Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư
Phần 8
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội
Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập 22
Xin xem tiếp
tiết thứ hai của đoạn thứ hai “nhất
sanh thành Phật” (thành Phật
trong một đời) [trong sách Yếu Giải]:
“Kinh vân:
Di Đà Niết Bàn, Quán Âm tức bổ Phật vị, hiệu
Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, quốc
danh Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm, kỳ Phật diệt
hậu, Đại Thế Chí Bồ Tát tức bổ Phật
vị, hiệu Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương
Như Lai” (Kinh dạy: Đức
Phật Di Đà nhập Niết Bàn, ngài Quán Âm liền kế
tục thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức
Sơn Vương Như Lai, cơi nước tên Chúng Bảo
Phổ Tập Trang Nghiêm. Sau khi đức Phật ấy diệt
độ, Đại Thế Chí Bồ Tát liền kế tục
làm Phật, hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo
Vương Như Lai). Đoạn kinh này thuyết
minh Tây Phương Cực Lạc thế giới quả thật
thù thắng khôn sánh, không giống với các cơi Phật
phương khác. Thông thường, các cơi Phật khác sau khi
Phật diệt độ nói chung sẽ có một khoảng
thời gian [không có Phật], thời gian ấy dài hay ngắn
không giống nhau. Nói chung, sẽ giống như trong thế
giới Sa Bà của chúng ta, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt
độ, Bổ Xứ Bồ Tát nay đang ở trên trời
Đâu Suất; thọ mạng trên cơi trời Đâu Suất
hết rồi, Ngài mới đến thị hiện thành
Phật trong thế gian này. Thọ mạng trong cơi trời
Đâu Suất rất dài. Chúng ta biết một ngày trên trời
Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân gian.
Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Một ngày trên
trời Đao Lợi bằng một trăm năm dưới
trần, thọ mạng của Đao Lợi Thiên là một
ngàn năm. Dạ Ma Thiên nhiều gấp bội: Một
ngày trên Dạ Ma Thiên bằng hai trăm năm trong nhân gian;
thọ mạng là hai ngàn năm. Trời Đâu Suất lại
tăng gấp bội: Một ngày trên Đâu Suất bằng
bốn trăm năm trong nhân gian; thọ mạng là bốn
ngàn năm.
Chư vị
cứ tính ra là biết ngay: Một ngày bằng bốn
trăm năm, mỗi năm lại có ba trăm sáu
mươi lăm ngày mà [thọ mạng] lại có đến
bốn ngàn năm lận; v́ thế, trong kinh Di Lặc Hạ
Sanh nói: Đại khái nếu tính theo năm tháng trong nhân
gian th́ thọ mạng cơi trời Đâu Suất là năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Sau năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, Di Lặc Bồ
Tát mới từ cơi trời Đâu Suất giáng sanh thị
hiện thành Phật trong nhân gian. Đâu Suất Thiên là Tri
Túc Thiên, là nơi cư trụ của Bổ Xứ Bồ
Tát. V́ vậy, nói thật ra, thời gian có Phật trong thế
gian này của chúng ta rất ít, thời gian không có Phật rất
dài. Quư vị thấy pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật
là một vạn hai ngàn năm, phải năm mươi
sáu ức bảy ngàn vạn năm sau, Di Lặc Bồ Tát mới
giáng sanh; trong đêm tối dài dằng dặc ấy, chúng
sanh đau khổ thay!
Thế
nhưng, Phật, Bồ Tát hết sức từ bi, sau khi
Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, Di Lặc Phật
chưa xuất sanh, trong khoảng thời gian đó làm thế
nào đây? Chúng ta thấy trong kinh Địa Tạng, Thích
Ca Mâu Ni Phật đă ủy thác Địa Tạng Bồ
Tát thay Phật giáo hóa chúng sanh. Sứ mạng của Địa
Tạng Bồ Tát rất lớn, trong một thời gian
dài dằng dặc như vậy phải giúp đỡ chúng
sanh khốn khổ, hoạn nạn. Chúng ta thấy Tây
Phương Cực Lạc thế giới khác xa thế giới
của ḿnh: A Di Đà Phật thị hiện nhập bát Niết
Bàn, Quán Âm Bồ Tát lập tức thị hiện thành Phật.
Quán Âm Bồ Tát thành Phật, thế giới ấy không gọi
là Cực Lạc nữa, mà đổi thành thế giới Chúng
Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Quán Âm Bồ Tát có đức
hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương
Như Lai. Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta tiên đoán sự kiện
trong vô lượng kiếp sau. A Di Đà Phật vô lượng
thọ, mà A Di Đà thành Phật đến nay mới chỉ
mười kiếp; nói cách khác, Ngài mới thành Phật
chưa lâu. Thế giới Cực Lạc hết sức thù
thắng!
Quán Âm Bồ
Tát thị hiện thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công
Đức Sơn Vương Như Lai. Sau khi lăo nhân gia nhập
diệt, Đại Thế Chí Bồ Tát lại thị hiện
thành Phật tiếp theo liền. Lúc đó, chẳng gọi
là Đại Thế Chí Bồ Tát, mà gọi là Thiện Trụ
Công Đức Bảo Vương Như Lai. Thật đấy!
Công đức bảo vương của Bồ Tát thù thắng
khôn sánh, quư vị thấy Ngài tu tập, tích lũy công đức
trong vô lượng kiếp lần vô lượng kiếp,
thị hiện gương sáng cho chúng ta thấy. Cớ sao
chúng ta không thể tích cực đoạn ác tu thiện, tích
lũy công đức? Tuy Pháp Thân Bồ Tát đă chứng
đắc tâm tánh đến mức cùng cực, Ngài vẫn
v́ hết thảy chúng sanh thị hiện tu đức, từ
bi đến mức độ cùng cực; dạy dỗ
chúng ta, làm gương cho chúng ta thấy. Nếu chúng ta không
giác ngộ, chẳng thể lănh hội, làm sao xứng
đáng với Phật, Bồ Tát đă v́ chúng ta thị hiện,
diễn nói?
Đoạn
tiếp theo [trong sách Yếu Giải] là: “Phục thứ,
Thích Ca nhất đại thời giáo” (Lại nữa, trong giáo pháp suốt một đời
của đức Phật Thích Ca), ư nói Phật Thích Ca
Mâu Ni bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết
pháp, “duy Hoa Nghiêm minh nhất sanh viên măn, nhi nhất sanh viên
măn chi nhân, tắc mạt hậu Phổ Hiền Hạnh
trung, thập đại nguyện vương, đạo
quy Cực Lạc. Thả dĩ thử khuyến tấn Hoa
Tạng hải chúng, tư chi, tư chi” (chỉ riêng ḿnh kinh Hoa Nghiêm giảng rơ cái lẽ
viên măn trong một đời, nhưng đến cuối
cùng cái nhân viên măn trong một đời lại nằm ngay trong
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Lại
c̣n dùng những điều đó để khuyên lơn, khích
lệ đại chúng đông như biển trong thế giới
Hoa Tạng. Hăy nghĩ đi, xét đi). Tôi đă từng
nhiều lần thưa cùng các đồng học rồi,
phải suy nghĩ kỹ càng, chúng ta không phải là thượng
căn, không phải lợi căn, nói miễn cưỡng
th́ là căn tánh bậc trung. Nói thật ra, Phật, Bồ
Tát gia tŕ thọ mạng cho tôi. Nếu tôi không có thọ mạng,
có thể nói là cả một đời này tôi chẳng có thành
tựu ǵ cả. V́ sao?
Khi xưa, tôi theo thầy
Lư, thầy Lư đau ḷng rát miệng khuyên tôi tu học pháp
môn Tịnh Độ, thậm chí c̣n nói: “Anh thấy từ xưa đến nay không ít tổ
sư đại đức, đức hạnh, đạo
đức, học vấn của các Ngài, chúng ta thực sự
không thể sánh bằng”. Đúng là như vậy! “Chúng ta không thể viết ra sách
Yếu Giải như Ngẫu Ích đại sư, cũng
không thể viết bộ Sớ Sao như Liên Tŕ đại
sư. Họ là những bậc đại trí huệ, đại
đức hạnh nhưng đều niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ”, thầy Lư nêu những thí dụ
như vậy. “Nếu pháp môn
này không đúng, các vị tổ sư đại đức,
đại thiện tri thức nhiều ngần ấy
đều đi lầm đường”, thầy Lư bảo:
“Chúng ta cũng lầm một
phen đâu có sao!” Nói những lời như vậy để
khuyên tôi, tôi rất cảm kích, nhưng vẫn không chết
sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư dốc ḷng nơi pháp môn này.
Tôi chết sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư dốc ḷng học
pháp môn này là vào năm Dân Quốc 60 (1971) khi giảng kinh Hoa
Nghiêm tại Đài Bắc. Lúc ấy tôi cũng thường
ra ngoại quốc, v́ vậy giảng kinh Hoa Nghiêm ở
Đài Bắc cứ gián đoạn hoài, tôi nhớ phải
giảng gián đoạn như vậy chừng đâu
mười mấy năm mà chỉ mới giảng
được một nửa kinh, vẫn chưa giảng
hoàn tất. Hàn Quán Trưởng văng sanh rồi mà kinh Hoa
Nghiêm vẫn c̣n giảng dang dở.
Mỗi lần
về lại Đài Loan, tôi lại tiếp tục giảng
kinh Hoa Nghiêm. Có một ngày tôi đột nhiên nghĩ Thiện
Tài đồng tử tu pháp môn nào? Do tôi giảng kinh Hoa
Nghiêm ở Đài Loan là giảng đồng thời hai bản
Bát Thập và Tứ Thập. Mỗi tuần giảng ba lần,
hai lần giảng Bát Thập Hoa Nghiêm, một lần giảng
Tứ Thập Hoa Nghiêm. Cả hai bản đều giảng
nửa chừng rồi ngưng. Chú tâm tra cứu kinh, chú tâm
xem đọc, thật là bất phàm! Thiện Tài đồng
tử tu pháp môn Niệm Phật. Thầy của Thiện
Tài đồng tử là Văn Thù Bồ Tát cũng phát nguyện
cầu sanh Tịnh Độ. Ngài phát nguyện gần
như hoàn toàn giống với Văn Thù Bồ Tát. Văn
Thù và Phổ Hiền đều cầu sanh Tịnh Độ.
Thiện Tài là học tṛ đắc ư của ngài Văn Thù.
Nếu học tṛ đắc ư chẳng thể kế thừa
nguyện vọng của thầy th́ chẳng phải là
đệ tử truyền pháp!
Lại xem kỹ: Thiện
Tài đồng tử đi tham phỏng, gặp được
vị [thiện tri thức] đầu tiên là tỳ-kheo Cát
Tường Vân (bản Bát Thập Hoa Nghiêm ghi là Đức
Vân, bản Tứ Thập dịch là Cát Tường Vân) dạy
Ngài pháp môn Niệm Phật. Nay ta gọi phương thức
mà bản thân tỳ-kheo Cát Tường Vân tu hành là Ban Châu tam-muội,
niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Vị
thiện tri thức đầu tiên mang ư nghĩa biểu
pháp rất sâu, cổ nhân thường nói “tiên nhập vi
chủ” (học pháp nào đầu tiên, pháp ấy là chủ).
Pháp môn thứ nhất của Thiện
Tài đồng tử là niệm Phật, tiên nhập vi chủ
mà! Lại xem đến cuối cùng, vị thiện tri thức
thứ năm mươi ba, tức vị cuối
cùng, là Phổ Hiền Bồ Tát: Mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Tôi hiểu rơ: Tỳ-kheo
Cát Tường Vân khởi đầu, Phổ Hiền Bồ
Tát kết thúc, từ đầu đến cuối Thiện
Tài tu pháp môn nào? Tu pháp môn Niệm Phật! Lúc đó, tôi mới
chết sạch ḷng mong ngóng, so đo, khiêm hư sát đất,
không c̣n nghi hoặc nữa, chẳng c̣n do dự nữa, tôi
đă hiểu rơ rồi. Huống chi Văn Thù và Phổ Hiền
khuyên dạy bốn mươi địa vị Pháp Thân
đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng, những hải
chúng (đại chúng đông nhiều như biển cả)
trong thế giới Hoa Tạng này, ai nấy đều cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chúng ta hăy
nghĩ xem: Trang nghiêm đến mức độ nào?
Lại
xem thấy Tỳ Lô Giá Na Như Lai (đều là thị hiện
cho chúng ta thấy), Tỳ Lô Giá Na Như Lai hoan hỷ, không
nói: “Văn Thù! Phổ Hiền! Sao các ông đem đại
chúng của ta đi hết vậy? Mọi người
trong đạo tràng của ta đều mang qua thế giới
Cực Lạc th́ đạo tràng này biến thành cái ǵ
đây? Chắc chắn trong thế gian của ta sẽ nẩy
sanh hiểu lầm. Đừng có nói là các ông đem toàn bộ
mọi người đi, dù chỉ đem một, hai người
đi, ta cũng không chấp thuận!” Trong đạo tràng
này, nhất là những người thông minh lanh lợi, dụng
công tu hành, nếu quư vị đem đi hết mà không
được lăo ḥa thượng của tự viện
đồng ư là lôi thôi liền!
Trong thế
giới Hoa Tạng, chúng tôi tin Văn Thù, Phổ Hiền nhất
định phải được Tỳ Lô Giá Na Phật
đồng ư. Tỳ Lô Giá Na Phật chấp thuận: “Tốt
lắm! Mọi người đều đi được”.
V́ sao? Đến thế giới Cực Lạc thành Phật
nhanh chóng, so với Hoa Tạng nhanh hơn nhiều lắm,
rút ngắn thời gian. Tỳ Lô Giá Na Phật chẳng có
tư tâm, Phật Phật đạo đồng, chư Phật
chỉ có một nguyện vọng là hy vọng mọi
người mau chóng thành Phật; nhanh nhất th́ không ǵ
hơn là đến thế giới Cực Lạc thân cận
A Di Đà Phật. Bởi vậy, Văn Thù, Phổ Hiền
suất lănh các vị Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn
mươi địa vị văng sanh Cực Lạc thế
giới, Tỳ Lô Giá Na Phật hoan hỷ! Chúng ta phải hiểu
đạo lư này. Nếu chúng ta biết đạo tràng khác
có vị thiện tri thức chân chánh, tôi không bằng vị
ấy, các đồng học muốn đến thân cận
vị ấy, tôi hoan hỷ, quư vị thân cận vị
đó là đúng, không sai lầm chút nào!
Trước
kia, tôi giảng kinh ở Đài Loan có những đồng
học là sinh viên đại học, nghe tôi giảng hai ba
năm, đến bảo tôi: “Thưa pháp sư! Con muốn
qua Đài Trung thân cận thầy Lư”. Tốt lắm! Những
vị ấy thông minh, tôi học từ thầy Lư. Các anh
thân cận thầy tôi chính là điều tôi cầu không
được. Nếu thực sự có duyên phận th́ phải
thân cận vị thiện tri thức hạng nhất. Vị
thiện tri thức bậc nhất trong các cơi Phật
được hết thảy chư Phật công nhận
là A Di Đà Phật. Quang minh tôn quư nhất, vua trong các Phật
mà! Bởi vậy, chỉ cần quư vị phát tâm thân cận
A Di Đà Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc
th́ tất cả hết thảy chư Phật đều
vỗ tay: “Ngươi thật thông minh! Ngươi chọn
lựa đúng!” Những lời tôi thưa cùng quư vị ở
đây câu nào cũng đều chân thật. Do vậy, đối
với những lời khai thị trong đoạn này, chúng
ta càng phải suy nghĩ cặn kẽ.
Đoạn
tiếp theo là: “Ngẫu Công thán viết” (Ngẫu Công than rằng), Ngẫu
Ích đại sư than thở, “Ta hồ! Phàm phu lệ đăng
Bổ Xứ, kỳ xướng cực đàm, bất khả
trắc độ” (Ôi
chao! Phàm phu được liệt vào ngôi Bổ Xứ, là một
xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng
tột chẳng thể suy lường được!).
Trước hết, chúng tôi nói về câu này. Ngẫu Ích
đại sư chú giải kinh, viết đến đây,
tự ḿnh hết sức cảm thán: Rành rành là phàm phu, một
phẩm phiền năo chưa đoạn, đới nghiệp
văng sanh đến cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đương
nhiên “liệt vào ngôi Bổ Xứ”. Kẻ ấy không thực
sự là Bổ Xứ, chỉ ở cùng một chỗ với
Bổ Xứ Bồ Tát. Không phải là Bổ Xứ Bồ
Tát sẽ chẳng thể ở chung một chỗ
được, kẻ kia là phàm phu v́ sao lại có thể ở
cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát? Ở cùng
một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát là gần bằng
Bổ Xứ, là không khác Bổ Xứ cho mấy. “Kỳ
xướng cực đàm” (một xướng xuất
hiếm lạ, một bàn luận cùng tột), “Kỳ” (奇) ở đây là “hy kỳ” (希奇: hiếm lạ), chưa từng nghe đến,
chưa hề thấy qua, nhưng thế giới Cực Lạc
lại có chuyện như vậy đấy! “Đàm” (談) là bàn kinh giảng đạo đến
mức cùng tột. Ngẫu Ích đại sư tán thán:
Thật sự có chuyện này,
không giả đâu!
“Hoa
Nghiêm sở bẩm, khước tại thử kinh (chư Phật
sở thuyết đệ nhất kinh, Bồ Tát tu hành đệ
nhất pháp môn)” (Những
điều riêng ḿnh kinh Hoa Nghiêm có (kinh bậc nhất của
chư Phật đă nói, pháp môn tu hành bậc nhất của
Bồ Tát) hoàn toàn được nêu lên trong kinh này). Câu
trong ngoặc đơn là do tôi viết. Đối với
câu này tôi cũng hiểu đôi chút. Chúng ta đọc kinh
Hoa Nghiêm, đọc đến cuối cùng “thập đại
nguyện vương đạo quy Cực Lạc” (mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc), tức là
quy về kinh Vô Lượng Thọ. Cổ nhân gọi kinh
Vô Lượng Thọ là Hoa Nghiêm bản trung. Trong ba kinh Tịnh
Độ, kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc nhất.
Nếu chúng ta dùng ba phần Tự Phần, Chánh Tông Phần,
Lưu Thông Phần của kinh điển để nói th́
kinh Vô Lượng Thọ là phần Chánh Tông của Tịnh
Độ; kinh A Di Đà là Lưu Thông Phần. Trong kinh này,
đức Thế Tôn bốn lượt khuyên chúng ta hăy phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ, thật chẳng thể
nghĩ bàn! Cổ nhân thường nói một mà hai, hai
nhưng ba, ba nhưng bốn, bốn lượt khuyên dạy
văng sanh. Chỗ quy túc cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là quy
hướng thế giới Cực Lạc. Kinh Di Đà là
Hoa Nghiêm tiểu bổn, kinh Vô Lượng Thọ là đại
bổn của kinh A Di Đà. Cư sĩ Vương Long Thư
hội tập kinh Vô Lượng Thọ cũng đặt
tên là Đại A Di Đà Kinh, ông đặt tựa đề
kinh như thế. Bởi vậy, đây chính là kinh bậc
nhất do chư Phật nói, là pháp môn bậc nhất để
các Bồ Tát tu.
“Nhi thiên hạ
cổ kim, tín tiển[1], nghi
đa, dư duy hữu phẫu tâm lịch huyết nhi
dĩ” (nhưng thiên hạ
xưa nay, tin ít, nghi nhiều, tôi chỉ đành mổ tim vẩy
máu mà thôi). Đây là lời cảm khái đau ḷng buốt óc của
Ngẫu Ích đại sư. Thiên hạ xưa nay, người
tin tưởng ít ỏi, kẻ hoài nghi đông đảo,
Ngẫu Ích đại sư viết đến đây,
nghĩ đến đây, đúng là đau ḷng đến
cùng cực! Rơ ràng là trong một đời có thể thoát
luân hồi viên thành Phật đạo, chẳng phải
đợi đến đời thứ hai, chỉ một
đời mà thôi! Một đời viên măn; bởi lẽ,
quư vị văng sanh là ra đi khi đang c̣n sống, chẳng
phải chết rồi mới đi. Bởi thế, tôi
thường nói pháp môn này gọi là “pháp môn không chết”,
thực sự không chết. Quư vị thấy đó: Lúc thời
tiết nhân duyên chín muồi, người văng sanh thấy A
Di Đà Phật đến tiếp dẫn, từ tạ mọi
người: “Phật đến rồi, tôi theo Ngài về
thế giới Cực Lạc”. Nói rồi bèn đi, đi
ngay trong lúc sống. Đi rồi th́ sao? Không cần đến
cái đăy da thối này nữa, vứt bỏ, triệt
để buông xuống, đi qua thế giới Cực Lạc
đổi lấy thân khác.
Sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới là liên hoa hóa
sanh, hoa sen ấy do chính ḿnh trồng, chẳng phải do ai
khác trồng! Tất cả hết thảy chúng sanh chỉ
cần thực sự phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ, trong ao sen bảy báu nơi thế giới Cực
Lạc sẽ mọc lên một búp sen. Quư vị tín nguyện
kiên định, niệm Phật rất siêng, hoa sen trong ao ấy
ngày càng to dần, càng tăng trưởng. Lúc quư vị hết
tuổi thọ, A Di Đà Phật cầm hoa sen ấy đến
tiếp dẫn quư vị. Hoa sen ấy của chính quư vị,
chứ không phải của ai khác, trên hoa c̣n có đề
tên, chắc chắn không lầm lẫn được. Quư vị
vào trong hoa sen, chẳng phải là một đứa bé con dần
dần lớn lên, mà là thân tướng giống hệt
như Phật. Tây Phương thế giới là pháp giới
b́nh đẳng, bỏ nhục thân, đạt được
thân ǵ? Được thân vàng ṛng sắc
tía giồi mài sáng bóng, trong bốn mươi tám nguyện
[của A Di Đà Phật] có lời nguyện này. Tướng
hảo, quang minh [của mỗi chúng sanh trong thế giới
Cực Lạc] không khác ǵ A Di Đà Phật và Bổ Xứ
Bồ Tát, thực sự b́nh đẳng.
Đó là v́ trong quá khứ,
lúc A Di Đà Phật đang tu đạo Bồ Tát trong khi
tu nhân, đọc trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta sẽ
thấy đoạn lịch sử ấy, Ngài đă từng
tham phỏng hai trăm mười ức cơi Phật. “Hai
trăm mười ức” biểu thị pháp chứ không
phải là một con số; trong Mật
Tông, hai trăm mười ức biểu thị ư
nghĩa viên măn, hàm nghĩa “khắp pháp giới hư không
giới, hết thảy các cơi Phật, không sót một cơi
nào”, Ngài đều đến tham học hết. Đối
với ưu điểm và những chỗ hay của mỗi
một thế giới Ngài liền học lấy; những
khuyết điểm Ngài đều bỏ đi. V́ thế,
sự thành tựu nơi thế giới Cực Lạc chính
là do kết hợp tất cả những ưu điểm
trong hết thảy cơi Phật khắp pháp giới hư
không giới, không có khuyết điểm, cơi ấy
được kiến tạo như vậy. Sự kiện
này là một sự khải thị rất lớn cho chúng
ta! A Di Đà Phật kiến lập Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chẳng phải là đóng cửa
mày ṃ tự chế, cũng chẳng phải ở riệt
trong nhà nghĩ cách; không phải vậy, mà là sở đắc
từ sự tham học. Đấy là học vấn chân
chánh, học vấn thực sự!
Chắc chắn Ngài
trông thấy thế giới Sa Bà (chắc chắn Ngài đă
từng đến thế giới Sa Bà của chúng ta), thấy
hết thảy chúng sanh tướng mạo khác biệt.
Tướng mạo đẹp th́ phiền năo hiện tiền,
phiền năo ǵ vậy? Ngạo mạn! Tướng mạo
không đẹp, phiền năo cũng hiện tiền, phiền
năo ǵ vậy? Mặc cảm tự ty rất nặng! Những
điều này chúng ta đều biết rất rơ. A Di
Đà Phật biết điều này, nên tất cả hết
thảy những ai văng sanh về thế giới Cực Lạc
tuyệt đối chẳng nẩy sanh phiền năo, v́ sao?
Tướng mạo mọi người giống hệt
nhau, không một ai đẹp hơn ai, cũng không ai có khuyết
điểm, thảy đều giống hệt như nhau,
thể chất giống hệt, cao - thấp giống hệt,
gầy - béo giống hệt, tướng hảo như nhau.
Nói
như vậy th́ chúng ta lại có vấn đề, vấn
đề ǵ vậy? Nếu ta muốn t́m một người
nào đó, ta biết ai là ai đây? Toàn bộ giống hệt
nhau. [Nếu thắc mắc vớ vẩn] như vậy là
chúng ta lo xa quá đấy, v́ sao? Chúng ta không có trí huệ,
không có huệ nhăn, không có thần thông; nhưng người
ở Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy
đều có thần thông nên nhất định chẳng
nhận lầm người. Tất cả mọi người
tướng mạo giống hệt A Di Đà Phật, nhất
định quư vị chẳng thể nhận lầm. Tuy
tướng mạo của mỗi cá nhân văng sanh cũng giống
hệt nhau, quư vị vẫn chẳng nhận lầm, chẳng
thể nghĩ bàn! Bởi vậy, đọc đến
đoạn này, hăy nên phát nguyện! Trong kinh này đức
Phật lại khuyên chúng ta nên phát nguyện lần nữa,
phải nên văng sanh cơi nước kia.
Lại xem tiếp
đoạn dưới: “Hạnh
Nguyện Phẩm vân” (Phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện nói), tức là trong phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có đoạn chép: “Thị nhân dục lâm mạng
chung thời, nhất thiết chư căn, tất giai bại
hoại, dĩ trí thân thuộc, oai thế, tượng, mă,
trân bảo đẳng, tất giai tán diệt” (lúc người
ấy sắp mạng chung, hết thảy các căn thảy
đều bại hoại, cho đến thân thuộc, oai
thế, voi, ngựa, các món quư báu v.v... thảy đều
tan diệt). Chúng tôi giảng đoạn này trước.
Đoạn này nói lên điều ǵ? Lúc thọ mạng con
người đă hết, lúc lâm chung, “nhất thiết chư căn, tất giai bại hoại”
(hết thảy các căn thảy đều bại hoại),
tức là không khởi tác dụng nữa. “
C̣n những vật
ngoài thân của quư vị như “thân
thuộc”, tức là người nhà, quyến thuộc của
ḿnh, ḿnh phải chia ĺa. “Oai thế”
là địa vị, quyền lực. Dẫu cho địa
vị, quyền lực đạt đến cùng cực,
làm đến quốc vương; lúc ấy có làm vua
cũng không được nữa, thọ mạng đă hết,
ngôi vua cũng vứt đi, quyền lực cũng buông
xuôi. “Tượng, mă” (voi, ngựa)
là công cụ giao thông sử dụng trong thời cổ. Công
cụ giao thông hiện tại gồm xe hơi, du thuyền,
thậm chí tư gia có máy bay, cái ǵ cũng không mang theo
được, không mang theo cái ǵ được hết! “Trân bảo” là của cải;
hết thảy các món quư báu do quư vị góp, không mang theo
được ǵ! “Giai tất
tán diệt” (thảy đều tan diệt), không cầm
ǵ theo được, thuộc về người khác hết,
quư vị phải giác ngộ điều này! Trong kinh luận,
đức Phật thường cảnh tỉnh chúng ta: “Vạn ban tương bất khứ,
duy hữu nghiệp tùy thân” (Muôn thứ không mang
được, chỉ mỗi nghiệp theo thân). Quư vị
phải hiểu rơ ràng, minh bạch: Tất cả hết thảy
những vật ngoài thân chắc chắn không phải là của
chính ḿnh. Bản thân ta cái ǵ cũng không có, ngay đến
cái thân này cũng không có, thân thể cũng phải bại
hoại.
V́ vậy, trong thế
gian này, kinh Bát Nhă giảng rất rơ: “Nhất thiết pháp vô sở hữu, tất cánh không,
bất khả đắc” (Hết thảy pháp không có sở
hữu, rốt ráo không, chẳng thể được).
Đó là chân tướng sự thật. Nếu quư vị
cho là hữu sở đắc, vẫn muốn giành lấy th́
quư vị lầm rồi! Quư vị có giành lấy, trong tương
lai cũng không mang theo được, lại c̣n tạo
thêm vô lượng vô biên nghiệp chướng. Trong thế
gian có mấy ai giác ngộ? Có mấy ai thực sự hiểu
rơ? Người giác ngộ buông bỏ toàn bộ pháp thế
gian, ngay cả thân ḿnh cũng không màng, quyết định
chẳng lưu luyến.
“Duy hữu nguyện vương, bất tương
xả ly, nhất thiết thời trung, dẫn đạo
kỳ tiền, nhất sát-na gian tức đắc văng sanh
Cực Lạc thế giới” (Chỉ có nguyện vương chẳng hề ĺa bỏ,
trong hết thảy thời, nó thường dẫn
đường đằng trước. Trong khoảng
sát-na liền được văng sanh thế giới Cực
Lạc). Nói về điều ǵ? Nói về cái quư vị mang
theo được. Cái mang theo được là thiện
nghiệp, ác nghiệp, tịnh nghiệp, ba thứ nghiệp
này đi theo quư vị. Người thực sự giác ngộ
đoạn trừ ác nghiệp, tuy vẫn tu thiện nghiệp
nhưng quyết không chấp trước. Do không chấp
trước nên biến thành tịnh nghiệp; nếu chấp
trước liền biến thành thiện nghiệp. Chấp
trước th́ quả báo là ba thiện báo; không chấp
trước th́ quư vị phải hồi hướng cầu
sanh về Tịnh Độ, quả báo của quư vị sẽ
là vượt thoát tam giới, vượt thoát mười
pháp giới, thù thắng khôn sánh!
Mười đại
nguyện vương dạy chúng ta điều ǵ? Quư vị
phải biết:
1) Thứ nhất là dạy
chúng ta cung kính “lễ kính
chư Phật”.
2) Thứ hai dạy chúng
ta xưng tán, tức là khen ngợi điều lành, quyết
định chẳng ăn nói sai trái. Thấy bất cứ
sai trái ǵ cũng trọn chẳng rêu rao, ḥng bồi dưỡng
thiện tâm, thiện ư và thiện hạnh của chính ḿnh,
miệng không lầm lỗi, “xưng
tán Như Lai”!
3) Thứ ba dạy
chúng ta bố thí cúng dường “quảng
tu cúng dường”.
4) Thứ tư dạy
chúng ta “sám hối nghiệp
chướng”, phải biết sám hối nghiệp
chướng của chính ḿnh.
5) Thứ năm là dạy
chúng ta “tùy hỷ công đức”,
tùy hỷ công đức hết sức trọng yếu! Hết
thảy chúng sanh đều có tâm ghen ghét, tùy hỷ công đức
nhằm phá trừ ghen ghét. Trông thấy chỗ hay của
người khác, ta không ôm ḷng ghen ghét chút nào, mà tùy tâm, tùy lực
giúp đỡ người ta, thành tựu cho người
ta. Đó là tùy hỷ công đức. Người ta có công
đức nhiều lớn, ḿnh tùy hỷ th́ công đức
cũng lớn như người ta vậy, công đức
của người ta hoàn toàn chẳng bị giảm thiểu.
Cũng giống như người khác có một cây nến
đă thắp rồi, ḿnh có một cây nến chưa thắp,
người ta dùng cây nến ấy thắp sáng cho ḿnh, quang
minh nơi cây nến của người ta không tổn thất
mảy may. Cây nến của ḿnh được thắp
xong, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tùy hỷ công đức
là như vậy đó!
6) Thứ sáu, “thỉnh chuyển pháp luân”.
7) Thứ bảy, “thỉnh Phật trụ thế”.
Thỉnh chuyển pháp
luân, thỉnh Phật trụ thế không v́ chính ḿnh, mà nhằm
lợi ích chúng sanh. Quư vị gặp được thiện
tri thức, chúng sanh không biết, ta biết. Ta biết th́
ta thay họ thỉnh, thay mặt cho chúng sanh trong khu vực
ấy, thay cho chúng sanh khắp cả thế gian lễ thỉnh
thiện tri thức hăy v́ chúng ta giảng kinh, thuyết pháp.
Nhân duyên chín muồi, chúng ta phải thỉnh thiện tri thức
trụ lâu dài trong khu vực của chúng ta. Thiện tri thức
ở lâu dài nơi ấy th́ người ở nơi ấy
có phước. Chân thiện tri thức được
chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng
hộ, Ngài sống tại nơi này, mọi người chẳng
lẽ không được hưởng lây ư? Không phải
là ai nấy đều có phước hay sao? Phải là
người có trí huệ chân chánh, phước báo chân chánh
th́ mới biết khải thỉnh.
Trong thực tế, mười
điều nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát chỉ
gồm bảy điều, bảy điều trên đây chính
là các nguyện [của Phổ Hiền Bồ Tát]. So với
trước kia, hiện thời thỉnh chuyển pháp luân
thuận tiện hơn. Nay chúng ta có thể lợi dụng
những kỹ thuật khoa học cao cấp, lợi dụng
mạng thông tin quốc tế (Internet), lợi dụng truyền
h́nh vệ tinh (satellite TV) thỉnh pháp sư, thỉnh thiện
tri thức giảng kinh, thuyết pháp. Chúng ta đưa CD,
băng thâu h́nh lên Internet, phát trên truyền h́nh vệ tinh
ḥng lợi ích chúng sanh toàn thế giới. Làm như vậy
chính là ǵ? Đều thuộc về thỉnh chuyển pháp
luân và thỉnh Phật trụ thế. Hiện tại, hai
nguyện trên có thể gộp thành một, hai nguyện gộp
thành một, thật chẳng thể nghĩ bàn!
Ba điều nguyện
sau đó đều thuộc về hồi hướng, “thường tùy Phật học”
là hồi hướng Bồ Đề, “hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng
chúng sanh, “phổ giai hồi
hướng” là hồi hướng pháp giới và hồi
hướng pháp tánh. Do vậy, ba điều nguyện cuối
này thuộc về hồi hướng viên măn, đính kèm
theo. Mười đại nguyện này dẫn dắt quư vị
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bây giờ
đă hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp tiểu
đoạn thứ năm, câu cuối cùng là: “Quán thử tắc phát nguyện
cầu sanh, tự thuộc đương vụ chi cấp”
(Thấy như thế bèn phát nguyện cầu văng sanh, tự
lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách). Thời thời,
chốn chốn đều thấy Thế Tôn, Tổ Sư
ân cần, khẩn thiết khuyên dạy chúng ta, chỉ sợ
chúng ta lại bỏ lỡ cơ hội lần này. Bởi
vậy, chúng ta chỉ nên nhớ kỹ: Như trong phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói đến mười
đại nguyện, mười đại nguyện ấy
là cương lănh tu học. Ba điều nguyện cuối
tôi nói là hồi hướng. Hồi hướng với ư
nghĩa ǵ? Nhằm mở rộng tâm lượng, thực
sự khôi phục “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”.
Phải biết bổn nguyện của ḿnh vốn sẵn
tâm bao thái hư, lượng châu sa giới. Cái tâm này hiện
thời nhỏ nhoi dường ấy, thật đáng
thương, đáng xót xa lắm! V́ thế, dùng
phương pháp hồi hướng này để mở rộng
nó, khôi phục nó.
“Thường tùy Phật học” (thường học theo Phật), niệm
niệm chẳng quên lời Phật dạy, đó là hồi
hướng Bồ Đề. Trong những tôn giáo khác, chúng
tôi cũng thường xem kinh điển của họ, hết
thảy vinh diệu đều quy về Thượng Đế,
đều quy về Chân Chúa! Trong Phật pháp, chúng ta không
nói đến Thượng Đế, không có Chân Chúa, chúng
ta nói đến thầy, thầy dạy dỗ chúng ta. Con
người trong thế gian, vào thời cổ, mỗi
người khi có thành tựu, nhất định sẽ
quy sự vinh diệu về cha mẹ, về thầy, ḥng
báo ân dưỡng dục, báo ân thầy giáo hóa. Niệm niệm
chẳng quên, tâm cảm ân. Cái tâm cảm ân ấy trọn khắp
pháp giới hư không giới. Đó là hồi hướng
Bồ Đề.
“Hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh. Trong đây, quan trọng
nhất là Thuận, chẳng phải thuận tạm thời,
chẳng phải thuận hữu hạn, mà là hằng thuận,
vô hạn, vĩnh hằng! Quư vị thấy chư Phật
Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát giáo hóa hết thảy chúng sanh
trong chín pháp giới, nêu gương tốt cho chúng ta, đó
là thuận! Quư vị muốn học điều ǵ bèn giúp
cho, chỉ không giúp đỡ khi quư vị học sự bất
thiện, học theo cái ác th́ Ngài không dạy. Chứ nếu
là thiện th́ không ǵ không dạy! Đại thiện lẫn
tiểu thiện đều dạy hết, chẳng nệ
nhọc nhằn, chẳng sợ cay đắng, chẳng ngại
gian lao, chỗ nào có cầu bèn ứng ở chỗ đó.
Đức Thế Tôn
v́ chúng ta thị hiện, lúc đức Phật c̣n tại
thế - ta phải biết khi ấy đâu có công cụ
giao thông, người xuất gia toàn đi bộ - Phật
đi đến mọi nơi dạy dỗ. Vết chân Phật
in dấu khắp Ấn Độ, luôn du hành, cực
thỉnh, Phật bèn đến.
Học tṛ của Ngài
không ít vị là Bồ Tát, Bồ Tát không cần ai thỉnh,
chủ động đi đến, làm “bạn chẳng mời”
(bất thỉnh hữu) của hết thảy chúng sanh;
nhưng Phật nhất định phải thỉnh, v́
sao? Phật đại biểu cho sư đạo, tôn
sư trọng đạo, bởi thế, nhất định
phải thỉnh. Bồ Tát là đồng học, đồng
học chẳng cần phải nghiêm túc, “anh chẳng cần
mời tôi cũng đến”; nhưng trong đây vẫn có
một điều kiện, trước hết phải lắng
nghe xem [người mà ḿnh định tiếp độ] có
thể tiếp nhận hay không. Nếu có thể tiếp nhận,
hoan hỷ nghe, nghe được, hiểu được,
Bồ Tát bèn đến. Chẳng thỉnh Ngài cũng đến,
hằng thuận chúng sanh mà! Tuyệt đối chẳng chấp
trước vào một pháp môn. Quư vị nói pháp môn Niệm
Phật rất tốt, quá tốt ấy chứ! Nhưng
người ta không thể tiếp nhận th́ chẳng thể
đem pháp môn này ra nói. Họ muốn pháp ǵ, quư vị phải
biết! Người ấy có thể tiếp nhận điều
ǵ? Quư vị phải biết! Ưa thích điều ǵ? Quư vị
phải biết th́ quư vị thuyết pháp mới khế cơ.
Điều này những đồng học muốn học
kinh giáo phải đặc biệt chú ư, quán cơ (xem xét căn
cơ). Chư Phật Bồ Tát v́ thuyết pháp khế lư,
khế cơ cho chúng sanh nên dạy dỗ thành công.
Nguyện cuối cùng
là “phổ giai hồi hướng”, tức là hồi
hướng khắp tất cả, tâm lượng hoàn toàn
mở rộng, chẳng có một tí ti bó buộc nào,
đúng là trọn khắp hư không pháp giới; khắp
hư không pháp giới là Tánh Đức viên măn, Tánh Đức
mà! Hư không, pháp giới, cơi nước, chúng sanh đều
do tự tánh hiện, chỉ do Thức biến. Trong kinh Hoa
Nghiêm, đức Phật giảng rất rơ: “Duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”. Hồi hướng
khắp tất cả là hồi hướng về tâm tánh,
hết thảy đều quy về tự tánh, tất cả
hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian phát sanh
từ tự tánh, đến cuối cùng trở về tự
tánh, đó gọi là đại viên măn!
Bởi thế, nguyện
vương này “bất tương xả ly” (chẳng hề bỏ ĺa),
lúc con người lâm chung, tất cả hết thảy
đều tách rời, không mang theo được ǵ, chỉ
mang được theo một ḿnh nguyện vương này.
Tịnh nghiệp thù thắng khôn sánh đi theo quư vị, “nhất thiết thời trung, dẫn
đạo kỳ tiền” (trong hết thảy thời,
nó dẫn đường đằng trước), dẫn
dắt quư vị về đâu? Dẫn quư vị về Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đó chính là những
nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. “Quán thử tắc
phát nguyện cầu sanh, tự thuộc đương vụ
chi cấp” (Thấy như thế bèn phát nguyện cầu
văng sanh, tự lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách
trong hiện tại): “Đương”
(當) là “đương
hạ”, tức là hiện tiền. “Vụ” (務) là chuyện
bắt buộc phải làm, “cấp”
(急) là lập tức; [“đương vụ chi cấp”] tức là chuyện
lập tức phải làm. Nếu quư vị thực sự
hiểu rơ, thấu hiểu, sẽ phải làm ngay lập tức,
buông xuống hết thảy những thứ khác. Trong cuộc
sống thường ngày của chúng ta, khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ, hành vi, nhất định phải
tương ứng với kinh giáo.
Tinh thần và nghĩa
thú chân chánh của kinh giáo là ǵ? “Thọ tŕ độc tụng,
vị nhân diễn thuyết” (thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn
nói), là tám chữ ấy. Những ǵ Phật dạy
trong kinh giáo chúng ta tiếp nhận toàn bộ, đó là “thọ tŕ”. Tiếp thâu toàn bộ
xong, biến chúng hoàn toàn thành của chính ḿnh. Vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước của chính ḿnh là hư
huyễn, là giả, là nghiệp, nghiệp bất thiện;
thảy đều buông xuống hết, thay thế toàn bộ
bằng kinh giáo của đức Như Lai. Cách nh́n, cách
nghĩ, cách làm của chúng ta hoàn toàn tương ứng với
kinh giáo, đó là thọ tŕ! Thọ (受) là tiếp nhận, Tŕ (持) là ǵn giữ, chẳng để mất.
Chẳng để mất dẫu chỉ một ngày hay chỉ
trong một sát-na. Đó là Thọ Tŕ!
“Độc tụng” là ôn tập. Hằng ngày ôn tập, ôn cố
tri tân (ôn chuyện cũ để hiểu chuyện mới),
trường thời huân tu. Huân tu lâu ngày bèn khai ngộ! Ngộ
rồi th́ sao? “Vị nhân diễn thuyết” (v́ người khác diễn nói),
tức là thực hiện trong cuộc sống thường
nhật, thực hiện trong công việc, thực hiện
trong việc xử sự, đăi người, tiếp vật,
v́ người khác biểu diễn, v́ người khác diễn
nói, hết thảy đều v́ chúng sanh, chẳng v́ chính
ḿnh. Hết thảy đều nhằm biểu diễn cho
chúng sanh thấy: Đây là cuộc sống giác ngộ, cuộc
sống của Phật, Bồ Tát, cuộc sống đại
tự tại. Khổng lăo phu tử nói: “Học nhi thời
tập chi” (Học rồi luôn tu tập - tức thực
hiện). “Tập” (習) chính là
như nay ta nói là “thực hiện”, thực hiện trong cuộc
sống, thực hiện trong công việc, thực hiện
trong cách xử sự, đăi người, tiếp vật. “Thời”
(時) là luôn luôn, không gián đoạn; tiếp
đó là “bất diệc duyệt hồ” (cũng chẳng
vui sao); nói theo cách nói của nhà Phật là “pháp hỷ sung
măn”, thực sự sung
sướng, pháp hỷ sung măn! Sự vui sướng ấy
không do bên ngoài mà có, mà là từ trong tự tánh lưu lộ.
Tiểu tiết cuối cùng là:
“Kinh vân: Đắc dữ
chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”(Kinh dạy: ‘Được
cùng các thượng thiện nhân như vậy ở cùng một
chỗ’). Kinh văn viết
như vậy. “Sở vị Quán Âm, Thế Chí, bả thủ
cộng hành” (Ư nói: Quán Âm,
Thế Chí nắm tay cùng đi). “Bả thủ” (把手) là
nắm tay, tay trong tay! Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, quư vị đi theo Quán Âm, Thế Chí tức là tay nắm
tay cùng đi: Kinh hành, tản bộ, chuyện tṛ, đàm luận
Phật pháp, có phải là vui sướng lắm hay không? “Văn
Thù, Phổ Hiền thân vi thắng hữu” (Văn Thù, Phổ Hiền làm bạn
bè thân thiết thù thắng). Văn Thù và Phổ Hiền
đều là Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới
Hoa Tạng; các Ngài thường sống trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. “Thắng hữu”
là bạn bè tốt nhất, bạn bè thù thắng nhất.
Câu này miêu tả t́nh trạng cuộc sống và t́nh h́nh học
tập tại Tây Phương Cực Lạc thế giới:
Những người chung quanh ta toàn là thượng thiện
nhân. “Tắc huân đào tự hữu, thành Phật vô nan” (Nên tự được un
đúc, thành Phật chẳng khó), không sai chút nào! Chúng
ta trường thời huân tu, huân tập, un đúc, là do
nguyên nhân ấy, chứ không phải là chẳng có có nguyên
nhân.
Vậy th́ v́ sao trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới thành tựu nhanh
chóng đến thế? Thành tựu thù thắng dường
ấy? V́ sao trong thế gian này chúng ta chẳng thể đạt
được như thế? Xem đến đây quư vị
hiểu ngay. Trong thế gian chúng ta, làm sao có thể ngang vai
sát cánh cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, chẳng
có lẽ ấy! Bồ Tát quá cao! Nhưng trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới lại khác, v́
sao khác? Đều là học tṛ của A Di Đà Phật,
quan hệ giữa chúng ta là ǵ? Đồng học. Các vị
ấy theo A Di Đà Phật đă lâu, chúng ta mới theo. Về
thân phận, họ là lớp đàn anh, ḿnh là đàn em,
đàn anh đương nhiên phải chăm nom đàn em.
Chúng ta có câu hỏi ǵ ngại không hỏi Phật, hỏi họ
rất thuận tiện. Một ngày từ sáng đến tối
sống cùng một chỗ, cho nên thành Phật không khó.
Tiếp đó là mấy
câu tỏ ư mừng rỡ trước vận may: “Thử
sanh hữu hạnh, hoạch kiến, hoạch văn, khả
bất nguyện sanh dư?” (Đời này may mắn, được thấy,
được nghe, há chẳng nguyện văng sanh ư?)
Một đời này chúng ta thực sự may mắn, nói
đúng ra, ḿnh may mắn quá đỗi! Quư vị được
thấy chuyện này, được nghe kinh điển
này, há vẫn chẳng bằng ḷng văng sanh ư? Phải hiểu
đây là chuyện thành Phật trong một đời, là
đại sự nhân duyên bậc nhất trong các pháp thế
gian và xuất thế gian, không có chuyện ǵ có thể sánh bằng
chuyện này, chúng ta chẳng thể không biết như vậy.
Đúng là không thể nào so sánh được. Nếu để
lỡ việc này, đúng là tổn thất lớn lao không
ai có thể diễn tả được, lớn lao quá mà!
Nhân duyên để thành Phật trong một đời mà!
Ngẫu Ích đại
sư nói rất hay, v́ đâu ta coi thường? Coi thường
là v́ lẽ ǵ? Rất mong đến đó, nhưng không
nghiêm túc tu tập thực sự, nguyên nhân v́ đâu? Không
tin! Không thực sự tin, trong một đời này thậm
chí hằng ngày đọc kinh này, hằng ngày giảng kinh
này, nhưng bán tín, bán nghi. Kẻ ấy tin ǵ? Vẫn là tin
vào danh văn, lợi dưỡng trong thế gian này, hưởng
thụ ngũ dục lục trần, vẫn tin vào những
thứ ấy. Nếu bày hai chuyện ấy ở trước
mặt, họ sẽ chọn thứ ǵ? Chọn danh văn
lợi dưỡng, chọn lấy ngũ dục lục
trần thế gian, chẳng chọn lấy Niệm Phật,
lầm lẫn ở chỗ này! Bởi thế, đối
với việc này Tổ Sư rất đau ḷng, đau
ḷng v́ không phải là v́ trong một đời này [chúng sanh] không
có cơ hội nghe được, không phải v́ họ
nghiệp chướng sâu nặng đến nỗi cả
đời không được gặp gỡ pháp này, mà
đau ḷng bởi lẽ ǵ? Họ được gặp gỡ,
nhưng lại ra sao? Ở ngay trước mặt mà bỏ
lỡ, chẳng thể y giáo phụng hành, vẫn cứ tùy
thuận phiền năo tập khí của chính ḿnh như
cũ, vẫn tạo tác mười ác nghiệp như
cũ, biết làm cách nào nữa đây?
Người thực sự
hiểu rơ, thực sự tin tưởng sẽ làm hết
sức rơ ràng như thế này: Ngay lập tức đoạn
trừ mười ác nghiệp! Chẳng những không tạo
mười ác nghiệp nữa, mà c̣n quyết định
tu mười thiện nghiệp đạo. V́ sao? Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị ở
cùng một chỗ với các thượng thiện nhân, dẫu
chúng ta chưa phải là thượng thiện th́ cũng phải
là hạ thiện. Ngay cả hạ thiện cũng chưa
có, làm sao quư vị có thể ở cùng một chỗ với
các thượng thiện nhân cho được? V́ thế,
người thực sự cầu sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới nhất định
đoạn ác tu thiện; đó là điều khẳng
định, nhất định tương ứng với
Đại Bồ Đề. Chúng ta thường gọi tâm
Đại Bồ Đề ấy là chân thành. Người ấy
nhất định chân thành, trong hết thảy thời, hết
thảy chỗ, đúng là: “Tâm một mực chân thành”, không
có nhị niệm, tâm nhất định thanh tịnh, tâm nhất
định b́nh đẳng, tâm nhất định chánh
giác, tâm từ bi, niệm niệm khởi tâm động niệm
nhất định tương ứng với những thứ
ấy.
Chúng ta biết con
người giác ngộ, hồi đầu ấy trong một
đời này nhất định được sanh về
Tịnh Độ. Nếu nói tôi tin, tôi hằng ngày niệm
Phật, trong mười hai thời chẳng thiếu khóa lễ
nào tại Niệm Phật Đường, nhưng tâm
địa chẳng thanh tịnh, chẳng b́nh đẳng,
ngu si, tự tư, chẳng thành thật, vẫn chẳng
thể văng sanh! Cổ đức nói: “Nhất thiên niệm
thập vạn thanh Phật hiệu, hăm phá hầu lung dă uổng
nhiên” (Một ngày niệm
mười vạn câu Phật hiệu, rách toạc cổ họng
cũng uổng công) là v́ lẽ nào? Tâm hạnh chẳng
lành. Chỉ tốt lành đằng miệng, trong ba nghiệp
thân - khẩu - ư th́ thân và ư bất thiện, chỉ có cái miệng
từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, chẳng
chửi người, như vậy th́ chưa văng sanh
được! Quư vị xem kinh Vô Lượng Thọ th́
thấy đúng là như vậy, vừa mở đầu
kinh văn, đức Thế Tôn dặn ḍ chúng ta khéo giữ
ǵn tam nghiệp, đó là điều kiện cơ bản để
cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Điều lành đầu tiên là khéo giữ ǵn khẩu nghiệp,
chẳng chê bai lỗi người khác; khéo giữ ǵn thân
nghiệp, chẳng mất luật nghi; khéo giữ ư nghiệp,
thanh tịnh vô nhiễm. Đó là mười thiện nghiệp!
Niệm Phật mà vẫn tạo nghiệp th́ tương
lai đi về đâu? Đi vào địa ngục đạo!
Quư vị xem bộ
Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên
Thông Chương Sớ Sao do pháp sư Quán Đảnh soạn
vào đời Càn Long nhà Thanh. Trong đoạn cuối cùng của
bộ Sớ Sao này có nói đến một trăm thứ
quả báo khác nhau của người niệm Phật, câu
đầu tiên là người niệm Phật đọa A
Tỳ địa ngục. Lúc tôi c̣n trẻ, vừa mới
học Phật, đọc đến đoạn này hết
sức nghi hoặc: Dù niệm Phật không tốt, lẽ
ra chẳng đến nỗi đọa A Tỳ địa
ngục, sao lại đọa A Tỳ địa ngục
được? Tôi cầm sách đem hỏi thầy Lư: “Rốt
cuộc là chuyện ǵ đây? Con nghĩ không ra, không có cách
ǵ hiểu được!” Thầy Lư đọc rồi bảo:
“Đây là câu hỏi lớn, tôi chẳng giảng cho một
ḿnh ông! Khi tôi giảng kinh, sẽ giảng cho khắp đại
chúng”. Miệng niệm Di Đà nhưng chẳng đoạn
ác nghiệp, kẻ ấy vẫn tạo ác nghiệp. Ác nghiệp
nghiêm trọng nhất là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng! Hủy
báng Tam Bảo, lẽ đâu chẳng đọa địa
ngục? Niệm vị Phật nào cũng vô ích, không ai cứu
được hết!
Trong những tội ấy,
mọi người dễ phạm nhất là tội tự
khen ḿnh, chê người! Hiện nay, chúng ta cũng thường
thấy: Trong vô lượng pháp môn, chỉ có pháp môn của
tôi tốt, người khác đều trật hết! Quư vị
phải hiểu mỗi pháp môn đều do đức Phật
nói. Quư vị nói một pháp môn nào không đúng th́ quư vị nói
bậy rồi, những pháp môn ấy do ai nói? Do đức
Phật nói đấy. Chẳng phải quư vị đă báng
Phật ư? Pháp do đức Phật nói! Đừng nói
chi khác, cứ nói đơn giản là kinh Vô Lượng Thọ
thôi. Ai nấy đều biết kinh Vô Lượng Thọ
có mười hai bản dịch, nhưng trải qua nhiều
đời bảy bản bị thất truyền, chỉ
c̣n năm bản được truyền đến nay. Đối
với năm bản đó, nếu nói bản này hay, chê bản
kia dở th́ đều là báng Phật, chẳng được
nói như vậy. Nếu không hay th́ làm sao được
lưu truyền trong thiên hạ? Được lưu truyền
trong thiên hạ, nhất định phải có giá trị
lưu truyền. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc rất
coi trọng giá trị ấy! Nếu anh không có giá trị, mọi
người đâu chịu lưu thông; [thế mà các bản
dịch ấy được] lưu thông thành sách rất nhiều.
Chẳng giống như ngày nay khoa học kỹ thuật
phát triển, kỹ thuật ấn loát rất phát triển,
in sách rất dễ dàng; thời cổ chẳng dễ dàng như
vậy!
Ngay như thời
đầu Dân Quốc mới đây thôi, kể ra rất thích
hợp [để so sánh]; chúng ta thấy vào thời đầu
Dân Quốc vẫn c̣n in sách bằng bản khắc gỗ,
rất tốn công. Một người một ngày làm suốt
tám chín tiếng đồng hồ, in được bao
nhiêu bản? Trước kia, sách được in thành từng
quyển, một quyển không nhiều, đại khái chừng
sáu mươi hay bảy mươi trang. Một ngày chỉ
in có thể in sáu bản! Tôi đến viếng Kim Lăng
Khắc Kinh Xứ, họ ấn loát bằng bản khắc
gỗ. Khi đó tiến bộ hơn trước nhiều,
xưa kia phải dùng muội khói gỗ tùng [làm mực in], hiện
thời vẫn dùng muội khói gỗ tùng nhưng pha thêm mực
dầu, vậy là tiến bộ hơn trước nhiều!
Nhưng khi in th́ vẫn phải áp từng trang lên bản gỗ,
đặt giấy lên đó, rồi mới ép xuống, rất
tốn công! Làm tám tiếng một ngày, một người
chỉ in được sáu quyển. Hiện tại, máy
móc quá tiện lợi, in mấy ngàn bản trong ṿng ba bốn
ngày là xong, là hoàn tất, công việc được cơ
giới hóa. Trước kia dùng sức người, cho nên
giá trị của sách vở rất cao. Đúng là người
b́nh thường không mua nổi sách.
Khoảng năm Dân Quốc
hai mươi mấy, lúc đó tôi chưa đến mười
tuổi, chừng tám hay chín tuổi chi đó, Thương Vụ
Ấn Thư Quán in bộ [từ điển] Từ Nguyên, in
b́a cứng đẹp đẽ thành hai quyển thượng
- hạ. Bộ Từ Nguyên ấy chưa được in
đẹp đẽ như bây giờ, giá bao nhiêu? Năm
đồng Đại Dương. Năm đồng Đại
Dương giá trị ra sao? Thưa cùng quư vị, bằng
tiền ăn xài của một gia đ́nh bốn người
trong cả tháng. Phải mất một số tiền bằng
tiền tiêu dùng của một gia đ́nh bốn người
trong cả tháng mới mua được sách, mà chỉ mua được
một bộ tự điển thôi! Nói vậy, quư vị mới
hiểu khi đó sách đắt như thế nào! Người
giàu có mới tích lũy sách, sách khi ấy giống như
đồ sưu tập của người chơi đồ
cổ bây giờ vậy, coi sách như vật quư giá để
tặng nhau.
Đọc sách cũng hết
sức trân quư. Lúc đọc sách, nhất định chẳng
được khuyên hay chấm, không được phép! Muốn
khuyên hay chấm th́ làm cách nào? Phải chép lại. V́ thế,
trước kia người ta đọc sách, chắc chắn
là sách nào ḿnh ưa thích sẽ sao lại một bản. Tự
ḿnh sao lấy một bản th́ có thể khuyên hay điểm,
có thể dùng bút màu để đánh dấu. Sách bản gốc
là bảo bối! Tự ḿnh đọc xong lại c̣n truyền
cho đời sau, đời sau lại truyền xuống
đời sau nữa. Bởi thế, chẳng được
có chút ǵ nhơ bẩn, nhất định chẳng
được tổn hoại. Trước kia, sách vở
được quư trọng như thế, bây giờ đâu
có được như thế! Hiện nay, khoa học kỹ
thuật quá phát triển, sách vở biến thành rẻ mạt,
chẳng đáng giá, mọi người coi thường;
trước kia, sách vở đúng là của báu!
Bây giờ, chúng ta lại
xem tiếp đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt
đăi” (nhanh chóng vượt thoát, dứt bặt đối
đăi), phần này có bốn tiểu đoạn. Tiểu
đoạn thứ nhất là: “Hạ phàm chúng sanh, Niệm
Bất Thoái trung, siêu tận tứ thập nhất nhân vị
(Sơ Trụ chí Đẳng Giác), vị thị phàm phu, khước
bất lịch Dị Sanh, tất bổ Phật vị, dữ
Quán Âm, Thế Chí vô biệt” (Hạ phàm chúng sanh trong Niệm Bất Thoái, vượt
hết khỏi bốn mươi mốt địa vị
(từ Sơ Trụ đến Đẳng Giác Bồ Tát)
tu nhân, có nghĩa là kẻ ấy tuy là phàm phu nhưng chẳng
trải qua [các địa vị] Dị Sanh, ắt bổ
vào địa vị Phật, không khác ǵ Quán Âm, Thế Chí).
Trước hết, chúng ta đọc đoạn này. Câu
trên đây thuộc phân nửa trước của đoạn
này. Chữ “hạ phàm” chỉ ai? Những kẻ văng
sanh trong bậc Hạ thuộc Phàm Thánh Đồng Cư
độ, tức là ba phẩm Hạ sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, liền đắc
Niệm Bất Thoái. Chẳng những là Niệm Bất Thoái,
mà c̣n viên chứng Niệm Bất Thoái. Nếu chỉ nói
đơn giản là Niệm Bất Thoái th́ có thể nói là
kẻ ấy chỉ bằng với Sơ Trụ Bồ
Tát, chúng ta có thể hiểu như vậy. Nếu nói là “viên chứng ba thứ Bất
Thoái” th́ khác hẳn, v́ bậc viên chứng ba thứ Bất
Thoái là ai? Là Đẳng Giác Bồ Tát. Ở đây, Ngẫu
Ích đại sư khẳng định viên chứng ba thứ
Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát, cho nên Ngài viết:
“Siêu tận tứ thập nhất nhân vị” (vượt hết khỏi bốn
mươi mốt địa vị tu nhân). Bốn
mươi mốt địa vị khi c̣n đang tu nhân của
Bồ Tát là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa, và Đẳng Giác. Đúng
là khó tin! Bởi thế, phải nói kẻ
ấy là phàm phu nhưng trong một đời nhất
định thành Phật “tất bổ Phật
vị, dữ Quán Âm, Thế Chí vô biệt” (ắt bổ vào địa vị
Phật, chẳng khác ǵ Quán Âm, Thế Chí), không khác ǵ bậc
Đẳng Giác Bồ Tát cả! Kẻ ấy là hạ phàm
chúng sanh, ở trong thế giới Cực Lạc cớ sao
có thể thành được như vậy? Đó là chân
tướng sự thật của Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Tiếp theo đó là đoạn:
“Nhược vị
thị Nhất Sanh Bổ Xứ, khước khả danh phàm
phu, bất khả danh Đẳng Giác Bồ Tát” (Nếu bảo là Nhất
Sanh Bổ Xứ th́ chỉ có thể gọi là phàm phu, chẳng
thể gọi là Đẳng Giác Bồ Tát): Kẻ ấy là chúng sanh thuộc ba phẩm
Hạ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, nếu quư
vị nói kẻ ấy là Nhất Sanh Bổ Xứ th́ chẳng
thể nói như vậy được. V́ sao? V́ kẻ ấy
thuộc ba phẩm hạ văng sanh về Phàm Thánh Đồng
Cư độ, là phàm phu mà! Một phẩm phiền năo
chưa đoạn, chẳng thể gọi kẻ ấy là
Đẳng Giác Bồ Tát được! Sự việc này
“thử giai giáo vơng sở bất năng thâu, sát vơng sở
bất năng lệ” (chẳng
thể tính gộp trong giáo vơng được, chẳng thể
xếp vào sát vơng được). Chữ “giáo vơng”
chỉ giáo học; trong giáo học không thể có t́nh huống
như vậy được. Trong giáo vơng, theo Ngũ Thừa
Phật giáo th́ pháp để phàm phu học tập là pháp
Nhân Thiên “Ngũ Giới, Thập Thiện, tứ vô lượng
tâm”; họ học những thứ đó. Thanh Văn học
pháp Tứ Đế, Duyên Giác học pháp Thập Nhị
Nhân Duyên, Bồ Tát học lục độ vạn hạnh,
đó là nói về Giáo! Những điều đó không có cách
ǵ thích ứng với t́nh trạng trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, làm sao phàm phu lại ở cùng một
chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát được?
Khác nào học tṛ tiểu học lại học cùng một
lớp với nghiên cứu sinh, thành ra thể thống ǵ nữa?
“Sát vơng sở bất
năng liệt” (Chẳng thể xếp vào sát vơng): Chữ “sát vơng” chỉ thế giới.
Trong tất cả thế giới không có sự việc này!
Phàm phu quyết định phải thuộc vào Phàm Thánh
Đồng Cư độ, quyết định chẳng
dự vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Thanh
Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát quyết định
thuộc Phương Tiện Hữu Dư độ, chẳng
thuộc vào Thật Báo Trang Nghiêm độ. Pháp Thân Bồ
Tát quyết định ở trong Thật Báo Trang Nghiêm
độ, chẳng ngụ nơi Phàm Thánh Đồng
Cư độ. Sát vơng là như vậy đó. Tây
Phương Cực Lạc thế giới phá cái lệ ấy,
người thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ ở
cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát, mà Đẳng
Giác Bồ Tát thuộc Thật Báo Trang Nghiêm độ. Bởi
thế, Giáo Hạ của mười phương thế
giới không có sự t́nh này, không có cái lệ này. Trong bốn
cơi [Tịnh Độ của một thế giới Phật]
cũng không có trạng huống này, nên [pháp môn Tịnh Độ]
gọi là pháp môn đặc biệt. Đặc biệt ở
chỗ nào? Ở đây chúng ta thấy rơ thật là đặc
biệt!
Đoạn này giảng
“đốn siêu tuyệt đăi” như thế đó, rất
trọng yếu. Sau khi quư vị thực sự hiểu
được rồi th́ ḷng tín nguyện đối với
việc cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
chẳng những sẽ sanh khởi mà c̣n kiên định nữa.
Đối với việc một đời sanh về Tây
Phương Tịnh Độ, đây chính là chỗ mấu
chốt.
“Đương tri
ngô nhân đại sự nhân duyên, Đồng Cư nhất
quan, tối nan thấu thoát” (Nên biết trong đại sự nhân
duyên của chúng ta th́ một ải Đồng Cư khó
vượt thoát nhất). Câu
này luận về các cơi Phật thông thường. Phàm Thánh Đồng Cư Độ là ǵ? Là lục
đạo luân hồi. Vượt khỏi luân hồi lục
đạo rất khó khăn, “tối nan thấu thoát”
(khó vượt thoát nhất).
Phật, Tổ nói như vậy, chúng ta phải chú tâm suy
nghĩ, quan sát, không được lầm lẫn chút nào.
Hăy suy nghĩ: Nay chúng ta đang sống trong cái ải Đồng
Cư này, chúng ta có năng lực ǵ để vượt
thoát đây? Từ xưa, tổ sư đại đức
nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, trừ Tịnh Độ
ra, quư vị tu hành bất cứ pháp môn nào cũng không thể
thành tựu trong một đời được! Không thể
thành tựu sẽ chẳng thể vượt thoát luân hồi
được! V́ sao? Bất luận quư vị tu học một
pháp môn nào, công phu định lực nhất định phải
là Cửu Thứ Đệ Định th́ mới có thể
vượt thoát tam giới. Tứ Thiền Bát Định
trong tam giới không thể vượt thoát lục đạo
luân hồi được!
Bởi thế, nếu
quư vị suy nghĩ: Quư vị muốn vượt thoát luân
hồi lục đạo th́ công phu định lực phải
cao hơn Bát Định. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
dạy sở chứng của A La Hán là Đệ Cửu Định,
Cửu Thứ Đệ Định mới vượt
thoát được! Chúng ta có năng lực ấy hay
chăng? Hiện tại, các nhà khoa học nói đến những
chiều không gian khác nhau, Phật pháp gọi là “vượt
thoát luân hồi lục đạo”. Cơi trời gồm hai
mươi tám tầng, tức là trong Tam Giới có hai
mươi tám tầng trời, nghĩa là hai mươi tám thứ
không gian có chiều khác nhau. Quư vị phải vượt khỏi
hai mươi tám thứ không gian có chiều khác nhau mới
vượt được cái ải Đồng Cư này! Xưa
kia vào thời Chánh Pháp và Tượng Pháp th́ có người
làm được, chứ trong thời kỳ Mạt Pháp th́
không được! Đàm Hư đại sư đă nói
về t́nh h́nh này rất khéo, quư vị cứ đọc
sách của cụ Đàm sẽ biết ngay; hăy đọc
cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục là truyện kư
của cụ Đàm.
Tôi chưa từng gặp
mặt Sư, nhưng được nghe băng thâu âm lời
Sư khai thị trong kỳ đả Phật Thất tại
Hương Cảng. Băng ghi âm ấy nay chúng tôi đă chế
thành CD, chỗ chúng tôi có lưu truyền. Băng thâu âm lời
khai thị ấy, tôi đă nghe ít nhất hơn trăm lần,
nghe rất thích, rất cảm động. Sư giảng
rất hay. Suốt một đời Sư (lúc đó Sư đă chín mươi tuổi), chưa
hề thấy hay nghe nói có một người nào trong Thiền
Tông khai ngộ cả, chưa từng nghe nói đến.
Sư nói đă từng gặp những người tham Thiền
đắc Định, chứ chưa hề gặp người
khai ngộ!
Đắc Thiền Định
chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo.
Nếu đắc Sơ Thiền hay Nhị Thiền th́ nói
thật ra sẽ sanh trong Tứ Thiền Thiên, không thoát khỏi
luân hồi lục đạo. Bậc đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới thoát khỏi
được. Bậc đại khai viên giải bên Giáo, đại
sư cũng chưa từng nghe nói có một ai. Người
niệm Phật văng sanh chẳng những nghe nói rất nhiều,
mà cả đời Sư được chính mắt thấy
phải hơn hai mươi trường hợp. Sư
thường khuyên người khác niệm Phật cầu
sanh về Tịnh Độ; trừ phương pháp này ra,
không c̣n phương pháp thứ hai nào nữa cả. Đấy
là lời tŕnh bày về kinh nghiệm suốt cả một
đời của cụ Đàm. Ngài niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, lúc mất cũng là ngồi qua đời.
A! Nay đă hết giờ rồi.
Tập 23
Chúng ta xem tiểu
đoạn thứ hai của đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt đăi”.
Chúng tôi đọc một lượt: “Đương
tri ngô nhân đại sự nhân duyên, Đồng Cư nhất
quan, tối nan thấu thoát, duy Cực Lạc Đồng Cư,
siêu xuất thập phương Đồng Cư chi ngoại.
Liễu thử phương năng thâm
tín Di Đà nguyện lực, tín Phật lực
phương năng thâm tín danh hiệu công đức, tín
tŕ danh phương năng thâm tín ngô nhân tâm tánh, bổn bất
khả tư nghị dă”(Nên biết trong đại sự nhân duyên của
chúng ta, một cửa ải Đồng Cư khó vượt thoát nhất. Chỉ
riêng cơi Đồng Cư của Cực Lạc vượt
ngoài các cơi Đồng Cư của mười
phương. Hiểu rơ điều đó th́ mới có thể
tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Phật Di
Đà, tin vào Phật lực th́ mới có thể tin tưởng
sâu xa nơi công đức của danh hiệu. Có tin vào tŕ
danh th́ mới có thể tin tưởng sâu xa tâm tánh của chúng
ta vốn chẳng thể nghĩ bàn vậy!)
Tuy
những điều được nói trong đoạn này trong
phần trên chúng tôi đă nói không ít, nhưng đoạn này
có ư nghĩa rất sâu, hết sức trọng yếu. Kinh
Pháp Hoa giảng “đại sự nhân duyên” là “khai thị
ngộ nhập tri kiến Phật”, đó là đại
sự nhân duyên của chúng ta. Nói cách khác, cái gọi là đại
sự nhân duyên chính là kiến giải, tư tưởng, và
trí huệ của chúng ta phải viên măn rốt ráo giống
như Phật. Hết thảy nhân quả, cơi nước,
chúng sanh trong mười phương ba đời không ǵ chẳng
biết, đó chính là đại sự nhân duyên.
Chẳng
những không ǵ chẳng biết, mà c̣n không ǵ chẳng thể,
chính ḿnh thực sự làm chủ vũ trụ; Thường,
Lạc, Ngă, Tịnh, bốn việc này đều viên măn hiện
tiền. Nói thật ra, tự tánh của mỗi chúng sanh
đều đầy đủ viên măn bốn việc này; dẫu
đầy đủ nhưng lại mê mất tự tánh,
nên bốn việc này hoàn toàn không có. Bởi vậy, chúng ta
nói “[viên măn] hiện tiền” th́ đó chỉ là khôi phục
tự tánh, nhà Phật thường gọi là “minh tâm kiến
tánh”, hay là “đại sự nhân duyên”. Đó là cảnh giới
tu học tối cao, là mục tiêu chung cục của chúng
ta. Phải bắt đầu thực hiện từ
đâu? Từ một cửa ải Đồng Cư, phải
khởi đầu từ đó. Trước hết, ta phải
đột phá được cửa ải này, cũng có
nghĩa là phải vượt thoát luân hồi lục đạo.
Khó lắm! Hôm qua, tôi đă thưa cùng quư vị, thực sự
khó lắm!
Chúng
ta không có năng lực vượt thoát, nay đức Thế
Tôn dạy cho chúng ta một phương pháp, chẳng cần
phải vượt thoát vẫn có thể đột phá
được, làm thế nào vậy? Nay chúng ta đang mang
thân phận con người trong lục đạo, dùng ngay
thân phận này để di dân sang Tây Phương Cực Lạc
thế giới, vẫn mang thân người. Chúng ta mang thân người
không có cách ǵ di dân lên thiên đạo, nhưng từ nhân đạo
[tại Sa Bà] di dân sang nhân đạo [bên Cực Lạc] chẳng
phải là chuyện khó. Chúng ta di dân sang Phàm Thánh Đồng
Cư độ của Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Phàm Thánh Đồng Cư độ cơi ấy rất
đặc biệt, “duy Cực Lạc Đồng Cư,
siêu xuất thập phương Đồng Cư chi ngoại”
(chỉ riêng cơi Đồng Cư của Cực Lạc
là vượt thoát ngoài các cơi Đồng Cư trong mười
phương). Các cơi Đồng Cư của chư Phật,
Bồ Tát trong mười phương ba đời đều
chẳng sánh bằng cơi Đồng Cư của thế giới
Cực Lạc.
Ấy
là v́ trong thế giới Cực Lạc, cơi Đồng
Cư, cơi Phương Tiện, cơi
Thật Báo, cơi
Thường Tịch Quang dung hợp thành một thể, giống
như bốn ngọn đèn vậy! Tịch Quang là ngọn
đèn lớn, chúng ta nói nó có độ sáng là một vạn
chi quang[2],
ngọn đèn ấy sáng bừng. Cơi Thật Báo [là ngọn
đèn] có độ sáng một ngàn chi
quang. Độ sáng [của ngọn đèn] Phương Tiện
Độ là một trăm chi quang. Cơi Đồng
Cư chỉ sáng bằng một ngọn nến hay một
chi quang. Nay cả bốn ngọn đèn ấy đều
được đặt trong cùng một căn pḥng, quư vị
thấy có diệu kỳ hay không? Cây đèn một nến của
ta cũng sáng khắp cả gian pḥng, cây đèn sáng chói
trăm nến cũng chiếu khắp pḥng, cây đèn sáng
chói một ngàn nến cũng chiếu khắp pḥng. Cây
đèn một vạn nến cũng chiếu khắp pḥng,
dung hợp thành một thể. Cơi Đồng Cư của
thế giới Cực Lạc giống như vậy
đó. Cơi Đồng Cư của mười phương
thế giới giống như mỗi căn pḥng chỉ có
một ngọn đèn một nến, không giống với Cực
Lạc; v́ thế, Cực Lạc vượt ngoài [các cơi Đồng
Cư trong các thế giới ở] mười
phương.
“Liễu thử” (hiểu rơ điều
đó), Liễu (了) là “minh liễu” (hiểu rành rẽ, rơ ràng). Quư
vị phải hiểu rơ chân tướng sự thật này
th́ quư vị mới có thể “thâm tín Di Đà nguyện lực”
(tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Phật
Di Đà), nguyện lực của bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn! V́ sao
t́nh h́nh cơi Đồng Cư của thế giới Cực
Lạc lại được như thế? V́ nó được
hiển hiện bởi nguyện lực của A Di Đà
Phật. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư
giải thích điều này rất khéo: Chủ yếu nhất
là Di Đà nguyện lực, kế đến là công lực
niệm Phật của chúng ta, tức là sức mạnh của
tịnh nghiệp. Di Đà nguyện lực giống như
ngọn đèn sáng một vạn nến, tịnh nghiệp
của chúng ta giống như ngọn đèn một nến,
đến nơi đó bèn có thể dung hợp. Nhờ vào
nguyện lực của A Di Đà Phật, quang minh ngọn
đèn một nến của chúng ta cũng lớn phổng
lên, chẳng khác quang minh của A Di Đà Phật cho mấy,
đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Quư vị hăy suy
nghĩ thí dụ này của tôi, hăy quan sát, dần dần quư
vị sẽ lănh hội được. Đó chính là điều
chẳng thể t́m thấy trong các thế giới của
mười phương chư Phật.
Chúng
ta “tín Phật lực, phương năng thâm tín danh hiệu
công đức”
(tin vào Phật lực
mới có thể tin tưởng sâu xa công đức của
danh hiệu). Công đức của danh hiệu chẳng thể
nghĩ bàn! Đối với mỗi câu trong đoạn
này, chúng ta phải đặc biệt chú ư đến chữ
“thâm tín” (tin tưởng sâu xa), một mảy hoài nghi
cũng chẳng có, tin tưởng sâu xa đấy nhé! Danh
hiệu có công đức thù thắng. Trong những năm
qua, chúng tôi giảng kinh luận Tịnh Độ, đă
tŕnh bày cùng mọi người rất nhiều lần. Qua
việc so sánh nhiều tầng, chúng ta sẽ hiểu
được công đức của danh hiệu, v́ mỗi
khi nói danh hiệu công đức thù thắng khôn sánh, chúng
tôi thường nghe nói: “Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng
bằng cách nào? ” Chẳng thể đoạn mối nghi hoặc
ấy, sẽ không đạt được lợi ích
nơi công đức của danh hiệu.
Tôi
đă từng tŕnh bày cùng mọi người nhiều lần:
Trong thời đại Tùy - Đường, có không ít cao
tăng đại đức nghiên cứu hết thảy các
kinh do đức Phật đă nói trong suốt bốn
mươi chín năm, [muốn t́m ra] bộ nào đại
biểu cho toàn bộ những lời dạy trong bốn
mươi chín năm của đức Thế Tôn. T́m
được bộ kinh nào có thể đại biểu
cho toàn bộ giáo pháp th́ cũng chính là khẳng định
kinh ấy là bậc nhất trong hết thảy các kinh;
[kinh ấy] sẽ là một hội thù thắng khôn sánh trong
bốn mươi chín năm thuyết pháp của đức
Thế Tôn. Tổ sư đại đức các tông phái
đều đồng ư, đều thừa nhận Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là kinh bậc nhất
do đức Phật nói ra. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm
được gọi là “căn bản pháp luân”. Lúc tôi
vừa mới tiếp xúc Phật giáo sơ sài, tiên sinh
Phương Đông Mỹ đă giới thiệu kinh Hoa
Nghiêm là khái luận Phật giáo, các kinh điển khác đều
là những phần đặc biệt thuyết minh tường
tận một bộ phận nào đó của kinh Hoa Nghiêm,
c̣n kinh Hoa Nghiêm giảng về toàn thể. Thuyết này của
tiên sinh Phương Đông Mỹ rất dễ hiểu! Phật
pháp khái luận, đúng là như vậy!
So
sánh hai bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh và Vô Lượng Thọ Kinh, các tổ sư đại
đức cũng đều thừa nhận kinh Vô Lượng
Thọ là bậc nhất. Hoa Nghiêm đă là đệ nhất,
sao Vô Lượng Thọ Kinh lại là đệ nhất?
Giải thích cách nào đây? Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng
là “mười đại nguyện vương của Phổ
Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc”, kinh Vô
Lượng Thọ chính là Cực Lạc; c̣n kinh Hoa Nghiêm
đến cuối cùng quy vào Cực Lạc. Bởi thế,
so với Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất!
Cổ đức nói đến đây thôi.
Trên
cơ sở này, chúng ta lại tiến thêm một bước
nữa. Nay đối với kinh Vô Lượng Thọ,
chúng ta chọn bản hội tập của cụ Hạ
Liên Cư. Trong bản hội tập, cụ chia toàn bộ
kinh văn thành bốn mươi tám phẩm, chúng ta phải
hỏi phẩm nào là bậc nhất trong bốn mươi
tám phẩm đó? Chúng ta phải t́m cho ra phẩm bậc nhất.
Các tổ sư đại đức cũng đều
nói, phần tinh vi đẹp đẽ nhất, không ǵ sánh
bằng của kinh Vô Lượng Thọ chính là bốn
mươi tám nguyện; tức là phẩm thứ sáu của
kinh Vô Lượng Thọ, phẩm thứ sáu là bậc nhất.
Phẩm kinh ấy do chính đức A Di Đà Phật nói
ra, Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ thuật lại cho chúng ta biết
mà thôi. Thuật lại, không thêm, không bớt, nghĩa là A Di
Đà Phật nói làm sao, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng kể lại
như vậy, kể lại cho chúng ta nghe bốn
mươi tám nguyện do A Di Đà Phật đă phát thệ.
Phẩm này là phẩm bậc nhất của toàn bộ cuốn
kinh. Nói thật ra, bốn mươi tám nguyện giống
như hiến pháp của một quốc gia, chúng chính là hiến
pháp của thế giới Cực Lạc.
Bốn
mươi tám nguyện tức bốn mươi tám điều,
điều nào là bậc nhất? Lại t́m ṭi! Đây
cũng chính là ư kiến của các tổ sư đại
đức, nguyện thứ mười tám là bậc nhất.
Nguyện thứ mười tám nói những ǵ? Mười
niệm ắt sanh! Điều này nói lên danh hiệu có công
đức chẳng thể nghĩ bàn! Nguyện thứ
mười tám nói về danh hiệu: “Lâm mạng chung thời,
nhất niệm, thập niệm, tất sanh Tịnh Độ”
(Lúc lâm chung, từ một niệm đến mười
niệm ắt sanh về Tịnh Độ). Do đây biết
rằng: Chấp tŕ danh hiệu là trung tâm của bốn
mươi tám nguyện này; bốn mươi tám nguyện
chỉ nhằm giải thích công đức của danh hiệu.
Kinh Vô Lượng Thọ giải thích bốn mươi tám
nguyện, kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm nhằm giải thích kinh Vô Lượng Thọ. Cả
một Đại Tạng Giáo, giáo pháp của Đại Tạng
Kinh chính là hết thảy các pháp do đức Thế Tôn
đă nói trong suốt bốn mươi chín năm chỉ
nhằm giải thích kinh Hoa Nghiêm đó thôi!
Có
quan sát như vật quư vị mới hiểu danh hiệu
chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, Thiện Đạo
đại sư nói: “Sở dĩ đức Như Lai xuất
hiện trong thế gian, chỉ nhằm để nói biển
bổn nguyện của A Di Đà Phật”. Lời nói
này chẳng nhằm nói riêng về Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài
không nói “sở dĩ Phật Thích Ca xuất hiện trong
thế gian” mà nói là “sở dĩ Như Lai...”. Nói “Như
Lai” nhằm chỉ chung mười phương ba đời
hết thảy chư Phật Như Lai ứng hóa trong chín
pháp giới của vô lượng vô biên cơi Phật, chỉ
nhằm một chuyện, nhắm vào một đại sự
nhân duyên: Giới thiệu Tịnh Độ của A Di
Đà Phật với hết thảy chúng sanh, chỉ để
như vậy mà thôi! Thật tuyệt diệu! Bởi vậy,
chúng ta tin vào Di Đà nguyện lực th́ mới có thể
tin sâu xa công đức chẳng thể nghĩ bàn của
danh hiệu!
Nhất
tâm tŕ danh ắt sanh về Tịnh Độ. Hăy nhớ kỹ
trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường
dạy chúng ta: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng
sanh” (Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng), kể
cả trong cuộc sống thường ngày của chúng ta,
tâm tưởng là chủ tể. Tâm của quư vị chẳng
lành th́ thân thể và hoàn cảnh chung quanh cũng trở thành
chẳng tốt đẹp. Thân và tâm phải tốt lành!
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức
Phật dạy chúng ta: “Thường niệm thiện pháp,
tâm thiện; tư duy thiện pháp, ư thiện; quán sát thiện
pháp, hạnh thiện” (thường nghĩ đến
thiện pháp là tâm thiện; tư duy thiện pháp là ư thiện;
quán sát thiện pháp là hạnh thiện). Thuần thiện,
chẳng để mảy may bất thiện xen tạp th́
chính là hạng người nào? Chính là Phật, là Như Lai.
Chúng ta muốn làm Phật, muốn làm Như Lai th́ không có ǵ
khác cả, phải thuần tịnh, thuần thiện, nhất
định chẳng để nhiễm ô mảy may, đó
chính là điều tự ḿnh có thể làm được.
Người khác gây nhiễm ô cho chúng ta! Nếu chúng ta tiếp
nhận ḿnh th́ mới bị nhiễm ô; không tiếp nhận
sẽ chẳng thể nhiễm ô. Bởi thế, tự
ḿnh phải biết giữ ǵn sự thanh tịnh và thuần
thiện của chính ḿnh, điều đó rất trọng
yếu. V́ sao không làm?
Trong
quá khứ không biết th́ c̣n tha thứ được, nay
chúng ta đă tiếp xúc Phật pháp nhiều năm ngần
ấy, đă biết rồi. Biết rồi mà quư vị không
làm, sai trái là do chính ḿnh! Không thể sốt sắng làm th́
nói chung là có nguyên nhân, nguyên nhân ǵ vậy? Quư vị chẳng
hiểu biết triệt để, chẳng biết rơ
ràng. V́ thế, biết một phần, hiểu một nửa,
bán tín, bán nghi, tạo thành chướng ngại, cho nên chẳng
thể làm được! Nếu quư vị thực sự
biết th́ lẽ đâu chẳng thể làm được!
Lẽ đâu chẳng vui thích làm! Không hề có, trong thế
gian t́m đâu ra một con người như vậy? [Hiểu
biết triệt để] sẽ có lợi ích vô lượng
vô biên cho chính ḿnh, chúng ta quả thật phải khéo suy
nghĩ cặn kẽ!
Trong
đây lại có chân lư, chân lư ǵ vậy? “Tín tŕ danh, phương
năng thâm tín ngô nhân tâm tánh, bổn bất khả tư nghị
dă” (Tin vào tŕ danh th́ mới có thể tin tưởng sâu
ra rằng tâm tánh của chúng ta vốn chẳng thể
nghĩ bàn). Câu này là chân lư đấy! Tâm tánh của chúng ta
chẳng thể nghĩ bàn, kinh Hoa Nghiêm dạy: “Duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”, tâm tánh chẳng thể
nghĩ bàn! Hư không do đâu mà có? Thế giới từ
đâu mà có? Vô lượng vô biên cơi nước từ
đâu mà có? Mọi loài chúng sanh từ đâu mà có? Do tâm hiện,
thức biến! Tâm thuần tịnh thuần thiện, ngay
cả thiện lẫn tịnh cũng chẳng
có dấu vết, chẳng để lại dấu vết
v́ thuần mà! Trong Thức có thiện niệm, có ác niệm.
Quư vị thấy trong kinh luận của Pháp Tướng
Duy Thức Tông, đức Phật nói trong Tâm Sở có
Thiện Tâm Sở và Ác Tâm Sở.
Tâm
Sở vô lượng vô biên, đức Phật quy nạp thành
năm mươi mốt loại. Trong đó, Thiện Tâm Sở
gồm mười một loại, Tâm Sở bất thiện
là phiền năo gồm hai mươi sáu loại. Nay chúng ta phải
làm sao dẹp hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện qua
một bên, không đếm xỉa đến chúng nữa,
phải làm cho mười một Tâm Sở thiện được
nẩy nở, rạng rỡ. Nhất định phải
vùi lấp, phải vượt qua hai mươi sáu Tâm Sở
bất thiện th́ chúng ta mới ḥng thành công. Tâm tánh vốn
chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vấn đề là ǵ?
Là giác, không giác th́ mê, mê là phàm phu, giác là Phật, Bồ Tát.
Phàm phu và Phật, Bồ Tát không hai, không khác, chỗ sai khác
chính là giác hay mê khác nhau. Giác ngộ th́ phàm phu thành Phật, chẳng
giác ngộ bèn là mê hoặc, sẽ thành phàm phu, chuyện là như
vậy đó. Lại xem tiếp đoạn sau:
“Cụ thử thâm tín, phương năng phát ư đại
nguyện, kinh trung ‘ưng đương’ nhị tự, tức
chỉ thâm tín” (Có đầy
đủ ḷng tin sâu xa ấy th́ mới có thể phát đại
nguyện, hai chữ “ưng đương” (phải nên) trong kinh chỉ
ḷng tin sâu xa ấy). Trong kinh,
đức Phật khuyên dạy chúng ta: “Ưng đương phát nguyện,
nguyện sanh bỉ quốc” (phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cơi
nước kia), sách Yếu Giải nhắc đến hai
chữ “ưng
đương” này. V́ thế,
chúng ta hiểu rơ tuy chưa thể nói là triệt để,
nhưng cũng là hiểu rơ kha khá. Cơi Phàm Thánh Đồng
Cư Độ của Tây Phương Cực Lạc thế
giới do đại nguyện và Chủng Trí của A Di
Đà Phật hiện thành, do tịnh nghiệp niệm Phật
của chúng ta cảm vời, cảm ứng đạo
giao! Do tâm tánh của chính ḿnh hiện, tức là “duy tâm Tịnh
Độ, tự tánh Di Đà”, hết thảy pháp chẳng
tách rời tự tánh, [tự tánh] chính là tâm tánh của chính
ḿnh. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
cũng do tâm tánh của chính ḿnh biến hiện, do nghiệp
nhơ (nhiễm nghiệp) cảm thành. Tây Phương Cực
Lạc thế giới do tịnh nghiệp cảm thành, do tịnh
nghiệp “đồng tâm, đồng nguyện, đồng
đức với A Di Đà Phật” mà cảm thành. Nếu
chúng ta chẳng dốc công phu vào ngay chỗ này th́ là trật
rồi! Bởi thế, hai chữ “ưng
đương” trong kinh chính là nói về ḷng tin sâu đậm.
“Thâm tín phát nguyện,
tức Vô Thượng Bồ Đề” (tin sâu phát nguyện
chính là Vô Thượng Bồ Đề). Từ trước
đến nay chưa có ai giảng như vậy. Chúng ta thấy
rất nhiều người niệm Phật thực sự
văng sanh, nhưng họ là hạng người như thế
nào? Không biết chữ, về căn bản chẳng hiểu
kinh giáo chi hết, họ biết niệm kinh A Di Đà, nhưng
kinh A Di Đà có ư nghĩa ra sao, họ hoàn toàn không biết,
chỉ biết niệm A Di Đà Phật, vẫn nghiễm
nhiên văng sanh. Văng sanh thực sự có tướng lành, đứng
mất, biết trước lúc đi, lúc nào A Di Đà Phật
sẽ đến đón ḿnh; hoặc ngồi mất,
người ấy không biết chữ! V́ thế, chúng ta đọc
kinh Vô Lượng Thọ thấy nói muốn văng sanh ắt
phải có đủ điều kiện là “phát Bồ
Đề tâm, một dạ chuyên niệm”, chúng ta biết:
Đối với người ấy, một dạ chuyên
niệm không có vấn đề ǵ, chúng ta có thể khẳng
định điều này, nhưng người ấy
chưa từng phát Bồ Đề tâm! Người ấy
không phát Bồ Đề tâm, v́ sao vẫn có thể văng sanh?
Tôi ôm nghi vấn ấy cả mười mấy năm, cứ
nghi măi. Về căn bản, bà lăo niệm Phật văng sanh
kia chẳng biết Bồ Đề tâm là ǵ cả!
Khởi
Tín Luận nói đến trực tâm, thâm tâm, đại bi
tâm; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói đến chí thành tâm,
thâm tâm, và hồi hướng phát nguyện tâm, bà cụ làm
sao hiểu được những thứ đó, nhưng
sao vẫn văng sanh? Lúc đọc Yếu Giải, đọc
đến đây tôi mới hiểu rơ. Một câu nói này của
Ngẫu Ích đại sư trọng yếu hơn tất
cả, nó đă ban cho chúng ta lời giải đáp. “Thâm
tín phát nguyện, tức Vô Thượng Bồ Đề”.
Về căn bản, người ấy không hiểu Vô
Thượng Bồ Đề là ǵ, nhưng tin rất sâu,
phát nguyện, không hoài nghi chút nào, đó chính là tâm Vô Thượng
Bồ Đề. Khi ấy, đọc tới câu này, tôi suy
nghĩ măi, càng nghĩ càng có lư, Ngẫu Ích đại sư
giảng không sai lầm!
Bởi
thế, những người ấy là Hạ Hạ Căn,
chúng ta thường gọi là kẻ ngu, không có trí huệ,
là người ngu, ngu ngốc nhất, chính là như cổ
nhân thường nói “ngu bất khả cập” (ngu
không ai bằng), nhưng chúng ta thua xa họ. Họ cái ǵ
cũng không biết, nhưng quư vị dạy họ, họ
bèn tin, tin chân thành, tin tưởng thực sự, chẳng
hoài nghi; dạy họ cầu sanh Tịnh Độ họ
bèn thực sự phát nguyện, họ nghiễm nhiên buông thế
gian này xuống, chẳng có mảy mảy lưu luyến nào!
Kết quả: Niệm Phật dăm ba năm bèn thành công.
Thọ mạng vẫn c̣n, nhưng họ không cần đến
nữa, bèn văng sanh. Bởi thế, đến đây chúng ta
mới thực sự hiểu rơ: “Tin sâu, phát nguyện”
chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Quư vị thấy
họ đáp ứng tiêu chuẩn “tin sâu, phát nguyện, một dạ
chuyên niệm”. Bản thân chúng ta vẫn hiểu lơ mơ, vẫn
ngờ vực, lo âu trùng trùng, công phu không đắc lực.
Những ông già bà cả kia chuyện ǵ cũng không hiểu,
nhưng công phu đắc lực, nay ta gọi là “tập
trung tinh thần, tập trung ư chí”, nên có sức mạnh to lớn!
Tập trung vào đâu? Tập trung nơi thế giới Cực
Lạc, tập trung nơi A Di Đà Phật, phát sanh
năng lượng to lớn, cảm ứng đạo
giao cùng A Di Đà Phật!
Mấy hôm trước, pháp sư
Ngộ B́nh hạ tải (download) từ Internet xuống một
vài văn kiện. [Theo những văn kiện đó], đại
khái ở Đài Loan có bốn, năm trường tiểu
học, thầy hướng dẫn học tṛ làm thí nghiệm:
Dùng thiện ư, bất thiện ư và thái độ không thèm
quan tâm để thử tác động lên thực vật
và một số vật; dùng ba thứ đề mục
đó để trắc nghiệm thực vật, trắc
nghiệm hiệu quả đạt được. Thầy
tṛ hết sức kinh ngạc [trước kết quả
thu được]. Ông Giang Bổn Thắng của Nhật
Bản làm thí nghiệm với nước, c̣n trong bản
báo cáo này, tại Đài Loan họ dùng hoa lan, ba gị hoa lan.
Đại khái h́nh dạng lớn nhỏ không khác nhau chi mấy,
chọn mỗi gị hoa xong, treo bên cửa để học
sinh mỗi ngày ba lượt, chia thành mấy tổ: một
tổ thiện ư, một tổ ác ư, một tổ chẳng
thèm quan tâm, tức là mặc kệ không để ư đến.
Thiện
ư là nói với hoa: “Hoa đẹp lắm, tôi rất thích
hoa”, khen ngợi nó một ngày ba lần; bảo những học
tṛ tham gia tổ ấy mỗi ngày ba lần bày tỏ thiện
ư với hoa. Tổ bất thiện ư th́ nói: “Tao chán ghét mày
quá, tao không thích mày! Mày xấu xí quá đi!”, nói như vậy
đấy. Độ mấy ngày sau, hoa được
đối đăi bằng thiện ư chẳng thay đổi,
rất thơm. Hoa bị đối xử ác ư dần dần
héo rụi, không c̣n mùi thơm nữa. C̣n hoa không được
quan tâm đến th́ bắt đầu tàn tạ, mục
nát ra. Hoa thực sự có thể nghe, có thể tiếp nhận
ư tưởng của con người. Họ thí nghiệm với
“mạn đầu”[3]
, cũng dùng phương pháp trên đối với ba cái mạn
đầu nhỏ. Kết quả là cái mạn đầu
được đối xử bằng thiện ư, hai tuần
lễ vẫn không bị biến đổi; thật đấy!
Tợ hồ thiện ư là một loại thuốc chống
mục nát vậy. Đối xử bằng ác ư th́ mạn
đầu bị biến hóa, mùi vị rất khó ngửi.
Cái mạn đầu không được quan tâm đến
cũng dần dần bị biến hoại.
Bọn
họ dùng chuối, táo, dùng rất nhiều thứ khác. Lại
c̣n dùng giá đậu, đậu xanh đă được ủ
cho nẩy mầm thành giá. Dùng thiện ư đối xử,
mầm giá mọc rất khỏe. Đối xử bằng
ác ư, giá mọc rất chậm. Nếu không quan tâm đến,
nó bèn chết khô. Họ nhận ra các loài thực vật,
ngay cả bánh mạn đầu cũng hiểu được
ư nghĩa của con người, đều có thể tiếp
nhận hết. Trên thực tế, trong kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật đă giảng: Bất luận loại
vật chất nào cũng đều có linh tri. Thiền
sư Trung Phong gọi cái tâm này là “linh tri tâm”. Linh tri
tâm chính là bản thể của hết thảy vạn sự
vạn vật, Thể là linh tri.
V́
thế, mỗi tế bào trên thân thể chúng ta, mỗi một
sợi lông đều có thể thấy, nghe, cảm nhận,
hay biết, đừng tưởng chúng vô tri. Những bậc
chân nhân thổ dân Úc Châu hiểu được điều
này; bởi vậy, lúc họ trị bệnh, về căn
bản là chẳng dùng đến thuốc men. Họ cho rằng
khi ḿnh bị thương ở chỗ nào th́ tṛ chuyện
cùng với những tế bào chung quanh vết thương,
dùng thiện ư an ủi chúng, dần dần chúng sẽ khôi
phục b́nh thường, tự nhiên khôi phục b́nh thường.
Lúc bị thương chúng bị chấn động, kinh sợ,
kinh hoảng nên trật tự bị rối loạn, không
b́nh thường, nên chúng ta thấy chúng bị tổn
thương. Nếu làm cho mỗi tế bào khôi phục b́nh
thường th́ chúng hết khủng hoảng, sẽ trở
lại b́nh thường, rất hợp lư! Chẳng cần
dùng đến thuốc men! Trên thân quư vị, chỗ nào bị
đau nhức, chẳng thoải mái, chỗ đó nhất
định phát sanh vấn đề, chúng ta phải mau
điều ḥa, giải trừ, an ủi nó, khiến cho nó
được khôi phục b́nh thường th́ quư vị sẽ
hết bị đau nhức.
Mọi
người cảm thấy [nói như vậy] quá thần kỳ,
chứ trong Phật pháp, đạo lư này được giảng
rất thấu triệt: Nhỏ là một thân, lớn là
toàn thể vũ trụ, vũ trụ phải hài ḥa. V́ thế,
yêu thương và cảm ơn, cảm tạ chính là vũ
trụ hài ḥa. Hài ḥa là nhân tố chẳng thể khuyết
thiếu của sanh mạng vũ trụ. Sở dĩ Phật
có thể thành Phật, sở dĩ Pháp Thân Bồ Tát có thể
thành Pháp Thân Bồ Tát, không có chi khác cả, tôi thường
nói:
“Chân thành trọn khắp hư không pháp giới, thanh tịnh,
b́nh đẳng trọn khắp hư không pháp giới, chánh
giác từ bi trọn khắp hư không pháp giới”. Nói cách khác, tâm
thương yêu trọn khắp hư không pháp giới, ḷng
cảm ơn trọn khắp hư không pháp giới. Ta gọi
những vị như vậy là chư Phật Như Lai, là
Pháp Thân Bồ Tát. Đáng thương hại thay! Tâm lượng
chúng ta quá nhỏ nhen!
Nay
từ những thí nghiệm ấy, chúng ta biết
được t́nh h́nh trên, kinh Lăng Nghiêm đă từng
giảng t́nh h́nh ấy như sau: “
Chúng
ta muốn thân thể của chính ḿnh mạnh khỏe th́ phải
dùng thiện ư đối với mỗi một khí quan và mỗi
một tế bào trên toàn thân. Thân chúng ta giống như một
quốc gia, ư niệm của ta giống như ông Tổng
Thống. Mỗi một tế bào giống như nhân dân
trong nước. Quư vị phải dùng thiện ư đối
xử với họ th́ quốc gia mới cường thịnh,
đạo lư là như vậy đấy! Dùng thiện ư
để đối xử với mỗi một khí quan
hay mỗi một tế bào trên thân chúng ta th́ thân thể mạnh
khỏe, cường tráng. Nếu hoài nghi một khí quan nào
đó nơi thân: ‘Bao tử ḿnh không tốt, chỗ này chỗ
nọ không khỏe!’ Ái chà! Quư vị khởi ư niệm bất
thiện đối với chúng, chúng bèn yếu đi. Quư vị
có hiểu đạo lư này chăng? Đạo lư này đă được
đức Phật đă giảng trong các kinh Đại Thừa,
hy vọng các nhà khoa học sẽ
dần dần thí nghiệm để khẳng định,
chúng tôi tin rằng [những thí nghiệm ấy] không khó
đâu, chúng ta đều có thể chứng thực
được.
Hiểu
được đạo lư này, nếu quư vị muốn cầu
thế giới ḥa b́nh th́ không có ǵ khác cả: Dùng thiện ư
đối đăi hết thảy tất cả chúng sanh trên
thế giới! Chẳng những đối với mọi
người trên toàn thế giới, mà đối với hết
thảy động vật, hết thảy thực vật,
hết thảy khoáng vật, sơn hà đại địa
trên toàn thế giới đều đối đăi bằng
cái tâm thuần thiện, thuần tịnh th́ thế giới
này sẽ an định, ḥa b́nh, hưng vượng, có thể
chuyển thế giới Sa Bà thành thế giới Cực Lạc.
“Sự thành do người”, người nào vậy? Phải
là người giác ngộ mới được! Quyết
định chẳng có tâm toan tính riêng tư th́ hết thảy
sẽ hóa thành rộng lớn, không có tư tâm, không có dục
vọng. Nay chúng ta hiểu được mỗi một
khí quan trên toàn thân là do các tế bào hợp thành; cái thân này của
chúng ta là một tiểu thế giới, bên ngoài là đại
thế giới. Tiểu thế giới và đại thế
giới là một, không hai. Đấy là Phật pháp, là pháp
giác ngộ chân chánh. Đoạn tiếp theo nói:
“Hợp thử tín
nguyện tức vi Tịnh Độ chỉ nam, do thử
chấp tŕ danh hiệu, năi vi Chánh Hạnh” (Tín và nguyện này hợp
lại chính là kim chỉ nam của Tịnh Độ, do đây
mà chấp tŕ danh hiệu th́ đấy là chánh hạnh). Bởi
vậy, Ấn Quang đại sư dạy chúng ta trong thời
đại hiện tại, chẳng cần phải cất
đạo tràng to, mà lập đạo tràng nhỏ, số
người cùng tu chẳng được quá hai
mươi người, nhất tâm tŕ danh niệm Phật,
cầu sanh về Tịnh Độ, ai nấy đều
thành tựu. Không hóa duyên, không làm pháp hội, chẳng làm
kinh sám Phật sự, cũng chẳng truyền giới,
cũng chẳng thâu đệ tử, niệm Phật tu
hành tốt đẹp; ngay cả kinh cũng không giảng.
Tôi thêm giảng kinh vào. V́ sao thêm giảng kinh vào? Là v́ nếu
quư vị không hiểu đạo lư này, sẽ có nghi hoặc,
tin sâu, phát nguyện rất khó. Chúng ta không phải là kẻ
hạ ngu; kẻ hạ ngu th́ được, họ lợi
hại hơn chúng ta nhiều lắm!
Chúng
ta lại chẳng phải là thượng trí, vừa không
phải là hạ ngu, lơ lửng ở giữa, trên không
thấu, dưới không đến, nghi vấn đặc
biệt nhiều. Nếu quư vị chẳng chú trọng nhờ
vào kinh giáo để đoạn nghi sanh tín th́ “tin sâu,
phát nguyện” sẽ không có, công phu chẳng đắc lực. Nay
chúng tôi giảng những kinh giáo cũng chẳng có ǵ khác,
hoàn toàn quy về Cực Lạc! Giảng kinh Hoa Nghiêm
cũng chẳng ra ngoài lệ ấy, nhất định phải
giảng đại đạo lư chân tướng của nhân
sinh và vũ trụ cho rơ ràng, cho minh bạch th́ chúng ta mới
đoạn trừ nghi hoặc được, chết sạch
ḷng so đo, mong ngóng, khiêm hư sát đất tin sâu, phát
nguyện. Như vậy th́ mới tương ứng với
một câu Phật hiệu, một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương ứng
niệm niệm Phật. V́ thế, đấy là Chánh Hạnh.
Bây giờ đă hết giờ rồi!
*
Xin
xem tiếp đoạn cuối cùng: “Nhược tín nguyện
kiên cố, lâm chung thập niệm, nhất niệm, diệc
quyết đắc sanh” (Nếu tín nguyện kiên cố,
lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết
định được văng sanh). Trước hết,
chúng tôi nói một câu: Từ xưa, tổ sư đại
đức công nhận nguyện thứ mười tám là
thù thắng nhất, là lời răn dạy thù thắng
khôn sánh; nhưng điều kiện là “tín nguyện kiên cố”:
Tín tâm quyết định không nghi hoặc, “nguyện
sanh” (nguyện được văng sanh) là nguyện vọng,
suốt một đời này chỉ có một nguyện vọng
này; trừ nguyện vọng này ra, không có nguyện vọng
nào khác cả! Đơn thuần như vậy, kiên định
như vậy, lâm chung niệm mười câu Phật hiệu,
hoặc niệm một câu Phật hiệu, quyết định
được văng sanh. Chữ “quyết” này hết sức
trọng yếu, khẳng định! Một chút nghi hoặc
cũng không có, sẽ quyết định được
văng sanh.
Nhưng
ở đây, quư vị phải hiểu: Thật ra, không phải
ngẫu nhiên đâu nhé! Ngàn vạn phần chẳng
được nghĩ v́ đoạn kinh văn này
được tổ sư đại đức coi trọng,
tán thán dường ấy, chúng ta bèn nẩy sanh ḷng cầu
may: “Nay ḿnh không niệm Phật, chẳng tu hành cũng không
sao! Đến lúc lâm chung một niệm hay mười niệm
đều có thể văng sanh”. Hễ có tâm lư cầu may
như thế th́ là hoàn toàn thất bại rồi. Ở phần
trên tôi đă thưa cùng quư vị rồi đó, phải
thường xuyên ghi nhớ, chớ quên: Lâm chung mười
niệm hay một niệm văng sanh th́ nhất định phải
hội đủ ba điều kiện. Lúc lâm chung quư vị
có thể hội đủ ba điều kiện ấy hay
chăng?
1)
Điều thứ nhất, lúc lâm chung thần trí phải
sáng suốt, không mê hoặc tí xíu nào. Đó là điều kiện
đầu tiên. Cả đời người chẳng thể
không tu phước, chớ nên tạo tội nghiệp.
Người Hoa nói có năm thứ phước báo, “ngũ
phước lâm môn”, trong năm thứ phước ấy,
quan trọng nhất là phước sau cùng. Phước sau
cùng là phước ǵ vậy? Chết tốt lành! Lúc chết
tỉnh táo, sáng suốt, chẳng mê hoặc, chẳng
điên đảo, đấy là phước báo lớn nhất,
là phước báo chân thật nhất. V́ sao? Nó ảnh
hưởng đến đời sau của quư vị. Nếu
lúc ấy, gặp được người niệm Phật
dạy quư vị niệm Phật, quư vị thành Phật rồi!
Trong năm phước, bốn thứ phước đầu
không thật, chỉ là sự hưởng thụ trong một
đời này, trong nhà Phật gọi [những phước
ấy] là “hoa báo”, phước cuối cùng (chết tốt
lành) là quả báo. Một đời hành thiện tích đức,
dùng thiện tâm, thiện sự đối đăi hết thảy
người, sự, vật, đối đăi thiên địa
quỷ thần; lúc lâm chung sáng suốt, minh bạch, tâm không
điên đảo, không tán loạn, lúc ấy niệm một
niệm hay mười niệm mới có thể văng sanh. Bởi
thế, lúc ấy phải có người cảnh tỉnh
quư vị, sợ quư vị quên mất. Như vậy, điều
kiện thứ nhất là thần trí sáng suốt, đó là
điều kiện đầu tiên.
2)
Điều kiện thứ hai là có người cảnh tỉnh
quư vị.
3)
Điều kiện thứ ba là quư vị có thể tiếp
nhận. Người ta cảnh tỉnh bèn lập tức
tiếp nhận, liền quyết tâm, tín nguyện lập tức
kiên định, cầu sanh về Tịnh Độ chắc
chắn được văng sanh.
Quư
vị hăy nghĩ xem lúc lâm chung ḿnh có thể hội đủ
ba điều kiện này hay chăng? Quan trọng nhất
là điều kiện đầu tiên, quư vị phải có
phước báo. Chúng tôi thấy rất nhiều thân thích bằng
hữu, lúc họ sắp mất, chúng tôi đến
đưa đi, có người khi bệnh chuyển nặng,
không c̣n biết ǵ hết, chẳng nhận biết
được ai, vậy là hỏng bét! Đáng sợ lắm!
Lúc lâm chung chẳng biết ǵ hết, mê hoặc, điên
đảo, sẽ lưu chuyển theo nghiệp, đáng sợ
nhất là chuyện đó! Đoạn ác, tu thiện, tích
lũy công đức để làm ǵ? Để cầu lúc lâm chung ra
đi sáng suốt rơ ràng, minh bạch, rành rẽ. Không học
Phật, không biết văng sanh Cực Lạc thế giới
th́ cũng quyết định sanh vào đường lành.
Quư vị hăy nghĩ xem: Con người sáng suốt, minh bạch
rành rẽ ấy có thành ngạ quỷ, có thành súc sanh
được chăng? Chẳng thể nào! Phàm những kẻ
đọa vào ba ác đạo đều chết một
cách mê muội, hồ đồ! Trong tam ác đạo có quỷ
thần dẫn dụ, mê hoặc, quư vị không biết
đó là sai trái, thấy rất hợp ư ḿnh, lôi kéo tham - sân
- si - mạn, dẫn khởi phiền năo tập khí của
chính ḿnh, đọa lạc liền! Hết sức đáng
sợ!
Bởi
thế con người phải tu phước, biết tu
phước, biết làm lành, chúng ta đều nh́n từ
duyên, nh́n từ bên ngoài, không dễ ǵ làm được! Xin
giảng sâu thêm một tầng nữa: Người thập
niệm văng sanh trong quá khứ đă tu tập, tích lũy
thiện căn sâu dầy, đó là cái nhân chân thật! Thiện
căn tu tập, tích lũy trong bao kiếp, nhưng trong một
đời này không gặp được thiện duyên,
không gặp được Phật pháp. Nếu người
ấy sớm gặp được Phật pháp th́ thiện
căn trong A Lại Da Thức đă sớm dẫn khởi,
phát khởi tác dụng, người ấy nhất định
là một người tu hành rất tốt đẹp, hay là
một vị thiện tri thức rất tốt. Trong đời
này không có duyên, không có duyên tiếp xúc với Phật giáo, không
có duyên dẫn phát thiện căn. Trong một sát-na lúc sắp
mạng chung, trong thời gian ngắn ngủi ấy, gặp
được thiện tri thức vừa cảnh tỉnh,
vừa chỉ dạy cho biết Tây Phương Cực Lạc
thế giới tốt đẹp vừa khuyên lơn, kẻ
ấy vừa nghe th́ thiện căn trong A Lại Da Thức
bèn phát hiện, lập tức tin tưởng, bèn có thể
tiếp nhận, bèn có thể phát nguyện, niệm Phật
theo mọi người.
Tại
Washington DC chúng ta đă thấy ông Châu Quảng Đại
là một trường hợp như vậy. Ba ngày trước
khi ông ta văng sanh, tận cho đến lúc văng sanh, thần
trí ông sáng suốt, không mê hoặc tí nào, chẳng có chút ǵ tán
loạn, dặn ḍ mọi người trong nhà cùng niệm
Phật giúp ông. Thân thích, bằng hữu đến thăm
đều niệm A Di Đà Phật, vui sướng lắm!
Tuy bệnh rất nặng, cơi ḷng ông rất sung sướng,
bởi lẽ, niệm Phật giảm thiểu bớt
đau khổ, không đau đớn nữa, ông ta kêu mọi
người đều niệm Phật giúp ông, niệm ba
ngày rồi mất. Có tướng lành! Không biết là đồng
học trong Tịnh Tông Học Hội, hay là thân thuộc
trong gia đ́nh ông ta, thấy Phật đến tiếp dẫn,
thấy tướng lành như sau: Thấy quang minh, ngửi
thấy mùi thơm. H́nh như có một người thấy
Phật đứng trên nóc nhà, thấy như vậy đó!
Tướng lành hy hữu sao!
Chúng
ta không biết trong đời quá khứ ḿnh có túc căn hay
không, chính ḿnh không biết, nhưng nếu chú tâm quán sát trên
mặt dấu vết, chúng ta sẽ có thể thấy được.
Nếu trong đời quá khứ thực sự có thiện
căn th́ trong đời này người ấy khá hiền
lành; chúng ta thường gọi là “người có
lương tâm”, chẳng hại người. Đó đều
là hiện tượng chứng tỏ thiện căn sâu dầy.
Biết cảm thông với người khác, giúp đỡ
những người khổ nạn là trong quá khứ từng
có thiện căn! Có thể bỏ ḿnh v́ người, biết
nghĩ đến đại cuộc, đó đều là h́nh
tướng được biến hiện bởi thiện
căn và trí huệ. Chúng ta lắng ḷng quán sát sẽ biết
ngay. Quan trọng nhất vẫn là chính ḿnh phải nỗ lực
tu hành, chú trọng tín nguyện kiên cố, tín - nguyện - giải
- hạnh tương ứng với Phật. Lại xem tiếp
đoạn dưới:
“Nhược vô tín nguyện, túng tương danh hiệu,
tŕ chí phong xuy bất nhập, vũ đả bất thấp,
như đồng tường thiết bích tương tự,
diệc vô đắc sanh chi lư. Tu Tịnh nghiệp giả,
bất khả bất tri dă” (Nếu
không có tín nguyện th́ dù có tŕ danh hiệu đến mức
gió thổi không lọt, mưa tạt chẳng ướt, giống
hệt như tường đồng, vách sắt, cũng
không lẽ nào được văng sanh. Người tu Tịnh
nghiệp chẳng thể không biết điều này). Chúng ta phải hiểu rơ đoạn
này: Tín tâm nếu lúc có, lúc không, có lúc tợ hồ tin, có lúc
lại hoài nghi, nguyện chẳng khẩn thiết. Nguyện
chẳng khẩn thiết là v́ lẽ nào? Không buông danh
văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần
của thế gian này xuống được! Tín nguyện
kiên cố th́ bất cứ sự ǵ trong thế gian cũng
buông xuống được, chẳng phải đến
lúc mạng chung mới buông xuống, mà buông ngay trong hiện
tại. Chúng ta phải hiểu lư sự này, những việc
trong hiện tại có cần phải làm hay không? Phải
làm chứ! Trong thế gian này, tuy chúng ta ḥa quang đồng
trần cùng hết thảy chúng sanh, những việc ǵ nên
làm chúng ta đều tích cực nỗ lực làm, nhưng trong
tâm không vướng mắc! Trong mười hai thời, một
câu Phật hiệu trong tâm niệm niệm không quên.
Thực
sự đầy đủ tín nguyện tŕ danh, cổ
đức gọi phương pháp niệm Phật như vậy
là “bất
hồi hướng pháp môn”. V́ sao gọi là “bất hồi hướng?”
Không dùng đến hồi hướng! Mục đích của
một câu A Di Đà Phật đối với ta là để
cầu sanh về Tịnh Độ, cho nên niệm niệm
đều là hồi hướng, tŕ danh và hồi hướng
hợp thành một. Chúng ta chẳng cầu bất cứ ǵ
dù thế gian hay xuất thế gian, ta chỉ có một niềm
cầu nguyện là cầu sanh về Tịnh Độ,
thân cận Di Đà, nguyện vọng như vậy đó.
Bởi thế, gọi là “bất hồi hướng pháp
môn”.
Bậc
thiện tri thức trong Niệm Phật Đường
thường dạy chúng ta hồi hướng để
làm ǵ? Để nhắc nhở quư vị, sợ quư vị
quên mất, nhằm ư nghĩa này! Hồi hướng, phát
nguyện không phải là nói với Phật mà là để
thường tự nhắc nhở chính ḿnh, phải biết
chính ḿnh niệm Phật để làm ǵ? Tu hành để
làm ǵ? Ta đoạn ác tu thiện để làm ǵ? Ăn
chay, niệm Phật để làm ǵ? Bố thí, cúng dường
để làm ǵ? Quyết định chẳng cầu danh
văn, lợi dưỡng thế gian, quyết định
chẳng cầu phước báo nhân thiên, chỉ cầu văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cầu
sớm có ngày thấy được A Di Đà Phật. Bởi
thế, pháp môn này gọi là “bất hồi hướng
pháp môn”. Dành trọn thời gian niệm kệ hồi
hướng để niệm Phật hiệu, tín - nguyện
- giải - hạnh của ta (hạnh bao gồm cả hồi
hướng) đều gộp trong một câu Phật hiệu.
Đó gọi là thuần tịnh, thuần thiện. Tâm
địa thanh tịnh, thân, tâm, thế giới, hết thảy
đều buông xuống.
Vậy
th́ nếu tín nguyện có vấn đề, bán tín, bán nghi,
có lúc muốn về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, có lúc không muốn đi, có tâm thái như vậy th́
niệm Phật “túng tương danh hiệu, tŕ chí phong
xuy bất nhập, vũ đả bất thấp, như đồng
tường thiết bích tương tự” (Dẫu chấp tŕ danh hiệu đến
mức gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt,
giống hệt như tường đồng vách sắt), mấy câu này h́nh dung: Dù quư vị
niệm một câu Phật hiệu rất giỏi, cổ
đại đức nói một ngày niệm mười vạn
tiếng hay niệm hai mươi vạn tiếng, tâm - miệng
chẳng tương ứng, cho nên rách toạc cổ họng
cũng uổng công. V́ sao? “Diệc
vô đắc sanh chi lư” (cũng chẳng có lẽ nào
được văng sanh). Quư vị
chẳng thể văng sanh v́ quư vị niệm Phật mà tâm và
miệng chẳng tương ứng, tâm là ǵ? “Tâm” chỉ
cho tín và nguyện. Quư vị không có tín, chẳng có nguyện.
Tin chẳng chân thành, nguyện chẳng thiết tha th́ niệm
Phật chẳng thể văng sanh. Niệm Phật như thế
nào mới có thể văng sanh? Niệm Phật thế nào sẽ
chẳng thể văng sanh? “Tu
Tịnh nghiệp giả, bất khả bất tri dă” (Người
tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết vậy). Chúng ta phải nghiêm túc suy
nghĩ, nhất định phải loại trừ những
nhân tố khiến cho ḿnh chẳng được văng sanh,
phải sửa đổi, nhất định phải thực
sự đáp ứng những điều kiện để
được văng sanh.
“Đại Bổn A Di Đà Kinh (Đại Bổn A
Di Đà Kinh tựu thị Vô Lượng Thọ Kinh), diệc
dĩ phát Bồ Đề tâm vi yếu, chánh đồng thử
kinh” (Đại Bổn A Di
Đà Kinh (Đại Bổn A Di Đà Kinh là kinh Vô Lượng
Thọ) cũng lấy phát tâm Bồ Đề làm chủ,
chính là giống với kinh này),
lấy phát Bồ Đề tâm làm sự việc trọng yếu.
Quư vị xem trong kinh Đại Bổn A Di Đà hai phẩm
Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) và Chánh Nhân Văng Sanh chuyên
giảng về những điều kiện cần phải
hội đủ để được văng sanh. Chúng ta
có đủ những điều ấy hay không? Nếu
không có đủ, phải gấp tu đi; đă đủ
rồi th́ phải ǵn giữ, vĩnh viễn chẳng để
bị mất đi. Trong phẩm Tam Bối Văng Sanh, trong mỗi
đoạn đức Phật đều nói “phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm” (phát Bồ Đề tâm, một
dạ chuyên niệm). Một
phương hướng, một mục tiêu, quyết định
chẳng được tam tâm, nhị ư.
Có
một lần đúng vào lúc bệnh dịch SARS lan tràn khắp
thế giới, tôi nghe nói h́nh như ở Úc Châu có một
bài phát biểu cho biết chứng cảm mạo viêm phổi
này rất b́nh thường, nhưng làm cho mọi người
hoảng loạn, là do hệ thống truyền thông gây ra. Nếu
truyền thông không đăng tin, ai biết? Bởi thế,
chuyện này vừa phát sanh, có người đến hỏi
tôi, tôi nói chuyện này b́nh thường, năm nào cũng
có. Trời vừa cuối Xuân sang Hạ, hoặc khi cuối
Thu chớm Đông, nhằm lúc đổi mùa th́ trúng gió cảm
mạo, bệnh truyền nhiễm lây lan thường phát
sanh trong những lúc ấy, năm nào cũng có. Từ xưa
đến nay, trong lịch sử Trung Quốc, ngoại quốc
đều ghi nhận, chúng ta thấy rất nhiều, là
chuyện rất b́nh thường. Nay chúng ta học Phật
hiểu được đạo lư sau: Tâm thiện, hạnh
thiện, ư niệm thiện th́ những bệnh khuẩn (bacteria),
bệnh độc (virus) ấy ta đều hóa giải
được hết.
Lúc
đó, tôi cứ tưởng bệnh dịch ấy nhiều
lắm chừng một tháng là hết,
nếu dài lắm cũng
chừng một tháng rưỡi mà thôi, nay nó kéo dài đă
hơn ba tháng, là do con người tạo nên như vậy.
Từ các thí nghiệm (những bản báo cáo thí nghiệm
này do các đồng học hạ tải từ Internet),
chúng ta biết là chính mỗi cá nhân chúng ta đă đem những
tin tức bất thiện truyền báo cho các vi khuẩn biết,
khiến chúng cũng bị truyền nhiễm những ư niệm
bất thiện của chúng ta. Chúng ta muốn giết chết,
muốn tiêu diệt nó. Lúc truyền cho chúng nó những ư niệm
ấy, chúng bèn biến đổi, càng biến đổi
càng độc địa hơn. V́ sao? Chúng cũng phải
tự bảo vệ ḿnh chứ! Có phải càng thêm phiền
phức hay không? Giống như trên thế giới đang
chạy đua vũ trang càng ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu
chúng ta dùng thái độ rất ôn ḥa, thái độ thiện
ư để đối xử với chúng, quư vị thấy
ở Trung Quốc từ xưa đến nay, đối với
những loại virus hoặc những vi khuẩn có chất
độc, người Trung Quốc nói “giải độc”,
tức là hóa giải! C̣n người Tây Dương nói sao?
Tiêu độc! “Tiêu” là tiêu diệt, ư niệm khác hẳn
nhau!
Bệnh
truyền nhiễm này đă phát sanh, đối địch
con người, nếu gây chiến với nó th́ rắc rối
nằm ở chỗ đối lập. Chuyện đối
lập phiền phức nhất. Làm thế nào để
hóa giải? Đối với đạo lư này, người
học Phật chúng ta hiểu rơ lắm: Những bệnh
khuẩn (bacteria) này cũng sanh từ tâm tưởng,
cũng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở
biến”,
làm sao có thể vượt ra ngoài tâm tánh cho được?
Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến đều
là tốt cả. Nói cách khác, nó cũng có quyền sanh tồn,
nay chúng ta gọi là “nhân quyền”, vi khuẩn có “khuẩn
quyền”, chúng ta phải hiểu điều ấy. Chúng ta
phải yêu thương, che chở chúng, chúng ta phải
chăm sóc chúng, sanh mạng của chúng không dài! Chúng ta biết
thời gian sanh tồn của vi khuẩn chẳng thể
lâu hơn mười ngày, sao lại phải hận thù
đến vậy? Bởi thế, muốn hóa giải th́ phải
dùng thiện ư để khen ngợi, chúng nó sẽ bị
hóa giải, không tổn thương con người nữa.
Điều này thật có lư! Quyết chẳng thể dùng ác
ư, quyết chẳng thể đối địch cùng chúng
nó.
Như
vậy, từ cách đối xử với những vi khuẩn
tí ti, chúng ta mở rộng ra đối với hết thảy
người, hết thảy thế gian phải nhu ḥa, nhẫn
nhục như thế nào? Căn bản nhất vẫn là
phải ngưng dứt tham, sân, si. Tham, sân, si được
gọi là ba độc, điều này tôi đă nói từ
lâu. Có người hỏi tôi: “Virus SARS từ đâu mà có?”
Tôi bảo người ấy: “Từ ba độc mà có”. Những
loài vi khuẩn ấy vốn không độc, v́ sao trở thành
độc? Là v́ tham, sân, si của chúng ta truyền qua chúng,
chúng cảm nhận cái độc nên biến thành độc.
Chúng ta biến chúng thành độc, chúng lại truyền
cái độc ấy cho chúng ta, hai bên cùng bị hại! Hiểu
được đạo lư này rồi th́ chúng ta hóa giải
bằng cách nào? Phương pháp hóa giải th́ trước
hết là phải hóa giải tham - sân - si, cảnh giới
bên ngoài không c̣n tham - sân - si nữa, ba độc cũng không
c̣n nữa.
Nhưng
con người hiện tại chẳng thể tiếp nhận
đạo lư này, con người hiện thời tin vào khoa
học, chẳng tin Phật học, tin vào những khoa học
gia hiện thời, không tin tưởng cổ thánh tiên hiền.
Do vậy, tôi thường nói: Ngày nay thế giới loạn
như vậy, con người khổ sở như vậy,
truy tầm tới cội rễ th́ là ǵ? “Bất thính
lăo nhân ngôn, ngật khuy tại nhăn tiền” (Chẳng nghe lời người già, chịu
thiệt tḥi trước mắt). Kinh nghiệm và trí huệ của cổ thánh tiên hiền
được tích lũy trong ngàn vạn năm, quư vị
coi không đáng một đồng ư? Dùng bốn chữ
“không hợp khoa học” để sổ toẹt hết
th́ quư vị phải chịu khổ, phải mắc nạn.
Bởi thế, người thầy thuốc - thầy thuốc Tây phương hiện thời
tôi không biết rành lắm - tôi biết thầy thuốc thời
cổ Trung Quốc, tức Trung Y, hầu như trong nhà mỗi
thầy thuốc đều thờ Quán Thế Âm Bồ Tát,
phổ biến nhất! Nhà nhà Quán Thế Âm Bồ Tát, thờ
Quán Thế Âm Bồ Tát, học theo hạnh đại từ
đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đúng là từ
bi cứu thế, ôm tấm ḷng cứu người, chẳng
v́ danh lợi của chính ḿnh, chẳng phải vậy! V́ cứu
người mà thôi!
Bởi
thế, khi chẩn bệnh cho người ta, nhất định
chẳng nói tới chuyện tốn bao nhiêu tiền, không hề
có! Thầy thuốc không phải là buôn bán kiếm lợi,
trị lành bệnh rồi; người ta đền đáp,
tùy hỷ cúng dường quư vị. Người ta giàu có, quư
vị được tặng nhiều một chút, nhà bần
cùng th́ người ta cho ít đi một chút. Thậm chí hoàn
toàn không có ǵ, thầy thuốc c̣n phải bố thí thuốc
men và chăm sóc! Bởi thế, địa vị người
thầy thuốc ở Trung Quốc rất cao, đại
chúng xă hội hết sức tôn kính, họ là những nhà
đại từ thiện. Ở Trung Quốc, có hai hạng
người được tôn kính nhất th́ thứ nhất
người đọc sách, theo đuổi công việc giảng
dạy; thứ hai là thầy thuốc; bởi lẽ hai hạng
người này đều hy sinh phụng hiến cho xă hội.
Dạy
học chẳng hề thâu nhận học phí. Thâu học
phí th́ c̣n ai muốn theo học nữa! Khổng lăo phu tử
dạy dỗ không phân biệt, bất cứ ai chỉ cần
thích học th́ cứ việc đến. Học tṛ dâng thầy
một chút lễ vật, chúng ta thấy trong sách Luận Ngữ
ghi lễ vật rất đạm bạc: “Thúc tu” (束脩). Thúc Tu là ǵ? Người Hoa trong lục địa (Trung
Quốc lục địa) gọi [“thúc tu”] là “lạp nhục”
(thịt muối). Cắt một lát thịt muối đến
biếu thầy, biểu thị ḷng tôn kính đối với
thầy, ngoài ra không có ǵ khác nữa. Thầy dạy học
hết sức nghiêm túc, đâu biết đến học
phí! Bởi thế, người dạy học cuộc sống
rất thanh bần, bởi chính ḿnh chẳng theo đuổi
sự nghiệp có lời, học tṛ cung phụng thầy rất
đơn bạc. Cuộc sống vật chất của
người thầy rất khổ, nhưng cuộc sống
tinh thần rất thoải mái, rất sung sướng,
được hưởng niềm vui giáo dục những
bậc anh tài trong thiên hạ. Đấy là sự sung sướng
bậc nhất trong thế gian.
Thầy
có học vấn, có trí huệ, có năng lực, có thể
sống đời sung sướng hơn một chút, v́ sao
cam chịu sống bần cùng? Thích Ca Mâu Ni Phật là vị
thầy tốt, cả đời khất thực, thân giáo
đấy! Con người nếu cam tâm t́nh nguyện sống
cuộc đời khổ sở như thế th́ xă hội
này an định, thế giới ḥa b́nh. Điều đó
nói lên điều ǵ? Không cần tranh giành! Đâu đâu
cũng phải học lùi bước, nhường nhịn
chính là nhân tố thực sự khiến cho xă hội an
định, thế giới ḥa b́nh. Nếu chẳng biết
nhường nhịn, lùi bước, đâu đâu cũng
phải cạnh tranh th́ thế giới này vĩnh viễn
chẳng thể ḥa b́nh được, có ḥa b́nh cũng là
giả, không thật! Muốn thực sự đạt
đến ḥa b́nh th́ nhất định phải sống cuộc
đời thanh bần, sống hết sức sung sướng.
Chỉ cần ăn no, mặc ấm là đủ, chớ
nên cầu xa xỉ quá phận. Mong cầu xa xỉ quá phận
sẽ gây rắc rối cho xă hội. Mọi người
hăy nghĩ đi: Quư vị muốn bất cứ chỗ
nào, bất cứ điều ǵ đều đạt
được, th́ người khác cũng mong như thế.
Tài nguyên trên địa cầu là hữu hạn, ai nấy
đều tranh giành, thèm muốn, sẽ biến thành đấu
tranh, biến thành chiến tranh. Phải hiểu đấu
tranh và chiến tranh là đôi bên kết mối oán cừu, mối
oán cừu ấy chẳng thể giải quyết xong trong
một đời, đời đời kiếp kiếp vẫn
chưa xong.
Hiện
nay trên mạng Internet cũng có đăng tải những
tin tức như vậy: Ở ngoại quốc đă chứng
minh con người sau khi chết đi quả thật có
linh hồn tồn tại. Ở ngoại quốc cũng
đă có bác sĩ làm thí nghiệm: Đại đa số là
những người bị bệnh tim phát ra đột ngột,
chết đi, bác sĩ tuyên bố người ấy quả
thật đă chết, ngưng trị liệu. Nào ngờ một
hai hôm sau, người ấy tỉnh lại, mọi người
cảm thấy hết sức kinh ngạc. Người bệnh
tỉnh rồi bèn hỏi: “Lúc ông chết rồi c̣n có hay biết
ǵ không? Thấy được những ǵ?” Tra vấn như
vậy, có hơn sáu mươi trường hợp như thế,
có khoảng bảy tám người trong số hơn sáu
mươi người tỉnh dậy đó hiểu biết
rất rơ ràng. Kinh nghiệm của mỗi người khác
nhau, nhưng có cùng một điểm là họ đều
thấy ánh sáng, thấy người nhà quyến thuộc
toàn là những người đă mất từ lâu đến
chỉ dẫn họ; có người c̣n thấy thiên sứ
(angel).
Từ
những cuộc khảo sát chứng thực ấy, ta thấy
người chết đi không phải là hết, khiến
cho những bác sĩ và các nhà khoa học càng nghiên cứu sâu
hơn nữa. Hiện tại, báo cáo của những cuộc
nghiên cứu như vậy ở ngoại quốc rất
nhiều. Đời trước, đời này! Rất nhiều
người nghiên cứu, nay họ thực sự tin tưởng
con người có thân thể, có tâm, nhưng cái tâm ấy thật
ra là Duyên Lự Tâm. Họ c̣n nói có “linh” (spirits), linh là quỷ
thần, thuộc vào những chiều không gian khác. Tuyệt
đối chẳng phải là con người chết
đi th́ hết thảy đều hết. Không phải vậy,
quả thật là có quá khứ, có vị lai. Đă có quá khứ,
vị lai th́ tư tưởng, ngôn hạnh trong một
đời này chẳng thể không cẩn thận, chớ
nên đắc tội với người khác. Người
khác đắc tội với ḿnh, ḿnh phải tha thứ cho
họ, quyết định chẳng ghim trong ḷng, phải
hóa giải oán kết ấy, chớ nên đối lập, chớ
nên oán hận.
Phật,
Bồ Tát, thánh hiền dạy chúng ta: “Oan gia nghi giải, bất nghi
kết” (Oan gia nên cởi,
không nên buộc), ngàn vạn
phần chớ nên kết oán cùng người khác. Người
khác xử tệ với ḿnh, ḿnh không có thần thông, chẳng
biết chuyện đời quá khứ, nếu ḿnh biết
được quá khứ, sẽ hiểu v́ sao kẻ ấy
lại có thái độ như thế đối với
ḿnh? V́ sao họ chẳng có thái độ ấy đối
với người khác? Trong ấy, nhất định phải
có nguyên nhân. Nếu hiểu rơ ràng, minh bạch nguyên nhân rồi,
chẳng phải là cười kh́ cho qua chuyện hay sao?
Hiện
tại, người Tây phương dùng phương thức
phổ biến nhất là thôi miên. Thôi miên ở một mức
độ sâu; trong lúc bị thôi miên, sẽ nói ra những
chuyện trong quá khứ. Có rất nhiều trẻ nhỏ
(chúng tôi đọc những báo cáo ấy) sợ tiếng nổ,
nghe tiếng nổ bèn bất an, kinh hoảng hết sức,
hoảng sợ trầm trọng. Có đứa sợ nước,
trông thấy nước sợ điếng. Khi được
thôi miên ở một mức độ sâu, chúng bèn nói ra: Sợ
nước là v́ trong quá khứ đă bị chết đuối.
Đứa sợ tiếng nổ, nghe tiếng nổ kinh hoảng
là v́ trong quá khứ từng là binh sĩ, chết trên chiến
trường. Bởi thế, nghe tiếng súng nổ liền
hoảng sợ, là do mối quan hệ với đời
trước như vậy.
Sau
khi chúng nó hiểu rơ những chuyện như vậy rồi,
những nỗi sợ không c̣n nữa, tiêu trừ hết.
T́m được nguyên nhân thực sự, nguyên nhân từ
đời trước chứa trong ư thức, người
hiện tại gọi là “tiềm ư thức” (subconcious,
ta thường nói là Tiềm Thức). Thôi miên ở một
mức độ sâu, lôi hết những ǵ trong tiềm thức
ra, khiến cho người ấy tự nói ra, dùng máy ghi âm
thâu lại, đợi đến lúc người ấy tỉnh,
mở cho người ấy nghe, tự ḿnh đă nói, tự
ḿnh sẽ hiểu rơ; từ đấy trở đi bèn khôi
phục b́nh thường. Những chuyện này cho chúng ta biết
một chuyện quan trọng nhất, một chân tướng
sự thật là: Ai nấy đều có đời sau. Quan
hệ giữa người và người, quan hệ giữa
mỗi người và hết thảy chúng sanh đều là
mối quan hệ đời đời kiếp kiếp,
không phải ngẫu nhiên! Trong thế gian nhất định
chẳng có chuyện ǵ phát sanh ngẫu nhiên; nói chung, chẳng
ngoài những nhân tố trong đời trước và đời
này tạo thành.
Giáo
học nhà Phật cũng chẳng có ǵ khác cả, chỉ
nhằm khiến cho quư vị liễu giải chân tướng
sự thật, thuật ngữ nhà Phật gọi là “Thật
Tướng của các pháp” (chư pháp Thật Tướng), nói
theo cách hiện thời là hiểu rơ chân tướng sự
thật của hết thảy pháp. Thông thường, nhà Phật
chia chân tướng sự thật thành sáu hạng mục
để thuyết minh:
1)
Tánh - tướng: Tánh là tánh của hết thảy pháp, tức
bổn tánh; Tướng là hiện tượng.
2) Lư
- Sự: Lư là đạo lư của hết thảy các pháp, dần
dần h́nh thành. C̣n tác dụng của các hiện tượng
được sanh ra, đều thuộc về Sự.
3)
Nhân - quả: Tiền nhân, hậu quả. Hậu quả lại
biến thành cái nhân hiện tiền, nhân ấy cảm thành
cái quả trong đời sau. Nhân quả liên tục, nhân quả
tuần hoàn. V́ thế mới nói “nhân quả bất không” (nhân quả chẳng không). Nhân có thể biến thành quả,
quả lại có thể biến thành nhân, chuyển biến
chẳng không, tuần hoàn chẳng không, tiếp nối chẳng
không, phải hiểu đạo lư này! Hiểu được
đạo lư này th́ quư vị mới thực sự liễu
giải ư nghĩa của việc tu hành, quư vị mới có
thể thực sự thực hiện được. Nếu
quư vị chẳng tích cực tu hành, đó là v́ quư vị chưa
hiểu rơ chân tướng sự thật! Bởi thế,
trong thời đại hiện tại, đặc biệt
là đối với kinh giáo Đại Thừa, nếu
không giảng kỹ, nếu không tích cực nghiên cứu th́
tín - nguyện - hạnh đều có vấn đề,
cũng có thể nói là công phu không đắc lực!
Hiện
tại, chúng tôi đến rất nhiều nơi ở
Trung Quốc và ngoại quốc, cũng tiếp xúc với rất
nhiều đồng tu, tợ hồ chuyện linh quỷ dựa
vào thân thấy càng ngày càng nhiều. Bị quỷ dựa
thân, nếu là báo oán, hoặc đến đ̣i nợ th́
đau khổ không thể chịu đựng nổi! Bị
vùi dập mà! Chứng trạng ấy không có cách ǵ trị
liệu được, bó tay hết cách! Siêu độ
cũng không hiệu quả, siêu độ là ǵ? Là làm trung
gian để thương thuyết, vô hiệu! Trên thực
tế, v́ sao vô hiệu? Người siêu độ không có một
phần thành ư nào cả. Cổ đại đức
thường dạy chúng ta: “Chí thành cảm thông”, chúng ta không đủ
chí thành. Nếu thực sự chí thành sẽ hóa giải, an ủi
kẻ đó, chỉ dạy kẻ đó, giúp cho kẻ ấy
nâng cao cảnh giới.
Trong
các buổi giảng chúng tôi thường nói: “Hóa địch
thành bạn, chẳng cần đối địch, hóa oán
thành thân. Mọi sự đều phải hóa giải, chẳng
được đối lập”. Thủ đoạn
hóa giải trọng yếu nhất là phải thường
giao lưu, phải thường gặp gỡ, chẳng thể
không qua lại với nhau. Không qua lại với nhau th́ mâu
thuẫn ngày càng sâu, phải qua lại nhiều! Giao lưu
nhiều! Vấn đề ǵ cũng hóa giải được
hết! Sợ nhất là chẳng qua lại với nhau. Giống
như quư vị làm thí nghiệm [phản ứng của thực
vật và thức ăn đă nói trong phần trên], quư vị
dùng thiện ư hay ác ư đối đăi là có qua lại. C̣n về
căn bản không quan tâm đến, không qua lại, [những
thức ăn] hết sức dễ bị mục nát, tệ
hại nhất là không qua lại! Cự tuyệt qua lại
chính là sự việc đáng sợ nhất! Nhưng chúng ta
phải biết: Chúng ta không có cách ǵ ép buộc người
khác được, chính ḿnh phải giữ tấm ḷng giao
thiệp cùng hết thảy mọi người. Người
khác cự tuyệt ta là chuyện của người ta, cửa
nhà ḿnh vĩnh viễn mở rộng đối với
người đó. Người ta đóng cửa là chuyện
của họ; chúng ta cứ đợi đến lúc họ
mở rộng cửa. Nay đă đến giờ rồi!
Tập
24
6.3.3. Chỉ rơ pháp chấp
tŕ danh hiệu để lập hạnh
Xin
xem tiếp phần tiếp theo “Chánh hiển thị tŕ
danh hiệu dĩ lập hạnh”, chúng ta đọc kinh
văn một lượt:
Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ
thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên
đắc sanh bỉ quốc.
Xá Lợi Phất! Nhược hữu
thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A Di
Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu, nhược nhất
nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật,
nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật,
nhược lục nhật, nhược thất nhật,
nhất tâm bất loạn.
舍利弗。不可以少善根福德因緣。得生彼國。舍利弗。若有善男子。善女人。聞說阿彌陀佛。執持名號。若一日。若二日。若三日。若四日。若五日。若六日。若七日。一心不亂。
(Này Xá Lợi Phất! Chẳng thể
dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên
để được sanh về cơi kia.
Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân nghe nói đến A Di Đà Phật, chấp tŕ
danh hiệu hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba
ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày,
hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn)
Lại
xem tiếp:
Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di
Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ
tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo,
tức đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc
quốc độ.
Xá Lợi Phất! Ngă kiến thị lợi,
cố thuyết thử ngôn: ‘Nhược hữu chúng sanh,
văn thị thuyết giả, ưng đương phát
nguyện, sanh bỉ quốc độ’.
其人臨命終時。阿彌陀佛。與諸聖眾。現在其前。是人終時。心不顛倒。即得往生阿彌陀佛極樂國土。舍利弗。我見是利。故說此言。若有眾生。聞是說者。應當發願。生彼國土。
(Kẻ ấy lúc mạng sắp
hết, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện trước
mặt người ấy. Người ấy lúc mất,
tâm không điên đảo, liền được văng sanh về
cơi Cực Lạc của A Di Đà Phật.
Này Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy
nên nói lời sau: “Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, phải
nên phát nguyện sanh về cơi kia”).
Đoạn
kinh văn này dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng tôi
chia đoạn này thành chín tiểu đoạn. Đoạn
kinh lớn này hết sức quan trọng! Chúng ta đă biết
Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng rồi,
nhưng làm thế nào th́ mới có thể văng sanh? Đoạn
kinh này dạy chúng ta phương pháp Tŕ Danh Niệm Phật.
Trước hết, đức Phật dạy: “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân
duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức, nhân duyên để sanh về cơi kia). Nói cách khác, thiện căn,
phước đức, nhân duyên phải đầy đủ.
Chúng ta thảo luận những vấn đề được
nêu trong đoạn thứ nhất này.
[Sách Yếu Giải viết]: “Bất đắc sanh giả, thiện
căn, phước đức lực bạc” (Kẻ chẳng
được văng sanh là do sức thiện căn, phước
đức kém). Thiện
căn là ǵ? Phước đức là ǵ? Trong sách Yếu Giải,
Ngẫu Ích đại sư giảng: Thiện căn là “Bồ Đề chánh đạo”, là “thân nhân” (cái nhân gần
gũi, thân thiết), “Nhị
Thừa nhân thiểu” (hàng Nhị Thừa có ít ỏi), chẳng nói là không có, mà là ít!
Đă ít th́ sức kém, chẳng thể khởi tác dụng. “Phước đức” là bố thí, tŕ giới và hết
thảy các pháp trợ đạo, đều thuộc về
trợ duyên. “Nhân thiên thiểu”
(hàng nhân thiên ít [thiện căn, phước đức]), do vậy, sức cũng kém; v́
thế, chẳng thể văng sanh. Văng sanh phải có nhiều
thiện căn, phước đức, nhân duyên
(tương phản của ít là nhiều), nhiều thiện
căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên!
Chúng ta thấy lời tiểu chú viết: “Nhị Thừa đản cầu
tự lợi, đắc thiểu vi túc, bất phát Bồ
Đề tâm, cố thiện căn thiểu” (Nhị Thừa
chỉ cầu tự lợi, được chút ít đă
cho là đủ, chẳng phát Bồ Đề tâm, nên thiện
căn ít). Đấy là nói bậc
Nhị Thừa chẳng cầu văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, dẫu có cầu cũng không có cách
ǵ cầu được, v́ điều kiện không đầy
đủ. “Nhân thiên (ngộ
đáo Đại Thừa liễu) tuy tu Lục Độ, đản
cầu nhân thiên phước lạc, vị liễu vô vi, vị
đắc vô lậu, cố phước đức thiểu”
(Nhân, thiên (gặp được Đại Thừa), dẫu
tu Lục Độ, nhưng chỉ cầu phước lạc
trời người, chưa trọn vô vi, chưa được
vô lậu, nên phước đức ít). Hai loại này đều chẳng được
sanh về Tịnh Độ. Trong Yếu Giải, Ngẫu
Ích đại sư đă giảng về thiện căn,
phước đức như vậy.
Tôi
thường khuyên đại chúng tu học pháp môn Niệm
Phật, so ra tôi nói đơn giản hơn, ai nấy
đều dễ hiểu. Thiện căn là ǵ? Phước
đức là ǵ? Thiện căn là chúng ta có thể tin, có thể
hiểu pháp môn này; tôi nói đấy chính là thiện căn.
Có thể nguyện, có thể hành th́ người ấy có
phước, chịu phát nguyện cầu sanh về Tịnh
Độ, chịu niệm A Di Đà Phật, y giáo phụng
hành là người ấy có phước. Chúng tôi thuyết
pháp đơn giản như vậy, chắc mọi người
đều hiểu. Nói cách khác, quư vị gặp được
pháp môn này, là quư vị đầy đủ nhân duyên (ba
điều kiện là thiện căn, phước đức,
và nhân duyên), nhân duyên đầy đủ mới được
gặp. Gặp được là do thiện căn và phước
đức của quư vị, thiện căn là có thể
tin, có thể hiểu. Quư vị đọc kinh hiểu rơ,
hoặc là nghe giảng bèn hiểu rơ, đó là quư vị có
thiện căn. Hiểu minh bạch rồi, thực sự
phát nguyện. Đem hai thế giới so sánh, thế giới
Cực Lạc rất thù thắng, c̣n sự vui trời
người ở nơi đây là vui như thế nào? Là
hưởng thụ danh văn, lợi dưỡng, ngũ
dục, lục trần; thử hỏi xem, quư vị có thể
hưởng được mấy ngày? Thời gian rất
ngắn ngủi!
Mọi
người học Phật chúng ta, rất ít người
sanh trong gia đ́nh phú quư. Nói cách khác, đại đa số
thuộc gia đ́nh từ trung lưu trở xuống. Lúc trẻ
tuổi, nếm đủ mùi cay đắng, toàn là siêng khổ
phát phẫn, đến tuổi trung niên cuộc sống mới
dần dần dư dả. Thực sự được
hưởng thụ niềm vui ngũ dục, lục trần,
nói chung phải từ sau tuổi ba mươi. Chúng tôi thấy
rất nhiều người hầu như đến tuổi
bốn mươi mới được như vậy. Bốn
mươi tuổi rồi th́ hưởng được
bao năm? Cứ tính là quư vị sống đến bảy
mươi tuổi th́ hưởng được ba
mươi năm. Đó là nếu quư vị thực sự
có thể hưởng thụ, thực sự có phước
báo, quư vị mới có thể hưởng thụ ba
mươi năm. Thế nhưng trong ba mươi năm
hưởng phước ấy, quư vị có phải trả
giá hay không? Phước chẳng dễ hưởng! Từ
xưa đến nay, có người hưởng phước
nào mà chẳng phải trả giá nghiêm trọng hay không? [Trả
bằng] tinh thần, thể lực, thời gian, nếu chú
tâm tính toán kỹ, cái được chẳng bù nổi cái mất!
Bởi thế, quả đúng là chẳng sánh bằng
người xuất gia ẩn cư trong núi thẳm (đây
là nói chuyện thời xưa, chứ không phải hiện
tại), đúng là thực sự có phước báo, hưởng
phước thanh tịnh, thân và tâm đều thanh thản.
Quư
vị thấy con người trong xă hội hiện tại
có địa vị, có quyền thế, có của cải
th́ thân họ phải chịu áp lực trầm trọng. Họ
có một bác sĩ chuyên môn và y tá để chữa trị
mỗi ngày. Áp lực về mặt tinh thần lại càng
nặng nề hơn, v́ sao? Lo được, lo mất.
Phước báo ấy đem tặng cho tôi, tôi cũng chẳng
muốn tiếp nhận, v́ sao? Phải gánh vác nặng nề
quá! Tôi thấy rất nhiều rồi! Bởi thế, nếu
quư vị lắng ḷng quan sát kỹ, quư vị mới biết
thế nào là hưởng phước: Thân lẫn tâm đều
không có chuyện ǵ, tôi thường nói đọc một cuốn
sách ḿnh thích, làm việc ḿnh yêu thích, đấy mới
đúng là có phước báo. Những người đại
phước báo trong thế gian, những việc họ làm
chẳng thấy vui thích ǵ, nhưng chẳng vui thích cũng
phải làm, chẳng thể không làm được. Không có
thời gian đọc một cuốn sách ḿnh yêu thích thực
sự, mỗi ngày phải xem biết bao giấy tờ
thương lượng, do công việc bắt buộc phải
xem những văn kiện ấy, c̣n thời gian đâu nữa!
V́
thế, người có học thời cổ đọc
sách rất hay, đúng là hiểu rơ lư lẽ, họ không làm
việc mà ẩn cư! Gia Cát Lượng, như các vị
biết đó, đúng là người có đức hạnh,
có học vấn, chẳng muốn ra làm việc, ẩn
cư trong làng cày ruộng; tự ḿnh cày cấy, bạn thân
quây quần, lúc nhàn hạ bèn du sơn ngoạn thủy, sung
sướng vô cùng. Kịp đến khi Lưu Bị ba lần
đến lều tranh mời ra giúp sức, thịnh t́nh
khó từ, chẳng thể không ra. Khi đă ra rồi, cúc
cung tận tụy đến chết mới thôi. Đó là
nghĩa khí của một người có học, tôi không
đáp ứng th́ thôi, hễ đáp ứng th́ nhất định
phải tận tụy với công việc.
Thế
nào là phước báo? Thiện căn, phước đức,
chúng ta phải thực sự hiểu rơ. Trong Phật pháp,
nhất là trong Tịnh tông, thế nào là phước báo lớn
nhất? Niệm Phật trong Niệm Phật Đường
là phước báo lớn nhất, nghe kinh trong giảng
đường ḥng tăng trưởng thiện căn.
Đạo tràng nhỏ bé sẽ có hai “đường”: Một
là giảng đường, hai là Niệm Phật Đường,
chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta có thể giác ngộ hay
chăng? Giác tri! Quư vị có thể giác ngộ hay không? Có thể
hiểu được hay không? Muốn đạo nghiệp
thành tựu, trong một đời này quyết định
văng sanh th́ chớ nên ly khai đạo tràng, [hễ chẳng
rời khỏi đạo tràng], công phu nhất định
chẳng bị gián đoạn. Xưa kia, Huệ Viễn
đại sư là một vị nhất đại tông
sư trong Tịnh tông chúng ta, dựng Niệm Phật
Đường tại Lô Sơn, các đạo hữu
đồng tham chí đồng đạo hợp đều
là những người nhất tâm chân chánh lập chí, mong
được văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, gồm một trăm hai mươi ba người.
Họ dựng một Niệm Phật Đường, bên
ngoài có một cái khe nước nhỏ gọi là Hổ Khê,
lấy Hổ Khê làm giới tuyến, quyết định
chẳng vượt qua cái khe nước nhỏ ấy. Mọi
người nghiêm ngặt tuân thủ, nên ai nấy đều
thành tựu.
Bên
ngoài vừa động, tâm bèn loạn, công phu bị gián
đoạn, lúc ấy quư vị có thể thành tựu hay
chăng? Chỗ này có người khải thỉnh, chỗ
kia có người khải thỉnh, tợ hồ pháp duyên rất
thịnh. Không sai! Pháp duyên rất là thịnh, nh́n bên ngoài rất
thịnh, nhưng trên thực tế lại là tướng
suy, chẳng phải tướng hưng thịnh. V́ sao? Không
thể văng sanh! Không thể văng sanh mà tính là pháp duyên thù thắng
cái nỗi ǵ? Sự thành tựu trong đạo tràng của
chúng ta phải là trong đạo tràng có bao nhiêu người
văng sanh, coi đó là thành tựu, chứ chẳng phải
đạo tràng náo nhiệt đến mức nào, nhang đèn
nhộn nhịp, không phải thế đâu! Trong đạo
tràng này có bao nhiêu người khai ngộ, có bao nhiêu người
đắc Thiền Định, có bao nhiêu người minh
tâm kiến tánh, có bao nhiêu người văng sanh. Đó mới
là thành tựu thực sự. Trong những thành tựu ấy,
văng sanh là thành tựu bậc nhất. Đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh đều chẳng bằng
Hạ Hạ Phẩm văng sanh, điều này có thể lấy
kinh làm chứng.
Trong
kinh Hoa Nghiêm, bậc đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh là Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo.
Niệm Phật văng sanh dẫu là Hạ Hạ Phẩm văng
sanh cũng đă là A Duy Việt Trí Bồ Tát, Sơ Trụ
Bồ Tát kém người ấy một khoảng xa. A Bệ
Bạt Trí, tổ sư đại đức chẳng giảng
khác nhau, đều cùng nhất trí: Từ Thất Địa
trở lên, phải tính từ Thất Địa. Từ Sơ
Trụ Bồ Tát đến Thất Địa sai khác bao
nhiêu địa vị? Ba mươi địa vị thuộc
Tam Hiền; từ Tam Hiền lên đến Thất Địa
là bảy địa vị nữa. Nói cách khác, kém hơn ba
mươi sáu cấp. Người đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh so với người
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới kém
hơn ba mươi sáu cấp. V́ thế, niệm Phật
văng sanh là thù thắng bậc nhất. Tổ sư đại
đức, như Ngẫu Ích đại sư trong sách Yếu
Giải nh́n thấy người thế gian tu hành, vô cùng cảm
thán: Pháp môn thù thắng như thế đó, lúc họ gặp
được, nhưng thiện căn ít, phước
đức ít. Thiện căn ít là ǵ? Nửa tin, nửa ngờ.
Lúc phước đức ít, sẽ chẳng chịu thực
sự tu hành, tu hành như đùa, chẳng hề nghiêm túc.
Làm như vậy chỉ có thể kết duyên cùng Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đời này
chẳng được về. Đời này chẳng
được về, chắc chắn phải luân hồi
lục đạo. Luân hồi trong lục đạo phải
hứng chịu nỗi khổ.
Đừng
nói ǵ khác, nội chuyện oan oan tương báo không thôi
đă rất phiền phức rồi. Trong một đời
này, chúng ta đă kết mối oan cừu cùng bao nhiêu chúng
sanh, quư vị có biết nổi hay không? Quư vị dẫm chết
một con kiến, giết một con gián đều là kết
mối oan cừu với chúng, phải đền mạng cả
đấy! Giữa người với người quá chi
ly không kể, cứ nói đơn giản giữa người
và động vật thôi! Quư vị ăn thịt những
động vật nào, trong kinh Đại Thừa đức
Phật chẳng nói dối đâu! Quư vị ăn nửa
cân thịt của chúng, đời sau chúng đ̣i quư vị
trả đúng tám lạng[4].
Lúc tôi chưa học Phật không biết điều này, không
biết đă ăn bao nhiêu nữa! Học Phật rồi
mới biết chuyện này, chẳng dám ăn thịt nữa,
chọn cách ăn chay, bỏ hẳn ăn thịt. Thường
xuyên phóng sanh để chuộc tội! Trong quá khứ ngu
muội vô tri, sát hại bao nhiêu chúng sanh như thế!
Bởi
thế, ta hữu ư hay vô ư kết mối oan cừu với
hết thảy hữu t́nh chúng sanh, kể cả động
vật! Chỉ có một phương pháp là trong một
đời này phải thực sự buông xuống vạn
duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tịnh
Độ, thân cận Phật Di Đà. Tất cả hết
thảy oán thân trái chủ đời trước đời
này, đợi đến lúc tôi về Tây Phương Cực
Lạc thế giới thành tựu rồi, tôi sẽ trở
về độ các ngươi thành Phật. Thực sự
hoàn nguyện, báo ân! Từ nay trở đi, chẳng có ác niệm
nữa, chẳng có ác hạnh nữa, cũng chẳng nói lời
ác, ba nghiệp thân - ngữ - ư thuần thiện, thuần tịnh.
Người thế gian truy cầu chân - thiện - mỹ -
huệ, tận thiện tận mỹ được thực
hiện trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thực sự thực hiện. Chúng ta hăy xem đoạn thứ
hai.
“Duy dĩ tín nguyện”
(chỉ
dùng tín nguyện), tŕ danh niệm Phật, đó là ba tư
lương: Tín - Nguyện - Hạnh, chấp tŕ danh hiệu,
“tắc nhất nhất thanh, tất cụ đa thiện
căn, phước đức, tán tâm xưng danh, phước
thiện diệc bất khả lượng, huống nhất
tâm bất loạn tai!” (th́ mỗi một tiếng [niệm
Phật] đều có nhiều thiện căn và phước
đức. Tán tâm xưng danh th́ phước thiện
cũng chẳng thể lường được, huống
hồ là nhất tâm bất loạn ư?) Cách tu thiện
căn, phước đức, nhân duyên như thế nào? Ở
đây, Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: “Chân
tín”, không hoài nghi một chút nào, “thiết nguyện” [tức
là] nguyện chân thật, nguyện vọng khẩn thiết.
Chân tín, thiết nguyện (ḷng tin chân thành, nguyện thiết
tha) th́ thân, tâm, thế giới sẽ tự nhiên buông xuống
được hết. Hễ c̣n điều ǵ chưa buông
xuống được là ḷng tin chẳng chân, nguyện chẳng
thiết. Tin chân thành, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh
hiệu, một câu danh hiệu ấy quyết định
không gián đoạn, nguyện khẩn thiết chẳng xen
tạp, ḷng tin kiên cố chẳng hoài nghi. Chẳng hoài nghi,
chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, chấp tŕ
danh hiệu không gián đoạn, đó là phương pháp Niệm
Phật do Đại Thế Chí Bồ Tát đă dạy trong
kinh Lăng Nghiêm! Phương pháp Niệm Phật của
lăo nhân gia là như vậy đó!
Ngài
niệm như thế nào? “Đô nhiếp lục căn,
tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu
căn, tịnh niệm tiếp nối); ở đây, Ngẫu
Ích đại sư gọi là “tín nguyện tŕ danh”, ư
nghĩa hoàn toàn tương đồng với lời dạy
của Đại Thế Chí Bồ Tát. Nhiếp trọn sáu
căn bao gồm cả tín, nguyện. Nếu quư vị không
tin, không có nguyện, th́ lục căn suốt một ngày từ
sáng đến tối rong ruổi trong cảnh giới sáu
trần, không quay đầu. Nay thực sự tin tưởng
Tịnh Độ, thực sự nguyện văng sanh, thân cận
Phật Di Đà, thâu hồi cái tâm lại, sáu căn chẳng
c̣n vịn nắm cảnh giới sáu trần bên ngoài, buông
xuống cả rồi. Buông xuống không có nghĩa là mắt
không thấy, tai không nghe! Sáu căn vẫn khởi tác dụng
“thấy, nghe, hay, biết”, nhưng như thế nào? Quyết
định chẳng ghim trong ḷng! Cơi ḷng thanh tịnh chẳng
nhiễm mảy trần, mắt chẳng nhiễm sắc
trần, tai chẳng nhiễm thanh trần, mũi chẳng
nhiễm hương trần, lưỡi chẳng nhiễm
vị trần, hết thảy đều tùy duyên. Thứ
ǵ cũng tốt, không hề có tính toán, so đo ǵ! Cái ǵ tốt
th́ rất tốt; cái ǵ không tốt cũng rất là tốt!
Xưa
kia, Hoằng Nhất đại sư ở Nam Dương
(Indonesia), Ngài là bạn thân của pháp sư Quảng Hiệp,
bạn đồng tham cũ với nhau. Ngài đến Tân
Gia Ba ngụ tại viện Chiêm Bặc của pháp sư Quảng
Hiệp, đạo tràng không lớn, chúng tôi đă từng
đến đó. Tôi nghe các đồng tu Tân Gia Ba kể lại.
Họ nói Hoằng Nhất đại sư không hề cằn
nhằn ai tí nào, đối xử hết sức ḥa ái đối
với mọi người. Ăn thứ ǵ, cho ăn cái ǵ
cũng ngon hết. Thức ăn quá mặn, Sư cũng bảo
không hề ǵ, mặn có vị riêng của mặn. Quá nhạt,
cũng không ăn nhằm ǵ, nhạt có vị riêng của
nhạt! Cái ǵ cũng tốt hết, không phân biệt, chấp
trước mảy may! Đương nhiên chủ nhân lẫn
người tiếp đăi đều tận tâm tận lực
chăm sóc pháp sư, luôn trông chừng xem pháp sư thích ǵ, cần
ǵ, nhưng pháp sư hết thảy tùy duyên, hết thảy
đều miễn sao thuận tiện th́ thôi, thế nào
cũng tốt, “miễn sao thuận tiện cho quư vị là
tôi vui rồi!”, không mảy may gây phiền phức thêm cho
người ta. Pháp sư tâm đặt nơi đạo,
đă buông thế gian này xuống rồi, một ḷng gởi
nơi Tịnh Độ.
Chúng
ta biết Hoằng Nhất đại sư chuyên tu Tịnh
Độ, Ngài không y
vào kinh A Di Đà,
cũng chẳng y kinh Vô Lượng Thọ. Khóa tụng mỗi
ngày của Ngài là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm.
Đó là trong năm kinh một luận, tức sáu môn khóa của
Tịnh Độ, Ngài chuyên tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm. Ngài tụng thuộc ḷng Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm, công khóa sáng tối đều niệm Hạnh
Nguyện Phẩm, mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Bởi vậy,
Ngài niệm Phật, tín nguyện tŕ danh, niệm Phật là
tịnh niệm tiếp nối. Lúc niệm dùng cái tâm thanh tịnh
để niệm, tâm thanh tịnh đương nhiên không
có bất cứ thứ ǵ xen tạp. Hễ xen tạp, tâm quư
vị sẽ không thanh tịnh; cũng chẳng thể hoài
nghi, tâm hoài nghi th́ cũng không thanh tịnh. V́ thế, trong
chữ Tịnh không có xen tạp, không hoài nghi. “Tương
kế” (tiếp nối) là không gián đoạn, ở
đây gọi là “chấp tŕ”, Tŕ (持) là giữ ǵn cho
không gián đoạn, Chấp (執) là cầm nắm. [Chấp
tŕ] chính là nắm giữ danh hiệu A Di Đà Phật, cái
ǵ khác cũng không màng, đều buông bỏ hết.
Niệm
Phật như thế th́ “nhất nhất thanh, tất cụ
đa thiện căn, phước đức” (mỗi một
tiếng niệm đều có nhiều thiện căn,
phước đức). V́ sao? Giới, Định, Huệ
đều gộp trong ấy, một câu A Di Đà Phật
đồng thời trọn đủ Giới - Định
- Huệ, trong một câu niệm viên măn chẳng thể
nghĩ bàn! Giới là ǵ? “Pḥng phi chỉ ác” (ngăn ngừa
điều sai trái, dứt điều ác) là giới Tiểu
Thừa. Khi quư vị nhất tâm niệm Phật, trong tâm một
ác niệm nào cũng không có, cũng chẳng thể có hành
vi ác, đó là “pḥng phi chỉ ác”. Trong giáo pháp Đại
Thừa, vâng làm các điều thiện, niệm A Di Đà
Phật là điều thiện bậc nhất trong các
điều thiện, không có ǵ thiện hơn được
nữa! Quư vị hăy nghĩ xem: “
Phần
kế đó nói: Dù quư vị chẳng thể nhất tâm, mà
là tán tâm, “tán tâm xưng danh, phước thiện diệc
bất khả lượng” (tán tâm xưng danh th́ phước
thiện cũng chẳng thể lường được),
huống chi nhất tâm bất loạn! Nhất tâm xưng
niệm c̣n đến như thế nào nữa? Kinh Vô Lượng
Thọ nói “nhất hướng chuyên niệm” (một
dạ chuyên niệm), một mục tiêu, một
phương hướng, chuyên niệm, phước đức
chẳng thể nghĩ lường! Ở đây nói “tán tâm”,
chứ không phải là tán loạn tâm. Tâm tán loạn niệm
Phật, phước đức đương nhiên
cũng chẳng thể nghĩ lường; nhưng cổ
đức nói “rách toạc cuống họng cũng uổng
công” là nói về cái tâm tán loạn đấy! Tâm tán loạn
là ǵ? Trong tâm khởi vọng tưởng. Ngoài miệng niệm
A Di Đà Phật, trong tâm khởi vọng tưởng,
như vậy là trật rồi!
“Tán tâm” ở đây là chưa
nhất tâm, nhưng cũng không được khởi vọng
tưởng, cũng không có vọng tưởng, th́ gọi
là “tán tâm”. Nếu như quư vị không có cách ǵ tập
trung ư chí tinh thần được, th́ lúc niệm Phật
nên làm sao? Nghĩ đến tượng A Di Đà Phật,
nghĩ đến tượng ấy, thêm vào sự quán
tưởng Phật, hoặc tưởng hoa sen, đấy
đều là những phương cách (quư vị không tưởng
không được nghe! Không tưởng bèn có vọng
tưởng liền). Tưởng tướng bạch hào
hay hào quang của Phật đều được. Tâm lực
không thể tập trung th́ dùng phương pháp ấy. Niệm
Phật như thế, thiện căn và phước đức
cũng chẳng thể nghĩ lường!
Đương nhiên, tốt nhất là nhất tâm bất loạn,
nhưng khó lắm, rất ư là khó! Bởi thế, kinh Vô
Lượng Thọ dạy “một dạ chuyên niệm”,
một phương hướng, một mục tiêu, chuyên
niệm A Di Đà Phật, vậy là đúng!
Tiểu
đoạn thứ ba là “hiển thị chánh hạnh Tŕ
Danh Tam Yếu” (chỉ rơ ba điều quan trọng của
chánh hạnh Tŕ Danh). Đoạn này quan trọng, hết sức
quan trọng! Niệm Phật theo cách nào? Ba điều quan
trọng là Tín, Nguyện, Hạnh, tức ba điều kiện
trọng yếu để được văng sanh thế giới
Cực Lạc; cổ nhân nhắc tới “ba tư
lương”. Nay nói “tư lương” người
hiện thời không hiểu, người hiện tại gọi
là “điều kiện”; ba tư lương là ba điều
kiện. Trước hết, nói đến tín - nguyện, “tín
nguyện đầy đủ”, đầy đủ
hai điều kiện tín và nguyện, điều kiện
thứ ba là “chấp tŕ danh hiệu”. Với ba điều
kiện ấy ở đây dùng tám chữ, nếu tám chữ
ấy thảy đều có đủ, tức là “tín nguyện
cụ túc, chấp tŕ danh hiệu” (tín nguyện đầy
đủ, chấp tŕ danh hiệu) th́ ngay trong hiện tại,
quư vị đă không c̣n là chúng sanh của thế giới Sa
Bà nữa. V́ sao? Đă báo danh ghi sổ ở Tây
Phương Cực Lạc thế giới rồi, nhưng
c̣n chưa đi, giống như quư vị đă cầm sẵn
hộ chiếu và thẻ thông hành của Tây Phương Cực
Lạc thế giới, muốn đi lúc nào th́ đi. Quư vị
không c̣n là phàm phu luân hồi trong lục đạo của thế
giới Sa Bà nữa, mà đă là một trong các vị thượng
thiện nhân của thế giới Cực Lạc rồi!
Phần
kế đó là lời giải thích về “tín nguyện đầy
đủ”: “Thường tu nhị khóa thời, tinh tấn
kết thất thời” (Lúc thường tu hai thời
khóa công phu, lúc tinh tấn kết thất). Phương pháp
tu học chẳng được gián đoạn, hai khóa
sáng tối b́nh nhật, sáng tối đều niệm Phật.
Thông thường hai khóa sáng tối đều phải niệm
một quyển A Di Đà Kinh, niệm kệ Tán Phật, rồi
niệm Phật hiệu. V́ sao phải niệm một quyển
kinh, niệm kệ Tán Phật? Để nhiếp tâm, tức
là nhiếp trọn sáu căn, dụng ư ở chỗ này, nhằm
để quư vị một dạ chuyên niệm. Thậm
chí, khi mọi người cùng tụng công khóa sáng tối,
trước đó c̣n niệm bài Tán Hương, tụng
kinh, niệm kệ Tán Phật đều nhằm để
định tâm. Nói cách khác, đó là những công phu dự bị
trước lúc niệm Phật để thâu nhiếp cái tâm.
Nếu cái tâm này định, trong mười hai thời
không tán loạn, đều không có vọng tưởng th́
những thứ vừa nói trên đây đều không cần
thiết: Hương Tán, tụng kinh, xướng kệ Tán
Phật đều chẳng cần đến nữa. Những
người như vậy hiếm hoi, người một
ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung th́ nhiều.
Nếu như đă thêm vào Hương Tán, lại c̣n tụng
kinh, lại c̣n xướng kệ Tán Phật, niệm A Di
Đà Phật mà vẫn khởi vọng tưởng th́
không c̣n cách nào hết, ư chí vẫn không tập trung. V́ thế,
từ đây chúng ta phải lănh hội sâu xa: Niệm Phật
không phải là chuyện dễ, chớ nên xem nhẹ! Bởi
thế, Tinh Tấn Phật Thất là một phương
pháp tốt.
Nhưng
trong thời đại hiện tại này, trên thực tế,
Tinh Tấn Phật Thất có chỗ khó khăn, thật
đấy, không giả đâu! Thực sự đả Phật
thất, rất có thể chúng ta chưa từng gặp một
ai cả, tôi cũng chưa từng thấy một ai hết!
Tôi thường nghe thầy Lư giảng về Phật Thất:
Tinh Tấn Phật Thất th́ nhất định những
người cùng tu một chỗ chẳng thể nhiều
hơn mười người, đó là Tinh Tấn Phật
Thất. V́ sao? Từ mười người trở lên, Chủ
Thất Sư không có cách ǵ trông nom được, trông nom không xuể! Bởi thế, đả
Phật Thất nhưng người tham gia Phật Thất
công phu có thể thành tựu hay không th́ vị Chủ Thất
Sư quan trọng nhất!
Ai
mới có thể làm Chủ Thất?
Đều là người có kinh nghiệm trong Niệm Phật
Đường, chẳng những thông thạo nghi quy, mà trạng
huống của mỗi người niệm Phật vị
ấy đều hiểu rơ. Bởi thế, trong Niệm Phật
Đường, chẳng những vị ấy phải thường
thời thời khắc khắc cảnh tỉnh mọi
người, mà c̣n đốc thúc, ngăn ngừa ma chướng.
Tinh Tấn Phật Thất ma chướng rất nhiều.
Thầy Lư bảo tôi: Thầy ở tại Đài Loan ba
mươi tám năm, chỉ đả Tinh Tấn Phật
Thất hai lần, về sau không dám mở nữa. Tôi hỏi
v́ sao? Gây nên chuyện, ma chướng nổi lên. Chỉ cần
một người khởi ma chướng là đă phiền
lắm rồi, cụ phải mất từ mười
tháng đến một năm để chữa lành cho
người ấy, chữa cho người ấy b́nh phục
rất khổ sở.
Phật
Thất như chúng ta thường thấy là pháp hội Phật
Thất, chứ không phải thật tu. Thật tu ắt có
ma chướng, chẳng phải chân tu, ma không thèm nh́n tới.
Quư vị tu giả, chứ không tu thật, nó không cần
gây chướng ngại! Quư vị đâu có thoát khỏi
luân hồi; nó sẽ c̣n có ngày báo thù quư vị. Chứ nếu
quư vị thật tu, thực sự tu tập, muốn thoát
khỏi luân hồi lục đạo, nó sẽ ở bên cạnh
gây tai chướng liền: “Ngươi thiếu mạng
ta, vẫn chưa đền mạng; ngươi thiếu
nợ ta, nợ vẫn chưa trả”. Quư vị muốn
đi, nó bèn đến đ̣i. Nó ở bên cạnh thấy rất
rơ. Nếu quư vị tu giả, tu đùa bỡn, quư vị không
văng sanh được! Nó ở bên cạnh, cười h́
h́, không đếm xỉa tới.
Bởi
thế, Phật Thất niệm Phật gần như là niệm
Phật công phu kha khá, cũng đă hiểu khá rơ, đă nhận
thức đạo lư Tịnh tông, chính ḿnh thực sự
phát nguyện, nhất tâm niệm Phật. Trong Niệm Phật
Đường có thể nhận biết điều này. Người
nào thật thà, quy củ, vâng giữ pháp, khiêm hư, cung kính
đối với người khác, không có vọng tưởng,
không phân biệt, không chấp trước, người
đó thực sự niệm Phật. Vọng niệm nhiều,
phân biệt lắm, tạp tâm chuyện gẫu th́ là giả
tu, chứ chưa tu thật. Chân chánh tham gia Phật Thất,
tức Phật Thất thông dụng, tâm luôn thanh tịnh, quyết
định chẳng bàn tán chuyện gẫu! Niệm Phật
trong Niệm Phật Đường, ra khỏi Niệm Phật
Đường vẫn niệm Phật, công phu không gián
đoạn. Đoạn tiếp là “khả y Tây Phương
Xác Chỉ biện pháp, thị Vô Hủ tiết” (có thể
dựa theo biện pháp nói trong sách Tây Phương Xác Chỉ,
phần dạy ông Vô Hủ). Ta có thể tham khảo đoạn
sách ấy. A! Nay đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp tiểu đoạn “chấp
tŕ danh hiệu”. Chấp tŕ danh hiệu là “thiện
trung thiện, phước trung phước” (điều
lành bậc nhất trong các điều lành, phước bậc
nhất trong các phước). Những ư nghĩa này tôi
đă nói trong phần trên rồi. “Thiện trung thiện,
phát Bồ Đề tâm, cụ túc ngũ chủng Bồ
Đề tâm” (Điều lành bậc nhất trong các
điều lành là phát Bồ Đề tâm, đầy đủ
năm thứ Bồ Đề tâm). Năm thứ Bồ
Đề tâm này được nói trong Đại Trí Độ
Luận, luận ấy nói có năm thứ Bồ Đề
tâm:
1) Thứ nhất là “phát tâm Bồ Đề”.
Nay ta nói là “tín nguyện tŕ danh”, phát tâm cầu thoát khỏi
tam giới, cầu sanh Tịnh Độ, tự độ,
độ người, đó là “phát tâm Bồ Đề”.
Người ấy mới vừa phát tâm, giác ngộ.
2) Thứ hai là “phục tâm Bồ Đề”.
Phục (伏) là hàng phục, Tâm
là tạp niệm và vọng niệm trong tâm. Lúc chúng ta chấp
tŕ danh hiệu, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng,
phân biệt và chấp trước chẳng khởi. Lúc ấy,
tinh thần và ư chí hoàn toàn tập trung, có thể chế phục
phiền năo. Bồ Đề (Bodhi) là tiếng Phạn, dịch
sang nghĩa tiếng Hán là giác ngộ, chế phục
được phiền năo là giác ngộ vậy.
3) Thứ ba là “minh tâm Bồ Đề”, thứ
bậc ngày càng cao hơn! Trong minh tâm Bồ Đề có Huệ,
chế phục tâm là Định, dùng phương pháp Niệm
Phật để chế phục phiền năo, chế phục
lâu ngày bèn sanh trí huệ, trí huệ dần dần mở
mang. Đó là “một niệm tương ứng một
niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm
niệm Phật”, tức là Phật hiệu quư vị đang
niệm đó và cái tâm niệm Phật tương ứng với
Tự Tánh Giác. Tự Tánh Giác rất khó hiểu, nó
tương ứng với Tự Tánh Di Đà. Hoặc có thể
nói rơ ràng hơn, dễ hiểu hơn một chút cho mọi
người hiểu được, th́ minh tâm là niệm niệm
tương ứng với tâm - nguyện - hạnh - giải
của A Di Đà Phật. Nói như vậy dễ hiểu
hơn, minh tâm là như vậy đó. Rất rơ ràng, minh bạch!
Lấy tâm nguyện của A Di Đà Phật làm tâm nguyện
của chính ḿnh, lấy giải hạnh của A Di Đà Phật
làm giải hạnh của chính ḿnh. Đó là minh tâm Bồ
Đề.
4) Thứ tư là “xuất đáo Bồ Đề”.
E rằng cả đời này chúng ta khó thể đạt
được. V́ sao? Xuất đáo Bồ Đề là chứng
quả vậy. Kinh Vô Lượng Thọ nói một, hai, ba
thứ Nhẫn, nếu theo như kinh Đại Thừa
thường nói th́ đó là cảnh giới của bậc
Địa Thượng Bồ Tát. Kinh Vô Lượng Thọ
giảng là Âm Hưởng Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn, Vô
Sanh Pháp Nhẫn. Âm Hưởng Nhẫn là Sơ Địa,
Nhị Địa, Tam Địa; Nhu Thuận Nhẫn là Tứ
Địa, Ngũ Địa, Lục Địa; Vô Sanh Nhẫn
là Vô Sanh Pháp Nhẫn, là [cảnh giới của] Thất
Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Xuất
đáo Bồ Đề là như vậy! Do đó, nói thật
ra, công phu Niệm Phật của chúng ta chỉ có thể
đạt được minh tâm Bồ Đề là đă
khá lắm rồi! Minh tâm Bồ Đề là Sự nhất
tâm bất loạn; phát tâm Bồ Đề và phục tâm Bồ
Đề là công phu thành phiến, có thể đới nghiệp
văng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Đạt
đến minh tâm Bồ Đề là Sự nhất tâm bất
loạn, sanh vào Phương Tiện Hữu Dư Độ,
xuất đáo Bồ Đề bèn sanh vào Thật Báo Trang
Nghiêm Độ, chẳng phải là hạng người tầm
thường vậy!
5) Cuối cùng là “vô thượng Bồ Đề”,
vô thượng Bồ Đề là Phật Quả, thành Phật.
Bởi thế, Bồ Đề có năm thứ, chúng ta hăy
nên hiểu như thế. Đầy
đủ năm thứ Bồ Đề tâm, năm thứ
ấy có từng giai đoạn. Tối thiểu, chúng ta phải
đạt được một thứ, đạt được
thứ thấp nhất là phát tâm Bồ Đề. Thực
sự có cái tâm thoát ĺa tam giới, hiểu rơ tam giới lục
đạo, không thể trụ trong ấy nữa, nhất
định phải giải quyết vấn đề này. Chúng
ta được văng sanh sẽ có năng lực độ
những người có duyên với ḿnh trong lục đạo,
kinh Đại Thừa thường nói: “Phật bất độ
vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ kẻ không có duyên).
Có duyên với ḿnh là có ân, có oán, có dính líu trách nhiệm, nợ
đ̣i phải trả, có duyên với ḿnh là như vậy đấy!
B́nh thường chúng ta phải vui vẻ kết duyên với
người khác, gặp người lạ, chào hỏi, mỉm
cười với họ đều là hữu duyên, chẳng
thể không quan tâm đến, không quan tâm đến là không
có duyên.
Đă hai ngày qua tôi được nghe biết, người
ta đem đến rất nhiều tài liệu cho tôi đọc.
[Theo những tài liệu đó], ở Đài Loan có rất
nhiều học tṛ Tiểu Học làm thí nghiệm, dùng thiện
ư hay ác ư để đối xử với thực vật
hoặc phẩm vật, xem chúng biến hóa ra sao. Quư vị
dùng thiện ư là hữu duyên, dùng ác ư cũng là hữu duyên,
chẳng quan tâm đến bèn không có duyên. Nhất định
phải có duyên, rộng kết pháp duyên! Đến khi ḿnh
văng sanh rồi, chẳng cần phải đợi đến
khi thành Phật, cứ sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới là đă có năng lực ấy, được
bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia
tŕ, quư vị biết: Học một ngày ở nơi ấy
là đă phi phàm rồi! Chúng ta học trong nhân gian cả vạn
năm cũng chẳng bằng được người
ta học một ngày [trong thế giới Cực Lạc].
Quư vị thấy người ta học trong một ngày bèn
có thể thân cận mười phương hết thảy
chư Phật Như Lai, mỗi đức Phật giảng
cho ḿnh một câu pháp đă thật là phi phàm rồi! Phân
lượng ấy vượt xa Đại Tạng Kinh của
chúng ta, tuyệt quá phải không? Dẫu chưa minh tâm kiến
tánh, nhưng được bổn nguyện và oai thần
của A Di Đà Phật gia tŕ, do vậy bèn khởi tác dụng,
không khác người minh tâm kiến tánh cho lắm! Quư vị
có sức hiểu biết rất cao, có sức ghi nhớ, hằng
ngày huân tập ở nơi ấy, tuyệt
vời quá! Huân tập mấy ngày, thả chiếc bè Từ
trở lại độ hết chúng sanh không sót; trí huệ,
phước đức, và phương tiện thiện xảo
không có ai sánh kịp! Đương nhiên thời gian sống
tại Cực Lạc càng lâu th́ trí huệ và đức
năng càng cao, tiến bộ càng nhanh!
“Kinh vân: Nhất xưng Phật danh, dĩ thị
thiện căn, nhập Niết Bàn giới” (Kinh dạy:
Vừa xưng danh hiệu Phật th́ do thiện căn ấy
mà nhập Niết Bàn giới). Đây là chứng cứ do
chính đức Phật nói. “Phước trung chi phước,
cụ túc vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, bách hạnh
tề tu” (Phước bậc nhất trong các phước,
đầy đủ vạn đức, nhất tâm niệm
Phật, trăm hạnh cùng tu). Tu một thứ là tu hết
thảy, “bách” ở đây không phải là con số một
trăm trong Toán Học, mà là tượng trưng cho viên măn.
Tu một pháp môn là tu hết thảy pháp môn qua một môn này,
chớ nên coi thường một môn, môn nào cũng như
nhau. Chúng ta đều phải nên nhớ kỹ kinh Hoa Nghiêm
đă giảng: “Nhất tức nhất thiết, nhất
thiết tức nhất” (Một tức hết thảy,
hết thảy tức là một). Trong pháp môn tu hành cũng
giống như vậy; chúng ta tu hành, chọn lấy một
pháp môn. Pháp môn này đầy đủ hết thảy pháp
môn; hết thảy pháp môn dung nhập trong một pháp môn này
của chúng ta. Pháp môn Niệm Phật có đủ hết
thảy các pháp môn, quư vị chỉ cần coi Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm và một chương tỳ-kheo
Đức Vân sẽ thấy (nếu coi bản Tứ Thập
Hoa Nghiêm th́ xem chương Cát Tường Vân).
Tỳ-kheo Cát Tường Vân dạy Thiện
Tài đồng tử pháp môn Niệm Phật, nói đến
hai mươi mốt pháp môn Niệm Phật.
Con số hai mươi mốt nhằm biểu thị ư
nghĩa về mặt pháp! Trong Mật Tông, gọi là “đại
viên măn”. Mật tông dùng con số mười sáu hoặc hai
mươi mốt để biểu thị đại viên
măn. Một môn này có đủ hết thảy pháp môn, một
chính là hết thảy, hết thảy chính là một. Một
ở đây không phải là chuyên nhất, không phải là
độc nhất, mà là bất cứ một pháp môn nào! Bất
cứ pháp môn nào cũng có đủ hết thảy các pháp
môn. Chẳng hạn như tham Thiền cũng là đầy
đủ hết thảy các pháp môn, cũng bao gồm pháp
môn Niệm Phật trong ấy. Tŕ giới cũng bao hàm hết
thảy các pháp môn, Thiền và Tịnh cũng gộp trong ấy,
Mật cũng gộp trong ấy, quyết định chẳng
thể thiếu một môn nào. Một chính là hết thảy,
hết thảy chính là một! Kinh cũng giống như vậy:
Trong một bộ kinh có đủ hết thảy các kinh, chúng
ta nhất định phải hiểu đạo lư này.
Đó là viên dung vô ngại, lư sự vô ngại, sự sự
vô ngại.
V́
sao vô ngại? Đều từ Chân Như Tự Tánh lưu
xuất, Chân Như Tự Tánh pháp vốn là như vậy.
Chân Như tự tánh vĩnh viễn viên dung, vĩnh viễn
viên măn, chắc chắn không thể nói Chân Như tự tánh
biến hiện ra vật ǵ mà vật ấy bị khuyết
hăm, không hề có! Ở đây, nói thật ra, chỉ có mê
hay ngộ; mê th́ tợ hồ có khuyết hăm, trên thực tế
không hề khuyết hăm. Chính tự ḿnh mê, chứ đức
năng vốn chẳng hề khuyết hăm, phải hiểu
đạo lư này! Có vậy, quư vị mới có thể thực
sự tin tưởng, trong một câu Phật hiệu này
đầy đủ “vạn đức hồng danh”,
chữ “vạn” này cũng không phải là con số mà
là tánh đức viên măn.
“Kinh vân: Văn Vô Lượng Thọ Phật
danh (Vô Lượng Thọ Phật tựu thị A Di Đà
Phật), nhất tâm tụng tŕ, thử nhân đương
đắc vô lượng chi phước” (Kinh dạy:
Nghe tên đức Phật Vô Lượng Thọ (Vô Lượng
Thọ Phật chính là A Di Đà Phật), nhất tâm tụng
tŕ, người ấy sẽ được vô lượng
phước). Niệm một câu A Di Đà Phật có phước
báo lớn ngần ấy ư? Đúng vậy, không sai! Vậy
sao tôi niệm vẫn không có phước báo ǵ? “Nhất
tâm”! Quư vị không nhất tâm. Nếu quư vị nhất
tâm niệm, phước báo sẽ phi phàm! Quư vị đâu có
nhất tâm! Do đó, quư vị thấy: Đầy đủ
vạn đức cũng là nhất tâm niệm Phật,
được vô lượng phước vẫn là nhất
tâm niệm Phật, nhất tâm chẳng dễ dàng! Nhất
tâm là thực sự thực hiện, không hoài nghi, không gián
đoạn, đó gọi là “nhất tâm”. Ngoài miệng
Phật hiệu có gián đoạn , nhưng trong tâm không hề
gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy: “Ức
Phật, niệm Phật, hiện tiền đương
lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật,
niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất
định thấy Phật). Niệm là ǵ? Niệm là trong
tâm có, “kim tâm”[5]: cái tâm hiện
tại, trong cái tâm hiện tại thực sự có th́ gọi
là Niệm Phật. Miệng niệm nhưng trong tâm không có,
trong tâm vẫn khởi vọng tưởng th́ chẳng thể
gọi là niệm Phật, mà thật ra là “miệng niệm
Di Đà tâm tán loạn”, trong tâm quư vị không hề có!
Ở trên đă nói đến “tán tâm xưng
danh”. Ngoài miệng có Phật, niệm Phật; trong tâm
lúc có lúc không th́ gọi là “tán loạn”. Có lúc nghĩ
đến Phật, có lúc khởi vọng tưởng,
tưởng đến những thứ khác th́ gọi là “tán
tâm”. Tâm tán loạn là ǵ? Ngoài miệng có Phật, trong tâm
hoàn toàn khởi vọng tưởng, không có chút hiệu quả
ǵ! Chúng tôi nói về kiến thức thực dụng trong
pháp môn Niệm Phật như vậy. Tín, Nguyện, Hạnh
đều thuộc trong một câu Phật hiệu, một
câu Phật hiệu đủ cả ba điều kiện,
niệm như vậy mới có thể văng sanh. Đoạn
tiếp theo nói:
“Thiện nam nữ
giả (thiện nam tử, thiện nữ nhân), bất luận
tại gia, xuất gia, quư tiện lăo thiếu, lục thú, tứ
sanh” (Thiện
nam nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân), bất
luận tại gia hay xuất gia, sang, hèn, già, trẻ, sáu đường,
bốn loài), phạm vi bao quát rất lớn. “Lục thú”
là lục đạo, “tứ sanh” là nói về cách thức
được sanh ra: Noăn, Thai, Thấp, Hóa, tức Noăn Sanh,
Thai Sanh, Thấp Sanh, Hóa Sanh; tất cả hết thảy hữu
t́nh chúng sanh đều gồm trong đây. “Đản văn
Phật danh, tức đa kiếp thiện căn thành thục,
Ngũ Nghịch, Thập Ác giai danh thiện dă” (Chỉ
nghe được danh hiệu Phật, tức là thiện
căn trong nhiều kiếp đă chín muồi, dẫu
Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng đều gọi là lành
cả), chẳng dễ dàng đâu! Câu này ư nói tất cả
chúng sanh trong tam đồ lục đạo,
đương nhiên là có chúng ta trong ấy, những kẻ
được gọi là thiện nam nữ trong đó là những
người đàn ông tốt lành, những người
đàn bà tốt lành trong loài người, tại gia cũng
được, xuất gia cũng được, giàu,
nghèo, sang, hèn, nam, nữ, già, trẻ, bất luận quư vị
thuộc thân phận nào, bất luận đang sống cuộc
đời ra sao, thậm chí tất cả hết thảy
chúng sanh trong lục đạo, chỉ cần quư vị hữu
duyên nghe được danh hiệu A Di Đà Phật th́ thiện
căn trong nhiều kiếp của quư vị đă chín muồi.
Kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác nếu
nghe được
danh hiệu A Di
Đà Phật th́ cũng là do thiện căn chín muồi.
Thiện
căn chín muồi th́ trong một đời này có thể
văng sanh hay không? Không nhất định. V́ sao? Văng sanh phải
đầy đủ ba điều kiện: thiện
căn, phước đức, và nhân duyên! Chỉ có ḿnh thiện
căn mà không có phước đức th́ chẳng thể
văng sanh! Thiện căn đă chín muồi, nhưng trong ấy
lại có sâu đậm hay mỏng nhẹ, tức là như
ở phần trên đă nói là “ít thiện căn”. Thiện
căn của kẻ ấy chín muồi, nhưng ít ỏi,
không nhiều, quư vị có thể tin, nhưng tin không sâu. Quư
vị cũng có nguyện, nhưng không thiết tha, chưa
buông hết thảy danh văn, lợi dưỡng, ngũ
dục, lục trần, nhất là người nhà quyến
thuộc, thân t́nh trong thế gian xuống được! Hễ
c̣n một sự chưa buông xuống được sẽ
đều trở thành chướng ngại. V́ sao không buông
xuống được? V́ thiện căn chưa đủ
sâu, phước đức chẳng đủ dầy! V́ thế,
trong kinh đă nói rất khéo: “Bất khả dĩ thiểu
thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc
sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện
căn, phước đức, nhân duyên để
được văng sanh cơi kia).
Duyên
phải nhiều! Nhân duyên phải nhiều! Trong mười
đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ
Tát có hai điều, một là “thỉnh chuyển pháp
luân”, hai là “thỉnh Phật trụ thế”. Hai
điều nguyện thứ sáu và nguyện thứ bảy
là nhiều nhân duyên. Đó là lư do v́ sao kinh luận thường
dạy, thường nhắc nhở chúng ta phải thân cận
thiện tri thức: là v́ nhiều nhân duyên! Thân cận thiện
tri thức th́ thiện căn, phước đức, nhân
duyên dẫu ít ỏi cũng không sợ, v́ sao? Lúc thân cận
thiện tri thức, thiện căn và phước đức
của ḿnh được nâng cao. Hằng ngày quư vị được
khuyên dạy, hằng ngày cùng đại chúng huân tu, tiến
bộ rất nhanh. Nếu như ḿnh có thiện căn,
phước đức, nhưng không có nhân duyên th́ cũng
chẳng dễ thành tựu. V́ sao? Quư vị không thường
nghe pháp, không có ai cùng tu với ḿnh, sẽ bị hoàn cảnh
ảnh hưởng! Tự nhiên sẽ có bạn bè thân thiết
hằng ngày bồi tiếp quư vị vui chơi, phổ biến
nhất là chơi mạt-chược, khiêu vũ, thích xem tuồng,
hiện thời lại c̣n thích đá banh, có rất nhiều
cái được gọi là “hoạt động”, các cuộc
họp mặt để quư vị đến tham gia. Những
thứ đó hoàn toàn chẳng ăn nhập ǵ với thiện
căn và phước đức của quư vị cả;
duyên thế gian quá nồng, nhất định sẽ
chướng ngại đạo, chướng ngại quư vị
chẳng thể văng sanh trong một đời này!
Bởi
thế, mười nguyện của Phổ Hiền Bồ
Tát chính là trong vô lượng hạnh nguyện, chỉ nêu
lên mười cương lănh đó thôi, “thỉnh chuyển
pháp luân” quan trọng lắm! Thỉnh chuyển pháp luân
là thỉnh thiện tri thức đến giảng kinh, thuyết
pháp, khiến cho mọi người giác ngộ. Thỉnh
thiện tri thức ở một chỗ lâu dài th́ nơi ấy
có phước báo. Trong Phật pháp thường nói, chúng ta chẳng
thể không tin: Thiện tri thức chân chánh, người tu
hành chân chánh, người có đạo tâm trụ tại
nơi nào, nơi ấy chư Phật hộ niệm, long
thiên thiện thần bảo hựu, ít tai ít nạn.
Người
Trung Quốc và người Ấn Độ thời cổ
đều hiểu “thiện nhân là báu vật của
đất nước”. Thiên Thai đại sư nói hết
sức rơ ràng, hết sức minh bạch, Ngài chính là Trí Giả
đại sư, cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản
đều truyền ngôn Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật tái lai. Nếu
lời truyền tụng ấy là đúng, th́ lời của
Trí Giả đại sư chính là lời của Thích Ca Mâu
Ni Phật. Ngài dạy chúng ta: “Năng thuyết bất năng
hành, quốc chi sư dă” (Nói được nhưng không
làm được là thầy cả nước), quư vị
thấy đó: Ngài rất tôn trọng vị ấy! Quư vị
giảng kinh điển rất thấu triệt, không giảng
sai, hoàn toàn giảng được ư Phật, nhưng bản
thân hoàn toàn chưa làm được, quư vị có thể chỉ
dạy người khác, người khác chiếu theo lời
quư vị làm sẽ được thành tựu. Đấy
chính là: “Thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (màu
xanh phát xuất từ màu chàm, nhưng vượt trỗi
màu chàm). Tức là học tṛ theo học với một vị
thầy giỏi, tuy vị thầy tốt ấy không có
thành tựu lớn lao ǵ, học tṛ có thành tựu vượt
trỗi thầy. Thầy dạy chính
xác, nhưng chính bản thân thầy hoàn toàn chưa thể
làm được, nhưng học tṛ làm được. Thầy
như vậy là quốc sư đấy! Phải thỉnh
vị đó chuyển pháp luân, phải thỉnh Ngài trụ
thế.
Nếu
“năng thuyết hựu năng hành, quốc chi bảo dă”
(Nếu vừa có thể nói lại vừa có thể hành
th́ là quốc bảo), là bảo vật của đất
nước! Lúc Cưu Ma La Thập đại sư c̣n tại
thế, Ngài là quốc bảo của nước Khưu Từ
(Kuche, Quy Tư, Cưu Ty) ở Tây Vực. Phù Kiên là vua
nước Tần, có thế lực, nghe nói ở Tây Vực
có một vị đại trí huệ như thế, bèn phái
Lữ Quang suất lănh bảy vạn đại quân sang
Khưu Từ. Phù Kiên bảo Lữ Quang: “Xuất binh lần
này chẳng v́ lư do nào khác, chỉ là để thỉnh Cưu
Ma La Thập đại sư sang nước Tần ta. Mục
đích là như vậy. Nếu họ chịu để
cho đại sư đi th́ lập tức lui binh, nếu
họ không bằng ḷng, chúng ta sẽ đánh rát, v́ một
người mà thôi!” Nước Khưu Từ nhỏ, chống
không nổi bảy vạn quân của nước Tần,
cũng hết sức phiền năo. Cưu Ma La Thập đại
sư khuyên quốc vương: “Trận này đánh không nổi,
có đánh cũng không thể thắng, thương vong bao
nhiêu người rồi rốt cuộc vẫn phải
để cho tôi đi”. Vua nước Khưu Từ bèn giao
đại sư La Thập ra, nước Tần không
đánh nữa, triệt thoái quân đội. Cưu Ma La Thập
đại sư đến Trung Quốc là như vậy
đó.
Người
Trung Quốc biết là của báu, của báu th́ người
ta không chịu nhả, làm cách nào đây? Bức người
ta không nhả ra cũng không được! Nhưng khi La
Thập đại sư đến Trung Quốc, quư vị
phải biết Ngài từ chỗ nay là khu vực phía Nam rặng
Thiên Sơn thuộc Tân Cương đến Trường
An phải đi mất mấy tháng. Lúc trở về, Lữ
Quang đi đến Lương Châu (nay là tỉnh Cam Túc), từ
Trường An đưa tin tới, Phù Kiên đă mất rồi.
Phù Kiên đă mất, họ Lữ không trở về Trường
An nữa. Lúc ấy, đất nước của Phù Kiên
phát sanh chánh biến (biến cố chánh trị): Đại
tướng Diêu Trành gây chánh biến, trở thành hoàng đế,
cũng đặt quốc hiệu là Tần, tức nhà Diêu
Tần. Diêu Trành và Lữ Quang cùng là tướng quân, Lữ
Quang không phục. Bởi thế, họ Lữ chiếm cứ
vùng Lương Châu, tự xưng là Lương
Vương. Cưu Ma La Thập đại sư lại ở
Tây Lương mấy năm. Lữ Quang không biết dùng
Ngài, cũng giống như Ngài bị giam lỏng ở nơi
ấy vậy. Họ Lữ biết Ngài rất tài hoa, rất
thông minh, cũng chẳng thả cho Ngài trở về [nước
Khưu Từ], mà cũng chẳng giao Ngài qua nước Tần.
Đến
khi Diêu Trành chết, Lữ Quang cũng chết, đến
đời sau, lúc Diêu Hưng tức vị, mới thỉnh
đại sư La Thập đến Trường An, lúc
đó Ngài đă già. V́ thế, đại sư La Thập chỉ
theo đuổi việc dịch kinh ở Trung Quốc
được bảy năm bèn viên tịch, nhưng ảnh
hưởng của bảy năm ấy thật phi phàm! Từ
chỗ này, quư vị hăy chú tâm lănh hội: Thiện căn
đúng là có, dù có, nhưng nhiều hay ít khác nhau. Phù Kiên và
Diêu Trành thiện căn không nhiều, đến đời
con kế thừa ngôi vua, Diêu Hưng khá lắm. Ông ta thực
sự là người hữu tâm. Lúc ấy, đất
nước của họ Diêu rất cường thịnh,
Lữ Quang đă chết, cháu là Lữ Long kế vị, sức
nước nhà suy nhược, địch không lại
nước Tần. Bởi thế, phải giao đại
sư La Thập ra, đưa đến Trường An.
Quư vị thấy những người đó trong thuở ấy
đều là có thiện căn, nhưng nhiều hay ít khác
nhau, phước đức lớn hay nhỏ cũng sai
khác.
Trong
mấy năm ngài La Thập dịch kinh, họ Diêu ở
phương Bắc hưng vượng nhất. Ngài thực
sự có trí huệ, không những có tu hành, mà c̣n là một vị
cao tăng đắc đạo, đúng là quốc bảo,
chúng ta phải hiểu điều này! Nếu chúng ta có duyên
phận gặp gỡ [một vị như thế], nhất
định phải biết “thỉnh Phật trụ thế”.
Dẫu Ngài chẳng phải là Phật, chỉ là thiện
tri thức, chúng ta cũng phải thỉnh Ngài sống lâu nơi
đây, đến dựng đạo tràng, trường kỳ
giảng kinh, thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh.
Trong
quá khứ, chúng tôi sống ở Đài Loan, cụ Lư Bỉnh
Nam hiện thân cư sĩ; người Đài Trung có thiện
căn, có phước đức, nên lăo nhân gia trụ tại
Đài Trung. Ngài giáo hóa rất nhiều năm dường ấy,
các địa phương thuộc Nam Bắc Đài Loan
đều biết đến Ngài, cũng đều muốn
thỉnh Ngài, Ngài không đi, cứ ở Đài Trung. Dùng
phương pháp ǵ để lưu lại được?
Không có ǵ khác cả! Ngài không cần danh, cũng không màng lợi,
bởi thế, cái lưu giữ Ngài không phải là danh lợi,
mà là ǵ? Hiếu học! Người Đài Trung thân cận
Ngài, thực sự học tập theo Ngài. Người hiếu
học nhiều như thế, Ngài không thể đi
được!
Tuyệt
đối chẳng v́ lợi dưỡng! Nếu v́ lợi
dưỡng th́ khắp Nam Bắc như Đài Bắc, Cao
Hùng, Đài Nam, chắc chắn đời sống vật
chất khá hơn ở Đài Trung gấp
bội, chắc chắn là như vậy! Nhưng trong những
đô thị ấy, tâm t́nh học tập không được
như thế. Kinh Phật thường nói: “Phú quư tu
đạo khó”. Điều kiện sinh hoạt vật
chất nơi đô hội cao, mọi người đều
tranh danh đoạt lợi, đều hưởng thụ
ngũ dục, lục trần. Dù có muốn học Phật
th́ ư nguyện và đạo tâm học Phật vẫn chẳng
bằng người nơi nghèo khổ, lạc hậu. V́
thế, thiện tri thức chẳng nói “quư vị tiếp đăi
tôi tốt đẹp như thế nào”! Không phải vậy!
Có bao nhiêu người thực sự học, thực sự
thực hành, mới thực sự giữ Ngài lại
được. Thỉnh Phật trụ thế không phải
là ta đăi ngộ tốt đẹp như thế nào, không
phải vậy! Thực sự chịu học, Ngài bèn đến;
thực sự chịu học, người khác muốn thỉnh
cũng không được. Chúng ta phải hiểu đạo
lư này! Gặp được một vị chân thiện tri
thức, làm sao giữ được Ngài, tuyệt đối
không phải là điều kiện vật chất! Các Ngài
coi nhẹ những thứ ấy, mà [quan trọng] là có
người thực sự học theo Ngài hay không!
Người
thực sự học không cần nhiều, từ ba đến
năm người, tám người, mười người
là quư lắm rồi. Ở chỗ ấy, Ngài có thể truyền
thọ đạo nghiệp, người thế gian chúng ta
gọi [chuyện này] là “hương hỏa đại đại
tương truyền” (hương
hỏa lưu truyền đời đời), phải như vậy đó! Dẫu
chỉ có một người, Ngài cũng không thể vứt
bỏ; trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai! Người
ấy đâu phải người học Phật tầm
thường, người học Phật tầm thường
chẳng thể thành tựu. Người ấy là ai? Là một
người có thể thực sự thành tựu, người
như vậy không thể bỏ được! Người
ấy có thể truyền pháp! Đạt Ma Tổ Sư
đến Trung Quốc gặp Huệ Khả, một
người thôi, chỉ một người là được
rồi! Ngài truyền được pháp, truyền đến
đời thứ sáu là Huệ Năng đại sư,
duyên chín muồi, xiển dương rộng lớn! Xiển
dương rộng lớn, phổ độ chúng sanh không
nhất định nằm trong tay ḿnh, bản thân không có
duyên phận, không có duyên phận là do phước đức
không nhiều. Giáo hóa chúng sanh phải có phước đức.
Phước đức, nhân duyên đấy nhé!
Bởi
thế, chúng ta phải biết đạo lư này, biết vô
lượng vô biên phước báo ấy. Do quư vị thỉnh
chuyển pháp luân, quư vị phải biết vị pháp
sư, đại đức, thiện tri thức ấy giảng
một bộ kinh ở đây, chẳng nề hà thời
gian dài hay ngắn, hễ duyên chín muồi, người ta
nghe kinh khai ngộ, giác ngộ, minh bạch. Duyên chưa chín
muồi, thiện căn chưa chín muồi th́ cũng
đă gieo thiện căn, bao nhiêu người được
lợi ích! Được lợi ích như thế nào? Quư vị
thỉnh vị thiện tri thức ấy đến giảng
kinh, quư vị đă gieo phước đức rất lớn.
Ngoại trừ những người ấy ra, con mắt
thịt của chúng ta chẳng thấy quỷ thần
cũng được lợi ích càng nhiều hơn nữa,
chúng ta mắt thịt không thể thấy được!
Chúng sanh trong chín pháp giới đều được lợi
ích. Quư vị thấy như trong phần trên đă nói là “lục
thú, tứ sanh”, có bơ công không chứ?
Nếu
nói lưu thiện tri thức ở lại một chỗ
nào, th́ ở chỗ ấy thực sự phải có mấy
người thực sự học theo Ngài, chẳng phải
miệng nói xuông đâu! Thực sự là ở nơi đó
có mấy người có thể tin, có thể hiểu, có thể
hành, thực sự có thể y giáo phụng hành. Không nghi hoặc,
nghe có thể hiểu được, có thể lư giải, thực
sự thực hành, nếu quư vị thỉnh vị thiện
tri thức ở lâu tại nơi đó sẽ không có vấn
đề ǵ, Ngài nhất định đáp ứng. Chẳng
phải chỉ nhằm thành tựu mấy người
đó, mục đích không phải chỉ có vậy, mà nhằm
thành tựu mục đích khiến cho đại pháp được
tồn tại lâu dài trong thế gian. Đại pháp muốn
tồn tại lâu dài trong thế gian phải có truyền
nhân, ở nơi này quả thật có người truyền
pháp, trong tương lai Ngài ra đi, sau này có người
thay thế. Quả thật có một người th́ Ngài chẳng
buông bỏ; nhất định Ngài có duyên với nơi
này. Thỏa điều kiện ấy, Ngài rất vui thích ở
lại đây. Nếu quả thật nhận thấy có
người như vậy, dù nơi ấy thiếu điều
kiện, ngoại duyên bất hảo, Ngài vẫn khuyên
người như vậy đến học tập với
Ngài, ta thường gọi là “nhiếp thọ chúng sanh”,
Ngài chẳng vứt bỏ.
Đương
nhiên, nhân tố trọng yếu nhất ở đây chính là
thầy tṛ cũng phải có duyên phận, không có duyên không
được! Thầy và tṛ có duyên, học tṛ và thầy
có duyên th́ mới có thành tựu. Nếu thầy là vị thầy
tốt, học tṛ cũng là học tṛ tốt, nhưng không
duyên, miễn cưỡng cũng không được. Chuyện
ấy chỉ có thể gặp gỡ, chứ không thể cầu,
quả thật chẳng dễ đâu! Học tṛ mong t́m
được một vị thầy giỏi khó lắm! Vị
thầy giỏi muốn t́m được một đứa
học tṛ để có thể truyền đạo nghiệp
của chính ḿnh càng khó hơn nữa, t́m ở chỗ nào?
Trong Phật pháp thường gọi điều này là “duyên
phận”. Không có duyên phận, lắm vị thiện tri thức
sau khi văng sanh, đạo nghiệp bị thất truyền,
không có ai truyền hết! Chuyện như vậy từ
xưa đến nay rất nhiều, làm cách nào đây?
Trước kia, các vị bèn viết sách. Ta không có học
tṛ để truyền cái pháp của ta th́ ta soạn sách lập
thuyết, hy vọng dùng sách vở truyền lại, truyền
cho người đời sau hữu duyên. Sau này kẻ có
duyên đọc được trước tác của
vị ấy,
khai ngộ, thậm
chí chứng quả, dùng phương pháp ấy.
Trong
Nho Gia, Mạnh Tử được truyền pháp của
Khổng Tử cũng theo phương pháp ấy. Trong thời
Mạnh Tử, Khổng Tử đă qua đời rồi,
Mạnh Tử t́m được trước tác của Khổng
Tử, làm “tư thục đệ tử”[6] của Khổng
Tử, hoàn toàn y giáo phụng hành. Ngài thực sự học
thành công, trở thành truyền nhân của Khổng Tử.
Khổng Tử và Mạnh Tử chưa hề gặp nhau.
Trong nhà Phật chúng ta, thí dụ rơ ràng nhất là Ngẫu
Ích đại sư và Liên Tŕ đại sư. Liên Tŕ đại
sư ra đời sớm hơn, khi ngài Ngẫu Ích quy y học
Phật, Liên Tŕ đại sư đă văng sanh. Ngài Ngẫu
Ích đọc trước tác của Liên Tŕ đại
sư. Hiện nay, trước tác của Liên Tŕ đại
sư ở chỗ chúng ta cũng có. Liên Tŕ Đại
Sư Toàn Tập hiện tại gồm bốn cuốn,
đóng b́a cứng. Ngài học theo Liên Tŕ đại sư, thực
sự học thành công, trở thành nhất đại tổ
sư của Tịnh Độ Tông, là tư thục đệ
tử của ngài Liên Tŕ. Cổ nhân dùng phương pháp ấy!
Hiện
tại, khoa học phát đạt, thuận tiện hơn
trước kia nhiều lắm, hiện tại làm cách nào?
Không có truyền nhân th́ có thể thâu h́nh, có thể thâu âm, dùng
băng thâu âm, thâu h́nh để lưu truyền ḥng đợi
hậu nhân. Sau này người có duyên xem đến, học
tập từ đấy th́ cũng có thể thành tựu.
Trước kia chỉ nhờ vào sách, tức văn tự.
Nay có những máy móc ấy, tiện hơn nhiều lắm.
Bởi thế, hiện tại khoa học tiến rất
xa, trước kia không có cách ǵ! Khoa học tiến triển
tạo thuận lợi cho con người hiện tại,
công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn! Bây giờ
đă hết giờ rồi.
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,
Phần 8 hết
[1] Lưu ư, ở
đây Ngẫu Ích đại sư dùng chữ Tiển (尟 :ít ỏi) chứ không phải là chữ Tiểu bị
phiên âm sai.
[2] Chi quang ở đây có hai
cách hiểu:
1. Đơn vị đo
cường độ ḍng điện cần thiết
để bóng đèn cháy sáng, tức là Watt (c̣n phiên âm là Ngơa
Đặc nhằm tránh nhầm lẫn với khái niệm
thứ hai).
2. Đơn vị đo
cường độ ánh sáng, c̣n gọi là “chúc quang” (dịch
chữ Candela). Đây là đơn vị đo lường
quốc tế nhằm đo đạc lượng ánh sáng
tỏa ra từ một nguồn sáng theo một hướng
nhất định. Đôi khi, nó c̣n được gọi
thông dụng là candle (do vậy, thuở xưa, người
Việt thường nói là “đèn sáng mấy nến”).
[3] Tức “mằn thầu”, một
loại bánh bao không nhân. Vùng Hoa Bắc thường dùng
để ăn thay cơm.
[4] Theo hệ thống
đo lường cổ của Trung Hoa (vẫn c̣n sử dụng
ở Hương Cảng và Đài Loan), một Cân gồm
mười sáu Lạng. Một Cân tương
đương 604,8 gram. Ở Hoa Lục, một Cân chỉ
là 500 gram và được chia thành 10 Lạng. Để khỏi
lầm lẫn, đơn vị Cân của Hoa Lục
được gọi là Thị Cân.
[5] Chữ Niệm (念) gồm hai chữ Kim (今) và Tâm (心) ghép lại.
[6] Tư thục: Ở đây, chữ
Thục (淑) thuộc bộ Thủy, khác với chữ Thục
(墊) bộ Thổ
(chữ Tư Thục với bộ Thổ có nghĩa là
trường tư), từ điển Từ Hải giảng:
“Vị thân thọ nghiệp nhi tư tâm cảnh ngưỡng
hiệu pháp đích ư tứ” (có nghĩa là: Chưa
đích thân theo học với thầy, tự ư kính ngưỡng,
học theo). Gọi là “tư thục đệ tử” v́ Mạnh
Tử ra đời, Khổng Tử đă mất, không thể
đích thân học với Khổng Tử, nhưng thầy
Mạnh hâm mộ giáo pháp của Khổng Tử nên học
theo và xiển dương rực rỡ giáo thuyết của
Khổng Tử, nên Nho Gia tôn xưng Mạnh Tử là Á Thánh.