Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên

Phần 3

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang

 

51. Thư gởi cư sĩ Cao Khế Lư

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Mẹ ông đă bảy mươi mốt tuổi rồi, ngày tháng không c̣n nhiều nữa. Hăy nên bảo quyến thuộc trong nhà: “Mọi người hằng ngày hăy thay phiên nhau niệm Phật trước mẹ”. V́ sao vậy? Do bọn họ lúc thường ngày nếu không niệm Phật th́ tới lúc mẹ ông sắp mất, họ cũng sẽ chẳng chịu niệm. Lúc b́nh thường đă quen niệm, đến lúc ấy sẽ niệm được. Phải thỉnh một cuốn Sức Chung Tân Lương gởi về nhà cho bọn họ đọc, ngơ hầu hiểu được người đến lúc lâm chung phải nên [làm] như thế nào th́ mới hữu ích, như thế nào sẽ bị tổn hại. Đă biết những điều thế tục thường làm đều là chuyện “đă bị té xuống giếng c̣n bị quăng đá” sẽ chẳng đến nỗi cứ nghĩ những chuyện ấy mới là hiếu, khiến cho mẹ chẳng được văng sanh, ngược lại càng bị đọa lạc hơn.

Nay đặt pháp danh cho mẹ ông là Đức Siêu, nghĩa là: Do nhất tâm niệm Phật, liền có thể siêu xuất tam giới, cao đăng chín phẩm sen báu. Hăy răn nhắc [bà cụ] đừng cầu phước báo trời - người trong đời sau. Nếu có cái tâm mong cầu cho đời sau, chắc chắn chẳng được văng sanh Tây Phương! Chuyện này khẩn yếu tột bậc! Giúp cho cha mẹ được văng sanh thành công chính là giúp cho cha mẹ thành Phật! Công đức ấy cực lớn, không thể sánh tầy! Nếu phá hoại chánh niệm của cha mẹ khiến cho họ chẳng được văng sanh th́ tội lỗi ấy cũng cực lớn không thể sánh tầy! Ông hăy dốc chí nhé!

 

52. Trả lời thư cư sĩ Lư Thọ Đường

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Hôm trước, thư ông được Bắc B́nh Khắc Kinh Viện chuyển đến đây, [xem thư] biết ông khá có tín tâm. Nay đặt cho ông pháp danh là Huệ Ấm, nghĩa là dùng trí huệ để bẩm thọ pháp môn Niệm Phật của đức Như Lai ḥng tự che chở, che chở cho người, khiến cho những chúng sanh bị nhiệt năo[1] bức bách kia cùng được che rợp, được mát dịu trong đời hiện tại, liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Chỉ y theo Gia Ngôn Lục tu tŕ, chắc chắn sẽ được lợi ích rốt ráo. Đừng nên học theo những pháp luyện đan[2], vận khí v.v… của ngoại đạo. Nếu trước kia đă từng học, hăy hoàn toàn bỏ đi th́ mới có lợi ích.

Lại nên dạy bảo quyến thuộc trong nhà và hết thảy những kẻ hữu duyên bên ngoài khiến cho họ đều chí thành niệm Phật. Nếu chịu chân thật niệm th́ trong đời này ắt gặp dữ hóa lành, lâm chung quyết định văng sanh Tây Phương; lợi ích ấy làm sao diễn tả được? Ai nấy lại cần phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, đề xướng nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo, khiến cho hết thảy mọi người đều giữ tấm ḷng tốt lành, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt lành. Người niệm Phật làm được như thế th́ là đệ tử thật sự của Phật. Ông từ mấy ngàn dặm gởi thư đến mà sao ghi địa chỉ vẫn viết tháu, chẳng cẩn thận, đúng lề lối, có thể làm hỏng chuyện vậy? Chỉ một chuyện này đủ biết ông làm việc phần nhiều chẳng nghiêm túc rồi!

 

53. Thư trả lời cư sĩ Phùng Thiên Tây và Trịnh Viên Oánh

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Ba bốn hôm trước nhận được thư và hối phiếu (money order) một trăm đồng, đă nhận rồi, đừng lo. Ngay hôm ấy, Hoằng Hóa Xă đă gởi hơn ba chục bộ sách cho các vị, chắc là đă nhận được rồi. Do bận bịu không rảnh rỗi nên chưa phúc đáp được. Trộm nghĩ: Chúng sanh đời Mạt Pháp căn cơ cạn mỏng, nếu không cậy vào Phật lực, chắc chắc khó thể liễu thoát. Do vậy, phải giữ chắc một môn “tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ” th́ mới có thể thoát khỏi cơi Ngũ Trược này, lên cơi chín phẩm sen kia. Nếu lầm lẫn cho ḿnh là cao quư, muốn cậy vào sức chính ḿnh để tu các pháp môn Thiền, Giáo, Mật ḥng liễu sanh tử th́ phần nhiều sẽ là “có nhân, không quả”. V́ sao vậy? Dù có thể triệt ngộ tự tâm, thâm nhập kinh tạng, nhưng chưa đoạn hết sạch Phiền Hoặc, chắc chắn chẳng có phần liễu sanh tử, huống hồ kẻ chưa thể triệt ngộ tự tâm và chưa thể thâm nhập ư? Mật Tông đề xướng “thành Phật ngay trong thân này” cũng chẳng phải là điều ai cũng có thể làm được! Người học Mật Tông thường bị ma dựa, đều là do chẳng biết tự lượng, lầm lạc muốn đắc thần thông và thành Phật mà ra!

Quư vị đă trọn đủ tín tâm, nên y theo pháp môn Tịnh Độ mà Quang đă nói để tu. Nên biết: Pháp này chính là pháp được hoằng dương bởi chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện tri thức, Quang bất quá dựa theo ư nghĩa của lời chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện tri thức mà truyền thuật lại. Đừng nói: “Ông là hạng người ǵ mà dám bảo người khác bỏ những pháp môn Thiền, Giáo, Mật do đức Phật đă nói để chuyên y theo lời ông nói đó mà tu ư?” Nếu nói như vậy chính là chẳng y theo lời Phật dạy, bởi những ǵ Quang đă nói chính là những ǵ mười phương ba đời chư Phật đều cùng nói. Há có nên v́ Quang bất tài mà chẳng tin tưởng ư? Hiện thời tà ma, ngoại đạo nhiều khôn kể xiết, họ đều nói chính họ mới thật là bậc nhất. Quư vị chớ bị những loài ma con ấy mê hoặc. Nếu trước kia đă từng dự vào môn hộ của chúng, hăy nên bỏ sạch hết đi. Chớ nói “lúc nhập môn đă thề độc, sợ bỏ đi chắc sẽ mắc họa!” Phải biết: Bỏ tà theo chánh, sao mắc họa được? Chẳng những không mắc họa, lại c̣n có công đức. Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao, ở đây không viết chi tiết.

Những sách đă gởi đến đó, cứ chiếu theo khả năng của người ta mà trao ra, đừng nhất định phải trao sách theo đúng số tiền người ta đă trả. Nay tôi gởi một trang danh mục sách của Hoằng Hóa Xă, nếu có ai thỉnh nhiều để tặng cho người khác ḥng kết duyên th́ cứ dựa theo giá tiền trong danh sách mà thỉnh. Nếu có gởi tiền th́ trên bưu phiếu xin đề rơ là Bưu Cục ngơ Dưỡng Dục, Tô Châu sẽ đỡ mất công nhiều lắm. Nếu chỉ viết là Tô Châu th́ phải đưa về Tổng Cục [bưu điện], cách chùa Báo Quốc khoảng bốn dặm, gởi đi giao về khá bất tiện. Sợ người đưa tiền ghi tên [sách] không rơ ràng, xin hăy đem danh mục gởi lại kèm theo thư để khỏi đến nỗi chẳng thỉnh được sách rồi đâm ra nghi ngờ!

 

54. Trả lời thư cư sĩ Trầm Di Sanh

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Nói đến chuyện làm câu đối để treo hai bên chữ “Phật” lớn, nay tôi soạn một cặp liễn, không biết có dùng được hay không? “Mê ngộ t́nh không chứng tự tánh. Thánh phàm kiến tận hiển duy tâm” (Mê, ngộ, t́nh không, chứng tự tánh, thánh phàm Kiến[3] hết tỏ duy tâm). Nếu viết theo lối tám chữ th́ là “mê ngộ t́nh không, viên minh tự tánh; thánh phàm kiến tận, triệt chứng duy tâm”. Lối văn tám chữ ư nghĩa cũng hay, tùy ư sử dụng. Phàm phu đang mê, tam thừa tuy ngộ, nhưng chưa đạt đến địa vị “mê lẫn ngộ đều mất” cho nên chưa thể chứng tự tánh rốt ráo viên măn. Phàm phu có t́nh kiến phàm phu, thánh nhân có t́nh kiến thánh nhân, chỉ có đức Phật không có cả hai thứ kiến ấy. Do vậy, [đức Phật] triệt để tỏ lộ lư thể Duy Tâm.

Niệm Phật nhắm mắt dễ bị hôn trầm. Nếu không khéo dụng tâm rất có thể gặp cảnh ma! Chỉ buông hờ mí mắt (tức là như mắt các tượng Phật vậy) th́ tâm sẽ lặng xuống, chẳng sôi động, cũng chẳng bị hỏa bốc lên đầu. Nếu ông niệm Phật mà trên đầu [dường như] có vật ǵ rờ đụng, hoặc lôi kéo v.v… là v́ suy tưởng trong lúc niệm Phật khiến cho sóng tâm thức dâng trào đến nỗi tâm hỏa bốc lên. Nếu buông rủ mí mắt và hướng tâm suy tưởng xuống phía dưới th́ tâm hỏa chẳng bốc lên, bệnh ấy sẽ mất đi. Chớ nên lầm tưởng [hiện tượng] ấy là công phu [đă đạt đến mức], cũng đừng sợ đấy là ma cảnh, chỉ chí thành nhiếp tâm mà niệm, và tưởng bản thân đang ngồi hoặc đứng trên hoa sen, nhất tâm tưởng ta đang ngồi hay đứng trên hoa sen th́ hiện tượng ấy sẽ tự nhanh chóng biến mất (Nếu chẳng dám tưởng đang ngồi hay đứng trên hoa sen, sợ rằng có thể gặp ma sự, hăy chỉ nghĩ đến phía dưới bàn chân th́ tâm hỏa lẫn hơi nóng trên đầu đều chẳng phát sanh nữa). Hiện nay tà ma ngoại đạo rất nhiều, chớ nên ôm ḷng thăm ḍ, tu thử chút nào! Nếu có cái tâm ấy, ắt sẽ bị chúng dụ dỗ. Hễ lọt vào tṛng của chúng, ắt sẽ đến nỗi mất trí phát cuồng. Nghe nói một vị pháp sư rất có tiếng tăm nay đă tự ḿnh ăn thịt, dạy người khác ăn thịt, lại c̣n dạy người khác hủy hoại tượng Phật, ông ta đă hiện rơ tướng ma rồi đấy!

 

55. Thư trả lời cư sĩ Hoàng Hàm Chi

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Bài Tây Quy Tụng của Tử Kiến Ông[4] gồm một trăm sáu mươi chữ, ư nghĩa gần như chấp nhận được, nhưng văn từ c̣n vụng về, thiếu lưu loát, chỉ làm cho xong chuyện mà thôi. Cư sĩ [Khuất] Văn Lục đă ăn chay, trong khi tang ma, tế thần, đăi khách đều nên dùng đồ chay để khởi nguồn phong hóa cho địa phương. Muôn phần chớ nên thuận theo tục cũ, phô trương bày vẽ, sát sanh, tấu nhạc, biến đám ma thành tiệc tùng vui chơi, ngơ hầu đối với cha mẹ, đối với chính ḿnh, đối với khách khứa, đối với xóm giềng đều có lợi ích. Hiện nay vận nước nguy ngập, bất luận là ai đều nên niệm Phật, niệm Quán Âm để làm kế dự pḥng. Ngoại trừ cách này ra, làm bất cứ cách nào, chẳng lay chuyển được nghiệp nào, chỉ thành uổng công nhọc nhằn mà thôi. Mong hăy đem điều này nói với hết thảy những người hữu duyên.

 

56. Thư trả lời cư sĩ Đàm Thiếu Phủ

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Nhận được tin cáo phó lần trước, tính nói gốc - ngọn cùng ông ngơ hầu có ích cho cha mẹ, chẳng tổn hại chính ḿnh, nhưng v́ bận bịu không rảnh rỗi, rốt cuộc chưa thể trả lời thư được. Lần này nhận được thư ông là do Vi Nghiễm gởi từ chỗ anh ông ta tới, cũng đă gần mười ngày rồi. Nên biết: Người trong thế gian chỉ biết chú ư đến thân xác, đến nghi thức, chứ đối với hai phương diện tâm thức và lợi ích đều bỏ qua không xét đến. Dường như là muốn làm chuyện lợi ích, nhưng thật ra chỉ là làm chuyện sướng tai khoái mắt người đời, chẳng làm v́ linh hồn của vong linh. Ông đă quy y Phật pháp, hăy nên dốc cạn ḷng thành niệm Phật, hồi hướng cho cha mẹ và dạy quyến thuộc trong cả nhà đều nén đau thương niệm Phật th́ đối với cha mẹ, đối với chính ḿnh đều có lợi ích lớn.

Hiện thời, vận đời nguy ngập, nếu có thể chí thành niệm Phật, chắc chắn sẽ gặp dữ hóa lành. Nếu không, họa hại trong hiện thời khác hẳn khi trước, đúng là [muốn] tránh né nhưng không thể nào tránh né được, [muốn] ngăn ngừa nhưng không thể nào pḥng ngừa được, cuộc sống người dân lúc này đáng thương đến cùng cực. Hăy nên nói cặn kẽ với quyến thuộc th́ người c̣n lẫn kẻ mất đều hưởng lợi ích. Chùa miếu ở Quảng Châu đều bị hủy bỏ, mà cũng chẳng có Tăng chúng rất chân thật tu hành; gần đây càng thêm điêu linh th́ chẳng có cách nào t́m được chân tăng! Chỉ có chính ḿnh đem ḷng chí thành niệm Phật, so với việc thỉnh tăng sĩ ăn thịt uống rượu đến niệm kinh, bái sám, công đức lớn hơn nhiều lắm! Niệm Phật là chuyện quan trọng nhất trong đời người, không phải là v́ cha mẹ mất rồi mới niệm, c̣n lúc b́nh thường chẳng niệm! Làm đám tang cho cha mẹ [thoạt trông th́ dường như chỉ] v́ cha mẹ, nhưng thật ra, chính do cái chết của cha mẹ đă dẫn khởi các ông cùng chứng đại sự “muôn kiếp chẳng chết” vậy. Phải biết cảm ơn, hăy sốt sắng niệm Phật để báo ân.

 

57. Thư trả lời cư sĩ Trương Vân Lôi

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Trong lúc cơi đời loạn lạc này, mọi việc nên đơn giản là hay nhất. Nếu bày thêm chuyện phụ thuộc thừa thăi “có cũng được mà không cũng chẳng sao” th́ sẽ gây phiền phức lớn lắm. Quán Âm Linh Thiêm[5] rất hay, nhưng nên cầu nơi chính ḿnh. Nếu chân thành, thiết tha, không dối trá sẽ tự được Bồ Tát gia bị. Nếu cái tâm cầu nơi chính ḿnh không chân thành, Bồ Tát cũng khó gia bị được. Sách Lịch Sử Thống Kỷ tôi đă bảo thầy Minh Đạo chiếu theo [thư yêu cầu] gởi đi, lại c̣n bảo gởi hai bộ Phổ Đà Chí, tổng cộng là bốn bộ. Một bộ ông tự giữ, một bộ đưa cho Hồ Phụng Trần, hai bộ kia tùy theo cơ duyên mà tặng.

Sanh con không khó, dạy con rất khó. Rất nhiều kẻ chẳng hiểu việc, không có con bèn cầu Bồ Tát, đến khi có con chỉ biết quư báu; do đấy nuôi thành hạng hư hỏng nhiều lắm. Ví như trồng lúa, chỉ biết t́m hạt giống tốt và ươm cho lên mạ rồi thôi, tất cả những chuyện trừ cỏ dại, bón, tưới v.v… đều nhất loạt chẳng ngó ngàng tới. Giống lúa ấy tuy tốt, c̣n mong chi thâu hoạch được chăng? Như Quang hiểu biết, đến chín mươi chín phần trăm những kẻ không con và đông con đều là loại kết quả này. Chỉ có ḿnh cha của Diêm Đan Sơ (Kính Minh) là người thương yêu con bậc nhất từ xưa đến nay. Cho nên nhờ các vị hương thân trưởng thượng [kềm cặp] khiến cho con ông được bổ vào Hàn Lâm, rồi làm quan to. Ông dạy con nghiêm ngặt cũng là thiên hạ xưa nay chưa hề có. Một mặt vun bồi đức hạnh, một mặt tận lực dạy dỗ. Nguyên do là v́ yêu thương con thật sự. Ḷng thương yêu của những kẻ khác thường là c̣n tệ hơn giết con, bởi giết con th́ chỉ có một người chết. Đứa con không dạy dỗ sẽ chẳng nghiệp ǵ không làm, vĩnh viễn đọa trong tam đồ ác đạo. So với nỗi thảm khốc của một lần chết nào phải chỉ khác biệt như trời với vực! Sợ ông chẳng tránh khỏi [như vậy] nên tôi phải nói toạc ra trước để đề pḥng!

 

58. Thư trả lời cư sĩ Từ Thư Dung

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Nhận được thư ông, biết đạo tâm chưa lui sụt, chí hướng vẫn cao, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Hăy nên biết: Học thánh, học Phật đều lấy “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” làm gốc. Lại c̣n phải giữ phận khiêm nhường, ẩn giấu tài năng, noi theo cổ nhân, tận tụy dơi theo đường lối thực tiễn. Làm được như vậy th́ học vấn lẫn phẩm hạnh đều vượt trỗi những kẻ tầm thường. Thông thường những kẻ thông minh đều kiêu căng, khoe khoang, phô tài, chua ngoa, khắc bạc, tâm hoàn toàn thiếu sự hàm dưỡng. Kẻ ấy nếu không suốt đời trắc trở, ắt sẽ chết yểu lúc trẻ! Ông đời trước nhiều may mắn, vun bồi được thiện căn này, hăy nên dốc hết sức vun bồi ngơ hầu có thành tựu.

Kẻ thông minh dễ phạm nhất chỉ có sắc dục, nên thường giữ tâm kiêng sợ, đừng để nẩy sanh chút tà vọng nào. Nếu như ngẫu nhiên khởi lên ư niệm ấy, liền tưởng: Mỗi một cử động của chúng ta, thiên địa, quỷ thần, chư Phật, Bồ Tát không vị nào chẳng biết hết, thấy hết! Trước mặt người khác c̣n chẳng dám làm quấy, huống ǵ là đối trước chỗ Phật, trời nghiêm túc cẩn mật, lại dám ôm giữ ư niệm tà vạy tệ hại và làm chuyện tà vạy tệ hại ư? Mạnh Tử nói: “Sự thục vi đại? Sự thân vi đại. Thủ thục vi đại? Thủ thân vi đại” (Thờ ai là chuyện lớn? Thờ cha mẹ là chuyện lớn. Giữ ǵ là chuyện lớn? Giữ cái thân là chuyện lớn). Nếu không giữ được cái thân, dù có phụng dưỡng cha mẹ cũng chỉ là h́nh thức bề ngoài mà thôi, chứ thật ra là coi rẻ di thể nhận từ cha mẹ, đấy chính là bất hiếu lớn lắm! Do vậy, Tăng Tử lúc sắp mất, mới nói: “Phóng tâm vô lự” (tâm thảnh thơi không lo lắng). Kinh Thi chép: “Chiến chiến cạnh cạnh, như lâm thâm uyên, như lư bạc băng, nhi kim, nhi hậu, ngô tri miễn phù” (Dè dặt, đề pḥng, như vào vực sâu, đi trên băng mỏng, hiện thời, mai sau, ta biết tránh khỏi). Chưa đến lúc ấy vẫn phải giữ ḷng dè dặt, Tăng Tử c̣n như vậy, huống ǵ là lũ phàm tục, tầm thường chúng ta ư?

Nay gởi cho ông một bộ Lịch Sử Thống Kỷ, hai cuốn Thọ Khang Bảo Giám, ba cuốn Gia Ngôn Lục. Thống Kỷ th́ ông tự giữ để biết [cơi đời] b́nh trị hay loạn lạc, biết gương nhân quả. Thường xem Thọ Khang Bảo Giám th́ chẳng đến nỗi phạm tà dâm và thủ dâm v.v... tự hại cuộc đời, tự hao phước thọ, chẳng bị tàn phế và chết chóc. Hăy nên tặng một cuốn sách này cho ông Lư Hồng Nghiệp, c̣n Gia Ngôn Lục th́ ông với ông Cổ, ông Lư, mỗi người một cuốn. Y theo đó tu tŕ th́ pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian đều biết được cương lănh trọng yếu.

Cổ Vệ Sanh, Lư Hồng Nghiệp đă muốn quy y th́ nay đặt pháp danh cho Vệ Sanh là Huệ Sanh, nghĩa là dùng trí huệ cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn chứng đạo bất sanh bất diệt để tự bảo vệ ḿnh, bảo vệ người, cùng được bất tử. Đặt pháp danh cho Hồng Nghiệp là Huệ Nghiệp, nghĩa là dùng trí huệ để đoạn trừ ác nghiệp thế gian, tu tŕ Tịnh nghiệp văng sanh Tây Phương. Sự nghiệp như thế mới là “hồng nghiệp” (sự nghiệp vĩ đại). Tu thân lập nghiệp cho đến thành thánh, thành hiền trong thế gian nếu đem so với sự nghiệp văng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử th́ nhỏ bé vô cùng! Xin hăy đem đoạn thư này chép lại cho hai người ấy đọc, hoặc đem cả lá thư chép lại cho họ xem. Dẫu họ đă đến tuổi hoa giáp (sáu mươi) cũng được lợi ích, huống chi họ là hàng hậu sinh vừa mới qua tuổi đôi mươi!

 

59. Thư trả lời cư sĩ Kim Thiện Sanh

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Trong đời trước, con người nghiệp nào chẳng tạo? May mắn được nghe Phật pháp, hăy nên sốt sắng tu tŕ để mong tiêu trừ túc nghiệp, siêu độ oan gia. Tất cả oan gia tuy khó cởi gỡ nhưng nếu chịu phát tâm Bồ Đề và thành tâm siêu độ sẽ không có [mối oán kết nào] chẳng cởi gỡ được! Ông niệm Phật bị nghẹn hơi chẳng phải v́ thân thể yếu đuối mà là do nghiệp chướng tạo ra, ông chỉ nên khẩn thiết, chí thành niệm. Nếu niệm không được th́ tâm hăy thường tưởng nhớ. Nếu niệm được th́ vẫn cần phải dùng miệng để niệm, không thể niệm được th́ chỉ tâm chuyển, tâm nhớ, lâu ngày nghiệp ấy sẽ tiêu. Từ rày, phàm khởi tâm làm việc đều phải hướng theo phương diện ăn ở cho có t́nh nghĩa nồng hậu mà làm. Ăn ở trọn vẹn t́nh nghĩa th́ thêm phước, ăn ở bạc bẽo th́ chẳng đạt được phước ǵ! Nếu lại c̣n khắc nghiệt, hiểm độc, gian xảo th́ giống như đảnh núi chót vót, mưa đẫm cách nào cũng không nhận được, bất cứ cây cỏ ǵ cũng không mọc được!

 

60. Thư trả lời cư sĩ Cát Chí Lượng

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Hôm trước nhận được thư, khôn ngăn mừng - thẹn đến cùng cực. Vui là v́ dường như cư sĩ đă có cơ chuyển biến, chẳng c̣n cậy ḿnh thông minh như trước, nói bừa đạo lư, tôn sùng khoa học, miệt thị Phật pháp. Thẹn là v́ tôi là một ông Tăng vô tri vô thức, tầm thường chỉ biết cơm cháo, nếu ai học theo tôi đều thành thân phận ngu phu ngu phụ. Muốn làm bậc đại thông gia, hăy nên bái một vị đại pháp sư dựng cao tràng pháp để khỏi uổng cái tâm quy y. Nếu thờ Quang làm thầy, sau này do Quang vô tri vô thức sẽ hối hận, bỏ đi, hóa ra là một phen làm chuyện vô ích! Nhưng Quang là kẻ thẳng tánh, ăn nói thẳng tuột, ông đă lầm lẫn gởi thư cho Quang, cố nhiên Quang không dám chấp nhận, nhưng cũng chẳng ngại trao đổi mấy câu để giúp cho việc lập thân hành đạo, liễu sanh thoát tử mai sau. Như kẻ không chân chỉ đường, dẫu chẳng thể đi được một bước, nhưng chẳng ngại ǵ hỏi tới để nhờ đấy mà về được nhà.

Những ǵ ông nói đều toàn là cậy vào ư kiến của chính ḿnh, chẳng lấy thật lư, thật sự làm chuẩn. Nay ông đă biết sai, ắt phải cực lực đối trị tập khí ấy. Không trừ được tập khí ấy th́ mỗi một cử động đều có thể tổn phước, chuốc họa. Câu nghi vấn đầu tiên của ông chính là lời hủy báng, chứ tuyệt đối chẳng phải là nghi vấn! [Dùng chữ] “nghi vấn” chính là chơi chữ để che đậy. So với chuyện nói thẳng thừng là không tin, lỗi lầm ấy c̣n lớn hơn nữa. Nếu vẫn cứ giữ thói ấy, chẳng biết sửa đổi ắt sẽ có ngày bị ma dựa phát cuồng! Thuốc hay đắng miệng, không biết cư sĩ có chịu uống hay không?

 

61. Thư trả lời cư sĩ Vương Tâm Thiền

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Mẹ ông đă có thể niệm Phật th́ hăy nên bảo các cô con dâu cùng bầu bạn niệm Phật với mẹ. Lại nên khuyên cụ ăn chay trường để trợ thành đạo nghiệp cho mẹ, đó là hiếu. Nếu chỉ nghĩ “đừng niệm Phật, sợ nhọc nhằn tâm lực; đừng ăn chay, sợ rằng chẳng hợp phép dinh dưỡng” là hiếu th́ ḷng hiếu ấy giống như La Sát nữ yêu thương con người vậy. Ḷng hiếu ấy phá hoại đạo nghiệp của mẹ, khiến cho cụ vốn có thể liễu sanh thoát tử lại đâm ra ở măi trong sanh tử. Ḷng hiếu ấy chính là ḷng hiếu “đă xô xuống giếng, lại c̣n quăng đá”, khiến cho mẹ ông chẳng được siêu sanh, đọa lạc suốt kiếp. Hiếu th́ có hiếu đấy, nhưng chẳng biết [hiếu như vậy] hóa ra là ngỗ nghịch! Ông đă làm công chức, về mặt h́nh tích chẳng cần phải thể hiện vẻ tu tŕ, nhưng trong tâm địa há chẳng thể thường ức niệm ư? Giống như ông nhớ mẹ, ai cấm ông trong tâm thường nhớ nghĩ mẹ? Ông nêu ra những sự trở ngại ấy, hoàn toàn là luận trên h́nh tích, chứ không phải luận trên tâm địa!

Hiện nay thời cuộc nguy ngập như thế, nếu vẫn chẳng chịu thầm niệm Phật trong tâm, chuyện tương lai rốt cuộc chẳng biết giải quyết ra sao? Ông đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục, những ǵ nói trong ấy chẳng đủ để giải quyết mối nghi [của ông], cứ cần phải có một lá thư vài trăm chữ mới thỏa ḷng mong ngóng, đều là do thường ngày chẳng chịu thể hội, quán sát mà ra. Hăy nên dùng ḷng chân hiếu để khuyên lơn các nàng dâu, và thường xuyên tự hành mật niệm (niệm thầm) th́ lợi ích lớn lắm!

 

62. Thư trả lời cư sĩ Ngô Huệ Di và La Huệ Chú    

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Pháp môn Tịnh Độ chú trọng nơi Tín - Nguyện, có kẻ chẳng biết cho nên hoặc cầu phước báo nhân thiên, hoặc cầu đời sau làm Tăng để hoằng dương Phật pháp, độ thoát chúng sanh. Những loại tâm niệm ấy đều phải trừ khử sạch sẽ; nếu có mảy may sẽ chẳng thể văng sanh! Văng sanh là siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Không văng sanh th́ tuy một đời, hai đời chẳng mê, chắc chắn khó ḷng vĩnh viễn chẳng mê. Hễ mê th́ do có phước tu tŕ, bèn tạo nghiệp đáng sợ lắm! Ác nghiệp đă tạo, ác báo tự xảy đến, cầu thoát tam đồ chỉ sợ chẳng có ngày đâu!

Lại nữa, người niệm Phật phải nên khuyên quyến thuộc trong nhà cùng sanh tín tâm, cùng thường niệm Phật để chuẩn bị cho cha mẹ và các quyến thuộc trong nhà người ấy hễ có ai mạng chung liền trợ niệm cho. Nếu không, chẳng những không thể giúp cho [người sắp chết giữ được] chánh niệm, mà trái lại c̣n làm cho [người ấy] sanh khởi những tâm sân hận, ái luyến v.v… (tắm rửa sẵn, thay áo làm mất chánh niệm. Nếu dời động khiến cho [người sắp mất] bị đau đớn bèn sanh sân hận. Sân hận th́ có thể đọa vào loài độc trùng. Nếu đối trước [người sắp mất] khóc lóc, người ấy liền sanh ái luyến. [Những chuyện này] đều làm mất chánh niệm, vĩnh viễn không mong chi được văng sanh, buồn thay!) Người không niệm Phật c̣n chẳng đến nỗi bị tổn hại lớn, chứ người niệm Phật hễ bị phá hoại, chánh niệm mất sạch, muốn được văng sanh trọn không thể được! Từ đấy luân hồi trong lục đạo suốt kiếp dài lâu, đều là do bị bọn quyến thuộc ấy gây nên.

Nếu bọn họ chẳng phát tâm th́ nên đem chuyện thời cuộc nguy hiểm, hễ chí thành niệm Phật chắc chắc gặp dữ hóa lành ra khuyên lơn. Nếu là nữ nhân mà chịu niệm Phật th́ chắc chắn không bị đau khổ trong khi sanh nở. Nếu nữ nhân lúc b́nh thường chẳng biết niệm Phật, khi sanh nở hết sức đau khổ mà chịu chí thành niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, chắc chắn lập tức an nhiên sanh nở. Điều này linh cảm tột bậc, hăy nên nói với hết thảy bạn bè và những người quen biết, khiến cho họ ai nấy đều được sanh con tốt lành, lại c̣n làm cho cả mẹ lẫn con đều được yên vui, cùng gieo thiện căn. Có kẻ ít hiểu biết cho rằng lúc sanh nở lơa lồ bất tịnh, hễ niệm sẽ bị tội, chẳng biết đây là chuyện liên quan đến tánh mạng, chớ nên đem nghi thức lúc b́nh thường vô sự mà bàn. Ví như con cái té trong lửa, nước, vừa gọi cha mẹ, cha mẹ liền đến cứu giúp ngay, chắc chắn chẳng v́ [con cái] mũ áo không tề chỉnh, thân thể chẳng sạch sẽ mà không cứu! Nếu do vậy mà chẳng cứu th́ cũng chẳng đáng gọi là Phật, Bồ Tát! Nếu là lúc b́nh thường, cố nhiên nên cạn ḷng thành, tận ḷng kính, chẳng được lấy chuyện trong khi sanh nở làm lệ.

Con người chẳng có ai không yêu thương con cái, nếu dạy con cái niệm Phật, niệm Quán Âm từ nhỏ, sẽ tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn mà chẳng hay chẳng biết. Huống chi kẻ tự ḿnh thường niệm Phật, lúc lâm chung ắt càng chẳng nên khuấy rối, càng phải dùng niệm Phật để giúp đỡ ngơ hầu [người ấy] quyết định văng sanh Tây Phương. Trong hiện thời, niệm Phật, niệm Quán Âm, gặp dữ hóa lành là điều chắc chắn. Quang già rồi, tinh thần chẳng đủ, chỉ nên đọc kỹ Văn Sao, y theo đó tu hành sẽ liền được lợi ích, đừng nên thường xuyên gởi thư để khỏi tự phiền, phiền người!

 

63. Thư trả lời cư sĩ Thang Huệ Chấn

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Người đang độ thiếu niên nếu chẳng gặp được thầy lành bạn tốt, ngày ngày qua lại với lũ bạn nhậu nhẹt, tà vạy sẽ nguy hiểm muôn phần. Nặng th́ không bao lâu sẽ chết, nhẹ th́ cũng thành yếu ớt, hoặc thành tàn phế. Xét đến nguyên do, đều là do chúng cứ nghĩ t́m hoa hỏi liễu là vui, chẳng biết là chuyện thảm khốc, hoặc giống như giết người, hoặc giống như giết hại con cháu đời đời. Những kẻ ham ăn chơi thường mắc bệnh phong t́nh, con cái sanh ra lúc nhỏ c̣n chưa thấy ǵ, đến khi mười hai, mười ba tuổi, tới lúc dậy th́ sẽ thấy rơ. Con lại truyền cho con, cháu truyền cho cháu, chẳng đáng buồn ư? Chẳng đáng đau đớn ư? Cha ông là Châu Tử Quyền bán thân bất toại sợ rằng cũng là do tham sắc mà ra. Chớ nên tham tà sắc, dẫu vợ chồng sống với nhau cũng chớ nên tham đắm. Hễ tham th́ sẽ bị một bề mất mạng hay sanh bệnh!

Người ấy đă phát tâm muốn quy y, hăy nên chí thành niệm thánh hiệu “nam-mô A Di Đà Phật” và “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, hết thảy tạp niệm trong tâm nhất loạt chẳng cho khởi lên, sửa lỗi hướng thiện, và kiêng giết, ăn chay. Cần phải vĩnh viễn dứt bỏ chuyện ăn nằm; nếu chưa phải là khi bệnh t́nh đă b́nh phục hơn một năm, muôn vàn chẳng được gần gũi phụ nữ! Nếu không, muôn phần khó lành bệnh được! Lại nên dạy vợ con ông ta cũng nên niệm Phật và niệm Quán Âm cho ông ta. Nếu thật sự chí thành sẽ mau được lành bệnh. Nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Thoát, nghĩa là dùng trí huệ để thoát trừ những tập khí xấu trước kia, lại do niệm Phật cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ sanh tử luân hồi, thường hưởng sự vui chân thường vô lậu, th́ do cơn bệnh ngặt này mà được lợi ích lớn lao, vợ con người ấy cũng nhờ đây mà cùng được thoát khổ hưởng vui, may mắn lắm thay!

Ông ta đă không thể cử động được th́ suốt ngày dùng tâm chí thành niệm Phật, hoặc niệm lớn tiếng, hoặc niệm nhỏ tiếng, hoặc niệm thầm trong tâm đều được. Niệm ra tiếng th́ có thể niệm sáu chữ, chứ niệm thầm trong tâm th́ nhiều chữ quá sẽ khó niệm, nên niệm bốn chữ. Bất luận niệm lớn tiếng hay nhỏ tiếng, đều phải trong tâm niệm cho rơ ràng rành rẽ, miệng niệm cho rơ ràng rành rẽ, tai nghe cho rơ ràng rành rẽ. Tuy chẳng thể lễ bái, trong tâm thường phải giữ ḷng cung kính như đối trước Phật, như té vào lửa - nước cầu xin cứu giúp, trọn chẳng dám khởi một tâm niệm không chánh đáng. Từ sáng đến tối, ngủ th́ để mặc đó, thức dậy lại niệm tiếp. Lấy niệm Phật làm bổn mạng nguyên thần của chính ḿnh th́ sẽ có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn, có thể hy vọng lành bệnh yên thân. Lành bệnh rồi vẫn chẳng được buông bỏ, [cứ tiếp tục niệm Phật] ngơ hầu siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, văng sanh Tây Phương.

Hiện thời là t́nh thế hoạn nạn, nếu chịu chí thành niệm Phật liền có thể gặp dữ hóa lành. Hàng nữ nhân trong nhà nếu chịu niệm Phật chắc chắn chẳng mắc họa sanh khó. Dẫu là người lúc b́nh thường chẳng niệm Phật, đến khi sanh nở, sanh không được, chịu chí thành niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” chắc chắn sẽ tức khắc an nhiên sanh nở. Chớ nên nói “lơa lồ bất tịnh, niệm sẽ mắc tội!” Trong lúc b́nh thường th́ cần phải cung kính, sạch sẽ. Nếu mũ áo không tề chỉnh, thân thể chẳng sạch sẽ, hoặc đang tắm rửa, tiêu tiểu, và khi ngủ nghỉ, đều nên niệm thầm trong tâm, chớ nên niệm ra tiếng. Chỉ khi sanh nở, nên niệm ra tiếng, đừng nên niệm thầm. Những người săn sóc chung quanh cũng niệm giúp cho người ấy th́ đôi bên đều có công đức lợi ích. Nên đưa thư này cho ông ta xem và làm cho hết thảy mọi người đều biết th́ mới có lợi ích cho ông ta được!

 

64. Thư trả lời sư Hựu Chân và cư sĩ Giác Tam

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Người niệm Phật hăy nên cung kính, chí thành, từng câu từng chữ trong tâm niệm cho rơ ràng, rành mạch, miệng niệm cho rơ ràng rành mạch. Nếu làm được như thế, dẫu chẳng thể hoàn toàn không có vọng niệm, nhưng cũng chẳng đến nỗi quá đáng. Có lắm kẻ chỉ mong lẹ, mong nhiều, thuận miệng niệm ào ào, cho nên không có hiệu quả! Nếu có thể nhiếp tâm th́ mới gọi là người niệm Phật thật sự. Đại Thế Chí Bồ Tát đă ví dụ “như con nhớ mẹ”, trong tâm con chỉ nghĩ đến mẹ, những cảnh khác đều chẳng phải là chuyện trong tâm chính ḿnh. V́ thế có thể cảm ứng đạo giao. Lại nói: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc Tam Ma Địa[6], tư vi đệ nhất” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma Địa (tức tam-muội), ấy là bậc nhất). Nói “khiến cho tâm, miệng, tai đều được rơ ràng” chính là pháp tắc nhiếp trọn sáu căn vậy (Tâm là Ư Căn, miệng là Thiệt Căn). Tâm và miệng niệm hợp cùng tai nghe th́ mắt, mũi quyết định chẳng đến nỗi rong ruổi theo bên ngoài, thân cũng chẳng đến nỗi láo xược, phóng túng. Người đời nay niệm Phật phần nhiều đều chẳng chịu nỗ lực nên không có hiệu quả ǵ.

Lại nữa, khi không niệm Phật, vọng tưởng tuy nhiều nhưng không cách nào biết được, chứ không phải là lúc không niệm th́ không có vọng tưởng! Ví như đối với hư không trong nhà, dẫu mắt cực tốt cũng không thể thấy được bụi bặm. Nếu từ khe cửa sổ soi vào một tia nắng, sẽ thấy bụi bặm trong tia nắng chao lên đảo xuống không khi nào ngừng, khi ánh sáng chưa chiếu đến nơi, vẫn chẳng thấy có bụi bặm! V́ thế, biết rằng: Khi niệm Phật mà nhận biết có vọng tưởng th́ đấy vẫn là cái hay của việc niệm Phật. Lúc không niệm Phật, hoàn toàn bị vùi lấp trong vọng tưởng cho nên không biết!

Lại nữa, pháp Niệm Phật khẩn yếu nhất là có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha. Hễ có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt đến nhất tâm bất loạn vẫn có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh. Nếu không có tín - nguyện, dẫu tâm không có vọng niệm th́ vẫn chỉ là phước báo nhân thiên v́ chẳng tương ứng với Phật. Do vậy, đương nhiên phải chú trọng nơi tín - nguyện cầu sanh Tây Phương. Thật sự có tín - nguyện, vọng sẽ tự hết. Nếu lúc b́nh thường có vọng tưởng quá mức, muốn đắc thần thông, được danh dự, được duyên pháp, đắc đạo v.v… hoàn toàn lấy vọng tưởng làm bản tâm của chính ḿnh như vậy th́ càng tinh tấn, dũng mănh, những thứ vọng tưởng ấy càng nhiều càng lớn! Nếu chẳng giác chiếu để dứt trừ vĩnh viễn những vọng tưởng ấy th́ sau này vẫn bị ma dựa phát cuồng, há nào phải chỉ có vọng tưởng mà thôi ư? V́ thế, phải miệt mài đoạn dứt những thứ vọng tưởng quá mức ấy.

Thực hiện công khóa th́ nên y theo chương tŕnh của công khóa. Khi [đi kinh hành] niệm Phật xong trở về chỗ, niệm thêm [danh hiệu] hai vị Phật Thích Ca, Dược Sư cũng không ngại ǵ. Luận theo mặt lư th́ lễ Phật trước khi chưa niệm chính là lễ Phật Thích Ca. Người đời phần nhiều xử sự theo t́nh cảm, không ai chẳng cầu tiêu tai, tăng tuổi thọ; v́ thế, niệm thêm Phật Dược Sư. Thật ra, oai thần công đức của A Di Đà Phật bằng với oai thần công đức của mười phương ba đời hết thảy chư Phật, chứ không phải là niệm A Di Đà Phật chẳng thể tiêu tai, tăng tuổi thọ!

 

65. Thư trả lời cư sĩ Trần Kỳ Xương

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Xem bài văn phát nguyện đă tu chỉnh, có thể nói là “đại nguyện”. Đối trước Phật phát nguyện hăy nên bày tỏ giản lược. Bài văn [phát nguyện] do các hạ đă soạn chính là lời phát biểu trước người khác và lời đề xướng, hướng dẫn, sao có thể gọi là bài văn sánh bằng bài văn [phát nguyện] của ngài Liên Tŕ, nào có hữu ích chi đâu? Hiện thời rơ ràng là một ông Tăng phàm phu đối trước Phật phát nguyện mà vẫn dùng hai chữ “thượng - hạ”[7] th́ thật là thất lễ quá sức! Công khóa [do các hạ] đă lập ra nếu tuyệt đối không có chuyện ǵ th́ c̣n có thể thực hiện được, chứ nếu có cha, mẹ, vợ, con, lại c̣n phải chữa trị khắp các chứng bệnh, không ai mời mà từ chối được; chỉ nội một chuyện này đă khó thể ứng phó được, huống ǵ là công khóa sớm, trưa, chiều ư? Các hạ và Quang hoàn toàn khác đường, Quang một bề giản lược, các hạ một mực phô trương, xin đừng lui tới tốt hơn!

Sách Long Thư [Tịnh Độ] Văn dạy niệm ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, chuyện này nên luận trên phương diện dụng công, chớ nên luận theo phương diện nhiều hay ít! [Nếu đem so sánh] một câu này (tức câu niệm “ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”) với chuyện chỉ niệm sáu chữ Phật hiệu th́ tuy mỗi ngày niệm được mười vạn câu, niệm suốt trăm năm, vẫn chẳng bằng được số lượng [đức Phật trong] một câu này. [Tức là số lượng đức Phật được niệm bởi] kẻ niệm sáu chữ niệm suốt một đời chẳng bằng [số lượng đức Phật được] niệm [bởi] một câu này. Nhưng kẻ niệm một câu này dẫu có tín nguyện vẫn chưa chắc có thể được văng sanh[8], c̣n kẻ niệm [sáu chữ] suốt đời nhưng có tín nguyện th́ chắc chắn có thể văng sanh! Nên y theo quy định do chư Tổ đă thành lập mà niệm sáu chữ danh hiệu, đừng tính toán nhiều hay ít! Phải biết: A Di Đà Phật là Pháp Giới Tạng Thân, tức là một danh hiệu [A Di Đà Phật] này gồm trọn danh hiệu của mười phương tam thế hết thảy chư Phật, nào phải chỉ có ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm mà thôi ư? Ai nấy đều có tâm, có hạnh, có chí [khác biệt]. Đă hỏi đến bèn chẳng ngại ǵ nói thẳng. Đă khác đường lối, ắt chẳng nên gặp gỡ. Quang là kẻ vô tri vô thức, nào đáng gọi là bậc tông tượng[9] của Tịnh Độ! Há chẳng khiến cho người ta hổ thẹn không chốn dung thân ư?

 

66. Thư gởi cư sĩ Nguyễn Ḥa Khanh

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Trước kia, ông Trần Dự Đường gởi thư đến cho biết có sáu người thiện nữ xin quy y, nhờ gởi thư về cho các hạ để chia ra giao [cho những người ấy]. Lại nói: bà Thích nhà họ Nguyễn quy y lần trước, pháp danh Đức Chánh chính là phu nhân của các hạ. Biết cư sĩ học Phật nhiều năm, người nhà đều được cảm hóa, thật đáng bội phục. Chẳng biết cư sĩ có tin tưởng chắc chắn nơi pháp Tịnh Độ hoành siêu hay chăng? Nay đă có nhân duyên này, chẳng ngại bày tỏ đại lược nỗi ḷng. Suốt một đời đức Như Lai đă nói ra vô lượng vô biên pháp môn, t́m lấy pháp trực tiếp, nhanh chóng nhất th́ không ǵ hơn được tham Thiền. Nếu là bậc thượng căn, nghe một ngộ được cả ngàn, đắc Đại Tổng Tŕ[10], nhưng đấy vẫn c̣n là ngộ chứ chưa phải là chứng! Người có thể thật sự đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh th́ trong đời Mạt quả thật chẳng thấy được mấy ai! Những kẻ khác phần nhiều đều là nhận lầm tin tức. Cái được gọi là Ngộ đó, phần nhiều đều là “thác ngộ” (lầm lẫn), ít có kẻ ngộ thật sự! Dẫu thật sự ngộ th́ vẫn c̣n cách xa chuyện liễu sanh tử nhiều lắm! V́ tuy được khai ngộ, vẫn cần phải dùng đủ mọi phương tiện để đối trị phiền năo tập khí từ bao kiếp đến nay khiến cho hết sạch không c̣n sót th́ mới có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Nếu phiền năo đă đoạn được chừng bao nhiêu đó, nhưng vẫn c̣n mảy may chưa đoạn hết th́ vẫn cứ sanh tử y như cũ, không thoát ra được!

Nếu chỉ nghĩ “hiểu được tự tâm chính là đạo”, ngoài ra không tu tŕ ǵ cả th́ sự hiểu lầm ấy chẳng nhỏ đâu! Nếu hiểu biết, [nhưng không thấy] có phiền năo nào để được cả, th́ có thể gọi là “đắc đạo”, người như vậy đă có thể chém đứt căn bản sanh tử cho nên có thể liễu sanh thoát tử. Nếu tuy hiểu biết, nhưng phiền năo chưa đoạn th́ làm sao có thể liễu sanh thoát tử cho được? So với kẻ chẳng nhận biết, tuy người ấy cao trỗi hơn nhiều lắm, nhưng sanh tử chẳng liễu th́ lại phải thọ sanh, hoặc đâm ra mê muội, đáng sợ vô cùng! Đó là nói về người thật sự khai ngộ đấy nhé, c̣n những kẻ tưởng lầm là ngộ, càng khỏi cần phải nói đến nữa! Ấy là v́ pháp Tham Thiền chính là pháp môn cậy vào Tự Lực, cho nên đem so với pháp môn Niệm Phật về mặt lợi ích th́ thật chẳng khác nào một trời, một vực!

Pháp môn Niệm Phật chính là pháp môn đặc biệt trong những pháp môn [đă được giảng] trong suốt một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, gồm thâu lợi - độn. Bậc Thượng Thượng Căn như các vị đại Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền chẳng thể vượt ra ngoài pháp này, kẻ Hạ Hạ Căn như phường đại tội nhân Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng có thể dự vào trong ấy. Chỉ cần có đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha th́ đều có thể cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp văng sanh. Nếu đă đắc tam-muội và đă đoạn dứt phiền năo, hễ được văng sanh sẽ liền dự vào địa vị đại Bồ Tát. Hết thảy pháp môn đều lưu xuất từ pháp môn này, hết thảy pháp môn đều quy hoàn pháp môn này (gọi là “văng sanh Tây Phương để mong viên măn Phật quả”). Dường như nông cạn nhưng sâu chẳng thể lường, tợ hồ nhỏ nhoi nhưng lớn lao không ǵ chẳng bao trùm. Mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh không vị nào chẳng cậy vào đạo thành thủy thành chung này.

 Sợ cư sĩ chưa gặp được người thật sự biết Tịnh Độ, chắc sẽ coi pháp này là thiển cận, bèn chuyên dốc sức nơi pháp Thiền minh tâm kiến tánh, cho rằng “hiểu biết được tự tâm là đă giải quyết xong rồi”. Bởi thế, khôn ngăn dông dài một phen. Nếu lời Quang chẳng đáng tin, xin hăy đọc kỹ Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và bộ Văn Sao của Quang sẽ chẳng nghĩ Quang sai lầm, bịa đặt. Nếu thật sự biết sự hơn - kém giữa Phật lực và tự lực, chắc chắn chẳng đến nỗi vẫn c̣n chấp vào chuyện chỉ suy xét tự tâm, cho rằng “hiểu được [cái tâm] chính là đạo, chẳng cần phải niệm Phật cầu sanh Tây Phương”. Cổ nhân như sư Viên Quán[11] biết được quá khứ - vị lai vẫn chẳng thể liễu thoát. Sở ngộ về Thiền của Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh, người đời nay há có bén gót được chăng, nhưng họ vẫn phải thọ sanh trở lại! Do vậy, biết: Phàm phu quyết định phải tu pháp môn đặc biệt do đức Phật khai thị th́ bất luận căn tánh như thế nào đều có thể liễu sanh thoát tử do cậy vào Phật lực vậy. Nếu cậy vào Tự Lực, sợ rằng có mộng cũng mộng không được! Chẳng biết cư sĩ có chịu tin lời này hay chăng?

 

67. Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Nhận được thư ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang[12] là Hà Sanh đă niệm Phật văng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng văng sanh là đă siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. Nên luận theo Thật Tế, đừng chấp vào tướng thế gian rồi sanh bi cảm. Nay những kẻ mù quáng, khuấy rối đều do cha mẹ họ mong mỏi họ sẽ hưng gia lập nghiệp, vẻ vang tổ tông, nhưng chẳng biết cách nuôi dạy, nên đều trở thành những kẻ ác tự hại, hại người, hại đời. Do vậy, con người phải mở rộng tầm mắt để nh́n th́ trong tâm sẽ thản nhiên, không lo lắng.

Chùa Báo Quốc có tất cả bốn mươi hai vị Tăng, ai nấy đều có chức trách, chẳng thể làm Phật sự. [Với số tiền] một trăm đồng ông đă gởi, tôi bảo chùa Linh Nham lập một bài vị trong Niệm Phật Đường. Chùa Linh Nham niệm Phật có thể coi là bậc nhất trong vùng Giang - Chiết, công khóa mỗi ngày chẳng khác ǵ khi đả Phật thất! Khi đả thất chỉ thêm ba lượt hồi hướng sáng, trưa, tối. Chùa này thuộc địa phương của Ḥa Thượng Chân Đạt chùa Thái B́nh, gần đây đă đổi thành [đạo tràng] thập phương, chuyên môn niệm Phật. Phàm những chuyện như niệm kinh, bái sám, Phóng Diệm Khẩu, làm đàn Thủy Lục, giảng kinh, truyền giới, thâu nhận đồ đệ, truyền pháp v.v… đều chẳng làm. Quanh năm niệm Phật, những tháng mùa Hạ nếu thuận tiện sẽ giảng pháp môn Tịnh Độ, chẳng chèo kéo người ngoài đến nghe.

Nhận được thư ông th́ trong ngày hôm sau tôi đă bảo Hoằng Hóa Xă đem những sách đă in trong một hai năm qua gởi đi mỗi loại một cuốn, chắc là ông đă nhận được rồi. Lại thêm do người ta thường nhân dịp nghỉ Tết đến thăm nhiều lắm, hiện thời không rảnh rang, đợi đến tháng Giêng năm sau sẽ v́ Hà Sanh niệm Phật suốt ba ngày hầu thỏa tâm nguyện của ông. Mười đồng ông đă gởi sẽ dùng vào chi phí in sách.

 

68. Thư trả lời cư sĩ Lư Đức Minh (hai lá thư)

(năm Dân Quốc 24 - 1935, ông này vốn có tên là Bỉnh Nam[13])

 

      1) Ngạn ngữ có câu: “Thiên hạ bổn thái b́nh, duy nhân tự nhiễu chi” (thiên hạ vốn thái b́nh, chỉ có con người tự khuấy rối). Người trí dùng trí để khuấy, kẻ ngu dùng dục để quậy. Mối họa do ḷng dục khuấy nhiễu tuy khốc liệt, nhưng người ta c̣n biết được. Sự khuấy nhiễu của trí nếu chẳng phải là bậc tri kiến vượt trội sẽ chẳng thể biết được! Đă chẳng biết là khuấy nhiễu, lại ngược ngạo coi đó là đức. Đấy chính là cội nguồn gây nên đại loạn cho nước ta từ thuở mới có trời đất đến nay! Học thuyết gây lầm lạc cho con người thật đáng sợ sâu xa. Văn Vương ân trạch thấm đến xương khô không biết mấy trăm năm, nhưng phong tục giết người để tuẫn táng[14] phổ biến khắp thiên hạ, Mục Công là vua hiền của nước Tần c̣n giết một trăm bảy mươi bảy người để tuẫn táng. Ba vị họ Tử Xa[15] cũng chẳng v́ là hiền thần của đất nước mà được miễn! C̣n những kẻ chẳng hiền bèn giết chóc nhiều hơn nữa, sao nỡ nói đến!

Từ khi Phật pháp truyền qua phương Đông, nêu thật rành rẽ sự lư nhân quả luân hồi, những kẻ “ngoảnh mặt về phía Nam xưng Trẫm” thuộc những đời sau cũng chẳng dám làm. Dẫu ông vua bạo ác vẫn cứ muốn làm như vậy, quyết chẳng dám coi đó là vẻ vang cũng như cho là giết càng nhiều càng sang! Nếu như cơi đời không có Phật pháp, nhân dân ai được sống trọn hết tuổi thọ ư? Do vậy, tôi nói: “Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”. Ông Châu An Sĩ nói: “Nhân nhân tri nhân quả, đại trị chi đạo dă. Nhân nhân bất tri nhân quả, đại loạn chi đạo dă” (Ai nấy biết nhân quả là đạo để thịnh trị vậy. Ai cũng chẳng biết nhân quả đấy chính là đường lối đại loạn). Họ Tŕnh, họ Châu[16] thiên tư cao trỗi, ăn trộm nghĩa lư từ kinh Phật để giải thích kinh điển Nho giáo, lại sợ người ta học Phật, nên đặc biệt xướng lên dị nghĩa, cho là nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi do đức Phật đă nói đó thật ra đâu có chuyện ấy, chẳng qua Phật mượn những chuyện ấy để lừa dối ngu phu, ngu phụ tuân phụng Phật giáo đấy thôi! Hơn nữa, con người chết đi, thân xác đă hư mất, thần hồn cũng phiêu tán, dù có băm - vằm - xay - giă, c̣n có chỗ nào để làm? Hơn nữa, thần hồn đă phiêu tán, c̣n có người nào để thác sanh nữa đây?

Chuyện ấy là chuyện nông cạn nhất trong đạo Phật, nhưng lại là chuyện quan trọng nhất cho quốc gia xă hội. Họ đă đề xướng nhân quả luân hồi là hư vọng, sai lầm th́ thiện không có ǵ để khuyên, ác không có ǵ để răn, khư khư ôm xuông “chánh tâm thành ư” để làm cái gốc dạy dân, giữ yên đất nước, chẳng biết nếu không có nhân quả luân hồi th́ chánh tâm thành ư và không chánh tâm thành ư có khác biệt chi đâu, bất quá chỉ là hư danh mà thôi! Nếu đă thật sự là không có th́ c̣n ai bận tâm đến cái hư danh ấy? Trong giới Lư Học từ đấy trở đi, không kẻ nào chẳng lén lút xem kinh Phật, nhưng không một ai chẳng bài bác Phật pháp. Do chẳng đề xướng nhân quả nên ngược ngạo coi căn bản để trị quốc, trị dân, trị tâm là bàn xằng, thấy bậy!

Mấy trăm năm qua vẫn c̣n duy tŕ được, vẫn c̣n có lễ giáo trên h́nh thức. Đến khi gió Âu dần dần thổi sang Đông, hoàn toàn ngả rạp theo gió Âu. Do không có căn bản nhân quả luân hồi nên mới thành phóng túng, quái quỷ, xa xỉ, tà vạy, không ǵ chẳng làm. Bản tâm của họ Tŕnh, họ Châu thời ấy chính là [muốn] nhờ chuyện hủy Phật để bảo vệ đạo Nho, nhưng chẳng biết hủy Phật lại trở thành hủy Nho. Như hiện nay, Ngũ Kinh, Tứ Thư đă trở thành sách bị cấm đoán, trường học dù lớn hay nhỏ đều không cho học [những sách ấy]. Đấy là chứng cớ rơ ràng! Nho và Thích vốn cùng nguồn, [bọn Lư Học] cho là tâm tánh khác hẳn với thân h́nh, mưu tính diệt trừ tâm tánh nhưng thân h́nh bị diệt trước! Nếu hai ông ấy có thiêng, sẽ chẳng cho những ǵ chính ḿnh đă nói là đúng, sẽ hối hận c̣n không kịp! Những lời lẽ ấy tợ hồ xa cách nhưng thật ra rất gần gũi, người đọc sách nếu không hiểu rơ ràng chỗ quan yếu này th́ xem kinh Phật cũng sanh ḷng tín ngưỡng, đọc những sách báng Phật bên Lư Học cũng sanh ḷng tín ngưỡng, Lư và Dục đánh lộn trong cùng một tâm, tự lợi và lợi tha bị chướng ngại lớn lao! Do vậy, tôi nói đại lược mối tệ ấy, mong ông hăy suy xét th́ những điều tương tự sẽ đều hiểu hết.

Trang Hậu Trạch tuổi đă sáu mươi lăm, muốn thờ ông Tăng chỉ biết cơm cháo làm thầy, nên đặt pháp danh [cho ông ta] là Đức Phù, nghĩa là: Dùng nhân quả báo ứng, tín nguyện niệm Phật để làm pháp tự giúp ḿnh, giúp người, khiến cho hết thảy những người đồng hàng khi sống làm bậc thánh hiền, mất đi sanh về thế giới Cực Lạc. Ông Phương Trưởng Long, tên tự là Hàn Tuyền, dùng tấm ḷng trong sạch không bon chen, cạnh tranh để nhuần thấm hết thảy nên có pháp danh là Đức Trạch.

Một chữ Chiến quan hệ rất sâu, ranh giới giữa ḷng ham muốn của con người và thiên lư nếu chẳng tận lực chiến đấu th́ lư bị ḷng dục che lấp, khiến cho lư ắt bị ẩn, ḷng ham muốn tỏ rơ vậy. Khổng Tử [nói] “tứ thập [nhi] bất hoặc” (bốn mươi tuổi không lầm lẫn) chính là [nói về] lúc lư thắng, dục bị khuất phục. “Thất thập sở dục bất du củ” (bảy mươi tuổi ḷng ham muốn chẳng ra ngoài khuôn khổ) chính là thiên hạ thái b́nh, trọn không có chiến sự vậy! Khổng Tử nói: “Ngă chiến tắc khắc” (ta đánh trận ắt thắng). Khổng Tử suốt đời chưa hề nắm binh quyền, sao dám nói “ta đánh trận ắt thắng”? Đấy chính là ư chỉ nhỏ nhiệm của Khổng Tử nhằm dạy con người “chế ngự ư niệm để thành thánh hiền” vậy! Do vậy, đặt pháp danh là Đức Khắc. Thánh nhân rủ áo khoanh tay trị thiên hạ, điều cốt yếu chỉ là “vô dục”. Vô dục th́ không phải chiến đấu, có dục th́ phải chiến đấu dài dài cho đến khi ta lẫn người đều chết hết, tấm ḷng mới chịu nguội lạnh. Nếu không, ắt sẽ mong người khác chết để riêng ta c̣n sống, quyết chẳng nghĩ đến sự thảm khốc của chiến tranh để tạm ngừng.

Vu Bái Lâm nếu biết “pháp môn Tịnh Độ của đức Như Lai là trận mưa dầm cam lộ cho chúng sanh trong chín giới”, có thể giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tự hành, dạy người th́ một người xướng, trăm người ḥa, nh́n nhau [bắt chước nhau] làm lành đông đảo lắm. V́ thế, đặt cho [ông ta] pháp danh là Đức Lâm.

Ông nói [bản thân] là người ở trọ, sợ không có người kế thừa. Nay bốn người này chính là những người có quê quán ở đấy, hăy nên bảo họ đem pháp môn này truyền bá vĩnh viễn. Quang giúp cho ông một tay, đem bốn mươi đồng tiền hương kính[17] của bọn họ hoàn toàn dùng làm chi phí gởi sách khiến cho ông và bọn họ mỗi người có cái để bắt chước theo, chuyện tự hành, dạy người sẽ có căn cứ. Tôi sẽ liệt kê một danh sách [để gởi sách đi], phàm những bộ sách lớn và nghĩa lư sâu xa, hàm súc, bốn người [các ông] mỗi người giữ một phần; phàm những sách người thông thường cũng đọc được th́ tùy tiện tặng cho người ta cũng như đem cho các tù nhân. Nhưng phải thiết tha dặn họ cung kính, chớ nên giống như người b́nh thường đọc các sách Nho trọn chẳng cung kính tí nào, ngơ hầu được lợi ích, chẳng đến nỗi chuốc lấy tội khinh nhờn, ô uế. Chuyện này hăy xem trong bài viết về “kính trọng sách, tiếc giấy chữ”, ở đây không viết cặn kẽ.

      2) Đă nhận được thư của ông và Huệ Tu v.v…từ trước, nhưng do Hoằng Hóa Xă nói: Có hai trăm cuốn Kỹ Lộ Chỉ Quy[18] (chỉ bảo đường rẽ) của ông Đức Khắc c̣n chưa gởi tới nên chưa viết thư trả lời. Ngày hôm qua, sách gởi ấy được gởi đến, Quang mục lực không đủ nên xem sơ qua hai ba bài, cảm thấy hay lắm bèn gắng sức xem ba bốn lần. Cả cuốn sách đều hay, nhưng có ba chỗ lầm lẫn, chẳng thể không nói rơ.

Trang năm mươi tám, ḍng tám và chín, “Sức Chung Tân Lương, Hoằng Hóa Xă ở Tô Châu tặng đọc”, đây là một cuốn sách nhỏ nên cũng không phiền cho lắm. Trang sáu mươi hai, hàng thứ hai: “Các sách Khuyến Thế Bạch Thoại Văn, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải Thích, Sức Chung Tân Lương, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao v.v… Hoằng Hóa Xă ở Tô Châu đều tặng đọc”. Những sách này đều tặng đọc th́ chi phí in sách lấy đâu ra? Hiện nay người học Phật thật đông, nếu đều là tặng miễn phí th́ ai chẳng muốn thỉnh? Sao không coi kỹ mà lưu thông theo giá vốn, cần thỉnh bao nhiêu th́ giao cho bấy nhiêu. Lưu thông nửa giá hoặc tặng không sẽ bị hạn chế. Nếu đều là sách tặng xem th́ đừng nói không có nguồn tiền để in sách, ngay cả thợ in sách và đóng sách không biết phải dùng đến bao nhiêu người mới giải quyết được chuyện này. Chuyện này do thầy Minh Đạo lo toan, Quang hoàn toàn chẳng cho chuyện lưu thông nửa giá hay hoàn toàn biếu tặng là đúng! Có người có học vấn nhưng tương đối khá giả, yêu cầu bao nhiêu bộ sách lớn ấy th́ cũng chỉ tính nửa giá. Quyền biếu tặng là tại nơi ta, chứ không phải nơi người, tùy theo ư ta mà tặng. Nếu công khai mà c̣n có hạn chế, người ta không đọc kỹ th́ cũng khó ứng phó.

Nhưng đấy vẫn là chuyện thuộc về phương diện tiền bạc, nếu người ta trách móc, cũng có thể rút lại chương tŕnh ấy, không đáng phải bận tâm! Chỉ có trang ba mươi hai, ḍng tám và chín, “từ Huệ Viễn Đại Sư đời Tấn cho đến gần đây nhất là Ấn Quang đại sư vẫn c̣n tại thế”, mười hai chữ này tôi cảm thấy thật quá thất cách. Đức Khắc [viết như vậy] với dụng ư đề cao thầy, nhưng chẳng biết đă dựng [cái đích] cho mọi mũi tên cùng bắn vào. Mười hai chữ ấy nên đổi thành “Từ Huệ Viễn đại sư đời Tấn cho đến Thiện Đạo, Vĩnh Minh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích, Tỉnh Am, Triệt Ngộ (Triệt Ngộ chính là ngài Mộng Đông, hiện thời ở An Huy có người tên Mộng Đông, cho nên chỉ dùng tên Triệt Ngộ) đều là những vị có học vấn nhất”. Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, dẫu biết lợi ích của pháp môn Tịnh Độ, sao lại có thể kể vào số những vị Tổ Sư trên đây! V́ chẳng biết do ông Đức Khắc tự viết, người hiện thời sẽ nói là ông ta làm theo ư Quang, người ta ắt sẽ cho Quang mạo nhận là bậc thông gia, muốn được kể ngang hàng với Sơ Tổ của Liên Tông th́ Quang mắc tội lỗi về mặt nhân cách chẳng thể tưởng tượng được! May là nỗ lực xem hết cuốn sách, chứ nếu không, sẽ không có cách ǵ thâu thập được.

Nhất cử nhất động của chúng ta đều giữ bổn phận, người ta sẽ không để ư hủy báng. Nếu có chút khí phận khoe khoang, tiếm vị, vượt phận th́ không những kẻ thổi lông t́m vết sẽ đều cất giọng công kích, phê b́nh, mà ngay cả bậc quân tử đức dầy cũng sẽ v́ chuyện này mà coi thường. Xin hăy bảo với Đức Khắc sửa đổi ba chỗ ấy, mà cũng không phải thêm nhiều ḍng, chỉ là thêm vài chữ nơi ḍng tám và chín trong trang ba mươi hai, bởi hàng kế tiếp c̣n có mười một chỗ trống. Sách này được lưu thông, thật sự có lợi ích lớn lao. Quang cũng không phải là người khách trọ lâu ngày trong cơi thế. Khi tôi mất rồi, phàm là đệ tử của tôi chỉ nên y theo lời dạy tu tŕ, đừng liên miên lan man, đem tôi là một bức tượng đất đi thếp vàng ṛng, đấy là đem phàm lạm thánh, chính ḿnh và Quang đều mắc tội lỗi. Hăy đọc những bức thư gởi cho Phan Đối Phù và Mă Khế Tây trong bộ Văn Sao.

 

69. Thư trả lời tiên sinh Trịnh Quán Tịnh

(năm Dân Quốc 20 - 1931 – đính kèm nguyên văn thư hỏi)

 

      Trước kia con đọc bài văn “kính tiếc giấy chữ” [của lăo pháp sư], văn từ, nghĩa lư chánh xác, quả thật là phương thuốc mầu nhiệm để cứu chữa thói tệ đương thời. Theo như trong bài Công Quá Cách của Văn Đế (Văn Xương Đế Quân) có nói: “Dùng giấy có chữ bọc kinh, lót mơ, [phạm] năm mươi lỗi”. Trước kia, con gởi thư hỏi tiên sinh Nhiếp Vân Đài: “Nếu dùng giấy báo để tập luyện thư pháp, viết xong đốt đi, có mắc tội khinh nhờn hay chăng? Có nên dùng để bọc kinh điển hay không?” Tiên sinh lại dạy rằng: “Bỉ nhân cũng không tránh khỏi, nhưng cũng chẳng dám nói lời quyết đoán, xin hăy hỏi bậc cao tăng đại đức” v.v… Lại nữa, trước kia, cư sĩ Phạm Cổ Nông đă đáp lời hỏi của bỉ nhân như sau: “Kính tiếc giấy chữ th́ dường như là đối với những văn tự trong báo chí, phải phân biệt xem có phải là kinh truyện của thánh hiền, có đáng để tôn trọng hay không v.v…” Những thứ giấy có chữ thông thường dùng để bao kinh sách, tập luyện thư pháp có được hay chăng? Kính xin lăo pháp sư quyết đoán một lời.

Ngoài ra, trong bài Công Quá Cách của Văn Xương Đế Quân có nói: “Đưa con đi xuất gia phạm năm mươi lỗi”, nhưng kinh Phật cực lực tán dương công đức xuất gia thù thắng. Do Văn Xương Đế Quân quy y, tin tưởng Tam Bảo, từng được Phật thọ kư, sao lại nói lời ấy rất mâu thuẫn với ư chỉ trong kinh như thế, cũng rất mong cầu lăo pháp sư phán định.

 

      Dùng giấy có chữ để bọc kinh hay lót mơ chẳng những là khinh nhờn giấy có chữ mà c̣n là khinh nhờn kinh điển, khinh nhờn đạo tràng! Ông là người đọc sách mà c̣n phải hỏi người khác chuyện này mấy lần ư? Dùng giấy báo để luyện viết chữ cũng không phải là không được, nhưng chớ nên viết bừa xóa loạn. Viết bừa xóa loạn sẽ trở thành thiếu ư thành kính. Ông Cổ Nông nói xét theo giá trị của chữ viết trên báo cũng gần hợp lẽ, nhưng ai dùng cái tâm ấy? Kinh truyện của thánh hiền đâu có chữ nào đặc biệt không dùng đến những chữ thông thường! Công Quá Cách nói “đưa con em đi xuất gia mắc lỗi” là nhằm ngăn ngừa thói tệ “kẻ ác do ác tâm ruồng bỏ con em mà vẫn muốn được tiếng tốt”, chứ không phải là chuyện cha - con, anh - em cùng phát Bồ Đề tâm đưa nhau đi xuất gia mà cũng bị tội. Tri kiến của ông hạn hẹp, chẳng hiểu biết viên dung, nên mỗi chuyện trong thế gian đều phải hỏi người khác nhiều lượt mà vẫn chẳng thể giải quyết được! V́ sao vậy? Do có Ngă Chấp. Tuy người khác đă giải mối nghi này cho ông, ông lại do lời giải thích mà sanh nghi, Ngă Chấp chẳng bỏ th́ làm sao theo lời người ta cho được? Mấy câu nói ấy người hiểu rơ lư cố nhiên chẳng cần phải bận ḷng suy tính, v́ vốn đă tự hiểu rơ rồi. Nếu ông dùng tâm tư ấy để học Phật pháp th́ suốt đời cũng chẳng thể vượt ra lối ṃn t́nh tưởng phân biệt được!

 

70. Thư trả lời cư sĩ Du Hữu Duy

(năm Dân Quốc 26 - 1937)

 

      Đọc thư ông gởi đến, văn từ lẫn ư nghĩa đều hay, không thể thay đổi được, nên chẳng ghi lời phê. Ông hai mươi mốt tuổi, biết làm văn làm thơ, chính là đời trước có thiện căn, nhưng hăy nên khiêm tốn náu ḿnh, đừng cậy thông minh khinh người, học vấn càng rộng răi, càng cảm thấy không đủ th́ sự thành tựu sau này sẽ khó thể suy lường được! Mười năm trước, pháp sư Đế Nhàn có một đồ đệ tên Hiển Ấm là người cực thông minh, xuất gia năm mười bảy, mười tám tuổi, nhưng khí lượng quá nhỏ, không chịu thua kém một chút nào! Lần đầu tiên giảng Tiểu Ṭa[19] xong, lễ sư phụ, sư phụ trọn chẳng chê ông ta giảng không hay, chỉ nói âm thanh quá nhỏ. Do một câu nói ấy liền ngă bệnh, mà ngài Đế Nhàn là người một mực làm cho ông ta thường sanh tâm hoan hỷ. V́ thế, [Hiển Ấm] tánh kiêu ngạo tăng trưởng hằng ngày, hằng tháng. Sau này, qua Nhật Bản học Mật Tông, những bài viết nhằm hoằng dương Mật Tông của ông đều gởi đăng trên tờ lâm san của Thượng Hải Cư Sĩ Lâm. Ông tự đặt ḿnh vào vị trí cao cả, cho rằng chỉ có ta là cao. Sau đó về nước, đến chùa Quán Tông[20] thăm thầy. Ngài Đế Nhàn nói: “Ông thanh danh rất lớn, tiếc là chưa thật sự dụng công, hăy nên bế quan ba năm để dụng công th́ mới nên”. Ông ta vừa nghe câu nói ấy như dao cứa tim, ngay bữa ấy liền sanh bệnh. Ngày hôm sau ôm cơn bệnh đi qua Thượng Hải Cư Sĩ Lâm, được hơn một năm liền mất.

Ông ta mất không lâu, Quang đến chùa Thái B́nh ở Thượng Hải, một thành viên của Cư Sĩ Lâm là Châu Thạch Tăng đến thăm, hỏi t́nh h́nh lúc Hiển Ấm mất, [ông Châu] nói: “Hồ đồ! Phật chẳng niệm được, mà chú cũng chẳng niệm được”. Đấy chính là hạng đại pháp sư hiển mật viên thông, tự cảm thấy trong đời không có ai sánh bằng, do không tự lượng, cậy vào huệ căn đời trước, thành ra mới hai mươi hai, hai mươi ba tuổi đă đoản mạng, chết thành con quỷ hồ đồ, chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Nếu như Hiển Ấm chẳng tự cao, khiêm tốn náu ḿnh th́ những học giả Trung Quốc chưa chắc trỗi hơn ông ta được! Quang thương Hiển Ấm do đó mà chết nên lấy chuyện xe trước [bị đổ] để làm gương cho ông.

Hiện thời, Quang đă khổ không thể nói nổi, mục lực lẫn tinh thần đều không đủ, hằng ngày đă có người đến [hỏi han], lại c̣n thư tín bốn phương, đừng nói chi chuyện trả lời, chỉ đọc [không thôi] cũng phải mất nhiều công sức. Quang ở Phổ Đà từ năm Quang Tự 19 (1893) cho đến năm Dân Quốc thứ năm (1916), hơn hai mươi năm khá yên vui, suốt năm không ai đến thăm, không một lá thư nào gởi đến. Từ năm Dân Quốc thứ sáu (1917), ông Vương Ấu Nông đem một lá thư in ra mấy ngàn bản, ông Từ Úy Như đem ba lá thư in ra mấy ngàn bản, rồi năm sau lại in Văn Sao. Từ đấy, một người truyền hư, vạn người truyền thật. Lại do chẳng tự lượng, khắc in các sách để mong lợi người. Hai mươi năm qua, đúng là chuyên bận bịu v́ người khác, nay đă già rồi, mong bế quan làm kế lánh phiền. Đối với công khóa sớm tối, ngoài việc theo cả chùa thực hiện công khóa ra, mỗi tối niệm thêm chú Đại Bi năm mươi lượt, hoặc hai mươi lăm lượt. Ngoài ra, hễ lúc nào rảnh th́ niệm Phật, chẳng nhớ số, bởi nhớ số tốn sức.

Ông có thời gian rộng răi, sức lực mạnh mẽ, hăy nên nỗ lực nghiên cứu, tu tŕ pháp Tịnh Độ. Đây chính là đại pháp để phàm phu liễu sanh tử ngay trong đời này. Pháp này nếu không có túc căn th́ đừng nói là người tầm thường không thể thấu hiểu triệt để, ngay cả bậc cao nhân lỗi lạc triệt ngộ tự tâm thâm nhập kinh tạng cũng quá nửa là không thể thấu hiểu triệt để được! Do họ chẳng biết đây là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp, đều cứ chiếu theo nghĩa lư của các pháp môn thông thường nên chẳng chịu tin. Hoặc là có người tin, nhưng sợ chuyên hoằng dương Tịnh Độ, người ta sẽ coi thường ḿnh, v́ thế chẳng chịu đề xướng. Phải biết: Tu bất luận pháp môn nào, nếu Phiền Hoặc chưa đoạn, chắc chắn không liễu được sanh tử. Chỉ có một pháp này, chỉ cần đầy đủ tín nguyện liền có thể cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương. Ông chớ nên coi qua loa, mà phải đọc kỹ nghĩ chín mới biết lời Quang không lầm!

Hiện nay, người giảng kinh cũng không ít, nhưng mỗi người tùy theo ư ḿnh, ông nên tự tu tŕ ở chỗ [cư sĩ Giang] Dịch Viên, đến khi đă có chủ ư rồi, chẳng ngại ǵ tùy hỷ [tham dự] giảng ṭa của các pháp sư. Ông phải tự thương ḿnh, Quang mến ông, nên chỉ có lần này là viết hai trang, sau này cũng không rảnh rỗi để răn dạy nhiều lần được nữa đâu!

 

71. Thư trả lời Niệm Tây đại sư

(năm Dân Quốc 20 - 1931)

 

      Nhận được thư, thấy một mực dùng những lời lẽ “đem phàm lạm thánh” để khen ngợi, khôn ngăn hổ thẹn, nên để đó không trả lời. Thêm vào đó, công việc bận bịu, tinh thần lẫn mục lực đều chẳng đủ, nên dùng biện pháp [làm lơ] ấy. Tiếp đó, nghĩ tọa hạ thiên tư thông minh, mẫn tiệp, chẳng học Giáo mà chăm tu Tịnh nghiệp, ắt tương lai có thể kế thừa được các tổ sư Khuông Lô[21] để lợi ích khắp các chúng sanh, v́ thế, viết thư trả lời. Những câu hỏi trong thư nếu nói tường tận th́ quá tốn bút mực. Do vậy, đối với lá thư gốc liền ghi vắn tắt vài chữ bên cạnh, nhưng mắt già ḷa quáng, làm bẩn tờ hoa.

Thứ nhất, Bảo Vương Luận[22] do pháp sư Phi Tích[23] đời Đường trước tác. Liên Tông Bảo Giám[24] ghi chép theo những lời ngoa truyền. Bảo Vương Luận chia thành ba quyển, trong nguyên bản mỗi quyển gồm bảy môn. Hiện thời quyển trung chỉ có sáu môn là v́ người mắt sáng đời sau đă lược bỏ môn “niệm Phật ít được lợi ích như niệm Phật nhiều” (Đây là tên gọi dựa theo ư tưởng[25]). Trộm nghĩ pháp sư Phi Tích thông hiểu rộng răi kinh tạng và các sách vở. Thời ấy, chắc có kẻ ngụy tạo ra sách có thuyết ấy, pháp sư v́ ḷng đại bi chưa xét tường tận nên trích dẫn. Người lưu truyền [Bảo Vương Luận] sau này sợ kẻ vô tri đâm ra hiểu lầm, nên đặc biệt lược bỏ đi, thật là thích đáng đến cùng cực! Liên Tŕ đại sư cũng bác thuyết ấy. Có ai niệm [câu ấy] th́ vẫn có công đức, nhưng chẳng được ngờ nghệch cho rằng niệm một câu Phật hiệu ấy vượt trỗi công đức của người khác niệm [sáu chữ danh hiệu Phật] suốt cả đời, như thế là lầm lẫn lớn, làm người khác bị lầm chẳng cạn! Nếu một người mỗi ngày niệm mười vạn câu, niệm trọn một trăm năm, cũng chẳng bằng số lượng [các vị Phật] trong một câu ấy. Kẻ ngu tưởng đấy là nghĩa lư chân thật, đâm ra khơi gợi cái tâm mong ngóng, lười nhác, biếng trễ của họ. Bỏ đoạn văn ấy đi có công đức lớn lao! Những nghĩa khác chẳng cần phải nói tường tận.

Bảo Vương Luận nằm trong sách Tịnh Độ Thập Yếu. Nay tôi đem bản được in trong năm ngoái gởi đi, chắc là được đại lợi ích vậy. Bản khắc gỗ từ trước đến nay đều là bản trích lược do môn nhân của ngài Ngẫu Ích đại sư là Thành Thời biên soạn. Do văn quá nhiều khó lưu thông, nên đặc biệt trích lược. Nhưng đại sư Thành Thời thông minh hơn người, quá tùy tiện, đọc đến đâu trích lược đến đó, cũng chẳng duyệt lại, nên đến nỗi trong bản ấy sai sót tầng tầng lớp lớp. Có chỗ từ ngữ chẳng diễn tả được ư, có chỗ khẩu khí sai lầm, tán loạn, có chỗ văn từ và ư nghĩa hoàn toàn mâu thuẫn (trong Tây Phương Hiệp Luận, trang bốn mươi, ḍng thứ sáu, bỏ mất hai chữ Dụng th́ văn và nghĩa hoàn toàn trái nghịch. Trong kinh (tức kinh Bát Châu Tam Muội) này, hễ dùng với nghĩa là Dĩ th́ đều viết thành Dụng. Sư Thành Thời không suy xét, bỏ chữ Dụng đi[26]). Nếu chịu đọc lại lần nữa, quyết chẳng đến nỗi để sai sót đáng tiếc như thế. Hơn nữa, lược bớt quá nhiều, chỉ c̣n được hơn hai phần năm [nguyên tác]. V́ thế, lúc đầu Quang bảo ông Từ Úy Như t́m kiếm để khắc in; sau này may mắn mười thứ[27] [kinh luận đă được chọn vào Tịnh Độ Thập Yếu] đều t́m được, nên đặc biệt đem in ra một vạn bộ. Xin hăy đọc lời Tựa của Quang sẽ tự biết.

      Thứ hai, nguyên văn ghi: “Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”, cổ đức giải thích: “Niệm lớn tiếng th́ thấy được thân đức Phật lớn; niệm nhỏ tiếng th́ thấy được thân đức Phật nhỏ”, cũng có thể giải thích là: “Niệm với cái tâm lớn th́ thấy được thân đức Phật lớn; dùng đại Bồ Đề tâm niệm Phật th́ sẽ thấy được Ứng Thân thắng diệu của Phật, hoặc Báo Thân” (đây là thuyết của Quang). Lời này trích từ sách khác, chứ không sao lục trực tiếp từ kinh Đại Tập[28] ra. Quang sanh ra liền bị bệnh mắt, ngoài bốn mươi tuổi chẳng thể thường xem kinh. V́ thế, chưa thể đọc hết toàn bộ Đại Tạng. Kể từ năm Dân Quốc thứ bảy (1918) đến nay, suốt ngày bận bịu trả lời thư, đúng là không rảnh rỗi để xem kinh. Nay mục lực yếu đến tột cùng, có lúc c̣n phải thức đêm để lo tiếp chuyện bút mực ban ngày, khổ sở hết sức. Tính năm sau ẩn dật vĩnh viễn, chuyên tŕ Phật hiệu cho hết tuổi thừa!

Pháp Niệm Phật há nên chấp chặt vào lề lối nhất định, cổ nhân lập ra phương pháp giống như tiệm thuốc có đủ các loại thuốc. Cách dùng của chúng ta là phải phù hợp với tinh thần, khí lực và thiện căn xưa kia của chính ḿnh. Niệm Phật lớn tiếng hoặc nhỏ tiếng, hoặc [niệm] Kim Cang, hoặc niệm thầm, không cách nào chẳng được. Hễ hôn trầm chẳng ngại ǵ niệm lớn tiếng để đẩy lùi cơn hôn trầm tán loạn th́ cũng được. Nếu thường niệm lớn tiếng ắt sẽ đến nỗi bị bệnh. Đừng nói người thông thường chớ nên thường [niệm] như vậy, dẫu người hết sức khỏe mạnh cũng chớ nên thường như thế. Trong một ngày, hễ nóng th́ bỏ bớt áo, lạnh th́ mặc thêm áo, há nên đối với một pháp niệm Phật để liễu sanh tử lại chấp chết cứng [vào một pháp] nhất định, chẳng chọn lấy pháp thích nghi, há có c̣n được gọi là “biết pháp” hay chăng? Lại c̣n có người đề xướng lần chuỗi nhớ số, cách này vừa có lợi vừa có điều tệ. Lợi là mỗi một câu niệm, lần một hạt, chẳng dễ dăi lướt qua th́ tâm dễ quy về một mối. Điều tệ là khi tịnh tọa mà lần chuỗi th́ tâm ắt khó an định được, lâu ngày sẽ thành bệnh.

Hơn nữa, tinh thần con người mỗi người mỗi khác, há nên chấp vào một pháp, chẳng biết điều chỉnh theo mỗi việc ư? Phàm là mọi người cùng nhau tu tŕ nên căn cứ theo tinh thần của mọi người để liệu định riêng biệt. Cá nhân tu tŕ cũng phải chiếu theo tinh thần của chính ḿnh mà định. Đâu có pháp chết cứng buộc mọi người đều phải tuân thủ ư? Sau khi dùng tinh thần đến tột cùng rồi, nếu không lui sụt, lười nhác, ắt sẽ đổ bệnh. Lượng theo sức ḿnh mà làm sẽ có ích, không bị tổn hại.

Hoằng Hóa Xă ở tệ xứ mang tánh chất lo liệu thay cho người khác, những kinh sách đă in đều tính giá tiền theo giấy mực và công thợ in, những khoản chi phí ấn loát khác và các chi phí cần dùng đều chẳng tính vào [giá] sách, cũng có khi hoàn toàn biếu không hay tính tiền một nửa, nhưng chỉ là một số ít. Nay đem những sách quan trọng mới được in gần đây gởi cho tọa hạ mỗi thứ một phần. Sau này, nếu lại muốn thỉnh sẽ căn cứ theo danh mục mà tính toán giá cả để thỉnh từ Hoằng Hóa Xă, cũng đừng có thuận tay gởi thư cho Quang nữa! Từ mùa Đông năm ngoái, phàm với những thư gởi đến, Quang đều nói: “Từ rày đừng nên gởi thư đến nữa. Gởi đến nhất định không trả lời, cũng chẳng chấp thuận việc giới thiệu người khác [xin] quy y [với Quang] để khỏi nhọc nhằn quá mức đến nỗi mù mắt và hao tổn tánh mạng”. Xem những câu hỏi của tọa hạ, đa phần là do chẳng biết suy xét tường tận mà ra. Nếu suy xét kỹ càng hơn, ắt chẳng cần phải hỏi người khác! Những lời [tọa hạ] trước sau khen ngợi [Quang], đáng tiếc là văn chương tuy hay nhưng dùng lầm chỗ vậy!

 

72. Thư trả lời cư sĩ Châu Bá Tù

 

      Nhận được thư từ hôm trước, nhưng gần đây công việc khá bận rộn, nên trả lời thư trễ năi. May là cả nhà ông vẫn tu tŕ như cũ, thật là mừng rỡ, an ủi lắm. Mấy năm nay tai họa xảy ra quá thường xuyên, thật đáng nguội lạnh cơi ḷng, nói chung là do ḷng người ngày càng bại hoại mà ra! Những phương cách giúp cho nạn nhân có cái để gầy dựng lại cuộc sống về sau đều là các phương cách quan trọng để cứu giúp trong lúc ngặt nghèo, nhưng cách này không phải là thường có. Nay để làm chuyện thường có, đặc biệt lập ra một pháp, mong hăy thường truyền bá th́ lợi ích vô cùng. Hiện thời là lúc t́nh thế đại hoạn nạn, bất luận phú quư hay nghèo hèn, già, trẻ, trai, gái đều nên niệm thánh hiệu “nam mô A Di Đà Phật” và niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” để làm căn cứ pḥng ngừa tai họa. Phàm đao binh, nước, lửa, ôn dịch, sâu rầy, hạn hán, lụt lội, thổ phỉ, cường đạo, và các tai họa ngoài ư muốn, bệnh tật do oán nghiệp, oan gia gặp gỡ v.v… nếu có thể chí thành niệm Phật và niệm Quán Thế Âm chắc chắn sẽ gặp dữ hóa lành. Dẫu là do định nghiệp tạo thành, cũng có thể giảm nhẹ, chẳng đến nỗi khốc liệt quá mức. Những tai họa ấy chẳng phân biệt phú quư hay nghèo hèn. Nhưng người phú quư xem ra c̣n khó chịu đựng hơn kẻ nghèo hèn; do vậy, chớ nên v́ ta phú quư rồi coi thường, [cũng như] v́ ta nghèo hèn bèn mặc kệ, chẳng lập kế đề pḥng sẵn.

Hơn nữa, pháp Niệm Phật đối với chuyện sống lẫn chết của con người đều có lợi ích. Thế gian chỉ biết đến lợi ích của việc trợ niệm khi lâm chung, chẳng biết cái lợi ích khuyên niệm khi sanh nở, đến nỗi rất nhiều mẹ con phải chịu vô lượng khổ, hoặc đến nỗi mất mạng, không cách ǵ cứu được! Nữ nhân nếu có thể thường niệm thánh hiệu Phật và Quán Âm từ nhỏ th́ về sau chắc chắn chẳng bị nỗi khổ gặp tai biến trong khi sanh nở. Hoặc vừa cấn thai liền niệm, hoặc ba bốn tháng trước khi sanh bèn niệm, hoặc đang sanh nở mới bắt đầu niệm, đều được an nhiên sanh nở. Nếu sanh khó đến cùng cực và sắp mất mạng, chịu niệm nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, chắc chắn lập tức được an nhiên sanh nở. Đừng nói lúc ấy lơa lồ bất tịnh, nếu niệm sợ mắc tội lỗi! Phải biết Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi tầm thanh cứu khổ. Ví như thấy con cái té vào lửa, nước, hầm xí, gọi cha mẹ để cầu cứu, cha mẹ quyết chẳng v́ chúng nó y phục không chỉnh tề, thân thể chẳng sạch sẽ mà bỏ mặc không cứu.

Tâm cứu chúng sanh của Bồ Tát sâu xa thiết tha hơn ḷng thương yêu con cái của cha mẹ trong cơi đời, đúng là gấp cả trăm ngàn vạn ức Hằng hà sa lần! Do vậy, phụ nữ khi sanh nở có thể niệm rơ ràng danh hiệu của Bồ Tát chính là diệu pháp tối thượng cực kỳ linh nghiệm, hữu hiệu vậy. Chẳng những không có tội lỗi mà c̣n khiến cho cả mẹ lẫn con đều được gieo đại thiện căn. Nghĩa này do đức Phật Thích Ca đă dạy trong kinh Dược Sư, chứ không phải do Bất Huệ bịa đặt. Phàm những ai có niệm th́ không một ai chẳng được an nhiên sanh nở. Gần đây người bị sanh khó quá nhiều, một phần là do nghiệp chướng đời trước, một phần là do đời này chẳng biết tiết dục mà ra. Bồ Tát cứu khổ cố nhiên chẳng tính đến người ấy [bị nạn] do nhân như thế nào, đều b́nh đẳng cứu giúp.

Lúc b́nh thường niệm Phật, tuy đi - đứng - nằm - ngồi đều có thể niệm, nhưng lúc ngủ chỉ nên niệm thầm trong tâm, chớ nên niệm ra tiếng. Nếu lúc tỉnh giấc, áo mũ hăy c̣n chưa chỉnh tề, tay lẫn mặt c̣n chưa rửa ráy, súc miệng, và khi tắm gội, tiêu tiểu, và đến những nơi ô uế chẳng sạch, chỉ nên niệm thầm trong tâm, đừng niệm ra tiếng. Trong những lúc, những chỗ ấy, công đức niệm thầm giống với công đức niệm lúc b́nh thường. Niệm ra tiếng chẳng hợp nghi thức. C̣n lúc sanh nở nhất định phải niệm ra tiếng rơ ràng, chớ nên niệm thầm trong tâm, bởi niệm thầm sức cảm ứng nhỏ nhoi. Lại v́ lúc ấy phải dùng sức đẩy đứa con ra, nếu niệm thầm trong tâm, do v́ bế khí sẽ có thể thành bệnh! Không riêng ǵ sản phụ phải niệm rơ tiếng mà những người chăm sóc ở bên cạnh cũng đều phải niệm rơ tiếng. Dẫu cho người nhà ở chỗ khác cũng vẫn có thể niệm cho sản phụ ấy. Nếu pháp này được truyền bá, thế gian sẽ vĩnh viễn không có nỗi khổ v́ sanh sản, và nỗi khổ cả mẹ lẫn con đều chết v́ sanh nở.

[Phải] biết Phật pháp lợi khắp hết thảy, Phật là cha mẹ đại từ bi, là trời của các vị trời, là bậc thánh của chư thánh, do tâm đại Bồ Đề lợi khắp hết thảy chúng sanh nên được viên măn thành tựu. Trong đời có kẻ nói giọng cao xa “chán nghe chuyện nhân quả báo ứng và pháp siêng gắng tu tŕ”, chỉ lấy “hết thảy đều là không, hết thảy chẳng chấp” làm bùa hộ thân, chẳng biết đă chấp “hết thảy đều là không, hết thảy chẳng chấp” th́ đă chẳng phải là ư nghĩa “hết thảy đều là không, hết thảy chẳng chấp” rồi! Huống chi kẻ ấy mượn cớ đó để lấp liếm dấu vết lười nhác, biếng trễ, chẳng chuyên chú thật tu, chỉ là “bàn xuông, tranh cao”, đến khi nghiệp báo đă chín muồi, Diêm lăo (vua Diêm La) sẽ dâng đồ cúng dường tối thượng cho kẻ “hết thảy chẳng chấp, hết thảy đều là không” ấy. Không biết trong lúc ấy, [kẻ đó] c̣n có thể “đều là không, đều chẳng chấp” được hay chăng? Chúng ta nên kính nhi viễn chi đối với những kẻ ấy, để khỏi phải nhận sự cung kính cúng dường tối thượng của Diêm lăo vậy!

 

73. Thư trả lời cư sĩ Đường Năng Thành

 

      Hôm qua nhận được thư, biết nỗi thảm do thổ phỉ gây ra tại Tứ Xuyên, khôn ngăn người ta phải than dài sườn sượt. Tôi thường nói: “Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân trị thiên hạ, để Phật độ chúng sanh”. Từ đời Tống, họ Tŕnh, họ Châu do đọc kinh Đại Thừa nhà Phật, thân cận bậc thiện tri thức Thiền Tông, biết đại khái nghĩa lư “toàn sự chính là lư, hết thảy duy tâm”, liền chấp bừa vào ư kiến của chính ḿnh, chấp lư bỏ sự để làm ra vẻ chính ḿnh kiến thức cao siêu, quá sợ người đời sau biết được [do đâu] họ có được [kiến giải ấy] nên đem ḷng đen tối báng Phật, nói nhân quả báo ứng, lục đạo luân hồi do đức Phật đă dạy chính là căn cứ để lừa dối bọn ngu phu ngu phụ tin thờ giáo pháp của Ngài, chứ thật ra không có chuyện ấy. Con người chết rồi, h́nh hài đă mục nát, thần hồn cũng phiêu tán; dẫu có chém, chặt, xay, giă th́ lấy ǵ để làm? Lại do thần hồn đă tiêu tan rồi, có ai để thác sanh nữa đây? Từ đấy trở đi, phàm là nhà Nho hễ kẻ nào hiểu biết cao xa th́ ai nấy đều lén xem kinh Phật, nhưng đều cực lực báng Phật; kẻ hiểu biết thấp kém bèn hùa theo người khác dấy lên kiến giải điên đảo, từ sống đến chết chẳng được lợi ích nơi Phật pháp, từ sống đến chết thường tạo nghiệp báng Phật.

Học thuyết của họ Tŕnh, họ Châu vừa được lưu hành th́ Nho gia vâng giữ như khuôn vàng thước ngọc, c̣n chuyện họ Tŕnh, họ Châu trái nghịch tiên thánh (thánh nhân Nho giáo) th́ cả cơi đời không ai chịu nói đến! Sau này, nhà Nho nào nói ngược với Tŕnh, Châu sẽ không thể đứng vững được trong khoảng trời đất. Do vậy, nhà Nho chẳng dám nói nhân quả luân hồi, nói ra sẽ bị người ta công kích. Lại muốn sau này lỡ ra có thành tựu, muốn được dự vào Hương Hiền Từ (miếu thờ bậc hiền tài trong làng) hay trong Văn Miếu, nếu nói đến nhân quả luân hồi th́ hai đằng đều tuyệt vọng! Từ đấy, hoàn toàn thủ tiêu căn bản trị quốc b́nh thiên hạ, cậy xuông vào “chánh tâm thành ư” để trị [thiên hạ]. Phải biết: Nếu có nhân quả luân hồi th́ kẻ chưa thể chánh tâm thành ư vẫn gắng sức làm. Không có nhân quả luân hồi th́ chỉ có bậc đại hiền mới có thể chánh tâm thành ư; c̣n những kẻ khác do không có ǵ để sợ hăi, không có ǵ để mong mỏi, lẽ đâu lại khăng khăng chánh tâm thành ư hay sao?

Tŕnh - Châu đề xướng chánh tâm thành ư là do học được diệu nghĩa của Phật pháp, nhưng để phô tỏ cái trí của chính ḿnh, bèn ngược ngạo cực lực chê trách Phật. Như vậy là họ đă chánh tâm thành ư nơi chỗ không quan trọng, khẩn yếu, hoàn toàn chẳng mảy may nào chánh tâm thành ư nơi chỗ quan trọng, khẩn yếu lớn lao! Dùng đây để tạo thành cái danh cho chính ḿnh, di hại cho thiên hạ đời sau. Gần đây tai họa liên tục xảy ra, dân không lẽ sống, đều là do chất độc của học thuyết Tống Nho bạo phát, ông có biết hay chăng?

Niệm Phật, tụng kinh th́ lấy sự chí thành làm gốc, có xướng tán hay không chẳng quan hệ ǵ! C̣n với chuyện tụng một quyển kinh Pháp Hoa, rất tốt, nhưng đối với người bận bịu và già cả, hăy nên thường tụng Tịnh Độ Ngũ Kinh th́ sẽ hiểu biết đại lược nguyên do của pháp môn Tịnh Độ. Niệm Phật th́ phải trong tâm niệm cho rành rẽ, miệng niệm cho rành rẽ, tai nghe cho rành rẽ, từ sáng đến tối niệm th́ từ sáng đến tối nghe, so với những kẻ tham niệm nhiều, tham niệm nhanh nhưng hồ đồ không rơ ràng, công hiệu khác xa lắm! Nay gởi cho ông một gói Tịnh Độ Ngũ Kinh, ai có ḷng tin, có thể cung kính th́ tặng cho họ những cuốn c̣n dư ra. Chớ dùng cách đọc sách Nho để xem kinh Phật th́ mới được lợi ích, tránh khỏi tội khiên. Nếu không, cái tội khinh nhờn sẽ lớn hơn công đức đọc tụng đấy!

 

74. Thư trả lời cư sĩ Tịnh Chi

(năm Dân Quốc 25 - 1936)

 

      Buổi tối hôm trước nhận được thư, do mục lực không đủ nên chẳng xem được. Trong hai ngày nay lại do phải lo toan chuyện khác không rảnh rỗi nên quên mất. Buổi chiều, ngẫu nhiên kiểm thấy mới biết là muốn thỉnh sách và có gởi chi phí cho Quang, liền bảo Hoằng Hóa Xă gởi sách theo đúng số lượng. Ngoài ra c̣n [nhờ họ] gởi giùm cho Quang thêm bốn gói sách nữa. Quang già rồi, mục lực không đủ, một mực chẳng quan tâm đến chuyện bên ngoài, cũng chẳng có môn đ́nh pháp phái, mặc ai nói hay kể dở, Quang cũng chẳng muốn quan tâm đến. Ông đă thờ Quang làm thầy, chẳng ngại ǵ nói cách điều ḥa các pháp môn cho ông nghe. Hăy nên dùng cái tâm chí công chí chánh, dùng ngôn ngữ chí công chí chánh để khuyên dụ th́ là phước cho pháp môn vậy. Nếu do sự kính yêu của chính ḿnh [mà làm] th́ hoàn toàn không có chút ǵ đáng bàn nữa! Khiến cho người khác bất măn hoàn toàn hủy báng thiện tri thức, tạo nghiệp địa ngục th́ vốn nhằm ḥa hợp pháp môn lại đâm ra trở thành kéo bè kết lũ những người cùng ư kiến [với ḿnh] để công kích những người khác ư kiến [với ta], đâm ra hộ pháp trở thành hoại pháp, tâm tốt chẳng đạt được quả báo tốt vậy! Nếu như vậy th́ ông thấy người ta là kẻ đáng thương xót, người ta cũng thấy ông là kẻ đáng thương xót, ngay cả bậc cao tăng đáng tôn trọng chí cao vô thượng tuyệt đối chẳng thể dị nghị ǵ được cũng trở thành kẻ đáng thương luôn!

Do vậy, Khổng Tử dạy kẻ chánh tâm thành ư th́ phải trí tri (thấu hiểu cặn kẽ), [muốn] trí tri th́ phải cách vật (trừ khử vật dục). Không “cách vật” th́ giống như đeo kính màu xanh, đỏ v.v… phàm những màu được thấy đều chẳng phải là màu thật sự của nó. Do có tư dục làm chủ nên chết ch́m vào một bên, chẳng thấy chân lư của sự việc, thấy điều đúng của người khác trở thành sai! Phàm đối với những chuyện trị thế tu đạo đều nên lấy lời này làm khuôn phép, đừng coi là hủ bại rồi xem thường!

 

75. Thư trả lời cư sĩ Giang Cảnh Xuân (hai lá thư)

(năm Dân Quốc 22 - 1933)

 

      1) Cầu cơ[29] chính là tác dụng của linh quỷ. Chúng xưng là vị Phật này, vị Bồ Tát nọ, vị tiên kia đều là giả mạo danh các ngài. Nếu chân tiên ngẫu nhiên giáng cơ th́ sợ rằng trong trăm ngàn trường hợp chẳng được lấy một, huống ǵ là Phật, Bồ Tát! Dùng cầu cơ để đề xướng Phật pháp tuy có lợi ích nho nhỏ, nhưng về căn bản đă sai lầm! Người học Phật chân chánh quyết chẳng nhờ vào cách này để đề xướng Phật pháp, v́ sao vậy? V́ đấy là tác dụng của quỷ thần. Nếu có linh quỷ thông minh th́ họa may c̣n chẳng đến nỗi làm hỏng chuyện, chứ nếu là một con quỷ hồ đồ giáng cơ, ắt sẽ làm hỏng chuyện lớn! Người ta do lời giáng cơ bị hỏng chuyện lớn liền nói Phật pháp sai lầm, th́ đề xướng kiểu ấy chính là đầu mối để phá diệt Phật pháp! Ông cho là bị mất lợi ích, hỏi có tội hay không tội th́ biết ông hoàn toàn chẳng biết chân nghĩa của Phật pháp, đáng than thở quá đỗi!

Trong thời Đạo Quang - Hàm Phong (1821-1861) nhà Thanh, tại phủ Quảng Tín, tỉnh Giang Tây có một viên Hàn Lâm[30] tên là Từ Khiêm, tự Bạch Phảng. Người ấy sống đến chín mươi sáu tuổi, lúc mất thiên nhạc vang lừng trên không, ấy là sanh lên trời vậy! Ông ta không biết đến pháp môn Tịnh Độ, đối với địa vị Phật, Bồ Tát, trời, hay tiên, ông ta đều chẳng phân biệt rơ ràng! Một vị lăo tăng ở Phổ Đà là môn nhân nhỏ tuổi nhất của ông ta đă kể cho Quang nghe câu chuyện này thật tường tận. Ông ta có trước tác cuốn Hải Nam Nhất Chước (một giọt nước Hải Nam), [trong sách ấy] coi quyển trung, quyển hạ ngụy tạo của Tâm Kinh giống như Tâm Kinh, lại chép lời giáng cơ cầu mưa ở Tứ Xuyên, [trong ấy] nói Quán Âm quỳ trong điện Ngọc Đế[31] cầu mưa. Đủ biết lời cơ nói xằng tán nhảm và tri kiến của ông ta đều là tà - chánh chẳng phân!

Ông cho rằng “không cầu cơ sẽ đánh mất lợi ích”, chẳng biết cái họa của việc ấy là có thể đến nỗi diệt pháp ư? Từ Khiêm là người chuộng điều thiện tin Phật, nhưng thật sự chẳng hiểu rơ Phật lư, chẳng thích làm quan, ở nhà dạy người làm lành, cũng tự cầu cơ, dạy đệ tử của chính ḿnh cầu cơ. Mọi người đều chẳng biết cội nguồn của cầu cơ và cội nguồn của Phật. Đương thời, một vị Cử Nhân ở Nam Xương (tỉnh Giang Tây) cũng có hành vi giống như Từ Khiêm. Môn nhân của ông Cử Nhân này cầu cơ khám bệnh tại tỉnh thành rất linh. Mẹ quan Tuần Phủ mắc bệnh, thuốc men vô hiệu, có người thưa ông X… đó cầu cơ khám bệnh linh lắm; do vậy, bèn mời đến thăm bệnh. Kê toa, uống thuốc vào người bệnh chết ngay. Vội vàng đem toa thuốc cho thầy lang coi, th́ ra trong ấy có vị thuốc công phạt. Do vậy, bắt ông ta đến hỏi. Ông ta thưa: “Đây chính là do thầy tôi là ông Y… dạy”. V́ thế, quan Tuần Phủ bắt đền thầy ông ta, bảo: “Ngươi dối đời hại người”, giết chết thầy ông ta. Từ Khiêm nghe chuyện ấy, răn dạy bọn môn đồ từ rày đừng cầu cơ nữa!

Ông cho “không cầu cơ th́ pháp thiếu duyên”, trong tâm chấn động sôi sục, chẳng biết cái họa của cầu cơ lớn tầy trời, công đức khuyên người của nó chẳng thể bù đắp được! Bậc chánh nhân quân tử quyết chẳng bước vào đàn tràng ấy. Cuối đời Minh, ở Tô Châu có một người cầu cơ, có bảy tám môn đồ. Một ngày nọ, cơ giáng nói Phật pháp, khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, so với những ǵ cơ đă nói trước kia hoàn toàn khác hẳn. Sau đấy, lại giáng cơ giống như vậy hơn hai mươi lần nữa, sau cùng mới lại nói “cầu cơ chính là tác dụng của quỷ thần, ta là vị X… đó, sau này sẽ không đến nữa, các ông chớ nên cầu cơ nữa!” Chuyện ấy được chép trong Tây Phương Xác Chỉ[32].

Năm đầu Dân Quốc (1911), ở Hương Cảng có người cầu cơ, nói là đại tiên Hoàng Xích Tùng [giáng cơ] xem bệnh cực linh. Có kẻ trọn chẳng c̣n lẽ sống, cầu vị tiên ấy dạy cho một phương thuốc. Thuốc ấy cũng là tùy tiện nói ra một loại nào chẳng quan trọng lắm, nhưng hễ uống vào liền lành bệnh. Hoàng Tiểu Vỹ hâm mộ đến học, học được cách [cầu cơ] nhưng hễ vịn cơ, cơ liền không chạy. Người khác hỏi th́ cơ dạy niệm kinh Kim Cang bao nhiêu biến đó rồi lại vịn cơ, làm theo th́ cũng rất linh. Nhân đó, thường khai thị pháp môn Niệm Phật. Bọn ông Vỹ liền muốn lập đạo tràng Niệm Phật, cơ dạy: “Nên để ba năm nữa rồi mới lập”. Ba năm sau, bốn năm người bọn họ lên Thượng Hải thỉnh kinh sách, năm sau đến quy y, lập ra Đa Đa Phật Học Xă, đem chương tŕnh niệm Phật gởi cho tôi: Niệm Phật xong, niệm Quán Âm, Thế Chí xong, lại niệm thêm một vị tên là Đa Đa Ha Bồ Tát. Quang hỏi: “Làm sao có được danh hiệu ấy?” Bọn họ bèn thuật lai lịch, nói là trước kia cơ xưng là đại tiên Hoàng Xích Tùng[33], sau dạy tu pháp môn Tịnh Độ, đến cuối cùng mới cho biết rơ gốc gác là Đa Đa Ha Bồ Tát, lại răn vĩnh viễn không được cầu cơ nữa.

Hai chuyện này do một người đệ tử sưu tập những pháp ngữ Tịnh Độ, [soạn thành sách] đặt tên là Tịnh Độ Tập Yếu[34], Quang bảo đem hai chuyện ấy ghi kèm vào đằng sau. Nay gởi cho ông ba bản, đọc rồi sẽ tự biết (với Đa Đa Ha Bồ Tát, Quang bảo họ lập riêng một điện để thờ phụng, chớ nên kèm thêm vào nghi thức Niệm Phật để khỏi làm cho người khác nghe rồi dị nghị). Dự vào liên xă niệm Phật th́ một là phải bôn ba, hai là phải bỏ công chuyện hiện thời. Ở nhà tùy phần tùy sức niệm Phật, lợi ích rất lớn. Mỗi tháng một lần hoặc hai lần, đề xướng diễn thuyết trong liên xă khiến cho mọi người biết được pháp tắc, lợi ích, c̣n lúc b́nh thường cần ǵ cứ phải hằng ngày đến liên xă niệm Phật? Đây chính là ư kiến chánh của Quang kể từ khi lập Niệm Phật Lâm Xă đến nay.

Đệ tử Phật há nên kỷ niệm những thánh đản của Đạo Giáo? Nếu nói là [thói quen] thế tục lưu truyền khó dứt th́ vẫn nên lấy niệm Phật làm chánh. [Thần thánh trong] Đạo Giáo thuộc về thiên, tiên, quỷ thần, là một trong ba thứ đó. V́ họ niệm Phật chính là để tăng trưởng thiện căn xuất thế cho họ, tiêu diệt ác nghiệp đời trước cho họ. Ông chẳng thấy trong lời hồi hướng khóa sáng có câu: “Hồi hướng hộ pháp chúng long thiên, thủ hộ già lam chư thánh chúng” (hồi hướng cho các trời rồng hộ pháp, các vị thánh ǵn giữ, bảo vệ nhà chùa) đó ư? Phương Nam thường đọc là Tam Bảo, c̣n phương Bắc thường đọc là “hộ pháp”, hợp với ư nghĩa hơn. Thiên, tiên, quỷ thần đều xếp vào hàng hộ pháp. V́ hàng long thiên hộ pháp mà niệm Phật là đúng với chánh lư. Nếu niệm những kinh ngụy tạo như kinh Ngọc Hoàng[35] v.v… sẽ trở thành tà kiến.

Phật pháp suy vi đều là do tục tăng chẳng biết Phật pháp, dùng những kinh ngụy tạo như Huyết Bồn Kinh, Thọ Sanh Kinh để làm đạo trọng yếu nhằm cầu tiền tài. Từ đấy, những “Phật sự” như phá huyết hồ, phá địa ngục, hoàn tiền thọ sanh, gởi kho v.v… ngày thấy càng nhiều. Tuy lừa được tiền của kẻ ngu, nhưng lại khiến cho người có học vấn hiểu rơ lư lẽ thế gian nhưng chẳng biết chân lư Phật pháp hủy báng. Tục tăng chỉ cốt được tiền, chẳng đoái hoài cái họa hoại diệt Phật pháp sâu xa của những loại “Phật sự” ấy. Nếu gặp kẻ có chân tri chánh kiến đem chi phí làm những thứ “Phật sự” ấy để [dùng vào việc] niệm Phật th́ lợi ích lớn lắm!

      2) Thư chuẩn bị xong, pháp danh của hai mươi bốn người mỗi tên đều ghi ra giấy riêng. Quy y tuy dễ dàng, nhưng chớ nên vẫn giữ chương tŕnh của ngoại đạo. Quang mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, chẳng thể khai thị nhiều. Nay gởi hai mươi bốn cuốn Gia Ngôn Lục, mỗi người một cuốn, ba mươi tờ “Một Bức Thư Gởi Khắp”, mỗi người một tờ, số c̣n dư tùy ư đem tặng, ba bản Tịnh Độ Tập Yếu, ba cuốn Sức Chung Tân Lương, hai loại này dùng để giúp cho việc đề xướng.

Hăy nên bảo với bọn họ: Đă quy y Phật pháp làm đệ tử Phật, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, giữ tâm lành, nói lời lành, làm chuyện lành, hành như vậy mới là đệ tử Phật thật sự. Nếu miệng tuy niệm Phật, nhưng tấm ḷng chẳng lành sẽ tương phản với khí phận của Phật, chẳng thể được lợi ích thật sự nơi niệm Phật! Hăy nên thường xem Gia Ngôn Lục th́ tất cả lợi ích của pháp môn sẽ đều biết rơ từng điều. Thêm nữa, Một Lá Thư Gởi Khắp chính là nghi thức, quy cách giản tiện để tu tŕ hằng ngày. Bài văn ấy văn từ tuy thiển cận, nhưng lư thật thâm sâu, hăy nên dùng làm của báu gia truyền vĩnh viễn. Những điều khác đă nói tường tận trong Gia Ngôn Lục, ở đây không viết cặn kẽ nữa.

 

76. Thư trả lời cư sĩ X…

     

      Con người sống trong thế gian, quư ở chỗ giữ bổn phận. Phàm hết thảy những kẻ phát điên phát cuồng thậm chí thường hay sanh ḷng bi quan, thường muốn tự sát, đều là do chẳng tu thật hạnh, muốn được đại hạnh phúc, mọi chuyện đều như ư, tài, sắc, danh vị đều hơn người. Nếu đời trước tu tŕ có si phước, được thỏa ḷng mong mỏi ấy, bèn kiêu ngạo, xa xỉ, dâm dật, không ǵ chẳng làm. Cái họa như thế so với chuyện tự sát c̣n nặng gấp vạn lần! May là chưa đạt được, nên c̣n chưa đến nỗi khốc liệt như thế. Ông muốn tiêu phiền năo ấy, hăy nên mọi chuyện đều giữ phận, chẳng nên dấy lên mảy may vọng niệm nào muốn vượt ngoài bổn phận!

Tùy duyên làm việc, nếu làm tôi tớ của người khác, ắt phải tận hết chức phận tôi tớ của ta, chẳng lấy đó làm thẹn, và ôm giữ tấm ḷng “ta vốn chẳng có tư cách làm tôi tớ, nay được làm tôi tớ, ta phải tận hết chức phận làm tôi tớ của ta”, chẳng sanh tâm hợm ḿnh khinh người. Chủ nhân biết đến ta, ta cũng chẳng vui. Chủ nhân không biết, ta cũng chẳng bực. Ta trọn hết phận ta, biết hay không mặc người! Tâm không so đo, ḷng không uất ức. Làm tôi tớ như thế, chủ sẽ tôn kính như thầy, chẳng dám coi như tôi tớ. Nếu v́ ta khéo tận hết chức phận tôi tớ của ta, người khác chẳng dám coi ta là tôi tớ, kính trọng ta như thầy, ta vẫn chẳng khởi cái tâm tự cao tự đại, biết tớ hay thầy đều là giả danh, tận hết chức phận của ta mới là thật hạnh. Chỉ sợ hạnh chẳng xứng với danh, mặc kệ người ta đăi ngộ [như thế nào]. Bậc đại nhân thời cổ tuy gặp lúc cùng quẫn chẳng thể sống được, cũng chẳng có ư niệm lo buồn, uất hận, dẫu cho sang quư như bậc thiên tử, giàu trùm thiên hạ, vẫn giữ thái độ như kẻ nông phu nơi rẫy bái. Đấy gọi là “phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (phú quư chẳng phóng túng, nghèo hèn chẳng đổi dời [ư chí], oai vũ chẳng khuất phục), nên người quân tử v́ vậy luôn thản nhiên, thảnh thơi! Nếu không, kẻ tiểu nhân cứ thường phải lo nghĩ!

Ông muốn cầu Quang trừ căn bệnh của ông, nhưng đối với những chữ [ông dùng] trong lá thư này, đúng là phải dần dần châm chước mà xem mới hiểu được đó là chữ ǵ, mới hiểu thư nói về ư ǵ. Do vậy, Quang biết ông chí lớn, ăn nói lớn lối, chứ tuyệt đối chẳng chú trọng tận lực làm. Nếu yên phận chẳng khoe khoang, nào chịu nêu ra yêu cầu lớn nhất, dùng những chữ hết sức khó nhận biết này, khiến cho người khác phải tốn khá nhiều tâm tư để đọc thư của ḿnh, v́ ḿnh lập cách giải quyết nỗi sầu muộn cho ḿnh! Nếu ông có địa vị lớn th́ hết thảy những lời phê phán không biết sẽ choáng lộn, cầu kỳ đến đâu! Như chữ viết của ông Phùng Mộng Hoa, viết mười bức thư có đến chín bức người khác chẳng nhận biết được toàn bộ mặt chữ, đến nỗi con chết, cháu chết, đứa cháu nuôi để nối ḍng cũng chết, quá nửa là do chữ viết vậy. Ông đừng coi đó là điều lạ lùng, đặc biệt!

Phàm viết chữ phải sao cho người ta vừa nh́n liền hiểu ngay th́ mới là cái tâm của vị đại quân tử vừa lợi người vừa tự lợi. Ông Phùng gởi thư cho Quang, Quang phí rất nhiều công phu chỉ nhận được [mặt chữ] tám phần. Quang viết lại cho ông ta, nói: “Thư của ông Quang chỉ đọc được tám phần, nhưng cũng hiểu ư. Nếu là người không thông thạo mặt chữ cho lắm th́ sẽ bị hư chuyện không ít! Mong từ rày đừng dùng kiểu đó nữa để mong lợi khắp mọi người”. Về sau, ông ta viết thư cho Quang, dùng lối chữ Khải, Quang cho rằng ông ta đă đổi thói quen. Hỏi tới người khác th́ ra ông ta vẫn giữ nguyên thói cũ. Ông đă phẫn chí muốn tự sát, sợ rằng những ǵ Quang nói ông chẳng cho là đúng!

Trước kia một sĩ quan là người huyện Phiền Trĩ tỉnh Sơn Tây, họ Tục, do quốc gia chẳng được thái b́nh, đến lăng của Tôn Trung Sơn (Tôn Văn) mổ bụng, được người khác cứu nên chưa chết. Một đệ tử nghĩ là ông ta do đau ḷng cho đất nước nên tự sát, liền đặc biệt khuyên ông ta đến Tô Châu quy y. Ông ta ở Tô Châu nhiều ngày, vợ con cũng đi theo. Một bữa nọ, dẫn con gái và đứa hầu đi theo, đứa con gái đă lên mười, đứa hầu đă gần ba mươi. Ông ta tṛ chuyện với Quang, đứa con gái và đứa hầu chơi giỡn. Ông ta quở mắng, đứa con gái không nghe, liền nổi giận quát mắng. Chúng hơi yên lặng được một khắc, lại nghịch giỡn. Quang hiểu ông ta chỉ biết uất đời, chứ hoàn toàn chẳng có tài giữ yên cơi đời. Chỉ có một bé gái ở chỗ Quang mà c̣n không kiềm giữ được, huống chi là cầm quân! Chẳng thể dạy con cái làm sao huấn luyện binh sĩ được? Nói chuyện này, sợ ông chẳng cho lời Quang nói là đúng, nên mới nêu ra một chứng cớ.

Nay gởi cho ông một bộ An Sĩ Toàn Thư, một cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn (văn chương lẫn nghĩa lư đều chu đáo đến cùng cực), một cuốn Gia Ngôn Lục, một cuốn Tọa Hoa Chí Quả[36], một cuốn Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, một bộ Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, hễ lắng ḷng đọc ắt sẽ mong thật hành. Đừng đọc theo kiểu cưỡi ngựa vùn vụt xem đèn, th́ mọi chuyện trước kia sẽ giống như đă chết từ hôm qua, mọi sự từ rày sẽ giống như được sanh trong hôm nay. Phàm những tập khí trước kia chẳng để chớm lên trong tâm nữa, ngơ hầu mong thành thánh thành hiền. Tiến thêm nữa là niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ liễu sanh thoát tử siêu phàm nhập thánh, măi măi ĺa các khổ, thường hưởng pháp lạc.

Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều không đủ, bất luận ông nghĩ là đúng hay sai cũng đừng gởi thư đến nữa, cũng như chẳng chấp thuận ông giới thiệu người khác đến quy y. Nếu thỉnh kinh nơi Hoằng Hóa Xă cũng đừng gởi kèm thơ cho Quang. Gởi riêng hay gởi kèm đều chẳng trả lời v́ chẳng có mục lực lẫn tinh thần để thù tiếp. Cổ nhân nói: “Bậc quân tử tận lực thực hành th́ được một câu nói tốt lành sẽ thọ dụng suốt đời không hết. Nếu chẳng chăm chú tận tụy thực hành, dẫu đọc hết sách vở thế gian, đối với chính ḿnh vẫn vô ích!” Như rồng thật hễ được một giọt nước liền có thể làm mưa khắp cả thế giới; rồng đất dẫu ngâm trong nước cũng chẳng khỏi cái họa táng thân!

 

77. Thư trả lời cư sĩ Giang Hữu Bằng

 

      Bài Đại Học Tán (ca ngợi sách Đại Học) rất hay, nhưng Quang có mắt như mù, sư Đức Sâm suốt hai ba năm lo việc tài sản nhà chùa ở Giang Tây[37], mệt nhọc đă thành bệnh, chẳng dám dụng tâm. Người trong Hoằng Hóa Xă không có công phu học thức ấy, chẳng thể đứng in giùm những trước tác của cha ông được! Khi đă gom thành sách, hăy tự đứng ra in. Nay đem bài tán này và những bản thảo trước đây gởi lại để khỏi bị thất lạc. Hữu Trinh giữ ḷng trinh, nhưng vẫn c̣n chú ư đến thuốc men, đáng gọi là kẻ si! Những hành động sợ hăi, băn khoăn cho sự đói lạnh ấy đều là do vọng tâm “đang hưởng phước mà không biết là có phước” gây nên. Nếu chịu nghĩ: Giả sử ta sanh vào nhà nghèo túng, suốt ngày quanh năm bận bịu cơm áo mà vẫn khó được thỏa nguyện th́ chẳng muốn làm người nữa hay chăng?

Cổ nhân nói:

Tha kỵ tuấn mă, ngă kỵ lư.

Tồn tế tư lượng ngă bất như.

Hồi đầu hựu kiến thôi xa hán.

Tỷ thượng bất túc, hạ hữu dư

(Tạm dịch:

Người cưỡi ngựa, ta cưỡi lừa,

Xét soi cho kỹ, ta thua xa người

Ngoảnh đầu thấy gă đẩy xe,

Nh́n lên thua kém, dưới ai bằng ḿnh?)

Đây lời đề thơ cho bức tranh Hành Lạc. Trong bức tranh ấy, phía trước là một người cưỡi ngựa, ở giữa là một người cưỡi lừa, phía sau là một người đẩy xe. Nếu Hữu Trinh hiểu được ư này, nhất tâm cầu sanh Tây Phương, sẽ lành bệnh si, chánh trí mở mang th́ mới đáng gọi là Huệ Trinh. Nếu không, sẽ thành Si Trinh! Trinh đă kèm theo si th́ sanh về Tây Phương cũng chẳng dễ dàng đâu! Chịu uống phương thuốc này th́ may mắn lắm!

Về giấc mộng của ông th́ chính là do tâm ông biến hiện, không dính dáng chi đến Quang! Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, làm sao hiện trong giấc mộng của người khác cho được? Nghi vấn của Du Hữu Phương và những ǵ nói trong mộng phù hợp với những ǵ đă được viết trong thư Quang, đấy là Bồ Tát chỉ dạy ông ta ḥng sanh chánh kiến. Kinh dạy: “Nên hiện thân nào để độ được, liền hiện thân ấy để thuyết pháp”, núi, sông, cây, cỏ, cầu, bến, đường, nẻo, người, ngựa, binh, tướng, không ǵ chẳng tùy cơ mà hiện! Nếu nói đấy chẳng phải là Bồ Tát hiện mà chắc là do Quang hiện th́ núi, sông, cây, cỏ, cầu, bến, đường, nẻo, người, ngựa, binh, tướng cũng có thể hiện mộng cho người, có lư ấy hay chăng? Ông đừng có si dại tưởng là Quang. Nếu si dại cho là Quang sẽ thành ra “đem phàm lạm thánh”, th́ ông lẫn Quang đều mắc tội chẳng cạn đâu, nhớ kỹ nhé!

Căn bệnh lắc đầu của cha ông chính là dấu vết cho thấy chẳng thể lành bệnh, nhưng do niệm Phật sẽ có thể được lành bệnh. Ông muốn cụ được hết bệnh hoàn toàn th́ cũng có cách. Ông cùng Huệ Trinh và vợ ông ba người chí thành niệm Quán Âm cầu gia bị. Nếu thật sự chí thành, chắc chắn cụ có thể lành bệnh v́ cha con có sẵn mối liên quan bẩm sanh. Năm Dân Quốc thứ 10 (1921), ông Hoàng Hàm Chi và vợ ăn chay trường, bà mẹ tám mươi mốt tuổi, khuyên cụ ăn chay, cụ không mở miệng. Dọn thức ăn chay, cụ không nuốt thức ăn, chỉ ăn cơm trắng. Quang dạy họ sám hối thay cho mẹ, chưa đầy một tháng, cụ liền ăn chay trường. Do mối liên quan bẩm sanh, hễ chí thành ắt sẽ cảm động được Phật, Bồ Tát!

 

78. Thư trả lời cư sĩ Trác Trí Lập

 

      Con người và trời đất cùng xưng là Tam Tài, chẳng phải là chuyện xuông, mà ắt phải có công tham dự, giúp đỡ sự sanh trưởng, th́ mới chẳng thẹn! Nếu không, thịt đi thây chạy, suốt đời ô uế trời đất, sao có thể gọi là Tam Tài cho được? Nếu lănh hội được ư này, đem [áp dụng vào việc] dạy dỗ bọn trẻ, ắt sẽ có thể tận tâm kiệt lực, đem tài năng ra dạy dỗ, trước hết lấy đạo đức làm gốc, rồi mới đến văn chương là ngọn. Thường luôn giảng nói hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, khiến cho chúng nó biết đạo làm người, khởi tâm, động niệm, cư xử, nói năng đều thuần thiện, tạo thành cơ sở có thể dự vào bậc thánh. Kinh Dịch nói: “Mông dĩ dưỡng chánh, thánh công dă” (dạy cho bọn trẻ nhỏ lẽ chánh, công lao [bằng với công lao] của bậc thánh nhân vậy) tức là nói về điều này. Nếu có thể dùng cái tâm này để dạy người th́ học vấn lẫn phẩm đức của chính ḿnh ngày càng tươi sáng, con người sẽ được cảm hóa, chẳng đợi phải đốc thúc, quở trách mong cho họ sẽ thuận theo. Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm. Hiện thời nước loạn, dân khốn đốn, anh em cùng một nhà đánh nhau, tranh đua muốn tàn hại lẫn nhau, dân không lẽ sống đều do cha mẹ trong gia đ́nh không khéo dạy, thầy giáo trong nhà trường không khéo dạy, đến nỗi kẻ có thiên tư quen thói làm xằng, đứa không có thiên tư cam ḷng làm kẻ giặc bướng bỉnh.

Ông giữ được tấm ḷng “gốc chánh, nguồn trong” để làm chuyện vun trồng nhân tài, tức là chẳng có địa vị mà nắm quyền cai trị, chẳng lên ṭa mà thuyết pháp vậy, c̣n vui nào hơn? Đối với việc niệm Phật, nào có trở ngại chi? Sáng - chiều tùy sức xưng niệm. Ngoài ra, [những lúc] chẳng cần vận dụng tâm tư, hễ thuận tiện bèn niệm, chỉ cần đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha sẽ tự được văng sanh. Nếu cứ nói: “Bận rộn cày cấy sẽ dễ niệm Phật”, chẳng biết lúc bận rộn cày cấy, do khổ sở nên chắc chắn chẳng thể niệm được. Ông nghĩ như vậy đều là chẳng chú trọng tự phản tỉnh, là t́nh kiến “đứng núi này thấy núi nọ cao hơn”, chứ không phải là chánh trí thấu hiểu sâu xa tự tâm, hiểu thấu triệt để nguyên nhân trong thế gian vậy. Ông chỉ nên “đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” kiêm dùng tín nguyện tŕ danh để cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều ấy để tự hành, dạy người, dẫu chẳng có thể thành tựu lớn lao, nhưng cũng có thể chẳng thẹn làm người, chẳng thẹn làm thầy, đội trời đạp đất vậy!

 

79. Thư gởi cho cư sĩ Lư Huệ Trừng bàn về chuyện [xử trí] tro thiêu hóa kinh và tiền văng sanh

(năm Dân Quốc 23 - 1934)

 

       Chuyện đốt kinh [cũ rách] tuy có công đức, nhưng chúng tôi chẳng dám đề xướng, bởi kẻ thô tâm th́ nhiều, họ thường đốt lẫn với tro giấy vàng mă. Tro giấy vàng mă đem bán cho người buôn tro, họ sẽ lược tro giấy để giữ lại những mảnh thiếc đem bán, chẳng khác ǵ vứt tro kinh ấy vào đống rác hay chăng? Ai chịu cẩn thận dùng riêng vật dụng khác để thiêu, rồi đem tro ấy bỏ trong sông cái, biển cả hay chăng? Quang lúc mới xuất gia thấy [khi nhà chùa làm lễ] phóng Mông Sơn[38], đốt ngân phiếu, trong ấy có kèm thêm tiền văng sanh (in chú Văng Sanh giống như đồng tiền nên gọi là Văng Sanh Tiền). Lúc thiêu th́ đốt rồi cầm trên tay, khi lửa cháy đến tay không cầm được nữa bèn vứt đi, thường là chưa cháy hết, mỗi tờ có nhiều chữ chưa cháy.

Năm Quang Tự thứ mười sáu (1890), tại chùa Long Tuyền ở Bắc Kinh, buổi sáng ra khỏi cửa chùa, thấy trong đống giấy đă đốt để tiễn cô hồn trong lễ Phóng Diệm Khẩu hồi đêm có xấp tiền Văng Sanh dày độ hai tấc, chỉ cháy một nửa, Quang nhặt lấy bỏ trong sọt đựng giấy chữ. Nếu tro ấy bị kẻ hầu quét dọn th́ có khác ǵ bị quăng trong đống rác hay chăng? Do vậy, biết rằng: Bất luận cách nào cũng đều cần phải có người cẩn thận để làm. Nếu người phô trương làm th́ chưa được lợi ích mà đă bị họa trước! Mấy năm trước, chùa Thái B́nh bán giùm kinh Kim Cang viết bằng chữ son[39] cho Tô Châu Ẩn Bần Hội thuộc chùa Linh Ẩn ở Tô Châu, ḥa thượng Chân Đạt nghe Quang nói bèn thôi, chẳng bán nữa. Nếu có người tặng cho kinh Kim Cang viết bằng chữ son, bất tất phải đốt trong khi làm Phật sự, sợ rằng không có người chú tâm cẩn thận để lo toan th́ sẽ mắc phải tội trên đây!

Hăy nên ở chỗ thanh tịnh trong nhà, dùng một cái nồi lớn hoặc một cái chậu sắt Tây to, phía dưới lót giấy thiếc, đặt kinh lên trên, phía trên lại phủ giấy thiếc để khỏi bị bay lung tung. Chờ khi lửa tắt, thu lấy tro ấy chứa trong đăy vải mới, bên trong lại bỏ thêm cát sạch, hoặc đá sạch, ngói sạch, bỏ nơi chỗ sâu trong sông hay biển, để khỏi mắc lỗi. Nếu chẳng bỏ thêm cát đá bên trong, [đăy tro] sẽ nổi lên không ch́m, lại trôi tấp vào bờ, rốt cuộc bị ô uế. Đốt kinh mà dụng tâm như vậy ắt có công đức, ắt chẳng bị tội khiên. Nếu không, tôi chẳng dám nói!

Những kẻ đốt kinh kia, có ai không đốt lẫn với giấy vàng bạc? Ở phương Nam giấy vàng bạc tốt, người ta chẳng chịu đốt trên đất. Ở Bắc Kinh giấy vàng bạc xấu tệ, các chùa đều chẳng biết kính tiếc chữ. Hễ người ta làm Phật sự, thường hay đem sớ văn đốt trên đường trước cửa nhà, hoàn toàn chẳng dùng đồ chứa đựng. Người, thú giày xéo, lỗi ấy chẳng nhỏ! Tập quen thành thói, đáng đau xót thay! Đối với chuyện này, về phần chúng ta nên thầm lặng tự giữ.

Như khăn vuông lót tay để lễ Phật của nữ nhân ở phương Nam có in danh hiệu của Phật, Bồ Tát, trên đó có đóng dấu các chùa, trải lên đất để lễ Phật, hoặc dùng để lót ngồi. Phong tục xấu xa này lưu truyền khắp xa gần. Năm Quang Tự hai mươi mốt (1895), ở chùa A Dục Vương, Quang thấy một phụ nữ dùng miếng vải ấy để lót ngồi, do đấy, bèn nói với vị điện chủ điện Xá Lợi, điện chủ nói: “Đấy là phong tục của vùng này”, có ư cho rằng Quang lắm chuyện! V́ thế, trong Phổ Đà Chí có nói đến tội lỗi ấy, không biết có ai chịu lưu tâm hay chăng?

Thế gian chẳng biết có bao chuyện chẳng thể suy xét đến tận cùng, do đă thành thói quen, ai cũng cho là có lư. Như người ăn mặn cho kẻ ăn chay là không tốt lành, bất lợi cho con cháu; nếu ăn chay trường sẽ làm cho con cháu đoạn tuyệt! Rốt cuộc có kẻ tin theo, chẳng bằng ḷng cho cha mẹ ăn chay trường. Những lời ngoa truyền ấy trọn khắp các nơi. Lại nữa, hễ có người sanh nở th́ có kẻ niệm Phật trọn chẳng dám gần. Lại có người chẳng nh́n người chết, chẳng nh́n cô dâu mới cưới, cũng như phá địa ngục, phá huyết hồ, trả tiền Thọ Sanh. Những chuyện vô lư ấy, những ông sư phàm tục v́ cầu lợi bèn làm cho người ta, kẻ vô tri v́ để tiêu tội bèn bỏ tiền mời người làm, c̣n đối với pháp môn Niệm Phật thật sự được lợi ích lại coi thường!

Vào năm Dân Quốc 18 (1929), Long Tử Tu, Bộc Thu Thừa tính dùng một ngàn sáu hay một ngàn bảy trăm đồng để làm một hội Thủy Lục[40] tại Bảo Hoa Sơn, nói với Quang. Quang bảo đem tiền ấy để tổ chức Niệm Phật Thất, bọn họ liền bỏ đi không làm, chỉ dùng mấy trăm đồng để niệm Phật. Nếu Quang tán thành họ làm đàn Thủy Lục th́ hai người [mỗi người] đều phải tốn hơn tám trăm đồng, đủ thấy người thế gian phần nhiều thích chuyện náo nhiệt phô trương, chứ không phải là chân thật cầu siêu cho người đă khuất và phổ độ cô hồn! Giấy vàng bạc cũng chớ nên bỏ, mà cũng không nhất định phải thiêu bao nhiêu. Cần biết: Đây là thứ dùng để cứu giúp cô hồn, chứ Phật Bồ Tát và người văng sanh trọn chẳng dùng đến. Cũng là nhờ Phật lực, pháp lực, tâm lực mà biến ít thành nhiều. Nếu mỗi người đều được một tờ th́ dù số đến ngàn vạn vạn tờ cũng chẳng thể trọn khắp được v́ cô hồn và quỷ thần trọn khắp hư không vậy! Nếu biết nghĩa “biến ít thành nhiều” th́ cái tâm cứu tế cô hồn cũng trọn hết, mà cũng không mắc lỗi quá sức phung phí. Ấy là do ḷng ai nấy chí thành làm th́ tâm lực trọn khắp, của cải trong cơi âm cũng được trọn khắp theo!

 

80. Thư giới thiệu sử dụng xà-pḥng Tam Tinh làm bằng chất béo thực vật

(năm Dân Quốc 18 - 1929)

 

      Nỗi thảm sát kiếp trong cơi đời gần đây [đúng là] xưa nay chưa từng nghe đến; xét đến cội nguồn, phần nhiều là do sát sanh ăn thịt mà ra. Muốn cứu văn, nếu không từ đề xướng nhân quả báo ứng khiến cho hết thảy mọi người cùng phát cái tâm “dân như người ruột thịt, vật giống hệt như ta”, đều cùng kiêng giết ăn chay, sẽ không thể có cách nào đạt hiệu quả cho được! Ngoài chuyện ăn thịt ra, phàm với những chuyện ǵ có thể dấy động cơ duyên giết chóc đều phải lập cách sửa đổi. Như do từ chuyện [chế biến] xà-pḥng mà sát sanh th́ cũng không thể kể hết được số. Bởi lẽ, xà-pḥng dùng mỡ [động vật] mới khử được hờm. Những thứ chất béo khác không có tánh ngưng kết, hoặc tuy có tánh ngưng kết nhưng đều mắc quá. V́ vậy, đều dùng mỡ ḅ để làm. Ḅ là loài gia súc có công lớn đối với con người; do điều này, chúng bị giết không thể tính toán được, thật là một chuyện đáng ngậm ngùi lắm!

Mấy năm trước, cư sĩ Châu Văn Minh và một vị Tăng ở Phổ Đà sáng chế một loại xà-pḥng làm bằng dầu thực vật, Quang đă từng thuyết minh căn cội của nó, báo với tứ chúng, hầu như được hết thảy thiện tín tán thành, chấp thuận. Tiếc là nguồn vốn không bao nhiêu, chẳng đầy mấy tháng bèn lỗ vốn, phải đ́nh chỉ. Sau này xưởng xà-pḥng và nến Nam Dương làm kèm thêm xà-pḥng bằng dầu thực vật, do giá thành cao nhưng lợi tức kém nên cũng lại đ́nh chỉ. Ba bốn năm trước, thường có Phật giáo đồ từ phương xa gởi thư hỏi Quang chỗ bán, muốn mua về dùng. Cũng có người muốn đứng làm đại lư bán lại. Quang thường đem chuyện ấy ghim trong ḷng, mong có người phát tâm “cứu sanh mạng, ngăn giết” lại làm xà-pḥng bằng chất béo thực vật để cởi gỡ mối lo buồn kín đáo của tôi th́ c̣n may mắn nào hơn!

Tháng Mười năm ngoái, Tổng Lư (giám đốc) của Trung Quốc Hóa Học Công Nghiệp Xă tại Thượng Hải là Phương Dịch Tiên cùng mẹ và vợ đến quy y. Quang hỏi: “Ông có làm xà-pḥng hay không?” Thưa: “Có làm ạ!” Quang dặn nên làm xà-pḥng bằng chất béo thực vật. Ông ta thưa: “Vâng”, chỉ nói: “Xà-pḥng bằng chất béo thực vật giá thành khá cao. Nếu để giá cao, người ta không chịu dùng. Do vậy, các xưởng chế tạo xà-pḥng đều chẳng chịu làm. Đă vâng lời thầy dạy, sẽ thỏa nguyện thầy, nhưng nếu không nghiên cứu nhiều cách sẽ không thể được. Khoảng giữa Xuân và Hạ năm sau sẽ có thể làm ra được sản phẩm”. Đến đầu tháng Ba năm nay, ông ta đến gặp Quang, nói: “Xà-pḥng bằng chất béo thực vật th́ khuôn và đồ đựng đều chế tạo ổn thỏa rồi, nhưng pḥng xưởng chưa đủ dùng, hiện đang xây cất, đến giữa tháng Tư sẽ có thể bán ra được”. Quang nghe xong, khôn ngăn mừng rỡ.

Mạnh Tử có nói: “Thỉ nhân khủng duy bất thương nhân, hàm nhân duy khủng thương nhân” (Người chế tạo mũi tên chỉ sợ chẳng làm người khác bị thương, người chế tạo áo giáp chỉ sợ người khác bị thương). Cùng là kiếm lời, nhưng từ bi hay tàn nhẫn, tội hay phước khác biệt lớn lắm! Chỉ một hành động này không biết đă bớt giết bao nhiêu sanh mạng. Đúng là “nghệ dă nhi tấn hồ đạo hỹ” (nghề nghiệp là để tăng tấn đạo vậy). Mong sao hết thảy mọi người cùng hàng với tôi đều dùng loại xà-pḥng bằng dầu thực vật này th́ hết thảy những xưởng chế tạo xà-pḥng bằng mỡ động vật phải đổi sang làm xà-pḥng bằng dầu thực vật ngơ hầu được mọi người chiếu cố, quyết chẳng v́ giá thành của xà-pḥng bằng mỡ động vật rẻ hơn mà chẳng chịu thay đổi. Quang già rồi, tinh thần ngày càng giảm, việc thù tiếp ngày càng nhiều, sau Thu sẽ náu ḿnh ẩn kín măi măi. Sợ rằng có lẽ các Phật giáo đồ đồng hàng với tôi tại các tỉnh không biết nên tôi bảo ông ta in ra bảng giá để mọi người đều biết.

 

81. Thư gởi cư sĩ Minh Quang

 

      Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn b́nh thường nhất nhưng cao sâu nhất trong Phật pháp. Nếu không phải đời trước sẵn đủ huệ căn, quả thật khó thể sanh chánh tín sâu xa. Đừng nói nhà Nho chẳng dễ sanh ḷng tin, ngay cả bậc tri thức thông Tông thông Giáo cũng thường dựa theo ư nghĩa trong Tông - Giáo để luận định, phán đoán, đến nỗi đối với pháp “khiến cho hàng phàm phu sát đất chưa đoạn Phiền Hoặc mà được liễu sanh thoát tử siêu phàm nhập thánh ngay trong đời hiện tại” chẳng thể nghĩ bàn này họ chẳng những không chịu tự tu mà c̣n chẳng chịu dạy người khác tu, v́ họ chẳng biết pháp này chính là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp, cứ lấy giáo nghĩa của Tông - Giáo làm chuẩn, nên mới phạm những lỗi lầm ấy. Nếu thoạt đầu họ liền biết được nghĩa này th́ lợi ích lớn lắm. Người thông minh phần nhiều chú trọng “hiểu lư để ngộ cái tâm”, chẳng biết niệm Phật chính là đường tắt để hiểu lư ngộ tâm.

Nếu có thể niệm niệm tương ứng th́ sẽ tự hiểu được lư, ngộ được tâm. Dẫu chưa làm được, bèn cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương, so với những kẻ “hiểu được lư, ngộ được tâm, nhưng chưa đoạn Phiền Hoặc, vẫn cứ luân hồi sanh tử, trọn không có lúc thoát ra”, th́ [sự khác biệt giữa] trời và đất đă chẳng đủ để sánh ví sự hay và dở. Huống chi đă văng sanh liền thân cận Phật Di Đà và thánh chúng, sẽ đích thân chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, há nào phải chỉ hiểu được lư, ngộ được tâm mà thôi ư! Pháp môn Tịnh Độ chỉ có bậc Thượng Thượng Căn và ngu phu ngu phụ mới được lợi ích thật sự, c̣n kẻ thông minh thông Tông thông Giáo phần nhiều do chí lớn, ăn nói lớn lối, chẳng chịu cậy vào Phật từ lực, cứ dốc chí cậy vào đạo lực của chính ḿnh, cam ḷng nhường cho ngu phu ngu phụ sớm dự vào ḍng thánh! Có lẽ trong quư ấp có kẻ mang kiến giải như vậy cho nên tôi mới nói sơ lược nguyên do.

Đă muốn quy y th́ nay đặt cho ông pháp danh là Khế Quang. Tiếng Phạn “A Di Đà”, cơi này dịch là Vô Lượng Thọ, hay cũng dịch là Vô Lượng Quang. Nếu có thể nhất tâm niệm Phật, th́ chính là lấy Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm. Nếu có thể tâm tâm tương ứng th́ nhân trùm biển quả, quả tột nguồn nhân, cực b́nh thường nhưng cực huyền diệu. Nếu có thể tin nhận th́ đáng gọi là bậc đại trượng phu lỗi lạc. Quang do túc nghiệp, sanh ra liền bị bệnh mắt, may c̣n được thấy bầu trời hơn bảy mươi năm. Nay th́ mắt hết sức yếu ḷa, cự tuyệt hết thảy những chuyện thù tiếp bút mực. Sợ ông bị dao động, bị thuyết phục bởi những kẻ đề xướng hướng dẫn thuộc những tông khác, nên đặc biệt nói đại lược hai nghĩa đặc biệt và thông thường, ngơ hầu chẳng đến nỗi biến khéo thành vụng, cầu thăng lên đâm ra đọa xuống!

Hăy nên thường xem Tịnh Độ Ngũ Kinh sẽ biết pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Tổng Tŕ để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Nếu vẫn chưa bị thuyết phục, hăy nên thường xem Tịnh Độ Thập Yếu th́ mọi thứ nghi ngờ sẽ tiêu tan, vầng trăng nhất tâm rạng ngời. Văn Sao tuy ngôn từ vụng về, chất phác, nhưng đă nêu tỏ đại lược về duyên do của Thiền và Tịnh, cũng như những điều có ích cho luân thường trong cuộc sống hằng ngày, cũng có thể giúp cho việc tự lợi, lợi tha.

 

82. Thư gởi cư sĩ Tự Giác

(năm Dân Quốc 16 - 1927)

 

      Chuyện trong thiên hạ có lư nhất định, chứ không có sự nhất định. Hăy nên dùng lư để định đoạt sự, dùng sự để luận lư, ngơ hầu phù hợp thiên lư, t́nh người th́ mới nên. Mạnh Tử dạy: Nam nữ thọ thọ bất thân vi lễ”[41] (Nam nữ trao và nhận [đồ vật], chẳng đụng chạm nhau, đó là lễ), [nhưng lại cũng] nói: “Tẩu nịch bất viện vi sài lang” (Chị dâu chết đuối không cứu th́ là loài lang sói). Trong lúc ấy, cố nhiên chẳng thể tuân theo lễ nghi trong lúc b́nh thường để luận được! Đứa con hiếu thờ cha mẹ không hề trái nghịch. Nếu cha mẹ mọc nhọt độc, c̣n phải dùng kim, dùi, dao, kim nạo để khêu, cắt, lại c̣n phải dùng hết sức nặn mủ đến khi thấy ra máu mới thôi, đấy cũng là chỗ thể hiện ḷng hiếu. Nếu sợ là mạo phạm, ngỗ nghịch th́ mạng sống của cha mẹ xong luôn! Nhưng chớ nên thấy có những người làm như vậy được cho là hiếu, để rồi cha mẹ không bị nhọt độc mà vẫn cứ khêu, cứ cắt như vậy sẽ trở thành đại nghịch bất đạo, trời sẽ nổi sấm xử tử.

Kinh nguyệt của nữ nhân là cố tật của quá nửa đời người, xảy ra độ mấy ngày, sao lại v́ thế liền ngưng niệm Phật? Lúc b́nh thường ắt phải hết sức sạch sẽ, chí thành, đến lúc ấy tuy thân thể chẳng thể hết sức sạch sẽ th́ càng nên chí thành gấp bội. Trong đồ lót phải chêm thêm vải lót dầy, đừng để máu dơ chảy ra Phật đường. Hễ tay sờ vào phần dưới thân ắt phải rửa sạch. Nếu lễ bái không tiện th́ ít lễ bái. Đối với việc niệm Phật, tụng kinh, cố nhiên dùng tâm hạnh chí thành cung kính th́ công đức chẳng giảm bớt so với lúc b́nh thường. Do Phật là cha mẹ đại từ bi của hết thảy chúng sanh, trong lúc bệnh ấy phát ra, nếu chí thành niệm Phật th́ Phật sẽ càng sanh ḷng xót thương gấp bội!

Như kẻ ngu chấp trước “hễ thân có bệnh chẳng sạch như vậy th́ chẳng thể niệm Phật”, [vậy th́] nếu con cái té trong hầm xí cũng chẳng thể gọi cha mẹ cầu cứu, có lẽ ấy hay chăng? Người niệm Phật nên đi, đứng, nằm, ngồi, tâm thường nghĩ nhớ. Lúc b́nh thời ở nơi sạch sẽ, hoặc lúc áo mũ chỉnh tề th́ niệm ra tiếng hay niệm thầm đều được. Chỉ lúc ngủ, đại tiểu tiện, trần truồng tắm gội th́ nên niệm thầm, chớ nên niệm ra tiếng. Nếu gặp tai nạn đao binh nước lửa th́ ở bất cứ chỗ nào, trong bất cứ trạng thái nào đều nên niệm ra tiếng, v́ niệm ra tiếng so với niệm thầm càng đắc lực hơn. Nếu khi nữ nhân sanh con, nên niệm ngay từ lúc chưa sanh và đến khi lâm bồn, tuy trần truồng chẳng sạch sẽ, vẫn nên niệm ra tiếng. Lúc ấy [là lúc] có liên quan đến tánh mạng, như té trong lửa nước cầu được cứu giúp, chẳng thể luận trên dáng vẻ chẳng đoan trang, ô uế, bất tịnh v.v…

Nữ nhân khó sanh chẳng phải là có oán thù với đứa con sắp sanh mà chính là oan gia đời trước, gây trở ngại hầu không sanh được, khiến cho bị đau khổ. [Sản phụ] niệm Phật và những người chăm sóc chung quanh đều cùng v́ người ấy niệm Phật th́ những kẻ oan gia kia nghe tiếng niệm Phật sẽ liền tháo lui, chẳng dám cản trở! Do vậy, càng phải nên dạy con gái niệm Phật từ nhỏ ngơ hầu diệt sẵn cái nạn này. Nếu là người lúc b́nh thường luôn niệm Phật chắc chắn sẽ chẳng đến nỗi có sự nguy nan này. Dẫu là người lúc b́nh thường chẳng niệm Phật mà [lúc ấy] có thể chí tâm niệm th́ chắc chắn cũng được dễ sanh! Kẻ ngu chấp lư hẹp ḥi, cho là hễ đàn bà trong nhà sanh con th́ cả nhà đều chẳng được cúng Phật, cũng chẳng được niệm Phật; nếu không, sẽ mắc tội! Đấy là chấp chết cứng vào toa thuốc để trị biến chứng, chỉ biết lẽ thường, chẳng biết quyền biến, đáng thương vậy thay!

Ông nên đem nghĩa này nói với những phụ nữ thân cận, láng giềng, th́ công đức ấy lớn lắm, lại chẳng tốn kém mảy may, có thể gọi là “cứu người từ lúc chưa nguy”. Nhưng cần phải phân biệt cặn kẽ, chớ nên cho rằng nữ nhân sanh con trần truồng, ô uế không trở ngại ǵ, [do vậy] lúc b́nh thường cũng trọn không kính sợ chi, chẳng cần phải sạch sẽ, th́ lại chuốc tội chẳng cạn! Lúc b́nh thường phải noi theo lẽ thường. Lúc có kinh nguyệt và lúc sanh con chính là lúc “biến lư” (lư thay đổi). Hăy xét kỹ thí dụ do Mạnh Tử và Quang đă nói sẽ tự biết rơ.

Nay gởi cho ông một bộ Văn Sao, một bộ An Sĩ Toàn Thư, một bộ Quán Âm Tụng, hai cuốn Thọ Khang Bảo Giám, xin hăy đọc kỹ. Văn Sao th́ chẳng những tu tŕ Tịnh nghiệp có chỗ làm căn cứ nương tựa, ngay cả những cách xử thế, giữ thân, tề gia, dạy con v.v… đều có nêu rơ. Trong đời hiện thời, ắt cần phải sốt sắng đề xướng nhân quả báo ứng. Dạy con cố nhiên là nhiệm vụ trọng yếu, nhưng dạy con gái càng quan trọng hơn dạy con trai, bởi lẽ con người lúc bé thường ở bên mẹ, nếu mẹ hiền th́ con cái cũng tự nhiên sẽ hiền. Do thường được un đúc nuôi dạy đă tập quen thành thói, đến khi lớn lên được cha dạy dỗ sẽ thuận chiều chỉ dạy, thật là dễ dàng. Đời hiện tại loạn đến mức như thế này đều là v́ không có hai thứ khéo dạy trên đây mà nên nỗi! Quang không có sức cứu văn kiếp vận, nhưng có tâm cứu đời, cho nên ở đây mới dài ḍng một phen. Nếu chẳng cho lời bàn của lăo tăng là viễn vông, hủ bại th́ may mắn lắm thay!

 

83. Thư trả lời cư sĩ Lưu Nhân Hàng bàn về chuyện hoằng dương nhân quả

 

Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, sao lại khen ngợi quá mức khiến Quang hổ thẹn không chốn nương thân! Thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian dùng sự lư nhân quả để b́nh trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Người đời nay đa phần chẳng cho như vậy là đúng, cứ làm riêng theo cách mới, đến nỗi chú trọng cạnh tranh, xâm đoạt để mong tăng lớn thế lực, mở rộng lănh thổ của ta, tàn sát lẫn nhau, trọn không ngưng dứt. Nhân họa đă khốc liệt, thiên tai lại giáng xuống. Vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống, đều v́ chẳng coi nhân quả báo ứng là đúng mà ra! Cái gốc họa này vấn vít kết lại đă lâu, nay đă dần dần bộc phát. Nào phải do một hai người tuyên truyền mà có thể văn hồi được ư?

Nguyện rộng sâu của các hạ Quang khâm phục cùng cực. Nhưng Quang đă trở thành phế nhân, chẳng những không thể tương trợ, mà cũng chẳng thể khuyên người khác tương trợ. V́ sao vậy? Do không có tinh thần ăn nói và không có mục lực để viết chữ. Trộm cho rằng tuyên truyền trong lúc sắp đánh nhau hay lúc sắp đánh nhau, cái tâm quyết liệt của đôi bên hơi khó buông xuống ngay lập tức được! Vừa uổng tiền tàu xe, vừa bị nguy hiểm. Chẳng bằng dứt lo, quên duyên, nhất tâm lễ tụng, cầu Tam Bảo ngầm rủ ḷng gia bị khiến cho những kẻ có quyền lực trong các nước diệt dứt ác niệm, phát khởi từ tâm. Nếu được cảm ứng, lợi ích ấy lớn lắm. Nếu chẳng thể cảm ứng nơi các nước th́ cũng sẽ ngầm kết pháp duyên với người các nước, lợi ích ấy cũng chẳng nông cạn đâu!

 

84. Thư trả lời cư sĩ Dương Phật Điển

 

      Nhận được thư, biết ông hằng ngày lễ tụng siêng năng, chuyên tinh, vui mừng, an ủi không chi sánh bằng! Bóng đen ông đă nói đó chẳng phải là bóng của Phật hay Bồ Tát mà cũng chẳng phải là bóng của oán gia đối đầu hiện ra. V́ Phật, Bồ Tát nếu đă hiện ắt sẽ sáng tỏ, thấy được mặt, mắt v.v… c̣n oan gia sẽ hiện tướng đáng sợ! Bóng ấy chính là cô hồn đă có duyên [với ông] trong đời trước, mong nhờ vào sức niệm Phật tụng kinh để được siêu sanh vào đường lành. Hăy nên sau khóa tụng v́ họ hồi hướng, lại c̣n chuyên hồi hướng cho họ, khiến cho họ tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện căn, nương Phật từ lực văng sanh Tây Phương th́ có ích cho họ, ngơ hầu chẳng phụ một phen họ khổ sở hiện bóng.

Lại nữa, phàm là người tu hành tâm phải có chủ ư, thấy cảnh giới tốt chẳng sanh hoan hỷ, thấy cảnh giới không tốt chẳng sanh sợ hăi. Được như thế th́ các cảnh giới đă hiện đều trở thành duyên trợ đạo. Nếu không, chúng đều trở thành duyên chướng đạo. Thêm nữa, phàm là người tu hành đều nên lấy chí thành cung kính làm gốc, giữ ḷng từ bi khiêm tốn. Ḷng nghĩ, thân làm tuy chẳng thể hoàn toàn tương ứng với Phật, nhưng cần phải nỗ lực gắng công ngơ hầu chẳng trái nghịch tâm hạnh của Phật, th́ mới đáng gọi là người tu hành thật sự, là đệ tử Phật thật sự.

 

85. Thư trả lời cư sĩ Thôi Đức Chấn (năm lá thư)

(năm Dân Quốc 21 - 1932)

 

      1) Hết thảy chúng sanh đều sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức. Nay đă phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt thành tận kính tu tŕ th́ Tu Đức chẳng thể tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền năo ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng thể hiển hiện được! Như mặt trời trong mây, trọn chẳng thấy được tướng sáng. V́ thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế gian. Lại phải cạn ḷng thành, tột ḷng kính, sanh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương để tu pháp xuất thế gian. Trong thế gian, học một tài, một nghề đều phải dốc hết toàn bộ tinh thần th́ mới có thể thành được.

Nay là phàm phu sát đất lại muốn ngay trong đời này siêu phàm nhập thánh liễu sanh thoát tử, há chẳng phát khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao nâng cao tinh thần mà thành được ư? Ư nghĩa của chữ Đức Chấn là như vậy đó. Nếu có thể mạnh mẽ dẹp dứt th́ danh tương ứng với thật. Nếu không, chỉ là hữu danh vô thật! Đấy là do chính ḿnh phạm lỗi không thể mạnh mẽ dứt dẹp, chứ không phải là Phật pháp chẳng thể lợi người vậy!

      2) Bệnh đă sắp phát ra, do nhờ Đại Sĩ che chở nên được lành, lẽ ra nên sốt sắng coi trọng việc ấy, tu tŕ pháp môn Tịnh Độ trọng yếu bậc nhất này, sao lại ơ hờ đi hỏi chuyện chẳng cần kíp? Rốt cuộc, chẳng qua cũng là cùng một điệu bộ với kẻ đi đường hỏi lối, [do vậy tôi] biết ḷng tin các hạ đă nói ấy chỉ là ḷng tin hời hợt bên ngoài, cái hạnh các hạ đă nói đó chính là hạnh vui chơi. Nếu thật sự lấy chuyện này làm chuyện bậc nhất trong đời người th́ những ǵ được ẩn chứa bên trong sẽ lộ tướng ra bên ngoài, thoạt nh́n là biết ngay! Các hạ có câu hỏi th́ đă phúc đáp, có yêu cầu [kinh sách] cũng đă gởi qua bưu điện. Quang già rồi, tinh lực chẳng đủ, từ rày chớ nên gởi thư tới nữa! Gởi đến sẽ không trả lời, một là do không rảnh rỗi để thù tiếp, hai là do bận bịu quá nhiều chuyện.

Thứ nhất, Tâm Kinh[42] (bản dịch của ngài Huyền Trang) chính là bản dịch toát yếu, cho nên không có phần Chứng Tín Tự và phần kinh văn lưu thông. Nhưng bản dịch của ngài Bát Nhă[43] và Lợi Ngôn[44] đời Đường với bản dịch của ngài Thi Hộ đời Tống đều có cả.

      Thứ hai, hết thảy kinh chú tuy có các loại do Phật nói hay Bồ Tát nói khác nhau, tuy do Bồ Tát nói nhưng cũng đă được Phật chứng minh th́ đều có thể gọi là “Phật thuyết”. Ông cho đó là do đệ tử đức Phật trước thuật (người hỏi vốn dùng lầm chữ Trước thành chữ Bút), sao lại miệt thị kinh chú quá đáng vậy? Dùng cái tâm này để tụng kinh chú chắc chắn chẳng có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!

      Thứ ba, Tu La (Asura), cơi này dịch là Phi Thiên, nghĩa là có phước báo trời nhưng không có đức của chư thiên. Do họ có phước nên cũng được xếp vào thiện đạo. Do họ sân hận, kiêu mạn, tranh đấu nên cũng bị xếp vào ác đạo, v́ thiện - ác, tội - phước xen tạp vậy! Trong đời có kẻ tin Phật, nhưng thường lầm lạc tự nẩy sanh ư kiến, ôm ḷng nghi báng. Nói về phần được của người ấy th́ có gọi là bậc chánh tín, nhưng nói về chỗ mất của người ấy th́ cũng gọi là kẻ tà mê.

      Thứ tư, Sa Bà (Sahā) là tên chung của tam thiên đại thiên thế giới,

      Thứ năm, “kết già phu tọa” (ngồi kết già): Trước hết dùng chân phải đè lên đùi trái, dùng chân trái đè lên đùi phải, gọi là “già phu”. Chữ Già () vốn viết là chữ Gia (), có nghĩa là hai mu bàn chân đâu vào nhau. Phu () là mu bàn chân. Nhưng ngồi lâu th́ có thể thay đổi trái và phải cho nhau, đừng chấp chặt phải luôn luôn như vậy. Nếu chẳng thể xếp cả hai chân th́ chỉ cần dùng chân trái đè lên chân phải là được rồi. Cách này c̣n gọi là “bán gia” (thường đọc trại thành “bán già”).

      Thứ sáu, “giường to cao rộng” [được nói đến trong Bát Quan Trai Giới] chính là giường dây của tăng nhân hành hạnh Đầu Đà ở Tây Vực. Nước ta không theo cách này, chỉ là chớ nên ngồi trên giường, sập quư trọng hiếm đẹp mà thôi. Loại giường dây này giống như bộ cương ngựa ngày nay, dùng dây bện thành, có thể mở ra hay xếp lại được. Cao chẳng quá một thước sáu tấc, rộng chẳng quá bốn thước. Thước ở đây là thước đời Châu, nhỏ hơn thước hiện thời hai tấc. Giường này không phải là giường để ngủ, mà là giường để tọa thiền.

      Thứ bảy, “chỉ có đường tắt tu hành”. Đây chính là giáo nghĩa, có thể chiếu theo văn tự để hiểu. “Y theo như cũ đi nhiễu”, đây chính là ư nghĩa trong nhà Thiền, phải có chỗ ngộ th́ mới biết triệt để được. Tào Lỗ Xuyên[45] tự cho là bậc đại thông gia thông Tông thông Giáo c̣n hiểu lầm ư này. Các hạ muốn tôi giảng ư nghĩa này, đúng là lời hỏi giỡn chơi! Các hạ hăy buông xuống hết thảy tri kiến thừa thăi, nhất tâm niệm Phật, niệm cho đến khi tâm lẫn Phật đều mất cả rồi, sẽ tự phát ra một tràng cười to, hoàn toàn hiểu rơ. Khi chưa đạt đến, dẫu người khác có giảng cho vẫn chẳng biết được! Ví như đă đến điện Hàm Nguyên[46], mọi thứ trong điện ấy đều biết hết. Nếu v́ người chưa đến đấy [mà nói] th́ dù có nói rơ ràng, vẫn mờ mịt không biết y như cũ

Những câu nói trong nhà Thiền đều nhằm dạy người khác tham cứu. Nếu hiểu theo ư nghĩa văn tự th́ chẳng những không được lợi ích, mà c̣n có thể coi “hiểu lầm” là ngộ, tội ấy cực lớn. Dẫu ngộ thật sự nhưng liễu sanh thoát tử vẫn c̣n cách xa lắm! Do kẻ ấy chỉ cậy vào tự lực, phải là sau khi đại ngộ rồi, phiền năo, Hoặc nghiệp đoạn sạch không c̣n sót ǵ th́ mới liễu được. Nếu không, chẳng do đâu mà liễu được! Pháp môn Niệm Phật nếu đầy đủ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ cậy vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh. Căn tánh của các hạ cũng chỉ có thể học theo cách tu tŕ của hàng ngu phu ngu phụ. Nếu lầm lẫn bắt chước thân phận của Tào Lỗ Xuyên th́ chẳng những liễu sanh tử trọn chẳng có phần mà c̣n thật sợ rằng đọa lạc ba ác đạo ắt đă sẵn phần! V́ sao vậy? Do “chưa được bảo là được, do chưa chứng nói là chứng”; do vậy, hoại loạn Phật pháp, khiến cho chúng sanh lầm lạc, nghi ngờ.

      Thứ tám, những sách như Văn Sao v.v… gởi đi một gói, nếu chẳng hiềm là hèn kém, dở tệ, xin hăy đọc kỹ, hành theo, ngơ hầu chẳng uổng cuộc đời này và sự gặp gỡ này. Nếu cho là chẳng đáng để vào mắt th́ hăy đem cho người thiếu mắt. Từ rày, chỉ nên bàn bạc, tŕnh bày với ông [Phí] Phạm Cửu, đừng gởi thư cho Bất Huệ nữa, do tôi không đủ tinh thần thù tiếp.

      3) Chuyện trong thế gian, có chuyện nên dùng lư để luận, có chuyện nên dùng t́nh để luận. Ông nói về chuyện của vị tên X… nọ cố nhiên nên dùng t́nh để luận, chớ nên cố chấp vào lẽ thường để đoán định. Sự việc xảy ra đă năm năm rồi, cũng không sợ người ta thấy nghe. Người ấy đă cùng với người tên Y… sống yên, chỉ nên để mặc. Nếu thật sự có ḷng hiếu thảo, ắt sẽ thay cho người ấy lễ Phật sám hối, cầu cho người ấy giác ngộ. Lúc đến thăm hỏi nên khuyên người ấy niệm Phật, đây là dùng t́nh cảm. Nếu người ấy gặp khốn khó th́ chẳng ngại ǵ châu cấp. Buôn bán trái lẽ để sống, không thể khuyên can được th́ chuyện này lấy t́nh mẹ con làm chuẩn, chẳng thể luận theo lẽ thường! C̣n đối với ông Y… ấy cũng chẳng được coi như kẻ oán cừu, kính nhi viễn chi mới là hợp lẽ.

Nam nữ tuy khác, tâm niệm vốn đồng. Trong đời, có những gă đàn ông trong nhà đă có thê thiếp, vẫn c̣n lang chạ với phụ nữ của người khác ở bên ngoài, con người ấy chẳng thể v́ chuyện đó mà không coi ông ta là cha. Đối với người được cha thương yêu, tuy chẳng thể coi như là mẹ, nhưng cũng chớ nên xem như kẻ oán cừu. Coi như kẻ oán cừu tức là oán cừu cha! Sau này có thể dẫn đến những cử chỉ báo oán, hành hung, v́ thế hăy nên kính nhi viễn chi! Sách Lễ Kư nói: “Phụ mẫu chi sở ái diệc ái chi. Phụ mẫu chi sở kính diệc kính chi” (Cha mẹ yêu mến ǵ th́ ta cũng yêu mến nấy. Cha mẹ kính trọng ǵ th́ ta cũng kính trọng nấy). Đối với chó, ngựa mà c̣n như thế huống ǵ là con người? Chỉ cần chẳng sanh phân biệt, tận hết ḷng hiếu thảo của chính ḿnh th́ đối với thiên lư, t́nh người, lẫn Phật pháp đều có thể chẳng trái nghịch. Mong hăy đem ư này nói với người ấy. Người ấy sẽ trọn được ḷng hiếu đôi bề, có thể khiến cho cha mẹ sanh ḷng chánh tín, cầu sanh Tây Phương, lấy niệm Phật làm chuyện chánh. Chỉ nên quên đi chuyện cũ th́ t́nh cảm mỗi ngày một thân thiết, lời nói sẽ nghe lọt tai.

Về phần cậu của ông, tôi đă bảo gởi Văn Sao, Gia Ngôn, Thống Kỷ, An Sĩ, Chánh Tín v.v… cùng một bưu kiện, nay sẽ gởi sách đi. Thư hôm trước của ông tôi cũng đă nhận được rồi. Cha mẹ ông đều một bề có tín tâm, nay hăy nên uyển chuyển khuyên dụ họ, khiến cho tín tâm của họ tăng trưởng, quả thật là ư nghĩa trọng yếu để người làm con, người làm Phật tử báo đền cội gốc vậy. Ông nói phần Biện Thể và Lợi Ích Về Mặt Pháp Do Nghe Chim Hót trong sách Di Đà Yếu Giải không rơ ràng, xin Quang giải thích; các giáo nghĩa thấu đạt lư rất sâu ấy há kẻ sơ tâm có thể hiểu rơ ngay được ư? [Nếu] giải thích, [người nghe] cũng phải đă có mấy phần hiểu rơ rồi th́ mới được. Nếu không, phải tốn bao nhiêu bút mực mới có thể làm cho ông hiểu rơ ràng từng điều một? Ông hăy nên nhất tâm niệm Phật, sau hai ba năm, sẽ tự có cơ hội hiểu rơ ràng. Nếu muốn gấp hiểu rơ ràng ngay, hăy nên thỉnh một bộ Di Đà Yếu Giải Tiện Mông Sao[47], lắng ḷng đọc, họa chăng biết ngay. Nếu vẫn chưa thể hiểu rơ ngay th́ cần phải trui luyện từ từ mới biết được.

Vào năm ngoái, Quang đă nhận lời cư sĩ Lư Viên Tịnh tu chỉnh các bộ Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa Chí. Năm ngoái đă nhờ ông Hứa Chỉ Tịnh lo đại cương, c̣n phần tu chỉnh đều giao cho Quang. Hơn một năm qua, do thư từ và các việc bộn bề, một bộ cũng chưa thể sửa xong. Trước kia chưa sắp chữ ngay nên có chậm trễ cũng không sao, nay Thanh Lương Chí đă sắp chữ, mà mới chỉ sửa được một nửa, thường là mười mấy bữa chẳng rảnh rỗi được một ngày. V́ thế, nay quyết cự tuyệt hết thảy chuyện thù tiếp để làm việc này. Nếu không, hai đằng đều chẳng được lợi ích. Từ rày, bất luận chuyện nào, người nào, cũng đều đừng gởi thư đến. Gởi đến cũng không trả lời. Nếu không, do chuyện này thúc bách cùng cực, khó được như pháp. Lưu truyền những bộ danh sơn chí trong thế gian há nên làm cho xong chuyện hay sao? Mong hăy đem lời này nói với hết thảy người quen biết, và cũng đừng giới thiệu người khác đến quy y!

      4) Đứa con gái ấy sanh ra để đ̣i nợ, chết là xong nợ, không c̣n ngờ ǵ! Chỗ có người đă bị chết đuối ấy thường có người chết đuối, chính là chỗ được gọi là “quỷ kiếm người chết thay”. Hăy nên ở nơi ấy lập một cái mốc gỗ, phía trên dùng một tấm sắt Tây trắng thật dày, khắc sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Chữ phải to để thấy được từ xa, phải tồn tại được lâu ngày th́ sẽ dứt được cái họa ấy. Do ḷng từ của người khắc những chữ ấy sẽ cảm được từ quang của Phật gia bị. Từ rày bảo đảm chắc chắn không c̣n cái họa ấy nữa. Do đây có thể thấy được sức từ bi của Phật chẳng thể nghĩ bàn.

Cách cầu siêu cho người đă khuất chỉ có niệm Phật thật là bậc nhất. Thí Thực trong đời nay đều là h́nh thức mà thôi; do vậy, chẳng bằng thỉnh Tăng niệm Phật, buổi tối phóng Mông Sơn sẽ có lợi ích thật sự. Kinh sám pháp sự của Đạo Gia thường là trộm lấy những danh nghĩa trong Phật pháp rồi bịa đặt ra! Tăng thí thực c̣n khó được lợi ích thật sự, th́ đạo sĩ thí thực há độ được vong ư? Chẳng qua mượn chuyện này để dối người mà thôi! Bị oán quỷ dẫn đi, ước về sự th́ tợ hồ chịu khuất, nhưng ước về nhân th́ chẳng phải là khuất. Đối với những điều đă dạy trong quẻ xăm, há nên chấp chặt? Bởi sự có muôn vàn biến hóa, xăm chỉ có bấy nhiêu đó thôi! Ngay như lời giáng cơ c̣n có khi chẳng ứng nghiệm, huống chi là lời thơ trong quẻ xăm?

[Nếu] vợ chồng ông bỏ con gái bên sông rồi đi về, đứa con gái bị chết đuối th́ [vợ chồng ông] có lỗi, chứ nó ở trong nhà, rốt cuộc tự đến chết nơi sông, ông tự bảo đó là lỗi ḿnh th́ thành nói xàm rồi! Thật vậy đó! Oán chớ nên kết. Đời trước đă kết, đời sau chịu quả báo. Con quỷ ấy há không có nhân ǵ lại có thể lôi được đứa con gái ấy xuống sông ư? Do vậy, có thể biết là nhân quả vĩnh viễn không bị mất vậy!

      5) Phật pháp viên thông vô ngại, cố nhiên Mật Tông có chuyện “chẳng được A Xà Lê truyền dạy [mà cứ tu học Mật pháp] th́ là trộm pháp” chính là nhằm thể hiện ư tôn trọng pháp đến tột cùng, chứ không phải nhằm vĩnh viễn đoạn trừ Mật Tông. Nếu theo như lời ông nói, chưa thọ Tam Muội Da Giới[48] chẳng thể niệm Mông Sơn Thí Thực, th́ không riêng ǵ Mông Sơn Thí Thực, ngay cả hết thảy chú cũng đều chẳng được niệm, v́ chưa được A Xà Lê truyền dạy! Nhưng từ xưa đến nay, người b́nh thường niệm các chú Đại Bi, Chuẩn Đề[49] có cảm ứng rất nhiều! Thậm chí nhà Nho từ bia, thiếp mà biết có Tâm Kinh, mắc bệnh sốt rét[50] bèn gượng bệnh niệm kinh th́ con quỷ gây bệnh sốt rét bèn tháo lui. Nếu đúng như ông nói th́ con quỷ gây bệnh sốt rét sẽ càng thêm đắc thế[51]!

Nay kể cùng ông một thí dụ. Ví như bậc quân tử đức dầy lấy thân làm gương để d́u dắt người khác, người trong một làng nghe theo sự chỉ huy, thảy đều an phận giữ ḿnh. Người ấy do lấy thân làm gương để d́u dắt người khác, vượt hơn quan phủ phát ra hiệu lệnh buộc dân thi hành. Chớ nói sự cảm hóa bằng đức của người ấy trỗi hơn quan phủ! Nếu bắt chước quan phủ phát ra hiệu lệnh buộc người ta thi hành th́ mọi người đều cho đó là phản nghịch. Chỉ [dùng tụng chú để] tự tu tŕ th́ có ích, c̣n nếu tự tiếm mạo sẽ có tội. Như thế th́ chẳng đến nỗi đoạn diệt Mật Tông, mà cũng chẳng đến nỗi phá hoại Mật Tông. Người thời nay phần nhiều dùng t́nh kiến phàm phu để nói Phật pháp. V́ thế, khắp mọi nơi đều trở thành gai góc, không chỗ nào để đặt chân bước đi được!

“Tiếm mạo”[52] là dối xưng A Xà Lê. Tác pháp[53] nào có trở ngại ǵ, vẽ chữ Phạn để quán tưởng đều có thể chiếu theo nghi quỹ, nhưng chớ nên tự xưng là đă được A Xà Lê quán đảnh. Ai biết được nghĩa này th́ lời khuyên của Quang càng thêm rơ ràng. Người thời nay học Phật đều bằng cái tâm mù quáng khiến cho pháp nào cũng bị trở ngại, pháp nào cũng chẳng thành, đáng than cùng cực!

 

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên

Phần 3 hết

 



[1] Nhiệt năo: Những sự khổ năo dày ṿ thân tâm, khiến chúng sanh bức rức, bồn chồn, đau đớn như bị nung nấu nên gọi là “nhiệt năo”. Phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm có câu: “Như chiên-đàn trắng nếu đem bôi lên thân sẽ trừ được hết thảy nhiệt năo, khiến cho thân tâm được mát dịu trọn khắp”.

[2] Luyện Đan: C̣n gọi là Ngoại Đan để phân biệt với Nội Đan. Nội Đan là tập luyện bằng các phương pháp dưỡng sinh, hít thở để hấp thụ tinh hoa của nhật, nguyệt, trời đất (thường được gọi là “vận khí” hay Khí Công), thiền định, quán tưởng để kết “thánh thai” nhằm biến đổi xác phàm thành tiên v.v.. Ngoại Đan là phương pháp dùng những dược vật, hóa chất nung luyện thành những loại thuốc tiên (kim đan) để uống vào sẽ thành tiên. Luyện đan có thể coi như tiền thân của ngành hóa học hiện đại. Phối hợp với quan điểm Âm Dương Ngũ Hành cũng như những đặc tính được Đạo Gia gán cho những kim loại nặng (chẳng hạn thủy ngân chính là mẹ của bạc, ch́ là mẹ của các kim loại), các nhà luyện đan thường nấu ch́, thủy ngân, vàng, lưu huỳnh… thành thuốc trường sanh bất lăo theo những phương cách bí truyền trong một ngày giờ nhất định, dĩ nhiên kiêm thêm tụng chú, ếm bùa, cầu đảo để thuốc tiên được linh nghiệm. Rất nhiều loại “tiên đan” chứa những chất cực độc nên người uống vào hộc máu chết tươi!

[3] Kiến ở đây là Kiến Hoặc.

[4] Tử Kiến Ông chính là cư sĩ Khuất Tử Kiến. Trong phần Tụng của Ấn Quang Văn Sao Tục Biên có lời đề từ cho bài Tây Quy Tụng này do chính tổ Ấn Quang viết.

[5] Quán Âm Linh Thiêm (hay bị đọc trại thành Quán Âm Linh Sâm, hay Quán Âm Linh Xăm) thường được người Việt biết đến dưới tên gọi Xăm Quán Âm, gồm một trăm quẻ. Mỗi quẻ có h́nh thức như sau: Thứ tự của quẻ, quẻ tốt hay xấu, thuộc cung nào trong 12 chi, một điển tích trong văn học Trung Hoa, rồi lời bàn. Chẳng hạn như: “Quẻ thứ hai, xăm Hạ Hạ, cung Tư, Tô Tần hỏng thi, thơ rằng…” rồi đến lời bàn và lời nhận định chung cho toàn quẻ. Đây là một thứ h́nh thức bói toán bằng cách rút thăm do người Hoa chế ra, hầu như bất cứ vị tiên, thánh nào cũng đều có xăm, như Quan Thánh Đế Quân Linh Thiêm, Thiên Hậu Linh Thiêm, Đại Tiên Linh Thiêm, Tế Công Linh Thiêm, Lă Tổ Linh Thiêm… Ở đây, dựa theo niềm tin tưởng phổ biến vào sự bói toán, xin xăm của người Trung Hoa, Tổ đă khuyên dạy “hăy nên chí tâm niệm Phật, tận hết sức ḿnh để sửa đổi vận mạng”.

[6] Tam Ma Địa (Samādhi), c̣n dịch là Tam Muội, Tam Ma Đề, Tam Ma Đế. Dịch ư là Đẳng Tŕ, Chánh Định, Định Ư, Điều Trực Định, hay Chánh Tâm Hạnh Xứ, có nghĩa là xa ĺa hôn trầm, lao chao, chuyên tâm trụ vào một cảnh. Do quá nhiều ư nghĩa, chữ này thường được dùng dưới dạng dịch âm, chứ không dịch nghĩa. Thông thường, Tam Ma Địa được hiểu là quán tưởng ngưng lặng cho trí huệ rạng ngời, để đoạn trừ được hết thảy phiền hoặc, ḥng chứng đắc chân lư.

[7] “Thượng - hạ” là cách tôn xưng danh hiệu một vị Tăng, chẳng hạn, thay v́ nói sỗ sàng “kính bạch ḥa thượng Trí Tịnh”, ta thường nói “kính bạch Ḥa Thượng thượng Trí hạ Tịnh” để tỏ ḷng tôn kính. Ở đây, ông Tăng tự xưng pháp danh của ḿnh mà cũng thêm vào hai chữ “thượng - hạ” nên bị Tổ chê là thất lễ.

[8] Sở dĩ có tín nguyện mà vẫn chưa chắc được văng sanh là v́ tâm không chuyên nhất. Thêm nữa, ỷ vào số lượng đức Phật niệm trong mỗi câu rất nhiều sẽ rất dễ nẩy sanh giải đăi, không miên mật tŕ danh hiệu Phật nên vọng tưởng khó thể khuất phục được!

[9] Tông tượng: Tượng là người thợ. Bậc sư trưởng có thể đào tạo các đệ tử thành tựu Giới - Định - Huệ, phẩm đức kiêm ưu ví như người thợ khéo chế tạo vật dụng tinh vi nên được gọi là Sư Tượng. Vị thầy có thể hoằng dương mạnh mẽ một Tông cũng giống như vậy, nên được gọi là Tông Tượng.

[10] Tổng Tŕ (Dhāranī), c̣n dịch là Đà Ra Ni, Năng Tŕ, Năng Giá (có khả năng ngăn che), đều có nghĩa là huệ lực có khả năng ǵn giữ, ghi nhớ hết thảy vô lượng Phật pháp chẳng quên mất. Hiểu theo nghĩa rộng, Tổng Tŕ có nghĩa là khả năng ghi nhớ không quên mất. Từ một nghĩa, một pháp có thể liên tưởng, nhớ được hết thảy pháp, hết thảy nghĩa, không quên mất, không sai sót. Theo Đại Trí Độ Luận, Tổng Tŕ gồm có bốn loại là Văn Tŕ Đà Ra Ni (năng lực nghe không quên mất), Phân Biệt Tri Đà Ra Ni (năng lực phân biệt biết hết thảy tà - chánh, tốt - xấu), Nhập Âm Thanh Đà Ra Ni (khả năng nghe hiểu hết thảy mọi ngôn ngữ âm thanh, nhưng không đắm trước, sân hận), Tự Nhập Môn Đà Ra Ni (nghe những chú ngữ bí mật liền có thể thông đạt Thật Tướng hết thảy các pháp). Du Già Sư Địa Luận lại nêu lên bốn loại khác là Ngữ Đà Ra Ni, Chú Đà Ra Ni, Nhẫn Đà Ra Ni và Nghĩa Đà Ra Ni. Do có nhiều loại Tổng Tŕ nên kinh luận thường nói là “vô lượng tổng tŕ môn”. Đại Tổng Tŕ là thông đạt bốn môn Tổng Tŕ nói trên.

[11] Viên Quán (c̣n có tên là Viên Trạch) là một vị cao tăng đời Đường, không rơ sanh năm nào, quê quán tại đâu. Sư sống tại thành Lạc Dương, bẩm tánh hoạt bát, chất phác, thích nghiên cứu Phật học, nhưng cũng rất ưa tạo tác tài sản thế gian. Sư mua được nhiều ruộng đất, vườn tược, nên người đương thời gọi Sư là Không Môn Nông Mục Phú Nhân (phú nông chăn nuôi giàu có trong cửa Thiền). Sư rất giỏi âm nhạc. Một người bạn tri giao của sư là Lư Nguyên, do cha là Lư Trừng bị giặc thảm sát, bèn cúng hết gia sản vào chùa Huệ Lâm. Mỗi bữa theo tăng chúng Huệ Lâm chỉ ăn một bữa. Lư Nguyên ham học tiên thuật luyện đan nên bèn khẩn khoản yêu cầu sư Viên Quán cùng sang Tứ Xuyên triều bái các núi Thanh Thành, Nga Mi v.v… để cầu tiên dược. Viên Quán muốn từ Trường An đi theo ngơ Tà Cốc, nhưng Lư Nguyên muốn từ Kinh Châu đi vào Tam Hiệp. Hai người cứ dùng dằng tranh chấp cả nửa năm không quyết định được. Đến khi Lư Nguyên cho biết ông ta không muốn theo đường Lạc Dương hay Trường An là v́ không muốn chạm mặt những quan chức quen biết trong triều đ́nh. Viên Quán bèn đồng ư đi theo lối Kinh Châu. Khi thuyền vừa đến Nam Phố, gặp nước ngược phải cắm thuyền, trông thấy một phụ nữ mặc áo gấm đội một cái ṿ nhỏ ra sông lấy nước, Viên Quán trông thấy bèn cúi đầu buồn khóc: “Sở dĩ ta không muốn đi con đường này là sợ gặp bà ta”. Lư Nguyên hỏi: “Từ khi vào đến Tam Hiệp, những phụ nữ ăn mặc như thế này cũng không hiếm. Sao với chỉ ḿnh bà này, Sư lại khóc lóc?” Sư đáp: “Bà này họ Vương, sẽ là nơi ta thác sanh. Bà ta mang thai đă ba năm vẫn chưa sanh được, v́ ta không chịu vào bụng mẹ. Nay đă trông thấy không thể trốn tránh được nữa! Đợi đến khi ta sanh xong, ba ngày sau đến thăm ta, ta sẽ cười một tiếng làm tin. Mười hai năm sau, đêm Trung Thu lại hẹn gặp nhau ngoài chùa Thiên Trúc ở Tiền Đường, Hàng Châu”. Sư nói xong liền tịch. Sự việc sau này xảy ra đúng như lời Viên Quán đă nói. Khi trở về chùa Huệ Lâm, Lư Nguyên thấy Sư đă ghi chép sẵn việc này trong một trang giấy kẹp trong một cuốn kinh, mới biết Sư biết trước nhân quả nhưng vẫn không thể nào tránh né được.

[12] Danh xưng để gọi con trai người khác nhằm tỏ ư tôn trọng.

[13] Vị này chính là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, thầy của ḥa thượng Tịnh Không. Theo Tuyết Lư Lăo Nhân Sự Lược trong Tuyết Lư Lăo Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập, cụ Lư Bỉnh Nam tên thật là Lư Diễm, tự là Bỉnh Nam, hiệu Tuyết Lư, pháp hiệu Đức Minh, biệt hiệu là Tuyết Tăng, hay Tuyết Tẩu, quê ở huyện Tế Nam, tỉnh Sơn Đông.

[14] Tuẫn táng: Đây là một phong tục mê tín của cổ Trung Hoa, chôn người sống theo người chết để người chết có người hầu hạ, bảo vệ.

[15] Tử Xa là một họ rất cổ của đất Tần. Thời Tần Mục Công, có ba vị đại phu cùng được coi là hiền thần, cùng thuộc họ Tử Xa là Tử Xa Yểm Tức, Tử Xa Trọng Hành và Tử Xa Kiềm Hổ. Cả ba vị này đều bị vương thất nhà Tần hạ lệnh giết tuẫn táng theo Tần Mục Công.

[16] Tức Tŕnh Di và Châu Hy, những người sáng lập ra Tống Nho, chủ trương Lư Học.

[17] Theo thông lệ, người xin quy y dâng lên vị thầy truyền giới một món tiền cúng dường gọi là “tiền hương kính” với ư nghĩa cúng cho thầy có tiền mua nhang đèn thờ Phật.

[18] Kỹ Lộ Chỉ Quy là tác phẩm của ông Chiến Đức Khắc, được tổ Ấn Quang và cư sĩ Lư Bỉnh Nam cùng giám định. Nội dung biện định nên theo tôn giáo nào, v́ sao nên học Phật, ai là người có thể học Phật, rồi nêu bật phương pháp tu học Phật pháp thiết yếu nhất chính là pháp môn Niệm Phật. Đồng thời nêu rơ cách thức hành tŕ pháp môn Niệm Phật và chuẩn bị cho việc lâm chung như thế nào.

[19] Giảng Tiểu Ṭa là một h́nh thức tập giảng. Trong một buổi giảng Tiểu Ṭa chỉ có thầy và các đồng học tham dự hầu rút kinh nghiệm diễn giảng.

[20] Chùa Quán Tông thuộc thành phố Ninh Ba, vốn có tên là Thập Lục Quán Đường, được xây dựng vào thời Nguyên Phong (1078-1085) đời Bắc Tống, vốn là nơi tỳ-kheo Giới Nhiên tu quán tưởng Niệm Phật, quyên mộ dựng ra chùa này, gồm hơn mười sáu gian. Ngài Đế Nhàn trụ tŕ chùa này từ năm 1912, đổi tên chùa thành Quán Tông, biến thành một đạo tràng chuyên hoằng dương Thiên Thai Tông.

[21] Khuông Lô, c̣n gọi là Khuông Sơn, hay Lô Sơn, ở thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Theo truyền thuyết, vào thời Châu có bảy anh em họ Khuông đến ẩn cư tại đây, rồi về sau cùng thành tiên bay đi. Chỗ ở của họ bèn biến thành ngọn núi cao, nên núi mang tên ấy. Núi dài đến 36 km, bề ngang gần 20 km, mặt Bắc nh́n xuống sông Dương Tử, mặt Nam nh́n xuống hồ Thẩm Dương, ngọn cao nhất là Hán Dương cao đến 1.417 m. Do chung quanh là nước nên núi lúc nào cũng mờ mờ ảo ảo trong sương mù nên Phật giáo Trung Hoa thường dùng từ ngữ “Lô Sơn chân diện mục” để ví cho bản lai diện mục của tự tâm. Sơ Tổ Huệ Viễn đă mở liên xă tu Tịnh Độ trên ngọn núi này.

[22] Bảo Vương Luận, gọi đủ là Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận, do Phi Tích đại sư soạn vào năm Thiên Bảo nguyên niên (742). Sư coi Niệm Phật tam-muội là vua của các tam-muội cho nên gọi Niệm Phật tam-muội là Bảo Vương tam-muội. Nội dung bộ luận này đề xướng vạn thiện đồng quy, ba đời đều cùng tu Niệm Phật. Luận này dẫn chứng rất nhiều kinh sách Tịnh Độ, dung thông những tư tưởng của Pháp Hoa, Bát Nhă, Đại Bảo Tích, Đại Tập, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận v.v… Sách này được ngài Ngẫu Ích đưa vào trong Tịnh Độ Thập Yếu vào năm Vạn Lịch 36 (1608) đời Minh Thần Tông.

[23] Phi Tích (không rơ năm sanh, năm mất, nguyên quán): Là một vị cao tăng đời Đường, học vấn cao trỗi, kiến thức siêu việt, thông hiểu các học thuyết Nho Gia, Mặc Tử, tinh thông văn chương. Sư thường nghiên cứu Luật tông, sau tu Mật giáo, chứng ngộ khá nhiều. Vĩnh Thái nguyên niên (765) đời Đường Đại Tông, Sư phụng chiếu cùng mười sáu vị như Lương Phần v.v… tham dự đạo tràng dịch kinh của đại hành giả Mật Tông Bất Không, dịch được các kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă, Mật Nghiêm Kinh... Tuy thế, Sư đặc biệt chú trọng đề xướng Tịnh Độ nên đă soạn luận Bảo Vương Tam Muội. Ngoài ra c̣n soạn Thệ Văng Sanh Tịnh Độ Văn.

[24] Liên Tông Bảo Giám, tác phẩm của ngài Ưu Đàm Phổ Độ chùa Đông Lâm soạn vào đời Nguyên. Tác phẩm này c̣n có tên là Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám, Lô Sơn Ưu Đàm Bảo Giám, Lô Sơn Bảo Giám Niệm Phật Chánh Nhân, hay Niệm Phật Bảo Giám. Ngài Phổ Độ tự xưng là đồ tôn chánh truyền của Sơ Tổ Huệ Viễn, kế thừa tư tưởng Bạch Liên Tông của ngài Từ Chiếu Tử Nguyên đời Nam Tống. Sư thâu thập những kinh điển, sử truyện liên quan đến Niệm Phật tam-muội. Sư cảm thán trước hiện tượng quá nhiều người xưng là Liên Tông, nhưng chẳng hiểu được ư tổ Huệ Viễn cũng như lănh hội ư chỉ của tổ Tử Nguyên, hiểu biết tà vạy, diễn dịch sai lạc pháp môn Tịnh Độ. V́ thế, qua tác phẩm này, Sư muốn hoằng dương giáo nghĩa Tịnh Độ chân chánh, đả phá những tà thuyết, nhất là trong lúc ấy, tà giáo Bạch Liên cố ư lập lờ với Liên Tông nên pháp môn Tịnh Độ bị triều Nguyên cấm đoán. Sách chia ra nhiều chương, mỗi chương gồm lời nhận định chung, dẫn những kinh luận trọng yếu và hành trạng, ngôn giáo của các vị cổ đức. Tác phẩm này khi được dâng lên Nguyên Thành Tông, nhà vua đă đích thân duyệt xét và cho phép ấn hành.

[25] Đây là dị thuyết cho rằng nếu niệm danh hiệu ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật th́ dẫu niệm ít vẫn có công đức lớn lao không thua ǵ niệm liên tục sáu chữ hồng danh Di Đà. Thậm chí không cần liên tục niệm Phật, mỗi ngày chỉ niệm vài câu này là đủ rồi! Chư Tổ Sư Tịnh Độ như các vị Liên Tŕ, Ngẫu Ích đều bác thuyết này v́ nếu cứ nghĩ như vậy sẽ sanh tâm phân biệt Phật nhiều, Phật ít, không thể nhất tâm, cũng như sẽ lười nhác không chịu niệm Phật liên tục chẳng gián đoạn!

[26] Để dễ hiểu ư Tổ, xin trích nguyên văn Tây Phương Hiệp Luận của ông Viên Hoằng Đạo đời Minh: “Nhất Bát Châu Tam Muội kinh: Phật cáo Bạt Đà Ḥa Bồ Tát: Nhược sa môn, bạch y, sở văn Tây Phương A Di Đà Phật sát, thường niệm bỉ phương Phật, bất đắc khuyết giới, nhất tâm niệm, nhược nhất nhật trú dạ, nhược thất nhật thất dạ, quá thất nhật dĩ hậu, kiến A Di Đà Phật, ư giác bất kiến, ư mộng trung kiến chi. Thí như mộng trung sở kiến, bất tri trú, bất tri dạ, diệc bất tri nội, diệc bất tri ngoại, bất dụng tại minh trung cố bất kiến, bất dụng hữu sở tế ngại cố bất kiến. Như thị Bạt Đà Ḥa Bồ Tát, tâm đương tác thị niệm” (một là như trong kinh Bát Châu Tam Muội có nói: Phật bảo Bạt Đà Ḥa Bồ Tát: ‘Nếu hàng sa môn hoặc kẻ bạch y nghe nói về cơi Tây Phương của Phật A Di Đà, thường niệm đến đức Phật ở phương ấy, giữ giới chẳng được thiếu sót, nhất tâm niệm, th́ hoặc trong một ngày đêm hoặc trong bảy ngày bảy đêm, sau bảy ngày sẽ thấy Phật A Di Đà, nếu khi tỉnh không thấy th́ sẽ được thấy trong mộng. Ví như những ǵ được thấy trong mộng chẳng biết là ngày, chẳng biết là đêm, cũng chẳng biết bên trong, cũng chẳng biết bên ngoài, chẳng v́ ở trong tối tăm mà chẳng thấy, chẳng v́ bị che lấp ngăn ngại mà chẳng thấy. Như thế đó Bạt Đà Ḥa Bồ Tát, tâm nên niệm như thế’). Tổ Ấn Quang giải thích hai chữ “dụng” ở đây phải hiểu là chữ “dĩ”. Do không chú ư nên sư Thành Thời đă lược bỏ hai chữ Dụng này đi.

[27] Tịnh Độ Thập Yếu gồm mười tác phẩm gộp lại: A Di Đà Kinh Yếu Giải (của ngài Ngẫu Ích soạn), Văng Sanh Tịnh Độ Sám Nguyện Nghi, Văng Sanh Tịnh Độ Quyết Nghi Hạnh Nguyện Nhị Môn (hai cuốn này đều do ngài Tuân Thức đời Tống soạn), Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sơ Tâm Tam Muội Môn (do ngài Thành Thời soạn), Thọ Tŕ Phật Thuyết A Di Đà Kinh Hạnh Nguyện Nghi (cũng do ngài Thành Thời soạn), Tịnh Độ Thập Nghi Luận (do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy), Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận (của ngài Phi Tích đời Đường soạn), Tịnh Độ Hoặc Vấn (do ngài Thiện Ngộ đời Nguyên soạn), Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ (do ngài Diệu Hiệp soạn vào đời Minh), Tây Trai Tịnh Độ Thi (do ngài Phạm Kỳ đời Nguyên trước tác), Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận (do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh) và Tây Phương Hiệp Luận (do cư sĩ Viên Hoằng Đạo soạn vào đời Minh).

[28] Kinh Đại Tập (Mahā-Samnipāta-Sūtra), có tên gọi đầy đủ là Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh, chính là tổng tập của các kinh thuộc hệ thống Đại Tập Bộ. Vào năm thứ 16 sau khi thành đạo, đức Phật tập hợp tất cả các Bồ Tát và long thiên quỷ thần trong mười phương cơi nước, giảng cho họ nghe pháp tạng thậm thâm về mười sáu thứ đại bi, ba mươi hai thứ nghiệp v.v… chủ yếu tuyên giảng về Lục Ba La Mật của Đại Thừa và tánh Không của pháp, cũng như các giáo nghĩa, đà-la-ni trong Mật giáo và những chuyện hộ pháp của các vị Phạm Thiên, long chúng v.v… Ngoài phương diện xiển dương tánh Không ra, kinh này mang đậm sắc thái Mật giáo. Toàn kinh chia làm mười bảy phẩm, gồm sáu mươi quyển. Từ phẩm thứ nhất đến phẩm 11 do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương, phẩm 12 do ngài Trí Nghiêm và Bảo Vân cùng dịch vào đời Lưu Tống (phẩm Bảo Kế Bồ Tát này c̣n có bản dịch khác mang tên Vô Tận Ư Bồ Tát Kinh), phẩm 13 do ngài Đàm Vô Sấm dịch, phẩm 14, 15, 16 do ngài Na Liên Đề Da Xá dịch. Ba phẩm này c̣n được dịch với các tên khác là Đại Thừa Đại Phương Đẳng Đại Tập Nhật Tạng Kinh, Đại Thừa Đại Phương Đẳng Đại Tập Nguyệt Tạng Kinh, Đại Thừa Tu Di Tạng Kinh. Phẩm 17 tập hợp những kinh về Lục Độ do ngài An Thế Cao dịch. Ngoài ra, kinh này c̣n có nhiều bản dịch khác tương đồng như: Phẩm 1 và phẩm 2 tương ứng với Đại Ai Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn. Phẩm 3 tương ứng với Bảo Nữ Sở Vấn Kinh cũng do ngài Trúc Pháp Hộ dịch. Phẩm 5 tương ứng với Hải Ư Bồ Tát Sở Vấn Tịnh Ấn Pháp Môn Kinh do ngài Duy Tịnh dịch vào đời Bắc Tống. Phẩm 6 tương ứng với Vô Ngôn Đồng Tử Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch. Phẩm 8 tương ứng với Đại Tập Hư Không Tạng Bồ Tát Sở Vấn Kinh do ngài Bất Không dịch vào đời Đường. Phẩm 9 tương ứng với Bảo Tinh Đà La Ni Kinh do ngài Ba La Phả Mật Đa dịch vào đời Đường. Phẩm 10 tương ứng với Bảo Kế Bồ Tát Sở Vấn Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch. Phẩm 11 tương ứng với A Sai Mạt Bồ Tát Kinh cũng do ngài Trúc Pháp Hộ dịch.

[29] Nguyên văn là “phù cơ” (thường bị đọc trại thành “pḥ cơ” ), tức là h́nh thức “vịn cơ bút”. Cơ bút ở Trung Hoa thường được làm có h́nh dáng giống như cái giỏ, trang trí đẹp đẽ, trên thành giỏ có một cái mỏ nhọn khắc h́nh chim loan, nên đôi khi c̣n gọi là “phù loan”. Mỗi lần cầu cơ, hai người “phù cơ” (thường gọi là “đồng tử” hay “thanh đồng”) sẽ nâng hai bên cái giỏ, dịch chuyển cho mỏ chim loan viết chữ xuống mâm gạo hay mâm cát.

[30] Hàn Lâm Viện là một cơ cấu được thiết lập từ thời Đường, thoạt đầu chỉ nhằm tuyển chọn những người có tài văn chương, nghệ thuật, tri thức quảng bác làm cố vấn cho triều đ́nh. Nhưng từ đời Đường Huyền Tông trở đi, Hàn Lâm Viện trở thành một cơ quan trọng yếu chuyên trách soạn thảo những chiếu chỉ, chế văn cơ mật cho hoàng đế. Những người làm việc trong cơ quan này được gọi chung là Hàn Lâm Học Sĩ, hay gọi tắt là Hàn Lâm. Thật ra, có hai loại: Hàn Lâm Học Sĩ chuyên soạn công văn, chế, chiếu. C̣n Hàn Lâm Cung Phụng lo giữ sổ sách và công việc hành chánh trong cơ quan. Chữ Hàn Lâm Viện của cổ Trung Hoa có ư nghĩa hoàn toàn khác biệt với chữ Hàn Lâm Viện hiện thời.

[31] Ngọc Đế, gọi đầy đủ là Ngọc Hoàng Thượng Đế, theo tín ngưỡng dân gian là một vị thần tối cao chưởng quản chư thiên và muôn loài trong toàn thể vũ trụ, thường được Nho Gia xưng tụng là Hạo Thiên Thượng Đế. Tuy thế, trong Đạo Giáo, Ngọc Đế vẫn thấp hơn Tam Thanh (Thái Thanh, Thượng Thanh, và Ngọc Thanh), v́ được coi như một vị tôn thần được Tam Thanh sanh ra để thay các Ngài chưởng quản vũ trụ. Theo Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập, vương tử của Quang Minh Diệu Quốc bỏ ngôi vua, tu theo đạo của Tam Thanh trong núi Hương Nghiêm trở thành chân tiên. Đạo Giáo xưng tặng Ngọc Đế mỹ hiệu “Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chân Ngọc Hoàng Thượng Đế”. Trong Phật pháp, Ngọc Hoàng Thượng Đế chính là Đế Thích trong Dục Giới. Như vậy, địa vị của Ngọc Hoàng Thượng Đế c̣n thấp hơn Đại Phạm Thiên Vương rất nhiều, có lẽ nào Quán Thế Âm Bồ Tát quỳ trong điện Linh Tiêu cầu Thượng Đế hạ chiếu làm mưa!

[32] Tây Phương Xác Chỉ là tập sách ghi chép những lời giáng cơ của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, do Thường Nhiếp kết tập. Theo đó, vào cuối đời Minh, bọn ông Tưởng Vô Hủ gồm tám người thích tu Tiên thường tụ tập lại cùng nhau cầu cơ. Một ngày nọ, có một vị tiên giáng xuống, dạy họ niệm Nam Mô Phật, họ bèn xưng Nam Mô Phật, vị ấy bảo niệm Phật không phải chỉ niệm bằng miệng xuông như thế, rồi dần dần chỉ dạy họ tu pháp môn Tịnh Độ, trừ bỏ tâm ham muốn trường sanh bất tử, cũng như đả phá những thói hư tật xấu của họ. Tám người này về sau đều thành những hành nhân Tịnh Độ tinh tấn. Những lời dạy của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát về Tịnh Độ hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của chư Tổ Tịnh Độ, đả phá mạnh mẽ tệ nạn cầu cơ nên rất được Phật môn Trung Hoa coi trọng. Tây Phương Xác Chỉ cũng được đưa vào Tục Tạng Kinh.

[33] Đại tiên Hoàng Xích Tùng: Trong hệ thống thần thánh của Đạo Giáo không thấy liệt kê tên vị này. Theo truyền thuyết, năm Quang Tự 23 (1897), tại Hoa Nam, dân t́nh khốn khổ, bệnh dịch lan tràn, nên các đàn cầu cơ cầu tiên cho thuốc chữa bệnh rất thịnh hành. Có một vị giáng cơ tự xưng tên là đại tiên Hoàng Xích Tùng, thường cho thuốc rất linh nghiệm. Từ đó, h́nh thành tín ngưỡng thờ phụng Hoàng Đại Tiên. Do vị này tự xưng lúc sống là một thầy lang nên tranh thờ thường vẽ một vị trung niên mặc y phục theo kiểu thầy lang thời Măn Thanh. Miếu thờ đầu tiên được thành lập ở thôn Nẫm Cương, thuộc huyện Nam Hải, tỉnh Quảng Đông, đặt tên là Phổ Độ Đàn, rồi dần dần phổ biến sang Hương Cảng và Đài Loan.

[34] Tịnh Độ Tập Yếu là một tác phẩm do cư sĩ Khổ Hạnh biên soạn, cư sĩ Phan Huệ Thuần và Thiệu Huệ Viên tu đính, Ấn Quang đại sư giám định, được chia thành ba phần: Phần đầu giải thích, biện định pháp môn Tịnh Độ, phần thứ hai trích thuật những pháp ngữ Tịnh Độ của chư Tổ Sư đại đức, phần cuối cùng là nghi thức niệm Phật và trích lục một số kinh sách chủ yếu của Tịnh Độ.

[35] Kinh Ngọc Hoàng, c̣n gọi là Thánh Nguyên Giác Chân Kinh, hoặc chỉ gọi gọn là Hoàng Kinh, là một bộ kinh điển chủ yếu của Đạo Giáo, nội dung tán dương Ngọc Đế và thuật những sự tích xưa kia của ông ta.

[36] Tọa Hoa Chí Quả là một tác phẩm tập hợp những chuyện về quả báo do Vương Đạo Đỉnh (Tọa Hoa chủ nhân) biên soạn vào thời Hàm Phong nhà Thanh.

[37] Do chánh quyền huyện Cám Châu (tỉnh Giang Tây) toan biến chùa Thọ Lượng thành khu chợ búa, rồi họ mượn tiếng xây dựng đường xá, toan phá ngôi chùa này thành b́nh địa, nhân sĩ địa phương cậy thầy Đức Sâm lập cách cứu văn, do thầy Đức Sâm đă từng trụ ở chùa Thọ Lượng một thời gian. Xin coi chi tiết nơi bài Sớ Thuật Duyên Khởi Trùng Hưng Chùa Thọ Lượng trong phần Tạp Trước và bài “So sánh sự tổn hại và lợi ích giữa được và không được trợ niệm” của thầy Đức Sâm trong phần Phụ Lục, sách Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, quyển Hạ.

[38] Mông Sơn Thí Thực là một khoa nghi thí thực cho cô hồn. Mông Sơn nay thuộc huyện Danh Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Vào đời Tống, có Bất Động Thượng Sư sống trên núi này, được thế gian xưng tặng là Cam Lộ đại sư. Để phổ tế cô hồn, Sư tập hợp những điểm chánh yếu trong khoa nghi Du Già Diệm Khẩu và các kinh phổ thí cô hồn trong Mật Tạng soạn thành khoa Mông Sơn Thí Thực. Khoa nghi này thường được các chùa tụng niệm vào khóa chiều một cách đơn giản, phẩm vật cúng thí thường chỉ là gạo muối hay cháo. Cận đại, Hưng Từ pháp sư đề xướng thêm vào đấy sáu phen khai thị, nên khoa nghi mới này được gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực để phân biệt với khoa nghi Mông Sơn thường dùng. Trong Đại Mông Sơn Thí Thực, phải lập pháp đàn, thờ tượng Phật, bày nhiều hương hoa, vật cúng, gạo trắng, nước trong, cung thỉnh vị Tăng có phẩm đức thuyết pháp khai thị. Trước đàn chánh bày đài cô hồn và thờ bài vị của các vong linh trong mười phương pháp giới. Sau khi dâng hương bèn dùng vải vàng bọc quanh đài cô hồn để quỷ thần tụ vào đó lễ bái, nghe pháp thọ thực, không bị chướng ngại. Giờ cử hành pháp sự thường vào hai giờ Tuất và Hợi.

[39] Đây là một tục lệ kỳ quặc của Phật môn Trung Hoa vùng Hoa Nam. Kinh Kim Cang viết bằng chữ son thường được đốt trong các pháp sự cầu siêu để thí cho quỷ thần. Ẩn Bần Hội (hội giúp đỡ người nghèo) gây quỹ bằng cách nhờ các chùa bán loại kinh Kim Cang viết bằng chữ son này.

[40] Thủy Lục là pháp hội thí thực cho ngạ quỷ cũng như hết thảy những sinh vật sống trên đất, dưới nước nhằm cứu bạt các loài quỷ. Theo Thích Môn Chánh Thống, quyển 4: “Gọi tên là Thủy Lục là do ư nghĩa ‘chư tiên đến ăn trong các ḍng nước, quỷ đến ăn nơi đất sạch”. Duyên khởi của pháp hội này là do Tiêu Diễn (Lương Vũ Đế) mộng thấy thần tăng dạy lập trai hội nhằm phổ tế quần linh trong lục đạo tứ sanh. Vua bèn cầu cao tăng đọc khắp các kinh điển, y theo chuyện A Nan gặp quỷ Diện Nhiên, thiết lập pháp hội thí thực b́nh đẳng, soạn ra khoa nghi. Theo Phật Tổ Thống Kư, pháp hội Thủy Lục đầu tiên được cử hành tại chùa Kim Sơn vào năm Thiên Giám thứ tư (505) đời Hậu Lương. Về sau khoa nghi này thất truyền. Đến niên hiệu Hàm Thuần đời Đường, pháp sư Đạo Anh chùa Pháp Hải tại Trường An được dị nhân chỉ điểm, t́m lại được khoa nghi bèn tổ chức và lưu truyền pháp hội này.

[41] Câu nói này xuất phát từ sách Mạnh Tử, thiên Ly Số: Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dă. Tẩu nịch viện chi dĩ thủ giả, quyền dă”. Sách Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích giảng: Nam nữ vâng giữ khuôn phép lễ kính, đạo đức, chẳng thể đích thân dùng tay chạm trực tiếp vào đồ vật, để da thịt khỏi bị đụng chạm nhau, đó là lễ. Nhưng nếu chị dâu chết đuối, em chồng cứu vớt bằng cách dùng tay kéo lên, đó là quyền biến.

[42] Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajñāpāramitā Hrdaya Sūtra), ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang ra, c̣n có sáu bản dịch nữa với tên gọi khác biệt: Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Đại Minh Chú Kinh (Cưu Ma La Thập dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Na Đề Kinh (Bồ Đề Lưu Chi dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Bát Nhă và Lợi Ngôn dịch), Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Pháp Nguyệt dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Trí Huệ Luân dịch), và Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (Thi Hộ dịch).

[43] Bát Nhă (734-?), là một vị cao tăng dịch kinh đời Đường, đôi khi c̣n được phiên âm là Bát Lạt Nhă (Prajñā), người nước Kế Tân ở Bắc Ấn Độ, họ Kiều Đáp Ma (Gotama), xuất gia năm bảy tuổi, năm 20 tuổi thọ Cụ Túc, năm 23 tuổi đến chùa Na Lan Đà ở Trung Ấn theo học với các vị Trí Hộ, Tấn Hữu, Trí Hữu v.v… chuyên nghiên cứu Duy Thức, Du Già, Trung Biên, Kim Cang Kinh, Ngũ Minh v.v… Năm Kiến Trung thứ hai (781) đời Đường Đức Tông, Sư đến Trường An. Năm Trinh Nguyên thứ tư (788), Sư dịch bộ Đại Thừa Lư Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh, năm sau lại dịch các ấn khế, chân ngôn, pháp môn từ trong Mật Tạng. Tháng bảy năm Trinh Nguyên thứ sáu (790), phụng chiếu đi sứ nước Ca Thấp Di La (Kashmir). Không lâu sau, Sư được sắc phong danh hiệu Bát Nhă Tam Tạng và được ban ca-sa tía. Sau đó, Sư dịch các bộ Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Tứ Thập Hoa Nghiêm, Đại Thừa Bản Tánh Tâm Địa Quán Kinh, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh v.v… Sư mất tại Lạc Dương, di thể chôn ở Tây Cương, Long Môn, không rơ thọ được bao nhiêu tuổi.

[44] Lợi Ngôn, không rơ năm sanh, là một vị cao Tăng đời Đường, người xứ Cưu Ty (Kuche) ở Tây Vực. Tên ngài c̣n được phiên âm là Địa Chiến Thấp La (Chân Nguyệt). Khi sa-môn Pháp Nguyệt từ Đông Ấn Độ sang Cưu Ty, Sư được gặp gỡ, bèn theo ngài Pháp Nguyệt học tập nội ngoại điển, nghe giảng các bộ Đại Thừa Nguyệt Đăng Tam Ma Địa Kinh, Lịch Đế Kỷ, Du Già Chân Ngôn đều nhớ nằm ḷng. Năm Khai Nguyên mười bốn (726), Sư được thọ Cụ Túc, chuyên nghiên cứu học hỏi các kinh Đại Tiểu Thừa, sách tiếng Hán, sách tiếng Phạn, cũng như các phương ngôn ở Tây Vực. Năm Khai Nguyên 18 (730), theo thầy qua phương Đông, đến năm Khai Nguyên 20 (732), thầy tṛ tới Trường An, Sư làm người phiên dịch cho thầy, thường vào cung, rất được Đường Huyền Tông kính nể. Năm Khai Nguyên 24 (736), Sư trở về Tây Vực. Lúc ấy nước Phùng Thức Nặc đang có quốc biến, đường đi bị nghẽn, Sư bèn sang Vu Điền. Sau khi ngài Pháp Nguyệt thị tịch, Sư bèn trở về chùa cũ. Năm Thiên Bảo mười ba (754), Sư lại sang phương Đông, đến tháng Hai năm sau bèn tới ngụ tại các chùa Long Hưng và Báo Ân, giúp ngài Bất Không dịch kinh. Năm Trinh Nguyên thứ 4 (788), Sư chính thức giữ chức Dịch Ngữ trong đạo tràng phiên dịch. Năm sau, lại theo hầu Bát Nhă Tam Tạng, đảm nhiệm việc phiên dịch kinh Na La Diên Lực Kinh. Không rơ Sư mất khi nào. C̣n để lại những trước tác như Phạm Ngữ Tạp Danh, Tây Minh Tự Viên Chiếu Thi Tập. Ngoài ra những di cảo của Sư cũng được môn nhân thâu thập thành Phiên Kinh Đại Đức Hàn Lâm Đăi Chiếu Quang Trạch Tự Lợi Ngôn Tập.

[45] Tào Lỗ Xuyên là một vị cư sĩ sống cùng thời tổ Liên Tŕ. Khi tác phẩm A Di Đà Kinh Sớ Sao của đại sư Liên Tŕ được phổ biến trong cơi đời, Tào Lỗ Xuyên đôi ba phen cật vấn, cho là Tổ phế bỏ Tam Tạng kinh điển, coi căn khí của mọi người đều hèn kém như nhau, buộc tất cả mọi người đều phải tu pháp thiển cận, lên án Tổ coi thường kinh Hoa Nghiêm, đề cao kinh Di Đà quá đáng, toan dùng pháp môn Tịnh Độ chèn ép các tông khác, coi thường chư Phật, chỉ đề cao riêng ḿnh Phật Di Đà v.v…

[46] Điện Hàm Nguyên là tiền điện của cung Đại Minh thuộc kinh đô Trường An (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây) của nhà Đường. Căn cứ trên phế tích và những di vật được khai quật, người ta biết điện này hùng vĩ và tráng lệ hơn điện Thái Ḥa thuộc Tử Cấm Thành Bắc Kinh đời Minh rất nhiều. Do được dùng chủ yếu để thiết đại triều, nên trong điện Hàm Nguyên tập trung mọi thứ quư báu, hoa mỹ nhất của đế quốc Đại Đường.

[47] Di Đà Yếu Giải Tiện Mông Sao là tác phẩm giải thích bộ Di Đà Kinh Yếu Giải, do sa-môn Đạt Mặc ở Hồng Loa viết lời sao, tỳ-kheo Đạt Lâm tu đính. Hai vị này cùng sống vào giữa đời Thanh.

[48] Tam Muội Da Giới: C̣n gọi là Tam Ma Da Giới, tức giới pháp bí mật trong Mật Tông. Theo giáo nghĩa Mật Tông, giới này lấy Bồ Đề Tâm làm giới thể, lấy pháp giới vô lượng đức viên măn làm hành tướng cho Bí Mật Chân Ngôn Giới. Giới tướng của giới này là chẳng bỏ chánh pháp, chẳng ĺa bỏ tâm Bồ Đề, chẳng keo kiệt hết thảy pháp, chẳng hề không lợi lạc chúng sanh. Đấy chính là bốn điểm trọng yếu của giới này. Ngoài ra, c̣n có những điều phải tuân thủ riêng khi thọ tŕ một bộ chú pháp nào đó, chẳng hạn như không được ăn một số thực phẩm nào đó, phải tẩy tịnh trước khi vào đàn tràng theo một nghi thức chuyên biệt v.v… cũng như phát thệ không tự tiện nói cho người khác biết những ǵ ḿnh đă được học, nhằm tránh tạo khẩu nghiệp báng pháp cho người thiếu căn duyên với Mật pháp khởi ḷng nghi rồi hủy báng. Trước khi vào đàn thọ pháp Mật Tông phải thọ giới này. Nói chung, Tam Muội Da Giới vẫn lấy Ngũ Giới làm căn bản, những kẻ tự xưng là Mật Tông bí truyền không vâng giữ Ngũ Giới đều là tà sư hoại loạn Phật pháp!

[49] Chuẩn Đề (Cundī), c̣n được gọi là Chuẩn Chi, Chuẩn Nê, Chuẩn Đề Quán Âm, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn Đề, dịch nghĩa là thanh tịnh. Đây là một hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, đặc biệt bảo hộ chúng sanh đoản mạng và chiết phục oán quỷ. Thiền Tông đặc biệt tôn sùng vị Bồ Tát này, hầu như các tự viện tùng lâm lớn của Trung Hoa đều thờ ngài. Thai Mật của Nhật Bản xếp ngài vào một trong các vị Phật Mẫu thuộc Phật Bộ, c̣n Đông Mật Nhật Bản xếp ngài vào một trong số sáu vị Quán Âm thuộc Liên Hoa Bộ (Thiên Thủ Quán Âm, Thánh Quán Âm, Mă Đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm, Như Ư Luân Quán Âm). Đại Sĩ Quán Âm hiện thân này khi nói chú Chuẩn Đề. Ngài thường được tạc tượng có mười tám tay, mỗi tay cầm một món pháp khí, nhằm thể hiện phân thân hóa độ khắp cả lục đạo ứng với mười tám giới.

[50] Ngược bệnh: Chữ Ngược ở đây không phải là bệnh sốt rét thông thường, mà là bệnh do oán đối quỷ mị dựa vào khiến cho bệnh nhân lên cơn sốt rét mỗi ngày, phải nhờ vào chú lực hoặc kinh lực để giải trừ oán kết th́ mới hết bệnh được. Chúng tôi vẫn dùng chữ “bệnh sốt rét” cho dễ hiểu.

[51] Do cuối Tâm Kinh là một bài chú nên nếu hiểu như ông Thôi Đức Chấn “chưa được A Xà Lê truyền dạy sẽ không được niệm; nếu tự tiện niệm sẽ mắc tội vượt pháp”, những Nho sĩ do không được truyền dạy mà khi bị bệnh Ngược cứ tự tiện niệm Tâm Kinh sẽ mắc tội vượt pháp, phước đức càng bị sút giảm, con quỷ gây bệnh Ngược do đó càng được tăng thêm thế lực.

[52] “Tiếm mạo” là vượt phận và mạo nhận. Ư nói có những người tu Mật Tông biết được một vài nghi quỹ, được truyền thụ một vài Mật Pháp, nhưng chưa đủ tư cách, giới hạnh của một bậc đạo sư, chưa thấu hiểu Mật pháp, nhất là chưa đủ sự hành tŕ, đă tự tiện lập đàn truyền pháp, thâu nhận đệ tử, tự xưng là A Xà Lê, rồi lập tông, lập phái.

[53] Đây là một thuật ngữ Mật Tông, hành nhân vào đàn, quán tưởng, kết ấn, cúng dường, tụng niệm, hỏa cúng dường (hộ-ma) đều gọi chung là “tác pháp”.