tập là ngụy kinh, chính là nhục mạ toàn
bộ tổ sư đại đức trong quá khứ!
Bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ của ông
Vương Long Thư được xếp vào Càn Long
Đại Tạng Kinh. Trong quá khứ, những kinh
điển được xếp vào Kinh Tạng, phải
được tất cả cao tăng đại
đức đương thời thẩm tra, xem xét, công
nhận là không sai sót mới được đưa vào
Kinh Tạng. Những ư kiến thẩm sát được
gởi lên hoàng đế, hoàng đế phê chuẩn
nhập tạng. Bởi thế, “được
nhập tạng” (được đưa vào
Đại Tạng Kinh) là tiêu chuẩn tuyệt đối,
ngụy kinh làm sao đưa vào Tạng được?
Nói đây là ngụy kinh, không phải là
nhục mạ toàn bộ cao tăng đại đức [đă
tham gia] thẩm sát hay sao? Đúng là một mẻ lưới
bao trùm hết. Giống như cho rằng hiểu Phật
pháp chỉ có một ḿnh anh thôi, ngoại trừ anh ra, mắt
tổ sư đại đức đều mù hết. Quư
vị phải biết tội đó rất nghiêm trọng! Chẳng
biết nhân quả đáng sợ; Phật, Bồ Tát tha
thứ cho quư vị, nhưng nhân quả chẳng tha đâu!
Phật, Bồ Tát từ bi, “tiên
nhân vô tri, bất thức đạo đức, vô hữu
ngữ giả, thù vô quái dă” (người đời
trước không biết, chẳng biết đạo
đức, chưa từng nói đến, chẳng có
lạ ǵ). Người thực sự có học vấn, có
đức hạnh nghe đến những lời đó,
trông thấy chuyện như vậy, chỉ cảm thán mà
thôi. Đáng tiếc anh chưa được thân cận
thiện tri thức chân chánh, không ai dạy cho anh, đúng là
tự ḿnh nh́n lầm, chứ người khác không lầm.
Chuyện này rốt cuộc ai đúng ai sai, tự có người
đời sau phân định, chẳng phải trong đương
thời mà lịch sử sẽ phán xét.
Điều thứ hai trong Thất
Bồ Đề Phần là: “Tinh
tấn, thường cần ư chân chánh, bất thủ vô
ích khổ hạnh” (Tinh tấn là thường siêng
năng chân chánh, chẳng giữ lấy khổ hạnh vô
ích). Cả bảy điều đều dựa trên Huệ
Căn, Huệ Lực trong Ngũ Căn, Ngũ Lực, trí
huệ hiện tiền; nhưng quư vị phải hiểu
Ngũ Căn, Ngũ Lực dựa vào đâu? Dựa vào
Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc
ở trước đó. Ba mươi bảy Đạo Phẩm
có thứ tự, nếu không có khoa trước, chắc
chắn chẳng có khoa sau. Nay chúng ta không có năng lực
chọn lựa, v́ sao? Không có trí huệ! V́ sao không có trí
huệ? Không tu Ngũ Căn, Ngũ Lực. V́ sao chẳng
thể tu thành công Ngũ Căn, Ngũ Lực? Đều
v́ chẳng dốc sức nơi Tứ Niệm Xứ,
Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc ở phần trên;
chúng là cơ sở của những cơ sở.
Học nhân thời cổ, bất
luận tại gia hay xuất gia, gặp được
chân thiện tri thức, thầy tốt, đúng là theo thứ
lớp dạy dỗ, bồi dưỡng, thành tựu. Trí
huệ của quư vị chưa mở mang, thầy giúp đỡ.
Đến khi nào chính quư vị đă mở mang trí huệ,
sẽ có năng lực quyết định chọn
lựa pháp môn. Lúc ấy bèn tinh tấn, siêng năng chân
chánh. Trong Tịnh tông, chân chánh là một câu Phật hiệu;
chư Phật Như Lai, cổ thánh tiên hiền dạy chúng
ta phương pháp này chính là pháp Tŕ Danh Niệm Phật trong
bốn cách niệm Phật. Cận đại, Ấn Quang đại
sư cực lực đề xướng, hoằng
dương, khuyên dạy chúng ta niệm Phật.
Lăo pháp sư Đế Nhàn dạy ông thợ vá nồi đừng
khổ hạnh vô ích, phương pháp của Ngài
rất hay! Một câu A Di Đà Phật ấy niệm
đến khi mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ khỏe
rồi lại niệm tiếp, khiến cho thân thể, tinh
thần của quư vị chẳng hề có mảy may áp lực
nào, nhưng cần phải buông xuống vạn duyên. Ta
đến trong thế gian này, chuyện ǵ đă qua bèn cho
qua luôn, nhất định không kéo trở lại nữa,
sau này ta c̣n có thể sống thêm được mấy
năm nữa? Thời gian quư báu hơn bất cứ thứ
ǵ khác, phải thực sự giác ngộ! Thân, tâm, thế
giới, hết thảy buông xuống hết, bất
cứ sự ǵ dù thế gian hay xuất thế gian đều
chẳng ăn nhằm ǵ đến ta, ta nhất tâm
niệm Phật, sống được một ngày bèn
niệm một ngày, nhất định thành công!
Niệm Phật chẳng thể văng sanh
là v́ nguyên nhân nào? Vị chỉ dạy đầu tiên
hết là Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại
Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp “đô nhiếp lục căn, tịnh
niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối). Nhiếp trọn sáu tâm là
gom cái tâm lại. Đó là buông xuống vạn duyên! Thâu
hồi con mắt từ nơi Sắc Trần lại, thâu
hồi cái tai từ nơi Thanh Trần lại, sáu căn
chớ đeo đuổi bên ngoài, thâu hồi lại,
nhất tâm chuyên niệm. Đại Thế Chí gọi
đó là “nhiếp trọn sáu
căn”, tức là như Mạnh tử nói: “Học vấn chi đạo vô
tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học
vấn không có ǵ khác, cốt sao thâu hồi được cái
tâm đă phóng dật mà thôi). Đó là học vấn thực
sự, thâu hồi sáu căn lại, chẳng phan duyên
nơi cảnh giới lục trần là đúng. Đó
gọi là “nhất tâm chuyên
niệm, nhất hướng chuyên niệm”, chỉ
một phương hướng, chỉ một mục tiêu,
chẳng xen tạp! “Bất hoài
nghi, bất giáp tạp, bất gián đoạn” (không hoài
nghi, không xen tạp, không gián đoạn) là “tịnh
niệm tiếp nối”. Tịnh là không xen tạp, tiếp
nối chẳng gián đoạn.
Chín chữ của
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát đă nói có cùng một ư nghĩa
với lời dạy của Đại Thế Chí Bồ
Tát. Trong tập sách nhỏ Tây Phương Xác Chỉ, Giác
Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói: “Bất hoài nghi, bất giáp tạp, bất gián
đoạn” (Không hoài nghi, không xen tạp, không gián
đoạn) rất dễ hiểu! Bí quyết niệm
Phật là đây. Nếu thực sự làm được
như thế th́ gọi là chân tinh tấn, vạn
người tu vạn người văng sanh. Chớ có suy
nghĩ bậy bạ! Cả đống nghi vấn! Chúng
tôi thường thấy các đồng tu đến
hỏi, [than thở bản thân họ] nghiệp
chướng sâu nặng, nhưng nghiệp chướng nặng
nề là ở chỗ nào? Nghiệp chướng là như
thế này đây: Lo lắng, ngờ vực quá nhiều,
chẳng thật thà! Tâm không định được!
Nếu công phu đắc lực, chẳng hoài nghi, chẳng
xen tạp, chẳng gián đoạn, người ấy tuyệt
đối chẳng đến t́m tôi! V́ sao chẳng t́m tôi? Tôi
chẳng bằng họ, họ t́m tôi để làm ǵ? Người
ta muốn thành Phật ngay lập tức, tôi tụt sau
họ, họ t́m những ǵ ở trước chứ t́m
đằng sau làm ǵ? Họ nhất định t́m những
ǵ cao minh hơn, chẳng thể t́m kẻ kém họ!
Quư vị phải biết giảng kinh
không bằng Niệm Phật! Niệm Phật công phu
đắc lực đúng như lăo ḥa thượng Đế
Nhàn nói (lăo ḥa thượng Đế Nhàn là pháp sư
giảng kinh), Ngài thấy người đồ đệ
làm thợ vá nồi của ḿnh văng sanh, Ngài cảm thán. Ngài
nói ǵ? “Thành tựu của ông
cao hơn phương trượng trụ tŕ các tùng lâm
trong thiên hạ nhiều lắm, những thiện tri
thức hoằng Tông nghiên Giáo (hoằng dương Thiền
Tông, nghiên cứu Giáo Hạ) trong thiên hạ, những pháp
sư ấy chẳng bằng được ông!”
Đúng vậy, nói không sai, kể cả chính bản thân
Ngài. Người thợ vá nồi duyên tốt, thực
sự làm được! Duyên của pháp sư Đế
Nhàn chưa được, Ngài muốn niệm Phật,
người ta đến thỉnh giáo, người ta
thỉnh ḿnh đi giảng kinh, ḿnh làm cách nào đây?
Người thợ vá nồi không ai biết đến,
chắc chắn không có ai t́m. Ông ta không biết chữ,
đó là duyên thù thắng. Do đây, chúng ta chẳng thể
không hiểu rơ: Nổi danh, tiếng tăm lớn có
tốt hay chăng? Không tốt đâu!
Lúc càng nổi danh, chướng ngại
càng nhiều! Người t́m đến ḿnh nhiều quá,
bị người ta t́m th́ bận rộn, khiến cho công
phu của ḿnh bị gián đoạn, khiến ḿnh bị xen
tạp, công phu chẳng thuần. Dù có văng sanh, phẩm
vị cũng không cao. Nếu như quư vị thực
sự hiểu được đạo lư này, quư vị có
c̣n muốn tranh danh hay chăng? Tranh danh, tranh lợi chỉ
khiến cho chính ḿnh chuốc phiền, những điều
này đều phải có trí huệ chân thật mới
hiểu rơ nổi, không có trí huệ chân thật là không xong!
Người thế gian ngỡ danh lợi là tốt,
đối với người tu đạo, danh lợi là
chướng ngại, đại chướng ngại,
chướng ngại quư vị tinh tấn. V́ thế,
phương pháp ấy của lăo ḥa thượng Đế
Nhàn hết sức đáng tuân thủ.
Trước kia, tôi ở rất
nhiều đạo tràng tại Mỹ quốc, tôi
đều khuyên mọi người dùng phương pháp sau
đây, họ bảo tôi phương pháp này hết sức
hay. Cùng tu một chỗ, dẫu cùng tu chung một chỗ
vẫn là mỗi người mỗi tu, chỉ có âm thanh
niệm Phật, âm điệu thống nhất. Ngoài ra, đều
tùy thuộc vào sự thuận tiện cho chính ḿnh. Một
Niệm Phật Đường chia thành ba khu vực: Trong
đó một bộ phận đối trước
tượng Phật lễ Phật, đó là khu vực
lễ Phật. Hai bên Phật đường, dựa sát
tường là khu vực tịnh tọa. Giữa khu
vực tịnh tọa và lễ Phật là khu vực
nhiễu Phật. Anh thích nhiễu Phật th́ đi
nhiễu Phật theo đường đó. Anh nhiễu
Phật mệt rồi, muốn ngồi xuống nghỉ
một chút, “chỉ tịnh” nh́n vách, đi đến bên
tường anh bèn ngồi xuống. Chỉ có người
nhiễu Phật niệm Phật ra tiếng, người
tịnh tọa không niệm ra tiếng, chỉ niệm thầm,
hoặc niệm theo lối Kim Cang Tŕ: Miệng động,
nhưng không vang ra tiếng, dưỡng thần, khôi
phục thể lực. Lễ Phật chẳng niệm ra
tiếng, nghe âm thanh Phật hiệu, hoặc là cứ
một câu Phật hiệu lễ một lạy, hoặc
hai câu Phật hiệu lễ một lạy. Lễ Phật
nhanh hay chậm miễn sao tiện cho chính ḿnh.
Phương pháp này tốt hơn bất
cứ phương pháp nào khác, đúng là già trẻ
đều thích hợp. Người già cả thể
lực yếu, tốc độ lễ Phật rất
chậm, người trẻ tuổi lễ Phật rất
mau. Nếu quư vị muốn gơ dẫn khánh, cùng lúc lạy
xuống, cùng lúc đứng lên; có lúc người cao
tuổi theo không kịp, ắt sanh phiền năo. Bởi
vậy, chúng tôi không dùng dẫn khánh, mỗi người
tự lễ, hoàn toàn không có áp lực, hoan hỷ! Hết
sức thích hợp cho xă hội hiện thời, cốt ư
chẳng giữ những khổ hạnh vô ích. Nói thật
ra, những khổ hạnh ấy đối với chúng ta
vô ích, chúng tôi không dùng.
Hỷ Giác Phần: “Trụ chân pháp hỷ, bất y điên đảo chi
pháp nhi hỷ” (Trụ vào chân pháp hỷ, chẳng vui theo
pháp điên đảo). Chân pháp hỷ th́ công phu tu học
đắc lực, sự hỷ duyệt ấy từ
nội tâm lưu xuất; “vui
nơi pháp điên đảo” nghĩa là ǵ? Chính là
những ǵ khích động bên ngoài! Người thế gian
ham thích ngũ dục, lục trần, chỗ vui chơi,
dạ hội trong thế gian. Lúc tôi ước chừng hai
mươi tuổi, lúc đó vừa mới ra
trường, từng ở Thượng Hải bốn
tháng. Tối đến, bè bạn thường cùng nhau
đi hộp đêm (nighclub) chơi, những hộp đêm
đó là những nơi chốn “vui
theo pháp điên đảo”. Những nơi ca vũ,
những nơi hư kịch đều là “vui do nương theo pháp điên đảo”.
Trụ trong chân pháp hỷ, nương
vào giáo huấn của thánh hiền để tu hành; trong tu
hành có pháp hỷ, công phu đắc lực có pháp hỷ,
đắc định, khai huệ. Nghiên cứu kinh giáo cũng
có pháp hỷ, khế nhập cảnh giới, pháp hỷ
sung măn. Thánh hiền thế gian đọc sách của thánh
hiền thế gian khế nhập cảnh giới, Phu
Tử nói cũng chẳng vui ư: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt
hồ?” (Học rồi thường thực hành,
cũng chẳng vui ư?). Đó là nương theo chánh pháp mà
sanh ḷng hoan hỷ. Hỷ trong Thất Giác Chi chẳng
phải là sự vui mừng thông thường, không có
nghĩa như vậy. Hỷ lạc như vậy
chẳng gọi là Giác Chi, chẳng ăn nhập, chẳng dính
dáng ǵ tới Bồ Đề cả. Nhất định
phải tương ứng với Giới - Định -
Huệ, phải là Pháp Hỷ.
Thứ tư là Trừ Giác Chi, Trừ (除) là đoạn trừ. “Đoạn trừ chư kiến phiền năo, bất
tổn chân chánh thiện căn” (Đoạn trừ các
kiến phiền năo, chẳng tổn hoại thiện
căn chân chánh), phải hiểu điều này! Vừa
đoạn trừ phiền năo vừa chẳng tổn
hoại thiện căn chân chánh bằng cách nào đây? Chỗ
này quư vị nhất định phải hiểu. Trong kinh
luận, đức Phật nói rất nhiều, chúng ta nghe
cũng đă quen tai: “Phiền
năo tức Bồ Đề”. Quư vị thấy trong Thất
Bồ Đề Phần, nếu phiền năo chính là Bồ
Đề, phải đoạn trừ phiền năo th́ chẳng
phải là Bồ Đề cũng cần phải
đoạn ư? Thiện căn bị tổn thất
rồi! “Đoạn các
kiến phiền năo”, các kiến ở đây là tà
kiến, lại c̣n “chẳng
tổn thiện căn chân chánh”, nghĩa là sao? Chuyển
phiền năo thành Bồ Đề th́ phiền năo không có
nữa, phiền năo biến thành Bồ Đề, duyên do là
như thế.
Chuyển như thế nào? Ở đây
là giác và mê, lúc mê là phiền năo, sau khi giác ngộ là Bồ
Đề. Chúng tôi nêu thí dụ dễ hiểu nhất! Dường
như trong cuộc đời của mỗi một vị
đồng học đều gặp phải người
khác hữu ư hay vô ư hủy báng ḿnh, quư vị nghe xong rất
tức giận; đó là sanh phiền năo. Người ta
hủy báng quư vị, quư vị tiếp nhận. Trong tâm quư
vị sanh sân hận, lại c̣n nghĩ cách báo thù, ấy là
sanh phiền năo. Nếu quư vị đă giác ngộ, quư
vị chẳng thèm để ư. Càng hủy báng nghiêm
trọng, quư vị càng niệm A Di Đà Phật, tôi
thường nói quư vị phải cảm tạ
người đó. V́ sao? Người ta tiêu nghiệp
chướng thay cho quư vị! Quư vị thấy đó: Phiền
năo chẳng có th́ Bồ Đề bèn sanh khởi! Trong những
thí dụ giống như vậy đó, th́ một niệm là
giác hay mê; một niệm giác th́ phiền năo bèn chuyển
thành Bồ Đề!
Tai nạn nghiêm trọng nhất là như
trong kinh Phật đă kể: Nhẫn Nhục tiên nhân
gặp phải vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Đó
là tai nạn nghiêm trọng nhất, đúng là oan uổng! Nhẫn
Nhục tiên nhân chẳng có chút lầm lỗi ǵ, cớ sao
vua Ca Lợi lại nổi nóng? V́ sao lại phát sanh sân tâm
lớn như thế, xử tử Nhẫn Nhục tiên
nhân? Câu chuyện này được chép tường tận
trong kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Kim Cang chỉ
nhắc tới, chứ không nói kỹ. Vua Ca Lợi dẫn
theo rất nhiều đại thần văn vơ và quyến
thuộc trong cung đi săn, cũng đáng là chuyện
rất cao hứng, rất hưng phấn. Những cung
nữ được vua dẫn theo gặp Nhẫn
Nhục tiên nhân, trông thấy một vị tu đạo
khổ hạnh trong núi, rất hiếu kỳ, bèn hỏi
han tiên nhân. Nhẫn Nhục tiên nhân thuyết pháp cho họ,
họ nghe pháp hết sức hoan hỷ. Vua Ca Lợi
thấy như vậy, đương nhiên [trong số những
tùy tùng của vua] cũng có oan gia đối đầu, tâu
“gă này giả tu hành, chứ không phải thật tu, đang trêu
ghẹo cung nữ”. Vua Ca Lợi nghe xong, hết sức giận
dữ, truyền xử tử h́nh, xử tử bằng cách
lăng tŕ.
Đây là oan uổng rất lớn,
sỉ nhục rất lớn, nhưng Nhẫn Nhục tiên
nhân giác chứ không mê, chẳng những không hận vua, tâm không
oán hận một chút nào, Nhẫn Nhục Ba La Mật viên
măn, chẳng hề có mảy may tâm báo thù, Tŕ Giới Ba La
Mật viên măn, lại c̣n cảm tạ vua Ca Lợi, phát
nguyện: “Trong tương lai
tôi thành Phật, người thứ nhất tôi sẽ
độ chính là nhà vua”. Đó chẳng phải là “đoạn các kiến phiền
năo, thành tựu Vô Thượng Bồ Đề” ư?
Chẳng những [thiện căn] không bị tổn, mà c̣n
thành tựu Vô Thượng Bồ Đề! Chúng ta
phải nhớ kỹ, nghịch cảnh ác duyên
thường gặp phải, khi gặp rồi, quư vị
hăy nghĩ Phật, Bồ Tát thị hiện, dạy chúng ta
phải xử sự trong nghịch cảnh, đối
xử với ác duyên như thế nào, phải học theo
trí huệ cao độ của Phật, Bồ Tát, chuyển
phiền năo thành Bồ Đề.
Tiếp đến là Xả Giác Chi. “Xả sở kiến niệm trước
cảnh, vĩnh bất truy ức” (Bỏ chấp
trước vào những cảnh đă trông thấy hay
nghĩ đến, vĩnh viễn chẳng nhớ lại). Giữa Xả và Trừ th́:
Trừ là đối nội, bên trong ta có sân khuể, báo thù,
th́ đó là phiền năo bên trong. Xả là đối với
cảnh giới bên ngoài, tức cảnh giới ngũ
dục, lục trần bên ngoài thường dụ dỗ,
mê hoặc ta, ta trông thấy hay nghe thấy, nhưng
chẳng chấp vào tướng. Đối với
những cảnh giới ấy, quư vị chẳng chấp
tướng, cảnh nào đă qua, vĩnh viễn chớ nên
hoài niệm. Cứ mỗi lần quư vị hoài niệm là
lại gieo một chủng tử vào A Lại Da Thức,
đó là tạo nghiệp! Khẩu không tạo, thân cũng
không tạo, nhưng ư tạo nghiệp. Phải
thường nhớ rằng: “Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm
những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp,
như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng); đức
Phật giảng chân tướng sự thật như
thế. Phàm phu rất khó giác ngộ, rất khó liễu
giải. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, thuyết pháp suốt
bốn mươi chín năm, đúng là thiên ngôn vạn
ngữ, nhưng Ngài chẳng ngừng lập đi lập
lại những điều quan trọng nhất, chúng ta
nghe đă quen tai, nhưng chẳng thể thọ dụng, hễ
cảnh giới hiện tiền bèn mê lập tức. V́ sao
biết là mê? Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước sanh khởi, vô dụng!
Các nhà khoa
học hiện tại cũng rất cần cù, họ dùng phương pháp
khoa
học, dùng cách suy đoán cao sâu của Toán Học để
dần dần làm sáng tỏ đôi chút Thật Tướng
của các pháp như đă được nói trong kinh
Phật. Ví dụ như Phật nói “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”, “hết thảy pháp hữu vi như mộng,
huyễn, bọt, bóng”. Những điều này mọi
người nghe quá quen rồi, kinh Kim Cang nói như vậy.
Hiện thời, các nhà khoa học phát hiện (cư sĩ
Chung Mậu Sâm hồi trước đă từng giảng
diễn về chuyện này ở đây) rằng
dưới một điều kiện nào đó, thời
gian và không gian sẽ bằng zéro. Kinh Đại Thừa
thường nói thời gian dài vô lượng kiếp,
một sát-na là thời gian ngắn ngủi. Vô lượng
kiếp có thể rút ngắn thành một sát-na, một sát-na
có thể triển khai thành vô lượng kiếp. Thời
gian không c̣n nữa!
Cơi Phật ở phương khác
khoảng cách xa xôi, như kinh Di Đà đă nói: Sa Bà cách
Cực Lạc mười vạn ức cơi Phật. Trong
cảnh giới nào đó, chúng ta ngồi ở đây, A Di
Đà Phật ở đâu? Ở ngay trước mặt chúng
ta. A Di Đà Phật không đến, ta cũng không đi, nhưng
ở ngay trước mặt nhau, vậy là xa - gần không
c̣n nữa, không gian không c̣n nữa. Hiện tại, do suy
luận Toán Học, các khoa học gia thấy dưới
một điều kiện nào đó, không có không gian, không có
xa - gần, không có quá khứ, hiện tại, vị lai,
không có thời gian. Kinh Phật nói như vậy, khoa
học gia gật đầu: “Tin tưởng
được!” Nói đến khởi nguyên của vũ
trụ là như thế nào, các nhà khoa học cũng dần
dần phát hiện giống như kinh Phật dạy: “Nhất thời đốn
hiện, sát-na chẳng trụ”. Dần dần khoa
học cũng chứng minh được những
chuyện này.
Dẫu họ chứng minh
được, chứng minh trên mặt lư luận th́ không
có vấn đề ǵ: “Có khả năng có những
chuyện như vậy!”, nhưng họ chẳng thể
khế nhập cảnh giới ấy. Những cảnh
giới kinh luận dạy cho chúng ta biết đều
thuộc về định lực rất sâu. Định
lực rất sâu làm cho vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước của chúng ta đều bị đoạn
trừ hết, chân tướng của vũ trụ hiển
hiện rơ ràng. Trong kinh điển Đại Thừa,
đức Phật thường gọi chân tướng
sự thật là “cảnh
giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn”. Sự
giải thoát ấy là đại tự tại, đại
tự tại chẳng thể nghĩ bàn, chẳng có xa -
gần, chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai,
chẳng có sanh - diệt; tức là “bất sanh, bất diệt, bất khứ, bất
lai, bất thường, bất đoạn, bất
nhất, bất dị” (không sanh, không diệt, không
đến, không đi, không thường, không đoạn,
không một, không khác); Trung Quán Luận gọi là “bát bất”. Cảnh giới
chẳng thể nghĩ bàn là cảnh giới của Pháp
Thân Bồ Tát, là cảnh giới Nhất Chân pháp giới.
Nhất Chân pháp giới và mười pháp giới là một,
chứ không phải hai, lạ lùng lắm! Một niệm
giác th́ thế giới này đúng là Nhất Chân pháp giới;
một niệm mê, thế giới này là ngũ trược
ác thế. Thế giới không có giác hay mê, giác hay mê, nhiễm
hay tịnh là do chính ḿnh.
Bởi vậy, như chúng tôi
thường nói Xả là buông xuống, buông xuống
vạn duyên, buông thân tâm thế giới xuống, quan
trọng nhất là buông xuống vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. V́ sao? Cảnh giới bên
ngoài không chướng ngại, lư sự vô ngại, sự
sự vô ngại. Chướng ngại là do vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước phát sanh. Do
đây biết rằng: Chướng ngại chẳng do
cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên ngoài không
chướng ngại. Phàm phu chúng ta lầm lạc, cứ
tưởng chướng ngại ở bên ngoài; đức
Phật dạy chúng ta cảnh giới bên ngoài không gây
chướng ngại.
Thứ sáu là Định Giác Phần: “Ư chư Thiền Định
cảnh giới, bất sanh ái kiến vọng tưởng”
(Trong các cảnh giới Thiền Định, chẳng sanh
ái kiến vọng tưởng). Câu sau hết sức quan
trọng. Cảnh giới Thiền Định hết
sức khoái lạc, Thiền Duyệt làm thức ăn mà!
Bởi thế, lắm người đắc Thiền
Định chẳng thể nâng công phu lên một mức cao
hơn là v́ tham đắm cảnh giới Thiền Định.
Tứ Thiền Bát Định là như vậy, họ
chẳng thể ra khỏi luân hồi, đắm say mùi
vị Thiền Định, vị ấy là pháp vị.
Chấp vào đó, chấp không chịu bỏ, trong Phật
pháp thường gọi là “chấp tướng”. Do chấp
tướng nên sanh khởi tham ái. Tham ái vẫn là vọng
tưởng. Bởi thế, phải đặc biệt
cảnh tỉnh chính ḿnh: Quư vị có trí huệ cao
độ th́ trong bất luận cảnh giới Thiền
Định nào, quư vị cũng có thể hưởng thụ,
nhưng chớ nên chấp trước; vậy mới là
đúng, chẳng nẩy sanh một chút tác dụng phụ
nào. Cảnh giới hiện tiền của chúng ta cũng
như vậy, chúng ta có thể hưởng thụ cảnh
giới ấy, nhưng chớ nên chấp trước.
Nếu quư vị sanh khởi phân biệt, chấp
trước, th́ là lầm mất rồi, rắc rối
xảy ra liền.
Cuối cùng là Niệm Giác Chi. Niệm
Giác Chi là “Định Huệ
cân bằng”. Nếu Định vượt quá Huệ
bèn hôn trầm; Huệ vượt quá Định bèn lao chao.
Lao chao là trong tâm vọng niệm tơi bời. Có hiện
tượng vọng niệm tơi bời là Huệ
nhiều Định ít. Hôn trầm là Định nhiều,
Huệ ít. V́ thế phải luôn giữ cho Định
Huệ quân b́nh, đều là thuộc về trí huệ. A!
Bây giờ đă hết giờ rồi!
*
Phần trên chúng tôi đă giới
thiệu Thất Bồ Đề Phần; b́nh thường dụng công tu học
bất cứ một pháp môn nào th́ Thất Bồ Đề
Phần luôn là nguyên lư nguyên tắc. Trong cuộc sống
thường nhật, xử sự, đăi người, tiếp vật, quan trọng là phải
biết sử dụng [những nguyên tắc đó],
biết tu luyện trong sinh hoạt thường nhật,
dùng sự việc để luyện tâm! Nói thật ra, trong
năm mươi ba lần tham học, Thiện Tài
đồng tử đă thực hiện công phu ấy
rất thuần thục, chúng ta cũng phải học
tập điều này.
Đoạn cuối cùng, “Bát Thánh Đạo phần”. “Bát Thánh Đạo, hựu
danh Bát Chánh Đạo, tu học thành tựu, chánh trí hiện
tiền, giác bất mê dă” (Bát Thánh Đạo, c̣n gọi
là Bát Chánh Đạo, tu học thành tựu, chánh trí hiện
tiền, giác chứ không mê). Bất luận tu học pháp
môn nào, quư vị nhất định phải dựa vào
Căn và Lực; để có thể điều tiết
thân tâm qua việc tu tập trong cuộc sống hằng ngày
th́ nhất định phải có Thất Bồ Đề
phần; chúng giúp quư vị biến chuyển cảnh
giới, thành tựu công phu chân thật. Bát Chánh Đạo
là “chánh trí hiện tiền”,
quư vị mới có thể thực sự đạt
đến “giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh
chứ chẳng nhiễm”. Trong Giác - Chánh - Tịnh, hễ
đạt được một điều th́ hai
điều kia đều đồng thời đạt
được. Người giác chứ không mê nhất
định chẳng tà tri tà kiến, nhất định
chánh chứ không tà, tâm địa nhất định thanh
tịnh, tịnh chứ không nhiễm. Nếu tâm
địa người ấy nhiễm ô là không giác, nếu
kiến giải bất chánh th́ người ấy cũng
không giác. V́ thế một mà ba, ba nhưng một,
đạt được một điều bèn
đạt được hết.
Trước hết, chúng ta xem
điều thứ nhất trong Bát Chánh Đạo: “Chánh Kiến: Tu vô lậu hạnh
quán, kiến Tứ Đế phân minh” (Chánh Kiến: Tu vô
lậu hạnh quán, thấy Tứ Đế phân minh).
Lậu (漏)
là tên gọi khác của phiền năo. Thế nào là Vô Lậu?
Nói đơn giản nhất, dễ hiểu nhất th́
Lậu là tên gọi khác của phiền năo. Kinh Hoa Nghiêm nói:
Trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
th́ chấp trước là Kiến Tư phiền năo, phân
biệt là Trần Sa phiền năo, vọng tưởng là Vô
Minh phiền năo. Như vậy, nếu nói theo kinh Hoa Nghiêm
th́ mọi người sẽ dễ hiểu: Lậu là
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vô
Lậu là không có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Quư vị quan sát vũ trụ,
nhân sinh, hết thảy sự, hết thảy
người, hết thảy vật trong cuộc sống
thường nhật trọn chẳng xen tạp vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Đó là “tu Vô Lậu Quán”.
Kiến giải chính xác, chánh tri chánh kiến, quư vị “thấy Tứ Đế phân minh”. Tứ
Đế là hai thứ nhân quả. “Khổ, Tập” là nhân
quả thế gian; “Diệt, Đạo” là nhân quả
xuất thế gian. Chúng tôi thường nói: Tánh -
tướng, sự - lư, nhân - quả trong vũ trụ rơ
ràng, rành mạch, phân minh; đó là Chánh Kiến. Nói theo cách của
người hiện thời th́ là “có Vũ Trụ Quan và
Nhân Sinh Quan chính xác”. Nói đúng ra, người
thế gian không hề có Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan chân
chánh. V́ sao không có? V́ bị vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước xen tạp vào đó, chẳng
thấy rơ rệt chân tướng. Đức
Phật đúng là tuyệt diệu! Đức Phật
dạy chúng ta trừ bỏ chướng ngại, quan sát chính
xác th́ mới thực sự thấy được
chân tướng. Đó là Chánh Kiến.
Thứ hai là Chánh Tư, c̣n gọi là Chánh
Tư Duy. “Bát Nhă vô tri, vô sở
bất tri, thị Tư” (Bát Nhă vô tri nhưng không ǵ chẳng
biết, là Tư). Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích
đại sư giảng là “dĩ
vô lậu tâm tương ứng tư duy, động phát giác
tri trù lượng, vị linh tăng trưởng nhập đại
Niết Bàn” (dùng sự tư duy tương ứng với
tâm vô lậu để khởi lên sự nhận biết,
tính toán, ngơ hầu tăng trưởng, nhập đại
Niết Bàn). Đó là Chánh Tư Duy. Chúng tôi giải thích
đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, nhưng
không trái nghịch ư nghĩa. Tôi dùng kinh Bát Nhă để nói: “Bát Nhă vô tri”. Vô Tri là Căn
Bản Trí, Vô Tri là Thiền Định rất sâu, chứ
không phải là chẳng biết ǵ cả, nó biết
chứ! Nhưng nó không khởi tác dụng, tác dụng
ấy là Tự Thọ Dụng, chưa phải là Tha
Thọ Dụng. Hiểu rơ hết thảy nhưng lại
như như bất động, trong kinh Đại Thừa
chúng ta thường đọc thấy: “Tịch mà thường chiếu, chiếu nhưng
thường tịch”. Bát Nhă vô tri là như vậy
đấy.
Tịch là một niệm chẳng sanh,
Chiếu là rành rẽ, rơ rệt, minh bạch, tỏ
tường. Giống như ǵ? Giống như
nước, gió im, sóng lặng, nước thanh tịnh, chẳng
ô nhiễm mảy may, giống hệt như một tấm
gương, thường chiếu, thường tịch!
Nước chẳng lay động một chút nào, chúng ta
nghĩ xem trong cảnh giới ấy, nước giống
như ǵ? Như tâm! Lúc tâm tịch tĩnh bất
động bèn chiếu, chẳng phải là không chiếu,
tự nhiên chiếu, chẳng phải hữu ư chiếu,
cũng chẳng phải vô ư, hữu ư lẫn vô ư
đều không có, nó vốn sẵn là như vậy.
Bởi thế, trong Phật pháp thường nói: “Pháp nhĩ như thị” (pháp
vốn là như thế). “Pháp
nhĩ như thị” nghĩa là tự nhiên, vốn
sẵn là như thế. Một tấm gương
chiếu rất rơ ràng, rành rẽ, cảnh giới ấy
thuộc về quả địa của chư Phật
Như Lai.
Chẳng những Phật đă nhập
cảnh giới ấy, chúng tôi nói mọi hàng Bồ Tát
Tịch Diệt Nhẫn cũng đều nhập cảnh
giới ấy. Tịch Diệt Nhẫn là Pháp Vân
Địa Bồ Tát, những Đẳng Giác Bồ Tát
đều thuộc cảnh giới ấy, cao hơn cảnh
giới Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nếu đem Vô Sanh Pháp Nhẫn so
với Tịch Diệt Nhẫn th́ Tịch Diệt Nhẫn
giống như nước hoàn toàn lặng yên, chẳng
động chút nào; c̣n Vô Sanh Pháp Nhẫn vẫn c̣n một
chút lăn tăn. Quư vị phải rất chú tâm mới có thể
nhận biết; nếu không chú tâm th́ về căn bản
quư vị chẳng biết tâm ḿnh đang động. Dù sóng
gợn rất nhẹ, vẫn có thể chiếu
được cảnh giới bên ngoài rất rơ ràng. Chúng
ta thấy mặt hồ lặng yên khi im gió, mặt hồ
phản chiếu bóng núi soi ngược xuống, cảnh
ấy hết sức đẹp. Nếu quư vị nh́n
kỹ vẫn thấy mặt hồ gợn sóng lăn
tăn, dẫu chẳng phải là sóng lớn, nhưng
chưa phải là hoàn toàn b́nh lặng, điều đó
giống như cảnh giới của Vô Sanh Pháp Nhẫn
Bồ Tát. Cảnh giới Tịch Diệt Nhẫn dẫu chỉ
một tí sóng gợn cũng không có. Bát Nhă vô tri giống như
thế đó, “không ǵ chẳng
biết” là khởi tác dụng. Quư vị đồng học
nhất định phải hiểu: Đối với chư
Phật, Bồ Tát, đừng nói đến những
Bồ Tát nào khác, hễ là Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát th́
phải là từ Thất Địa Bồ Tát trở lên.
Tịch Diệt Nhẫn của Phật,
Bồ Tát đúng là trọn pháp giới khắp hư không
giới, hễ nơi nào có chúng sanh Cảm (tức là có duyên,
có cảm đối với Phật, Bồ Tát), Phật,
Bồ Tát lập tức hiện thân thuyết pháp ở nơi
đó. Hiện thân là Ứng Hóa Thân. Đáng dùng thân nào
để [người nghe pháp đắc] độ, bèn
hiện thân đó, tuyệt đối chẳng nghĩ ta
phải hiện thân nào! Không hề có ư tưởng như
vậy, hoàn toàn tự nhiên! Nếu quư vị phải
nghĩ “ta muốn hiện thân nào?” th́ quư vị là phàm phu,
chẳng phải là Bồ Tát. Chúng ta nghĩ không ra [cảnh
giới siêu việt ấy] nên nói là “chẳng thể nghĩ bàn”. Hiện thân hữu
t́nh, hiện thân vô t́nh. Ba mươi hai ứng thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát thực sự chẳng hề
khởi tâm, chẳng hề động niệm, tức là
Ngài vĩnh viễn trụ trong cảnh giới tịch
tĩnh.
Ngài đến ứng hóa bên chúng ta, Thích
Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này thị hiện tám
tướng thành đạo, Ngài có thực sự động
niệm hay chăng? Không hề có! Nếu Ngài thực
sự động niệm là bị thoái chuyển mất
rồi, thoái chuyển với một mức độ
rất lớn. Thực sự chẳng khởi tâm,
chẳng động niệm, Ngài vĩnh viễn trụ
trong Tịch Diệt Nhẫn, trong thanh tịnh tịch
diệt, tự nhiên hiện thân. Hiện thân, khởi tác
dụng là “không ǵ chẳng
biết”. “Không ǵ chẳng biết” do đâu mà có? Không
đâu chẳng biết là do “vô
tri” mà có. Bởi đâu đức Phật có trí huệ
lớn lao đến như thế? Bất luận ai,
bất luận nghi nan tạp chứng cỡ nào, cứ
đến thỉnh giáo đức Phật, đức Phật
lập tức giải đáp, chưa hề nghĩ
ngợi ǵ, không hề có! Hễ quư vị hỏi là đức
Phật lập tức đáp ngay; tại sao vậy?
Tịch Diệt Nhẫn giống như chúng tôi vừa
mới nói: Nước hồ b́nh tịnh, không có chút sóng gợn
nào, chiếu rất rơ ràng. Nếu quư vị hỏi
Phật, Phật có biết chăng? Đương nhiên biết
rất rơ!
C̣n quư vị v́ sao không rơ? V́ tâm quư
vị chẳng thanh tịnh! Chúng sanh và Phật có cùng
một tâm, nhưng tâm Phật thanh tịnh chẳng khởi
sóng ṃi, tâm chúng sanh nổi ba đào vô minh. Ba đào không
nhỏ đâu, bốn mươi mốt phẩm vô minh
chẳng phải là ba đào nhỏ nhặt, “phân biệt” là
sóng gió lớn, “chấp trước” là ba đào đáng kinh
hăi. Quư vị thấy chúng ta có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước thật phiền quá! Do
vậy, cái ǵ cũng chẳng rơ, Phật, Bồ Tát có
đến dạy ta, ta nghe cũng chẳng hiểu rơ. Các
Ngài v́ ta thị hiện, chúng ta cũng chẳng thấy rơ. V́
nguyên nhân nào? Tâm thủy của ta ba đào cuồn cuộn,
sóng to, gió lớn. Gió là ǵ? Là gió cảnh giới thổi
động, chẳng kháng cự được sự
dẫn dụ, mê hoặc của cảnh giới bên ngoài. Mắt
thấy sắc, tai nghe tiếng lập tức khởi tâm
động niệm, một chút công phu định lực
cũng chẳng có. Không có công phu định lực th́ một
tí trí huệ cũng chẳng thể có!
Huệ do đâu mà có? Huệ
từ Định mà có, chúng ta nhất định phải
hiểu đạo lư này. Bởi thế, đức
Phật có Chánh Tư Duy, Pháp Thân Bồ Tát có Chánh Tư Duy,
minh tâm kiến tánh. Các Ngài có Chánh Tư Duy, nghĩa là các Ngài
suy nghĩ đúng đắn, như phần trên đă nói
đến Chánh Kiến (kiến giải đúng
đắn), tư duy như vậy là chánh tri. Trong nhà
Phật thường nói “chánh tri chánh kiến”, chánh tri là
Chánh Tư Duy, chánh kiến chính là Chánh Kiến trong Bát Chánh
Đạo. Cách nghĩ, cách nh́n của quư vị không sai
lầm, hoàn toàn là trí huệ. Tôi nói như vậy chắc
quư vị dễ hiểu.
Thứ ba là Chánh Ngữ: “Trừ tứ tà mạng, nhiếp chư khẩu nghiệp,
danh Chánh Ngữ” (Trừ bốn thứ tà mạng,
nhiếp các khẩu nghiệp gọi là Chánh Ngữ).
Thế nào là bốn thứ Tà Mạng? Trong Chú Giải có
giải thích, trong Phật Học Đại Từ
Điển và Giáo Thừa Pháp Số cũng có nói. Bốn
thứ này quá nửa nói về người xuất gia,
nhưng hiện thời kẻ tại gia cũng phạm
bốn bệnh này.
1) Thứ nhất là Phương Khẩu
Thực (方口食):
Trong cuộc sống thường
nhật, chúng ta thích bợ đỡ kẻ quyền quư,
giống như thời cổ gọi là “thuyết khách”, du
thuyết tứ phương để hưởng danh
văn, lợi dưỡng. Ở đây, phải
đặc biệt chú ư một điều: V́ làm lợi cho
chính ḿnh, v́ đạt danh văn, lợi dưỡng cho
chính ḿnh. Mục đích là như vậy! Từ đây mà
khởi tâm th́ gọi là Tà Mạng. Nếu chánh tri chánh
kiến, tuyệt đối chẳng v́ bản thân ḿnh, mà
v́ an toàn xă hội, nhằm lợi ích cho chúng sanh, th́ lại
là cứu khổ cứu nạn, đại từ
đại bi. Đó là Chánh Ngữ.
Phương Khẩu Thực như trong
thời cổ có Tô Tần, Trương Nghi, bọn họ
hoàn toàn v́ bản thân, v́ công danh phú quư của bản thân, nên
du thuyết nơi các chư hầu [của nhà Châu], nơi
quư nhân hiển đạt, mưu cầu địa vị
cao sang bất ngờ, chẳng phải v́ quốc gia, dân
tộc, chẳng v́ lợi ích của chúng sanh, mà v́ lợi
ích cá nhân. V́ thế, họ chẳng phải là thánh nhân, mà là
phàm phu. Đó là một loại. Chúng ta phải hiểu (chỉ
sợ quư vị hiểu lầm): Nếu người ta thực
sự cần quư vị, nếu quư vị quả thật có
trí huệ, có duyên phận, v́ an toàn xă hội, v́ lợi ích
của chúng sanh mà có thể làm chút việc ǵ đó, nhưng
quư vị không làm th́ trật mất rồi! Bởi vậy,
ở đây một đằng là v́ bản thân, một đằng
là v́ người khác. V́ người khác là Chánh Ngữ; v́ bản
thân th́ là Tà Mạng.
2) Loại thứ hai là Duy Khẩu
Thực (維口食):
Thật ra chữ Thực ở đây
nếu nói như bây giờ th́ chính là “cách kiếm sống”.
Duy Khẩu Thực là dùng chú thuật, xủ quẻ,
đoán mạng, xem tướng, xem Phong Thủy. Dùng những
phương cách kiếm sống ấy để
được chúng sanh cung phụng th́ gọi là Duy
Khẩu Thực.
3) Loại thứ ba là Ngưỡng
Khẩu Thực (仰口食):
Ngưỡng Khẩu Thực bây giờ
gọi là “dự ngôn”. Ngửa trông tinh tú tiên đoán tốt
- xấu, họa - phước, cũng nhằm để
được người ta cung phụng, nuôi nấng.
Từ xưa đến nay, xưa nay trong ngoài nước
đều có [những hạng người này]. Nói chung,
chúng sanh đều mong “xu cát tỵ hung” (hướng lành,
tránh dữ); bởi thế, đối với những dự
ngôn cũng rất quan tâm, xem trọng. Trước mỗi
năm đầu tiên của một thế kỷ, xưa
nay trong nước ngoài nước luôn có những dự
ngôn tiên đoán lúc đó ắt có tai nạn lớn, thậm
chí những kinh điển viết về ngày tận
thế: Vào những lúc ấy có rất nhiều tai nạn
xảy ra! Những kiểu như vậy thuộc loại
Ngưỡng Khẩu Thực.
4) Loại thứ tư là Hạ Khẩu
Thực (下口食):
Hạ Khẩu Thực là tự ḿnh
trồng trọt. Đức Phật quy định
đệ tử xuất gia phải khất thực,
tự ḿnh chẳng gieo trồng. V́ sao? Gieo trồng ắt
có thâu hoạch, ắt có sản phẩm, dễ khởi tâm
tham. Phật chế định phương thức như
vậy đều nhằm đoạn trừ tham - sân - si -
mạn. Mỗi ngày đi khất thực, người ta
cho ǵ ăn nấy, chẳng có tâm tham, chẳng có phân
biệt, kiêu căng, ngạo mạn chắc chắn không
khởi lên được. Tự ḿnh trồng trọt
sản xuất, ta có thâu hoạch, khởi tâm tham, khởi
ngạo mạn: “Năm nay ta trúng mùa nhiều, các ngươi
coi ta thâu hoạch hơn bọn ngươi nhiều
lắm” nên dẫn khởi phiền năo. Đức Phật
chẳng hứa khả, chỉ chấp nhận cho ta
khất thực, những phương thức sanh sống
khác đức Phật đều không cho. Đó là bốn
thứ Tà Mạng.
V́ những phương thức sanh
sống này đều liên quan đến khẩu nghiệp,
chúng ta gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), hoa ngôn
xảo ngữ, trong ấy chẳng thể tránh khỏi
vọng ngữ, lưỡng thiệt (nói đôi chiều). Ỷ
ngữ nhằm đánh động tâm người khác, hy
vọng người khác cung phụng, châu cấp, đó
đều là Tà Mạng, đều là sai trái. Do đây, chúng
ta cũng thấy được chỗ dụng tâm của
đức Thế Tôn nhằm làm cho chúng ta chẳng khởi
phiền năo, thường sanh chánh niệm. “Nhiếp các khẩu nghiệp”: Khẩu nghiệp
là vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, ác
khẩu, quyết định chẳng có, không vọng
ngữ, không lưỡng thiệt, không ỷ ngữ, không
ác khẩu. Đó là Chánh Ngữ.
Thứ tư là Chánh Nghiệp: “Trừ thân nhất thiết tà
nghiệp” (Trừ hết thảy tà nghiệp nơi thân).
Nghiệp là tạo tác, chính đang trong lúc tạo tác th́
gọi là Sự. Quư vị làm chuyện ǵ, đang trong lúc
tạo tác th́ gọi là Sự, làm xong việc th́ kết
quả của nó gọi là Nghiệp. Bởi thế,
người thế gian thường nói gom lại là
“sự nghiệp”. Sự là đang trong lúc tạo tác,
Nghiệp là kết quả của tạo tác. Hết
thảy những nghiệp nào trái nghịch trí huệ chân
thật th́ những nghiệp đó chẳng phải là Chánh
Nghiệp. Nói cách khác cho mọi người dễ hiểu
hơn: Quư vị theo đuổi một sự nghiệp
nào, kể cả việc học Phật, tu hành, nếu
trong đó xen tạp vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước th́ những nghiệp ấy đều
là tà nghiệp, chẳng phải là Chánh Nghiệp! Chánh Nghiệp
chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước th́ mới là Chánh Nghiệp.
Nói “trụ
thanh tịnh chánh thân nghiệp” cũng là nói quư vị
theo đuổi bất cứ việc ǵ, hạnh nghiệp
tốt đẹp đến đâu th́ dù là xuất gia hay
tại gia đều như nhau, quư vị nhất
định phải tương ứng với chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi th́ mới
là Chánh Nghiệp! Chẳng tương ứng với
những điều trên th́ là tà nghiệp. Hàng xuất gia giảng
kinh, thuyết pháp, mục đích giảng kinh thuyết pháp
là ǵ? Mục đích nhằm nâng cao danh tiếng, hy vọng
mọi người tôn kính ḿnh, hy vọng mọi
người cúng dường ḿnh, đó là tà nghiệp,
chẳng phải chánh nghiệp. Giảng kinh thuyết pháp
nhằm tiếp nối huệ mạng của Phật, v́
hoằng pháp lợi sanh, v́ giúp chúng sanh phá mê khai ngộ,
chuyển phàm thành thánh, chuyển ác thành lành, tuyệt
đối chẳng có xen tạp mảy may lợi ích cho
bản thân vào đó, đấy là Chánh Nghiệp. Nói cách
khác, có chút xíu vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
nào xen tạp vào đó th́ Chánh Nghiệp biến thành tà
nghiệp, chánh - tà do đây mà phân định!
Thứ năm là Chánh Mạng: “Trừ tam nghiệp trung ngũ
chủng tà mạng, trụ thanh tịnh chánh mạng” (Trừ
khử năm thứ tà mạng nơi tam nghiệp, trụ
trong chánh mạng thanh tịnh). Mạng ở đây là sanh
mạng, phàm phu đều hy vọng sống lâu hơn
một chút, mạng tốt hơn một chút. Ở trên,
trong phần Ngữ Nghiệp (tức phần Chánh Ngữ) đă
nói đến bốn thứ Tà Mạng là những phương
thức sanh sống; năm thứ Tà Mạng nói ở
đây rất gần với bốn thứ Tà Mạng
ấy, nhưng vẫn có sai biệt. Chánh Mạng không
chỉ có nghĩa là sống đúng lư, mà chữ Chánh trong
Bát Chánh Đạo có nghĩa là “vô
lậu huệ, nương vào trí huệ chân thật”.
Trong trí huệ chẳng xen tạp
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ gọi là Vô Lậu Huệ,
nói
như vậy th́ quư vị dễ hiểu hơn.
Trong trí huệ xen tạp vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, hoặc nói
dễ hiểu hơn nữa là trí huệ xen tạp tự
tư tự lợi, xen tạp ḷng mong cầu danh văn,
lợi dưỡng cá nhân, xen tạp tham - sân - si - mạn
th́ hết thảy đều bất chánh, đều
biến thành tà. Không xen tạp, trọn chẳng xen tạp
tự tư tự lợi, trọn chẳng xen tạp danh
văn, lợi dưỡng, trọn chẳng xen tạp tham
- sân - si - mạn th́ là trí huệ chân chánh, hết thảy
đều chánh. Trong ba nghiệp thân - khẩu - ư, bốn
thứ Tà Mạng nói ở trên toàn là khẩu nghiệp;
ở đây bao gồm cả thân và ư, phạm vi của
năm thứ Tà Mạng này càng lớn hơn nữa.
Loại Tà Mạng thứ nhất là “trá hiện dị tướng kỳ
đặc” (dối hiện tướng tướng
lạ đặc biệt), tâm thuật bất chánh, cố
ư làm ra vẻ khác người, thời cổ cũng có! Tu
khổ hạnh: Khổ hạnh là điều
được tôn giáo Ấn Độ cổ xưa kính
ngưỡng, Phật pháp cũng hết sức tôn
trọng. Tu hành khổ hạnh nhằm mục đích ǵ?
Mục đích nhằm làm cho người khác nẩy sanh
ḷng tin, sanh tâm cung kính, cúng dường ḿnh, mục đích
là như vậy. Tâm thuật bất chánh, như tôi vừa
mới nói “xen tạp danh văn, lợi dưỡng, xen
tạp tự tư tự lợi”. Do chẳng có
đức hạnh chân chánh nên dùng những phương pháp
ấy. Đó là loại thứ nhất.
Thứ hai là tự ḿnh khen công
đức của chính ḿnh, “vị
lợi dưỡng, tự thuyết công đức” (v́
lợi dưỡng nên tự nói công đức của ḿnh).
Mục đích nhằm dẫn dụ người khác,
vẫn là mong cầu danh văn, lợi dưỡng cho chính
ḿnh, v́ danh văn, lợi dưỡng nên tự khoe công
đức.
Thứ ba là “chiêm
tướng cát hung” (xem tướng tốt xấu), v́
người khác thuyết pháp, nhưng trong khi thuyết pháp
lại xen tạp bói toán, xem tướng, đoán mạng,
xem Phong Thủy, dạy người ta xu cát tỵ hung (hướng
lành, tránh dữ) như thế nào, mục đích
đều là v́ tham lam, tham cầu lợi dưỡng.
Thứ tư là “cao thanh hiện oai, linh nhân úy kính” (lớn
tiếng ra oai khiến cho người ta nể sợ). Dùng
đủ mọi phương pháp đều nhằm cùng
một mục đích: Tự ḿnh không có oai đức bèn
dùng những phương thức khác [để ra oai],
với hy vọng thỏa dục vọng, thỏa tư
lợi của chính ḿnh.
Thứ năm là “thuyết sở đắc cúng dường” (khoe
những thứ ḿnh được cúng dường), nói
người này cúng dường bao nhiêu, người nọ
cúng dường bao nhiêu, cốt ư dụ dỗ người
khác làm theo. Những kiểu như vậy chắc chắn
không thể chấp nhận được!
Năm thứ này, đức Phật
đều gọi là dùng những ư niệm thiếu chánh đáng
để đoạt lấy
danh văn, lợi
dưỡng’ nhờ vào đó để
nuôi thân nên gọi
là
năm thứ Tà Mạng. Phật pháp nhất định
không chấp nhận!
“Thanh
tịnh chánh mạng”, câu này
nghĩa là sao? Người học Phật, bất luận
xuất gia hay tại gia, nhất định phải tuân
thủ sự giáo huấn của đức Phật. Đối
với của cải, đức Phật đă nói rất
rơ, bất luận tại gia hay xuất gia, bố thí là
chánh nhân của giàu có. Quư vị chịu tu bố thí th́ làm
sao cuộc sống vật chất của quư vị
thiếu hụt cho được? Hết thảy cúng
dường bố thí chẳng cầu mà tự nhiên có, v́
nguyên nhân nào? Do ḿnh thường tu bố thí cúng
dường. Tín đồ cúng dường bố thí
nhiều quá, chính ḿnh chẳng dùng hết, liền đem
bố thí cho người khác, thay họ tu phước,
phước của ḿnh cũng nằm trong đó. Quư vị
thấy đó: Người ta cúng dường ḿnh, ḿnh
đem cúng dường bố thí lại cho người
khác, ḿnh có phước, người ta cũng có
phước, ḿnh lẫn người đều có
phước. Nếu ḿnh chẳng chịu bố thí,
muốn tham cầu hưởng thụ, tự ḿnh chẳng
có phước báo ǵ, người cúng dường ḿnh
cũng chẳng được phước. Không gieo
được phước th́ sao? Nhà Phật thường
nói: “Kim sanh bất liễu đạo; phi mao đới
giác hoàn” (Đời này chẳng liễu đạo, mang
lông, đội sừng đền), tương lai vẫn
phải trả nợ. Người ta bố thí cúng
dường quư vị bao nhiêu, tương lai quư vị
phải trả lại bấy nhiêu, lại c̣n phải
trả thêm tiền lời, phiền phức lắm!
V́ thế, người có trí huệ không
tích cóp, hễ thấy trong thế gian chỗ nào cần
thiết bèn nhanh chóng bố thí. Kinh luận thường nói
bố thí cúng dường phước vô biên! Tà mạng
đều là mê hoặc điên đảo, thiếu trí
huệ, tâm tự tư tự lợi quá nặng. Tâm
hạnh ấy là tạo nghiệp, có phước ở chỗ
nào? Dùng những thủ đoạn dối trá để
đối phó người khác, lầm lẫn quá lớn.
Thứ sáu, Chánh Tinh Tấn: “Cần hành tinh tấn, tu Niết
Bàn đạo” (Siêng hành tinh tấn, tu đạo
Niết Bàn). Do vậy, mọi thứ đều
nương theo trí huệ chân thật. Nay Chánh Tinh Tấn của
chúng ta là ǵ? Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ!
Cầu sanh Tịnh Độ là đạo Đại Niết
Bàn. Trong một đời này, chúng ta nhất định phải
thực hiện viên măn, có thành tựu được hay
không toàn là do quư vị có tinh tấn hay không? Nếu quư
vị vẫn biếng nhác, vẫn buông lung, tinh thần ư
chí chẳng thể tập trung th́ rất khó nói. Đời
này quư vị kết thiện duyên cùng A Di Đà Phật,
nhưng đời này chưa về được. V́ sao?
Chẳng phù hợp điều kiện thành cư dân Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đơn
giản vậy thôi! Quư vị chẳng đạt yêu
cầu, yêu cầu quan trọng nhất là “tâm tịnh th́
cơi nước tịnh”, tâm quư vị chẳng thanh
tịnh!
V́ sao tâm chẳng thanh tịnh? V́ xen
tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước.
Điều này thực sự là quan trọng nhất, vọng
niệm quá nhiều. Bởi thế, chúng tôi thường
hay nói: “Chúng ta không bằng những bà cụ già, không
bằng những kẻ ngu si, cái ǵ họ cũng không
hiểu, chữ cũng không biết luôn, nhưng họ có
đức hạnh thực sự. Đức hạnh
của họ là ǵ? Họ không ngạo mạn, luôn khiêm
tốn nhún nhường, trong hết thảy lúc, hết
thảy chỗ chẳng dám đứng trước
người khác. Khiêm nhường! Đó là đức hạnh.
Chất phác là đức hạnh của họ, họ không
mong mỏi điều ǵ xa xỉ, không có bất cứ mong
cầu ǵ, chất phác, thật thà niệm Phật. Vọng
tưởng ǵ cũng chẳng sanh, đều buông
xuống hết, niệm mấy năm bèn thành công”. Chúng ta
cậy ḿnh thông minh, tự cho ḿnh là phi phàm nên chẳng
thể văng sanh. Chúng ta coi những người ấy không
ra ǵ, chẳng thèm để vào mắt, nhưng họ thành
Phật rồi, bọn họ chánh tinh tấn! C̣n bọn
chúng ta loạn tấn, tạp tấn, cái ǵ cũng muốn
học, chuyện ǵ cũng không buông xuống
được, tệ hại là v́ vậy!
“Chánh Niệm:
Niệm chánh đạo cập trợ đạo pháp” (Chánh Niệm: Niệm pháp chánh
đạo và trợ đạo). Trong pháp môn này, Chánh Đạo
là ǵ? “Phát Bồ Đề tâm, một
dạ chuyên niệm” là chánh đạo! Trợ
đạo là ǵ? Đoạn hết thảy ác, tu hết
thảy thiện, tích công chứa đức, hồi
hướng Tịnh Độ. Chúng ta tu Ngũ Giới, tu
Thập Thiện, tu Lục Độ, tu Tứ Nhiếp, tu
ba mươi bảy Đạo Phẩm đều gọi
là pháp Trợ Đạo. [Những ǵ] giúp chúng ta dứt
tập khí, đoạn phiền năo, giúp chúng ta kiên
định tín nguyện, giúp chúng ta nhất tâm tinh tấn
th́ là pháp trợ đạo. Đó là Chánh Niệm.
Cuối cùng là Chánh Định: “Dĩ vô lậu huệ tương
ứng nhập Định” (Dùng vô lậu huệ
tương ứng để nhập Định). Tâm
phải định, kinh Di Đà nói “nhất tâm bất
loạn” chính là Chánh
Định; “tâm chẳng điên đảo” là Chánh Huệ.
Nhất tâm bất loạn là đă khuất phục
được phiền năo của chính ḿnh (chúng tôi không nói “diệt”
hay “đoạn phiền năo” v́ công phu ấy rất sâu, chúng
ta chưa thể làm được). Một câu A Di Đà
Phật niệm cho khéo, tín tâm, nguyện tâm, tâm niệm
Phật khiến cho tất cả phiền năo tập khí,
tức là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước đều bị khuất phục, đè nén
được chúng, chẳng cho chúng khởi hiện hành,
đó là bước đầu của Niệm Phật tam-muội,
chúng ta thường gọi là “công
phu thành phiến”. Công phu thành phiến là như thế
nào? Là như thế này đây: Phiền năo tập khí
chưa đoạn, nhưng chẳng thể hiện hành.
Sáu căn của chúng ta tiếp xúc
với cảnh giới sáu trần bên ngoài, nhưng chấp
trước chẳng khởi, phân biệt chẳng
khởi, vọng tưởng chẳng khởi th́ chính là
“công phu thành phiến”. Đó là Niệm Phật tam-muội
sơ cấp. Quư vị đạt được Niệm
Phật tam-muội, chắc chắn văng sanh Phàm Thánh
Đồng Cư độ là chuyện nắm chắc!
Chúng ta thấy sắc nghe hương mà vẫn khởi
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́
quư vị phải nhớ kỹ: Chưa có công phu chân
thật, vẫn bị cảnh giới bên ngoài xoay
chuyển. Dù có niệm Phật, vẫn chưa đạt
được công phu thành phiến. Chẳng đạt
được công phu thành phiến th́ không thể đoan
chắc sẽ văng sanh . Quư vị nghĩ xem: Việc này
lớn lao lắm, trọng yếu lắm!
Kinh nói đến “vô lậu huệ”, tức là trong trí huệ không
xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Quư vị phải nhớ thật kỹ câu này:
Xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ vô lậu huệ không c̣n nữa, kinh
Phật gọi cái trí huệ quư vị có đó là “thế
trí biện thông”, không phải là trí huệ chân thật, mà là
thế trí biện thông! Thế trí biện thông khác với
trí huệ chân thật ở chỗ này: Một đằng
có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước;
một đằng không có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. Có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước là thế trí biện thông;
không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
là trí huệ chân thật, là “vô lậu huệ”. Tâm
định rồi, “dùng vô
lậu huệ tương ứng nhập Định”.
Tốt! Tám điều danh tướng đă giới
thiệu cùng quư vị xong rồi. Bây giờ đă hết
giờ rồi.
Tập
18
Xin xem tiếp phần “thuyết pháp
trang nghiêm”, đoạn cuối cùng là Bát Chánh Đạo.
Tám điều này trong lần trước
chúng tôi đă giới thiệu danh tướng và ư nghĩa
đại lược cùng quư vị; nhưng chúng ta
biết tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn
đều tương ứng với cương lănh, nguyên
tắc dạy dỗ của đức Thế Tôn, nhưng
trong mỗi pháp môn bất đồng bèn có cách giải thích
bất đồng, quư vị nhất định phải
hiểu điều này th́ sự tu học hiện tiền
của chúng ta mới đạt lợi ích, mới ḥng
đạt được mong cầu. Ngày nay chúng tôi cùng các
đồng tu học pháp môn Tịnh Độ; nay trong pháp
môn Tịnh Độ, Bát Chánh Đạo được
giải thích bằng cách nào? Nhất định phải
biết điều này.
“Chánh
Kiến”: Chúng ta thấy y báo
và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc
thế giới như đức Thế Tôn đă dạy
trong kinh bèn tin chắc, chẳng hoài nghi; đó là Chánh
Kiến. Chánh Kiến của chúng ta chẳng do trực
tiếp thấy được thế giới Tây
Phương, mà là do được nghe đức Thế
Tôn giới thiệu. Đối với đức Thế
Tôn, chúng ta có tín tâm kiên định. Lăo nhân gia tuyệt
đối chẳng lừa dối chúng ta, lời lăo nhân gia
quyết định giống như kinh Kim Cang đă nói: “Như Lai thị chân ngữ giả,
thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống
ngữ giả” (Như Lai là bậc chân ngữ, thật
ngữ, như ngữ, bậc chẳng nói lừa dối).
Chúng ta tin tưởng mỗi câu mỗi chữ trong lời
Phật đều là chân thật. Chánh Kiến của chúng
ta được kiến lập trên Tịnh Độ tam
kinh, tin sâu chẳng nghi. Đó là Chánh Kiến của
Tịnh Độ Tông.
Chánh Tư Duy của Tịnh Độ
Tông là như Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Ức Phật, niệm Phật,
hiện tiền đương lai, tất định kiến
Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện
tiền, tương lai, nhất định thấy
Phật), đó là Chánh Tư Duy! Để nghĩ nhớ y
báo và chánh báo trang nghiêm của thế giới Cực
Lạc, cũng phải đọc thuộc kinh
điển, phải thường nghĩ tới y báo và
chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế
giới được nói trong kinh điển, phải
thường nhớ tưởng! Chánh Kiến vừa nói
ở trên là Tín tâm, c̣n ở đây là tư duy, thường
xuyên nghĩ đến. V́ sao? Nếu chẳng nghĩ
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
sẽ suy nghĩ loạn xạ liền! Suy nghĩ loạn
xạ là nghiệp luân hồi. Trong tâm suy nghĩ bậy
bạ chính là tạo nghiệp luân hồi, trong tương
lai phải chịu quả báo luân hồi. Bởi vậy,
chúng ta phải chuyển cái tâm luân hồi, chuyển ư
niệm luân hồi, chuyển cái nghiệp luân hồi thành
tịnh nghiệp Tây Phương. Chúng ta nghĩ đến
thế giới Cực Lạc, nghĩ đến y báo và
chánh báo trang nghiêm dạy trong kinh Vô Lượng Thọ,
nghĩ đến bốn mươi tám nguyện của A
Di Đà Phật, nghĩ cách thực hiện những
điều đó trong cuộc sống thường
nhật như thế nào, chúng ta nghĩ như vậy th́ ư
nghĩ ấy tốt lành!
Thế nào là Chánh Ngữ của Tịnh
Độ học nhân? Chánh Ngữ là một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, câu
ấy là Chánh Ngữ của chúng ta. Bởi thế, chúng ta
chào hỏi nhau đều chắp tay “A Di Đà Phật”;
người ta gọi tên ḿnh, ḿnh đáp A Di Đà Phật.
Chúng ta nhận điện thoại, cầm điện
thoại lên bèn “A Di Đà Phật”, Chánh Ngữ của chúng
ta là như vậy. Thời thời khắc khắc
niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật.
Chánh Nghiệp của chúng ta là ư
nghiệp tưởng A Di Đà Phật, thân nghiệp
lễ bái A Di Đà Phật, khẩu nghiệp niệm A Di
Đà Phật, đó là tam nghiệp của Tịnh tông.
Chánh Mạng: Tùy theo cái nghiệp báo thân
của chính ḿnh, sống được một ngày th́
suốt ngày đó niệm A Di Đà Phật, y giáo phụng
hành. Ba nghiệp thân - ngữ - ư diễn nói, v́ người
khác diễn nói; lúc lâm chung tâm chẳng điên đảo, rơ
ràng rành rẽ, minh bạch, phân minh, không bị bệnh
khổ, đứng mà mất, ngồi mà mất, biểu
diễn cho người khác thấy, chẳng dễ dàng
đâu! Con người có ai không chết? Ai nấy
đều phải chết, nhưng ai ra đi tự
tại, tiêu sái, rơ ràng minh bạch như thế
được? Phải là người niệm Phật!
Đó là v́ người khác biểu diễn, v́ người
khác diễn nói, vô cùng có sức thuyết phục. Những
chuyện ấy khoa học không thể giải thích, v́
đó là siêu khoa học! Khoa học là hữu hạn, có
hạn cục, có giới hạn, thế nhưng vẫn có
một nền học vấn không có hạn cục, không có giới
hạn mà khoa học chưa phát hiện được.
Chúng ta nhất định phải biết điều này.
Thế giới tâm linh siêu việt khoa
học, nói cách khác, phạm vi của khoa học chỉ
thuộc nhân đạo (thế giới loài người).
Nhân đạo chỉ là một pháp giới trong
mười pháp giới, pháp giới này hữu hạn,
chẳng có biện pháp đột phá không gian nhiều
chiều, chẳng thể thích hợp cho mười pháp
giới. Nhất định phải hiểu đạo lư
này, nếu không hiểu, quư vị sẽ bị hạn
chế trong phạm vi của lục đạo luân
hồi, chẳng thể ra khỏi lục đạo luân
hồi! Không ra khỏi lục đạo luân hồi th́ nói
cách khác: Đúng như sự thật đă được
giảng trong kinh Phật, thời gian quư vị ở trong
tam ác đạo dài lâu, thời gian trong ba thiện
đạo ngắn ngủi.
Phật pháp nói đến giác và mê; nói
đến mê tín th́ nói đúng ra là mê tín tôn giáo, mê tín cổ
thánh tiên hiền. Nếu chúng ta rất lắng tịnh,
rất khách quan quan sát th́ những niềm mê tín ấy so ra
có lợi hơn nhiều so với mê tín khoa học. V́ sao?
Cổ thánh tiên hiền, tôn giáo nói đến không gian
nhiều chiều vượt ngoài nhân gian, nó có thật, chứ
chẳng phải không có. Linh giới (thế giới tâm
linh) thực sự tồn tại, hiện nay có không ít
những người trong giới khoa học chấp trước
cứng ngắc vào khoa học, nhưng khi tiếp xúc
với những “linh môi” (Medium: Những người có
khả năng giao tiếp với cơi âm[2]),
họ bèn tin tưởng. Từ kinh nghiệm bản thân, [họ
nhận thấy] quả đúng là có linh giới. Những nhà
khoa học này cả mấy chục năm mê muội khoa
học, rốt cục tin tưởng. Họ viết
rất nhiều báo cáo, gần đây được in thành
sách, quư vị hăy tự t́m đọc.
Ở Trung Quốc và ngoại quốc có
rất nhiều người quay đầu tin
tưởng, khẳng định sự tồn tại
của linh giới. Chữ “linh
giới” là phiếm chỉ, nói chung, chín pháp giới ngoài
pháp giới của con người ra đều gọi là “linh giới”. Linh[3] có
cao thấp khác nhau, trong tất cả các tôn giáo th́ Phật
giáo giảng rơ ràng nhất, giảng thấu triệt
nhất. Chẳng những giảng chánh báo rất rơ
rệt, mà ngay cả y báo cũng được giảng hết
sức rơ ràng: “Y chánh trang nghiêm”
(y báo, chánh báo trang nghiêm). Bởi thế, nghiệp là
những ǵ tạo tác bởi thân - ngữ - ư. Nếu không
trái nghịch kinh giáo th́ là Chánh Nghiệp, trái nghịch kinh
giáo là tà nghiệp, là sai lầm.
Thế nào là Chánh Mạng? Ấn Quang
đại sư giảng rất hay: Nhất tâm niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, không hóa duyên, không làm
pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, mỗi ngày
đều giống như đang tu Phật thất.
Học hội và Tịnh Tông Học Viện của chúng ta
thêm vào một môn công khóa nữa là giảng kinh, giải
hạnh tương ứng. Đó là Chánh Mạng của
chúng ta, chúng ta lấy đó làm mạng sống. Đạo
tràng hiện thời không có hằng sản, không có nguồn
kinh tế cố định, chúng ta không hóa duyên th́ sống
bằng cách nào? Chuyện này không một ai phải lo
ngại cả. Tôi không quan tâm, v́ sao tôi không quan tâm?
Chương Gia đại sư dạy tôi: “Nhất tâm hướng về đạo, nhất
tâm v́ pháp, v́ chúng sanh, Phật, Bồ Tát sẽ an bài cả
đời này cho ḿnh, ḿnh không cần phải nhọc ḷng”.
Hôm nay không có ǵ ăn, nhịn đói
một ngày cũng là Phật, Bồ Tát an bài, không một
chút ǵ phải bận ḷng cả! Phật, Bồ Tát an bài cho
ḿnh chịu đói một ngày th́ cái ngày nhịn đói ấy
chắc chắn có cái hay, chẳng dở đâu. Huống
hồ chúng ta mỗi ngày “v́
người khác diễn nói” là tu bố thí, tôi đă nói điều
này rất nhiều. Tuy chúng ta không có Tài Bố Thí (ngoại
tài bố thí), nhưng chúng ta nội tài bố thí, mỗi
ngày diễn nói cho mọi người xem. Nội tài bố
thí, pháp bố thí, vô úy bố thí ngày ngày chẳng gián
đoạn nên quả báo rất thù thắng, cái ǵ cũng
không thiếu, chẳng cầu mà có.
Năm mươi năm nay đích thân chúng tôi thể nghiệm
đúng thật là như vậy, tôi không hoài nghi chút nào,
quyết chẳng v́ cuộc sống vật chất mà sanh
khởi vọng niệm, không hề có. Quư vị có tín tâm ấy
hay không? Quư vị có thể tin nổi hay không? Đạo
tràng có thần hộ pháp hộ tŕ, ngoài Phật hộ
niệm ra c̣n được thần hộ pháp hộ tŕ,
quư vị dốc tâm nơi đạo, hạnh nơi
đạo, thần hộ pháp cũng phải chiếu
cố. Nếu tâm hạnh của quư vị trái nghịch
với đạo, thế nào là đạo? Đạo là
những đạo lư, những phương pháp
được giảng trong kinh điển, chúng ta luôn tuân
thủ th́ là “tâm và hạnh đều ở nơi
đạo”. Nếu chúng ta không tuân thủ th́ tâm và hạnh
đă tách rời khỏi đạo. Tách khỏi
đạo th́ Phật, Bồ Tát không c̣n cảm ứng
nữa, thần hộ pháp cũng bỏ đi luôn,
chẳng c̣n chiếu cố nữa.
Khi nào quư vị sanh tâm sám hối: “Tôi
lầm, tôi quay đầu”, Phật, Bồ Tát lại
đến, thần hộ pháp cũng quay lại. Thần hộ
pháp, Phật, Bồ Tát chẳng giận, tâm và hạnh của
quư vị tương ứng với đạo, các Ngài bèn
đến, trái nghịch với đạo, họ bèn
đi. Bởi vậy, phải tương ứng mới tốt.
Ngày ngày niệm kinh v́ cớ ǵ? Cầu cho kiến giải,
tư tưởng, ngôn hạnh của chính ḿnh tương
ứng với kinh điển, chẳng trái nghịch.
Mục đích và dụng ư chân chánh của việc
đọc tụng kinh điển là ở chỗ này.
Sống như thế gọi là Chánh Mạng.
Chánh Tinh Tấn: Thâm nhập một môn,
trường thời huân tu, nhất định không
biếng nhác. Trước hết là thành tựu “công phu thành
phiến” của chính ḿnh. Công phu thành phiến sẽ hoàn
toàn khống chế được vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Đúng là những
thứ ấy chưa đoạn, nhưng chúng chẳng
thể phát tác. Trong nghịch cảnh và ác duyên cũng
chẳng sanh phiền năo, chẳng sanh tâm nóng giận. Trong
thuận cảnh thiện duyên cũng chẳng khởi tham
luyến, đó là công phu thành phiến, quư vị khuất
phục được chúng. Phật, Bồ Tát dạy chúng
ta: Công phu như vậy mới bảo đảm văng sanh,
nhưng quư vị nhất định phải giữ
được công phu ấy măi măi, chẳng thể hờ
hững, xem nhẹ được. Phải biết: Tập
khí phiền năo rất nặng, thời gian tích lũy
tập khí phiền năo rất dài. Nếu chúng ta lăng ư
một chút, chúng lại bùng phát liền, rắc rối to!
Bởi thế, thời thời khắc khắc đều
phải đề cao cảnh giác, chẳng dám lơ là chút
nào.
Đạt đến Sự Nhất Tâm
sẽ hoàn toàn khống chế được chúng,
chẳng cần phải tác ư nó vẫn bị khống
chế. Đạt đến Lư Nhất Tâm là tốt
nhất, chuyển hết những phiền năo ấy thành
Bồ Đề, đấy thực sự là đoạn
phiền năo. Cảnh giới Lư Nhất Tâm hoàn toàn
tương đồng với “minh tâm kiến tánh” của
Tông môn, thường gọi là “phá một phẩm vô minh,
chứng một phần Pháp Thân”. Niệm Phật
đạt đến Lư Nhất Tâm Bất Loạn chính là
cảnh giới này. Cảnh giới ấy không phải cá
nhân nào cũng đều có thể chứng
được, nhưng đối với công phu thành
phiến có thể nói là nếu mỗi người chịu
dụng công, tuân thủ những điều kinh
điển răn dạy, y giáo phụng hành, ai cũng
đều có thể đạt được công phu thành
phiến.
Đạt được mức ấy
th́ như chúng tôi vừa nói đó, trong thuận cảnh
thiện duyên chẳng khởi tham luyến, trong nghịch
cảnh ác duyên chẳng sanh sân khuể, hết sức
tự nhiên, chẳng phải là cố ư khống chế, cố
ư đè nén! Nếu phải cố ư đè nén th́ quư vị c̣n
đang trong giai đoạn tu học, chưa đạt
được công phu thành phiến. Thực sự
đạt được công phu thành phiến th́ chẳng
cần phải tác ư, mà là tự nhiên, phản ứng
rất tự nhiên, cảnh giới tốt đẹp mà!
Không khó! Điều này mọi người thực sự có
thể làm được. Từ Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục và Văng Sanh Truyện, chúng ta thấy những
người niệm ba năm đạt được
cảnh giới này rất nhiều. V́ sao người khác đạt
được, ḿnh không làm được? Do vậy, ta phải sanh tâm
hổ
thẹn!
Luyện công phu tại đâu? Trong cuộc
sống thường ngày, trong xử sự, đăi
người, tiếp vật. Người này đối
xử tốt với tôi, tôi đối xử tốt hơn;
cứ hễ tôi gặp người ấy, tôi nhất
định xử tốt với người ấy hơn
người ấy xử tốt với tôi, tôi báo đáp
người ấy, như câu nói: “Thọ nhân trích thủy chi ân, thường tư dũng
tuyền vi báo” (Nhận cái ơn nhỏ bằng giọt
nước của người, thường nghĩ dùng
cả mạch suối để báo đáp). Thế
nhưng người ấy chẳng ở trước
mặt tôi, trong tâm rỗng rang, chẳng lưu lại
dấu tích ǵ, đó là trí huệ, quyết định không
tham luyến. Hễ gặp mặt bèn báo ân, tâm cảm kích
tự nhiên sanh khởi. Đó mới là đúng, chẳng
phải là t́nh thức mà là trí huệ, tâm địa vĩnh
viễn thanh tịnh, b́nh đẳng, giác.
Cũng có những đồng học
hỏi tôi, có rất nhiều người hỏi tôi, Quán Trưởng
đă mất nhiều năm như vậy, sao thầy
vẫn c̣n tưởng niệm bà ta măi? Đúng vậy! Đấy
có phải là tham luyến hay chăng? Nếu thuộc vào
t́nh thức th́ là tham luyến, nếu thuộc vào chánh trí
th́ là giáo học. Ở đây chúng ta dựng một Kỷ
Niệm Đường kỷ niệm Quán Trưởng,
đó là giáo dục, giáo dục xă hội, dạy
đại chúng trong xă hội biết ân, báo ân. Trong quá
khứ, bà ta đối xử tốt đối với
chúng ta, chúng ta niệm niệm chẳng quên, biết ân, báo
ân mà! Đấy chính là giáo dục xă hội đa nguyên
văn hóa, đặc biệt là trong xă hội hiện
thời. Xă hội hiện thời “biết ân, báo ân”
rất ít, toàn là vong ân phụ nghĩa. Quả báo của vong
ân phụ nghĩa là tam đồ, quả báo của tri ân
báo ân là nhân thiên. Làm thế nào để giúp hết thảy
chúng sanh chẳng đọa tam đồ, lại c̣n có
thể hưởng phước báo nhân thiên, công đức
giáo dục ấy rất to lớn. Nếu làm
được như vậy mà tâm địa vẫn
giữ được thanh tịnh b́nh đẳng giác
sẽ siêu việt lục đạo luân hồi. Những
điều đó ở đây gọi là Chánh Nghiệp, Chánh
Mạng; v́ thế, quư vị phải hiểu ư nghĩa này.
Đối với người oán
hận, kẻ oan gia đối đầu, trong tâm chớ
nên có chút sân khuể, chớ nên có mảy may ư niệm báo
thù. Chẳng những không có, mà c̣n thời thời khắc
khắc phải chú ư, hễ khi nào họ gặp phải khó
khăn, ḿnh đến giúp đỡ, thường biết
oan gia phải hóa giải. Túc oán quá khứ, oán kết hiện
tại đều phải hóa giải hết, “oan gia nghi giải, bất nghi kết”
(oan gia nên gỡ, không nên buộc). Trong lúc kẻ ấy
gặp khó khăn, ta toàn tâm toàn lực giúp đỡ,
mặc kệ tỵ hiềm xưa kia, oan kết bèn hóa
giải. Phật pháp có vai tṛ ǵ trong thế gian? Chẳng
thể không biết điều này, Phật pháp có mặt
trong thế gian là để giáo hóa chúng sanh, không một
mảy may nào không nhằm dạy dỗ Giác - Chánh - Tịnh,
dạy dỗ Bát Chánh Đạo.
Thứ bảy là Chánh Niệm, niệm
ở đâu tâm bèn ở đó, Đại Thế Chí Bồ
Tát dạy chúng ta: “Ức Phật,
niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất
định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm
Phật, hiện tiền tương lai nhất
định thấy Phật). Đó là Chánh Niệm. Trong
mười hai thời chấp tŕ danh hiệu là Chánh
Niệm. Hết thảy ngôn hạnh hoàn toàn tương
ứng với những điều kinh luận dạy
dỗ là Trợ Niệm. Chánh - Trợ song tu nhất
định được văng sanh, nhất định
được thấy A Di Đà Phật, tương
ứng với Phật.
Chánh Định: Một đời
một kiếp này, ta tu hành pháp môn này, quyết định
chẳng thay đổi, nương theo kinh điển này,
quyết chẳng dao động, đó là Chánh Định.
Bát Chánh Đạo của Tịnh Độ Tông là như
thế đó!
Chúng ta lại xem tiếp câu kế: “Bát Chánh Đạo do Trạch
Pháp Giác Phần”, tức là điều thứ nhất
trong Thất Bồ Đề Phần, “bất y thiên tà, cố nhập Chánh Đạo” (chẳng
nương theo [những kiến giải, tư tưởng,
quan niệm, hành vi] lệc lạc, tà vạy, nên vào
được Chánh Đạo): Chọn lựa dứt khoát
pháp môn ta tu học cả đời. “Vô lậu thánh pháp” là Chánh, “năng thông Niết Bàn” (có thể thông với
Niết Bàn) là Đạo, Tịnh tông thực sự là chánh
đạo của mọi chánh đạo. Thế giới
Cực Lạc và phương pháp văng sanh thế giới
Cực Lạc là Chánh! Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, trong một đời nhất
định thành tựu viên măn Vô Thượng Bồ
Đề, đó là Đạo, đại đạo đấy!
“Tam thập
thất phẩm, thâu pháp tuy tận” (Tuy ba mươi bảy phẩm gồm
thâu trọn hết mọi pháp), ba mươi bảy môn này
là đại cương, bao quát tất cả những pháp
do mười phương ba đời hết thảy chư
Phật đă nói, đă tu, không có pháp nào ra khỏi ba
mươi bảy phẩm này; nhưng quư vị phải
biết “cơ duyên bất đẳng”
(cơ duyên chẳng giống nhau): Cơ (機) là cơ hội, Duyên (緣) là duyên
phận; duyên phận, cơ hội của mỗi cá nhân
trong từng đời chẳng giống nhau. V́ thế, “tác chủng chủng khai hợp”
(tạo thành các thứ pháp môn mở rộng hay gộp
lại [ba mươi bảy Đạo Phẩm này]), Khai (開) là triển khai, Hợp (合) là gộp lại. Triển khai [ba mươi
bảy môn Đạo Phẩm] sẽ thành vô lượng vô
biên pháp môn. Nếu quy nạp lại, gộp lại th́
chẳng ngoài Giác - Chánh - Tịnh, chẳng ngoài Giới - Định
- Huệ, thảy đều bao gồm trong ấy.
“Danh nghĩa
bất đồng, vô bất diễn sướng” (Danh nghĩa sai khác, không ǵ chẳng
diễn bày, giải nói thông suốt): Diễn (演) là chư Phật, Bồ Tát ngày ngày làm như
vậy cho chúng ta thấy. Quư vị phải thực sự
hiểu hữu t́nh lẫn vô t́nh đều là biểu
diễn. Chư Phật Như Lai biểu diễn ở
chánh diện, biểu diễn mặt Giác, lục
đạo chúng sanh biểu diễn mặt Mê. Chúng ta
ngồi dưới sân khấu xem diễn kịch, thấy
rất rơ ràng: Bên Giác th́ sáng sủa, bên Mê th́ tối tăm;
hành thiện được thiện quả, hành ác mắc
ác báo, khắp pháp giới trọn hư không giới
vốn là một sân khấu lớn. Chúng ta vừa là
diễn viên, vừa là khán giả trong ấy. Nơi sàn
diễn thông thường th́ diễn viên chẳng phải
là khán giả, khán giả chẳng phải là diễn viên.
Chúng ta tuyệt vời lắm, tuyệt vời đến
tột bậc! Vừa là diễn viên, vừa là khán giả,
đă là khán giả, lại là diễn viên. V́ thế, pháp này
gọi là “diệu pháp”.
Người tu hành chân chánh, người
tu Giác - Chánh - Tịnh, cái ǵ cũng quan sát, cái ǵ cũng nh́n,
thấy toàn thể vũ trụ đều là diễn viên.
Ở trong ấy, họ thành tựu Giới - Định -
Huệ, thành tựu Giác - Chánh - Tịnh, không pháp nào
chẳng rơ. Mười pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm,
tánh tướng, sự lư, nhân quả vằng vặc phân
minh là Huệ. Trong Bát Nhă không ǵ không biết; tuy không ǵ
chẳng biết nhưng trong tâm thanh tịnh chẳng
nhiễm mảy trần, như như bất động,
đó là Đại Định! Đại Định
ấy là chân tâm, Huệ là chân tâm sanh khởi tác dụng. Tâm
là tịch diệt, nhất định phải hiểu
điều này.
Qua danh hiệu, Thích Ca Mâu Ni Phật
đă dạy rơ: “Mâu Ni” (Muni)
là thanh tịnh tịch diệt. Đối với bản
thân chúng ta, nhất định phải tu thanh tịnh
tịch diệt. “Diệt”
là diệt phiền năo, diệt vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. Sáu căn đối với
cảnh giới sáu trần không có phân biệt, vọng
tưởng, chấp trước, đó chính là
tướng tịch diệt. Tâm đúng là như vậy,
đă thế, lại c̣n hết sức từ bi: Năng Nhân.
Thích Ca (Śākya) là Năng Nhân: Sống động
chứ không chết cứng, năng lượng và thông tin từ
cảnh giới bên ngoài đưa vào bèn lập tức có
phản ứng. Phản ứng ấy sanh khởi từ lư
thể của Tịch Diệt, nhất định không có
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xen
tạp trong ấy; đấy là Phật, là Pháp Thân Bồ
Tát. Nếu chúng ta không liễu giải, không hiểu rơ, không
minh bạch cảnh giới ấy, làm sao có thể tu
được? Phải hiểu rơ, phải minh bạch,
hiểu Phật, Bồ Tát là như vậy. Chúng ta phải
khéo học theo, thực sự nhập pháp giới vô
chướng ngại. Năng Nhân: Phổ độ hết
thảy chúng sanh, nhưng quư vị thấy đó, chẳng hề
trở ngại sự thanh tịnh tịch diệt của
chính ḿnh, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại. Nay
chúng ta mới biết chướng ngại phát sanh từ
đâu? Chướng ngại phát sanh từ phân biệt,
vọng tưởng, chấp trước; ĺa
được vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ sự sự vô ngại.
Bởi vậy, đến cuối cùng
sách Yếu Giải tổng kết: “Vô bất diễn sướng, cố linh văn giả
niệm Tam Bảo, phát Bồ Đề tâm, phục diệt
phiền năo dă” (Không ǵ chẳng diễn bày thông suốt,
nên khiến cho người nghe niệm Tam Bảo, phát
Bồ Đề tâm, chế phục, diệt trừ
phiền năo). Chế phục và diệt trừ là hai giai
đoạn. Trong công phu niệm Phật của chúng ta, thấy
rất rơ rệt: Công phu thành phiến là
chế phục, Sự nhất tâm bất loạn là
chế phục, Lư nhất tâm bất loạn là diệt,
phiền năo bị chuyển hết, chuyển phiền năo
thành Bồ Đề. Phải là Lư nhất tâm mới có thể
chuyển được. Do đây biết rằng: Công phu
thành phiến không ra khỏi lục đạo v́ nó là công
phu trong lục đạo; Sự nhất tâm bất
loạn siêu việt lục đạo v́ thuộc về
tứ thánh pháp giới, nhưng vẫn là chế phục;
đến khi phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân mới chuyển, mới thực sự
diệt phiền năo.
Chúng ta lại xem tiếp đoạn
kế đó: “Tam Bảo lược
thích” (giải thích Tam Bảo một cách sơ
lược). Tam Bảo nói đơn giản th́ có “biệt tướng Tam Bảo”,
có “nhất thể Tam Bảo”,
danh tự Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng.
1) Phật có ba thân Pháp, Báo, Ứng Hóa:
Pháp Thân Phật, Báo Thân Phật, Ứng Hóa Thân Phật.
Đó là chuyện thường nghe nói.
2) Pháp có bốn thứ: giáo pháp, lư pháp,
hành pháp, quả pháp, tức là Giáo - Lư - Hành - Quả. Quư
vị phải hiểu: Mỗi một bộ kinh bất
luận lớn - nhỏ như thế nào, bất luận
kinh văn sâu hay cạn thế nào, thảy đều
đầy đủ Giáo - Lư - Hành - Quả. Nếu một
bộ kinh chẳng có đủ bốn ư nghĩa ấy,
kinh ấy chẳng thể gọi là kinh Phật
được! Hễ là kinh Phật th́ nhất
định phải có đủ bốn phần sau đây:
Giáo - Lư - Hành - Quả.
3) Tăng, “Tam
thừa thánh hiền”: Thanh Văn thừa, Duyên Giác
thừa, Bồ Tát thừa. Trong ấy có hiền, có thánh,
thánh khác với hiền. Trong địa vị Bồ Tát,
hiền nhân là từ Sơ Trụ Bồ Tát đến
Thập Hồi Hướng, thánh nhân là từ Sơ
Địa cho đến Đẳng Giác, tam hiền
thập thánh[4], đó
là hiền thánh nơi địa vị Bồ Tát. Hiền
thánh trong Tiểu Thừa: Tứ Quả là Thánh, Tứ
Hướng là Hiền. Sơ Quả Hướng là
Hiền, Tu Đà Hoàn tính là Thánh. Nhị Quả Hướng
là Hiền, Tư Đà Hoàn là Thánh. Trong mỗi một
tầng cấp của Tam Hiền, Hiền Thánh lại khác
nhau! Hiền là c̣n đang trong địa vị tu học,
Thánh là đă chứng quả. Giống như chúng ta đi
học trong nhà trường vậy! Quư vị c̣n đi
học chưa tốt nghiệp, đang c̣n học là
Hiền, học xong, tốt nghiệp là Thánh, lấy
được học vị rồi th́ là Thánh. Giống
như quy chế trong các trường đại học
hiện tại trong thế gian, c̣n đang học trong
đại học là Hiền, ngày nào đó quư vị lấy
được bằng Học Sĩ (Cử Nhân) bèn thành Thánh,
tiểu thánh! Tiếp tục học theo ban Thạc Sĩ
(Cao Học), sinh viên ban Thạc Sĩ là Hiền, sinh viên
đều là Hiền. Tốt nghiệp chương tŕnh
Thạc Sĩ, giành được học vị Thạc
Sĩ (Master) gọi là Thánh, trung thánh. Nếu học tiếp
theo chương tŕnh Tiến Sĩ th́ sinh viên của ban
Tiến Sĩ là Hiền, tốt nghiệp Tiến Sĩ,
lấy được học vị Tiến Sĩ là
thượng thánh. Thượng - trung - hạ, tam thừa hiền thánh giống như vậy đó.
Trong Đàn Kinh, Lục Tổ
Huệ Năng đại sư của Thiền Tông vào đời Đường chẳng nói
đến Phật - Pháp - Tăng, Sư nói đến Giác -
Chánh - Tịnh. Lúc tôi mới đọc Đàn Kinh, tôi cứ
suy nghĩ v́ sao Ngài lại nói như thế? Ai cũng nói là
Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, sao Ngài lại nói Giác -
Chánh - Tịnh? Nhất định phải có duyên cớ.
Rất có khả năng là vào đời Đường,
đối với khái niệm Phật - Pháp - Tăng người
ta khá hồ đồ, chỉ biết danh hiệu,
chẳng biết ư nghĩa được bao hàm trong danh
từ. Nói cách khác, chưa thọ dụng được.
Lục Tổ đại sư có trí huệ, đại
từ, đại bi, Ngài đem ư nghĩa của Tam Bảo
chỉ rơ ra, khiến cho chúng ta dễ hiểu ḥng thọ
dụng được. Ngài truyền trao Tam Quy, chẳng
nói là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, Ngài không làm vậy!
Lúc Ngài truyền trao Tam Quy bèn nói “quy
y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh”. Ngài truyền trao như
vậy, quư vị đọc Đàn Kinh sẽ thấy,
rồi mới giải thích: “Phật
là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh”.
Bởi thế, nếu với Phật -
Pháp - Tăng Tam Bảo, chúng tôi thêm vào mấy chữ
nữa, mọi người càng nhận hiểu rơ ràng.
Thế nào là Phật? Giác chứ không mê là Phật. Thế
nào là Pháp? Chánh chứ không tà là Pháp. Thế nào là Tăng?
Tịnh chứ không nhiễm là Tăng. Giải thích như
vậy mọi người đều hiểu rơ rệt,
chẳng c̣n nói Phật Giáo là mê tín nữa! Nếu không,
người ta chẳng hiểu rơ ư nghĩa này, quư vị
nói đến Phật, người ta nghĩ đến
tượng Phật bằng đất nặn hay gỗ khắc
thành; quư vị nói đến Pháp, người ta nghĩ
đến kinh điển; quư vị nói đến Tăng,
người ta tưởng là người xuất gia. Nói
cách khác, hoàn toàn chấp vào tướng, chỉ chấp vào
tướng chẳng biết đến ư nghĩa! Bởi
thế, xă hội đại chúng đâm ra hiểu lầm
Phật giáo là mê tín!
Lục Tổ đại sư thuyết
pháp như vậy th́ quan niệm sai lầm ấy lập
tức bị hóa giải. Như vậy, người ta
hỏi quư vị Phật giáo là ǵ, quư vị cứ đem
lời của Lục Tổ đại sư bảo
với họ: Phật giáo là giác chứ không mê, chánh chứ
không tà, tịnh chứ không nhiễm. Lấy mười hai
chữ ấy để giới thiệu Phật giáo
một cách đơn giản cho người ta, chánh pháp
đấy! Đó là thường thức, đó là học
vấn đấy! A! Bây giờ đă hết giờ
rồi.
*
Chúng ta tiếp tục xem phần “Tam
Bảo lược thích”. Ở trên, tôi đă giới
thiệu đơn giản cùng quư vị Biệt
Tướng Tam Bảo, tiếp theo đây là nói về
Nhất Thể Tam Bảo.
Trong Nhất Thể Tam Bảo, Phật
có nghĩa là ǵ? “Trạm nhiên trí
chiếu, linh minh giác liễu” (trí chiếu soi thanh
tịnh, bất động, linh thông, sáng suốt, hiểu
biết trọn vẹn) chính là Phật. Trong tự tánh
vốn có sẵn đức năng, nói theo thuật ngữ
khoa học hiện thời, [đức năng] là năng
lượng. Năng lượng chẳng phải từ
bên ngoài mà có, cũng chẳng do tu thành, mà từ tự tâm.
Chân tâm ta vốn sẵn có, kinh Phật thường gọi
những ǵ sẵn có là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như vậy).
Chuyện ấy chẳng liên quan ǵ đến tu chứng,
bất sanh, bất diệt, không đến, không đi. “Bất
sanh, bất diệt” là không có sanh tử, “không đến,
không đi” là chẳng có không gian lẫn thời gian; “không
tăng, không giảm” là khi ḿnh giác ngộ, tâm ấy
chẳng tăng thêm, khi đang mê hoặc, tâm ấy
chẳng giảm thiểu, cho nên thường nói: “Tại thánh không tăng, tại
phàm chẳng giảm”, tánh đức mà! Hết thảy
chúng sanh ai nấy đều có đủ, hoàn toàn b́nh
đẳng. “Trạm nhiên”
là thanh tịnh, xưa nay chưa hề dao động,
đó là bản thể của tự tánh chân tâm, không có h́nh
tướng, nhưng không đâu chẳng tồn tại.
Hư không, pháp giới, cơi nước, chúng sanh do đâu mà có?
Kinh Hoa Nghiêm nói rất rơ: “Duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến” (chỉ do
tâm hiện, chỉ do thức biến).
Đây là nói theo mặt Thể. Chân tâm, bổn tánh là bản
thể của vũ trụ, nhân sinh, ta - người, là
một chẳng phải hai.
Pháp Bảo là ǵ? “Thật Tướng lư thể thanh tịnh viên
diệu”, đấy là Pháp. Thật Tướng là chân
tướng của vũ trụ và nhân sinh. Tướng
chân thật chỉ do tâm hiện, đó là Thật
Tướng! “Thanh tịnh viên
diệu”. Tướng ấy đúng là mảy trần
chẳng nhiễm, vi diệu viên măn, hoặc có thể nói là
vi diệu viên dung! Diệu là chúng ta không có cách ǵ tưởng
tượng được, chẳng thể nghĩ bàn! Đó
chính là Pháp Bảo trong Nhất Thể Tam Bảo. Trên
thực tế, Phật - Pháp - Tăng là một, chẳng
phải hai, một nhưng ba, ba nhưng một, chẳng
thể tách ĺa, chỉ tùy theo quư vị nh́n từ góc
độ nào mà thôi. Như vậy, Phật là nh́n từ
Thể; Pháp là nh́n từ Tướng; Tăng là nh́n từ
Dụng, tức là nh́n từ mặt tác dụng.
Tăng Bảo: “Lư Trí bất nhị, ḥa hợp vô vi” (Lư - Trí không
hai, ḥa hợp không chống trái). Quư vị phải thực
sự tham thấu, hiểu rơ: Vũ trụ là cả
một khối ḥa đồng lớn. Văn hóa Nhật
Bản từ Trung Quốc truyền qua. Tổ tiên
người Nhật rất thông minh, họ gọi dân
tộc ḿnh là “dân tộc Đại Ḥa” (Yamato Minzoku). Ư tưởng
Đại Ḥa ấy chính là tinh tủy (tinh hoa, cốt tủy)
của Nho và Đạo của Trung Quốc và Phật pháp;
tổ tiên dùng điều đó để dạy dỗ con
cháu đời sau. Nếu con cháu đời sau hiểu
được ư nghĩa này, đều có thể thực
hiện được th́ Thiên Hoàng[5]
của Nhật Bản sẽ chính là Kim Luân Thánh Vương
như trong kinh Phật nói, là lănh tụ của toàn thế
giới, chứ chẳng phải chỉ của một
quốc gia hay một dân tộc nào. V́ sao? Ông ta cổ
động ḥa b́nh, ḥa b́nh cho thế giới, cả thế
giới là một nhà. Ḿnh yêu người nhà ḿnh, ta yêu dân
tộc ta, ta yêu quốc gia ta, ta yêu toàn thế giới
như yêu chính người nhà ta, đại ḥa rồi!
Tuy tổ tông xướng xuất, con
cháu chẳng làm được! Chúng ta chớ coi
thường tổ tông, đừng nghĩ trong thời
tổ tông không có khoa học kỹ thuật, tinh thần
văn minh của họ bọn hậu nhân chúng ta thực
sự không có cách ǵ tưởng tượng
được đâu! Trí huệ, học vấn, tâm tư,
kiến thức của họ thực sự đều là
rộng lớn, tinh tường, sâu thẳm, tương
ứng với pháp tánh. Phật pháp là văn hóa Ấn
Độ, Nho và Đạo là văn hóa Trung Quốc, là chân
lư tích tụ cả ngàn vạn năm, kẻ trí cạn
tuyệt đối chẳng thể trộm nh́n [mà thấu
hiểu] được. Đó là Nhất Thể Tam
Bảo.
6.3.1.2.6. Hàng thụ diễn
pháp (hàng cây diễn pháp)
Đoạn kế tiếp là “hàng thụ diễn pháp”, chúng
tôi đọc kinh văn một lượt. Chúng ta
đọc tiếp đoạn kinh văn sau:
Xá Lợi Phất!
Nhữ vật vị thử điểu thật thị
tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật
quốc độ vô tam ác đạo.
Xá Lợi Phất! Kỳ
Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi
danh, hà huống hữu thật? Thị chư chúng
điểu, giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm
tuyên lưu biến hóa sở tác.
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật
quốc độ, vi phong xuy động chư bảo hàng
thụ, cập bảo la vơng, xuất vi diệu âm. Thí
như bách thiên chủng nhạc đồng thời câu tác.
Văn kỳ âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
舍利弗。汝勿謂此鳥。實是罪報所生。所以者何。彼佛國土。無三惡道。舍利弗。其佛國土。尚無惡道之名。何況有實。是諸眾鳥。皆是阿彌陀佛。欲令法音宣流。變化所作。舍利弗。彼佛國土。微風吹動諸寶行樹。及寶羅網。出微妙音。譬如百千種樂。同時俱作。聞是音者。自然皆生念佛念法念僧之心。
(Này Xá
Lợi Phất! Ông chớ có nói những con chim ấy thực
sự do tội báo sanh ra. V́ cớ sao vậy? Cơi
nước Phật ấy không có ba đường ác.
Này Xá
Lợi Phất! Cơi nước Phật đó c̣n không có cái
tên ba đường ác, huống hồ có thật? Các loài
chim ấy đều do A Di Đà Phật muốn cho pháp âm
được tuyên lưu bèn biến hóa ra.
Này Xá Lợi Phất! Cơi
nước Phật ấy gió nhẹ thổi động
các hàng cây báu và lưới mành báu, phát ra âm thanh vi diệu,
ví như trăm ngàn loại nhạc cùng lúc ḥa tấu. Nghe
âm thanh ấy tự nhiên đều sanh ḷng niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).
Đoạn này là “hàng cây diễn pháp”. Cây và gió trỗi nhạc. Gió
lùa qua cây báu. Chúng ta biết cây cối trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới do các thứ báu hợp thành,
gió thổi qua, cành, nhánh, hoa, lá cọ vào nhau phát ra những
âm thanh giống như những cái phong linh (wind chime) chúng ta
thường dùng trong thế gian này. Hiện tại ở
ngoại quốc, chúng tôi cũng thường thấy phong linh;
chúng tôi treo ngoài cửa, lúc gió thổi qua, tự nhiên nó vang
ra những âm thanh rất vi diệu. Tây Phương Cực
Lạc thế giới càng chẳng cần phải nói
nữa, cây báu quá nhiều, giống như nay ta gọi là “nhạc
giao hưởng”, mỹ diệu cùng cực. Gió thổi cây
tấu nhạc, chẳng do con người chế tác.
Những âm thanh do chúng phát ra, quư vị phải nhớ
kỹ: Trong kinh luận Phật thường dạy: “Y báo tùy trước chánh báo chuyển”
(Y báo chuyển theo chánh báo).
Chuyện gần đây nhất là chúng
tôi thấy tiến sĩ Giang Bản Thắng của
Nhật Bản làm thí nghiệm kết tinh nước, ông
ta thí nghiệm suốt tám chín năm, rất có thành tích.
Chúng tôi đă xem những tấm ảnh do ông ta chụp,
đọc sách của ông ta, chứng thực điều
Phật đă nói trong kinh: “Y báo
chuyển theo chánh báo”, chứng minh pháp tánh, chân tâm pháp
tánh “trạm nhiên trí chiếu,
linh minh giác liễu”, kinh Lăng Nghiêm gọi điều
này “kiến văn giác tri” (thấy,
nghe, hay, biết). Chân tâm và bổn tánh của quư vị có đầy
đủ bản năng (những năng lực sẵn có),
người hiện tại gọi [những năng lực
sẵn có ấy] là “năng lượng”. Năng
lượng vốn sẵn có, có thể thấy, có thể
nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Tất
cả hết thảy vạn vật đều có năng
lượng đó! Bởi vậy, thí nghiệm trên
nước đă chứng minh nước có thể
thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể
biết. Chúng ta cung cấp thông tin nào cho nó, nó lập
tức có phản ứng. Nếu thông tin ấy tốt lành
th́ phản ứng hết sức đẹp. Đó là
phản ứng chúng ta thấy được qua sự kết
tinh của nước.
Cũng có những người luyện
Khí Công. Hiện thời, luyện Khí Công cũng rất thịnh
hành. Trắc nghiệm nơi những đứa trẻ nhỏ
từ bảy tám tuổi cho đến mười bốn
tuổi trở xuống, chưa từng bị nhiễm ô
ǵ, tâm địa rất thanh tịnh. Những trẻ
nhỏ rất thiên chân ấy chỉ cần huấn
luyện một giờ, chúng bèn có thể sờ
được chữ, nhận được mặt
chữ bằng đầu ngón tay. Quư vị viết một
số chữ, viết từ một cho đến một
trăm, cả trăm chữ, không cho chúng nh́n thấy,
chỉ cho chúng lấy tay sờ vào chữ, rồi bảo
chúng nó đọc ra chữ ǵ, chúng bèn nói được.
Thí nghiệm mấy chục lần chẳng trật
một lần nào, nói lên điều ǵ?
Nhưng có một điều rất
kỳ quái, điều ǵ vậy? Quư vị viết danh
hiệu Phật, Bồ Tát, danh hiệu quỷ thần,
những chữ ấy chúng không biết, nhưng có cảm
giác. Nếu quư vị viết chữ “Phật”, trẻ
nói chữ ấy phóng ra ánh sáng màu vàng, phóng kim quang, mở ra
xem là chữ “Phật”. Có trẻ lúc sờ chữ, nói
chữ này phóng quang, trong ấy lại có mùi thuốc,
mở ra xem th́ thấy viết “Dược Sư
Phật”. Chỉ những khi viết những chữ
thuộc về linh giới, chúng nhận không ra mặt
chữ, nhưng có thể mô tả h́nh tượng rất
rơ ràng. Những người ấy làm thí nghiệm, kiếm
những trẻ nhỏ làm thí nghiệm, đại khái là
trong một trăm đứa, có chừng mười
mấy đến hai mươi đứa thí nghiệm
thành công. Lúc nhiều nhất là trong một trăm
đứa trẻ tham gia thí nghiệm, gần như hơn
bốn mươi đứa thành công, đó là con số
tối đa. Tối thiểu th́ không ít hơn mười
đứa bé tuổi từ bảy tuổi đến
mười bốn tuổi. Trong những thí nghiệm khoa
học ấy, ta không có cách nào giải thích được
cả, chứng minh thực sự có thể thấy
được bằng cách lấy tay sờ.
Bởi vậy, trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới gió và cây tấu nhạc [là v́]
người ở Tây Phương Cực Lạc thế
giới tâm đều tịnh, đều thiện,
thuần tịnh thuần thiện, âm thanh của âm
nhạc bên ngoài và tâm linh của họ khởi cảm
ứng đạo giao trở thành khúc nhạc du
dương nhất, chẳng do ai soạn, tự nhiên mà!
Nói thật ra, gió và cây ở ngay cơi chúng ta đây, hết
thảy âm thanh cũng đều có nhạc khúc, thuận
theo chúng sanh đang sống trong thế gian này, do tâm
niệm của họ mà phản ứng, vang ra âm thanh. Người
trong thế gian tâm bất thiện, tâm chẳng thanh
tịnh, v́ thế, âm thanh nghe rất đáng sợ,
khiến cho ta nghe không cảm thấy an toàn, gió dữ,
mưa cuồng! Nhớ kỹ, nhất định phải
nhớ kỹ, đức Phật dạy: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Chánh báo là ǵ? Ư niệm
của chúng ta, khởi tâm động niệm là chánh báo.
Tất cả hết thảy hoàn cảnh vật chất, mỗi
một tế bào trên thân thể chúng ta đều chẳng
phải ngoại lệ, đều là vật chất. Bởi
thế, tâm và vật gắn liền, chẳng thể phân
ly, chẳng thể xem như hai việc được!
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
nói: “Nhất thiết nhân
quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Hết
thảy nhân quả, thế giới, vi trần đều
do tâm mà thành Thể). Câu này thuyết minh hết thảy các
pháp, lớn như thế giới, nhỏ như vi
trần, vật chất và tâm gắn liền, nhất
định chẳng thể tách rời được.
Nếu có thể tách rời th́ làm sao có cảm ứng
được? Chẳng thể có cảm ứng! Bản
thể của chúng là Chân Tâm, là pháp tánh. Pháp tánh tự nhiên
đầy đủ “linh minh
giác liễu”, kinh Lăng Nghiêm gọi [điều này] là “kiến văn giác tri”
(thấy, nghe, hay biết). Đó là bản năng của
nó, lẽ đâu nó chẳng thể nghe, chẳng thể thấy?
Quư vị phải biết: Chúng ta khởi tâm động
niệm, hết thảy hành vi, bất cứ điều ǵ
núi, sông, đại địa cũng thấy hết, ta c̣n
che mắt ai được? Chúng ta nói năng ǵ, nói khẽ
cách mấy, chúng cũng nghe được. Nhất là
hiện tại dùng điện thoại cầm tay (cell
phone), nhờ vào làn sóng vô tuyến điện, những
lời lẽ của quư vị truyền đi khắp cơi
hư không. Đối phương phải cầm cell phone
mới nghe được quư vị; chứ chúng sanh trong
linh giới chẳng cần đến điện
thoại, họ nghe trọn vẹn. Chân tướng sự
thật đấy!
Cổ thánh tiên hiền thường
dạy chúng ta phải cẩn thận, mỗi người
phải cẩn thận, như thường nói: “Thập thủ sở chỉ, thập
mục sở kiến” (Mười cánh tay chỉ vào,
mười mắt nh́n vào), giống như thường có
mười ngón tay chỉ vào ḿnh, có mười con mắt
nh́n ḿnh, nay chúng ta hiểu không phải chỉ
có thế! Vô lượng vô biên con mắt nh́n vào ḿnh, vô
lượng vô biên ngón tay đang chỉ ḿnh, đâu phải
chỉ mười! Nếu nói theo ư nghĩa biểu thị
pháp trong Phật pháp th́ con số Mười biểu
thị ư nghĩa viên măn, nghe rất hợp lư. Tất
cả hết thảy sinh vật (nay chúng ta gọi là sinh
vật), [ngoài ra] c̣n có những loài phi sinh vật, sinh
vật là hữu t́nh chúng sanh, phi sinh vật là thực
vật, khoáng vật, kể cả hư không, toàn bộ
đều thấy được, toàn bộ đều
nghe được.
Con người chớ nên khởi ác niệm, chớ nói lời ác,
chớ làm chuyện ác,
tất
cả hết thảy chúng sanh, thiên địa quỷ
thần thảy đều thấy biết, điều này
đă được khoa học hiện đại dần
dần chứng thực. Trước kia, chúng ta chỉ
thấy những điều này được ghi trong sách
vở cổ, người hiện tại cho là mê tín,
người tin vào khoa học cho đó là mê tín, nay khoa
học chứng thực thực sự có những
chuyện đó. Tất cả hết thảy vạn
vật đều có linh tánh; trong Phật pháp nói là “hết
thảy vạn vật đều có pháp tánh”. Pháp tánh
vốn có đủ linh minh giác tri, nhà khoa học Nhật
Bản cũng phát hiện điều sau đây: Chúng có
thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có
thể biết. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
gọi [khả năng ấy] là “kiến văn giác tri”.
Đấy là bản năng, là tự tánh, pháp tánh vốn
sẵn trọn đủ năng lượng phân bố
khắp hư không pháp giới, phân bố trong hết
thảy chúng sanh.
Đoạn kế tiếp là “phong thụ tác nhạc, vi diệu
pháp âm, văn chánh pháp lạc” (gió và cây tấu nhạc,
pháp âm vi diệu, [đó là] niềm vui do nghe chánh pháp). Nghe
những pháp âm ấy đều mở mang trí huệ,
khiến cho cơi ḷng của quư vị càng thêm thanh tịnh,
tự nhiên bèn niệm Giác, niệm Chánh, niệm Tịnh “tự niệm Tam Bảo, đắc
chánh niệm lạc dă” (tự niệm Tam Bảo, đạt
được niềm vui Chánh Niệm). “Thử trung hiển hóa cầm, vi phong, thụ, vơng đẳng
âm, năi nhất thiết y chánh giả thật” (Đoạn
này thể hiện những âm thanh của loài chim biến
hóa, gió nhẹ, cây cối, lưới mành v.v… chính là y chánh
giả - thật). “Y” là y báo, “chánh” là chánh báo; Giả là Tướng
Phần, tức là cái được biến hiện
(sở biến), c̣n Thật là pháp tánh năng biến
(chủ thể thực hiện hành vi biến hiện). Pháp
tướng được biến hiện ra là giả, v́
sao? Chúng sanh diệt trong từng sát-na, pháp tánh năng
biến là chân. “Đương
thể tức thị A Di Đà Phật tam thân tứ đức,
hào vô sai biệt dă” (Bản thể của chúng là ba thân,
bốn đức của A Di Đà Phật, không mảy may
sai biệt), [những giả tướng như các loài chim
được biến hóa, gió nhẹ, hàng cây v.v..] là do A Di Đà
Phật biến hiện ra. Ba thân của A Di Đà Phật là
Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân; bốn đức là
Thường, Lạc, Ngă, Tịnh.
Không những kinh này dạy những con
chim ấy không phải là súc sanh v́ Tây Phương Cực
Lạc thế giới không có ba ác đạo, mà ngay cả
đến những tên gọi ba ác đạo cũng
đều không có, huống là có thật, toàn là A Di Đà
Phật biến hóa ra đó thôi! Phải biết những
chuyện biến hóa này chỉ thuộc Phàm Thánh
Đồng Cư độ, v́ sao? Người thuộc
Phàm Thánh Đồng Cư độ là những người
mới vừa văng sanh, phàm t́nh c̣n chưa đoạn
hết. V́ thế, A Di Đà Phật rất từ bi,
đúng là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công
đức biến hóa ra những sự ấy. Từ chỗ
này, chúng ta có thể thấy đúng là đức Phật
từ bi đến cùng cực, A Di Đà Phật thực
sự là một vị thầy tốt, khéo ra rả khuyên
dụ.
Tiếp đó là “t́nh dữ vô t́nh, đồng tuyên diệu pháp, tứ
giáo đạo phẩm, vô lượng pháp môn, đồng
thời diễn thuyết, tùy loại các giải, năng
linh văn giả, niệm Tam Bảo dă” (hữu t́nh và vô
t́nh cùng tuyên nói diệu pháp, [ba mươi bảy] Đạo
Phẩm trong bốn giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên), vô
lượng pháp môn đồng thời diễn nói, tùy mỗi
loại đều hiểu, có thể khiến cho người
nghe thấy đều niệm Tam Bảo vậy). V́ sao nghe
xong tự nhiên ai nấy khởi ḷng niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng? Do hoàn cảnh quá tốt. Hoàn
cảnh ấy do A Di Đà Phật biến hóa ra. Ở
nơi đây, nếu chúng ta muốn thiết kế một
hoàn cảnh tốt đẹp, chúng ta phải dùng rất
nhiều tâm tư để thiết kế, phải
tưởng tượng mới thiết kế
được!
Chúng ta biết ở Trung Quốc vào
thời cổ, có rất nhiều khu vườn rừng do
sức người tạo thành. Tại Tô Châu, Dương
Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh, có rất nhiều chỗ, thuở
xưa kia, quốc vương, đại thần, trưởng
giả giàu có lớn lập ra những hoa viên trong nhà họ
với quy mô rất lớn. Có lẽ cái hoa viên mọi
người quen thuộc nhất (do đọc bộ tiểu
thuyết Hồng Lâu Mộng) là vườn Đại Quan
trong Hồng Lâu Mộng, nó được dụng tâm
thiết kế tinh vi. Tây Phương Cực Lạc
thế giới là vườn Đại Quan thực sự
chẳng dùng đến thiết kế, tự nhiên biến
hóa ra. Cơi đó vi diệu đến mức cùng cực,
không có cách nào tưởng tượng có một thế
giới tốt đẹp đến thế! Cơi ấy do
tánh đức tự nhiên lưu lộ. Nếu quư vị thực
sự đạt đến cảnh giới thuần
thiện thuần tịnh, khôi phục hoàn toàn tự tánh,
th́ trong tự tánh sẽ hết sức tự nhiên lưu
lộ những thứ tốt đẹp như vậy,
một tí xíu khuyết hăm t́m cũng chẳng ra.
Do nhân công thiết kế th́ dù khéo
đến đâu vẫn có sai sót, vẫn có khuyết hăm,
không có cách ǵ thập toàn thập mỹ được. Do
tự tánh lưu lộ th́ chân thiện, thuần thiện,
trong đó, t́nh và vô t́nh (“t́nh” là những con chim, “vô t́nh” là
cây cối hoa cỏ) đều thuyết pháp. Ở đó,
lúc chim hót nếu quư vị nghe kỹ sẽ thấy là
tiếng thuyết pháp. Khi gió lùa qua lá, cây toàn là cây báu, lá cây chạm
vào nhau, phát ra những âm thanh cũng là thuyết pháp. Âm thanh
thuyết pháp trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới trọn khắp pháp giới, trong hết thảy
thời, hết thảy nơi không hề gián đoạn.
Nội dung thuyết pháp là “Đạo Phẩm thuộc
bốn giáo, vô lượng pháp môn, đồng thời
diễn nói”. Đồng thời diễn nói há chẳng phải
là nghe thành tiếng loạn xạ ư? Chẳng phải
vậy. Quư vị muốn nghe pháp môn nào, quư vị sẽ
nghe pháp môn đó được nói. Hai người chúng ta
cùng ngồi một chỗ, tôi muốn nghe kinh A Di Đà,
lắng nghe toàn thấy là kinh Di Đà; anh ngồi bên
cạnh tôi, anh thích nghe kinh Hoa Nghiêm, những ǵ anh nghe
được toàn là kinh Hoa Nghiêm. Tuyệt diệu!
Đấy thực sự chính là như trong Phật pháp
thường nói: “Phật dĩ
nhất âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc
giải” (Đức Phật dùng một âm thanh thuyết
pháp, mỗi loại chúng sanh đều hiểu). Vô
lượng vô biên pháp môn, quư vị muốn nghe pháp môn ǵ
liền được nghe pháp môn ấy.
Trong thế gian hiện tại này
của chúng ta chẳng thể làm được chuyện
ấy! Ví dụ như với những thiết bị ta
hiện đang có như thế này, chúng ta có pḥng phát âm,
chúng ta đem mấy chục bộ kinh điển thậm
chí mấy trăm bộ kinh điển (quá nhiều cũng
không được) cùng phát trên các băng tần (phát trên mấy
chục băng tần, hay mấy trăm băng tần
khác nhau), đồng thời phát đi. Quư vị muốn
nghe một loại kinh nào, vẫn phải vặn nút này nút
nọ, bắt đúng tần số mới nghe
được, không đúng tần số chẳng nghe
được! Hai người chúng ta ngồi cùng một
chỗ, mỗi người có một cái máy thâu âm nhỏ,
tôi nghe kinh Hoa Nghiêm, tôi vặn sang tần số kinh Hoa Nghiêm;
bạn nghe kinh Di Đà, bạn phải vặn sang tần
số kinh Di Đà.
Ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới không cần phải phiền phức như
vậy, chẳng có băng tần chi hết, mà cũng
chẳng cần đến máy móc ǵ. Thuận theo ḷng
muốn, muốn nghe ǵ liền được nghe thứ
đó, muốn thấy ǵ bèn thấy những h́nh ảnh
đó, thật chẳng thể nghĩ bàn! Nếu như
đang ở Tây Phương Cực Lạc thế giới
mà đột nhiên nghĩ: Ta từ thế giới Sa Bà
đến đây, những thân thích bè bạn của ta trong
thế giới Sa Bà hiện thời ra sao? Ư niệm ấy
vừa khởi lên, thế giới Sa Bà liền hiện ngay
trước mắt quư vị, đều thấy rơ
hết, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy,
đến được thế giới Cực Lạc là
thực sự đạt được đại viên
măn, không giả chút nào. Nay chúng tôi nói như vậy, người
tin tưởng ngày càng nhiều hơn, v́ sao? Khả
năng tánh (possibility) ấy được khoa học
thừa nhận, được những nhà khoa học
gần đây phát hiện ra.
Cư sĩ Chung Mậu Sâm đă từng
báo cáo với chúng ta ở đây. Mấy hôm trước,
ông ta gọi điện thoại cho tôi: Lần báo cáo
trước ông ta chưa thỏa ư lắm, ông ta muốn báo
cáo lại. Được chứ! Tôi hoan nghênh ông ta lên núi
bất cứ lúc nào để báo cáo tường tận
lần nữa tại xưởng phát h́nh của chúng ta. Nội
dung bản báo cáo lần này của ông ta gồm ba sự
kiện:
1) Phát hiện thứ nhất:
Dưới một điều kiện nào đó, thời
gian và không gian không c̣n nữa. Thời gian và không gian
bằng zéro. Nếu nói không có thời gian th́ không có xa - gần,
Tây Phương Cực Lạc thế giới ở đâu?
Ở ngay nơi đây, A Di Đà Phật đối
diện với chúng ta, giống như kinh Phật đă
nói. Thời gian không c̣n nữa th́ quư vị có thể thấy
được quá khứ, có thể thấy
được vị lai. Quá khứ, hiện tại,
vị lai không c̣n nữa, biến thành một. Kinh Phật
thường ghi: “Như thị
ngă văn: Nhất thời...” (Tôi nghe như thế này:
Một thời…). “Một thời” có nghĩa là như
vậy, thời gian và không gian bằng zéro. Đấy là
điều phát hiện thứ nhất của khoa học.
2) Phát hiện thứ hai: Trong Không sanh ra Có.
Kinh Bát Nhă đă nói vậy, Mọi người
thường đọc Tâm Kinh: “Sắc
chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác Không,
Không chẳng khác Sắc” đủ chứng minh
đạo lư này. Dưới một điều kiện nào
đó, trong Không sẽ sanh ra Có; dưới một
điều kiện nào đó, Có trở thành Không. Có lại
quy về Không!
3) Điều thứ ba được
báo cáo là khởi nguyên của vũ trụ. Khởi nguyên
của vũ trụ là “nhất thời đốn hiện”,
chứ không phải là tiến hóa (phát triển dần
dần tốt hơn). Trước kia mọi người
tin tưởng vào thuyết tiến hóa, nay khoa học
tiến bộ hơn, phát hiện vũ trụ không
phải là tiến hóa, mà là nhất thời đốn
hiện. Điều này hoàn toàn tương đồng
với những ǵ kinh Phật đă giảng. Cho thấy
kinh Phật không phải là ngụ ngôn, chẳng phải là
thần thoại. Người xưa thiện căn sâu
dầy, họ tin tưởng! Người hiện tại
thiện căn chẳng sâu dầy như thế, cứ
phải dùng chứng cứ khoa học để chứng
minh th́ mới chịu tin. Điều này cho thấy
tiền nhân so với con người chúng ta hiện
tại, nếu nói một cách thông tục, họ lợi
hại hơn chúng ta. Trí huệ của họ cao hơn
chúng ta, thiện căn sâu dầy hơn chúng ta.
Nếu ngày nay không có những chứng
thực khoa học ấy, chúng ta sẽ dùng hai chữ “mê
tín” để gạt bỏ sạch, có phải là đáng
tiếc quá hay không? Chúng là chân lư, là sự thật chân chánh mà
trong một đời này ta bỏ lỡ mất. V́
thế, nay chúng ta đọc được những
điều này, đọc đến những cảnh
giới như kinh điển đă nói, có khoa học giúp
phần chứng minh th́ tín tâm càng sâu thêm hơn, tư duy
càng thêm rộng mở; do đấy, phát sanh ḷng tin, sanh
khởi ư muốn văng sanh, có nguyện vọng cầu
được chứng. Nếu quư vị mong
được văng sanh, mong được cầu chứng
th́ hăy hành theo những phương pháp dạy trong kinh
điển, quư vị sẽ chứng thực.
Phần sau, [sách Yếu Giải] có
một đoạn tổng kết nhỏ, tổng kết
về y báo trang nghiêm: “Linh thâm tín
nhất thiết trang nghiêm, giai Đạo Sư nguyện hạnh
sở thành, Chủng Trí sở hiện” (Làm cho [người
nghe kinh] tin tưởng sâu xa rằng hết thảy sự
trang nghiêm đều do nguyện hạnh của
đấng Đạo Sư tạo thành, do Chủng Trí
hiện ra). Đây là nói về Phật lực gia tŕ
khiến cho người học tin sâu, đúng là chẳng
dễ dàng! Bởi vậy, trong kinh đức Phật
đă nói [pháp môn Tịnh Độ] là “pháp khó tin”. Nếu không có khoa học làm chứng
cho chúng ta th́ đúng là trong một vạn người t́m
không ra được một người [thực sự
tin tưởng]. Đối với hiện thời th́
phải nói ra sao? Phải nói đến một ức
người. Chỉ sợ trong một ức người,
chỉ t́m được có một người! Trên thế
giới hiện thời có gần bảy mươi ức
người (bảy mươi tỷ); như vậy, trong
toàn thế giới, người thực sự thâm tín
chỉ có khoảng bảy mươi người là cùng,
họ nhất định văng sanh, quư vị thấy tỷ
lệ ấy không cân xứng! Trong một ức, tức là
trong một vạn vạn người (một trăm
triệu), chỉ có một người. Hy vọng với
luận chứng khoa học này, chúng ta phổ biến tuyên
dương cho mọi người đều biết,
khiến cho người tin tưởng kinh giáo sâu xa càng
ngày càng nhiều. V́ sao? Có chứng cứ khoa học, không
phải mê tín, đó là chuyện thật, chẳng phải
giả đâu!
Hôm qua tôi nghe nói ở Trung Quốc
Đại Lục xây đập nước trên
Trường Giang, ngày hôm qua bắt đầu ngăn
nước. Đại khái, mực nước trong hồ
chứa trong tương lai sẽ cao hơn một trăm
bảy mươi (170) mét. Rất nhiều cổ tích hai bên
bờ sông đều bị ngập dưới
nước. Rất nhiều thần miếu, ngay cả
thành Phong Đô (thành Phong Đô[6] là
Quỷ Thành) trứ danh trong lịch sử Trung Quốc
cũng bị ch́m mất. Một giải Trường Giang
có rất nhiều miếu thờ long vương, miếu
long vương lớn nhỏ ǵ cũng bị ch́m ngập
hết. Chúng tôi xem bản tin đó, có người fax cho
chúng tôi xem, cho biết họ thông cáo những quỷ
thần bên bờ sông, kể cả những yêu ma quỷ
quái sống ở hai bờ Trường Giang, khuyên họ
phải dọn nhà, càng quan trọng hơn là khuyên họ
phải niệm Phật cầu sanh về Tịnh
Độ.
Hoàn cảnh cư trú, đạo tràng
hương hỏa của bọn họ nay hoàn toàn bị
nước nhận ch́m, nhất định chẳng
thể trách móc cư dân trong lưu vực Trường
Giang, hy vọng những quỷ thần ấy hiểu
đạo lư, phát tâm từ bi, di cư đến chỗ đất
báu tốt đẹp hơn, quyết chẳng giáng tai
ương xuống đầu quần chúng. Mọi
người cho là mê tín, hoàn toàn không hợp khoa học,
thế nhưng hiện thời có rất nhiều khoa
học gia tin tưởng linh giới quả thật
tồn tại. Họ gởi những tin tức ấy cho
chúng tôi, tôi nói: “Rất tốt! Làm như vậy rất là
hay, thực sự có cảm ứng”.
Mẹ bà cư sĩ họ Hồ văng
sanh trong ngày thứ Sáu, ngày hôm đó đạo tràng chúng ta
phát khởi Tam Thời Hệ Niệm để siêu
độ bà. Đến ngày hôm sau, ở chỗ chúng ta có
cảm ứng, có đồng tu bảo tôi: “Mẹ bà ta
đến chỗ chúng tôi”. Có thật đấy, chẳng
giả đâu! Tuy Hàn quán trưởng văng sanh đă hơn
năm năm rồi, không ít người cảm nhận bà
ta đến các đạo tràng của chúng ta để
hộ tŕ, chẳng hề rời khỏi. Rất nhiều
đồng tu chúng ta không hoài nghi, đều biết
chuyện đó. Bởi vậy, những điều đó
khiến chúng ta càng phải tin sâu chẳng nghi, hết
thảy sự trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là do hạnh nguyện của A Di Đà Phật
tạo thành, do Chủng Trí hiện ra, do trí huệ Bát Nhă trong
tự tánh biến hiện. Đó là nói về phía Phật.
Đoạn kế tiếp là: “Giai ngô nhân tịnh nghiệp sở
cảm, duy thức sở biến” (Đều do
tịnh nghiệp của chúng ta cảm vời, chỉ do
thức biến), chẳng phải là hoàn toàn do Phật
hiện, không liên quan ǵ đến chúng ta. Tâm, nguyện,
giải, hạnh của chúng ta phải tương ứng
với Phật th́ cảnh giới ấy đồng
thời hiện tiền. Nếu tâm - nguyện - giải - hạnh
của chúng ta hoàn toàn trái nghịch, chúng ta chẳng thấy
được cảnh giới do đức Phật đă
hiện. Phải tương ứng th́ mới thấy
được! “Đều do
tịnh nghiệp của chúng ta cảm vời” là nói
về người niệm Phật văng sanh. Chúng tôi
thường nói: Tâm - nguyện - giải - hạnh của người
niệm Phật văng sanh tương ứng với A Di
Đà Phật; bởi vậy, đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới, họ thấy
được cảnh giới ấy, có thể thọ
dụng!
“Phật tâm,
sanh tâm hỗ vi ảnh chất” (Tâm Phật và tâm chúng sanh làm ảnh chất cho nhau):
Ảnh chất là ǵ? Chất (質) là thực chất, ảnh (影) là huyễn ảnh; giống như thân
một người đứng dưới bóng mặt
trời, thân ta đây là chất, tức thực chất,
mặt trời chiếu xuống có bóng, có bóng của chúng
ta, cái bóng đó là huyễn ảnh. A Di Đà Phật là
thực chất, chúng ta là huyễn ảnh; chúng ta là
thực chất, A Di Đà Phật là huyễn ảnh: “Hỗ vi ảnh chất” (làm
ảnh chất cho nhau). Chẳng thể nói nhất
định A Di Đà Phật là thực chất, bọn
phàm phu chúng ta là huyễn ảnh, không thể nói như
vậy được! Nói như vậy là bất b́nh
đẳng, nói như vậy không phải là chân
tướng sự thật, phải là “làm ảnh chất cho
lẫn nhau”. Chúng sanh - Phật, ảnh - chất là một,
không phải hai, chẳng thể nghĩ bàn!
Tiếp đó, sách lại nêu một
tỷ dụ: “Như chúng đăng
chiếu, các biến dĩ nhất” (Như các ngọn
đèn chiếu sáng, ánh sáng mỗi ngọn đèn chiếu
khắp mọi nơi, giống như là ánh sáng của
một ngọn đèn), giống như chúng ta thắp
rất nhiều đèn trong một gian nhà, ngọn đèn
nào cũng thắp hết, quư vị thấy giống
như chỉ có một ánh sáng; thật ra, ngọn nào tỏa
sáng ngọn đó. V́ sao? Nếu chúng ta thổi tắt
đi, ánh sáng của ngọn đèn ấy không c̣n nữa, trọn
chẳng trở ngại các ngọn đèn khác. Thắp lên,
nó lại sáng bừng, ḥa lẫn ánh sáng với những
ngọn khác. Thật ra, mỗi ngọn tỏa sáng riêng, ánh
sáng của mỗi ngọn đều rọi khắp
cả pḥng, ánh sáng rọi lẫn nhau, tợ hồ như
một, nhưng không phải là một, không phải là
một mà dường như là một.
“Toàn lư thành
sự, toàn sự tức lư, toàn tánh khởi tu, toàn tu tại
tánh, diệc bất khả thâm tư hỹ” (Toàn bộ lư trở thành sự, toàn
bộ sự chính là lư, dùng toàn bộ tánh ấy để
khởi tu, cũng chẳng thể không suy nghĩ sâu xa
vậy). Đấy mới là chân tướng của sự
thật, chân tướng của nhân sinh và vũ trụ là
như vậy, thế giới Cực Lạc là như
vậy, mà t́nh trạng hiện tại của địa
cầu chúng ta trong thế giới Sa Bà này cũng là như
vậy. Bất đồng là v́ tâm nhiễm - tịnh
bất đồng, hạnh có thiện - ác bất
đồng. Tây Phương Cực Lạc thế giới
tâm thuần tịnh, hạnh thuần thiện. Ở nơi
chúng ta đây, nhiễm nhiều, tịnh ít, ác nhiều,
thiện ít! Bởi vậy, trong thế giới này tai
nạn nhiều, khổ nạn nhiều, nguyên nhân là v́
đây. Nay đă hết giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
phần 6 hết
[1] Mặc tẫn (Brahmadanda): C̣n phiên âm là
Phạm Đàn hoặc Phạm Đát, theo nghĩa gốc
là một h́nh thức nhằm đối trị những
kẻ ngoan cố, bướng bỉnh trong Tăng chúng.
Hành Sự Sao, quyển 22 ghi: “Nói
Mặc Tẫn, là như luật Ngũ Phần dạy:
‘Pháp Phạm Đàn là hết thảy thất chúng (tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di),
đều chẳng nói chuyện với kẻ phạm
lỗi”. Sách Tư Tŕ Kư giảng rơ hơn: “Phạm Đàn là trước cung
điện của Phạm Vương lập một cái
đàn cao, chư thiên nếu có vị nào chẳng đúng
pháp, sẽ bị bắt đứng trên đó, không
được nói chuyện với bất cứ ai qua
lại. Trong luật Ngũ Phần, do tỳ-kheo Xiển
Đàn (tức Xa Nặc) năo loạn Tăng chúng nên Phật
chế định dùng phương pháp ấy [để
đối trị]”. Nói chung, đây là phương pháp
ngăn dứt tranh căi. Kẻ biết phục thiện th́
khuyên can; chứ nếu với kẻ ương
bướng, ngang ngược, tốt nhất là dùng
phương pháp im lặng, không tranh căi với hắn, tránh
xa, không quở trách, không phê b́nh, nhưng không giao thiệp
với hắn, hắn sẽ không có cớ ǵ quấy
rối được nữa. Ở đây, “mặc
tẫn” được dùng với ư nghĩa rộng: Không
tranh căi với những kẻ căi chày căi cối. Ta giữ
chủ kiến của ta, tu theo pháp môn của ta, không
mất hơi sức tranh căi với những kẻ
chẳng thèm đọc kinh sách Tịnh Độ mà cứ
nhơn nhơn cao giọng phỉ báng pháp môn Tịnh
Độ.
[2] Chúng tôi không dịch “linh môi” thành ông
đồng bà cốt, mà để nguyên tiếng Hán với
dụng ư nhấn mạnh những người thực
sự có khả năng giao tiếp với linh giới,
chứ không phải hạng đồng bóng quàng xiên bịp
bợm.
[3] Chữ “linh” (spirits) ở đây chỉ
những hữu t́nh chúng sanh không phải là con người
như chư thiên, ngạ quỷ, a-tu-la v.v...
[4] Tam hiền thập thánh: Tam Hiền là các địa vị Bồ Tát trước khi đạt đến Thập Địa, gồm Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Thập Thánh là mười địa vị Bồ Tát thuộc Thập Địa.
[5] Thiên Hoàng (Tennō) là danh xưng của hoàng đế Nhật
Bản, nhưng khi trực tiếp xưng hô với vua th́
dùng chữ Mikado (hoàng đế). Thiên Hoàng được
coi là con cháu trực tiếp của Thái Dương Thần
Nữ, và là lănh tụ tôn giáo cao nhất của Thần
Đạo (Shinto) Nhật Bản. Hoàng gia Nhật là hoàng gia
là ḍng dơi cai trị lâu đời nhất từ năm 660
trước Công Nguyên đến nay, theo Nhật Bản
Sử Kư và Cổ Sự Kư, Thiên Hoàng đầu tiên là hoàng
đế Thần Vũ (Jimmu Kamuyamato Iwarebiko) và ngôi vua
được truyền liên tục từ đó cho
đến Nhật Hoàng hiện đại là Minh Nhân Thiên
Hoàng (Akihito Tennō).
[6] Phong Đô là một huyện của
thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên. Tại Phong Đô
có một nơi gọi là Quỷ Thành nằm ngay trên núi
Phong Đô, tương truyền đây là nơi cư
ngụ của Phong Đô Đại Đế (vị
chưởng quản cơi Âm) theo tín ngưỡng dân gian
của Trung Hoa. Từ thời Hán Ḥa Đế, Quỷ Thành
đă được triều đ́nh sắc phong là Quỷ
Quốc Kinh Đô, và được Đạo Giáo coi là
một trong số 72 nơi gọi là “động thiên
phước địa” tại Trung Hoa. Theo các nhà nghiên
cứu, tại núi Phong Đô, theo truyền thuyết (được
Cát Hồng ghi lại trong bộ Thần Tiên Truyện),
thoạt đầu có hai vị đạo sĩ là
Vương Phương B́nh và Âm Trường Sinh tu
luyện thành tiên tại núi này, Đạo giáo về sau coi
hai vị này là “Thiên Sư” của núi, và ghép hai tên hai vị
này thành Âm Vương dẫn đến sự ngộ
nhận nơi này là chỗ cư ngụ của vua cơi Âm (âm
vương), dẫn đến h́nh thành niềm tin Phong
Đô là chỗ âm tào quản lư linh hồn người
chết. Với công tŕnh xây đập thủy điện
Tam Hiệp, nơi này đă bị vùi sâu dưới nước.