Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 7
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập
19
Xin xem tiếp đoạn
cuối cùng của phần “hàng
cây diễn pháp”. Để tổng kết kinh văn,
đức Phật bảo:
Xá Lợi Phất! Kỳ Phật
quốc độ thành tựu như thị công đức
trang nghiêm.
舍利弗。其佛國土。成就如是功德莊嚴。
(Này Xá Lợi Phất! Cơi
nước Phật ấy thành tựu công đức trang
nghiêm như thế).
Ở
phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị đại ư của
đoạn tổng kết. Nói chung, đức Thế Tôn
kỳ vọng chúng ta sẽ sanh ḷng tin sâu đậm
chẳng nghi ngờ đối với hết thảy
sự trang nghiêm trong thế giới Tây Phương, chúng
được thành tựu bởi hạnh nguyện
của A Di Đà Phật, cũng như do “tịnh nghiệp của mỗi hành nhân văng sanh
Tịnh Độ cảm thành, chỉ do Thức biến”.
Tâm Phật và tâm chúng sanh dung hợp thành một thể,
cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Cuối cùng,
chúng tôi nói: “Toàn Lư thành Sự,
toàn Sự tức Lư, toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh”
(toàn bộ Lư chính là Sự, toàn bộ Sự chính là Lư, hoàn
toàn khởi tu nơi tánh, toàn bộ tánh dốc hết
nơi tu). Bốn câu này bàn luận đến mức cùng
tuyệt, tức là “Tánh và Tu
không hai”, Tánh Đức và Tu Đức dung hợp thành
một Thể. Đạo lư này hết sức sâu xa,
nhưng nếu luận trên mặt sự tướng tu
học của Tịnh Độ th́ lại vô cùng “thiển hiển” (rơ ràng,
dễ hiểu). Nói tới chỗ này chính là thâm - thiển
bất nhị (sâu và cạn chẳng hai).
Câu cuối cùng chính là lời cảm
thán thiết tha của đại sư Ngẫu Ích: “Nại hà, ly thử Tịnh
Độ, biệt đàm duy tâm Tịnh Độ, cam đọa
thử tức điểu không chi tiếu dă” (Sao lại
ĺa Tịnh Độ này để bàn riêng lẽ duy tâm
Tịnh Độ, cam chịu tiếng chê ‘thử tức
điểu không’). Hết sức cảm thán! Đây là
lời trách những kẻ chẳng chất phác, thật thà
niệm Phật, coi rẻ pháp môn Niệm Phật, thích “đàm
huyền thuyết diệu” (bàn luận những chuyện
huyền diệu). Nếu bảo là Có th́ thật ra, kẻ
ấy chưa hiểu được lư Diệu Hữu.
Nếu nói là Không, kẻ ấy cũng chẳng biết
đạo lư Chân Không; toàn là nghe lỏm nói ṃ đó thôi! Nói
chung, không thoát khỏi vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước! Cuối câu nói trên đây, Tổ nêu thí
dụ: “Thử tức” là
tiếng chuột kêu, “điểu
không” là chim bay trên không chẳng lưu lại dấu
tích. Dùng những h́nh ảnh này để tỷ dụ: Dùng
Thử Tức[1]
để tỷ dụ những kẻ nói Có nhưng chẳng biết lư Diệu
Hữu; dùng Điểu Không để tỷ dụ
những kẻ ưa thích nói Không, nhưng thực sự
chẳng hiểu thế nào là Chân Không. Chân Không và Diệu
Hữu là một, chứ không phải hai.
Trong kinh điển Đại
Thừa, đức Phật thường giảng: “Tướng có, tánh không; từ
trong Không sanh ra Có, Có trở về Không”, sanh ra rồi
quay về, trong thực tế, chúng ta không có cách ǵ hiểu
được, tốc độ [diễn biến] quá
nhanh. V́ thế, đức Phật nói là “bất sanh, bất diệt”. Trong kinh Kim Cang,
đức Phật dạy: “Như
lộ, diệc như điển, ưng tác như thị
quán” (Như sương cũng như chớp, nên
thường quán như vậy). Kinh Lăng Nghiêm giảng: “Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận” (Ngay chỗ này xuất
sanh, ngay nơi này diệt mất). Sanh - diệt hầu
như đồng thời, bởi thế gọi là “bất sanh, bất diệt”.
Niệm thứ nhất vừa diệt, niệm thứ hai
bèn sanh tiếp theo ngay. Niệm thứ hai vừa diệt,
niệm thứ ba liền sanh tiếp theo ngay. Tốc
độ nhanh chóng, chẳng những phàm phu không thể
biết, kinh Đại Thừa nói ngay cả hàng Thất
Địa Bồ Tát cũng không biết, từ Bát
Địa Bồ Tát trở lên mới thấy
được. Dùng công phu định lực rất sâu như
vậy th́ Bát Địa Bồ Tát mới thấy
được cái tướng Động cực kỳ vi
tế ấy (tướng Động ấy chính là vô minh,
là nghiệp tướng vô minh).
Hiện tại các nhà khoa
học đă từ phương pháp suy luận Toán Học
t́m ra đạo lư này; họ nói Hữu từ đâu mà có?
Hữu từ Không sanh ra, “vô
trung sanh hữu”. Hữu lại trở về Không trong
từng sát-na. Chúng ta nói là từng sát-na, chứ thật ra
thời gian tính bằng sát-na vẫn c̣n dài lắm! Không có cách
ǵ diễn tả được hết! Người “luận
Không, bàn Có” chẳng tách khỏi ư thức; nói cách khác, hoàn
toàn không rời được vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, giống như chuột kêu,
như chim bay trên không, chẳng t́m được dấu
tích. Đại Sư cảm thán cho những kẻ có duyên
phận gặp được pháp môn này, nhưng chẳng
chịu thật thà tu tập, thật đáng tiếc!
Đàm huyền thuyết
diệu là những ai? Những hạng người trong
Tông Môn, Giáo Hạ, đặc biệt là trong thời
Mạt Pháp này. Chúng ta biết niên đại của đại
sư Ngẫu Ích cách chúng ta không xa, Ngài sanh vào niên hiệu
Vạn Lịch 26 đời Minh (tức năm 1598), tính ra
Ngài là người thuộc thế kỷ 16. Lăo nhân gia viên
tịch nhằm năm Thuận Trị 11 đời Thanh
(tức năm 1654). Đại Sư trụ
thế năm mươi bảy năm, không lâu! Ngài
văng sanh lúc năm mươi bảy tuổi. Thành tựu
của Ngài chẳng thể nghĩ bàn, là một vị
nhất đại tông sư của Tịnh Tông. Ấn
Quang đại sư tán thán bộ Yếu Giải như
sau: “Dẫu cho cổ Phật
tái lai chú giải kinh Di Đà một lần nữa, cũng
chẳng thể hay hơn bản này được”. Lời
khen này chẳng sai một tí nào. Chúng ta biết Ấn Quang
đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai.
Đại Thế Chí khen ngợi đại sư như
thế, th́ Ngẫu Ích đại sư là ai? Chúng tôi nghĩ
nếu không phải là A Di Đà Phật th́ cũng phải
là Quán Thế Âm Bồ Tát, chứ chẳng phải ai khác nên
Đại Thế Chí Bồ Tát mới tán thán như
thế.
Thời gian Phật, Bồ Tát
ứng hóa trụ trong thế gian dài hay ngắn đều
do duyên cảm ứng của chúng sanh. Chúng sanh có Cảm,
Phật, Bồ Tát liền Ứng. Không c̣n duyên nữa,
Phật, Bồ Tát bèn đi. Ẩn hiện vô thường,
ẩn hiện tự tại, đúng là “thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng” (ngàn
chỗ mong cầu, ngàn chỗ ứng). Nay chúng ta xem
tiếp đoạn tiếp theo.
6.3.1.3. Chánh báo mầu nhiệm
Đoạn tiếp theo nói về chánh báo
mầu nhiệm. Trước hết, chúng ta hăy đọc
kinh văn một lượt:
Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư
vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?
舍利弗。於汝意云何。彼佛何故號阿彌陀。
(Này Xá Lợi Phất! Ư ông
nghĩ sao? Đức Phật ấy v́ sao hiệu là A Di
Đà?)
Đây là lời đức
Thế Tôn hỏi tôn giả Xá Lợi Phất. Tiếp
đó, đức Phật giải đáp.
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật
quang minh vô lượng chiếu thập phương
quốc, vô sở chướng ngại. Thị cố
hiệu vi A Di Đà.
舍利弗。彼佛光明無量。照十方國。無所障礙。是故號為阿彌陀。
(Này Xá
Lợi Phất! Đức Phật ấy quang minh vô
lượng chiếu các cơi nước mười
phương không bị chướng ngại. V́ thế,
Ngài hiệu là A Di Đà).
Chúng ta đọc tiếp luôn
đoạn dưới.
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ
Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng
vô biên A-tăng-kỳ kiếp. Cố danh A Di Đà.
又舍利弗。彼佛壽命。及其人民。無量無邊阿僧祇劫。故名阿彌陀。
(Lại này Xá Lợi Phất!
Thọ mạng của đức Phật ấy và nhân dân
của Ngài là vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp,
nên tên là A Di Đà).
Chúng ta phải đọc
đến đây mới thấy ư nghĩa chung của cả
đoạn. [Sách Yếu Giải nhận định]: “Thử kinh đích thị tŕ danh
diệu hạnh, cố đặc trưng thích danh hiệu,
dục nhân thâm tín vạn đức hồng danh bất khả
tư nghị, nhất tâm chấp tŕ, vô phục nghi nhị
dă” (Kinh này chỉ bày đích xác diệu hạnh Tŕ Danh;
v́ thế đặc biệt tŕnh bày, giải thích danh
hiệu, ngơ hầu làm cho con người tin sâu vào vạn
đức hồng danh chẳng thể nghĩ bàn, nhất
tâm chấp tŕ, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa). Trước
hết, phải hiểu đức Phật dạy điều
ǵ trọng yếu nhất trong kinh này? Chính là dạy chúng ta
“chấp tŕ danh hiệu”. Trong bốn cách niệm Phật
th́ thuận tiện nhất, dễ dàng nhất, thù
thắng nhất không pháp nào hơn được Tŕ Danh.
Bốn pháp Niệm Phật là Thật Tướng Niệm
Phật, Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng
Niệm Phật, Tŕ Danh Niệm Phật. Kinh này chủ
trương Tŕ Danh Niệm Phật, hoàn toàn có cùng chủ trương
với kinh Vô Lượng Thọ. Bởi vậy, danh
hiệu rất trọng yếu! Đặc biệt
muốn nêu bật danh hiệu, nên đức Phật kêu Xá
Lợi Phất để hỏi: “Ư ông nghĩ sao?
Đức Phật trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới v́ lư do ǵ hiệu là A Di Đà?”
“A Di Đà” là tiếng Phạn, “chánh phiên Vô Lượng” (dịch thành Vô
Lượng). A là Vô, Di Đà là Lượng. Dịch theo
mặt chữ là Vô Lượng. “Bổn
bất khả thuyết” (vốn chẳng thể nói), vô
lượng như thế nào? Không có ǵ chẳng phải là
vô lượng, điều ǵ cũng vô lượng, đó
là ư nghĩa của danh hiệu. Hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, bất cứ pháp
nào cũng đều vô lượng, v́ sao? Xứng tánh!
Trong Thiền Tông, lăo ḥa thượng phải khảo
sát coi học tṛ có đại triệt đại ngộ
hay không. Trong rất nhiều công án Thiền
Tông, chúng ta thường thấy lăo ḥa thượng
khảo học tṛ: “Ngươi thực sự hiểu à?
Vậy th́ cầm lấy một pháp đưa cho ta xem”. Học tṛ đúng là tùy
tiện lấy một pháp, cầm một phiến lá,
cầm một nhánh cỏ, giơ một ngón tay, nghĩa là
sao? Chúng ta không hiểu ǵ hết. Lăo ḥa thượng
gật đầu, ấn chứng. Chúng ta chỉ biết
là nhiệm mầu không thể nói nổi!
Bất cứ một pháp nào cũng
đều là vô lượng; trong Chân Như bổn tánh không
có dài - ngắn, chẳng có sanh - diệt, chẳng có
đến - đi, chẳng có trước - sau. Nói thật
ra, không có cách ǵ để giảng chữ A Di Đà cả,
chẳng thể nghĩ bàn! Vậy th́ ở đây
đức Phật dùng hai nghĩa quang minh và thọ
mạng trong [những sự vô lượng ấy], “Bổn Sư dĩ quang thọ
nhị nghĩa, thâu tận nhất thiết vô
lượng” (Bổn Sư dùng hai nghĩa quang minh và
thọ mạng để gồm thâu hết thảy vô
lượng). Quang minh và thọ mạng biểu thị
pháp, Quang biểu thị không gian, Thọ biểu thị
thời gian. “Quang thị hoành
biến thập phương, Thọ thị thụ cùng tam
tế” (Quang là chiếu khắp mười phương
theo chiều ngang, Thọ là tột cùng ba đời (tam
tế) theo chiều dọc). “Tam tế” (三際) là quá khứ, hiện tại, vị
lai. “Hoành thụ giao triệt” (cùng
khắp cả chiều ngang lẫn chiều dọc), tức là “pháp giới thể”. A Di Đà Phật là ǵ? A Di
Đà Phật là pháp giới thể. “Cử thử Thể tác Di Đà thân độ” (Nêu
lên cái Thể này để làm thân và cơi của A Di Đà Phật):
Thân A Di Đà Phật là pháp giới, tức là pháp giới
thể. Cơi nước Cực Lạc cũng là pháp giới
thể.
“Diệc tức
cử thử Thể tác Di Đà danh hiệu” (Cũng chính là nêu lên cái Thể này để
tạo thành danh hiệu A Di Đà). Như vậy th́ danh
hiệu A Di Đà là ǵ? Chính là danh hiệu của tự
tánh, danh hiệu của Chân Như bổn tánh. Niệm
một câu A Di Đà Phật là niệm Tự Tánh Phật.
Nếu chúng ta thắc mắc: Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới có A Di Đà Phật hay không? Có
chứ! Không những có, mà c̣n thực sự có. Có
tướng ấy, Tánh và Tướng là một, không hai.
Chẳng những Tánh và Tướng là một, không hai; mà
tự - tha cũng là một, không hai. Toàn thể vũ
trụ và ta là một, không hai. Sự kiện này ai hiểu
được? Càng nói chúng ta càng mê hoặc, nhưng đó là
sự thật. “Trọn pháp
giới hư không giới là một con mắt của Sa-môn”,
đây là một công án nổi tiếng trong nhà Thiền,
rất nhiều người nói được. Toàn là
lời thật, lời của những người thực
sự khế nhập cảnh giới.
Bởi thế, sách Yếu Giải
viết tiếp: “Tức chúng
sanh bổn giác lư tánh, tŕ danh tức Thỉ Giác hợp Bổn”
(Chính là bổn giác lư tánh của chúng sanh, Tŕ Danh là Bổn
Giác hợp cùng Thỉ Giác). Pháp này nhiệm mầu đến
cùng cực! Chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật là Thỉ
Giác hợp với Bổn Giác. A Di
Đà là Bổn Giác, tức là Bổn Giác nơi tự tánh
[của mỗi hành nhân Tịnh Độ], nay chúng ta phát tâm
niệm một câu A Di Đà Phật th́ cái tâm niệm
ấy là Thỉ Giác. Thỉ Giác và Bổn Giác là một,
không phải hai. “Thỉ, Bổn
bất nhị, sanh - Phật bất nhị” (Thỉ Giác
và Bổn Giác chẳng hai; chúng sanh và Phật không hai). “Sanh” là chúng sanh, là chính chúng ta.
Bản thân chúng ta và A Di Đà Phật bất nhị,
Thỉ Giác và Bổn Giác bất
nhị. “Cố nhất niệm
tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật. Niệm Phật
nhân bất khả bất tri thử nghĩa dă” (V́
thế, một niệm tương ứng một niệm
Phật, niệm niệm tương ứng niệm
niệm Phật. Người niệm Phật chẳng
thể không biết nghĩa lư này). Người niệm
Phật chúng ta hiện nay rất nhiều, có mấy ai
hiểu được ư nghĩa này? Chẳng hiểu ư
nghĩa này! Chẳng hiểu ư nghĩa này th́ niệm
Phật không tương ứng, nên chỉ là “miệng có, tâm không”. Nếu
quư vị hiểu được nghĩa lư này th́ sẽ biết
niệm, người biết niệm Phật sẽ chẳng
thể nghĩ bàn.
Nghĩa là sao? Kinh Lăng Nghiêm,
Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương
đă giảng rất hay: “Ức
Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai, tất
định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm
Phật, hiện tiền tương lai, nhất
định thấy Phật). Tâm tự được khai,
“tâm khai” là đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Dùng pháp môn
Niệm Phật để minh tâm kiến tánh, minh tâm
kiến tánh là Lư nhất tâm bất loạn. V́ vậy, có
người niệm Phật đắc Lư nhất tâm, có người
đắc Sự nhất tâm, có người đắc công
phu thành phiến, có người cái ǵ cũng không
đạt, tâm vẫn là một mớ lộn xộn.
Vấn đề chính là quư vị niệm có biết niệm
hay không, có tương ứng hay không tương ứng mà
thôi! Do đây biết rằng: Kinh giáo này chẳng chỉ
dạy điều chi khác, chỉ là kinh Văng Sanh! Trong
những kinh Văng Sanh, tối thiểu phải hiểu
kỹ kinh A Di Đà. V́ sao? Nếu thực sự hiểu
rơ, minh bạch th́ Phật hiệu sẽ tương
ứng chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu chẳng hiểu lư, chẳng rơ
cảnh giới, phương pháp cũng mơ hồ,
dẫu thời gian niệm Phật dài lâu cũng khó ḷng
thành tựu. Bởi lẽ, quư vị niệm Phật
chẳng tương ứng, chẳng tương ứng với
tự tánh, tự tánh là Phật. Không tương ứng với
tự tánh th́ ta và A Di Đà Phật (chúng tôi thường nói
là tâm - nguyện của A Di Đà Phật, “tâm - nguyện - giải - hạnh” của A Di
Đà Phật, chúng tôi hay nói bốn chữ này) chẳng
tương ứng. Trong mỗi niệm đều
tương ứng với tâm - nguyện - giải -
hạnh của A Di Đà Phật là Đệ Nhị
Nghĩa. Ở đây, sách Yếu Giải nói đến
Đệ Nhất Nghĩa. Đệ Nhất Nghĩa
rất khó đạt, tương ứng với Tánh -
Thể là Lư nhất tâm bất loạn. Đệ Nhị
Nghĩa chưa đạt đến Lư nhất tâm bất
loạn, nhưng có thể đạt đến Sự
nhất tâm bất loạn, tương ứng với tâm - nguyện
- giải - hạnh của A Di Đà Phật. Nếu quư
vị chẳng thông giáo nghĩa, sẽ rất khó khăn!
Nếu như có ai vặn hỏi: “Từ
cổ đến nay, chúng ta thấy có rất nhiều ông
già bà cả niệm Phật, chưa từng đi học,
chẳng biết chữ, xưa nay chưa hề nghe [giảng]
giáo nghĩa, cái ǵ cũng không biết, cứ niệm
một câu A Di Đà Phật đến cùng, sao họ
vẫn thành công?” Chớ nên coi thường hạng
người bậc nhất ấy! Thiện căn,
phước đức, nhân duyên của họ đă chín muồi,
không có vọng niệm, vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước thảy đều không có, nên tự
nhiên tương ứng với một câu Phật hiệu. Chính
bản thân họ cũng không biết chính ḿnh đă tương
ứng! Dẫu thiện căn của họ sâu hay cạn,
công phu siêng hay lười, vẫn có thể thực sự
thành công văng sanh. Sanh về cơi Đồng Cư là
người thiện căn, công phu nông cạn. Sanh về
cơi Phương Tiện là hạng người thiện
căn, công phu sâu hơn một bậc nữa. Người
tối thượng thừa, tâm địa thanh tịnh
chẳng nhiễm mảy trần, tâm địa chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi thật hiếm có. Vừa
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
hoa sen liền nở gặp Phật ngộ Vô Sanh, chớ
nên xem thường!
Ngày nay chúng ta gặp chướng
ngại, tập khí phiền năo quá nặng, vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước không buông
xuống được. Vọng niệm quá sức
nhiều, dùng bất cứ phương pháp ǵ cũng không
ngưng dứt được, chẳng thể không
biết điều này. Người thực sự dụng
công phải t́m ra phương pháp ngưng dứt vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, thực
sự sám hối, khẩn thiết cầu Phật gia tŕ.
Phật trên mặt Lư là có, mà trên mặt Sự cũng có. Thực
sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới, thực
sự có A Di Đà Phật, không giả chút nào hết! Chúng
ta nghiệp chướng nặng dường ấy, làm
cách nào đây? Không cầu Phật gia tŕ sẽ không thể
giải quyết vấn đề ấy. Phải cầu
Phật, khẩn thiết cầu Phật!
Trước kia, thầy Lư dạy tôi “chí thành cảm thông”: Chân thành
đến cùng cực th́ sự cảm ứng sẽ
hiện tiền. Quư vị nói ḿnh rất chân thành, nhưng
trong sự chân thành ấy vẫn xen tạp vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước; chỉ
cần xen tạp một tí tẹo, ḷng chân thành đă
bị phá hoại rồi. Chỉ là thành, chứ chưa
phải chân thành, v́ c̣n xen tạp vọng niệm, xen
tạp nghi hoặc: “Ḿnh cầu như vậy có đúng hay không?
Phật có thực sự đến hay không? Cầu
suốt hai ba ngày mà sao Phật vẫn không đến?” Không
chân thành! Vẫn c̣n xen tạp vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, xen tạp dục vọng,
chẳng tương ứng! V́ thế, chẳng thể
không biết ư nghĩa này. Có hiểu ư nghĩa này rồi th́
quư vị mới hiểu [v́ sao] chẳng thể không tu pháp
sám hối.
Lúc chúng tôi mới học Phật, c̣n
chưa xuất gia, xin nghỉ việc, nghĩ muốn
đi xuất gia; lăo cư sĩ Châu Kính Trụ giới
thiệu cho tôi làm quen với pháp sư Sám Vân, đến
tiểu thảo xá của pháp sư Sám Vân ở Phố Lư,
sống trong tiểu thảo xá ấy để làm công
quả. Gian tiểu thảo xá đó chỉ có năm
người, ba vị xuất gia là pháp sư
Sám Vân, pháp sư Đạt Tông, và pháp sư Bồ Diệu;
hai người cư sĩ là lăo cư sĩ Châu Kính Trụ
và tôi. Lúc đó cụ Châu bảy mươi tuổi, tôi
nhỏ tuổi nhất, h́nh như ba mươi mốt tuổi.
Tôi làm công quả ở thảo xá, dọn dẹp vệ sinh,
mỗi ngày nấu hai bữa (thảo xá chỉ ăn Ngọ,
không ăn chiều, nấu hai bữa thôi), giặt quần
áo. Đun bếp trên núi phải đi nhặt củi, không
cần chẻ củi. Trên núi cây khô, cành nhánh lá cây rụng
xuống rất nhiều; mỗi ngày đi nhặt,
nhặt củi về đun bếp; trồng rau trên núi,
đó là việc của tôi.
Ngoài ra, pháp sư Sám Vân dạy tôi
phương pháp tu hành: Lễ Phật! Quy định công
khóa lễ bái mỗi ngày là tám trăm lạy, hay lắm! Thực
sự đắc lực, lễ Phật để sám
trừ nghiệp chướng. Buổi sáng lễ ba trăm
lạy, buổi chiều lễ ba trăm lạy. Buổi
trưa ăn cơm xong liền nhiễu Phật kinh hành
khoảng chừng nửa giờ, nhiễu xong, lễ
Phật hai trăm lạy nữa. C̣n dư một chút thời
gian th́ pháp sư Sám Vân chỉ định công khóa của tôi
là xem chú giải kinh A Di Đà, Ngài trao cho tôi ba bản chú
giải: Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, Viên Trung
Sao của U Khê đại sư, và Yếu Giải của
Ngẫu Ích đại sư. Tôi tự xem, thầy chẳng
dạy, chẳng giảng, bảo tôi phân tích thành biểu
giải.
Hoàn tất ba bộ công khóa ấy xong,
đọc xong rồi, thầy bảo tôi đọc Ấn
Quang Đại Sư Văn Sao, tôi lên núi đọc sách,
đọc rất nhiều thứ. Ba bộ chú giải kinh
A Di Đà, Văn Sao của Ấn Quang đại sư. Lúc
đó Ấn Quang Văn Sao mới chỉ có bộ Chánh Biên
và Tục Biên. Ở Đài Loan lúc đó, Văn Sao in thành một
bộ bốn cuốn, mang tựa đề Văn Sao Chánh
Tục Biên. Tôi lên núi học suốt năm tháng rưỡi.
Trong năm tháng rưỡi, lạy mười mấy
vạn lạy, đúng là tiêu nghiệp chướng. Trong
lúc lễ Phật, tâm không tạp niệm, chỉ có A Di
Đà Phật, niệm A Di Đà Phật, nghĩ
đến A Di Đà Phật. Nay người mới
xuất gia không có được phước khí như
vậy. Tôi vào thảo xá chăm sóc ba vị pháp sư,
một vị lăo cư sĩ, ḿnh tôi làm công quả
để tu phước! Tôi một chút phước báo
cũng không có, phước báo là do tu tại nơi đó, nhờ
đó mới bắt đầu tu phước. Lễ
Phật sám hối tiêu nghiệp, đọc chú giải kinh
A Di Đà và Ấn Quang Văn Sao để mở mang trí
huệ, phước huệ song tu. Quư vị phải thực
sự thực hành mới
được, chớ có sợ khổ.
Lúc ấy, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam
sáng lập một Đồ Thư Quán (thư viện)
ở Đài Trung, tức là Từ Quang Đồ Thư Quán;
phỏng chừng Đồ Thư Quán xây cất chẳng
bao lâu sẽ xong, tôi bèn rời Phố Lư đến Đài
Trung, phát tâm học kinh giáo với thầy Lư. Tôi đến
phục vụ trong Đồ Thư Quán. Lúc đó, tại
Đồ Thư Quán có ba người, nếu tính cả người
chuyên môn nấu bếp th́ tổng cộng là bốn
người, làm công quả có bốn người. Công
việc rất nhẹ nhàng. Công việc cũng không có ǵ
nhiều, tối thiểu là tôi không phải giặt
quần áo cho mọi người, không phải nấu
cơm; có người khác nấu rồi! Chỉ giặt
quần áo của ḿnh rất tiện, có nhiều thời
gian đọc sách. Lúc mới đến Đài Trung, tôi
vẫn lễ Phật, mỗi ngày lạy ba trăm lạy,
theo mọi người tụng công khóa sáng, buổi sáng
lễ một trăm lạy, giữa trưa lễ một
trăm lạy, buổi chiều lễ một trăm
lạy. Giữ được như vậy trong một
thời gian rất lâu, phải thực sự làm nghe! Vừa
mới vào cửa Phật th́ khổ hạnh là phương
pháp tu học đắc lực nhất. Không chịu
được khổ, chẳng chịu làm th́ không có cách
chi hết.
Chúng tôi thường khuyến khích
mọi người phải lễ Phật, lễ Phật
tiêu nghiệp chướng. Lúc lễ Phật tâm phải
định. Quư vị muốn t́m phương pháp ư?
Lễ Phật là phương pháp, Niệm Phật là
phương pháp, tịnh tọa là phương pháp,
đọc kinh nghiên cứu giáo pháp cũng là phương
pháp. Phương pháp nào có hiệu quả cho quư vị th́
mỗi người không giống nhau, mỗi người
căn tánh khác biệt. Bản thân tôi khi nhiếp tâm
thấy vọng niệm nhiều quá, làm thế nào
để vọng niệm bớt đi một chút đây?
Đối với tôi, phương pháp hữu hiệu
nhất chính là lễ Phật và nghiên cứu kinh giáo, trong
những lúc làm như vậy bèn không có vọng
tưởng. V́ thế, sau này tôi đi theo con
đường giảng kinh, thời gian lễ Phật
ngày càng ít hơn, nhưng tăng thêm thời gian đọc
kinh nghiên cứu giáo lư. Mỗi ngày phải đọc, lúc
đọc bèn khuyên hay chấm[2],
những chỗ quan trọng tôi dùng bút màu khoanh lại,
viết ghi chú hay tóm tắt đơn giản bên cạnh.
Tập trung tinh thần, ư chí, không vọng tưởng; hễ
có vọng tưởng là trật rồi!
Lúc lễ Phật không được có
vọng tưởng, có vọng tưởng th́ làm sao?
Hễ có vọng tưởng sẽ quên mất ḿnh đă
lễ bao nhiêu lạy. V́ thế, lúc ấy chẳng thể
khởi vọng tưởng, lễ được bao nhiêu
bèn ghi nhớ rất rơ ràng. Lễ ba trăm lạy rơ ràng. Hễ
khởi vọng tưởng là nhầm lẫn liền. Hễ
nhầm lẫn th́ sao? Nhầm lẫn th́ lạy trở lại
từ đầu. V́ thế, tinh thần, ư chí nhất
định phải tập trung. Tự ḿnh phải t́m ra
cách đối trị phiền năo tập khí của chính
ḿnh; phiền năo tập khí nghiêm trọng nhất là vọng
niệm. Phải làm thế nào để ngưng dứt
vọng niệm? Thấu triệt, liễu giải Lư là
tốt nhất, quư vị đă ở một mức
độ sâu rồi. Chẳng liễu giải Lư cũng
không sao, trước hết phải chế ngự
được vọng niệm, đối với
người mới học điều này quan trọng
hơn hết. Sau này công phu đắc lực, bất
luận tụng kinh hay là nghe giảng, trong nhà Phật
gọi là “thính giáo, độc
kinh”; đọc kinh hay nghe giảng đều có chỗ
ngộ, đều nhờ vào tâm thanh tịnh. Tâm không thanh
tịnh th́ một tí biện pháp ǵ cũng không có.
Tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh là
phân biệt, chấp trước ít; càng ít càng hay. Lại
c̣n một việc các đồng học chúng ta phải nên
nhớ kỹ: Sự chẳng liên quan đến ḿnh
đừng t́m hỏi, trong cả đời tôi [thái
độ này] rất đắc lực. Tôi tuyệt
đối không nghe chuyện họ Trương giỏi,
họ Lư dở, tôi không chịu nổi, từ nhỏ tôi
đă tập quen như vậy, không có cái thói quen ấy. Tôi
tuyệt đối chẳng hỏi tới chuyện của
người khác! Người khác có đem những
chuyện thị phi như “họ Trương giỏi,
họ Lư tệ hại” đến kể với tôi, tôi
cũng không nghe; nhiều lắm là nói lấy lệ mấy
câu, tuyệt đối chẳng lưu tâm. Đương
nhiên càng chẳng thể kể lại. Đó là thói quen được
huân dưỡng từ nhỏ, đối với việc
học Phật sau này thực sự rất hữu ích, tâm
dễ chuyên chú. Đấy cũng thực sự là một
nhân tố khiến cho sức lư giải được sâu
hơn một chút.
Lại xem tiếp đoạn
dưới [trong sách Yếu Giải]: “Tâm tánh tịch nhi thường chiếu, cố vi
quang minh. Kim triệt chứng tâm tánh vô lượng chi Thể,
cố phóng vô lượng quang minh, cụ hữu nhiếp
thọ gia bị chi công, trừ chướng khai trí chi đức”
(Tâm tánh tịch nhưng thường chiếu, nên là quang
minh. Nay chứng thấu triệt cái Thể của tâm tánh là
vô lượng, nên phóng ra vô lượng quang minh, có
đủ công năng nhiếp thọ, gia bị, có
đức tánh trừ chướng, khai trí huệ). Câu này
giảng về vô lượng quang. Quang từ đâu mà có?
Tâm tánh vốn sẵn có quang minh: Bát Nhă quang minh, trí huệ
quang minh, vốn sẵn có! Vốn sẵn có, nhưng sao nay
chúng ta không có, trí huệ lẫn quang minh đều không có,
quang ǵ cũng đều không có? V́ sao không có quang? V́ chúng ta
mê mất tâm tánh. V́ sao mê? Tâm ta động. Quư vị
phải biết: Tâm vốn chẳng động, làm sao
động được! Nếu cái tâm thực sự
động th́ tâm ấy là vọng tâm, chẳng phải chân
tâm. Thưa cùng quư vị: Chân tâm vĩnh viễn bất
động. Xác thực v́ chúng ta mê mất chân tâm, chẳng
biết chính ḿnh có chân tâm nên bèn tưởng cái ǵ là chân tâm?
Tưởng ư niệm là chân tâm, tưởng “tâm ta có
thể suy nghĩ, ta có thể phân biệt là chân tâm”.
[Thật ra], đó là Duyên Lự Tâm, tức là ǵ? Trong
Phật pháp, [Duyên Lự Tâm] được gọi là Thức.
Quư vị thấy chỉ do Thức
biến, Thức tâm (vọng tâm) đầu thai trong luân
hồi lục đạo. Ai đi đầu thai? Thức
tâm. Trong Phật pháp thường nói: “Tiên lai hậu khứ, tác chúa công” (Đến
trước, đi sau, làm chúa tể). Thức thứ tám là
A Lại Da Thức đến đầu thai, nó đến
trước hết. Khi con người chết đi, A
Lại Da Thức rời đi sau cùng. V́ thế nói “đến
trước hết”, nhưng ra đi sau cùng hết, “đến
trước, đi sau, làm ông chủ”. Nó chính là nguyên tố
chủ yếu của luân hồi lục đạo. Nó là
vọng tâm, không phải chân tâm. Coi vọng tâm là chân tâm th́
hỏng rồi! Vọng tâm không có trí huệ, chân tâm có trí
huệ; nhưng chân tâm và vọng tâm vĩnh viễn ở
chung một chỗ, chẳng thể tách ĺa, chân và vọng
ḥa hợp. Ở nơi đâu? Ở ngay trong thân thể
chúng ta. Kinh Lăng Nghiêm lấy thí dụ con mắt: Con
mắt nh́n lần thứ nhất, cái thấy đầu
tiên là chân tâm, ư niệm thứ hai tiếp theo ngay sau đó
là vọng tâm. Bây giờ đă hết giờ rồi, trong tiết
sau chúng tôi sẽ dựa theo t́nh h́nh chung mà báo cáo đơn
giản cùng quư vị.
*
Phần trước nói đến chân
tâm và vọng tâm. Chân tâm “tịch nhưng thường
chiếu” là quang minh, “chiếu nhưng thường
tịch” là vô lượng thọ. Thế nhưng chúng ta
chẳng thọ dụng được v́ chúng ta toàn dùng
vọng tâm. Vấn đề này rất nghiêm trọng. Trong
hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật đă cùng A Nan
luận về chân tâm và vọng tâm. Thích Ca Mâu Ni Phật
lấy tánh Thấy làm thí dụ. Điều này chúng ta
phải chú tâm một chút mới ḥng thấu hiểu
được. Chúng ta mở mắt ra bèn thấy, cái
thấy đầu tiên khi mở mắt ra, lúc đó không
phân biệt cũng như không có chấp trước,
đó là “tâm tánh thấy”, đó là chân. Đó là cái thấy
bởi tâm tánh. Đến niệm thứ hai bèn khởi phân
biệt, bèn khởi chấp trước, lập tức biến
thành “thức thấy”.
Quư vị phải hiểu Thức có phân
biệt, chấp trước; Tánh không có. Tánh có thể
hiện, c̣n Thức có thể biến. Chư Phật,
Bồ Tát dùng tánh Thấy để nh́n, bởi vậy các
Ngài thấy được Nhất Chân pháp giới. Chúng
sanh trong chín pháp giới dùng năm mươi mốt Tâm Sở
trong tám Thức để thấy, cho nên những ǵ họ
thấy đều biến thành chín pháp giới. Chín pháp
giới do đâu mà có? Đều là từ mức
độ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước sai khác mà có; phải hiểu điều này! Mê
càng sâu th́ trong chín pháp giới càng xuống thấp hơn,
đọa lạc càng thấp hơn; mê cạn th́ lên cao
hơn. Nếu chuyển được tám Thức thành
bốn Trí sẽ vượt khỏi mười pháp
giới, chẳng c̣n thuộc trong mười pháp giới
nữa, nhà Phật gọi [những người ấy] là
Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát đă chuyển tám Thức
thành bốn Trí, các Ngài chẳng dùng Thức, đă kiến
tánh rồi.
Bởi thế, ở con mắt th́ Chân
Tánh hay Chân Như bổn tánh hoặc Chân Tâm được gọi
là tánh Thấy, tại tai gọi là tánh Nghe, tại mũi
gọi là tánh Ngửi, tại lưỡi gọi là tánh
Nếm. Nếu nói gộp lại, nói đơn giản
hơn một chút th́ là “kiến
văn giác tri” (thấy, nghe, hay, biết). Kiến là
mắt thấy, Văn là tai nghe, nơi mũi, lưỡi,
thân cảm nhận là Giác, nơi ư là Tri. V́ thế, kiến
văn giác tri là căn tánh của sáu Căn. Căn tánh
vốn sẵn đủ năng lượng đó,
nhưng trong ấy nhất định chẳng có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. V́ thế,
nó là chân, chẳng phải giả. Đó là chân tâm, là bổn
tánh, trong kinh Phật gọi nó là “tâm tánh”. Nó “tịch nhưng thường chiếu, chiếu
nhưng thường tịch”, ở ngay trên thân chúng ta,
chứ không phải ở ngoài. V́ thế đức
Phật nói: “Nhất thiết chúng
sanh bổn lai thành Phật” (hết thảy chúng sanh
vốn sẵn thành Phật), câu này là thật, chứ không
phải giả. Xác thực là vốn sẵn thành Phật,
chỉ cốt sao sáu Căn kiến văn giác tri tiếp
xúc với cảnh giới sáu Trần bèn ĺa được
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Quư vị phải biết vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước là vọng
tâm. Vọng tưởng là thức A Lại Da thứ tám,
phân biệt là Ư thức thứ sáu, chấp trước là
thức thứ bảy. Trong tám thức, thực sự
khởi tác dụng là ba thức này; năm thứ
đầu chỉ nghe theo lệnh mà làm, chẳng làm chủ
được, kẻ làm chủ chính là ba thức này.
Chẳng dùng đến ba thức này th́ chẳng phải là
chuyển Thức thành Trí hay sao? Chuyển A Lại Da
Thức thành Đại Viên Kính Trí, chuyển Mạt Na thành
B́nh Đẳng Tánh Trí, chuyển thức thứ sáu thành
Diệu Quán Sát Trí. Quư vị có chuyển được hay
chăng? Không được! Thật đấy! Mắt
thấy sắc, lập tức khởi phân biệt,
vọng tưởng. Khởi phân biệt, vọng
tưởng là rớt vào hai, rớt vào ba, rớt vào
Thức rồi. Hai là ǵ? Là Ư Căn (Mạt Na) và Ư Thức.
Ba là Ư Thức, Mạt Na Thức và A Lại Da Thức.
Vừa động một niệm bèn lạc vào hai, vào ba! Rớt
vào hai, ba bèn biến thành phàm phu; không rớt vào hai, ba bèn
thành Phật hay Pháp Thân Bồ Tát. Phàm - thánh sai biệt là do
đây!
V́ thế, chư Phật, Bồ Tát thấy
quư vị rất đáng tiếc, cớ sao quư vị lại
khởi phân biệt, chấp trước? Nếu quư vị
chẳng khởi phân biệt, chấp trước, có
phải là đă thành Phật rồi ư? Cớ sao lại
khởi? Vừa khởi lên như vậy th́ sự
tướng đă bị vặn vẹo hết, không
thấy được chân tướng nữa! Nếu chẳng
khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, quư vị sẽ thấy được chân
tướng, đó gọi là Nhất Chân pháp giới.
Khởi lên ư niệm rồi bèn rớt vào hai, vào ba, rớt
vào ư thức và ư căn; mọi tướng bên ngoài
đều bị méo mó. Bởi vậy, đối với tướng
trạng của cảnh giới, quư vị bèn ưa thích
hoặc chán ghét, có cảnh mong lấy được, có
cảnh muốn vứt bỏ, [những ư niệm ấy] đều
là phân biệt, chấp trước nghiêm trọng, là
tạo nghiệp! Tạo nghiệp sẽ phải thọ
báo; quư vị chẳng thấy được chân
tướng sẽ chẳng có trí huệ.
V́ thế, Giao Quang đại sư chú
giải kinh Lăng Nghiêm, chủ trương “bỏ
Thức, dùng Căn”. “Xả Thức, dùng Căn” là ǵ? Dùng cái
niệm thứ nhất, nhất quyết chẳng dùng cái niệm
thứ hai. Có lư lắm, hay lắm, nhưng người b́nh
thường làm không nổi. Đúng là làm như vậy
không nổi; người làm được như vậy
phải là Pháp Thân Bồ Tát, chẳng phải là phàm nhân. [Làm
được như vậy] không chỉ siêu việt luân
hồi lục đạo mà c̣n siêu việt mười pháp
giới. Chúng ta nhất định phải hiểu
điều này, chẳng thể không hiểu. Làm không được
th́ là chuyện khác! Học dần dần để làm! Học
như thế nào? Đối với cảnh giới bên
ngoài, hăy nhạt ḷng chút, đừng mong mỏi hết
sức quá phận; chúng ta vẫn c̣n có phân biệt, nhưng
phân biệt ít hơn một chút, chấp trước
nhẹ đi một chút. Mỗi năm một ít dần,
năm sau nhẹ hơn năm trước là có tiến
bộ đấy!
Những người tầm
thường chúng ta, những hạng người căn
tánh trung hạ nên làm như vậy; đặc biệt
hạng người căn tánh bậc trung, nếu có
thể mài giũa như thế độ hai mươi, ba
mươi năm, sẽ dần dần nhập
được cảnh giới, trường thời huân tu
mà! Thế nhưng quư vị phải thực sự huân
tập, thực sự tu tập th́ mới được!
Thế nào là thực sự tu tập? Quư vị phải thực
sự xem nhẹ [ngũ dục, lục trần] một
chút, phải thực sự giảm bớt chấp
trước một chút, đó là công phu thực sự! Phân
biệt, chấp trước nghiêm trọng, hiếu
cường, hiếu thắng, vĩnh viễn là
chướng ngại, không có chút biện pháp chi hết! Con
người hiện tại tâm tự tôn rất mạnh,
tâm ngă mạn rất cao, khó lắm, hết sức khó
khăn! Thích Ca Thế Tôn lúc c̣n tại thế đă thị
hiện cho chúng ta thấy Ngài nhẫn nhục như
thế nào! Cả một đời Khổng lăo phu tử
thị hiện, đâu đâu cũng khiêm hư, nhún
nhường, việc ǵ cũng chẳng dám vượt
trước người khác, đều chịu lui một
bước. Thánh nhân dạy người là do từ Tánh Đức
lưu lộ.
Chúng sanh và Phật b́nh đẳng,
vạn pháp b́nh đẳng, có ǵ đáng để kiêu
mạn đâu nhỉ? Chúng ta đọc đến phần
năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm, chúng
ta thấy rất rơ năm mươi ba vị thiện tri
thức là chư Phật Như Lai ứng hóa, thị hiện
cho chúng ta thấy. Họ thị hiện những thân
phận thuộc bốn mươi địa vị Pháp Thân
đại sĩ, ai nấy đều khiêm hư, chẳng
ai nói: “Ta đúng, kẻ khác sai”. Không ai như vậy
cả, t́m không ra một vị nào! Họ đều rất
khiêm hư: “Vô lượng pháp môn, tôi chỉ biết
một pháp này, đối với các pháp môn khác, ngươi
hăy đến thỉnh giáo nơi những vị thiện tri
thức khác, họ đều cao hơn ta, đều
vượt trỗi ta, ta chẳng bằng được
họ”. Quư vị thấy đó: Mỗi một vị
thiện tri thức đều khiêm hư như thế. Cổ
nhân Trung Quốc dạy chúng ta: “Măn
chiêu tổn, khiêm thọ ích” (Tự măn chuốc lấy
tổn hại, khiêm nhường hưởng lợi ích).
Trong sáu mươi bốn quẻ của Kinh Dịch,
mỗi một quẻ đều có sáu hào xấu tốt
khác nhau. Chỉ có mỗi một quẻ có cả sáu hào
đều tốt, không có hào nào hung, trong sáu mươi
bốn quẻ chỉ có mỗi một quẻ mà thôi,
quẻ nào vậy? Quẻ Khiêm[3],
khiêm hư đại cát đại lợi, không lúc nào
bất lợi cả.
Con người phải học khiêm
hư, phải biết nhường nhịn. Quư vị nhường
nhịn người khác, người khác nhường nhịn
quư vị, nhường nhịn lẫn nhau, xă hội
tự nhiên an định, thế giới tự nhiên ḥa
b́nh. Trong hai người, có một kẻ tranh, có một người
nhường, cục diện ấy sẽ hóa giải ḥa
b́nh. Hai người cùng tranh, không nhường nhau,
phiền phức xảy ra liền, chiến tranh nổ ra
liền. Kết cuộc của chiến tranh là ǵ? Hai bên
cùng bại vong, thương tổn; đấy là chân lư! V́
sao hai bên cùng bại vong, thương tổn; chiến tranh
có một bên thắng, một bên bại mà? Không sai! Nh́n
bề ngoài thấy có kẻ thắng. Lúc quư vị
thắng, quư vị giết bao nhiêu người? Hại bao
nhiêu người? Những người ấy đều
biến thành oán thân trái chủ của quư vị. Oán thân trái
chủ sẽ làm ǵ? Họ đầu thai vào nhà quư vị,
làm con, cháu, chắt, chút của quư vị, họ đến
làm ǵ? Đến báo cừu, há chẳng phải là hai bên cùng
bại, cùng thương tổn ư? V́ thế, quư vị
phải thấy được nhân quả báo ứng th́ quư
vị mới biết. Chẳng những giết
người, người sẽ báo cừu, mà giết súc
sanh, súc sanh cũng báo cừu. Thậm chí ta phá chặt cây
cối, hoa cỏ, những hoa cỏ cây cối có linh tánh
ấy cũng báo thù, phiền phức lớn lắm. Con
người hiện tại chẳng hiểu đạo lư
này, phá hoại môi trường tự nhiên, phá hoại cân bằng sinh thái th́ thiên nhiên phải báo
thù bằng thiên tai, ôn dịch!
V́ thế, lúc
chúng ta cần phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên, như
chúng
ta muốn cất một thảo xá, phải chặt
mấy cây gỗ để làm cột, làm kèo, th́ đức
Phật dạy chúng ta: Ba ngày trước khi chặt cây
phải cúng bái, tụng kinh, niệm Phật hồi
hướng cho nó. Ba ngày sau mới được chặt
cây. Trên cây có thần cây, thỉnh thần cây dọn nhà,
dọn qua chỗ khác, chẳng kết oán cừu. Người
hiện tại có ai biết đến điều này?
Như vậy, v́ đâu mà thiên tai lại nhiều
đến như thế? V́ chẳng hiểu rơ đạo
lư, chẳng thể đối xử ḥa b́nh. Lúc chúng ta thực
sự có nhu cầu, đúng là họ có thể cúng
dường, có thể phụng hiến, hai bên đều
hoan hỷ, tốt hơn nhiều! Chẳng được
cậy thế hiếp người, cậy thế hiếp
người hậu quả chẳng thể tưởng
tượng được đâu!
Cây cối hoa cỏ thực sự có linh
tánh, sự cảm ứng ấy là thật, không giả
một chút nào. Tôi nghe có vị đồng học
đến kể với tôi trong nhà họ xảy ra
chuyện. Thần ǵ vậy? Thần cỏ. Trong sân nhà ông
ta có một khoảnh cỏ không được tưới
nước đă lâu, cỏ khô rụi. Những
hồn cỏ (thần hoa cỏ) có cách giao tiếp với
quư vị, chúng tạo ra từ trường. Có một ngày
nọ, ông ta trở về nhà, về đến nhà cảm
thấy từ trường bất ổn, cảm thấy
rất lạ lùng, trong tâm nghĩ có quỷ thần ǵ
chăng? Nếu thực sự có quỷ thần, ḿnh làm sao
đối thoại được? Ông ta đột nhiên
nghĩ: “Buổi tối nhà thắp đèn điện,
[quỷ thần] hăy làm cho đèn chớp lóa một cái”.
Độ năm phút sau, ánh đèn điện quả nhiên
chớp lóa một cái, ông ta sững sờ! Là thật,
chứ không phải giả rồi! Đúng là có
quỷ thần trong nhà. Ông ta nói: “Chúng ta đối
thoại bằng cách nào đây? Tốt nhất là tối nay
tôi ngủ, ngài báo mộng cho tôi hay vậy”.
Tối đó nằm ngủ, thực
sự mộng thấy rất nhiều trẻ nhỏ
cầu cứu, chúng nói: “Chúng tôi không phải là ai khác, mà là hoa
cỏ trong sân nhà ông, chúng tôi sắp chết khô hết
rồi, xin ông tưới nước cho! Đến cầu
xin đây!” Sáng sớm hôm sau, ông ta ra vườn xem, quả
nhiên đúng như vậy, đúng là đă lâu không
tưới nước, cỏ úa vàng hết, vội vàng
tưới nước. Sự việc này phát sanh gần
đây, mới năm ngoái thôi, chẳng lâu la ǵ. Tôi đến
nhà ông ta xem thử; bởi lẽ, người săn sóc
vườn tược là bố ông ta, ông cụ chỉ
tưới hoa, tưới cây, không quan tâm đến
đám cỏ nhỏ. Cỏ nhỏ đến cầu xin,
thật chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, thực
vật c̣n có linh tánh, huống ǵ động vật,
huống chi con người! Như vậy, dùng ác tâm, dùng ác
niệm để đối đăi sẽ kết thành oán.
Kết oán rồi, oan oan tương báo lúc nào xong,
đời đời kiếp kiếp đau khổ!
Chúng ta hiểu rơ chân tướng sự
thật này, mới biết chiến tranh là hai bên cùng
bại, cùng tổn, tuyệt đối chẳng phải
chỉ một bên thua thiệt. Nếu thực sự
hiểu rơ, sẽ tuyệt đối chẳng phát sanh
chiến tranh, chắc chắn sẽ t́m phương pháp ḥa
giải, quyết chẳng dùng đến thủ
đoạn ấy. Sự việc này trong kinh đức Phật
giảng rất rơ, rất thấu triệt, đáng
tiếc con người hiện tại tin vào khoa học,
coi mọi giáo huấn của bậc hiền thánh
đều là mê tín. Tiếp theo [sách Yếu Giải có]
một câu rất hay: “Kim triệt
chứng tâm tánh vô lượng chi Thể” (Nay chứng
thấu triệt cái Thể vô lượng của tâm tánh).
Chứng thấu triệt th́ dùng phương pháp nào
để chứng? Dùng phương pháp Niệm Phật,
niệm đến Lư nhất tâm bất loạn sẽ
chứng thấu triệt cái Thể vô lượng của
tâm tánh. “Cố phóng vô lượng
quang minh, cụ hữu nhiếp thọ gia bị chi công, trừ
chướng khai trí chi đức” (Nên phóng vô
lượng quang minh, có đủ công đức nhiếp
thọ, gia bị, có đức năng trừ
chướng khai huệ), mở mang trí huệ.
Tiếp đó là câu: “Tâm tánh chiếu nhi thường tịch, cố vi thọ
mạng. Kim triệt chứng tâm tánh vô lượng chi Thể,
cố thọ mạng vô lượng” (Tâm tánh chiếu
nhưng thường tịch, nên là thọ mạng. Nay
chứng thấu triệt cái Thể vô lượng của
tâm tánh, nên thọ mạng vô lượng). Quang minh vô
lượng, thọ mạng vô lượng, quang minh là trí
huệ, trí huệ vô lượng, thọ mạng vô
lượng. “Thị vô Phật
tiền Phật hậu nạn chi công” (Là công năng
diệt trừ cái nạn [sanh ra] trước Phật hay
sau Phật). Nay chúng ta gặp gỡ, chúng ta sanh trong thế
gian này, Thích Ca Mâu Ni Phật đă diệt độ,
tức là “sau Phật”. Phật
Di Lặc chưa xuất hiện, tức là chúng ta sanh
trước thời Phật Di Lặc, sau thời Phật
Thích Ca, “trước Phật,
sau Phật” [là như vậy]. Nhưng cũng c̣n may, pháp
vận của Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n chưa diệt, pháp
vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn
năm, nay chúng ta gọi là “sức
ảnh hưởng”. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại
thế giáo hóa, phạm vi ảnh hưởng của Ngài
lớn đến đâu? Thời gian ảnh hưởng
dài đến đâu? Phạm vi ảnh hưởng là
trọn khắp thế giới này, thời gian ảnh
hưởng là một vạn hai ngàn năm.
[Nói đến] thời gian là nói
đến thọ mạng, nói không gian là nói đến quang
minh. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn c̣n chín
ngàn năm nữa. V́ vậy, coi như chúng ta vẫn c̣n may
mắn, c̣n có thể đọc những kinh điển
được lưu lại, [những kinh điển
ấy] quư báu hơn bất cứ ǵ khác, chính tự ḿnh
phải hiểu, phải tiếc nuối, phải thành
tựu ngay trong một đời này. Thành tựu là
niệm Phật văng sanh Tịnh Độ, phải thấy
thấu suốt thế gian này: Thế gian này chẳng
đáng để lưu luyến, chúng ta nhất
định phải thấu hiểu, phải hiểu rơ
điều này. Hễ c̣n lưu luyến thế gian này tí ti
nào, sẽ chướng ngại sự văng sanh. Nếu quư
vị chẳng thể văng sanh th́ nói thật ra sẽ
phải luân hồi trong lục đạo không biết bao
nhiêu kiếp. Cơ hội được làm thân
người, được gặp Phật pháp nói
trắng ra không nhiều đâu! Chỉ khi nào quư vị
hiểu rơ, minh bạch th́ mới có thể chết sạch
ḷng mong ngóng, so đo, khiêm hư sát đất niệm
Phật. Tiếp theo đây là đoạn kinh văn
giảng tiếp về thọ mạng. Chúng ta hăy
đọc một lượt.
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật
thọ mạng cập kỳ nhân dân vô lượng vô biên A-tăng-kỳ
kiếp, cố danh A Di Đà.
又舍利弗。彼佛壽命。及其人民。無量無邊阿僧祇劫。故名阿彌陀。
(Lại
này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức
Phật ấy và nhân dân là vô lượng vô biên A-tăng-kỳ
kiếp, nên tên là A Di Đà).
Ư nghĩa của vô lượng quang, vô
lượng thọ chúng tôi đều đă giảng trong phần
trên; đoạn kinh văn này nói rơ thêm. Ở đây có
một từ ngữ đáng lưu ư là “A-tăng-kỳ kiếp”, A-tăng-kỳ kiếp
nghĩa là ǵ? Chúng tôi cũng nói đại lược: “A-tăng-kỳ, vô lượng,
vô biên đều là những con số để tính toán”. Chúng
là những đơn vị số lượng của
Ấn Độ thời cổ; giống như ở Trung
Hoa có đơn vị, có mười, có trăm, có ngàn, có
vạn, có ức, có triệu. Ở Trung Quốc, những danh
từ như vậy đều là danh từ đơn
vị số lượng. Ấn Độ cũng vậy,
Ấn Độ gọi nào là A-tăng-kỳ, vô
lượng, và vô biên.
Trong đoạn kinh văn giảng về
Căn Tự Tại Chủ đồng tử trong kinh Hoa
Nghiêm cho biết Ấn Độ thời cổ có một
trăm bốn mươi bốn danh từ để
chỉ đơn vị số lượng, như A-tăng-kỳ
chẳng hạn, nhiều hơn Trung Quốc nhiều
lắm. Tên gọi số lượng trong tiếng Hán dường
như chỉ có chừng hai mươi mấy loại.
Ấn Độ có nhiều hơn, tính toán nhiều hơn,
họ có một trăm bốn mươi bốn loại. Nếu
tính cả “cơ số” (cơ số là một, hai, ba,
bốn, năm, sáu… tức là những con số cơ
bản) th́ tổng cộng có đến một trăm
năm mươi sáu thứ. Chúng ta gọi đơn
vị, chục, trăm, ngàn, vạn là “cơ số”. [Ở
Ấn Độ] nhiều đến một trăm năm
mươi sáu thứ lận! [Sách Yếu Giải giảng]
A-tăng-kỳ, Vô Lượng, Vô Biên “thị mạt hậu thập đại số chi
danh” (là tên gọi của mười con số lớn
cuối cùng), toàn là nhân gấp bội lên. A-tăng-kỳ
lần A-tăng-kỳ là một Vô Lượng, Vô Lượng
lần Vô Lượng là một Vô Biên. Điều này “hiển thị Báo Thân
trường cửu”, thọ mạng dài lâu!
Ở đây nói là “vô lượng
thọ”, một Vô Lượng là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ.
Đừng nói chi nhiều, cứ tính là một Vô Lượng
thôi, trong kinh Đại Thừa, chúng ta thường
đọc thấy Bồ Tát tu hành thành Phật phải
mất bao nhiêu thời gian? Ba A-tăng-kỳ kiếp. Chúng
ta gọi là “ba đại A-tăng-kỳ
kiếp”. Nếu nói thọ mạng của vị ấy
là một Vô Lượng th́ đă thọ A-tăng-kỳ
lần A-tăng-kỳ, ba A-tăng-kỳ kiếp thấm
vào đâu! Chắc chắn thành Phật, một đời
thành Phật, chẳng cần đợi đến
đời thứ hai. Huống chi “vô lượng thọ” ở
đây chẳng phải chỉ là một Vô Lượng. Vô Lượng
lần Vô Lượng là một Vô Biên, [cứ tính măi như
thế] khỏi cần phải nói nữa!
Quư vị cứ nghĩ đơn
giản như thế này: Chúng ta hăy nghĩ đến hai
điều;
a) Thứ nhất, thọ mạng
của đức Phật trường cửu. Chúng ta theo
Phật nhất định thành Phật, bởi lẽ,
thời gian cần thiết để thành Phật không quá
ba A-tăng-kỳ kiếp, mà thọ mạng của
Phật là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ, ba A-tăng-kỳ
dễ dàng quá! Giống như con người sống
được một trăm tuổi, nay học công khóa
này phải mất bao nhiêu thời gian? Ba ngày thôi. Thọ
mạng một trăm năm th́ ba ngày thấm vào đâu!
Đây là một tin vui!
b) Thứ hai, đức Phật trụ
thế lâu dài, thời gian giáo hóa chúng sanh dài lâu, v́ thế “hữu cửu độ bất
tức chi công” (có công năng hóa độ lâu dài
chẳng ngưng dứt), hy hữu khó gặp! Chúng ta
phải tiếc quư nhân duyên này! Đọc khắp
Đại Tạng Kinh, trong hết thảy các cơi Phật khác
chẳng có sự kiện này. Bởi thế, mười
phương chư Phật thấy Thích Ca Mâu Ni Phật
giới thiệu cho đại chúng pháp môn này đều liền
đến chứng minh.
Ở Trung Quốc, từ cổ
đến nay, tổ sư đại đức thuộc bất
luận tông phái nào, không vị nào chẳng khuyên
người ta niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, quư vị mới hiểu pháp môn này chẳng
thể nghĩ bàn! Chẳng riêng ǵ Giáo Hạ! Quư vị
thấy tông Hoa Nghiêm thuộc Giáo Hạ đó, chẳng
phải họ đă nói “mười
đại nguyện vương dẫn về Cực
Lạc” đó ư? Trí Giả đại sư của
tông Thiên Thai văng sanh thuộc Ngũ Phẩm Vị. Lăo nhân
gia làm đầu tàu nên các tổ sư tông Thiên Thai, lịch
đại tổ sư lâm chung đều niệm Phật
văng sanh Tịnh Độ. Cận đại, pháp sư Đàm
Hư, pháp sư Đế Nhàn là những vị thuộc [tông
Thiên Thai] thời cận đại đều niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lăo ḥa thượng
Hư Vân bên Thiền tông, những lời giảng cuối
cùng năm Ngài một trăm mười bảy tuổi, được ghi trong cuốn
Phương Tiện Khai Thị Lục, quư vị hăy đọc
cuốn sách ấy. Năm một trăm mười
bảy tuổi, đại sư giảng khai thị ở
rất nhiều nơi, tám mươi phần trăm là
khuyên người thật thà niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, tỷ lệ [khai
thị] nói đến tham Thiền rất ít. Đối
với Mật Tông th́ ngay nơi vách studio phát h́nh của
chúng ta có thờ một bức tượng A Di Đà
Phật của Tây Tạng. Mật Tông cũng tu pháp môn này,
cũng cầu sanh Tịnh Độ. Đúng là như lăo
pháp sư Ấn Quang đă nói: “Thiên
kinh vạn luận, xứ
xứ chỉ quy” (Ngàn kinh muôn luận, chốn chốn
chỉ về). Chúng ta phải giác ngộ: Pháp môn nào khác có
sự thù thắng như vậy hay chăng? Hết
thảy chư Phật, Bồ Tát đều tới khuyến
thỉnh, chưa từng thấy! Mấy vị Phật
khuyên th́ có, chứ cả mười phương ba
đời chư Phật cùng đến khuyên dạy th́
chưa từng nghe thấy [trong các kinh khác]. Quư vị
phải thực sự hiểu rơ, phải thực sự minh
bạch th́ quư vị mới quư tiếc phi thường nhân
duyên hết sức khó gặp này!
Pháp sư Ấn Quang dạy chúng ta
một phương pháp tu hành đúng là chẳng thể
nghĩ bàn! Tức là đạo tràng nhỏ, đồng tu
không quá hai mươi người, công khóa mỗi ngày
giống như đả Phật thất, Phật thất
suốt năm. Phương pháp này của lăo nhân gia chính là
phương pháp của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát.
Coi trong Tây Phương Xác Chỉ, chúng ta thấy số
người học với Giác Minh
Diệu Hạnh Bồ Tát c̣n ít hơn nữa, chỉ có
mười hai người thôi, ai nấy đều thành
tựu. Viễn công đại sư ở Lô Sơn, Trung
Quốc, là vị tổ sư đời thứ nhất
của Tịnh tông chúng ta, dựng Niệm Phật
Đường tại Lô Sơn, tỉnh Giang Tây, chí
đồng đạo hợp một trăm hai mươi
ba người cùng tu một chỗ, đó là đại
sự nhân duyên. Nay v́ sao Ấn Quang pháp sư chẳng khuyên
chúng ta cùng tu một trăm hai mươi ba người? V́
sao biến thành hai mươi người mà thôi? Thời
đại không giống nhau. Trong thời cổ th́
được, không có vấn đề ǵ. Nay v́ sao lại
dạy chúng ta cùng tu ít thế?
Thời đại hiện tại là
thời đại theo hướng công nghiệp, thời
đại khoa học kỹ thuật, đại chúng trong
xă hội tin vào khoa học, chẳng tin tôn giáo, cho tôn giáo là mê tín. Nói cách khác, người cúng
dường ít ỏi, nếu đông người phải
tiêu xài nhiều, t́nh thế bắt buộc phải lo toan. Phải
bận tâm v́ hoàn cảnh sinh hoạt vật chất, tâm
chúng ta không c̣n thanh tịnh nữa, khiến cho sự
việc văng sanh bị lỡ làng, rất đáng tiếc!
Đạo tràng ít người th́ vẫn c̣n một số
người tin tưởng phát tâm cúng dường, Ấn
Quang đại sư chú ư đến điều này. V́
vậy, người ít, tiêu xài ít, đạo tràng dễ duy
tŕ, tâm định, lẽ đâu chẳng thành tựu?
Ấn Tổ (tổ Ấn Quang) đặc biệt dạy
không được hóa duyên, không quyên mộ, không cầu tín
đồ bố thí cúng dường, họ tự
động đem đến th́ ḿnh được phép tiếp
nhận, chúng ta không đi xin. Người đến không cầu
th́ phẩm cách tự nhiên cao hơn, sống tiết
kiệm một chút, chịu khổ một chút là
được! Các đồng tu cùng tu Tịnh Độ
trong thời đại này ở mọi nơi hăy nghĩ
xem: Nếu chúng ta chú tâm suy nghĩ lời dạy của tổ Ấn Quang, quan sát t́nh huống xă hội hiện
thời,
mới thấy lăo nhân gia dạy thật tuyệt vời
làm sao!
Nơi đây, chúng tôi thường
bảo các vị đồng tu: “Chúng ta tin vào nhân quả, nói
theo nhân quả th́ chúng ta phải tu phước. Chẳng tu
phước làm sao có phước báo cho được?
Phải biết tiết kiệm, bố thí, cúng
dường chính là tu phước. Dụng công tu hành trong
đạo tràng nhỏ của ḿnh, thường chẳng ra
khỏi cửa, không ra khỏi cửa có tu phước
được không? Được chứ! Mỗi ngày
chúng ta tu hành, niệm Phật, nghiên cứu kinh giáo, lễ
Phật bằng cái tâm kiền thành, đem những công
đức ấy hồi hướng cho hết thảy
chúng sanh, hồi hướng cho xă hội đại chúng,
đấy đều là tu phước. Nơi nào trong xă
hội này mà chúng ta có thể phục vụ đại chúng
được, chúng ta có năng lực làm được
mà chẳng trở ngại đạo tâm của chính ḿnh th́
ta có thể v́ xă hội đại chúng phục vụ, những
chuyện như vậy đều thuộc về
phước huệ song tu. Nhất là khi tiếp xúc
đại chúng, đó là cơ hội giáo dục.
Hiện thời, đạo tràng chúng ta
mỗi tuần, vào thứ Bảy có bữa cơm tối đầm
ấm, thứ Sáu là giảng ṭa đa nguyên văn hóa,
rất nhiều bằng hữu tại địa
phương đến tham gia, đó là chúng ta bố thí.
Giảng ṭa đa nguyên văn hóa là Pháp Bố Thí, trong Pháp Bố
Thí có Tài và Vô Úy. Bữa cơm tối đầm ấm là Tài
Bố Thí, trong Tài Bố Thí có Pháp và cũng có Vô Úy Thí.
Hơn nữa, ở địa phương này, phàm
những sự việc ḥng thực sự đoàn kết
tôn giáo, đoàn kết các sắc tộc, an định xă
hội, cầu nguyện thế giới ḥa b́nh, đối
với những việc như vậy, chúng ta đều
dành một chút thời gian đến tham dự. Quư vị
nghĩ xem: Những việc đó bao gồm cả ba
thứ bố thí Tài, Pháp và Vô Úy. Chúng ta thực sự làm
được cho nên có quả báo, mới có một chút
phước báo hiện tiền, đạo tràng của
chúng ta mới có thể duy tŕ được. Không hóa duyên,
không làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự mà có
thể sanh tồn th́ đạo lư là đây: Thấu
triệt, liễu giải nhân quả.
Chúng ta xem tiếp đoạn
dưới [trong sách Yếu Giải]: “Chúng sanh sanh Cực Lạc, tức sanh thập
phương, kiến Di Đà, tức kiến thập
phương chư Phật, năng tự độ, tức
năng phổ lợi nhất thiết” (Chúng sanh sanh về
Cực Lạc chính là sanh về mười phương,
thấy Di Đà chính là thấy mười phương
chư Phật, có thể tự độ chính là có thể lợi
khắp hết thảy chúng sanh). Đoạn này hết
sức quan trọng. Sanh về thế giới Cực
Lạc là sanh về hết thảy thế giới của
chư Phật. V́ sao? Chúng ta chỉ cần đọc kinh
Vô Lượng Thọ là thấy ngay: Hết thảy chư
Phật đều tán thán A Di Đà Phật, đều cung
kính A Di Đà Phật, khẳng định A Di Đà
Phật là “quang trung cực tôn,
Phật trung chi vương” (quang minh cao quư nhất, vua
trong các Phật). Người ở thế giới Cực
Lạc thời thời khắc khắc đến
mười phương thế giới lễ Phật, nay
chúng ta gọi là “đi phỏng vấn, đi thỉnh giáo”.
Hết thảy chư Phật hoan nghênh. Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thần thông
tự tại, đến đi tùy ư.
Những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật giới
thiệu cho chúng ta toàn là [sự tướng trong] Phàm Thánh
Đồng Cư Độ, nếu là Thật Báo Trang Nghiêm
độ th́ chính là như kinh nói: “Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh”, [khi
đó] quư vị ở trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ.
Trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ, thời gian và không gian
chẳng c̣n nữa. Quá khứ Phật cũng hiện tiền,
vị lai Phật cũng hiện tiền [bởi v́] thời
gian và không gian chẳng c̣n nữa! Đó là Thật Báo Trang
Nghiêm Độ, là cảnh giới chẳng thể nghĩ
bàn! Bởi vậy, thấy Phật Di Đà là thấy
mười phương chư Phật, tự độ
được ḿnh là độ khắp hết thảy
chúng sanh. Đoạn kinh văn tiếp theo là:
Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành
Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
舍利弗。阿彌陀佛。成佛以來。於今十劫。
(Này Xá Lợi Phất! A Di Đà thành Phật
đến nay là mười kiếp).
Kinh dạy: “Thành
Phật đến nay đă là mười kiếp”. Hăy
nhớ kỹ trong phần trên tôi đă nói, thọ mạng
của A Di Đà Phật là vô lượng thọ, Vô Lượng
là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ kiếp số.
Thật ra là vô lượng vô biên, nay hiện tại Ngài
mới thành Phật mười kiếp; nói cách khác, Tây
Phương Cực Lạc thế giới mới khai
trương được mấy ngày! “Hiện tại thuyết pháp, thời chánh vị ương”
(Hiện đang c̣n thuyết pháp, tức là thời kỳ
Chánh Pháp c̣n chưa hết), vừa mới mở
đầu thôi! “Phổ khuyến
nhất thiết chúng sanh, tốc cầu văng sanh, đồng
Phật thọ mạng, nhất sanh thành biện” (khuyên
khắp hết thảy chúng sanh hăy mau cầu văng sanh để
có cùng thọ mạng như Phật, hoàn thành đạo
nghiệp trong một đời). Như vậy, chúng ta đă
biết chân tướng sự thật này, nay hăy nhất
tâm nhất ư cầu sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, trong tương lai trở thành bậc
nguyên lăo nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Thế giới ấy mới thành lập được
mười kiếp, chúng ta đă đến đó; thế
giới ấy tồn tại vô lượng kiếp, quư
vị đến thế giới ấy lúc nó mới
tồn tại mười kiếp th́ phải thuộc vào
tầng lớp nguyên lăo nơi Tây Phương Cực
Lạc thế giới.
Ngàn vạn phần chớ coi
thường, đừng nghĩ một đời này ḿnh
không văng sanh cũng không quan hệ ǵ, ta đă kết duyên
cùng A Di Đà Phật, đời mai sau, khi duyên chín muồi,
ta sẽ lại sanh về Cực Lạc. Cái đời mai
sau ấy chẳng thể nói nhất định là bao nhiêu
kiếp, pháp môn này chẳng thể thường được
gặp gỡ đâu nhé! Thân người chẳng thể
thường có, được làm thân người khó
lắm! Bởi vậy, hiện thời chúng ta phải
tự suy nghĩ cặn kẽ, mai sau ta có c̣n
được làm thân người hay chăng? Hăy nghĩ
đến điều đó trước tiên, đừng
nghĩ chi khác! Nếu đời sau chẳng được
làm thân người là xong, đến kiếp nào mới
lại được làm người khó nói lắm!
Muốn được làm thân
người th́ phải tu Ngũ Giới, tu Thập
Thiện, trung phẩm Thập Thiện Nghiệp
đạo. Phải tu Ngũ Giới và trung phẩm Thập
Thiện Nghiệp đạo mới được làm thân
người. Chúng ta phải suy nghĩ: Tính điểm Ngũ
Giới và Thập Thiện nếu chẳng đủ điểm
đậu, sẽ chẳng được làm thân
người! Lúc không đạt được thân
người là phải đọa tam đồ. Thời
gian trong tam đồ dài lâu, [thời gian chịu khổ
trong] A Tỳ địa ngục là vô lượng kiếp, không
xong rồi! Hết sức đáng sợ! Gặp
được pháp môn này lần nữa, có thể nói thật
là càng diệu vợi hơn nữa, đúng là thành ra vô
lượng kiếp sau quư vị mới có thể văng sanh.
Nay văng sanh mới là mười kiếp, không ǵ tốt
hơn, vẫn phải khéo tranh thủ ngay trong hiện
tại, buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm
Phật! Nay đă hết giờ rồi!
Tập 20
Chúng ta xem tiếp đoạn
cuối cùng của phần Chánh Báo Trang Nghiêm, đoạn
kinh văn ấy như sau:
Xá Lợi Phất! A Di Đà
Phật, thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
舍利弗。阿彌陀佛。成佛以來。於今十劫。
(Xá Lợi Phất! A Di Đà
Phật thành Phật đến nay là mười kiếp).
Hôm qua tôi đă tŕnh bày cùng quư
vị: Trong thế giới Cực Lạc, thọ mạng
vô lượng kiếp. Đức Thế Tôn giải thích
danh hiệu A Di Đà Phật bằng cách quy nạp
giản lược: Một là vô lượng quang, hai là vô
lượng thọ. Quang chẳng những biểu thị
trí huệ, mà c̣n biểu thị không gian. Thọ mạng c̣n
biểu thị thời gian. Nói theo cảnh giới của
bọn phàm phu chúng ta là “thời gian và không gian vô
lượng”, đó là phương tiện thuyết pháp
thiện xảo của đức Thế Tôn. Chúng ta
biết đức Thế Tôn thuyết pháp dựa trên
Nhị Đế, ở đây là nói theo Tục Đế,
chúng ta vừa nghe là hiểu, liền sanh khởi tâm
ngưỡng mộ.
Đem mười kiếp so với vô lượng
kiếp th́ thời gian rất ngắn. Trong rất
nhiều
kinh điển Đại Thừa, đức Thế Tôn
dạy chúng ta: Phàm phu tu hành chứng đắc Vô
Thượng Bồ Đề phải cần đến
thời gian vô lượng kiếp, chẳng dễ dàng ǵ!
Chứng đắc bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo liền
thành Pháp Thân Bồ Tát; Pháp Thân Bồ Tát tu cho đến khi
viên măn rốt ráo phải mất ba đại A-tăng-kỳ
kiếp, đúng là chẳng dễ dàng. Thế nhưng
lời Phật nói ấy chẳng thể nói là giả, mà
cũng chẳng thể cho là thật, tức là sao? Chúng ta
phải biết nghe. Nếu không thể buông tập khí
phiền năo xuống th́ đúng là vô lượng kiếp,
c̣n nếu thực sự có thể buông tập khí phiền
năo xuống được th́ phàm phu thành Phật chỉ
trong một niệm.
Vô lượng kiếp có thể rút thành
một niệm, một niệm có thể mở rộng ra
thành vô lượng kiếp. Mở bằng cách nào? Rút
bằng cách nào? Ở đây tợ hồ chúng ta hiểu
một chút diện mạo [của vấn đề]:
Mở rộng hay rút ngắn là do chính bản thân ḿnh,
chứ không phải ai khác, cũng chẳng tại ngoại
cảnh. Nói như chém đinh chặt sắt: “Hễ buông
xuống được th́ vô lượng kiếp biến
thành một niệm; nếu trong bụng vẫn c̣n chút ǵ
vướng mắc không buông xuống được th́
một niệm biến thành vô lượng kiếp!” Đó
là chân tướng sự thật! Đấy chính là cái được
các kinh Đại Thừa gọi là “nhất thời đốn hiện”, quư vị hăy
suy nghĩ ư nghĩa này. Nhất thời đốn hiện
là một niệm ngay lập tức hiện thành vô
lượng kiếp, một niệm hiện ngay thành pháp giới,
hư không giới, hết thảy cơi nước, chúng sanh.
Một niệm mê bèn đốn hiện, một niệm
giác bèn hồi đầu, vô lượng kiếp biến
thành một niệm.
Vĩnh Gia đại sư nói rất
khéo: “Giác hậu không không vô
đại thiên” (giác rồi ba cơi rỗng toang hoang). Giác
rồi th́ đại thiên thế giới không c̣n nữa,
mất tiêu hết, Hữu trở về Vô; một niệm
mê, Vô biến thành Hữu, mở ra Hữu. Toàn là trong
một niệm giác hay mê! Nếu chúng ta hỏi: Chư
Bồ Tát (ở đây là đại Bồ Tát), chư
Phật ứng hóa trong chín pháp giới, họ là giác hay
vẫn mê? Nếu họ giác sao chẳng thể hiện
cảnh giới ấy: “Giác
hậu không không vô đại thiên?” Nếu họ
hiện cảnh giới ấy, họ khác ǵ phàm phu chúng ta
đâu, mê mà! Như vậy, rốt cuộc các Ngài giác hay
vẫn c̣n mê? Nêu câu hỏi như vậy rất hay! Trong cảnh
giới của chư Phật, Bồ Tát giác và mê không hai.
Nếu quư vị nói các Ngài mê th́ đó là các Ngài thị
hiện trong pháp giới chúng sanh, nhưng chưa hề
khởi tâm động niệm, chưa hề có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, nên các Ngài là
giác. Dẫu giác, nhưng nếu chúng sanh có Cảm, các Ngài
bèn hiện tướng. Các Ngài vừa biểu diễn,
vừa có thể v́ hết thảy chúng sanh thuyết pháp,
làm ra vẻ như các Ngài ở trong mê, chẳng khác ǵ phàm
phu chúng ta!
Các Ngài là mê
- giác bất nhị, c̣n phàm phu chúng ta bị thiệt tḥi
chỗ
nào? Giác là không mê, mê là không giác; giác và mê đối lập.
Phật, Bồ Tát không đối lập, giác và mê thống
nhất. Giác chính là mê, mê chính là giác. Quư vị thấy trong
kinh chẳng thường nói “phiền
năo tức Bồ Đề, Bồ Đề tức
phiền năo, sanh tử tức Niết Bàn, Niết Bàn
tức sanh tử” đó sao? Mọi người
thường niệm Tâm Kinh, nhưng nói trắng ra, ai
nấy đều vô tâm lơ đăng; Tâm Kinh giảng
rất rơ: “Sắc tức thị
Không, Không tức thị Sắc. Sắc bất dị Không,
Không bất dị Sắc”. Nếu gộp giác và mê
lại th́ giác chính là mê, mê chính là giác, giác chẳng khác mê, mê
không khác giác.
Đấy là Chánh Giác thuộc quả
địa Như Lai, đấy mới là chân tướng của
nhân sinh và vũ trụ, nó có Thể, có Dụng; chứ không
phải là có Thể mà chẳng có Dụng. Ứng hóa trong
mười pháp giới là từ Thể khởi Dụng; dù
khởi Dụng, Dụng cũng chẳng mê. V́ thế, có
thể độ chúng sanh. Chúng ta đọc đến
đoạn kinh văn này phải giác ngộ, phải nên phát
tâm. Giác ngộ như thế nào? Giác ngộ là thực
sự phát tâm muốn cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, đó là thực sự giác. Cuối
cùng có mấy câu, trước hết chúng tôi đọc kinh
văn một lượt. Đây là kinh văn:
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật
hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử,
giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri.
又舍利弗。彼佛有無量無邊聲聞弟子。皆阿羅漢。非是算數之所能知。諸菩薩眾。亦復如是。舍利弗。彼佛國土。成就如是功德莊嚴。
(Lại
này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô
lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều
là A La Hán, chẳng thể tính toán để biết
được nổi. Các vị Bồ Tát cũng giống
như thế. Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật
ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế).
Đoạn này nói về sự thành
tựu của A Di Đà Phật trong việc dạy
dỗ, thầy dạy học tṛ, tṛ có thành tựu hay không?
Học tṛ có thành tựu là quư vị đă dạy thành công.
Nếu quư vị dạy hay đến đâu, thời gian dạy
dài đến đâu mà học tṛ không có thành tựu th́
việc dạy học của quư vị đă thất
bại rồi. Dựa vào đó để luận thành
bại. Bởi vậy, cũng dùng tiêu chuẩn đó
để luận định một đạo tràng là thù
thắng hay kém cỏi. Đạo tràng này của quư vị thù
thắng th́ thù thắng ở chỗ nào? Trong đạo
tràng ấy, thực sự có người niệm Phật
văng sanh, có người khai ngộ, có người chứng
quả th́ đạo tràng ấy thù thắng! Chứ
chẳng quư ở chỗ đạo tràng có đông
người. Đạo tràng của Giác Minh Diệu
Hạnh Bồ Tát chỉ có mười hai người mà
thù thắng bậc nhất. V́ sao thù thắng bậc
nhất? V́ cả mười hai người ấy đều
văng sanh. Đạo tràng ấy suốt đời niệm
Phật, không một ai chẳng thể văng sanh, chỉ
kết pháp duyên cùng A Di Đà Phật th́ không thể coi là
thành tựu được!
Những giảng sư nêu gương
giảng kinh, hoằng pháp, trong số ấy có mấy ai
khai ngộ? Có người khai ngộ là vị giảng
sư ấy có thành tựu. Nếu không ai khai ngộ th́ chẳng
có thành tựu chi hết! Chúng ta phải biết tiêu
chuẩn là ǵ: Trong Niệm Phật Đường có bao
nhiêu người đắc Nhất Tâm? Bao nhiêu
người công phu thành phiến? Công phu thành phiến là
thành tựu! Nếu chúng ta hỏi Tham Thiền v́ sao
chẳng thể minh tâm kiến tánh? Niệm Phật v́ sao
công phu chẳng thể thành phiến? Học Giáo v́ sao
chẳng thể đại khai viên giải? Cái gốc
bệnh là ba chữ này: “Không
buông xuống!”
Bởi vậy, chúng ta phải
thường tự phản tỉnh: Ḿnh đă buông
xuống được những ǵ? Tự tư, tự
lợi, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục,
lục trần, tham - sân - si - mạn, không buông xuống được chi hết! Tôi
thường khuyên dạy các vị đồng tu: “Mười
sáu chữ ấy không buông xuống được th́ làm sao
thành tựu cho được!” Đó là gốc bệnh, là
chướng ngại căn bản của chúng ta. Nếu
chúng ta có năng lực hiểu thấu suốt,
thường xuyên nhận biết th́ dù chẳng dễ buông
xuống, nhưng nhất định phải buông
xuống. Tôi cũng thường nói: “Việc này phải
mỗi năm một nhẹ hơn, mỗi tháng một
mỏng nhẹ dần”, rất quan trọng đấy nhé!
“Mỏng nhẹ dần” chính là buông xuống dần dần.
Buông xuống ngay lập tức là chuyện không thể nào
làm được, quư vị không phải là căn tánh ấy
cho nên học những điều ấy chưa được!
Dần dần buông xuống, sao cho nhạt bớt một
chút, đừng khắt khe quá mức, chớ nên phân
biệt quá mức, đừng chấp trước quá
mức. Thường học hằng thuận chúng sanh, tùy
hỷ công đức, như vậy là tốt, đừng chấp
chặt thành kiến của chính ḿnh, chấp trước
là điều tệ hại nhất!
Quư vị thấy tiên sinh Giang Bổn
Thắng làm thí nghiệm kết tinh nước, chúng ta
đă xem h́nh chụp các kết tinh đó, nhận thấy
điều ǵ? Tùy theo thái độ của con người:
Một đằng là theo cách ra lệnh, một đằng
là dùng phương cách thỉnh cầu th́ nước
kết tinh khác nhau. Hăy nêu một thí nghiệm của ông ta:
“Mày làm đi!” đó là câu mệnh lệnh. Câu khác là: “Này!
Chúng ta hăy cùng nhau làm!” Cùng là một việc, nhưng tâm tư
thái độ khác nhau, nước kết tinh hoàn toàn khác
nhau. Nói “chúng ta cùng nhau làm” th́ nước kết tinh
đẹp hơn rất nhiều. Nếu quư vị hạ
mệnh lệnh: “Mày làm đi!” nước sẽ kết
tinh không dễ coi cho lắm. Đó là phản ứng tự
nhiên. Bởi thế, những đại nhân vật
đối với thuộc hạ chẳng dùng mệnh
lệnh, ngôn từ uyển chuyển, nhu ḥa, giáo huấn
thuộc hạ, khiến cho họ cả đời
cảm kích quư vị th́ quư vị thành công. Nếu quư vị
dùng mệnh lệnh, đương nhiên họ chẳng
thể không phục tùng, vẫn làm, nhưng tâm họ không
hề cảm kích, hiệu quả khác hẳn.
Lúc chúng tôi c̣n trẻ, khoảng đâu hai
mươi hai tuổi, có một ngày đang ở sở,
công việc ít, làm xong việc rồi, ngồi xem sách. Lúc
đó tôi ngồi hay ngả người ra sau, hai chân
trước cái ghế giở hổng khỏi mặt
đất, tợ hồ chúng tôi đang nằm ngửa ra,
rất thong dong. Ông xếp tôi (tôi không biết đến từ
lúc nào), từ sau đi tới, vỗ vào tai tôi. Tôi thấy
ông ta vội đứng lên, ông ta bảo tôi: “Không
được ngồi như vậy, ngồi vậy
dễ bị té chỏng gọng lắm!” Ông ta luôn luôn
nghĩ giùm tôi; bởi thế, tôi bỏ được cái
tật đó, suốt đời không dám phạm nữa, rất
cảm kích ông ta. Nếu trái lại, ông ta xạc cho tôi
một trận, tôi vẫn phải phục tùng, nhưng
sẽ như thế nào? Ông ta đi rồi, tôi lại
chứng nào tật nấy, bất phục mà! V́ thế,
người làm được sự nghiệp lớn khác
với người tầm thường. Quư vị thấy
những cán bộ trung cấp thường thích ra lệnh
cho thuộc cấp, sự nghiệp bọn họ hữu
hạn; từ chỗ này quư vị thấy được
ngay.
Trong sách Liễu Phàm Tứ Huấn, tiên
sinh Viên Liễu Phàm kể: Ông ta quan sát những học tṛ
đi thi, những sĩ tử nào đi thi ngôn hạnh
đoan trang, khiêm hư, ḥa hoăn, tôn kính hết thảy
mọi người, ông ta đoan quyết những tṛ
ấy nhất định thi đậu. Phỏng theo sách
Liễu Phàm Tứ Huấn, chúng tôi quan sát mấy
người, đúng là không trật một ai. Nh́n
người ở chỗ nào? Khiêm kính, tức là khiêm hư,
cung kính. Ḿnh ở địa vị cao đối đăi
với nhân viên cấp nhỏ nhất toàn bằng thái
độ khiêm ḥa như thế, mọi người vui
vẻ thực sự phục tùng ḿnh, chịu dốc hết
sức, chịu tận tụy v́ ḿnh, tôn kính ḿnh, ưa thích
ḿnh. Lúc dùng lời lẽ ra lệnh, tâm họ chẳng
phục, lúc đó họ bị quư vị cai quản, quư
vị là cấp trên, họ không làm ǵ được.
Tương lai, lúc quư vị mất chức, không ai đoái
hoài nữa. Cái tṛ ra oai của quư vị đă sai rồi, đă
thất bại rồi!
V́ thế, chúng ta thấy thái độ
khiêm kính của Phật, Bồ Tát, của Khổng Tử,
Mạnh Tử như trong Luận Ngữ nói, chúng ta
phải biết học theo, bởi các Ngài dạy dỗ
thành công. V́ sao? Học tṛ khâm phục, học tṛ thực
sự kính yêu thầy. Kính yêu thầy nên chẳng dám trái
nghịch giáo huấn của thầy. Trái nghịch lời
thầy dạy, lương tâm chẳng yên, cảm thấy
ḿnh có lỗi với thầy. Quư vị thấy sức
ước thúc ấy rất lớn. Thầy không c̣n ở
đời nữa, vẫn cứ như cũ, chẳng dám
trái nghịch lời thầy dạy, v́ nguyên nhân nào? Chân
thành kính trọng thầy, yêu mến thầy sâu sắc,
chứ chẳng có ǵ khác ngoài ḷng kính yêu cả! Đó là
điều chúng ta phải nên học theo. V́ vậy, khi
đọc đoạn kinh văn này, chúng ta hiểu A Di
Đà Phật dạy dỗ rất thành công, đệ
tử Thanh Văn, đệ tử Bồ Tát số
đến vô lượng vô biên.
6.3.2. Riêng khuyên chúng sanh
phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ
Chúng ta xem tiếp ư lớn thứ hai: “Đặc khuyến chúng sanh
ưng cầu văng sanh dĩ phát nguyện” (Riêng khuyên chúng
sanh phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ).
Trước hết, chúng ta đọc kinh văn:
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc
quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ
Bạt Trí. Kỳ trung đa hữu Nhất Sanh Bổ
Xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số
sở năng tri chi, đản khả dĩ vô
lượng vô biên A-tăng-kỳ thuyết.
又舍利弗。極樂國土。眾生生者。皆是阿鞞跋致。其中多有一生補處。其數甚多。非是算數所能知之。但可以無量無邊阿僧祇說。
(Lại
này Xá Lợi Phất! Chúng sanh sanh vào cơi nước Cực
Lạc đều là A Bệ Bạt Trí, trong số ấy
nhiều vị là Nhất Sanh Bổ Xứ, số ấy
rất nhiều, chẳng thể tính toán ḥng biết
được nổi, chỉ có thể nói là vô
lượng vô biên A-tăng-kỳ).
Chúng ta xem đoạn này trước.
Đây là chỗ thù thắng khôn sánh của Tây Phương
Cực Lạc thế giới, các thế giới khác không
hề có. “Đốn siêu viên
chứng”: Ở đây, chúng tôi phải phân ra mấy
đoạn để nói. Đoạn thứ nhất là “tịnh đức khuyến
nguyện”. Chúng ta có thể nói như thế này: Thế
giới Cực Lạc giống như một trường
đại học Phật giáo do mười phương ba
đời hết thảy chư Phật Như Lai
thiết lập, A Di Đà Phật là hiệu trưởng.
Chúng sanh ở thế giới Cực Lạc là từ
đâu đến? Từ mười phương thế
giới niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Chẳng phải đến từ một quốc
độ nào, chẳng phải đến từ một khu
vực lớn nào mà đến từ vô lượng vô biên
các cơi Phật trong mười phương. Đến
như thế nào? Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật,
chư Phật Như Lai giới thiệu cơi Cực Lạc
với mọi người, khuyên mọi người
đến cầu học nơi Tây Phương Cực
Lạc thế giới; bởi vậy, người
đến đó rất đông.
Đương nhiên cũng có
người dù nghe, giống như trong thế giới chúng
ta vậy, tuy nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu [cơi
Cực Lạc và pháp môn Tịnh Độ] nhưng chẳng
hứng thú lắm, có một phần thân t́nh ái luyến
Thích Ca Mâu Ni Phật, chẳng đành ḷng tách ĺa Bổn
Sư. Dẫu Bổn Sư khuyên chúng ta đến đó
cầu học, chúng ta vẫn chẳng cam ḷng đi:
“Thầy ḿnh rất tốt, tôi muốn ở gần
thầy, chẳng muốn đi qua nơi khác”, rất
nhiều người như vậy. Chúng ta thấy trong nhà
Phật rất nhiều người học theo các tông phái
khác, khóa tối đều niệm kinh A Di Đà, nhưng
họ chẳng niệm A Di Đà Phật, cũng chẳng
cầu sanh thế giới Cực Lạc. Họ niệm
Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi ngày lễ Phật
cũng lễ Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
họ chẳng lễ A Di Đà Phật, cũng chẳng
niệm A Di Đà Phật, chẳng nghĩ cầu sanh
về thế giới Cực Lạc, rất nhiều! Tôi
gặp không ít người như thế. Đấy là
một thứ t́nh chấp.
Nay chúng ta không niệm Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật, lại niệm A Di Đà Phật, chúng ta có trái
nghịch Bổn Sư hay chăng? Không hề có! Thích Ca Mâu
Ni Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, chúng ta
bèn niệm A Di Đà Phật, vâng lời mà! Thích Ca Mâu Ni
Phật dạy chúng ta qua thế giới Cực Lạc
học với A Di Đà Phật, giống như bậc trưởng
thượng trong nhà (cha mẹ của quư vị) bảo quư
vị: “Có một vị thầy tốt, con hăy nên tới bái
sư, nên qua đó học tập”. Quư vị không rời
được cha mẹ, không muốn rời khỏi cha
mẹ, dù cha mẹ không thể ép buộc quư vị,
nhưng lắc đầu: “Đứa con này không nghe
lời!” Biết nghe lời bèn đi, đến đó để
sớm có ngày thành Phật. Nếu quư vị không đi,
thời gian tu hành Vô Thượng Bồ Đề rất
ư là dài! Bởi vậy, “chúng
sanh sanh giả” (chúng sanh sanh về đó) trong
đoạn này đều là các chúng sanh biết nghe lời,
nghe theo lời Bổn Sư của chính ḿnh răn dạy.
Bổn Sư của họ giới thiệu Tây
Phương Cực Lạc thế giới giống như
Thích Ca Mâu Ni Phật, chắc chắn các Ngài giảng kinh A
Di Đà, giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng Quán Vô
Lượng Thọ Kinh, giới thiệu Tây Phương
Cực Lạc thế giới với mọi người.
V́ thế, những ai biết nghe lời đều phát tâm
văng sanh, người trong thế giới Cực Lạc
đông đảo, không có cách ǵ tính đếm
được.
Sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới thật là phi phàm, “giai thị A Bệ Bạt Trí” (đều là A
Bệ Bạt Trí). A Bệ
Bạt Trí (Avaivartika) là ǵ? A dịch là Vô. Trong chữ A Di
Đà Phật, A là Vô, Di Đà là Lượng. Ở đây,
A là vô, Bệ Bạt Trí là thoái chuyển. Người Trung
Quốc không quen nói “vô thoái
chuyển” mà nói là “Bất
Thoái chuyển”. V́ thế, A Bệ Bạt Trí là Bất
Thoái chuyển. V́ thế, sự học tập trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới gọi là
đốn siêu, là viên chứng. Điều thứ nhất
là “sanh giai Bất Thoái”: Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
quyết định chẳng bị thoái chuyển. Thế
giới này của chúng ta rất tệ hại, rất khó
thể thành tựu học thuật thế gian hay xuất
thế gian. V́ nguyên nhân nào? Tiến th́ ít, lui rất
nhiều. Điều này mỗi cá nhân đều hiểu
rất rơ, đúng là sự thật. Thế giới Tây
Phương quư nhất là A Bệ Bạt Trí. A Bệ
Bạt Trí là một danh từ chuyên môn, chẳng phải là Bất
Thoái Chuyển tầm thường đâu nhé, mà là một
hạng Bồ Tát ở một mức độ rất cao
sâu, kinh điển Đại Thừa thường nói là
từ bậc Thất Địa trở lên.
Sanh sang Tây Phương Cực Lạc
thế giới, quư vị phải chú ư đến hai
chữ “giai thị” (đều
là), hai chữ này rất quan trọng. “Đều là” nghĩa là ǵ? Sanh sang Tây
Phương Cực Lạc thế giới, từ
người Hạ Hạ Phẩm văng sanh trong Phàm Thánh
Đồng Cư độ cho đến Thượng Thượng
Phẩm văng sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ
đều là A Duy Việt Trí (A Bệ Bạt Trí), bởi
vậy pháp này gọi là “pháp khó
tin”. Nói với mọi người tu học Đại,
Tiểu Thừa chuyện này, họ đều lắc
đầu không tin. V́ sao? Phải là Thất Địa
Bồ Tát mới ḥng được Bất Thoái Chuyển.
Kiến Tư phiền năo đoạn sạch, Trần Sa phiền
năo đoạn sạch, phá một phẩm vô minh mới
thành Sơ Trụ Bồ Tát, chứng được ba
thứ Bất Thoái: Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái,
Niệm Bất Thoái. A Bệ Bạt Trí là viên chứng ba thứ
Bất Thoái, tức là chứng viên măn ba thứ Bất
Thoái. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo mới chứng
được, thế nhưng c̣n kém xa bậc Thất
Địa đến ba mươi bảy tầng;
giống như đi học mới vào lớp Một, trong
khi Thất Địa Bồ Tát đă học lớp
thứ ba mươi bảy rồi. Quư vị mới
học lớp Một, người ta đă học lớp
thứ ba mươi bảy rồi, làm sao sánh bằng
người ta được cơ chứ?
Nhưng xác thực là quư vị có thể
đới nghiệp văng sanh, quư vị là phàm phu, dẫu cho
một phẩm Kiến Tư phiền năo cũng chẳng
đoạn, nhưng trí huệ, thần thông năng lực
tợ hồ chẳng kém Thất Địa Bồ Tát cho
mấy. V́ nguyên nhân ǵ vậy? Được bổn
nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ!
Giống như hạng phàm phu tầm thường chúng ta,
sanh trong một gia đ́nh nghèo hèn, rất túng quẫn, không
có ǵ hết, nhưng quư vị có một người họ
hàng hay bè bạn rất sang cả, rất giàu có, họ
mời quư vị đến nhà họ làm khách. Quư vị
không có áo quần đẹp ư? Họ cho quư vị,
họ cho quư vị chỗ ở, cho cơm áo, ăn xài chẳng
khác ǵ họ cho mấy! Ra khỏi cửa cũng có xe
ngựa, nhưng có điều khác biệt: Có cái ǵ là của
ḿnh hay không? Không có ǵ là của chính ḿnh hết! Trưởng
giả giàu to có phước báo có thể cho quư vị
hưởng ké.
Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới cũng giống như vậy
đó. Chúng ta là hạng phàm phu lè tè sát đất, một
phẩm phiền năo chưa đoạn, sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới hưởng
phước của A Di Đà Phật. Đương nhiên
bản thân ḿnh phải có một chút điều kiện
vừa mắt người ta, nếu không dựa vào đâu
để người ta mời mọc quư vị cơ
chứ? Đó là tịnh nghiệp niệm Phật của
quư vị thành tựu. Ngẫu Ích đại sư đă giảng
điều này rất khéo, chúng ta niệm Phật phải
niệm đến công phu như thế nào mới có thể
tương ứng, mới có thể văng sanh? Ở trên, tôi
đă thưa cùng quư vị rồi: “Một niệm
tương ứng một niệm sanh. Niệm niệm
tương ứng niệm niệm sanh”. Ở chỗ
này, đại sư giảng rất sâu, tôi nói rất nông
cạn cho mọi người dễ hiểu. Tôi nói bốn
chữ “tâm, nguyện, giải,
hạnh”. Tâm của chúng ta phải giống như tâm
Phật, nguyện của chúng ta phải giống với
bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật.
Giải (解) là cách nh́n, cách nghĩ của chúng ta
đối với chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh phải giống như A Di Đà Phật, hạnh
của chúng ta phải giống như hạnh của A Di
Đà Phật.
A Di Đà Phật tâm thanh tịnh,
nguyện thanh tịnh, giải thanh tịnh, hạnh thanh
tịnh, tâm tịnh th́ cơi Phật tịnh. Đó là Năng
Cảm. Hằng ngày niệm Phật, nhưng tâm - nguyện
- giải - hạnh của chúng ta không thanh tịnh sẽ không
có cảm ứng, nhất định phải hiểu
đạo lư này, chẳng thể không hiểu! Nơi nào là
Tịnh Độ? Kinh điển Đại Thừa
thường nói “tâm tịnh th́
cơi Phật tịnh”. Chúng ta phải tu bằng cách nào?
Chiếu theo Vô Lượng Thọ kinh mà tu là đúng. Kinh Vô
Lượng Thọ giảng rất rơ ràng; không theo kinh Vô
Lượng Thọ, hành theo kinh A Di Đà có được
hay không? Được chứ! Kinh A Di Đà lời lẽ
đơn giản, nhưng ư trọn khắp, đúng là
rất nhiều chỗ chúng ta đọc không hiểu,
phải xem chú giải của các tổ sư. Bản chú
giải đơn giản nhất, nhưng thiết
yếu nhất th́ không ǵ hơn được Yếu
Giải. Chúng ta có thể tuân chiếu Yếu Giải mà tu
tập th́ sẽ đúng! Chắc chắn văng sanh, tức là
sao? Phải hiểu kinh A Di Đà, không hiểu không
được!
Kinh Di Đà rất khó hiểu, nhất
định phải đọc chú giải. Trong các chú
giải, độ dày của bản Sớ Sao của Liên
Tŕ đại sư c̣n nhiều hơn kinh Vô Lượng
Thọ nữa. Bởi vậy, quư vị đừng
thấy kinh này rất ngắn mà lầm! Nếu giảng
kỹ th́ mỗi ngày giảng hai tiếng, cả năm
vẫn chưa xong. Trước đây chúng tôi đă
giảng Sớ Sao một lần, mười mấy
năm trước đây, lúc đó chúng tôi chưa có
thiết bị thâu h́nh, nhưng có máy thâu âm. Mỗi lần
giảng một tiếng rưỡi, h́nh như tổng
cộng giảng tới ba trăm ba mươi buổi,
một bộ A Di Đà Kinh Sớ Sao thôi nhé! Chẳng
dễ dàng đâu! Nếu quư vị chẳng thấu
triệt, hiểu rơ, làm sao quư vị tu? “Sanh giai Bất Thoái, cụ hữu dụ bồi
căn lực công” (Người sanh về đó
đều được Bất Thoái, có đủ công
đức dẫn dụ, vun bồi căn lực), “công” ở đây là công
đức. Chúng ta thấy điều này, trong tâm rất
háo hức, Bất Thoái Chuyển như vậy rất khó
được, bọn ta nên nhanh chóng sanh về đó.
“Kỳ
trung đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ” (Trong số ấy có nhiều vị là
Nhất Sanh Bổ Xứ), Nhất Sanh Bổ Xứ là
Đẳng Giác Bồ Tát, số người như thế
rất nhiều, “kỳ số
thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi, đản
khả dĩ vô lượng vô biên A-tăng-kỳ thuyết”
(số ấy rất nhiều chẳng thể tính toán
ḥng biết được nổi, chỉ đành nói là vô
lượng vô biên A-tăng-kỳ). Chẳng tuyệt diệu
lắm hay sao? Trong thế giới hiện tại của
chúng ta, t́m không ra một vị Đẳng Giác Bồ Tát, trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới chỗ nào
cũng thấy. Quán Âm Bồ Tát là Đẳng Giác,
Đại Thế Chí là Đẳng Giác, Văn Thù Bồ
Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát
đều là Đẳng Giác Bồ Tát. Sanh về đó, các
Ngài đều là đồng học. Đẳng Giác Bồ
Tát là trưởng lớp. “Cụ
trợ đương sanh thành tựu chi đức” (Có
đức tánh giúp cho ta được thành tựu ngay trong
đời hiện tại): Ở cùng một chỗ
với những vị đồng học ấy, quư vị
cứ nghĩ xem, có thoái chuyển được hay
chăng? Không thể nào thoái chuyển được!
Những vị ấy đều là vô lượng thọ.
V́ thế, nhất định thành Phật ngay trong một
đời, chẳng có nỗi khổ chết chóc!
Thế giới Sa Bà thọ mạng
ngắn ngủi, dẫu có vị thầy tốt chỉ
dạy, có đồng học tốt giúp đỡ, quư
vị công phu mới vừa đắc lực, thọ
mạng đă hết, thật là phiền! Đời này tâm
lành, hạnh lành, đời sau chắc chắn được
làm thân trời người. Được làm thân trời
người chắc chắn phước báo to hơn
đời này, hưởng phước quá đâm ra hồ
đồ, rất khó tiếp tục tu hành. Quư vị
chỉ cần nh́n vào những người giàu sang sống
quanh chúng ta, v́ sao những người ấy phú quư? Do
đời trước tu hành, nay được
hưởng quả báo ấy. Họ có chịu tu hành
nữa hay không? Quên sạch hết! Dẫu có nghĩ tu hành
rất tốt, nhưng nay c̣n lắm việc chưa xong,
đợi đến khi nào ta giải quyết xong mọi
việc, hăy lại tu hành. Sự việc c̣n chưa xong th́
thọ mạng đă hết rồi!
Trước kia tôi ở Đài Loan, tôi có
một vị trưởng bối vừa là đồng
học vừa là bạn rất thân của cha tôi, làm
đến Trung Tướng. Lúc tôi học Phật, cụ
cũng tán thành: “Khá lắm, rất tốt!” Lúc đó,
cụ đă nghỉ hưu, kinh doanh một nông
trường, bảo tôi: “Chừng nào tôi làm xong việc này,
tôi cũng phải học Phật” Mấy năm sau cụ
mất, sự nghiệp vẫn c̣n dang dở, thọ
mạng đă hết rồi. V́ thế, quư vị phải
hiểu rơ chân tướng sự thật này, quư vị
mới hiểu tại sao chẳng thể không văng sanh thế
giới Cực Lạc. Không văng sanh thế giới Cực
Lạc, quư vị tu suốt một đời này, dẫu
đời sau được làm thân người, bị mê
khi cách ấm, muốn tiếp tục tu hành hết sức
khó khăn, chẳng dễ dàng chi! Quên hết sạch
sự việc đời trước, từ lúc mới
sanh ra cho đến khoảng mười lăm,
mười sáu tuổi, chắc chắn quư vị chịu
ảnh hưởng của cha mẹ, người thân,
quyến thuộc, những người ấy có chịu kêu
quư vị tu hành hay chăng? Có chịu kêu quư vị đi
xuất gia hay không? Không có khả năng đó đâu!
Mười sáu, mười bảy
năm chịu ảnh hưởng đó biến thành
tập quán của ḿnh, tức là: “Thiếu thành nhược thiên tánh, tập quán thành
tự nhiên” ([Chịu ảnh hưởng] từ nhỏ
trở thành giống như tánh t́nh bẩm sanh, do thói quen
biến thành tự nhiên). Quư vị chẳng dễ ǵ
nẩy sanh ư niệm tu hành, hầu như không có khả năng!
Nếu như phước báo lớn lao, càng chẳng dễ
dàng. Nếu quư vị sanh trong một gia đ́nh nghèo
khổ, chịu rất nhiều bầm dập, may ra mới
có ư niệm xuất thế, có ư niệm tu đạo.
Nếu là có phước báo, sanh trong gia đ́nh giàu sang th́
chẳng có khả năng, tuyệt đối chẳng có
khả năng! Chúng ta thấy rơ chân tướng sự
thật này, quyết định chẳng chịu luân
hồi, đời sau quyết định chẳng lâm vào t́nh
cảnh ấy.
Phải thực sự cầu
được văng sanh! Phải thực sự nâng cao
cảnh giới của ḿnh lên! Phiền năo tập khí
nhất định phải đoạn, nhất
định phải tu thành. Trong một đời này, tâm
địa thanh tịnh, tâm địa thiện
lương, đối với hết thảy
người, sự, vật, chớ nên có mảy may oán
hận. Có chút oán hận nào th́ quư vị sẽ bị
đọa lạc, đời sau lúc gặp phải oán thân
trái chủ, oan oan tương báo, đáng thương
lắm thay! Nếu đức Phật chẳng giảng cho
chúng ta [điều này], chúng ta vĩnh viễn không biết.
V́ vậy, phải thực sự tu hành. “Tu hành” là “sửa
đổi hành vi của chính ḿnh cho đúng”. Trong hành vi, quan
trọng nhất là quan niệm, tức là hành vi nơi ư
nghiệp.
Tôi thường khuyên các đồng
học biến địch thành bạn, hóa oán thành thân,
điều này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác.
Quyết định chẳng được đối
lập với hết thảy chúng sanh, chẳng những
không được đối lập với người,
mà với hết thảy động vật cũng không
được, với hết thảy thực vật
cũng không được! Chớ nên đối lập! Phải
có ḷng yêu thương, phải có ḷng cung kính, cung kính
đối với người. Đối với sự
đều phải cung kính. Kinh gọi đó là “chư thượng thiện nhân
câu hội nhất xứ” (các thượng thiện nhân
cùng ở chung một chỗ). Chúng ta phải vun bồi
thượng thiện, vun bồi tâm hạnh thượng
thiện thanh tịnh chân chánh, văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, trong một đời này,
một chút chướng ngại cũng chằng có. Ồ! Bây
giờ đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta cũng đọc qua
đoạn kinh văn tiếp theo đó một lần:
Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn
giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh
bỉ quốc.
舍利弗。眾生聞者。應當發願。願生彼國。
(Này Xá Lợi Phất! Chúng sanh
nghe nói, hăy nên phát nguyện, nguyện sanh về cơi ấy).
Hai câu này rất quan trọng.
Sở dĩ giả hà?
Đắc dữ như thị chư thượng
thiện nhân câu hội nhất xứ.
所以者何。得與如是諸上善人。俱會一處。
(V́ sao vậy? Được
cùng với các thượng thiện nhân như vậy cùng
nhóm họp một chỗ).
Đoạn này nói cho chúng ta biết
về các thượng thiện nhân. Từ ngữ “chư thượng thiện
nhân” chỉ các Đẳng Giác Bồ Tát, tức
những bậc Nhất Sanh Bổ Xứ. Nhất Sanh
Bổ Xứ mới là Thượng Thiện Nhân! Nói bao quát
là “đầy đủ công
đức tăng thượng, duyên thù thắng”, duyên
ấy rất thù thắng, nhân sự hoàn cảnh tốt
đẹp, được sự vui “nhân ḥa”. Thế giới Cực Lạc đúng là
thiên thời, địa lợi, nhân ḥa không khuyết hăm
mảy may nào. Bởi vậy, đức Thế Tôn khuyên
chúng ta: “Ưng đương phát
nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (Hăy nên phát
nguyện, nguyện sanh về cơi ấy). Quư vị nghĩ
lời nói ấy đúng hay sai? Khắp mười
phương thế giới, t́m không ra hoàn cảnh nào thù
thắng đến như thế, trọn đủ thiên
thời, địa lợi, nhân ḥa. Nếu thực sự
chịu phát nguyện văng sanh, sẽ vĩnh viễn thoát
khỏi nỗi khổ luân hồi lục đạo trong
thế giới Sa Bà. Nếu quư vị chẳng thể văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lại
chẳng thể chứng đắc minh tâm kiến tánh,
ắt phải chịu cái khổ luân hồi trong lục
đạo. Quư vị kết ác duyên với hết thảy
chúng sanh, oan oan tương báo, đời đời
kiếp kiếp chẳng xong, càng nghĩ càng đáng sợ!
Lại xem tiếp đoạn thứ hai
[trong sách Yếu Giải]: “Đới
nghiệp văng
sanh hoành xuất tam giới, Đồng
Cư hoành cụ tứ độ, khai hiển tứ giáo pháp
luân” (Đới nghiệp
văng sanh là thoát khỏi tam giới theo chiều ngang, cơi
Đồng Cư theo chiều ngang có đủ bốn cơi,
khai hiển tứ giáo pháp luân). Trước hết, chúng tôi
nói dăm câu: Trong một đời này, chúng ta có thể văng
sanh thế giới Cực Lạc đúng là do đới
nghiệp văng sanh. Nếu chẳng đới nghiệp th́
về căn bản, chúng ta chẳng có cơ hội văng
sanh! Đới nghiệp văng sanh là thoát khỏi tam giới
theo chiều ngang (hoành xuất tam giới). Quư vị
phải biết: Mọi cách tu hành khác chẳng phải là “hoành xuất”, mà là “thụ xuất” (thoát ra theo
chiều dọc). Nếu quư vị muốn vượt thoát
lục đạo luân hồi, phải đi qua Tứ
Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu
Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, thoát
khỏi Dục Giới như vậy, lên đến
Sắc Giới. Trong Sắc Giới phải trải qua
Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ
Thiền, tất cả mười tám tầng trời,
lại phải vượt qua bốn tầng Không Thiên
để thoát khỏi luân hồi lục đạo, nên
gọi là “thụ xuất”. Trong
tứ thánh pháp giới, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát,
Phật là “thụ xuất”.
C̣n người đới nghiệp văng sanh th́ sao? Hoành siêu!
Chẳng cần phải đi theo con đường trên,
chúng ta từ nhân đạo vượt ngang ra, nên gọi
là “hoành xuất tam giới”,
chẳng phải là “thụ xuất”, thoát ra từ nhân
đạo.
Tây Phương Cực Lạc thế
giới thù thắng thực sự chẳng thể nghĩ
bàn! Cơi Đồng Cư có đủ cả bốn cơi [Tịnh
Độ] theo chiều ngang. Chúng ta về đó
đương nhiên là về Phàm Thánh Đồng Cư
độ, đới nghiệp mà! Bốn cơi [Tịnh
Độ] trong thế giới chư
Phật ở mười phương không ở cùng
một chỗ, Thích Ca Mâu Ni Phật có Thật Báo Độ,
nhưng Thật Báo Độ ấy chẳng ở trên
địa cầu chúng ta, chẳng ở cùng một nơi.
Ngài có Phương Tiện Hữu Dư Độ,
Phương Tiện Hữu Dư Độ thuộc
tứ thánh pháp giới, c̣n Thật Báo Độ là Nhất
Chân pháp giới, không ở cùng một chỗ. Giống
như các trường học trong thế gian này: Tiểu
học, trung học, đại học tách rời nhau.
Tiểu học là tiểu học, trung học là trung
học, đại học là đại học, không ở
cùng một chỗ. Tây Phương Cực Lạc thế
giới rất đặc biệt, đại học, trung
học, tiểu học, viện nghiên cứu cùng dạy
trong một pḥng học, rất đặc biệt; bởi
thế, nó là pháp khó tin! Chúng ta đến đó là học tṛ
tiểu học, nhưng cùng học chung một lớp
với chúng ta có những sinh viên đại học, có nghiên
cứu sinh, có sinh viên thuộc ban Tiến Sĩ, chúng ta
gặp khó khăn ǵ họ bèn giúp cho, cảnh giới
chẳng thể nghĩ bàn! V́ vậy, sanh vào Phàm Thánh
Đồng Cư Độ giống như sanh vào
Phương Tiện Độ, v́ sao? A La Hán là đồng
học của ḿnh, cùng học chung với ḿnh trong một
pḥng học; giống như sanh vào Thật Báo Độ, v́
ở chung một chỗ với Bồ Tát, giống như
sanh vào Thường Tịch Quang Độ, v́ sao? Chư
Phật Như Lai cũng ở chung một chỗ với
ḿnh!
“Khai
hiển tứ giáo pháp luân”,
ư nói: Chúng ta đến đó tiếp nhận sự giáo
dục viên măn. Tứ giáo là Giáo, Lư, Hạnh, Quả.
Ngẫu Ích đại sư thuộc tông Thiên Thai, Ngài
học giáo lư Thiên
“Chúng sanh
viên tịnh tứ độ”:
“Chúng sanh” chính là chúng ta; chúng
ta sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đến nơi ấy tâm thanh tịnh, bốn cơi Tịnh
Độ đều thanh tịnh. “Viên” là viên măn, [“viên
tịnh tứ độ” ] là bốn cơi thanh tịnh viên
măn, cũng có nghĩa là tâm thanh tịnh đều
tương ứng với bốn thứ Tịnh
Độ. “Viên kiến tam thân,
viên chứng tam Bất Thoái” (Thấy trọn ba thân,
chứng trọn ba thứ Bất Thoái): Ở đây,
phải chú ư đến ba chữ “viên”. V́ sao? Chỉ có Tây Phương Cực
Lạc thế giới là hết thảy viên măn. Lúc ở
những thế giới phương khác, dẫu có thể
thấy, có thể nghe, nhưng không viên măn! Chỉ riêng
ở Tây Phương Cực Lạc thế giới,
hết thảy đều viên măn, đó là do bổn
nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. Tam
thân: Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân. Ba Bất Thoái là Vị Bất
Thoái, Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái. Ba thứ Bất
Thoái này chúng tôi chừa lại để giới thiệu
trong phần sau.
“Nhân dân giai
nhất sanh thành Phật”
(nhân dân đều thành Phật trong một đời): Hăy
chú trọng chữ “giai”. “Giai”
có nghĩa là phàm những ai văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều không có ngoại lệ, ai
nấy đều thành Phật trong một đời.
Thời gian một đời có khác biệt, có
người sớm một chút, có kẻ chậm một
chút, v́ nguyên nhân nào vậy? Nguyên nhân chẳng ở bên ngoài, mà
ở ngay nơi ḿnh. Nếu quư vị siêng gắng tu hành,
sẽ sớm có ngày thành Phật, vượt lên
trước. Nếu quư vị biếng nhác, giải đăi,
tán loạn một chút, thời gian để thành Phật của
quư vị phải dài hơn. Đây chẳng phải là do thầy,
chẳng phải do đồng học, chẳng phải do
hoàn cảnh tu học, mà là v́ chính ḿnh dụng công siêng năng
hay lười nhác. Muốn siêng học th́ tốt nhất
phải tập thành ngay từ bây giờ, nuôi dưỡng
thành thói quen, thói quen ấy có thể mang sang thế giới
Cực Lạc. Nói cách khác, đến thế giới
Cực Lạc thời gian để thành tựu của quư
vị sẽ rút ngắn lại.
“Như
thị đẳng thắng dị siêu tuyệt” (Sự thù thắng, lạ lùng vượt
trội không c̣n ǵ hơn được nữa như
thế đó): Thù thắng, lạ lùng là khác với mọi
thế giới. Chẳng những vượt trỗi, mà
c̣n siêu tuyệt (vượt trội mọi thứ, không ǵ
hơn được nữa), “toàn
tại thử nhị khoa điểm thị, tu đế
nghiên chi” (hoàn toàn được tŕnh bày trong hai khoa này,
phải nên nghiên cứu kỹ càng): Sự thù thắng trang
nghiêm siêu tuyệt khôn sánh của thế giới Cực
Lạc nằm ở trong hai đoạn kinh văn này: Y báo
mầu nhiệm và chánh báo mầu nhiệm, tức là hai
đoạn kinh văn này tường thuật sự trang
nghiêm nơi y báo và chánh báo. Ngẫu Ích đại sư
đặc biệt dặn ḍ chúng ta phải tích cực
nghiên cứu, chẳng được coi thường.
Trong phần trên đă nói tới Bất
Thoái. Bất Thoái có ba loại:
1) Vị Bất Thoái “nhập thánh lưu, bất đọa phàm địa”
(nhập ḍng thánh, chẳng đọa xuống
địa vị phàm phu).
Hạng người nào vậy? Tiểu
Thừa Sơ Quả, bậc Sơ Trụ của Biệt
Giáo, bậc Sơ Tín trong Viên Giáo (tức là Sơ Tín Vị
Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm), bọn họ đắc Vị
Bất Thoái. Những địa vị này là địa
vị thánh nhân, quyết định chẳng thoái chuyển
làm phàm phu nữa. Các Ngài đoạn hết tám mươi
tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới, kiến
giải chính xác, chẳng phải là tà tri tà kiến.
Để thuận tiện cho việc giảng dạy,
đức Phật gộp tám mươi tám phẩm
Kiến Hoặc thành năm loại lớn: Thứ nhất
là Thân Kiến, thứ hai là Biên Kiến, thứ ba là
Giới Thủ Kiến, thứ tư là Kiến Thủ
Kiến, thứ năm là Tà Kiến. Nói
chung đều là kiến giải sai lầm, cách thấy
sai lầm, đối với vũ trụ, đối
với nhân sinh, đối với hết thảy vạn
pháp đều nh́n sai lầm. Những cách nh́n sai lầm
ấy họ đều buông xuống được,
có cách nh́n chính xác, chẳng c̣n thoái đọa làm phàm phu.
Phàm phu có cách nh́n sai lầm, cách nghĩ
cũng sai lầm; nhưng phàm phu th́ sao? Phàm phu chấp
chặt cách nghĩ và cách nh́n của ḿnh là chính xác, nghĩ người khác đều
trật, bởi thế, họ vĩnh viễn là phàm phu. Con
người phải biết sai mới thay đổi
được; chẳng biết lỗi ḿnh th́ làm sao
sửa? Kẻ ấy luôn nghĩ ḿnh đúng, người
khác sai, Phật, Bồ Tát có nói cũng cho là sai, là mê tín;
vậy là không có cách nào hết. Lúc nào biết sai, lúc ấy
mới sửa đổi được. Trong Phật pháp
nói đến tu hành th́ sửa đổi cho đúng
những lầm lạc là tu hành, chẳng phải là chuyện
dễ dàng! Sơ Quả và Sơ Tín Bồ Tát thuộc Viên
Giáo, dẫu chưa thoát tam giới, chưa vượt
khỏi luân hồi lục đạo, nhưng quyết
định chẳng đọa ba ác đạo. Như
Sơ Quả Tiểu Thừa chứng đắc Sơ
Quả, bảy lần sanh vào cơi người hay cơi trời
mới chứng A La Hán, bèn thoát tam giới. Các Ngài tu hành
chẳng gián đoạn giữa chừng, chứng quả,
đạt Vị Bất Thoái.
2) Loại thứ hai là “Hạnh Bất Thoái, hằng độ sanh”. “Hằng” (恆) là vĩnh viễn, tâm nguyện độ
sanh chẳng bị thoái chuyển, chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ, các Ngài chẳng đọa Nhị
Thừa. V́ sao? Bậc Nhị Thừa là A La Hán, Bích Chi
Phật không độ chúng sanh. Quư vị phải hiểu:
Không phải các Ngài không độ sanh, các Ngài cũng độ
sanh, nhưng không chủ động! Chúng sanh t́m đến
Ngài, lạy Ngài làm thầy, học đạo với Ngài,
Ngài tiếp nhận, nhưng Ngài chẳng đi t́m
người khác, “không độ chúng sanh” có nghĩa là
như vậy. Chẳng giống với Bồ Tát, Bồ
Tát đến t́m ta, nhưng lúc Bồ Tát đến t́m ta,
Ngài xem xét cơ duyên, xem duyên có chín muồi hay chưa? Chín muồi
là ǵ? Lúc t́m đến quư vị, nếu quư vị có thể
tin tưởng, tiếp nhận th́ Bồ Tát bèn
đến. Nếu thiện căn, phước
đức, nhân duyên của quư vị chưa chín muồi,
Ngài đến t́m ta, ta chẳng thể tiếp nhận! Quư
vị chẳng thể hiểu thấu th́ lúc ấy Bồ
Tát chẳng đến t́m quư vị!
Đấy chính là điều nhà Phật
thường nói: “Phật bất
độ vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ
kẻ vô duyên). Ở đây, “vô
duyên” không phải thực sự là không có duyên ǵ, mà có
nghĩa là duyên chưa chín muồi. Lúc chưa chín muồi, các
Ngài không đến; duyên chín muồi bèn đến. Lúc chín
muồi th́ các Ngài giảng, quư vị tin được,
hiểu được, lại c̣n có thể phụng hành,
duyên chín muồi rồi mà! Do Bồ Tát t́m chúng sanh
để độ nên trong kinh Vô Lượng Thọ, chúng
ta thấy có câu: “Vị chúng
sanh tác bất thỉnh chi hữu” (V́ chúng sanh làm
người bạn chẳng mời). Chúng sanh không mời,
Ngài cũng đến; không giống như A La Hán, Bích Chi
Phật, chúng sanh phải mời mới đến; không
mời, họ chẳng đến.
Bồ Tát không mời cũng đến
nên là đại từ đại bi. Đó là những
vị nào? Đó là bậc Bồ Tát trong Thông Giáo (trong
Tạng Giáo không có Bồ Tát, trong Thông Giáo có Bồ Tát),
bậc Thập Hồi Hướng trong Biệt Giáo,
Thập Tín trong Viên Giáo. V́ vậy, Thập Tín Bồ Tát
của Viên Giáo là Hạnh Bất Thoái, đáng quư vô cùng.
Bậc Thập Tín của Viên Giáo đắc hai thứ Bất
Thoái: Vị Bất Thoái và Hạnh Bất Thoái. Trong Tiểu
giáo chỉ có một thứ là Vị Bất Thoái, chứ
Hạnh vẫn c̣n thoái chuyển. Đấy là chỗ thù
thắng của Viên Giáo; bởi thế, chư Phật,
Bồ Tát tán thán Viên Giáo đến tột bậc, [căn tánh
Viên Giáo] là căn tánh viên đốn. Hạng người
ấy có tâm từ bi, có tâm trí huệ, niệm niệm
chẳng xả chúng sanh, lúc nào cũng chịu giúp
đỡ chúng sanh.
3) Loại thứ ba là Niệm Bất
Thoái. Thế nào là Niệm Bất Thoái? “Tâm tâm lưu nhập biển Tát-bà-nhă”.
Câu này chẳng dễ hiểu cho lắm.
Biển Tát-bà-nhă là ǵ? Biển Tát-bà-nhă (Sarvajña) chính là
Nhất Thiết Chủng Trí thường được
Đại Thừa nói đến, nhưng vẫn chưa
dễ hiểu. Chúng tôi nói một cách dễ hiểu hơn
là: Quư vị niệm niệm tương ứng với trí
huệ Bát Nhă sẵn có nơi tự tánh. Tôi nói cách này mọi
người đều hiểu, nó có ư nghĩa như
vậy đó! Niệm niệm tương ứng với trí
huệ chân thật sẵn có nơi tự tánh không dễ
dàng đâu! Phàm phu làm không được. Phàm phu niệm
niệm sanh phiền năo. Niệm niệm tương
ứng với trí huệ Bát Nhă sẵn có nơi tự tánh
là hạng người nào? [Phải là] người minh tâm
kiến tánh; không minh tâm kiến tánh sẽ không thể làm
được. Bởi thế, bậc đương
cơ của Niệm Bất Thoái chính là Sơ Trụ
của Viên Giáo, Sơ Địa của Biệt Giáo. Sơ
Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh,
chứng một phần Pháp Thân, minh tâm kiến tánh. Nhà
Thiền nói: “Đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”,
đấy chính là Niệm Bất Thoái.
Niệm niệm tương ứng
với trí huệ quyết định chẳng sanh
phiền năo, chuyển phiền năo thành Bồ Đề, thực
sự chuyển biến được, đó là bậc
Sơ Trụ của Viên Giáo. Trong Tông Môn gọi là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”; trong Giáo
gọi là “đại khai viên giải”, trong pháp môn Niệm
Phật gọi là “Lư nhất tâm bất loạn”. Lư nhất
tâm bất loạn chính là Sơ Địa trong Biệt Giáo
hoặc Sơ Trụ trong Viên Giáo. Biệt Giáo hay Viên Giáo tùy
thuộc vào căn tánh của chính quư vị; nếu quư
vị quả thật là căn tánh viên đốn th́ quư
vị nhập cảnh giới của bậc Sơ Trụ
trong Viên Giáo; nếu quư vị không phải là căn tánh viên
đốn th́ là Sơ Địa của Biệt Giáo, tùy
theo căn tánh bất đồng của từng
người mà nói.
Biệt Giáo khác với Viên Giáo ở
chỗ nào? Viên Giáo biến hết thảy thành rộng
lớn, viên dung vô ngại; nhưng Biệt Giáo vẫn c̣n
tính toán dè dặt, c̣n có chấp trước. Nói cách khác, tâm
lượng chưa rộng mở, chưa được viên dung, c̣n chấp vào phương
hướng, đường lối của ḿnh. Viên giáo
đáng quư, viên dung tự tại; c̣n Biệt giáo không
viên dung, không được tự tại như Viên Giáo
Bồ Tát. Căn tánh được vun trồng từ vô
lượng kiếp, chẳng phải là trong một
đời một kiếp. Bởi vậy, chúng tôi
thường nói: Có người thiên tánh rất hoạt bát,
có người thiên tánh rất cẩn thận, câu nệ.
Câu nệ, cẩn thận là Tiểu Giáo hay Biệt Giáo; người
hoạt bát rất có thể là Viên Giáo. Từ chỗ này có
thể nhận biết phảng phất đôi chút h́nh
dạng của Tạng, Thông, Biệt, Viên. Do vậy, có thể
thấy được trọn vẹn ba thứ Bất
Thoái.
Thấy trọn vẹn ba thân th́ thấy
ở đâu? Thấy ba thân ngay trên cái thân hiện tại
của chúng ta. Mọi người chúng ta đều tưởng
cái thân hiện tại chính là thân ḿnh, thân ấy là thân
nghiệp báo! Do nghiệp thiện hay ác đă tạo trong đời
quá khứ chiêu tập, cảm được báo ứng,
th́ gọi là “thân nghiệp báo”. Nếu quư vị thực
sự giác ngộ th́ thân này là Pháp Thân, v́ sao? Nó do các pháp sanh
ra. Phật quy nạp các pháp lại, quy nạp đến
mức đơn giản nhất là Ngũ Ấm: Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Có ǵ chẳng phải là
pháp? Nói rộng ra một chút là mười hai Xứ và
mười tám Giới. Mười tám Giới là sáu Căn,
sáu Trần, sáu Thức, hoàn toàn thuộc trong thân thể,
chẳng tách rời khỏi thân. Thân ấy do các pháp tụ
tập sanh ra, thân ấy chính là Pháp Thân.
Pháp Thân này cùng pháp giới bên ngoài là
một, không phải hai. Nếu nói Pháp Thân này và pháp giới
bên ngoài là hai chứ không phải một th́ quư vị
chưa chứng đắc. Sau khi chứng đắc, quư vị
sẽ hoàn toàn hiểu rơ thân ḿnh là tiểu vũ trụ,
pháp giới bên ngoài là đại vũ trụ. Tiểu
vũ trụ và đại vũ trụ là một, chứ
không phải hai, tương dung, tương tức (dung nhập
lẫn nhau, tiểu vũ trụ chính là đại vũ trụ,
đại vũ trụ chính là tiểu vũ trụ),
chẳng tách rời. V́ thế, đại vũ trụ bên
ngoài chuyển theo tiểu vũ trụ bên trong, cảnh
chuyển theo tâm! Đoạn hết vọng tưởng,
trí huệ sẽ hiện tiền, thân này là Báo Thân. Báo Thân là
thân trí huệ; nhục thể (cái thân xác thịt) trong
thế gian là Ứng Hóa Thân, chẳng khác ǵ so với chư
Phật và Pháp Thân Bồ Tát, xác thực là bậc thừa
nguyện tái lai (nương theo bổn nguyện tái sanh). V́
sao? Trong thế gian này, quư vị v́ người khác diễn
nói, chẳng v́ chính ḿnh; nếu vẫn v́ chính ḿnh th́ là phàm
phu. Phải không v́ chính ḿnh; cái ǵ mới đúng là chính ḿnh?
Toàn thể vũ trụ là chính ḿnh, hết thảy chúng sanh
là chính ḿnh, hư không pháp giới là chính ḿnh, Tiểu Ngă và
Đại Ngă hợp thành một. Đó là “nhập pháp giới”.
Tiểu Ngă chẳng hợp
được thành một với Đại Ngă bên ngoài là
chưa nhập pháp giới. Thế nào là “nhập pháp giới”? Quư vị hăy suy nghĩ
từ đây. Lúc tôi giảng kinh đă nói khá nhiều
lần: Tâm và hư không pháp giới dung hợp thành một
thể, thân và vô lượng vô biên cơi nước cùng chúng
sanh [trong vô lượng vô biên cơi nước ấy] hợp
thành một thể, đó là nhập pháp giới, thực
sự dung hợp. Lúc Tiểu Ngă và Đại Ngă hợp
nhất, quư vị hăy nghĩ xem: Có c̣n sanh tử hay chăng?
Không có! Cầu sanh tử trọn chẳng thể
được, sanh tử không c̣n nữa! Niết Bàn
cũng không có, phiền năo không có, trí huệ cũng không có;
v́ chúng đều là đối lập với nhau [nên cái này
không có th́ cái kia cũng không có]. Thực sự nhập pháp
môn Bất Nhị, Bất Nhị gọi là Nhất Chân,
không pháp nào chẳng phải là Nhất Chân, khi đó là
Niệm Bất Thoái!
Bộ kinh điển Tịnh Độ
này (tức kinh A Di Đà) bị không ít người coi
thường v́ kích thước quá nhỏ, chỉ là
một tập sách nhỏ mỏng tanh. Nếu quư vị
đọc rất quen th́ chỉ cần năm phút là
đọc xong, nhưng trong đây có những đạo lư
lớn lao, đạo lư viên măn rốt ráo, Thật
Tướng viên măn rốt ráo nhiều ngần ấy, nào ai
biết? Thực sự chẳng thể nghĩ bàn! Bởi
vậy, kinh nói tường tận, nói rộng, giảng
tỉ mỉ chính là Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm. Hiện tại chúng tôi đang giảng một
bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh, từ lúc mới bắt đầu đến nay
đă mất hơn hai ngàn giờ, nhưng mới giảng
đến cuốn thứ mười hai! Kinh ấy
tổng cộng chín mươi sáu cuốn; v́ vậy, tôi
tính hà tiện nhất th́ cũng phải mất bảy
năm mới có thể giảng xong. Tối thiểu
phải mất bảy năm, mỗi ngày giảng suốt
bốn tiếng đồng hồ.
Cảnh giới, nội dung của kinh
Hoa Nghiêm và kinh A Di Đà hoàn toàn tương đồng,
một đằng là giảng kỹ, một đằng
nói đại lược. Văn tự có rộng - hẹp
sai khác, nhưng đạo lư và cảnh giới hoàn toàn
tương đồng. Bởi vậy, trong quá khứ tôi
từng bảo các đồng học: “Nếu muốn giảng kinh Vô Lượng Thọ và
kinh A Di Đà cho hay th́ quư vị phải thông kinh Hoa Nghiêm.
Chẳng thông kinh Hoa Nghiêm, quư vị giảng hai bộ kinh
trên đây sẽ không viên măn”. Bởi vậy, cổ nhân
nói ba bộ kinh này là một bộ kinh, [chỉ là]
Đại Bổn, Trung Bổn, Tiểu Bổn của cùng
một bộ kinh. Thuyết này hết sức hợp lư.
Xem tiếp đến đoạn
dưới, chính là đoạn văn của ngài Ngẫu
Ích viết trong sách Yếu Giải: “Tây Phương Tịnh Độ, Ngũ Nghịch
Thập Ác thập niệm thành tựu, đới
nghiệp văng sanh, cư Hạ Hạ phẩm giả, giai đắc
tam Bất Thoái dă” (Tây Phương Tịnh Độ, kẻ
Ngũ Nghịch Thập Ác mười niệm thành tựu,
đới nghiệp văng sanh, thuộc vào Hạ Hạ
Phẩm, đều đắc ba thứ Bất Thoái). Lạ
lùng thật! Kinh nói Ngũ Nghịch Thập Ác là những kẻ
tội nghiệp nặng nhất trong thế gian, họ có
thể văng sanh hay chăng? Có thể! Lúc lâm chung niệm
mười tiếng A Di Đà Phật bèn văng sanh vẫn
được hay sao? Dễ dàng quá vậy? Nhưng quư
vị hăy nghĩ coi: Lúc lâm chung, mười tiếng
niệm A Di Đà Phật có niệm ra được hay
không? Nói về mặt Lư chắc chắn là được,
lâm chung một niệm bèn văng sanh. Vấn đề là lúc
lâm chung có niệm được hay không? Quư vị có
bảo đảm hay không? Quư vị cứ xét kỹ th́
thấy: Lúc lâm chung, có mấy ai được tỉnh táo,
sáng suốt? Đó là điều kiện đầu tiên.
Nếu lâm chung hôn mê là xong rồi! Lâm
chung hôn mê th́ trợ niệm cũng không nhờ vả được.
Trợ niệm nhằm toàn tâm toàn lực cảnh tỉnh
chúng ta. Phải làm sao mới được văng sanh?
Người sắp chết nghe người khác trợ
niệm, đột nhiên giác ngộ, buông xuống vạn
duyên, nhất tâm niệm A Di Đà Phật, như vậy th́
mới có thể văng sanh. Nếu lúc lâm chung vẫn c̣n có
sự t́nh vướng mắc trong dạ, vẫn c̣n
chuyện ǵ đó chưa buông xuống được, khó
buông xuống được nhất chính là thân t́nh, ân oán,
những chuyện này khó buông xuống nhất. Thân t́nh không
buông xuống được, ân oán không buông xuống
được, lập tức đọa tam đồ. Lúc
mạng chung, nghe một tiếng Phật hiệu mà cái ǵ
cũng đều buông xuống hết th́ có thể nói là do
thiện căn tu Tịnh Độ trong đời
đời kiếp kiếp thuộc quá khứ của
người ấy phát hiện trong lúc ấy; người
ấy cũng chẳng phải là kẻ tầm
thường! Người tầm thường dễ ǵ may
mắn như thế? Bởi vậy, chẳng thể
cầu may nơi chuyện này được. Lâm chung
một niệm hay mười niệm văng sanh chính là do
thiện căn tu hành trong quá khứ hiện hữu. Trong
một đời này không gặp được duyên th́
dẫu có thiện căn nhưng thiện căn chẳng
thể hiện tiền, chẳng dẫn khởi lên
được. [Thiện căn phát khởi th́] lúc lâm chung
gặp được thiện tri thức khuyên kẻ
ấy niệm Phật, kẻ ấy vừa nghe liền
hoan hỷ, vừa nghe liền tin tưởng.
Trước kia, tiên sinh Châu Quảng
Đại văng sanh tại Hoa Thịnh Đốn (
Lúc lâm chung mới học Phật,
niệm ba ngày được văng sanh, chẳng thể
nghĩ bàn! Đúng là buông xuống được, hạng
người như vậy hết sức hiếm có! Tuy ông
ta bệnh tật rất đau đớn, nhưng
thần trí sáng suốt, đó là điều kiện
đầu tiên. Điều kiện trọng yếu
nhất là phải sáng suốt, không mê hoặc chút nào.
Thứ hai là gặp được thiện tri thức chân
chánh khuyên dạy ḿnh, vừa nghe bèn có thể tin, hiểu,
phát nguyện, cùng mọi người niệm Phật
sẽ thực sự được văng sanh. H́nh như
cư sĩ Cung Chấn Hoa cũng đă văng sanh mấy năm
trước rồi!
Ngay cả kẻ Ngũ Nghịch,
Thập Ác, lúc lâm chung đầu óc rất sáng suốt, không
mê hoặc, một đời tạo tội nghiệp
cực nặng, v́ sao lâm chung vẫn được văng
sanh? Trong đời đời kiếp kiếp quá khứ
từng tu pháp môn Niệm Phật, thiện căn hết
sức sâu dầy, trong đời này chẳng gặp
được thiện duyên, toàn gặp ác duyên mới bèn
tạo ác, đó là mê hoặc nhất thời. Lúc lâm chung
gặp được thiện duyên, thiện căn trong A
Lại Da thức bèn dẫn khởi, đạo lư là như
vậy; tuyệt đối chẳng thể nói kẻ
ấy không có thiện căn. Không có thiện căn th́
một chút biện pháp ǵ cũng không có. Trong A Lại Da Thức
có thiện căn từ những
đời trước, lúc lâm chung thiện căn ấy được
bạn lành dẫn khởi, bèn phát ra, mười niệm
thành tựu, đới nghiệp văng sanh. Đấy chính là
nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám
đại nguyện của A Di Đà Phật.
Tiếp theo là một câu quan trọng: “Cư Hạ Hạ Phẩm giả,
giai đắc tam Bất Thoái” (Người thuộc Hạ
Hạ Phẩm đều đắc ba thứ Bất Thoái).
Câu này trọng yếu hơn bất cứ ǵ khác! Quư vị
nghĩ xem, trong ba thứ Bất Thoái, người
đắc Niệm Bất Thoái là hạng người nào?
Là Pháp Thân Bồ Tát, chẳng phải Bồ Tát tầm
thường mà là Pháp Thân Bồ Tát! Chúng ta là Hạ Hạ
Phẩm văng sanh, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới đều đắc ba thứ Bất
Thoái. Đắc ba thứ Bất Thoái chính là A Duy Việt
Trí Bồ Tát (Bất Thoái Chuyển Bồ Tát). Chuyện
tốt như vậy t́m đâu ra được? T́m không ra!
Chỉ Tây Phương Cực Lạc thế giới
mới có. Đó gọi là “ngoại
trừ một ḿnh nhà này”. Nếu quư vị không thèm
đến đó, quư vị có bản lănh ǵ để
đoạn phiền năo? Có bản lănh nào để minh tâm
kiến tánh? Tự ḿnh hăy cân nhắc hết sức cẩn
thận đi!
Ngũ Nghịch là ǵ? Thập Ác là ǵ?
Cũng cần phải giới thiệu đơn giản
vậy. Nghịch là phản nghịch. Tội ác lớn
nhất, hoàn toàn trái nghịch tự tánh, gồm có năm
điều:
1) Thứ nhất là làm thân Phật
chảy máu.
Phật phước báo vô cùng lớn, quư
vị có muốn giết Phật, muốn hại Phật,
cũng giết không được, Ngài có phước báo
quá lớn! Nhưng quư vị có ác tâm, rất có khả
năng quư vị ngẫu nhiên làm rách da Phật một chút,
chảy chút máu. Như Đề Bà Đạt Đa
biết Thích Ca Mâu Ni Phật mỗi ngày khất thực
đi theo đường nào. Trên đường đức
Phật đi, có một chỗ có vách đá cheo leo,
Đề Bà Đạt Đa liền ở trên vách đá
ấy quăng xuống một khối đá lớn. Thích
Ca Mâu Ni Phật đi khất thực bước ngang qua
đó; Đề Bà đẩy khối đá xuống mong
đè chết Phật. Nhưng đức Thế Tôn có
thần hộ pháp; lúc đó thần hộ pháp (như Vi
Đà Bồ Tát là thần hộ pháp) dùng chày Kim Cang
đỡ lấy khối đá đang lăn xuống.
Khối đá bị chặn lại liền bị vỡ
nát, mảnh vụn văng vào chân đức Thế Tôn, tróc
một chút da, chảy một tí máu. Làm thân Phật chảy
máu, ôm ḷng hại Phật!
Đức Phật là đạo sư của
ba cơi, là mắt của trời người, quư vị
hại Phật chẳng phải là gây tội cùng Phật, [mà
là khiến cho] hết thảy chúng sanh chẳng
được đức Phật giáo hóa, kết thành
tội là ở chỗ này! Do đó, tội ấy rất
nặng: Chẳng phải quư vị hại một
người mà là hại hết thảy chúng sanh. Hết
thảy chúng sanh phải nhờ đức Phật dạy dỗ
mà quư vị lại sát hại, quá sức rồi!
2) Thứ hai là giết A La Hán.
A La Hán là bậc đắc đạo,
là người lành, cũng là vị thầy tốt,
thiện tri thức, trụ trong thế gian này giáo hóa chúng
sanh. Dẫu chẳng giáo hóa chúng sanh, Ngài trụ tại
địa phương nào, nơi ấy có phước.
Ngài là bậc trí huệ chân chánh, phước đức
chân chánh. Ngài trụ tại địa phương nào,
nơi ấy không mắc nạn. Nay chúng ta hiểu
đạo lư sau đây rất rơ ràng, minh bạch: A La Hán
trụ tại địa phương nào, từ
trường nơi ấy đều biến đổi. Quư
vị muốn hại A La Hán cũng là hại hết thảy
chúng sanh trong địa phương ấy, toan sát hại
người có trí huệ chân chánh, có phước
đức chân chánh khiến cho mọi người ở
địa phương ấy không c̣n phước, không c̣n
trí nữa.
3) Thứ ba là giết cha, thứ tư
là giết mẹ.
Cha mẹ có ơn dưỡng dục, chẳng
biết báo ân, lại c̣n giết cha mẹ. Đó là tội
nghịch. Tội Ngũ Nghịch chắc chắn
đọa địa ngục A Tỳ.
4) Tội nghịch cuối cùng là phá ḥa
hợp Tăng.
Tội phá hoại đạo tràng chánh
pháp rất nặng, là nhân của địa ngục Vô Gián,
quyết định đọa vào Vô Gián địa
ngục. Kinh Địa Tạng giảng rất rơ. Kinh Phát
Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo cũng giảng
rất rơ, quyết chẳng được làm chuyện
này. Đoàn thể Phật giáo không
đúng pháp ta c̣n không được phá hoại, nếu là
đạo tràng đúng pháp lại càng không thể
được. Đạo tràng không đúng pháp là nhân
quả của họ, không cần đến chúng ta phê b́nh,
chẳng thể tùy tiện nói, v́ sao vậy?
Phật, Tổ răn dạy
chúng ta: “Nếu muốn cho
Phật pháp hưng thịnh th́ Tăng phải khen ngợi
Tăng”. Khen ngợi lẫn
nhau Phật giáo bèn hưng thịnh.
Họ không đúng pháp, Phật dạy chúng ta “mặc
tẫn”, tức là không đếm xỉa tới họ,
cũng chẳng nói với họ. Kẻ ấy có nhân
quả báo ứng của hắn, ta có nhân quả báo ứng
của ta, như vậy là được! Quyết
định chẳng tạo khẩu nghiệp, quyết
định chẳng báng Tam Bảo. Nói “báng Tam Bảo” là v́ tuy kẻ ấy làm chuyện
chẳng đúng pháp, ta báng kẻ ấy, người khác
đối với Phật giáo bèn vơ đũa cả
nắm, tạo sự hiểu lầm rất lớn.
Như vậy là ta có trách nhiệm, có nhân quả. V́ thế,
phải hiểu đạo lư này. Hiểu rơ đạo lư
này sẽ hiểu chính ḿnh phải nên làm ǵ, thế nào là
đúng pháp, làm sao mới là tu hành, thế nào mới là tích
lũy công đức, không thể không biết. Nay đă
đến giờ rồi, chúng tôi giảng đến
đây thôi!
Tập
21
Phần trên chúng tôi giảng đến “Tây Phương Tịnh
Độ, Ngũ Nghịch Thập Ác thập niệm thành
tựu, đới nghiệp văng sanh, cư Hạ Hạ phẩm
giả, giai đắc tam Bất Thoái dă” (Tây
Phương Tịnh Độ, kẻ Ngũ Nghịch, Thập
Ác mười niệm thành tựu, đới nghiệp văng
sanh, thuộc vào Hạ Hạ phẩm, đều
đắc ba thứ Bất Thoái). Câu này thuyết minh văng
sanh thành tựu thù thắng, thuyết minh công đức
lực dụng chẳng thể nghĩ bàn của kinh này, “thử điểm thị viên chứng
thắng dị, tức thử kinh bất tư nghị đích
lực dụng” (điều này hiển thị viên
chứng thù thắng, lạ lùng, đó chính là lực
dụng chẳng thể nghĩ bàn
của kinh này). Chúng tôi đă giảng Ngũ Nghịch
rồi, sách Yếu Giải có giảng về Ngũ
Nghịch và Thập Ác. Thập Ác tương phản
với Thập Thiện Nghiệp. “Thân tam”: Giết, trộm, dâm; đấy là ba
điều ác do thân tạo. “Khẩu
tứ”: Tức là nói về ngôn ngữ có bốn
điều ác lớn:
1) Vọng ngữ: Lừa dối chúng
sanh, nói lời không thành thật, không đúng với sự
thật.
2) Lưỡng thiệt: Khuấy
động thị phi, khiến hai bên ghét nhau. Nhỏ là
giữa hai người, lớn là khích động hiềm
khích giữa hai quốc gia. Hai quốc gia bất ḥa sẽ
phát động chiến tranh. Bởi thế, tội ác
lưỡng thiệt hết sức vô cùng nghiêm trọng.
Tùy theo tai hại lớn hay nhỏ, thời gian gây ảnh
hưởng dài hay ngắn mà quả báo tại A Tỳ
địa ngục [sẽ dài hay ngắn].
3) Ác khẩu: Nói lời thô lỗ khó nghe.
Hữu ư hay vô ư đều làm tổn thương
người ta, khiến cho chúng sanh kết thành oán cừu. Rất
nhiều khi chính kẻ nói không biết ḿnh đă kết
mối oán cừu, không hiểu v́ sao kết thành oán. V́
vậy, nói năng không phải là chuyện dễ. Khổng
lăo phu tử dạy học, xếp ngôn ngữ vào khoa
mục thứ hai, khoa mục thứ nhất là đức
hạnh, khoa mục thứ hai là ngôn ngữ. V́ thế,
cổ nhân nói: “Khẩu vi họa
phước chi môn” (Miệng là cái cửa dẫn
đến phước hay họa); tức là nói đến
ngôn ngữ, lời lẽ hiền lành, dịu dàng mang
đến hạnh phúc cho quư vị; nếu như ác
khẩu, lưỡng thiệt sẽ mang đến hung tai.
Bởi vậy, miệng đúng là cái cửa dẫn
đến phước hay họa.
4) Ỷ ngữ: Hoa ngôn xảo ngữ
dẫn dụ, mê hoặc người khác, đại đa
số là dẫn dụ, mê hoặc con người làm
chuyện chẳng lành. Trong xă hội hiện thời,
chuyện này hết sức phổ biến. Quư vị xem
đó: Đối với cái mà hiện thời gọi là
nghệ thuật th́ nội dung biểu diễn là ǵ? Ca múa
là ǵ? Tuồng tích là ǵ? Âm nhạc là ǵ? Hầu như toàn là
ỷ ngữ, nội dung chẳng ngoài giết, trộm,
dâm, dối. Xă hội ngày ngày dạy đại chúng như
thế th́ xă hội làm sao an định được?
Người Trung Quốc bàn đến
ḥa b́nh, an lạc: Nếu có thể đối đăi ḥa
thuận với hết thảy đại chúng, đối
xử ḥa thuận với thiên nhiên th́ tâm liền b́nh. Tâm có
b́nh th́ ta mới có thể được an, nay chúng ta
gọi là “cảm giác an toàn”. Thân tâm an ổn th́ mới vui,
người tu hành gọi là “có định”. Thân tâm không có
cảm giác an toàn, người thế gian nào có vui chi?
Người tu hành làm sao đắc định được!
V́ sao không thể? Bốn lỗi nơi miệng chính là
cội nguồn. Bởi vậy, nếu chúng ta muốn thực
sự đạt đến ḥa b́nh an lạc th́ nhân tố
bậc nhất của sự an lạc ḥa b́nh là “lời
lành”, khẩu nghiệp phải lành! Nhất định
không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác
khẩu, không ỷ ngữ th́ xă hội mới ḥng an
định. V́ thế, ngàn vạn phần chẳng
được v́ bản thân ḿnh mà nói mấy lời
giả dối gạt gẫm người, cho là đùa
chơi không can hệ ǵ, can hệ lớn lắm
đấy! Gây tai nạn cho cả thế giới
đấy! Nay muốn tiêu trừ ác nghiệp của chính
ḿnh, muốn giúp hết thảy chúng sanh khổ nạn trong
thế gian được tiêu tai miễn nạn th́ phải
bắt đầu từ đâu? Từ “khéo giữ nghiệp miệng” mà khởi
đầu là đúng. Ai nấy đều biết khéo
giữ nghiệp miệng th́ xă hội an định,
thế giới ḥa b́nh, nhân dân hạnh phúc.
Thực hiện từ đâu? Từ ngay
chính bản thân ḿnh, phải làm gương cho đại
chúng xă hội thấy. Xă hội ngày nay dường như tất
cả nghệ thuật diễn xuất tuyệt đại
đa số là nội dung bất thiện; cái ǵ bất
thiện chúng ta không xem, không nghe, không tiếp xúc. Cái ǵ
thiện lương th́ ta đến xem, thưởng
thức. Giống như sinh viên phân ban âm nhạc của
đại học Côn Sĩ Luân (Queensland) vào Chủ Nhật
tổ chức nhạc hội quy mô lớn với hơn
cả trăm người, diễn tấu âm nhạc
cổ điển mời tôi, tôi cũng đến tham
dự. V́ sao? Đó là sự vui thú chánh đáng, chúng ta
phải đề xướng. Nội dung bất
thiện, chúng ta quyết định chẳng đến
dự ḥng tu dưỡng đạo đức của chính
ḿnh.
Hiện tại, những người trẻ
tuổi một chút định lực cũng không có,
thật không hay. Theo cách giáo dục của cổ thánh tiên
hiền Trung Quốc th́ phải tu dưỡng định
lực từ nhỏ. Cái định lực ấy
chẳng phải là ngồi xếp bằng tịnh tọa
trong nhà Phật, mà chính là phải học tập cái tâm
nhẫn nại, học tập tính ổn trọng. Tâm con
người hiện tại thô phù, bộp chộp,
chẳng phải là điều hay. Cái tâm nhẫn nại
để nghe nh́n bài giảng trong một giờ không có.
Hiện tại cái tâm kiên nhẫn lâu nhất không quá nửa
giờ, nhất định phải có những tṛ biểu
diễn phụ thêm th́ quư vị mới có hứng thú.
Nếu chỉ nghe giảng đơn điệu, khô khan vô
vị, quư vị nghe không vô; bởi thế, phải có
động tác, phải có biểu diễn. Điều này
khiến chúng tôi nghĩ đến việc dạy học
pháp xuất thế gian trong đời trước, chứ
không cần nói đến cách dạy học trong nhà
Phật, [học tṛ] hết sức cung kính lắng nghe,
mỗi một buổi học tối thiểu là hai
tiếng đồng hồ.
Trước kia, trường tư dạy
học, mỗi buổi học phải từ hai
đến ba tiếng đồng hồ, giữa chừng
không có giờ nghỉ. Sáng sớm liền vào học,
đến lúc tan học gần đến giờ ăn
trưa, khoảng chừng ba tiếng đồng hồ,
thầy tṛ ở cùng một chỗ. Đó là sao? Vun
đắp cái tâm nhẫn nại, vun quén định
lực. Nay chúng ta giảng kinh trong giảng
đường cũng là lên lớp, mỗi buổi
học là hai tiếng đồng hồ, giữa chừng
phải nghỉ mười phút để mọi
người giăn gân giăn cốt. Dạy học suốt một
tiếng đồng hồ như thế, có rất
nhiều người bảo tôi: “Người trẻ
tuổi không kham nổi buổi học kéo dài một
giờ như vậy, nghe giảng suốt một tiếng
đồng hồ không chịu nổi!” Không sai! Đúng là
nghe không nổi. V́ sao vậy? V́ nghe không hiểu. Giống
như ăn món ǵ đó chẳng thưởng thức
được mùi vị. Nếu nghe mà hiểu
được, nếm được mùi vị, sẽ
không bỏ được. Đừng nói là mỗi
buổi học một giờ, dù giảng đến
bốn giờ, người ấy cũng chẳng buông lung
một phút nào. V́ sao? Nghe rất thú vị. Trong Phật pháp
gọi là “pháp vị”, Nho gia
gọi là “bất diệc duyệt
hồ?” (cũng chẳng vui sao?); nhà Phật gọi là “pháp hỷ sung măn”, nghe
giảng thực sự nhập cảnh giới.
Lúc tôi c̣n bé đang học tiểu
học, trong xă hội vẫn c̣n có lệ kể sách.
Những đứa trẻ chúng tôi thường đến
nghe, càng nghe càng thú vị, quên mất thời gian. Có lúc quên
cả giờ cơm, càng nghe càng thấm thía. Nay nghệ
thuật này c̣n tồn tại rất ít, may ra ở Trung
Quốc Đại Lục hăy c̣n, chứ ở Đài Loan
không c̣n nữa. Tại ngoại quốc đương
nhiên càng t́m không ra. Đó là một loại nghệ thuật
giáo dục xă hội, nội dung quá nửa là những
chuyện lịch sử. Chúng tôi thích nghe kể nhất là
Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tận Trung Thuyết Nhạc
tức là truyện kể về Nhạc Phi, vị anh hùng
dân tộc trong lịch sử. Nội dung là trung hiếu
tiết nghĩa. Bởi vậy, trong quá khứ có rất
nhiều người dân chẳng được giáo
dục, nhưng họ thông hiểu đạo lư làm
người, học từ đâu ra? Học từ nghệ
thuật diễn xuất ấy. Đó là giáo dục
đấy! Giáo dục ẩn trong tṛ vui, gần như trong
mấy ngàn năm ở Trung Quốc cách giáo dục ấy
rất có hiệu quả; nói đúng ra, [nghệ thuật kể
sách ấy] rất đáng đề xướng. Như
thế th́ ngôn ngữ quan trọng hơn bất cứ thứ
ǵ khác, phải học nhé! Nếu khẩu nghiệp nặng
th́ mức độ nhẹ là ngục Bạt Thiệt (kéo
lưỡi), mức độ nặng là A Tỳ
địa ngục, chẳng tầm thường đâu!
“Ư tam ác”: Tham, sân, si. Keo kiệt, tham lam, nóng giận, ngu
si. Đó là Thập Ác. Thập Ác là “cực trọng chi tội, vi đọa địa
ngục tam đồ chi nhân” (tội
hết sức nặng, là cái nhân của tam đồ
địa ngục). V́ vậy, nay chúng ta phải chú tâm quan
sát, con người rất ít ai tự biết rơ ḿnh;
thấy lỗi người khác, chứ không thấy
lỗi ḿnh, đó là ngu si. Chẳng thấy lỗi ḿnh, làm
sao tự đổi lỗi sửa mới cho
được? Tu hành chẳng có ǵ khác, tu hành là sửa
lỗi, Tu là sửa đổi, Hành là hành vi lầm lỗi.
Sửa đổi cho đúng những hành vi lầm lạc
th́ gọi là Tu Hành. Thân chúng ta tạo Thập Ác, đấy
chính là hành vi bất thiện, quư vị sửa đổi
những lỗi đó, thân không giết, không sát sanh.
Chẳng những không sát sanh, mà c̣n phải yêu thương,
che chở hết thảy chúng sanh, càng tích cực yêu
thương, che chở chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh.
Đó là thiện nghiệp, thiện hạnh.
Không trộm cắp: Giới kinh nhà
Phật giảng cái tội trộm cắp hết sức
vi tế, rất thấu triệt. “Đạo” (盜: trộm cắp) là không cho mà lấy. Phàm
là vật có chủ, tài vật có chủ, không
được chủ nhân đồng ư ta cứ tự
động xài, hoặc dời động đều không
được. Quư vị dời, cất, chủ nhân t́m
không ra. V́ thế phải luôn tính chuyện thuận tiện
cho người khác. Phật pháp dạy không trộm cắp
được đại phú, không giết được
trường thọ, mạnh khỏe sống lâu. Không
giết, không dâm sẽ đạt được
tướng hảo, quang minh, dung mạo đoan chánh, nay
chúng ta gọi là “tươi tắn, rạng rỡ, dung
mạo tươi sáng, rạng ngời!” Chúng sanh trông
thấy quư vị bèn tôn trọng, kính yêu, quả báo hết
sức thù thắng.
Quả báo của không vọng ngữ là
thành tín, lời nói của quư vị được người
khác tin tưởng. Nói năng được đại
chúng tín nhiệm, giáo hóa được thành tựu, có thành
tích khả quan. Nếu không, quư vị chẳng có đức
hạnh, dẫu có ḷng tốt, dẫu có ư tốt dạy
người đến mấy, người ta chẳng tin
tưởng, gây nên rất nhiều vấn đề, khó
khăn lắm! Thiện tâm, thiện ư giúp đỡ
người khác, người khác chẳng bằng ḷng tiếp
nhận. Nguyên nhân là ǵ? Do nghiệp nhân vọng ngữ.
Lưỡng thiệt càng đáng sợ
hơn, khiến người ta chẳng dám tiếp xúc quư
vị. V́ sao? Sợ bị làm hại. Quư vị có cái
tập khí ấy th́ có lúc hữu ư tổn thương
người, có lúc vô ư, vô ư cũng hại người.
Lưỡng thiệt rất đáng sợ. Hiền thánh,
thiện tri thức dạy chúng ta phải “kính nhi viễn chi” những con người như
vậy để khỏi bị hại. Gặp phải
người tổn hại ḿnh, con người có hai
thứ phản ứng khác nhau:
1) Nếu không giác ngộ kha khá, chắc
chắn sẽ ôm ḷng hận thù, đợi
thời
cơ trả đũa. Trong lịch sử Trung Quốc,
những chuyện như vậy rất nhiều. Lịch
sử là tấm gương: Oan oan tương báo khổ
không thể kể nổi!
2) Người giác ngộ th́ phản
ứng tốt hơn. Người thực sự giác
ngộ có phản ứng như sau: Họ nghe ḿnh nói,
nếu quả thật có lỗi, họ bèn sửa
đổi. Nếu không th́ càng cố gắng. Người
ấy chẳng oán hận quư vị mà c̣n cảm kích. V́ sao?
Quư vị nói ra khiến họ tích cực phản tỉnh,
quả nhiên ḿnh có những sai lầm đó, tự ḿnh không
thấy được, nay nhờ quư vị nói ra, tự
ḿnh sửa đổi cho tốt hơn. Nếu quư vị
nói lời giả dối, không chân thật, tức là
vọng ngữ th́ người giác ngộ nghe xong cũng
chẳng trách móc quư vị, mà càng gắng sức chẳng
phạm vào lỗi đó. Đó là phản ứng của
người giác ngộ, của bậc thiện nhân!
Thế nhưng quư vị phải
biết: Trong xă hội này, người giác ngộ th́ ít,
thiện nhân ít, người mê nhiều, người không
giác ngộ nhiều, chuyện này phiền phức lắm!
Nói những lời vọng ngữ, lưỡng thiệt,
ác khẩu với người mê, người không giác
ngộ sẽ tạo thành oan gia đối đầu,
rất phiền toái, phải chịu quả báo trong đời
mai sau.
Như vậy, chúng ta tu hành là chuyển
mười ác nghiệp thành mười thiện nghiệp,
đối với người khác tuyệt chẳng
vọng ngữ, mà nói lời thành thật, tâm và miệng
như một, nói ǵ quyết phải làm đó. Chẳng
được nghĩ con người trong xă hội
hiện tại đều là lừa dối, có ai nói
thật với người khác đâu? Lập luận
như vậy, thoạt nghe tưởng là đúng, nhưng
thật ra là sai. Người khác đều nói lời không
thật, nhưng nếu quư vị hiểu rơ nhân quả ba
đời, quư vị biết kẻ đó tạo những
nghiệp ǵ, tương lai đi vào con đường nào?
Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh! Nếu quư
vị cũng bắt chước họ, giống như
họ, trong tương lai quư vị nhất định
phải đi vào ba ác đạo, lầm lạc mất
rồi!
Dẫu mọi người đều
vọng ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt, ỷ
ngữ hết cả, ta vẫn nhất định không làm
theo. V́ sao? Ta chẳng mong mỏi đi vào ba ác đạo. Ta
hy vọng trong tương lai vẫn được
thiện quả mang thân trời người th́ ta chẳng được
vọng ngữ, chẳng được lưỡng
thiệt; ác khẩu, ỷ ngữ đều không
được. Nếu quư vị muốn cầu sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ lại
càng không được [làm những điều đó]. V́
sao? Tây Phương Cực Lạc thế giới “giai thị chư thượng
thiện nhân câu hội nhất xứ” (đều là
thượng thiện nhân cùng nhóm lại một chỗ). Đức
Phật dạy chúng ta như vậy, muốn văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới phải tu
Thập Thiện Nghiệp thượng phẩm. Trung
phẩm Thập Thiện là nhân đạo. Thượng phẩm
Thập Thiện là thiên đạo. Nói cách khác, chúng ta
muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới th́ tiêu chuẩn thấp nhất là thiên đạo.
Như vậy, há có thể giết, trộm, dâm
được ư? Há có thể vọng ngữ,
lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ ư?
Chẳng thể được! Quyết định
chẳng thể được! Trong ư niệm chẳng
thể có tham, sân, si, phải buông xuống, nhất
định phải biết hết thảy tất cả
thế gian, xuất thế gian đều là mộng,
huyễn, bọt, bóng. Người khác muốn th́ ta cứ
nhịn, cứ nhường. Nhường nhịn (nhẫn
nhượng) là lúc mới vừa học, học
đến giai đoạn thành thục sẽ nhường,
vui vẻ nhường, không c̣n phải nhẫn nữa. Lúc
mới học phải nhẫn, dần dần không c̣n
nhẫn nữa. Nhẫn là có lúc thấy rất khó chịu,
nhưng nhường lâu ngày sẽ vui vẻ làm!
Đức Phật dạy chúng ta trong mỗi
niệm đều phải có tâm bố thí, cúng dường.
Điều đó rất hay, bố thí cúng dường
được đại phước báo. Người khác
lừa ḿnh, ḿnh hoan hỷ. V́ sao? Kẻ đó gạt ḿnh
lấy của, là ḿnh Tài Cúng Dường cho hắn. Không có
chút áo năo chi hết! Hắn xâm chiếm ḿnh, ḿnh cũng rất
vui vẻ, ḿnh bố thí cúng dường cho hắn, hành
đạo Bồ Tát mà! Nhất định phải nhớ
kỹ: Đừng nói Phật pháp, ngay trong thế gian pháp, nếu
trong mạng quư vị nhất định có th́ dẫu có
bỏ cũng bỏ chẳng được. Trong mạng
không có, có muốn ôm giữ cũng không được!
Bởi vậy, đối với
của cải, người có trí huệ biết cách tán tài,
trong Phật pháp gọi [tán tài] là “quảng tu cúng dường” (rộng tu cúng
dường). Dùng cái tâm chân thành, cung kính để cúng
dường, không một mảy keo tiếc, dứt keo tham!
Chúng ta học được điều ǵ, nhất
định phải thực hiện điều đó trong
cuộc sống thường nhật th́ mới thực
sự được thọ dụng, thường sanh ḷng
hoan hỷ. Tâm b́nh khí ḥa, tâm an lư đắc, môn học
vấn ấy thực sự hữu dụng, mang lại
hạnh phúc chân thật viên măn cho cả một đời
ta. Nếu không học Phật, trong xă hội hiện
tại người bất thiện nhiều, chúng ta giao
tiếp với họ bị thiệt tḥi, ngày ngày uất
ức. Hằng ngày bực bội th́ điều tổn
thất đầu tiên là thân thể bị tổn hoại
đến nỗi thành bệnh.
Chúng tôi thấy thổ dân Úc châu, theo
như tường thuật của một nữ bác sĩ
người Mỹ, bà ta sống cùng với họ trong
một thời gian, [nhận thấy] những lời
họ nói rất có lư. Bà ta thấy cách họ trị
bệnh, trong quan niệm của thổ dân, mỗi tế
bào trên thân người đều có sanh mạng. Đúng
đấy! Mỗi một người đều có
rất nhiều sanh mạng chúng sanh cùng sống trên một
thân thể. Trong số thổ dân có một người
đi đường vô ư, té xuống vách núi, té từ vách
núi cao hơn hai mươi mét xuống, chân dập nát, găy
xương. Chẳng dễ ǵ cứu anh ta lên
được. Cứu lên xong, họ bèn đặt anh ta
nằm ngửa, xương găy hết sức nghiêm
trọng, đầu xương găy đă ḷi ra. Toàn thân
đẫm máu. Thầy lang của thổ dân đặt anh
chàng nằm thẳng ra xong, bèn chữa trị. Cách chữa
trị như thế nào?
Giống như xoa bóp vậy, nhưng xoa
bóp từ từ, tay không chạm đến thân
người bệnh, cái chân bị thương vẫn c̣n cách
tay thầy thuốc rất xa. Xoa bóp nhưng không
đụng đến thân người bệnh. Vừa xoa
bóp, vừa tṛ chuyện, lúc nói, âm thanh ngữ điệu
hết sức dễ nghe, giống như đang ca hát. Bà
bác sĩ hỏi ông ta làm như vậy nghĩa là sao?
Thầy lang bảo ông ta đang tṛ chuyện với
đầu xương bị tổn thương, tṛ
chuyện với những tế bào ở bộ phận
bị thương, hy vọng chúng nó sẽ hợp tác, khôi
phục b́nh thường. Thần kỳ sao! Thực sự
hữu hiệu! Ông ta làm như vậy độ ba bốn
tiếng đồng hồ sau, đầu xương thực
sự co lại, tự động lành lại.
Sau đó, thầy lang mới lấy cao
trét lên vết thương. Dùng phương pháp của xứ
đó: Lá cây và c̣n có thứ chi đó, chế thành cao dường
như rất đậm đặc, bôi trét lên vết
thương. Họ không có bông băng, cũng chẳng có
kim khâu, cũng chẳng có thuốc sát trùng, cái ǵ cũng
không có! Mọi người an ủi anh chàng bị
thương, đến hôm sau anh ta hoàn toàn khỏe hẳn,
có thể đi được! Bà bác sĩ thấy vậy
sững sờ, đúng là một kỳ tích! Hỏi ông lang
nguyên do? Ông ta bảo: “Mỗi một tế bào và
xương, lúc té bị thọ thương, chúng bị
chấn động, kinh hoàng; nay dùng cách ca hát để
vỗ về chúng, khôi phục sự ổn định, b́nh
tịnh của chúng th́ chúng sẽ trở thành b́nh
thường”, đúng là thẳng thừng, đơn giản
chẳng thể nghĩ bàn!
Bởi thế, bà bác sĩ rất
cảm khái. Y học Tây Phương hoàn toàn tương
phản với cách trị liệu tự nhiên này. Thổ
dân dùng phương pháp tự nhiên, tự nhiên khôi phục. Xương
găy nghiêm trọng như vậy mà đến hôm sau bèn b́nh
phục. Điều này cho thấy vũ trụ sống động
hoạt bát; cách nói ấy hoàn toàn giống với kinh
Lăng Nghiêm: “Nhất thiết
nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Hết
thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành
Thể). Tâm là kiến văn giác tri. Bởi vậy, mỗi
tế bào đều có thể thấy, nghe, hay, biết.
Dùng lời lẽ tốt đẹp an ủi nó, vui vẻ
giúp đỡ nó, nó cũng hợp tác với quư vị, nên
tự nhiên khôi phục! V́ thế ngữ điệu
của thầy lang rất thư thả, nhu ḥa giống
như đang ca hát.
Chúng tôi nghe sự kiện này, chúng tôi tin
tưởng. V́ sao? Trong kinh đức Phật
thường giảng. Chúng ta đọc thấy rất
nhiều, nhưng chưa từng thấy, chưa từng
thí nghiệm. Giống như thổ dân Úc châu nói, cách
trị bệnh của họ là thí nghiệm, đúng là
giống như kinh Phật dạy. Những thí nghiệm
nghiên cứu của tiến sĩ Giang Bổn Thắng
tại Nhật Bản cũng giống như kinh Phật
nói. Ngày hôm qua chúng tôi liên lạc, mồng Hai tháng Tám ông ta
sẽ đến Bố Lư Tư Bản (Brisbane).
Trước đó, có thể vào cuối tháng Bảy ông ta
đến Mặc Nhĩ Bổn (
Đó là thiện ư, thiện tâm,
thiện hạnh, chắc chắn có chỗ hay. Cổ thánh
tiên hiền Trung Quốc dạy chúng ta: “Ngật khuy thị phước” (Chịu
thiệt tḥi là phước), quư vị chẳng chịu
thiệt th́ một chút phước báo cũng không có. Chịu
thua thiệt lớn, sẽ có phước báo lớn.
Chịu thiệt tḥi nhỏ, có phước báo nhỏ. Con
người hiện tại chẳng tin điều này,
người hiện tại cho là mê tín, quan niệm ấy
sai lạc sao! Nhất định phải làm ǵ? Phải
cạnh tranh, phải tranh đấu, tranh đấu
đến cuối cùng là hai bên cùng thua thiệt,
thương tổn, họa hại thay! Quư vị chẳng
biết con đường cầu phước, chỉ
biết đến cái thân này, chẳng biết có
đời sau.
Trong thế gian này, ngay
đến cái thân chúng ta cũng chẳng được coi
rất quan trọng. V́ sao? Chúng ta muốn chết đi bèn
được thăng lên, càng thăng lên càng tốt. Chúng
ta có được về thế giới Cực Lạc
hay không hoàn toàn do quyết tâm, do ư chí, do tâm hạnh, đó là
ba điều kiện. Quư vị có quyết tâm, có chí
nguyện, có hành vi, nhà Phật gọi là Tín - Nguyện -
Hạnh, hạnh ấy là thiện hạnh. Kinh Di Đà
Tiểu Bổn chú trọng chấp tŕ danh hiệu; chấp
tŕ danh hiệu th́ phải hiểu ư nghĩa
của danh hiệu. Trong Hệ Niệm Pháp Sự, thiền
sư Trung Phong khai thị rất rơ ràng: Tín là quyết
định chẳng hoài nghi, Nguyện phải tương
ứng với bốn mươi tám nguyện của A Di
Đà Phật. Trong Pháp Sự, Ngài giảng Hạnh rất
rơ ràng, rất minh bạch là chấp tŕ danh hiệu, nhất
tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo. Lăo nhân
gia lại nêu cả lời của Đại Thế Chí Bồ
Tát đă dạy trong kinh Lăng Nghiêm: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế, bất giả phương tiện, tự đắc
tâm khai” (Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối, chẳng nhọc phương tiện, tâm
được tự khai). Đó là chân hạnh!
Bởi vậy, cơ sở của tu
hành là Thập Thiện Nghiệp Đạo, không có Thập
Thiện Nghiệp Đạo th́ cũng như quư vị tu
hành không có cội rễ! Trong thế gian này, ngay cả thổ
dân Úc châu cũng hiểu rơ điều đó; chúng ta
đến thế gian này giống như lữ du,
đến ngắm cảnh, thời gian rất ngắn
ngủi, tạm bợ, sẽ phải ĺa khỏi nơi
đây rất mau. Quyết định chẳng
được mảy may lưu luyến hết thảy
mọi thứ trong thế gian này. Hễ có chút lưu
luyến, quư vị sẽ chẳng thể ĺa thoát nơi
đây; phải hiểu đạo lư ấy. Ở nơi
này, chúng ta dựng được một đạo tràng,
xây cất rất tráng lệ, vàng ngọc choáng lộn,
cũng chớ nên lưu luyến. V́ sao? Nếu lưu
luyến, mai sau chết đi, quư vị chẳng thể ĺa
khỏi chỗ này. Quư vị lưu luyến nó, chẳng
thể bỏ được nó. Trong đạo tràng này
chẳng có nam nữ giao phối th́ làm thế nào bây
giờ? Trong đạo tràng có chuột, có gián, có ruồi
nhặng, có kiến. Úi chà! Quư vị bèn đầu thai vào
những loài động vật đó, cho rằng nơi này
là nhà ḿnh, như vậy là ngu si đấy nhé!
Nếu quư vị có thể ĺa bỏ cái
đạo tràng này, đến ở trong thiên
đường, nơi ấy thù thắng hơn chỗ này
nhiều lắm! Thiên đường cũng chẳng
được lưu luyến, quư vị vẫn phải
vượt lên chỗ thù thắng hơn nữa. Hễ
lưu luyến là xong, chẳng được có chút
mảy may tham luyến nào! Đối với hết
thảy người, hết thảy sự, hết
thảy vật, quyết định chẳng
được có chút mảy may lưu luyến ǵ. Lời
Phật thường giảng ta phải ghi nhớ: “Phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có h́nh
tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn,
bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như
mộng, huyễn, bọt, bóng). Có năng lực, có phước
báo, toàn tâm toàn lực giúp đỡ những chúng sanh
cần thiết, nhất định phải bỏ ḿnh v́
người, hy sinh dâng hiến. Người thế gian hay
nói “hy sinh dâng hiến” dường như có ư gắng
chịu thống khổ trong ấy, người giác
ngộ không giống vậy, họ vui thích cúng dường.
V́ sao? Đây là cơ hội tu phước, cơ hội tu
huệ, phước huệ song tu. Đạt đến
địa vị Như Lai th́ phước huệ mới thực
sự viên măn rốt ráo, không miễn cưỡng tu mà là
hoan hỷ tu.
Tiểu đoạn thứ tư kế
tiếp đó là: “Thập Lục
Quán Kinh, Hạ Phẩm Văng Sanh Chương vân” (Thập
Lục Quán Kinh, chương Hạ Phẩm Văng Sanh nói), phép
Quán cuối cùng trong Thập Lục Quán Kinh là: “Ngũ Nghịch Thập Ác, như
thử ngu nhân, lâm chung ngộ thiện tri thức khuyến
linh niệm Phật, như thị chí tâm, linh thanh bất
tuyệt, cụ túc thập niệm, tức đắc văng
sanh Cực Lạc thế giới” (Ngũ Nghịch,
Thập Ác, kẻ ngu như thế, lâm chung gặp thiện
tri thức khuyên niệm Phật, liền chí tâm [niệm
Phật] như thế khiến cho tiếng niệm không
dứt. Đầy đủ mười niệm liền
được văng sanh thế giới Cực Lạc). “Tuy cư Hạ Hạ Phẩm,
giai dữ Bổ Xứ Bồ Tát câu, tức đắc viên
chứng tam Bất Thoái, nhất sanh thành Phật” (Tuy thuộc
Hạ Hạ Phẩm, nhưng đều cùng ở chung
với Bổ Xứ Bồ Tát, liền chứng trọn vẹn
ba thứ Bất Thoái, thành Phật trong một đời).
Câu cuối cùng này hết sức trọng yếu, là câu khai
thị tinh yếu, đẹp đẽ nhất của
Ngẫu Ích đại sư trong phần này. Trong phần
trước, tôi đă tŕnh bày cùng quư vị điều này:
Một đời tạo Ngũ Nghịch, Thập Ác, lúc
lâm chung, gặp được thiện tri thức khuyên
dạy niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
kẻ ấy vừa nghe bèn hoan hỷ, liền tiếp
nhận, liền sám hối nghiệp chướng, bèn thực
sự được văng sanh. Ở trên, tôi đă thưa
cùng quư vị rồi: Kẻ ấy chẳng tầm
thường, trong đời quá khứ đă tu học Tịnh Tông, tu hết sức
giỏi, có thiện căn hết sức sâu dầy. Đáng
tiếc là trong một đời này bị mê, không gặp
được thiện tri thức, mê suốt cả
đời; nhưng chủng tử thiện căn
đời trước trong A Lại Da Thức của
kẻ đó hết sức mạnh. Bởi thế, trong lúc
lâm chung, gặp được
thiện duyên khích động thiện căn ấy, thiện căn phát
hiện,
lập tức khởi tác dụng.
Nếu trong đời quá khứ không có
thiện căn và phước đức ấy sẽ không
xong! Người không có thiện căn, phước
đức, nhân duyên, quư vị sẽ thường thấy
bị hôn mê trong lúc lâm chung. Người bị hôn mê là xong rồi!
Dẫu đời này tu giỏi đến đâu đi nữa,
lúc lâm chung mà bị mê là hỏng, đầu óc không sáng
suốt, lúc ấy sẽ lưu chuyển theo nghiệp. Chúng
ta trợ niệm cho họ chỉ có thể nói là trợ
niệm tốt hơn không trợ niệm mà thôi, đó là
điều chắc chắn. Có thể trợ niệm cho
người ấy văng sanh được hay không? Không
dễ dàng ǵ, đúng là trợ niệm có thể giúp cho
người ấy được văng sanh, người
ấy sẽ thực sự được văng sanh nếu
thiện căn và phước đức của
người ấy hiện tiền. Nhờ vào sự
trợ niệm để dẫn phát thiện căn và phước
đức của người ấy, khiến
người ấy phát nguyện văng sanh niệm Phật
cùng mọi người, bèn thành công. Nếu bản thân người
ấy không có ư niệm ǵ th́ người khác trợ
niệm sẽ giúp người chết đó giảm
nhẹ tội nghiệp, giảm nhẹ sự đau
khổ, nhưng chẳng thể văng sanh. Văng sanh nhất
định phải do tự ḿnh phát nguyện, người
khác không có cách nào gia tŕ cho quư vị được. Nếu
người khác có biện pháp gia tŕ cho ḿnh, th́ chúng ta khỏi
cần phải niệm Phật nữa, A Di Đà Phật
đại từ đại bi đă sớm tiếp
độ chúng ta đi rồi.
Trong kinh giáo thường nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”
(Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt). Quư
vị phải hiểu đạo lư này. “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết
thảy pháp sanh từ tâm tưởng), chẳng phải là
tâm tưởng người khác, mà là tâm tưởng
của chính ta. Trong tâm ḿnh không có ư niệm ấy, không có
cách nghĩ ấy th́ một tí ti phương cách ǵ cũng
không có. Chúng ta phải hiểu rơ chân tướng sự
thật này, phải thấu hiểu. Ngàn vạn phần
chẳng được bỏ lỡ đời này,
phải thực sự buông xuống, phải thực
sự tu thiện, đoạn ác, hy vọng ngay trong
đời này chẳng c̣n bỏ lỡ cơ hội
nữa. Nhất định phải nắm lấy cơ
hội này. Cái ǵ cũng có thể buông xuống
được cả, ngay cả thân thể cũng không
lưu luyến, huống chi vật ngoài thân? Quư vị buông
xuống được th́ đâu c̣n chướng ngại
ǵ gây chướng ngại văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới! A! Bây giờ đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta lại tiếp tục
đoạn thứ tư “chương
Hạ Phẩm Văng Sanh trong Thập Lục Quán Kinh”, chúng
ta phải chú tâm học tập đoạn này, ngàn vạn
phần chớ có hiểu lầm, chẳng được
ôm ḷng cầu may. Tâm cầu may sẽ làm lỡ việc,
bỏ uổng cơ duyên đại sự văng sanh trong
một đời này. Tổn thất ấy không có cách chi
tính toán được. Câu sau cùng là: “Tuy cư Hạ Hạ Phẩm, giai dữ Bổ Xứ
Bồ Tát câu, tức đắc viên chứng tam Bất
Thoái, nhất sanh thành Phật” (Tuy thuộc Hạ Hạ
Phẩm, đều cùng nhóm họp với Bổ Xứ
Bồ Tát, liền viên chứng ba thứ Bất Thoái, thành
Phật trong một đời). Câu này rất trọng
yếu! Quư vị thấy đó: Ngũ Nghịch, Thập
Ác cả một đời này hết sức đáng
tiếc nuối, chẳng gặp được thầy
tốt, chẳng gặp được bạn lành, tuy
tự ḿnh có túc căn sâu dầy trong đời quá khứ
nhưng không có duyên ǵ phát khởi. Đấy chính là như
kinh Phật thường nói: “Nhân
thân nan đắc, Phật pháp nan văn” (Thân
người khó được, Phật pháp khó nghe), chính là nói
tới đạo lư này. Quư vị không có cơ hội
tiếp xúc Phật pháp, tới lúc lâm chung mới
được gặp.
Giống như xưa kia, tôi đă
tường thuật cùng quư vị, ông Châu Quảng
Đại ở
- Lúc tôi niệm Phật đau khổ
giảm bớt, không đau đớn nữa (bệnh ung
thư rất đau đớn), lúc tôi niệm Phật
cảm thấy không đau.
Bởi thế, cả nhà cùng niệm
Phật, niệm suốt ba ngày, Phật đến tiếp
dẫn, ông ta bèn ra đi. Cư sĩ Cung Chấn Hoa đem
sự việc này kể tường tận với tôi.
Hiếm có ở chỗ nào? Văng sanh
Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư
độ, cũng vẫn ở cùng một chỗ với
Bổ Xứ Bồ Tát và các thượng thiện nhân trong thế
giới Cực Lạc. Bổ Xứ Bồ Tát là những
vị nào? Là những vị Bồ Tát ngang hàng với Quán
Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn
Thù, Phổ Hiền, Di Lặc Bồ Tát… Hằng ngày ở
cùng một chỗ với các Ngài, quư vị nghĩ xem ḿnh có
bị thoái chuyển hay chăng? Chẳng thể thoái
chuyển được! Thầy dạy là A Di Đà
Phật và mười phương chư Phật Như
Lai, bất luận quư vị muốn học kinh giáo nào,
đều có chư Phật Như Lai đến giảng
giải, truyền dạy cho. Các đại Bồ Tát,
Bổ Xứ Bồ Tát là đồng học của ḿnh,
cùng học với ḿnh. Quư vị t́m đâu ra hoàn cảnh tu
học như vậy? Chúng ta hăy suy nghĩ cặn kẽ
xem! Nếu quư vị thực sự hiểu rơ chân
tướng sự thật ấy th́ thế gian này há c̣n ǵ
đáng để lưu luyến hay chăng? Đừng
nói là nhân gian, ngay cả [địa vị] Đại
Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương
cũng chẳng thể giữ quư vị lại
được. Quư vị quyết định không có mảy
may lưu luyến, muốn đến thế giới
Cực Lạc càng nhanh càng tốt, càng sớm càng hay. C̣n có
ǵ không buông xuống được ư? C̣n một
chuyện ǵ chưa buông xuống được sẽ
chưa thể đi được! Thứ ǵ cũng buông
xuống hết, không có ǵ không buông xuống
được!
Đoạn tiếp đó cũng là
lời khai thị rất sáng tỏ của Ngẫu Ích đại
sư, chúng ta hăy đọc một lượt: “Nhiên cứ giáo đạo”
(nhưng dựa trên kinh giáo), “cứ”
(據) là căn
cứ: Căn cứ trên lời dạy của đức
Thế Tôn, “nhược thị
phàm phu, tắc phi Sơ Quả đẳng” (nếu là
phàm phu th́ chẳng phải là hàng Sơ Quả): Quư vị là
phàm phu, chưa phải là thánh nhân. Quư vị là phàm phu th́
đương nhiên quyết định chẳng phải
là Sơ Quả, chưa chứng được địa
vị ấy. “Nhược thị
Nhị Thừa, tắc phi Bồ Tát” (Nếu là Nhị
Thừa th́ không phải là Bồ Tát): Quư vị chẳng
phải là Bồ Tát. “Nhược
thị Dị Sanh, tắc phi Đồng Sanh Tánh đẳng”
(Nếu là Dị Sanh th́ chưa phải là hạng Đồng
Sanh Tánh). Thế nào là “Dị Sanh”?
Chính là Quyền Giáo Bồ Tát. Quyền Giáo Bồ Tát là ǵ? Là
những Bồ Tát chưa kiến tánh, đó là Dị Sanh!
Dị Sanh khác với Phật, khác như thế nào? Vẫn
c̣n dùng tâm ư thức nên không giống Phật. Phật
chẳng dùng tâm ư thức, Phật đă chuyển Thức
thành Trí. Bởi vậy, Quyền Giáo Bồ Tát vẫn dùng
tám thức, chưa rời khỏi tám thức, tám thức
vẫn đang làm chủ nhân. Chư Phật Như Lai và
Pháp Thân Bồ Tát chuyển tám thức thành bốn trí,
bốn trí làm chủ chứ không phải tám thức.
Như Lai là bốn trí, Pháp Thân Bồ Tát
là bốn trí, bởi thế gọi là “Đồng Sanh Tánh”. Thiền Tông Trung Quốc thường
gọi Đồng Sanh Tánh là “minh
tâm kiến tánh”. Như Lai minh tâm kiến tánh, những
vị Bồ Tát ấy cũng là minh tâm kiến tánh, các ngài
là Đồng Sanh; những vị chưa kiến tánh th́ là
Dị Sanh. Chúng sanh trong chín pháp giới đều là Dị
Sanh Tánh. Từ chín pháp giới cho đến hàng Bồ Tát –
Quyền Giáo Bồ Tát – thuộc về tứ thánh pháp
giới. Ngoài lục đạo là tứ thánh pháp giới: A
La Hán, Bích Chi Phật, Thanh Văn, Bồ Tát, Phật; ngay
cả Phật trong mười pháp giới đều
thuộc về Dị Sanh Tánh, chẳng phải Đồng
Sanh Tánh. Đồng Sanh Tánh thoát ngoài mười pháp
giới, người Đồng Sanh Tánh trụ trong
Nhất Chân pháp giới, cùng ở chung một chỗ
với chư Phật Như Lai. Pháp giới mà các vị
ấy trụ được gọi là Nhất Chân pháp
giới; Dị Sanh Tánh trụ trong mười pháp giới.
Tiếp đó, sách Yếu Giải
viết: “Lạp đẳng
tắc đại vọng” (tạm dịch: [Nếu nói]
vượt quá địa vị [tức là nói người
văng sanh Hạ Hạ Phẩm có địa vị ngang bằng
với các vị Pháp Thân Bồ Tát] th́ là đại vọng
ngữ): Phàm phu chợt đột ngột biến thành Pháp
Thân Bồ Tát, đó là đại vọng ngữ, không
thể nói như vậy được! Quư vị thấy
Cực Lạc thế giới thuyết minh: Hạ Hạ
Phẩm ở cùng một chỗ với Bổ Xứ
Bồ Tát, há chẳng phải là lạm phần bằng vai phải lứa với nhau ư? Chuyện
này rốt cuộc là như thế nào? V́ chỗ này mới nói
pháp môn Tịnh Tông rất khó tin! Dùng phương pháp
suy luận của Giáo Hạ th́ chuyện này không thể nào
xảy ra được! Phàm phu làm sao ở cùng một
chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát, Đẳng Giác
Bồ Tát được, đâu có đạo lư ấy!
Lại xét ba thứ Bất Thoái: Niệm
Bất Thoái là Đồng Sanh Tánh, chẳng phải Dị
Sanh Tánh. Niệm Bất Thoái là Pháp Thân Bồ Tát, thuộc
Nhất Chân pháp giới, trong mười pháp giới không có.
“Hạnh Bất Thoái phi cẩn
kiến đạo” (Hạnh Bất Thoái chẳng
phải chỉ thấy đạo): Hạnh Bất Thoái
thuộc địa vị Kiến Đạo, ở
phần trên chúng ta đă đọc qua. Bậc Bồ Tát thuộc
địa vị Thập Tín trong Đại Thừa Viên
Giáo chứng đắc hai thứ Bất Thoái: Vị
Bất Thoái và Hạnh Bất Thoái; nhưng Tiểu Thừa
Sơ Quả chỉ chứng được Vị Bất
Thoái, hạnh vẫn thoái chuyển. Bởi thế, Hạnh
Bất Thoái không chỉ là địa vị Kiến
Đạo mà c̣n thuộc vào hàng Bồ Tát của
Đại Thừa Viên Giáo, chẳng phải là một
vị Bồ Tát tầm thường. “Vị Bất Thoái, phi thị phàm phu” (Vị
Bất Thoái chẳng phải là phàm phu): Mức độ
thấp nhất của Vị Bất Thoái phải là
Tiểu Thừa Sơ Quả, đă chứng
được địa vị thánh nhân, chẳng bị
thoái chuyển thành phàm phu trở lại!
“Tấn
bộ tắc xả cố xưng” (vượt lên [địa vị
mới] bèn bỏ tên gọi cũ): Địa vị
được nâng lên, cái tên gọi cũ không c̣n nữa.
Giống như nói quư vị đă chứng Tu Đà Hoàn,
trước khi chứng Tu Đà Hoàn gọi là phàm phu.
Chứng Tu Đà Hoàn rồi, không gọi là phàm phu nữa,
mà gọi Tu Đà Hoàn! Nếu lại thăng lên cấp
nữa, chứng đắc Nhị Quả Tư Đà Hàm,
chẳng gọi là Tu Đà Hoàn nữa. Sau khi thăng lên
một cấp, danh xưng trước kia không c̣n nữa, bỏ
đi. Giống như chúng ta đi học, học tiểu
học th́ gọi là học tṛ tiểu học. Học xong
tiểu học vào trung học, chẳng gọi học tṛ
tiểu học nữa mà gọi là học sinh trung học.
Tốt nghiệp trung học vào đại học không
gọi là học sinh trung học nữa mà là sinh viên
đại học. Những danh từ xưng hô trước kia không c̣n nữa, bỏ hết. Đó là pháp tắc thế
gian,
điều này không khó hiểu chi!
Hăy xem trong thế giới Cực
Lạc: “Cực Lạc
Đồng Cư, nhất thiết câu phi, nhất thiết
câu thị” (Trong cơi Đồng Cư ở Cực
Lạc, hết thảy đều không phải, hết
thảy đều là phải), chẳng thể nghĩ bàn!
Trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Cực Lạc,
phàm phu ở chung một chỗ với thánh nhân, tợ
hồ giống như ǵ? Trong cùng một pḥng học,
học tṛ tiểu học, học sinh trung học, sinh viên
đại học, nghiên cứu sinh đều cùng học
một lớp; phân ban, cấp lớp rất đặc
biệt, rất chẳng thể nghĩ bàn! Quư vị nói
họ là sinh viên đại học ư? Trong đó có
học tṛ tiểu học, quư vị nói đó là lớp
học của học tṛ tiểu học ư? Trong ấy
có nghiên cứu sinh, nói làm sao bây giờ? “Nhất thiết câu phi” (hết thảy
đều không phải), nói sao cũng trật. Chỉ có thể
nói là cùng học trong pḥng học đó. Chẳng thể nói
là tiểu học; nói là trung học hay đại học cũng
đều không thể nói như vậy được! “Nhất thiết câu phi” (hết
thảy đều trật) mà! Cũng vẫn có thể nói
trong pḥng học ấy có đại học, có trung học,
có tiểu học, “nhất thiết
câu thị” (hết thảy đều là phải),
chẳng thể nghĩ bàn!
Việc dạy học trong nhà Phật,
trên thực tế, khi pháp sư đại đức
giảng kinh, thuyết pháp t́nh h́nh đều giống
như vậy: Thính chúng rất nhiều. Số là năm nay
chúng tôi dự định Rằm tháng Năm sẽ sang Cát
Long Ba (
Cái gọi là “đại
giảng ṭa” có nghĩa là mọi tŕnh độ bất
đồng đều bao gồm hết, các độ
tuổi bất đồng cũng bao gồm. Người
đến nghe giảng từ những bạn nhỏ
mười mấy tuổi cho đến những ông
cụ tám chín mươi tuổi, nam, nữ, già, trẻ, các
ngành nghề, đại giảng ṭa là như vậy đó!
Lúc chúng tôi học kinh giáo, thầy Lư thường bảo
Đại Giảng Ṭa khó lắm! Khó ở chỗ nào?
Chẳng dễ ǵ khế cơ được! Quư vị
giảng điều ǵ sao cho mọi tầng lớp,
mọi tŕnh độ bất đồng, mọi nghề
nghiệp bất đồng nghe giảng đều sanh tâm
hoan hỷ, há phải dễ dàng ư? Hoàn toàn khác hẳn các
ban, các lớp trong trường. Trong trường học,
học tṛ thuộc cùng một lớp th́ nói chung tŕnh
độ không chênh nhau nhiều lắm, dễ dạy,
dễ giảng. Trong lớp học này, tŕnh độ nào
cũng có, rất khó giảng!
Khi chúng tôi học giảng kinh, thầy
Lư dạy chúng tôi một nguyên tắc: “Nội dung một
buổi giảng phải có sâu, có cạn, có rộng, có
lược”. V́ sao? Nhằm thích hợp khẩu vị
của từng người. Nếu quư vị cứ
một mực giảng sâu th́ người nghe không
đủ tŕnh độ sẽ không đạt được
lợi ích, buổi học sau họ không thèm đến
nữa, họ nghe đâu có hiểu! Hoàn toàn giảng nông
cạn th́ người tŕnh độ cao nghe chẳng thích
thú ǵ, quá nông cạn! Buổi học sau họ cũng không
buồn tới nữa! Nếu quư vị giảng sao cho nam
nữ già trẻ mỗi tŕnh độ đều nắm
được, mỗi buổi giảng họ đều
đến, quư vị thành công rồi, khá khó khăn
đấy! Trong đại giảng đường ở
Tây Phương Cực Lạc thế giới, tŕnh
độ ǵ cũng có, quư vị xem đấy: Chúng ta
biết trong số những người niệm Phật
văng sanh, có không ít những vị văng sanh chưa từng đi
học, không biết chữ; có vị tŕnh độ cao,
đương nhiên có bậc Đẳng Giác Bồ Tát, có
Pháp Thân đại sĩ, có A La Hán, có Bích Chi Phật
thuộc tŕnh độ cao. Đức Phật thuyết
pháp trong đại chúng ấy, thật ra Ngài dùng một âm thanh
để thuyết pháp, nhưng chúng sanh tùy theo căn tánh
đều hiểu, đúng là chẳng thể nghĩ bàn!
Tiếp đó là đoạn văn: “Thập phương Phật
độ, vô thử danh tướng, vô thử giai vị,
vô thử pháp môn, phi tâm tánh chi cực trí, tŕ danh chi kỳ huân,
Di Đà chi đại nguyện, hà dĩ hữu thử!” (Mười
phương cơi Phật không có danh tướng này, không có
địa vị này, không có pháp môn này. Nếu không do tâm tánh
đă đạt đến mức cùng cực, công lao
kỳ diệu của Tŕ Danh hun đúc, do đại
nguyện của Phật Di Đà, há có những sự
như thế này chăng?) Mấy lời Ngẫu Ích đại
sư vừa nói đó đúng là việc chân thật.
Đúng là mười phương thế giới chẳng
hề có, chẳng có những danh tướng này, mà cũng
chẳng có địa vị như vậy. Mười
phương thế giới kể cả thế giới Sa
Bà chúng ta đang sống đây, cũng chẳng có pháp môn
ấy. Chỉ ḿnh Tây Phương Cực Lạc thế
giới là có, thật chẳng thể nghĩ bàn!
V́ sao Tây Phương Cực Lạc
thế giới thù đặc như vậy? Ở đây, Ngẫu
Ích đại sư giảng cho chúng ta biết “tâm tánh chi cực trí” (là do tâm
tánh đến mức cùng cực). Chúng ta học Phật
chẳng có chi khác, mục tiêu chung cực (cuối cùng, tột
bậc) là trở về với tâm tánh. Nay chúng ta
thường nghe người thế
gian hô hào “trở về với
tự nhiên, trở về với sự thuần phác, quy
chân”. Hai câu này thiên hạ nói rất nhiều, ư nghĩa
cạn - sâu rất lớn. Ư nghĩa cạn là quay về
với tự nhiên, hy vọng một số người v́
hoàn cảnh [không gần thiên nhiên] được tiếp
xúc với thiên nhiên nhiều hơn. V́ thế, trong dịp
nghỉ, người sống ở đô thị rời
nhà, đi du ngoạn, thăm viếng những nơi có
cảnh đẹp, sinh hoạt trong thiên nhiên một
khoảng thời gian ngắn, trốn tránh những ồn
ào, căng thẳng của đô thị, sống thung
dung hơn trong tự nhiên. “Trở
về với sự thuần phác, quy chân” nghĩa là
như vậy.
Ở Úc Châu, đất rộng
người ít, nhất là tại những thành phố nhỏ
như thành phố chúng ta, những kiến trúc đều
được đặt ngay trong hoàn cảnh thiên nhiên, không
phá hoại hoàn cảnh tự nhiên. Lúc tôi mới đến
Úc Châu, thường nghe nói vấn đề ưu tư
lớn nhất của Úc châu là xú dưỡng tằng
(tầng ozone) bị xé rách, ánh sáng mặt trời rất
mạnh, tia tử ngoại (ultra-violet ray) nhiều gấp
sáu lần những nơi khác. V́ thế, ra khỏi cửa nhất
định phải che dù, đội mũ, mặc áo dài tay
để khỏi bị bỏng nắng. Cháy nắng lâu
ngày sẽ dễ bị ung thư da. Hai năm gần
đây, các nhà khoa học cho biết: “Không thấy tầng
ozone ở trên bầu trời Úc châu bị thủng
nữa”. Nó chuyển sang đâu? Sang Nam Mỹ rồi. Tầng
ozone trên không trung cũng di động, không đứng yên,
hiện tại nó đă di chuyển sang Nam Mỹ. Vấn
đề bận tâm đối với không trung ở nơi
này nay không c̣n nữa.
Cảnh quan nguyên thủy của Úc Châu
chưa bị phá hoại, rừng rậm nguyên thủy
rất nhiều. Chúng ta sống ở đây là quay về
với tự nhiên, trở về với sự thuần
phác, quy chân, đó là cách nói nông cạn. Trong nhà Phật,
trở về với sự thuần phác quy chân chính là tâm
tánh đạt đến mức cùng cực. Phải
như thế nào th́ mới đạt được? Tâm
phải chân thành niệm Phật. Kinh Vô Lượng Thọ
dạy: “Phát Bồ Đề
tâm, một dạ chuyên niệm”. Tám chữ ấy
hết sức trọng yếu. Tám chữ ấy chính là
mấy câu Ngẫu Ích đại sư đă nói ở
đây. Bồ Đề tâm là ǵ? Nói nông cạn, Bồ
Đề tâm là tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh
đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi. Trong cuộc sống
thường nhật, chúng ta xử sự, đăi
người, tiếp vật bằng những tâm ấy.
Dùng những tâm ấy nhất định chẳng bị
thiệt tḥi, dùng những tâm ấy nhất định sanh
về Tịnh Độ, chiếm đại tiện nghi.
Nếu quư vị không sử dụng
những tâm ấy, dù niệm Phật cũng chẳng
thể văng sanh, thua thiệt rất lớn: Quư vị
vẫn phải luân hồi trong lục đạo! Chúng ta
quyết định dùng những tâm ấy, đối
với thế duyên, hết thảy người, sự,
vật trong thế gian đều thấy thấu suốt,
buông xuống, tự tại, tùy duyên, chẳng sợ
thiệt tḥi, chẳng sợ bị lừa gạt,
chẳng những không sợ lại c̣n hoan hỷ. V́ sao? Mấy
bữa là ḿnh phải đi, ḿnh đi qua thế giới
Cực Lạc. Nghĩ tới đó, quư vị sẽ
bố thí nhiều hơn một chút, cúng dường
nhiều hơn một chút, tu nhiều hơn một chút, “bố thí, cúng dường
phước vô biên”. Trong kinh Phật dạy như
vậy. Ban cho chúng sanh thiện duyên, tương
lai đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới thành Phật xong, trở về thả bè Từ
độ những người ấy. Bồ Tát phải
phát đại nguyện thanh tịnh, đấy chính là “phát
Bồ Đề tâm, một dạ
chuyên niệm”. Một phương hướng,
một mục tiêu, chuyên niệm A Di Đà
Phật.
Bởi thế, lời dạy của
Ấn Quang đại sư về Niệm Phật
Đường phải nhớ kỹ, quyết
định phải thực hiện, cộng tu trong
Niệm Phật Đường hai mươi người
là lư tưởng nhất. Nay ở đây chúng tôi hạn
định tiêu chuẩn của Niệm Phật
Đường là bốn mươi tám người, trong
nhà có hai mươi người niệm Phật, bên ngoài có
hai mươi tám người từ các nơi đến
cùng tu. Bọn họ tham gia các hoạt động của
chúng ta trong một thời gian ngắn, hoạt động
của chúng ta là mười thất, tức bảy
mươi ngày. Họ ở đây niệm xong một
kỳ phải quay về, hai mươi người trong
nhà chúng ta ở đây lâu dài, đặc biệt an bài
hoạt động này. Chúng ta báo đền ơn thí
chủ, báo ơn đồng học, chúng tôi hoan nghênh
mọi người cùng niệm Phật, tuân thủ lời
Ấn Quang đại sư dạy.
Trong lời dạy của tổ Ấn
Quang không nhắc đến giảng kinh, nay chúng tôi thêm vào
một buổi giảng kinh, v́ sao phải thêm vào? Thời
tổ Ấn Quang không thêm vào th́
được, hiện tại thêm vào sẽ có cái hay: Giải
- hạnh tương ứng. Quư vị đọc kinh A Di
Đà, nếu quư vị không giảng rơ ràng, không
giảng thấu triệt, sẽ chẳng thể phát
khởi tín tâm kiên định cho người niệm
Phật. Tín nguyện kiên định là những nhân tố
quan trọng để văng sanh. Đấy đều là
như Ngẫu Ích đại sư nói: “Được văng sanh hay không, quyết định
tại có tín nguyện hay không; phẩm vị cao hay
thấp, do công phu sâu hay cạn quyết định”.
Bởi vậy, Tín - Nguyện có thể nói là Dẫn
Nghiệp về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, là nhân tố trọng yếu nhất để hướng
dẫn chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Ḷng tin sâu đậm, nguyện thiết tha, công phu
niệm Phật sâu hay cạn, đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới là Măn Nghiệp. Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới sanh vào
một cơi nào, phẩm vị nào là do công phu niệm Phật
của quư vị sâu hay cạn.
Nay trong thế gian này, chúng ta phải
tranh thủ hai chuyện; hai chuyện này chúng ta mang theo
được, những thứ khác không thể mang theo
được đâu! Sanh chẳng mang theo thứ ǵ đến,
chết chẳng mang theo thứ ǵ đi. Nhất
định phải hiểu như thế. Đă không mang
theo được th́ phải buông xuống. Nếu quư
vị không buông xuống được, sẽ bị lôi
kéo, sẽ bị hại. Phải bỏ hết những ǵ
không mang theo được, phải có trí huệ quan sát
cơ duyên, hễ có những cơ duyên phải lập
tức bỏ ngay, không do dự mảy may, không tiếc
nuối mảy may. Dưỡng thành tập quán như
vậy, lúc lâm chung văng sanh một tí chướng ngại
nào cũng không có. Bởi thế, “tâm tánh đến mức cùng cực” văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Những
hiện tượng trong
thế giới Cực Lạc
đều từ tự tánh
viên măn
lưu
lộ.
“Tŕ danh chi
kỳ huân” (sự un đúc
kỳ diệu của tŕ danh): “Huân” là công huân, công huân
lạ lùng của tŕ danh niệm Phật, công huân chẳng
thể nghĩ bàn! Trong bốn cách niệm Phật, đức
Phật khuyên chúng ta nên dùng loại này, dễ thực hành,
thành tựu cao. Trong chú giải có nói đến bốn cách
niệm Phật: Thật Tướng Niệm Phật, Quán
Tưởng Niệm Phật (Thập Lục Quán Kinh là Quán
Tưởng Niệm Phật), Quán Tượng Niệm
Phật, Tŕ Danh Niệm Phật. Tŕ Danh tương ứng
Thật Tướng, bởi thế, nó rất chẳng
thể nghĩ bàn! Hiểu giáo lư Tịnh tông ít ỏi,
chẳng hiểu sâu, nhưng nếu tín tâm kiên định,
nguyện tâm kiên định, không có một điểm hoài
nghi nào, tŕ danh như vậy sẽ thầm hợp
đạo mầu, chẳng thể nghĩ bàn! Nếu quư
vị thông đạt kinh giáo này mà tŕ danh th́ niệm mỗi
tiếng Phật hiệu đều tương ứng,
niệm niệm tương ứng, tương ứng rơ
ràng. Chẳng hiểu mà chết sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư
sát đất niệm Phật th́ sẽ ngầm tương
ứng, tức là người [niệm Phật] ấy
tương ứng nhưng không biết. Không biết cũng
chẳng sao, đến thế giới Cực Lạc
sẽ biết, sẽ hiểu rơ!
“Đại
nguyện Di Đà”: Quư
vị thấy ba việc này chứ? Di Đà đại
nguyện là Phật lực; Tŕ Danh là tự lực; “tâm tánh
đạt đến mức cùng cực” là tâm lực. Tâm,
Phật, chúng sanh ba thứ không sai biệt; tâm, Phật,
chúng sanh ba thứ tương ứng, cảnh giới này chẳng
thể nghĩ bàn nên Tây Phương Cực Lạc thế
giới mới hiện tiền, nhất là trong Phàm Thánh
Đồng Cư độ. Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thù thắng nhất, khôn sánh bậc
nhất chính là Phàm Thánh Đồng Cư độ. Quư
vị bảo là Thật Báo Trang Nghiêm Độ
ư? Thật Báo Trang Nghiêm Độ của Tây
Phương Cực Lạc thế giới và Thật Báo
Trang Nghiêm Độ của các thế giới chư
Phật khác không hai, không khác, chẳng khác ǵ nhau. Sai khác
nhiều nhất chính là ở cơi Đồng Cư. Trong cơi
Đồng Cư của thế giới Tây Phương có
cơi Thật Báo, có cơi Phương Tiện trong ấy,
bốn cơi ở cùng một chỗ. Không như các thế
giới Phật khác, bốn cơi tách rời nhau, chẳng dung
hội lẫn nhau. Bốn cơi của Tây Phương
Cực Lạc thế giới xen kẽ dung hợp lẫn
nhau, chẳng thể nghĩ bàn!
Lại xem tiếp đoạn lớn
thứ hai: “Một đời
thành Phật”. Trong đoạn này, chúng tôi chia thành sáu
tiểu đoạn để giới thiệu:
1) Đoạn thứ nhất: “Nhất Sanh Bổ Xứ, tức
thị viên chứng tam Bất Thoái chi biệt danh. Ư vị
chỉ nhất sanh bổ Phật vị, như Di Lặc,
Quán Âm đẳng. Cực Lạc nhân dân phổ giai nhất
sanh thành Phật, nhân nhân tất thực chứng Bổ Xứ
cố, kỳ trung đa hữu thử đẳng thượng
thiện, bất khả sổ tri” (Nhất Sanh Bổ
Xứ chính là tên gọi khác của “chứng trọn vẹn
ba thứ Bất Thoái”, ư nói: Chỉ trong một đời bèn
dự vào địa vị bổ xứ làm Phật,
giống như Di Lặc, Quán Âm… Toàn bộ nhân dân cơi
Cực Lạc đều là thành Phật trong một
đời, ai nấy đều thực sự chứng
Bổ Xứ. Trong ấy, có nhiều hàng thượng
thiện như vậy chẳng thể đếm nổi
số). Đấy chính là
nội dung của đoạn kinh sau đây:
Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn
giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh
bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ
như thị chư thượng thiện nhân câu hội
nhất xứ.
舍利弗。眾生聞者。應當發願。願生彼國。所以者何。得與如是諸上善人。俱會一處。
(Này Xá Lợi Phất! Chúng sanh nghe vậy phải nên
phát nguyện, nguyện sanh về cơi ấy. V́ cớ sao
vậy? Được cùng những vị thượng
thiện nhân như thế ở cùng một chỗ).
Đây là câu đầu tiên nói đến
vấn đề này trong kinh văn. Bổ Xứ là
Đẳng Giác Bồ Tát, Bồ Tát là nhân vị
(địa vị trong khi đang tu nhân), Phật là quả
vị (địa vị khi đă chứng quả). Nhân
vị đạt đến cùng cực, đến
đỉnh điểm là Bổ Xứ Bồ Tát, một
đời thành Phật. Bởi thế, Nhất Sanh Bổ
Xứ chứng viên măn ba thứ Bất Thoái, “viên” là viên măn. Pháp Vân
Địa Bồ Tát vẫn chưa viên măn, v́ sao? Trên các Ngài
c̣n có địa vị khác, các Ngài chỉ tiếp cận
viên măn, chưa thực sự viên măn, Bổ Xứ mới
là nhân địa viên măn. Chúng ta thường thấy
những tấm biển ngạch phía trên Đại Hùng
Bảo Điện của Phật môn viết những
chữ ǵ? “Nhân viên quả măn”.
“Nhân viên” là Đẳng Giác, “quả
măn” là Diệu Giác; dùng mấy chữ ấy để
tán thán Phật Bồ Tát rất tuyệt! Thường
thường, quư vị thấy trên Đại Hùng Bảo
Điện thờ Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni
Phật là Quả Măn. Hai bên Phật Thích Ca là Văn Thù
Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát. Văn Thù, Phổ
Hiền là Nhân Viên, Phật là Quả Măn. Chúng ta
thường thấy trong các Đại Hùng Bảo
Điện thờ một vị Phật, hai vị Bồ
Tát như vậy.
Như vậy, [trong câu] “viên chứng ba thứ Bất Thoái”, phải chú
trọng chữ Viên. Chứng ba thứ Bất Thoái th́ hàng
Sơ Trụ trong Viên Giáo chứng đắc, họ là Pháp
Thân Bồ Tát, là Đồng Sanh Tánh, không phải Dị Sanh
Tánh. Có nghĩa là thành Phật trong một đời,
chẳng đợi đến đời thứ hai.
Tiếp đó, sách nêu một thí dụ: “Giống như Di Lặc Bồ Tát”. Di Lặc
Bồ Tát thành Phật trong một đời, Quán Âm Bồ
Tát cũng thành Phật trong một đời. Quán Âm Bồ
Tát thành Phật trong thế giới Cực Lạc, Ngài là
hậu bổ Phật của thế giới Cực
Lạc. Di Lặc Bồ Tát là hậu bổ Phật trong
thế giới Sa Bà của chúng ta. Sau đó, sách viết: “Nhân dân Cực Lạc”, phàm
những ai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh
Đồng Cư độ cũng đều một
đời thành Phật. Điều này tôi đă thuật
cùng quư vị trong phần trên, v́ sao? Tây Phương Cực
Lạc thế giới thọ mạng dài lâu! Thọ
mạng của nhân dân trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới giống như thọ mạng của A Di
Đà Phật; A Di Đà Phật là vô lượng thọ,
mỗi cá nhân đều vô lượng thọ.
Huống chi hoàn cảnh tu hành trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới lại c̣n
tốt đẹp, thầy dạy là chư Phật Như
Lai, đồng học là Bổ Xứ Bồ Tát. T́m đâu
ra hoàn cảnh tu học tốt đẹp như thế? T́m
không ra! Trong mười phương hết thảy cơi
Phật đều không có. Quư vị nhất định
phải biết điều này. Khắp cả pháp giới
hư không giới, chỉ có mỗi một chỗ này,
chỉ có một nhà này thôi! Ngày nay đức Thế Tôn
đại từ đại bi giới thiệu cho chúng ta, nếu
chúng ta chẳng thể tiếp nhận, lại c̣n xem
nhẹ, coi thường, chẳng biết là nghiệp
chướng nghiêm trọng đến mức độ
nào! [Pháp môn này] giúp cho quư vị trong một đời thành
Phật rất nhanh chóng, phải là ai mới ḥng
được gặp pháp môn này? Mười phương
Bồ Tát vừa nghe liền hâm mộ cùng cực! Các Ngài
tâm tâm mong cầu c̣n chẳng được gặp; quư
vị được gặp, rất nhiều người
được gặp nhưng lại sao? Chẳng tin
tưởng. Chẳng tin tưởng là đúng quá rồi,
v́ sao vậy? Pháp khó tin mà! Cho dù quư vị tin tưởng,
pháp này vẫn có thể gọi là “pháp khó tin” ư?
Một vạn người
được tiếp xúc, nếu có một người
tin tưởng th́ pháp ấy khó tin. Ở trên, tôi đă có
nói cùng quư vị, trong một vạn người t́m không ra
một người thực sự tin tưởng. V́ sao?
Trong thế giới hiện nay có gần bảy mươi
ức nhân khẩu, trong một vạn người t́m
được một người tin tưởng c̣n
chưa được! Cho nên bao nhiêu người văng sanh?
Gần như là một vạn người mới có
một người thực sự tin tưởng, thực
sự văng sanh trong một đời này. Trong một ức
người có được một người, th́ trong
bảy mươi ức có được bảy
mươi người. Trong một năm có bảy
mươi người văng sanh, chẳng thể nghĩ bàn!
Gần như t́nh h́nh thực tế là như vậy, trong một
năm chỉ có khoảng bảy mươi người
văng sanh!
Năm xưa, thầy Lư khuyên dạy mọi
người niệm Phật ở Đài Trung. Tại liên
xă Đài Trung, lúc chúng tôi rời khỏi đó, có khoảng
năm mươi vạn liên hữu. Thầy Lư bảo tôi
trong số những người niệm Phật nhiều
như thế, người thực sự được
văng sanh chỉ là một hai phần vạn, đại khái
là trong một vạn người chỉ có hai ba
người được văng sanh. Đó là tính trong
nhiều năm [ra con số] như vậy. Chúng tôi
thống kê thấy những người được
thầy Lư dạy dỗ thực sự văng sanh thế
giới Cực Lạc phải có khoảng ba trăm
đến năm trăm người, chẳng thể
nghĩ bàn! Thầy dạy ở đó suốt ba
mươi sáu năm. Xem kệ tụng của Đại
Từ Bồ Tát, chúng ta sẽ hiểu: Người khuyên
dạy được ba trăm đến năm trăm
người văng sanh, người ấy đúng là Bồ
Tát! Pháp khó tin lắm! Pháp khó tin mà tin tưởng
được th́ chẳng dễ dàng đâu!
“Nhân nhân tất
thực chứng Bổ Xứ cố” (Ai nấy đều thực sự
chứng Bổ Xứ): Một đời thành tựu, hoàn
cảnh tu học quá tốt, bởi thế chẳng
cần một thời gian rất lâu. Trong các cơi Phật
khác, thời gian tu học rất lâu. Dẫu cho minh tâm
kiến tánh, muốn đạt đến Nhất Chân pháp
giới, tức thế giới Hoa Tạng, phải tu ba
đại A-tăng-kỳ kiếp th́ quư vị mới có
thể thực sự đạt đến nhân viên quả
măn; nhưng thời gian ở Tây Phương Cực
Lạc thế giới rất ngắn ngủi, rút lại
rất ngắn ngủi, chỉ cần thời gian mấy
kiếp là thành công. Trong kinh nói: “Kỳ
trung đa hữu thử đẳng thượng thiện”
(Trong ấy có những vị thượng thiện
như vậy), kinh nói như vậy đó, số
người rất ư là nhiều. Đó là giới
thiệu những vị đồng học trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Những
đồng tham đạo hữu của quư vị đều
là Duyên Giác Bồ Tát, đều là hậu bổ Phật,
số người ấy tính đếm chẳng thể
tận, chỉ có thể nói là A-tăng-kỳ. A! Nay đă
đến giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,
Phần 7 hết
[1] Ư nói: Kẻ không hiểu lư Diệu Hữu, cứ lải nhải “Sắc tức thị không, không tức thị sắc… tâm tức Phật, Phật tức tâm”, giống như tiếng chuột kêu chút chít (ở đây dùng chữ Tức để mô phỏng tiếng chuột kêu).
[2] Nguyên văn “khuyên dữ điểm” (khuyên và chấm): Khuyên là vẽ một cái ṿng tṛn, Điểm là chấm một cái bên cạnh. Người Hoa thường hay dùng son (hoặc mực đỏ) vẽ ṿng tṛn bao lấy một đoạn hay chấm son bên một số chữ để đánh dấu câu trọng yếu cũng như ta nay dùng bút màu tô đậm câu quan trọng khi đọc sách giáo khoa hay văn bản.
[3] Tức quẻ Địa Sơn Khiêm
(mỗi Hào trong quẻ là một vạch liền hay
đứt). Quẻ này gồm quẻ Khôn (ba vạch
đứt, tức ba hào Âm) chồng lên quẻ Cấn
(một hào Dương, hai hào Âm). Thoán Từ giảng: “Khiêm, hanh quân tử hữu chung”.
Cụ Nguyễn Hiến Lê dịch: “Nhún nhường: Hanh thông, người quân tử
giữ được trọn vẹn tới cuối”.