Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư
Phần 9
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Hội Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập 25
Chúng ta xem tiếp tiểu
đoạn thứ năm:
“A
Di Đà Phật thị vạn đức hồng danh, dĩ
danh triệu đức, khánh vô bất tận. Cố tức
dĩ chấp tŕ danh hiệu vi Chánh Hạnh, bất tất
cánh thiệp quán tưởng, tham cứu đẳng hạnh,
chí giản dị, chí trực tiệp dă” (A Di Đà
Phật là vạn đức hồng danh, dùng danh để
chiêu vời đức không c̣n sót chút nào. V́ thế, bèn
lấy chấp tŕ danh hiệu làm Chánh Hạnh, chẳng
cần phải tu kèm thêm các hạnh quán tưởng, tham
cứu..v.v.. [Tŕ danh niệm Phật] hết sức
đơn giản, dễ dàng, hết sức thẳng chóng).
Tiểu đoạn này chỉ cho chúng ta thấy chỗ thù
thắng chẳng thể nghĩ bàn của pháp môn này,
đúng là pháp khó tin, quá dễ dàng, quá đơn giản;
bởi thế, rất nhiều người
được biết đến pháp này nhưng không
thể nào tiếp nhận được.
Danh hiệu A Di Đà Phật là
vạn đức hồng danh, nghĩa là sao? Danh hiệu
ấy là danh hiệu của tự tánh, là danh hiệu
của Tánh Đức. A Di Đà Phật là tiếng
Phạn, nếu chiếu theo mặt chữ để
dịch nghĩa ra th́ A là Vô, Di Đà là Lượng,
Phật dịch là Giác, hoặc là Trí; dịch nghĩa toàn
bộ danh hiệu sang tiếng Hán là Vô Lượng Trí
hoặc Vô Lượng Giác. Quư vị hăy suy nghĩ danh
hiệu này, Vô Lượng Trí là bản thể của
tự tánh; Vô Lượng Giác là đức dụng của
tự tánh, bao quát hết sạch! Bởi thế, cổ
đức gọi danh hiệu này là “vạn đức
hồng danh”, tức danh hiệu [nêu lên] toàn thể
đại dụng của Chân Như tự tánh.
“Dĩ
danh triệu đức, khánh vô bất tận” (Dùng danh hiệu
để chiêu vời đức trọn chẳng c̣n sót):
Danh nhất định phải tương ứng với
Thực. Chúng ta niệm danh hiệu này để chiêu vời
đức của ai? Chiêu vời đức của tự
tánh, chiêu vời lấy tánh đức của chính ḿnh. Nói
cách khác, dùng một câu danh hiệu để kêu gọi, lay
tỉnh tự tánh, t́m lại Tánh Đức của chúng ta.
Thể và Dụng trong tự tánh của chúng ta không hề
bị mất, chỉ bị ǵ? Bị mê mà thôi! Dùng một
câu Phật hiệu này để phá vỡ cái ải mê
muội, ḥng chuộc lại Thể và Dụng của
tự tánh. Nếu quư vị hiểu rơ đạo lư này,
ắt mới chết sạch ư tưởng so đo, khiêm hư
sát đất chấp tŕ danh hiệu, mới hiểu danh
hiệu này và pháp môn này; mà cũng chẳng thể t́m đâu
ra pháp môn nào khác thù thắng hơn được pháp môn này;
đă thế, pháp môn này lại rất dễ dàng, rất
đơn giản!
Tất
cả hết thảy mọi thứ trong khắp hư
không pháp giới đều bao gồm trọn vẹn trong
danh hiệu này, “khánh vô bất tận”
(trọn không c̣n sót). Trong Phật pháp có hai câu nói nếu
như chúng ta thực sự có thể lănh hội
được th́ quư vị sẽ hiểu rơ [v́ sao nói “khánh vô bất tận”]: “Tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới”; hai câu này chúng
ta nghe đă quen tai, cũng như nói quen miệng, nhưng
chúng có nghĩa là ǵ vậy? Người thực sự
hiểu được không nhiều, đó là toàn thể
pháp giới đấy. Con người hiện tại
bảo là vũ trụ; c̣n trong Phật pháp gọi là pháp
giới. Chữ “pháp giới”
hay hơn chữ “vũ
trụ” nhiều, v́ sao? Trong danh từ “vũ trụ”
không có “linh tri”, trong pháp giới có “linh tri”. Pháp giới
sống động, vũ trụ chết cứng. V́
thế, từ ngữ “pháp giới” hay hơn “vũ
trụ”. Phạm vi của vũ trụ không lớn như
pháp giới, bởi lẽ, pháp giới trùng trùng vô tận.
Pháp giới không có lớn - nhỏ, không có đến - đi,
không có sau - trước, không có sanh - diệt, không có hữu
- vô, mầu nhiệm đến mức cùng tuyệt,
chẳng thể nghĩ bàn! Chữ “vũ trụ” không
chứa đựng những tư tưởng ấy.
Danh tướng trong Phật
học rất thù thắng! Danh dùng để chiêu vời đức.
Danh hiệu A Di Đà Phật là tổng danh hiệu (danh
hiệu chung, danh hiệu tổng quát). Nói theo danh từ, thuật
ngữ trong Phật pháp, danh hiệu ấy là tổng danh
hiệu, [có nghĩa là] danh hiệu của tất cả
hết thảy chư Phật đều lưu xuất
từ danh hiệu này, danh hiệu của tất cả
hết thảy Bồ Tát cũng lưu xuất từ danh
hiệu này; tất cả hết thảy danh hiệu của
hết thảy chúng sanh vẫn không thể tách rời
được danh hiệu này. Đó chính là điều
được phô diễn bởi kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi
đă đọc thấy như vậy trong phẩm Như
Lai Danh Hiệu. Bởi vậy, “tức
dĩ chấp tŕ danh hiệu vi Chánh Hạnh” (liền
lấy chấp tŕ danh hiệu làm Chánh Hạnh). Tu pháp môn
Tịnh Độ văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới phải tu như thế nào? Chánh Hạnh,
tức phương pháp tu hành chánh thức, chính là Niệm
Phật. Phật pháp phải phá chấp trước,
nhưng pháp môn này lại dùng chấp trước, tức
là chấp trước danh hiệu; ngoại trừ danh
hiệu ra, tất cả hết thảy những thứ chấp
trước khác đều buông xuống, không c̣n chấp
trước nữa, chỉ chấp trước danh
hiệu mà thôi! Giữ ǵn sao cho niệm niệm không đánh
mất danh hiệu này là Tŕ (持); niệm niệm đều là A Di
Đà Phật, đó chính là Tŕ. Hăy nhớ kỹ! A Di Đà
Phật là “Vô Lượng Trí, Vô Lượng Giác”; nói cách
khác, niệm niệm giác chứ không mê, niệm niệm
chánh chứ không tà, niệm niệm tịnh chứ không
nhiễm, đó là tự tánh A Di Đà! tự tánh Tam
Bảo, Tam Bảo là nhất thể, một nhưng ba, ba
mà một!
Ngoài ra, quán tưởng, tham
cứu, tŕ chú, nghiên cứu giáo pháp thảy đều không
cần đến, chẳng cần phải xen tạp
những thứ ấy, cứ niệm một câu A Di Đà
Phật đến cùng cực! “Chí
giản dị” (hết sức đơn giản,
dễ dàng); chí (至)
là đạt đến mức cùng cực, đơn
giản đến cực độ, dễ dàng đến
hết mức. Đơn giản, dễ dàng; lại c̣n
thẳng chóng, không ṿng vèo, thẳng chóng hướng về
đâu? Thẳng chóng đạt đến minh tâm kiến
tánh, thẳng chóng đạt đến Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, thẳng chóng đạt
đến Phật quả viên măn rốt ráo. Bởi
thế, có người hỏi (không phải người
hiện tại hỏi, mà là cổ nhân hỏi): “Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ tu pháp
môn nào?” Thuyết giáo thích ứng căn cơ, [bèn đáp]: “Tùy
thuộc quư vị muốn tu pháp môn nào, có thể thành
tựu được pháp môn nào. Hoan hỷ!” Rất hay!
Thưa thật cùng quư vị: Đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới, quư vị sẽ đổi
chủ ư. Đổi chủ ư ư? Chỉ một câu A Di
Đà Phật này niệm đến cùng cực, không c̣n hành
pháp môn nào khác nữa. V́ sao? Tất cả hết thảy
pháp môn đều bao trọn trong một câu A Di Đà
Phật, tức là “vạn pháp
quy nhất”, “nhất” là
tự tánh. A Di Đà Phật là tánh thể, tánh đức,
tánh tướng, tánh dụng.
V́ vậy, chỉ cần quư
vị khế nhập cảnh giới – trong kinh luận,
tổ sư đại đức đă nói rất rơ –
nếu quư vị niệm Phật đạt đến Lư
nhất tâm bất loạn sẽ tự nhiên thông đạt
tất cả hết thảy pháp thế gian và xuất
thế gian, quư vị c̣n phải học nữa ư?
Bất luận pháp môn nào, có ai đến thỉnh giáo, quư
vị sẽ đối đáp như nước chảy,
chẳng cần phải suy nghĩ. Lạ lùng thay! Chẳng
thể nghĩ bàn được! Trên thực tế, không
lạ lùng chút nào hết! Do nguyên nhân nào? Pháp thế gian hay
xuất thế gian đều do tự tánh biến hiện
ra, đă do tự tánh biến hiện th́ chỉ cần
thấy được tánh, há có đạo lư nào chẳng
biết? Quư vị chẳng hiểu rơ, chẳng hay biết
duyên do cũng như nguyên nhân căn bản của hết
thảy các pháp là v́ sao? V́ quư vị mê mất tự tánh
vậy!
Lúc niệm một câu A Di Đà Phật
này đạt đến Lư nhất tâm bất loạn,
thấy thấu suốt tự tánh, thấy trọn vẹn
tự tánh, há lẽ chẳng thể giải quyết
vấn đề ư? Há c̣n t́m lấy những phiền
phức khác nữa ư? Những thứ phiền toái khác xen tạp vào đây là v́ trong thế gian
có những kẻ không biết, cứ đề
xướng Thiền Tịnh song tu, Mật Tịnh song tu,
lại c̣n có kiểu ǵ nữa? Thiền Tịnh Mật tam
tu. Mọi người thế gian chúng ta thoạt nghe
thấy vậy, ngỡ là thật siêu phàm, cao minh hết
sức! Thật ra, người nội hạnh[1]
biết kẻ ấy chỉ ôm đồm, dẫu có thể
thành tựu đi nữa, cũng chẳng thể thành
tựu sâu xa được! V́ sao? Tinh thần, sức lực
bị phân tán, chia thành hai mặt, ba mặt, chẳng chuyên
chú! Muốn thành tựu nhanh chóng th́ phải chuyên chú nơi
một môn, một mục tiêu, một phương
hướng, nhanh chóng lắm! Không ǵ nhanh hơn thế!
Cùng đi hai con đường một lúc, cùng đi ba con
đường một lúc, khó lắm nghe! Chẳng dễ
đâu, chậm chạp lắm! Bởi thế, pháp môn này
thẳng chóng đạt thành đạo Vô Thượng,
chúng ta phải hiểu cho rơ. Chỉ có thực sự
hiểu rơ th́ ḷng tin mới kiên cố, nguyện mới
không nghi, quyết định chẳng biến đổi,
pháp môn chẳng thể nghĩ bàn! Tiếp theo là tiểu
đoạn thứ sáu:
“Biệt
minh Tam Huệ” (Riêng nói
về Tam Huệ): Tam Huệ là pháp được tu bởi
Đại Thừa Bồ Tát. Văn, Tư, Tu là Tam Huệ.
Ở đây, lại chia thành ba tiểu đoạn:
1) Tiểu đoạn thứ nhất, “cụ túc Tam Tư phương
danh Văn Huệ” (đầy đủ ba món tư
lương mới gọi là Văn Huệ), rất khó
được! Nguyên văn trong sách Yếu Giải là “văn nhi tín, tín nhi nguyện” (nghe
rồi tin, tin rồi nguyện). Nguyện rồi lại có
thể chấp tŕ, “năi khẳng
chấp tŕ, bất tín, bất nguyện, dữ bất văn
đẳng! Tuy vi viễn nhân, bất danh Văn Huệ” (dẫu
chịu chấp tŕ, nhưng chẳng tin, chẳng nguyện,
cũng giống như là chẳng được nghe, tuy tạo
thành cái nhân xa xôi, nhưng chẳng thể gọi là Văn
Huệ). Đó là nguyên văn trong sách Yếu Giải. Nếu
không đầy đủ ba điều kiện này th́
chỉ gọi là Văn (nghe), chứ không thể gọi là
Văn Huệ. Đối với ba Huệ này, chỉ có
thể gọi là Văn, Tư, Tu, chứ không có chữ
Huệ. Phàm phu có Văn, Tư, Tu nhưng không có Huệ.
Chẳng những phàm phu không có, xin thưa cùng quư vị,
ngay cả Nhị Thừa cũng không có. Nhị Thừa tu
Tam Học, Tam Học là Giới, Định, Huệ;
Bồ Tát tu Tam Huệ Văn - Tư - Tu, Bồ Tát cao
hơn Nhị Thừa.
Tam Huệ là Huệ nào? Chính là Huệ
trong Giới - Định - Huệ; bởi lẽ, không có
Giới, không có Định, lấy đâu ra Huệ? Nhất
định phải hiểu rơ những thuật ngữ danh
tướng này, nhất định chớ nên hiểu
lầm. Đối với Giới - Định - Huệ,
trí huệ mở mang, nhân Giới đắc Định,
nhân Định khai Huệ, trí huệ mở mang! Trí huệ
áp dụng vào cuộc sống thường nhật, áp
dụng vào công việc, thể hiện trong cách xử sự,
đăi người, tiếp vật, hoàn toàn là trí huệ. Sống
trong trí huệ th́ gọi là Tam Huệ, Tam Huệ Văn - Tư
- Tu. Văn là ǵ? Văn là tiếp xúc: Mắt tiếp xúc
sắc tướng, tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp
xúc mùi vị, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu
trần bên ngoài. Vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ; thông
đạt, hiểu rơ th́ gọi là “khai huệ”.
Bởi thế, chữ Văn (nghe) đại diện cho
sự tiếp xúc; dùng một chữ để đại
diện chung, sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài
gọi là Văn. Huệ là hiểu rơ, thông đạt,
hiểu tường tận. Trong sự hiểu rơ ấy,
chắc chắn không lầm lẫn. V́ thế, từ
sự tiếp xúc mà gọi là Văn, từ sự hiểu
rơ bèn gọi là Tư.
Nói chung, bọn phàm phu chúng ta
thường hay nghĩ: “Ta hiểu rơ rồi!” Các Ngài (các
vị Bồ Tát) không cần nghĩ, vừa tiếp xúc bèn
hiểu rơ, hễ hiểu rơ bèn chắc chắn không lầm
lẫn; không lầm lẫn th́ gọi là Tu. Bởi vậy,
Văn - Tư - Tu chỉ là một chuyện, tuyệt
đối không gồm ba giai đoạn; chẳng phải
là nghe xong mới bèn suy nghĩ, suy nghĩ xong xuôi mới
bắt đầu tu, đó là ǵ vậy? Là phàm phu
đấy, c̣n Bồ Tát th́ sao? Tam Huệ Văn - Tư - Tu
một nhưng ba, ba nhưng một, hoàn thành trong một
sát-na, không có thứ tự trước - sau ǵ cả! Có
như vậy mới là Bồ Tát. Nghe xong, thấy xong c̣n phải
suy nghĩ th́ chưa phải là Bồ Tát, họa chăng là
Nhị Thừa; tuyệt đối chẳng rơi vào ư
thức, cũng nhất định không phân biệt, không
vọng tưởng, chấp trước, mà thông
đạt, hiểu rơ. Tây Phương Cực Lạc
thế giới là Đại Thừa, không phải là
Tiểu Thừa. V́ thế, Tam Huệ nói ở đây là
vừa nghe đến danh hiệu A Di Đà Phật,
vừa tiếp xúc bèn tin sâu chẳng nghi, bèn phát nguyện
cầu văng sanh, bèn chất phác niệm Phật. Đó là
Văn Huệ. Người như vậy thực sự thông
minh, không hoài nghi, không xen tạp, thực sự thực hành,
thực sự thành tựu! Chúng ta xem tiếp điều
kiện thứ hai.
2) “Tịnh
niệm tương kế, vô hữu gián đoạn, cố
danh Tư Huệ” (Tịnh niệm tiếp nối, không
gián đoạn, nên gọi là Tư Huệ). Ở đây,
Ngẫu Ích đại sư giảng rộng hơn một
chút, “chấp tŕ tắc niệm
niệm ức Phật danh hiệu, cố thị Tư Huệ”
(chấp tŕ là niệm niệm nhớ đến danh
hiệu Phật, ấy là Tư Huệ). Niệm Phật:
Niệm ở đây không phải là miệng niệm; v́
thế, chẳng thể thêm chữ Khẩu vào chữ
Niệm trong từ ngữ “niệm Phật”. Có rất
nhiều người thêm chữ Khẩu vào là sai mất
rồi, hoàn toàn chẳng hiểu được ư nghĩa
chữ Niệm Phật. Niệm Phật là trong tâm thực
sự có Phật. Chữ Niệm trong tiếng Hán là hội
ư[2],
xem cách viết chữ Niệm (念), quư vị sẽ hiểu
được ư nghĩa: “Kim
tâm” (今心), Kim (今) là hiện tại, trong cái tâm hiện
tại có Phật th́ gọi là Niệm Phật, chứ không
nhất định phải niệm tại miệng, trong
tâm thực sự có. Trong tâm không có Phật, có Phật ngoài
miệng th́ chẳng linh nghiệm, chẳng cảm ứng.
Trong tâm thực sự có Phật, dẫu miệng không có,
liền có cảm ứng.
V́ sao vẫn cần phải niệm
Phật ra tiếng? Trong tâm có Phật là tự lợi,
niệm Phật ra tiếng là lợi tha. Đem Phật
hiệu niệm ra không nhằm niệm cho chính ḿnh, mà là
niệm cho người khác nghe, niệm cho hết thảy
chúng sanh nghe. Ta dẫn dắt hết thảy chúng sanh
niệm Phật. V́ thế, niệm Phật ra tiếng công
đức rất lớn, tự lợi, lợi tha. Nếu
không niệm Phật ra tiếng th́ chỉ có thể tạo
lợi ích cho những người có công phu Thiền Định
Bát Nhă khá sâu, v́ sao? Những người ấy trông thấy
tướng trạng [người niệm Phật] bèn
được lợi ích. Đối với người
có định lực và trí huệ Bát Nhă rất sâu th́
nếu trong tâm quư vị có Phật, tướng trạng của
quư vị sẽ khác hẳn. Tức là như thường
nói “một niệm tương
ứng Phật, niệm niệm tương ứng
Phật”. Trong tâm quư vị tưởng Phật, Phật
hiện hữu trong tâm. Phật ở trong tâm bèn gia tŕ quư
vị, tự nhiên gia tŕ, thân quư vị phóng quang minh sắc
vàng ṛng, tướng mạo đoan nghiêm, từ bi, an
tường, người khác (tức người có trí
huệ và định lực sâu) nh́n vào có thể thấy thân
quư vị phóng quang, quang minh sắc vàng ṛng, nhưng phàm phu
chẳng được lợi ích, v́ phàm phu không thấy được,
họ đâu có năng lực ấy!
Thế nhưng niệm Phật
[ra tiếng] lại thích hợp, v́ nhĩ căn của phàm
phu lanh lợi nhất, [trong kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù
Bồ Tát nói]: “Sa Bà chân giáo thể,
thanh tịnh tại âm văn” (chân giáo thể cơi Sa Bà
thanh tịnh nơi nghe tiếng). Bởi vậy, nếu quư
vị niệm ra tiếng, rất nhiều chúng sanh vốn
không có cách ǵ trừ được nghiệp chướng
rất sâu, họ không tin tưởng, không tiếp nhận;
dù họ không tin tưởng, không tiếp nhận, nhưng
vẫn nghe thấy, nghe thấy th́ sao? Gieo chủng tử
vào A Lại Da Thức. Bởi thế, niệm Phật ra
tiếng độ khắp ba căn, thâu tóm lợi căn lẫn
độn căn. Đấy chính là chỗ hay của
việc Niệm Phật. Tâm chân thành, nguyện vọng
khẩn thiết cầu sanh Tịnh Độ. Đó là
Tư Huệ.
Đại sư giảng cho
chúng ta biết có Sự Tŕ và Lư Tŕ. “Tŕ” là tŕ danh.
1) Thế nào là Sự Tŕ? Sự là trên
mặt sự tướng. “Quyết
chí cầu sanh”, ta có chí nguyện quyết định
cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Tiếp đó là một câu tỷ dụ: “Như tử ức mẫu” (như
con nhớ mẹ), giống như con tuy ở phương
xa vẫn thường nhớ đến mẹ. Con không nói
nhớ mẹ, nhưng trong tâm thực sự nghĩ
đến. “Vô thời tạm
vong” (không lúc nào tạm quên), đúng là trong hết
thảy thời, tại hết thảy chỗ, trong tâm người
ấy luôn chẳng rời mẹ, đó là Sự Tŕ.
Thế nhưng con người hiện tại không
được như vậy, đă sớm quên mẹ
rồi. Thời cổ dùng tỷ dụ này th́ đúng, đối
với người hiện tại th́ không đúng. Thời
cổ được dạy từ nhỏ, cha mẹ
dạy dỗ, thầy dạy dỗ, trưởng bối
dạy dỗ, quan niệm hiếu thuận in sâu trong tâm.
Đúng là niệm niệm không quên, tâm hiếu thuận! Nay
từ nhỏ cha mẹ đă không dạy, ở
trường học thầy cũng không dạy,
trưởng bối cũng không dạy, chẳng hiểu
thế nào là hiếu đạo!
Nhất là trong xă hội
hiện thời là xă hội theo chủ nghĩa công lợi[3],
chúng ta hăy lắng ḷng quán sát xă hội theo chủ nghĩa công
lợi, con người hiện tại trong xă hội
cũng có một thứ “không
lúc nào tạm quên”, lúc nào cũng nghĩ đến,
cũng đều mong cầu, thứ ǵ vậy? Tiền!
Nay chẳng thể nói là “như con nhớ mẹ”, phải
nói là “như nhớ tiền bạc”! Niệm niệm
chẳng quên vậy! Trong hết thảy thời, tại
hết thảy chỗ luôn nghĩ đến, mẹ đă
sớm bị quên mất rồi, có một thứ duy
nhất luôn mong cầu. Chúng ta không học Phật sẽ
không biết, sẽ giống hệt người thế
gian, cổ nhân bảo là “nhân vị
tài tử, điểu vị thực vong” (người
chết v́ của, chim chết v́ ăn). Ư niệm tham tiền
tài trong xă hội hiện thời mạnh mẽ nhất,
không ǵ mạnh hơn được, chỉ cần có
tiền th́ cha mẹ đều sớm vứt sạch
hết; không như trước kia. Trước kia, cha
mẹ đúng là quan trọng nhất, lại c̣n thù
thắng hơn danh văn, lợi dưỡng nhiều; v́
cha mẹ chuyện ǵ cũng vứt bỏ hết. Hiện
tại, quan niệm biến đổi, ngày tháng đă khác
rồi, không c̣n như vậy nữa.
2) Loại thứ hai là Lư Tŕ.
Trên mặt lư luận, “tâm tác, tâm
thị, tâm - cảnh nhất như, Năng Sở bất
nhị, tức thị Lư Tŕ” (tâm làm, tâm là, tâm - cảnh
hệt như một, Năng - Sở bất nhị, chính
là Lư Tŕ). Cảnh giới này hết sức cao. “Tâm tác”, tâm này là Phật, tâm
này làm Phật, tức là thực sự hiểu rơ chân
tướng của vũ trụ vạn hữu. Phạm vi
của hai chữ “tâm tác”
rất rộng lớn, chữ “tâm
tác” bao gồm điều được diễn tả
trong kinh Hoa Nghiêm: “Duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”. Kinh Hoa Nghiêm nói tám
chữ, Tịnh Độ tông dùng hai chữ “tâm tác”. Tâm làm ra những
điều ǵ? Hư không do tâm làm thành, “tác” là có thể biến, có thể hiện; hư
không do tâm làm ra. Tâm là năng tác (cái có công năng làm ra, tức
biến hiện ra), hư không là sở tác (cái
được làm thành, hiện thành). Sát-độ (ksetra):
Sát-độ là thế giới, đại thế giới,
người hiện tại gọi là “tinh hệ” (galaxy).
Tinh hệ giống như thế nào? Về mặt
thường thức, tinh hệ lớn nhất được
gọi là Ngân Hà Hệ. Ngân Hà Hệ là tinh hệ lớn nhất;
nhưng
theo
kinh Phật giảng, Ngân Hà Hệ là nhỏ nhất.
Ngân Hà Hệ chỉ là một đơn
vị thế giới, một ngàn Ngân Hà Hệ hợp thành
một đại thế giới, gọi là Tiểu Thiên
Thế Giới. Lại lấy một Tiểu Thiên Thế
Giới làm đơn vị, hợp một ngàn Tiểu
Thiên Thế Giới - quư vị hăy nhớ kỹ, một
Tiểu Thiên Thế Giới là một ngàn Ngân Hà Hệ,
một ngàn nhân một ngàn - trở thành một Trung Thiên
Thế Giới. Rồi lại lấy Trung Thiên Thế
Giới làm đơn vị, một ngàn Trung Thiên Thế
Giới gọi là một Đại Thiên Thế Giới.
Kinh Phật thường gọi Đại Thiên Thế
Giới là “thế giới”,
thuật ngữ Phật học gọi là một “Phật sát” (một cơi
Phật). Do trong một cơi Phật có ba loại Thiên, tức
Tiểu Thiên, Trung Thiên, Đại Thiên, nên gọi là Tam Thiên
Đại Thiên Thế Giới. Kinh Phật giảng thế
giới như vậy đó, chẳng thể nghĩ bàn!
Thế giới như vậy có
phải là lớn nhất hay không? Không! Kinh Hoa Nghiêm nói lớn
nhất là Thế Giới Chủng, trong một Thế
Giới Chủng có vô lượng vô biên đại thế
giới. Chúng ta đọc phẩm Thế Giới Thành
Tựu và phẩm Hoa Tạng Thế Giới [của kinh Hoa
Nghiêm] sẽ thấy. Phẩm Hoa Tạng Thế Giới có
nói đến một Thế Giới Chủng, thế
giới Sa Bà và thế giới Cực Lạc cùng nằm
trong tầng thứ mười ba của Thế Giới
Chủng ấy. Trong tầng đó có vô lượng vô biên
tam thiên đại thiên thế giới, Sa Bà và Cực
Lạc cùng nằm trong một tầng, chẳng thể
nghĩ bàn! Kinh Phật nói trong hư không pháp giới có vô
lượng vô biên Thế Giới Chủng như thế,
tuyệt đối chẳng thể tính toán được
nổi. Đại Thế Giới là như vậy đó.
Trong thế giới có rất nhiều
chúng sanh, từ đâu mà có? “Duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến”, “tâm tác”
đấy! Tâm là năng tạo (chủ thể tạo dựng),
Tác là tạo tác, tâm có thể tạo tác. Cái thân tôi, thân quư
vị, thân người khác cũng đều do tâm tạo;
thân của Thích Ca Mâu Ni Phật, thân của Tỳ Lô Giá Na
Phật, thân của A Di Đà Phật cũng là do tâm
tạo. Hết thảy vạn pháp chẳng thể ĺa
khỏi tâm, tâm là năng biến (chủ thể có công
năng biến hóa); v́ thế, tâm là bản thể của
vạn pháp. Kinh Lăng Nghiêm giảng “thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (thế
giới, vi trần, do tâm mà thành Thể). Cái Thể ấy
là hiện tượng, hiện tượng do đâu có? Do
tâm biến ra, do tâm hiện ra. “Tâm
tác” là như vậy.
Nay chúng ta giác ngộ, hiểu rơ sự
t́nh này, “tâm thị” (tâm là),
cái tâm của chúng ta đây chính là tâm Phật, là Phật. Cái
tâm “tâm tác” là chân tâm, là bổn tánh, nay chúng ta niệm
Phật th́ cái tâm niệm Phật này tương ứng
với tự tánh, chân tâm, bổn tánh, nên tâm này làm Phật.
Ta phát tâm nhất định làm Phật, nên tương
ứng với Phật. Quư vị thấy đó: Tâm ta
vốn sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh, nay ta lại phát tâm muốn làm Phật th́
nguyện vọng ấy chẳng uổng mất, trong
một đời này, chắc chắn quư vị làm
Phật, tín tâm vẹn mười, không có chút ǵ hoài nghi.
Bởi vậy, chúng tôi thường nhắc nhở các
vị đồng học: Tâm là Phật tâm, nguyện là
Phật nguyện, giải là Phật giải, hạnh là Phật
hạnh; tâm - nguyện - giải - hạnh phải cùng giống
như Phật.
Tâm Phật là ǵ? Chúng ta chẳng thể
nói từ mặt Tánh, nếu nói từ Tánh th́ “ngôn ngữ dứt bặt, tâm
hạnh xứ diệt”, không thể diễn tả
được, không thể nói ra được. Chúng tôi
phải nói theo mặt Sự, chẳng nói từ mặt Lư,
nói theo mặt Lư không được. Về Sự th́ tâm
chân thành, thường giữ ḷng chân thành, tâm thanh tịnh,
chẳng bị nhiễm ô bởi bất cứ điều
ǵ, tâm b́nh đẳng không cao - thấp, tâm chánh giác không mê
hoặc, tâm từ bi không tự tư. Nếu chúng ta
khởi tâm động niệm đều hoàn toàn
tương ứng với chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi, th́ tâm như thế là tâm
Phật. Dùng cái tâm ấy để niệm A Di Đà
Phật th́ chính là tâm tâm tương ứng, v́ sao? Tâm của
A Di Đà Phật chính là tâm ấy, tâm ấy chính là tâm
đại Bồ Đề. Chân thành là Thể, cái Thể
của chân tâm, tâm chúng ta chân, tâm chúng ta thành, không có chút ǵ
hư ngụy, không có chút ǵ hư giả, chính là
tương ứng với cái Thể của chân tâm. Thanh
tịnh, b́nh đẳng, chánh giác là Tánh Đức của
chân tâm; đại từ đại bi, cứu khổ
cứu nạn là tác dụng của chân tâm. Đối với
tự tánh, đối với Thể - Tướng - Dụng
của chân tâm, ta đều tương ứng, dùng cái tâm
ấy để niệm A Di Đà Phật, dùng cái tâm
ấy để cầu sanh về Tịnh Độ, dùng
cái tâm ấy để thân cận A Di Đà Phật th́ tâm
cảnh nhất như (tâm và cảnh giống hệt nhau).
Ông Âu Dương Cánh Vô bảo “Phật giáo không phải là
triết học” là v́ ư nghĩa trên đây. Trong triết
học, tâm và cảnh đối lập; bởi thế,
Phật pháp không phải là triết học. Trong Phật
pháp, tâm và cảnh không đối lập mà viên dung,
thống nhất. Bởi thế, trong kinh Đại
Thừa, đức Phật thường nói như thế
này: “Bất nhất, bất
dị” (không một, không khác). Quư vị chẳng thể
nói là một, v́ sao? Nếu nói là một th́ tâm là tâm, cảnh
là cảnh, chẳng thể nói là một được! Quư
vị cũng chẳng thể nói “không phải là một”; không
phải là một v́ tâm và cảnh do cùng một tánh biến
hiện. Cách nói này không dễ hiểu cho lắm, chúng tôi
dùng những vật dụng làm bằng vàng để
tỷ dụ cho quư vị dễ hiểu hơn. Ví như quư
vị có một cái nhẫn vàng, vàng ṛng làm thành nhẫn, quư
vị lại có một cái xuyến vàng; đem hai món đó
bày ra nơi đây, quư vị nói xem: Chúng là một hay là hai?
Nếu nói là một th́ nhẫn không phải là xuyến,
xuyến chẳng phải là nhẫn; nếu nói là hai th́
chúng đều là vàng ṛng, cái nhẫn là vàng ṛng, cái xuyến
cũng là vàng ṛng, không khác ǵ nhau! Bởi thế, chẳng
thể nói chúng là hai, nhưng cũng chẳng thể nói
chúng là một, không phải một, cũng không phải hai,
tâm - cảnh nhất như đấy!
Chữ “như”
là luận về Tánh, nay chúng ta nói tới “tâm”, hoặc nói tới Bồ Đề tâm th́ chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi là do
tự tánh biến hiện. Hết thảy cảnh giới
cũng đều do tự tánh biến hiện. Trong
cảnh giới, nhỏ là thân thể chúng ta, hoặc cái
gần sát thân thể ta nhất chính là áo lót ḿnh, lớn là
trọn khắp hư không pháp giới. Đó là Cảnh. Cái
tâm của chúng ta trong hiện thời là tâm Duyên Lự, nó có
thể tư duy, có thể tưởng tượng. Chúng ta
dùng cái tâm Duyên Lự ấy, cái tâm ấy do Chân Tâm biến
hiện, do Thức Tâm biến hiện. Toàn thể vũ
trụ, toàn bộ pháp giới được gọi là
Cảnh, cũng là do tâm này hiện, cũng do cái tâm này
biến, không hai, không khác. V́ vậy, Năng - Sở bất
nhị, câu này ư nghĩa rất sâu. Cái
có công năng biến hiện (năng biến) là tự tánh;
cái được biến (sở biến) chính là vạn
pháp. Vạn pháp là Tướng, tự tánh là Thể, Thể
không ĺa Tướng, Tướng chẳng ĺa Thể.
Nếu Tướng ĺa Thể th́ Tướng chẳng
thể tồn tại. V́ thế, hết thảy hiện
tượng tất nhiên trọn đủ viên măn
đức năng trong thể tánh, nay chúng ta nói nó nhất
định đầy đủ các bản năng (năng
lực, khả năng sẵn có) của bản thể.
Bản năng của bản thể là
ǵ? Trong Phật pháp gọi nó là “linh
tri”; trong kinh Đại Thừa c̣n gọi nó là “kiến văn giác tri”.
Kiến văn giác tri là bản năng của tự tánh,
bất sanh, bất diệt, không đến, không đi, phi
hữu, phi vô. Hết thảy vạn sự vạn vật
được nó biến hiện to như thế giới,
nhỏ như vi trần, đều do tâm mà thành Thể. Chúng
(tức những sự vật được biến hiện
bởi tâm) chẳng hề mất đi đặc tánh
của tâm, đặc tánh của tâm là linh tri; v́ thế,
hết thảy vật đều sống động, không
chết cứng. Tánh là sống động, nó biến ra
mọi vật, làm sao mà chết được? Bởi
thế, hết thảy vạn sự vạn vật có
bản năng thấy được, nghe được,
cảm nhận được, biết được.
Bọn phàm phu chúng ta tâm ư hời hợt, cứ
tưởng thực vật và khoáng vật là vô tri vô giác,
lầm rồi! Chúng đều hay biết, trong Phật pháp
gọi [sự hay biết ấy] là linh tri, không gọi là
tri giác mà gọi là linh tri!
Tiến sĩ Giang Bổn Thắng,
họ là Giang Bổn (Emoto), không giống họ
người Hoa chỉ có một chữ, họ là Giang Bổn,
tên là Thắng (Masaru), qua thí nghiệm chứng minh
nước (nước là vật chất) có đầy
đủ những đặc tánh của tự tánh, cây
cỏ cũng có đầy đủ những đặc
tánh ấy, vi trần cũng có đủ. V́ thế, ông ta
có thể thí nghiệm với bùn, cát, đá, thí nghiệm
trên hết thảy vạn vật bèn phát hiện chúng
đều có thể nghe, đều có thể thấy,
đều có thể hiểu được ư tưởng
của con người. Kinh Phật giảng rất rơ ràng,
rất minh bạch. Chuyện hy hữu là ông ta dùng
phương pháp thí nghiệm khoa học để chứng
minh, nhưng mới chỉ chứng minh được
một việc, sau này, ông ta sẽ dần dần thí
nghiệm tất cả hết thảy vạn vật
thảy đều có trọn đủ bản năng “thấy,
nghe, hay, biết” của tự tánh. Bây giờ đă hết
giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp tiểu
đoạn thứ hai, Tư Huệ “tịnh niệm tương kế, vô hữu gián
đoạn, cố danh Tư Huệ” (tịnh niệm
tiếp nối, không gián đoạn, nên gọi là Tư
Huệ). Chúng tôi giảng đến phần Lư Tŕ. Chúng ta hăy
đọc nguyên văn đoạn này trong sách Yếu
Giải của Ngẫu Ích đại sư một
lượt: “Lư Tŕ giả, tín Tây
Phương A Di Đà Phật thị ngă tâm cụ, thị
ngă tâm tạo, tức dĩ tự tâm sở cụ sở tạo
hồng danh, vi hệ tâm chi cảnh, linh bất tạm vong
dă” (Lư Tŕ là tin A Di Đà Phật ở Tây Phương có
sẵn trong tâm ta, là do tâm ta tạo, bèn lấy cái hồng
danh tâm ḿnh sẵn có, do tâm ḿnh tạo ra ấy để làm
cảnh ràng buộc cái tâm sao cho chẳng tạm quên mất).
Nguyên văn sách Yếu Giải viết như vậy, lúc
chúng tôi giới thiệu có phần đơn giản
hơn, dùng ba câu gồm mười hai chữ để nói
“tâm tác, tâm thị, tâm cảnh
nhất như, Năng - Sở bất nhị”. Đó là
Lư Tŕ. Xin hăy xem tiếp tiểu đoạn cuối cùng.
“Khắc
kỳ biện sự, lợi căn nhất nhất tức
bất loạn, trung hạ bất định, đản
năng nhất tâm, giai đắc văng sanh, danh Tu Huệ” (Định
kỳ hạn để tu tập th́ hàng lợi căn trong
một ngày liền bất loạn, trung hạ căn th́
không nhất định, nhưng nếu có thể nhất
tâm th́ đều được văng sanh, gọi là Tu
Huệ). Trong phần này, câu quan trọng nhất là “đản năng nhất tâm,
giai đắc văng sanh” (nhưng nếu có thể
nhất tâm th́ đều được văng sanh). Do
vậy, trong bản dịch kinh này của La Thập
đại sư có câu “nhất
tâm bất loạn, tâm bất điên đảo”. Hai câu
này vô cùng trọng yếu, đều là Tam Huệ
đầy đủ. Chỗ thù thắng khôn sánh của
pháp môn Niệm Phật là thời gian học tập ngắn
ngủi, không cần một thời gian quá dài, nhưng thành
tựu thù thắng khôn sánh. Kinh Di Đà cho biết thời
gian tu học phải mất bao lâu? Bảy ngày. Kinh Di Đà
dùng con số Bảy để biểu thị pháp; nhưng
ở đây kinh nói rơ ràng “nhược
nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược
tam nhật, nhược tứ nhật” (hoặc một
ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày) cho
đến “nhược thất
nhật” (hoặc bảy ngày). V́ sao? Nếu không ghi rơ
như thế, chúng ta sẽ hiểu con số Bảy là
biểu thị pháp, con số Bảy biểu thị sự
viên măn, chứ không nhất định là bảy ngày thực
sự. Kinh đă dạy như vậy, chúng ta phải
biết bảy ngày ở đây là nói trên mặt Sự,
chứ không phải là biểu thị pháp, quả thực luận
trên mặt Sự. Lợi căn là người có thiện
căn hết sức sâu dầy, người ấy
niệm một ngày bèn nhất tâm bất loạn, có hay
không? Có!
Trong kinh Địa Tạng, chúng ta
thấy Bà La Môn nữ (cô gái thuộc giai cấp Bà La Môn)
niệm Phật một ngày một đêm, quả thật
niệm đến mức nhất tâm bất loạn, v́
sao? Trong Định, cô ta đi thăm địa ngục.
Quư vị thấy quỷ vương trong địa
ngục trông thấy cô ta đi đến bèn ra tiếp
đón, gọi cô ta là Bồ Tát, hỏi: “Bồ Tát
đến đây có việc ǵ chăng?” Bà La Môn nữ là
phàm phu, niệm đến mức nhất tâm bất
loạn bèn thành Bồ Tát. Theo Đại Thừa, Sự
nhất tâm chính là hàng Bồ Tát thuộc địa vị Thập
Tín trong Viên giáo, từ Sơ Tín đến Thập Tín đều
là Sự nhất tâm bất loạn. Ở phần trên, chúng
tôi đă nói: Trong ba thứ Bất Thoái, Bồ Tát thuộc địa
vị Thập Tín trong Viên Giáo đắc hai thứ Bất
Thoái, một là Vị Bất Thoái, hai là Hạnh Bất
Thoái. Nếu nhất tâm này là Lư Nhất Tâm Bất Loạn
th́ vị ấy là Pháp Thân Bồ Tát, thuộc vào địa
vị từ Sơ Trụ trở lên trong Viên Giáo, phá
một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh. Bà La
Môn nữ niệm Phật suốt một ngày một đêm
th́ đạt được Lư nhất tâm bất loạn
hay Sự nhất tâm bất loạn? Không dám chắc là Lư
nhất tâm bất loạn, nhưng Sự nhất tâm
bất loạn chúng ta dám đoan chắc. Sự nhất tâm
đă bất phàm rồi, văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới bèn sanh vào Phương Tiện
Hữu Dư độ.
Thế nhưng Tây Phương
Tịnh Độ hết sức vô cùng đặc biệt,
bốn cơi ở cùng một chỗ; bởi thế, sanh vào
một cơi là sanh trong hết thảy cơi, sanh vào một cơi
bèn đạt được cả bốn cơi, bất
luận sanh vào cơi nào. Công phu thành phiến sanh vào Phàm Thánh
Đồng Cư độ. Công phu thành phiến cũng là
nhất tâm bất loạn, nhưng ở mức độ
nông cạn nhất, không thực sự là nhất tâm
bất loạn. Quư vị khuất phục được
Kiến Tư, nhưng chưa đoạn được
Kiến Tư phiền năo, Sự nhất tâm là đoạn
được Kiến Tư phiền năo. Lư nhất tâm
chẳng những đoạn được Kiến Tư
phiền năo mà Trần Sa phiền năo cũng đoạn
luôn, vô minh cũng phá được một phẩm; [người
đạt được] Lư nhất tâm bất loạn là
hạng lợi căn! Lợi căn và độn căn nh́n
theo mặt Tướng, th́ là một đằng buông
xuống được, một đằng không buông
xuống được. Người lợi căn buông
xuống được, người độn căn
không buông được, duyên do là như vậy. Thân tâm,
thế giới hết thảy buông xuống
được, dẫu sống trong thế gian này vẫn
chẳng khác ǵ mọi người, giống hệt mọi
người, nhưng trong tâm nhất định chẳng
nhiễm trước, không phải là buông xuống trên
mặt Sự mà là buông trong tâm!
V́ sao người ấy có thể
làm được? V́ trong tâm hướng về thế giới
Cực
Lạc, thế giới Cực Lạc là nhà cũ của
ḿnh, A Di Đà Phật là cha mẹ của ḿnh, các
thượng thiện nhân là anh em của ḿnh. Trong nhà ḿnh cái
ǵ cũng tốt đẹp, không có chút ǵ khuyết hăm, luôn nghĩ
đến nhà! Gấp rút trở về nhà, chẳng cần
đến mọi thứ ở nơi đây nữa. Ḿnh du
hành đến đây thôi, nơi đây không phải là
chỗ tốt đẹp! Hết thảy người,
sự vật nơi đây quả thật không có thứ
nào đáng cho ḿnh vương vấn cả, không có một
thứ ǵ đáng cho ta bận ḷng. Người ấy thực
sự buông xuống được, chính là lợi căn!
V́ vậy, trong thế gian này, quư vị nói là tốt đẹp,
nhưng người ấy nhất định chẳng
tham luyến; quư vị bảo là chẳng tốt, người
ấy chắc chắn không nóng giận. Người ấy
thực sự dùng cái tâm thanh tịnh, b́nh đẳng,
từ bi để đối đăi với tất cả
hết thảy người, sự vật, hết thảy
vạn pháp trong thế gian này; trong tâm người ấy thực
sự giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh
chứ không nhiễm. Đó là Sự nhất tâm bất
loạn!
Gấp rút quay về nhà, nơi đây
chẳng có ǵ vui thú, vui chơi đủ rồi, về nhà
vẫn tốt hơn. Nếu tham luyến chốn này, quư
vị sẽ không thể trở về nhà được.
Ở đây, chúng tôi dùng tỷ dụ để quư vị
dễ hiểu hơn. Lợi căn thực sự thành
tựu trong một ngày. Sau khi đạt được
nhất tâm bất loạn rồi sẽ chẳng bị mất
đi, thực sự đạt được. Nay dường
như có được chút cảnh giới nào, nhưng ra
khỏi Niệm Phật Đường lại loạn, tức
là quư vị chưa đạt được nhất tâm
bất loạn! Phải nhớ kỹ, sau khi đạt
được, không bị mất đi, th́ mới thực
sự là đạt được. Công phu thành phiến
cũng giống như vậy th́ quư vị mới có thể
thành tựu; nhưng sau khi đạt được, quư
vị càng phải tinh tấn, càng nỗ lực, thân tâm nhẹ
nhơm, pháp hỷ sung măn, giống như Khổng phu tử
đă nói “bất diệc duyệt
hồ?” (cũng chẳng vui sao). Thực sự
đạt được có hiện tượng như
vậy đó, hết sức sung sướng như thế
đó.
“Trung
hạ bất định”: Người căn tánh trung
hạ không nhất định, có kẻ hai ngày, ba ngày,
bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, căn tánh tệ nhất
cũng bảy ngày đạt được. Vậy th́
chúng ta phải tự hỏi: “Cớ sao chúng ta niệm
Phật đến bảy mươi ngày vẫn không
đạt được, do nguyên nhân ǵ vậy?” V́ không thực
sự niệm! Đối với thế gian này vẫn
lưu luyến, vẫn chưa buông xuống
được, vậy là không có cách ǵ hết. Từ
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện, chúng
ta thấy pháp sư Oánh Kha đời Tống, ngay cả An
Sĩ Toàn Thư lúc dẫn những thí dụ trong Văng Sanh
Truyện cũng nêu truyện của Ngài, truyện của Ngài
là một thí dụ tốt. Ba ngày ba đêm nhất tâm
bất loạn niệm Phật cảm được A Di
Đà Phật tới.
Sư là người xuất gia, nhưng
không giữ thanh quy[4],
tức là một người xuất gia phá giới, không
phải là một vị xuất gia tốt lành. Đại
chúng đều coi thường Ngài là hạng căn tánh hèn
kém quá đỗi, tự ḿnh không có cách ǵ câu thúc chính ḿnh,
nhưng Sư có chỗ hay, chỗ hay đó hết sức
khó có, chính chỗ hay đó đă cứu Sư. Chỗ hay
nào vậy? Sư hiểu nhân quả báo ứng, bởi
thế, Sư thường nghĩ: Do những hành vi mà chính
ḿnh đă tạo, chắc chắc phải đọa
địa ngục! Nghĩ đến địa ngục
bèn sợ hăi, run rẩy, hỏi đồng tham đạo
hữu có cách ǵ cứu được ḿnh chăng? Có
một đồng tham đưa cho Sư một cuốn
Văng Sanh Truyện, bảo: “Ông xem cuốn sách này cũng có
lợi cho ông!” Sư bèn đọc Văng Sanh Truyện,
hết sức cảm động, đau đớn khóc
ṛng, quyết tâm niệm Phật cầu sanh về Tịnh
Độ, buông xuống vạn duyên.
V́ thế, Sư đóng chặt cửa
liêu pḥng, suốt ba ngày ba đêm không ăn cơm, không
ngủ nghê, niệm một câu A Di Đà Phật đến
tột bực. Niệm suốt ba ngày ba đêm đúng là
tinh thần mệt mỏi, sức lực ṃn mỏi,
tấm ḷng chân thành, thực sự mong văng sanh thế
giới Cực Lạc, tâm thiết tha như mong
được về nhà. A Di Đà Phật hiện
đến, Sư hết sức hoan hỷ, A Di Đà
Phật bảo Sư: “Tuổi thọ của ông c̣n
được mười năm nữa. Ông hăy khéo
niệm Phật, mười năm sau lúc lâm chung ta
đến rước ông, A Di Đà Phật lại
đến rước ông”. Sư cảm được
Phật đến an ủi. Sư thật thông minh,
thật phi phàm, thưa cùng Phật: “Con tập khí quá
nặng, trong mười năm ấy con không có cách ǵ
tự khống chế bản thân, chẳng biết sẽ lại
tạo bao nhiêu tội nghiệp, cũng không chắc
được văng sanh”. Sư cầu xin A Di Đà Phật:
“Tuổi thọ mười năm con không cần
đến, nay con muốn đi theo Ngài”. A Di Đà Phật
đáp ứng: “Ba hôm nữa, ta đến tiếp dẫn
ông!”
Sư hoan hỷ vô cùng, mở cửa liêu
pḥng bảo mọi người: “Ba ngày ba đêm tôi niệm
Phật không ngủ nghỉ, A Di Đà Phật hiện
đến, ba ngày nữa tôi sẽ đi”. Mọi
người trong chùa chẳng ai tin: “Ông là hạng
người như vậy, lẽ đâu đơn giản
đến thế?” Nhưng thời gian ba ngày rất
ngắn, mọi người ôm ḷng bán tín bán nghi, coi sau ba
ngày Sư có thực sự văng sanh hay không. Đến ngày
thứ ba, Sư yêu cầu đại chúng niệm Phật
đưa Sư đi, đại chúng đương nhiên
rất hoan hỷ, cũng tính coi rốt cuộc là thật
hay giả. Niệm chưa đầy một khắc,
Sư bèn nói (người khác không thấy): “A Di Đà
Phật đến rồi, tôi phải theo Ngài đi”. Nói
xong bèn mất, đúng là không giả chút nào. Hạng trung
căn ba ngày ba đêm thôi!
Bởi thế, đọc
chuyện của ngài Oánh Kha, chúng ta thấy Ngài làm
gương cho chúng ta. Nếu khi chúng ta gặp phải tai
nạn lớn lao, quyết định chẳng do dự,
nhất quyết chớ nên sợ hăi, ngay trong lúc ấy hăy
nên hạ quyết tâm cầu sanh về Tịnh Độ.
Mọi thế duyên trong thế gian này buông xuống hết,
không vướng mắc mảy may, niệm một câu
Phật hiệu đến cùng cực, nhất định
Phật sẽ đến. Quư vị thấy sư Oánh Kha
không giữ thanh quy, là kẻ phá giới, mà có thể [niệm
Phật] trong ṿng ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn Sư. Chúng ta dẫu có lầm
lỗi, tợ hồ vẫn chưa nghiêm trọng như
Sư, lẽ đâu Phật chẳng đến? Vấn
đề là tín nguyện của quư vị có chân thật hay
không? Quư vị không mong niệm tới mức Phật hiện
tới th́ cái tâm ấy là giả, đối với thế
gian này vẫn c̣n tham luyến lắm, sự việc
vướng ruột bận gan c̣n quá nhiều, không thể
buông xuống được! Danh văn lợi
dưỡng, ngũ dục lục trần thế gian, quư
vị có thực sự buông xuống được hay
không?
Điều ǵ cũng buông xuống
được th́ về mặt Lư như đức
Phật thường nói: “Phàm sở
hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm
tất cả những ǵ có tướng đều là hư
vọng), “nhất thiết hữu
vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng).
Những câu này đều là đức Phật dạy chúng
ta hăy triệt để buông xuống. Một bộ kinh
Đại Bát Nhă gồm sáu trăm quyển nhằm dạy
chúng ta điều ǵ? Tôi nêu một kết luận chung
hết sức đơn giản là “nhất thiết pháp vô sở hữu, tất cánh không,
bất khả đắc” (hết thảy pháp vô sở
hữu, rốt ráo không, bất khả đắc). Tôi
tổng kết bằng mười hai chữ, kinh
Đại Bát Nhă sáu trăm quyển được
diễn tả bằng mười hai chữ đó. Nếu
quư vị thực sự hiểu rơ, lẽ đâu không buông
xuống được? Không buông xuống cũng chẳng
được, v́ sao? Vô sở hữu, rốt ráo không,
bất khả đắc! Tâm Kinh là tinh hoa của kinh
Đại Bát Nhă, cuối cùng nói “vô
trí diệc vô đắc”. Quư vị c̣n tham ǵ nữa? C̣n
vướng mắc chi nữa? Toàn bộ là không, “phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng”, phải giác ngộ!
Người giác ngộ sẽ
buông xuống, triệt để buông xuống, nên
được tự tại. Vẫn c̣n có tí ti
vướng mắc sẽ không buông xuống
được, mê mà! Chưa giác ngộ! Mê thực sự
chẳng dễ phá, vừa phá được cửa ải
mê liền được đại tự tại; v́
thế, “đản năng nhất
tâm” (chỉ có thể nhất tâm) bèn được văng
sanh, tức Tu Huệ. Văn Huệ, Tư Huệ, Tu
Huệ, Tam Huệ đầy đủ. Chúng tôi giảng
như vậy, trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại
sư gọi chúng là ba điều, quư vị hăy nghĩ xem
ba điều ấy có phải là một nhưng ba, ba
nhưng một hay không? Trong Văn có Tu có Tư, trong Tư
có Văn có Tu, trong Tu có Văn có Tư, một mà ba, ba
nhưng một; tùy theo quư vị nh́n từ góc độ nào
mà được thay bằng một danh từ khác nhau,
nhưng chỉ là một sự việc. Pháp môn này học đơn
giản như vậy đó, từ một ngày đến bảy
ngày bèn thành công. Quư vị nghĩ xem há c̣n có pháp môn nào nhanh
chóng hơn pháp môn này hay không? T́m không ra!
Chúng ta hằng ngày niệm
Phật, hằng ngày tu hành, tu suốt mười mấy
năm chẳng có tin tức ǵ hết, là do nguyên nhân nào? Quư
vị tu không đúng pháp! Bà La Môn nữ tu một ngày
đúng pháp. Pháp sư Oánh Kha tu ba ngày đúng pháp. Đúng pháp
là như thế nào? Buông xuống! Tâm trở về nhà
khẩn thiết, chân thật, không giả. Chúng ta tín
nguyện không chân thật, niệm Phật không thật thà,
niệm Phật nhưng chẳng bỏ được
thế duyên, không chắc thật, đạo lư là đây. Oánh
Kha biết ḿnh không văng sanh, chắc chắn đọa
địa ngục. V́ sợ đọa địa ngục
nên gấp rút cầu văng sanh; đó là cái duyên văng sanh thế
giới Cực Lạc của Sư, bức bách Sư không
văng sanh không được. Nếu không văng sanh, chắc
chắn phải đọa địa ngục! Duyên mỗi
người không giống nhau. Nếu pháp sư Oánh Kha không
phá giới phạm quy, tạo tác hết thảy những điều
chẳng lành, rất có thể Sư không thể phát
khởi tinh tấn dũng mănh, uổng phí một
đời này. Sư v́ tội lỗi bức bách, ở
phần trên đă nói “kẻ
Ngũ Nghịch Thập Ác một niệm hay mười
niệm đều được văng sanh”, câu chuyện
của pháp sư Oánh Kha đă chứng minh điều
ấy; câu nói trên là thật, chứ không phải giả!
V́ thế, chớ nên coi
thường, rẻ rúng những kẻ phá giới làm ác, v́
sao? Những kẻ ấy chỉ cần ngày nào đó giác
ngộ quay đầu, rất có thể vượt
trội chúng ta, chẳng phải là không có chuyện như
vậy. Chúng ta là phàm phu mắt thịt biết họ giác
ngộ lúc nào? Quay đầu lúc nào? V́ vậy, Phổ
Hiền Bồ Tát dạy chúng ta lễ kính chư Phật,
đối với hết thảy chúng sanh phải cung kính. Chúng
ta phải học theo những điều hay của
người khác, tuyệt đối chẳng bận tâm
bởi những điều dở của người khác,
đương nhiên càng không thể rêu rao, mà hăy bồi
dưỡng cái tâm hạnh thuần tịnh, thuần
thiện của chính ḿnh. Đoạn tiếp theo là
đoạn thứ bảy.
Đoạn thứ bảy
thuyết minh “nhất tâm bất
loạn, nhất tâm viên cụ (viên măn cụ túc) Tam Học,
Tam Huệ, Tam Tư Lương” (nhất tâm bất
loạn, nhất tâm đầy đủ trọn vẹn
(viên măn trọn vẹn) Tam Học, Tam Huệ, Tam Tư
Lương). Tam Học là Giới - Định - Huệ,
Tam Huệ là Văn - Tư - Tu, Tam Tư Lương là Tín -
Nguyện - Hạnh. Nhất tâm viên măn đầy đủ
[những điều ấy]. Trong một câu Phật
hiệu cũng viên măn đầy đủ [những điều
đó], tức là ta niệm một câu A Di Đà Phật,
chắc chắn tương ứng với Tam Học, Tam
Huệ, Tam Tư Lương, mọi thứ đều
đầy đủ trong câu niệm Phật ấy th́
gọi là “nhất tâm xưng
niệm”. Trong cuốn Di Đà Yếu Giải Giảng
Nghĩa, pháp sư Viên Anh đă chú giải như sau: “Ngă Chấp mất” – tức
Ngă Chấp bị phá – “chẳng
bị Kiến Tư làm loạn th́ là Sự Nhất Tâm”.
Trong Đại Thừa thường giảng như
thế, đoạn Kiến Tư phiền năo!
Nếu từ cương lănh mà nói th́
đơn giản hơn một chút. Kiến phiền năo có
năm loại lớn:
1) Thân Kiến: Chấp trước thân
là ta, tham sống, sợ chết, tự tư tự
lợi. Đó là Thân Kiến, tức cái ải đầu
tiên.
2) Loại thứ hai là kiến giải
lầm lạc, tức Biên Kiến. Biên Kiến là
đối nghịch, đối lập; thứ kiến
giải như vậy gọi là Biên Kiến.
3) Loại thứ ba là Kiến Thủ
Kiến.
4) Loại thứ tư là Giới
Thủ Kiến. Hai loại này thường được
gọi là Thành Kiến như ta hay nói: “Người nào đó
có thành kiến rất sâu”. Thành Kiến có hai loại: Thành
kiến nơi nhân và thành kiến nơi quả. Pháp thế
gian hay xuất thế gian chẳng ĺa nhân quả. Kiến
Thủ Kiến là thành kiến nơi Quả. Giới
Thủ Kiến là thành kiến nơi Nhân, chấp trước
kiên cố tạo thành chướng ngại.
5) Loại cuối cùng là Tà Kiến, Tà
Kiến nghĩa là ǵ? Chẳng thuộc vào bốn loại
trên. Tất cả hết thảy kiến giải sai
lầm đều quy nạp vào loại Tà Kiến này.
Năm thứ Kiến trên đây đều
sai lầm, đoạn được chúng sẽ chứng
Sơ Quả Tu Đà Hoàn. Nếu là Đại Thừa Viên
Giáo th́ là Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín.
Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín và Tiểu
Thừa Tu Đà Hoàn trọn chẳng chấp trước
thân này là ta; nói cách khác, không tự tư tự lợi, không
tham sống sợ chết. Đó là hiện tượng phá
Thân Kiến. Phá được Thân Kiến sẽ như
thế nào? Từ chỗ này, quư vị hiểu rơ: Chẳng
tham sống sợ chết, quyết định chẳng
tự tư tự lợi.
Tư Hoặc là cách nghĩ lầm
lạc, cũng gồm năm loại lớn. Thứ
nhất là Xan Tham (keo kiệt, tham lam); ngoài ra là Sân Khuể
(nóng giận), Ngu Si, Ngạo Mạn, hoài nghi lời thánh
hiền dạy dỗ. Đó là những sai trái về
mặt tư tưởng, so ra c̣n nghiêm trọng hơn
những sai trái nơi kiến giải, khó phá hơn.
Nếu quư vị phá được cả năm thứ này
sẽ thoát khỏi lục đạo luân hồi, siêu
việt tam giới, chứng quả A La Hán, tương
đương với Đệ Thất Tín trong
địa vị Thập Tín Bồ Tát của Đại
Thừa. Nhưng trong Tiểu Thừa chỉ chứng
được Vị Bất Thoái, trong ba thứ Bất
Thoái chỉ chứng được một thứ, A La Hán
cũng giống như vậy. Thế nhưng Bồ Tát
trong Viên Giáo chứng được hai thứ Bất Thoái
là Vị Bất Thoái và Hạnh Bất Thoái. Công phu
đoạn chứng (đoạn phiền năo và chứng
quả) tương đồng, nhưng trí huệ và tín
nguyện khác biệt; Bồ Tát trội hơn Thanh Văn!
Nói rơ tiêu chuẩn của Sự Nhất Tâm là như thế
đó.
Lư Nhất Tâm th́ “Pháp Chấp vong, bất vị nhị biên sở loạn,
vi Lư nhất tâm” (Pháp Chấp mất, chẳng bị hai
bên (Có và Không) làm loạn th́ là Lư Nhất Tâm). Đức
Phật dạy Chấp gồm hai loại lớn: một
là Ngă Chấp, hai là Pháp Chấp. Pháp Chấp là chấp
trước đối với hết thảy các pháp; cho Pháp
là có, cho Ngă là không. Thân là do Ngũ Uẩn tụ tập
biến thành thân. Tiểu Thừa quan niệm không có thân,
nhưng có Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức; năm Uẩn ấy tồn tại. Chấp
trước như vậy gọi là Pháp Chấp. Bồ Tát
thông minh, có trí huệ, biết Ngũ Uẩn cũng là
giả. Quư vị thấy Bát Nhă Tâm Kinh mở đầu bằng
câu: “Quán Tự Tại Bồ
Tát hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không”. “Năm Uẩn đều không”
là phá Pháp Chấp, chẳng bị “nhị biên sở loạn” (hai bên làm loạn). Hai bên là đối lập,
chẳng bị hai bên làm loạn th́ trong Đại Thừa
Phật pháp gọi là “nhập
Bất Nhị pháp môn”. Đó là Lư Nhất Tâm, hết
thảy đều bất nhị.
Từ căn bản mà nói th́ Năng và Sở
bất nhị, quư vị thấy “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”,
Năng Hiện (chủ thể biến hiện) và Sở
Hiện (cái được biến hiện) bất
nhị, Năng Biến và Sở Biến bất nhị,
Năng - Sở bất nhị. Tánh - Tướng bất
nhị. Lư - Sự bất nhị, chúng sanh và Phật
bất nhị, Bồ Đề và phiền năo bất
nhị, sanh tử và Niết Bàn bất nhị. Nhập
Bất Nhị pháp môn, trọn pháp giới hư không
giới dung hợp thành một Thể. Tâm tánh của chính
ḿnh dung nhập chân tâm; bổn tánh, thân thể của chính
ḿnh và pháp giới (tiểu vũ trụ và đại vũ
trụ) dung hợp thành một Thể. Trong tự tánh
vốn sẵn đủ trí huệ hiện tiền,
đức năng hiện tiền, tướng hảo
hiện tiền. Đó là Lư nhất tâm bất loạn, là
cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Kinh Hoa Nghiêm
gọi cảnh giới ấy là “pháp
giới vô chướng ngại, Lư Sự vô ngại, Sự
Sự vô ngại”. Hễ “nhị” bèn có ngại, tức
là có chướng ngại; c̣n Bất Nhị th́ không có chướng
ngại. Nhập Bất Nhị pháp môn được
đại tự tại, trong ṿng vũ trụ quả
thật không có chướng ngại nào! Tánh - Tướng
là một, chứ không phải hai, Lư - Sự cũng là
một, chứ không phải hai.
Trong Đại Thừa Phật pháp thường
nói “bất nhất, bất dị”
(không
một,
không khác), đấy chính là pháp môn Bất Nhị chân chánh:
Chẳng thể nói là một, mà cũng chẳng thể nói
là hai; một lẫn hai đều chẳng thể nói, nên
gọi là “chân chánh bất
nhị”. Quư vị phải thấu hiểu ư nghĩa này,
nhất quyết đừng phân biệt, đừng vọng
tưởng, đừng chấp trước; hễ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước liền
rớt vào hai hay ba (tam tâm, nhị ư). Bởi thế,
đối với hết thảy các pháp, chỉ cần ĺa
được vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, sẽ thấy được chân
tướng. Chân tướng không một, không khác, bất
sanh, bất diệt, không đúng, không sai, chẳng phải
có, chẳng phải không. Trong hết thảy các kinh
Đại Thừa, đức Phật đă giảng
điều này rất nhiều lần với hy vọng
chúng ta sẽ do vậy mà có thể lănh hội, ngộ
nhập.
“Thất
nhật bất loạn hậu, vô cánh khởi Hoặc tạo
nghiệp chi sự” (sau khi
đă đạt được bảy ngày bất loạn
th́ sẽ không c̣n có những chuyện khởi Hoặc,
tạo nghiệp), đến đây sách [Yếu Giải]
nói toạc ra. Ở phần trên, tôi đă thưa cùng quư
vị: Chỉ cần quư vị đắc nhất tâm
bất loạn th́ sau khi đă đắc, quư vị không thể
bị mất đi! Sau khi đă đắc mà lại bị
mất đi th́ là giả, chẳng phải thật! Đă đạt
được rồi nhất định pháp hỷ sung
măn, thật đúng như Khổng lăo phu tử đă nói “học nhi thời tập chi, bất
diệc duyệt hồ” (học rồi thường tu
tập, cũng chẳng vui sao?) Trong nhà Phật chúng ta
gọi niềm “vui” ấy là “pháp hỷ sung măn”,
thường sanh tâm hoan hỷ. Tiến sĩ Giang Bổn
Thắng của Nhật Bản nói: Nếu bây giờ
mọi người dùng cái tâm thương yêu, dùng cái tâm
cảm tạ đối với hết thảy
người, sự, vật th́ cái tâm cảm tạ và cái tâm
thương yêu ấy chính là một phần pháp hỷ. V́
sao lại đề xướng như thế? Nói thật
ra, [cái tâm cảm tạ, thương yêu ấy] chẳng do
tự tánh lưu lộ. V́ sao? Nếu từ tự tánh
lưu lộ th́ chính là “nhập
Bất Nhị pháp môn”, cái tâm cảm ân, yêu thương
ấy sẽ là thật, chứ không phải giả. Nay
bọn phàm phu chúng ta nói đến yêu thương, hay nói
đến cảm ân th́ vẫn có tư tâm (tâm riêng tư, vị
kỷ) trong ấy; không có tư tâm mới là thật. Nếu
có tư tâm th́ chẳng phải là thuần chân. Chúng ta
chỉ có thể nói là “tương
tự chân” (gần giống với chân), chẳng
phải là thuần chân, có chút phần tương tự, có
chút ít gần gũi.
Tiếp theo, hăy tham khảo sách Di Đà
Yếu Giải Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh
([trong thư viện] ở nơi đây có bộ Di Đà Yếu
Giải Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh), trong sách
này, pháp sư giảng: “Nhất
nhật chí thất nhật, năi khắc định kỳ hạn,
dĩ biện sanh tử đại sự” (Từ một
ngày cho đến bảy ngày chính là lập thời hạn
nhất định để lo liệu đại sự
sanh tử). Đúng là phải lo liệu đại sự
sanh tử, giống như ngài Oánh Kha đúng là lo liệu
đại sự sanh tử; giống như Bà La Môn nữ
biết mẹ đọa địa ngục, cô ta thực
sự muốn giúp mẹ, ḥng cứu vớt mẹ ḿnh,
không giả một chút nào, tấm ḷng thuần chân. Tâm
hạnh như vậy mới ḥng đạt
được Niệm Phật tam-muội. Tâm không
thuần chân như thế sẽ không thể đạt
được Niệm Phật tam-muội! Đạt được
Niệm Phật tam-muội chính là Lư Nhất Tâm, Sự
Nhất Tâm, bao gồm cả công phu thành phiến, trong
Phật pháp thường bảo là “sanh tử đại sự sở tác dĩ biện”
(đại sự sanh tử đă hoàn thành), đă hoàn tất ổn thỏa chuyện ấy
rồi! Pháp sư nói: “Hà dĩ
cố? Nhất tâm bất loạn, tựu thị Niệm
Phật tam-muội công thành, bất loạn tức Chánh Định
dă” (V́ sao vậy? Nhất tâm bất loạn chính là thành
tựu công phu Niệm Phật tam-muội. Bất loạn
chính là Chánh Định). Sư giảng mấy câu này
rất hay. Bởi lẽ, quư vị đạt
được cảnh giới ấy, sẽ không thể
nào khởi Hoặc tạo nghiệp nữa, chẳng thể
nào! Quư vị nắm chắc chuyện văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thực sự
đạt được. Trong phần này, chúng tôi cũng
chia thành bốn tiểu đoạn. Tiểu đoạn
thứ nhất là:
“Bất
luận Sự Tŕ, Lư Tŕ”, hai thứ Tŕ Danh đều
tốt cả, bất luận Sự Tŕ hay Lư Tŕ, chỉ cần
tŕ đến mức“phục
trừ phiền năo, năi chí Kiến Tư tiên tận, giai Sự
nhất tâm” (khuất phục, trừ khử phiền
năo, cho đến đoạn được Kiến Hoặc
hay Tư Hoặc trước th́ đều là Sự
Nhất Tâm). C̣n nếu “tŕ chí
tâm khai kiến bổn tánh Phật, giai Lư nhất tâm” (tŕ
đến khi tâm khai, thấy được vị Phật
trong bổn tánh, đều là Lư Nhất Tâm). Không phải là
do Sự Tŕ sẽ đạt được Sự
Nhất Tâm, do Lư Tŕ bèn đạt được Lư Nhất
Tâm, không thể nói như thế được! Sự Tŕ
hay Lư Tŕ đều là phương cách hay phương pháp để
niệm Phật; tùy thuộc công phu của chính ḿnh sâu hay
cạn. Quư vị nhất định phải niệm
đến khi có thể chế ngự phiền năo, đó là
công phu niệm Phật đắc lực. Trong tâm chỉ có
A Di Đà Phật, không c̣n nghĩ đến ǵ khác, tự
tư tự lợi, tham - sân - si - mạn, danh văn,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần không
hề có những ư niệm ấy. Trong tâm chỉ có A Di
Đà Phật; ngoại trừ A Di Đà Phật ra, ư
niệm ǵ cũng không có. Chưa đoạn phiền năo,
chỉ cần quư vị có công phu đắc lực th́
phiền năo không thể đột ngột xuất hiện
được, đó gọi là “công phu thành phiến”. Tuy
Sự Nhất Tâm nông cạn vẫn có thể văng sanh, sanh
vào Phàm Thánh Đồng Cư độ.
Nếu công phu niệm Phật của quư
vị rất sâu, chẳng cần biết là Sự Tŕ hay Lư
Tŕ, hễ có công phu khá sâu, đoạn được
phiền năo, phiền năo vĩnh viễn chẳng c̣n
khởi nữa, đó chính là thực sự đạt
được Sự Nhất Tâm. Đoạn
được Kiến Tư phiền năo là thành tựu
Niệm Phật tam-muội, Niệm Phật tam-muội
rất sâu. Kinh Lăng Nghiêm nói Niệm Phật tam-muội
sâu xa ấy tương đương với Cửu
Thứ Đệ Định. A La Hán tu Cửu Thứ
Đệ Định đoạn Kiến Tư phiền
năo, vượt thoát lục đạo luân hồi. Dùng công
phu niệm Phật so ra đơn giản hơn phương
pháp của A La Hán. V́ thế, trong kinh Đại Tập,
đức Thế Tôn dạy chúng ta: “Niệm A Di Đà Phật là vô thượng thâm
diệu Thiền”. Rất nhiều người không
biết, vẫn muốn tham thiền, chẳng biết
Niệm Phật là Thượng Thượng Thiền, Thượng
Thượng Vi Diệu Thiền. Dùng phương pháp này có
thể thành tựu Cửu Thứ Đệ Định,
đắc Sự nhất tâm bất loạn bèn sanh vào
Phương Tiện Hữu Dư độ.
Nếu tiến hơn một bước
nữa th́ vẫn dùng phương pháp này, đoạn trừ
Trần Sa phiền năo, cũng phá được một phẩm
vô minh, đấy chính là “tâm
khai, kiến bổn tánh Phật” (tâm khai ngộ, thấy
được đức Phật nơi bổn tánh), nhà
Thiền thường gọi “tâm khai” là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”, đó là Lư
Nhất Tâm. Đắc Lư Nhất Tâm, sanh vào Thật Báo Trang
Nghiêm độ, chẳng thể nghĩ bàn! Do v́ mọi
người trong Phật môn coi thường pháp môn Niệm
Phật nên Ngẫu Ích đại sư đau ḷng! V́ sao? Thù
thắng, đơn giản, dễ dàng như thế
ấy, quư vị tu pháp môn này nhất định thành
tựu trong một đời. Quư vị không tin tưởng,
lại hoài nghi, lại c̣n phê b́nh, muốn t́m cầu pháp môn
nào khác, muốn thành tựu nơi pháp môn nào khác ư? Khó
lắm! Rất ư là khó! Không biết pháp môn này thù
thắng! Bởi thế, pháp môn này được gọi
là “nan tín chi pháp” (pháp môn khó
tin). Chúng ta đọc đến chỗ này th́ quư vị phải
hiểu rơ, thực sự là khó tin, chẳng phải giả
vờ nói “khó tin” đâu nhé! Đừng nói người khác
không tin, trước hết, hăy tự hỏi chính ḿnh,
tự ḿnh có tin được hay là không? Nếu chính ḿnh thực
sự tin, quư vị sẽ chẳng đến nỗi
như bây giờ!
Do đây biết rằng: Quư vị
niệm Phật đến tận hôm nay vẫn chưa
đạt được công phu thành phiến là v́ chưa
tin thực sự! Do điều này, quư vị hăy suy nghĩ:
V́ sao đối với phương pháp Niệm Phật
của Ấn Quang đại sư, Ngài không nói đến
giảng kinh, tôi lại đổi điều kiện “không
giảng kinh” thành “nhất định phải giảng kinh!”
Thời Ấn Quang đại sư không giảng kinh th́
được, người niệm Phật [thời
đại sư] thiện căn sâu dầy, người
niệm Phật thật thà, tin được, nguyện
được, hành được. Nếu nay chúng tôi không
giảng thấu triệt những đạo lư này, quư
vị sẽ chẳng tin, chẳng nguyện, không có cách ǵ
hết. Mục đích giảng kinh là ǵ? Nhằm thành
tựu tín nguyện kiên cố cho quư vị, mục đích
là ở chỗ này. Nay đă hết thời gian rồi!
Tập
26
Xin xem tiếp tiểu đoạn
thứ hai của đoạn thứ bảy “nhất tâm bất loạn”: “Sự Tŕ, văn thuyết Niệm
Phật pháp môn, khả dĩ hoành siêu tam giới, đới
nghiệp văng sanh, thâm tín bất nghi, nhất tâm hệ niệm,
cú cú phân minh, niệm niệm tương tục, hành, trụ,
tọa, ngọa, duy thử nhất niệm, cánh vô nhị
niệm, tức dĩ nhất niệm nhi trừ chúng niệm.
Do vị đạt lư, cố viết Sự Tŕ” (Sự
Tŕ: Nghe nói đến pháp môn Niệm Phật có thể vượt
thoát tam giới theo chiều ngang, đới nghiệp văng
sanh, bèn tin sâu xa không nghi, nhất tâm hệ niệm, từng
câu phân minh, niệm niệm tiếp nối, đi,
đứng, nằm, ngồi, chỉ có một niệm này,
không có niệm thứ hai, tức là dùng một niệm
để trừ các niệm. Do chưa thấu đạt
lư nên gọi là Sự Tŕ). Đại Sư v́ chúng ta
thuyết minh Niệm Phật có Sự, có Lư. Tŕ danh niệm
Phật trên mặt Sự và tŕ danh niệm Phật trên
mặt Lư sai khác ở chỗ nào? Tuy Sự Tŕ và Lư Tŕ khác
biệt, nhưng hiệu quả chẳng khác nhau,
đều có thể đạt được nhất tâm
bất loạn, hoàn toàn do mỗi người dụng công.
Do đây biết rằng: Chớ nên so sánh Sự Tŕ với
Lư Tŕ, quan trọng nhất là thật thà niệm. Trong
Sự có Lư, trong Lư có Sự, Lư - Sự viên dung! Phải
hiểu đạo lư này, chớ nên phân biệt. Hễ phân
biệt th́ sẽ vô h́nh trung sanh ra chướng ngại,
dẫu có niệm đến mức nhất tâm
được văng sanh, nhưng vẫn gây chướng
ngại cho phẩm vị. Đó là chuyện chắc
chắn!
Trước hết, chúng tôi giảng
về Sự Tŕ. “Văn thuyết
Niệm Phật pháp môn” (Nghe nói đến pháp môn
Niệm Phật): Quư vị nghe nói đến là chuyện
thông thường nhất! Chúng ta nghe nói pháp môn Niệm
Phật có thể “hoành siêu tam
giới”. Trong những phần trước, tôi đă
nhắc đến “hoành siêu”
(vượt thoát tam giới theo chiều ngang) rồi, không
phải là “thụ siêu” (siêu theo chiều dọc)! Siêu
theo chiều dọc khó khăn lắm, nhưng từ nhân
đạo [của thế giới Sa Bà] di dân sang thế
giới Cực Lạc, đến thế giới Cực
Lạc vẫn là nhân đạo thuộc Phàm Thánh
Đồng Cư độ; đó là thuận tiện
nhất, “đới nghiệp
văng sanh” mà! Hai câu cuối cùng [trong đoạn văn vừa
dẫn trên đây] rất trọng yếu: “Thâm tín bất nghi, nhất tâm hệ niệm” (Tin
sâu xa không nghi, nhất tâm hệ niệm). Trong bản
dịch [kinh A Di Đà] của La Thập đại sư
ghi là “nhất tâm bất
loạn”, bản dịch kinh A Di Đà của Huyền
Trang đại sư chép là “nhất
tâm hệ niệm”. Huyền Trang đại sư
trực dịch[5],
La Thập đại sư dịch ư. Nhất tâm hệ
niệm chúng ta dễ dàng làm được, c̣n nhất tâm
bất loạn rất khó, chẳng dễ ǵ đạt
được. Thế nhưng La Thập đại sư
dịch không sai, v́ sao? Công phu Niệm Phật thành tựu
rồi, lúc văng sanh, A Di Đà Phật đến tiếp
dẫn, nhất định Phật quang chiếu
đến quư vị trước hết. Lúc quư vị được
Phật quang chiếu tới, gia tŕ, công phu Niệm Phật
của quư vị được nâng cao, tăng lên gấp
bội.
Nói thật ra, công phu niệm Phật
của chúng tôi vẫn chưa thành phiến, mới gần
thành phiến! Quư vị phải nhớ kỹ câu này “gần như thành phiến”; khi
nhân duyên của quư vị vừa chín muồi, vừa được
Phật quang gia tŕ, công phu bèn thực sự thành phiến,
nâng cao lên mức độ “thành phiến”. Nếu công phu của
quư vị đă thành phiến, [Phật quang gia tŕ khiến
cho công phu ấy] được nâng lên thành Sự nhất
tâm bất loạn. Người đă đắc Sự
nhất tâm bất loạn sẽ được nâng lên
thành Lư nhất tâm bất loạn. Lúc lâm chung, đức Phật
đến tiếp dẫn, công phu nhất định
được nâng cao, đó là do Phật lực gia tŕ.
Điều đó cho thấy: Nếu chúng ta không nhất tâm
hệ niệm sẽ rất khó, v́ sao? Trong tâm tạp
niệm quá nhiều, vọng tưởng quá nhiều,
vướng mắc quá nhiều, muốn cho công phu niệm
Phật đắc lực trong một đời này chẳng
dễ dàng đâu nhé!
Do đây ta biết: Điều quan
trọng nhất trong công phu niệm Phật của chúng ta chính
là câu khẩu đầu thiền (thiền ngoài cửa
miệng) của vị đường chủ Niệm
Phật Đường thường hay nói rất quan
trọng: “Buông xuống thân tâm
thế giới, nhất tâm chánh niệm”. Câu này rất quan
trọng! Nếu không buông thân tâm thế giới xuống
được, vẫn c̣n chút ǵ vướng mắc, chánh
niệm sẽ không khởi lên được, không thể
nhất tâm hệ niệm được. Quư vị không thể
nhất tâm là v́ có vọng tưởng xen tạp. Mấu
chốt để thành tựu hay không là
ở chỗ này! V́ sao quư vị không buông xuống
được? V́ đối với pháp môn Tịnh Tông, quư
vị chưa nhận thức rơ ràng, bởi thế, tín tâm
không sâu, nguyện không thiết. “Tin
sâu nguyện thiết” th́ không ǵ là chẳng buông xuống
được!
Ấn Quang đại sư dạy
người, chính ḿnh làm gương. Tôi đă từng
đến viếng quan pḥng (gian pḥng Ngài dùng để
bế quan) tại Linh Nham Sơn Tự ở Tô Châu. Pháp
sư Minh Học bồi tiếp tôi trong lần thứ
nhất tôi đến thăm viếng núi Linh Nham. Quan pḥng thông
với một tiểu Phật đường. Trong ṭa tiểu
Phật đường treo một chữ Tử
(chết). Tổ sư thường bảo chúng ta: “Người niệm Phật
nhất định phải dán chữ Tử trên trán,
thường nghĩ ḿnh sắp chết, lúc ấy há có c̣n
không buông xuống được hay chăng?” Không buông
xuống được cũng phải buông xuống
được! V́ sao? Có mang ǵ đi theo được
đâu! Thế nhưng quả thật là có không ít
người chết rồi vẫn chưa buông xuống
được, hết cách rồi! Toa thuốc này của
tổ sư vô hiệu, không trị nổi cái bệnh
của người hiện tại. Đến chết
vẫn không chịu buông xuống, không c̣n có cách ǵ hết!
Do vậy, công phu phải luyện trong thường
ngày, dụng công mỗi ngày, dụng công như thế nào?
Chỉ là buông xuống mà thôi! Buông xuống là công phu thực
sự. Tôi thường khuyên những đồng học
ở cùng một chỗ với nhau phải buông xuống
tự tư tự lợi, buông xuống danh văn, lợi
dưỡng, buông bỏ sự hưởng thụ ngũ
dục, lục trần, buông bỏ tham - sân - si - mạn;
cơi ḷng thực sự thuần thiện, thuần tịnh,
không nhiễm trước mảy may, không vướng
mắc, nhất tâm hệ niệm sẽ hiện tiền. Quư
vị sẽ đạt được như vậy.
“Cú cú phân
minh, niệm niệm tương tục” (Từng câu phân minh, niệm niệm
tiếp nối). Tin sâu không nghi là không ngờ vực. Nhất
tâm hệ niệm, nhất tâm là chẳng có hai tâm, nhất
tâm không xen tạp; xen tạp vọng niệm th́ không
phải là nhất tâm. Từng câu phân minh, niệm niệm
tiếp nối là không gián đoạn. Quư vị thấy ba
điều kiện “không hoài nghi, không xen tạp, không gián
đoạn” như Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát đă nói
đều đầy đủ! Đại Thế Chí
Bồ Tát dạy chúng ta: “Đô
nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế”
(Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối), chữ Tịnh trong “tịnh
niệm” nghĩa là không được xen tạp; hễ
xen tạp th́ chẳng tịnh, hoài nghi cũng chẳng tịnh.
Trong tịnh niệm, chắc chắn không có hoài nghi, không có
xen tạp, đó mới là tịnh niệm! Tịnh
niệm là nhất tâm hệ niệm. “Tương tục” (tiếp nối) là niệm
niệm nối liền nhau, không gián đoạn. Chín
chữ Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát vừa nói trên đây
(tức “không hoài nghi, không xen
tạp, không gián đoạn”) hoàn toàn giống như lời
Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói.
Lại xem tiếp đoạn kế
đó: “Hành, trụ, tọa, ngọa,
duy thử nhất niệm” (Đi, đứng, nằm,
ngồi, chỉ có mỗi một niệm này). Trong
mười hai thời, tức hai mươi bốn
tiếng đồng hồ trong một ngày, quư vị đi
cũng vậy, đứng cũng vậy (“trụ” nghĩa là đứng), ngồi cũng vậy,
nằm cũng vậy, trong tâm chỉ có một câu A Di
Đà Phật. Trừ A Di Đà Phật ra, tuyệt
đối chẳng có ư niệm thứ hai. Đó chính là dùng
một niệm để đoạn trừ hết
thảy vọng niệm, đó gọi là “công phu thành
phiến”. Có rất nhiều đồng tu hỏi tôi công
phu thành phiến là ǵ? Công phu thành phiến là như vậy
đó! Suốt ngày từ sáng đến tối trừ A Di
Đà Phật ra, trong tâm không c̣n ư niệm nào khác! “Ư niệm
khác” chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước và những tạp niệm trong tâm. Một câu
Phật hiệu công phu đắc lực sẽ hoàn toàn chèn
ép được chúng, nhưng chưa đoạn
được, nên bèn có thể đới nghiệp văng
sanh. Phiền năo tập khí tức vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước chưa đoạn
được, nhưng chỉ cần quư vị niệm
Phật công phu đắc lực, đều có thể
chế ngự được tất cả [phiền năo tập
khí]; bởi thế, gọi là “phục
đoạn”, chứ không nói là “diệt đoạn”.
“Do vị đạt
Lư” (do chưa thấu
đạt Lư), đối với lư Tịnh tông rất sâu quư
vị vẫn chưa hiểu rơ, nên gọi là Sự Tŕ. Lư
của Tịnh tông là ǵ? “Thị
tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (Tâm này là
Phật, tâm này làm Phật); đấy là Lư. Đương
nhiên ta vẫn thường nghe mấy câu giảng về Lư
như thế, nghe rất quen tai, thậm chí chính ḿnh c̣n nói
được như vậy, nhưng trên thực tế, hoàn
toàn chẳng hiểu thật rơ ư nghĩa được bao
hàm trong hai câu ấy; cho nên thuộc về Sự Tŕ. Đoạn
kế tiếp lại giảng về Lư Tŕ.
Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích
đại sư giảng Lư Tŕ nguyên văn như sau, tôi
đọc một lượt: “Lư
Tŕ giả, tín Tây Phương A Di Đà Phật” (Lư Tŕ là
tin Tây Phương A Di Đà Phật), “tin vào A Di Đà
Phật” giống như Sự Tŕ, đều là nghe nói
đến pháp môn Niệm Phật. Thế nhưng trong
đây lại có Lư: “Tây
Phương A Di Đà Phật, thị ngă tâm cụ” (Tây
Phương A Di Đà Phật tâm ta sẵn đủ),
tức trong chân tâm của chính chúng ta vốn sẵn có, “thị ngă tâm tạo” (là do tâm
ta tạo). “Thị ngă tâm cụ”
(tâm ta sẵn đủ) là duy tâm sở hiện; “thị ngă tâm tạo” (do tâm ta
tạo) là duy thức sở biến. Tây Phương
Cực Lạc thế giới chẳng ra ngoài lệ ấy,
vẫn là “duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”; đó là Lư. “Tức dĩ tự tâm sở cụ,
sở tạo chi hồng danh, vi hệ tâm chi cảnh, linh bất
tạm vong” (Liền dùng hồng danh mà tự tâm sẵn
có, do tâm tạo ấy làm cảnh để ràng buộc tâm,
chẳng cho tạm quên). Ngẫu Ích đại sư
giảng Lư Tŕ nguyên văn như thế. Ở đây, chúng
tôi giải thích nông cạn ư nghĩa lời giảng của
đại sư ngơ hầu mọi người dễ
hiểu hơn.
“Văn
thuyết Niệm Phật pháp môn, nhất niệm tương
ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương
ứng niệm niệm Phật, thâm tín bất nghi” (Nghe nói đến pháp môn Niệm
Phật, một niệm tương ứng một niệm
Phật, niệm niệm tương ứng niệm
niệm Phật, tin sâu không nghi). Đạo lư nằm ở
chỗ “tương ứng”,
tương ứng với điều ǵ? “Tâm tác, tâm thị, tâm hiện, thức biến”,
tương ứng với những điều ấy. Nói
trên mặt Lư là “ tự tánh Di
Đà, duy tâm Tịnh Độ”, quư vị thấy quen
thuộc lắm! Tách khỏi “tâm
hiện, tâm tạo” (tâm tạo là duy thức sở
biến) th́ không có một pháp nào để được
cả. Tây Phương Cực Lạc thế giới không
phải là ngoại lệ, thế giới Hoa Tạng
cũng không phải là ngoại lệ. Cho đến vô
lượng vô biên hết thảy cơi Phật trên từ
chư Phật Như Lai dưới đến chúng sanh
trong địa ngục, hữu t́nh, vô t́nh, há có pháp nào tách
rời tâm tánh? Có một pháp nào chẳng phải là duy tâm
sở hiện, duy thức sở biến hay chăng? Có pháp
nào mà tâm chẳng sẵn có, chẳng do tự tâm tạo hay chăng?
Phải hiểu đạo lư này! Tin sâu đạo lư này
không ngờ vực th́ niệm của ta sẽ tương
ứng với Lư, tương ứng với tâm tánh.
“Nhất tâm
tŕ niệm, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương
kế” (nhất tâm tŕ
niệm, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối). Đấy chính là lời Đại
Thế Chí dạy. Sáu căn không c̣n bị cảnh giới
bên ngoài mê hoặc th́ gọi là “đô
nhiếp lục căn” (nhiếp trọn sáu căn). Mắt
thấy Sắc, chẳng bị Sắc làm mê. Giống
như ǵ? Giống như một tấm gương! Tâm
giống hệt như tấm gương, cảnh giới
bên ngoài hiện bóng trông thấy rất rơ ràng, rành rẽ,
minh bạch, rơ rệt, nhưng chắc chắn gương
chẳng bị nhuốm bẩn mảy may. Dụng tâm
như tấm gương, hoàn toàn là trí huệ, không có t́nh
thức. T́nh là nhiễm ô, là chấp tướng. Trong
Phật pháp thường nói “không
chấp tướng”; tấm gương soi mọi
vật nhưng không dính mắc tướng, chứ không phải
là nói “ĺa khỏi cảnh giới, nơi tấm
gương không c̣n cảnh giới nữa”, không phải
vậy! Ngay trong lúc chiếu rọi cảnh giới mà
chẳng chấp tướng. Cảnh giới đến
hay đi chẳng liên can đến gương, đều
luôn không dính mắc tướng. Chân tâm, căn tánh của
sáu căn giống như tấm gương, vốn không
chấp tướng.
Cái ǵ bị dính mắc? Vọng tâm
bị dính mắc, chân tâm vốn không dính mắc! Bởi
thế, nh́n vào chân tâm của quư vị, đức Phật
thấy quư vị vốn đă là Phật, hiện đang
là Phật, quư vị và chư Phật Như Lai chẳng
khác ǵ nhau. Nói thật đấy, không giả dối chút
nào; nhưng vấn đề là ǵ? Ở bên ngoài chân
Phật (đức Phật thực sự trong tâm tánh), quư
vị lại khoác thêm một giả Phật, rắc
rối lắm! Khoác lấy giả tướng. Cái giả
tướng ấy chính là t́nh thức, t́nh thức là hư
vọng. T́nh thức quyết định không có, chân tánh là
thật. Phân định chân và vọng như thế nào?
Chân là bất sanh bất diệt, vĩnh hằng bất
biến, đấy là Chân. T́nh thức có sanh diệt, có sanh,
có diệt. Có sanh có diệt th́ là giả, chứ không
thật. Sanh diệt do đâu mà có? Sanh diệt từ trong “không
sanh diệt” biến hiện ra; do mê nên bất sanh bất
diệt biến thành sanh diệt. Chân tâm bổn tánh bất
sanh bất diệt, vọng tâm (vọng tâm là tâm Duyên
Lự) có sanh diệt nên gọi là Vọng, không phải
chân.
Cái tâm ấy chính là ǵ? Nay chúng ta gọi
nó là Niệm. Ư niệm có sanh diệt; niệm trước
diệt, niệm sau bèn sanh. Chắc chắn niệm
trước khác niệm sau; chúng có thể tương
tự nhưng tuyệt đối chẳng thể hoàn toàn
giống hệt nhau. V́ thế, cảnh giới
được biến cũng tương tự, nhưng
cảnh giới chẳng thể tương đồng.
Cảnh giới do vọng tâm hiện ra, do thức biến
ra; vọng tâm sanh diệt trong từng sát-na nên cảnh
giới được biến hiện ra cũng sẽ
sanh diệt trong từng sát-na. Vọng tâm niệm niệm
chẳng tương đồng, đương nhiên cảnh
giới được biến hiện cũng niệm niệm
khác biệt. Rất nhiều người biết vào mùa Đông
trời mưa tuyết. Hoa tuyết kết tinh từ xưa
đến nay chưa ai t́m được hai kết tinh nào
giống hệt nhau, chưa hề có!
Tiến sĩ Giang Bổn Thắng quan
sát nước kết tinh, quan sát suốt tám chín năm
cũng chưa hề thấy hai mẫu kết tinh
nước giống hệt nhau. V́ nguyên nhân nào? Do niệm
trước và niệm sau khác nhau, nên tướng
được biến hiện là huyễn tướng
diệu hữu cũng không thể giống nhau. “Diệu hữu phi hữu, chân không
bất không” (Diệu hữu không phải là hữu, chân
không chẳng phải không), Phật pháp gọi điều
này là “vô thường”. Thế gian vô thường, phạm
vi của danh từ “thế
gian” rất lớn. Hết thảy pháp thế gian vô
thường; pháp xuất thế gian cũng vô thường.
Bất luận thế gian hay xuất thế gian
đều là vô thường; v́ sao? Đều do Thức
biến. Khi nào Thức chuyển thành Trí, lúc đó quư vị
mới thực sự thấy được chân
thường.
Kinh giáo Đại Thừa bảo
cảnh giới ấy phải từ Bát Địa trở
lên [mới thấu hiểu được]. Chúng ta biết
rơ: Bát Địa Bồ Tát chuyển A Lại Da Thức
thành Đại Viên Kính Trí; Bát Địa mới chuyển
được, mới thấy được ba
tướng vi tế của A Lại Da Thức, ba
tướng ấy được gọi là khởi nguyên (cội
nguồn) của vũ trụ. Bát Địa Bồ Tát có thể
thấy được khởi nguyên, trong Phật pháp
gọi [khởi nguyên ấy] là “duyên khởi”. Nay
người thế gian thường
gọi “pháp giới duyên khởi” là “khởi nguyên của
vũ trụ”. Bát Địa Bồ Tát thấy rơ. Bát
Địa, Cửu Địa, Thập Địa,
Đẳng Giác, Như Lai Quả địa; năm
địa vị ấy là năm địa vị cao
tột trong năm mươi hai địa vị (năm
mươi mốt địa vị Bồ Tát và quả
địa Như Lai). Năm địa vị cao nhất
trong năm mươi hai địa vị mới thấy
được chân tướng sự thật. Quư vị hăy
nghĩ thử xem công phu ấy là như thế nào?
Đều là công năng định lực.
Địa vị Bồ Tát được phân biệt
như thế nào? Phân biệt theo mức công phu Thiền Định
sâu hay cạn. Đạt đến mức tối cao, Định
ấy đă viên măn rốt ráo th́ chân tướng tự sáng
tỏ rạng ngời. Từ Thất Địa trở
xuống, không thể thấy được chân
tướng, nhưng có thể hiểu được
lời đức Phật dạy, hiểu được
ư Phật, tin sâu chẳng nghi, y giáo phụng hành. Đó là kiến
lập tín tâm từ nơi Lư.
“Niệm cực
nhi không, Năng Sở song vong” (Niệm đến cùng cực sẽ giống như
là không, Năng lẫn Sở cùng mất), người
ấy niệm hay không niệm? Niệm chứ! Niệm
đến cùng cực sẽ giống như là không, đấy
chính là như trong phần sau có nói: “Niệm nhưng vô niệm, vô niệm nhưng
niệm”, tâm và Phật cùng một Thể, vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước đều
không có. V́ sao? Tâm và Phật là một thể. Nếu có
vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước
th́ cái tâm năng niệm và đức Phật
được niệm vẫn là đối đăi, tức
là hai bên đối lập nhau, vẫn c̣n cái tâm ta niệm
và đức A Di Đà Phật được niệm
bởi ta, vẫn c̣n có năng niệm và sở niệm.
Năng - Sở không c̣n nữa th́ công phu ấy sâu xa. Cái tâm
năng niệm và đức Phật được
niệm là một, không hai; đó là khế nhập cảnh
giới.
Niệm nhưng vô niệm, vô niệm mà
niệm, thử hỏi là niệm hay vô niệm? Niệm! Nhưng
niệm mà vô niệm, vô niệm là niệm. Trên mặt
Sự, quư vị thấy người ấy niệm,
cầm xâu chuỗi niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật”, không khác ǵ người niệm Phật b́nh
thường cả; nhưng trên thực tế hoàn toàn khác
hẳn người niệm Phật b́nh thường. Người
niệm Phật b́nh thường chấp tướng, c̣n người
kia niệm Phật không chấp vào bất cứ
điều ǵ, Năng lẫn Sở đều mất. Tâm
người ấy và Phật trí hợp thành một Thể,
trí huệ Bát Nhă sẵn có trong tự tánh là cái tâm năng
niệm, cái thân năng niệm và chúng sanh trong hết
thảy các cơi nước trọn khắp pháp giới
hư không giới hợp thành một. Đấy là Lư
niệm.
“Do đạt
Lư cố, thị viết Lư Tŕ” (Do thấu đạt lư nên gọi là Lư Tŕ). Lư Tŕ công
phu đắc lực nhanh chóng hơn Sự Tŕ v́
người ấy hiểu Lư nên công phu dễ đắc
lực. Người ấy hiểu rơ chân tướng của
nhân sinh và vũ trụ, nên trong tâm chẳng vướng mắc
ǵ. Không thể chẳng thấu triệt Lư, không thể chẳng
ngộ, ngộ nhập lư rất sâu là cảnh giới được
chứng đắc bởi Phật và Pháp Thân Bồ Tát, cảnh
giới ấy chính là Thật Tướng của các pháp. Phiền
năo tập khí từ vô lượng kiếp đến nay
không cần đoạn mà tự nhiên chẳng c̣n nữa, v́
sao? Quư vị biết mọi thứ đều là hư
vọng; đă là hư vọng th́ có c̣n ǵ để vướng
mắc nữa ư? Quư vị c̣n phân biệt hay chấp
trước nữa ư?
Ngay như tiên sinh Viên Liễu Phàm là
một kẻ phàm phu mà ông ta đă biết như thế
nào? Ông ta chỉ biết là Khổng lăo tiên sinh tiên đoán
cuộc đời của ông ta có số mạng nhất
định, số mạng cả đời đă được
định sẵn, không có lấy nửa điểm do con
người quyết định, ông ta liền buông
xuống, không c̣n có ư niệm tranh danh đoạt lợi
nữa. Ông ta biết điều ǵ? Biết vận
mạng cả đời đă được định
sẵn, có muốn tranh cũng tranh không được, có muốn
chẳng vâng theo số mạng ấy cũng không xong, [cho nên]
cứ chiếu theo tám chữ do Khổng tiên sinh đă phê mà
sống. Ông ta cùng thiền sư Vân Cốc ngồi trong
Thiền Đường suốt ba ngày ba đêm mà chẳng
dấy lên ư niệm nào. V́ nguyên nhân nào vậy? Ông ta đă
biết vận mạng của ḿnh, cho nên không c̣n có vọng
niệm nữa! Công phu ấy rất cao, người
biết chân tướng của nhân sinh và vũ trụ [sẽ
có công phu] hoàn toàn giống như ông Viên Liễu Phàm.
Tiên sinh Viên Liễu Phàm không phải là chẳng muốn khởi vọng
tưởng, nhưng v́ có khởi vọng tưởng
cũng vô dụng, cho nên không khởi vọng tưởng.
C̣n người thực sự hiểu rơ chân tướng của
nhân sinh và vũ trụ, sẽ tự nhiên không có
vọng tưởng, nhập cảnh giới Phật; không
giống như tiên sinh Viên Liễu Phàm c̣n thuộc vào
cảnh giới phàm phu, chẳng phải là thánh nhân. Bởi
thế, thiền sư Vân Cốc hỏi đến, ông ta nói
ra, thiền sư Vân Cốc bèn cười ha hả: “Ta
tưởng ông là hào kiệt, hóa ra thực sự là phàm phu.
Ông vốn là một gă phàm phu rất đáng mến, rất
hy hữu!” Trong mắt thiền sư Vân Cốc, họ Viên
là đứa trẻ dễ dạy nên bèn dạy cho Liễu
Phàm một chiêu để thay đổi vận mạng,
tâm tưởng sự thành. Tiên sinh Liễu Phàm đạt
được quả nhỏ, nếu gặp pháp môn Niệm
Phật văng sanh th́ sẽ chứng được
đại quả. Lư Tŕ và Sự Tŕ chúng tôi giảng
đến đây thôi. Lại xem đoạn tiếp theo:
“Nhất tâm
bất loạn cai quát Quán Kinh tam tâm, chí thành tâm, thâm tâm, phát
nguyện hồi hướng tâm” (Nhất tâm bất loạn gồm trọn ba tâm
của Quán Kinh: chí thành tâm, thâm tâm, phát nguyện hồi
hướng tâm). Ngẫu Ích đại sư giảng
rất hay, chân chánh niệm Phật cầu sanh về Tịnh
Độ th́ tâm ấy là tâm Vô Thượng Bồ
Đề, xưa nay chưa có ai giảng như vậy,
Ngài là người đầu tiên. Thực sự nhất
tâm hệ niệm, ở đây chúng tôi nói là “tin sâu không nghi, nhất tâm hệ niệm” như
trong Sự Tŕ th́ tâm Bồ Đề trọn đủ.
Quư vị nghĩ xem nhất tâm có
phải là chí thành tâm hay không? Nếu tâm không chân thành, làm sao
có thể chuyên nhất cho được? Làm sao không xen
tạp vọng tưởng cho được? Nhất tâm
chẳng xen tạp vọng tưởng, không có hai niệm
th́ cái tâm ấy chân thành.
Thế nào là thâm tâm? Đă nhiều
năm chúng tôi thường thưa cùng mọi người:
Tâm thanh tịnh là thâm tâm, tâm b́nh đẳng là thâm tâm, tâm
chánh giác là thâm tâm. Cổ nhân không nói như vậy, chúng tôi
đọc rất nhiều chú giải, đại đa
số đều giảng như sau: “hiếu thiện, hiếu đức” (ham
điều lành, chuộng đức). Đó là nói chưa rơ
rệt; nói cách khác, thâm tâm là tự lợi, tự thọ
dụng, hiếu đức, hiếu thiện. Tôi nói ba tâm “thanh
tịnh, b́nh đẳng, chánh giác” là nói rất cụ
thể. Quư vị nghĩ
thử xem: Ba cái tâm ấy
có
lành hay không? Có phải là đức hay không?
“Phát
nguyện hồi hướng tâm” là tâm từ bi, tâm đại bi, đại từ
đại bi. Quán Kinh nói Bồ Đề tâm gồm ba
thứ, trong Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng
nói đến ba loại. Khởi Tín Luận nói “trực tâm, thâm tâm, đại bi
tâm”. Chí thành tâm là trực tâm, thâm tâm kinh và luận nói
giống nhau. Khởi Tín Luận nói “đại bi tâm”, c̣n
Quán Kinh gọi là “hồi hướng phát nguyện tâm”.
Hợp kinh và luận lại th́ ư nghĩa càng rơ rệt,
chúng ta biết phải nên tu học như thế nào. Khoảng
mười mấy năm trước đây, tôi viết
hai mươi chữ sau đây tại Cựu Kim Sơn (San
Francisco), Mỹ Quốc: “Chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, Chánh Giác, từ bi, khán phá, phóng
hạ, tự tại, tùy duyên, niệm Phật” (Chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi,
thấy thấu suốt, buông xuống, tự tại, tùy
duyên, niệm Phật). Chúng ta tu hành phải nắm chặt
tổng cương lănh, tổng nguyên tắc ấy.
Khởi tâm động niệm, xử sự, đăi
người, tiếp vật trong cuộc sống thường
ngày, quyết định chẳng trái nghịch nguyên
tắc này, chẳng mâu thuẫn cương lănh này, chính là
đang đi trên đường Phật vậy!
Mười pháp giới là mười ngả
đường, chúng ta chẳng đi lầm
đường!
Phát nguyện hồi hướng, chúng
tôi thường nói hồi hướng gồm ba loại: Hồi
hướng Chân Như, hồi hướng Phật
đạo, và hồi hướng chúng sanh. Quư vị
thấy ba nguyện cuối cùng của Phổ Hiền
Hạnh Nguyện chính là hồi hướng. Hồi
hướng Chân Như là nguyện thứ mười, nguyện
thứ mười của ngài Phổ Hiền là “phổ giai hồi hướng”;
đấy là hồi hướng Chân Như. Hồi
hướng Phật đạo là “thường tùy Phật học” (thường học
theo Phật); có chỗ giảng là hồi hướng
Bồ Đề, Bồ Đề và Phật đạo có
cùng một ư nghĩa. Thường học theo Phật là
hồi hướng. Hồi hướng chúng sanh trong kinh
văn nói rất rơ “hằng
thuận chúng sanh”, câu này rất quan trọng! Đối
với chúng sanh, Phật chẳng hề miễn
cưỡng mảy may, luôn tùy thuận, tuy hằng
thuận nhưng thời thời khắc khắc cảnh
tỉnh khiến cho quư vị giác ngộ, khiến cho quư
vị minh bạch. V́ vậy, mới nói đức Thế Tôn
giáo hóa chúng sanh bằng “phương
tiện thiện xảo”.
Phương tiện thiện xảo do
đâu mà có? Do hằng thuận chúng sanh. Quư vị thấy
trong hết thảy pháp môn, pháp thù thắng khôn sánh chính là
pháp môn Niệm Phật này; đơn giản như vậy
đó, dễ dàng như thế đó, thành tựu viên măn
rốt ráo như thế đó, nhưng chúng sanh không tin,
Phật bèn giảng cho họ một pháp môn khác. Thích tham Thiền
à? Được! Dạy ngươi pháp môn Thiền; thích
Mật à? Được! Dạy ngươi pháp môn
Mật. Thật chẳng ngại mất công, ngươi
thích môn ǵ bèn dạy ngươi môn đó; vô lượng vô
biên pháp môn đều là phương tiện tiếp
dẫn, đến tối hậu bèn dạy cho pháp môn chân thật: Niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Vô lượng vô biên pháp môn đều
nhằm dẫn quư vị vào thế giới Hoa Tạng; vô
lượng vô biên pháp môn thảy đều quy vào Hoa
Tạng! Đến được thế giới Hoa
Tạng rồi, Văn Thù và Phổ Hiền [sử dụng]
mười đại nguyện vương dẫn [các vị
Pháp Thân đại sĩ] về Cực Lạc, phải
hiểu được ư nghĩa như thế! Từ Hoa
Nghiêm tôi đă thấy được điều ấy nên
không c̣n đi ḷng ṿng nữa, đă hiểu rồi!
Lúc tôi mới phát tâm bèn học Giáo. V́ sao?
Đối với những nghĩa lư trong kinh điển
nhà Phật, tôi hết sức hâm mộ, nói thật ra
đều là “tiên nhập vi chủ” (pháp nào học đầu tiên, pháp ấy là chánh yếu)!
Vị thầy đầu tiên của tôi là tiên sinh
Phương Đông Mỹ, cụ dạy tôi Phật giáo là
triết học. Trong mắt cụ, Phật giáo là triết
học. Lúc đó, lăo nhân gia đă hơn bốn mươi
tuổi, tôi mới hai mươi sáu. Cụ Phương
đă hơn bốn mươi tuổi, là một triết
gia trứ danh của Trung Quốc. Cụ bảo tôi: “Hai phần mười kinh
điển Phật giáo là triết học, đó là một
nền triết học tối cao trên toàn thế giới”.
Lúc ấy, cụ dạy tôi học hai phần mười
ấy. Thực ra, hai phần mười chính là ǵ? Trong
mười tông phái Phật giáo, hai tông
Pháp Tướng Tông và Pháp Tánh Tông thuần là triết
học, siêu việt mọi nền triết học
cổ kim Trung Hoa và ngoại quốc.
Cụ lại c̣n nói một câu đưa
tôi vào cửa Phật: “Học
Phật là sự hưởng thụ tối cao trong
đời người”. Câu nói ấy khiến tâm tôi
chấn động mạnh. Tôi bắt đầu lui tới
chùa miếu, lui tới chùa miếu nhằm mục đích
ǵ? T́m kinh Phật để xem. Lúc ấy, tôi nhận
thấy ở Đài Bắc nơi lui tới hết
sức thuận tiện là chùa Thiện Đạo; trong chùa
Thiện Đạo có thư viện Thái Hư, h́nh như
ở đấy có đến hai pho Đại Tạng
Kinh. Tôi thấy vậy mừng lắm. Không thể
mượn về được nên những khi rảnh rỗi
tôi đều đến thư viện Thái Hư
để chép kinh, mang sổ tay theo chép kinh. Vào cửa
Phật như vậy đó. A! Bây giờ đă hết
rồi!
*
Trong phần trên tôi đă kể
chuyện lúc cụ Phương c̣n tại thế đă
đem Phật pháp giới thiệu cho tôi như thế nào.
Kể từ khi tôi được quen biết thầy
Phương, tôi được quen thầy vào lúc thầy
đang tuổi trung niên cho đến tuổi văn niên suốt
cả hơn ba mươi năm, tôi thấy cụ hoàn toàn
dụng công nơi kinh điển, nhất là trong thời gian
ấy, Đài Loan lần lượt ấn hành bộ
Đại Chánh Tạng và Vạn Tục Tạng của
Nhật Bản. Sau khi hai bộ Đại Tạng Kinh
ấy được ấn hành, cụ Phương gần
như dốc toàn bộ thời gian và tinh lực nơi hai
bộ ấy. Khi đại học Đài Loan mở
lớp triết học Phật giáo, cụ giảng về
Phật học thời Ngụy - Tấn, Phật học
thời Tùy - Đường, giảng Phật học
Đại Thừa. Về già, cụ rời đại
học Đài Loan về hưu, đại học Phụ
Nhân mời cụ giảng triết học Hoa Nghiêm cho phân
ban tiến sĩ. Cả đời cụ thích kinh Hoa Nghiêm
nhất; nói thật ra, tôi ưa thích kinh Hoa Nghiêm cũng là
do chịu ảnh hưởng của lăo nhân gia.
Thế nhưng đến lúc về già
(lúc đă thực sự có rất nhiều sách vở kinh
điển rồi), cụ thực sự thay đổi
quan điểm, không c̣n giống như lúc mới vừa
dạy tôi (chỉ quan tâm đến Tánh Tông và Tướng
Tông) mà tông nào cụ cũng nghiên cứu. Hết sức
đáng tiếc là đang độ cụ chín muồi
về Phật pháp, cụ lại mất. Cụ mất
năm bảy mươi chín
tuổi, tức năm 1977. H́nh như đúng lúc đó tôi
đang giảng kinh Lăng Nghiêm ở Hương Cảng,
h́nh như cụ đă qua đời đến ngày thứ
ba hay ngày thứ tư ǵ đó, tôi mới về được
Đài Loan để tham gia lễ kỷ niệm truy
điệu cụ. Ở đây, tôi chỉ nói như
vậy thôi.
Lại xem tiếp đoạn thứ
tám: “Diệu hạnh thắng
quả, bất khả tư nghị” (Diệu hạnh,
quả thù thắng, chẳng thể nghĩ bàn). Trong
đoạn này chia thành chín tiểu đoạn. Tiểu
đoạn thứ nhất là “lâm
chung trừ chướng”, “văng sanh Cực Lạc, lâm mạng
chung thời, thánh chúng lai nghênh, tâm bất điên
đảo, tức đắc văng sanh” (văng sanh Cực
Lạc, lúc lâm chung, thánh chúng đến đón, tâm không
điên đảo, liền được văng sanh). Chúng tôi đọc kinh văn
một lượt:
Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di
Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ
tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên
đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật
Cực Lạc quốc độ.
其人臨命終時。阿彌陀佛。與諸聖眾。現在其前。是人終時。心不顛倒。即得往生阿彌陀佛極樂國土。
(Người
ấy lúc sắp mạng chung, A Di Đà Phật và các
vị thánh hiện ra trước mắt. Người
ấy lúc mạng chung, tâm không điên đảo, liền
được văng sanh cơi nước Cực Lạc
của A Di Đà Phật).
Đoạn kinh văn này thật
tuyệt diệu. Quư vị văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, ai đến tiếp dẫn quư
vị vậy? Chính đích thân giáo chủ A Di Đà
đến tiếp đón, chẳng giống như nay chúng
ta di dân đến quốc gia nào, lúc chúng ta đi, Tổng
Thống không đến tiếp đón, Bộ
Trưởng cũng không đến đón. Quư vị hăy
nghĩ coi: Ḿnh cảm thấy như thế nào? Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, ai đến
tiếp đón ḿnh? A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí,
lại c̣n có các đại Bồ Tát, Thanh Văn đều
đến hoan nghênh, tiếp đón ḿnh. Thế nhưng
điều kiện văng sanh ở đây không hề nói là
phải nhất tâm bất loạn, hay quá! V́ sao? Công phu nhất
tâm bất loạn mỗi cá nhân chúng ta chưa thể thực
hiện được, “tâm
không điên đảo” mà thôi! Nghĩa là sao? Câu này bao gồm
cả lúc lâm chung một niệm hay mười niệm
đều được văng sanh. Lúc lâm chung một
niệm hay mười niệm tức là vừa mới
đạt công phu thành phiến.
Như trong những phần
trước, tôi đă kể cùng quư vị chuyện ông Châu
Quảng Đại ở Washington DC, ba ngày trước khi
mất mới được nghe pháp môn này, nhờ vào
đâu mà được văng sanh? “Tâm
không điên đảo”. Bởi thế, cái ải
trọng yếu nhất trong một đời
người là ǵ? Lúc lâm chung, chết trong sáng suốt, minh
bạch, rất trọng yếu đấy nhé! Nếu lúc
lâm chung mê hoặc, điên đảo, không biết chi
hết (ta thường nói là “hôn mê”), thậm chí không
nhận ra người nhà quyến thuộc, cứ nh́n
trừng trừng: “Ngươi là ai vậy?” Vấn
đề nghiêm trọng lắm, người ấy khó
thể văng sanh; chẳng những khó văng sanh mà trong trạng
huống như thế, quá nửa bị nghiệp lực
dẫn kéo. Nghiệp lực dẫn kéo chính là hạnh
nghiệp cả một đời: Quư vị tạo
thiện nghiệp đi vào hai đường trời -
người; tạo ác nghiệp bèn đi vào ba ác
đạo. Nhưng quư vị phải hiểu: Thiện
nghiệp th́ lâm chung có phước báo, tỉnh táo.
Bởi thế, lúc lâm chung đầu óc
rất sáng suốt, không mê hoặc chút nào, người
lớn, trẻ nhỏ trong nhà, thân thích, bè bạn
đều nhận rơ từng người, biết rất rơ
th́ người ấy chắc chắn chẳng đọa
tam đồ. Nếu người ấy không niệm
Phật, không cầu văng sanh, cũng đi vào hai
đường trời - người. Đó là đại
phước báo! Người Trung Quốc nói tới ngũ
phước, phước cuối cùng trong ngũ phước
là chết tốt lành, chết rất sáng suốt, tỉnh
táo. Chết tốt lành th́ đời sau sanh vào chỗ
tốt, quư vị thấy điều này càng trọng
yếu hơn chứ? Liên quan đến đời sau của
quư vị đấy! Con người tu phước, nói thật
ra, tổ sư đại đức dạy chúng ta tu phước
nhưng không hưởng phước, phước báo dành
để hưởng vào lúc nào? Để dành hưởng
lúc lâm chung, lâm chung không bị bệnh khổ, biết
trước lúc mất, tỉnh táo, sáng suốt, niệm
Phật, Phật đến tiếp dẫn là phước
báo bậc nhất, không phước báo nào lớn hơn
được nữa!
V́ thế, phước báo cả
đời chỉ nhằm cầu điều này, không
cầu chi khác; đấy là người thực sự có
trí huệ, thực sự thông minh. B́nh thời hưởng
sạch hết phước, lúc lâm chung không có phước
nên mê hoặc, điên đảo, tu hành cả đời
trở thành chuyện nghi vấn. Cổ nhân thường
nói: Đến lúc lâm chung, do công phu của quư vị đă
tu không đắc lực nên sẽ gặp phải hiện
tượng ấy. V́ thế câu “tâm
không điên đảo” rất trọng yếu! Chúng ta
nhất định phải cầu điều này, có
cầu được như vậy không? Phước báo đó
thôi!
Tâm địa thuần thiện thuần
tịnh, dẫu chúng ta chưa đạt được chữ
“thuần”, nhưng phải đạt đến mức
thanh tịnh, lương thiện, tâm lành, tư
tưởng lành, hạnh lành. Trong cả đời cam
chịu thua thiệt, chịu nhường nhịn, có
thể nhẫn nhục, không tranh cùng người, không
cầu nơi sự, thân tâm được an ổn, đó
chính là phước báo. Cuộc sống b́nh lặng,
đạm bạc, miễn sao qua ngày. Nếu có phước
báo càng lớn hơn th́ bố thí, cúng dường cho
những chúng sanh khổ nạn, lúc lâm chung hưởng
phước báo “tâm không điên
đảo”, phước báo ấy hiện tiền. Bởi
thế, cả đời luôn nghĩ đến
người khác, không tự tư tự lợi; nếu tự
tư tự lợi e rằng lâm chung sẽ bị điên
đảo, bị mê hoặc. Bất luận tu một pháp
môn nào, dùng công phu nào, lâm chung hễ bị mê hoặc là xong,
không có cách chi trợ niệm được!
Thế nhưng chúng ta thấy có rất
nhiều trường hợp, lúc mất vẻ mặt
người chết khó coi, sau khi được trợ
niệm mấy giờ đồng hồ vẻ mặt bèn hết
sức dễ nh́n, nhưng điều ấy không có
nghĩa là người ấy được văng sanh.
Vẻ mặt trông dễ coi hơn là chuyện nhất
định! V́ sao? Bao nhiêu người đưa
đến những tin tức tốt lành cho người
mất; giống như làm thí nghiệm kết tinh
nước: Bao người dùng thiện ư đối
với nó, để đáp lại, nước kết tinh
hết sức đẹp đẽ; đạo lư là như
vậy. Tuy thần thức người chết đă ly
khai, không c̣n hít thở nữa, tim cũng không đập
nữa, nhưng nhục thể vẫn c̣n. Mỗi một
tế bào nơi nhục thể đều thấy nghe hay
biết, đều có thể tiếp nhận những thông
tin bên ngoài. Lúc ấy thông tin trợ niệm là thông tin
tốt đẹp nhất: “A Di Đà Phật!” Từ thông
tin ấy, chúng kết tinh đẹp nhất, chúng ta
phải hiểu rơ đạo lư này!
V́ vậy, b́nh thời phải nuôi
dưỡng ư niệm yêu thương, cảm ân, thời
thời khắc khắc dùng thiện ư, thiện tâm
đối đăi hết thảy người, hết
thảy sự vật, sẽ được đáp ứng
hết sức tốt đẹp, có thể biến
địch thành bạn, hóa oán thành thân. V́ sao không làm
được? Kinh Phật khuyên dạy chúng ta, nhưng có
lúc đúng là chúng ta tâm ư hời hợt: Phật chưa từng
được thấy, kinh điển chẳng biết là
do ai viết, rốt cuộc là thật hay giả đây?
Đúng là tuyệt đại đa số người
học Phật chớ nghĩ họ rất kiền thành,
thật ra họ bán tín bán nghi, v́ sao? Công phu không đắc
lực!
Nay đă có khoa học chứng thực, khiến
cho mức độ khả tín của những ǵ kinh
Phật đă giảng càng sâu thêm; khoa học chứng minh
những điều đó là thật chứ không giả.
Nay chuyện nước kết tinh đă hé lộ phần
nào sự t́nh ấy. Chúng tôi nghe nói ở thành phố Đài
Bắc có rất nhiều học sinh tiểu học làm thí
nghiệm, thảy đều thành công. Bữa nay có
đồng học hạ tải bảy bản báo cáo về
các thí nghiệm của học sinh tiểu học từ
Internet; tôi đă coi kỹ một lượt, hy vọng các
vị đồng học cũng có thể làm thí nghiệm,
tự ḿnh đích thân làm. Làm đối với những ǵ?
Làm đối với hết thảy vạn sự vạn
vật. Trong học viện của chúng ta, cây cối hoa
cỏ rất nhiều, mỗi ngày mỗi người dùng
thiện ư đối với bụi hoa, đối với
cây: “Ngươi tăng trưởng rất đẹp, ta
thích ngươi lắm”. Nói với chúng những câu ấy,
thành tâm thành ư nghĩ như vậy th́ chúng càng lớn càng
đẹp, báo đáp mà!
Có thể dùng ư xấu đối với
thức ăn, đừng dùng ư xấu đối với
cây cỏ hoa lá. Dùng ư xấu đối với cây cối,
hoa lá, chúng sẽ chết khô, rất đáng tiếc, hoàn
toàn dùng thiện ư. Ư xấu là b́nh thường ḿnh ăn
trái cây ǵ, quư vị có thể dùng thiện ư, ác ư hay mặc
kệ đối với chúng. Có thể làm ba thí nghiệm
như vậy. Đối với những cây cối hoa lá,
hy vọng quư vị đều dùng thiện ư, chớ dùng ác
ư, thành tâm thành ư yêu thương che chở chúng. Trong sân chúng
ta lại có rất nhiều chim, so ra học viện hơi
ít chim; tại Highfields là nơi tôi ở, chim rất
nhiều, động vật nhỏ rất nhiều, chúng
ta đều dùng thiện tâm, thiện ư thực sự yêu
thương che chở, trở thành bè bạn của chúng,
chúng đều có linh tánh!
Quư vị thấy chúng tôi dùng thiện ư
đối với kiến, gián, chuột, chúng tôi dùng
thiện ư đối đăi chúng. Nay chỗ chúng tôi ở
rất sạch sẽ, những con vật nhỏ đều
ở ngoài sân, đều ở bên ngoài, chẳng vào nhà gây
rối. Chúng tôi nhất định không gây tổn
thương cho chúng, chúng cũng không gây rắc rối cho
chúng tôi! Quư vị thấy cùng sống ḥa b́nh tốt
đẹp như thế đó. Coi chúng như là bè bạn,
như đồng tham đạo hữu. Trong hai
mươi bốn tiếng đồng hồ, tiếng
niệm Phật, băng giảng kinh phát ra không gián
đoạn, bọn động vật nhỏ đều
nghe, cây cối hoa cỏ cũng nghe âm nhạc, cũng nghe
giảng kinh. Huống chi kinh Hoa Nghiêm đă giảng: Cây có
thần cây, hoa có thần hoa, cỏ cũng có thần linh.
Vũ trụ bộ máy sống động, chứ không
chết cứng, hết sức sống động. Chúng ta
nhận biết, hiểu rơ, cùng tồn tại, cùng
thịnh vượng với thiên nhiên, vui vẻ ưa thích,
cùng nhau hợp tác. Chỉ cần quư vị có thành ư, cổ
nhân Trung Quốc nói rất hay: “Tinh
thành sở chí, kim thạch vị khai” (ḷng thành chuyên ṛng
đến cùng tột, vàng đá cũng phải nứt);
thầy Lư bảo là “chí thành
cảm thông”.
Virus bệnh SARS chính là vi khuẩn mang chất
độc, chúng ta chí thành cảm thông th́ chất
độc ấy chuyển biến thành chất dinh
dưỡng tốt nhất, đấy mới là biện
pháp giải quyết, nhất định chẳng
được sát hại. Nếu giết chết, tiêu
diệt nó th́ không được, đừng nên có ư
niệm ấy. Có ư niệm ấy, nó liền biến
đổi, càng biến thành độc hơn, v́ sao? Nó
chống cự lại. Hai bên cùng thù ghét nhau; cớ sao không
dùng tâm yêu thương? Cớ sao chẳng dùng thủ
đoạn ḥa b́nh? Đôi bên kính yêu nhau, giúp đỡ
lẫn nhau cùng thành tựu, tốt hơn nhiều! Bởi
vậy, một câu “tâm không
điên đảo” trong kinh văn hay làm sao! Hết
sức là hay! Có như vậy mới có thể văng sanh.
Tiếp đó là đoạn “ta
thấy điều lợi này”. Chúng ta hăy xem đoạn
kinh văn ấy. Kinh nói như thế này:
Xá Lợi Phất! Ngă kiến thị
lợi cố thuyết thử ngôn: Nhược hữu
chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng
đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.
舍利弗。我見是利。故說此言。若有眾生。聞是說者。應當發願。生彼國土。
(Này Xá
Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên nói
như thế này: Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy,
hăy nên phát nguyện sanh về cơi ấy).
“Ngă” ở đây là Thích Ca Mâu Ni Phật,
đích thân Thích Ca Mâu Ni Phật thấy điều lợi
ích ấy, lợi ích ǵ vậy? “Tâm
bất điên đảo, tức đắc văng sanh, lâm mạng
chung thời, thánh chúng lai nghênh” (Tâm không điên
đảo, liền được văng sanh, lúc lâm chung thánh
chúng đến đón). Thích Ca Mâu Ni Phật tự thấy
điều lợi ích khôn sánh như thế. Quư vị
thấy đó: Ở Tây Phương Cực Lạc thế
giới, Phật rất tốt, Bồ Tát rất tốt,
không có chút tranh chấp ǵ. Trong thế gian này, quư vị muốn
gặp hàng quan to quư nhân cũng không gặp được,
c̣n trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hằng
ngày gặp mặt chư Phật Như Lai, chư
đại Bồ Tát. Quán Âm, Thế Chí nắm tay cùng đi,
tay nắm tay nhau cùng tản bộ, chuyện văn. Các Ngài là
tay phải, tay trái của A Di Đà Phật; quư vị đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thường chẳng rời khỏi các Ngài. Trong thế
gian hiện tại đây, không sao được như
vậy. Nay ḿnh là học tṛ c̣n đang đi học, ḿnh có
được gặp mặt hiệu trưởng
hằng ngày hay không? Hằng ngày có thân cận thầy giáo
hay không? Chẳng dễ đâu!
Nhất là hiệu trưởng, có
rất nhiều học sinh từ lúc mới nhập học
cho đến khi tốt nghiệp cũng chỉ thấy
mặt hai ba lần, khoảng cách rất xa, khó thể nói
dăm câu với hiệu trưởng. Ở Tây
Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà
Phật, Quán Âm, Thế Chí, các vị thượng thiện
nhân ấy đích thân đến đón quư vị, Thích Ca Mâu
Ni Phật trông thấy sự lợi ích ấy. Nêu lên lợi
ích quan trọng nhất là “hoành
siêu ngũ trược, lúc lâm chung không điên đảo”,
tức là khi sắp chết tâm không điên đảo.
Chữ “ngũ trược”
chỉ thế giới Sa Bà, chúng ta gọi là “tam giới
lục đạo”. Lúc lâm chung, “đệ
lục Ư Thức dĩ bất hành, đệ bát thức tập
khí loạn phát” (thức thứ sáu là Ư Thức đă không
c̣n hoạt động nữa, tập khí trong thức
thứ tám loạn động),
nên gọi là “loạn tâm
vị” (địa vị tâm tán loạn). Đó chính là
tướng trạng của tâm điên đảo vậy.
V́ sao bị điên đảo khi lâm
chung? Kinh điển của Pháp Tướng Tông giảng
t́nh huống con người khi lâm chung rất tường
tận. A Lại Da Thức (tức thức thứ tám) “tiên lai, hậu khứ, tác chúa
công” (đến trước, đi sau, làm ông chủ).
Lúc đầu thai, thức này đến trước tiên.
Lúc đứa bé đă phát triển toàn vẹn,
được sanh ra th́ tám thức đều có
đủ, mắt, mũi, lưỡi, thân, ư đều có
đủ; nhưng lúc mới nhập thai th́ không có, chỉ
có thức thứ tám. Thức thứ tám được
gọi là “thần thức”,
nó đến đầu thai. Khi người ta chết
đi, bảy thức trước dần dần chẳng
thể khởi tác dụng nữa, tợ hồ đều
không có; nhưng thức thứ tám vẫn c̣n, thức
thứ tám rời đi sau cùng.
Trong kinh, đức Phật giảng cho
chúng ta biết: Sau khi con người tắt thở,
thức thứ tám sẽ rời thân lúc nào? Ước
chừng sau tám tiếng đồng hồ; tám tiếng sau
khi tắt thở th́ thức thứ tám mới rời thân;
thân thể thực sự không hay biết nữa th́
phải mất tám tiếng đồng hồ [sau khi
tắt thở]. Nhưng tám tiếng đồng hồ là
đa số, có một số người rất tham ái thân
thể, không buông xuống được, rất có thể
phải đến mười hai tiếng hay mười
bốn tiếng đồng hồ sau thần thức mới
rời khỏi thân. Có rất ít người, vô cùng ít,
đă nhiều ngày mà A Lại Da Thức chẳng chịu
rời đi, chúng ta gọi hạng người ấy là “thủ thi quỷ” (quỷ
giữ xác). Kẻ ấy không rời được thân xác
này, chấp trước quá đỗi, Ngă Chấp quá
nặng. “Loạn tâm vị”
chướng ngại việc văng sanh.
Ở đây chúng ta phải hiểu rơ “nhất tâm hệ niệm”
rất quan trọng. “Tin sâu
chẳng nghi, nhất tâm hệ niệm”, đó chính là bí
quyết tu hành để văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Lúc lâm chung không điên đảo,
sáng suốt, tỉnh táo, minh mẫn, đức Phật
thấy điều ấy rất rơ ràng nên khuyên dạy
chúng ta “ưng đương
phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (phải nên
phát nguyện, nguyện sanh về cơi ấy), không có ǵ trọng
yếu hơn được nữa. Lại xem tiếp
đoạn kế tiếp:
“Sự Lư
nhị tŕ, nhất tâm bất loạn” (Sự Tŕ và Lư Tŕ, nhất tâm bất
loạn). Sự Tŕ cũng tốt, Lư Tŕ cũng hay, bất
luận thế nào chúng ta tŕ danh niệm Phật nhằm
mục đích ǵ? Mục đích là cầu nhất tâm
bất loạn. Đoạn này giảng chuyện này
rất nhiều, v́ sao vậy? Hết sức quan trọng. “Bất vị Kiến Tư loạn
cố, cảm Hóa Thân Phật hiện tiền, sanh Đồng
Cư Phương Tiện độ” (Chẳng bị
Kiến Tư làm loạn, cảm được Hóa Thân
Phật hiện ra trước mặt, sanh vào cơi Đồng
Cư hay Phương Tiện độ). Đó là ǵ
vậy? Chính là Sự nhất tâm bất loạn. Ở
đây, điều kiện là phải thực sự
chế ngự, khuất phục được Kiến
Tư phiền năo; người niệm Phật có Cảm,
đức Phật liền Ứng. Quư vị thấy
được thân Phật nào? Hóa Thân của Phật. A Di
Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí trăm ngàn ức Hóa Thân,
hóa hiện các thân đến nghênh tiếp, quyết
định chẳng để sót. “Người văng sanh
nhiều như thế, A Di Đà Phật có quên ḿnh hay
không?” Quư vị đừng khởi vọng tưởng
như thế! Chắc chắn A Di Đà Phật không quên,
v́ sao? Quư vị có Cảm th́ sự Cảm đó giống
như làn sóng điện, quư vị có nguyện vọng
cầu Phật đến tiếp dẫn; đức Phật
thâu nhận ư niệm ấy, sẽ tự nhiên hóa thân
đến đón ḿnh.
Kiến Tư phiền năo rất
phiền toái! Nhất định phải chế ngự,
khuất phục chúng, phải thường tu tập công
phu ấy, nay ta muốn thực hiện th́ phải làm
như thế nào? Vẫn là một câu nói cũ rích: “Buông
xuống!” Buông những ǵ xuống? Nói chung là buông hết
thảy chấp trước, chớ có chấp
trước, buông xuống hết thảy phân biệt. Chỉ
cần quư vị có phân biệt, chấp trước th́
sẽ bị phiền phức liền, tạo thành
chướng ngại liền. Quư vị có chướng
ngại như vậy th́ khi lâm chung chẳng thấy
Phật đến tiếp dẫn. Lúc lâm chung thấy
Phật chứng tỏ công phu đă có thể chế
ngự Kiến Tư phiền năo nên quư vị mới
thấy được Phật; không khuất phục
được Kiến Tư phiền năo sẽ chẳng
thấy được Phật. Bởi thế, trợ
niệm lúc lâm chung rất tốt, đúng là giúp ích rất
lớn. Bởi lẽ, có rất nhiều người
niệm Phật đến lúc lâm chung, b́nh thời không buông
xuống được, lúc sắp mất, biết không
mang theo được ǵ, lúc ấy tâm niệm Phật
hết sức khẩn thiết, vô cùng chân thật, lại
có người khác cùng niệm theo th́ công đức ấy
càng thù thắng vô cùng. Đưa một người văng
sanh là giúp cho người ấy thành Phật, có phải là
công đức lợi ích càng thù thắng hơn hay không? Chế
phục Kiến Tư phiền năo sẽ sanh về cơi
Đồng Cư, Phàm Thánh Đồng Cư độ và
Phương Tiện Hữu Dư độ.
Loại thứ hai là “bất vị nhị biên sở loạn, cảm Báo
Thân Phật lai nghênh, sanh Thật Báo Tịch Quang nhị độ”
(chẳng bị nhị biên làm loạn, cảm Báo Thân
Phật đến đón, sanh vào hai cơi Thật Báo và Tịch Quang). Đây là Lư nhất
tâm bất loạn, là công phu cao. “Bất
vị nhị biên sở loạn” (chẳng bị
nhị biên làm loạn) tức là ngay cả vọng
tưởng cũng bị chế ngự. Vọng
tưởng là Vô Minh phiền năo. “Chẳng bị nhị biên làm loạn” chính là
nhập pháp môn Bất Nhị. Trong phần trên đă nói
đến Lư Tŕ, người ấy hiểu rơ Lư. Cảnh
giới niệm Phật của người ấy là
Năng - Sở cùng mất: Cái tâm niệm Phật và
đức Phật được niệm dung hợp thành
một thể; thông thường, người niệm
Phật và đức Phật được niệm là hai,
chẳng thể hợp thành một. Người niệm
ở đây nhập Bất Nhị pháp môn, có thể dung
hợp năng niệm và sở niệm thành một thể, người ấy cảm
được Báo Thân của A Di Đà Phật. Tướng
Báo Thân rất lớn, văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ
hay Thường Tịch Quang Độ, thực sự là “hoa nở thấy Phật
ngộ Vô Sanh”. Về tới Tây Phương
Cực Lạc thế giới hoa liền nở ngay.
Sự việc này khiến chúng tôi
nghĩ: Đối với với kinh giáo Đại
Thừa, chỉ có huân tập lâu dài kinh giáo Nhất Thừa
của Đại Thừa mới dần dần tỉnh
ngộ, mới dần dần hiểu được chân
tướng của vũ trụ nhân sinh, nhất là những
kinh như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Lăng Già.
Những đại kinh đại luận ấy quả thật
giúp chúng ta thông đạt Thật Tướng của các
pháp, giúp chúng ta khế nhập cảnh giới Như Lai.
Chúng ta thực sự nhận hiểu hết thảy các
pháp vô sở hữu, rốt ráo không, bất khả
đắc, kinh Bát Nhă giảng như vậy đấy!
Trước hết, kinh dạy quư vị phải buông thân
tâm, thế giới xuống; buông xuống xong lại
dạy quư vị đem thân tâm của chính ḿnh và Thật
Tướng của các pháp dung hợp thành một Thể, quư
vị sẽ nhập cảnh giới Phật. Toàn bộ
vũ trụ là chính ḿnh, là chân tâm của chính ḿnh, là bổn
tánh của chính ḿnh, là Pháp Thân của chính ḿnh.
Đại Bồ Đề tâm hiện
tiền, tâm chân thành trọn khắp pháp giới hư không
giới, thâm tâm của quư vị chính là tâm thanh tịnh, tâm
b́nh đẳng, tâm chánh giác trọn khắp hư không pháp
giới; tâm từ bi chính là tâm phát nguyện hồi
hướng khắp hết thảy chúng sanh trong các cơi
nước trọn hư không pháp giới.
Với cảnh giới ấy, khi văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, đương nhiên sẽ sanh
vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ hay Thường Tịch
Quang Độ! Tiểu Ngă của chúng ta ḥa với Đại
Ngă của vũ trụ thành một, “chẳng bị nhị biên làm loạn”. Nhị Biên
là như tôi vừa mới nêu thí dụ đấy: Thân ta là
Tiểu Ngă, vũ trụ là Đại Ngă. Đại - Tiểu
là Nhị Biên; nay biết không có lớn hay nhỏ th́
đại - tiểu là một, không hai, tiểu vũ
trụ và đại vũ trụ là một. Đấy là thực
sự giác ngộ, triệt để giác ngộ, trong nhà
Thiền gọi là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Chúng ta
lại xem tiếp đoạn tiếp theo [trong sách Yếu
Giải]:
“Đương
tri tŕ danh, giản dị trực tiệp, chí đốn, chí
viên, dĩ niệm niệm tức Phật cố, bất
lao quán tưởng, bất tất tham cứu, đương
hạ viên minh, vô dư, vô khiếm” (Nên biết tŕ danh giản dị,
thẳng chóng, chí viên, chí đốn. Do niệm niệm chính
là Phật nên chẳng phải nhọc công quán tưởng,
chẳng cần phải tham cứu, viên minh ngay tại đó,
không thừa, không thiếu). Mấy câu này luận rất
hay, giảng hết sức tuyệt diệu! Ở đây, Tổ
Sư dạy chúng ta phải “đương
tri” (nên biết): Các ngươi phải nên biết
rằng: Chấp tŕ danh hiệu, tín nguyện tŕ danh
đơn giản lắm! Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn,
chẳng có pháp môn nào đơn giản như thế này;
t́m lấy một pháp môn nào khác đơn giản như
thế này t́m không ra! Dễ dàng quá! Không ai chẳng thể
niệm, một câu A Di Đà Phật đơn giản,
dễ dàng, nhưng chớ có xem thường, v́ sao vậy?
Nó viên đốn nhất, thù thắng nhất trong Phật
pháp, là đại pháp viên đốn khó có nhất. “Viên” là viên măn, không thiếu sót
chút nào, “đốn” là
đốn siêu (vượt thoát nhanh chóng), chẳng phải
mất một thời gian dài. Pháp này là như vậy
đó!
Do đâu mà thấy viên măn? Hăy xem lúc lâm
chung, Phật và Bồ Tát đến tiếp dẫn, quư
vị nói xem có phải là Viên hay không? Do đâu mà thấy là Đốn?
Kinh nói từ một ngày đến bảy ngày, có pháp môn nào
khác có thể thành công trong bảy ngày được
chăng? Thực sự t́m không ra! Trong Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục và trong Văng Sanh Truyện, quả thật
là có những người từ một ngày đến
bảy ngày bèn thành tựu. Không nói dối đâu! Đốn
siêu mà! Bởi thế, pháp môn này được gọi là pháp
môn cả viên lẫn đốn đều đạt
đến tột đỉnh, không ǵ hơn
được nữa, chí viên, chí đốn!
Tiếp đó, tổ Ngẫu Ích viết:
“Dĩ niệm niệm tức Phật
cố” (Do niệm niệm chính là Phật), phải
hiểu đạo lư này. Hết thảy chúng sanh vốn
sẵn là Phật, phải biết điều này, đó là
sự thật, xác thực quư vị vốn là Phật. “Vốn sẵn” nghĩa là lúc
nào vậy? Chính là trong hiện tại. Hiện tại quư
vị vốn đă là Phật, nhưng quư vị mê không
giác. Trong giáo pháp Đại Thừa thường nói căn
tánh của sáu căn là Phật tánh. Phật tánh có
đặc tánh là thấy nghe hay biết, có thể thấy
được, nghe được, cảm nhận
được, biết được, đấy là
đặc tánh của tự tánh. Đặc tánh ấy
bất sanh, bất diệt, không đến, không đi,
không một, không khác, chẳng có, chẳng không, trọn khắp
hư không pháp giới. Ở mắt gọi là tánh Thấy, nơi
tai gọi là tánh Nghe, ở miệng, ở mũi, ở thân
gọi là tánh Cảm Nhận, ở ư gọi là tánh Biết,
thấy - nghe - cảm nhận - biết là sẵn có, đó
là Phật. Tôi có, anh có, tất cả hết thảy
vạn vật đều có, chẳng những hết
thảy vạn vật có mà hư không cũng có. V́ sao? Hư
không cũng do tâm hiện, đă do tâm biến hiện th́ làm
sao không có cho được?
V́ sao chúng ta ra nông nỗi này? Do mê mất tự tánh, do tự tánh
Phật bị mê; v́ mê nên biến thành phàm phu. Nay chúng ta
niệm Phật, niệm Phật là đem tự tánh niệm
ra; nay chúng ta lại làm Phật. Ta vốn sẵn là
Phật, nay lại làm Phật, há có đạo lư chẳng
thành Phật được ư? Niệm niệm chính là
Phật, chẳng cần phải nhọc sức quán
tưởng, chẳng dùng đến quán tưởng. Quán
tưởng phiền phức quá, cũng chẳng cần
phải tham cứu. Chẳng cần phải nhọc công quán tưởng tức là không
cần dùng đến mười sáu pháp Quán, rắc
rối quá! Chẳng cần tham cứu là chẳng cần dùng
đến phương pháp của Thiền Tông. “Đương hạ viên minh, vô dư, vô khiếm”
(Ngay nơi đó viên minh, không thừa không thiếu),
hết sức viên măn, không mảy may thiếu khuyết ǵ,
cho thấy pháp môn này chân thật, rốt ráo, đại viên
măn. A! Nay đă đến giờ rồi!
Tập
27
Xin xem tiếp tiểu
đoạn thứ tư của đoạn thứ tám “diệu hạnh thắng
quả, chẳng thể nghĩ bàn!” Chúng tôi đọc
nguyên văn sách Yếu Giải một lượt:
“Thượng
thượng căn bất năng du kỳ khổn, hạ
hạ căn diệc năng trăn kỳ vực, kỳ sở
cảm Phật, sở sanh độ, văng văng thắng tấn,
diệc bất nhất khái, khả vị hoành cai bát giáo, thụ
triệt ngũ thời. Sở dĩ, triệt để bi
tâm, vô vấn tự thuyết, thả thâm thán kỳ nan tín dă”
(Thượng thượng căn chẳng thể
vượt khỏi cửa thành này, hạ hạ căn
cũng có thể đến được cơi ấy. [Do công phu tu tập của mỗi
người mà] đối với mỗi tầng cấp
công phu cảm được đức Phật và cơi
nước sẽ sanh về lại càng thù thắng hơn,
cũng chẳng nhất loạt giống nhau[6].
Có thể nói [pháp môn Tịnh Độ] theo chiều ngang gồm
trọn tám giáo, theo chiều dọc suốt thấu năm
thời. Bởi thế, do tâm bi triệt để [nên đức
Phật] không ai hỏi tự nói, lại c̣n than thở sâu
xa là pháp khó tin). Nguyên văn
trong sách Yếu Giải viết như vậy, phải nói
là hay tuyệt diệu, quả thật đúng như
thế. Ư Ngẫu Ích đại sư muốn nói: Pháp môn này
quả thật độ thích hợp trọn khắp ba
căn, lợi căn lẫn độn căn đều gồm
thâu. Thượng thượng căn chẳng thể
vượt ra khỏi được; chữ “Khổn” (閫:
cửa thành, cửa ngơ) nói như bây
giờ là “phạm vi”, chẳng thể vượt ra ngoài
được. Hạ Hạ căn cũng có thể
đạt đến cảnh giới ấy. Đức
Phật ḿnh cảm được, cơi ḿnh được
sanh tùy theo công phu của mỗi người có mỗi tầng
cấp sau lại thù thắng hơn tầng cấp trước.
Thắng (勝) là thù thắng, Tấn (進) là tiến triển, luôn nâng cao, cũng không giống
hệt nhau; bởi lẽ, thế giới Tây Phương
có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, nhưng ai nấy
đều có phần.
Trong phần giảng về
chương Thượng Phẩm Thượng Sanh của
Quán Kinh, đại sư Thiện Đạo đă
giảng về chuyện này hết sức hay! Do các
đại đức thuở trước cho rằng ba
phẩm văng sanh bậc Thượng là để Bồ Tát
văng sanh, ba phẩm Trung là Thanh Văn, Duyên Giác văng sanh; c̣n
phàm phu đới nghiệp văng sanh chỉ có thể văng sanh
trong ba phẩm Hạ. Chiếu theo cách giải thích của
cổ đức, đối với bậc Thượng
và bậc Trung, bọn phàm phu chúng ta tuyệt không có
phần, Thiện Đạo đại sư không giảng
như vậy. Theo truyền thuyết, Thiện Đạo
đại sư là A Di Đà Phật tái lai, lời
Thiện Đạo đại sư chính là lời A Di
Đà Phật tự nói. Lăo nhân gia giảng: “Bốn cơi ba bậc chín phẩm đều là do
gặp duyên không giống nhau!” Càng nghĩ càng thấy
lời giảng ấy có lư! Nếu phàm phu gặp
được duyên thù thắng cũng có thể văng sanh
trong Thượng Trung Phẩm, cũng có thể trong
một đời sanh về cơi Thật Báo; giống như
lời Ngẫu Ích đại sư giảng ở đây: “Văng văng thắng tấn, diệc
bất nhất khái” ([Do công phu tu
tập của mỗi người mà] đối với mỗi
tầng cấp công phu cảm được đức
Phật và cơi nước sẽ sanh về lại càng thù
thắng hơn, cũng chẳng thể nói là nhất loạt
giống hệt như nhau), gặp duyên bất
đồng mà! Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát nếu không
gặp duyên thù thắng cũng chẳng thể sanh vào cơi
Thật Báo, cũng không có cách ǵ văng sanh trong bậc
Thượng được! Bởi thế đều là
do “gặp duyên bất đồng”. Do vậy, chúng ta
phải coi trọng cái duyên, phải tiếc quư cái duyên, thực
sự chẳng dễ gặp được duyên đâu!
Nay chúng ta có duyên phận với
nơi đây, mọi người ở đây nhưng không
nhận biết, đúng là “thân hưởng phước,
nhưng chẳng biết ḿnh có phước”. Quư vị
rời bỏ hoàn cảnh này đi qua nơi nào khác th́
mới nhận biết [duyên phận tốt đẹp ở
nơi đây]. Ở chỗ này, cơm, áo, ăn, ở không
phải bận ḷng; dẫu không dư dật lắm, nhưng
đúng là ăn no, mặc ấm, nhà cửa đủ
để che nắng đụt mưa, hoàn cảnh an
định. Có thể nói là trong xă hội hiện tại, thiên
thời, địa lợi, nhân ḥa, ba điều kiện
này chúng ta đều có đủ, quư vị t́m đâu ra
được!
Đạo tràng mỗi ngày giảng kinh, mỗi ngày niệm Phật. Ngay sau khi
vừa
xây cất xong Niệm Phật Đường chúng ta bèn
sử dụng liền, mở rộng cửa suốt hai
mươi bốn tiếng đồng hồ. Chúng tôi
chọn cách làm theo lời dạy của lăo pháp sư Đế
Nhàn: Niệm mệt bèn nghỉ ngơi! Liêu pḥng ở
gần ngay đó, nghỉ khỏe rồi lại mau chóng
dụng công. Muốn nghiên cứu giáo pháp th́ nghiên cứu,
muốn niệm Phật th́ niệm Phật. Không niệm Phật
th́ nghiên cứu giáo pháp, không học giáo pháp th́ niệm
Phật. Hoàn cảnh tu học như vậy t́m đâu ra
được! Tài liệu trong thư viện nói chung là
hoàn bị; có thiếu sót ǵ chúng tôi đều nghĩ hết
mọi cách để thâu thập. Ở nơi đây mà
không biết quư tiếc duyên phận, hằng ngày bỏ luống
uổng, đáng tiếc quá, không c̣n ǵ tiếc hơn
nữa!
Mọi người phải
tự ḿnh phát tâm, chứ không phải do bị người
khác ép buộc. Phát cái tâm đầu tiên là truyền thừa
chánh pháp của Như Lai. Hiện tại, người
giảng kinh thuyết pháp trong thế gian này rất ít, ai
nấy đều biết rơ cổ nhân thường nói: “Nhân năng hoằng đạo,
phi đạo hoằng nhân” (Người có thể hoằng
đạo chứ đạo không thể hoằng
người). Phật pháp hưng hay suy là do sức
người. Phải là người như thế nào? Có
đạo đức, có học vấn. Đạo
đức là đoạn phiền năo, chứng Bồ
Đề; học vấn là trừ tà kiến, mở mang
trí huệ. Mười phương thiện tín cúng
dường đạo tràng này; v́ sao họ cúng
dường đạo tràng? Hy vọng quư vị có thành
tựu, mong mỏi Phật pháp có truyền nhân; không có người
truyền, Phật pháp sẽ diệt, chứ không chỉ
suy bại đâu! Hy vọng đời đời có
người truyền thừa, đó là điều thứ
nhất. Chúng tôi đă tự nghĩ đến điều
này, nhưng làm không được v́ không có năng lực,
chẳng đủ điều kiện hoằng pháp lợi
sanh, nên phải quyết định cầu văng sanh. Đó
chính là thành tựu.
Ở phần trên đă nói,
một đệ tử Phật chân chánh có hai con
đường; cả hai con đường đều là
chánh đạo. Trong thực tế, truyền thừa
đại pháp của Như Lai không phải là chuyện
dễ, chúng tôi tự biết ḿnh không có năng lực
ấy! Đức hạnh lẫn học vấn
đều không đủ. Khi tôi c̣n ở Đài Trung,
thầy Lư mở lớp dạy giảng kinh, tôi không dám tham
gia. Thầy Lư khuyên tôi tham gia, tôi không dám, tự nghĩ ḿnh
không hội đủ điều kiện. Lúc thầy Lư lên
lớp, bảo tôi: “Ông cứ dự thử xem, nghe một
buổi là được rồi!” Tôi đến dự,
dự xong, tôi rất cảm động. Với cách
học như thế, tôi cân nhắc, so đo năng
lực thấy ḿnh cũng kham được nên bèn theo
học lớp giảng kinh.
Sau này, thầy Lư bảo tôi: “Chuyện
ấy thật khó, thật không dễ dàng. Hoằng pháp
lợi sanh phải thông đạt pháp thế gian lẫn
xuất thế gian”. Khi ấy, thầy nêu thí dụ về
pháp thế gian: “Đừng nói chi khác, chỉ đơn
giản là bộ Tứ Khố Toàn Thư, anh có hiểu
hết hay không? Trên kệ sách trong giảng đường
của chúng ta có một bộ Tứ Khố Toàn Thư và
một bộ Tứ Khố Hội Yếu[7],
cả hai bộ đều hoàn chỉnh. Anh có hiểu
hết hay không?” Đă thông đạt pháp thế gian
rồi, lại c̣n phải thông đạt Phật pháp.
Phật pháp ư? Trong tủ sách có bộ Đại
Tạng Kinh, ở đây chúng tôi có mười loại bản
in Đại Tạng Kinh khác nhau, không có cách nào hiểu hết,
làm không nổi! Chưa kể tôi là kẻ trung niên xuất
gia, hai mươi sáu tuổi mới được nghe
Phật pháp, ba mươi tuổi mới xuất gia, quá
chậm! Không đủ sức! Chúng tôi đọc trong Cao
Tăng Truyện thấy tổ sư đại
đức các đời xuất gia từ nhỏ,
mười lăm, mười sáu tuổi đă có căn cơ
vững chắc về kinh sách rồi. Bất luận
đức hạnh hay học vấn đều có căn
bản tốt đẹp cả! Chúng tôi đúng là kẻ
nửa đường xuất gia, mất dê mới
sửa chuồng, chỉ có liều chết phát phẫn
nỗ lực, giống như đi học bổ túc[8],
học được chút ít, làm sao có thể hoằng pháp
lợi sanh?
V́ thế, thầy Lư mới
dạy: “Con đường chánh quy chúng ta không đi
được, không cách ǵ đi được, phải
đi theo con đường đặc biệt. Con
đường đặc biệt ấy là con
đường nào? Cầu cảm ứng!” Nói cách khác,
cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ. Nếu không cầu
Phật, Bồ Tát gia tŕ, cứ cậy vào sức ḿnh,
chắc chắn không thể thành tựu được.
Cậy vào Phật, Bồ Tát có được hay không?
Chỉ cần quư vị có tâm chân thành, chí thành cảm thông
mà! Tôi giữ lấy hai chữ này: Một là Thành, hai là Kính.
Từ nhỏ, tôi đă được cha mẹ, thầy
giáo, trưởng bối dạy cho chữ Kính, tôi có
chữ ấy, kính người, kính sự, kính vật. C̣n Thành
không đủ, bị phiền năo tập khí che lấp chân
thành, [có được chữ] Thành là nhờ thầy Lư vun
bồi cho tôi. Một đời nhờ vào hai chữ “thành
kính” ấy, chân thành đến cùng cực, cung kính
đến cùng cực; dùng những điều ấy để
cầu cảm ứng.
V́ thế, trên ṭa giảng kinh, tôi cũng
đă nhiều lần thưa cùng quư vị rồi, tôi đâu
có năng lực giảng kinh! Bất quá là lên ṭa giảng
đưa thân thể cho Phật, Bồ Tát mượn dùng,
nhờ Phật, Bồ Tát gia tŕ, dùng thân miệng tôi
để truyền đạt mà thôi. Thật vậy
đó! V́ thế, từ nhiều năm qua rất nhiều
đồng tu biết rơ, tôi giảng kinh không chuẩn
bị sẵn, giảng cái ǵ cũng không biết. Giảng
xong, quư vị hỏi lại, tôi ngơ ngác không biết ǵ. Có
người thâu âm lại cho tôi nghe, tợ hồ ḿnh có nói,
Phật lực gia tŕ mà! Nếu có chút ǵ tư tâm, có chút ḷng
danh văn, lợi dưỡng, sẽ không có cảm
ứng. Toàn tâm toàn ư hộ tŕ chánh pháp, v́ lợi ích chúng
sanh, chẳng v́ chính ḿnh. V́ chính ḿnh th́ một câu A Di Đà
Phật đă đủ rồi, đă thành công rồi, đâu
cần phải làm ǵ khác nữa!
Quư vị phải hiểu rơ
đạo lư này, chúng ta phát tâm được Phật,
Bồ Tát gia tŕ th́ sự việc không khó khăn ǵ. Quư
vị muốn thực sự được Phật,
Bồ Tát gia tŕ th́ phải nhớ kỹ: Tâm chân thành, cung
kính đối với hết thảy người, hết
thảy sự, hết thảy vật th́ mới
được cảm ứng. Dùng tâm thái như vậy
để cảm th́ Phật, Bồ Tát bèn ứng. Hai con
đường ấy là nhân duyên hy hữu của chúng ta,
bất luận đi theo con đường nào, chỉ
cần dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh
đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi, sẽ đi
được con đường ấy thông suốt.
V́ người khác diễn nói, “diễn” là trọng yếu,
diễn là tự ḿnh phải làm. Tự ḿnh không làm
được, khác nào lặp lại những phương
thức và lư luận như kinh Phật đă giảng, c̣n chính
ḿnh chưa từng thử làm; chính ḿnh phải thực
hiện để lấy kinh nghiệm. Ngày nay nói
đến khoa học th́ khoa học xem nặng vấn
đề thực nghiệm, ta phải làm được!
Nếu thực sự thông hiểu kinh luận th́ có thể
giảng cho người khác nghe được, c̣n nếu
như chính ḿnh có nghi hoặc sẽ chẳng thể
giảng được! Chớ nên làm người khác
bị lầm lạc, đừng chỉ sai phương
hướng, mục tiêu cho người khác, chịu trách
nhiệm nhân quả lớn lắm đấy, ḿnh phải
gánh lấy trách nhiệm! Câu chuyện dă hồ Thiền
trong nhà Thiền là thật, không giả đâu! Chuyện
ấy cảnh tỉnh chúng ta
rất mạnh, chớ nói năng
bừa băi, chỉ e nói
sai!
Nếu chúng ta không thể thuyết pháp,
đối với kinh giáo chưa nghiên cứu kha khá th́ cứ
khuyên người ta niệm Phật chắc chắn sẽ
không sai. Nói cho biết sự cảm ứng của việc
Niệm Phật, kể chuyện trong Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục hay Văng Sanh Truyện cho người ta
biết, nói như vậy là không sai lầm chút xíu nào! Có
chỗ nào tốt cho ḿnh th́ cũng sẽ tốt cho
người, tự lợi, lợi tha. Há chẳng phải
là pháp sư Oánh Kha đời Tống bị cảm
động bởi Văng Sanh Truyện đó sao? Thấy
người ta ai niệm cũng đều văng sanh, nên
Sư mới hạ quyết tâm: “Ta cũng phải cầu
văng sanh!” Không có chi khác, do thành kính nên cảm được
A Di Đà Phật hiện đến. Quư vị thấy
Sư ra đi tự tại, tiêu sái đến thế, Ngài
v́ chúng ta diễn nói đấy! Biểu diễn cho chúng ta xem,
chuyện như vậy là thật, không giả đâu.
Bởi thế, pháp thế gian hay xuất thế gian
đều nằm trong “thành
kính”.
Tôi đă từng thưa với các
đồng học, một đời tôi có ba vị
thầy tôi hết sức cảm kích, niệm niệm không
quên: Tiên sinh Phương Đông Mỹ giới thiệu Phật
pháp cho tôi biết, nếu không do thầy, tôi chẳng vào
cửa Phật được. V́ sao? Tôi mang ḷng bài xích
Phật giáo, sách nhà Phật tôi không màng xem. Nếu tiên sinh
Phương Đông Mỹ không tiếp dẫn, tôi chẳng
có cơ hội này. Tôi học với Chương Gia
đại sư ba năm, Ngài dạy tôi “khán phá, phóng hạ” (thấy thấu suốt, buông
xuống), dạy tôi “bố
thí”. Trước kia tôi không hề có ư niệm ấy, tôi
học Phật có một chút thành tựu như thế này,
căn cơ là sáu chữ ấy. Thầy Lư dạy tôi
bốn chữ “chí thành cảm
thông”.
Tôi học Phật
hơn năm mươi năm, tuân thủ những
giáo huấn, cương lănh, nguyên tắc thầy dạy
ấy, vĩnh viễn không tách ĺa. Không chân, không thành th́
cả pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều
không có căn bản, sẽ trôi nổi, dẫu trong
mạng có phước báo đi nữa, cũng chỉ là
như hoa đàm thoáng hiện, thật đấy, không sai
đâu, không có cội rễ mà! Thành kính là căn bản của
thế gian lẫn xuất thế gian. Ấn Quang
đại sư dạy người ta: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành” (Trọn
vẹn luân thường, tận hết bổn phận,
dứt ḷng tà, giữ ḷng thành).
Quư vị nghĩ xem: Nếu không có thành kính sẽ làm
không được. Nếu có thành kính th́ quư vị sẽ
hiểu được lời tổ Ấn Quang dạy,
sẽ vui sướng, hết sức tự nhiên y giáo
phụng hành.
Thấy thấu suốt là thực
sự thấu hiểu chân tướng của vũ
trụ và nhân sinh, thực sự hiểu thấu chân
tướng của xă hội hiện tại, trong xă
hội này, trong một đời này, quư vị có thể
vĩnh viễn giữ được tâm b́nh khí ḥa,
chẳng bị lay động. Chúng sanh làm chuyện tột
bậc bất thiện, quư vị cũng chẳng nổi
nóng, v́ sao? Quư vị thấy rất rơ ràng, giống như
kinh Pháp Hoa đă nói: “Như thị
nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo, như thị bổn mạt cứu cánh” (Nhân như
vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như
vậy, gốc ngọn rốt ráo như vậy). Đó là
thấy thấu suốt vậy! Dẫu thế gian biến
hóa như thế nào đi nữa, tâm chúng ta hơi bị
ảnh hưởng một tí (nếu không lay động há
chẳng phải đă thành Phật rồi hay sao?), nhưng
nó không gây ảnh hưởng lớn. Chẳng như lúc chưa
học Phật, tâm bị dao động rất lớn,
sóng to gió lớn, có lúc cuồng hoan, có khi phẫn nộ.
Thấy thấu suốt rồi, dẫu cảnh duyên
tốt đến đâu cũng chẳng cuồng hoan (vui sướng
như phát cuồng), dẫu cảnh duyên xấu đến
đâu cũng chẳng phẫn nộ, gợn sóng rất
nhẹ, không cao. Thường giữ được tâm b́nh
khí ḥa, tâm b́nh đẳng, tâm thanh tịnh sẽ sanh trí
huệ. Phải hiểu đạo lư này! Nhất là
người niệm Phật, cảnh duyên hiện tiền
bèn chắp tay niệm một câu A Di Đà Phật,
chuyện ǵ cũng đều dẹp yên được
hết.
Kế đó là mấy câu “khả vị hoành cai bát giáo, thụ triệt ngũ
thời” (có thể nói là theo chiều ngang bao trùm tám giáo,
theo chiều dọc thấu suốt năm thời), có
nghĩa là tín nguyện tŕ danh bao gồm toàn bộ tất
cả Phật pháp. Ngẫu Ích đại sư thuộc
tông Thiên Thai bên Giáo, tuổi già quy hướng Phật Di
Đà. Lúc trẻ, Ngài học giáo nghĩa Thiên Thai nên
trước thuật, diễn giảng đều dùng giáo
nghĩa tông Thiên
Câu cuối cùng nói rất hay: “Sở dĩ, triệt để
bi tâm, vô vấn tự thuyết, thả thán kỳ nan tín dă”
(Bởi thế, bi tâm triệt để, không ai hỏi
tự nói, lại c̣n than thở sâu xa là pháp khó tin). Kinh Di
Đà không ai khải thỉnh, đức Thế Tôn tự
ḿnh nói ra, không ai hỏi mà Ngài tự nói. Đó là ḷng từ
bi đến cùng cực! Các ngươi không biết có
một pháp môn tối thù thắng như thế, các ngươi
đă không biết đương nhiên chẳng thể
hỏi, chẳng hỏi, ta cũng nói. Pháp môn này khó tin,
quả thật khó tin. Những tôn giáo thông thường hay
nói: “Ai tin sẽ được cứu, người nào tin
th́ có phước”. Áp dụng vào pháp môn Tịnh Độ
th́ câu nói đó tuyệt hay chẳng thể diễn tả
được. Nếu quư vị tin tưởng th́ đúng
là quư vị có phước, nếu tin th́ trong một
đời này sẽ thực sự được cứu,
siêu phàm nhập thánh! Bởi vậy, nay chúng ta báo ân
Phật, báo ân cha mẹ, báo ân thí chủ, báo ân chúng sanh th́ có
hai phương thức: Một là niệm Phật cầu
văng sanh, hai là truyền thừa Phật pháp.
Học viện này của chúng ta là
học viện Tịnh Tông, chúng ta truyền thừa pháp môn
Niệm Phật. Kinh điển của chúng ta là năm kinh
một luận, quư vị nhất định phải
biết năm kinh một luận là căn bản và cơ
sở của chúng ta. Phải thành tựu trên cơ sở
này, nếu có sức lực dư thừa th́ mới có
thể lạm dự các pháp Đại Thừa khác. Nếu
không đủ sức, hăy chuyên chú nơi kinh điển của
tông ḿnh. Chúng tôi tin rằng nếu quư vị dụng công
suốt mười năm nơi kinh điển của
tông chúng ta, quư vị sẽ thừa sức học các kinh
giáo khác nhằm mở rộng sức ảnh hưởng
của giáo nghĩa Tịnh tông, học rộng, dẫn
chứng rộng răi, biện tài vô ngại. Quư vị
tiếp xúc biết bao chúng sanh trong xă hội hiện
đại chẳng thể không có năng lực thuyết
phục. Muốn có đủ sức thuyết phục th́ đối
với giáo nghĩa của Phật giáo, chẳng những là
giảng được giáo nghĩa của một tông ḿnh,
mà c̣n giảng được giáo nghĩa các tông phái,
lại c̣n hiểu biết giáo nghĩa của các tôn giáo khác
trên thế giới, cho đến khoa học, triết
học, rất nhiều lư luận học thuật và tư
tưởng trọng yếu đều phải hiểu rơ
th́ quư vị mới có thể ứng phó được.
Thế nhưng quư vị
phải hiểu: Chẳng học theo cách hiện tại, học
theo cách bây giờ là hỏng! Học vấn phải có
thứ tự. Ở Trung Quốc vào thời cổ,
phương pháp học tập của đạo Nho và
đạo Phật không giống phương pháp hiện
tại. Phương pháp hiện tại là vừa bắt
đầu đă học rộng nghe nhiều, tôi nghe
người ta nói như thế này: Học vấn hiện
thời giống như Kim Tự Tháp, trước hết
là rộng, dần dần đến cuối cùng là
đỉnh nhọn, đến cuối cùng chuyên dốc
sức nơi một môn, tức là từ học rộng tới
tinh chuyên. Nhà Phật hoàn toàn ngược lại, mở
đầu là thâm nhập một môn. Phật pháp giống
như một cái cây to, trước hết mọc rễ
(căn bản), rồi sau đấy mới phát triển
nhánh nhóc, cành, lá, hoa, quả, phát triển như vậy
đó. Phát triển như thế là sống động; c̣n
lối học giống như Kim Tự Tháp th́ đến
tột đỉnh sẽ chẳng thể đột phá,
chết cứng. Cây to, thiên niên thần mộc, sống măi,
mỗi năm nẩy cành mới, mỗi năm trổ hoa
mới, kết quả mới, sống động! V́
thế, phải đổ công phu nơi một bộ kinh,
một bộ kinh tối thiểu phải học một,
hai năm; rễ càng sâu th́ tiền đồ mai sau càng
lớn. Nếu hạ quyết tâm nơi con
đường truyền thừa th́ phải học
mười năm. Học viện chúng ta dự
định chín năm, mỗi năm chuyên đổ công nơi
một thứ, trong mười năm ấy, lấy sách
vở Tịnh tông làm căn bản, tức năm kinh
một luận, trồng rễ cho ổn đă!
Đối với kinh Vô
Lượng Thọ, chúng tôi chọn bản hội tập
của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư; thực sự
học tập th́ phải tham khảo năm bản
dịch gốc, nay bản này đă có người chỉnh
lư tốt rồi, quư vị không cần phải nhọc
công, cứ nghiêm túc nỗ lực nghiên cứu là
được. Học kinh Vô Lượng Thọ th́ tham
khảo bản Vô Lượng Thọ Sớ của ngài Tiểu
Huệ Viễn[9],
tham khảo bản Chú Giải của lăo cư sĩ Hoàng
Niệm Tổ, đều là những bản có căn
cứ. Quán Vô Lượng Thọ Kinh th́ tham khảo bản
Tứ Thiếp Sớ của ngài Thiện Đạo,
bản Diệu Tông Sao của Thiên Thai đại sư. Xưa
kia, tôi đă giảng Tứ Thiếp Sớ, Tứ
Thiếp Sớ là trước tác của ngài Thiện
Đạo. Thiện Đạo đại sư là vị
tổ sư đời thứ hai của Tịnh
Độ Tông, Ấn Quang đại sư hết sức
tán thán. Tương truyền ngài Thiện Đạo là A Di
Đà Phật tái lai. Kinh Di Đà th́ học các sách Sớ
Sao, Yếu Giải, Viên Trung Sao; đó là ba bản chú giải
[trọng yếu]. Đại Thế Chí Niệm Phật
Viên Thông Chương th́ có bản Sớ Sao của ngài Quán
Đảnh giảng rất tường tận, trong quá
khứ tôi cũng đă giảng rồi. Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm th́ có bản Sớ của Thanh
Lương đại sư, lời Sao của Tông Mật
đại sư hết sức phong phú, tức là bản
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành
Sớ Sao. Những bản này chúng ta đă từng ấn
hành để lưu thông với số lượng
lớn, ở đây chúng ta có đủ cả, những thứ
này thuộc về tông của chúng ta mà! Một luận là
Văng Sanh Luận. Đối với những kinh sách của
tông ḿnh, quả thật phải học mười năm
th́ gốc rễ mới sâu dầy.
Mười năm sau, nếu
quư vị có hứng thú sẽ học qua sách vở của
các tông phái khác. Đă định vững căn cơ trong
Phật pháp rồi quư vị mới có thể học qua
sách vở các tông phái khác cũng như hết thảy
học thuật, triết học, khoa học thế gian,
khi tiếp xúc sẽ thấy không khó hiểu, vừa
tiếp xúc bèn dễ dàng hiểu rơ. Trong việc truyền
thừa Phật pháp, quư vị mới gây được
căn cơ; phải dùng chân tâm, tâm chân thành cầu
Phật, Bồ Tát gia tŕ. Phải cầu Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật, phải cầu Tỳ Lô Giá Na Như Lai,
phải cầu A Di Đà Phật, cầu chư đại
Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, Di
Lặc, Địa Tạng, chư Phật, Bồ Tát gia
tŕ, th́ con đường ấy sẽ đi
được rất thuận lợi. Nhất
định chẳng được kiêu căng, ngạo mạn,
quyết định chẳng được có danh văn,
lợi dưỡng; đấy là ma chướng. Trong tâm
quư vị thanh tịnh, b́nh đẳng, thực sự v́
muốn chánh pháp được tồn tại lâu dài, v́
lợi ích hết thảy chúng sanh, ma chướng dẫu
nhiều quư vị vẫn thuận lợi vượt qua
được. Mỗi lần trải qua một ma
chướng, tôi tin cảnh giới của quư vị lại
được một lần nâng cao thêm.
V́ thế, chúng ta thường phải
nghĩ đến chư Phật, Bồ Tát đại
từ đại bi, đức Thế Tôn bi tâm triệt
để, không ai hỏi mà tự nói. Ngày nay chúng ta thiên
duyên[10]
gặp gỡ, nếu chính ḿnh chẳng chịu phát tâm chân
thành là bỏ lỡ rồi, thật đáng tiếc!
Chẳng nghiêm túc nỗ lực tu học trong đạo
tràng này th́ quư vị chướng đạo, tạo
nghiệp nơi đạo tràng này. Bởi lẽ trong
đạo tràng này chỉ có hai con đường, không
thể lưng chừng: Không phải là phước th́ là
tội. Chỉ có hai đường như vậy. Nếu
chúng ta ở đây tu phước, tu huệ th́ vẫn là
tạo tội nghiệp hay sao? Chính bản thân chúng ta phải
tự suy nghĩ điều ấy. A! Nay đă hết
giờ rồi!
*
Hăy xem tiếp tiểu
đoạn thứ năm:
“Ngă
đẳng kim nhật do bất khẳng tử tâm niệm
Phật, nhược dục chấp xao môn ngơa tử, hướng
ốc lư đả thân sinh da nương, tắc ư chư
Tổ thành ác nghịch, phi thiện thuận dă” (Chúng ta
ngày nay vẫn không chịu chết ḷng[11]
niệm Phật, nếu muốn cầm ḥn ngói gơ cửa
để chọi cha mẹ ruột đang ở trong nhà
th́ thành ra ác nghịch đối với chư Tổ,
chứ không phải thiện thuận vậy). Mấy câu
này thoạt nghe qua không dễ hiểu. Ngẫu Ích
đại sư đối với những kẻ tập
khí tham Thiền chưa đoạn, dẫu niệm Phật
vẫn cứ phải khán câu “niệm
Phật thị thùy?” (người niệm Phật là ai),
Tổ đối với những
kẻ ấy mà nói như thế. Trong Tông môn tức
Thiền Tông, trong đạo tràng Thiền Tông, khóa tối
đều niệm kinh A Di Đà, cũng niệm A Di Đà
Phật, cũng nhiễu Phật, nhưng bọn
họ niệm Phật phải đề khởi câu “người niệm Phật là
ai?”
Câu nói ấy giống như ḥn ngói dùng
để gơ cửa. Hiện thời không c̣n dùng ḥn ngói
để gơ cửa nữa, hiện thời đến cửa
nhà ai cũng có chuông điện; quư vị nhấn chuông
người trong nhà sẽ biết có khách đến. Hiện
nay truyền thông phát triển, bởi thế, chúng ta muốn
đến viếng thăm ai đều phải liên
lạc trước, trước hết phải gọi
điện thoại [cho biết] lúc nào sẽ đến,
chẳng cần phải gơ cửa nữa. Trước kia,
không có những phương tiện thông tin thuận
tiện như vậy, chúng ta đến thăm bè bạn
không có cách ǵ liên lạc trước cả, đến
nơi bèn gơ cửa. Ở ngoài cửa, quá nửa là nhà nào
cũng có sân, không giống như bây giờ phạm vi
cư trú rất nhỏ; trước kia nhà nào cũng có sân,
v́ thế nhà nào cũng đều có cổng lớn.
Cổng lớn chính là cửa trổ nơi tường vây
quanh sân, từ đấy đi vào trong nhà khá xa.
Khách đến th́ làm sao?
Phải gơ cửa. Gơ cửa thông thường dùng ṿng
cửa. Nay quư vị có thể thấy trong tranh vẽ, trên
cổng gắn hai cái ṿng sắt tṛn, để làm ǵ? Dùng
để gơ cửa. Phải là nhà giàu mới có, nhà bá tánh
b́nh dân không có những thứ cổng tường tráng
lệ như thế; toàn là vách đất thấp, hoặc
bện tre làm rào giậu, nhưng vẫn có cổng. Gơ
cửa bằng cách nào? Nhặt lấy một ḥn ngói
hoặc một viên đá dưới đất gơ vào
cổng cho người trong nhà nghe tiếng ra mở
cổng. Đó gọi là “xao môn
ngơa tử” (ḥn ngói gơ cửa); tức là một ḥn ngói hay
một viên đá dùng gơ cổng cho chủ nhân đáp
ứng, biết có người đến. Gơ cổng xong
bèn quăng viên đá đi.
[Tổ Ngẫu Ích] dùng h́nh ảnh này
để tỷ dụ bậc tổ sư đại
đức trong Tông Môn dạy ta khán câu thoại đầu “người niệm Phật là ai?”
Phía sau câu này [trong cuốn Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng
Nghĩa], pháp sư Viên Anh chú giải rất hay:
Người tham Thiền vốn dụng ư rất khéo,
nếu ta có thể tùy thuận tổ sư đại
đức th́ phải hiểu ư tổ sư đại
đức, câu thoại đầu ấy nhằm kêu
gọi chúng ta quay đầu. Nếu ta không hiểu ư
tổ sư đại đức: “Người niệm Phật là ai?” hằng ngày
cứ suy nghĩ lung tung, người niệm Phật
rốt cuộc là ai? Ta rốt cuộc là ai? Th́ là lầm
mất rồi. Đó là câu khêu gợi nghi t́nh, chứ không
phải để khởi vọng tưởng. Rất
nhiều khi tham thiền lại biến câu thoại
đầu ấy thành vọng tưởng, như vậy
là hoàn toàn không hiểu ư tổ sư, lầm mất
rồi! Dùng ḥn gạch để gơ cửa, bên trong đă có
người đáp ứng th́ lẽ ra phải vứt
đi, nay lại cầm trong tay; người ta mở
cửa bèn lấy nó chọi người ta, c̣n ra thể
thống ǵ nữa! Nói như vậy để tỷ
dụ những kẻ không hiểu ư tổ sư
đại đức, hiểu lầm ư nghĩa, biến
thành suy nghĩ lung tung, hoàn toàn phá hoại công phu niệm
Phật. Ở phần trên đă giảng về Niệm
Phật rất nhiều rồi, mục đích [của
niệm Phật] là nhằm cầu nhất tâm bất loạn,
quư vị lại thêm vọng tưởng vào, làm sao đạt
nhất tâm bất loạn cho được?Làm sao
đắc công phu thành phiến được? Câu thoại
đầu ấy có nghĩa là “chẳng được xen
tạp vọng tưởng”!
“Tắc
ư chư Tổ thành ác nghịch, phi thiện thuận dă”
(Th́ thành ra kẻ ác nghịch đối với chư Tổ,
chứ không phải là thiện thuận vậy). Về
căn bản, quư vị không hiểu ư tổ sư,
chẳng biết cách tham cứu lời chỉ dạy
của tổ sư nên rớt vào chỗ khởi vọng
tưởng nơi ư thức, chuyện như vậy
rất nhiều. Tham Thiền: Tham là tham cứu, chứ
không phải là nghiên cứu. Người hiện tại
chỉ biết nghiên cứu, chứ không thể tham
cứu; nghiên cứu là vọng tưởng. V́ sao? Nghiên
cứu dùng tâm ư thức, không ĺa được tâm ư
thức. Tham cứu không dùng tâm ư thức, phải ĺa cái tâm
ư thức để tham, đó là Thiền. Nếu không ĺa
được tâm ư thức, lại sử dụng tâm ư
thức, bèn trở thành suy nghĩ lung tung, hiểu sai
hết ư nghĩa.
Tổ sư thấy quư vị niệm
Phật mong giúp quư vị nâng cao cảnh giới niệm
Phật; kết quả quư vị bị lầm lạc, phá
hủy sạch công phu niệm Phật. Chúng tôi biết rơ
t́nh trạng này nên dạy người tuyệt đối
không dùng phương pháp nhà Thiền, cứ chất phác
niệm Phật là tốt rồi. Bởi thế, khẩn yếu
nhất là “chết ḷng niệm
Phật”, “chết ḷng” (tử
tâm) nghĩa là hết thảy tất cả mọi ư
niệm đều buông xuống hết, nên gọi là “tử tâm” (ḷng như
chết, ư nói: không c̣n ham muốn, vọng tưởng, phân
biệt lăng xăng nữa). Trong mười hai thời,
chỉ một câu Phật hiệu bèn thành công. Niệm
được nhất tâm hay không cũng không quan trọng,
cốt sao công phu thành phiến th́ văng sanh sẽ nắm
chắc. Nói đến nhất tâm bất loạn th́ nói
thật ra, chưa chắc một đời này chúng ta có thể
đạt được. Thế nhưng công phu thành
phiến chắc chắn có thể đạt
được, v́ sao quư vị không làm? Văng sanh Hạ Hạ
Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư độ cũng
viên chứng ba thứ Bất Thoái, cũng là A Duy Việt
Trí Bồ Tát! Điều này chẳng thể nghĩ bàn, pháp
khó tin lắm! Đức Phật nói như vậy
đấy, không phải người b́nh thường nói
đâu! Lại xem tiếp đoạn dưới.
“Ác
nghịch chi nhân” (người ác nghịch), Nghịch là
tạo tội Ngũ Nghịch, Ác là tạo Thập Ác,
tức kẻ tạo tội Ngũ Nghịch Thập Ác, “lâm chung thập niệm, nhất
niệm, Hạ Hạ phẩm sanh” (lâm chung mười
niệm hay một niệm, văng sanh Hạ Hạ phẩm).
Ở đây, Ngẫu Ích đại sư nêu thí dụ, nêu
thí dụ thấp nhất là Hạ Hạ Phẩm văng sanh. “Tịnh thị túc nhân thành thục,
cố ngộ thiện hữu, văn tiện tín nguyện”
(Đều là túc nhân chín muồi, nên gặp bạn lành,
vừa nghe liền tin tưởng, phát nguyện). Qua A Xà
Thế Vương Kinh, chúng ta thấy vua A Xà Thế
tạo tội Ngũ Nghịch Thập Ác, Quán Kinh nói ông ta giết
cha, hại mẹ, câu kết với Đề Bà
Đạt Đa phá ḥa hợp Tăng; Đề Bà
Đạt Đa làm thân Phật chảy máu; đó là hai
kẻ ác. Tội nghiệp ấy là tội Vô Gián
địa ngục, Đề Bà Đạt Đa đọa
vào Vô Gián địa ngục. Vua A Xà Thế lâm chung sám
hối, tội Ngũ Nghịch Thập Ác nhưng lâm chung
sám hối, đúng là mười niệm hay một niệm
bèn văng sanh; nhưng ông ta không văng sanh trong Hạ Hạ
Phẩm.
Trong kinh ấy,
đức Thế Tôn dạy: Vua A Xà Thế văng sanh
Tây
Phương
Cực Lạc thế giới thuộc Thượng
Phẩm Trung Sanh. Chúng ta đọc đến đoạn
kinh này, đúng là hết sức khó tin. Nếu nói là Hạ
Hạ Phẩm văng sanh, chúng ta không hoài nghi, nhưng
Thượng Phẩm Trung Sanh chúng ta bèn hoài nghi: “Tạo
tội nghiệp nặng dường ấy, niệm
Phật văng sanh trong phẩm vị cao dường ấy, là
do đạo lư ǵ vậy?” Điều này khiến cho chúng
tôi nghĩ đến Trung Quốc trong quá khứ có một
câu ngạn ngữ: “Lăng tử
hồi đầu kim bất hoán” (kẻ lăng tử
hồi đầu, vàng chẳng đổi
được). Ông ta thực sự chân thành sám hối,
công đức chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế,
chúng ta hiểu rơ: Kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác lúc lâm
chung mười niệm hay một niệm văng sanh, tùy thuộc
vào sức mạnh của ḷng sám hối. Cái tâm sám hối, ư
niệm sám hối của người ấy hoàn toàn chân
thật, chân thành đến cùng cực th́ công đức
ấy chẳng thể nghĩ bàn.
Từ chuyện vua A Xà Thế,
ta thấy kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác lâm chung
mười niệm hay một niệm văng sanh, phẩm
vị có thể là từ Hạ Hạ phẩm đến
Thượng Trung phẩm, không giống nhau! Xét kỹ
người ấy tâm chân thành sám hối, ư niệm chân thành
đạt đến mức độ nào, Ở đây,
đức Phật cũng dạy chúng ta một câu hết
sức hay, Ngài dạy câu ǵ vậy? “Tuyệt đối chẳng được coi
thường người tạo tội nghiệp”,
đúng là phải nghiêm túc tu tập hạnh nguyện
thứ nhất của ngài Phổ Hiền “lễ kính chư Phật”. Đối với
những kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác, chúng ta phải
chân thành lễ kính, v́ sao? Không chừng lúc họ lâm chung
gặp được thiện tri thức, mười
niệm hay một niệm văng sanh, đến thế
giới Cực Lạc phẩm vị cao hơn chúng ta, ta không
bằng họ! Nay chúng ta coi thường họ, xem nhẹ
họ, tương lai đến Cực Lạc thế
giới gặp mặt nhau cũng ngại ngùng. Chúng ta
chỉ biết họ trong một đời này, đâu có
biết đời quá khứ.
Nửa đoạn sau, Ngẫu
Ích đại sư nói: “Thử
sự vạn trung vô nhất, khởi khả kiểu hănh, Tịnh
Độ Hoặc Vấn xích thử tối tường,
kim nhân bất khả bất độc dă” (Việc này
trong một vạn [trường hợp], chưa
được một [trường hợp], há thể
cầu may, sách Tịnh Độ Hoặc Vấn chỉ
trích việc này rất tường tận, người
hiện thời không thể không đọc vậy). Sách
Tịnh Độ Hoặc Vấn nay được
gộp trong bộ Tịnh Độ Thập Yếu,
Tịnh Độ Thập Yếu là tác phẩm do ngài
Ngẫu Ích biên tập. Nói thật ra, người Ngũ
Nghịch Thập Ác lúc lâm chung văng sanh đều là do túc
nhân chín muồi, công phu tu Tịnh nghiệp trong quá khứ
rất giỏi, lẽ ra được văng sanh, v́ sao không
được? Lúc lâm chung gặp phải chướng
duyên! Đây là điều chúng ta phải hết sức chú
ư, phải cẩn thận. Người niệm Phật lúc
lâm chung, người tại gia trông thấy con cái, cháu
chắt trong nhà, nhất là những đứa cháu ḿnh
thương mến, lúc lâm chung sắp mất, cháu
đến kêu rộn, buông không được. Thế là xong!
A Di Đà Phật đến đón, thấy như vậy,
Phật lại đi, người ấy không theo
được.
V́ thế, các sách Sức Chung Tu
Tri (những điều cần biết để giúp đỡ
người lâm chung) và Sức Chung Tân Lương (hướng
dẫn trợ niệm lâm chung) dạy chúng ta khi đưa
tiễn người văng sanh, giúp người niệm
Phật văng sanh th́ trong lúc đó tốt nhất chẳng cho
người chết thấy mặt người nhà thân
quyến. Nếu luận trên mặt t́nh cảm con người
th́ thật rất khó nói, gặp mặt lần cuối mà!
Nhưng trong Phật pháp, làm nhiễu loạn người
chết e gây tổn hại. Bởi thế, lúc đó
tốt nhất là không gặp mặt. Lúc nào mới
được gặp mặt? Đợi tám giờ sau khi
tắt thở mới lại gặp mặt là an toàn
nhất. Vô cùng hữu lư! Lúc đó, sợ nhất là bị
nhiễu loạn, người nhà quyến thuộc khó
thể chia tay, khiến cho nhân duyên được A Di
Đà Phật tiếp dẫn bị lỡ làng; ngoài ra c̣n có
oán thân trái chủ, người chết trông thấy nẩy
ḷng oán ghét, tâm sân hận phát khởi, đều là
chướng duyên!
Bởi thế, lúc đưa
người đi văng sanh, phải khuyên họ nên an
tường, rất lắng tịnh, chung quanh đều
là bạn bè trong nhà Phật, mỗi người đều
niệm Phật tiễn đưa. Những ǵ người
chết trông thấy, nghe thấy đều là Phật
hiệu, nhắm mắt hay mở mắt đều
thấy tượng A Di Đà Phật. Lúc người
ấy mắc bệnh nặng, phải để
tượng Phật ở cuối chân giường,
người ấy nằm nh́n xuống, nhắm mắt
mở mắt đều thấy tượng Phật,
chứ không phải là treo tượng Phật trên
đầu nằm. Treo trên đầu nằm, có mở
mắt cũng không thấy được tượng
Phật. Phải hiểu như vậy! Có thể treo ba
bức h́nh Phật là tốt nhất, v́ sao? Nh́n phải,
nh́n trái, nh́n xiên đều thấy Phật, nhất
định phải chú ư, mở mắt ra, quay đầu về
đâu cũng đều thấy được
tượng Phật. Người ấy tai nghe tiếng
niệm Phật, đề khởi chánh niệm, chẳng
thể dẫn khởi t́nh chấp, chẳng thể dẫn
khởi phiền năo, điều này trọng yếu hơn
bất cứ điều ǵ khác vậy!
Người tạo tác tội
nghiệp mười niệm hay một niệm văng sanh là
do phước trong đời quá khứ chẳng nhỏ,
lúc lâm chung vẫn tỉnh táo, không mê hoặc chút nào, rất
b́nh thường, đấy là điều kiện tiên
quyết để được văng sanh. Nếu tạo
tác tội nghiệp quá nặng, lúc lâm chung sẽ mê hoặc,
điên đảo, trợ niệm không chắc giúp
được, rất khó văng sanh. Bởi thế,
điều kiện đầu tiên vào lúc lâm chung là “thần
trí sáng suốt”. Điều kiện thứ hai là gặp
được bạn lành, “cho nên gặp bạn lành”.
Điều kiện thứ ba là “nghe rồi bèn tín
nguyện”. Ba điều kiện như vậy! Đúng là
ba điều kiện này trong một vạn trường
hợp chưa gặp được một, trong một
vạn người t́m không ra được một
người.
Điều này khiến
chúng ta phải đề
cao cảnh giác. B́nh thường, lúc
hiện
thời, tinh thần, thể lực chúng ta c̣n khá lắm,
nhất định phải biết đoạn ác tu
thiện. Cổ nhân nói rất hay: Thường phải dùng
cái tâm trách móc người khác để trách móc chính ḿnh;
dùng cái tâm khoan thứ (khoan dung, tha thứ) đối
với bản thân để khoan thứ người khác,
có như vậy chính ḿnh mới có thể thành tựu
đức hạnh. Biết khoan thứ người khác,
biết trách móc chính ḿnh, sửa lỗi đổi mới,
tu thiện tích đức, có phước chẳng
hưởng, hễ hưởng bèn bị mê hoặc. Có
phước báo cứ để cho người khác
hưởng! Trong thế gian, người khổ nạn
rất nhiều, sự khổ nạn rất nhiều, hăy
nên tận tâm tận lực giúp đỡ người khác,
hoan hỷ tu bố thí cúng dường, chỉ mong cầu
một việc: Lúc lâm chung không bị bệnh khổ, lúc
lâm chung thần trí sáng suốt, niệm Phật văng sanh,
chỉ cầu như vậy thôi. Như vậy là chân
thật nhất, ngoài ra chuyện ǵ cũng giả cả,
không có ǵ chân thật hết. Chỉ có mỗi một pháp
này là chân thật, ngàn vạn lần chớ nên để
lỡ dịp!
Chúng ta trông thấy, đọc
thấy, người suốt đời tạo tội ác
cũng có thể văng sanh, nhưng ngàn vạn phần
chẳng được nẩy sanh ḷng cầu may: “Gă
nọ tạo ác nghiệp lâm chung vẫn có thể văng sanh,
ḿnh tạo thêm một ít ác nghiệp có ăn nhằm ǵ đâu!
Lâm chung ḿnh cũng như hắn, cũng được
văng sanh mà!” Không đơn giản như vậy đâu!
Người ta trong đời quá khứ đă tu tập, tích
lũy nghiệp nhân văng sanh, c̣n ḿnh có hay không? Nếu trong
đời đời kiếp kiếp quá khứ chưa
từng tu, hoặc tu không đủ, kinh Di Đà dạy “bất khả dĩ thiểu thiện
nhân, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ
quốc” (chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức, nhân duyên để được
sanh về cơi ấy). Ngũ Nghịch Thập Ác lúc lâm chung
gặp được thiện hữu, vừa nghe nói
liền tin tưởng ngay, lập tức phát nguyện,
đó là do thiện căn trong đời quá khứ tới
lúc ấy phát hiện, khởi tác dụng. Nếu trong quá
khứ đă không có những thiện căn như thế,
làm sao có thể văng sanh cơ chứ? Phước
đức là ǵ? Phước đức là lúc lâm chung sáng
suốt, tỉnh táo, không mê hoặc, không điên
đảo, ấy là phước đức. Do thiện
căn, phước đức, bèn có thiện hữu
đến khuyên lơn, trợ niệm, quư vị thấy
đó: Thiện căn, phước đức, nhân duyên
thảy đều đầy đủ, chẳng những
đầy đủ mà c̣n nhiều nữa! Thiện căn
nhiều, phước đức nhiều, nhân duyên
nhiều, chẳng phải là chuyện dễ!
Quư vị hăy tự suy nghĩ:
Trong tương lai, lúc quư vị lâm chung, quư vị có
gặp được thiện tri thức hay không? Có
người trợ niệm cho ḿnh hay không? Đều là câu
hỏi [bỏ ngỏ] cả! Chúng ta trông thấy có ai lâm
chung, phát nguyện trợ niệm giúp người ấy,
đó là chuyện tốt, gieo nhân đấy! Tôi
thường giúp người khác trợ niệm, vui thích
giúp người khác trợ niệm, tương lai lúc lâm
chung (nhân quả mà!) ắt có người khác đến
trợ niệm cho ḿnh. Nhân thế nào, quả thế
ấy, nghiệp nhân quả báo mảy may chẳng sai! Chúng
ta chẳng thích giúp người khác trợ niệm,
đến lúc chính ḿnh lâm chung, e rằng không ai đến
trợ niệm cho ḿnh. Dẫu hiện nay có máy niệm
Phật, nhưng đến lúc lâm chung, thể lực của
chính ḿnh không c̣n nữa, dù bên gối đặt máy niệm
Phật vẫn phải nhờ vả người khác, không
có ai giúp ḿnh th́ cũng uổng công thôi!
Con người sống trong
thế gian nhất định phải là một
người tốt, nhất định phải kết
thiện duyên cùng hết thảy chúng sanh, chuyện này trọng
yếu hơn bất cứ ǵ khác. Bởi thế, ở
đây tổ sư nhắc nhở chúng ta: “Trọn chẳng được ôm ḷng cầu may”.
Quả thật có chuyện đó (tức chuyện
người tạo tội lâm chung niệm Phật văng
sanh), nhưng chẳng được đánh bạc
với số phận, ngay từ bây giờ phải nghiêm
túc, phải nỗ lực tu hành đi! Cụ Hạ Liên
Cư thường khuyên người khác “thật thà niệm”. “Thật thà” là không hoài nghi,
không xen tạp, không gián đoạn. Lại xem tiếp
đoạn kế:
“Đương
tri thử kinh, tự tự giai Hải Ấn tam-muội, Đại
Viên Kính Trí chi linh văn dă, duy niệm chí nhất tâm bất
loạn, tắc năng siêu tam giới, phục phiền năo,
phá vô minh dă” (Nên biết kinh
này, mỗi chữ đều là Hải Ấn tam-muội,
là bản văn thiêng liêng của Đại Viên Kính Trí,
chỉ niệm đến nhất tâm bất loạn
ắt có thể vượt thoát tam giới, chế ngự
phiền năo, phá vô minh). Đây là lời tán thán kinh
điển, pháp môn đến mức cùng cực. Chữ
Hải (biển) tỷ dụ Chân Như Bổn tánh,
từng chữ đều là tự tánh tam-muội, Ấn
là ấn chứng, chứng minh. Từng chữ từng câu
trong kinh đều từ tự tánh tam-muội của
đức Thế Tôn lưu xuất, là kinh văn thiêng liêng
về Đại Viên Kính Trí. Đại Viên Kính Trí là trí
huệ Bát Nhă sẵn có trong tự tánh, trí huệ Bát Nhă trong
tự tánh chính là bản thể của tự tánh, là
bản thể của Chân Tánh. Tự tánh có vạn
đức vạn năng. Trong tự tánh, hết thảy
tướng hảo đều là tác dụng của nó.
Nếu dùng khái niệm Thể, Tướng, Dụng
của kinh Hoa Nghiêm để luận th́ Bát Nhă là Thể,
tức là bản thể của tự tánh; đức
năng là Tướng, tức tướng trạng của
tự tánh; tướng hảo là Dụng của tự tánh.
Đức năng có thể hiện, có thể biến,
tướng hảo là sở hiện (cái được
hiện), sở biến. Thể, Tướng, Dụng [của
tự tánh] là như vậy đấy!
Kinh văn do tự tánh Bát Nhă lưu
lộ; nếu chúng ta hiểu rơ đạo lư này, thông
đạt chân tướng sự thật này, quư vị
mới coi kinh này là của báu, không có pháp thế gian hay
xuất thế gian nào có thể sánh bằng! Chúng ta phải
hiểu như vậy. Đúng là chúng sanh đời Mạt
Pháp ĺa khổ được vui, vượt thoát tam
giới lục đạo, một đời viên măn Bồ
Đề, chỉ có một con đường thông
suốt, chỉ có một pháp môn, công đức lợi ích
không ǵ sánh bằng, không có ǵ có thể so sánh
được. Tuyệt diệu thay! Trong phần sau,
đại sư nói mấy câu rất hay: “Duy niệm chí nhất tâm bất loạn” (chỉ
có niệm đến nhất tâm bất loạn), chúng ta thực
sự thực hiện, niệm đến nhất tâm
bất loạn bèn siêu thoát tam giới, vượt thoát luân
hồi lục đạo. Chế phục phiền năo là Sự
nhất tâm bất loạn. Trong ba câu ấy, “vượt thoát tam giới
lục đạo” là công phu thành phiến, sanh vào Phàm
Thánh Đồng Cư độ, vượt thoát lục
đạo; “chế phục
phiền năo” là Sự nhất tâm bất loạn, sanh vào
Phương Tiện Hữu Dư độ; “phá vô minh” là Lư nhất tâm
bất loạn, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ,
thật là chẳng thể nghĩ bàn!
Chớ nghĩ cuốn kinh này mỏng
tanh, nếu quư vị niệm rất thuộc th́ đọc
một lượt từ đầu đến cuối
chỉ năm phút là xong, nhưng kinh này có đức
dụng chẳng thể nghĩ bàn; quư vị có hiểu rơ
hay chăng? Nếu thực sự hiểu rơ, quư vị có
học được hay không? Quư vị có tinh tấn
hướng đến mục tiêu “nhất tâm bất loạn, tâm không điên
đảo” hay chăng? Có vậy mới thực sự
giải quyết vấn đề được! Những
bộ đại kinh đại luận, lư luận,
phương pháp rất nhiều, không có ǵ đơn
giản, dễ dàng như thế này, thưa thật cùng quư
vị, chưa chắc kinh nào có hiệu quả bằng kinh
này, phải hiểu rơ ràng như vậy. Hiểu rơ ràng là
thấy thấu suốt, thấy thấu suốt rồi
mới có thể buông xuống được. V́ sao quư
vị chưa buông xuống được, không chịu
buông xuống? V́ quư vị chưa thấy thấu suốt,
bởi thế buông xuống không được. Lại xem
tiếp đoạn kế:
“Sở tŕ
danh hiệu” (danh hiệu
được tŕ), “danh
hiệu” là Nam-mô A Di Đà Phật, “chân thật bất khả tư nghị” (chân
thật chẳng thể nghĩ bàn), danh hiệu ấy là
danh hiệu của Chân Như tự tánh. Niệm một câu
danh hiệu th́ không có ǵ khác cả, chính là đem Chân Như
tự tánh niệm ra. Chúng ta là phàm phu luân hồi trong
lục đạo từ bao kiếp lâu xa đến nay, mê
mất Chân Như bổn tánh; nay Phật dạy chúng ta dùng
sáu chữ hồng danh để phá mê khai ngộ, t́m
lại Chân Như tự tánh! Đây là biện pháp
đơn giản nhất, ổn thỏa, thích đáng tột
bực, rất thẳng chóng. Danh hiệu này có ư nghĩa là
vô lượng trí, vô lượng giác, trong phần trên tôi
đă thưa cùng quư vị rồi! Vô Lượng Thọ
Phật hoặc A Di Đà Phật, đều có nghĩa là
Vô Lượng Trí hay Vô Lượng Giác. Vô Lượng Trí
là tự thể của Chân Như bổn tánh, Vô
Lượng Giác là đức dụng của Chân Như bổn
tánh. Một câu danh hiệu này khôi phục tự tánh,
bởi thế, nó thực sự chẳng thể nghĩ
bàn!
“Năng tŕ
chi tâm tánh, diệc chân thật bất khả tư nghị”
(Tâm tánh năng tŕ cũng thực
sự chẳng thể nghĩ bàn), “tâm tánh năng tŕ” chính là cái tâm chân thành niệm
Phật hiện tại của chúng ta. Cái tâm chân thành ấy
chính là cái chân tâm đang bị mê, mê những ǵ? Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước là mê. Chúng ta
chưa đoạn hết vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước; nhưng nay đă giác ngộ
rồi, chúng ta muốn niệm Phật. Cái ư niệm
niệm Phật ấy là chân thành, trong ư niệm niệm Phật
ấy chẳng phải là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, tâm niệm Phật là tâm chân
thành, tâm chân thành chẳng thể nghĩ bàn!
“Tŕ nhất
thanh tắc nhất thanh bất khả tư nghị, tŕ thập,
bách, thiên, vạn, vô số thanh, thanh thanh bất khả tư
nghị dă” (Tŕ một
tiếng là một tiếng chẳng thể nghĩ bàn, tŕ
mười, một trăm, một ngàn, một vạn, vô
số tiếng th́ mỗi tiếng đều chẳng
thể nghĩ bàn!) Rất đáng tiếc là ít ai biết
được chân tướng sự thật này! Bởi
thế, người niệm Phật nhiều, nhưng kẻ
không biết niệm sẽ chẳng đạt
được cảnh giới này. Từng tiếng
đều chẳng thể nghĩ bàn, tiếng tiếng
đều tương ứng, tương ứng th́ mới
chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta nghe cổ đức nói
đă quen tai: “Nhất niệm
tương ứng nhất niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
Như thế nào mới là tương ứng? Chúng tôi
thường hay nói [như thế này] nhất: Mỗi
tiếng Phật hiệu đều ứng với tâm,
nguyện, giải, hạnh của A Di Đà Phật, trong
mỗi một câu Phật hiệu đều đầy
đủ tâm - nguyện - giải - hạnh của A Di
Đà Phật, chẳng thể nghĩ bàn! Hoặc có
thể nói đơn giản hơn một chút (tâm - nguyện
- giải - hạnh của A Di Đà Phật không dễ
hiểu, nếu quư vị chưa thấu triệt kinh Vô
Lượng Thọ, đúng là không thể hiểu
được), chúng tôi nói đến mức đơn
giản nhất là tương ứng với tâm Phật.
Bây giờ chúng tôi lại quy nạp, giảng đơn
giản hơn nữa, cũng không đến nỗi khó
hiểu lắm là “tâm chân thành,
tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ
bi”. Có thể tương ứng mười chữ
ấy cũng là chẳng thể nghĩ bàn. Mười
chữ ấy là tánh đức của tự tánh, dùng
một câu A Di Đà Phật để niệm ra tánh
đức của tự tánh, khiến cho tánh đức
của tự tánh được thực hiện trong cuộc
sống thường nhật, chẳng phải là huyền
học, mà là thật học, tức là thực sự khởi
tác dụng.
Trong đoạn cuối cùng, Ngẫu Ích
đại sư khẩn thiết đến cùng cực,
quư vị thấy đó “Phục
nguyện” (Cúi nguyện), nhằm mục đích ǵ?
Tổ sư đại đức cung cung kính kính quỳ
dưới đất, dập đầu trước quư
vị, nay chúng tôi nói là Ngài lễ bái quư vị, “Truy, tố, trí, ngu” (kẻ
tăng, người tục, kẻ trí, người ngu),
Truy (緇: áo thâm, áo
đen) là người xuất gia, Tố (素: áo trắng) là người tại gia, [“truy tố”] là tứ chúng
đồng học tại gia lẫn xuất gia, Trí là
lợi căn, Ngu là độn căn. Quư vị là Thượng
Thượng căn cũng được, là Hạ Hạ
căn cũng xong, “ư thử
giản dị trực tiệp, vô thượng viên đốn
pháp môn, vật thị vi nan, nhi triếp sanh thoái ủy” (đối
với pháp môn giản dị, thẳng chóng, vô thượng
viên đốn này chớ nghĩ là khó rồi vội sanh
ḷng lui sụt, chối từ): Đối với pháp môn
Niệm Phật này, đối với phương pháp tu
hành mà kinh Vô Lượng Thọ đă dạy chúng ta,
thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng, đúng
là đại pháp môn vô thượng chí viên chí đốn,
chớ nghĩ là quá khó. V́ sao? Nếu nghĩ là quá khó chúng ta
sẽ không chịu tu, sẽ chối từ, thoái thác, mà cũng
chớ nghĩ nói nó là quá dễ!
“Vật
thị vi dị, nhi mạn bất cần sách” (Chớ coi là dễ để rồi lần
khân, không siêng năng, răn nhắc chính ḿnh hăy nỗ
lực). “Sách” (策) là cảnh sách (cảnh tỉnh, thúc
đẩy ḿnh nỗ lực), Cần (勤)
là siêng năng, tinh tấn. Chẳng được nghĩ
pháp này quá dễ, nghĩ quá dễ ắt sẽ lười
nhác, không gắng công. Phải tích cực, phải nỗ
lực! “Vật thị vi thiển”
(Chớ nghĩ là cạn), chẳng được
nghĩ pháp này quá nông cạn! Coi là quá nông cạn sẽ không
thèm để vào mắt, chuyện này dễ phạm
nhất. Những kẻ tự coi ḿnh thuộc thành phần
tri thức, thích những kinh to luận lớn, đối
với kinh A Di Đà dạy niệm A Di Đà Phật
đúng là họ không buồn để vào mắt! Thật
là lầm lẫn, sai lầm ngay trước mắt!
Lầm lẫn ngay nơi pháp môn chí viên chí đốn khôn
sánh này, đáng tiếc quá phải không? “Vật thị vi thâm, nhi phất cảm thừa đương”
(Chớ nghĩ là sâu rồi chẳng dám gánh vác), cũng
chẳng được nghĩ pháp này quá sâu. Thấy pháp
này quá sâu, quư vị sẽ chẳng dám đảm
đương, lầm rồi! Phải sửa đổi
những căn bệnh ấy đi!
Chúng ta xem câu nói “phục nguyện truy tố trí ngu” cảm
thấy như thế nào? Chí thành khẩn thiết khuyên
dạy chúng ta! Chúng ta phải biết tốt xấu,
phải cảm kích ân đức của tổ sư
đại đức răn dạy, đúng là buốt ḷng
rát miệng khuyên dạy chúng ta, chúng ta vẫn không giác
ngộ, vẫn cứ hoài nghi, vẫn chẳng biết quư
tiếc, lầm lẫn quá đỗi, cô phụ tổ
sư! Nhân địa (địa vị trong khi tu nhân) của
tổ sư chúng tôi không biết, nhưng chúng tôi trộm nghĩ
Ngài chắc chắn là Phật hay Bồ Tát tái lai; không
phải là Phật hay Bồ Tát sẽ không thể nói
được như vậy. Lời ấy nào phải con
người nói, phải là lời chư Phật Như Lai
nói. A! Bây giờ đă hết giờ rồi, chúng tôi
giảng đến đây thôi!
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 9 hết
[1] “Nội hạnh nhân” là người thực
sự tu tập, thông hiểu pháp môn, thật tu, thật
chứng, khác với “ngoại hạnh nhân” là người
chỉ biết lư thuyết chung chung, nói xuông.
[2] Hội ư: Một trong sáu cách tạo
chữ của tiếng Hán, ghép hai hay
nhiều chữ lại để tạo thành một
chữ mới. Chẳng hạn chữ Niệm ở
đây gồm hai chữ Kim và Tâm ghép lại. Hoặc như
chữ Minh (明: sáng) được ghép bởi hai
chữ Nhật (日)
và Nguyệt (月).
[3] Công lợi chủ
nghĩa (Utilitarianism) là một học thuyết c̣n
gọi là Maximum Happiness do John Stuart Mill và Jeremy Bentham
đề xướng, nội dung chủ yếu coi mưu
cầu hạnh phúc là mục đích rốt ráo, không cần
biết đến phải sử dụng phương
tiện nào.
[4] Thanh Quy theo nghĩa gốc là những
quy định và khuôn phép nhằm đảm bảo
những hành vi ứng xử của con người đúng
chừng mực, phù hợp lễ nghi nhằm đảm
bảo sự an định trong xă hội. Vào đời
Đường, kể từ khi tổ Bách Trượng
Hoài Hải lập ra Thiền Môn Thanh Quy cho đạo tràng
của Ngài tại núi Bách Trượng, khắp các tùng lâm
Phật giáo đều tuân thủ những quy định
này, Thanh Quy trở thành một thuật ngữ chỉ riêng
những quy định về oai nghi và cách ứng xử
trong nhà Phật. Thậm chí, sau này Đạo Giáo cũng
bắt chước lập ra những quy tắc cộng tu
và cũng gọi là Thanh Quy.
[5] Trực dịch: Dịch sát mặt
chữ, kinh chép sao, dịch vậy, không lược bớt
hay rút gọn những ư tưởng rườm rà, trùng
lập.
[6] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của pháp sư Bảo Tịnh trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải Thân Văn Kư: “Kỳ sở cảm Phật phân vi Pháp, Báo, Ứng tam thân. Kỳ sở sanh độ phân Đồng Cư, Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang tứ độ. Nhất văng như thị, nhược cánh tấn nhi luận, tắc nhất thân viên cụ tam thân, nhất độ viên nhiếp tứ độ, nhi tŕ danh công hạnh nhi hữu thiển thâm, kỳ văng sanh liên đài hữu cao đê, cố tứ độ các phân tam bối cửu phẩm, bất đắc nhất khái chi luận” (tạm dịch: Đức Phật [mà người văng sanh cảm được] chia thành ba thân: Pháp Thân, Báo Thân, Ứng thân; cơi nước người ấy sanh về chia thành bốn cơi Đồng Cư, Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang. Một phen sanh về là như vậy, nếu bàn ở một mức độ cao hơn th́ một thân trọn đủ ba thân, một cơi nhiếp trọn bốn cơi; nhưng công hạnh tŕ danh có sâu hay cạn nên đài sen văng sanh có cao hay thấp. V́ thế, mỗi cơi đều chia thành ba bậc chín phẩm, chẳng thể nói là giống hệt như nhau được!)
[7] Tứ Khố Toàn Thư (tên đầy đủ
là Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư) là tổng
tập tất cả các tác phẩm văn học của
Trung Quốc từ năm 1773 đến 1782,
được biên soạn dưới đời nhà Thanh
theo lệnh của vua Càn Long, đứng đầu nhóm
biên soạn là Kỷ Quân và Lục Tích Hùng. Gọi là Tứ
Khố v́ sách được chia thành bốn thể
loại chính: Kinh, Sử, Tử, Tập. Sách này gồm
hơn 10.000 bản thảo từ thời Tiên Tần cho
đến những năm đầu đời Thanh.
Bộ sách này dày đến 2,3 triệu trang sách và khoảng
800 triệu chữ! Do Tứ Khố Toàn Thư quá lớn,
tuổi đă cao, không thể nào có thời gian đọc hết,
vua Càn Long hạ lệnh cho triều thần biên soạn một
bộ sách khác, có thể nói đơn giản là tóm tắt
nội dung trọng yếu của những sách được
thâu thập trong Tứ Khố Toàn Thư. Công tŕnh này Mẫn
Trung và Vương Tế Hoa làm chủ biên, và cũng được
chia thành bốn phần Kinh, Sử, Tử, Tập. So với
Tứ Khố Toàn Thư, công tŕnh này có giá trị cao hơn
v́ được biên tập thận trọng và giảo chánh
tỉ mỉ hơn.
[8] Chúng tôi tạm dùng chữ này, tuy không chính xác. Nguyên văn là “bổ
tập ban” (補習班, tức cram class), tức là
những khóa học nhằm dạy cho học tṛ một
số kỹ năng cần thiết, hoặc chỉ chú
trọng một vài môn học đặc biệt, dạy
nhồi nhét trong một thời gian ngắn để
học sinh có thể trúng tuyển một kỳ thi bắt
buộc nào đó như thi tuyển vào đại học
hoặc thi lấy chứng chỉ hay giấy phép cho
một nghề. Do vậy,
nếu dùng chữ “luyện thi” th́ cũng không ổn, chúng
tôi tạm dùng chữ Bổ Túc v́ tại Việt Nam khái
niệm “bổ túc văn hóa” hoặc “chuyên tu tại
chức” cũng mang tính chất học đối phó nhằm
giật lấy mảnh bằng theo yêu cầu của cấp
trên đ̣i hỏi. Ở đây, Ḥa Thượng dùng chữ
này với ư khiêm hư, Ngài nói toàn bộ học vấn
Phật pháp của Ngài chẳng có ǵ, học kinh giáo chỉ
là nói cho rơ ràng, đơn giản, rành mạch để
người nghe có thể hiểu kinh giáo, hoàn toàn là dựa
theo chú giải của người xưa để nói
lại, chứ bản thân chẳng hiểu ǵ về kinh
giáo cho mấy!
[9] Tức ngài Tịnh Ảnh Huệ
Viễn đời Tùy, gọi là Tiểu Huệ Viễn
để phân biệt với Lô Sơn Huệ Viễn
(sơ tổ Tịnh tông) đời Tấn.
[10] Thiên duyên (天緣): Duyên gặp gỡ hiếm hoi, lạ
lùng. Ḥa Thượng dùng chữ thiên duyên (duyên trời cho, không
phải là thiện duyên) để nhấn mạnh cơ
hội hy hữu, ngàn kiếp khó được này.
[11] Tử tâm (chết ḷng) là không c̣n ư
niệm so đo mong ngóng, đứng núi này trông núi nọ,
trọn hết ḷng tin tưởng, chuyên tâm nhất ư
niệm Phật, ví von cơi ḷng đă nguội lạnh như
người đă chết, không c̣n sôi nổi toan tính
cầu may, chấp trước, hoàn toàn bất động
trước những lời thuyết giáo dụ hành nhân
bỏ pháp môn này tu theo pháp môn khác.