1.3. Trưng thích kinh danh (nêu tên kinh và giải thích ư nghĩa)

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư vân hà? Hà cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh?

(Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? V́ sao lại đặt tên là Kinh Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm?)

 

Giải:

Bản kinh này có giá trị lớn lao như thế nào mà cả sáu phương chư Phật dị khẩu đồng âm cùng nồng nhiệt ca tụng đến thế? Để dứt mối nghi t́nh ấy cho đại chúng, đức Thế Tôn bèn tự nêu lời hỏi, rồi tự đáp. Tám chữ đầu trong đề mục tên kinh (Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức) đă được giảng giải tường tận qua phần Chánh Báo và Y Báo được thuyết minh trong phần Chánh Tông. V́ thế, ở đây, đức Phật chỉ giải thích ư nghĩa sáu chữ c̣n lại (Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh).

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị kinh, thọ tŕ giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

(Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này mà thọ tŕ và nghe danh hiệu của chư Phật, th́ các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm, đều đắc Bất Thoái Chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác)

 

Giải:

Trong đoạn này, Đức Phật giải thích sự lợi ích thù thắng: “Được chư Phật hộ niệm”.

 

“Nhược hữu” (nếu có) là từ ngữ dùng để diễn tả ư giả định. 

 

“Thiện nam tử, thiện nữ nhân” là hết thảy kẻ nam, người nữ có ḷng tin thâm thiết. Nói cả nam lẫn nữ để xác tín một sự thật: “Ai cũng có khả năng thành Phật”.

 

“Văn thị kinh, thọ tŕ giả”: Văn là lắng nghe, “thị kinh” (kinh này) chỉ kinh A Di Đà, Thọ là tin tưởng, vui thích nhận lănh; Tŕ là chấp tŕ, nghĩ nhớ chẳng quên. Nói cách khác, Văn - Thọ - Tŕ chính là tam huệ: Văn - Tư - Tu. Nghe được pháp môn Niệm Phật này, tin tưởng sâu xa pháp môn này thật ổn thỏa thích đáng. Đấy chính là Văn Huệ. Nghe rồi bèn ghi nhớ trong ḷng, chán uế ưa tịnh, nguyện cầu văng sanh. Đấy là Tư Huệ. Phát nguyện xong, chuyên tâm chấp tŕ danh hiệu, tịnh niệm tiếp nối măi đến khi Nhất Tâm Bất Loạn. Đấy chính là Tu Huệ. Đó cũng chính là ba món tư lương của hành nhân Tịnh nghiệp.

 

“Cập văn chư Phật danh giả” (và nghe danh hiệu của chư Phật): Chữ “chư Phật” chỉ các đức Phật trong khắp sáu phương như đă nói ở trên. Phải biết rằng ai thọ tŕ được bản kinh này, người ấy phải là hạng đă từng gieo thiện căn lớn lao, sâu dày trong bao đời trước. Kinh Vô Lượng Thọ dạy: “Nếu xưa kia chẳng từng tu phước huệ sẽ chẳng được nghe chánh pháp này. Đă từng kính ngưỡng, vâng thờ các đức Như Lai, do nhân duyên như vậy mới được nghe nghĩa này”. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Thà chịu khổ địa ngục, nguyện được nghe tên Phật, chẳng nguyện sanh cơi trời, tạm chẳng nghe Phật hiệu”.

 

“Giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm”: kinh này có công đức chẳng thể nghĩ bàn, được nghe kinh này, thọ tŕ kinh này đều phải là do đại nhân duyên, đă từng gieo nhiều thiện căn. Do vậy, người tŕ kinh đương nhiên được chư Phật hộ niệm.

Hỏi: Nếu bảo thọ tŕ pháp môn Niệm Phật này sẽ được chư Phật hộ niệm, nhưng như vậy là phải đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn mới được chư Phật hộ niệm hay bất cứ ai có ḷng xưng niệm đều được chư Phật hộ niệm?

Đáp: Thánh hiệu Di Đà gồm đủ hết thảy công đức. Chẳng cần biết là hạng chúng sanh nào, ai có ḷng xưng niệm th́ sẽ đều được chư Phật hộ niệm. Chỉ có điều do công lực thọ tŕ sai khác nên tự nhiên sẽ cảm thọ sức hộ niệm của chư Phật sâu cạn sai khác.

Nếu chỉ nghe danh hiệu Phật, không chịu xưng niệm th́ chỉ là “Lư tức hộ niệm”. Nghe rồi, chịu xưng niệm, nhưng chẳng chuyên, vẫn gieo được nhân thù thắng giải thoát trong đời vị lai. Đấy chính là “danh tự tức hộ niệm”. Nghe rồi giải ngộ, lại c̣n tŕ tụng th́ là “quán hạnh tức hộ niệm”. Nếu đạt được Sự nhất tâm bất loạn, đoạn sạch Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng lư Chân Đế th́ là “tương tự tức hộ niệm”. Nếu đạt được Lư nhất tâm bất loạn, phá một phẩm vô minh, chứng được một phần Chân Như Thật Tánh th́ là “phần chứng tức hộ niệm”. Niệm đến khi cả bốn mươi phẩm vô minh phá sạch, chứng pháp tánh thanh tịnh th́ là “cứu cánh tức hộ niệm”.

Nếu có thể nghe kinh này và thọ tŕ đến Nhất Tâm Bất Loạn th́ là Hạnh trọn vẹn (Bát Nhă đức), danh hiệu Phật ḿnh đang tŕ tụng ấy phô bày trọn vạn đức (Pháp Thân đức), niệm niệm trừ diệt sanh tử trọng tội (Giải Thoát đức). Có những công đức như thế nên người thọ tŕ được Như Lai hộ niệm, mà sự hộ niệm ấy cũng từ chính những công đức ấy phát sanh.

 

“A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”: A nghĩa là không, Nậu-đa-la dịch là Thượng. Tam dịch là Chánh, Miệu dịch là Đẳng. Bồ Đề dịch là Chánh Giác. Hợp lại, có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

* Chánh Giác (Chánh là không tà, Giác là không mê), hàm ư: đây là sự giác ngộ đúng đắn, chánh trí điên đảo, ĺa hư luận. Gọi là Chánh Giác để phân biệt với bất giác của phàm phu hay tà giác của ngoại đạo. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, do vọng tưởng chấp trước khiến cho bản giác chân tâm bị ngũ uẩn vùi lấp, mê muội, chẳng giác ngộ. V́ thế gọi là “bất giác chúng sanh”. Ngoại đạo quay lưng với bản tâm, hướng ngoại cầu pháp, cho nên cái gọi là “giác ngộ” của họ nếu chẳng vọng th́ cũng là tà. Bởi thế, chẳng thể công nhận sự giác ngộ của họ là chân chánh được.

 

* “Chánh Đẳng” (đẳng là b́nh đẳng): Sau khi tự ḿnh đă giác ngộ rồi, chẳng hề tiếc nuối mảy may, vận dụng trí huệ chân chánh, b́nh đẳng tận lực làm lợi cho người khác. Gọi là Chánh Đẳng để phân biệt với Độc Giác, Nhị Thừa. Nhị Thừa tuy có Chánh Giác, nhưng chẳng thể lợi tha, chẳng hề có tâm b́nh đẳng phổ biến. V́ vậy, sự giác ngộ của họ không thể gọi là Chánh Đẳng được.

 

* “Vô Thượng” là viên măn cả ba điều giác ngộ (tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn), đầy đủ vạn đức, không c̣n điều ǵ cao siêu hơn được. Luận trên phương diện tự chứng th́ trí huệ đă viên măn vô thượng. Xét về phương diện lợi tha th́ công đức cũng viên măn vô thượng.

Gọi là Vô Thượng để phân biệt với sự chứng đắc chưa toàn phần của Bồ Tát. Bồ Tát tuy đă có thể b́nh đẳng quán sát cả Chân lẫn Tục, đă thực hiện được công hạnh tự giác và giác tha, nhưng xét về tự chứng vẫn c̣n chưa hoàn toàn viên măn, vẫn c̣n có những vô minh vi tế chưa đoạn sạch được. Công đức lợi tha cũng chưa thể hoàn toàn viên măn, vẫn c̣n phải cầu Phật Quả. Do vậy, Bồ Tát chỉ có thể xưng là Chánh Đẳng Chánh Giác, chứ chưa thể gọi là Vô Thượng.

Chỉ mỗi ḿnh Đức Phật là bậc phước huệ đều đủ, rốt ráo viên măn, mới kham xưng là “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Nhờ thọ tŕ kinh này và nghe danh hiệu chư Phật, hành nhân sẽ được bất thoái chuyển đối với vô thượng Phật quả, tức là Bồ Đề tâm không bị lui sụt dù phải tu hành trong bao nhiêu kiếp. Đấy chính là điều lợi ích thù thắng nhất.

Nói cách khác, Chánh Giác tương ứng với Tự Giác, Chánh Đẳng tương ứng với Giác Tha, Vô Thượng tương ứng với Giác Măn. Sáu chữ đức hiệu này thường không dịch nghĩa mà giữ nguyên âm tiếng Phạn để biểu thị ḷng tôn trọng. Sau khi thành Phật th́ gọi là đắc Bồ Đề quả, nhân của Bồ Đề quả là Bồ Đề tâm. V́ thế, người mới học Đại Thừa cầu chứng Phật quả, th́ gọi là “phát Bồ Đề tâm”. Thành Phật chính là nhờ tâm. Bởi vậy, nhà Thiền mới xướng thuyết “tức tâm tức Phật” (tâm chính là Phật); Tịnh Độ dạy: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Ai có tâm đều có khả năng thành Phật. 

          Xét về Lư, “đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” biểu thị tự tánh vốn sẵn đầy đủ thánh đức vô thượng.

 

1.4. Phổ khuyến đại chúng tín thọ (khuyên hết thảy đại chúng tin nhận)

         

Chánh kinh:

         

Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngă ngữ cập chư Phật sở thuyết.

          (V́ thế ông Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đă nói).

         

Giải:

          Đây là lần thứ ba, Đức Phật khuyến chúc. Hai chữ “thị cố” (v́ thế) để thừa tiếp đoạn trước; hàm ư: do chư Phật hộ niệm, được bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

         

“Nhữ đẳng”: lời phó chúc, khuyến tu này không chỉ dành riêng cho Ngài Xá Lợi Phất, mà là dành cho toàn bộ đại chúng hiện diện trong pháp hội cũng như toàn bộ chúng sanh được nghe kinh này trong đời tương lai.

                  

“Giai đương tín thọ”: Tín ở đây là tin chắc chắn, không nghi ngờ ǵ hết. Thọ là giữ vững, chẳng để quên lăng. Hết thảy đại chúng trong pháp hội và hết thảy chúng sanh trong đời tương lai đều phải nên tín thọ lời dạy này. 

         

“Ngă ngữ”: Ngă là chữ Đức Phật Thích Ca dùng để tự xưng. Chữ “ngữ” chỉ toàn bộ những lời dạy trong pháp hội này: y báo, chánh báo trang nghiêm, lợi ích thù thắng của việc văng sanh cũng như hạnh Chấp Tŕ Danh Hiệu.

         

“Cập chư Phật sở thuyết”: hết thảy chúng sanh đều phải nên tin nhận pháp môn Niệm Phật là pháp môn được Đức Phật Thích Ca đích thân diễn giảng cũng như được mười phương vô lượng chư Phật tán thán mà sanh khởi tín tâm, phát nguyện văng sanh.

 

          Thuở xưa có một vị Ḥa Thượng sùng phụng pháp môn Niệm Phật, thường dùng bốn chữ “tín, ức, xưng, kính” (tin tưởng, nhớ nghĩ, xưng danh, cung kính) để dạy người: “Hai chữ Tín - Ức chẳng ĺa nơi tâm; hai chữ Xưng - Kính chẳng rời khỏi miệng. Văng sanh Tịnh Độ ắt phải có tín. Ngàn người tin, ngàn người sanh. Vạn người tin, vạn người sanh. Tin vào danh hiệu Phật, chư Phật ắt gia hộ ngươi, ắt cứu giúp ngươi. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường niệm Phật, thân thường kính Phật, th́ mới gọi là thâm tín”.

 

2. KHUYẾN NGUYỆN    

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả; thị chư nhân đẳng giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

(Xá Lợi Phất! Nếu có người đă phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh vào cơi Phật A Di Đà, th́ những người ấy đều được chẳng thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với cơi nước ấy, họ đă sanh, đang sanh hoặc sẽ sanh).

 

Giải:

Phần trên khuyên phát khởi ḷng Tin, phần này khuyên nên phát nguyện.

Pháp môn Tịnh Độ chẳng phải đợi đến khi đức Phật Thích Ca thuyết giảng kinh A Di Đà xong mới hiện hữu. Thực sự ra, ngay sau khi Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay, pháp môn này đă sớm được tuyên lưu rộng răi khắp mười phương thế giới. V́ thế, Đức Phật mới nói: “Nếu có người đă phát nguyện th́ người ấy đă sanh về trong cơi ấy”.

Nói “đă phát nguyện” là chỉ những người phát nguyện trong mười kiếp kể từ khi Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay. “Nay phát nguyện” là những thính chúng trong pháp hội này, nghe xong tin tưởng, phát nguyện th́ ngay trong lúc này, cũng được văng sanh về cơi Cực Lạc. Suốt cho đến đời vị lai, những người sẽ phát nguyện th́ cũng sẽ được văng sanh. Nói tóm lại, chỉ cần nghe pháp rồi sanh ḷng tin kiên cố, do tin nên phát nguyện, do nguyện bèn siêng năng thực hành, không một ai là không được văng sanh Cực Lạc!

Nay chúng ta thấy nhiều người niệm Phật, nhưng ít thấy người được văng sanh là v́ đâu? Đó là v́ tuy tín ngưỡng Cực Lạc, nguyện cầu văng sanh, nhưng tâm vẫn giữ khăng khăng muôn mối lo toan, tham đắm, vọng niệm rộn ràng, chẳng chịu buông bỏ mọi duyên, đến nỗi lâm chung bị các tạp duyên gây chướng ngại.

Lắm kẻ lại c̣n ngờ: nếu mười phương chúng sanh niệm Phật cùng được văng sanh về Cực Lạc, làm sao cơi ấy dung chứa trọn hết nổi?

Nên biết rằng: nghi ngờ như thế chính là do Biến Kế Sở Chấp mà thành. Thế giới Cực Lạc là do vô lượng công đức của Phật A Di Đà tạo thành, chính là thế giới diệu hữu. Diệu hữu vốn là chẳng thể nghĩ bàn, chứ nào phải là cái Có bị hạn cuộc trong ṿng suy lường hạn hẹp của phàm phu. Tại sao nghe kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết thuật cái thất chỉ rộng một trượng của Ngài Duy Ma Cật có thể dung nạp ba vạn hai ngàn ṭa sư tử báu th́ tin, mà lại chẳng tin nổi thế giới Cực Lạc có thể dung nạp mọi chúng sanh niệm Phật?

 

Chánh kinh:

 

Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.

(V́ thế nên Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có ai tin tưởng th́ hăy nên phát nguyện sanh về cơi nước ấy).

 

Giải:

Đây là lần thứ ba đức Thế Tôn khuyên nên phát nguyện. Trong phần Chánh Tông, lần khuyến hóa thứ nhất là: “Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ” (Chúng sanh nghe vậy hăy nên phát nguyện sanh vào cơi nước ấy). Lần khuyên thứ hai: “Nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ”.

Đức Thế Tôn từ bi khẩn thiết, ba lượt ân cần chỉ dạy, khuyên răn phát nguyện. Sau khi trần thuật cơi Cực Lạc y báo, chánh báo, trang nghiêm, người sanh trong cơi ấy sẽ đắc ba thứ Bất Thoái, đức Thế Tôn bèn khuyên nên phát nguyện văng sanh. Đấy là lần khuyến hóa thứ nhất.

Tiếp đó, cuối phần Chánh Tông, sau khi chỉ dạy pháp Tŕ Danh, hành tŕ giản tiện nhưng lại mau được văng sanh, lợi ích lớn lao, thính chúng ai nấy tâm khai ư giải, đức Thế Tôn lại khuyến hóa nên phát nguyện văng sanh. Đấy là lần khuyến hóa thứ hai.

Lần khuyến hóa thứ ba là ngay trong đoạn kinh văn này: Ai muốn văng sanh liền được văng sanh. Được văng sanh đồng nghĩa với thành tựu những lợi ích thù thắng, chẳng hạn như viên chứng ba thứ Bất Thoái. V́ thế, đức Thế Tôn rát miệng, nhọc ḷng khuyên răn đại chúng phải cấp tốc phát nguyện cầu sanh.

Chỉ trong một bài kinh ngắn như kinh A Di Đà, đức Thế Tôn ba lượt khuyên nên phát nguyện, đủ thấy tâm từ bi cứu thế của đức Thích Ca trước sau luôn tha thiết. Ai nghe đến kinh này, phải nên tin tưởng, phải nên phát nguyện, tinh tấn tu tŕ th́ mới khỏi cô phụ tấm ḷng quan hoài, từ bi vô tận của đấng Đạo Sư hai cơi.

Hỏi: Kinh Lăng Nghiêm dạy:

“Chân giáo thể phương này,

Thanh tịnh nơi nghe tiếng”.

Như vậy, nhĩ căn của chúng sanh cơi này đặc biệt nhạy bén. Bởi lẽ đó, Ngài Văn Thù chẳng chọn pháp Niệm Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí. Thế sao Tịnh Độ Tông lại luôn khuyến hóa mọi người niệm Phật?

Đáp: Chúng sanh căn tai lanh lợi càng phải nên niệm Phật. Bởi lẽ, tiếng niệm Phật từ miệng thoát ra, thấu vào tai, có khả năng thống nhiếp các căn, khiến cho tịnh niệm tiếp nối; thật là phù hợp với nguyên tắc “dùng âm thanh làm Phật sự” vậy!

Huống hồ, pháp Niệm Phật của Ngài Thế Chí chú trọng nơi tâm niệm, chứ đâu phải là khẩu niệm xuông! Dùng âm thanh thuyết giáo chỉ thấu đến những người căn tai thông lợi, c̣n bổn nguyện tiếp độ người niệm Phật văng sanh phổ độ tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới. Bởi thế, không riêng ḿnh đức Phật Thích Ca khen ngợi pháp này, cả mười phương chư Phật đều cùng xưng tán.

Hỏi: Như Lục Tổ Huệ Năng nói: “Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây phương. Người Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh về cơi nào?” Nếu ai dùng câu nói ấy để bác pháp môn Niệm Phật th́ nên đáp như thế nào? 

Đáp: Do giảng dạy pháp môn sai khác nên thuyết pháp cũng sai khác. Nhà Thiền chỉ mong trực chỉ chân tâm, chỉ cốt triệt ngộ nguồn tâm, ngay khi triệt ngộ ấy liền thành Phật. Nhưng bản thể của tâm vốn chẳng phải là Phật, cũng chẳng phải là chúng sanh, nên thường nói: “Trong Chân Như môn chẳng dính mảy trần”. Nhà Tịnh dùng pháp môn Niệm Phật để biến cải cái tâm ô nhiễm thành tâm thanh tịnh, lấy niệm Phật làm phương pháp, lấy sự văng sanh làm mục đích, nên thường bảo: “Nơi Phật sự chẳng hề bỏ một pháp”.

Lời dạy của Lục Tổ là nhắm vào căn cơ thượng thượng thừa, khích lệ họ cậy vào tự lực. Trong khi đó, Tịnh Độ là pháp môn phương tiện thù thắng khiến cho mọi người dù là đàn bà, trẻ nít vẫn có thể tấn tu nhập đạo. Niệm Phật đến mức ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm, tâm lẫn Phật gom thành một phiến th́ nào có khác ǵ cảnh giới “không Phật, không chúng sanh” đâu!

Lời Lục Tổ dạy là dành cho người tu Thiền hâm mộ trực chỉ đơn truyền, mà cũng là để cảnh tỉnh người niệm Phật chấp tướng quá lẽ mà thôi!

Tuy vậy, dẫu chấp tướng niệm Phật, một ḷng tin tưởng vào pháp môn Tịnh Độ vẫn được văng sanh, được bất thoái chuyển, lợi ích vô cùng; vẫn hơn những kẻ thích cao đàm huyền luận, chấp lư phế sự, suốt ngày trọn năm hiu hiu tự đắc luận chuyện giải thoát trên đầu lưỡi, khóe miệng, để khi đại sự chợt đến, chân tay luống cuống, thần hồn mờ mịt. Lúc ấy, dẫu muốn ung dung làm chủ nghiệp thức cũng đành bó tay, phó mặc cho nghiệp lực lôi kéo!

Nếu chính ḿnh đă có thể hành tŕ pháp môn Niệm Phật, lại c̣n dạy bảo người khác cùng hành th́ chẳng những người ấy chắc chắn được văng sanh, mà phẩm vị c̣n thêm cao tột. Như xưa kia, bà Việt Quốc phu nhân họ Vương lănh đạo toàn thể thê thiếp trong nhà niệm Phật, cùng tu Tịnh Độ. Có một tỳ nữ đột nhiên không bệnh mà mất. Đêm ấy, Vương phu nhân mộng thấy cô tỳ nữ đến bái tạ: “Nhờ ơn phu nhân dạy răn, nay con được văng sanh Tịnh Độ”. Phu nhân hỏi: “Ta đến Tây Phương có được không?” Cô tỳ nữ thưa được, rồi dẫn bà đi.

Lát sau, bà thấy một cái ao to, trong mọc nhiều hoa sen, to nhỏ chen lẫn, tươi, héo khác nhau. Phu nhân hỏi lư do, cô tỳ nữ đáp: “Người trong thế gian vừa mới khởi ư niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ trong ao này mọc lên một cành hoa sen. Do siêng lười khác nhau nên hoa cũng tươi héo khác biệt”. Trong hoa có một người mặc triều phục ngồi, măo báu, chuỗi ngọc trang hoàng trên thân. Phu nhân hỏi ai đấy? Cô hầu đáp: “Ông Dương Kiệt”. Bà lại thấy một người khác cũng mặc triều phục ngồi trên hoa, liền hỏi, cô hầu bảo đó là Mă Khư. Hai vị này đều cùng tu Tịnh nghiệp trước đây.

Phu nhân hỏi: “Ta sẽ được sanh về chỗ nào?” Cô hầu liền dẫn đi tiếp vài dặm, thấy một đài hoa, vàng ngọc chen nhau tỏa sáng, quang minh chói ngời. Cô hầu bảo: “Đây là chỗ phu nhân sẽ sanh về. Đây chính là kim đài thượng phẩm thượng sanh vậy”. Phu nhân chợt thức dậy, buồn vui lẫn lộn. Sinh nhật năm ấy, bà dậy sớm, khơi lư đốt hương, đứng nh́n về phía Quán Âm Các. Quyến thuộc bước đến toan chúc thọ, mới hay bà đă đứng mà hóa rồi.

 

3. KHUYẾN HÀNH

3.1. Chư Phật chuyển tán khuyến (các đức Phật khen ngợi lẫn nhau và khuyến hóa)

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức.

(Xá Lợi Phất! Như ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật).

 

Giải:

Ở đây, chữ Ngă là tiếng đức Thích Ca dùng để tự xưng. Theo pháp sư Bân Tông, chữ “chư Phật” ở đây nên hiểu là chỉ nói riêng về đức Phật A Di Đà, v́ trong bản Đường dịch của kinh này (với tựa đề Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh), Ngài Huyền Trang viết rơ: “Như ngă kim giả tán thán A Di Đà bất khả tư nghị công đức” (Như ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà).

Hiểu sâu hơn, đoạn kinh này có thể hiểu là đức Phật Thích Ca xưng tán công đức của chư Phật hay chỉ xưng tán ḿnh công đức của Phật A Di Đà đều được. Bởi lẽ, thập phương chư Như Lai cùng một Pháp Thân, một tâm, một trí huệ, nên xưng tán chư Phật tức là xưng tán Phật A Di Đà; xưng tán mỗi một Đức Phật A Di Đà cũng là xưng tán tất cả chư Phật.

Trong câu “bất khả tư nghị công đức”, chữ “công đức” ám chỉ các công đức trang nghiêm của y báo, chánh báo cơi Cực Lạc. Trước chữ “công đức” lại thêm chữ “bất khả tư nghị” hàm ư: chẳng thể dùng bất cứ ngôn từ nào để diễn tả, phân biệt, giải thích được nổi. Cũng chẳng thể dùng tâm suy nghĩ, phán đoán, tưởng tượng để h́nh dung, lănh hội được sự vĩ đại trang nghiêm kỳ diệu của cơi Cực Lạc.

 

Chánh kinh:

 

Bỉ chư Phật đẳng diệc xưng tán ngă bất khả tư nghị công đức nhi tác thị ngôn; Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Sa Bà ngũ trược ác thế: Kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

(Các đức Phật ấy cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta mà nói như thế này: “Thích Ca Mâu Ni Phật làm được chuyện rất là hy hữu, Ngài có thể ở trong đời ác ngũ trược: kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sanh trược, mạng trược, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

Giải:

Mười phương thế giới vô lượng vô biên, mỗi cơi Phật hoặc tịnh hoặc uế sai khác nên sự giáo hóa cũng sẽ dễ hay khó khác nhau. Chư Phật không xưng tán tướng hảo trang nghiêm của Đức Phật Thích Ca, mà lại ngợi khen Ngài về tinh thần, ư chí vĩ đại: làm được những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn trong đời ác. Đấy chính là những điều thật là hy hữu chẳng thể nghĩ bàn được, thật đáng tán dương, khen ngợi không cùng.

Thành Chánh Giác trong cơi nước thanh tịnh đă là một việc khó khăn, thế mà đức Thích Ca lại có thể thành đạo Bồ Đề trong cơi ác ngũ trược. Đấy quả là một điều khó khăn nhất trong mọi điều khó. V́ thế gọi là “thậm nan hy hữu chi sự”.

Thành Bồ Đề đă khó, nhưng nếu không khéo vận dụng các duyên sẽ rất khó thể thuyết pháp. Chúng sanh đời ác ngoan cố, bướng bỉnh, khó thể điều phục, Đức Phật Thích Ca đă điều phục được họ, lại c̣n dùng pháp môn tối thắng viên đốn Niệm Phật này khiến họ mau chóng giải thoát, đấy thật lại càng khó. Giảng pháp môn Niệm Phật đă khó, thế nhưng nay đức Thích Ca lại chỉ dạy tu mỗi pháp môn tŕ danh hiệu để vượt ngang sanh tử, đấy là mới thật là một điều cực hy hữu trong mọi điều hy hữu. V́ thế mới gọi là “thậm nan hy hữu chi sự”. 

Diệu pháp phương tiện đệ nhất chẳng thể nghĩ bàn này được đức Bổn Sư ân cần thuyết ra là để chúng sanh trong đời Mạt chóng chứng đạo vô thượng, chóng được hưởng cảnh an vui tự tại nơi cơi Cực Lạc. Ân ấy, đức ấy, khó nỗi đáp đền, chỉ c̣n biết ngưỡng tạ, tinh tấn chuyên tu tŕ danh niệm Phật ngơ hầu báo đáp chút phần.  

 

“Thích Ca Mâu Ni”, Hán dịch là Năng Nhân Tịch Mặc. Ta thường xưng tụng Ngài là đức Bổn Sư. Bổn Sư nghĩa là vị thầy dạy ḿnh từ căn bản. Ta biết đến Phật pháp, biết đến mọi pháp môn tu tập, biết đến danh hiệu cùng thế giới của chư Phật, danh hiệu, công hạnh và trụ xứ của chư đại Bồ Tát đều do đức Thích Ca giảng ra. Mọi hiểu biết về Phật pháp, về đường lối giải thoát đều bắt nguồn từ đức Phật Thích Ca, nên Ngài được gọi là Bổn Sư.

Về danh hiệu của đức Bổn Sư, Năng Nhân là thường đem ḷng nhân từ đối xử với mọi chúng sanh (Năng là khả năng ứng cơ thuyết pháp, khéo vận dụng mọi phương cách thích hợp từng căn cơ để hóa độ. Sự ứng cơ thuyết pháp ấy không ngoài ḷng từ ái vô biên của Đức Phật nên gọi là Năng Nhân). Tịch Mặc nghĩa là chẳng chấp tướng.

Nói chi tiết hơn: TỊCH là chẳng chấp vào thân tướng “chẳng ĺa Bồ Đề đạo tràng mà đến trong vườn Lộc Dă”. Suốt ngày ra vào, qua lại, đắp y, ăn cơm, thậm chí rảo gót khắp toàn cơi Ấn Độ, nhưng tuyệt nhiên chẳng chấp vào thân tướng: “Khiến hết thảy chúng sanh diệt độ, nhưng chẳng thấy có một chúng sanh nào được diệt độ cả”. MẶC là chẳng chấp vào ngữ tướng (tướng ngôn ngữ): “Trọn ngày thuyết pháp, nhưng trọn chẳng có pháp nào để có thể nói”. Thậm chí: “Ta thuyết pháp suốt bốn mươi năm, nhưng chưa từng nói một chữ”. Đấy chính là mặc nhiên (im lặng) không hề có ngữ tướng vậy.

Hiểu sâu hơn, Năng Nhân chính là Đại Bi, Tịch Mặc là Đại Trí. Phàm phu vô bi, vô trí; Nhị Thừa thánh nhân hữu trí vô bi; Bồ Tát đủ cả Bi lẫn Trí, nhưng chưa rốt ráo. Riêng ḿnh Đức Phật Bi Trí viên măn, là bậc thánh nhân đạt cực quả Đại Thừa, kinh Pháp Hoa thường ví là “ngồi xe trâu trắng lớn”. Xe trâu trắng lớn tức là xe Bi Trí gồm đủ vậy. Hết thảy vạn pháp đều không ngoài Bi và Trí. V́ thế, dùng Bi Trí để lập hồng danh vậy.

Hơn nữa, Năng Nhân là Sự, Tịch Mặc là Lư. Lư Sự vô ngại nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Thêm nữa, Năng Nhân là Tướng, Tịch Mặc là Tánh. Tánh tướng viên dung nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Năng Nhân là Tục Đế, Tịch Mặc là Chân Đế. Chân Tục nhất như nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Nói rộng ra, tam tạng mười hai bộ kinh, hết thảy công đức, không ǵ là chẳng nhiếp trọn trong bốn chữ thánh hiệu Thích Ca Mâu Ni.

 

“Sa Bà quốc độ”: Sa Bà, Hán dịch là Kham Nhẫn. Đây chính là một cơi tam thiên đại thiên thế giới, thuộc phạm vi hóa độ của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Dịch là Kham Nhẫn, hàm ư: chúng sanh trong cơi Sa Bà cam ḷng chịu đựng những nỗi khổ sở do ngũ trược gây ra, chẳng biết chán nhàm. Dù có được nghe Phật pháp, vẫn ít kẻ chịu tiến tu để thoát ly khổ cảnh, cam tâm vùi đắm măi trong cảnh trói buộc, nên gọi là Kham Nhẫn. Cũng v́ người nghe pháp th́ nhiều, kẻ chịu tu tập th́ ít nên chúng sanh cơi Sa Bà thường được mệnh danh là “cang cường thành tánh, nan điều, nan phục” (bướng bỉnh, cứng cỏi thành tánh, khó điều, khó phục).

 

“Ngũ trược ác thế”: Thế là thế giới. Thế giới tánh vốn không trược ác, do v́ có năm thứ trược nên gọi là “ác thế”. Trược nghĩa là ô uế, chẳng khiết tịnh. Giống như nước sạch, trong trẻo, sáng láng, bị quăng đất đá vào sẽ trở thành đục ngầu, bẩn thỉu; nhưng khi gạn hết bụi đất, tánh trong của nước lại hiện ra.

Nước trong ví như chân tánh, đất bụi ví như phiền năo. Bản tánh của chúng ta cũng thế: vốn luôn trong sạch, do vọng niệm mê mờ che lấp nên tánh bản nhiên thanh tịnh không hiển hiện được, cứ măi phải luân hồi trong sanh tử.

Nếu muốn quy hoàn về bản tánh thiên chân th́ phải giống như gạn lọc nước đục: Phải chứa trong b́nh sạch, để yên không xáo động, cát, đất, sỏi sạn từ từ lắng xuống, nước trong hiện ra. Đấy gọi là bước đầu điều phục phiền năo. Gạn sạch hết bụi đất đi rồi th́ chỉ c̣n nước trong. Gạn sạch bụi phiền năo khỏi bản tâm th́ gọi là “đoạn trừ căn bản vô minh” vậy. Dùng thủy thanh châu đặt vào nước đục, nước đục tự lóng trong. Đem Phật hiệu vạn đức đặt vào tâm loạn, tâm loạn tự nhiên lặng dứt bụi trần phiền năo. Năm thứ trược là:

 

1) Kiếp Trược:

 

Kiếp nói đủ là Kiếp Ba, Hán dịch là Thời Phần. Thời Phần có bốn giai đoạn lớn: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi một giai đoạn gồm hai mươi lần tăng giảm. Tính từ lúc thọ mạng chỉ mười năm, cứ qua một trăm năm, tăng thêm một tuổi. Thời gian từ khi tuổi thọ từ mười tuổi tăng đến tám vạn bốn ngàn năm, th́ gọi là “thời kỳ tăng”.

Từ tám vạn bốn ngàn tuổi, cứ mỗi một trăm năm lại giảm đi một tuổi, cho đến khi tuổi thọ chỉ c̣n mười tuổi, th́ lại bắt đầu tăng. Đấy là thời kỳ giảm.

Thời gian gồm một thời kỳ tăng và thời kỳ giảm gọi là Tiểu Thời Phần (tiểu kiếp, tức là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm). Hai mươi tiểu kiếp là một Trung Thời Phần (Trung Kiếp). Bốn Trung Kiếp hợp thành một Đại Thời Phần (Đại Kiếp).

Kiếp vốn không có tự thể, do có bốn thứ trược kia (Kiến Trược, Phiền Năo Trược, Chúng Sanh Trược, Mạng Trược) xen lẫn nên gọi Kiếp Trược. Nói chính xác hơn, trong thời kỳ kiếp giảm, khi tuổi thọ con người chỉ c̣n hai vạn năm th́ Kiếp Trược bắt đầu. Đó là do nghiệp báo của chúng sanh cùng tạo thành, ba độc (tham, sân, si) tăng trưởng ngày càng kịch liệt hơn, ba thứ tiểu tam tai (đao binh, thiên tai, tật dịch) cũng ngày càng xảy ra nhiều hơn. Đến lúc con người chỉ c̣n thọ mười tuổi là lúc tệ ác nhất. Cỏ cây trong khắp đại địa chạm đến đều biến thành vũ khí; chúng sanh chịu muôn vàn nỗi khổ sở chẳng cách nào diễn tả trọn nổi. Do có những điều tệ ác như thế nên gọi là Kiếp Trược.

Trong giai đoạn kiếp tăng, tam tai dần giảm bớt, phiền năo mỏng nhẹ dần, chúng sanh hướng về điều lành, ác kiến nhẹ bớt, mạng dần tăng thêm. Do ngày càng tốt đẹp hơn nên tạm gọi là Kiếp Thanh. Trong giai đoạn này, chư Phật thường chẳng xuất thế mà thường chỉ thị hiện độ sanh trong giai đoạn Kiếp Trược.

 

2) Kiến Trược:

 

Kiến là kiến giải, hoặc có thể hiểu là những tư tưởng, suy nghĩ của chúng ta. Trong nhà Phật, có năm loại kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Năm thứ kiến này thường gọi là “ngũ lợi sử”. Do chúng có công năng sai khiến hết thảy chúng sanh tạo tác hết thảy ác nghiệp, khiến họ bị đọa lạc trong sanh tử, nên gọi là Sử (sai khiến). Tác dụng của chúng rất nhanh chóng, mạnh mẽ nên bảo là Lợi.

a. Thân Kiến: Chấp thân ta là Ngă, vọng sanh tham trước, chẳng thể thấu suốt thân ta chỉ là tứ đại giả hợp, hết thảy đều là huyễn mộng vô thường, lầm chấp là thật có thân, tưởng ḿnh là chúa tể thật sự của cái thân, bèn khởi ra mọi ư tưởng điên đảo, tạo tác đủ mọi ác nghiệp để thỏa măn, cung phụng cái thân này. Mỗi khi gặp điều ǵ trái ư bèn cho là tổn hại đến thân. Do đồng nhất thân với tâm, nên lại tạo tác đủ mọi điều hầu mong thân được an nhàn, khoái lạc. Đó gọi là Thân Kiến.

 

 b. Biên Kiến: Đây là thứ kiến giải bất chánh, tà vạy của ngoại đạo. Cố chấp một cách ngoan cố, bướng bỉnh vào những hiểu biết lệch lạc của chính ḿnh, tin mù quáng vào những học thuyết như Nhất Nguyên Luận, Nhị Nguyên Luận, Hữu Thần Luận, Vô Thần Luận, Nhất Thần Luận, Đa Thần Luận v.v... Do chấp chặt vào một bên, vào một khía cạnh của sự việc, nên gọi là Biên Kiến.

 

c. Giới Thủ Kiến: Đây cũng là một loại kiến giải sai lầm của ngoại đạo. Thời xưa, ở Ấn Độ có đến 96 phái ngoại đạo, chủ trương những giới pháp chẳng chánh đáng (chẳng hạn giữ giới trâu, giới chó, giới gà v.v... tức là sống như loài trâu, loài chó, loài gà... với ước vọng được sanh thiên), hoặc có những người co chân đứng suốt đời, nằm bàn chông, tu đủ các thứ khổ hạnh vô ích như lơa thể, bôi tro lên thân, đánh tội hành xác, nằm giường dây, mặc áo gai, nhịn đói v.v... Nói rộng ra, Giới Thủ là những giới cấm khổ hạnh vô ích không đưa đến lợi ích giải thoát nào. V́ khăng khăng chấp nhặt vào những giới cấm vô ích, những cách hành tŕ hoang đường nên gọi là Giới Thủ Kiến.

 

d. Kiến Thủ Kiến: Đây cũng là thứ kiến giải cố chấp lầm lạc của ngoại đạo. Họ tưởng họ đă chứng ngộ chân lư, chấp chặt vào đường lối tu hành của ḿnh, chưa chứng đă tưởng là đă chứng, chấp vọng là chân, cố chấp, ngoan bướng, lầm lạc suốt cả đời, nên gọi là Kiến Thủ Kiến (Thủ có nghĩa là nắm giữ, chấp chặt). Nói rộng hơn, nếu chấp chặt khăng khăng vào một giáo lư trong Phật pháp, bài xích các giáo pháp khác th́ cũng bị vướng vào lỗi Kiến Thủ Kiến.

 

e. Tà Kiến: Dùng tà tâm để lănh ngộ chân lư, điên đảo thị phi, chẳng tin nhân quả, đoạn diệt các thiện căn. Đấy gọi là Tà Kiến.

 

Nói chung, Thân Kiến là chấp vào Ngă Kiến (chấp có Ngă), Biên Kiến là Đoạn Kiến (chấp chết là hết) và Thường Kiến (chấp có một linh hồn thường hằng, sau khi chết sẽ hội nhập với Đại Ngă v.v...); Giới Thủ Kiến là chẳng phải nhân giải thoát mà cứ chấp chặt là nhân giải thoát; Kiến Thủ Kiến là đối với sự không phải là quả giải thoát lại chấp là quả giải thoát; Tà Kiến là kiến chấp bác không nhân quả. Những kiến chấp như vậy khiến chúng sanh măi ch́m đắm trong biển khổ sanh tử, không cách nào thoát ra khỏi tam giới. Chẳng những ḿnh lầm lạc mà c̣n làm cho hậu thế lầm lạc theo.

 

4) Phiền Năo Trược: 

 

Phiền năo nghĩa là những điều khiến tâm tăm tối, buồn phiền, bất an. Có năm yếu tố tạo thành phiền năo, thường gọi là Ngũ Độn Sử. Đó là: tham, sân, si, mạn, nghi. Do tác dụng của chúng khiến chúng sanh ngu độn, chậm chạp, nên gọi là Độn. Tuy là Độn, chúng vẫn có công năng khiến chúng sanh tạo tác đủ mọi ác nghiệp, tiến nhập đường ác.

 

1. Tham: Cầu được không chán, ḷng ham muốn vô tận th́ gọi là Tham. Ḷng tham của con người không ngoài năm thứ ham muốn (ngũ dục): Tài (tiền của), Sắc (sắc dục), Danh (danh lợi), Thực (ăn uống), Thùy (ngủ nghê). Không lúc nào con người chẳng ham muốn những điều ấy, t́m đủ mọi cách thỏa măn dục vọng của ḿnh mà thôi!

 

2. Sân: Gặp những cảnh trái ư liền giận dữ, chẳng thể nhẫn nhục, hơi chút liền nổi nóng, năo loạn cả ḿnh lẫn người.

 

3. Si: Đối với những cảnh chẳng thuận, chẳng nghịch lại khởi tâm mê hoặc, chẳng thể tỉnh táo quán sát, đối với hết thảy mọi pháp chẳng thể hiểu rơ, nên gọi là Si.

 

4. Mạn: kiêu ngạo, cậy ḿnh tài trí, khinh miệt người khác th́ gọi là Mạn.

 

5. Nghi: đối với hết thảy pháp đều sanh ḷng ngờ vực, chẳng thể phán đoán dứt khoát, mê muội đối với pháp tướng.

 

Nói chung, năm điều trên khiến tâm ta phiền muộn, chẳng được an ổn, những điều trên day dứt, dày ṿ tâm ta khiến ta chẳng được thảnh thơi. V́ thế, chúng được gọi là phiền năo. Do Tham chiêu cảm nạn đói kém, do Sân chiêu cảm nạn đao binh, do Si chiêu cảm đau bịnh. Thậm chí đại tam tai: thủy, hỏa, phong, không ǵ chẳng phải là do ba độc Tham, Sân, Si chiêu cảm cả. Những thứ phiền năo ấy khiến tâm ta hỗn loạn, mờ đục nên gọi là Phiền Năo Trược.

Nếu nói tỉ mỉ hơn, phiền năo gồm có hai loại: khách trần phiền năo (tức Kiến Hoặc và Tư Hoặc) và căn bản phiền năo (tức Vô Minh hoặc).

 

4) Chúng Sanh Trược:

 

Chúng có nghĩa là chẳng phải một, Sanh là từ ngữ chỉ chung cơi trời lẫn nhân gian và cả tam ác đạo. Các loài hữu t́nh thọ sanh trong mọi chỗ nên gọi là Chúng Sanh. Lại phải dựa vào bốn đại: đất, nước, gió, lửa giả hợp để có huyễn thân sanh diệt nên gọi là Chúng Sanh. Lại do bị Ngũ Ấm chướng lấp nên gọi là chúng sanh.

Ngũ Ấm c̣n gọi là Ngũ Uẩn. Ấm có nghĩa là ngăn che, Uẩn có nghĩa là tích tụ. Năm yếu tố (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) kết hợp, tích tụ lại tạo thành một chúng sanh, nên chúng được gọi là Ngũ Uẩn.

Chúng sanh mê muội lẽ Duyên Sanh, khăng khăng chấp trước vào Ngă tướng, cứ tưởng là mọi vật đều do cái Ngă ấy làm chủ tể. V́ thế, sanh khởi tâm vị kỷ, tâm tư lợi, gây tạo bao nhiêu ác nghiệp. Do tạo ác nghiệp nên lại bị đọa lạc trong những đường ác xấu hèn khó chịu đựng nổi. V́ thế gọi là Chúng Sanh Trược.

 

5) Mạng Trược:

 

Mạng là sanh mạng. Khi tâm lư (tám thức tâm) và thân huyết nhục kết tụ lại, có tri giác, có hoạt động, chẳng hạn như mắt thấy, tai nghe... có hơi thở, có thân nhiệt, có ư thức cùng kết hợp lại th́ gọi là Mạng.

Mỗi sanh mạng lấy thức tánh làm chủng tử, do nghiệp lực sở cảm nên có thời hạn tồn tại nhất định. Đó gọi là Mạng Căn hay Thọ Mạng. Do nghiệp lực mạnh hay yếu mà mạng căn sẽ tồn tại dài hoặc ngắn.

Hoặc có thể nói: Thân người do các duyên hội hợp, biến đổi không ngừng trong từng sát na, không cách nào khống chế nổi. Khi nghiệp lực duy tŕ các duyên ấy hội hợp đă hết, các duyên sẽ chia ĺa. V́ thế, mỗi thân mạng chỉ tồn tại trong một thời kỳ nhất định. Do đó, gọi là Thọ Mạng. Thọ mạng có thể bị chấm dứt bất ngờ v́ những yếu tố bên ngoài như tai nạn, chiến tranh, thiên tai v.v... nên gọi là Mạng Trược.

 

Nếu xét trên phương diện tương quan nhân quả th́:

a) Kiến Trược, Phiền Năo Trược là Nhân; Chúng Sanh Trược, Mạng Trược là Quả.

b) Từ Kiến Trược đến Mạng Trược là Nhân tạo thành cái Quả là Kiếp Trược. 

Pháp môn Niệm Phật chỉ là Tín - Nguyện - Hạnh, chuyên chú chấp tŕ hồng danh A Di Đà. Một khi đă được văng sanh th́ sẽ chuyển Kiếp Trược thành hải hội thanh tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Năo Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành liên hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ. Pháp môn Niệm Phật có công năng thù thắng, siêu dị như thế nên đức Đại Thánh Thích Ca đại từ, đại bi, đại nguyện, đại lực, chẳng nài chúng sanh bướng bỉnh, ngoan cố, ngu độn khó độ, vẫn ân cần giáo hóa chúng sanh cơi này khiến đều được giải thoát. V́ đức Bổn Sư công hạnh vĩ đại, v́ tâm nguyện của Ngài dũng mănh đáng phục như thế nên sáu phương chư Phật đều cùng khen ngợi, ca tụng đức Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc có thể làm được chuyện rất hy hữu, rất khó khăn là thành đạo trong đời ác ngũ trược này.

 

Chánh kinh:

 

Vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.

(V́ các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin này).

 

Giải:

Ở đây, chữ “chúng sanh” chẳng những chỉ phàm phu mà c̣n bao gồm tất cả những hàng thánh nhân Nhị Thừa. Chúng sanh trong đời ác ngũ trược, bị vật dục che lấp, tri kiến tối tăm, loạn đục, chẳng thể dễ dàng tiếp nhận pháp môn Niệm Phật rất mực viên đốn này. Thế mà, đức Thích Ca không ai hỏi, tự dũng mănh giảng ra phương tiện bậc nhất, pháp tu cực nhanh chóng, thẳng tắt, cực thù thắng này.

Chữ “thế gian” chỉ hết thảy hữu t́nh trong cửu giới (địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, a tu la, nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát).

Pháp môn Niệm Phật gọi là “nan tín” (khó tin) v́ những lẽ sau:

1) Chúng sanh sống trong đời ác ngũ trược, đă tập quen thành thói, kiến văn hữu hạn. Đột nhiên nghe nói có thế giới Tây Phương Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm, thù thắng khôn sánh, liền sanh ḷng nghi ngờ cho là không có, hay chỉ là phương tiện quyền hiện, ngụ ngôn mà thôi!

2) Có kẻ tuy biết thế giới vô tận, nhưng lại chấp rằng: đă có vô tận thế giới th́ văng sanh thế giới nào chẳng được, cớ ǵ cứ phải nhất định văng sanh Cực Lạc?

3) Hoặc khởi nghi: Sa Bà cách Cực Lạc đến cả mười vạn ức cơi Phật, dù có muốn sanh về đấy cũng không cách nào đến được!

4) Hoặc khởi ư tưởng bỉ lậu: thế giới Cực Lạc trang nghiêm, hoa mỹ bậc nhất, ḿnh là chúng sanh ngũ trược, là kẻ phàm phu vô tri, làm sao sống ở đó được?

5) Hoặc tự nghi: Muốn trang nghiêm Tịnh Độ, ắt phải tu hành rất nhiều công hạnh, phải dùng một pháp môn nào rất kỳ lạ, rất đặc biệt mới ḥng được văng sanh về đó, chứ chỉ niệm mấy câu A Di Đà Phật, hoặc chỉ nhất tâm bất loạn từ một ngày đến bảy ngày liền được văng sanh th́ thật không sao tin được nổi!

6) Hoặc ngờ rằng: Hễ muốn thọ thai ắt phải có cha mẹ, thế mà văng sanh Cực Lạc lại chẳng cần đến cha mẹ, dùng hoa sen để hóa sanh. Thật không sao tin được nổi!

7) Hoặc ngờ rằng: Người sơ tâm học Phật, đa số là tâm dễ bị lui sụt. Những người sanh trong cơi Cực Lạc đều là bậc đại phước đức, đại trí huệ, tu đại hạnh. Thế mà phàm phu chỉ tŕ danh niệm Phật liền được văng sanh. Không những thế, sanh cơi ấy rồi, liền chứng ba thứ bất thoái chuyển. Có phải là điều cực kỳ vô lư hay không?

8) Có kẻ vận dụng kiến giải, lư luận chủ quan để phán định cơi Tịnh Độ chẳng hề tồn tại khiến người sơ cơ học Phật hồ nghi bất định.

Do những lẽ trên, chúng sanh trong lục đạo khó ḷng tin tưởng pháp môn Niệm Phật này; thậm chí hàng thánh nhân Nhị Thừa cũng khó tránh hoài nghi. V́ thế, trong đời ác ngũ trược, giảng dạy pháp môn Tịnh Độ chẳng khác nào giảng cho những người mù nghe thế nào là đen, thế nào là trắng vậy.

Đức Bổn Sư là bậc chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ (chẳng nói lời lừa dối), bất dị ngữ (chẳng nói lời sai khác). V́ thế, chúng ta phải nên chí thành, tin tưởng sâu xa, trân trọng tiếp nhận pháp môn vô thượng này.

 

3.2. Bổn Sư kết tán khuyến (đức Bổn Sư kết lại lời khen ngợi để khuyến hóa)

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Đương tri ngă ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị nhất thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan!

(Xá Lợi Phất! Hăy biết rằng ta ở trong đời ác ngũ trược, làm được việc khó khăn này: đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, v́ hết thảy thế gian nói pháp khó tin này, thật là điều rất khó!)

 

Giải:

Đây là lời đức Thích Ca tự thuật. Trong đoạn trên là lời sáu phương chư Phật khen ngợi công hạnh của đức Bổn Sư. Hai chữ “thậm nan” được dùng để kết lại lời khuyên, diễn tả ư “hành thử nan sự” và “thuyết nan tín chi pháp” ở đoạn trước. Hết thảy chúng sanh trong thế gian khó thể tin tưởng rằng chỉ tŕ niệm sáu chữ hồng danh A Di Đà Phật là có thể thành Phật. V́ thế, Đức Phật Thích Ca ngay trong đời ác ngũ trược, tu tŕ Tín - Nguyện - Hạnh, được sanh về Cực Lạc thế giới, thành tựu Phật đạo. Ngài lấy chính thân ḿnh làm gương, tu hạnh khó làm được, ở ngay trong chốn khó thành đạo mà thành đạo, lại c̣n v́ hết thảy chúng sanh tuyên nói pháp môn Niệm Phật rất khó tin được nổi này. Ngài làm được cả hai điều rất khó thực hiện ấy nên bảo là “thậm nan” (rất khó).

 

4. PHÁP CHÚNG LỄ THOÁI

 

Chánh kinh:

 

Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư tỳ kheo, nhất thiết thế gian: thiên, nhân, A-tu-la đẳng văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.

(Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và các tỳ kheo, hết thảy thế gian: trời, người, a tu la v.v... nghe lời Phật dạy, hoan hỷ tin nhận, làm lễ mà lui).

 

Giải:

Đây chính là đoạn cuối cùng kết thúc kinh này, nhằm hiển thị ư: thính chúng đều được lợi ích, hoan hỷ tin nhận, phụng hành.

 

“Nhất thiết thế gian”: Hai chữ “nhất thiết” chỉ chung cả khí thế gian (vật chất), hữu t́nh thế gian (những loài có t́nh thức, có tri giác) và trí chánh giác thế gian (Phật). Chữ Thế chỉ thời gian, chữ Gian chỉ không gian. Như vậy, “nhất thiết thế gian” hàm ư hết thảy muôn vật trong vũ trụ, tất cả sinh linh, hết thảy chúng sanh trong sáu đường.

 

Trong từ ngữ “thiên, nhân, a tu la đẳng”, chữ “đẳng” là từ để lược xưng tất những chủng loại quỷ thần chưa được liệt kê cụ thể. Nói đầy đủ ra, gồm có tám bộ đại chúng. Ngoài trời và rồng ra, có sáu chúng như sau:

 

1) Dạ Xoa (c̣n phiên là Dược Xoa): Hán dịch là Khinh Tiệp (nhanh nhẹn, nhẹ nhàng), là một loài quỷ thường bay lượn trong không trung, thích ăn nuốt huyết nhục.

         

2) Càn Thát Bà (c̣n phiên là Kiện Đạt Phược, Ngạn Đạt Phạ): Hán dịch là Tầm Hương (t́m mùi thơm), là thần âm nhạc trong cơi trời Đao Lợi.

         

3) A Tu La (c̣n phiên là A Tố La, A Tố Lạc): Hán dịch là Phi Thiên (chẳng phải trời) hay Vô Đức. Loài này có phước báo, thần thông hơn hẳn loài người. Nam A Tu La h́nh dáng xấu xí, nữ A Tu La diện mạo vô cùng đẹp đẽ. Do kiếp trước hay tu hạnh bố thí, nhưng tâm hay sân hận, kiêu mạn, nên kiếp này được hưởng phước báo như chư thiên, nhưng thân h́nh thô kệch, thích đánh nhau với chư thiên.

         

4) Ca Lâu La (c̣n phiên là Yết Lỗ Noa): Hán dịch là Kim Sí Điểu (chim cánh vàng), là một loài chim rất to, hai cánh có màu vàng ṛng, x̣e ra rộng đến ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Loài chim này thường thích bắt rồng để ăn.

 

5) Khẩn Na La (c̣n phiên là Khẩn Nại Lạc, Kim Nại Lạc): Hán dịch là Nghi Thần. H́nh dáng của họ giống như loài người, nhưng trên đầu có sừng, là thần chuyên chủ việc hát xướng của cơi trời.

 

6) Ma Hầu La Già (c̣n phiên là Mạc Hô Lạc Già, Ma Hổ La Nga): Hán dịch là Đại Măng, thân người đầu rắn, cũng là một loại nhạc thần.

 

Hiểu theo Lư, Thiên có nghĩa là người sáng suốt, trong sạch, tự tại; Nhân là người khéo nhẫn nhục.

Trong Tự Phần, kinh nêu tên mười sáu vị A La Hán, bốn vị Bồ Tát và chư thiên chúng. Trong phần kết của Lưu Thông Phần, chỉ nêu tên Ngài Xá Lợi Phất và nói đại lược hết thảy thế gian. Đấy là v́ trong Tự Phần, nêu tên những vị thánh giả tiêu biểu để phô diễn pháp đức. Trong Lưu Thông Phần, chỉ nhắc lại tên Ngài Xá Lợi Phất là ngụ ư: muốn tiếp thọ pháp này phải là bậc có trí huệ đệ nhất, phải có trí huệ đệ nhất mới có thể lưu truyền, hoằng dương được pháp này.

Thêm nữa, ở đây chỉ nhắc đến tỳ kheo chứ không nói đến ba chúng tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, là v́ tỳ kheo chính là chủ thể để duy tŕ Phật pháp. Nhắc đến tỳ kheo th́ đương nhiên là đă bao quát cả tứ chúng. Hiểu sâu hơn, do tỳ kheo là bậc đoạn trừ phiền năo, lấy việc khất thực để tạm nuôi dưỡng xác thân, khất pháp để trưởng dưỡng huệ mạng, nên ở đây kinh chỉ nhắc đến tỳ kheo là ngụ ư: người muốn hành tŕ, hoằng dương pháp môn này phải gắng dụng công tu tập cho nội tâm được yên tịnh (đoạn trừ phiền năo, sống bằng hạnh nghiệp thanh tịnh). Tỳ kheo là chánh nhân của A La Hán, La Hán là quả của hạnh tỳ kheo.

Hơn nữa, Ngài Xá Lợi Phất địa vị cao tột trong các vị tỳ kheo, đă chứng quả A La Hán. Do đó, câu “cập chư tỳ kheo” đi liền ngay sau tên Ngài Xá Lợi Phất là nhằm ngụ ư: Quả (A La Hán) tương ứng với nhân (hạnh tỳ kheo). 

 

Hai chữ “hoan hỷ” biểu thị tâm ư vui sướng, mừng rỡ. Vẻ mặt rạng rỡ là Hoan, tâm ư vui sướng là Hỷ. Hết thảy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, trầm luân trong biển khổ sanh tử, thọ sanh trong khắp sáu đường, xoay vần thọ khổ không biết ngày nào ra. Ngày nay, cơ cảm thành tựu, nhân duyên chín muồi, đức Thế Tôn rủ ḷng đại từ, đại bi, không ai hỏi tự giảng ra pháp phương tiện tối thắng, tối giản dị, nhanh chóng, thẳng tắt nhất để văng sanh Cực Lạc, hưởng thọ mọi điều an lạc, khác nào mắc bệnh trầm kha lâu ngày chợt gặp thuốc hay, hỏi sao chẳng ai không sung sướng, mừng rỡ vô lượng?

 

“Tín thọ”: không những tin tưởng, ghi nhớ kỹ vào tận đáy ḷng, lại c̣n đúng như pháp miên mật hành tŕ.

 

“Tác lễ”: biểu thị ḷng thành kính tối cực, đem đảnh đầu là chỗ cao quư nhất trong thân ḿnh áp vào chân Phật để biểu thị ḷng tôn kính, biết ơn thâm thiết.

 

“Nhi khứ”: Khứ là nghe pháp xong, ai nấy lui về chốn ḿnh tự tu tập. Hiểu sâu hơn là nghe được pháp thâm sâu vô lượng, tối cực viên đốn này, bao nhiêu tâm phiền năo, tâm kiêu ngạo, tâm vô minh, tâm tham, sân, si đều bỏ xuống hết, đều dứt bặt hết, đều bị trừ khử hết, chỉ c̣n hướng thẳng đến Tây Phương Thánh Cảnh mà tiến bước.

Không những chỉ tự ḿnh tiến trên con đường giải thoát này mà c̣n lưu truyền giáo pháp này đến khắp mọi hữu t́nh có duyên với pháp môn Tịnh Độ.

 

THAY LỜI KẾT
 

Xin mượn lời kết luận của pháp sư Văn Châu để kết thúc cuốn Hợp Giải này:

“Bút giả trộm nghĩ: Chẳng nghe, chẳng biết đến kinh này, nên chẳng tín, chẳng hạnh, chẳng nguyện th́ tuy là đáng thương, nhưng vẫn c̣n có thể chấp nhận được. Chứ ai đă được nghe, xem đọc kinh này, đă biết pháp môn Niệm Phật thù thắng như thế ấy, nhưng nghe mà chẳng tin, hoặc tin nhưng chẳng nguyện, chẳng hạnh, th́ chẳng những chỉ phụ bạc đấng Thích Tôn là đấng đă thực hiện được việc khó này, đă nói pháp khó tin này; mà c̣n là phụ bạc chính ḿnh, lăng phí kiếp sống này vậy!

Phải biết rằng: Chúng ta sống gởi trong cơi Sa Bà, ngoài th́ bị việc người vùi dập, khiến cả thân lẫn tâm đều bị tổn thương; trong th́ phiền năo gây khốn đốn, bệnh tật vây hăm, khổ thật chẳng thể nói nổi. Nay được nghe diệu pháp này, khác nào bệnh nặng liệt giường, chợt được thần lực, kẹt ở đất khách lâu ngày, chợt gặp thuyền bè...

Cổ nhân nói:

Cấp cấp mang mang khổ khổ cầu,

Hàn hàn noăn noăn độ xuân thu,

Triêu triêu mộ mộ doanh gia kế,

Muội muội hôn hôn bạch liễu đầu,

Thị thị phi phi hà nhật liễu,

Phiền phiền năo năo kỷ thời hưu,

Minh minh bạch bạch nhất điều lộ,

Vạn vạn thiên thiên bất khẳng tu

(Tạm dịch:

Gấp gáp bộn bề khổ nhọc cầu,

Lạnh nồng đă trải mấy xuân thâu,

Sáng trưa chiều tối lo gia sự,

Mờ mịt, u mê bạc trắng đầu,

Đúng đúng, sai sai phân biện măi,

Phiền phiền năo năo dễ ngừng đâu?

Một con đường chánh luôn ngời rạng,

Ngàn vạn muôn phần chẳng chịu tu!)

Đáng tiếc biết bao!

Phải biết rằng:

Nhất cú Di Đà tối phương tiện,

Bất phí công phu, bất phí tiền,

Đản giao nhất niệm vô gián đoạn,

Hà sầu bất đáo pháp vương tiền.

(Một câu Di Đà phương tiện mầu,

Nào tốn công phu, chẳng tốn xu,

Cốt sao nhất niệm đừng gián đoạn,

Sanh trước pháp vương há phải sầu?)

Hoặc có người bảo: ‘Ta nay đang lúc tráng niên, phải dốc tâm lo sự nghiệp, làm sao niệm Phật được?’ Nào có biết rằng: Sự có thành, hoại, hưng, suy, nhưng thời gian đă qua chẳng hề trở lại, tuổi trẻ khôn t́m lại, một mai vô thường xảy đến, có hối cũng muộn rồi! Cổ nhân nói:

Mạc đạo lăo niên phương học đạo,

Cô phần đa thiểu thiếu niên nhân.

(Chớ bảo đến già toan học đạo,

Mồ hoang bao kẻ tuổi đầu xanh)

...Liên Tŕ Đại Sư nói rất hay:

‘Pháp môn Niệm Phật bất luận nam, nữ, Tăng, tục, quư, hèn, hiền, ngu, không có một ai là chẳng niệm Phật được! Nếu là người phú quư, của cải dư dả th́ đúng là phải niệm Phật. Nếu là kẻ bần cùng, nhà hẹp, của ít th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là người có con cháu, việc cúng bái tổ tiên đă có chỗ nhờ cậy th́ rất nên niệm Phật. Nếu là người không con, trơ trọi một thân tự do th́ càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai có con hiếu thuận, yên hưởng con cái phụng dưỡng th́ rất nên niệm Phật. Nếu ai có con ngỗ nghịch, chẳng sanh ḷng yêu thương th́ thật đúng là phải niệm Phật. Nếu ai vô bịnh, thân thể khỏe mạnh th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai có bịnh, rất gần cơn vô thường th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai già cả, tháng ngày chẳng c̣n mấy th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai tuổi trẻ tinh thần sáng suốt th́ thật là rất tốt để niệm Phật. Nếu ai an nhàn, tâm không bị sự ǵ khuấy động th́ thật đúng là nên niệm Phật. Nếu là người bận rộn, được đôi lúc nhàn giữa khi bận rộn th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là người xuất gia, tiêu dao ngoài cơi đời th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là kẻ tại gia biết cơi đời đúng là nhà lửa th́ càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai thông minh, thông hiểu Tịnh Độ th́ rất nên niệm Phật. Nếu là kẻ ngu si, thô lỗ, không làm ǵ khác nổi th́ thật đúng là nên niệm Phật. Nếu ai tŕ luật mà Luật lại do Phật chế ra; v́ thế, rất nên niệm Phật. Nếu ai đọc kinh th́ kinh là do Phật dạy, càng phải nên niệm Phật. Nếu ai tham thiền th́ do Thiền là tâm Phật nên càng phải nên niệm Phật. Nếu ai ngộ đạo th́ ngộ cần phải được Phật chứng; cho nên càng phải niệm Phật.

Khuyên khắp mọi người hăy cấp bách niệm Phật. Chín phẩm văng sanh, hoa nở thấy Phật, gặp Phật nghe Pháp, rốt ráo thành Phật mới biết rằng tâm vốn dĩ là Phật’.

Đọc lời này rồi th́ c̣n có thể vin vào đâu để khỏi niệm Phật được chăng? Ấn Quang Đại Sư nói: “Vô thường nhanh chóng, đường luân hồi hiểm nguy, già giặn, chắc thật niệm Phật, đừng thay đổi đề mục”. Nguyện những ai nghe đến, đọc đến những lời này hăy gắng lên!”

 

A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI HẾT

Phật lịch 2547, ngày 30 tháng 09 năm 2003

 

(1) Tam đồ, bát nạn: Tam đồ hay c̣n gọi là Tam Ác Đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bát nạn: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Trường Thọ Thiên (trong cơi trời này tâm tưởng không vận hành, không suy nghĩ, hay biết, tham đắm trong Vô Tưởng Định), sanh trong Bắc Câu Lô Châu (Uất Đan Việt, quá sung sướng nên tham đắm hưởng lạc, không nghĩ ǵ đến đạo pháp), điếc - đui - câm - ngọng, thế trí biện thông (thông minh lanh lợi, biện bác nhạy bén, nhưng chỉ tin kinh sách ngoại đạo, không tin nhân quả), sanh trước Phật hay sau Phật. Tám nạn này trở ngại cơ duyên gặp Phật, nghe pháp tu hành nên gọi là Nạn.

(2) Ngũ trụ: nói cho đủ là Ngũ Trụ Địa Hoặc. Tức là:

- Kiến nhất thiết xứ trụ địa: kiến hoặc trong ba cơi như thân kiến, biên kiến....

- Dục ái trụ địa: phiền năo trong cơi Dục, tức là phiền năo do đắm trước Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

- Sắc ái trụ địa: phiền năo ở cơi Sắc do đắm trước sắc thân của chính ḿnh.

- Hữu ái trụ địa: phiền năo ở cơi Vô Sắc, tức là phiền năo chấp trước do yêu mến tự thân.

- Vô minh trụ địa: tất cả vô minh trong ba cơi.  

(3) Thỉ Giác trí: Phật tánh ai ai cũng sẵn có gọi là Bổn Giác Trí. Do công năng tu tập, phiền năo đoạn diệt th́ Phật tánh mới hiển hiện. Phật tánh được hiển hiện đó gọi là Thỉ Giác Trí.

(4) Bách giới thiên như: Theo tông Thiên Thai, có mười giới: từ ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.. cho đến chư Phật. Trong mỗi giới lại có đủ mười giới, nên 10 x 10 = 100 giới. Trong mỗi giới lại có mười môn như thị; như thị tướng, như thị thể, như thị tánh.. (xem kinh Pháp Hoa) nên thành ra một ngàn như. Tông Thiên Thai dùng chữ “bách giới thiên như” để chỉ tất cả các pháp.

 

          (*) Nếu ước theo Hiền kiếp, chu kỳ của cơi Sa Bà tổng cộng 80 tiểu kiếp, gồm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn dài 20 tiểu kiếp, phân ra như sau:

- Giai đoạn Thành: cơi đại địa, trời Lục Dục, Sơ Thiền v.v... thành lập.

- Giai đoạn Trụ: Đại địa đă thành, chúng sanh an trụ. Trong tám tiểu kiếp đầu, không có Đức Phật nào xuất thế. Trong kiếp thứ chín, khi thọ mạng giảm đến sáu vạn năm, đức Câu Lưu Tôn Phật xuất thế. Khi tuổi thọ giảm c̣n bốn vạn năm, Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni xuất thế. Khi thọ mạng giảm c̣n hai vạn năm, Ca Diếp Phật xuất thế. Khi thọ mạng vừa đúng trăm năm, Phật Thích Ca xuất thế.

Trong đại kiếp thứ mười, khi tuổi thọ chỉ c̣n tám vạn năm, Đức Phật Di Lặc xuất thế. Trong bốn tiểu kiếp tiếp đó, không có Phật xuất thế. Trong kiếp thứ mười lăm, có chín trăm chín mươi bốn Đức Phật nối nhau xuất thế. Trong bốn kiếp tiếp đó, không có Phật xuất thế. Trong kiếp thứ 20, sau khi Đức Phật tối hậu là Phật Lâu Chí nhập Niết Bàn, thế giới Sa Bà bước vào Hoại kiếp.

- Giai đoạn Hoại: Hỏa tai cháy tan đến tận trời Sơ Thiền.

- Giai đoạn Không: Từ trời Sơ Thiền trở xuống, không c̣n ǵ nữa.

 

Phụ Lục

A Di Đà Chân Ngôn

(theo Nguyên Âm thượng sư)

 

Những người tu theo đường lối Tịnh Mật Song Tu, ngoài việc tŕ danh, có thể kiêm tụng các chân ngôn sau:

 

          1. Nhất Tự Chân Ngôn:

         

a) Kinh Bất Không Thần Biến, quyển 28 chép: “Biến Giải Thoát Nhất Tự Chân Ngôn là: “Án, ác, sa phạ ha” (Om, Ah, svaha). Nếu có kẻ sáu thời theo đúng pháp tŕ tụng đủ số một lạc xoa (100 ngàn lần) th́ nghiệp (1)  này thành tựu. Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân kim sắc, sẽ diệt được hết thảy trọng tội căn bản từ vô thỉ. Nếu Bồ Tát chẳng hiện th́ càng tinh tấn tụng niệm bội phần, đủ số hai lạc xoa hoặc ba lạc xoa th́ nghiệp này sẽ thành tựu, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ hiện thân, cầm tay chỉ bày đức Phật A Di Đà ngồi trên ṭa sư tử hoa sen báu nơi cơi Tây Phương Tịnh Độ, lại được A Di Đà xoa đầu”.

         

b) Sách Lư Thú Thích chép: “Chữ Hất Rị (Hrih) gồm có bốn chữ cái ghép thành câu chân ngôn một chữ... Nếu ai tŕ Nhất Tự Chân Ngôn sẽ có thể trừ được hết thảy tai họa, tật bệnh. Sau khi mạng chung, sẽ sanh về cơi nước An Lạc, được Thượng Phẩm Thượng Sanh”.

         

2. Tâm Chú (c̣n gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai Tâm Chân Ngôn):

         

Kinh Vô Lượng Thọ Tu Nguyện Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ chép:

          “Vô Lượng Thọ Như Lai Tâm Chân Ngôn là: ‘Án, A mật lật đa đế tế hạ ra hồng’ (Om, amrte teje hara hum). Nếu tụng chân ngôn đủ mười vạn biến th́ được thấy A Di Đà Như Lai, mạng chung quyết định được sanh về Cực Lạc”. 

 

(1) Chữ Nghiệp (karma) ở đây chỉ pháp tu. Đôi khi c̣n phiên là Yết Ma.