IX. TỔNG THÍCH KINH ĐỀ (giải thích chung về danh hiệu của bản kinh) 

 

A. Kinh danh sai biệt (những tên gọi khác nhau của kinh)

 

Kinh này mang tên là Phật Thuyết A Di Đà Kinh, nhưng trong kinh văn ghi rơ kinh này tên là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn, được hết thảy chư Phật hộ niệm). V́ thế, Ngài Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh.

 

B. Lập danh phương thức (cách thức đặt tên kinh)

 

Phàm tên kinh được đặt không ngoài vận dụng ba yếu tố: nhân, pháp, dụ. Ba yếu tố ấy dùng riêng lẻ hay ghép với nhau, tạo thành bảy loại như sau:

1. Đơn nhân lập danh (chỉ dùng người để đặt tên): như Phật thuyết A Di Đà Kinh, Ương Quật Ma La Kinh v.v...

2. Đơn pháp lập danh: như Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh, Thật Tướng Bát Nhă kinh, Đại Thừa Lư Thú Lục Ba La Mật Kinh...

3. Đơn dụ lập danh (chỉ dùng thí dụ để đặt tên): như Phạm Vơng Kinh, Bửu Tích kinh, Bửu Vân kinh... thuần dùng thí dụ để đặt tên kinh.

4. Nhân pháp lập danh: như Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện kinh, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh, Văn Thù Sở Vấn Bát Nhă kinh,Thắng Thiên Vương Bát Nhă Kinh v.v...

5. Pháp dụ lập danh: như Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh (Kim Cang là dụ, Bát Nhă Ba La Mật là pháp), Diệu Pháp Liên Hoa Kinh...

6. Nhân dụ lập danh: như Như Lai Sư Tử Hống Kinh. Như Lai là nhân, Sư Tử Hống là dụ.

7. Nhân pháp dụ lập danh: như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại Phương Quảng là pháp, Phật là nhân, Hoa Nghiêm là dụ. Một ví dụ là Như Lai Đại Phương Tiện Nhất Thừa Thắng Man Sư Tử Hống Kinh cũng dùng cả ba nhân, pháp, dụ để đặt tên kinh.

Kinh A Di Đà này chỉ dùng nhân để đặt tên.

 

C. Biệt thích kinh đề (giải thích riêng về tên kinh này)

 

Tên kinh gồm có hai phần: Thông và Biệt. Thông là “Kinh”, biệt là “Phật Thuyết A Di Đà”.

 

C.1. Phẫu tự biệt thích (giải thích theo lối phân tích từng chữ trong tên kinh)  

 

Kế tiếp đây là phần giải thích từng chữ trong tên gọi của kinh:

1.     Phật:

 

Chữ Phật phải hiểu theo bốn khía cạnh: Sự, lư, nhân, quả.

 

1.1. Ước về Sự: Phật là hiệu chung của mười phương tam thế hết thảy chư Phật. Nói chính xác, Phật là một trong mười hiệu của chư Phật Thế Tôn. Trong kinh này, chữ Phật riêng chỉ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

1.2. Ước theo Lư: Phật gọi đủ theo tiếng Phạn là Phật Đà, thường dịch là Giác Giả (bậc giác ngộ) hay c̣n dịch là Đại Giác. Giác bao hàm ba nghĩa: tự giác, giác tha, và giác hạnh viên măn.

Hiểu theo nghĩa thông thường, Giác là giác ngộ, hàm nghĩa Phật là người giác ngộ. Thế sao không dịch là Giác Nhân mà lại dịch là Giác Giả? Chữ Giả có nghĩa rộng hơn, ngụ ư bao gồm hết thảy hữu t́nh chứ không chỉ hạn cuộc trong loài người. Kinh nói: “Phàm hết thảy những ai có tâm (tri giác) đều sẽ có thể thành Phật”. Bởi thế, nếu dịch là Giác Nhân th́ hóa ra chỉ riêng nhân loại mới có khả năng thành Phật! Trong kinh Pháp Hoa nói: long nữ tám tuổi thành Phật, chẳng lẽ lại gọi vị Phật ấy là giác long hay sao?

Vị thánh nhân ấy giác ngộ chân lư vũ trụ và thật tướng của nhân sinh. Chân lư vũ trụ và Thật Tướng của nhân sinh thật ra chẳng ngoài duyên khởi tánh không. Hết thảy hữu t́nh mê muội nơi duyên khởi tánh không, nhận lầm vũ trụ thật có vạn pháp, thân do tứ đại giả hợp là thật có, nên mê say đắm đuối, trầm luân sanh tử. Đức Phật nhận thức minh bạch duyên khởi tánh không nên đốn phá vô minh, siêu xuất sanh tử.

- Tự Giác: ngoài th́ giác ngộ hết thảy các pháp đều là huyễn hóa, vô thường, là pháp sanh diệt; trong th́ nhận rơ ai nấy đều có Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt.

- Giác Tha: chúng sanh chẳng được giải thoát chỉ v́ chưa giác ngộ, Đức Phật chẳng nỡ riêng ḿnh thọ hưởng sự giải thoát an vui mà bỏ mặc chúng sanh ch́m đắm trong biển khổ sanh tử. V́ thế, Ngài vận dụng mọi phương tiện thiện xảo để khiến đại địa chúng sanh đều được giác ngộ như ḿnh.

- Giác Hạnh Viên Măn: Tự Giác là huệ măn, Giác Tha là phước măn.

* Huệ măn là từ lúc ban sơ phát Bồ Đề tâm, nương vào Thỉ Giác trí (3) để đoạn trừ trọn vẹn ba thứ kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, chứng ngộ trọn vẹn ba trí, thấu rơ nguồn cội bản tâm nên trí huệ viên măn. Đó là “huệ măn”.

* Phước măn là sau khi tự giác, bèn nương vào tối thượng thừa, chỉ lấy việc lợi sanh làm sự nghiệp, lấy hoằng pháp làm việc nhà, trải ba A-tăng-kỳ kiếp tu trọn lục độ, vạn hạnh, khai thị pháp giới hữu t́nh, công đức viên măn nên gọi là “phước măn”.  

Tự Giác là khác với phàm phu si mê bất giác, Giác Tha là khác với Nhị Thừa chỉ chuyên tự giác; Giác Hạnh Viên Măn là khác với Bồ Tát chỉ mới đạt phần chứng (chứng ngộ chưa trọn vẹn). Nói cách khác, thành đạo là tự giác, giáo hóa chúng sanh là giác tha, tự giác và giác tha đạt đến mức triệt để tối cực nên gọi là “giác hạnh viên măn”.

Hơn nữa, tự giác là luận trên phương diện Lư Trí, giác tha là luận về phương diện Bi hạnh, giác măn là “tri hành hợp nhất”, lấy tự lợi, lợi tha, phước huệ viên măn làm mục đích duy nhất.

V́ sao chỉ ḿnh Đức Phật đầy đủ ba ư nghĩa giác ngộ ấy? V́ Nhị Thừa thiên chấp Thiên Không chân lư nên tự giác chưa viên măn, công đức của Bồ Tát chưa trọn vẹn (phước chưa đủ), đồng thời vẫn c̣n chút phần vi tế vô minh, sở chứng chưa viên măn (huệ chưa viên măn) nên chẳng thể sánh bằng Phật được!

 

1.3. Ước về nhân: chữ Nhân chỉ nhân địa (quá tŕnh tu nhân, ở đây chỉ nhân địa hiện tại).

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă thành Phật trong vô lượng kiếp nhiều như vi trần từ trước, do v́ giáo hóa chúng sanh cơi này nên thị hiện tu nhân trong cơi Sa Bà. Đức Thế Tôn đă thị hiện giáng sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni làm thái tử ḍng họ Thích Ca. Năm mười chín tuổi, thị hiện xuất gia, sáu năm tu hành khổ hạnh tại núi Già Da (tại thôn Tư Na, ở phía nam sông Ni Liên Thiền), hàng phục ma quân, thành đạo, giáo hóa chúng sanh. Đến rằm tháng Hai năm Ngài tám mươi tuổi, cơ duyên hóa độ đă măn, bèn thị hiện Niết Bàn tại rừng Ta La Song Thọ.

 

1.4. Ước về Quả: tức là rốt ráo chứng đắc cực quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Trong phần giảng về kinh văn, sẽ giải thích tỉ mỉ ư nghĩa chữ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

 

2. “Thuyết”: có nghĩa là giảng nói. Ư nói: kinh này do chính nơi kim khẩu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên thuyết.

Thuyết c̣n có nghĩa là Duyệt (vui vẻ). Thấy đă đến lúc cơ duyên thành thục để diễn nói bản hoài cứu độ chúng sanh, biết rơ chúng sanh đời mạt sẽ do pháp môn này mà được độ thoát, cho nên Phật vui sướng, không ai thỉnh mà tự giảng ra bản kinh này.

 

3. A Di Đà: dịch là Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ. Đức Phật ấy quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Thật ra công đức, trí huệ, thần thông v.v... của Ngài mỗi mỗi đều vô lượng, nhưng ở đây lấy quang minh và thọ lượng làm tiêu biểu.

          Có hai thứ vô lượng: Vô lượng vô lượng (nghĩa là vô lượng tuyệt đối, hoàn toàn không thể nào tính đếm được) và hữu lượng vô lượng (vô lượng có thể tính đếm được, tức là một con số rất lớn như kinh Hoa Nghiêm một trăm lạc xoa (một trăm ngàn) là một câu chi, câu chi lần câu chi làm một a du đa.... cho đến a tăng kỳ lần a tăng kỳ làm một a tăng kỳ chuyển. A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển làm một vô lượng. Như vậy, con số vô lượng rất lớn, nhưng vẫn là hữu hạn v́ vẫn có thể tính đếm được).

          Pháp Thân của Phật A Di Đà vô thỉ vô chung (không có khởi đầu, không có kết thúc), Báo Thân của Ngài hữu thỉ vô chung, đều thực sự là “vô lượng vô lượng”. C̣n như Ứng Thân của Phật, ứng hiện tùy theo căn cơ, khi duyên hóa độ đă hết liền diệt. Đó là hữu thỉ hữu chung. Ứng Thân của Phật A Di Đà tuy thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhưng vẫn có ngày nhập diệt, đó là ư nghĩa của chữ “hữu lượng vô lượng”.

          Pháp Thân của Phật A Di Đà thường trụ bất biến, đấy chính là ư nghĩa “vô lượng thọ”. Căn Bản Trí của Phật chiếu khắp mười phương; đấy chính là ư nghĩa “vô lượng quang”. Như vậy, vô lượng thọ và vô lượng quang của Phật cũng là kết quả của sự tu tập. Kinh chép, trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp về trước, tỳ kheo Pháp Tạng từng làm Chuyển Luân Thánh Vương, nghe đức Thế Tự Tại Vương Phật thuyết pháp, bèn phát nguyện xuất gia, được đặt pháp danh là Pháp Tạng, phát bốn mươi tám nguyện, tận lực tu tập những hạnh khó làm trong vô lượng kiếp nhằm trang nghiêm y báo và chánh báo của cơi Phật. Do đó, đến khi nhân viên quả măn, thành Đẳng Chánh Giác, Ngài cảm được thọ lượng, quang minh mỗi thứ đều vô lượng, nên được hiệu là A Di Đà.

          Lại nữa, lúc chúng ta niệm Phật, từng câu phân minh, tương ứng với Phật, đó chính là ư nghĩa chữ Quang. Từng câu không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, đấy chính là ư nghĩa chữ Thọ. Quang là trí của Như Lai, Thọ là lư của Như Lai. Trí chiếu soi Lư, Lư hiển thị Trí, Lư - Trí nhất như, quang - thọ chẳng hai. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, niệm niệm chiếu soi cùng tột, niệm Phật đến mức như thế th́ Quang lẫn Thọ luôn hiển hiện nơi tự tâm.

          Nếu phán định theo thuyết Lục Tức Thành Phật của tông Thiên Thai th́:

- Chúng sanh luôn sẵn đủ Quang lẫn Thọ nơi tự tâm nhưng mê muội chẳng hề chứng biết. Đấy gọi là Xứng Lư Tức Quang Thọ (tức là chỉ có Quang lẫn Thọ về mặt Lư, chưa thực sự chứng ngộ).

- Nghe hiểu pháp môn Tịnh Độ, hiểu ư nghĩa của danh hiệu Phật A Di Đà. Đấy là Danh Tự Tức Quang Thọ.

- Đă nghe biết, tin hiểu, bèn chấp tŕ danh hiệu, đấy là Quán Hạnh Tức Quang Thọ. 

- Những phiền năo, cấu trược thuộc về phần thô đă đoạn th́ gọi là Tương Tự Tức Quang Thọ.

- Phá được một phần vô minh, hiển hiện tự tánh Phật, th́ gọi là Phần Chứng Tức Quang Thọ.

- Phá sạch toàn bộ vô minh, lư trí viên măn đến cùng cực, đấy là Cứu Cánh Tức Quang Thọ.

 

4. Kinh: gọi đủ là Khế Kinh, tiếng Phạn là Tu Đa La. Khế nghĩa là “khế hợp” (phù hợp, tương xứng), bao hàm ư nghĩa: Trên khế hợp với đạo lư của chư Phật đă nói, dưới khế hợp với căn cơ của tất cả chúng sanh được độ.

Chữ Kinh có năm nghĩa:

- Xuất sanh: Nếu chúng sanh tu hành đúng theo lời Phật dạy th́ sẽ sanh khởi được tất cả nhân quả của thiện pháp. Đấy là ư nghĩa của chữ Xuất Sanh. 

- Hiển thị: Kinh của Đức Phật thuyết có khả năng chỉ rơ các pháp xuất thế gian, sự, lư, tánh, tướng, nhân, quả, tu, chứng v.v... Đấy là ư nghĩa của Hiển Thị. 

- Dũng tuyền (suối phun): Mỗi một chữ trong kinh chứa đựng hết thảy pháp, dung hàm vô lượng nghĩa, như nước vọt ra từ mạch suối, dù có dùng bao nhiêu vẫn chẳng cạn. Đấy là ư nghĩa của Dũng Tuyền.

- Thằng mặc (mực thước): Kinh Phật giảng giải đạo lư khiến cho chúng sanh phân biệt được đâu là tà, đâu là chánh, hiểu rơ sự lư, biết nhân rơ quả, bỏ ác tu thiện, như thợ mộc dùng dây nhúng mực để đo lường sự cong ngay của cây gỗ trước khi cưa đục cho đúng.

- Kết man (kết thành tràng hoa): Kết man là dùng chỉ xỏ các bông hoa thành tràng để tạo ra vật trang sức đẹp đẽ. Kinh Phật xuyên suốt sự, lư, nhân quả, khiến chúng chẳng bị lạc mất. Đấy là ư nghĩa của chữ Kết Man.

Thông thường, chữ Kinh thường được hiểu theo nghĩa “quán nhiếp thường pháp”:

- Quán là xâu kết lại, dính kết lại theo thứ tự, là thâu tóm, hệ thống hóa, tập hợp lại những pháp đă thuyết giảng, chẳng để bị tản mác.

- Nhiếp là giống như nam châm hút mạt sắt. Kinh điển có công năng thu hút những chúng sanh có khả năng hóa độ chẳng để cho họ bị đọa lạc.

- Thường là đạo lư chẳng biến đổi trong suốt cả ba đời. Những pháp Phật đă thuyết đều phát xuất từ ḷng đại bi vô tận, giảng ra những pháp phù hợp với pháp tánh, bàn luận đến những điểm cùng tột vi diệu của chân lư, nên thường gọi là “xứng tánh cực đàm”. Những pháp đức Phật đă giảng đều là lư chân nghĩa thật, dẫu ngàn đời muôn kiếp, vĩnh viễn chẳng thể thay đổi được, nên gọi là Thường.

- Pháp nghĩa là mười pháp giới đều phải tuân theo khuôn phép ấy. 

Kinh c̣n có thể hiểu là đường lối; nghĩa là Kinh chính là con đường để tu hành thành Phật. Có thuyết nói Kinh c̣n có nghĩa là thuyền bè, ngụ ư: kinh Phật có thể dẫn dắt, độ chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử.

Kinh Phật được gọi là “Khế Kinh” v́ gồm đủ bốn điều khế hợp: khế sự, khế lư, khế giáo, khế cơ.

 

a. Khế sự:

Đức Phật dùng Phương Tiện Quyền Trí giảng giải nhân quả của trời người, các pháp tu chứng của Nhị Thừa v.v... đều tương xứng với sự tướng thế tục, nên gọi là Khế Sự.

 

b. Khế lư: 

Phật dùng Thật Trí giảng ra đệ nhất đế lư. Bất cứ điều nào Đức Phật đă giảng xét về sự hay lư đều xứng hợp với Đệ Nhất Nghĩa Đế nên gọi là Khế Lư.

 

c. Khế giáo:

Khế giáo là dù thị hiện trong cơi ngũ trược ác thế để thuyết pháp lợi sanh, chúng sanh căn tánh ương ngạnh khó độ, những giáo pháp của Đức Phật đă thuyết đều hoàn toàn giống hệt như những giáo pháp của mười phương chư Phật đă thuyết.

Trong hội Hoa Nghiêm, khi chư Bồ Tát trước sự chứng minh của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca, giảng về thứ tự tu chứng Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng v.v... xong th́ có các đại Bồ Tát nhiều như số vi trần trong bất khả thuyết các cơi Phật ở mười phương, đồng danh đồng hiệu hiện ra tán dương: “Lành thay! Lành thay! Hàng Phật tử các ông! Nói ra những pháp chân thật chẳng dối... Trong cơi nước của chúng tôi cũng thuyết pháp này, thậm chí văn tự, danh tự, câu chữ cũng đều tương đồng”.

 

d. Khế cơ:

Cơ là căn cơ của chúng sanh. Căn tánh của chúng sanh tuy có đại, tiểu bất đồng, nhưng cứ nương theo kinh tu tập th́ không ai là chẳng được lợi ích. Đấy gọi là “khế cơ”.

 

          Trong tựa đề Phật Thuyết A Di Đà Kinh đây, Phật là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị đă chứng cực quả, là chủ thể thuyết pháp. A Di Đà là Cực Lạc giáo chủ, là bậc chứng ngộ cực quả được đề cập đến. Phật Thích Ca và Phật Di Đà cùng chứng cực quả, v́ sao Phật Thích Ca lại phải thuyết ra pháp này để xưng tán Phật A Di Đà? Đó là v́ cơi Sa Bà uế ác, y báo lẫn chánh báo cơi này đều do vọng tưởng hoặc nghiệp chiêu cảm, huyễn khởi sanh tử vô cùng, khó t́m được chỗ cậy nhờ, nương tựa. Dù đức Phật Thích Ca mẫn niệm ứng cơ nhiếp hóa, nhưng khi duyên hóa độ đă hết, liền nhập diệt, chúng sanh không cách nào gặp gỡ được nữa. C̣n y báo, chánh báo cơi Cực Lạc đều là do những công đức sẵn có trong bản tâm thanh tịnh hiển hiện, hữu t́nh, vô t́nh cơi Cực Lạc đều thuyết pháp bất tuyệt. Chúng sanh nghe pháp ấy tăng trưởng đạo tâm, phiền năo tiêu trừ, quyết chứng Bồ Đề. Bởi những lẽ ấy, Phật Thích Ca phải tán dương cơi Cực Lạc và Phật A Di Đà, đấng giáo chủ cơi ấy, để chúng sanh phát tâm ưa thích, nhàm chán sanh tử, phát nguyện văng sanh, vĩnh thoát khổ hải.

 

          D. Giáo lư hạnh quả phán thích (phán định về giáo lư hạnh quả của kinh này)

         

1. Định nghĩa:

 

          Những lời dạy bảo của thánh nhân được lưu truyền lại gọi là Giáo. Chỉ thú, nghĩa lư của những lời dạy ấy là Lư. Từ Lư khởi tu là Hạnh. Do hạnh quyết định chứng đắc là Quả.

          Bất cứ bộ kinh nào của Phật đă thuyết ra đều có đủ bốn phần Giáo, Lư, Hạnh, Quả này. Nếu không có đủ bốn phần này, chúng sanh do đâu mà tuân theo lời dạy để hiểu rơ Lư, từ lư khởi hạnh tu tập mà chứng cực quả. Hóa ra, những lời giảng thuyết ấy biến thành hư luận hư huyễn hay sao?

 

2.     Phán định:

 

Trong kinh này, toàn bộ kinh văn từ câu “như thị ngă văn” cho đến câu “tác lễ nhi khứ” là thuộc về Giáo. Giáo pháp được phô diễn bởi kinh này là giáo pháp phương tiện tối thắng, chí diệu viên đốn.

Lư được hiển thị bởi kinh này chính là lư Thường - Lạc - Ngă - Tịnh.

Pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật dạy trong kinh này chính là Hạnh.

Do tu tập pháp môn này sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đó chính là Quả.

 

E. Kinh đề tổng luận (luận chung về tên kinh này) 

 

Trong kinh này, Phật là thuộc về Lư, về Quả, tức là Pháp Thân đức. A Di Đà là Hạnh. Kinh này đặc biệt chỉ dạy diệu hạnh Tŕ Danh, đấy tức là Bát Nhă đức. Chữ Thuyết và chữ Kinh thuộc về Giáo, tức là Giải Thoát Đức.

Nếu phối hợp với Tam Bát Nhă để giải thích th́: Phật là Thật Tướng Bát Nhă, A Di Đà là Quán Chiếu Bát Nhă, Thuyết và Kinh là Văn Tự Bát Nhă.

Tên gọi của kinh này có những nghĩa lư như thế, văn nghĩa của kinh này cũng có vô lượng nghĩa như thế, chẳng thể luận bàn trọn vẹn được.

         

F. Phiên dịch kinh nhân (người phiên dịch kinh)

          Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch

         

1. Dao Tần:

         

Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều triều đại cùng mang danh xưng là Tần nên để phân biệt, ta thường thêm họ của người sáng lập vương triều ấy vào trước tên triều đại.

          Vào đời nhà Chu, Chu Hiếu Vương phong đất Thiểm Tây cho Phi Tử, đặt hiệu cho đất phong là Tần. Phi Tử là hậu duệ của Bá Ích, rất tinh thông về thuật luyện ngựa nên được nhà vua rất yêu quư. Hậu duệ của Phi Tử là Doanh Chính thôn tính lục quốc, thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tần, xưng đế hiệu là Tần Thủy Hoàng Đế, truyền được ba đời. Đấy là nhà Doanh Tần (246-206 trước công nguyên). 

          Đến thời Tam Quốc, Tư Mă Viêm thôn tính Đông Ngô, Bắc Ngụy, Tây Thục; lập ra nhà Tấn. Truyền đến đời Tấn Nguyên Đế (húy là Tư Mă Duệ 317-323), triều đ́nh suy yếu, các tướng lănh nổi lên cát cứ mỗi phương, lập ra những triều đại song hành với nhà Đông Tấn. Sử gọi là thời Nam Bắc Triều. Phương Nam có bốn triều đại của Hán tộc là Tống, Tề, Lương, Trần. Phía Bắc có nhà Hậu Ngụy (chia làm Đông Ngụy và Tây Ngụy), Bắc Tề, Bắc Lương, Tiền Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần, Lưu Tống, Tiền Yên, Hậu Yên... Đông Ngụy bị nhà Bắc Tề diệt, Bắc Tề và Tây Ngụy bị nhà Bắc Chu soán ngôi.

          Nhà Tiền Tần c̣n gọi là Phù Tần, do Phù Kiên lập ra ở đất Quan Trung. V́ Quan Trung thuộc đất Thiểm Tây (đất Tần cũ), nên xưng quốc hiệu là Tần. Do tham vọng, Phù Kiên xua quân đánh chiếm Đông Tấn, nhưng bị thất trận. Trên đường rút lui, Phù Kiên bị một bộ tướng là Dao Trành hạ sát, soán đoạt vương vị. Dao Trành vẫn xưng quốc hiệu là Tần. Sử gọi là triều đại ấy là nhà Hậu Tần hay Dao Tần.

          Nhà Hậu Tần truyền được ba đời, tổng cộng 34 năm. Ngài La Thập dịch kinh ở kinh đô Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay) của nhà Hậu Tần dưới thời Dao Hưng, nên Ngài đề thời đại là Dao Tần.  

         

b. Tam Tạng Pháp Sư:

          b.1. Tam Tạng:

Tam Tạng là danh xưng chung của hết thảy kinh điển Phật giáo.

Hiểu tổng quát, Tam là số lượng (ba thể loại: Kinh, Luật, Luận). Tạng là hàm tàng (chứa đựng), ngụ ư: về mặt h́nh thức, Tam Tạng hàm chứa rất nhiều văn tự, quyển, bộ; về mặt thực chất, Tam Tạng hàm chứa hết thảy nghĩa lư.

Hiểu chi tiết, toàn bộ kinh điển Phật giáo được chia thành ba tạng:

- Kinh Tạng: ghi chép toàn bộ những lời thuyết pháp của đức Thế Tôn. 

- Luật Tạng: ghi chép những cấm giới dành cho thất chúng Phật tử do Phật đă chế lập.

- Luận Tạng: là những điều biện luận về giáo lư giữa Phật và chư đại đệ tử, cũng như những trước thuật của lịch đại tổ sư nhằm xiển minh giáo nghĩa.  

Những điều được thuyết minh trong Tam Tạng không ngoài tam học: Giới, Định, Huệ. Kinh Tạng minh thị nhất tâm, hiển thị pháp tánh nên thuộc Định học. Luật tạng thúc liễm tam nghiệp nên thuộc về Giới học. Luận tạng phân biện tà chánh, nên thuộc về Huệ học.

 

b.2. Pháp sư:

Chữ Pháp Sư có thể giải thích theo ba mức độ:

 

* Giải thích theo mặt chữ:

Pháp nghĩa là quy tắc, Sư nghĩa là đạt đến tŕnh độ bậc thầy. Mọi sự phải có quy tắc làm khuôn mẫu th́ mới có thể hợp t́nh, xứng lư. Một vật phải qua tay nhà nghề bậc thầy gọt giũa, đào luyện mới có thể đạt đến mức tận thiện, tận mỹ.

          Học Phật cũng thế. Nếu dùng những quy tắc Phật pháp để chỉ đạo hành vi của ḿnh lẫn người, khiến cho mọi hành vi đều xứng hợp với khuôn mẫu chánh đáng; dùng gươm trí huệ Phật pháp chạm trổ, gọt giũa nhân cách của ḿnh lẫn người th́ cả ḿnh lẫn người mới trở thành những con người tận thiện tận mỹ. Bậc có khả năng làm được như vậy gọi là Pháp Sư.

 

          * Căn cứ theo Phật pháp để giải thích:

Pháp là chánh pháp do đức Phật đă giảng. Sư nghĩa là khuôn phép. Người xuất gia tinh thông Tam Tạng, đáng làm khuôn phép cho trời người noi theo th́ được gọi là Pháp Sư.

 

* Căn cứ trên hạnh tự lợi, lợi tha:

          Nếu tự ḿnh có thể tuân phụng Tam Tạng giáo pháp của chư Phật th́ gọi là Sư. Dùng giáo pháp ấy để tu tŕ cho chính ḿnh th́ gọi là Tự Lợi Pháp Sư. Diễn thuyết những giáo pháp ấy để hóa độ, d́u dắt chúng sanh th́ gọi là Lợi Tha Pháp Sư.

          Ngài Cưu Ma La Thập được tôn xưng là Tam Tạng Pháp Sư v́ không những Ngài thông suốt tinh tường cả ba tạng mà c̣n là bậc thật tu Giới Định Huệ, là bậc pháp sư tự ḿnh phụng tŕ Phật pháp, lại c̣n có khả năng dùng Phật pháp hóa độ, d́u dắt chúng sanh, đầy đủ hạnh tự lợi, lợi tha, kham làm bậc gương mẫu cho cả trời lẫn người noi theo.

 

          c. Cưu Ma La Thập:

         

Đọc cho đủ âm phải là Cưu Ma La Kỳ Bà (Kumarajiva), Hán dịch là Đồng Thọ, hàm ư: tuổi nhỏ nhưng đă có đức hạnh của một bậc lăo thành. Cha Ngài là Cưu Ma La Viêm, ḍng dơi đời đời làm tướng quốc ở Trung Thiên Trúc. Ông La Viêm chẳng muốn làm Tể Tướng bèn xin vua cho phép đi thăm các nước, đi đến xứ Quy Tư (hoặc c̣n đọc là Cưu Ty, nay là huyện Khố Xa, Tân Cương).

          Quốc vương Quy Tư hâm mộ đức hạnh, học vấn của Ngài nên thỉnh ông làm quốc sư, gả em gái cho. Họ sinh được người con tài danh là Pháp Sư La Thập.

          Năm bảy tuổi, Sư theo mẹ lên chùa lễ Phật, thấy một cái bát sắt đặt trước tượng. Sư cầm giở lên xem, chợt nghĩ: “Ḿnh c̣n nhỏ làm sao đủ sức giở nổi cái bát to như thế này?”, bèn cảm thấy bát nặng giở lên không nổi. Do vậy, Ngài đại ngộ diệu chỉ “vạn pháp duy tâm”. Chẳng lâu sau, cha mất, Ngài theo mẹ xuất gia. Từ năm lên chín tuổi, Sư đă theo mẹ đi khắp các xứ trong Thiên Trúc học đạo. Thoạt đầu, Ngài học các kinh luận Tiểu Thừa với Ngài Bàn Đầu Đạt Đa (Bandhudatta) xứ Kế Tân. Rồi theo Ngài Tu Lê Da Tô Ma (Suryasoma) học kinh Đại Thừa, theo Ngài Tỳ Ma La học Luật.

          Ngài La Thập thông minh dị thường, mỗi ngày tụng thuộc cả ngàn bài kệ, nên nhanh chóng bác thông Tam Tạng, thâm đạt nghĩa lư Đại Thừa. Ngài tinh thông cả những ngoại điển như Tứ Vi Đà, Ngũ Minh v.v... Pháp Sư biện tài vô ngại lại thêm học thức siêu tuyệt nên từng hàng phục nhiều tay ngoại đạo trứ danh đương thời. Bởi đó, danh tiếng Ngài chấn động khắp toàn xứ Ấn Độ. Khi các quốc vương Tây Vực thỉnh Ngài thuyết pháp, họ thường bày pháp ṭa sư tử bằng vàng, thỉnh Ngài đăng tọa, rồi quỳ gối nghe giảng. 

          Khi lâm chung, mẹ Ngài dặn ḍ: “Duyên hóa độ của con ở tại phương Đông, Phật pháp tại đó sẽ nhờ con mà được hưng thịnh”. Tuân theo di huấn, Ngài trở về phương Đông, trụ tại nước Quy Tư, được quốc vương rất mực ưu đăi, kính trọng.

          Khi ấy, Phù Kiên đă chiếm cứ Thiểm Tây, lập ra nhà Tiền Tần. Người dân trong nước ấy mỗi đêm thường thấy ở phương Tây Nam có hào quang ngất trời, ai nấy đều lấy làm lạ. Quan Thái Sử tâu với vua: “Phương Tây Nam có bậc đại trí huệ thánh giả. Theo phương hướng mà suy, vị ấy ắt đang ở trong nước Quy Tư”. Vua bảo: “Ta nghe tiếng Pháp Sư Cưu Ma La Thập đă lâu. Ngài trí huệ hơn người, học vấn xuất chúng. Ông nên đem binh qua đó thương nghị với vua xứ Quy Tư, được th́ tốt. Không được th́ diệt luôn nước ấy”.

          Nói xong, vua sai Lữ Quang lănh mấy vạn binh rầm rộ kéo sang Quy Tư. Nhận thấy Quy Tư binh ít, thế cô, khó ḷng bảo tồn đất nước, Ngài La Thập khuyên quốc vương nên để cho Ngài theo Lữ Quang sang Trung Hoa. Trong khi ấy, nhân dịp Phù Kiên chinh phạt Đông Tấn thất bại, Dao Trành làm phản giết chết vua, tự xưng đế. Lữ Quang đi đến Lương Châu, nghe tin đó, bèn chiếm cứ Lương Châu, tự xưng là Tam Hà Vương, đặt quốc hiệu Lương. Trong thời gian bị giữ tại Lương Châu, Pháp Sư La Thập dành trọn thời gian học hỏi văn hóa, triết học Trung Quốc.

          Sau khi Dao Trành chết, Dao Hưng kế vị, bèn cử binh công hăm Lương Châu, tiêu diệt vây cánh của Lữ Quang, đón được Ngài La Thập về Tần, tôn làm Quốc Sư, dành riêng vườn Tiêu Dao làm đạo tràng dịch kinh cho Ngài La Thập. Người tham dự đạo tràng dịch kinh có khi lên đến cả ba ngàn người. Những vị hữu danh là Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sanh, Đạo Dung, thường được xưng tụng là “Thập môn tứ kiệt” (bốn tay kiệt hiệt dưới trướng Ngài La Thập). Những bản kinh Ngài dịch được lưu hành rộng răi nhất là Pháp Hoa, Duy Ma Cật, Kim Cang và kinh A Di Đà này.

Lúc gần viên tịch, Pháp Sư từng phát nguyện: “Nguyện những bản kinh luận tôi dịch được lưu truyền rộng răi trong thế gian. Nếu những bản dịch ấy không trái với Phật ư, th́ sau khi tôi chết, dù thiêu thân lưỡi tôi vẫn không nát”. Ngài viên tịch vào ngày 12 tháng Tám năm Hoằng Thỉ thứ mười lăm (sách Nhị Khóa Hiệp Giải ghi là năm Hoằng Thỉ thứ 18), thọ 74 tuổi. Khi đại chúng cử hành lễ trà tỳ nhục thân Ngài ở vườn Tiêu Dao, toàn thân cháy tan, riêng cái lưỡi c̣n nguyên vẹn, màu sắc tươi nhuận như khi sống. Tương truyền, Ngài là bậc dịch kinh của cả bảy đức Phật.

 

3.     Dịch:

 

Dịch là phiên dịch, tức là chuyển dịch ư nghĩa từ tiếng Phạn sang Hoa văn. Ở Trung Hoa vào thời cổ, vua đặt các chức quan ở bốn phương đặc trách việc chuyển dịch ngôn ngữ của các lân quốc sang tiếng Hán. Chức quan này ở phương Nam gọi là Tượng, ở phương Bắc gọi là Dịch, ở phương Tây gọi là Địch Đề, ở phương Đông gọi là Kư.

Kinh Phật từ phương Tây Trung Hoa truyền vào, lẽ ra phải dùng chữ Địch Đề, nhưng sao lại dùng chữ Dịch? Ấy là do hai vị Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan là những bậc dịch kinh tiên khởi của Trung Hoa đă theo đường phương Bắc vào Tàu. Các bản dịch của hai Ngài được quan đặc trách ngôn ngữ phương Bắc phê duyệt nên dùng chữ Dịch. Từ đó, các thế hệ sau đều tuân theo cách gọi này.

Bản kinh A Di Đà này được Ngài La Thập dịch vào ngày mồng Tám tháng Hai năm Hoằng Thỉ thứ tư (402) tại chùa Thảo Đường.

 

X. CHÁNH THÍCH KINH VĂN (phần giải thích kinh văn)

 

Người đầu tiên đề xướng khái niệm phân chia kinh văn thành ba phần: Tự, Chánh Tông, Lưu Thông là Ngài Thích Đạo An (313-385). Đương thời, Ngài bị các bậc học giả đả kích quyết liệt. Họ công kích Ngài là tự thị thông minh, thiện tiện phân chia kinh văn khiến thánh giáo bị rối loạn.

Măi đến đời Đường, khi bản Phật Tâm Địa Luận của Thân Quang Bồ Tát được truyền vào Tàu, trong luận ghi rơ: “Phàm là kinh Phật, chẳng luận Đại Thừa, Tiểu Thừa, đều có đủ ba phần”, các học giả đương thời mới mô phỏng theo cách Ngài Đạo An đề xướng để giải thích kinh điển.

Tự phần tŕnh bày duyên do phát khởi bản kinh, Chánh Tông là phần xiển minh yếu chỉ của kinh, Lưu Thông là phần tường thuật danh đề, sự lưu truyền của kinh.

Từ “như thị ngă văn” cho đến “kim hiện tại thuyết pháp” là Tự Phần.

Từ “Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” cho đến “nguyện sanh bỉ quốc” là phần Chánh Tông.

Từ “Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả tán thán A Di Đà Phật” cho đến “tác lễ nhi khứ” là phần Lưu Thông.

 

A. TỰ PHẦN

Gồm hai phần: Thông tự (chứng tín tự) và Biệt Tự.

 

1. THÔNG TỰ:

1.1. Lục chủng thành tựu:

 

Gọi là Thông v́ kinh nào cũng gồm đủ sáu điều. Sáu điều như thế nhằm xác chứng bản kinh này đích xác từ kim khẩu của Đức Phật thuyết ra, nên c̣n gọi là Lục Chủng Thành Tựu (sáu điều thành tựu): Tín Thành Tựu, Văn Thành Tựu, Thời Thành Tựu, Chủ Thành Tựu, Xứ Thành Tựu và Chúng Thành Tựu.

Biển cả Phật pháp do tín tâm mà được vào; nên nếu không có tín tâm th́ làm sao pháp hội thành tựu được? V́ vậy, Lục Chủng Thành Tựu lấy Tín làm đầu.

Trong các căn, nhĩ căn của chúng sanh tại cơi Sa Bà này lanh lợi nhất, nên để hóa độ chúng sanh, Đức Phật phải thuyết pháp. Nếu không có kẻ nghe, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu được, nên phải có Văn Thành Tựu.

Đă thuyết pháp th́ phải có thời gian thuận tiện, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt hay khi đang ly loạn, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. V́ thế phải có Thời Thành Tựu.

Nếu không có người đứng đầu thuyết pháp th́ dù có đủ cả năm nhân duyên kia, pháp hội vẫn không thể thành tựu được. V́ thế, phải có Chủ Thành Tựu.

Nếu không có nơi chốn để thuyết pháp th́ pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. V́ thế phải có Xứ Thành Tựu.

Giảng kinh, thuyết pháp để cho đại chúng nghe. Nếu không có đại chúng nghe pháp th́ giảng pháp cho ai. V́ thế phải có Chúng Thành Tựu.

 

1.2. Tiền ngũ chủng thành tựu (năm thứ thành tựu đầu)

 

Chánh kinh:

 

Như thị ngă văn: Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.

 

          Giải:

Câu kinh này không phải là lời Đức Phật nói mà là do người kết tập kinh thêm vào. 

“Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngă văn” là Văn Thành Tựu.

 

1.2.1 Như thị:

Chữ “như thị” ngụ ư việc ǵ đúng đắn, đáng tin tưởng được. Việc ǵ đáng tin th́ gọi là Như Thị, chẳng đáng tin gọi là Bất Như Thị.

Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Nghĩa là sau khi Đức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển, Phật dạy sao, Ngài A Nan cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may. Đó là Như. Lời Phật dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là Thị.

Hơn nữa, khi kết tập Kinh Tạng, đại chúng cung thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hăy nói đúng như thế ấy”; Ngài A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi đă được nghe”. V́ thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ư tín thuận.

Chữ Như Thị c̣n có thể hiểu theo hai nghĩa Thông và Biệt như sau:

a. Về Thông nghĩa, chữ Như Thị chỉ về Thật Tướng. Xét về Lư, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi là Như. Xét về Thể, Thật Tướng ĺa hết thảy hư vọng, hư luận. Đó là Thị. 

b. Nếu ước theo Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm Bất Loạn là Như, Quyết Định Văng Sanh là Thị.

Hơn nữa, tâm chẳng khác Phật, Phật chẳng khác tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy chính là tâm này nên gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng nhất thể, duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà nên gọi là Như Thị.

Nếu ước theo chúng sanh niệm Phật th́ đạt được nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định văng sanh Cực Lạc là Thị.

Nếu ước theo cảnh giới Cực Lạc th́ cơi Cực Lạc chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại, không” nên là Như; cảnh giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư huyễn nên gọi là Thị.

Hơn nữa, xét theo chánh báo, chúng sanh cơi Cực Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng giống với huyễn thân của chúng sanh cơi Sa Bà có sanh tử; cho nên gọi là Như. Hoa nở gặp Phật, chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.

Nếu ước theo đức Di Đà Như Lai mà nói th́ bốn mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu kiếp tu hành đúng như thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như. Nay đă thành tựu, thỏa măn sở nguyện, tạo thành cơi Cực Lạc để độ khắp chúng sanh niệm Phật, từ khi thành Phật đến nay đă là mười kiếp, thật chẳng phải là chuyện hư vọng nên gọi là Thị.

Hơn nữa, y báo, chánh báo cơi Cực Lạc đều là chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù thắng trang nghiêm trong cơi Cực Lạc, không điều ǵ chẳng phải do công đức nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành và do tâm niệm của chúng sanh niệm Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.

Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng bậc nhất, không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như. Tuân lời Phật dạy, niệm Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.

 

          1.2.2. “Ngă văn”

         

“Ngă văn” là Văn Thành Tựu, ngụ ư: pháp như thế ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.

Phàm những lời Đức Phật đă giảng, Ngài A Nan đều lănh hội, chẳng quên một câu nào, nên Đức Phật từng tán thán: “Phật pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.

          Chữ Ngă ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt bẻ: “Phật pháp coi Ngă Chấp là căn bịnh chấp trước lớn và là căn bản của mọi sự ác. Ngài A Nan đă chứng Tứ Quả sao c̣n chấp ngă tướng như vậy?” Xin trả lời: Ngă có nhiều thứ bất đồng:

          - Vọng ngă: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc thân tứ đại chẳng phải là Ngă mà vọng chấp là Ngă.

          - Thần ngă: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấm là Thần Ngă.

          - Giả ngă: Nhị Thừa hiểu rơ Ngũ Ấm chẳng phải là Ngă, nhưng giả nói có Ngă.

          - Chân ngă: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp Thân, gọi là Chân Ngă.

- Tự tại ngă: Từ quả khởi dụng, hoằng pháp lợi sanh, gọi là Tự Tại Ngă.

          Ngài A Nan đă chứng Tứ Quả, đă đoạn sạch phiền năo trong tam giới, đă trừ khử được ngă chấp lầm lạc của phàm phu, không c̣n dính mắc nơi tà kiến chấp ngă của ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngă giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta cùng A Nan ở chỗ Phật Không Vương đồng thời phát Bồ Đề tâm”, cho thấy Ngài A Nan chỉ quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo thế tục giả xưng là Ngă. Đấy là phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp Thân đại sĩ đó thôi.

          Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngă, chẳng nói là Vô Ngă là v́ các nguyên nhân sau:

          - V́ dễ nói: Nếu nói là Vô Ngă th́ trong ba thứ Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối tượng lănh thọ kinh này?

          - Thuận theo thế gian mà nói Ngă.

          - Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi nghe nói Vô Ngă. Đại chúng nghe nói Vô Ngă sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?

          Nếu vậy, tại sao không nói rơ là “A Nan tôi nghe” mà lại chỉ chép là “ngă văn?”

          V́ các lư do sau đây:

          - Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân Đế, nhưng trong Tự Phần chẳng dùng văn tự trái nghịch với Tục Đế. Về lư tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói chung là: Tuy hiển thị Chân Đế nhưng chẳng rời Tục Đế vậy. 

          - Chữ Ngă có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện ghi: “Có ba A Nan: Một là A Nan Đà (Khánh Hỷ) tŕ Thanh Văn Tạng; hai là A Nan Bạt Đà (Hỷ Hiền) tŕ Độc Giác Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải) tŕ Bồ Tát Tạng”. Thật ra chỉ có một vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra ba tên như thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn nghĩa đều trọn đủ, lại tổng tŕ Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh th́ đối với các pháp sẽ chẳng được tự tại (v́ c̣n hạn cuộc vào một pháp nhất định). V́ thế, Ngài phải xưng là Ngă để trọn đủ nghĩa “tự tại”.

          - Chữ “Ngă” ngụ ư là đích thân. Thế gian hay nói “đích thân tôi nghe thấy” sự như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được nghe từ nơi Thế Tôn.

          Nhĩ căn nhận lănh âm thanh gọi là Văn (nghe). Tai nghe nhưng lại bảo là “ngă văn” v́ Ngă là chủ thể, Nghe là công dụng của nhĩ căn, mà thân lại chính là tổng thể của sáu căn. V́ thế, dựa theo tổng thể mà nói nên chép là “ngă văn”.

          Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lư, trước hết phải nghe pháp. Cơi Sa Bà này dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được công dụng để thành tựu đạo xuất thế.

          Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngă ở đây là Chân Ngă nơi tự tánh. Dùng cái chân ngă nơi tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ căn có công dụng thô phù, chỉ lănh nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa phải là “nghe” một cách chân thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân tâm để lắng nghe nên gọi là “ngă văn”. 

         

1.2.3. Tín văn duyên do (nguyên do phải có Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu)

          Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu nhằm phát khởi tín tâm nơi thính giả. Tín tâm có phát khởi mới có thể y giáo tu hành, đạt được lợi ích chân thật.

          Nói tổng quát, đầu các kinh phải đề bốn chữ “như thị ngă văn” v́:

 

a. Tuân thủ lời di chúc của Phật:

 

Hết thảy kinh điển đều do đích thân Đức Phật thuyết ra; nhưng lúc Phật c̣n tại thế kinh điển chưa được ghi chép lại. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan bi cảm, khóc lóc thảm thiết. Trưởng lăo A Na Luật khuyên A Nan nên nén ḷng, hỏi Phật bốn điều: “Lúc Phật c̣n tại thế, chúng con nương vào Phật mà trụ. Khi Phật đă nhập diệt rồi, nên nương vào đâu? Lúc Phật c̣n tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật nhập diệt rồi, lấy ǵ làm thầy? Phật c̣n tại thế, Ngài tự điều phục ác tánh tỳ kheo; nay Phật mất đi, làm sao điều phục? Hết thảy kinh giáo Đức Phật đă thuyết, đến khi kết tập nên để thế nào, để cho hậu thế dốc ḷng tin tưởng?”

Phật dạy: “Nên lấy giới làm thầy, y theo Tứ Niệm Xứ mà trụ. Bọn tỳ kheo khác nên dùng biện pháp mặc tẫn để trị phạt (“mặc tẫn” là im lặng, không chuyện tṛ, giao thiệp với họ để cô lập họ). Đầu hết thảy các kinh nên để “như thị ngă văn nhất thời Phật tại mỗ xứ dữ đệ tử nhược can câu” (tôi nghe đúng như thế này: Một thời Đức Phật ngự tại chỗ mỗ), cùng với bao nhiêu đệ tử nhóm họp).

 

b. Đoạn nghi hoặc:

 

Lúc kết tập kinh điển, A Nan lên pháp ṭa, đột nhiên tướng hảo trang nghiêm giống hệt như Phật, khiến cho thính chúng phát khởi ba thứ nghi vấn: Một là nghi Phật sống lại, hai là nghi Phật từ phương khác đến, ba là nghi A Nan đă thành Phật. Khi Ngài A Nan xướng to “như thị ngă văn”, ba mối nghi ấy đều trừ sạch.

 

c. Dứt tranh căi:

 

Khi kết tập, Ngài A Nan thị hiện mới chứng Sơ Quả, đức hạnh c̣n thua các trưởng lăo A La Hán khác, huống hồ là các bậc địa thượng Bồ Tát (địa thượng Bồ Tát là các vị Bồ Tát đă chứng từ Sơ Địa trở lên)? Nếu chẳng nói “như thị ngă văn’, ắt sẽ có vị bắt bẻ, cho rằng những kinh pháp đó do A Nan tự ư nói ra. Nay nói những pháp ấy đều do đích thân Ngài nghe từ Đức Phật th́ đại chúng đều công nhận A Nan là bậc đa văn đệ nhất, nghe qua tai chẳng hề quên mất, nên sẽ không tranh biện nữa.

 

d. Khác với kinh điển ngoại đạo:

 

Kinh ngoại đạo thường bắt đầu bằng hai chữ “A Ưu”. A là không, Ưu là có. Họ dùng hai chữ ấy với ngụ ư có và không đều đủ cả chẳng khuyết. Nay dùng sáu thứ thành tựu để giúp người học Phật phân biệt giữa kinh Phật và kinh ngoại đạo.

 

1.2.4. Nhất thời

 

“Nhất thời” là Thời Thành Tựu (thời tiết nhân duyên chưa đến th́ chưa ban đại pháp, đúng thời mới thuyết pháp nên gọi là Thời Thành Tựu).

Thời không có thực thể nhất định, chỉ là từ sự mà đặt tên, chẳng hạn như thời thuyết pháp, thời làm việc v.v... Đức Phật thuyết pháp trên cơi trời, hoặc ở long cung, hoặc nơi chốn quỷ. Do xứ sở sai khác nên thời gian cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn năm mươi năm trên cơi người chỉ bằng đúng một ngày nơi cơi Tứ Thiên Vương, ở Nam Thiệm Bộ Châu vừa đúng ngọ, Bắc Câu Lô Châu đă sang canh ba; lịch pháp của Đông phương khác với lịch Tây Phương. Bởi thế chẳng thể xác quyết là năm tháng nào, ngày giờ nào.

Hiểu theo Duy Thức, chữ Thời có hai nghĩa:

          - Một là “đạo lư thời”: Trong từng sát na, ngũ uẩn của người nói lẫn kẻ nghe sanh diệt liên tục, thành ra dường như có trước, có sau, nên mới giả lập có tam thế. Cứ mỗi một khoảng sanh diệt ấy gọi là Nhất Thời vậy.

          - Hai là “duy thức thời”: nơi tâm thức của người nói, kẻ nghe sanh khởi tướng trạng ba thời. Do tâm tưởng phân biệt của chúng sanh mà thấy có thời gian dài ngắn, khi sự việc kết thúc th́ gọi là “nhất thời”. Khác nào như nằm mộng tưởng là đă trải qua nhiều đời, tỉnh giấc mới biết toàn là những sự biến hiện trong tâm chứ chẳng có cảnh thật. Tâm của người nghe sanh khởi ư niệm tam thế cũng như vậy.

          Như vậy, cứ mỗi khi người nghe căn cơ thuần thục sẽ cảm được Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật từ bi ứng cơ, nói và vừa xong th́ gọi là Nhất Thời.

 

          1.2.5. Phật:

          Phật là Chủ Thành Tựu (nếu thuyết pháp không có người làm chủ th́ biết nhờ vào ai để khai hiển giáo pháp). Phật ở đây là đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Phật đầy đủ ba thứ giác như phần trên đă giảng. Ngài là bậc đại giác thánh nhân, công đức viên măn tột bậc.

 

          1.2.6. “Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên”:

         

Đây là Xứ Thành Tựu.

a. “Tại” có nghĩa là trụ. Pháp thân chư Phật vô trụ, vô bất trụ. Pháp thân vốn vô h́nh vô tướng nên bảo là “vô trụ”. Tâm lượng bao trùm trọn khắp pháp giới nên bảo là “vô bất trụ”. Báo thân chẳng trụ, hễ gặp đại căn cơ cảm phát th́ trụ, như trong hội Hoa Nghiêm Phật hiện thân Tỳ Lô Giá Na (Hán dịch là Quang Minh Biến Măn) để thuyết giáo pháp viên đốn. Ứng thân cũng chẳng trụ, toàn là do căn cơ của chúng sanh cảm ứng mà được thấy, tùy từng loại chúng sanh mà thấy thân Phật khác nhau.

Ứng thân ứng hiện theo căn cơ để thuyết pháp th́ giả gọi là Trụ. Chẳng hạn như đức Bổn Sư trụ thế tám mươi năm, khi căn cơ hóa độ đă hết, ứng thân liền diệt. Nay trong kinh này, Phật trụ tại nước Xá Vệ, ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.

b. Xá Vệ là tên một thành phố, gọi cho đúng là Thất Lợi La Phiệt Tất Để, chính là đô thành của nước Kiều Tát La (Hán dịch là Công Xảo). Kiều Tát La là một trong mười sáu nước lớn ở Trung Ấn Độ thời ấy. Ở đây nói “Xá Vệ Quốc” là gọi tên nước theo kinh đô vậy. 

Xá Vệ, Hán dịch là Văn Vật hoặc Phong Đức, ngụ ư sản vật tươi tốt, dồi dào nổi danh khắp các nước. Nước có nhiều của cải sản vật là Phong, dân trong nước có nhiều người giải thoát đa văn là Đức. Theo kinh Kim Cang Bát Nhă, thuở xưa có hai anh em tu tiên đắc quả tại đó nên thành ấy được mang tên là Xá Đề Bà (cách phiên âm khác của chữ Xá Vệ). Cách thành ấy sáu dặm có một hoa viên lớn, thuộc quyền sở hữu của thái tử Kỳ Đà.

c. Chữ Kỳ trong “Kỳ thọ” chỉ thái tử Kỳ Đà (c̣n phiên âm là Thệ Đa - Jeta, nên vườn Kỳ Đà c̣n gọi là Thệ Đa Lâm. Thái tử là con vua Ba Tư Nặc (Hán dịch là Ḥa Duyệt hay Thắng Quân). Kỳ Đà nghĩa là Chiến Thắng v́ khi vua Ba Tư Nặc giao tranh cùng lân quốc, chiến thắng hồi triều nhằm đúng lúc Thái Tử sanh ra nên đặt tên con như thế. Thọ là cây cối.

Cấp Cô Độc là tên một vị Trưởng Giả, là một đại thần của vua Ba Tư Nặc, tên thật là Tu Đạt Đa (c̣n gọi tắt là Tu Đạt, Hán dịch là Thiện Thí). Cấp có nghĩa là chu cấp, chẩn tế. Trẻ nhỏ không cha gọi là Cô, người già không con gọi là Độc. Già không vợ gọi là Quan, già không chồng gọi là Quả. Đó là bốn hạng người khốn khổ trong xă hội. Ở đây chỉ dùng hai chữ “Cô Độc” để bao gồm cả hai loại kia, cũng như tất cả những người bần cùng, khốn khổ khác. Ông Tu Đạt Đa thường đem của cải chu cấp, cứu giúp những người nghèo cùng khốn khổ, cô đơn, nên được mỹ hiệu là Cấp Cô Độc.

Khi Đức Phật c̣n ngự tại nước Ma Kiệt Đà, chưa đến Xá Vệ, ông Tu Đạt Đa v́ cưới vợ cho con phải qua thành Vương Xá, ở tại nhà trưởng giả San Đàn Na, thấy ông San Đàn Na nửa đêm thức dậy, đốc thúc gia nhân sửa soạn tiệc chay. Ông Tu Đạt Đa hỏi bạn: “Ngài muốn thỉnh quốc vương đến nhà hay là làm tiệc chúc thọ vậy?” Ông kia đáp: “Đâu phải! Tôi muốn thỉnh Phật Đà đến cúng dường”. Tu Đạt Đa nghe đến hai chữ Phật Đà, lông trên thân dựng cả lên, trong ḷng khoan khoái, hỏi: “Phật Đà là ai?” San Đà Na liền thuật tỉ mỉ các công đức của Phật.

Tu Đạt Đa nghe xong, thiện căn đời trước lập tức phát khởi, hoan hỷ, náo nức, sanh ḷng kính mộ sâu xa, liền hỏi Phật đang ở đâu? Khi biết đức Thế Tôn đang ở Trúc Lâm Tinh Xá, ông mong được đến gặp Phật ngay. Phật biết tâm ông khát ngưỡng thiết tha nên từ bi phóng đại quang minh khiến đêm đen sáng trưng như ban ngày. Theo ánh sáng, ông t́m đến Trúc Lâm cách nhà trưởng giả San Đàn Na hơn năm mươi dặm.

Trong khi đi đường, ông thấy miếu thờ trời bèn tạt vào làm lễ. Ánh quang minh liền tắt phụt. Tu Đạt Đa sanh ḷng hổ thẹn, ánh Phật quang lại rạng ngời như cũ, Đến nơi, ông thấy Phật đang đi kinh hành trong sân. Thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật, ông càng thêm kính ngưỡng, nhưng chưa biết lễ kính thế nào. Khi ấy, Thủ Đà Thiên trên hư không liền hóa ra bốn người đến trước Thế Tôn đầu mặt lạy chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, hồ quỳ, chắp tay thưa hỏi. Tu Đạt Đa theo đúng cách thức đó lễ Phật.

Phật giảng pháp Tứ Đế, ông xiết bao hoan hỷ, cảm ngộ, chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, bèn thỉnh Phật quang lâm Xá Vệ. Phật bảo phải có tinh xá để chứa đựng chúng Tăng, ông bèn thỉnh Phật chỉ dạy cách thức kiến thiết tinh xá. Phật sai Ngài Xá Lợi Phất theo ông qua Xá Vệ để hướng dẫn việc lập tinh xá.

Xem khắp trong nước, Ngài Xá Lợi Phất thấy chỉ mỗi hoa viên của thái tử Kỳ Đà là nơi thích hợp hơn cả. Tu Đạt Đa bèn đến xin mua lại hoa viên của Thái Tử, Thái Tử nghe vậy bèn nói giỡn: “Nếu khanh đem vàng lót kín đất, ta sẽ nhượng cho khanh”. Trưởng giả tức thời chở vàng đến lót kín vườn. Cảm động trước tấm chân thành ấy, Thái Tử Kỳ Đà xin dâng cúng cây trong vườn để góp công đức. Theo kinh Hiền Ngu, Đức Phật bảo A Nan: “Khu rừng vườn này do ông Tu Đạt mua, cây cối hoa cỏ trong rừng thuộc sở hữu của thái tử Kỳ Đà. Hai người đồng tâm cùng lập tinh xá nên đặt tên nơi này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên”.

          Khu tinh xá này ở phía Nam thành Xá Vệ, gồm mười hai ngôi chùa, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm pḥng ốc, năm trăm lầu gác, được kiến lập đúng vào lúc Đức Phật đă thành đạo được sáu năm.

 

          1.2.7. Tiền ngũ chủng thành tựu đích hiển lư (thuyết minh về mặt lư năm điều thành tựu trên)

         

“Như thị” biểu thị tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ: không khiếm khuyết là Như, ai cũng sẵn có là Thị; đấy là nghĩa “tự tánh Di Đà”. Chẳng ĺa ngay đương xứ là Như, toàn thể không ǵ là chẳng sai sót là Thị, đấy là nghĩa “duy tâm Tịnh Độ”. 

          “Ngă văn” là tự tánh thấu suốt cùng tột mười phương. “Nhất thời” là sáu căn quy nguyên, Thể và Dụng dung hợp lẫn nhau. Phật ngự tại Kỳ Viên biểu thị tự tánh chẳng ĺa đương xứ. Giảng pháp này tại nước Xá Vệ là nước thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ rộng lớn sâu xa, là pháp tối thượng. Trong vườn ấy, cây thuộc về Thái Tử Kỳ Đà nên cây cối nơi ấy cũng thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ lợi lạc quần sanh, khiến họ vĩnh viễn ĺa khỏi nhiệt năo. Vườn ông Cấp Cô Độc là ngôi vườn thù thắng trong các tịnh xá thời đó, biểu thị Tịnh Độ thù thắng trang nghiêm, chúng sanh nhờ đó luôn hưởng thọ các sự an lạc.

Hơn nữa, thái tử Kỳ Đà thuộc gịng dơi thù thắng, biểu thị người được văng sanh Tịnh Độ rốt ráo thành Phật, tiếp nối gịng dơi Phật. Trưởng giả Tu Đạt là hạng người thù thắng, biểu thị người sanh trong Tịnh Độ đều là bậc thượng thiện nhân.

 

          1.3. Chúng thành tựu

          1.3.1. Thanh Văn chúng (chúng Thanh Văn)

          1.3.1.1. Minh hiển tiêu số (nêu rơ đức hạnh và số lượng của chúng Thanh Văn)

 

          Chánh kinh:

 

Dữ đại tỳ kheo tăng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.

          (Cùng với chúng đại tỳ kheo tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị cùng họp lại).

 

          Giải:

          Từ câu “Đại tỳ kheo tăng” cho đến “chư thiên đại chúng” là thuộc về Chúng Thành Tựu. Phải nêu rơ đại chúng nghe pháp gồm những ai là v́:

          - Để chứng tín: không phải riêng ḿnh Ngài A Nan được nghe pháp này mà c̣n có những vị như thế hiện diện, chứng thực tính chân xác của kinh.

          - Để minh định rơ đại chúng nghe pháp, ai là Quyền, ai là Thật. Phật Địa Luận chép: “Hóa thân Phật thuyết pháp trong uế độ th́ Thanh Văn là thật, Bồ Tát là quyền. Báo thân Phật thuyết pháp trong Tịnh Độ th́ Bồ Tát là thật, Thanh Văn là quyền”. Cơi Sa Bà này là uế độ, đương nhiên chúng Bồ Tát là quyền.

          Thính chúng nghe pháp gồm có năm loại: một là chúng đạo hạnh cao quư, hai là chúng bi tâm rộng lớn, ba là các chư thiên ưa thích Phật pháp, bốn là nhân loại trong Dục giới, năm là chúng phi thiên, a tu la v.v...

          Ở đây chúng Thanh Văn là những bậc đức hạnh cao quư nên được nêu trước hết.

          Hỏi: V́ sao trong các kinh khác đều kể rơ có thiên long bát bộ nghe pháp, kinh này chỉ nói đến ngũ chúng?

          Đáp: Pháp môn Tịnh Độ đây, nếu chẳng phải là bậc thượng đức, thượng hiền th́ chẳng thể nào tin nhận nổi. V́ thế chỉ nêu năm chúng, chẳng nêu các chúng khác.

          Năm chúng đây lại có thể chia thành hai loại: nội hộ chúng và ngoại hộ chúng. Nội hộ chúng là Thanh Văn, Bồ Tát; ngoại hộ chúng là chư thiên, nhân loại, phi thiên...

          Theo Phật Địa Luận, chúng Thanh Văn được nêu trước chúng Bồ Tát v́ những nguyên nhân sau đây:

          - H́nh tướng bất đồng: Thanh Văn là bậc xuất gia, h́nh tướng giống như Phật, tŕ xuất gia giới. Bồ Tát không giống như vậy.

- Xét về nơi chốn có gần hay xa: Thanh Văn gần Phật, Bồ Tát v́ hóa độ chúng sanh nên không thể thường xuyên gần gũi Phật được.

          - Giới đức sai khác: Thanh Văn xuất gia tŕ giới xuất gia, Bồ Tát chẳng giống vậy v́ phải tùy thuận để hóa độ chúng sanh.

- Muốn cho hàng Bồ Tát chẳng sanh tâm kiêu mạn đối với chúng Thanh Văn.

 

“Một ngàn hai trăm năm mươi người” là nói về số lượng của các vị đại đức xuất gia. “Dữ” nghĩa là cùng với.

Dùng chữ “Đại” để phân biệt với tiểu, hàm ư những vị hiện diện trong pháp hội này chẳng phải là hạng tiểu căn cơ, sơ tâm tỳ kheo. Trong tiếng Phạn, Đại là Ma Ha. Chữ Ma Ha gồm có đến ba nghĩa: lớn, nhiều, thù thắng. Nay chỉ dùng chữ Đại để đại diện cho cả ba đức.

          - Các tỳ kheo được trời người kính ngưỡng, đức cao trọng vọng nên gọi là Đại, hàm nghĩa chẳng phải là Tiểu đức. Chẳng hạn như Ngài Mục Liên là thầy của Đế Thích, Ngài Ca Diếp là thầy của Phạm Vương.

          - Trí huệ sâu thẳm, thông đạt thấu suốt nội điển, ngoại tịch, nên bảo là Đa, tức chẳng phải là kẻ học thức kém cỏi.

          - Hơn hẳn chín mươi sáu thứ ngoại đạo nên bảo là Thắng, chẳng phải là căn cơ hèn kém vậy.

         

Bồ Tát Long Thọ lại bảo chữ Đại được dùng ở đây để ngầm nêu năm nghĩa:

          - Số đại: v́ có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo dự pháp hội.

          - Ly đại: v́ đă đoạn được đại chướng (phiền năo).

          - Vị đại: v́ họ đều là bậc đại A La Hán.

- Danh đại: tên tuổi lẫy lừng khắp nơi.

- Thức đại: được bậc đại nhân và đại chúng cùng biết đến.  

         

Các vị tỳ kheo dự hội đây đều là hạng mật hạnh Bồ Tát, thị hiện h́nh tướng Thanh Văn để hóa độ chúng sanh. Các Ngài là bậc thường du hóa cơi Phật, trang nghiêm tịnh độ, trên th́ vận dụng trí để cầu thượng quả, dưới th́ vận ḷng bi để tiếp độ chúng sanh.

 

Chữ “tỳ kheo” (c̣n phiên âm là Bật Sô hay Bí Xu) có năm nghĩa:

         

a.Khất sĩ:

Khất là cầu xin. Đức Phật chế định tỳ kheo phải hành hạnh khất thực (tiếng Phạn là Phần Vệ), v́ có năm điều lợi ích: trừ tâm kiêu mạn; giúp thế nhân gieo trồng phước điền; chẳng bị việc kinh doanh làm phiền lụy; chẳng sanh khởi ư niệm cất chứa, tham cầu; rảnh rang để nhất tâm chuyên tu.

          “Khất” c̣n có nội nghĩa và ngoại nghĩa. Nội nghĩa là khất pháp nơi Đức Phật để nuôi dưỡng huệ mạng, ngoại nghĩa là khất cầu nơi đàn việt (thí chủ) để duy tŕ sắc thân. 

         

b. Phá ác:

Phá là trừ diệt, Ác là kiến hoặc, tư hoặc phiền năo. Như vậy, “phá ác” là diệt ác pháp phiền năo, diệt ác nhân sanh tử trong tam giới.

 

c. Bố ma:

Hễ có người phát tâm xuất gia, Ma vương nghe biết rất sợ hăi, chỉ sợ người ấy thành đạo xuất thế khiến ma chúng bị giảm bớt. V́ thế, gọi là Bố Ma (làm cho ma sợ hăi).

 

d. Tŕ tịnh giới.

 

e. Tịnh mạng:

Đă thọ giới nên những hành vi, ngôn ngữ, ư niệm chẳng c̣n phát khởi từ tham tâm nữa cũng như chẳng dùng những phương cách dâm tà để nuôi sống thân ḿnh. 

 

“Tăng” gọi đủ là Tăng Già, dịch là Ḥa Hợp Chúng. Ḥa Hợp có hai nghĩa Lư Ḥa và Sự Ḥa:

- Đồng chứng vô vi giải thoát là Lư Ḥa.          

- Sự Ḥa gồm sáu điều: Thân ḥa đồng trụ (thân ḥa hợp cùng trụ một chỗ), khẩu ḥa vô tranh (miệng ḥa hợp không tranh căi), ư ḥa đồng duyệt (ư ḥa hợp vui vẻ cùng nhau), kiến ḥa đồng giải (cùng ḥa hợp chia sẻ kiến giải với nhau), giới ḥa đồng tu (cùng ḥa hợp giữ giới với nhau), lợi ḥa đồng quân (ḥa hợp chia xẻ lợi dưỡng đồng đều cho nhau). Đủ sáu điều ḥa hợp như thế mới đáng gọi là Tăng.

         

“Một ngàn hai trăm năm mươi người”: Khi Đức Phật mới thành đạo, độ năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển (năm vị này có quan hệ huyết thống với Phật. Mă Thắng, Tiểu Hiền, Ma Ha Nam là anh em họ bên nội; Thập Lực Ca Diếp, Kiều Trần Như là anh em họ bên ngoại). Tiếp đó, độ con trai của trưởng giả Da Xá và bạn bè (Da Xá đây là con trai của một vị trưởng giả họ Câu Lê ở thành Tỳ Xá Ly thuộc nước Ba La Nại, nên gọi là Da Xá trưởng giả tử), tổng cộng là năm mươi lăm người.

Tiếp đó, ở rừng Mộc Qua, độ thầy tṛ Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tất cả là năm trăm người. Độ thầy tṛ Già Da Ca Diếp ở núi Tượng Đầu và thầy tṛ Na Đề Ca Diếp bên sông Ni Liên Thiền, tổng cộng là 500 người (Ca Diếp là họ, Ưu Lâu Tần Loa là rừng Mộc Qua, Già Da là núi Đầu Voi, Na Đề tức là tên gọi khác của sông Ni Liên Thiền. Ba anh em nhà này cùng theo ngoại đạo thờ lửa, tên đặt theo chỗ ở. Đức Thế Tôn độ họ sau khi Ngài đă thành đạo được ba năm).

          Kế tiếp hóa độ thầy tṛ của các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên gồm hai trăm người.

          Tính chung lại tất cả gồm một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Ở đây chỉ kể “một ngàn hai trăm năm mươi người” là tính tṛn.

          Hỏi: Phật độ vô lượng chúng sanh, sao lại chỉ nêu tên một chúng này?

          V́ nhiều lư do: họ là những người quy hướng Phật giáo trước tiên, được chứng đắc thánh quả trước tiên, v́ họ thường theo hầu Phật.

          “Câu” là cùng lúc họp lại. 

 

1.3.1.2. Biểu vị thán đức (nêu địa vị, khen ngợi đức)

         

Chánh kinh:

 

Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức.

          (Đều là đại A La Hán, [đức hạnh, nhân phẩm, đạo học của họ đều] được mọi người hay biết (công nhận)).

         

Giải:

Câu “Đại A La Hán” là nêu địa vị, câu “chúng sở tri thức” nhằm tán thán đức của các vị ấy.

Chữ “giai thị” ngụ ư: một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo trên đây, không vị nào chẳng phải là Đại A La Hán.

Quả vị của chúng Thanh Văn gồm có bốn bậc:

- Sơ Quả Tu Đà Hoàn (Hán dịch là Dự Lưu), vừa mới dự vào ḍng thánh.

- Nhị Quả Tư Đà Hàm (Hán dịch là Nhất Văng Lai hay Nhất Sanh): trong chín phẩm Tư Hoặc của Dục Giới, mới chỉ đoạn được sáu hoặc nên c̣n phải thọ sanh trong nhân gian hay cơi trời một lần nữa.

- Tam Quả A Na Hàm (Hán dịch Bất Lai): đă đoạn sạch chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới, chẳng cần phải tái sanh trong Dục Giới nữa.

- Tứ Quả A La Hán (Hán dịch là Vô Sanh): không c̣n bị thọ sanh trong tam giới nữa.

Muốn chứng Tứ Quả th́ phải đoạn bốn địa vị trong Sắc Giới, bốn địa vị trong Vô Sắc Giới. Mỗi địa vị có 9 phẩm Tư Hoặc, tổng cộng là phải đoạn 72 phẩm Tư Hoặc, và phải đoạn cả 88 Sử (Kiến Hoặc) ở Dục Giới mới chứng đắc Tứ Quả. Kiến Hoặc và Tư Hoặc chính là căn bản để thọ sanh trong tam giới nên phải đoạn sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc th́ mới khỏi phải sanh trong tam giới nữa.

Từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả đều gọi là Thanh Văn. Thanh Văn là những vị nghe giáo pháp Tứ Đế mà nhập đạo. Những thánh chúng Thanh Văn hiện diện trong pháp hội này đều là bậc Tứ Quả, tức là đạt địa vị tối cực trong chúng Thanh Văn nên gọi là Đại.

 

A La Hán có hai loại:

- Định tánh A La Hán: khăng khăng bảo thủ Chân Không, ch́m đắm trong tịch diệt, đắc quả chút ít đă cho là đủ th́ gọi là Định Tánh, là tiểu căn.

- Hồi tâm A La Hán: nếu hồi tiểu hướng đại, phát Bồ Đề tâm, chẳng cầu tự lợi th́ gọi là hồi tâm A La Hán.

 

Chúng A La Hán trong pháp hội này toàn là bậc hồi tâm A La Hán nên gọi là Đại.

 

Thêm nữa, lại có ba loại A La Hán:

- Huệ giải thoát: tu Tánh Niệm Xứ, chỉ duyên theo chân lư, chỉ chứng địa vị vô học, đắc Diệt Tận Định.

- Câu giải thoát: tu Cộng Niệm Xứ, kiêm tu sự tướng, đắc Diệt Tận Định, đầy đủ tam minh, bát giải thoát).

- Vô ngại giải thoát: Tu Duyên Niệm Xứ, duyên theo Phật pháp trong Tam Tạng, thông đạt kinh điển thế gian, xuất thế gian một cách vô ngại.

 

Bậc A La Hán trong pháp hội đây đều là bậc Vô Ngại Giải Thoát nên gọi là Đại.

 

“A La Hán” là tiếng Phạn, gồm có ba nghĩa:

 

a. Ứng Cúng:

 

Ứng có nghĩa là tương ứng, hoặc xứng đáng nhận lănh. Cúng là cúng dường. A La Hán là bậc phạm hạnh đă lập, siêu xuất tam giới, đáng thọ lănh sự cúng dường, tôn kính của trời người, nên gọi là Ứng Cúng. V́ sao trong mười danh hiệu của Phật cũng có danh xưng Ứng Cúng? Đó là v́ Phật là bậc đáng được hết thảy thế gian: trời, người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cúng dường. Phật là bậc Đại Ứng Cúng, A La Hán chỉ là Tiểu Ứng Cúng.

 

b. Sát Tặc:

 

Sát là giết chết, đoạn diệt. Tặc là trộm cướp. Dùng trộm cướp để ví cho Kiến Hoặc, Tư Hoặc thường cướp đoạt pháp tài công đức của chúng sanh, khiến họ vĩnh viễn trầm luân trong sanh tử luân hồi. Bậc A La Hán đă đoạn sạch phiền năo Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nên gọi là Sát Tặc.

 

c. Vô Sanh:

 

Việc làm (tức sự nghiệp đoạn trừ phiền năo) đă xong, đă thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, nên gọi là Vô Sanh.

 

Tỳ kheo là nhân, A La Hán là quả. Do nhân khất sĩ, tịnh mạng, tịnh giới nên được Ứng Cúng. Chống cự lại phiền năo (Phá Ác), đạo đă thành, ác đă phá, là nhân của Sát Tặc. Xuất gia thọ giới có nhân Bố Ma nên nay đạo thành, chứng đắc địa vị La Hán, nên được quả Vô Sanh.

 

“Chúng sở tri thức”: Chúng tức là đại chúng trời, người. Hai chữ “tri thức” có nhiều cách giải thích:

- Nghe danh ngưỡng mộ đức là Tri; gặp tận mặt, nghe dạy dỗ là Thức.

- Nghe danh gặp mặt là Tri, hiểu tâm rơ tánh là Thức.

- Biết mặt là Tri, biết đức là Thức.

- Nếu chỉ nghe danh mà chưa gặp mặt th́ mới là Tri, chưa phải là Thức. Tuy gặp mặt mà chẳng nghe danh th́ mới là Thức, chứ chưa phải là Tri. Nếu do nghe danh mà ngưỡng đức, đă gặp mặt lại nghe dạy dỗ, lại c̣n biết rơ tâm tánh của người ấy th́ gọi là Tri Thức. 

Đây là những cách giải thích dựa trên phương diện đại chúng mà luận. Lại c̣n có cách giải thích chữ “tri thức” ở một mức độ cao hơn như sau:

“Hiểu sâu chân lư là Tri, thông đạt pháp tướng một cách sâu rộng là Thức”.

Như vậy, những bậc A La Hán được nêu ở đây đều là những vị đức cao trọng vọng, kham làm tṛng mắt cho trời - người, hỗ trợ Đức Phật giáo hóa chúng sanh, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi, là bậc được khắp đại chúng hay biết, nên gọi là “chúng sở tri thức”.

Nếu luận về Lư của câu kinh này th́:

Đại tỳ kheo Tăng là lư trí nhất như (tức là ư nghĩa “ḥa hợp”). Một ngàn hai trăm năm mươi người cùng nhóm là các công đức đều tụ tập lại. Đại A La Hán biểu thị: tự tánh tùy duyên (tức là ư nghĩa Ứng Cúng), tâm nguyên vốn vắng lặng (tức là ư nghĩa Sát Tặc), tự tánh bất biến (tức là ư nghĩa Vô Sanh). Tri thức biểu thị tự tánh chẳng mê, tâm nguyên vốn sáng ngời.

 

          1.3.1.3. Lệ danh thượng thủ (nêu tên các vị thượng thủ)

 

          Chánh kinh:

 

Trưởng lăo Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà.

 

          Giải:

         

“Trưởng lăo”: Đức cao, học rộng là Trưởng, tuổi tác cao là Lăo. như vậy, Trưởng Lăo là tiếng để tôn xưng bậc đức hạnh lẫn tuổi tác đều cao. Có bốn loại trưởng lăo:

          a. Pháp lạp trưởng lăo là hạng xuất gia lâu năm (pháp lạp là tuổi xuất gia. Cứ mỗi một năm xuất gia tính là một lạp. Hạ lạp là tuổi tính theo mỗi lần an cư kiết hạ. Nay thường đồng nhất hai tuổi này)

          b. Học đức trưởng lăo là bậc học vấn sâu xa, rộng răi.

          c. Pháp tánh trưởng lăo là bậc đạo quả cao siêu.

d. Niên kỷ trưởng lăo là bậc xuất gia tuổi đời đă cao.

Trong kinh này, dù là bậc đức trọng tuổi cao hoặc bậc đức trọng nhưng tuổi đời c̣n trẻ đều dùng hai tiếng “trưởng lăo” để tôn xưng.

Mười sáu vị tôn giả được nêu tên trên đây đều xứng đáng gọi là “trưởng lăo”, chứ chẳng phải ḿnh Ngài Xá Lợi Phất đáng được gọi như vậy.

 

1) Xá Lợi Phất (đọc đủ là Xá Lợi Phất Đát La):

 

Ngài là người Nam Thiên Trúc, con của bà la môn Đề Xá. Tên thật là Ưu Ba Đề Xá, gọi theo họ mẹ là Xá Lợi Phất. Xá Lợi là tên một loài chim, Tàu dịch là Thu Lộ, Phất là con. Xá Lợi Phất nghĩa là con bà Xá Lợi (Tàu thường dịch nghĩa chữ Xá Lợi Phất thành Thu Tử hoặc Thân Tử. Gọi là Thân v́ bà mẹ Ngài h́nh dung yểu điệu, xinh đẹp phi thường. Gọi là Thu v́ mắt bà đẹp và trong suốt, long lanh như mắt chim Thu Lộ). Ấn Độ thường gọi tên con theo tên mẹ để biểu thị ḷng tôn kính cùng cực, không gọi thẳng tên thật ra.

Tôn giả trí huệ phi thường, khi c̣n trong thai mẹ đă khiến mẹ tranh biện giỏi hơn người. Ông anh Câu Hy La mỗi khi tranh luận với bà luôn bị thua cuộc. Cha Ngài Xá Lợi Phất là hạng giàu có, học rộng, không kinh sách nào không tham cứu. Khi cấn thai Ngài, bà Xá Lợi mộng thấy có một dị nhân, thân mặc giáp trụ, tay cầm kim cang xử, đập nát các ngọn núi, rồi đứng dưới một ngọn núi khác. Cha Ngài Xá Lợi Phất giải mộng: “Bà sẽ sanh ra một đứa con trai, trí huệ học vấn đứng đầu thế gian, ngôn ngữ không úng tắc”.

Năm lên tám tuổi Ngài đă thông suốt tất cả sách vở thuộc hệ thống Tứ Vi Đà, từng chiết phục các luận sư khắp mười sáu nước. Vừa xuất gia bảy ngày đă thông đạt hết các Phật pháp.

Thuở trẻ, tôn giả là đệ tử của học giả San Xà Na, là bạn đồng học thân thiết nhất của Ngài Mục Liên. Sau khi thầy mất, Ngài cùng tu với Mục Liên trong vùng rừng núi phụ cận thành Vương Xá. Nghe danh đức Thế Tôn đă lâu, Ngài từng muốn đến thân cận, nhưng chưa được ai tiến dẫn. Một ngày nọ Ngài gặp tỳ kheo Mă Thắng dung nghi siêu tục, liền hỏi: “Thầy Ngài là ai?” Mă Thắng đáp: “Thích Ca Thế Tôn”.

Xá Lợi Phất nghe vậy rất vui, liền bảo: “Thường nghe nói đến Thế Tôn đức hạnh cao dày, khéo nói diệu pháp, Ngài có thể v́ tôi nhắc lại vài câu diệu pháp chăng?” Đáp: “Tôi tuổi c̣n trẻ, theo học Phật chưa lâu, làm sao dám thuật lại những nghĩa uyên áo của Đức Phật đă nói được”. Xá Lợi Phất kèo nài: “Xin hăy từ bi lược nói pháp yếu”. Mă Thắng liền đọc bài kệ:

Các pháp từ duyên sanh,

Các pháp theo duyên diệt,

Đức Phật đại sa môn,

Thường nói như thế đấy.

Nghe xong, Xá Lợi Phất cảm ngộ sâu xa, tâm sanh hoan hỷ, khen ngợi không ngớt, về thuật cùng Mục Liên, bèn cùng các đệ tử đến chỗ Phật xuất gia.

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc trí huệ đệ nhất. Kinh A Hàm chép: “Trong Phật pháp của ta, người trí huệ vô cùng, dứt sạch các mối nghi th́ ông Xá Lợi Phất là bậc nhất”. Trong kinh này chỉ nêu một đức, chứ không phải Ngài Xá Lợi Phất không đủ các đức khác. Cũng không phải các vị khác không có trí huệ, kinh chỉ nêu lên những điểm sở trường, sở hảo của các vị mà thôi. Nay Phật thuyết giảng pháp môn Tịnh Độ khó tin bậc nhất, nếu chẳng phải là hạng đại trí huệ th́ làm sao có thể tin tưởng sâu xa vô ngại được. Kinh nêu tên Ngài Xá Lợi Phật đầu tiên để biểu thị lấy trí huệ làm đầu vậy.

 

2) Ma Ha Mục Kiền Liên:

 

Ngài Mục Liên là người nước Xá Vệ, con của phụ tướng đại thần. Ma Ha dịch là Đại. Mục Kiền Liên dịch là Thái Thúc Thị, đó là họ của Ngài. Tổ tiên Ngài ẩn trong núi tu đạo, lấy bắp (Ngài Khuy Cơ bảo là đậu xanh) làm thức ăn nên thành họ. Tên thật của Ngài là Câu Luật Đà (tên một loài cây, dịch là Vô Tiết Thọ: cây không có lóng; cha mẹ Ngài cầu con nơi thần cây ấy mà được nên đặt tên ấy). Ḍng họ này có rất nhiều người xuất gia nên thêm chữ Đại trước họ để phân biệt.

Ngài là người thần thông bậc nhất trong các đệ tử Phật, từng hàng phục rồng độc, đem năm trăm người họ Thích giấu lên cung trời khi vua Tỳ Lưu Ly sát hại ḍng họ Thích v.v... Kinh A Hàm chép: “[Trong những] bậc thần thông lẹ làng nhất trong Phật pháp của ta, bay đến mười phương th́ Mục Kiền Liên bậc nhất”. Ngài là bậc hiếu thuận vô song, từng vào U Minh cứu mẹ, tiến độ mẹ sanh thiên, phát khởi Vu Lan thắng hội. Luận Trí Độ ví Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị đại tướng quân chầu chực bên Phật. Xá Lợi Phất là mẹ đẻ của chúng sanh, Mục Kiền Liên là mẹ nuôi.

 

3) Ma Ha Ca Diếp:

 

Tàu dịch là Đại Quy Thị, tức là họ Đại Quy. Chữ Ca Diếp c̣n được dịch là Ẩm Quang v́ thân Ngài thường phóng quang minh sáng rực, lấp mất các ánh sáng khác. Thuở xưa kia, cách đây 91 kiếp, trong đời Phật Tỳ Bà Thi; sau khi Đức Phật nhập diệt, tứ chúng đệ tử lập tháp thất bảo. Lúc ấy, Ngài Ca Diếp làm thợ bạc. Lâu ngày, vàng thếp pho tượng Phật ấy bị tróc lở. Có một nữ nhân bần cùng đến nỗi cơm không đủ ăn, thường lui tới chiêm lễ tượng Phật. Trong khi lễ bái, cô thấy vàng trên mặt tượng đă bị tróc hết; cô thầm nguyện: “Nếu tôi có tiền, nhất định tôi sẽ thếp vàng lại tượng”.

Một ngày nọ, cô nhặt được một đồng vàng trên đường. Cô vội đem đồng tiền ấy đến nhờ anh thợ bạc thếp tượng. Người thợ bạc ngạc nhiên hỏi: “Sao cô không dùng tiền vàng này mua y phục, thức ăn sẽ được rất nhiều, mua cả nhà cửa cũng được mà”. Cô gái đáp: “Tôi từng phát nguyện sẽ thếp vàng tượng Phật. Tiền này tôi chẳng dám dùng đâu, chỉ cần ông giúp tôi thếp vàng tượng Phật là tôi đă măn nguyện rồi!”

Người thợ bạc quá cảm động trước tấm ḷng thành của cô nên t́nh nguyện thếp vàng tượng Phật chẳng lấy công; lại nguyện đời đời thường làm vợ chồng, thân sáng như vàng ṛng, luôn hưởng thọ sự vui thù thắng, đồng tu phạm hạnh. Do nhân lành ấy, họ đời đời được thân ánh sáng vàng ṛng, lại c̣n có quang minh sáng hơn cả ánh sáng mặt trời. Đến khi Đức Phật giáng thế, cả hai cùng được xuất gia trong Phật pháp. Người nam là Ngài Đại Ca Diếp, người nữ chính là Ca Diếp tỳ kheo ni.

Trong các chùa Trung Hoa thường tạc h́nh hai vị thị giả đứng hầu bên Phật Thích Ca. Vị trẻ tuổi là Ngài A Nan. Vị già cả, mặt nhân, râu tóc bạc phơ là Ngài Ca Diếp. Tượng Ngài thường tạc ôm tay thành quyền, chứ không chắp tay, v́ tương truyền, thân Ngài có quang minh chói rực, đặc biệt là mười đầu ngón tay càng chói sáng hơn hết. Nếu Ngài chắp tay, ánh sáng từ mười đầu ngón tay túa ra sẽ làm lóa mắt người đến lễ Phật khiến họ không mở mắt ra được. V́ thế, Phật khai phương tiện, cho phép Ngài ôm quyền chứ không cần phải chắp tay khi đứng hầu.

Ngài là người nước Ma Kiệt Đà, con của trưởng giả Ni Luật Đà, gia tư giàu có không ai hơn. Vợ chồng ông Ni Luật Đà, giàu có nhưng không con. Nghe đồn, thần cây Tất Đa La rất thiêng nên đến cầu nguyện nơi cây ấy bao năm vẫn không thấy linh ứng ǵ. Bực tức, họ giận dữ bảo: “Nay chúng ta sẽ tận lực thờ cúng trong ṿng bảy ngày, nếu không có linh nghiệm ǵ sẽ đốt tiêu cây này”. Thần cây hoảng sợ cầu cứu lên Phạm Vương. Phạm vương xem khắp thế giới này không thấy ai đáng làm con ông ta cả. Nhân thấy có một Phạm thiên (là thân đời thứ 91 của Ngài Ca Diếp) sắp mạng chung, liền khuyên nên đầu thai vào nhà ông Ni Luật Đà. Do vậy, khi sinh Ngài cha mẹ đặt tên là Tất Đa La v́ từng cầu con nơi thần cây ấy.

Trong đệ tử Phật, Ngài là bậc Đầu Đà đệ nhất. Đến tuổi già vẫn tinh tấn, Phật thương Ngài già cả, bảo hăy xả hạnh Đầu Đà, Ngài chỉ cười rồi vẫn thực hành như cũ. Đức Phật khen ngợi: “Vẫn c̣n người hành hạnh Đầu Đà th́ pháp của ta sẽ tồn tại lâu dài”.  

 Chữ Đầu Đà dịch nghĩa là Đẩu Thấu, tức là dùng mười hai khổ hạnh để đăi sạch, gột sạch trần lao:

a. Ở a-lan-nhă (nơi tịch tịnh, không ồn náo).

          b. Thường hành khất thực.

          c. Khất thực theo thứ tự (không phân biệt chọn lựa nhà để khất thực).

          d. Ngày chỉ ăn một bữa.

          e. Ăn có chừng mực, ăn ít.

          f. Sau giờ ngọ không uống các thứ tương (nước trái cây ép).

          g. Mặc y phấn tảo.

          h. Chỉ có ba y.     

i. Ngồi nơi mồ mả.

j. Ngủ dưới gốc cây.

k. Ngồi nơi đất trống.

l. Chỉ ngồi không nằm.

Tam Tạng kinh điển c̣n tồn tại đến ngày nay là nhờ Ngài: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài Ca Diếp bèn triệu tập thánh chúng, kết tập kinh điển. Hiện Ngài c̣n đang nhập định trong núi Kê Túc, chờ khi Đức Phật Di Lặc đản sanh trong nhân gian sẽ dâng y tử kim của Đức Phật Thích Ca lên Phật Di Lặc, rồi mới dùng Hỏa Quang tam muội thiêu thân, nhập Vô Dư Niết Bàn.

Theo kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi, Đại Phạm thiên vương đến Linh Sơn, dâng hoa Ưu Bát La sắc vàng lên Phật, thỉnh Phật v́ chúng sanh thuyết pháp. Đức Thế Tôn lên ṭa, giơ cành hoa cho đại chúng xem, trăm vạn nhân thiên đều ngơ ngác, chỉ ḿnh Kim Sắc Đầu Đà (Ngài Ca Diếp) mỉm cười. Thế Tôn bảo: “Ta có chánh pháp nhăn tàng, Niết Bàn diệu mạng, Thật Tướng Vô Tướng nay giao phó cho Ma Ha Ca Diếp”. V́ thế, Ngài là Sơ Tổ lănh thọ tâm ấn của Phật.

 

d) Ma Ha Ca Chiên Diên 

 

C̣n phiên là Ma Ha Ca Đa Diễn Na, Hán dịch là Văn Sức, ư nói lời lẽ bóng bảy. Vị tôn giả này dung mạo đoan chánh hơn người, giỏi biện luận, sở trường về luận nghị. Mở miệng thốt ra câu nào cũng bóng bảy văn nhă, óng chuốt phi thường khiến cho thính giả ưa thích, khâm phục. Đức Thế Tôn từng khen ngợi: “Trong những người thuyết pháp, ông Ca Diên đúng là bậc nhất”. Trong các đệ tử Phật, Ngài được tôn xưng là bậc Luận Nghị đệ nhất.

Ngài từng bị kẻ ngoại đạo theo thuyết Vô Thần Luận cật vấn: “Kẻ ác chết đi thọ khổ theo lẽ phải trở về báo lại. Nay chết đi không thấy trở về, cứ suy theo đó th́ không có cái lư thọ sanh đời sau vậy”. Tôn giả bảo: “Như người mắc tội trong đời, bị giam trong ngục tối, gông xiềng, trói xích, có trốn về được không?”

Ngoại đạo lại hỏi: “Nếu vậy th́ người thiện chết đi th́ được sanh lên trời, sao cũng chẳng thấy trở về?” Tôn giả đáp: “Như người rớt xuống hầm xí, có chịu trở xuống nữa hay không? Ông phải biết là thế gian ác trược, muốn thoát ra đă chẳng phải là dễ dàng ǵ, đă lên trời rồi c̣n ai muốn trở xuống nữa chứ?” Qua đó, có thể thấy tài biện luận của tôn giả như thế, v́ vậy, kinh Tăng Nhất A Hàm tán dương: “Người khéo phân biệt nghĩa, phu diễn đạo giáo chính là ông Ca Chiên Diên vậy!”

 

e) Ma Ha Câu Hy La:

 

C̣n phiên là Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, Hán dịch là Đại Tất (đầu gối to), v́ đầu gối Ngài rất lớn. Tôn giả chính là cậu ruột Ngài Xá Lợi Phất, thường ngày tranh luận với em gái thường thắng, nhưng khi bà này có mang Ngài Xá Lợi Phất, ông nhiều phen thua cuộc ê chề. Do vậy, phát phẫn tự nghĩ: “Cháu ḿnh c̣n trong thai đă khiến mẹ nó giỏi đến thế th́ khi ra đời, ḿnh làm sao căi thắng được, chẳng thẹn thùng lắm ư?” Ông bèn bỏ về Nam Thiên Trúc, suốt mười tám năm học tụng kinh điển Vệ Đà, không rảnh để cắt tóc, cắt móng tay, nên c̣n được gọi là Trường Trảo Phạm Chí (đạo sĩ móng tay dài). 

Măi đến khi thành tài, về lại quê hương th́ cháu đă xuất gia. Ông bảo: “Cù Đàm có đức hạnh ǵ mà dám làm thầy của cháu ta?” Ông bèn đầu đội chậu lửa, ḿnh khoác lá sắt, tóc rũ chấm đất, móng tay dài cả thước dư, xông vào Phật hội, kiếm Phật tranh luận đ̣i cháu. Ḷng hiu hiu tự đắc không coi ai ra ǵ. Chợt thấy Thế Tôn, ông liền hoạnh họe: “Thu phục được cháu ta, ngươi dùng pháp ǵ để dạy dỗ vậy, hăy lôi ra tranh biện xem sao?”

Phật hỏi: “Ông lấy ǵ làm tông?” Câu Hy La đáp: “Ta lấy việc chẳng thọ hết thảy pháp làm tông”. Đức Phật bảo: “Ông lấy ‘chẳng thọ hết thảy pháp làm tông’ th́ là đă thọ rồi”. Ông bị thua nhưng vẫn kiêu mạn, Đức Phật liền hiện thần lực khiến lá sắt bó chặt lấy ông, chậu lửa thiêu đảnh. Ông ngất đi tỉnh lại mới phục, dốc ḷng sám tạ, xin xuất gia với Phật. Phật bảo: “Thiện lai tỳ kheo!” liền thành Tăng tướng. Tôn giả do ngộ lư Không mà đắc đạo quả, nên c̣n hiệu là Ngộ Không.

Sau khi xuất gia, chỉ trong ṿng ba năm, tôn giả thông đạt pháp tạng. V́ tôn giả học rộng mọi thứ, xem khắp các sách vở, biện tài thao thao như sóng cuộn, vấn đáp lanh lợi nên được tôn là bậc Vấn Đáp đệ nhất.

 

f) Ly Bà Đa:

         

Hán dịch là Tinh Tú, hoặc Thất Tinh (sao Thất), hoặc Tuệ Tinh. Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài c̣n có tên là Giả Ḥa Hợp. Nguyên nhân là do một đêm kia, Ngài trú tại một ngôi đ́nh vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến. Chốc sau lại có một con quỷ lớn khác đi đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành giật rầm rĩ măi. Tiểu quỷ bất đắc dĩ nhờ Ngài Ly Bà Đa phán xử. Ngài cứ t́nh thật phán xử. Đại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay chân của tử thi thế vào.

Đến sáng, Ngài Ly Bà Đa sanh phiền năo sâu nặng, tự nghĩ thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là của ta th́ chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay chân ḿnh ăn mất rồi. Lại nghĩ: nếu thật là thân của người khác, th́ sao tay chân này vẫn hành động theo ư ḿnh. V́ thế bèn hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi chăng?” Có một vị tỳ kheo nghĩ người này dễ độ, bèn đọc bài kệ:

          Vốn thân người khác thế,

          Tạm giả ḥa hợp dùng.

          Ngài Ly Bà Đa liền giải ngộ nghĩa lư tứ đại giả hợp, nhận thức hết thảy sự lư một cách rơ ràng, liền theo tỳ kheo đó về chỗ Phật cầu xuất gia. Trong các đệ tử, Ngài được xưng tụng là bậc Vô Đảo Loạn bậc nhất v́ những Phật pháp mà Ngài nói ra, quyết định là chính xác, không lầm loạn. Ngài cũng là bậc Tri Huyễn đệ nhất.

 

          g) Châu Lợi Bàn Đà Dà:

         

C̣n phiên là Châu Lỵ Bàn Đặc, Hán dịch là Kế Đạo hoặc Lộ Biên Sanh (đẻ bên đường). Anh Ngài tên Bàn Đà Già (dịch là Đại Lộ Biên), em tên là Châu Lợi Bàn Đà Già. Phong tục ở Tây Vực là khi sắp sanh, sản phụ thường về nhà bố mẹ ruột. Khi đang trở về, giữa đường bà mẹ Ngài chuyển dạ sanh ra hai Ngài nên đặt tên như thế.

Theo kinh Tăng Nhất, anh Ngài đă theo Phật xuất gia từ trước, đắc thánh quả. Khi cha mẹ mất, Kế Đạo bèn cũng theo đi xuất gia, nhưng tánh Ngài cực kỳ ngu độn. Xuất gia đă nửa năm, cả năm trăm vị La Hán xúm vào dạy dỗ, Ngài vẫn không thể tŕ tụng nổi nửa bài kệ sau:

          Thủ khẩu nhiếp ư thân mạc phạm,

          Như thị hành giả đắc độ thế.

          Chánh niệm quán thời dục cảnh không,

          Vô ích chi khổ đương viễn ly.

          (Giữ miệng, thâu ư, thân đừng phạm,

          Người hành như thế, độ được đời.

Lúc chánh niệm quán, dục cảnh rỗng,

Sẽ xa ĺa được khổ vô ích)

          Học suốt cả ba năm vẫn chưa thuộc nổi, nhớ câu trước quên câu sau, nhớ được câu sau liền quên ngay câu trước. Người anh bực quá, quở trách, buộc em hoàn tục. Do thiện căn thâm hậu, lúc đương khóc lóc ngoài cửa, bịn rịn chẳng đi, gặp đức Thế Tôn lân mẫn dạy niệm hai chữ “tảo chửu” (quét dọn). Thế mà vẫn cứ nhớ chữ này quên chữ kia. Nhưng nhờ Ngài vẫn cứ siêng gắng, chẳng lười, nên lâu ngày hốt nhiên chứng ngộ: “Tảo Chửu nghĩa là trừ dơ khiến cho sạch. Như vậy là đức Thế Tôn muốn ta đoạn trừ những dơ bẩn phiền năo trong thân”. Nhờ thế, đắc quả A La Hán.

Theo kinh Ngũ Bách Đệ Tử Bản Khởi, tôn giả trong đời trước do xua lợn qua sông, dùng dây buộc chặt miệng nó khiến hơi thở không thông, con lợn bị chết ngộp giữa gịng. V́ thế, Ngài bị quả báo ám muội. Thêm nữa, trong thời Phật Ca Diếp, Ngài là một vị Tam Tạng Pháp Sư, do tiếc pháp chẳng hóa độ chúng nên cảm ác báo ấy. Ác nghiệp đời trước măi đến đời này mới hết, do chứng ngộ được công dụng của việc quét dọn tịnh thất, giải ngộ nguyên nhân của thân nên đoạn ngu, phát huệ.

Trong kinh Lăng Nghiêm, tôn giả tự bạch: “Con thiếu tụng tŕ, không có tánh Đa Văn, nghe pháp xuất gia, nhớ giữ một câu kệ của Như Lai. Trong một trăm ngày, nhớ được câu trước quên câu sau. Phật thương con ngu si, dạy con ở yên, điều ḥa hơi thở ra vào. Khi ấy, con quán sát hơi thở một cách vi tế, hiểu cùng tận, sanh trụ, dị diệt, các hành, sát na. Tâm con đột nhiên được được đại vô nghi, cho đến lậu tận, thành A La Hán”. Như thế, tu hành đừng sợ độn căn, chỉ e chẳng thể phát tâm kiên tŕ tu tập. 

Trong các đệ tử, Ngài là bậc Nghĩa Tŕ bậc nhất.

 

h) Nan Đà:

 

C̣n gọi là Tôn Đà La Nan Đà, Hán dịch là Hoan Hỷ. Thật ra, Tôn Đà La (Hán dịch là Diễm: đẹp đẽ) chỉ là tên vợ. Gọi Ngài như vậy để phân biệt với ông Phóng Ngưu Nan Đà. Nan Đà là em ruột Đức Phật, con của bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di). Ngài có ba mươi tướng hảo, h́nh mạo gần tương tự như Đức Phật, nhưng thấp hơn Đức Phật chừng bốn ngón tay, thân cũng sắc vàng.

Trong lễ cưới của Ngài, Đức Phật biết thời cơ Nan Đà được hóa độ đă đến, bèn đến vương cung khất thực. Khi thọ trai xong, Ngài trao bát cho Nan Đà cầm. V́ kính mộ Phật, Ngài Nan Đà bưng bát hầu Phật về đến tinh xá. Đức Phật dạy Ngài xuất gia, Nan Đà cũng đành tuân theo.

Tuy đă xuất gia, nhưng tâm ông vẫn tưởng nhớ đến người vợ xinh đẹp khôn nguôi, chẳng thể chuyên tâm nhập định được. Đức Phật liền thị hiện thần thông đưa ông lên cung trời xem các thiên nữ để trừ dẹp tâm niệm tham luyến sắc đẹp phàm phu của Tôn Đà La, cũng như đưa xuống địa ngục, chỉ cho ông thấy những gông cùm đang chờ sẵn đó. V́ thế, Ngài Nan Đà giác ngộ tham dục là nguồn gốc chiêu cảm khổ báo.

Tuy thế, tập khí tham dục vẫn chưa thể trừ bỏ ngay được. Đức Phật dạy Ngài pháp quán chú mục nh́n vào chót mũi có vết trắng để nhiếp tâm. Kinh Lăng Nghiêm chép lời Ngài tự nói: “Lúc đầu, tôi quán sát kỹ trong hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như làn khói, thân tâm sáng suốt bên trong, thấu suốt trọn vẹn khắp cả thế giới đều rỗng rang, thanh tịnh hệt như lưu ly. Tướng khói dần tiêu, hơi thở thành màu trắng, tâm khai lậu tận, các hơi thở ra vào biến thành quang minh, chiếu mười phương cơi, đắc A La Hán”.

Đương thời, có một ngoại đạo lơa thể trứ danh trong xứ Ma Kiệt Đà, thường tranh luận đạo pháp với Ngài Xá Lợi Phất, kính mộ sự huyền diệu của Phật pháp, đă sẵn mang ư niệm xuất gia. Một ngày nọ, gặp phải Ngài Nan Đà, bèn thốt lên: “Vị tỳ kheo loắt choắt mà c̣n thâm trí bác học đến thế, huống hồ là người tướng mạo đường đường đến thế này” (Ngài Xá Lợi Phất thân h́nh thấp bé). Do đó, kẻ ngoại đạo bèn theo đi xuất gia. 

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc Nghi Dung đệ nhất.

 

i) A Nan Đà:

 

C̣n phiên âm là A Nan, Át Nan, Hán dịch là Khánh Hỷ. Ngài là em con chú của Phật, nghĩa là: Ngài A Nan là con thứ hai của Bạch Phạn Vương (c̣n phiên âm là Hộc Phạn Vương). Lúc vua Tịnh Phạn được tin Đức Phật đă thành đạo, đồng thời nghe tin em ḿnh là vua Bạch Phạn cũng sanh được một hoàng tử, cho sứ sang nhờ anh đặt tên. Vua Tịnh Phạn vui mừng nên đặt tên cho hoàng tử mới sinh là A Nan.

Năm 20 tuổi, Ngài theo Phật xuất gia. Khi được chọn làm thị giả, Ngài bèn cầu thỉnh Phật đem hết những pháp môn đă giảng trong 20 năm v́ ḿnh trùng tuyên lại một lượt. Nghe xong, Ngài A Nan ghi nhớ trọn vẹn. V́ thế tôn giả Ca Diếp nói: “Nước trong biển cả Phật pháp rót hết vào trong tâm A Nan”. Lúc Phật nhập diệt rồi, Ngài bèn chủ tŕ công cuộc kết tập Kinh Tạng. V́ thế, trong hàng đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Đa Văn đệ nhất.

Trong đời quá khứ, Ngài từng làm một vị trưởng giả giàu có lớn. Nhân thấy một sa di v́ hóa duyên nên không thể tụng đọc nhiều bài kệ được, Ngài bèn phát tâm ủng hộ cúng thí thực phẩm, thức ăn để vị sa di ấy rảnh rỗi chuyên tâm học tập kinh điển. Trưởng giả c̣n phát nguyện: “Nguyện khi chú tiểu này thành Phật, tôi sẽ làm vị đệ tử đa văn của Ngài, tất cả giáo pháp Ngài đă thuyết ra tôi đều có thể nhớ kỹ”. Do vậy, trong kiếp này, Ngài được thỏa nguyện.

Tên Ngài đôi khi c̣n được dịch là Vô Nhiễm, v́ những khi theo hầu Phật vào thiên cung, long cung v.v... thuyết pháp, tâm Ngài không hề nhiễm trước nơi sắc cảnh. Nữ giới được Đức Phật chấp thuận cho xuất gia làm ni cũng nhờ Ngài đặc biệt thỉnh cầu. Đức Phật chế ra Bát Kính Pháp, khi bà Kiều Đàm Di và đồ chúng chấp thọ pháp ấy, Phật mới hứa khả cho họ được làm tỳ kheo ni. Trong các ni viện Trung Hoa, thường thờ Ngài A Nan và Ngài Kiều Đàm Di tại Tổ Đường để tưởng niệm ân đức là v́ lẽ đó.

Ngài A Nan được coi là tổ truyền tâm ấn thứ hai của Thiền Tông. Vua A Xà Thế rất sùng bái Ngài, từng ước định khi nào Ngài nhập diệt, phải cho người đến báo với vua. Khi Ngài A Nan sắp nhập diệt, cho người đến báo tin, nhằm lúc vua đang ngủ trưa, kẻ hầu chẳng dám đánh thức. A Nan chờ măi không được, bèn vọt thân lên hư không, hiện nhiều tướng thần thông biến hóa, rồi dùng lửa tam muội thiêu thân. Xá lợi rơi xuống lất phất như mưa, rải khắp hai bờ sông Hằng. Nguyên thời ấy mọi người rất tín phụng xá lợi, thường tranh giành nhau, thậm chí dấy động can qua. V́ thế, Ngài nhập diệt, lưu xá lợi trên không cho rơi đều xuống hai bên sông Hằng để ai cũng có cơ hội nhặt được xá lợi. A Xà Thế ngủ dậy, nghe báo tin, vội vă chạy đến sông Hằng, thấy Ngài đă nhập diệt, nghẹn ngào kêu khóc, cơ hồ muốn ngất xỉu, rồi đành lễ bái, thu thập xá lợi, trở về nước dựng tháp cúng dường.

 

j) La Hầu La

 

C̣n phiên âm là La Vân, La Hỗ La, Hán dịch là Chấp Nhật hoặc Phú Chướng (ngăn che), hàm nghĩa:

- Chướng tự: đời quá khứ, La Hầu La làm một vị lăo tăng tu hành, gần chỗ Ngài tu luyện có một cái hang chuột. Mỗi lúc vị lăo tăng tịnh tọa, con chuột thường chạy ra, chạy vào lăng xăng khiến vị lăo tăng không thể yên tâm tịnh tọa được. Bực quá, nhưng không thể phạm sát giới, Ngài bèn dùng tấm da dày bịt kín hang chuột, khiến chuột bị kẹt trong đó suốt sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, sợ chuột chết đói, Ngài lại dở tấm da ra cho chuột được ra ngoài như cũ nên đời này phải ở trong thai sáu năm mới sanh.

- Chướng Phật: Lúc Phật c̣n là Thái Tử, phụ vương chẳng chấp thuận cho Ngài đi xuất gia, Thái Tử bảo: “Nếu đạt được ba điều chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, con sẽ không đi xuất gia”. Tịnh Phạn Vương không biết làm sao, bảo: “Nếu ngươi có con, ta sẽ cho ngươi đi xuất gia”. Tương truyền, Thái Tử từng lấy tay xoa bụng bà Da Du Đà La, ước nguyện: “Hăy chóng có con!” Bà Da Du liền cấn thai. Nhờ vậy, Thái Tử mới được xuất gia. Nhân v́ Phật bị chướng ngại như thế chẳng sớm được xuất gia nên mới gọi là “chướng Phật”.

- Chướng mẫu: Sau khi Đức Phật xuất gia đă sáu năm rồi, Ngài La Hầu La mới được sanh ra, Tịnh Phạn Vương nghi ngờ bà Da Du đă lén làm điều bất chánh nên phẫn nộ toan giết chết. Da Du tự tin ḿnh trong trắng, nhưng oan uổng khó phân, bèn xin được nhảy vào hầm lửa tự sát. Khi ấy, bà bồng con, ngửa mặt lên trời phát đại thệ: “Nếu tôi làm điều sai quấy, mẹ con tôi cùng bị lửa thiêu, chết chẳng hối. Nếu đúng là con Thái Tử, xin trời làm chứng”. Nói rồi, bồng con nhảy xuống hầm lửa. Thật là chẳng thể nghĩ bàn, lửa đỏ hóa thành sen hồng, lại có thiên nhân đỡ lấy thân bà Da Du, hai mẹ con không bị tổn hại ǵ. Khi ấy, Tịnh Phạn Vương và toàn ḍng họ Thích chính mắt trông thấy việc ấy, nên mới tin là thực. Người trong nước cũng thôi x́ xào. V́ thế, gọi là “chướng mẫu”.

Trong quá khứ, có hai vương tử, anh tên Nhật, em tên Nguyệt. Sau khi phụ vương băng hà, anh lên nối ngôi, sau nhàm chán vinh hoa, phú quư, nhường ngôi lại cho vương tử Nguyệt, theo Phật xuất gia, tinh tŕ cấm giới, không chút thiếu sót. Một ngày nọ, do đêm tối, dùng lộn tịnh b́nh của người khác, bèn đánh chuông nhóm Tăng sám hối. Chúng Tăng thấy lỗi ấy quá nhẹ nên chẳng chịu cho ông tác pháp sám tạ. Ông càng ưu sầu hơn nữa, bèn vào cung bẩm với Nguyệt vương, xin sám hối tội trộm cắp. Nguyệt vương chẳng muốn trái ư anh nên sai tả hữu giam anh vào một căn pḥng. Khổ nỗi vua ham mê dục lạc, quên bẵng chuyện ấy, cả sáu tháng không xử đến. Kiếp này, Nguyệt vương thành Ngài La Hầu La, do tội báo trên, cảm quả phải ở trong thai sáu năm.

Theo Ngài Khuy Cơ, Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ vào bụng vợ, vợ liền có mang, biểu thị đứa con sanh ra sẽ khác phàm chúng, là tướng linh dị đặc biệt. Sáu năm trong thai biểu thị sanh ra thể chất khác lạ. Quốc vương nghi báng, quần thần gièm pha, mẹ con gieo ḿnh vào lửa không cháy, lửa đó hóa ao sen, vua tôi mới biết đức Thích Ca đă ĺa nhiễm dục từ lâu, hiển thị La Hầu La ngầm tu mật hạnh.

Năm lên 9 tuổi, Phật sai Ngài Mục Liên về đón La Hầu La cho thí phát xuất gia làm sa di. Ngoài mặt, La Hầu La làm ra vẻ như một vị vương tử quen thói nuông chiều, bướng bỉnh, nhưng trong th́ dụng công tinh tấn tu hạnh Bồ Tát không ai bằng, chứng đắc Tứ Quả rất sớm. Bởi thế, Ngài được ca ngợi là vị thánh tăng Mật Hạnh bậc nhất. Đức Phật từng tán thán: “Mật hạnh của La Hầu La chỉ ḿnh đức Phật biết nổi, người khác chẳng biết được”.

 

k) Kiều Phạm Ba Đề:

 

C̣n phiên là Cấp Pḥng Bát Để, Hán dịch là Ngưu Ty (trâu nhơi) hoặc Ngưu Tướng. Do trong đời quá khứ, Ngài làm một tiểu sa di, nhân thấy một vị lăo tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu đang nhai cỏ. Lăo tăng ấy đă chứng quả A La Hán, liền bảo sa-di phải chí tâm sám hối. Tuy lúc ấy, sa-di đă chí tâm sám hối, nhưng vẫn bị mắc quả báo làm trâu năm trăm đời. Dù phải làm thân trâu, nhưng nhờ sức tŕ giới, tu phước nên luôn làm trâu chúa. Nay tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp nhép như trâu nhơi nên mang tên ấy.

Đức Phật sợ đại chúng chỉ thấy tướng xấu ấy, không biết đến đức của Ngài mà khinh bỡn, cười ghẹo, phải mang lấy tội khiên, nên bảo tôn giả ngự trên cơi trời Đao Lợi, ở trong vườn Thi Lợi Sa tu tập Thiền Định, thọ sự kính phụng của chư Thiên. V́ vậy, trong các đại đệ tử của Phật, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề là bậc Thọ Thiên Cúng bậc nhất.

Khi tôn giả Ca Diếp triệu tập thánh tăng kiết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài sai một A La Hán trẻ tuổi lên cung trời, thỉnh Ngài Kiều Phạm Ba Đề trở xuống nhân gian tham gia hội nghị kiết tập. Tôn giả nghe Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất đều đă nhập diệt, bèn hóa một ḍng nước tuôn từ cơi trời chảy xuống hạ giới. Trong nước, vang ra tiếng nói: 

Kiều Phạm Ba Đề xin kính lễ,

Thập phương thánh chúng đại đức Tăng

Voi chúa đi rồi, voi con theo,

Thế Tôn nhập diệt, tôi cũng tịch.

Nói xong, liền bay lên hư không hiện thần thông, nhập Hỏa Quang tam muội mà tịch diệt. Xá lợi từ trên không rơi xuống, chư thiên nhặt lấy dựng tháp cúng dường.

 

l) Tân Đầu Lô Phả La Đọa:

 

Tân Đầu Lô dịch là Bất Động, Phả La Đọa dịch là Lợi Căn. Bất Động là tên, Lợi Căn là họ. Nhân v́ có đến mười tám họ cùng tên Lợi Căn, nên lấy tên Ngài đặt trước họ để phân biệt. Tôn giả căn tánh thông lợi bậc nhất, chẳng bị ngoại cảnh lay động nên có tên Bất Động.

Luật Tỳ Nại Da chép:

“Trưởng giả Thọ Đề lấy cái bát bằng gỗ chiên đàn đặt trên đầu một cột phướn cao chót vót, thách mọi người rằng: ‘Ai dùng thần lực lấy được bát ấy th́ sẽ dâng tặng’. Tôn giả liền hiện thần thông lấy được bát xuống. Ngài bị đức Phật quở trách, v́ Phật đă cấm dùng thần thông bừa băi để mê hoặc chúng sanh. V́ thế, Phật cấm tôn giả nhập diệt, phải lưu thân trong thế gian để thọ cúng dường ḥng làm ruộng phước rộng lớn cho người, trời”.

Tôn giả tuân lời Phật răn, chẳng nhập Niết Bàn, hằng trụ tích trong núi Ma Lợi Chi; hễ ai thành kính thiết trai, tôn giả sẽ ngầm đến ứng cúng. V́ thế, trong các đệ tử Phật, tôn giả Tân Đầu Lô Phả La Đọa là bậc Phước Điền đệ nhất. 

Trong bộ tượng 18 La Hán thờ tại các chùa miếu lớn, Ngài Tân Đầu Lô thường được tạc thành h́nh một vị lăo tăng rất gầy, lông mày bạc trắng dài rủ xuống quá đầu gối. Tương truyền, thời Ngũ Đại, Ngô Việt Vương Tiền Lưu tin Phật pháp rất mực, thiết trai ngàn vị Tăng, để trống ghế ở vị trí chủ tọa để đợi hàng thánh giả giáng hạ. Quả nhiên Ngài Tân Đầu Lô tóc bạc mày dài từ trên hư không hạ xuống, thọ cúng dường.

Theo Luật Tứ Phần, Ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di. Vị này sớm đă quy y với Đức Phật, làm vị tại gia đệ tử từ lâu. Vua Ưu Điền rất tín phụng Phật pháp nên đồng ư cho Ngài Tân Đầu Lô xuất gia. Lúc tiễn đưa, vua quỳ gối thỉnh tôn giả hăy chuyên tâm nhất ư tu hành. Không lâu sau, Ngài đă chứng đắc quả A La Hán.

Vua Ưu Điền càng thêm kính trọng tôn giả, thường lui tới cúng dường. Ngài Tân Đầu Lô theo đúng pháp nhà Phật, không ra nghênh đón, cũng không hoàn lễ, cũng không tiếp đăi, mời mọc các quan theo hầu vua. Họ bèn dùng lời lẽ gièm xiểm, bảo tôn giả là hạng chẳng biết đến quân thần, xui vua t́m cách giết đi. Vua tín tâm chưa triệt để nên cũng ôm ḷng căm tức.

Một ngày nọ, vua lại thống lănh quần thần đến tham bái tôn giả. Tôn giả nhảy xuống khỏi thiền sàng, cười toe toét tiếp đón vua. Vua càng bực bội hỏi tôn giả: “Đại đức vốn khó động, sao hôm nay lại ra nghênh đón ta vậy?” Tôn giả bảo: “Trong quá khứ, hoàng thượng do tín tâm mà đến, nên tôi dùng lễ nghi nhà Phật tiếp đón. Hôm nay vua ôm ḷng ác t́m đến. Nếu tôi chẳng tiếp đón, vua ắt sẽ giết tôi, khiến vua tội ác càng tăng vậy”. Vua Ưu Điền thẹn thùng, kinh ngạc, bèn thưa: “Lành thay! Đệ tử ngu độn, lầm nhận lời tiểu nhân, chẳng biết phàm thánh. Kính xin tôn giả cho con được sám hối!”

Tôn giả đáp: “Lành thay! Vua thoát khỏi tội địa ngục, nhưng nỗi khổ mất nước thật khó tránh khỏi!” Quả nhiên, ít lâu sau, vua cùng lân quốc giao tranh bị thất bại, thân bị giặc bắt cầm tù cả mười hai năm.

 

m) Ca Lưu Đà Di:

 

Hán dịch là Hắc Quang hoặc Hắc Diệu do thân h́nh Ngài thô đen, mặt đen ng̣m, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả báo thuở xưa để ḿnh trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Do để ḿnh trần nên thân thô đen; do thắp đèn cúng nên thân có ánh sáng.

Tôn giả thân đen đúa, có ánh sáng, đi đêm không cần thắp đèn, khiến ai gặp phải cũng kinh hăi. Nhân tôn giả tướng trạng quái lạ, nhiều người sợ không dám cúng dường nên thường không đủ no. Có lần, tôn giả đến một nhà nọ khất thực vào buổi tối. Người con dâu đang mang thai mang cơm rau ra cúng dường. Lúc ánh chớp vừa lóe lên, thấy h́nh trạng tôn giả đen đúa, to thô lại tỏa sáng, cô ta sợ quá tưởng gặp quỷ, ngă lăn ra ngất xỉu, đến nỗi bị sẩy thai. V́ lẽ đó, Phật cấm các đệ tử không được đi đêm.

Tôn giả là sứ giả của Phật, rất khéo giáo hóa, nên Ngài Ca Lưu Đà Di được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.

 

n) Ma Ha Kiếp Tân Na

 

Hán dịch là Pḥng Tú (sao Pḥng). Pḥng là ngôi sao thứ tư trong Nhị Thập Bát Tú (Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm...) Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài cũng thông hiểu thiên văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.

Có thuyết nói: khi chưa xuất gia, Ngài đi đường gặp mưa phải đụt mưa trong nhà người thợ gốm. Đức Phật biết tôn giả căn cơ đă thuần thục, bèn hóa thành một vị Tăng đến xin ngủ nhờ. Đêm ấy Phật v́ tôn giả thuyết pháp, tôn giả bèn xin theo Phật xuất gia, chứng quả La Hán. Nhân v́ ngủ đêm tại nhà người thợ gốm, gặp Phật nhập đạo, nên gọi tên là Pḥng Tú (Tú c̣n có nghĩa là ngủ đêm).

 

o) Bạc Câu La:

 

Hán dịch là Thiện Dung. Tôn giả vẻ mặt nghiêm túc, đoan chánh, do bố thí mà được quả báo như thế. Trong Bạc Câu La Kinh, Ngài từng nói: “Ta từ lúc vào trong Chánh Pháp học đạo đến nay, suốt tám mươi năm chưa từng mắc bệnh ǵ dù chỉ là bị nhức đầu trong khoảng khảy ngón tay. Chưa từng bao giờ nghĩ đến uống thuốc, dù chỉ là dùng một miếng quả Ha Lê Lặc”. Trong thời Tỳ Bà Thi Phật, Ngài làm một người nghèo, cúng một quả Ha Lê Lặc cho vị Tăng đang bị nhức đầu hành hạ khiến bệnh được lành, nên cảm được quả báo ngũ bất tử. Ngũ bất tử là:

Lúc sơ sinh hiện ra h́nh tướng quái lạ là một khối thịt. Cha mẹ kinh hăi cho là quái vật bèn bỏ vào nồi rang cho chết, vẫn không sao. Lại bỏ vào nồi luộc lên vẫn không chết. Lại quăng xuống nước cho chết ngộp vẫn không chết. Lại bị cá nuốt vào bụng vẫn không chết. Khi con cá ấy bị bắt, đem mổ bụng cá, đứa bé hiện ra, chẳng bị dao cắt phải. Đó là ngũ bất tử. Ông chài bèn nuôi Ngài đến khi khôn lớn, theo Phật xuất gia.

Trong quá khứ, Ngài làm một vị tỳ kheo, từng phát nguyện: chẳng nh́n mặt nữ nhân, chẳng nhận y do nữ nhân may, chẳng nhận cơm từ tay nữ nhân. Mẹ Ngài nhớ con tha thiết, bèn vào chùa thăm. Vị tăng chẳng vui, sai người đưa mẹ ra khỏi chùa. Bà mẹ căm tức, cho là đứa con phạm tội ngũ nghịch, bèn phát ác nguyện: “Nguyện đời sau tôi làm mẹ nó hành hạ đủ thứ”. Quả nhiên, ứng vào lời nguyện này, Ngài bị năm thứ hành hạ khổ sở.

Tôn giả Bạc Câu La là bậc thiểu dục tri túc. Nơi tháp tự nhiên vọt ra một đồng tiền, Ngài chẳng đoái hoài. Thân không bao giờ khoác y dày, thế mà không bao giờ bệnh tật. Lại do quá khứ Ngài nghiêm tŕ giới bất sát nên cảm được chín mươi mốt kiếp trường thọ. Trong đời này, Ngài thọ được 160 tuổi. Trong các đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Thọ Mạng đệ nhất.

 

p) A Nậu Lâu Đà:

 

C̣n phiên là A Na Luật Đà, A Nê Luật, A Nê Lâu Đậu, Hán dịch là Vô Bần, Như Ư hay Vô Diệt. Do trong đời quá khứ, vào lúc đói kém nặng nề, Ngài dâng bát cơm nấu bằng hột cỏ Bại (một thứ cỏ, hột gần giống hột Cao Lương) cúng dường một vị Bích Chi Phật tên là Phi Lật Tra nên cảm được quả báo bảy lần sanh lên trời làm thiên vương, bảy lần sanh trong nhân gian làm đế vương. Tiếp đó, trong kiếp nào cũng được sở cầu như ư, của cải không bao giờ thiếu thốn. Trong suốt cả chín mươi mốt kiếp chẳng bao giờ phải chịu cảnh nghèo cùng nên có tên là Vô Bần.

Tôn giả Vô Bần là em họ của Phật, tánh ham ngủ. Mỗi khi nghe Phật thuyết pháp, Ngài thường hôn trầm ngủ gật. Đức Phật muốn cảnh tỉnh nên quở trách nặng nề:

Ô hay sao lại ngủ?

Giống ốc, hến, trai, nghêu

Ngủ một giấc ngàn năm,

Chẳng nghe danh hiệu Phật!

Tôn giả bị quở trách liền phát phẫn, tinh tấn, suốt cả bảy ngày đêm tinh tấn, mắt chẳng tạm nhắm, nên mù cả hai mắt. Đức Phật từ bi dạy Ngài tu tập pháp Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội. Chẳng bao lâu tôn giả chứng đắc Thiên Nhăn Thông, xem cơi tam thiên đại thiên thế giới rơ ràng như trái Am Ma La đang đặt trong ḷng bàn tay (Am Ma La là một thứ trái ở Ấn Độ, dịch nghĩa là Vô Cấu Thanh Tịnh, h́nh dáng từa tựa trái cau, ăn vào trừ được chứng phong lănh, người Ấn Độ thích cầm trái này trong tay).

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm một người thợ săn toan trộm viên ngọc gắn trên bạch hào của tượng Phật. Người thợ săn dùng mũi tên khêu đèn cho cháy sáng hơn, nhưng chợt thấy tướng hảo của Phật, bèn phát tâm thù thắng, vứt bỏ cung tên, thề chẳng hại mạng. Do sức thiện căn khêu đèn ấy nên nay đắc Thiên Nhăn Thông.

Ngài được xưng tụng là bậc Thiên Nhăn đệ nhất. 

 

1.3.1.4. Tiểu kết:

 

Chánh kinh:

 

Như thị đẳng chư đại đệ tử.

(Mười sáu vị tôn giả và mỗi mỗi vị trong số 1250 vị tỳ kheo không nêu rơ tên đều là đại đệ tử của Phật)

 

Giải:

Chữ “như thị” chỉ mười sáu vị tôn giả vừa được nêu tên ở phần trên. Chữ “đẳng” chỉ những vị c̣n lại. “Chư” nghĩa là chẳng phải một.

“Đại” ư nói các vị này bổn nguyện lớn, phát đại tâm, thần thông lớn lao, tu hành lớn lao, chứng quả lớn lao. Đúng như kinh Pháp Hoa chép:

“Đạo Bồ Tát tu hành,

Do khéo học phương tiện,

Chẳng thể nghĩ bàn nổi.

Biết chúng ưa tiểu pháp,

Ḷng sợ hăi đại trí,

V́ thế, các Bồ Tát,

Làm Thanh Văn, Duyên Giác,

Hóa hiện có tam độc,

Lại hiện tướng tà kiến,

Đệ tử ta thế đó:

Phương tiện độ chúng sanh”.

Cũng như lời nguyện dũng mănh của tôn giả A Nan trong kinh Lăng Nghiêm:

Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập,

Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn

(Đời ác ngũ trược con thề sanh vào đó trước hết, ở trong đấy vĩnh viễn chẳng nhập Niết Bàn).

“Đệ tử”: học vấn kém hơn thầy là Đệ, kiến giải do thầy phát sanh nên gọi là Tử. Dùng ư anh em, cha con trước sau để biểu thị ư tiên giác, hậu giác. Hết thảy trí huệ, đạo pháp đều do Phật chỉ bày, nuôi dưỡng nên coi Phật như cha. Làm đệ tử Phật tức là nguyện làm người tiếp nối ḍng Phật. Những vị A La Hán đây “nội bí Bồ Tát hạnh, ngoại hiện Thanh Văn thân” (trong ngầm tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn), chẳng phải là hạng căn cơ nhỏ kém, số lượng chẳng phải là chỉ có một hai vị, cho nên kinh mới chép: “Chư đại đệ tử”.

 

1.3.2. Chư Bồ Tát chúng

1.3.2.1. Minh loại (nêu rơ thứ loại)

 

Chánh kinh:

 

Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát.

(cùng các vị Bồ Tát Ma Ha Tát)

 

Giải:

Chữ Tinh có nghĩa là “cùng với”, ư nói: ngoài các vị Thanh Văn tham dự pháp hội, c̣n có các Bồ Tát cũng cùng đến nghe pháp.

“Bồ Tát”: nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là Giác Hữu T́nh. Giác là giác ngộ, Hữu T́nh là tiếng để gọi chung lục đạo chúng sanh. Bất cứ loại sanh mạng nào có tri giác, t́nh cảm, ư thức, có sự hoạt động tinh thần đều gọi là “hữu t́nh”. Sở chứng giống như Phật nên gọi là Giác. Vô minh chưa đoạn trừ sạch nên gọi là Hữu T́nh.

Nếu xét trên phương diện tự lợi và lợi tha th́:

- Bản thân ḿnh là chúng sanh đă chứng được giác đạo, đó là tự lợi.

- Đem giác đạo ḿnh đă chứng ấy để giác ngộ hết thảy chúng sanh, đó là lợi tha.

- Thượng cầu Phật đạo (Phật là Giác), hạ hóa chúng sanh (chúng sanh là hữu t́nh). Đó là tự lợi lẫn lợi tha.

Bồ Tát đă chứng được một phần giác ngộ của Như Lai, nhưng vẫn c̣n một phần vô minh chưa sạch. Nghĩa là trong tám thức điền của bậc Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n một phần sanh tướng vô minh chưa phá được, đối với Trung Đạo hăy c̣n một phần chưa chứng ngộ trọn vẹn, v́ thế gọi là Giác Hữu T́nh.

Lại nữa, Bồ Tát bi trí song vận, tự tha kiêm lợi, dùng trí để trên cầu sự giác ngộ của Phật đạo, dưới dùng ḷng bi để hóa độ hết thảy chúng sanh. Cầu chứng Phật đạo là tự lợi, hóa độ hữu t́nh là lợi tha.

Bồ Tát là bậc trọn đại từ bi, hàng Thanh Văn, Độc Giác chỉ riêng cầu sự an lạc giác ngộ cho chính ḿnh nên không thể nào sánh bằng Bồ Tát. Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh trong đại địa như con đỏ, coi nỗi khổ của chúng sanh là nỗi khổ của chính ḿnh, b́nh đẳng tế độ, chẳng phân biệt là ta hay người, chẳng lựa thân sơ, phổ nguyện hết thảy chúng sanh đều được thoát khổ, cùng được giải thoát, nên thường y theo Tứ Thánh Đế để phát nguyện. Tu trọn Lục Độ vạn hạnh để chứng thành Phật quả.

 

“Ma Ha Tát”: Ma Ha là Đại, Tát tức là Bồ Tát. Nói cách khác, Ma Ha Tát là các vị đại Bồ Tát, chẳng phải là hàng tiểu Bồ Tát thuộc Quyền Giáo Tiểu Thừa, mà là hàng đại Bồ Tát trong Thật Giáo đă phá vô minh, thấy được Pháp Thân. Hơn nữa, các Ngài là những vị đại căn cơ, có đại trí, tin đại pháp, thấu hiểu đại lư, tu đại hạnh, trải bao đại kiếp, chứng đại quả. Phải đủ cả bảy điều như thế mới đáng gọi là Đại Bồ Tát.

Hai chữ Bồ Tát đôi khi c̣n dịch là Đại Đạo Tâm Chúng Sanh, nghĩa là bậc phát đại tâm Bồ Đề, cứu độ chúng sanh.

 

1.3.2.2. Tiêu danh (nêu tên)

 

Chánh kinh:

 

Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

 

Giải:

a) “Văn Thù Sư Lợi”:

 

Đôi khi c̣n phiên là Mạn Thù Thất Lợi, dịch nghĩa là Diệu Đức v́ Ngài đă chứng tam đức (Pháp Thân đức, Bát Nhă đức, Giải Thoát đức) vi diệu giống như Phật, từng làm thầy của bảy đức Phật. Chư kinh c̣n xưng tụng Ngài là “Chư Phật chi mẫu”, hàm ư: từ trí huệ thanh tịnh chứng đắc diệu quả. Hoặc c̣n dịch là Diệu Thủ v́ trong các hàng đại Bồ Tát, Ngài được xưng tụng là đức hạnh bậc nhất.

Văn Thù Sư Lợi c̣n được dịch là Diệu Cát Tường: Trong ba thứ hoặc (Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần Sa hoặc) và hai thứ sanh tử (phần đoạn và biến dịch), nếu đoạn được một phần phiền năo hoặc dứt được một phần sanh tử, chứng được một phần Pháp Thân th́ được gọi là Cát Tường, nhưng chưa thể gọi là Diệu. Nhưng vị Bồ Tát đây đă dứt trọn vẹn tam hoặc, vĩnh viễn xóa sạch hai thứ sanh tử, thành tựu trọn vẹn ba đức, nên hiệu là Diệu Cát Tường.

Thêm nữa, những ai trông thấy h́nh tướng của Ngài, nghe danh hiệu Ngài, đều phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi, thật là tốt lành chẳng thể nghĩ bàn, nên Ngài hiệu là Diệu Cát Tường.

Hơn nữa, lúc Bồ Tát này đản sanh, có mười thứ điềm tốt lành xuất hiện:

- Quang minh đầy nhà.

- Cam lộ ngập sân.

- Mặt đất phun lên thất bảo.

- Thần nhân mở toang kho tàng.

- Gà đẻ ra chim phượng con.

- Heo sanh ra heo con có tướng rồng.

- Ngựa đẻ ra kỳ lân.

- Trâu sanh ra bạch trạch (bạch trạch là một con vật tượng trưng cho điềm lành).

- Thực phẩm biến thành hạt vàng.

- Voi mọc sáu ngà.

Kinh Bi Hoa thuật bổn nhân của Bồ Tát như sau: “Đối trước Bảo Tạng Phật phát hoằng thệ nguyện, được Phật thọ kư hiệu là Văn Thù”.

Nếu luận về bổn quả, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, trong quá khứ Ngài đă thành Phật hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Theo kinh Ương Quật Ma La, trong kiếp hiện tại, Ngài thành Phật trong thế giới Hoan Hỷ ở phương Bắc, hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. Nghe được danh hiệu này trừ diệt được bốn trọng tội. Theo kinh Bi Hoa và pháp hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Kư trong kinh Bảo Tích, Ngài sẽ thành Phật trong thế giới Ly Cấu ở phương Nam, hiệu là Phổ Hiện Như Lai. Ai nghe được danh hiệu này sẽ tiêu diệt được tội Ngũ Vô Gián.

Nay v́ hỗ trợ sự nghiệp độ sanh của đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên thị hiện làm Bồ Tát. Chứ thật ra Ngài đă thành Phật từ lâu, nên mới có thể chứng trọn vẹn ba đức, đoạn trừ viên măn ba Hoặc và hai thứ sanh tử.

 

“Pháp vương tử”: Nghĩa đen là con đấng Pháp Vương. Đây là một mỹ hiệu của các đại Bồ Tát. Pháp Vương tức là Đức Phật. Vương có nghĩa là người đứng đầu không ai hơn. Đức Phật là đấng thuyết pháp khắp thế gian, xuất thế gian không ai hơn nên được gọi là Pháp Vương.

Vương c̣n có nghĩa là Tự Tại. Kinh chép: “Ta là pháp vương, tự tại trong các pháp”. Chỉ ḿnh Phật được gọi là Pháp Vương. Chữ “Tử” (con) chỉ Bồ Tát. Theo Phật Địa Luận: “Từ miệng Chánh Pháp của Phật sanh ra, tiếp nối thân Phật chẳng đoạn tuyệt, nên gọi là Pháp Vương Tử”. 

Hơn nữa, Tử có hai nghĩa:

- Sở sanh (được sanh bởi): trí huệ, đạo quả của Bồ Tát được phát sanh bởi Đức Phật. Kinh chép: “Từ Phật hóa sanh, sanh ra từ miệng Phật”.

- Kế thừa: công nghiệp cha sáng lập, con kế thừa, phát triển. Hết thảy Bồ Tát có trách nhiệm gánh vác Chánh Pháp của Như Lai, kế thừa gia nghiệp của Đức Phật. Sự nghiệp của Phật chính là sự nghiệp thuyết pháp độ sanh.

Bồ Tát địa vị gần với Diệu Giác giống như con trưởng của Phật, khác nào hoàng thái tử sẽ kế vị ngôi vua nên gọi là Pháp Vương Tử. Theo Kinh Khê đại sư: “Trong các vị pháp vương tử, Ngài Văn Thù đức cao tột nên các kinh đều gọi Ngài là Thượng Thủ”.

Hơn nữa, bản thân Ngài đă là Phật, thị hiện thân Bồ Tát độ sanh, như vậy là “bổn tích xứng hợp”, nên gọi là Pháp Vương Tử.

Trong kinh Hoa Nghiêm Ngài là Căn Bản Sư; trong kinh Pháp Hoa, Ngài là Chư Phật Sư, trong kinh Lăng Nghiêm Ngài là Trạch Pháp Sư (vị thầy chọn lựa pháp cho tứ chúng tu tập), trong kinh này Ngài là Ảnh Hưởng Chúng (thánh chúng tham dự pháp hội để chứng tín, tạo ảnh hưởng, khiến cho pháp môn này được hoằng truyền rộng răi). Ngài là bậc Trí Huệ đệ nhất trong hàng đại Bồ Tát.

Không phải ngẫu nhiên hai vị Xá Lợi Phất và Văn Thù được nêu đầu tiên trong hàng thính chúng. Pháp môn tŕ danh niệm Phật này rất khó tin, khó lănh hội. Nếu chẳng phải là bậc đại trí huệ th́ chẳng thể nào tín ngưỡng, tuân hành nổi.

 

b) A Dật Đa Bồ Tát:

 

Tức là Di Lặc Bồ Tát, lẽ ra phải gọi đủ là A Dật Đa Di Đa La Bồ Tát. A Dật Đa là tên, Di Lặc là họ. Di Lặc dịch là Từ Thị (họ Từ), A Dật Đa dịch là Vô Năng Thắng (không ai thắng nổi, không ai hơn). Tuy vậy, có thuyết nói A Dật Đa là họ, Từ Thị mới là tên.

Quá khứ, Bồ Tát được gặp Đại Từ Như Lai, phát tâm xuất gia, chứng đắc Từ Tâm tam muội, nên được hiệu là Từ Thị. Cho đến khi thành Phật, Ngài vẫn dùng danh hiệu này.

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm vua từng làm vị quốc vương từ ái tên là Đàm Ma Lưu Chi, từ tâm cứu thế, nên được dân chúng tôn xưng là Từ Thị. Từ đấy đến nay, Ngài thường được gọi là Từ Thị.       

Ngoài ra, trong quá khứ, Ngài từng làm một vị Bà La Môn, tên là Nhất Thiết Trí, trong tám ngàn năm tu tập hạnh Từ.

Trong đời Phật Phất Sa, Ngài cùng đức Thích Ca cùng phát Bồ Đề tâm, thường tu tập Từ định.

Theo kinh Bi Hoa, Từ Thị Bồ Tát phát nguyện trong kiếp đao binh thường ủng hộ chúng sanh, đấy là ḷng Từ tột bực của Bồ Tát, không ai hơn được nổi, nên Ngài hiệu là Vô Năng Thắng.

Trong đời hiện tại, khi Ngài sanh ra đă có đủ ba mươi tướng đại trượng phu, thân như vàng tía, phong thái đoan nghiêm. Bà mẹ Ngài tánh t́nh nóng nảy, cáu kỉnh, nhưng từ khi mang thai Ngài trở nên từ tâm lợi vật, từ ái khoan ḥa. Thầy bói bảo: “Đấy là nhờ đức của đứa con”. V́ thế, Ngài được đặt tên là Di Lặc. Hiện Di Lặc Bồ Tát đang ở trong nội viện trên cung trời Đâu Suất, làm một vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong tương lai sẽ kế vị đức Phật Thích Ca Mâu Ni, làm vị Phật thứ năm trong ngàn Đức Phật của Hiền kiếp.

Hiện tại nay Đức Phật Thích Ca thành Phật khi tuổi thọ con người trăm tuổi. Cứ một trăm năm, con người giảm một tuổi thọ, giảm như thế cho đến khi con người chỉ c̣n thọ 10 tuổi. Nhân loại khi đó tánh t́nh cực ác, dù nhánh cây hay cọng cỏ lọt vào tay đều thành vũ khí giết hại nhau. Do quá cực khổ, con người bèn hướng thiện, nên tuổi thọ lại tăng dần. Cứ một trăm năm, tuổi thọ lại tăng thêm một năm.

Tăng đến khi con người thọ được tám vạn năm, Ngài sẽ hạ sanh trong nhân gian, thành đạo dưới cội cây Long Hoa trong vườn Long Hoa (Cây ấy có h́nh dáng như rồng cuộn, khi đức Thế Tôn thành đạo, cây mới trổ hoa nên gọi là Long Hoa). Sáng ngồi đạo tràng, tối đă thành Phật; ba lượt chuyển pháp luân, độ chúng sanh khắp ba căn nên gọi là “Long Hoa tam hội”. Những người đă từng gieo căn lành sâu dày trong pháp của Đức Phật Thích Ca mới được dự các hội thuyết pháp ấy.

 Tương truyền, thời Lương Vơ Đế, Ngài từng hóa hiện làm Phó Đại Sĩ, được hoàng đế tôn kính tột bậc. Vào thời Ngũ Đại, Ngài từng thị hiện ở huyện Phụng Hóa tỉnh Triết Giang, xước hiệu là Bố Đại ḥa thượng (ḥa thượng túi vải), tai to, bụng lớn, tay cầm chiếc túi vải, gặp ai cũng khuyến hóa, xin được thứ ǵ đều bỏ trong chiếc túi vải. Ngài thường ngâm:

Phi thị tắng ái thế thiên đa,

Tồn tế tư lương nại ngă hà?

Khoan khước đỗ b́ tu nhẫn nhục,

Hoát khai tâm địa nhậm tùng tha

(Nào phải người đời lắm ghét ưa,

Nghĩ suy cho kỹ Ngă đâu là?

Chiếc bụng to đùng nên nhẫn nhục,

Rỗng rang tâm địa bởi đâu mà!)

 

Lại nói:

Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân thiên bách ức,

Thời thời thị chư nhân,

Thời nhân tự bất thức.

(Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân ngàn trăm ức,

Luôn luôn dạy mọi người,

Mà ai nào hay biết)

          Như vậy, Ngài Di Lặc thường thị hiện trong thế gian độ sanh mà phàm phu nhục nhăn chẳng nhận biết được Ngài.

 

c) Càn Đà Ha Đề Bồ Tát:

 

Dịch là Bất Hưu Tức (chẳng thôi nghỉ). Phật đạo sâu xa, chẳng phải là hàng tiểu căn, tiểu hạnh có thể đạt đến mục đích nổi, mà phải là hạng bao kiếp siêng năng, gắng công chẳng ngừng, chẳng nghỉ mới có thể thượng thành Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.

Vị Bồ Tát này thường tu vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, trải hằng hà sa kiếp chưa từng ngừng nghỉ. Kinh Tư Ích chép: “Lấy hằng hà sa kiếp làm một ngày, lấy 30 ngày làm một tháng, lấy mười hai tháng làm một năm, qua một trăm mười vạn ức kiếp mới được gặp gỡ một Đức Phật. Gặp gỡ hằng hà sa Đức Phật như thế, hành các phạm hạnh, tu tập các công đức, sau đó mới được thọ kư, tâm chẳng ngơi nghỉ nên hiệu là Càn Đà Ha Đề”.

 

d) Thường Tinh Tấn Bồ Tát:

 

Thường là thường hằng (chẳng gián đoạn), Tinh là tinh cần (siêng năng, chuyên ṛng), Tấn là tiến lên. Thuần nhất chẳng tạp là Tinh, hướng đến trước chẳng lui sụt là Tấn, rốt ráo tinh tấn. Vị Bồ Tát này bao kiếp tu phạm hạnh phổ độ chúng sanh, một dạ tấn tu chẳng thay đổi, nên gọi là Thường Tinh Tấn.

Kinh Đại Bảo Tích chép: “Vị Bồ Tát này v́ một chúng sanh trải qua vô lượng kiếp khuyến hóa chẳng bỏ. Nếu như người ấy vẫn chưa lănh thọ sự giáo hóa th́ chưa từng có một niệm buông bỏ người ấy”.

 

Các vị Bồ Tát tham dự pháp hội rất đông, v́ sao chỉ nêu tên bốn vị Bồ Tát này? Ấy là do pháp môn Tịnh Độ là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, không là bậc đại trí không thể nào lănh ngộ nổi, nên nêu tên Bồ Tát Văn Thù đầu tiên (Văn Thù là Thật Trí, Xá Lợi Phất là Quyền Trí). Pháp môn Niệm Phật này là pháp yếu để độ sanh, cần phải được lưu truyền rộng răi trong muôn kiếp. Thế nên, Di Lặc Bồ Tát đương lai hạ sanh cũng tham dự pháp hội này để trong tương lai, nơi Long Hoa tam hội, sẽ lại trùng tuyên pháp yếu để pháp này được lưu truyền vô tận.

Pháp môn Tŕ Danh này chẳng có yếu quyết nào khác ngoài việc buông xuống vạn duyên, giữ mỗi một niệm chấp tŕ danh hiệu, trong mười hai thời thường siêng tinh tấn, trọn chẳng ngưng nghỉ, th́ tự nhiên công phu sẽ được thuần thục, lâm chung quyết định văng sanh. V́ thế, nêu tên hai vị Bất Hưu Tức, Thường Tinh Tấn.

Các vị đại sĩ đă đạt địa vị Đẳng Giác hoặc Diệu Giác như thế c̣n thân cận Phật A Di Đà, hâm mộ pháp môn Tịnh Độ; cớ sao bọn phàm phu chúng ta lại dám chê bỏ, lộng ngôn là pháp dành cho kẻ căn cơ hạ liệt, ngu phu ngu phụ thực hành, múa mép khua lưỡi bài xích để đến nỗi rước lấy tội ương, hoặc chẳng chịu phát nguyện, thọ tŕ, đánh mất lợi ích lớn? Đáng tiếc quá lẽ!

Nếu xét về Lư, Diệu Thủ (Văn Thù) chính là Tín, Tín làm đầu trong vạn hạnh (Tín phát xuất từ Trí, chứ không phải là ḷng tin mù quáng, mê muội). Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tín là nguồn đạo, là mẹ công đức”. Cầu sanh Tịnh Độ ắt phải lấy Tín làm đầu. Từ Thị tượng trưng cho Nguyện, nguyện trong kiếp đao binh luôn ủng hộ chúng sanh. Thường Tinh Tấn và Bất Hưu Tức tượng trưng cho Hạnh. Tinh là chẳng tạp, tức là “nhất tâm bất loạn”, một dạ tŕ danh chẳng tạp tu các pháp môn khác. Tấn là chẳng lui sụt, tức là “bất thoái chuyển”. Bất Hưu Tức và Thường Tinh Tấn ư nghĩa tương đồng.  

 

1.3.2.3. Tiểu kết

 

Chánh kinh:

 

Dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát.

(Cùng với các vị đại Bồ Tát giống như thế đó).

 

Giải:

“Dữ” là cùng với. Hai chữ “như thị” chỉ bốn vị Bồ Tát vừa nêu trên.Ngoài những vị ấy ra c̣n có vô lượng những vị Bồ Tát khác dự hội nhưng chẳng nêu tên, nên dùng chữ “đẳng”.

 

1.4. Thiên nhân chúng (đại chúng trời, người)

 

Chánh kinh:

 

Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu.

(Cùng với Thích Đề Hoàn Nhân, vô lượng chư thiên đại chúng cùng tụ họp).

 

Giải:

Đoạn kinh này minh thị ngoài hai chúng Thanh Văn và Bồ Tát, c̣n có vô lượng hết thảy đại chúng trời, người cùng đến dự hội, biểu thị pháp môn Tịnh Độ quảng đại viên măn, không căn cơ nào chẳng được thâu nhiếp.

“Thích Đề Hoàn Nhân”: gọi đủ theo tiếng Phạn là Thích Ca Đề Bà Nhân Đạt La, Hán dịch là Năng Thiên Chủ hoặc Năng Vi Chủ. Thích Ca là họ, Đề Bà là trời (Đề Bà đôi khi phiên âm thành Đề Hoàn), Nhân Đạt La là chúa, là đế vương.

Ông này là vua cơi trời Đao Lợi, thường gọi tắt là Đế Thích. Trời Đao Lợi thường dịch là Tam Thập Tam thiên, tức là tầng trời thứ hai trong sáu cơi trời trong Dục Giới. Cơi trời này nằm ngay trên đảnh núi Tu Di, rộng tám vạn do tuần, chính giữa là thành Thiện Kiến, là chỗ đặt cung điện của Đế Thích (thường gọi là Thiện Pháp Đường thiên). Bốn phía, bốn góc mỗi nơi có bốn vị trời. Bốn lần tám thành ba mươi hai, cộng chung với vua Đế Thích thành 33 vị trời nên gọi là Tam Thập Tam Thiên.

Trong quá khứ, trong thời Phật Ca Diếp, Đế Thích là một vị bần nữ, thấy tháp Phật Ca Diếp hư nát bèn phát tâm tu bổ tháp tượng cho thật cao rộng trang nghiêm, dốc sạch của cải để tận lực kiến tạo, vẫn chưa đủ. Bà bèn khuyến hóa 32 người khác cùng phát tâm hỗ trợ. Do bởi thắng phước ấy, đạt được quả báo thù thắng, sanh làm Đao Lợi thiên chúa, 32 người kia làm thiên chúa trong ba mươi hai cơi trời phụ.

Trong tương lai, Đế Thích sẽ thành Phật hiệu là Vô Trước Tôn Như Lai.

 

“Đẳng”: dưới th́ tính đến chư thiên trời Tứ Thiên Vương, trên th́ tính đến chư thiên các tầng trời Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại v.v... Thậm chí các vị trời ở Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, cùng tất cả chư thiên trong các thế giới khác nhiều như vi trần trong mười phương. Số lượng quá nhiều nên bảo là “vô lượng chư thiên”.

Cần lưu ư: trong Phật giáo, Thiên (trời) chỉ là một trong sáu loại chúng sanh, có nhiều phước báo, tự nhiên hóa sanh, không cần cha mẹ sanh dưỡng, có sanh mạng, thọ mạng dài lâu nhưng có hạn định nhất định, c̣n lệ thuộc trong sanh tử luân hồi.

 

“Đại chúng” là chữ để phiếm chỉ: Từ những hạng thính chúng như trên đă kể: đại tỳ kheo tăng, đại Bồ Tát, vô lượng chư thiên cho đến tứ chúng, trời, rồng tám bộ trong mười phương.

Thanh Văn chúng thường theo hầu Phật nên được nêu trước, Bồ Tát chúng thực hành Trung Đạo nên nêu ở giữa, chư thiên là ngoại hộ của Phật c̣n thuộc về địa vị phàm phu nên kể sau cùng.

Hơn nữa, nêu trước Thanh Văn rồi đến Bồ Tát là để đối ứng giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. La Hán, Bồ Tát và chư thiên đại chúng là nêu sự đối ứng giữa thánh và phàm. Hai điều này biểu thị pháp môn Tịnh Độ nhiếp thọ trọn ba căn, không sót một ai.