1.     BIỆT TỰ (Phát khởi tự)

 

Chánh kinh:

 

Nhĩ thời Phật cáo trưởng lăo Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.

(Lúc bấy giờ, Phật bảo trưởng lăo Xá Lợi Phất:

- Từ đây [đi về] phương Tây qua khỏi mười vạn ức cơi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Cơi ấy có một vị Phật hiệu là A Di Đà nay hiện đang thuyết pháp)

 

Giải:

Các bộ kinh khác phải đợi thỉnh Phật mới giảng thuyết. C̣n trong kinh này, v́ Cực Lạc là chỗ nương về của chúng sanh trong cửu giới, hồng danh Di Đà chính phương tiện nhiệm mầu nhất để liễu thoát sanh tử. Nhị Thừa mấy khi được nghe, lục đạo chúng sanh chẳng hề hay biết. Bởi lẽ đó, đức Thích Tôn quán sát nay đă đến lúc căn cơ chúng sanh nhờ nghe pháp Tịnh Độ mà được giải thoát, nên Phật ứng cơ, vận dụng ḷng Vô Duyên Từ, không ai hỏi tự giảng ra pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật.

 

Chữ “nhĩ thời” chỉ thời thành tựu trong sáu thứ thành tựu, tức là trong lúc Phật sắp thuyết giảng kinh này.

 

“Cáo”: kẻ trên bảo người dưới là Cáo. Kẻ dưới thưa cùng người trên gọi là “bạch”, nhằm biểu thị sự tôn kính.

 

V́ sao Đức Phật không ai hỏi lại tự nói kinh này? Đó là v́ pháp môn này viên diệu chẳng thể nghĩ bàn, mấy ai biết đến, nên không ai có thể phát khởi thỉnh vấn được. Đức Thế Tôn mẫn niệm chúng sanh vô cực, Phật trí soi xét căn cơ chúng sanh chẳng lầm, đại chúng do nghe pháp này sẽ đạt lợi ích lớn lao. Đức Phật cũng sẵn biết chúng sanh đời mạt sẽ nhờ pháp này mà được độ thoát nên chẳng đợi ai cầu thỉnh, bèn giảng ngay vào y báo, chánh báo của cơi Tịnh Độ. V́ thế kinh này được xếp vào thể loại Vô Vấn Tự Thuyết trong mười hai bộ loại kinh vậy.

 

Các đệ tử của Phật hiện diện trong pháp hội rất nhiều, v́ sao Phật lại chỉ gọi Ngài Xá Lợi Phất để dạy? Ấy là v́ Xá Lợi Phất là bậc đương cơ của kinh này. Xét ở mức độ sâu hơn th́ là v́:

 

a) Pháp môn Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn, rất khó tin, chẳng phải bậc đại trí huệ sẽ không thể nào tin nhận, không chút nghi ngờ.

 

V́ thế, Đức Phật gọi ngay Ngài Xá Lợi Phất để dạy. Cũng như trong hội Bát Nhă, Ngài Tu Bồ Đề là bậc Giải Không đệ nhất, nên Phật gọi Tu Bồ Đề để dạy. Hơn nữa, Đức Phật nói với bậc đương cơ để dạy chung tất cả đại chúng chứ không phải chỉ giảng riêng cho ḿnh Ngài Xá Lợi Phất.

Người tu pháp môn Tịnh Độ nếu dùng Trí để phát khởi ḷng tin th́ ḷng tin ấy là Chánh Tín; nếu dùng Trí để phát nguyện th́ nguyện ấy sẽ thành hoằng nguyện, nếu dùng Trí để khởi hạnh th́ hạnh ấy chính là diệu hạnh. Bởi Trí trọng yếu như thế, nên Phật mới đặc biệt gọi Ngài Xá Lợi Phất để giảng pháp môn này.

 

b) Để trọn đủ Tứ Tất Đàn:

 

Tất nghĩa là phổ cập, Đàn là Đàn Na, tức bố thí. Phật dùng bốn pháp để thí cho khắp tất cả, nên gọi là Tứ Tất Đàn.

- Xá Lợi Phất là đại đệ tử của Phật, thường được nhắc đến đầu tiên trong các kinh; nên đương nhiên phải gọi Ngài giảng dạy để đại chúng đều hoan hỷ. Đó là Thế Giới Tất Đàn.

- Xá Lợi Phất là bậc trí huệ đệ nhất, đại chúng cùng khâm ngưỡng. Ngài Xá Lợi Phất tin tưởng pháp này th́ đương nhiên đại chúng cũng sẽ tín phụng, khiến họ được lợi ích sanh khởi thiện pháp. Đấy là Nhân Tất Đàn.

- Phật dạy Ngài Xá Lợi Phất là để khiến cho những kẻ chẳng tin vào Tịnh Độ nẩy ḷng hổ thẹn, vứt bỏ tà kiến, khiến họ được lợi ích diệt ác. Đấy là Đối Trị Tất Đàn.

- V́ sách tấn kẻ tu tập tiểu pháp, khiến cho họ hồi tiểu hướng đại, cầu sanh Tịnh Độ, rốt ráo thành Phật. Đó là làm cho họ được lợi ích nhập lư. Đấy chính là Đệ Nhất Nghĩa Đế Tất Đàn vậy.

 

Câu “tùng thị Tây Phương” chỉ rơ xứ sở. Tùng là do, chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà này. Do Cực Lạc ở phương Tây nên gọi là Tây Phương. Câu “quá thập vạn ức Phật độ” chỉ rơ khoảng cách. Quá là trải qua, đi qua. Vạn là mười ngàn. Mười vạn là một Ức.

Mỗi thế giới Phật nhỏ lớn không đồng, nhỏ nhất là một tam thiên đại thiên thế giới. Chẳng hạn, cơi Sa Bà này chỉ gồm một tam thiên đại thiên thế giới.

Thế nào là một tam thiên đại thiên thế giới?

Trong thế gian, ngọn núi cao nhất là núi Tu Di (Tàu dịch là Diệu Cao). Núi này cao hơn mặt biển tám vạn do tuần (một do-tuần thường được hiểu là bốn mươi dặm) và phần ngập trong nước biển cũng là tám vạn do tuần. V́ thế gọi là Cao. Núi này thuần do các thứ báu hợp thành nên gọi là Diệu.

Quanh bốn phía núi Tu Di có bốn đại hải, gọi là Hương Thủy Hải. Bao quanh đại hải lại có núi thuần bằng vàng gọi là Kim Sơn. Bọc lấy những núi ấy là những biển chứa đầy nước mặn. Bọc lấy những biển nước mặn ấy là những rặng núi lớn, gọi là Đại Thiết Vi sơn. Phía Đông núi ấy có Đông Thắng Thần Châu, phía Tây có Tây Ngưu Hóa Châu. Phía Nam có Nam Thiệm Bộ Châu. Phía Bắc có Bắc Câu Lô Châu. Quả địa cầu ta đang ở đây thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu. Bốn châu, núi Thiết Vi, Kim Sơn, Hương Thủy Hải, biển nước mặn thuộc phạm vi soi sáng của một mặt trời, mặt trăng.

Gộp cả chín núi, bốn biển, bốn đại bộ châu cùng các cơi trời lên đến tầng trời Lục Dục Thiên là một tiểu thế giới. Một ngàn tiểu thế giới và tính lên đến trời Nhị Thiền là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới và tính gộp lên đến trời Tam Thiền là một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới và tính lên đến trời Tứ Thiền là một đại thiên thế giới. Do ba lần lũy tính, mỗi lần là 1.000, nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên thế giới. 

Từ thế giới Sa Bà này đi thẳng về phương Tây, qua khỏi mười vạn ức thế giới Phật như thế sẽ đến thế giới Cực Lạc. Thế giới ấy y báo, chánh báo thù thắng trang nghiêm khôn sánh, vĩnh viễn thoát khỏi các nỗi khổ, an lạc bậc nhất, hết thảy sự vui trong cảnh trời, cơi người không thể nào sánh bằng sự vui trong cơi Phật ấy nên gọi là Cực Lạc.

Hơn nữa, mười phương cơi Phật, cơi nào cũng có bốn cơi (Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang), đều phân ra tịnh uế sai biệt. Riêng cơi Cực Lạc cả bốn cơi đều tịnh. Cơi Cực Lạc là do công đức hạnh nguyện xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà tạo thành, khắp cả mười phương cơi Phật không có cơi nào giống như thế, là cơi nhiệm mầu độc nhất vô nhị như thế nên gọi là Cực Lạc.

Phải qua mười vạn ức cơi Phật mới đến được Cực Lạc, như vậy có phải là xa quá hay chăng?

Ước về Sự, tuy cách xa mười vạn ức cơi, nhưng cứ như kinh Pháp Hoa đă thuyết minh: Nếu dùng một bụi nhỏ để đánh dấu những cơi Phật đă đi qua th́ con số mười vạn ức cơi Phật có thấm vào đâu!

Lại theo kinh Hoa Nghiêm, Hoa Tạng thế giới có h́nh dạng như cái tháp báu úp ngược, phía trên to, phía dưới nhỏ, gồm tất cả 20 tầng. Mỗi tầng lại có vô số thế giới Phật nhiều như vi trần. Cơi Sa Bà đây của chúng ta nằm ngay trong tầng 13 của Hoa Tạng thế giới, thật chỉ là một mảy trần trong vi trần sát độ thế giới Phật. Cực Lạc và Sa Bà cùng nằm trong tầng thứ 13. Cứ so sánh với số vi trần sát độ th́ Cực Lạc chỉ cách Sa Bà mười vạn ức cơi, chẳng đáng coi là xa xôi chi cả! Cực Lạc chỉ là thế giới vui sướng nằm trong Hoa Tạng thế giới, Sa Bà cũng chỉ là một thế giới khổ sở thuộc trong Hoa Tạng mà thôi!

Ước về Lư, Cực Lạc nào cách tấc gang. Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta xét về chiều dọc th́ tột cùng ba đời, theo chiều ngang th́ trùm khắp mười phương. Mười phương hư không vi trần cơi nước vốn chỉ là cảnh được hiện trong một niệm tâm của ta. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Hư không sanh trong đại giác như một bọt nước trong biển cả”. Vi trần cơi nước hữu lậu đều nương vào hư không mà sanh. Hư không vốn đă là không, huống hồ là các cơi? Do pháp giới duy tâm nên tự tâm vốn sẵn đủ Cực Lạc, vậy th́ cần chi phải lo ngại là gần hay xa nữa ư?

Chỉ v́ chúng ta chấp trước điên đảo đến nỗi vọng tưởng che lấp nên chẳng thể chứng đắc. Nếu có thể phát khởi một niệm chân tâm niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, chứng đắc bổn tâm th́ sẽ phát sanh được cơi Cực Lạc ngay nơi tự tâm, thấy được đức Di Đà ngay nơi tự tánh. Cực Lạc vốn chẳng ĺa tự tâm, đúng như chư Tổ thường nói: “Toàn sự tức là Lư, toàn vọng chính là chân, tánh - tu bất nhị, tự - tha viên dung”, nào c̣n phải so đo là gần hay xa chi nữa!

Đối với nhục nhăn của phàm phu, mười vạn cơi Phật chừng như quá xa, nhưng một khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc lâm chung tâm được định th́ ngay trước mắt liền thấy Cực Lạc. Cổ đức nói: “Lâm chung cảnh Tây phương, rơ ràng ngay trước mắt”, chính là ư này vậy.

Hơn nữa, người chưa đủ tín căn sâu xa, đối với câu kinh “quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới danh viết Cực Lạc” khó ḷng chẳng thể sanh nghi, phân vân: sao biết được qua khỏi mười vạn ức cơi Phật có thế giới Cực Lạc? Nay xin tạm lấy chuyện trước mắt để phá nghi: Trước khi ngành hàng hải, hàng không phát triển, khi nghe nói có năm châu, bốn biển, không ít kẻ cho đó là chuyện hư huyễn!

Nghe Đức Phật nói có vô lượng thế giới, mắt ta nào thấy. Nay nhờ thiên văn học phát triển, ta mới biết cứ mỗi một tinh tú là một thế giới. Mắt trần của chúng ta có thấy được vi trùng hay không nếu không dùng đến kính hiển vi, có thấy được những tinh cầu nếu không dùng đến viễn vọng kính hay không? Cứ lư đó mà suy, trong vô lượng thế giới mười phương ắt phải có một thế giới Cực Lạc, nhưng mắt tục phàm phu không thấy được, chỉ có Phật nhăn mới thấy biết rơ ràng mà thôi!

Đức Phật vốn đủ Nhất Thiết Chủng Trí, hiểu rơ chân lư vũ trụ, dù là pháp xuất thế hay thế gian, không pháp nào Ngài chẳng hiểu rơ. Khắp mười phương thế giới, Phật nhăn nh́n thấu suốt tất cả, huống hồ chỉ có mười vạn ức cơi Phật, Ngài lại chẳng nh́n thấy rơ hay sao?

 

Câu “kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà” nêu rơ chánh báo (Chánh báo là chỉ về thân, mỗi chúng sanh đều thọ thân sai khác, đó gọi là Chánh. Tùy theo nghiệp lực mỗi người mà thọ thân thù thắng hay hèn kém nên gọi là Báo). Đức Thế Tôn tự xướng lên danh hiệu Phật A Di Đà để phát khởi, nghĩa là: xác quyết thật có chánh báo như vậy ḥng phát khởi ḷng tin chân xác nơi chúng sanh, khiến họ chuyên ṛng, chân thành niệm Phật.

 

Chữ “kỳ độ” chỉ thế giới Cực Lạc. Đă có thế giới, ắt phải có Đức Phật hóa độ trong ấy nên bảo là “hữu Phật”.

 

“Hiệu A Di Đà”: xưng tên căn cứ theo đức th́ gọi là “hiệu”. Câu này nêu rơ vạn đức hồng danh của đức giáo chủ cơi Cực Lạc.

 

“Kim hiện tại thuyết pháp”: Đây chính là phong cách độ sanh. “Kim” nghĩa là ngay hiện thời, ngụ ư: ngay trong lúc Đức Phật Thích Ca đang thuyết pháp đây. Nói “hiện tại” để phân biệt với quá khứ, vị lai, hàm nghĩa: ngay trong lúc Thích Ca Mâu Ni Phật đang giảng kinh này, Phật A Di Đà cũng đang thuyết pháp ngay trong cơi Cực Lạc. Bởi thế mới nói là “kim hiện tại thuyết pháp”.

Hơn nữa, chữ “hiện tại” đây không phải chỉ riêng lúc đức Thích Ca đang thuyết pháp mới bảo là hiện tại, mà ngay cả trước khi đức Bổn Sư xuất thế (10 kiếp trước), vẫn gọi là “hiện tại”; bởi lẽ trước khi Đức Phật Thích Ca giáng thế, Phật A Di Đà đă ngày ngày thuyết pháp trong cơi Cực Lạc. Dù đức Thích Ca đă diệt độ, cho đến nay và cho đến tột cùng đời vị lai, Đức Phật Di Đà vẫn đang ngày ngày thuyết pháp bên cơi kia, nên vẫn bảo là “hiện tại”. Như vậy, hai chữ “hiện tại” thông cả quá khứ lẫn vị lai. Chẳng những ḿnh Đức Phật Di Đà thuyết pháp mà nước, chim, cây cũng đều rộng diễn diệu pháp.

Lại nữa, trong thế giới Sa Bà, cơi nước có những kiếp thành, trụ, hoại, không, chúng sanh có tướng sanh diệt. Trong cơi Cực Lạc, về y báo th́ cơi nước bất hoại, về chánh báo th́ thọ mạng vô lượng, không lúc nào A Di Đà Phật chẳng v́ chúng sanh thuyết pháp. Nay Phật đă nhập diệt, đức Di Lặc chưa ra đời, thắng duyên Tịnh Độ khó gặp, nay được gặp thật là hăn hữu, chúng ta phải nên phát nguyện cầu sanh ḥng mau chứng Bồ Đề, khỏi phụ bạc tấm ḷng đau đáu tha thiết của hai đấng Từ Phụ.

Theo Ngài Khuy Cơ, chữ Pháp trong “thuyết pháp” có thể hiểu là riêng chỉ pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật.

 

Kinh này lấy Tín Nguyện Hạnh làm tông chỉ, nên trong đoạn kinh nào cũng phô bày rơ tông chỉ ấy. Ngay trong phần Phát Khởi Tự đây, cũng lấy ư Khuyến Tín, Khuyến Nguyện, Khuyến Hạnh để phát khởi:

- Câu “hữu thế giới danh viết Cực Lạc, hữu Phật hiệu A Di Đà” là lời Đức Phật đích thân nói ra, phải nên tin tưởng, đừng hồ nghi. Ấy là Khuyến Tín.

- Phật nói đến cơi “Cực Lạc” là ư muốn chỉ bày cơi Tịnh Độ nhiệm mầu ḥng người nghe phát nguyện cầu sanh. Ấy là Khuyến Nguyện.

- Nêu danh hiệu A Di Đà chính là chỉ rơ vạn đức hồng danh, ngơ hầu người nghe phát tâm xưng niệm. Ấy là Khuyến Hạnh.

 

V́ sao Đức Phật lại chọn Thanh Văn làm đương cơ để giảng pháp này? Ấy là v́ Bồ Tát đă dứt trừ hạt giống phiền năo, vị nào cũng đều đă an trụ trong các cơi tịnh (dù ở trong uế độ, tâm vẫn không phân biệt nên cơi các Ngài trụ dù là uế cũng thành tịnh), nhưng Thanh Văn do vẫn c̣n phân biệt nên thấy cơi có tịnh, uế sai khác. Để sanh ḷng hâm mộ, ưa thích cơi Tịnh cho Thanh Văn, Phật bèn giảng cho Thanh Văn pháp này.

 

Nếu luận về mặt Lư của đoạn kinh này th́:

- Chữ “nhĩ thời” biểu thị thể - dụng ngầm khế hợp nhau. “Phật cáo Xá Lợi Phất” là từ thể khởi dụng. Chữ “tùng thị” ám chỉ thân ngũ uẩn (chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà, mà Sa Bà có ngũ trược, cũng đồng như sắc thân ngũ uẩn), “Tây phương” ám chỉ tâm thanh tịnh kiên cố (phương Tây thuộc hành Kim, thể tánh của Kim là kiên cố).

- “Quá thập vạn ức Phật độ” nghĩa là đoạn trừ mười vạn ức phiền năo (“quốc độ” hàm nghĩa chướng ngại, Cực Lạc cách xa mười vạn ức cơi Phật v́ chúng sanh bị mười vạn ức phiền năo che lấp. Đoạn trừ mười vạn ức phiền năo là thành Phật).

- “Hữu thế giới” biểu thị tự tánh tột cùng chiều dọc, bao trọn chiều ngang (Thế có nghĩa là cùng tột ba đời, Giới là bao trọn mười phương).

- Câu “danh viết Cực Lạc” ám chỉ cứu cánh Niết Bàn (ĺa khổ sanh tử được hưởng niềm vui giải thoát tột bực, ấy chính là Niết Bàn).

         

Như vậy, từ nơi thân Ngũ Uẩn này, phát khởi một niệm tâm kiên cố thanh tịnh để tu pháp Niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, công phu đến mức rốt ráo, đoạn trừ được hết thảy phiền năo, chướng ngại, th́ tự nhiên chứng được lư bất sanh bất diệt của tự tánh. Đấy chính là đại an lạc Niết Bàn rốt ráo.

          Câu “kỳ độ hữu Phật” biểu thị trong sắc thân Ngũ Uẩn này có một vị chủ nhân ông (chân tánh), Độ là sắc thân, Phật là chân tánh. “Hiệu A Di Đà”: chân tánh ấy chính là Pháp Thân.

Câu “kim hiện tại thuyết pháp” biểu thị Pháp Thân tùy duyên diệu dụng, thời thời hiển hiện, chưa hề có khoảnh khắc nào xa ĺa đúng như thường nói: “Thấy sắc - thanh, đại dụng hiện tiền”. Mặc áo ăn cơm, những hành vi thường ngày như biết lạnh biết đói, thậm chí trong hết thảy sự, có chỗ nào ĺa khỏi chân tánh này đâu! Thế nhưng ta nào có nhận thức được chân tánh pháp thân này. Đáng tiếc thay! 

Đă hiểu được lư như vậy, th́ càng nên dũng mănh tinh tấn tu hành Tịnh nghiệp, đừng ta thán:

Phật tại thế thời ngă trầm luân,

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ!

(Phật c̣n tại đời, ta trầm luân,

Nay được thân người, Phật đă diệt)

Mà phải tâm niệm:

Thử thân bất hướng kim sanh độ,

Tiện đăi hà thời độ thử thân? 

(Kiếp này chẳng độ thân này được,

Đợi đến khi nào mới độ đây?)

 

            B. CHÁNH TÔNG PHẦN

1. TƯỜNG TRẦN Y CHÁNH TRANG NGHIÊM DĨ KHẢI TÍN (tŕnh bày rơ y báo, chánh báo trang nghiêm nhằm phát khởi ḷng tin)

          1.1. TỔNG THÍCH CỰC LẠC DANH NGHĨA (giải thích chung về ư nghĩa của danh hiệu Cực Lạc) 

          1.1.1. ƯỚC CHÚNG SANH CHÁNH BÁO (xét theo chánh báo là chúng sanh mà giải thích tên cơi Cực Lạc)

 

          Chánh kinh:

         

Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.

          (Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh trong cơi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên gọi là Cực Lạc).

         

Giải:

          Trong đoạn này, Đức Phật tự hỏi tự đáp về ư nghĩa của tên gọi Cực Lạc. Trước hết, Phật căn cứ trên chánh báo là chúng sanh để giải thích chữ Cực Lạc.

          “Kỳ quốc chúng sanh”: Chúng sanh ở đây là những người đă niệm Phật đă văng sanh về cơi Cực Lạc. Chữ Chúng Sanh dịch từ chữ Phạn “Tát Đỏa” (sattva), dịch theo trường phái Tân dịch là Hữu T́nh.

Gọi là “chúng sanh” v́ do các nghĩa sau đây:

- Do các duyên ḥa hợp mà sanh: Chúng sanh cơi Sa Bà ngoài phải nhờ tứ đại ḥa hợp để tạo thành sắc thân, trong phải nhờ bốn pháp Thọ, Tưởng, Hành, Thức tạo thành tâm pháp. Chúng sanh chỉ là giả danh, ngũ uẩn là thật pháp.

          - Phải trải qua nhiều kiếp sanh tử nên gọi là “chúng sanh”, nghĩa là thường phải luân hồi trong lục đạo. 

          Đó là chúng sanh hiểu theo nghĩa thông thường. Gọi người trong cơi Cực Lạc là “chúng sanh” chỉ là thuận theo giả danh mà gọi. Họ là những người lấy liên hoa thanh tịnh làm thân, tâm tịch tịnh, chiếu triệt mọi sự.

         

Cơi Cực Lạc rốt ráo không có các nỗi khổ nên bảo là “vô hữu chúng khổ”. Chữ “Chúng” nghĩa là chẳng phải chỉ có một thứ. Khổ nghĩa là bức bách, năo loạn.

 

Khổ có nhiều thứ:

         

a) Tam khổ

         

- Khổ khổ: thọ thân có sanh, lăo, bệnh, tử (thân là khổ quả). Đă thế c̣n đèo bồng thêm những nỗi khổ như: Oán tắng hội ngộ khổ (khổ v́ oán ghét mà phải gặp gỡ), ân ái biệt ly, sở cầu chẳng thỏa, và vô vàn các nỗi khổ khác. Đă khổ lại càng thêm khổ nên gọi là Khổ Khổ.

         

- Hoại khổ: Sa Bà rốt cục sẽ hoại diệt, không có ǵ là vĩnh cửu cả, không có sự vui chân thật, dù có chút vui đi nữa, nhưng chẳng phải là rốt ráo. Dù những thứ lạc định cao quư như Ly Sanh Hỷ Lạc, Định Sanh Hỷ Lạc, Ly Hỷ Diệu Lạc cũng chỉ là lạc định hữu lậu. Khi đă hưởng hết phước lạc ấy, chư thiên các trời Tứ Thiền cũng vẫn phải bị đọa lạc. V́ thế gọi là Hoại Khổ.

         

- Hành khổ: Hành là dời đổi không ngừng, sanh diệt trong mỗi sát na. Các pháp biến đổi vô thường, sanh ra khổ năo nên gọi là Hành Khổ. Chẳng hạn như chư thiên thuộc Tứ Không thiên ở Vô Sắc giới, tuy đă chứng đắc tứ không định, thọ tám vạn bốn ngàn đại kiếp, không có thân sắc chất, hưởng niềm vui trong Không định, nhưng khi mất định lực lại bị đọa xuống. Ngay cả trong khi đang hưởng thọ lạc thú Không Định, họ vẫn phải chịu nỗi khổ do các ấm: Thọ, Tưởng, Hành biến đổi không ngừng.

 

Xét ra, Dục giới đủ tam khổ, Sắc giới thiếu Khổ Khổ, Vô Sắc giới chỉ chịu mỗi Hành Khổ.

 

b) Bát khổ:

         

Gồm bốn nỗi khổ nơi thân (sanh, lăo, bệnh, tử) và bốn nỗi khổ nơi tâm (khổ v́ cầu chẳng được, khổ v́ yêu thương phải bị chia ĺa, khổ v́ oán ghét mà cứ phải gặp gỡ, khổ v́ năm ấm lừng lẫy). Khổ v́ năm ấm lừng lẫy nghĩa là những phiền năo trong thân tâm nung đốt. Bảy nỗi khổ đầu là Biệt, khổ thứ tám là Tổng (bảy nỗi khổ đầu chẳng ngoài phạm vi của Ngũ Uẩn).

          Ngoài ra c̣n có thiên tai, địch họa, nóng, lạnh, mưa dầm, sét đánh, bị rủa xả, nhục mạ, châm chọc, khích bác, bỡn cợt, khinh khi, áp bức... Chẳng thể nào kể cho đủ hết những nỗi khổ trên thế gian này được.

Hễ là người sanh trong cơi Sa Bà này đều phải chịu đựng ba khổ, tám khổ như vậy, trên từ quốc vương dưới đến kẻ tiện dân, không một ai tránh khỏi những nỗi khổ đó. Riêng chúng sanh cơi Cực Lạc vĩnh viễn không phải chịu đựng những nỗi khổ sở đó.

 

“Đản thọ chư lạc”: Chỉ toàn hưởng những điều vui sướng nên bảo là “đản thọ” (chỉ hưởng). Chẳng phải chỉ có một sự vui nên bảo là “chư lạc”. Cơi Sa Bà này lắm khổ, ít vui, mà muốn có những niềm vui ấy phải lao tâm khổ trí mới tạm đạt được, nhưng chẳng dễ ǵ duy tŕ lâu dài. Rốt cục vẫn có ngày bị mất đi. Bởi thế tục ngữ thường bảo: “Cực lạc sanh bi” (vui quá hóa buồn). Trong cơi Cực Lạc, hết thảy thứ thọ dụng và thân tướng mỗi mỗi đều thù thắng trang nghiêm, chẳng hề có chút sự khổ ải nào, luôn có vô lượng điều vui. V́ thế kinh chép: “Đản thọ chư lạc”.

Tạm kể những niềm vui trong cơi Cực Lạc như sau:

 

a) Tam Lạc:

- Thanh tịnh vô lụy lạc: không có thân thô trược, không có ái dục nhiễm trước; tức là không có Khổ Khổ.

- Y chánh thường nhiên lạc: thọ mạng vô lượng, cơi nước chẳng biến hoại. Đấy chính là không có Hoại Khổ.

- Chánh trí bất động lạc: an trụ vào chân lư bất sanh bất diệt. Đấy chính là không có Hành Khổ.

 

b) Bát Lạc:  

          - Liên hoa hóa sanh thân lạc: hóa sanh trong thai sen, không phải chịu cảnh đau khổ nằm trong thai ngục chín tháng mười ngày, tức là không có Sanh Khổ. 

          - Tướng hảo trang nghiêm lạc: thân kết tụ bằng công đức trang nghiêm, vĩnh viễn không bị biến đổi, hư hoại; tức là không có Lăo Khổ.

          - Tự tại thanh thái lạc: thân thanh tịnh, vĩnh viễn thoát khỏi đau bệnh khốn khổ. Tức là không có Bệnh Khổ v́ tứ đại chẳng điều ḥa.

          - Thọ mạng vô lượng lạc: tuổi thọ bằng Phật, bất sanh, bất diệt. Tức là không có Tử Khổ, tứ đại phân ly.

          - Hân dục như ư lạc: y phục, thức ăn vật dụng hễ nghĩ đến liền có, chẳng phải nhọc công tạo tác, may sắm. Tức là không có Cầu Bất Đắc Khổ.

          - Hải chúng thường tụ lạc: các vị thiện nhân thanh tịnh tụ tập nhiều như biển cả, măi măi làm bạn bè thân thiết của nhau. Tức là không có Ân Ái Biệt Ly Khổ.

- Thượng thiện câu hội lạc: các bậc thượng thiện nhân yêu kính lẫn nhau, tức là không có Oán Tắng Hội Ngộ Khổ.

- Thân tâm tịch tịnh lạc: thân thanh tịnh, tâm hằng tịch chiếu, tức là không có Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ.

 

Nói chung: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, mọi nỗi khổ vui của kiếp người chẳng qua đều do mỗi người tự tạo. Chúng sanh cơi Sa Bà niệm niệm điên đảo nên chiêu cảm y báo, chánh báo đều uế trược. Thế nên mới có Ngũ Trược, Tam Khổ, Bát Khổ, cho đến vô lượng các thứ nghiệp cảm khổ sở. Tâm chúng sanh trong cơi Cực Lạc luôn là chánh niệm, nên chiêu cảm y báo, chánh báo thanh tịnh. Thế nên chỉ có tam lạc, bát lạc cho đến vô lượng các thứ pháp tánh lạc.

Nói như vậy, ắt sẽ có kẻ nạn rằng cơi Cực Lạc có thuộc trong tam giới chăng? Ngài Khuy Cơ bảo: “Do vô dục nên chẳng phải là Dục Giới. Do ở trên đất nên chẳng phải là Sắc Giới. Do có h́nh tướng nên chẳng phải là Vô Sắc Giới. Trong không uế chủng, ngoài cảm cảnh tịnh, vượt khỏi tứ lưu, vĩnh viễn thoát ngoài tam giới, nên chẳng bị trói buộc trong các giới”.

 

“Cố danh Cực Lạc”: Đây là câu tiếp ư để kết lại. Ư nói: do v́ cơi kia chỉ hưởng các sự vui, không hề có những nỗi khổ, cho nên cơi ấy mới có tên gọi là Cực Lạc.

Nếu dùng tam giới để so sánh th́: ba ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chỉ thuần khổ không vui; loài người, a tu la khổ nhiều vui ít; chư thiên tuy vui nhiều, khổ ít, nhưng khó giữ nổi sự vui ấy trường cửu bất hoại. Chỉ mỗi cơi Tây Phương thuần vui không khổ, vĩnh viễn chẳng biến cải, nên đấy là cơi vui rốt ráo. Do đó, chỉ cơi ấy mới xứng gọi là Cực Lạc. Thêm nữa, do so sánh với Khổ nên mới có Lạc. Nếu không có khổ th́ dĩ nhiên chỉ thuần các điều vui.

Nhưng nếu ước về Lư mà nói th́ nếu đă không có các khổ tức là đă không nhiễm, không nhiễm th́ c̣n ǵ để so sánh nữa mà nói là tịnh? Tức là tịnh uế tương đồng, khổ lạc b́nh đẳng. Do toàn là sự vui chân thật như thế nên gọi là Cực Lạc.

         

Hỏi: Bồ Tát phát tâm lợi người, chẳng chấp lấy niềm vui Niết Bàn, chẳng buông bỏ chúng sanh khổ sở, không có tướng lấy vui, bỏ khổ th́ mới xứng hợp với đạo Đại Thừa. Nay người niệm Phật một bề chán khổ ưa vui, bỏ khổ cầu lạc, đấy chẳng phải là đạo phàm phu, Tiểu Thừa hay sao? Nếu vậy sao xứng gọi là pháp môn viên đốn?

          Xin đáp: Chưa đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn ắt sẽ chưa thể rộng làm Phật sự cứu độ chúng sanh. Ví như chiếc xe yếu nhỏ chẳng kham chở nặng, chim cánh yếu ớt khó ḷng bay cao. Nếu cứ gắng gượng làm, chẳng những vô hiệu quả, chỉ e ḿnh lẫn người đều bị mắc họa! V́ thế, trước cần phải cầu sanh Tịnh Độ, gặp Phật, nghe pháp, chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, đạt đại trí huệ, đại biện tài, đầy đủ các oai lực thần thông, mới ḥng trở vào thế giới này cứu tế chúng sanh.

          Cứ đó mà suy: Bỏ khổ chính là v́ muốn cứu khổ cho chúng sanh, đấy chính là tâm đại bi của Bồ Tát. Cầu vui là v́ muốn ban vui cho chúng sanh. Đấy chính là tâm đại từ của Bồ Tát. Như vậy c̣n dám bảo là hạng Nhị Thừa chỉ biết riêng cầu điều tốt lành cho chính ḿnh nữa chăng? 

         

Nếu hiểu theo Lư, “bỉ độ” là tự tánh, “danh vi Cực Lạc” là chỉ Niết Bàn. “Kỳ quốc chúng sanh” là chỉ người đă chứng đắc tự tánh. “Vô hữu chúng khổ” nghĩa là đă đoạn trừ hết thảy phiền năo, “đản thọ chư lạc” là đạt được giải thoát dài lâu. “Cố danh Cực Lạc” nghĩa là: Do đă chứng đắc tự tánh, đă đoạn sạch kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc phiền năo, đă đạt được sự giải thoát dài lâu, nên gọi đó là Niết Bàn.

 

1.1.2. ƯỚC QUỐC ĐỘ Y BÁO (ước theo y báo để giải thích danh hiệu Cực Lạc)

 

          Chánh kinh:

         

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la vơng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu táp vi nhiễu. Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.

          (Lại nữa Xá Lợi Phất! Cơi nước Cực Lạc bảy tầng lan can, bảy tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, đều là bốn báu, vây quanh khắp cả. V́ thế cơi ấy tên là Cực Lạc).

         

Giải:

          Đoạn kinh này là căn cứ trên phương diện y báo để giải thích danh hiệu Cực Lạc.

          “Hựu” có nghĩa là lại. Đoạn trên đă giảng về chánh báo, trong đoạn này, Phật dựa theo y báo để giải thích, nên Ngài lại gọi vị đương cơ là Xá Lợi Phất lần nữa.

          “Lan thuẫn”: Những thanh lan can đặt theo chiều ngang gọi là Lan, theo chiều dọc là Thuẫn.

Chữ “la vơng” chỉ lưới báu. La có nghĩa là kết lại: dây vàng, chân châu, trăm ngàn thứ báu khác nhau trang nghiêm kết hợp lại thành màng lưới. Khắp bốn phía màng lưới ấy treo các linh báu, quang minh, màu sắc hoa lệ, chói lọi, choáng cả mắt người.

“Hàng thọ”: hàng là bày lớp, sắp theo thứ tự, hàng lối không tạp loạn.

Lan thuẫn là những vật để trang nghiêm lầu gác. Hàng thọ là những thứ để trang hoàng cho mặt đất, la vơng là những thứ để trang hoàng trên không trung. Mỗi thứ đều có bảy tầng. Ư nghĩa của “bảy tầng” sẽ được giải thích rơ trong phần sau.

Màu sắc của đất báu cơi Cực Lạc thù thắng khôn sánh. Phía ngoài tất cả các cung điện, lầu gác đều có một tầng lan thuẫn vây quanh. Ngoài mỗi tầng lan thuẫn lại có một tầng hàng cây, phủ lên trên chúng là bảy tầng lưới báu. Phía ngoài hàng cây lại có một tầng lan thuẫn, phía trên lan thuẫn lại che một tầng lưới báu, tầng tầng xen kẽ như thế cho đến bảy tầng. Hoặc một tầng lan thuẫn bao quanh hai hàng cây, phủ bởi hai tầng lưới báu. Lần lượt phối hợp như thế, mỗi mỗi đều trang nghiêm.

Mỗi thứ hàng cây, lưới báu, lan thuẫn đều do bốn báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành nên bảo là “giai thị tứ bảo” (đều là bốn báu). Chẳng hạn như, cây báu th́ do thuần bằng một thứ báu, hay hai thứ báu cho đến bốn thứ báu hợp thành. Hoặc rễ vàng, lá bạc, hoa lưu ly, quả pha lê.... Nên biết rằng nói “do bốn báu hiệp thành” đó cũng chỉ là khái lược đó thôi, chứ thật sự th́ là do vô lượng trùng trùng vô tận thứ báu hợp thành vậy.

“Châu táp vi nhiễu” là bao quanh trọn khắp bốn phía. Những hàng cây báu, lan thuẫn báu, lưới báu ấy không những chỉ bao bọc quanh các cung điện, lầu gác, mà quanh vườn rừng, ao chuôm v.v... đều có các thứ cây báu, lưới báu, lan thuẫn bao quanh như thế. Chẳng những chỉ nơi Phật, Bồ Tát ở mới trang nghiêm như thế mà bất cứ chỗ nào trong cơi Cực Lạc cũng đều được trang nghiêm tráng lệ như thế. Toàn cơi thế giới đều được trang nghiêm hoa lệ, tuyệt mỹ như thế đó nên bảo là “châu táp vi nhiễu”. Những sự trang nghiêm kỳ ảo như vậy đều do nguyện lực thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của đức Từ Phụ A Di Đà tạo thành.

“Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc”: Đây chính là câu tiếp nối ư trên để kết lại. Ư nói do có những thứ lan thuẫn, lưới báu, cây báu thù thắng trang nghiêm tuyệt mỹ như thế, chẳng ǵ có thể so sánh nổi, diễn tả nổi, cho nên cơi Phật A Di Đà mới mang tên là Cực Lạc. Trong các kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh đă diễn tả rất chi tiết các sự trang nghiêm ấy. Nên nhớ những điều được tường thuật trong kinh này chỉ mang tính khái lược. Chẳng hạn Vô Lượng Thọ kinh nói có trăm ngàn tầng, kinh này chỉ nói bảy tầng. Quán kinh nói giữa các tầng lưới báu, hiển hiện cung điện trời, cây báu phóng quang, hoa báu phủ kín, tỏa ngát các mùi hương kỳ diệu, chim thiêng dập d́u, hót tiếng ḥa nhă... Tuy hai kinh diễn tả chi tiết hay đại lược khác nhau, ư nghĩa về sự trang nghiêm vẫn như nhau không khác.

 

Xét về Lư:

- “Bảy tầng” biểu thị bảy khoa đạo phẩm (tứ niệm xứ, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần). Bảy tầng c̣n có nghĩa là khi đă văng sanh về cơi ấy th́ chẳng c̣n phạm phải những lỗi họa do ba nghiệp nơi thân, bốn nghiệp nơi miệng nữa.

- “Bốn báu” ngụ ư bốn đức (Thường, Lạc, Ngă, Tịnh).

- “Lan thuẫn” biểu thị tự tánh về chiều dọc cùng tột ba đời, về chiều ngang trùm khắp mười phương.

- “Bảo vơng” (lưới báu) biểu thị tự tánh bao la pháp giới.

- “Hàng thọ” biểu thị tự tánh trưởng dưỡng thiện căn.

- Chữ “bỉ quốc” (cơi ấy) ngầm chỉ tự tánh (tự tánh sẵn đủ hết thảy công đức vô vi, như cơi ấy là cơi an vui bao thứ trang nghiêm).

- “Cực Lạc thế giới” biểu thị cảnh giới của pháp thân (cơi Cực Lạc mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới Pháp Thân hay cảnh giới Niết Bàn cũng mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn).

 

          1.2. BIỆT THỊ Y CHÁNH TRANG NGHIÊM (giảng riêng về sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo)

          1.2.1. Y Báo trang nghiêm (sự trang nghiêm nơi y báo)

1.2.1.1. Tŕ các hàng thọ (ao, gác, hàng cây)

          1.2.1.1.1. Chánh trần (phần tường thuật)

 

          Chánh kinh:

         

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo tŕ; bát công đức thủy sung măn kỳ trung. Tŕ để thuần dĩ kim sa bố địa.

          (Lại này Xá Lợi Phất! Cơi nước Cực Lạc có ao bảy báu. Nước tám công đức đầy ắp trong đó. Đáy ao thuần dùng cát vàng để phủ).

         

Giải:

          Trong phần trước, đức Thế Tôn đă giải thích về danh hiệu Cực Lạc dựa trên hai phương diện y báo và chánh báo. Trong phần này, Phật giảng rơ hơn về những cảnh thọ dụng trang nghiêm của y báo, chánh báo.

          “Thất bảo tŕ”: Nói “thất bảo tŕ” để phân biệt với những cái ao chỉ do đất đá tạo thành trong cơi Sa Bà này. Ao cơi Cực Lạc do bảy thứ báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo hợp thành nên gọi là “thất bảo tŕ” (ao bằng bảy báu).

Thật ra, theo kinh Vô Lượng Thọ, các ao ấy hoặc thuần bằng một chất báu tạo thành, hoặc do hai, ba cho đến bảy thứ báu xen lẫn nhau tạo thành, giống như những hàng cây báu vậy. Kích thước mỗi cạnh của ao ấy từ bốn mươi, năm mươi dặm tăng dần cho đến tám vạn bốn ngàn dặm, to như biển cả. Kinh Thụy Ứng Bản Khởi chép: “Các ao ấy rộng hẹp, sâu cạn từ mười do tuần cho đến trăm ngàn do tuần. Bên bờ ao có những cây chiên đàn, hoa, lá rũ xuống, mùi thơm ngào ngạt”. Do trong kinh này Phật chỉ lược giảng nên không nêu rơ từng chi tiết như thế.

          Những ao báu ấy chính là nơi thai sen sẽ nở để những người niệm Phật được sanh vào Cực Lạc, mà cũng là nơi để người cơi Cực Lạc tắm gội trong ấy. Có vô lượng vô số các ao như vậy.

Nước trong những ao ấy có đủ tám công đức: Trừng tịnh (lắng trong, tinh khiết); thanh lănh (trong trẻo, mát lạnh); cam mỹ (ngon ngọt), khinh nhuyễn (nhẹ nhàng, mềm mại); nhuận trạch (tươi tắn, thấm nhuần), an ḥa (êm ả, không chảy xiết, gầm réo); trừ cơ khát (uống vào hết đói, khát); trưởng dưỡng thiện căn (tăng trưởng, nảy nở các căn lành).

 

          “Sung măn kỳ trung”: Sung là sung túc, nghĩa là chẳng bị khô cạn. Măn là đầy ắp, nhưng không dâng tràn ngập như nước trong cơi thế gian này. Chữ “kỳ trung” ư nói: trong các ao bảy báu như vừa nói. Thứ nước có đủ tám công đức ấy tuyệt chẳng thể thấy trong cơi Sa Bà này, chỉ trong cơi Cực Lạc mới có thứ nước tám công đức luôn đầy ắp trong các ao bảy báu, chưa từng khô cạn, cũng chẳng hề gây ngập lụt, chảy tràn bờ.

Nước trong cơi Sa Bà này, hễ khuấy liền sủi bọt, chảy qua chỗ bẩn liền dơ, chẳng thường “trừng tịnh”. Ánh nắng hun liền nóng, lửa nấu liền sôi nên chẳng thường “thanh lănh”. Hễ mưa lớn ắt ngập lụt, hễ chảy xiết th́ hung hiểm nên chẳng thường “an ḥa”. Hễ lẫn lộn tạp chất th́ bị đổi vị, đổi màu, gặp lúc khô hạn liền khô cạn nên chẳng thường “nhuận trạch”. Hễ gần biển th́ mặn, tù đọng lâu ngày sẽ trở thành hôi thối nên chẳng thường “cam mỹ”. Gặp chỗ úng tắc liền biến thành tù đọng, gặp lạnh bị đóng băng nên chẳng thường “khinh nhuyễn”. Uống nhiều nước sẽ bị trướng bụng, ngâm nước nhiều sẽ bị bệnh nên chẳng thường “trừ cơ khát”. Lại chẳng thể tăng trưởng thiện căn.

Nước trong cơi Cực Lạc có đủ tám đức mầu nhiệm, dù qua bao nhiêu kiếp, tánh đức của nước ấy chẳng hề biến đổi mảy may. Bởi những lẽ đó, nước trong cơi Cực Lạc được xưng tụng là “công đức thủy”.

Nên biết rằng: kinh A Di Đà nói nước trong cơi Cực Lạc có tám đức, chứ thật ra, nó c̣n có nhiều đức tánh mỹ diệu thù thắng khác, xin tạm kể ba đức theo kinh Vô Lượng Thọ:

 

a) Nước có thể tùy thuận theo ư muốn: “Nước tám công đức lặng trong đầy ắp, thanh tịnh, thơm sạch. Các thượng thiện nhân vào ao bảy báu để tắm gội cho thân thể trong sạch, ư muốn nước ngập đến chân, muốn ngập đến gối, đến eo, đến nách, đến cổ và rưới lên thân, thảy đều như ư. Muốn nước rút xuống, nước liền rút xuống. Điều ḥa, lạnh, ấm không ǵ là chẳng vừa ư, mở mang tinh thần, sung sướng tấm thân, gột rửa cấu nhơ trong tâm. [Nước] trong sáng, lặng sạch, sạch dường như không có h́nh chất vậy”.

 

b) Nước có khả năng thuyết pháp: “Nước chảy không chậm, không nhanh, an tường, thong thả chảy đi, sóng vỗ vang ra vô lượng tiếng mầu nhiệm tự nhiên: tiếng niệm Phật, hoặc tiếng niệm Pháp, hoặc tiếng niệm Tăng, tiếng tịch tịnh, tiếng Vô Ngă, tiếng Ba La Mật, cho đến các tiếng mầu nhiệm, xứng theo ḷng muốn, không ai nghe mà không phát tâm thanh tịnh, thành thục thiện căn, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển vô thượng Bồ Đề”.

 

c) Tắm xong đạo pháp sẽ tăng tiến.

 

Nước là loài vô t́nh mà có được những công năng như thế th́ thật là điều chẳng thể nghĩ bàn vậy!

 

“Tŕ để thuần dĩ kim sa bố địa”: dùng thuần cát làm bằng mạt vàng để phủ đáy ao. Đây cũng là nói vắn tắt; v́ như kinh Đại Bổn chép: “Có ao thuần bằng một chất báu, cát phủ đáy ao cũng thuần bằng một chất báu. Ao bằng vàng ṛng dùng bạc trắng làm cát phủ đáy. Ao thủy tinh dùng lưu ly làm cát phủ đáy... Ao bằng hai chất báu tạo thành, cát phủ đáy ao cũng bằng hai chất báu, cho đến bảy báu cũng giống như thế”. Quán kinh cũng chép: “Vàng ṛng làm kênh, phía dưới đều dùng kim cang nhiều màu để làm cát phủ đáy”.

 

Xét về Lư:

- Thất bảo tượng trưng cho Thất Thánh Tài (Tín, Giới, Văn, Xả, Huệ, Tàm, Quư. Năm thứ đầu như của báu, hai thứ sau như người ǵn giữ của cải. Chúng sanh do chẳng giữ ǵn nên cực bần cùng. Thánh nhân do giữ ǵn những đức tính ấy nên chúng được gọi là Thánh Tài).

- Nước tám công đức biểu trưng Bát Thánh Đạo.

- Đáy ao trải cát vàng biểu thị Chân Như triệt để bất biến.

 

Chánh kinh:

 

Tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành. Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo nhi nghiêm sức chi.

(Bốn phía có thềm bậc, đường đi do vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên lại có lầu, gác, cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo để trang hoàng).

 

Giải:

 

“Tứ biên giai đạo”: Đông, Tây, Nam, Bắc bốn phía là ư nghĩa của chữ Tứ. Biên là bờ ao. Chỗ có tầng, cấp gọi là Giai. Chỗ bằng phẳng để đi từ chỗ này qua chỗ khác th́ gọi là Đạo. Bên bờ ao có cấp bậc để dễ lên xuống, có đường để đi qua lại. Dù là thềm bậc hay lối đi đều bằng bốn báu gộp lại thành. Những chất báu ấy hoặc xen kẽ nhau, hoặc dùng thuần một thứ nối tiếp nhau.

“Thượng hữu lâu các”: Chữ “thượng” có ba cách hiểu: phía trên ao báu, phía trên chỗ thềm bậc, lối đi, và trên hư không. Nhà có nhiều tầng gọi là Lâu; lầu cao gọi là Các.

“Diệc” có nghĩa là cũng.

“Dĩ” là dùng.

“Nghiêm sức” nghĩa là trang hoàng hết sức trang nghiêm, hoa lệ.

Ư nói: Không những riêng ao bằng bảy báu, lối đi, thềm bậc dùng bốn báu ghép thành, mà ngay cả những lầu đài, đền gác cũng dùng vàng, bạc v.v... bảy thứ báu để trang hoàng, đủ mọi màu sắc, h́nh dáng. Những lầu gác dùng làm chỗ cư ngụ cho các bậc thượng thiện nhân, hoặc dùng để ngoạn cảnh, để nghỉ ngơi, hoặc dùng làm nơi thuyết pháp. Người văng sanh cơi Cực Lạc sẽ gởi chất trong hoa sen nơi ao bốn báu. Khi hoa sen nở, sẽ theo các thềm bậc, đường đi lên bờ, vào ở trong các lầu gác báu, rồi gia nhập pháp hội, gặp Phật, nghe pháp.

Kinh Đại Bổn nói chi tiết hơn như sau: “Giảng đường, tinh xá, cung điện, lầu, gác của Đức Phật A Di Đà đều bằng bảy báu, hơn hẳn chỗ ở của vị Thiên Đế cơi trời Lục Dục đây cả trăm ngàn vạn lần. Thậm chí các cung điện, lầu gác h́nh sắc tương xứng, cao thấp, lớn, nhỏ, bằng một thứ báu, hai thứ báu cho đến vô lượng thứ báu”.

Quán kinh cũng chép: “Vàng ṛng [trải] trên mặt đất, trong mỗi một thứ báu có năm trăm ánh sáng nhiều màu. Ánh sáng ấy [h́nh dáng] như hoa, hợp thành đài quang minh, lầu gác ngàn vạn, do trăm thứ báu hợp thành.... Hai bên lầu gác đều có lọng hoa, vô lượng nhạc khí, tám thứ gió mát (gió từ tám phương) lay động các nhạc khí ấy diễn nói các âm thanh Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă”.

Trong kinh đây chỉ nói đại lược là “bảy báu”, chứ không thuật đủ các thứ báu.

 

“Kim, ngân, lưu ly, xa cừ, mă năo, xích châu, mă năo”:

Vàng, bạc là hai thứ thường thấy trong cơi này nên không cần giải thích.

* Lưu Ly là tiếng Phạn, nói cho đủ là Phệ Lưu Ly (Vairudya), Hán dịch là Thanh Sắc Bảo (chất báu có màu xanh nước biển), v́ nó có màu xanh biếc. C̣n dịch là Bất Viễn Sơn v́ ngọn núi sanh ra chất báu này không xa thành Ba La Nại cho lắm, nên được mang tên là Bất Viễn Sơn. Theo Ngài Khuy Cơ, Lưu Ly có đến năm màu khác nhau.

* Pha Lê cũng là tiếng Phạn, nói cho đủ là Tốt Pha Chí Ca (sphatika), đôi chỗ c̣n phiên là Phệ Chi Ca hay Phả Chi Ca. Tàu dịch là Thủy Ngọc v́ trông nó từa tựa như thủy tinh; có ba màu: đỏ, trắng, xanh dương.

* Xa Cừ nói cho đủ là Mâu Sa Lạc Yết Lạp Bà (musàragalva), Hán dịch là Thanh Bạch Gián Sắc (màu xanh, trắng xen kẽ) hoặc Thanh Bạch Sắc Bảo, dựa trên màu sắc mà đặt tên. Lại c̣n gọi là Đại Bối v́ lấy từ vỏ một loại trai lớn trong biển. H́nh dạng của nó giống như cái niềng bánh xe.

* Xích Châu: do một loài trùng có màu đỏ sanh ra. Do sắc nó đỏ tươi nên có tên như thế.

* Mă Năo: tiếng Phạn là A Thấp Ma Yết Lạp Bà (Ashmagarbha), dịch là Mă Năo Bảo, màu chất này giống như màu óc con ngựa nên mới đặt tên như thế. Lại c̣n dịch là Chử Tạng. Mă Năo được phân biệt ra làm hai loại: Sơn Mă Năo và Thủy Mă Năo. Có thuyết nói Mă Năo chính là một loại Thạch Anh (quartz) kết tinh. 

Trong thất bảo, v́ sao lại lấy Vàng làm đầu? V́ có bốn nghĩa:

- Thể chất của vàng rất kiên cố (không bị biến chất dù có giồi, mài, nung, đập, chôn vùi chẳng hư nát).

- Tánh vàng lại mềm mại.

- Màu vàng tỏa sắc rực rỡ.

- Vàng được coi là rất giá trị.

Bảy thứ báu vừa kể trên chỉ là mượn danh hiệu cơi này để tạm diễn tả, chứ mỗi thứ báu đều thù thắng, siêu việt hơn các thứ báu cùng tên trong cơi này đến trăm ngàn vạn lần.

Có kẻ bắt bẻ: “Vua Nghiêu ở cḥi tranh, vua Vũ tránh nơi cung thất, Nhan Hồi ngụ trong xóm nghèo. Cổ thánh tiên hiền chỉ quư ở đức, chẳng trọng xa hoa, sao riêng Phật, thánh cơi Tây Phương lại chẳng làm như thế? Đấy có phải là tham ưa cảnh hoa lệ, vọng cầu hướng ngoại đó chăng?”

Xin đáp: Ôi! Cật vấn như vậy là vẫn chưa hiểu thấu bi tâm của đấng A Di Đà nên mới nghi như vậy! Phải biết rằng: Phật v́ lợi sanh thương vật, mở ra phương tiện lớn lao ḥng thích hợp với mọi cơ nghi, dùng đại hạnh nguyện vô lượng công đức để trang nghiêm cơi Tịnh Độ Cực Lạc ngơ hầu chúng sanh biết khổ, cầu vui, chán uế ưa tịnh, phát tâm tu hành niệm Phật để rồi rốt ráo sẽ thành Phật. Đến như tự tánh vốn sẵn đủ hằng sa công đức, đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, th́ dù thất bảo trang nghiêm vẫn chưa đủ là vi diệu thù thắng nữa là!

Làm như vậy chẳng qua là “trước dùng dục để lôi kéo, sau sẽ khiến cho nhập Phật trí”. Đấy chính là một diệu pháp phương tiện để dẫn độ chúng sanh. Liên Tŕ đại sư từng bảo: “Ví như đang ở trong cơi đói lạnh, chợt nghe có chốn no ấm, đang ở lâu trong chốn tối tăm, chợt thấy cảnh quang minh, ai mà không thân tâm hớn hở, mau mau bỏ cái cũ chọn lấy cái mới cơ chứ! Nếu được văng sanh, rốt cục sẽ được giải thoát. Hăy nên biết phương tiện tiếp dẫn như thế đó!”

 

Xét về Lư:

- “Tứ biên giai đạo” biểu thị giảng dạy bốn phương pháp niệm Phật.

- “Lầu gác” biểu thị chân trí an trụ trong lư Vô Sanh.

 

Chánh kinh:

 

Tŕ trung liên hoa đại như xa luân. Thanh sắc thanh quang; hoàng sắc hoàng quang, xích sắc xích quang; bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.

(Hoa sen trong ao to như bánh xe. Màu xanh, ánh sáng xanh. Màu vàng ánh sáng vàng. Màu đỏ ánh sáng đỏ. Màu trắng ánh sáng trắng, vi diệu hương khiết).

 

Giải:

Ao báu là chỗ để thác sanh vào Cực Lạc. Hoa sen là nơi để gởi chất. Hoa sen hàm nghĩa ly cấu thanh tịnh. Chẳng những các ao do bảy báu tạo thành, mà những hoa sen mọc trong ấy cũng do thất bảo tạo thành: rễ bám trong cát vàng, hoa x̣e trên mặt nước tám công đức, quang minh, màu sắc chói ngời, vi diệu thơm sạch, khác hẳn với hoa sen nảy từ chốn bùn lầy, nước đọng trong cơi Sa Bà.

Câu “đại như xa luân” diễn tả kích thước, h́nh dáng hoa sen, ư nói: hoa sen trong ao báu cơi Cực Lạc to như bánh xe vàng của Chuyển Luân Thánh Vương thường dùng (bánh xe vàng của Chuyển Luân Thánh Vương to một do tuần. Chuyển Luân Thánh Vương tức là Kim Luân Vương, đứng đầu trong bốn loại Luân Vương, cai trị bốn đại châu. Thấp nhất là Thiết Luân Vương chỉ cai trị một châu Nam Thiệm Bộ).

Nói “to bằng bánh xe” là chỉ nói về hoa sen có kích thước nhỏ nhất. Quán Kinh chép: “Trong mỗi một ao, có sáu mươi ức hoa sen bằng bảy báu tṛn trịa, to đúng mười một do tuần”. Do thân tướng của chúng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư có khác biệt nên hoa sen phải to nhỏ tương xứng, chứ không thể có kích thước nhất định được. Sở dĩ có thân tướng khác biệt là do trong lúc tu nhân văng sanh, có chuyên gắng hay lười nhác sai khác, nên chiêu cảm được thân thù thắng hay kém cỏi khác biệt.

Thêm nữa, “xa luân” chẳng những dùng để mô tả h́nh dạng của hoa mà c̣n nhằm để biểu thị phẩm đức của hoa. Bánh xe (luân) có ba công năng: vận chuyển, nghiến nát, phi hành:

- Bánh xe có công năng chuyên chở. Cũng thế, hoa sen cơi Cực Lạc có công năng chuyên chở người niệm Phật trong mười phương thoát khỏi biển khổ sanh tử, sanh về Cực Lạc, chuyển phàm thành thánh.

- Bánh xe lăn đến đâu, sẽ nghiến nát vật ǵ nó lăn qua. Cũng vậy, hoa sen cơi Cực Lạc là chốn để người niệm Phật gởi chất, một khi đă được văng sanh cơi Cực Lạc th́ dĩ nhiên phiền năo đă bị nghiến nát.

- Bánh xe vàng của Luân vương có thể bay đi mười phương. Cũng vậy, hoa sen cơi Cực Lạc có thể bay đến mười phương tiếp dẫn người niệm Phật văng sanh cơi Cực Lạc. Đấy chính là ư nghĩa “phi hành”.

Bốn câu “thanh sắc thanh quang...” diễn tả sự thù thắng của những hoa sen đó. Hoa nào tỏa quang minh màu đó, khác nào châu ngọc lóng lánh, ánh sáng rực rỡ. Hoa sen cơi Cực Lạc do thất bảo hợp thành chói lọi khôn sánh, nên mới chói rực quang minh.

Hoa sen màu xanh gọi là Ưu Bát La (Utpala), hoa vàng tiếng Phạn là Câu Vật Đầu (Kumuda), hoa sen đỏ là Bát Đầu Ma (Padma), hoa sen trắng là Phân Đà Lợi (Pundarika).

Do thân của những vị được văng sanh cơi Cực Lạc có quang minh nên thai sen cũng phát quang minh rực rỡ. Thật ra, những hoa sen ấy hoặc chỉ có một màu, hoặc có nhiều màu, vô lượng quang minh, màu sắc.

Ở đây chỉ nói bốn màu là nói giản lược. Kinh Vô Lượng Thọ nói rộng hơn nhưng cũng chỉ đề cập đến vài màu như xanh, vàng, đỏ, trắng, huyền, son, tía v.v... Quang minh chói ngời màu sắc, màu sắc rực rỡ tỏa sáng khác nào mặt trời, mặt trăng. Trong mỗi mỗi hoa lại phóng ra ba trăm sáu mươi ngàn ức quang minh v.v... Như vậy, mỗi hoa sen có vô lượng màu sắc, mỗi màu lại chiếu rọi ra vô tận quang minh. Quang minh, màu sắc trùng trùng phản chiếu lẫn nhau. Mỗi quang minh hàm chứa vô lượng màu, mỗi quang minh lại dung hàm vô lượng quang minh. Chẳng thể suy lường, h́nh dung được nổi!

Những hoa sen ấy vừa để trang nghiêm cơi Cực Lạc, vừa làm thai bào cho những người được văng sanh Cực Lạc. Do chúng sanh văng sanh Cực Lạc đă đoạn dâm dục nên chẳng c̣n phải thọ thai do cha mẹ sanh thành, nên đều là liên hoa hóa sanh. Chúng sanh trong mười phương, hễ nghe đến pháp môn Niệm Phật mà tín nguyện phụng hành th́ trong ao bảy báu nơi Cực Lạc liền nảy sanh một đóa sen báu, có ghi tên người ấy. Hoa sen ấy thuận theo niệm lực mà nảy nở, tùy theo công hạnh của người niệm Phật sẽ thù thắng hay kém cỏi. Nếu người niệm Phật chuyên gắng, nỗ lực th́ hoa sen ngày càng tươi tốt, xinh đẹp bội thường. Nếu lười biếng, buông lung hoặc giữa đường buông bỏ th́ hoa sen sẽ ngày một tàn tạ, thậm chí héo rũ, rồi biến mất.

Nếu một đời tinh tấn, chuyên tinh niệm Phật th́ lúc lâm chung liền được văng sanh, thọ sanh trong hoa sen báu thanh tịnh. Như vậy gọi là “liên hoa hóa sanh”. Khi hoa nở sẽ gặp Phật, liền ngộ Vô Sanh. Theo Quán kinh, tùy theo công đức tu hành sâu cạn, hành nhân sẽ văng sanh trong chín phẩm sen, hoa sẽ nở chậm hay lâu. Cũng v́ tất cả hành nhân văng sanh Cực Lạc sẽ thọ sanh trong hoa sen nên Cực Lạc thường được gọi là Liên Bang, pháp môn Tịnh Độ được gọi là Liên Tông, người đồng tu Tịnh nghiệp gọi là Liên Hữu.

Hỏi: Người niệm Phật trong mười phương thế giới rất đông, làm sao có đủ hoa sen trong ao bảy báu để họ gởi thân được?

Đáp: Phải nhớ là cơi Cực Lạc do công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành, nên chẳng giống như cơi thế gian này có sắc chất chướng ngại. Khác nào trăm sông, ngàn suối, vạn khe đổ vào biển cả, biển cả vẫn chẳng dâng trào. Muôn vạn h́nh bóng soi vào trong gương, gương vẫn chẳng chướng ngại. Ao báu chốn Cực Lạc khác nào biển cả, như gương. Người cầu được văng sanh khác nào trăm sông, vạn suối, giống như muôn h́nh ảnh mà thôi. Vậy th́ c̣n lo chi sẽ không có chỗ, sẽ bị chướng ngại lẫn nhau nữa ư!

 

Câu “vi diệu hương khiết” lược tả bốn đức của hoa sen. Hoa sen trong cơi Sa Bà này có đủ bốn đức:

- So với các hoa khác, hoa sen tinh tế hơn, xinh đẹp, cao quư, đài các, nhưng không diêm dúa. Đó là Vi.

- Trong một đóa hoa sen có đủ cả nhân lẫn quả. Các loài hoa khác phải nở hoa rồi mới kết quả. Hoa sen th́ gương sen chính là quả. Hoa vừa ra búp đă sẵn có quả, thật là chẳng thể nghĩ bàn. Đấy chính là ư nghĩa của chữ Diệu.

- Hoa sen có mùi thơm u nhă, dịu dàng, khiến tinh thần sảng khoái, tâm tưởng nghĩ đến chuyện thanh cao. Đó chính là ư nghĩa của chữ Hương.

- Hoa sen mọc lên từ bùn nhưng chẳng nhuốm bùn. Đấy chính là Khiết.

Thế nhưng hoa sen cơi Cực Lạc c̣n thù thắng vượt trội hơn nữa. Màu sắc, quang minh đă vượt xa chốn khác, mùi hương của hoa sen cơi Cực Lạc càng đặc biệt diệu kỳ hơn nữa.

Hoa sen cơi Cực Lạc có những đặc tính sau:

- Do thất bảo hợp thành, không chốn nào được như thế, nên bảo là Vi.

- Màu sắc đă vô lượng, lại c̣n có thể phóng quang, nên bảo là Diệu.

- Mùi hương thơm ngát lạ lùng, bốn mùa chẳng biến đổi, nên bảo là Hương.

- Phát sanh từ nước có đủ tám công đức, trọn không bị nhiễm bẩn, nên bảo là Tịnh.

Hơn nữa, quang minh, màu sắc dung nhiếp lẫn nhau, kích thước không hạn định, nên bảo là Vi. Là chỗ gởi thân cho người văng sanh, dẫu nhiều vô lượng vẫn không trở ngại lẫn nhau, nên bảo là Diệu. Hương thơm nhiệm mầu ngào ngạt, mùi thơm thanh khiết lan tỏa khắp chốn, nên bảo là Hương. Không hề diêm dúa, thể chất thanh tịnh, nên gọi là Khiết.

Lại nữa, có hoa nhưng không có sắc chất, nên bảo là Vi. Nhiều hoa nhưng không hề chướng ngại lẫn nhau, nên bảo là Diệu. Tỏa mùi thơm ngào ngạt khắp chốn, nên bảo là Hương. Chẳng nhiễm trần cấu v́ không có sắc chất, tinh khiết bậc nhất, nên bảo là Khiết.

Ngài Nam Đ́nh Ḥa Thượng và pháp sư Văn Châu lại giảng ư nghĩa bốn chữ “vi diệu hương khiết” như sau:

“Chữ Vi có bốn nghĩa:

a) U vi (ẩn kín): Do rễ hoa ngập ch́m dưới đáy ao, mắt chẳng thấy được, nên bảo là “u vi”.

b) Ẩn vi: Chẳng sanh trưởng trên cao nguyên hay trên đất bằng, chẳng đua chen hương sắc cùng các loại hoa khác, nên bảo là “ẩn vi”.

c) Tế vi: Mỗi cánh sen có tám vạn bốn ngàn đường vân giống như nét vẽ của trời, nên bảo là “tế vi”.

d) Tinh vi: do thất bảo hợp thành, trân kỳ, lộng lẫy, cao sang, nên bảo là “tinh vi”.

Với các ư nghĩa u vi, ẩn vi th́ hoa sen cơi này cũng có, riêng tế vi và tinh vi chỉ mỗi hoa sen Cực Lạc mới có.

Chữ Diệu có mười hai nghĩa:

a) Trổ hoa liền có quả, chẳng phải đợi đến khi hoa tàn mới kết quả, đấy chính là “nhân quả đồng thời diệu”.

b) Nhiễm mà chẳng nhiễm, chẳng nhiễm mà nhiễm, đấy là “cấu tịnh song phi diệu” (dơ sạch cùng mất).

c) Cánh hoa bọc lấy hạt, hạt nằm la liệt giữa gương hoa. Đấy chính là “tổng biệt tề chương diệu” (chung và riêng cùng phô bày).

d) Sáng x̣e ra, đêm khép lại, đấy chính là “ẩn hiển tùy nghi diệu”.

e) Hoa lớn có trăm ngàn vạn đóa hoa sen vây quanh làm quyến thuộc. Đấy chính là “chủ bạn tương tham diệu” (chủ và bạn quây quần, ảnh hưởng lẫn nhau)

f) Ba phẩm thượng, trung, hạ; mỗi phẩm lại chia thành ba phẩm nữa. Tùy theo tu nhân trong đời trước thế nào sẽ thọ sanh trong phẩm hoa ấy, chẳng lẫn lộn. Đấy chính là “thắng liệt phân minh diệu” (hơn kém rạch ṛi).

g) Lớn từ một do tuần đến trăm ngàn vạn ức do tuần, đấy chính là “tiểu đại vô định diệu” (lớn nhỏ không nhất định).

h) Chẳng hề có cảnh Xuân nở Thu tàn, lúc nào cũng đẹp đẽ như mới. Đấy chính là “hàn thử bất thiên diệu” (lạnh nóng chẳng thay đổi).

i) Thuần sắc, thuần quang, tạp sắc, tạp quang, đấy chính là “thái tố giao huy diệu” (hoa nhiều màu lẫn hoa thuần một màu chen nhau tỏa sáng).

j) Hoa sen sanh trưởng từ Cực Lạc nhưng thường có thể hiện đến cơi này để tiếp đón người sẽ được văng sanh. Đấy chính là “động tịnh nhất nguyên diệu” (động và tịnh cùng một nguồn).

k) Chư Phật và thánh chúng ngồi xếp bằng trên hoa. Chúng sanh niệm Phật, gởi thân trong hoa. Đấy chính là “phàm thánh kiêm thành diệu” (phàm lẫn thánh cùng thành tựu).

l) Người phương này niệm Phật, hoa liền đề tên. Siêng, nhác vừa khác, tươi héo liền phân, đấy chính là “cảm ứng minh phù diệu” (sự cảm ứng ngầm tương hợp).

Về Hương th́ chia thành “uế trung hương” và “hương trung hương”:

- Hoa sen cơi Sa Bà đây sanh trưởng từ bùn nhơ nhưng chẳng nhiễm, mùi hương thanh đạm, u nhă, đấy chính là Uế Trung Hương. 

- Hoa sen cơi Cực Lạc, quang minh lẫn màu sắc đều khác lạ, mùi hương cành khác, ngào ngạt, nồng nàn, vượt hơn hẳn hết thảy các mùi hương khác. Đấy chính là Hương Trung Hương.

Về chữ Khiết cũng chia ra làm Cấu Trung Khiết và Khiết Trung Khiết:

- Hoa sen cơi này mọc lên từ bùn nhưng chẳng nhơ, rạng rỡ thanh tịnh. Đấy chính là Cấu Trung Khiết (sạch trong nhơ).

          - Hoa sen cơi Cực Lạc bắt rễ từ cát vàng, sanh từ nước tám công đức, thể chất là diệu bảo, khác với những loài hoa cỏ tầm thường, khiết tịnh không ǵ sánh nổi. Đấy chính là Khiết Trung Khiết”.

 

Xét về Lư:

“Hoa sen” biểu trưng tự tánh thanh tịnh; “phóng quang” biểu trưng bản thể của tự tánh tịch tịnh nhưng thường chiếu. Hoa sen có bốn màu:

- Màu xanh thuộc hành Mộc, thuộc về mùa Xuân. Mùa Xuân tươi non khởi đầu một năm, biểu thị tâm là gốc của vạn vật, tức là Pháp Thân đức. Xuân về, hết thảy cỏ cây đâm chồi, nẩy lộc, biểu trưng trí huệ có thể chiếu soi hết thảy chân lư, đó chính là Bát Nhă đức. Mùa Xuân thời tiết ôn ḥa, ai nấy đều ưa thích. Đó chính là ư nghĩa an lạc, hay nói cách khác là Giải Thoát đức.

- Màu vàng thuộc hành Thổ, nằm ở vị trí trung ương, thuộc về chủ vị. Như vậy, màu vàng biểu thị Trung Đạo hay chủ vị; biểu thị tâm là gốc của vạn pháp. Đấy chính là Pháp Thân đức. Màu vàng là màu của đất, mà đất có công năng sanh trưởng vạn vật, biểu thị Chân Trí chiếu soi hết thảy lư, tức là Bát Nhă đức. Đất là nơi mọi người chúng ta an trụ, biểu thị sự an trụ trong Niết Bàn, đấy chính là Giải Thoát đức.

- Màu đỏ thuộc hành Hỏa ở phương Nam. Mùa Hạ là lúc vạn vật phát triển sung măn nhất, biểu thị tự tánh có vô lượng công đức thù thắng, đấy chính là Pháp Thân đức. Hỏa (lửa) có quang minh, biểu thị tự tánh có đủ hết thảy quang minh trí huệ; đấy chính là Bát Nhă đức. Lửa cháy tiêu hết thảy vạn vật, biểu thị trí huệ có công năng đoạn hoặc, tức là Giải Thoát đức.

- Màu trắng: thuộc về hành Kim ở Tây phương, tương ứng với mùa Thu. Bản chất của Kim là kiên cố, biểu thị tự tánh thường trụ bất biến. Đấy chính là Pháp Thân đức. Sắc của nó chói lọi, biểu thị tự tánh có đủ hết thảy trí, đấy chính là Bát Nhă đức. Tánh của hành Kim nhu nhuyễn, biểu thị tự tánh an lạc tự tại, tức là Giải Thoát đức.

Thêm nữa, sắc trắng biểu thị Pháp Thân thanh tịnh, khí Thu d́u dịu biểu thị tự tánh tịch diệt, trời Thu mát mẻ, trong trẻo biểu thị tự tánh an ḥa.

Ngài Khuy Cơ cho rằng bốn màu sắc của hoa sen nói ở đây nhằm biểu thị người sanh trong Tịnh Độ thành tựu bốn điều: tâm không siểm khúc, chẳng nói lời hư dối, chứng tứ Niết Bàn, đắc tứ trí. Pháp sư Đạo Nguyên lại cho rằng bốn loại hoa sen nhằm tượng trưng cho bốn mươi địa vị trong Chánh Định Tụ tức là: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng và Thập Địa. 

Hoa sen biểu thị pháp thân ly cấu thanh tịnh. “Đại như xa luân” (to như bánh xe) biểu thị Báo Thân viên măn trang nghiêm. Các quang minh biểu thị tự tánh có đủ vô lượng quang minh. “Vi diệu hương khiết” biểu thị tứ đức: Thường, Lạc, Ngă, Tịnh.

 

1.2.1.1.2. Kết thành

         

Chánh kinh:

 

          Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị, công đức trang nghiêm.

          (Cơi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế đấy).

         

Giải:

          Đấy chính là đoạn văn để kết lại.

          Đại lược, câu văn trên hiển thị ư: Tất cả những cảnh sắc thù thắng trong cơi Cực Lạc như thế đó đều là do đại bi, đại nguyện, đại hạnh, vô lượng của Phật Di Đà cảm thành. Nguyện hạnh, công đức là nhân, trang nghiêm là quả. Có nhân như thế ắt phải có quả như thế!

          “Thành tựu” nghĩa là hạnh viên măn, nguyện được thỏa. Đức Di Đà nay đă thành Phật, nguyện của Ngài đă viên măn, thành tựu không dối.

          Chữ “như thị” chỉ tất cả các sự trang nghiêm đă nói ở phần trên: ao báu, nước tám công đức, lầu gác, hoa sen v.v...

          “Công đức”: đại nguyện hạnh chẳng thể nghĩ bàn và những điều tu thành của đức Di Đà gọi là Công Đức. Nếu chỉ chăm lo những điều phước thiện thế gian th́ đó chỉ là công đức hữu lậu, c̣n kém cỏi. Trang nghiêm tự tánh chính là công đức vô lậu, rất thù thắng. Nay công đức của Đức Phật A Di Đà là do vận dụng những hạnh nguyện chẳng thể nghĩ bàn tạo thành nên công đức ấy thật vô lậu thù thắng, chẳng thể nghĩ bàn.

          “Trang nghiêm”: Trang là tráng lệ, nghiêm là nghiêm sức (trang hoàng đẹp đẽ). Diệu cảnh Tây Phương chính là đối tượng được trang nghiêm, được thành tựu, c̣n đại nguyện hạnh của đức Di Đà chính là chủ thể thực hiện sự trang nghiêm, sự thành tựu ấy. Cơi Cực Lạc mỗi mỗi đều trang nghiêm khôn sánh là do lúc Phật Di Đà c̣n tu nhân đă phát ra đại nguyện rộng lớn, đă trải qua bao kiếp tu hành đại hạnh. Sự trang nghiêm ấy là do vô lượng công đức xứng tánh tạo thành (xứng hợp với chân như tự tánh vốn sẵn đủ các công đức nên gọi là “xứng tánh công đức”).

          Nếu xét về Lư, câu “thành tựu như thị công đức trang nghiêm” hiển thị tự tánh đầy đủ hết thảy công đức. Người niệm Phật nếu tín nguyện niệm Phật sẽ trong niệm niệm ngộ nhập chân tánh, đầy đủ các công đức trang nghiêm như vậy. 

         

1.2.1.2. Hoa, nhạc, kim địa (hoa trời, nhạc trời, đất bằng vàng ṛng)

          1.2.1.2.1. Chánh thị diệu cảnh (diễn bày cảnh mầu nhiệm) 

         

Chánh kinh:

         

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa.

          (Lại này Xá Lợi Phất! Cơi nước Đức Phật ấy, thường trỗi nhạc trời. Vàng ṛng làm đất. Ngày đêm sáu thời, mưa xuống hoa mạn đà la cơi trời).

         

Giải:

          Phần này diễn tả cảnh ngũ trần thượng diệu được hưởng thọ bởi những người đă văng sanh Cực Lạc.

          “Thiên nhạc” chính là thanh trần (tức là những thứ được cảm nhận bởi tai – nhĩ căn).

“Kim địa” chính là sắc trần (đối tượng cảm nhận của mắt), “thiên hoa” chính là sắc trần và hương trần. Rải hoa, đi kinh hành chính là xúc trần.

“Phạn thực” (dùng cơm) là vị trần.

Nước, chim, gió, cây vang ra pháp âm chính là thanh trần.

          Trong đoạn kinh văn vừa dẫn trên, ta thấy: trên th́ thiên nhạc rền trời, dưới th́ đất bằng vàng ṛng óng ánh, nào là hoa trời phơi phới rơi xuống, trên dưới sáng ngời. Chẳng những tai nghe tiếng nhạc du dương, mà mắt cũng thấy hoa trời thanh thoát, dạo gót trên đất vàng óng ả; quả đáng gọi là Cực Lạc chẳng ngoa.

 

          Trước hết kinh đề cập đến thanh trần:

          “Thường tác thiên nhạc”: Có hai loại thiên nhạc:

          a) Chư thiên chi nhạc: tức là các loại âm nhạc do chư thiên trong tam giới thường tấu lên để dâng hiến đức giáo chủ cơi Cực Lạc và các thánh chúng.

b) Thiên nhiên nhạc: nghĩa là loại âm nhạc tự nhiên vang ra tiếng, không cần người diễn tấu như kinh Đại Bổn chép: “Cũng tự nhiên có vạn thứ âm nhạc, không tiếng nhạc nào là không thanh tịnh, trong trẻo, thông suốt, vi diệu, trong sáng, thanh nhă, hết thảy các thứ âm thanh trong thế gian chẳng sánh được nổi”. Quán kinh cũng chép: “Các loại nhạc khí treo trên hư không như tràng báu của trời, chẳng đánh mà tự phát ra tiếng, chưa hề gián đoạn”.

Âm nhạc cơi Cực Lạc đă không phải nhọc công diễn tấu, âm vận, thanh điệu lại diệu tuyệt, trang nhă, vượt hẳn âm nhạc thế gian cả một trời một vực.

Trong hai chữ “thường tác” th́: Luôn như thế, chẳng biến đổi là Thường; gơ, khảy là Tác. “Thường tác” lại có hai ư:

a) Thời thường (nghĩa là thường có luôn, nhưng không luôn luôn): Ư chỉ các loại nhạc do chư thiên thường diễn tấu. Chư thiên thường tấu nhạc cúng dường, nhưng không phải lúc nào cũng tấu nhạc cả.

          b) Vĩnh thường (vĩnh viễn có măi): tức là các loại thiên nhiên lúc nào cũng diễn tấu, ngày đêm sáu thời không lúc nào bị gián đoạn cả.

          Do bởi những nghĩa ấy nên bảo là “thường tác thiên nhạc”.

         

“Hoàng kim vi địa” (vàng ṛng làm đất): Câu này nói đến sắc trần thượng diệu. Trong kinh đây chỉ nói một cách giản lược là “hoàng kim” bởi lẽ hoàng kim đứng đầu thất bảo. Chứ thật ra, theo kinh Vô Lượng Thọ, mặt đất cơi Cực Lạc hoặc thuần bằng một thứ báu hoặc do nhiều chất báu hợp thành, chẳng hề nhất định. Sở dĩ vàng ṛng cùng bảy báu xen kẽ làm đất là do chúng sanh cơi Cực Lạc tâm niệm thanh tịnh, nên cảm được đất báu bằng phẳng, nhu nhuyễn, đẹp đẽ đến thế.

          “Trú dạ lục thời” (ngày đêm sáu thời): Trú là ban ngày, Dạ là ban đêm. “Lục thời” là ngày và đêm đều có ba thời: sơ, trung, hậu, gộp thành sáu thời, nên bảo là “trú dạ lục thời”. Cũng có sách giải thích là ngày và đêm, mỗi buổi đều có sáu thời. Chẳng hạn, các giờ Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân là sáu thời ban ngày. Có thuyết cho rằng: cơi Cực Lạc khi hoa nở là ngày, hoa khép lại là đêm.

          Thật ra, nói ngày hay đêm cũng là chỉ thuận theo phương này mà nói để thính chúng dễ lănh hội đó thôi. Chứ thật ra cơi Cực Lạc không hề tối tăm, thân ai cũng có quang minh, cần chi phải có mặt trời, mặt trăng soi sáng!

          “Vũ thiên mạn đà la hoa”: Vũ nghĩa là rơi xuống, tuôn xuống. Chữ Thiên ở đây chỉ chư thiên.

Mạn Đà La là tên một loại hoa ở cơi trời, Hán dịch là Thích Ư (đẹp ư) hay Diệu Hảo. V́ loài hoa này cả sắc lẫn hương đều diệu mỹ tuyệt vời nên có tên như thế. Ngoài ra, hoa gọi là Thích Ư: V́ các vị thánh chúng thuộc địa vị Tam Hiền, Thập Thánh cơi Cực Lạc (thường gọi là Giáo Nội Phàm Phu) vẫn c̣n có tâm phân biệt, nên hoa Mạn Đà La đây sẽ tùy theo tâm ư của từng người mà biến hiện đẹp đẽ sai khác. Có chỗ c̣n dịch Mạn Đà La là Bạch Hoa v́ hoa này khiết bạch khôn sánh.

Ở đây, Phật cũng nói giản lược, chỉ nêu một loại hoa, chứ thật ra phải nói là “trời mưa xuống bốn thứ hoa” mới phù hợp với câu “thành chúng diệu hoa” (đựng các hoa đẹp ấy).

          Bốn thứ hoa là: Mạn đà la (bạch hoa), mạn thù sa (hoa đỏ), ma ha mạn đà la, ma ha mạn thù sa. Trong các loại hoa cơi trời, bốn loại vừa kể thù thắng nhất nên chư thiên thường rưới bốn loại hoa này để cúng dường chư Phật và Bồ Tát. V́ thế kinh mới chép là “trú dạ lục thời, thường vũ thiên mạn đà la hoa”. Bất cứ lúc nào chư thiên thường rải xuống các loại hoa mầu nhiệm như vậy để biểu thị ư tán thán, cúng dường. Theo kinh Vô Lượng Thọ, hoa rơi xuống tụ lại thành từng loại theo đúng màu sắc không tạp loạn. Gió cuốn hoa cũ, đất nứt ra thâu lấy, lại mưa hoa mới để trang nghiêm đất báu.

          Bốn loại hoa trời vừa nói trên có những đức tánh sau: 

          - Nghiêm tịnh cơi nước: biểu thị chúng sanh cơi ấy dùng thiện pháp để trang hoàng thân ḿnh.

          - Hoa nở tung, thấy rơ cả đài: biểu thị pháp chân thật thù thắng hơn pháp của Nhị Thừa.  

- Trước là hoa, sau là quả: biểu thị nhân quả trước sau của người văng sanh trong cơi ấy.

- Mùi hương lan xa, ai ngửi thấy cũng vui thích, biểu thị người sanh về Tịnh Độ, hương thơm giới đức tỏa ngát mười phương.

Hơn nữa, kinh đây chỉ nói trời mưa hoa Mạn Đà La (bạch hoa) nhằm biểu thị: người sanh về Tịnh Độ chỉ có bạch nghiệp.

 

1.2.1.2.2. Tŕ hoa cúng Phật (cầm hoa cúng Phật)

         

Chánh kinh:

 

          Kỳ độ chúng sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích thành chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật. Tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc, phạn thực, kinh hành.

          (Chúng sanh cơi ấy thường mỗi sáng sớm, đều dùng y kích đựng các diệu hoa, cúng dường mười vạn ức Phật ở những phương khác. Cho đến giờ ăn, trở về nước ḿnh, dùng cơm, kinh hành).

         

Giải:

         

“Kỳ độ chúng sanh” (chúng sanh trong cơi ấy): chữ Chúng Sanh chỉ tất cả những người niệm Phật đă sanh trong cơi Cực Lạc. Trừ ḿnh Đức Phật được xưng tụng là bậc Đại Giác, từ hàng Bồ Tát trở xuống đều gọi là “chúng sanh”.

         

“Thường dĩ thanh đán”: Ở đây, chữ Dĩ có nghĩa là “vào lúc”. Ư nói: thường vào lúc sáng sớm. “Thanh đán” có nghĩa là lúc mới vừa rạng sáng. Lúc ấy, phương Đông có những tia sáng chiếu rọi, nên bảo là “thanh đán”. Nói “thường dĩ” là hàm ư: ngày nào cũng làm như thế, chẳng hề mỏi lười, cứ vào rạng sáng là cầm hoa đi cúng Phật để tỏ ḷng kính mộ tột bậc vậy.

         

“Các dĩ y kích thành chúng diệu hoa” (ai nấy đều dùng y kích đựng các diệu hoa): “Các” có nghĩa là mỗi người đều làm như thế. “Dĩ” là dùng, lấy. Có hai cách giải thích chữ “y kích”:

a) Là một thứ vật dụng để đựng hoa trong cơi Cực Lạc (giống như cái đăy đựng hương hay giỏ đựng hoa trong thế gian này).

          b) Y kích có nghĩa là vạt áo; v́ xét theo tự dạng, “kích” chính là vạt áo, tà áo.

Pháp Sư Bân Tông cho rằng cách giải thích thứ hai xác đáng hơn v́: “Lúc thiên hoa vừa rơi xuống, liền cầm ngay vạt áo hứng lấy, sao c̣n phải đợi t́m đồ đựng. Dùng ngay vạt áo hứng hoa, khi rải hoa sẽ buông vạt áo. Tự nhiên, tiện lợi nào bằng? Đấy cũng là một điều khoái ư của cơi Tịnh Độ”.

“Thành” (chữ thạnh (thịnh) đọc theo âm bằng) có nghĩa là chứa đựng. Chữ “chúng” đă minh xác nào phải chỉ dùng “y kích” để đựng có mỗi một loại hoa mạn đà la mà thôi đâu! Do hương sắc thù thắng chẳng thể nghĩ bàn nên bảo là “diệu”. “Hoa” ở đây là thiên hoa, chẳng cần ai phải chăm bón, tưới tắm, cứ tự nhiên kết nụ, khai hoa. Những hoa ấy màu sắc chói ngời, mùi hương u khiết. Khi rải lên, quang sắc của hoa chói ngời ngời, hương xông ngát mũi; hết thảy mọi loài danh hoa trong thế gian này chẳng thể nào bén gót nổi. V́ thế thiên hoa được gọi là “diệu hoa”.

Thật ra, chúng sanh cơi Cực Lạc chẳng chỉ hứng lấy hoa trời mà c̣n hứng cả hoa của những cây báu, v́ chúng cũng thường rưới muôn hoa xuống mặt đất. Hương sắc của những hoa cây báu ấy cũng dị thường trân quư, rất đáng dùng để cúng Phật.

 

“Cúng dường tha phương thập vạn ức Phật”: Cúng là dâng, Dường là cung kính. Như vậy, “cúng dường” có nghĩa là kính dâng lên. Có ba thứ cúng dường:

a) Tài cúng dường: sắp dọn các thứ hương, hoa, thức ăn dâng cúng Tam Bảo.

b) Kính cúng dường: dùng tâm chí thành tán thán, lễ bái Tam Bảo.

c) Hạnh cúng dường: c̣n gọi là Pháp Cúng Dường. Có nghĩa là tâm chân thành, kiên cố, đứng như pháp thọ tŕ, tinh tấn tu hành.

Nói tỉ mỉ hơn có đến năm mươi thứ cúng dường, nhưng e quá rườm rà nên không thuật đủ ở đây.

Nay dâng hoa cúng Phật, xét về Sự tuy thuộc về Tài Cúng Dường, nhưng trên Lư đă đủ cả ba loại cúng dường. Bởi lẽ hành động ấy đă hàm ư vui vẻ ca ngợi, tán thán Phật đức, nghe pháp, thọ tŕ vậy.

“Tha phương”: Các chúng sanh cơi ấy coi Cực Lạc là quê hương nên gọi là “bổn quốc”, gọi các cơi Phật khác là “tha phương” (phương khác).

“Thập vạn ức Phật”: dù là thập, hay vạn hoặc ức cũng chỉ là những con số ước lệ ḥng diễn tả số nhiều đến cùng cực, chứ nào phải nhất định chỉ có mười vạn ức đó ư! Chữ Phật trong câu này chỉ chư Phật trong mười phương thế giới.

Chúng sanh cơi Cực Lạc hứng lấy diệu hoa nào phải để nh́n ngắm, hưởng thụ suông, mà là để rộng vun bồi cội đức, rộng tu hạnh cúng dường. V́ thế, trước hết, họ dâng cúng lên đức Bổn Sư cơi ấy là Phật A Di Đà; sau đấy, mới lần lượt ngồi cung điện bảy báu hay ngự hoa sen báu, bay qua các cơi Phật trong mười phương cúng dường chư Phật. Ở mỗi nơi đều trần thiết cúng phẩm lớn lao, lắng nghe tin nhận diệu pháp. Số lượng các cơi nước Phật họ đi qua nhiều hay ít tùy theo nguyện lực, chứ chẳng phải chỉ có mười vạn ức cơi Phật mà thôi!

 

“Tức dĩ thực thời hoàn đáo bổn quốc”: câu này nói lên sự phi hành cúng dường của chúng sanh cơi Cực Lạc thật là thần tốc; đến lúc thọ trai buổi sớm đă kịp đi đến mười phương cúng dường xong, trở về cơi Cực Lạc. Rạng sáng hứng lấy hoa ra đi, đến giờ thọ trai sáng đă về, khoảng thời gian ấy thật là ngắn ngủi. Nếu chẳng do sức nhiệm mầu của thần túc, dễ hồ đi về nhanh chóng đến mức ấy ư? Khoa học hiện đại đoan quyết: mỗi một giây, mặt trời xoay được mấy vạn dặm. Nhưng nếu đem so với sức thần túc của các vị thượng thiện nhân cơi Cực Lạc, tốc độ của mặt trời chẳng thấm vào đâu!

Sức thần túc ấy do tịnh nghiệp của họ tự chiêu cảm, mà cũng là do đại nguyện lực của Phật A Di Đà cảm thành. Bởi lẽ đức Di Đà đă phát nguyện ai sanh trong cơi Cực Lạc cũng đều thuộc vào Chánh Định Tụ, trụ trong ba bất thoái chuyển. Do vậy, chúng sanh cơi Cực Lạc đương nhiên sẽ có đủ lục thần thông.

Thần Túc thông c̣n gọi là Thân Như Ư Thông, có ba diệu dụng:

 

a) Năng vận thần lực (thần lực có khả năng chuyên chở): Phi hành tự tại, đến mọi nơi một cách cực kỳ nhanh chóng.

b) Chuyển biến thần lực: Có thể chuyển biến từ một sang nhiều, từ lớn thành nhỏ và ngược lại.

c) Thánh như ư thần lực: sự biến hóa không lường, hóa hiện vô cùng.

 

“Phạn thực” nghĩa là cúng dường chư Phật xong, trở về cơi Cực Lạc, gặp đúng lúc thọ trai buổi sớm, bèn theo chúng dùng cơm. Do thần lực của Phật, chúng sanh cơi Cực Lạc khi ăn cơm dùng toàn các thứ quư báu như thất bảo làm bát đựng, cơm trăm vị tùy ư hiện tiền, chẳng cần phải nấu nướng, bày biện, dọn dẹp. Cứ ăn xong là tự nhiên biến mất, chẳng phải nhọc ḷng rửa ráy, phơi phóng, úp cất chi cả. Mà thật ra cũng không có ăn nữa, chỉ nh́n thấy tâm đă no đủ rồi.

Kinh Thụy Ứng Bản Khởi cũng chép: “Những người văng sanh, nếu lúc muốn ăn th́ ứng khí (bát đựng thức ăn) bằng thất bảo tự nhiên hiện ra trước mặt, cơm trăm vị tự nhiên đầy ắp. Tuy là có thức ăn, nhưng thật sự không ăn, chỉ thấy sắc, ngửi mùi đă tưởng là ăn. Tự nhiên no đủ, thân tâm nhu nhuyễn, chẳng tham đắm vị. Ăn xong biến mất, đến thời lại hiện ra”.

Nghe vậy, ắt sẽ có kẻ vấn nạn rằng: người cơi Cực Lạc thân có quang minh, trọn không có nhật, nguyệt soi sáng, th́ biết lúc nào là lúc thọ trai? Ngài Khuy Cơ đáp: “Chuông vàng tự gióng, khánh ngọc vang xa, chúng thánh vân tập, tự nhiên đến hội”.

Không những chỉ thức ăn mà y phục, các vật cần dùng vừa tưởng nghĩ đến đă hiện ra, không hề phải nhọc công cầu t́m, lo liệu.

Những sự sung sướng về cái ăn, cái mặc trong cơi Cực Lạc như vừa kể thật ra chỉ hiện hữu trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Bởi lẽ chúng sanh trong cơi này là hạng đới nghiệp văng sanh, tập khí vẫn c̣n, nên mới có những ư niệm uống ăn, mặc dùng như thế. Chứ c̣n ba cơi trên không c̣n tập khí, nên cũng không c̣n thấy có những tướng trạng này, mà thường dùng Thiền Duyệt làm thức ăn vậy.

 

“Kinh hành”: tức là đi nhiễu xung quanh, đi ṿng quanh. Hiểu theo nghĩa hẹp, kinh hành là đi ṿng quanh điện đường, tháp thờ Phật, hay chỉ nhiễu quanh bàn Phật. Kinh hành có tác dụng giúp thân thể điều ḥa, không bị tŕ trệ, điều tâm cho khỏi phóng dật.

Chúng sanh cơi Cực Lạc thọ trai xong, ai nấy tùy ư đi dạo: hoặc tản bộ bên đất vàng ṛng, hoặc đi ṿng quanh ao báu. Người thích niệm Phật liền niệm Phật, kẻ chuộng tham thiền sẽ tham thiền, tùy ư vui sướng tấn tu. Thật là phong độ giải thoát của một cơi Tịnh Độ, đáng khiến cho phàm nhân phải ngưỡng mộ xiết bao!

Trong cơi Cực Lạc, mọi trần cảnh đều là lạc cảnh, người Cực Lạc tiếp thọ trần cảnh, nhưng chẳng hề bị trần cảnh nhiễu loạn đạo tâm. Bởi lẽ cái gọi là “trần cảnh” đó cũng chỉ là thuận theo phương này mà gọi là trần cảnh. Chứ thật ra, chúng đều là những cảnh sắc thanh tịnh vô biên, tâm chúng sanh cơi ấy cũng thanh tịnh vô biên.

Nếu chúng ta có thể tịnh tâm niệm Phật, nhất niệm hồi quang phản chiếu th́ trần cảnh cơi này cũng sẽ biến thành tịnh cảnh; đúng như Liên Tŕ đại sư đă dạy: “Cầm th́a, buông đũa, miệng miệng chẳng ĺa. Giở gót, động thân, bước bước đạp lên. Lẽ đâu lại vùi đầu ăn uống, để luống qua một đời, dạo nước chơi non, nhọc nhằn muôn dặm” (ư nói: Phải luôn luôn nhớ Phật, niệm Phật trong mọi hành vi, cử chỉ, mọi thời khắc, đừng để luống uổng thời gian vô ích).

Hễ tịnh tâm niệm Phật th́ Tịnh Độ, Sa Bà nào hai. Vọng niệm khởi lên ắt Đông Độ, Tây Phương cách tuyệt!

 

1.2.1.2.3. Kết thành trang nghiêm (kết lại về sự trang nghiêm)

         

Chánh kinh:

         

Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

         

Giải:

Đây là đoạn văn kết thán (kết lại lời khen ngợi). Hai chữ “như thị” chỉ các thứ thiên hoa, thiên nhạc... vừa nói ở trên. Mỗi một thứ sự vật diệu kỳ như thế, không thứ nào chẳng phải là do nguyện hạnh của Phật A Di Đà cảm thành.

          Nếu đem so với bổn nguyện của Phật A Di Đà, th́ “đất bằng vàng ṛng” chính là kết quả của lời nguyện thứ 32 “quốc độ trang hoàng đẹp đẽ”; “phạn thực” chính là kết quả của lời nguyện 38 “y thực tự nhiên tùy ư hiện đến”; “tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc” (ngay vào đúng lúc ăn liền trở về nước ḿnh) chính là kết quả của lời nguyện thứ 23 “cúng dường chư Phật” và lời nguyện thứ 9 “đều được thần túc”) v.v...

         

Xét về Lư:

- “Thiên nhạc” biểu thọ định - huệ dung ḥa.

- “Hoàng kim vi địa” (vàng ṛng làm đất) biểu thị tự tánh vạn kiếp thường hằng chân thực, tâm địa b́nh đẳng bất biến.

- “Thiên vũ diệu hoa” (trời mưa diệu hoa) biểu thị tự tánh khai giải rạng ngời (lúc mê tánh th́ giống như hoa c̣n búp, chưa nở. Lúc ngộ, giống như hoa đă nở tung); đồng thời hàm ư: dùng tịnh hoa thiên nhiên tự tánh để trang nghiêm tâm địa.

- “Thành hoa cúng Phật” (đựng hoa cúng Phật) biểu thị tự tánh trang nghiêm. Dùng tịnh hoa tự tánh để cúng dường chư Phật sẵn có nơi tự tánh.

- “Tha phương” biểu thị tùy duyên diệu dụng.

- “Thập vạn ức độ” biểu thị tự tánh dung thông, trùm khắp. Đến giờ ăn trở về biểu thị tự tánh chẳng đến, chẳng đi, mà cũng là vừa đến vừa đi.

- “Bổn quốc” biểu thị tự tánh thường trụ.

- “Phạn thực” biểu thị ư trưởng dưỡng huệ mạng.

- “Kinh hành” biểu thị ư tự tánh sẵn lưu lộ vô ngại.

         

1.2.1.3. Hóa cầm diễn pháp (các loài chim do Phật biến hiện ra diễn thuyết diệu pháp)

          1.2.1.3.1. Lệ điểu danh (nêu tên các loài chim)

                  

Chánh kinh:

         

Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng chi điểu.

          (Lại nữa Xá Lợi Phất! Cơi ấy thường có các thứ chim kỳ diệu, nhiều màu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, chim Cộng Mạng).

         

Giải:

          Đoạn này thuyết minh lần nữa về thanh trần kỳ diệu trong cơi Cực Lạc, thể hiện ư hữu t́nh thuyết pháp.

 

“Phục” có nghĩa là lại, lần nữa. “Thứ” là tiếp theo.

Nói “phục thứ” nhằm hàm ư: trên đă minh thị các thứ diệu cảnh, tiếp theo đây sẽ tường thuật các thứ chim biến hóa, gió thổi cây thuyết pháp v.v...

 

“Thường hữu”: trong sáu thời luôn luôn có các sự việc như thế.

 

“Chủng chủng kỳ diệu”: chẳng phải chỉ có một loại. Do số loại quá nhiều nên bảo là “chủng chủng”. H́nh dáng các loài chim ấy rất lạ lùng, đẹp đẽ nên bảo là “kỳ”. Tiếng chim hót vang thành tiếng thuyết pháp nên bảo là “diệu”. Những loài chim ấy có nhiều màu nên bảo là “tạp sắc”.

Như vậy, các loài chim cơi Tây Phương không màu nào chẳng có, không h́nh dáng nào chẳng tồn tại. H́nh dạng, màu sắc đă phong phú lại đẹp tuyệt vời.

 

          Bạch Hạc: loài chim này mỏ, cổ và chân đều dài, cánh x̣e ra rất rộng, bay nhanh, tiếng kêu trong vắt, vang đi rất xa. Trong các giống hạc, loài hạc trắng, mào son là quư nhất.

         

Khổng Tước (chim công): trông giống như con Trĩ. Thân dài hơn ba thước, cánh ngắn nhỏ, chim trống rực rỡ, hoa lệ. Lông đuôi cực dài, lúc x̣e ra dựng lên như cái quạt lớn, sắc biếc, có những điểm vàng viền xanh trông như những con mắt to. Giống chim này sống ở những nước thuộc nhiệt đới như Ấn Độ, Thái Lan v.v...

 

Anh Vũ (két, vẹt): loài chim này có nhiều màu: vàng, xanh đọt chuối, hồng, trắng, xám, tía... Loại mỏ hồng, lông hồng được coi là quư nhất. Mỏ nó to ngắn, phần trên khoằm xuống trùm phần dưới, lưỡi to dày, chân có hai ngón đưa ra trước, hai ngón quặp ra sau. Giống này học được tiếng người. Cổ thi có câu:

Hàm t́nh dục thuyết cung trung sự,

Anh vũ tiền đầu bất cảm ngôn

(Nặng ḷng toan kể chuyện cung đ́nh,

Chú vẹt đậu đó thôi đành lặng thinh)

 

Xá Lợi: Tàu dịch là Thu Lộ, là một loài chim mắt rất đẹp. Có chỗ c̣n dịch loài chim này là Xuân Lộ.

 

Ca Lăng Tần Già: Hán dịch là Diệu Âm, khi c̣n ở trong trứng đă hót. Tiếng nó thanh thao hay hơn các loài chim khác. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ chép: “Loài chim này phát ra âm thanh vi diệu, dù trời hay người, không ai [phát ra âm thanh hay] bằng, chỉ trừ có âm thanh của Như Lai”.

 

Cộng Mạng: Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă dịch tên loài chim này là Sanh Sanh. Kinh Pháp Hoa gọi là Mạng Mạng. Kinh Tạp Bảo Tạng gọi là Cộng Mạng, nghĩa là hai đầu chung một thân. Gọi cho đủ theo âm Phạn là Kỳ Bà Kỳ Bà (Jiva jiva). Loài chim này tuy mỗi đầu có tâm thức khác biệt, nhưng cùng một thọ mạng.

Trong quá khứ, đức Thích Ca và Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) từng làm chim Cộng Mạng. Một ngày nọ, cùng bay ra ngoài. Điều Đạt mê ngủ, Thích Ca vẫn thức, thấy có trái cây thơm tho bèn mổ ăn. Mùi hương sực nức khiến đầu đang ngủ thức dậy, càu nhàu: “Sao mày dối tao, chỉ ăn một ḿnh vậy? Tao sẽ ăn trái độc để trả thù mày”. Ăn quả độc xong, cả hai cùng chết tươi!

Cơi Tây phương có vô lượng loài chim, ở đây kinh chỉ nêu đại lược sáu thứ. Hai loại chim Ca Lăng và Cộng Mạng chỉ thấy có ở Ấn Độ. Những loài chim Khổng Tước, Bạch Hạc, Anh Vũ... được coi là những loài chim quư trong thế gian này nên kinh đặc biệt nêu ra.

 

1.2.1.3.2. Điểu diễn pháp âm (chim hót ra pháp âm)

         

Chánh kinh:

 

          Thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất ḥa nhă âm. Kỳ âm diễn sướng: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ Đề phần, bát chánh đạo phần, như thị đẳng pháp.

          (Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời, hót ra tiếng ḥa nhă. Tiếng ấy diễn bày: ngũ căn, ngũ lực, thất Bồ Đề phần, bát chánh đạo phần, các pháp như thế đó).

 

          Giải:

 

Chữ “thị chư” chỉ các loài Bạch Hạc, Khổng Tước.... vừa nhắc tới ở đoạn trên. Đêm ngày phát ra tiếng, ư nói: Các loài chim hóa hiện ấy thuyết pháp không hề gián đoạn.

 

“Ḥa nhă”: Ḥa là không thô bạo, dữ dội; ư nói: tiếng kêu thanh tao, dịu dàng, không giống như tiếng kêu chói chang, rè đục của các loài quạ, chim lợn... Nhă có nghĩa là chẳng thô tháp, hèn kém. Âm thanh ḥa dịu khiến cho người nghe vợi đi tâm nóng nảy, gấp rút, loạn tưởng tự b́nh. Âm điệu tao nhă khiến người nghe sanh tâm vui thích, tâm ư thanh thản, khoáng đạt.

 

“Kỳ âm diễn sướng”: chữ “kỳ âm” chỉ các âm thanh ḥa nhă của các loài chim. Âm thanh của chúng có thể “diễn” nói các diệu pháp, khiến cho tâm người nghe sảng khoái (“sướng”) nên bảo là “diễn sướng”.

Thêm nữa, giải nói một cách phân minh là “diễn”; giải nói một thông đạt, không vấp váp là “sướng”.

 

Như vậy, “ḥa nhă” là âm thanh khiến ḷng người vui thích, “diễn sướng” là thuyết pháp không bị vướng vấp.

Tuy những âm thanh ấy ḥa nhă khiến ḷng người vui sướng, nhưng chúng chẳng hề khiến người nghe mê tâm tham đắm. Chúng thuyết pháp không vướng mắc khiến người nghe phát sanh Huệ Tư Tu, tăng trưởng đạo tâm. Chúng sanh cơi Cực Lạc được bất thoái chuyển cũng là nhờ vào tăng thượng duyên này vậy.  

Trong những pháp được các loài chim này diễn nói, các pháp như ngũ căn, ngũ lực v.v... được kể rơ ra v́ chúng chính là những pháp trọng yếu để tu hành nhập đạo.

 

1) Ngũ Căn:

         

Căn có hai nghĩa:

          - Sanh trưởng: Cây phải nhờ vào rễ mới có thể sanh hoa kết quả. Hành nhân phải nhờ vào năm pháp này mới có thể kết thành đạo quả nên gọi là Ngũ Căn.

          - Hộ tŕ: Cây phải nhờ rễ bám chặt vào đất th́ cành, nhánh, hoa, lá mới không bị héo rũ, chẳng bị gió lốc, mưa cuồng quật đổ. Cũng thế, nếu tu hành năm pháp này th́ đạo niệm sẽ chẳng bị lui sụt, chẳng bị hết thảy nghịch cảnh lay động hay biến chuyển.

         

Ngũ Căn gồm:

         

a. Tín căn: tin sâu các đạo pháp th́ mới thành tựu được hết thảy Thánh Đạo. Tin sâu xa, ưa thích chân lư th́ gọi là Tín Căn. Riêng với hành nhân niệm Phật, Tín Căn là tin tưởng sâu xa rằng tất cả những sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo cơi Cực Lạc đều là do nguyện hạnh chẳng thể nghĩ bàn của đức Từ Phụ A Di Đà tạo thành, chân thật chẳng dối, phát nguyện kiên cố, quyết định văng sanh.

         

b. Tấn căn: Nương theo sự thật ḿnh đă tin mà khởi sự tu hành. Đối với hết thảy đạo pháp đều siêng cầu, chuyên tinh tu tập th́ gọi là Tấn Căn. Đối với người niệm Phật, Tấn Căn là đă tin tưởng sâu sa pháp Niệm Phật là pháp bậc nhất trong các hạnh, rồi cứ thế chăm chỉ, chuyên nhất suốt đêm ngày tŕ niệm một câu A Di Đà Phật chẳng quên.

         

c. Niệm căn: đối với các đạo pháp ḿnh đang tu phải yêu thích, mong mỏi, niệm niệm chẳng quên, thậm chí chẳng sanh một niệm nào khác. Đấy gọi là Niệm Căn. Riêng đối với người niệm Phật, đă mong cầu được sanh về Tây Phương, ḷng chăm chắm gởi nơi đức Di Đà, niệm niệm dốc ḷng nơi Cực Lạc, vĩnh viễn chẳng sanh ư niệm nào khác, th́ gọi là Niệm Căn.

         

d. Định căn: nhiếp tâm chăm chú nơi pháp đang tu, chẳng để ư tưởng tán loạn th́ gọi là Định Căn. Người niệm Phật đă chuyên tưởng niệm văng sanh, bèn buông bỏ vạn duyên, thâu tóm tâm cho khỏi tán loạn, niệm nào cũng tương ứng với danh hiệu Di Đà, chẳng bị vọng tưởng tạp loạn khuấy nhiễu th́ gọi là Định Căn.

         

e. Huệ căn: Huệ chiếu hiện tiền, chánh quán phân minh, chẳng xen lẫn vọng tưởng th́ gọi là Huệ Căn. Đối với người niệm Phật, không những nhiếp tâm chẳng loạn, mà nội tâm c̣n phải thường chiếu, chẳng bị ngoại cảnh mê hoặc, tùy duyên làm mọi việc, nhưng việc tu hành chẳng bị trở ngại ǵ.

 

          2) Ngũ Lực:

 

Năm pháp này cùng tên với năm pháp trước, nhưng nhờ tăng trưởng đắc lực, bài trừ hết thảy nghiệp chướng, chẳng bị các pháp khác chèn ép, lại c̣n có khả năng hàng phục các pháp khác, nên gọi là Lực.

Lực c̣n có nghĩa là Kiên Cố, tức là năm pháp này chẳng bị lay động bởi các pháp khác. Ngũ Lực gồm:

 

a. Tín Lực: Tín Căn tăng trưởng đắc lực, chẳng bị các mối nghi lung lạc, lại phá trừ được mê hoặc phiền năo, chánh tín kiên cố nên gọi là Tín Lực. Riêng với người niệm Phật, Tín Lực là triệt để tin tưởng sâu xa nơi pháp môn Niệm Phật, quyết định cầu văng sanh, chẳng bị bất cứ pháp môn nào khác lung lạc, dao động. Tín tâm kiên cố, chuyên chí niệm Phật, trước sau như một chẳng hề lui sụt, trọn không có ư niệm nào khác.

 

b. Tấn Lực: Tấn Căn tăng trưởng đắc lực, phá trừ mọi nỗi lười nhác, phóng dật nơi thân tâm, siêng tu chánh đạo, thành tựu đại sự xuất thế th́ gọi là Tấn Lực. Đối với người niệm Phật, Tấn Lực là do tinh tấn đắc lực, nhất tâm niệm Phật dũng mănh chẳng lùi, ngày đêm sáu thời chẳng quên một câu A Di Đà Phật, phá trừ sạch hết thảy các pháp bất thiện: biếng nhác, bê trễ v.v...

 

c. Niệm Lực: Niệm Căn tăng trưởng đắc lực, phá trừ các tà tưởng, thành tựu hết thảy công đức chánh niệm xuất thế th́ gọi là Niệm Lực. Đối với người niệm Phật, do niệm lực kiên cố nên niệm niệm thuần chánh, chẳng sanh khởi hết thảy vọng tưởng tà niệm, niệm niệm chẳng quên sáu chữ hồng danh. Nhất tâm, nhất ư chuyên cầu Tây Phương.

 

d. Định Lực: Định Căn tăng trưởng đắc lực, trừ được hết thảy loạn tưởng, các Thiền Định phát sanh th́ gọi là Định Lực. Đối với người niệm Phật th́ do định tâm kiên cố, tâm chẳng tán loạn, chỉ giữ mỗi một ḿnh chánh niệm, chẳng bị hết thảy vọng tưởng, tạp lự khuấy động, thường đạt được niềm vui tịch tĩnh mầu nhiệm.

 

e. Huệ Lực: Huệ Căn tăng trưởng đắc lực, chiếu soi trọn vẹn hết thảy các pháp, phá trừ hết thảy những kiến giải của tà ma, ngoại đạo, đoạn diệt những chấp trước thiên lệch, Tiểu Thừa, phát Chân Vô Lậu Trí, th́ gọi là Huệ Lực. Đối với người niệm Phật, do Huệ Lực kiên cố nên hiểu biết một cách phân minh rằng: Pháp môn Niệm Phật thật là trọng yếu, nhiệm mầu. Lại c̣n có thể thật sự hiểu rơ tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, thấu tỏ yếu chỉ: “Tâm tức là Phật, tâm này là Phật”. Do quán huệ chiếu soi tất cả nên chẳng bị lầm lạc bởi những kiến giải, tà thuyết của ma tà, ngoại đạo.

 

c) Thất Bồ Đề Phần:  

 

Bồ Đề dịch là Giác. Thất Bồ Đề Phần c̣n gọi là Thất Giác Chi (Chi có nghĩa là phần, hàm ư: lúc hành nhân tu tập, tùy từng thời mà tùy nghi thực hành). Ngũ Căn, Ngũ Lực đă kiên cố, do Huệ Lực sanh khởi Chân Vô Lậu Trí (trí thanh tịnh đă đoạn sạch phiền năo. Đoạn Hoặc chứng Lư chính là diệu dụng của trí này. Đây chính là thánh trí của Tam Thừa). Thất Giác Chi gồm:

 

a. Trạch Pháp Giác Chi: Trạch có nghĩa là chọn lựa. Lúc hành nhân quán sát các pháp cũng như lúc tu hành các đạo phẩm chánh và phụ, sẽ dùng trí huệ quán chiếu phân minh, khéo biết phân biệt, suy xét đâu là chân, đâu là ngụy, chẳng lầm lạc chọn lấy các pháp hư ngụy, nên gọi là “trạch pháp giác chi”. Trong vô lượng pháp môn, chọn lấy pháp môn Niệm Phật là thích đáng nhất.

 

b. Tinh Tấn Giác Chi: Chẳng tạp là Tinh, không lui sụt là Tấn. Lúc hành nhân tu tập sẽ dùng trí huệ quán chiếu phân minh, khéo hiểu rơ ràng, chẳng tu lầm các pháp khổ hạnh vô ích, tinh tấn hướng đến đạo pháp chánh chân, chẳng lười chẳng nhác, nỗ lực trừ khử những tập khí xấu ác, khiến cho sự ác đă sanh phải dứt, sự ác chưa sanh chẳng thể sanh, hướng đến thiện pháp của Phật đạo, sáu thời dụng công nghiêm mật, nên gọi là “Tinh Tấn Giác Chi”. Nay nếu nương theo một câu hồng danh tinh tấn tu hành để thoát khỏi sanh tử, nhanh chóng siêu sanh cơi Cực Lạc th́ đấy mới đúng là đại hạnh trọng yếu, tuyệt diệu nhất.

 

c. Hỷ Giác Chi: Hỷ là hoan hỷ hay pháp hỷ. Như lúc hành nhân sở đắc pháp nào, tâm sanh hoan hỷ sẽ dùng trí huệ quán chiếu phân minh, hiểu rơ thấu suốt, chẳng vui theo các pháp điên đảo như chấp đoạn, chấp thường, chấp có, chấp không. Hành nhân trụ vào pháp hỷ chân chánh nên gọi là Hỷ Giác Chi. Nay được nghe pháp môn thù thắng là pháp Niệm Phật đây phải sanh hoan hỷ lớn lao, tu hành đúng theo lời dạy.

         

d. Trừ Giác Chi: Trừ nghĩa là đoạn trừ. Lúc hành nhân đoạn trừ các phiền năo và các kiến (kiến là năm lợi sử: thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ, kiến thủ kiến, tà kiến và năm độn sử: tham, sân, si, mạn, nghi), huệ chiếu hiện tiền, khéo hiểu biết rành rẽ, đoạn trừ các pháp hư ngụy, tăng trưởng các thiện căn chân chánh, th́ gọi là Trừ Giác Chi. Dùng một câu Di Đà để trừ các vọng tưởng, phiền năo, chẳng khởi tán loạn, nhất tâm niệm Phật.

         

e. Xả Giác Chi: Xả là xả ly (ĺa bỏ). Lúc hành nhân buông bỏ các sở kiến và những cảnh bất thiện th́ liền vận trí huệ chiếu soi phân minh, khéo có thể hiểu biết rành rẽ, thấy những cảnh bị buông bỏ đều là hư ngụy, chẳng thật, vĩnh viễn chẳng nhớ tưởng đến nữa. Đấy gọi là Xả Giác Chi. Nay người niệm Phật nhất tâm niệm Phật, buông bỏ vạn duyên, chuyên chí cầu sanh Cực Lạc, vĩnh viễn buông bỏ uế độ Sa Bà.

         

f. Định Giác Chi: Định tức là Thiền Định. Lúc hành nhân phát khởi các môn Thiền Định tốt lành th́ vận dụng trí huệ quán sát để hiểu biết rành rẽ Thiền như thế nào là ngụy (nếu tu Thiền mà chưa đoạn trừ phiền năo, chưa rốt ráo sanh tử, sẽ giống như lấy đá đè cỏ. Hành thiền như thế gọi là tu Hữu Lậu Định), thế nào là chân (đối với Hữu Lậu Thiền chẳng sanh ḷng yêu thích, chấp trước th́ khác nào đă nhổ cỏ cả rễ nên gọi là Vô Lậu), chẳng sanh khởi sự mê đắm lầm lạc vào Hữu Lậu Thiền. Đấy gọi là Định Giác Chi. Công niệm Phật sâu xa đạt đến mức nhất tâm bất loạn th́ tam muội hiện tiền, nhưng cũng vẫn chẳng sanh vọng tâm vui thích hay chấp trước chi cả!

         

g. Niệm Giác Chi: Niệm chính là tư niệm (nghĩ nhớ). Lúc hành nhân tu tập các đạo pháp, bèn dùng trí huệ chiếu soi phân minh, khéo hiểu biết rành rẽ, thường tu tập sao cho Định lẫn Huệ đều được cân bằng. Khi tâm hôn trầm, sẽ nghĩ đến việc dùng ba Giác Chi: Trạch Pháp, Tinh Tấn, Hỷ để cảnh tỉnh, cổ vũ chính ḿnh, chẳng để tâm bị hôn trầm. Nếu lúc tâm trôi nổi, động loạn th́ sẽ dùng ba Giác Chi: Trừ, Xả, Định để nhiếp phục tâm, chẳng để tâm bị lao chao, loạn động. Do điều ḥa, chế phục tâm một cách tùy thuận, thích hợp, nên bảo là Niệm Giác Chi. Hành nhân niệm Phật phải thường giác chiếu sao cho Định lẫn Huệ được cân bằng, chẳng bị hôn trầm hay tán loạn làm chướng ngại, chẳng trụ trong hai thái cực Có và Không, dẫu suốt ngày niệm Phật nhưng niệm mà vô niệm, chẳng niệm mà niệm. Đấy mới chân chánh đạt đến công phu niệm Phật.

         

4) Bát Thánh Đạo Phần:

         

Tám pháp này chính là những hạnh để thành tựu thánh quả nên gọi là Thánh Đạo. Chúng c̣n được gọi là Bát Chánh Đạo Phần. V́ chẳng thiên lệch, tà vạy nên bảo là Chánh. Chúng là những đường lối để đạt đến Niết Bàn nên gọi là Đạo. Chúng lại là những con đường lớn giúp ta siêu phàm nhập thánh nên gọi là Chánh Đạo.

Do Định Huệ luôn được cân bằng nhờ Niệm Giác Chi, hành nhân y theo những chánh đạo này để an ổn tu hành th́ sẽ chóng đạt tới địa vị Phật. Bát Chánh Đạo gồm:

 

a. Chánh Kiến: đắc chân giác huệ vô lậu, thấy biết các lư một cách phân minh, chẳng bị lầm lạc, an trụ trong sự thấy biết chân chánh thanh tịnh, xa ĺa hết thảy các tà kiến, những điều kiến giải đều hợp với chánh lư nên gọi là Chánh Kiến. Hành nhân niệm Phật thấy pháp Tŕ Danh đây thật đúng là con đường để liễu sanh thoát tử thành tựu Phật đạo, là con đường tắt nhất trong những con đường tắt.

 

b. Chánh Ngữ: Dùng trí vô lậu ǵn giữ khẩu nghiệp, thường nói lời chân chánh hiền thiện, xa ĺa hết thảy những tà ngôn (các tội nói dối, ác khẩu, nói đôi chiều, nói thêu dệt đều gộp trong đây). Trụ trong chánh ngữ thanh tịnh, nói ra điều ǵ cũng đều hợp với chánh lư, nên gọi là Chánh Ngữ. Người niệm Phật khẩu nghiệp thanh tịnh, trong mười hai thời bớt nói năng để chuyên tŕ Phật hiệu.

 

c. Chánh Tư Duy: Dùng trí vô lậu thâu nhiếp ư nghiệp, thường suy nghĩ các thiện pháp chánh đạo, xa ĺa hết thảy loạn tưởng, suy nghĩ xằng bậy. Trụ trong tư duy thanh tịnh, chân chánh, nghĩ đến điều ǵ cũng hợp với chánh lư. Đó gọi là Chánh Tư Duy. Người niệm Phật phải thanh tịnh ư nghiệp, tâm chuyên tưởng cơi Tịnh Độ, chuyên chí nơi Tây Phương.

 

d. Chánh Nghiệp: Dùng trí vô lậu ǵn giữ thân nghiệp, v́ pháp v́ đạo, xa ĺa hết thảy ác nghiệp tà hạnh như sát, đạo, dâm v.v... Trụ trong hạnh nghiệp thanh tịnh, chân chánh, làm bất cứ việc ǵ cũng đều hợp với chánh lư. Đấy gọi là Chánh Nghiệp. Hành nhân niệm Phật thân nghiệp thanh tịnh, ngoài việc tu niệm Phật ra, chẳng những không tạo các điều ác mà c̣n siêng năng thực hành thiện sự.

 

e. Chánh Mạng: Dùng trí vô lậu để ǵn giữ mạng sống một cách chân chánh, kiếm sống một cách thanh tịnh, xa ĺa hết thảy các h́nh thức tà mạng (chẳng hạn như v́ lợi mà trá hiện tướng dạng đặc biệt, v́ lợi dưỡng mà tự khoe khoang công đức, xem tướng tốt xấu, v́ lợi thuyết pháp, lớn giọng, ra oai để người khác sợ hăi phải cúng dường, dùng các lời lẽ hoa mỹ ca ngợi công đức cúng dường để người nghe động tâm cúng dường nhiều hơn...). Giữ lối sống thanh tịnh, chân chánh, đúng như cổ đức đă bảo: “Thà giữ đạo chánh mà chết, chứ chẳng phi đạo để sống”; tức là v́ trọng đạo nên coi thường lẽ sống chết. Người niệm Phật cam sống đạm bạc, chẳng làm việc phi đạo để cầu lợi dưỡng.

 

f. Chánh Tinh Tấn: Dùng trí vô lậu để khuất phục sự lười nhác, siêng cầu đạo quả chân chánh, xa ĺa hết thảy tà hạnh, trụ trong hạnh tinh tấn thanh tịnh chân chánh, chẳng tu lầm các khổ hạnh vô ích th́ gọi là “chánh tinh tấn”. Người niệm Phật trong mười hai thời nhất tâm niệm Phật, siêng cầu văng sanh.

 

g. Chánh Niệm: Dùng trí vô lậu để chế phục các vọng tưởng, nghĩ đến các thiện pháp chân chánh, xa ĺa hết thảy tà niệm, trụ trong ư niệm thanh tịnh, chân chánh, tất cả ư niệm đều hợp với chánh đạo, th́ gọi là Chánh Niệm. Người niệm Phật chuyên nghĩ nhớ đến Phật Di Đà, kiêng dè, trừ bỏ các vọng niệm.

 

h. Chánh Định: Dùng trí vô lậu để trừ tán loạn, thân tâm tịch tĩnh, xa ĺa hết thảy tà định (chẳng hạn như thứ thiền định vô tâm của ngoại đạo), an trụ tịch tĩnh th́ gọi là Chánh Định. Người niệm Phật chuyên chí nơi Tây Phương, duyên chặt nơi đức Di Đà, chẳng bị cảnh sắc lay chuyển, siêng tu Niệm Phật tam muội.

 

Những điều vừa được nói trên chính là bốn khoa trong bảy khoa đạo phẩm, dù kinh văn không kể hết, nhưng đă hàm ư nêu trọn cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo (ngoài bốn khoa trên, kể thêm Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ư Túc). Đạo có nghĩa là thông suốt, tức là các hạnh pháp để tu; Phẩm có nghĩa là chủng loại. Như vậy ba mươi bảy đạo phẩm có nghĩa là ba mươi bảy môn hạnh pháp để tu hành ḥng đạt đến Phật quả.

Để dễ nhớ ba mươi bảy đạo phẩm này, Pháp Tướng tông (Duy Thức học) có câu: “Tam tứ, nhị ngũ, chích thất, đơn bát”; tức là có ba môn bắt đầu bằng chữ Tứ (Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc), hai môn Ngũ (Ngũ Căn, Ngũ Lực), một môn Thất (Thất Giác Chi) và một môn Bát (Bát Chánh Đạo).

Do ba mươi bảy phẩm trợ đạo chính là cốt tủy của việc tu hành trong mọi pháp môn, dù Tiểu thừa hay Đại Thừa đều phải tuân tu cả, nên xin lược giải thêm về ba khoa c̣n lại:

 

1) Tứ Niệm Xứ (c̣n gọi là Tứ Niệm Trụ):

 

Niệm là cái tâm quán sát, thuộc về Trí; Xứ là cảnh được quán bởi tâm, như vậy Xứ thuộc về Pháp. Dùng trí quán sát cảnh th́ gọi là Niệm Xứ. Quán thành bốn pháp Niệm Xứ này sẽ ĺa được bốn nỗi khổ điên đảo do thân, thọ, tâm và pháp gây ra, thành tựu sự vui do bốn đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh đem lại.

Tất cả chúng sanh do ngũ uẩn mà sanh khởi bốn thứ điên đảo: đối với Sắc, Thọ sanh khởi Tịnh đảo (bất tịnh mà tưởng là Tịnh nên gọi là Tịnh đảo, tức là chấp Tịnh một cách điên đảo); đối với Thọ khởi Lạc đảo; đối với Tưởng và Hành sanh khởi Ngă đảo; đối với Thức sanh khởi Pháp đảo. Tứ Niệm Xứ chính là diệu dược để đối trị bốn thứ điên đảo ấy, và gồm có:

 

a. Quán thân bất tịnh: Quán nội ngoại sắc thân (thân của ḿnh là nội thân, thân người khác là ngoại thân) chỉ là do hai thứ cấu nhơ: tinh cha và trứng mẹ kết thành, da, thịt, mủ, máu, mũi răi, phân tiểu, từ đầu đến chân thuần là bất tịnh; thật đáng ghê tởm! Chúng sanh điên đảo vọng sanh chấp trước, niệm niệm tham luyến, chẳng thấy bất tịnh. V́ thế, Phật dạy quán thân bất tịnh. Nhờ quán thân bất tịnh sẽ đoạn trừ được Thân Kiến. Hành nhân niệm Phật phải thường tưởng niệm cơi Cực Lạc liên hoa hóa thân, rốt ráo thanh tịnh; chẳng như cơi này sắc thân ô uế, dễ hư hoại.

 

b. Quán Thọ là khổ: nhận lănh gọi là Thọ. Sáu căn chạm xúc sáu trần có những sự cảm nhận nghịch cảnh, thuận cảnh. Gặp thuận cảnh sanh vui, gặp nghịch cảnh đâm ra buồn khổ. Gặp cảnh chẳng thuận chẳng nghịch phát sanh ư tưởng chẳng khổ, chẳng vui (kinh gọi là Vô Kư). Lạc Thọ chính là Hoại Khổ (v́ chóng tan biến mất đi), Khổ Thọ chính là Khổ Khổ (đă khổ c̣n chịu khổ thêm), Vô Kư Thọ chính là Hành Khổ. Chúng sanh điên đảo tưởng khổ là vui, tham đắm mọi thứ, lầm tạo ác nghiệp, chẳng biết tam giới như nhà lửa. V́ thế, Phật dạy “quán thọ là khổ”. Nhờ quán thọ là khổ sẽ trừ được Ái Kiến. Người niệm Phật nên thường tưởng niệm bốn cơi Tịnh Độ, tất cả những cảnh ḿnh chạm xúc nơi đấy đều diệu lạc thù thắng, chẳng như cơi này thuần khổ không vui.

 

c. Quán tâm vô thường: Chữ “tâm” ở đây chỉ thức thứ sáu là Ư Thức. Nghĩa là thức tâm này hư vọng, chẳng thật. Chúng sanh do mê muội bất giác nên niệm niệm rong ruổi chấp trước, chẳng biết thức tâm sanh diệt trong từng sát na, chẳng hề có tánh thường trụ. V́ thế, Phật dạy quán tâm vô thường. Do quán điều này, trừ được Tâm Kiến. Người niệm Phật phải thường niệm sự chứng ngộ tự tâm chân tánh thường trụ nơi cơi Cực Lạc, chẳng giống như cái tâm sanh diệt vô thường trong cơi Sa Bà này.

 

d. Quán pháp vô ngă: Hết thảy y báo, chánh báo trong tam giới của Sa Bà này đều là huyễn hóa, chẳng hề có thật tánh. Chúng sanh điên đảo, lầm chấp nhân ngă thị phi, chốn chốn chấp trước tạo nghiệp thọ khổ. Chẳng biết thân do tứ đại giả hợp, pháp do nhân duyên tạo thành. Quán suốt năm uẩn vốn là vô ngă, nên phá được Ngă Kiến. V́ thế, Phật phải dạy quán pháp vô ngă. Người niệm Phật phải thường tưởng niệm cơi Cực Lạc y báo, chánh báo trang nghiêm, diệu dụng chân thật, chẳng phải như cơi Sa Bà, mọi thứ đều huyễn hóa, giả tạo.

         

Trong cơi Cực Lạc mọi thứ đều thanh tịnh, sao c̣n phải diễn giảng bốn pháp này? Đó là ước về Phàm Thánh Đồng Cư độ mà luận. Chúng sanh do đới nghiệp văng sanh nên Phật dạy họ quán trở lại cơi Sa Bà để hiểu thấu suốt bốn thứ điên đảo, sanh tâm nhàm chán uế độ, một ḷng tấn tu đạo nghiệp, mau chứng thượng phẩm.

 

2) Tứ Chánh Cần (Tứ Chánh Đoạn):

 

Siêng năng tinh tấn đúng với chánh lư nên gọi là Chánh Cần. Tứ Chánh Cần lấy tinh tấn làm thể, gồm có:

 

a. Dĩ sanh ác linh diệt (ác đă sanh th́ làm cho mất): Lúc hết thảy ác niệm sanh khởi th́ mau mau phát tâm từ bi để nhanh chóng trừ diệt ác niệm. Nên biết rằng cứ nhất tâm niệm Phật sẽ đoạn được hết thảy ác niệm.

         

b. Vị sanh ác linh bất sanh (ác chưa sanh đừng cho sanh): ác niệm tuy chưa phát sanh nhưng thường siêng gắng tinh tấn đề pḥng, ǵn giữ, khiến chúng vĩnh viễn chẳng thể sanh khởi. Muốn như vậy th́ không chi bằng nhất tâm niệm Phật.

 

c. Vị sanh thiện linh sanh (thiện chưa sanh khiến sanh): Lúc thiện tâm chưa nảy nở th́ luôn luôn khởi niệm từ bi, nhất tâm tinh tấn khiến cho thiện niệm mau chóng được phát sanh. Nếu nhất tâm niệm Phật th́ hết thảy ác niệm chẳng sanh, đấy chính là sanh khởi hết thảy thiện niệm vậy.

 

d. Dĩ sanh thiện linh tăng trưởng (thiện đă sanh khiến tăng trưởng): thiện tâm đă sanh phải ǵn giữ, vun bồi, luôn luôn tinh tấn khiến nó tăng trưởng thêm. Nếu nhất tâm niệm Phật th́ tự nhiên sẽ tăng trưởng hết thảy thiện pháp.

 

3) Tứ Như Ư Túc:

 

Bốn pháp này chính là bốn thứ thiền định. Như Ư là sở nguyện được thỏa. Túc có nghĩa là cái để nương dựa vào. Chẳng hạn như thân thể phải nhờ vào chân để đứng. Thực hành bốn pháp thiền định này th́ sở cầu mới được như ư, nên gọi là Như Ư Túc. Tứ Như Ư Túc lấy Định làm thể, gồm:

 

a. Dục Như Ư Túc: Ở đây, Dục có nghĩa là ư thích hâm mộ những điều vui sướng, đă được lợi ích do tu tập th́ càng mong đạt nhiều lợi ích hơn nữa. Trong hết thảy việc tu hành, nếu tâm chẳng ham muốn, ưa thích pháp ḿnh đang tu th́ làm sao thành tựu được! Người niệm Phật nếu tâm luôn hâm mộ, ham thích cơi Cực Lạc th́ sẽ quyết định được văng sanh.

         

b. Niệm Như Ư Túc: niệm niệm thuần chánh. Ở đây, Niệm có nghĩa là nhất tâm chuyên chú vào một việc ǵ. Nếu tu tập mà không chuyên chú nhất tâm vào pháp đang tu th́ làm sao thành tựu. Cũng thế, người niệm Phật phải niệm niệm nghĩ nhớ Phật Di Đà, tâm tâm tưởng Cực Lạc th́ mới quyết định được văng sanh.

 

c. Tấn Như Ư Túc: Tinh Tấn tiến tu, siêng năng không gián đoạn. Dù tu bất cứ pháp nào, không có sự tinh tấn th́ không cách chi thành tựu được. Cũng thế, người niệm Phật nếu luôn siêng năng tŕ niệm một câu Di Đà chẳng ngơi sẽ quyết định được văng sanh không ngờ ǵ nữa!

 

d. Tư Như Ư Túc (c̣n gọi là Huệ Như Ư Túc): suy nghĩ, so lường cặn kẽ gọi là Tư. Đối với hết thảy pháp tu tập, nếu chẳng xét suy cặn kẽ th́ khó ḷng thành tựu cho được. Người niệm Phật phải để tâm suy xét, hiểu rơ một cách triệt để rằng trong các pháp môn, pháp Niệm Phật là bậc nhất, biết thế nào là pháp khổ, pháp vui th́ tâm mới chân thành tha thiết, th́ cơi Cực Lạc mới có phần vậy!

 

Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo này, pháp Tứ Niệm Xứ đứng đầu v́ trước hết phải nghe hiểu pháp mới có thể nghĩ nhớ được. Tiếp đó, do nghĩ nhớ sẽ siêng tu nên Tứ Chánh Cần được kể ngay sau Tứ Niệm Xứ. Do siêng năng nên tu và chứng đều đạt được các điều như ư. V́ thế, Tứ Như Ư Túc được liệt vào vị trí thứ ba. Đă Như Ư sẽ tạo thành Ngũ Căn. Do Ngũ Căn nên sẽ có Ngũ Lực, từ Ngũ Lực sẽ dẫn khởi Thất Giác Phần. Cuối cùng, Bát Thánh Đạo chính là đường lối thực tiễn để thực hiện Thất Giác Phần.

Trong kinh này, điều được đề cao là Tín nên kinh nhắc ngay vào Ngũ Căn. Chữ “đẳng” ám chỉ các pháp không kể rơ ra như Tứ Niệm Xứ v.v...

Ba mươi bảy đạo phẩm vừa kể bao trùm vô lượng pháp môn, là căn bản của hết thảy đạo pháp như luận Trí Độ đă xác quyết: “Ba mươi bảy đạo phẩm không ǵ là chẳng gồm thâu”. Luận Tỳ Bà Sa c̣n dùng thí dụ sau đây để minh họa: Niệm Xứ như hạt giống, Chánh Cần như gieo trồng, Như Ư như nảy mầm; Ngũ Căn như bén rễ, Ngũ Lực như đâm cành, trổ lá xum xuê; Thất Giác Chi như nở hoa; Bát Thánh Đạo như kết quả. Muốn chứng đắc quả vị mà bỏ qua không thực hành ba mươi bảy đạo phẩm này có khác chi toan ṃ trăng đáy nước!

 

“Như thị đẳng pháp”: Hai chữ “như thị” chỉ các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực... vừa nêu trên. Chữ “Đẳng” hàm ư c̣n nhiều pháp khác nữa như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần.... hoặc Tứ Nhiếp Pháp, Lục Độ, cho đến vô lượng pháp môn.

Xét về Lư, các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực... biểu thị tự tánh sẵn có vô lượng pháp môn.