Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư

Phần 10

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

      Chư vị đồng học!

      Xin hăy xem phần “chánh thị hành giả chấp tŕ danh hiệu dĩ lập hạnh” (dạy hành giả chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh). Phần giảng nghĩa được chia thành chín đoạn, hôm nay chúng ta xem đến đoạn cuối cùng. Đoạn thứ chín là “trùng khuyến phát nguyện” (lại khuyên phát nguyện). Chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

      Xá Lợi Phất! Ngă kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.

      利弗。我見是利。故說此言。若有眾生。聞是說者。應當發願。生彼國土。

      (Này Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên nói như thế này: Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, hăy nên phát nguyện sanh về cơi nước ấy).

 

      Kinh văn nói “ngă kiến thị lợi” (ta thấy điều lợi ấy), [tổ Ngẫu Ích giảng] “thị Phật nhăn sở kiến, cứu tận minh liễu dă” (là do chính mắt đức Phật thấy, thấu hiểu rốt ráo). Đây không phải là cái thấy của người tầm thường, mà là do chính Thích Ca Mâu Ni Phật đích thân thấy. Điều này rất quan trọng, chúng ta chớ vô tâm hời hợt đọc lướt qua. Điều Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy được, nói thật ra, chúng ta chẳng thể thấy được, [đức Phật thấy được] lợi ích hết sức lớn lao! Chúng ta coi tiếp đoạn văn [trong sách Yếu Giải], rốt cuộc điều lợi ích ấy chính là ǵ vậy? “Thị lợi giả, hoành xuất ngũ trược, viên tịnh tứ độ, trực chí Bất Thoái vị, thị vi bất khả tư nghị công đức chi lợi” (Điều lợi ích ấy là vượt thoát [cơi nước] ngũ trược theo chiều ngang, thanh tịnh trọn vẹn bốn cơi, đạt thẳng đến địa vị Bất Thoái, đấy là lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn). Lợi ích tuyệt diệu như vậy đó! Trong hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, không có ǵ hơn được lợi ích này! Vô lượng vô biên pháp môn của hết thảy chư Phật trọn khắp pháp giới hư không giới đều chẳng thể sánh bằng lợi ích này. Chúng ta được hạnh ngộ pháp này quả thật chẳng phải là chuyện dễ!

Thứ nhất là “hoành xuất ngũ trược”, quư vị phải nhớ kỹ điều này! Bất luận tu học pháp môn nào khác cũng chẳng thể “hoành xuất” (vượt khỏi tam giới theo chiều ngang); nói cách khác, quư vị tu học nhất định phải tiến lên từng bước một, giống như đi học: Tiểu học, sơ trung (trung học đệ nhất cấp, cấp hai), cao trung (trung học đệ nhị cấp, hay cấp ba), đại học, nghiên cứu sinh, tiến lên dần dần. Mỗi một giai đoạn gồm một năm học, hai năm học, ba năm học, bốn năm học. Phương pháp ấy gọi là “thụ xuất” (vượt thoát [tam giới] theo chiều dọc), khó lắm! Rất ư là khó! Nay pháp môn này thật đặc biệt, hoành xuất! Nay chúng ta đang mang thân người, phía trên cơi người là cơi trời, tức Dục Giới Thiên. Quư vị phải biết Dục Giới Thiên gồm Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, tiến lên từng bước một. Nay chúng ta không cần phải như thế, từ nhân đạo vượt ngang ra khỏi tam giới (hoành xuất), thoát khỏi lục đạo luân hồi, có đạo lư như vậy hay chăng? V́ thế, pháp môn này được gọi là pháp khó tin, thực sự khó tin lắm!

Vượt thoát bèn đến đâu vậy? Phi phàm lắm! Giống như đi học, nay chúng ta đang học tiểu học, tiểu học là lớp Một, không cần học lớp Hai, chúng ta thoát ra bèn học ngay lớp dành cho nghiên cứu sinh. Chẳng phải là không có người như vậy, nhưng hiếm lắm, phải là đứa trẻ thiên tài kia! Thế nhưng chúng ta không phải là thiên tài, dẫu chẳng phải là thiên tài mà vẫn vượt cấp được, đă vượt cấp học ngay vào lớp nghiên cứu sinh, mà c̣n thực sự thành tựu nữa kia, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, câu “ngă kiến thị lợi” (ta thấy điều lợi này) ở phía trước [đoạn kinh văn vừa nói trên đây] hết sức quan trọng. V́ sao? Đức Phật phải nêu chứng minh cho chúng ta thấy; nếu không phải do chính đức Phật nói, chúng ta sẽ chẳng thể tin nổi pháp môn này. V́ sao? V́ không t́m được căn cứ để lư luận! Nay chúng ta tin lời A Di Đà Phật, nhưng thật ra trên mặt căn cứ lư luận chúng ta vẫn hồ đồ, vẫn không biết. Thế nhưng chúng ta tin lời Thích Ca Mâu Ni Phật chắc chắn là chân thật: “Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất vọng ngữ giả” (Như Lai là bậc nói lời chân thành, nói lời thành thật, nói đúng như sự thật, không nói lời gạt gẫm, không nói dối). Chắc chắn Ngài chẳng lừa dối chúng ta, chúng ta nghe lời Ngài, thực hành theo lời Ngày dạy, chắc chắn không lầm. Thế là tốt! Thực sự có phước báo, người như vậy thực sự  có thiện căn, người như vậy thực sự phi phàm, chư Phật, Bồ Tát đều tán thán, hoành siêu mà!

Sanh về Tịnh Độ, “viên tịnh tứ độ” (thanh tịnh viên măn bốn cơi), “viên” là viên măn, “tịnh” là thanh tịnh, “tứ độ” là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Trang Nghiêm Độ, và Thường Tịch Quang Độ; quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn chứng trọn vẹn bốn cơi ấy. Chứng được một, bèn chứng hết thảy, sanh vào Đồng Cư là sanh cơi Phương Tiện, là sanh vào Thật Báo, là sanh vào Tịch Quang, có đạo lư như vậy hay chăng? Chính Thích Ca Mâu Ni Phật thấy như thế, Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta chứng thực, Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng ta, chúng ta cứ tin tưởng đi theo lăo nhân gia là không sai. Nếu cứ thuận theo thành kiến, phiền năo, tập khí của chính ḿnh, cứ suy cái này nghĩ cái nọ là sai lầm quá đỗi rồi! Đúng là chẳng thể nghĩ bàn!

“Trực chí Bất Thoái vị” (đạt thẳng đến địa vị Bất Thoái): Không ṿng vèo, quanh co, thẳng chóng chứng đắc trọn vẹn ba thứ Bất Thoái. Chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái là địa vị nào vậy? Đẳng Giác Bồ Tát! Do đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi biết Sơ Trụ Bồ Tát thuộc Viên Giáo chứng được ba thứ Bất Thoái là Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái, nhưng chưa viên măn. Cho đến Thập Địa Bồ Tát vẫn chưa thể nói là viên măn, bởi c̣n có địa vị cao hơn. Do vậy, quư vị phải hiểu: Chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát, là địa vị Bổ Xứ. Những ai chứng trọn vẹn? Quán Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát , Phổ Hiền Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát. Những vị ấy chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, Đẳng Giác Bồ Tát mà! Pháp Vân Địa Bồ Tát vẫn chưa thể nói là Viên, c̣n kém một phần nên chưa Viên, gần như Viên, nhưng vẫn c̣n thiếu một chút. Thật ra, không có cách ǵ để diễn tả sự lợi ích ấy cả, người gặp được pháp môn này hết sức may mắn!

“Thị vi bất khả tư nghị công đức chi lợi” (đây là lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn); trong kinh nói “bất khả tư nghị công đức chi lợi!” có nghĩa là như vậy đó. Chúng ta phải suy nghĩ mấy câu nói này, phải nghĩ cho thông, phải suy cho thấu, rồi mới hạ quyết tâm dũng mănh tinh tấn, thành tựu viên măn quyển kinh này và danh hiệu này; chẳng c̣n lăng phí quá nhiều tinh thần và thời gian la cà nơi các kinh điển thuộc vô lượng pháp môn khác, không cần dùng đến chúng nữa, chỉ riêng pháp này là đủ thành công rồi.

Lại xem tiếp tiểu đoạn thứ hai: “Hựu thị lợi, ước mạng chung thời tâm bất điên đảo nhi ngôn” ([Nói] lợi ích này c̣n có nghĩa là lúc lâm chung, tâm không điên đảo). Lợi ích này càng giảng càng thù thắng, càng giảng càng chẳng thể nghĩ bàn. Quư vị phải nhớ kỹ: Lợi ích chẳng thể nghĩ bàn là lúc người ấy lâm chung, tâm không điên đảo, lúc lâm chung rất sáng suốt, tỉnh táo, không mê hoặc tí ti nào th́ người ấy mới có thể tin, có thể nguyện, có thể niệm, có thể cầu sanh về Tịnh Độ, A Di Đà Phật bèn đến tiếp dẫn người ấy. Đó chính là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện. Trong bốn mươi tám nguyện, Phật giáo Nhật Bản bảo nguyện mười tám này là nguyện trọng yếu nhất. Lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo; nếu lâm chung hôn mê điên đảo là không được rồi! Dẫu trợ niệm cũng không chắc được văng sanh. Bởi thế, từ xưa đến nay, chẳng những các vị đại đức nhà Phật, ngay cả các bậc đại đức thế gian đều khuyên người ta trong một đời hăy nên tu phước, tu phước nhưng đừng hưởng phước, phước báo dành cho người khác hưởng th́ phước báo của chính ḿnh càng lớn. Lúc nào ḿnh mới hưởng phước? Chỉ một dịp thôi: Khi lâm chung thần trí sáng suốt, ở đây nói là “tâm không điên đảo”, các phước báo khác đều chẳng cần đến, để người khác hưởng thụ, ḿnh chịu khổ chút không sao cả!

Trước kia, tôi học với thầy Lư mười năm, cả đời thầy Lư sống hết sức đạm bạc. Không hề ăn bữa nào mà có tới hai món ăn! Suốt đời thầy Lư chưa từng ăn hai món, quư vị chưa trông thấy sẽ không biết đâu! Thầy tự nấu cơm, tự chăm sóc ḿnh, đến chín mươi tuổi vẫn tự chăm sóc ḿnh, nêu tấm gương rất tốt cho chúng ta trong thời kỳ Mạt Pháp. Trong thời Mạt Pháp, phong hóa thế gian mỗi ngày mỗi tệ, con người không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết tôn sư; nếu quư vị không biết tự chăm sóc ḿnh làm sao quư vị có thể sống như thế được! Thầy Lư ăn cơm từ một cái niêu nhỏ, mang theo cái niêu nhỏ. Thầy thường ăn ḿ, ở Đài Loan gọi là “tuyến miến”, c̣n Trung Hoa Đại Lục gọi là “quải miến”, sợi ḿ rất nhỏ, rất dễ nấu. Nước đun sôi rồi, thả ḿ và vài cọng rau vào, lại đun cho sôi, đậy nắp lại, tắt lửa, ủ mấy phút là xong, đơn giản như vậy đó. Mỗi bữa ăn nấu chừng bao lâu? Mười lăm phút! Giải quyết một bữa cơm như vậy đó.

Thầy không có chén, dùng niêu làm chén luôn; bởi thế, rửa sạch hết sức thuận tiện. Trước kia, tôi học theo lăo nhân gia, tôi học được, sống như thế không ít năm, cho đến khi ở nhà Hàn Quán Trưởng tôi mới thôi không tự nấu cơm. Trước khi ở nhà Hàn Quán Trưởng, tôi tự nấu cơm lấy, lúc ấy c̣n dùng bếp dầu (có lẽ người lớn tuổi mới biết tới bếp dầu, người trẻ tuổi không biết đâu!) rất thuận tiện, không dùng bếp củi mà dùng bếp dầu. Thầy Lư sống suốt đời như thế, trước khi bếp dầu được phát minh th́ dùng bếp than. Bởi lẽ, thầy biết tiếc phước, thầy có thâu nhập tương đối khá; lúc ấy, thầy muốn thuê một hai người đầy tớ là chuyện dễ dàng; thầy thừa sức nhưng không làm như thế, tự ḿnh chăm sóc ḿnh, sống hết sức tiết kiệm, một ngày xài hai đồng, cả tháng tiêu hết sáu mươi đồng thôi!

Kiếm được bao nhiêu tiền đều đổ vào sự nghiệp từ thiện, cụ xướng suất kiến tạo Đài Trung Liên Xă, dựng thư viện Từ Quang, lập y viện Bồ Đề, mọi người quyên tặng, cụ đứng ra lo liệu. Đạo tràng thành lập xong, khi đă đi vào nề nếp, cụ bèn giao cho người khác. Mời làm Đổng Sự Trưởng hay Chấp Sự, cụ đều từ khước, giao cho người khác làm. Không mảy may có tâm tham, không mảy may lưu luyến. Do cụ tu phước nên lúc lâm chung đích thực tâm không điên đảo, ra đi sáng suốt, tự tại. Trước lúc mất, cụ c̣n dặn ḍ đồ đệ, lời dặn rất sáng suốt, minh bạch như thế này: “Thế gian đă loạn rồi, Phật, Bồ Tát, thần tiên giáng hạ cũng không cứu được. Chúng ta chỉ có một con đường sống là niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ mà thôi!” Di ngôn tối hậu của lăo nhân gia là như vậy đó; quư vị thấy cụ sáng suốt, minh bạch như thế đó. Đối với t́nh h́nh xă hội hiện thời, chúng ta thấy rất rơ. Cụ đă mất mười mấy năm rồi.

Lúc cụ bảo xă hội loạn, tánh tỉnh giác của chúng tôi vẫn chưa cao! Nay nghĩ lại mấy câu ấy, đúng là cụ thấy quá rơ ràng, rất thấu triệt! Bởi thế, câu nói sau đây quan trọng hơn bất cứ ǵ khác: “Lâm mạng chung thời, tâm bất điên đảo” (Lúc lâm chung, tâm không điên đảo), đó là điều kiện trọng yếu để quư vị được văng sanh hay không. V́ sao lúc lâm chung người ta lại bị điên đảo? V́ chẳng biết tu phước; nhất là con người hiện thời chỉ biết hưởng phước, chứ không biết tu phước! Kể ra đạo tràng này cũng khá, vẫn c̣n bố thí cúng dường; nay ở địa phương này, chúng ta phải bố thí cúng dường cho đại chúng trong xă hội, phải thường mang cái tâm ấy, phải có nguyện vọng ấy, phải có hành động ấy, chứ chẳng mong cầu chính ḿnh hưởng thụ. Tự ḿnh phải biết tiết kiệm, phải biết đoạn ác, phải biết tu phước, hy vọng khi chính ḿnh lâm chung tâm có thể thực sự không điên đảo.

Đoạn kế tiếp nói: “Cái uế độ tự lực tu hành, sanh tử quan đầu, tối nan đắc lực” (V́ tự lực tu hành trong uế độ, nơi cửa ải sanh tử là khó đắc lực nhất). Câu này nói thật đấy, phải thường tự răn nhắc ḿnh. Hiện tại, trược uế đă đến mức cùng cực, con người hoàn toàn trái nghịch đạo làm người, chẳng biết hiếu thuận, không biết tôn kính, kiêu căng, ngạo mạn, ngỡ ḿnh là đúng, tưởng ḿnh siêu phàm! Khởi tâm động niệm không ǵ chẳng cạnh tranh, đấu tranh, tổn người, lợi ḿnh; đó là căn nguyên của hết thảy động loạn. Bởi vậy, tham sống sợ chết, lúc lâm chung tay chân luống cuống. Người nghiệp chướng nặng, lúc tuổi cao khó tránh khỏi căn bệnh nay gọi là bệnh si ngốc nơi người già (Alzheimer). Chứng si ngốc ấy chính là điên đảo, hồ đồ. Người vừa bị điên đảo, hồ đồ liền bị phiền phức ngay, lưu chuyển theo nghiệp chướng, chẳng thể tự làm chủ.

Quư vị phải hiểu: Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là chính ḿnh có thể làm chủ. Tôi muốn đến thế giới Cực Lạc, tôi muốn thân cận A Di Đà Phật, tự ḿnh có thể làm chủ. Nếu tự ḿnh không làm chủ được th́ vẫn phải luân hồi trong lục đạo. Luân hồi trong lục đạo là bị nghiệp lực lôi dẫn, một đời này thiện nhiều, ác ít, lúc lâm chung không có ác niệm, sẽ theo nghiệp lực sanh vào ba đường lành. Nếu ác nhiều, thiện ít, sự ác bao trùm ư niệm, ư niệm ác nhiều, ư niệm thiện ít, sẽ sanh vào ba ác đạo. Bởi thế, chính ḿnh phải thường suy nghĩ đời sau ḿnh sẽ sanh vào đường nào, điều này hết sức quan trọng! Đời sau sanh vào đường nào đừng hỏi ai khác, chính ḿnh phải biết rơ ràng, minh bạch!

Mỗi ngày tụng kinh sáng tối (điều này chúng tôi đă nói quá nhiều rồi), khóa sáng là để tự cảnh tỉnh ḿnh; khóa tối là phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa lỗi. Chúng ta có làm được như thế hay không? Phản tỉnh, kiểm điểm chính là phát hiện những lỗi lầm của chính ḿnh, sám hối là sửa đổi những lầm lỗi của chính ḿnh, đó chính là quư vị thực sự tu công phu đoạn ác tu thiện. Công phu có thành tích th́ lúc lâm chung hiệu quả sẽ hiện tiền, thần trí sáng suốt, tâm không điên đảo, ư chẳng tham chấp. Lúc ấy, niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ sẽ cảm ứng đạo giao; dưới đây, chúng tôi sẽ kể về [gương tu hành] của một vị pháp sư cận đại:

Pháp sư Viên Anh dốc ḷng nơi Tịnh Độ, tự xưng là Tam Cầu Đường Chủ Nhân, tức là cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ. Pháp sư suốt đời giảng kinh hoằng pháp, soạn chú giải cũng rất phong phú. Ngài có bộ Viên Anh Pháp Sư Pháp Vựng được lưu truyền trong thế gian. Suốt đời lăo nhân gia chuyên dốc công nơi kinh Lăng Nghiêm. Từ bài tựa cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, ta thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài phát tâm học Lăng Nghiêm, đến năm bảy mươi lăm tuổi mới hoàn thành tác phẩm Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, suốt cả năm mươi năm! Ngài làm gương cho chúng ta thấy thâm nhập một môn, trường thời huân tu mới có thành tựu như thế. Từ xưa đến nay, chú giải kinh Lăng Nghiêm hết sức phong phú. Xưa kia, lúc tôi theo học với thầy Lư ở Đài Trung cũng là học kinh Lăng Nghiêm; khi đó, tôi sưu tập được hơn ba mươi bản cổ chú. Thầy Lư dạy tôi: Tuy những bản cổ chú hay, nhưng không dễ hiểu cho lắm. Đại khái, những bản chú giải kinh Lăng Nghiêm xưa nay, pháp sư Viên Anh đều đă đọc qua; nói cách khác, cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của Ngài chính là tác phẩm tổng hợp toàn bộ chú giải xưa nay. Thầy Lư chỉ tôi: Anh hăy bắt đầu bằng bộ Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, đúng là đối với người mới học tác phẩm này rất thuận tiện. Tiêu biểu nhất trong số những bản chú giải cổ là bản Trường Thủy Sớ[1] đời Tống, bản Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại sư vào cuối đời Minh. Hai bản ấy đại biểu cho những bản chú giải xưa nay, thầy Lư khuyên tôi nên tham khảo!

Lăng Nghiêm khai trí huệ! Pháp sư Viên Anh thông minh, ở Thượng Hải, Ngài có một đạo tràng gọi là Viên Minh Giảng Đường. Viên Minh là kinh Lăng Nghiêm, [chữ “viên minh” chỉ] hai mươi lăm môn viên thông trong kinh Lăng Nghiêm, Ngài dùng ư nghĩa ấy nên đặt tên [nơi ấy] là Viên Minh Giảng Đường. Thập niên chín mươi tôi đến thăm Thượng Hải, bái phỏng pháp sư Minh Dương, đến viếng đạo tràng của lăo pháp sư Viên Anh, thấy tiểu giảng đường của Ngài không lớn, Tam Cầu Đường hoàn toàn không to, không lớn bằng giảng đường của chúng ta; ước chừng bằng một phần ba giảng đường hiện tại của chúng ta mà thôi, có thể chỉ bằng một phần tư, cho nên không lớn lắm. Tôi ước tính chừng năm, sáu chục người là ngồi chật giảng đường; rất nhỏ! Năm sáu chục người là ngồi kín hết. Trong đạo tràng ấy, hai bên tượng Phật treo một đôi liễn do chính lăo pháp sư viết, trên liễn viết “cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ”. Ngài gọi Phật đường ấy là Tam Cầu Đường. “Phước”: Tâm không điên đảo là phước; “Huệ”: Niệm Phật văng sanh là huệ, trí huệ chân thật. Bởi thế, trong câu cuối cùng Ngài nói rất rơ ràng: “Cầu sanh Tịnh Độ”. Ngài là bậc chuyên gia về kinh Lăng Nghiêm trong thời cận đại đấy!

Kinh Lăng Nghiêm và pháp môn Tịnh Độ có mối quan hệ ǵ, chúng ta phải hiểu! Câu hỏi này tôi đă gặp vào năm thứ hai sau khi tôi thọ giới, [lúc ấy] tôi đảm nhiệm vai tṛ thư kư trong giới đàn chùa Lâm Tế. Một ngày nọ, có mấy vị đồng học thuộc đại học Đài Loan dẫn một vị giáo sư của họ, vị này là giáo sư tại trường đại học Đài Loan (vị giáo sư ấy là một ḥa thượng Nhật Bản) đến gặp tôi. Tôi tiếp họ trong khách đường, vị giáo sư ấy nêu câu hỏi: “Kinh Lăng Nghiêm và Tịnh Độ có mối quan hệ ǵ?” Bởi ông ta hỏi tôi học kinh ǵ, lúc đó nhằm lúc tôi đang học kinh Lăng Nghiêm, nhưng tôi tu pháp môn Tịnh Độ. V́ thế, ông ta mới nêu câu hỏi ấy; ông cảm thấy rất ngạc nhiên, bởi lẽ, mọi người cho rằng kinh Lăng Nghiêm chỉ liên quan đến Thiền, đến Mật. Năm hội thần chú Lăng Nghiêm chính là Mật mà! Ông cho rằng Lăng Nghiêm không dính dáng ǵ đến Tịnh Độ cả. Tôi cũng chẳng trả lời mà hỏi ngược lại: “Đại Thế Chí và Quán Thế Âm có liên quan ǵ đến Tịnh Độ chăng?”

Tôi vừa hỏi như vậy, ông ta hiểu liền. Tây Phương Tam Thánh ngoại trừ A Di Đà Phật th́ chẳng phải là Quán Âm, Thế Chí hay sao? Phương pháp tu hành chủ yếu trong kinh Lăng Nghiêm chính là phương pháp của Quán Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát; thuộc phần nào vậy? Chính là đoạn kinh văn nói về Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông. Trong hai mươi lăm pháp môn có nêu những pháp thông thường, có pháp môn đặc biệt. Tŕnh bày như thế nào? Theo cách liệt kê. Các đồng học học kinh giáo phải lưu ư: Tŕnh bày theo thứ tự thuận chính là những pháp môn thông thường; nếu không tŕnh bày theo thứ tự thuận th́ pháp môn ấy là đặc biệt. Hai mươi lăm pháp đó từ đâu mà có? Quư vị phải hiểu: Đó chính là những phương pháp tu hành chứng quả do Thích Ca Mâu Ni Phật đă chỉ dạy cho các đồ đệ.

Vô lượng vô biên pháp môn quy nạp thành hai mươi lăm loại, trong mỗi một loại chọn ra một pháp làm đại biểu. Hai mươi lăm pháp ấy quy nạp thành sáu Căn, sáu Trần, sáu Thức, ba lần sáu là mười tám, gọi là Thập Bát Giới. Sau đấy lại thêm vào Thất Đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, đó chính là Thất Đại. Thập Bát Giới cộng Thất Đại thành hai mươi lăm. Đó là theo thứ tự thuận. Pháp tu của Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhĩ Căn trong sáu căn, chiếu theo thứ tự thuận th́ đáng lẽ phải nêu thành pháp thứ hai, như quư vị thấy đó: Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư, phải tŕnh bày như vậy. Nêu sáu Căn đầu tiên rồi đến sáu Trần, rồi đến sáu Thức; cuối cùng là bảy Đại là thứ tự thuận. Nhưng pháp Nhĩ Căn của Quán Thế Âm Bồ Tát không theo thứ tự thuận, lại rút ra tŕnh bày cuối cùng, xếp thành pháp thứ hai mươi lăm.

Trong bảy Đại, pháp tu của Đại Thế Chí Bồ Tát thuộc về Căn Đại, theo thứ tự “Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức” th́ Kiến là Căn Đại. Bởi vậy, pháp tu của Đại Thế Chí Bồ Tát đáng lẽ phải kể là pháp hai mươi ba, nhưng pháp tu của Ngài cũng không được tŕnh bày theo thứ tự thuận, [đáng lẽ] pháp cuối cùng phải là Thức Đại của Di Lặc Bồ Tát; không theo thứ tự này mà xếp pháp Căn Đại sau [pháp tu của] Di Lặc Bồ Tát. V́ thế, trong hai mươi lăm pháp Viên Thông có hai pháp đặc biệt là pháp môn Niệm Phật của Đại Thế Chí Bồ Tát và pháp môn Nhĩ Căn của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi vừa phân tích như thế, vị giáo sư Nhật bèn chịu phục. Pháp sư Viên Anh truyền dạy đề cao Lăng Nghiêm, nhưng hạnh tại Di Đà là chính xác, hoàn toàn chính xác!

Ở đây, chúng ta phải chú ư chuyện “cầu phước”. Muốn cầu phước phải tu phước, có tu phước th́ mới cầu phước được. Cầu phước mà không biết tu phước th́ phước từ đâu mà có? Có phước lại c̣n phải có huệ, nếu không có huệ th́ phước báo ấy không phải là chân phước, trong kinh Phật thường gọi là “phước báo hữu lậu thế gian”. Có phước mà không có huệ th́ chỉ sợ quư vị phước báo càng lớn, tạo nghiệp chướng càng nặng! Phước báo nhỏ hại người ít, phước báo lớn hại người nhiều, hậu quả chẳng thể tưởng tượng được nổi! Một người không có phước báo trong một đời này không làm được chuyện lành lớn, nhưng cũng chẳng tạo sự ác lớn. Nếu phước báo lớn th́ phải có trí huệ. Nếu người ấy có trí huệ và tu đại phước báo th́ sẽ là điều tốt lành to lớn. Nếu không có trí huệ, sẽ tạo chuyện đại ác. V́ thế, cầu huệ hết sức quan trọng; thậm chí so với cầu phước, cầu huệ càng trọng yếu hơn. Đức Phật dạy người ta phước huệ song tu, cầu huệ đừng quên cầu phước, cầu phước chẳng được quên cầu huệ, phước - huệ song tu! Đức Thế Tôn v́ chúng ta nêu gương, v́ chúng ta nêu rơ: Mục tiêu chung cục phải thuần chánh, tức là “quyết định cầu sanh Tịnh Độ”. Chiếu theo kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, biến các đạo lư được giảng trong những kinh ấy thành tư tưởng và kiến giải của chính ḿnh, thực hiện những giáo huấn trong kinh điển trong cuộc sống của chính ḿnh, đó là “tu chân” đấy! Có như vậy mới ḥng nắm chắc chuyện cầu sanh Tịnh Độ!

Lại xem tiếp điều thứ ba: “Vô luận ngoan tu cuồng huệ, đáo sanh tử quan đầu, bất năng đắc lực, toàn nhiên vô dụng, tức ngộ môn thâm viễn, tháo lư tiềm xác chi nhân, thảng phân hào tập khí vị trừ, vị miễn tùy cường thiên đọa” (Đừng nói là những kẻ tu hành ngoan bướng, trí huệ ngông cuồng đến cửa ải sanh tử không làm được ǵ, hoàn toàn vô dụng; ngay cả những người chứng ngộ sâu xa, tu tập tiềm dưỡng đích xác nếu c̣n chút phần mảy may tập khí chưa trừ sẽ khó tránh khỏi thuận theo nghiệp lực nào mạnh hơn mà đọa lạc theo nghiệp lực đó). Đây là Ngẫu Ích đại sư cảnh tỉnh chúng ta, dạy chúng ta phải thời thời khắc khắc tỉnh giác cao độ. “Ngoan tu cuồng huệ” (tu hành ngoan bướng, trí huệ ngông cuồng) chính là nói đến những kẻ không thực sự tu hành trong Tông môn và Giáo Hạ, trong xă hội hiện tại [những hạng người như vậy] hết sức phổ biến. “Đáo sanh tử quan đầu, bất năng đắc lực, toàn nhiên vô dụng” (đến cái ải sanh tử, chẳng làm được ǵ, hoàn toàn vô dụng): Điều này nay chúng ta thấy rất rơ ràng, minh bạch; quư vị chỉ cần lưu tâm một chút mà thôi, sẽ thấy người xuất gia hiện tại, nói thật ra, xuất gia c̣n kém cả tại gia. Người tu hành tại gia lúc lâm chung tâm không điên đảo, tôi thấy không ít; c̣n người xuất gia lúc lâm chung tâm không điên đảo cả đời tôi chưa gặp được một ai!

Những người xuất gia tôi được gặp lúc mất đều điên đảo, mê hoặc; trái lại, chính tôi đă gặp mấy vị cư sĩ tại gia lúc mất sáng suốt, tỉnh táo, không điên đảo. Bởi thế, câu nói “bất năng đắc lực, toàn nhiên vô dụng” (chẳng làm được ǵ, hoàn toàn vô dụng) là đúng, không sai chút nào. Câu kế tiếp “tức ngộ môn thâm viễn” (ngay cả người chứng ngộ sâu xa) nhằm chỉ những người thực sự chân tu, là người xuất gia tốt lành trong nhà Thiền; “tháo lư tiềm xác chi nhân” (người tu tập tiềm dưỡng đích xác) là những người tŕ giới rất thanh tịnh, rất nghiêm nhặt, nghiêm tŕ giới luật. Mấy câu tiếp đó của đại sư rất quan trọng: Nếu anh vẫn c̣n một điểm tập khí chưa đoạn hết, tập khí ǵ vậy? Tập khí tham - sân - si - mạn c̣n chưa đoạn hết, chỉ e rằng đến lúc lâm chung, tập khí đó sẽ hiện tiền, vẫn phải theo nghiệp lực đọa lạc. “Vị miễn tùy cường” (khó tránh khỏi thuận theo nghiệp lực nào mạnh mẽ), nghiệp lực mạnh, đạo lực mỏng yếu; nói cách khác, “cường giả tiên khiên” (nghiệp nào mạnh lôi trước), vẫn phải lưu chuyển theo nghiệp lực, rất đáng sợ! Không đùa đâu, quan hệ đến tiền đồ đấy!

Bởi lẽ, đối với những người thực sự tu hành, tập khí lớn nhất là ngạo mạn, cho là “ta tu hành, các ngươi không tu, các ngươi thua ta”. Kiêu căng, ngạo mạn, không để ai vào mắt, thường phê b́nh người không tu hành, không tŕ giới. Đấy chính là tập khí hiện tiền, chẳng phải người thưc sự tu hành. V́ sao kẻ đó không phải là người thực sự tu hành? Lục Tổ đại sư đă nói rồi: “Nhược chân tu đạo nhân, bất kiến thế gian quá” (Nếu người thật tu hành, không thấy lỗi thế gian). Kẻ nào suốt ngày từ sáng đến tối thấy lỗi của người khác th́ kẻ đó chính là người được đại sư Ngẫu Ích nói đến ở đây. A! Nay đă đến giờ rồi!

 

*

      Chư vị đồng học!

      Xin tiếp tục xem tiểu đoạn thứ tư:

      “Vĩnh Minh sở vị: ‘Thập nhân cửu tha lộ, ấm cảnh hốt hiện tiền, miết nhĩ tùy tha khứ’, thử thành khả hàn tâm dă” (Ngài Vĩnh Minh nói: ‘Mười người chín lạc đường, ấm cảnh chợt hiện tiền, chớp mắt đi theo nó’, đúng là lời nói lạnh buốt cơi ḷng). Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là người thời Nam Bắc Triều, theo sử truyện ghi chép, Ngài là A Di Đà Phật hóa thân tái lai, cũng nhằm biểu diễn cho chúng ta thấy. Trong thời ấy, Thiền phong rất thịnh, bởi thế, lăo nhân gia thị hiện trước hết học Thiền, đại triệt đại ngộ nơi Thiền. Thị hiện đại triệt đại ngộ xong, quay về Tịnh Độ, tu Tịnh. V́ thế, vào thời đó, lăo nhân gia đề xướng Thiền Tịnh song tu, quư vị phải hiểu: Đó là nhằm khế hợp căn cơ của người thời ấy. V́ thế, Ngài có bài Tứ Liệu Giản dạy chúng ta phân biệt pháp nào thù thắng, ba câu trên đây trích từ bài thứ nhất. Câu đầu tiên là “hữu Thiền, vô Tịnh Độ” (có Thiền, không Tịnh Độ), mười người tu hành chín người đi lầm đường, v́ sao?

      Lúc lâm chung, “ấm cảnh hiện tiền”, tức lúc sắp mất, nếu Thiền không đắc lực, nói trắng ra phải Thiền làm sao mới đắc lực? Phải đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới là đắc lực. Không đạt đến triệt ngộ tức là chưa thể phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân th́ vẫn phải theo nghiệp lực luân hồi. Đây cũng có nghĩa là quư vị tu Thiền đắc Thiền Định, nhưng chưa khai ngộ, đắc Thiền Định rất chẳng dễ dàng! Tùy theo công phu Thiền Định của quư vị sâu hay cạn, quư vị sẽ thọ sanh nơi đâu? Sanh vào Tứ Thiền Thiên. Nếu công phu càng sâu sẽ sanh lên Tứ Không Thiên, nhưng không thoát khỏi luân hồi trong lục đạo, vẫn là lưu chuyển theo nghiệp lực! Quư vị sanh về Tứ Thiền Tứ Không Thiên, khi thọ mạng hết lại bị đọa lạc xuống [những cơi thấp hơn], chuyện như vậy rất nhiều.

      Đương thời, Thiền phong thịnh hành, Vĩnh Minh đại sư cũng không có cách nào khuyên dạy người ta bỏ Thiền tu Tịnh, [dạy như vậy] họ chẳng thể tiếp nhận. Bởi thế, Ngài dạy họ “có Thiền, có Tịnh Độ”, tức là tu Thiền kiêm tu Tịnh Độ; thật là khổ tâm! Công phu Thiền không đắc lực sẽ nhờ Tịnh mà đắc độ. Chúng ta nghe những lời ấy của đại sư, ngàn vạn phần chớ có Thiền Tịnh song tu, nếu không là lầm! Quư vị phải hiểu dụng ư Thiền Tịnh song tu của Ngài: Đối với những kẻ chẳng chịu bỏ tu Thiền, chẳng chịu quay đầu, Thiền Tịnh song tu nhằm dạy những kẻ ấy, không phải dành cho người chuyên tu Tịnh Độ. Chuyên tu Tịnh Độ thù thắng lắm, “vô Thiền, hữu Tịnh Độ, vạn tu, vạn nhân khứ” (không Thiền, có Tịnh Độ, vạn người tu vạn người về). Bởi thế, xem văn tự của cổ nhân phải hiểu: Ngài nói những lời ấy, viết lách như thế ấy là dành cho hạng người nào; dụng ư ở đâu? Nhất định phải hiểu cho rơ ràng, minh bạch th́ chúng ta mới ḥng thọ dụng. Nếu quư vị nh́n lầm, nghe lầm, đừng trách móc Ngài, Ngài đâu có lầm, lỗi tại chính ḿnh mà!

      Huống chi trong kinh Đại Tập, đức Thế Tôn đă dạy chúng ta một nguyên tắc chung: “Trong thời kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu. Thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu. Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”. Nay chúng ta sanh nhằm thời Mạt Pháp, chiếu theo ghi chép của cổ nhân Trung Quốc, gần đây Ấn Quang đại sư và lăo ḥa thượng Hư Vân đều chiếu theo những tài liệu của Trung Quốc cổ đại [để tính toán th́] Thích Ca Mâu Ni Phật nhập diệt đến nay đă hơn ba ngàn hai mươi năm. Nói cách khác, Chánh Pháp một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp đă trải qua một ngàn năm rồi, nay đang mở đầu một ngàn năm thứ hai của thời Mạt Pháp. Mạt Pháp là một vạn năm; nói cách khác, thời Mạt Pháp hăy c̣n chín ngàn năm nữa. Rất nhiều người nói đến ngày Tận Thế, nhưng Phật pháp không nói đến ngày đó, Phật pháp chỉ nói đến Mạt Pháp. Mạt Pháp là pháp vận theo thông lệ có lên, có xuống, có lúc cao trào, có lúc thoái trào, dẫu vào lúc cao trào vẫn khó thể sánh bằng Chánh Pháp và Tượng Pháp; nhưng văng sanh Tịnh Độ lại thù thắng, thực sự vượt cả những lúc cao trào trong thời Chánh Pháp, Tượng Pháp th́ chỉ có ḿnh pháp môn này. Pháp môn này thù thắng khôn sánh. Kinh sách chẳng thể nghĩ bàn nhất trong số những kinh sách Văng Sanh chính là sách Di Đà Kinh Yếu Giải. Câu nói của Vĩnh Minh đại sư là lời cảm thán hết sức, các đồng học học Phật chớ nên coi thường pháp môn Tịnh Độ này.

      Lại xem tiếp đoạn kế đó [trong sách Yếu Giải]: “Tu hành duy hữu niệm Phật tối vi ổn đáng, tự hữu tín nguyện tŕ danh tịnh nghiệp chi lực. Hựu trượng Di Đà từ bi nguyện lực, sở dụng chi công, quyết định bất hư, Phật cập thánh chúng, hiện tiền úy đạo, cố đắc vô điên đảo, tự tại văng sanh dă” (Tu hành chỉ có niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng nhất, tự có sức tịnh nghiệp tín nguyện tŕ danh, lại c̣n nhờ vào từ bi nguyện lực của A Di Đà Phật nên sự dụng công ấy quyết chẳng hư luống, Phật và thánh chúng hiện trước mặt vỗ về, chỉ dạy, nên được không điên đảo, tự tại văng sanh). Mấy câu này đều là lời thật, câu nào cũng đều là chân tướng sự thật. Nhất định phải hiểu ư nghĩa hai chữ “tu hành” cho thật rơ ràng, quyết chớ hàm hồ! “Hành” là hành vi; hành vi rất nhiều, đức Thế Tôn quy nạp thành ba loại lớn: Ngôn ngữ nơi miệng, tức hành vi khẩu nghiệp; tạo tác nơi thân, tức hành vi thân nghiệp; ư niệm khởi lên, diệt mất, đó là hành vi nơi ư nghiệp. Hành vi dẫu nhiều, nói chung không ngoài ba loại trên. V́ sao? Chúng được gây tạo bởi thân - ngữ - ư! Hành vi là tạo tác, nhưng trong tạo tác có thiện, có ác; v́ thế, đức Phật dạy hàng sơ học chúng ta phải đoạn hành vi ác, phải học hành vi thiện, tức đoạn ác tu thiện. Đức Phật dạy kẻ sơ học như vậy.

      Tu học nhất định có thành tựu th́ đức Phật lại nâng tu hành lên một mức nữa: Thiện và ác đều là nhiễm, đều là nhiễm trước. V́ thế, đức Phật nhất định lại dạy chúng ta phải đoạn nhiễm, phải tu thanh tịnh, nâng cao cảnh giới! Xa ĺa hết thảy nhiễm ô, nhiễm ô là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đoạn ác nhưng không chấp tướng đoạn ác, tu thiện không chấp tướng tu thiện, vĩnh viễn giữ ǵn thân tâm thanh tịnh, b́nh đẳng, đó chính là tịnh nghiệp! Thân tâm thanh tịnh, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thưa cùng quư vị, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị khác biệt: Người đoạn ác tu thiện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Vừa đoạn ác tu thiện lại vừa không chấp tướng th́ hạng người như vậy thân tâm thanh tịnh, văng sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư hay sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm, phẩm vị cao lắm!

      Chúng ta tu Tịnh Độ không ít năm th́ đương nhiên phải nâng cao cảnh giới thêm lên. V́ thế, trong mấy năm qua, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vấn đề “thuần tịnh, thuần thiện”, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm, chứ không phải cơi Phương Tiện Hữu Dư, chúng ta phải nỗ lực, tinh tấn không lười nhác nơi chuyện này. V́ thế, đại sư dạy chúng ta: “Tu hành duy hữu niệm Phật tối vi ổn đáng” (Tu hành chỉ có Niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng nhất). Tu tịnh nghiệp như thế nào? Dùng phương pháp Niệm Phật. Ư niệm vừa mới khởi lên bèn biến thành “A Di Đà Phật”, bất kể là thiện niệm hay ác niệm, niệm vừa khởi lên bèn quy nạp vào A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là thuần tịnh, thuần thiện, đây là [cách tu] ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng, thành tựu cao nhất!

      Ở phần trên, tôi đă tŕnh bày cùng quư vị căn cứ lư luận của việc Niệm Phật rồi. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Thế Tôn đă nói: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (Tâm này là Phật, tâm này làm Phật), đó chính là căn cứ lư luận của Niệm Phật. Chân tâm bổn tánh của hết thảy chúng sanh và mười phương hết thảy chư Phật Như Lai không hai, không khác, cùng một chân tâm, cùng một bổn tánh. Chân tâm bổn tánh là thuần thiện, thuần tịnh, trọn chẳng có mảy may bất thiện xen tạp, quyết định không có mảy may bất tịnh xen tạp, thuần thiện, thuần tịnh. Do vậy, quư vị vốn sẵn là Phật, đó là “tâm này là Phật”. Kinh Hoa Nghiêm và kinh Viên Giác nói “nhất thiết chúng sanh bổn lai thành Phật” (hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật), tức là nh́n từ góc độ này mà nói. Nay chúng ta tuy mê, nhưng mê cũng không sao, mê th́ sao? Chân tâm bổn tánh chúng ta không biến đổi mảy may. Kinh Đại Thừa giảng rất nhiều về chân tâm bổn tánh: không sanh diệt, không đến đi, không một, không khác, nên bảo là “không sanh, không diệt, không đến, không đi, không một, không khác, không phải có, chẳng phải không”. Đó là đặc tánh của nó, nhưng trong đặc tánh ấy vẫn trọn đủ linh minh giác tri.

      Trong hội Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn đă giảng cho chúng ta biết: Bổn tánh đầy đủ “kiến văn giác tri”! Hư không, pháp giới, cơi nước và chúng sanh là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Kể cả hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh; những thứ ấy do đâu mà có? Do tâm hiện, thức biến! Bởi vậy, Lư Thể của chúng là tâm tánh, tâm tánh đầy đủ linh tri. Do đây biết rằng: Hư không, thế giới, hết thảy vạn vật đều có linh tri; nói cách khác, đều có kiến văn giác tri, cũng có nghĩa là chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Chẳng phải chỉ động vật mới có khả năng ấy, mà thực vật cũng có, khoáng vật cũng có, hư không cũng có, chẳng thể nghĩ bàn!

      Trong những năm vừa qua, tiến sĩ Giang Bổn Thắng dùng phương pháp thực nghiệm khoa học để quan sát, ông ta phát hiện nước có khả năng thấy nghe hay biết. Mở rộng ra, ông ta quan sát rất nhiều loại thực vật, nhận thấy thực vật cũng thấy nghe hay biết. Ngay cả những vật dụng trong cuộc sống thường nhật, thực phẩm cũng thấy, nghe, hay, biết. Cơm, bánh mạn đầu, chuối, táo đều được thí nghiệm, chứng tỏ chúng thực sự thấy, nghe, hay, biết. Thấy - nghe - hay - biết là pháp tánh, do đâu mà có? Pháp nhĩ như vậy, nghĩa là chúng vốn sẵn là như vậy. V́ thế, nếu quán sát thí nghiệm sâu hơn th́ bùn, cát, đá, đất đều thấy nghe hay biết. Đại khái, khó quan sát nhất là hư không, hư không cũng thấy nghe hay biết, không pháp nào chẳng thấy nghe hay biết. V́ thế, đối với những điều được nói trong kinh Đại Thừa quư vị phải tin sâu, chớ ngờ vực, các nhà khoa học phát hiện những điều ấy rồi báo với quư vị, quư vị chẳng cảm thấy lạ lùng chút nào hết, quư vị chỉ cảm thấy: “Chuyện ấy b́nh thường! Kinh Phật đă nói rồi, các ông chỉ dùng phương pháp khoa học để chứng thực đó thôi, chúng vốn dĩ là như vậy, không lạ lùng chi hết!”

      Nếu chúng ta  hiểu được  đạo lư này th́  quư vị mới hiểu  Tịnh Độ và

Uế Độ là như thế nào, Tịnh và Uế bất nhị! Tâm con người lành th́ tất cả hết thảy vạn vật kết tinh đều lành. Tâm con người chẳng lành th́ tất cả hết thảy vạn vật đều kết tinh chẳng lành. Kinh Phật chẳng thường nói như thế này hay sao? “Cảnh tùy tâm chuyển!” Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng: “Nhược năng chuyển vật, tắc đồng Như Lai” (Nếu có thể chuyển được vật th́ giống với Như Lai). Bởi thế, hết thảy vạn vật chuyển biến theo tâm tánh của chúng ta, tâm ta thiện th́ không một pháp nào chẳng thiện, toàn là thiện. Tâm ta bất thiện, hết thảy mọi pháp đều bất thiện. V́ sao có uế độ? V́ sao có tai nạn? V́ ư niệm bất thiện, do nghiệp cảm bất thiện chiêu cảm, duyên do là như thế.

Chúng ta muốn chuyển biến thế giới này không khó! Chỉ cần chúng sanh sống trong thế giới này thực sự đoạn ác tu thiện th́ tất cả hết thảy thiên tai và nhân họa đều tiêu diệt, không c̣n nữa. Như vậy th́ phải chuyển từ đâu? Chuyển từ tâm địa. Bao nhiêu năm qua thế giới bàn chuyện bảo vệ môi trường, tôi cũng đă nói khá nhiều lần: “Muốn bảo vệ môi trường th́ phải bắt đầu từ đâu? Từ tâm địa!” Tâm tịnh th́ hoàn cảnh sẽ thanh tịnh; tâm thiện th́ hoàn cảnh bèn thiện. Cái tâm, cái ư niệm của chúng ta không thay đổi th́ không có cách ǵ thay đổi được hoàn cảnh, dù có đổi cũng chẳng đạt hiệu quả ǵ! Đức Phật dạy rất hay: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng). Dạy rơ ràng, minh bạch đến như vậy, cớ sao quư vị nghe chẳng hiểu? V́ sao chẳng chịu làm theo? Nói thật ra, chuyện này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác, nhất định chớ nên xem thường!

      Vậy th́ chúng ta cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới do tịnh nghiệp của chính ḿnh thành tựu và cảm thành. Tâm chúng ta không thanh tịnh, hạnh không thanh tịnh, sẽ chẳng thể sanh về Tịnh Độ! Bởi vậy, niệm Phật, niệm một câu danh hiệu là tịnh tâm, tịnh ư, tịnh hạnh. Thân - ngữ - ư đều thanh tịnh th́ chuyện sanh về Tịnh Độ sẽ được thành tựu. Nếu miệng niệm Di Đà, trong tâm không thanh tịnh, khởi tâm động niệm đều là tham - sân - si - mạn, vẫn là phiền năo tập khí, niệm Phật như thế sẽ chẳng thể văng sanh. Cổ nhân bảo: “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn, hăm phá hầu lung diệc uổng nhiên” (Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, rách toạc cổ họng uổng công thôi) V́ sao? Thân - ngữ - ư không thanh tịnh, bởi vậy, chẳng thể thành tựu. Quư vị học Phật, học pháp ǵ cũng không học được. Trong cuộc sống hằng ngày vẫn là tâm tánh bộp chộp, xốc nổi, gặp chuyện không biết xử trí thế nào. Phiền năo khởi hiện hành, chứ không phải trí huệ hiện hành, không sanh trí huệ, chỉ sanh phiền năo. Học Phật như vậy khó lắm! Học Phật chẳng thể thành tựu, chắc chắn vẫn bị chuyển theo nghiệp lực!

      Nếu quư vị hỏi rốt cuộc là do nguyên nhân nào ư? Do thiện căn, phước đức, nhân duyên của mỗi cá nhân khác biệt; từ kinh nghiệm của chính tôi mà nói th́ là do nghe kinh quá ít, bởi thế, không giác ngộ, phiền năo tập khí vẫn làm chủ y như cũ. V́ vậy, chúng ta phải thường suy nghĩ: V́ lẽ nào Thích Ca Mâu Ni Phật ngày ngày giảng kinh? Bốn mươi chín năm chưa từng gián đoạn một ngày nào. V́ sao phải ngày ngày giảng kinh? Chính là đau ḷng rát miệng giúp cho quư vị giác ngộ, giúp quư vị quay đầu. Từ đâu quay đầu? Từ tập khí phiền năo mà quay đầu lại, đừng nương theo tập khí phiền năo cũ, nên tuân theo lời Phật, Bồ Tát răn dạy. Kinh điển chính là những răn dạy của Phật, Bồ Tát; những ǵ Phật, Bồ Tát răn dạy chính là tánh đức của chúng ta. Tùy thuận lời Phật, Bồ Tát răn dạy chính là tùy thuận tánh đức của chính ḿnh. Không tùy thuận tánh đức th́ chắc chắn tùy thuận phiền năo.

      Tánh đức là ǵ? Tánh đức vốn lành, “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người lúc thoạt đầu tánh vốn lành); tánh đức là pháp tánh, tánh đức là Phật tánh. Phật tánh là thuần thiện, thuần tịnh. Đó là thực sự học Phật, học thực sự có ích. Không biết học th́ đúng là nói trắng ra, dù chỉ học ngoài da cũng không được. Do đâu mà thấy? Từ khởi tâm động niệm, lời lẽ, hành vi mà thấy: Kẻ ấy vẫn tùy thuận tập khí phiền năo, đúng là một phân, một mảy Phật pháp cũng chẳng thọ dụng được! V́ nguyên nhân ǵ vậy? Kinh Địa Tạng bảo là “cang cường nan hóa” (ương ngạnh, khó giáo hóa), tánh t́nh quá bướng bỉnh, quá tự phụ! Luôn tự cho ḿnh có lư, rất khó thể tiếp nhận lời Phật, Bồ Tát dạy. Tập khí quá nặng, sửa không được, cứ như vậy th́ đương nhiên phải lưu chuyển theo nghiệp.

      V́ thế, chính ḿnh phải thường xuyên tự phản tỉnh, thường xuyên kiểm điểm, phải t́m cho ra khuyết điểm của chính ḿnh. Tự ḿnh có năng lực phát hiện cái bệnh của ḿnh, trong Phật pháp gọi là “khai ngộ” hay giác ngộ! Khai ngộ rồi mới khởi tu, khởi tu là sau khi khai ngộ bèn sửa đổi những căn bệnh tập khí của chính ḿnh. Đó là thực sự tu hành. Nay chúng ta tu Tịnh Độ, tâm không thanh tịnh, ư niệm không thanh tịnh, hành vi không thanh tịnh, hoàn toàn chẳng tương ứng với Tịnh Độ. V́ thế, phải biết tín nguyện tŕ danh tu Tịnh nghiệp; tự ḿnh thực sự chịu tu Tịnh nghiệp, Tịnh nghiệp là thiện, là tịnh, biểu hiện ra bên ngoài là thiện, thuần thiện thuần tịnh. Đấy là Tự Lực.

      Pháp môn Tịnh Độ được gọi là “nhị lực pháp môn”: Tự Lực và Tha

Lực. Tha Lực là A Di Đà Phật, “hựu trượng Di Đà từ bi nguyện lực” (lại nương vào nguyện lực từ bi của A Di Đà Phật), đó là Tha Lực. “Trượng” () là nhờ cậy, phải làm sao mới ḥng nhờ cậy nguyện lực của A Di Đà Phật? Dùng tịnh nghiệp của chúng ta để cảm lấy nguyện lực của A Di Đà Phật. Tịnh nghiệp của chúng ta là Năng Cảm, nguyện lực từ bi của A Di Đà Phật là Năng Ứng, cảm ứng đạo giao! Hết thảy chúng sanh do nghiệp lực cảm lấy Thập Ác; v́ thế, phải quán sát kỹ càng, nếu thân - khẩu - ư chẳng ĺa Thập Ác th́ phiền lắm! Thập Ác cảm được ǵ? Quả báo khổ sở trong tam đồ! Thập Thiện khiến quư vị cảm được vui sướng và phước báo nơi ba đường lành trong sáu đường; nhưng không thoát khỏi luân hồi lục đạo. V́ thế, tịnh nghiệp quan trọng lắm!

Trong tâm là A Di Đà Phật, miệng niệm A Di Đà Phật, hết thảy tạo tác nơi thân chẳng ĺa A Di Đà Phật. Tạo tác nơi thân như thế nào mới gọi là chẳng ĺa A Di Đà Phật? Những giáo huấn trong Vô Lượng Thọ Kinh và Quán Kinh được biểu hiện nơi hành vi của chúng ta; đó là không ĺa A Di Đà Phật! A Di Đà Phật dạy chúng ta làm sao, chúng ta cứ làm như thế ấy, dạy ta đừng làm điều ǵ, chúng ta nhất định không làm! Như vậy là đúng! Niệm niệm cảm ứng đạo giao như thế, chính là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, “sở dụng chi công, quyết định bất hư” (công phu đă vận dụng quyết chẳng luống uổng). “Công” () ở đây là công phu, đến lúc lâm chung, lúc thọ mạng sắp chấm dứt, Phật bèn đến. “Phật cập thánh chúng, hiện tiền ủy đạo” (đức Phật và thánh chúng hiện trước mặt vỗ về, chỉ dạy). “Ủy” () là an ủi, Phật đến an ủi, Phật đến dẫn dắt, tức là tiếp dẫn quư vị. Bởi thế, quư vị chẳng bị điên đảo, tâm không bị loạn, nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo, tự tại văng sanh! Tiếp đó là lời đại sư Ngẫu Ích cực lực tán thán pháp môn này:

      “Pháp môn thâm diệu”:Thâm” là Lư sâu, chúng ta không có cách ǵ hiểu thấu đáo; “diệu” là Sự diệu, Tướng diệu, phương pháp xảo diệu, “phá tận nhất thiết hư luận, trảm tận nhất thiết ư kiến” (phá sạch hết thảy hư luận, chặt đứt hết thảy ư kiến). Hai câu này là nói thật đấy, Ngẫu Ích đại sư nêu ra những điều khó thể nói được lắm, v́ nếu không nhập cảnh giới này, sẽ không thể nói ra những lời ấy, chẳng thể nghĩ bàn! Phá sạch hết thảy hư luận, hư luận là ǵ? Thưa cùng quư vị, hết thảy những ǵ chư Phật giảng kinh, thuyết pháp, nếu đem so với pháp môn Niệm Phật chúng đều là hư luận cả, không thể so sánh được! Tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng dễ tu, rất khó học tập, vẫn phải tốn thời gian rất dài; pháp môn này lại quá nhanh chóng, một đời thành tựu. Bởi thế, nó ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng; thành thử, các pháp môn khác đương nhiên bị coi là hư luận. Chữ “hư luận” chỉ Phật pháp, có nghĩa là pháp xuất thế gian; chữ “ư kiến” chỉ các pháp thế gian. Như vậy, hai câu này có nghĩa là [pháp môn Tịnh Độ] siêu việt hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, pháp môn thâm diệu quá! Hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian đều chẳng thể sánh bằng!

      “Duy Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh chi lưu, triệt để đảm hà đắc khứ” (chỉ có những bậc như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh mới triệt để gánh vác được). Ai mới có thể tin nổi pháp môn này? Ai có thể chết ḷng sát đất tu tập pháp môn này? Ngẫu Ích đại sư chỉ nêu tượng trưng vài vị trong số các tổ sư: Mă Minh Bồ Tát và Long Thọ Bồ Tát là người Ấn Độ, nêu tên hai vị trong số các tổ sư cổ Ấn Độ. Lịch đại tổ sư Trung Quốc cũng chỉ nêu hai vị: Trí Giả đại sư và Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư. Trí Giả và Vĩnh Minh đều ở tại Chiết Giang, Trí Giả đại sư ở núi Thiên Thai; Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư ở Hàng Châu, là tổ thứ sáu của Tịnh Tông. Chỉ có những vị như vậy, các Ngài thực sự chứng được quả vị Bồ Tát, không phải là Bồ Tát tầm thường mà là Pháp Thân Bồ Tát, đều đạt quả vị Pháp Thân Bồ Tát. Thế nhưng chúng ta phải biết: Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật tái lai, ứng hóa trở lại; Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật ứng hóa, cổ Phật tái lai! Các Ngài mới triệt để “đảm hà đắc khứ” (gánh vác nổi), gánh vác là tiếp nhận hoàn toàn, không một mảy ngờ vực, y giáo phụng hành.

       Kỳ dư, thế trí biện thông” (Ngoài ra, những kẻ thế trí biện thông): Ngoài ra là những kẻ có trí huệ thế gian, người rất thông minh, người khéo ăn nói nhất. Tiếp đó, Tổ nêu mấy thí dụ: “Thông Nho, Thiền khách”, các vị thông đạt kinh luận của bách gia chư tử th́ gọi là “thông Nho”, chúng ta thường gọi là bậc “đại Nho”. “Thiền khách” là tổ sư đại đức trong Tông môn. “Tận tư lượng độ, dũ thôi dũ viễn” (Tận sức suy lường, càng suy lường, càng cách xa): Nếu những người ấy suy lường, nghiên cứu, thảo luận những kinh sách Tịnh Độ th́ càng nghiên cứu chẳng những không thể hiểu nổi sự thâm diệu của pháp môn này mà ngược lại c̣n lạc xa hơn nữa. V́ sao? Pháp môn này là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, tuyệt đối chẳng thể dùng tư tưởng, suy tư, khảo sát, nghiên cứu để thấu hiểu được, tuyệt đối chẳng thể bàn luận suông để hiểu rơ được. V́ sao? V́ đó là cảnh giới Phật, cảnh giới thuộc về quả địa Như Lai. Đức Phật nói rất rơ, “duy Phật dữ Phật phương năng cứu cánh” (chỉ có ḿnh Phật với Phật mới hiểu được rốt ráo”). Đối với pháp môn này, có thể dùng tỷ dụ để nói về Đẳng Giác Bồ Tát như sau: “Do như cách la  vọng nguyệt”  (giống như  ngắm trăng  qua một  lớp the).  Đẳng

Giác Bồ Tát c̣n như thế, huống chi là phàm phu!

      Từ ngữ “thông Nho, Thiền khách” chỉ những kẻ chưa kiến tánh. Dẫu có kiến tánh th́ kiến tánh có phẩm vị bất đồng, trong minh tâm kiến tánh có đến bốn mươi mốt địa vị, gọi chung là Tam Hiền Thập Thánh. Đă chứng Thập Thánh th́ không có vấn đề ǵ, chứ c̣n thuộc trong Tam Hiền th́ vẫn chưa được. V́ sao Thập Thánh không có vấn đề ǵ? Đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Địa Thượng Bồ Tát từ Sơ Địa đến địa vị thứ mười một (Đẳng Giác Bồ Tát) “thủy chung chẳng rời niệm Phật”. Khai thủy (mở đầu) của Địa Thượng Bồ Tát là Sơ Địa, chung cục là Đẳng Giác Bồ Tát, mười một địa vị như thế từ đầu đến cuối tức là từ Sơ Địa đến Đẳng Giác, các Ngài đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; bởi thế, các vị thuộc các địa vị này không có vấn đề ǵ. Mă Minh, Long Thọ đều là Địa Thượng Bồ Tát. Người minh tâm kiến tánh nếu thuộc địa vị Tam Hiền th́ không thấy người ấy niệm Phật; nhưng nếu [vị nào] đăng địa (đă chứng từ Sơ Địa trở lên), nhất định [vị đó] niệm Phật. V́ thế, kinh Đại Thừa thường nói: “Thập Địa Bồ Tát thủy chung bất ly niệm Phật” (Hàng Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật). Pháp môn chẳng thể nghĩ bàn!

      “Hựu bất nhược ngu phu ngu phụ lăo thật niệm Phật giả, vi năng tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo dă” (Lại chẳng bằng kẻ ngu phu ngu phụ chắc thật niệm Phật, có thể ngầm thông với Phật trí, thầm hợp diệu đạo). Thật vậy! Chúng ta không bằng những ông bà già cả nhà quê, chúng ta thua xa họ! Dẫu họ chuyện ǵ cũng không biết, cũng chẳng nghĩ ngợi, hiểu biết ǵ, dạy họ thật thà niệm Phật, họ bèn thật thà niệm Phật; dạy họ đoạn ác tu thiện, họ bèn thật thà chất phác đoạn ác tu thiện, thực sự thành công. Cách tu hành như vậy “tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo” (ngầm thông với Phật trí, thầm hợp diệu đạo). Dẫu chưa học qua, nhưng tâm hạnh họ lại rất ngầm khế hợp với pháp môn thâm diệu này; v́ thế, họ có thể thành tựu. Họ thành tựu phẩm vị cao hay thấp cũng chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta không có cách ǵ suy lường được hết. Những người như vậy chẳng tầm thường đâu nhé, thiện căn trong đời quá khứ rất sâu dầy!

      Cuối cùng là lời tổng kết: “Ngă kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn” (ta thấy điều lợi ấy, nên nói lời này). “Ta” ở đây là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng, Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy sự lợi ích đó, v́ thế Ngài nói ra. Ngẫu Ích đại sư nói: “Phân minh dĩ Phật nhăn, Phật âm, ấn định thử sự, khởi cảm vi kháng, bất thiện thuận nhập dă tai?” (Phân minh dùng mắt Phật, tiếng Phật để ấn định việc này, há dám chống báng, chẳng ngoan ngoăn theo vào ư?) Nếu quư vị thực sự là đệ tử của Phật, quư vị phải hiểu ư nghĩa sâu xa của câu kinh văn này, v́ sao? Điều do chính mắt đức Phật thấy, do chính miệng đức Phật nói, tức là đức Phật đă khẳng định dứt khoát chuyện A Di Đà Phật đến tiếp dẫn văng sanh rồi. Nếu chúng ta trái nghịch, chẳng tuân thủ lời Phật dạy, tức là chúng ta chẳng thuận theo ư Phật, chẳng chấp thuận Phật dạy dỗ th́ chẳng phải là đồ đệ của Phật. Đồ đệ của Phật há chẳng vâng lời, làm theo lời thầy dạy ư? Tùy thuận Phật, Bồ Tát dạy dỗ, chắc chắn thành tựu. Không tùy thuận là không có cách chi hết, phải luân hồi dài lâu. Chúng tôi giảng đoạn lớn này đến đây thôi.

 

Tập 29

 

6.4. Lưu Thông Phần

6.4.1. Chư Phật khuyến tấn lưu thông

 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp đơn vị thứ sáu: Chư Phật khuyến tấn lưu thông”. Đoạn kinh văn này quư vị hay quen gọi là Sáu Phương Chư Phật Tán Thán. Trước hết, chúng tôi đọc một đoạn kinh văn:

 

Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi. Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh.

舍利弗。如我今者。讚歎阿彌陀佛。不可思議功德之利。東方亦有阿閦鞞佛。須彌相佛。大須彌佛。須彌光佛。妙音佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

      (Này Xá Lợi Phất! Như nay ta tán thán lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật, phương Đông cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”).

 

      Đến đây là một đoạn. Chúng tôi chia đoạn thành năm đoạn nhỏ để giới thiệu. Đoạn thứ nhất là “thử kinh dĩ Thật Tướng vi Thể, thị Thế Tôn triệt để bi tâm, vô vấn tự thuyết, thùy kham nhiệm lưu thông chi trách” (kinh này lấy Thật Tướng làm Thể, do tâm bi triệt để nên đức Thế Tôn không ai hỏi mà tự nói, ai là người có thể gánh vác trách nhiệm lưu thông). Trước hết, chúng tôi giới thiệu đại lược ư tưởng này. Bộ kinh A Di Đà này kích thước không lớn, phàm là kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể. Thật Tướng là ǵ? Nh́n từ mặt chữ, “chân tướng sự thật” được gọi là Thật Tướng. Chân tướng sự thật chính là Chân Như Bổn Tánh, là Lư Thể của Pháp Thân và [chủ thể] có thể hiện, có thể biến, [cũng như tất cả các pháp] được hiện, được biến, đó là chân tướng sự thật! Những ǵ đức Thế Tôn dạy chúng ta không ngoài những điều như vậy.

      Pháp hội này do bi tâm triệt để của Thích Ca Mâu Ni Phật mà có, cũng có thể nói là từ tâm đại từ đại bi viên măn rốt ráo, không ai thưa hỏi, từ đầu đến cuối chỉ ḿnh đức Thế Tôn tự nói; v́ thế, tựa đề kinh ghi là “Phật Thuyết”. Kinh điển như vậy ai mới là người có năng lực, hay như ta thường nói là “có đủ tư cách” đảm nhiệm lưu thông? Quả thật, kinh này khác hẳn với mọi kinh đức Phật đă nói trong bốn mươi chín năm. Ngay cả kinh Hoa Nghiêm cũng có người khải thỉnh; tuy vậy, khải thỉnh trong kinh Hoa Nghiêm không phải là nói ra mà là trong tâm có nghi vấn nhưng không nói ra, đức Phật biết ngay, c̣n kinh này không ai nghĩ đến, không ai có thể nêu được câu hỏi. Đức Phật thấy duyên phận của đại chúng chín muồi, bèn v́ chúng ta nói ra pháp môn thù thắng khôn sánh, là pháp hết thảy chúng sanh khó tin. V́ sao gọi là “duyên chín muồi”? Đức Phật nói ra chắc chắn có người tin tưởng, có người có thể thấu hiểu, có người chịu y giáo phụng hành, đó là “duyên chín muồi”. Đức Phật chẳng đợi ai hỏi, gấp gáp nói ra; v́ thế, kinh này mới là ḷng “độ sanh thành Phật” (hóa độ cho chúng sanh thành tựu Phật quả) triệt để, viên măn rốt ráo vậy!

      Ở đây, Ngẫu Ích đại sư v́ chúng ta nêu lên câu hỏi: Ai là người có năng lực, có tư cách lưu thông? Lăo nhân gia nói rất hay. Kinh chia thành ba phần, Ngài phán định từ đây trở đi thuộc phần Lưu Thông. Từ trước đến nay khi tổ sư đại đức giảng kinh A Di Đà, chưa vị nào coi phần này là Lưu Thông, đều cho đoạn này thuộc về phần Chánh Tông; riêng ḿnh Ngẫu Ích đại sư huệ nhăn trọn đủ, phán định từ đây trở đi là phần Lưu Thông, “chư Phật khuyến tín lưu thông”. Trong phần Lưu Thông, Ngài cũng chia thành ba khoa (ba tiểu đoạn): Khuyến tín, khuyến nguyện, khuyến hành. Trong ba phần, Tự Phần cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, phần Chánh Tông cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, trong phần Lưu Thông cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, dùng ba tư lương quán triệt cả ba phần. Ai có thể khuyến tín (khuyên nên tin tưởng)? Chư Phật Như Lai!

      Dưới đây là phần lược giải ư nghĩa của chữ Lưu Thông, [sách Yếu Giải viết]: “Lưu giả, lưu truyền vạn cổ, thông giả, thông đạt thập phương” (Lưu là lưu truyền muôn đời, Thông là thông đạt mười phương). Giáo huấn của thánh hiền nếu không có ai lưu truyền sẽ chẳng thể lợi ích hết thảy chúng sanh. Con người hiện thời không gọi là “lưu thông” mà gọi là “tuyên truyền, tuyên đạo[2]”, đều mang ư nghĩa lưu thông. Cổ Trung Hoa gọi là “truyền thừa”, đều thuộc về ư nghĩa lưu thông. Đời đời có truyền nhân thực hiện công tác hoằng truyền, xiển dương chánh pháp. Bộ kinh này là pháp khó tin, ngoại trừ Phật ra, ai là người có thể đảm nhiệm tốt đẹp hơn? Bởi thế, “duy Phật dữ Phật, năi năng cứu cánh chư pháp Thật Tướng, kham cộng lưu thông” (chỉ có Phật với Phật mới có thể rốt ráo Thật Tướng các pháp, mới có thể cùng nhau lưu thông). Chỉ có Như Lai Quả Địa, tức là thành Phật, mới có thể triệt để rốt ráo chứng đắc Thật Tướng của các pháp; v́ thế, đối với pháp môn khó tin này, chư Phật không hoài nghi, các Ngài lưu thông bằng cách nào? V́ hết thảy chúng sanh giảng kinh điển này, đó là lưu thông.

Từ câu này chúng ta phải hiểu: Tuyệt đối không phải Ngẫu Ích đại sư tự chế ra câu nói ấy mà Ngài có kinh điển để làm căn cứ. Quư vị thấy trong cả đoạn kinh văn dài như vậy, sáu phương Phật thật ra là mười phương, bản dịch kinh A Di Đà của ngài Huyền Trang ghi mười phương, La Thập đại sư dịch ư, tỉnh lược. Người Hoa thích đơn giản, không thích rườm rà, bởi thế, [ngài La Thập] tỉnh lược mười phương thành sáu phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, trên, dưới; c̣n th́ tỉnh lược Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc. Mười phương tam thế hết thảy chư Phật, không vị Phật nào chẳng giảng pháp môn này. Nói cách khác, khi Phật ứng hóa trong thế gian th́ vô lượng vô biên pháp môn chưa chắc đă giảng, mà phải giảng những kinh nào?

      Kinh Phật  được gọi là  Khế Kinh,  nguyên tắc  giảng kinh  nhất định

phải là khế hợp căn tánh của chúng sanh, khế hợp ḷng chúng sanh ưa thích, khế hợp tŕnh độ của chúng sanh, khế hợp thói quen sinh sống hiện tại của chúng sanh, bởi thế, gọi là Khế Kinh. Nếu không thích hợp tŕnh độ hoặc có chỗ nào không thích hợp, đức Phật sẽ không giảng. Giống như thầy dạy tṛ, thầy thực sự học vấn đầy ắp bụng, mời thầy dạy học tṛ tiểu học: “Được! Tôi cũng hoan hỷ dạy các bạn nhỏ”. Dạy các em nhỏ có phương pháp dạy tṛ nhỏ, dạy sao cho chúng hiểu được, tiếp nhận được, vui thích làm theo, phải có phương pháp dạy riêng. Dạy thanh thiếu niên, tuổi tác lớn rồi, mười mấy tuổi, hai mươi tuổi, người như thế nào có phương pháp dạy học dành cho giai đoạn ấy. V́ sao? Sức hiểu biết cao hơn; c̣n tuổi nhi đồng có sức ghi nhớ mạnh mẽ. Căn tánh như vậy đó, phải thích hợp căn tánh!

      V́ thế, quan trọng nhất khi dạy tiểu học là phải làm cho trẻ nhớ kỹ những đạo lư và giáo huấn của thánh hiền trong giai đoạn đó, đọc nhiều, thuộc kỹ, không cần phải giảng giải. Thầy nêu gương, làm gương có tác dụng rất lớn, tác dụng như thế nào? Khiến cho học tṛ khởi ḷng tin đối với thầy, hết sức quan trọng đấy nhé! Học sinh không hoài nghi thầy. Dạy học như vậy là dạy trong giai đoạn đầu tiên, gia trưởng (phụ huynh học sinh) và thầy hợp tác mật thiết khiến cho học sinh ghi vào ḷng, in vào mắt, nhớ kỹ trong tâm. Nói trắng ra, đó cũng là diễn tuồng, thầy và cha mẹ cùng diễn cho học tṛ xem tuồng.

      Lúc tôi lên sáu bảy tuổi đi học trường tư, tôi đă kể cùng quư vị rồi đó. Cha tôi mang lễ vật đến biếu thầy, xin cho tôi theo học. Vào trường (trường này là trường tư đặt trong từ đường của một người nọ), trước hết, đối trước bài vị của Khổng lăo phu tử (lúc ấy chưa có tranh vẽ, chỉ có bài vị của Khổng lăo phu tử), hành lễ theo cách cung kính nhất là quỳ lạy ba lần, dập đầu chín cái. Cha tôi lễ đằng trước, tôi ở đằng sau lễ theo, quỳ lạy ba lần, dập đầu chín cái. Lễ Khổng lăo phu tử xong, thỉnh thầy ngồi lên cao, hành đại lễ quỳ ba lần, dập đầu chín cái đối với thầy, hết sức kính lễ. Thầy tuổi chưa cao, xem chừng c̣n kém tuổi cha tôi, cha tôi hướng về thầy lễ ba lần, dập đầu chín cái, tôi ở đằng sau làm theo. V́ sao vậy? Để in vào mắt, ghi vào ḷng kẻ làm học tṛ, cha tôn kính đối với thầy như thế đó, bọn ta không được hoài nghi. Lời thầy giống hệt như thánh chỉ, không ngờ vực chi, đương nhiên không phản đối, thầy dạy làm sao, học theo làm vậy. Phụ huynh cung kính thầy như thế ấy, thầy không tích cực dạy học tṛ làm sao xứng với phụ huynh? Làm sao dám nh́n mặt học tṛ? Có cảm giác trách nhiệm mà! Không như nhà trường bây giờ, nhà trường hiện thời không c̣n quy cách như vậy nữa.

Nay toàn bộ xă hội hướng theo thương nghiệp hóa. Thầy dạy học để làm ǵ? V́ tiền lương, được trả lương giờ, v́ như vậy đó! Học sinh đi học để làm ǵ? Để kiếm văn bằng. Đạo nghĩa thầy tṛ không c̣n nữa, t́nh bè bạn giữa đồng học cũng không c̣n, không thể sánh bằng khi xưa được. Trước kia, mối quan hệ thầy tṛ đúng là “nhất nhật vi sư, chung sanh vi phụ” (một ngày là thầy, suốt đời là cha), thầy tṛ như cha con, đồng học không khác ǵ anh chị em ruột. Nay loại t́nh cảm ấy đă biến mất, quan hệ giữa người với người hiện tại là mối quan hệ lợi - hại, chứ đạo nghĩa và t́nh bạn không c̣n nữa. Nhân gian bi thương không ǵ hơn được nữa!

      V́ thế, kinh văn này cần phải có người thực sự hiểu thấu, thông đạt, không ngờ vực để lưu thông. Chư Phật lưu thông, chư Phật đều tán dương, không vị Phật nào chẳng hoan hỷ, không tán thán. Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật, chính là thay mặt mười phương ba đời hết thảy chư Phật cùng tán thán A Di Đà Phật, xưng tán Di Đà là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang minh cao quư nhất, vua trong các đức Phật)! Tán thán đến cùng cực. Nếu chúng ta lắng ḷng suy nghĩ, sẽ nhận rơ: Hết thảy chư Phật đều tán thán A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”; vậy th́ chúng ta học Phật, không học với A Di Đà Phật c̣n học với ai đây? “Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất” (Mười phương ba đời Phật, A Di Đà Phật bậc nhất). Nay chúng ta phải học với vị thầy bậc nhất, vị thầy bậc nhất ấy do chính Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta!

      Thích Ca Mâu Ni Phật giống như cha chúng ta, A Di Đà Phật là thầy. Cha đem con đến bái sư, giao con cho thầy; nếu chúng ta không tuân lời thầy dạy th́ chính là đại bất hiếu. Thế nhưng có rất nhiều kẻ t́nh chấp quá sâu, hết sức chấp trước, cứ khăng khăng nhất định phải theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ cũng niệm Phật, nhưng niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, không niệm A Di Đà Phật. V́ sao? Họ chưa từng đọc Phật Thuyết A Di Đà Kinh, hoặc là đọc rồi nhưng không hiểu. Nếu thực sự hiểu, sẽ không như thế, nhất định nghe lời Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật cầu sanh về Tịnh Độ, Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta như vậy.

      “Thử kinh điển vô thượng viên đốn pháp môn” (kinh này là pháp môn vô thượng viên đốn), kinh này viên đốn như các kinh Đại Thừa lẫn Nhất Thừa! Hoa Nghiêm là viên đốn, Pháp Hoa là viên đốn, Lăng Nghiêm là viên đốn, Tịnh Độ Tam Kinh ngoài viên đốn c̣n thêm hai chữ “vô thượng”! Không thể nói kinh Hoa Nghiêm là “vô thượng viên đốn”, v́ sao? Phía trên c̣n có kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà. V́ sao biết vậy? Quư vị thấy kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng là “mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc”, tức là quy về kinh Vô Lượng Thọ, quy về A Di Đà Phật. V́ thế, kinh này được gọi là pháp môn vô thượng viên đốn là như vậy đó.

      “Duy thuyên Phật chi cảnh giới” (chỉ nói về cảnh giới của chư Phật): Kinh này hoàn toàn nói đến cảnh giới thuộc Quả Địa Như Lai, chẳng phải cảnh giới Bồ Tát! “Cố viết duy Phật dữ Phật khả dữ lưu thông nhĩ” (Nên nói chỉ có Phật với Phật mới có thể lưu thông vậy). Chỉ có đức Phật [Thích Ca Mâu Ni] và chư Phật Như Lai mới đủ năng lực, đủ điều kiện để lưu thông bộ kinh này. Từ đây, chúng ta có thể khẳng định hết thảy chư Phật Như Lai giáo hóa chúng sanh đều phải diễn nói kinh này, hết thảy những kinh khác chưa chắc chư Phật đều nói, chỉ riêng ḿnh kinh này, hết thảy chư Phật không vị Phật nào chẳng nói, không vị Phật nào không khuyên người, không khuyên hết thảy chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, Phật Phật đạo đồng mà! Chúng ta phải hiểu rơ ràng, thấu suốt điều này.

      Lại xem tiếp phân đoạn thứ hai, Ngẫu Ích đại sư bảo: “Bất khả tư nghị, lược hữu ngũ ư” (Chẳng thể nghĩ bàn, nói đại lược có năm ư). Lược nói năm ư nghĩa của chữ “bất khả tư nghị” (chẳng thể nghĩ bàn), phải nói đại lược v́ nói măi cũng không hết!

      1) Thứ nhất là “hoành siêu tam giới, bất sĩ đoạn Hoặc” (vượt thoát tam giới theo chiều ngang, chẳng cần đợi đến lúc đoạn Hoặc). Đó là điều chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta biết: Muốn thoát khỏi tam giới lục đạo, ở phần trên tôi đă nói rồi, phải dần dần nâng cao lên mới ḥng vượt thoát, không phải là chuyện dễ dàng! Pháp môn này không cần! Vượt thoát theo chiều ngang, chứ không cần theo chiều dọc, vượt thoát ngay từ nhân đạo (loài người). Thụ xuất (vượt thoát tam giới theo chiều dọc) th́ phải đoạn Hoặc. Nếu chẳng đoạn Kiến Tư phiền năo, chắc chắn chẳng thể vượt khỏi tam giới lục đạo.

Đoạn Kiến Hoặc, quư vị thoát khỏi tam đồ, nhưng chưa thoát khỏi lục đạo, quư vị vĩnh viễn không đọa tam đồ; tức là trong lục đạo, quư vị vĩnh viễn chẳng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đoạn sạch Kiến Tư Hoặc mới thoát khỏi lục đạo luân hồi, vượt thoát cả ba thiện đạo. Phải đoạn được Tư Hoặc! Sau khi vượt thoát lục đạo, sanh trong Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và Phật pháp giới trong mười pháp giới. Trong cảnh giới ấy phải đoạn Trần Sa phiền năo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân th́ mới có thể thoát khỏi Tứ Thánh pháp giới. V́ thế, phải đoạn Hoặc!

      Nay trong pháp môn Tịnh Độ không cần đoạn Hoặc mà đới nghiệp văng sanh! Dẫu không đoạn Hoặc, nhưng cổ đại đức nói rất rơ là ta phải chế phục Hoặc nghiệp. “Hoặc” là tập khí phiền năo. Quư vị phải khuất phục được tập khí phiền năo, dẫu chưa đoạn Hoặc, nhưng trong cuộc sống thường ngày chẳng để cho chúng phát tác, phải có bản lănh ấy. Không có bản lănh ấy sẽ chẳng thể văng sanh, chẳng thể vượt ngang tam giới được! Phải có bản lănh! Bản lănh ǵ vậy? Trong kinh Phật dạy: Tŕ danh niệm Phật, chấp tŕ danh hiệu! Phải tốn thời gian bao lâu? Không dài lắm đâu! Quư vị thấy “hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc đến bảy ngày”. Đúng là dễ dàng quá, đơn giản quá! Người ta không tin: Há dễ dàng vậy ư? Đại pháp vô thượng viên đốn mà! Nếu không dễ dàng, đơn giản, ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng như thế, sao là pháp vô thượng viên đốn cho được?

      Ai có thể sanh về đó được? Ai tin là sanh về được, ai y giáo phụng hành là sanh về được. Ngẫu Ích đại sư giảng kinh này rất hay: “Được văng sanh hay không hoàn toàn cậy vào tín nguyện có hay không?” Quư vị có thực sự tin tưởng hay không, thực sự muốn ra đi hay không, quư vị có thể hội đủ điều kiện ấy hay không? Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị cao hay thấp là do công phu tŕ danh sâu hay cạn. Giống như trong thế gian này của chúng ta, lục đạo chúng sanh luân hồi xả thân thọ sanh, sẽ có hai sức mạnh:

a. Một là Dẫn Nghiệp dẫn dắt quư vị thọ sanh trong đường nào; như lần này ta được làm thân người là do Dẫn Nghiệp dẫn ta sanh vào thân người.

b. Trong một đời này, chúng ta gặp gỡ, chúng ta hưởng nhận những nỗi khổ niềm vui. Quả báo khổ hay sướng ấy gọi là Măn Nghiệp (“măn” là viên măn). Măn Nghiệp là quả báo của cả một đời, nhất định phải hứng chịu.

Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng có hai điều kiện, cũng có Dẫn Nghiệp tức là Tín Nguyện. Tín Nguyện hướng dẫn chúng ta sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong thế giới ấy có chín phẩm ba bậc trong bốn cơi, quư vị văng sanh vào phẩm vị nào giống như Măn Nghiệp, là do công phu niệm Phật sâu hay cạn. Công phu niệm Phật sâu, phẩm vị cao; công phu niệm Phật nông cạn, phẩm vị thấp kém. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị bất đồng, thọ dụng khác biệt. Bởi thế, chư vị hăy nghĩ đi: Tợ hồ có Dẫn Nghiệp và cũng có Măn Nghiệp. Tín - Nguyện - Hạnh: Tín Nguyện dẫn đường, Hạnh là phẩm vị cao hay thấp. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă giảng rất hay! V́ vậy, pháp môn này không cần đoạn Hoặc, một phẩm phiền năo chưa đoạn, chỉ cần chế ngự; việc chế ngự phiền năo phải được tu tập trong cuộc sống hằng ngày. Tu tập như thế nào? Tôi thường nói: “Thuận cảnh thiện duyên chẳng khởi tham luyến, không có tâm tham luyến; nghịch cảnh ác duyên không khởi sân khuể”. Phải rèn luyện trong cuộc sống thường ngày!

Mấy năm gần đây, tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện thuần thiện, thuần tịnh. Giảng kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo xong rồi, tôi vẫn cứ nói măi: “Tâm phải thuần tịnh, chẳng dung một phần bất tịnh xen tạp, hành vi phải thuần thiện, chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp!” Thuần tịnh thuần thiện là dùng một câu A Di Đà Phật, dùng phương pháp ấy khiến cho chúng ta trong một đời này tu thành thuần tịnh thuần thiện, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị sẽ cao! Đó là cái chúng ta có thể mang theo được, tất cả hết thảy pháp thế gian không một thứ ǵ có thể mang theo được! Những ǵ không mang theo được không thèm bận ḷng nữa, hết thảy tùy duyên! Những ǵ mang theo được phải nghiêm túc nỗ lực làm cho được. Tín - Nguyện - Hạnh mang theo được. Đó là bất khả tư nghị thứ nhất.

2) Bất khả tư nghị thứ hai, “tức Tây Phương hoành cụ tứ độ, phi do tiệm tấn” (tức là Tây Phương trọn đủ cả bốn cơi Tịnh Độ theo chiều ngang, chẳng do tiến lên dần dần). Thật chẳng thể nghĩ bàn! Các thế giới phương khác ngoại trừ thế giới Cực Lạc, không có thế giới nào giống như thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc đặc biệt quá. Hết thảy các cơi Phật khác đều có bốn cơi, thế giới của Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có bốn cơi, nhưng bốn cơi không ở cùng một chỗ, bốn cơi có cao - thấp. Phàm Thánh Đồng Cư Độ thấp nhất, Phương Tiện Hữu Dư Độ cao hơn. Trong thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật, lục đạo là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Tứ Thánh pháp giới là Phương Tiện Hữu Dư Độ, Nhất Chân pháp giới là Thật Báo Trang Nghiêm Độ, là Thường Tịch Quang Độ. Phật Thích Ca có bốn cơi, hết thảy chư Phật đều có bốn cơi, nhưng không bày theo hàng ngang. Tây Phương Cực Lạc thế giới khác hẳn, “hoành cụ tứ độ” (trọn đủ bốn cơi theo chiều ngang). Thế giới ấy có bốn cơi, bốn cơi b́nh đẳng, bốn cơi cùng ở một chỗ.

“Phi do tiệm tấn” (chẳng do tiến dần dần), chẳng giống như chỗ chúng ta, phải đoạn Kiến Tư phiền năo rồi mới có thể dự vào Phương Tiện Hữu Dư Độ. Đoạn sạch Trần Sa phiền năo, phá một phẩm vô minh, quư vị mới sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Đó là tu hành tiệm tấn cao dần lên, không thể đạt ngay được. Tây Phương Cực Lạc thế giới là đạt được ngay; bởi vậy, sanh vào cơi Đồng Cư sẽ đồng thời sanh vào Phương Tiện Hữu Dư, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm, sanh vào cơi Tịch Quang; một chính là bốn, bốn nhưng mà một; chẳng thể nghĩ bàn! Chỉ có Tây Phương Cực Lạc thế giới là như thế, bốn cơi ở cùng một chỗ. Các vị Bồ Tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ! Chúng ta văng sanh, Kiến Tư phiền năo chưa đoạn, sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, ngày ngày chúng ta nghiễm nhiên ở cùng một chỗ với các vị Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, đúng là pháp khó tin! Ta là phàm phu, sao ở cùng một chỗ với thánh nhân cho được? Lại là đại thánh, chứ không phải tiểu thánh, chẳng phải bậc thánh nhân tầm thường đâu nhé!

3) Điều thứ ba là “đản tŕ danh hiệu, bất giả Thiền Quán chư phương tiện” (chỉ tŕ danh hiệu, chẳng nhọc công dùng đến các phương tiện Thiền Quán). Quư vị thấy đó, thuận tiện quá đi! Phương pháp quá đơn giản, quá dễ dàng: Chỉ cần chấp tŕ danh hiệu, suốt ngày từ sáng đến tối trong mười hai thời một câu A Di Đà Phật chẳng gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát dạy chúng ta “không hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp”; không hoài nghi, không xen tạp là tịnh niệm, không gián đoạn là tiếp nối, tịnh niệm tiếp nối vậy! Điều này làm được, ai cũng có thể làm được, chỉ sợ quư vị không chịu làm th́ không c̣n có cách ǵ hết. Nếu quư vị chịu làm, không một ai chẳng làm được. Đó là sự chẳng thể nghĩ bàn thứ ba, “đản tŕ danh hiệu, bất giả Thiền Quán chư phương tiện” (chỉ tŕ danh hiệu, chẳng nhọc công dùng đến các phương tiện Thiền Quán). Không cần phải tham cứu, cũng chẳng cần dùng đến các pháp môn khác hỗ trợ, chỉ một câu Phật hiệu niệm đến cùng tột là được rồi.

4) Sự bất khả tư nghị thứ tư “nhất thất vi kỳ, bất tạ đa kiếp, đa sanh, đa niên nguyệt” (lấy một thất làm kỳ hạn, không cần mất nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm tháng). Quư vị thấy đó: Pháp môn này hết sức nhanh chóng như vậy, một thất là bảy ngày; kinh nói từ một ngày đến bảy ngày. Chẳng giống như các pháp môn khác, đức Phật thường dạy phải tu vô lượng kiếp, phải tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp, cần thời gian rất dài, nhiều đời, nhiều kiếp, rất nhiều năm tháng! Pháp môn này bảy ngày thành công. Bảy ngày tu thành công là chuyện thực sự có, từ xưa đến nay quả thật đă có ghi chép, bảy ngày thực sự có thể thành công. Nếu nói pháp môn này đúng là bảy ngày bèn văng sanh th́ không những pháp môn này là pháp khó tin mà c̣n biến thành một pháp môn rất đáng sợ. V́ sao? Bảy ngày bèn phải chết rồi! Ai dám tu pháp môn này nữa! Hết thảy chúng sanh trong lục đạo có kẻ nào không tham sống sợ chết? Nói cách khác, người không sợ chết mới tu được pháp môn này, kẻ tham sống sợ chết sẽ chẳng dám tu.

Không ít đồng học chúng ta thường tham gia đả thất, vẫn có người phát tâm đả tinh tấn Phật thất, rất tốt, hiếm có! Đả trọn bảy ngày, đả trọn một trăm lần bảy ngày vẫn chưa văng sanh là v́ nguyên nhân nào vậy? Làm chưa giống như kinh dạy. Kinh dạy bảy ngày thành công, nay chúng ta niệm hết bảy mươi ngày, bảy trăm ngày vẫn chưa thành công là v́ nguyên nhân ǵ? Là v́ chính ḿnh tu chưa đúng lư, không đúng pháp; nếu đúng lư đúng pháp, không ai chẳng thành công. Bởi thế, dù quư vị niệm Phật đă lâu, A Di Đà Phật chẳng đến tiếp dẫn quư vị.

A Di Đà thấy rơ quư vị không muốn văng sanh nên Ngài không đến tiếp dẫn kẻo quư vị sợ điếng người. A Di Đà Phật rất từ bi, không dọa dẫm người khác, đợi đến khi quư vị thực sự muốn văng sanh, Ngài bèn đến; lúc lâm chung quư vị có nguyện vọng khẩn thiết, Ngài bèn đến. Quư vị không có nguyện vọng khẩn thiết, đối với Cực Lạc chẳng mười phần quy hướng, khẩn thiết mong cầu, Ngài cũng không đến. V́ sao? V́ chẳng tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật. Ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh thiếu một điều không được; v́ thế, chúng ta phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng được xem thường nguyện. Phải nguyện như thế nào? Trong bản Pháp Sự này, thiền sư Trung Phong đă giảng rất rơ, nhất định phải lấy bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật làm bổn nguyện của chính ḿnh; khi giảng đến phần sau chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết cùng quư vị. Bởi lẽ tâm chúng ta không giống với tâm của A Di Đà Phật, nguyện chẳng giống với nguyện A Di Đà Phật, nên chẳng thể văng sanh! Phải đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh th́ mới chắc chắn văng sanh, chớ nên coi thường!

5) Điều bất khả tư nghị thứ năm là “tŕ nhất Phật danh, tức vị chư Phật hộ niệm, bất dị tŕ nhất thiết Phật danh” (tŕ một danh hiệu Phật liền được chư Phật hộ niệm, không khác ǵ tŕ hết thảy danh hiệu). Đạo lư này quá sức sâu xa! Chúng ta b́nh thường niệm Phật là niệm A Di Đà Phật, là niệm danh hiệu của một vị Phật, đâu biết danh hiệu ấy là danh hiệu chung của hết thảy chư Phật, niệm một danh hiệu này chính là niệm trọn tất cả hết thảy chư Phật. V́ thế, trong đoạn này, tổ sư giảng rất rơ ràng: Quư vị niệm A Di Đà Phật sẽ được hết thảy chư Phật hộ niệm; người Hoa thường nói “hết thảy chư Phật đều bảo hựu ḿnh”, ta niệm Phật, Phật cũng niệm ta. Tŕ danh hiệu của một đức Phật giống như tŕ danh hiệu của hết thảy chư Phật, v́ sao? Quư vị phải chú tâm xem xét đoạn kinh văn này mới ḥng hiểu rơ được. Hết thảy chư Phật không một vị Phật nào chẳng niệm A Di Đà Phật, nay ta cũng niệm A Di Đà Phật chính là đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh với hết thảy chư Phật, lẽ đương nhiên cảm được hết thảy chư Phật hộ niệm!

Niệm Phật không linh, gặp phải ma chướng, Phật hiệu không niệm được, chẳng biết làm sao ư? V́ nguyên nhân ǵ? Đều là do chẳng chết ḷng sát đất tin, nguyện, hành đối với A Di Đà Phật. Nếu thực sự tâm, nguyện, đức, hạnh giống với A Di Đà Phật th́ hết thảy chư Phật đều hộ niệm quư vị, hết thảy oán thân trái chủ, yêu ma quỷ quái đều tôn kính, bội phục, ủng hộ quư vị, lẽ đâu làm hại quư vị? Chúng ta phải suy nghĩ đạo lư ấy cho nhiều mới thông suốt được. A! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp tiểu đoạn thứ ba: “Tự tha bất khả tư nghị” (Ta và người chẳng thể nghĩ bàn). Ngẫu Ích đại sư nói: “Hành nhân tín nguyện tŕ danh”, hành nhân là những ai y giáo phụng hành, đầy đủ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, nhất tâm tŕ danh, hội đủ những điều kiện ấy. “Toàn nhiếp Phật công đức thành tự công đức” (Nhiếp hoàn toàn công đức của Phật thành công đức của chính ḿnh), [tức là] đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính ḿnh. V́ thế, học Phật quan trọng nhất là học chuyển được cảnh giới, biến hoàn cảnh bất thiện thành hoàn cảnh thiện, phải chuyển từ nơi đâu? Chuyển từ nơi khởi tâm động niệm của chính ḿnh, phải bắt đầu từ ư niệm. Ư niệm chẳng thiện phải lập tức biết ngay, nhà Phật gọi sự nhận biết ngay ấy là “giác ngộ”.

Khi giảng pháp, chúng tôi thường nói: “Giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm”. Niệm niệm phải giác, ư niệm vừa khởi lên liền lập tức nhận biết, quan sát. Nếu ư niệm ấy chẳng lành, chẳng chánh, chẳng tịnh, lập tức chuyển ngay, chuyển thành thuần thiện, thuần chánh, thuần tịnh, phải chuyển cho lẹ! Cách chuyển như thế nào? Dùng một câu A Di Đà Phật thuần giác, thuần chánh, thuần tịnh, giác - chánh - tịnh viên măn rốt ráo. Vừa khởi ư niệm, quyết chẳng để bất giác, bất chánh, bất tịnh xen tạp, phải chuyển cho lẹ! Nếu quư vị chuyển được, bèn có  thể chuyển  Sa Bà  thành  Cực Lạc,  chuyển  phàm  ngă  (cái ngă

phàm phu) thành A Di Đà Phật, rất giống với A Di Đà Phật.

Lúc tôi giảng kinh đă nói rất nhiều lần, nếu như chính ḿnh có thể thực hiện toàn bộ bản kinh Vô Lượng Thọ, biến bộ kinh ấy thành tư tưởng, kiến giải, và ngôn hạnh của chính ḿnh th́ chẳng phải là quư vị biến thành A Di Đà Phật hay sao? Quư vị không là A Di Đà Phật, c̣n ai là A Di Đà Phật nữa! Đó gọi là “chuyển phàm thành thánh”. Tâm - nguyện - giải - hạnh của quư vị hoàn toàn tương ứng với A Di Đà Phật, quư vị không đến được thế giới Cực Lạc c̣n ai đến nữa đây? Lại thưa thật cùng quư vị, chỗ quư vị đang ở chính là thế giới Cực Lạc, cảnh chuyển theo tâm! Nếu tâm quư vị là tâm Phật, cảnh giới quư vị đang ở sao không phải là cảnh Phật? Như vậy, chính nội tâm chúng ta chuyển tạp nhiễm thành thanh tịnh, chuyển tà tri tà kiến thành chánh tri chánh kiến, chuyển mê hoặc điên đảo thành chánh giác chẳng loạn. Người học Phật quư ở chỗ chuyển được, chư Phật Như Lai đều chuyển chính ḿnh thành A Di Đà Phật, khiến cho chính ḿnh và A Di Đà Phật dung hợp thành một Thể, cùng pháp giới hư không dung hợp thành một Thể; đấy chính là chuyển biến viên măn rốt ráo, chẳng thể nghĩ bàn!

“Hạ kinh vân” (Trong phần sau, kinh nói): Đây chính là trong đoạn cuối cùng của kinh này có nói “chư Phật bất khả tư nghị công đức, ngă bất khả tư nghị công đức” (công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta); tức là đoạn kinh sau đây: “Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả, tán thán chư Phật bất khả tư nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngă bất khả tư công đức” (Này Xá Lợi Phất! Như ta nay xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, các vị Phật ấy cũng xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta); ở đây, sách Yếu Giải trích dẫn câu kinh này. “Tắc chư Phật Thích Ca, giai dĩ A Di Đà Phật vi tự dă” (như vậy, chư Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà Phật làm chính ḿnh). Chư Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà Phật làm chính ḿnh, chính ḿnh là hóa thân của A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là bổn thân của ta, ta là hóa thân của A Di Đà Phật, hóa thân và bổn thân là một, chứ không phải hai. Chư Phật Như Lai chuyển thành cảnh giới ấy, chúng ta có làm được chăng? Được chứ! Câu trả lời là khẳng định. Vấn đề là quư vị có chuyển hay không, có chịu chuyển hay không, có bằng ḷng chuyển hay không. Nếu quư vị muốn chuyển, chịu chuyển, lẽ đâu chẳng thể chuyển được!

Chúng ta tu Tịnh Độ, tu Tịnh Độ là học theo A Di Đà Phật, chúng ta phải học cho giống. Giống với A Di Đà Phật là trúng, học chẳng giống là trật. Phải nghiêm túc, phải nỗ lực! A Di Đà Phật đại từ đại bi, bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng đều là muốn cứu độ chúng sanh khổ nạn khắp pháp giới hư không giới, nhưng v́ bi tâm triệt để, giúp cho chúng sanh văng sanh Tịnh Độ viên thành Phật đạo ngay trong một đời hiện tại này, chẳng cần mất nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm tháng. Vậy th́ sao không dạy cho họ được sớm thành tựu hơn một chút, thành tựu nhanh chóng hơn một chút? Chẳng phải là phụ bạc chúng sanh ư? Đức Thế Tôn dạy rất nhiều pháp môn, v́ sao nói nhiều đến thế? Đó là v́ chúng sanh chẳng thể tiếp nhận pháp môn này!

Quư vị phải hiểu: Đây là pháp môn vô thượng viên đốn, chẳng phải là một pháp môn b́nh thường, những ai không có căn tánh, không có thiện căn, phước đức, nhân duyên, đức Phật không nói! Đức Phật luôn thuyết pháp thích ứng với căn cơ. Đức Phật rất từ bi, nhưng không ép buộc kẻ khác, dạy học mà ép buộc là không xong, nhất định phải đợi đến khi chính kẻ ấy giác ngộ, chính kẻ ấy muốn học, khi đó duyên chín muồi. Nếu người ta không biết, bản thân họ chẳng khởi ư niệm muốn học, tức là duyên vẫn chưa chín muồi. Chẳng thể không hiểu điều này! Cũng có nghĩa là chúng ta đọc xong phải nên học tập, Ngẫu Ích đại sư giúp chúng ta rất lớn, Ngài khai thị, chỉ dẫn chúng ta.

Trong đoạn tiếp theo đó, chúng ta bước vào kinh văn “lục phương hằng sa chư Phật tán kinh khuyến tín” (sáu phương hằng sa chư Phật tán thán, khuyên tin tưởng kinh này), lẽ tự nhiên kinh văn được chia thành sáu đoạn. Sáu đoạn kinh văn này ư nghĩa hết sức rơ ràng, mỗi một đoạn nêu đại lược vài danh hiệu, “lược cử danh hiệu sở biểu tu nhân chứng quả chi sự, bất khả tư nghị dă” (nêu đại lược danh hiệu để biểu thị sự việc tu nhân chứng quả chẳng thể nghĩ bàn). Tuy chỉ nêu đại lược danh hiệu, nhưng nêu tên năm vị, sáu vị, bảy vị cho đến mười vị đều có ư nghĩa, đều chẳng phải là nêu tên tùy tiện. Danh hiệu đều nhằm biểu thị pháp nghĩa, những bản chú giải kinh Di Đà xưa nay không giảng rơ, quả thật những danh hiệu ấy mang ư nghĩa biểu thị pháp, chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm mới hiểu rơ. Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đầu tiên đức Thế Tôn giảng sau khi thị hiện thành đạo. Trong bộ kinh được giảng đầu tiên này, tất cả hết thảy danh hiệu đều nhằm biểu thị pháp. Nói cách khác, hết thảy pháp đức Phật đă giảng trong suốt bốn mươi chín năm không danh hiệu nào chẳng biểu thị pháp!

 Đọc phẩm Danh Hiệu [của kinh Hoa Nghiêm], chúng tôi thấy chẳng những danh hiệu của Phật, Bồ Tát biểu thị pháp, mà danh hiệu của hết thảy chúng sanh, tức danh hiệu của hết thảy chúng sanh khắp pháp giới hư không giới được nhắc đến trong kinh đều là biểu thị pháp, đều là danh hiệu Phật. Đây mới thực sự là chẳng thể nghĩ bàn, mới thực sự là giảng đến viên măn rốt ráo. Đối với câu nói: “Phật thị môn trung, bất xả nhất pháp” (Trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một pháp). Nếu chúng tôi không đọc phẩm Danh Hiệu th́ chỉ hiểu câu nói ấy lờ mờ qua quít, chẳng thể hiểu rơ ư nghĩa thực sự. Kệ Khai kinh nói: “Nguyện hiểu Như Lai chân thật nghĩa” (Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai), há nói dễ dàng sao!

Tiếp theo đây, chúng tôi chia phần này thành mấy tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất là câu tŕnh bày tổng quát, Đông phương Hằng hà sa số chư Phật, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương trên, phương dưới là sáu phương. “Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn, nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (Trong mỗi một nước, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin tưởng kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”). Đó là câu nói chung trong [phần kinh văn nêu lên sự tán thán của] chư Phật trong sáu phương. Chúng ta biết ở mỗi phương, trong mỗi một tam thiên đại thiên thế giới có một đức Phật, đó là tối thiểu! Cũng có những đức Phật giáo hóa hai đại thiên thế giới, ba đại thiên thế giới, thậm chí mười đại thiên thế giới, hai mươi đại thiên thế giới; tối thiểu là giáo hóa một đại thiên thế giới. Phật nhiều như số cát trong sông Hằng, không cách ǵ tính đếm được, như vậy ta biết số thế giới cũng nhiều như cát sông Hằng. Chư Phật Như Lai không thể đếm hết. Đông, Nam, Tây, Bắc là dựa trên thế giới Sa Bà của chúng ta để nói, tức là phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương trên, phương dưới của thế giới Sa Bà! Lúc đức Thế Tôn tại thế c̣n nói phương Đông Bắc, phương Đông Nam, phương Tây Bắc, phương Tây Nam, [gọi chung là] mười phương. Ở phần trên, chúng tôi đă thưa cùng quư vị, La Thập đại sư dịch kinh đă tỉnh lược, chỉ nói sáu phương là đủ rồi.

Mỗi một đức Phật trong số ấy đều nói, không vị Phật nào chẳng giảng kinh này, bởi thế, kinh này là pháp môn được hết thảy chư Phật cùng nhau hoằng dương. Không một đức Phật nào chẳng khuyên con người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị hăy nghĩ xem pháp môn này như thế nào? Thực sự là chẳng thể nghĩ bàn! Lưỡi rộng dài là một trong ba mươi hai tướng, trong kinh Phật đă dạy: “Ai ba đời không nói láo (phải tu suốt ba đời, cả ba đời đều không vọng ngữ), đầu lưỡi thè ra có thể chạm đến chót mũi”, ba đời không vọng ngữ đấy nhé! Như vậy, tướng hảo là quả báo, đều là có nhân. Không có nhân sẽ chẳng thể có tướng hảo như vậy. Thích Ca Mâu Ni Phật le lưỡi có thể che hết cả mặt, dùng điều đó để chứng tỏ ḿnh nói lời thành thật, v́ sao? Ba đời không nói dối có thể liếm đến chót mũi; lưỡi Phật che kín mặt, chứng tỏ Ngài đời đời kiếp kiếp không nói dối cho nên lời Ngài nói được người khác tin tưởng.

Nay đức Phật hiện tướng lưỡi rộng dài chẳng thể nghĩ bàn, “biến phú tam thiên đại thiên thế giới” (che khắp tam thiên đại thiên thế giới), không phải lưỡi thè ra che khắp mặt mà là che khắp trọn vẹn tam thiên đại thiên thế giới; đấy là Tánh Đức, thực sự chẳng thể nghĩ bàn. “Thuyết thành thực ngôn” (nói lời thành thật): Trước hết, nêu ra chứng cứ thành thật, anh nói anh thành thật, vậy chứng cứ ở đâu? Lưỡi rộng dài là chứng cứ đấy; thực sự có cái tướng ấy hay chăng? Thực sự có! Thân tướng đó là thân ǵ vậy? Báo Thân Phật, Pháp Thân Như Lai! Chẳng giả tí nào! Pháp Tánh Thân mà! Trí Huệ Thân mà! Hiện thần thông chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu khôn sánh, hy hữu khó được!

Đức Phật v́ chúng ta nói lời thành thật, lời thành thực ǵ vậy? “Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị” (Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh này), khuyên mọi người hăy nên tin tưởng vào bộ kinh này, kinh này là kinh ǵ? “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn được hết thảy chư Phật hộ niệm), đó chính là tên kinh này. Lúc La Thập đại sư dịch kinh, đă không dùng tên gốc của kinh mà dùng danh hiệu Di Đà làm tên kinh, dụng ư rất sâu, v́ lẽ ǵ? Đọc đến tên kinh này là đă niệm một câu Phật hiệu, phương pháp tu hành trong kinh này là chấp tŕ danh hiệu; nên dùng danh hiệu làm tên kinh, dụng ư hết sức hay! Đấy chính là huệ nhăn, bi tâm của Tổ Sư; người khác trông thấy kinh điển này, đọc đến tên kinh chính là niệm một tiếng Phật hiệu. Tên gốc của kinh này do chính đức Thế Tôn đă nói và chư Phật cùng nói là Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.

Tên kinh chẳng thể nghĩ bàn! Từ tựa đề kinh, chúng ta thấy kinh này là công đức chẳng thể nghĩ bàn. Do ai nói? Do hết thảy chư Phật khen ngợi, chẳng riêng ḿnh đức Phật Thích Ca, mà hết thảy chư Phật đều khen ngợi; kinh này được hết thảy chư Phật hộ niệm. Nói cách khác, quư vị phải chân chánh phát nguyện, thâm nhập một môn, trường thời huân tu th́ quư vị sẽ được hết thảy chư Phật khen ngợi, được hết thảy chư Phật hộ niệm. Từ kinh này chúng ta thấy một sự thực đă được chứng tỏ: Sáu phương chư Phật đều nói như thế. Bởi vậy, vào thời Càn Long nhà Thanh xưa kia, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh khi chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật đă nói: “Hết thảy chúng sanh nếu có nghiệp chướng cực nặng, tất cả kinh, luật, luận, sám nghi không tiêu diệt được nghiệp chướng ấy, không có cách ǵ tiêu diệt được nghiệp chướng sâu nặng th́ rốt cuộc vẫn c̣n có một phương pháp: Niệm A Di Đà Phật [nghiệp chướng] bèn tiêu”. Quư vị có tin được hay không? Quư vị không tin chứ tôi tin. Lời Tổ Sư nói không sai, v́ sao nói niệm A Di Đà Phật tiêu được nghiệp chướng? Người niệm A Di Đà Phật được hết thảy chư Phật hộ niệm, được hết thảy chư Phật tán thán, lẽ đâu không tiêu? Đấy chẳng phải là sức của một đức Phật, mà thực sự là sức của tất cả hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời gia tŕ. Niệm bản kinh này cũng giống như vậy. Niệm bản kinh này, niệm một câu A Di Đà Phật, hết thảy chư Phật đều hộ niệm quư vị! Quư vị đừng quên nhé!

Nay quư vị niệm Phật chẳng đạt được hiệu quả to lớn như vậy là do nguyên nhân nào? Do quư vị không hiểu đạo lư, dẫu niệm Phật, nhưng tâm chẳng tương ứng với hết thảy chư Phật; hết thảy chư Phật gia tŕ, hộ niệm, tán thán quư vị, nhưng chính quư vị không có cách ǵ tiếp nhận được. Giống như hết thảy chư Phật phát ra làn sóng điện, máy nhận sóng của chúng ta đă hư, không thâu được, đúng như vậy đó! V́ sao không thâu được? Tâm chúng ta không thanh tịnh, vọng tưởng, tạp niệm quá nhiều, cũng giống như chúng tôi thường nói: Tâm quư vị không giống tâm của A Di Đà Phật, nguyện cũng không giống, ngôn ngữ, hành vi cũng không giống, bởi thế, thâu không được. Không phải Phật chẳng hộ niệm ḿnh, không gia tŕ ḿnh, Phật rất từ bi, rất b́nh đẳng gia tŕ hộ niệm, nhưng có người tiếp thâu được, có kẻ không tiếp thâu được. Kẻ tiếp thâu được là tâm - nguyện - giải - hạnh đồng Phật, không tiếp thâu được là do tâm - nguyện - giải - hạnh khác với Phật, quư vị tiếp thâu không được. Đạo lư là như vậy.

Phương Đông liệt kê đức hiệu của năm vị Phật: “Lược cử ngũ Phật danh, biểu pháp môn tu học căn bản” (Nêu đại lược danh hiệu của năm vị Phật để biểu thị căn bản tu học của pháp môn). Trong Ngũ Hành, phương Đông tượng trưng cho sanh thành. Đem Xuân - Hạ - Thu - Đông phối hợp với bốn phương: Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông ẩn; v́ vậy, phương Đông biểu thị căn bản tu học. Chúng ta muốn tu Tịnh Độ phải hội đủ những điều kiện nào? Căn bản của mọi căn bản là “tín tâm”. Bởi vậy, trong các kinh to luận lớn, đức Phật thường nói: “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn” (Tín là nguồn đạo, mẹ công đức; nuôi lớn hết thảy các căn lành). Tín tâm hết sức quan trọng, bởi thế, đức Phật đầu tiên là A Súc Bệ Phật. Nếu dịch nghĩa chữ A Súc Bệ (Aksobhya) th́ A Súc Bệ có nghĩa là Bất Động. Người thường nghe kinh, đọc kinh đều biết chữ A trong tiếng Phạn dịch là Vô. Quư vị thấy chữ A Di Đà, A là Vô, Di Đà là Lượng, Phật là Giác. V́ thế, nếu dịch trên mặt danh nghĩa, A Di Đà Phật là Vô Lượng Giác. Phật cũng có nghĩa là trí huệ, [A Di Đà Phật là] Vô Lượng Trí, Vô Lượng Giác. Ở đây, A là Vô, Súc Bệ là Động, tức Vô Động; người Hoa quen nói là Bất Động. Phật dịch là Giác, [A Súc Bệ Phật] là Bất Động Giác.

Tiếp theo đây, chúng ta hăy chú tâm lănh hội ư nghĩa của danh hiệu Phật. [Tổ Ngẫu Ích giảng]: “Bất vị bát phong sở động” (Chẳng bị tám thứ gió thổi động). “Bát phong” (tám thứ gió) chính là pháp thế gian: danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, chẳng bị gió cảnh giới lay động! Đối với pháp thế gian, tâm quư vị không động; rồi th́ trong đối với Phật pháp, tâm cũng không động: “Bất vị tha pháp môn sở động” (Chẳng bị các pháp môn khác lay động). Pháp thế gian hay xuất thế gian đều chẳng động tâm, không dao động, nhất tâm nhất ư tuyển chọn pháp môn này, cả một đời cũng không thay đổi. “Ta học pháp môn này đến rốt ráo, thành tựu viên măn pháp môn này”. Bởi thế, đây là căn bản của mọi căn bản. Nếu vừa tiếp xúc pháp thế gian hay Phật pháp bèn bị dao động th́ khó lắm! Chính ḿnh phải tỉnh giác cao độ, bị dao động bởi pháp thế gian sẽ chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo, dao động bởi Phật pháp chắc chắn sẽ chẳng thể thâm nhập một môn! Nói cách khác, bị gió cảnh giới trong pháp thế gian lay động, tâm quư vị bèn dao động, sẽ vẫn phải tiếp tục luân hồi sanh tử; đối với pháp môn trong Phật pháp mà bị lay động th́ bất luận tu một pháp môn nào, chắc chắn cũng chẳng thể đạt “công phu thành phiến”.

Chính ḿnh phải tự suy nghĩ, thường xuyên phản tỉnh, v́ sao học Phật nhiều năm dường ấy mà chẳng thể thành tựu? V́ căn bản của quư vị bị dao động. Nói lên điều ǵ? Quư vị không có tín tâm, chẳng có trí huệ, chẳng có công phu định lực, chẳng có ḷng tin vào bản thân, không có ḷng tin nơi pháp môn, tâm không tin thầy. Do vậy, tâm quư vị thô phù, xáo động, luôn luôn động, làm sao mà có thể thành tựu cho được? Quư vị thấy đó, đức Phật thứ nhất đă đem nguyên tắc chung, tức là nguyên lư và nguyên tắc mấu chốt của việc thành bại dạy cho quư vị đấy.

Tiếp đó, chúng tôi nêu thí dụ sau đây: “Như Hoa Nghiêm Thiện Tài ngũ thập tam tham, tham tham luyến đức lễ từ, bất vị sở động” (Như năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài trong Hoa Nghiêm, mỗi phen tham học đều luyến mộ đức hạnh [của thiện tri thức], lễ bái từ tạ, chẳng bị lay động). Trong hội Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đă nêu gương tu học cho chúng ta. Làm gương như thế này: Đối với chính ḿnh phải có tín tâm, đối với thầy phải có tín tâm, đối với pháp môn có tín tâm, trọn chẳng bị ngoại cảnh lay động, nên Ngài thành công. Ngài tham học năm mươi ba lần, sau khi tham phỏng, luyến mộ đức hạnh của vị thiện tri thức, lễ bái từ tạ, nhưng chẳng bị lay động. Luyến mộ đức hạnh là đối với pháp môn của vị thiện tri thức đó tu học bèn hoan hỷ, lễ bái từ tạ là ư ǵ? Tôi không học pháp môn của Ngài, nhưng tôi hoàn toàn hiểu rơ pháp môn của Ngài. Hiểu rơ là trí huệ, tức Hậu Đắc Trí! Pháp thế gian, pháp xuất thế gian, không pháp nào chẳng hiểu rơ! Lễ bái từ tạ nhằm ư ǵ? Lễ để cảm tạ, từ tạ là không học. Tôi vẫn niệm A Di Đà Phật của tôi, tuyệt đối chẳng bị lay động. Hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều tiếp xúc, nhưng chẳng bị lay động, như như bất động. Đó là Niệm Phật tam-muội thành tựu! Tiếp xúc hết thảy đều hiểu rơ th́ là trí huệ viên măn, chứ không phải là chẳng tiếp xúc, không tiếp xúc th́ điều ǵ cũng chẳng biết v́ chưa từng khảo nghiệm qua, tiếp xúc chính là thông qua khảo nghiệm.

Tôi đă nhiều lần giới thiệu cùng quư vị năm mươi ba lần tham học ấy rồi, năm mươi ba vị thiện tri thức ấy nam, nữ, già, trẻ, các ngành, các nghề, những ǵ chúng ta tiếp xúc từ sáng đến tối đều là năm mươi ba lần tham học. Quư vị phải học sao cho giống hệt như Thiện Tài đồng tử. Quư vị không học sẽ thành ra “ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ!” Nơi hoàn cảnh, từ sáng đến tối chúng ta gặp rất nhiều trai, gái, già, trẻ, các nghề nghiệp, người thiện, kẻ ác, thuận cảnh, nghịch cảnh, tiếp xúc toàn bộ, tâm chúng ta bị cảnh giới chuyển hay cảnh giới bị ta chuyển, công phu ở chỗ này. Đức hạnh của Thiện Tài đồng tử là có thể chuyển cảnh giới, chẳng bị cảnh giới chuyển. Bởi thế, Ngài thành công, một đời chứng đắc vô thượng Bồ Đề!

Sở dĩ chúng ta thất bại hoàn toàn là v́ bị cảnh giới xoay chuyển, chẳng thể thành tựu trí huệ nơi cảnh giới. Thành tựu trí huệ là thông đạt, hiểu rơ; thành tựu Thiền Định là như như bất động, chúng ta không thể thành tựu điều này cho nên hoàn toàn thất bại. Thiện Tài đồng tử có thể thành công viên măn v́ Ngài hoàn toàn khác với chúng ta. Sáu căn của Ngài tiếp xúc cảnh giới sáu trần, thành tựu trí huệ rốt ráo viên măn và Thiền Định rốt ráo viên măn. Ngài tu Niệm Phật tam-muội, trong kinh này gọi [Niệm Phật tam-muội] là “nhất tâm bất loạn”. Thiện Tài chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn. Chứng ở chỗ nào? Chứng ngay từ nơi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Chúng ta phải học, phải hiểu [như thế] nhé!

Ngài có thể “luyến đức, lễ từ, bất vị sở động, thành tựu tự tha công đức trang nghiêm, thị thử pháp môn tu học chi đại bổn dă” (luyến mộ đức, lễ bái từ tạ, chẳng bị lay động, thành tựu công đức trang nghiêm cho ḿnh lẫn người, đó chính là cái gốc lớn lao của việc tu học pháp môn này). A Súc Bệ Phật biểu thị ư nghĩa như vậy. Ở đây, danh hiệu đức Phật nhằm dạy chúng ta, chứ không phải để niệm xuông. Thế nào là “thành tựu tự - tha công đức?” Thành tựu chính ḿnh là thành tựu người khác, tự và tha là một, không hai. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, thành tựu công đức chính ḿnh là ǵ vậy? Đối với cảnh giới, hiểu rơ ràng, thấu suốt, thành tựu trí huệ của chính ḿnh, tức Hậu Đắc Trí, đó là công đức. Chẳng bị cảnh giới lay động là thành tựu tam-muội cho chính ḿnh, đó là công đức.

V́ thế, người biết tu hành, trí huệ, tam-muội ngày càng tăng trưởng, chẳng sanh phiền năo. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần chỉ sanh trí huệ, chỉ sanh tam-muội, quyết định chẳng sanh phiền năo. Bởi thế, tôi thường nói người thực sự tu hành sống giống như Phật, Bồ Tát, đúng là ĺa khổ được vui, khoái lạc khôn sánh! Trung Phong quốc sư nói rất hay: “Thử xứ tựu thị Cực Lạc, Cực Lạc tựu thị thử xứ. Ngă tâm tựu thị Di Đà, Di Đà tựu thị ngă tâm” (chốn này chính là Cực Lạc, Cực Lạc chính là chốn này, tâm ta là Di Đà, Di Đà là tâm ta), quư vị thấy cảnh giới ấy là cảnh giới nào vậy? Hai câu ấy người tầm thường không thể nói được đâu. Đúng là nếu không phải thực sự là bậc từng trải sẽ chẳng thể nói nổi những lời ấy. Nếu quư vị nói được như vậy, quư vị phải là người từng trải.

Năm vị Phật ở phương Đông, ba trong số năm vị ấy chính là những mục tiêu người học Phật chúng ta luôn mong hướng đến. Chúng ta học Phật để làm ǵ? V́ muốn thành Phật. Phật là như thế nào? Kinh nói Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Hóa Thân. Muốn thành Phật th́ không có ǵ khác cả, chỉ là chứng đắc, viên ngộ tam thân của chính ḿnh mà thôi! Trong kinh đức Phật thường dùng núi Tu Di để biểu thị Pháp Thân, biểu thị Lư Thể; v́ vậy, đức Phật thứ hai là Tu Di Tướng Phật. Tu Di Tướng có nghĩa là “tướng hảo, quang minh được chín pháp giới chiêm ngưỡng, tức là Báo Thân”. Tướng như núi Tu Di, tức là như trong kinh Đại Thừa thường nói: Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo, đó là Báo Thân Phật.

Tiếp theo là Đại Tu Di Phật, Đại Tu Di là “đại pháp lư thể, pháp giới

độc tôn, tức Pháp Thân”. Có thể hiện, có thể biến; Báo Thân và Ứng Hóa Thân là cái được hiện, cái được biến. Chúng ta thường gọi “đại pháp” là cơi nước, chúng sanh, hư không, pháp giới. Trong hết thảy pháp đều có hư không, nếu quư vị đă từng đọc Bách Pháp Minh Môn Luận của Tướng Tông, quư vị sẽ hiểu rơ. Thiên Thân Bồ Tát quy nạp hết thảy pháp thành một trăm loại, trong một trăm loại này, bao gồm cả hư không, hư không cũng là một pháp. Pháp giới, cơi nước (sát-độ), nay ta gọi “cơi nước” là “thiên thể” (astronomical object) trong vũ trụ, hoặc gọi là “tinh hệ” (galaxy). Tinh hệ lớn, tinh hệ nhỏ vô lượng vô biên. Trong những tinh hệ ấy lại có vô lượng vô biên chúng sanh cư trụ, như địa cầu thuộc vào một tinh hệ, trên địa cầu có rất nhiều chúng sanh sanh sống trong ấy. Đấy toàn là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”; do vậy, tánh thức là năng hiện, năng biến, hết thảy pháp là sở hiện, sở biến. Năng và Sở là một, không hai. Đó là Thật Tướng của vũ trụ, kinh Phật gọi [Thật Tướng của vũ trụ] là “Thật Tướng các pháp” (chư pháp Thật Tướng). Pháp Thân: Bản thể của Thật Tướng gọi là Pháp Thân.

Kế đó là Tu Di Quang Phật, “quang minh chiếu khắp ứng trọn các căn cơ, ứng hóa vậy”. Chúng sanh có Cảm, Phật liền Ứng. Phật có mối quan hệ mật thiết với hết thảy chúng sanh, mối quan hệ ǵ vậy? Quan hệ là quang, con người hiện tại gọi [mối quan hệ ấy] là ǵ? Ba động (fluctuation, sự dao động theo làn sóng)! Ư nghĩa này hay lắm, quả thật làn sóng của Như Lai và làn sóng tư tưởng của chúng ta có mối quan hệ mật thiết. Như Lai lặng sóng nên gọi là Quang. Tư tưởng của chúng ta thật chẳng thể gọi là Quang, mà gọi là Sóng, v́ sao? Trồi lên, hụp xuống, nhô cao, xuống thấp, c̣n Phật th́ b́nh lặng. Giống hệt như nước, nước của người ta phẳng lặng, nước của ḿnh sóng trào, gió to, sóng lớn. Thế nhưng nước phẳng lặng và sóng trào vĩnh viễn nối tiếp nhau ở cùng một chỗ, niệm niệm cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn, ứng hóa là như vậy đó!

Pháp, Báo, Ứng Hóa đều là Huệ, tức trí huệ Bát Nhă nơi tự tánh. “Nhất thể tam thân, sở cầu sở chứng”: Báo Thân, Pháp Thân, Ứng Hóa Thân, một chính là ba, ba nhưng là một; điều người học Phật chúng ta mong cầu chính là chứng đắc viên măn ba thân này, giác ngộ trọn vẹn, ngộ nhập viên măn. Nay đă hết giờ rồi, đoạn sau c̣n một vị Phật nữa, đến giờ kế tiếp chúng tôi sẽ giảng tiếp.

 

Tập 30

 

Chư vị đồng học!

Lần trước chúng ta đă học đến phần sáu phương chư Phật khuyến tín lưu thông của kinh A Di Đà. Sáu phương chính là mười phương, đối với mỗi một phương, đức Thế Tôn chỉ nêu đại lược vài vị đại biểu. Mỗi danh hiệu đại biểu đều có ư nghĩa rất sâu, chúng ta nhất định phải hiểu những ư nghĩa biểu pháp ấy, chớ nên xem thường. Phương Đông có năm vị Phật, vị thứ nhất là:

 

A Súc Bệ Phật.

阿閦鞞佛。

 

Ngài tượng trưng cho sự bất động, tượng trưng cho nguyên tắc tu học căn bản. Chẳng riêng ǵ tu pháp môn Tịnh Độ niệm Phật [phải áp dụng nguyên tắc ấy], mà tám vạn bốn ngàn pháp môn, không một pháp nào ra ngoài lệ ấy. Trước hết, phải có tín tâm không lay động th́ mới ḥng thành tựu. Nếu tín tâm bất định, thấy lạ, nghĩ khác, cứ suy đi tính lại th́ không riêng ǵ Phật pháp, mà ngay cả những pháp thế gian cũng chẳng thể thành tựu được. Thực sự thành tựu là như cổ đức thường nói: “Thâm nhập một môn, trường thời huân tu”.

Trong đoạn kinh này, Thích Ca Mâu Ni Phật bốn lượt khuyên chúng ta văng sanh Tịnh Độ, thân cận A Di Đà Phật, đúng là nói một lần rồi hai lần, hai lần rồi ba lần, ba lần rồi bốn lần, đau ḷng rát miệng khuyên dạy chúng ta. Trong đoạn kinh văn này, đức Phật cho biết: Không riêng ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng ta, quư vị thấy đó, mười phương hết thảy chư Phật Như Lai, không vị Phật nào chẳng khuyên chúng sanh niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ. Có vậy, chúng ta mới biết pháp môn này thù thắng. Ở phần trên, chúng tôi đă lược thuật cùng quư vị năm thứ bất khả tư nghị; điều bất khả tư nghị cuối cùng chính là quư vị niệm danh hiệu một đức A Di Đà Phật sẽ được hết thảy chư Phật hộ niệm. Pháp môn này thật phi phàm; nói cách khác, không khác ǵ niệm danh hiệu của hết thảy chư Phật. Niệm một câu A Di Đà Phật chính là niệm trọn danh hiệu của mười phương tam thế hết thảy chư Phật, há c̣n có pháp môn nào thù thắng hơn được nữa hay không?

Chúng sanh trong thế gian này, quá khứ, hiện tại không tránh khỏi tạo nghiệp, không tránh khỏi kết oán cùng chúng sanh. Bởi vậy, chúng ta thường thấy rất nhiều chúng sanh bị oán thân trái chủ, ma quỷ dựa vào thân khuấy nhiễu, thần kinh thác loạn, khổ chẳng thể nói nổi. Những bệnh ấy là do hai nguyên nhân sau đây: Một là oán quỷ dựa thân, ngoài ra là do tự ḿnh có nghiệp chướng sâu nặng. Hai nguyên nhân ấy cùng hùa vào, khó thể làm ǵ được! Chứng bệnh ấy có thuốc men cũng không chữa trị được, cầu thần, cầu Phật, Bồ Tát bảo hựu cũng khá khó khăn. Có cách ǵ trị được hay chăng? Có chứ! Khoảng đầu triều Thanh, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh nói niệm Phật có thể cứu được! V́ sao niệm Phật có thể cứu được? Bởi lẽ, quư vị niệm A Di Đà Phật, mười phương hết thảy chư Phật đều gia tŕ, đạo lư là đây! Mười phương hết thảy chư Phật đều gia tŕ, đều bảo hựu. Oan gia đối đầu, yêu ma, quỷ quái ǵ ǵ đi nữa cũng đều nhượng bộ mấy phần, chẳng phải là một đức Phật có mặt, mà là hết thảy chư Phật có mặt, chúng chẳng thể lấn lướt được.

V́ thế, đối với hết thảy bệnh tật khó trị, phương pháp nào cũng vô hiệu, hết cách chữa trị, tụng kinh, bái sám cũng vô hiệu, th́ thưa cùng quư vị, cuối cùng chắc chắn hữu hiệu là Niệm Phật. Chúng tôi cũng đă từng thấy, quả thật là có rất nhiều người bị oán thân trái chủ dựa vào thân, dường như niệm Phật cũng vô hiệu, v́ nguyên nhân nào vậy? V́ niệm Phật chẳng đúng pháp! Chuyện quan trọng nhất trong việc niệm Phật chẳng đúng pháp th́ đầu tiên là tín tâm và nguyện tâm. Nếu quư vị trọn đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chuyên tŕ một câu Phật hiệu, hiệu quả sẽ chẳng thể nghĩ bàn, thống khổ bèn lập tức tiêu trừ, sẽ b́nh phục như cũ. Pháp môn thật chẳng thể nghĩ bàn!

Tôi c̣n nghe có người nói, có người giảng: “Những kẻ niệm A Di Đà Phật đều là vong ân phụ nghĩa”, v́ sao vậy? Họ nói: “Bổn Sư trong thế giới chúng ta là Thích Ca Mâu Ni Phật, quư vị không niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, lại niệm A Di Đà Phật ở phương khác, vậy là vong ân phụ nghĩa!” Tôi nghe nói vậy mới hiểu rơ. Nói thật ra, vong ân phụ nghĩa không phải là chúng ta, mà là kẻ ấy. Sao lại là kẻ ấy? Kẻ ấy niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chính là kẻ ấy vong ân phụ nghĩa, v́ sao? Chính Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, xót ḷng rát miệng, quư vị thấy ngay trong kinh này đấy thôi: Bốn lượt khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật, cầu sanh về Tịnh Độ, chúng ta cứ khăng khăng không nghe theo, chẳng vui ḷng niệm A Di Đà Phật, chẳng muốn cầu sanh về Tịnh Độ, cứ nhất định phải niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, ắt Thích Ca Mâu Ni Phật bực đến chết! Đúng là vong ân phụ nghĩa, chẳng hiểu thế nào là ân, thế nào là nghĩa cả!

Ví như trong gia đ́nh chúng ta, thế giới Sa Bà là gia đ́nh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là cha của chúng ta. Thế giới Cực Lạc thật ra là trường học, A Di Đà Phật là một vị thầy giỏi. Nay cha gởi con đến trường học hành, ḥng con được thân cận một vị thầy giỏi, con cái cứ ương bướng không nghe lời, chẳng chịu đi. Quư vị nghĩ xem trong t́nh huống ấy, tâm cha mẹ rất khó chịu: Chọn cho ngươi một vị thầy tốt đẹp như thế, bảo ngươi đến thân cận thầy, ngươi cứ khăng khăng không nghe lời, cứ ở lỳ trong nhà, không chịu đi học, c̣n ra thể thống chi nữa! Bởi thế, kẻ vong ân phụ nghĩa chẳng phải là chúng ta, chúng ta nghe lời, hiếu thuận. Thuận ư cha mẹ, thuận ư Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật răn dạy, chúng ta nhất tâm niệm A Di Đà Phật, thân cận A Di Đà Phật. Đó chính là bổn nguyện, là ư nghĩa chân chánh, là lời răn dạy chân thật của Thích Ca Mâu Ni Phật. Chớ có hiểu lầm!

Trong đoạn kinh văn này chúng ta thấy không những Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta, mà mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đều giáo hóa chúng sanh như thế, há c̣n sai được ư? Bởi thế, trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn thay mặt hết thảy chư Phật khen ngợi A Di Đà Phật, nói A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang minh cao quư nhất, là vua trong các Phật), há c̣n sai được ư?

Chúng ta niệm Phật, học Phật, để cầu điều ǵ? Tâm nguyện, mong cầu của hết thảy chúng sanh chẳng ngoài ba việc: Thứ nhất là trí huệ, thứ hai là tài nghệ (trong Phật pháp gọi là đức năng, hay năng lực, điều ǵ cũng biết, không ǵ không biết), thứ ba là phước báo, đều là cầu ba điều ấy! Những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật, hết thảy chư Phật Như Lai dạy chúng ta há chẳng phải là ba việc ấy đó ư? Trong ba việc ấy, đức Phật dạy trí huệ là chủ. Do vậy, từ đầu đến cuối, Phật pháp giảng về giác ngộ, điều Phật pháp mong cầu là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đây là phiên âm tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Kẻ mới học dẫu nghe nói như vậy nhưng không hiểu, chúng tôi đành phải nói một cách phương tiện như sau: Từ ngữ ấy có ư nghĩa là trí huệ chân thật viên măn rốt ráo.

Quư vị có trí huệ, đương nhiên quư vị có năng lực. Tài nghệ, đa tài đa nghệ từ đâu mà có? Từ trí huệ mà có, trí huệ là căn bản, phước báo cũng từ trí huệ mà có. Quư vị phải có trí huệ, mới biết gieo phước tại nơi đâu. V́ sao? Quư vị nhận biết phước điền, quư vị biết gieo phước, quư vị sẽ đạt được vô lượng phước báo, vô lượng vô biên của cải. Thật đấy! Vô lượng vô biên của cải ǵ vậy? Trọn khắp pháp giới hư không giới, không một thứ ǵ chẳng phải là của cải của chính ḿnh, thật đấy, không giả đâu! Quư vị có thể hưởng thụ viên măn!

Trong những phước báo, phước báo quan trọng nhất là thọ mạng; thân cận A Di Đà Phật quư vị sẽ được vô lượng thọ, được thân kim cang bất hoại! Thân kim cang bất hoại không có sanh - lăo - bệnh - tử. Sanh - lăo - bệnh - tử khổ lắm! Không có cầu chẳng được, không có oán ghét mà cứ phải gặp gỡ, không có yêu thương mà phải chia ĺa, thế gian này gọi những điều đó là tám nỗi khổ (bát khổ). Tám nỗi khổ điều nào cũng chẳng có, đó là chân lạc, bởi thế, gọi là Cực Lạc thế giới. Quan trọng nhất là tín tâm kiên định bất động. Do vậy, A Súc Bệ Phật tượng trưng cho ư nghĩa này. Ba vị Phật tiếp theo chính là những điều chúng ta mong cầu.

 

Tu Di Tướng Phật.

彌相佛。

 

Là Báo Thân Phật, tức trí huệ.

 

      Đại Tu Di Phật.

須彌佛。

 

Tượng trưng cho Pháp Thân Phật, tức Lư Thể.

 

Tu Di Quang Phật.

彌光佛。

 

Là Ứng Hóa Phật, tức là thọ dụng. Chúng ta nói đến vô lượng vô biên phước báo, quang minh chiếu khắp, thích ứng trọn khắp các căn cơ, chúng sanh nơi nào có cảm, lập tức hiện thân đến giúp đỡ. Đại ư những danh hiệu này chúng tôi đă tŕnh bày rồi. Vị Phật cuối cùng là:

 

Diệu Âm Phật.

音佛。

 

Diệu Âm Phật “biểu thị pháp tu học cội gốc”, tức phương pháp tu

học. Phương pháp tu học căn bản chính là nhất tâm xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, đó là Diệu Âm! Âm thanh tuyệt diệu tột bậc trong thế gian lẫn xuất thế gian là một câu Phật hiệu. Bởi thế, niệm ra một câu Phật hiệu này sẽ cảm động hết thảy chư Phật Như Lai khắp pháp giới hư không giới. Đă là cảm động chư Phật Như Lai th́ chúng ta phải biết: Chư Phật Như Lai có trí huệ, phước đức viên măn, các vị hộ pháp thần của chư Phật trọn khắp hư không pháp giới. Được chư Phật ủng hộ, chư Phật khen ngợi, lẽ nào thần hộ pháp chẳng xưng tán, chẳng ủng hộ? V́ vậy, niệm một câu A Di Đà Phật sẽ được hết thảy chư thiên thiện thần ủng hộ, chư thiên thiện thần bảo hựu quư vị! Quư vị niệm danh hiệu các đức Phật khác, chẳng thể khiến cho toàn thể thần hộ pháp khắp pháp giới bảo hựu, không được như vậy! Chỉ có niệm A Di Đà Phật, quư vị mới cảm được toàn thể. Chẳng thể không biết điều này!

Trong kinh Đại Thừa, đức Thế Tôn thường nói: Danh hiệu A Di Đà Phật này chẳng phải chỉ là danh hiệu của riêng ḿnh đức Phật tại Tây Phương Cực Lạc thế giới mà c̣n tượng trưng cho bổn tánh, tự tánh Phật! Đấy là đức hiệu của Tự Tánh Phật! V́ vậy, niệm Phật hiệu này chính là niệm Thể, Tướng, Dụng của Tự Tánh. Thể của Tự Tánh là Pháp Thân; Tướng của Tự Tánh là trí huệ; tác dụng của Tự Tánh - tức Tự Tánh khởi tác dụng - chính là vô lượng vô biên đại phước đức. V́ thế, nhất tâm xưng niệm nam mô A Di Đà Phật chính là Diệu Âm; ở đây, Ngài tượng trưng cho phương pháp căn bản tu hành trọng yếu nhất, “Định Huệ giữ cân bằng”! Nhất tâm xưng niệm, nhất tâm là Định, xưng niệm là Huệ. A! Chúng ta lại xem tiếp đoạn dưới, đoạn thứ hai chính là những thế giới ở phương Nam, chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.

利弗。南方世界。有日月燈佛。名聞光佛。大燄肩佛。須彌燈佛。無量精進佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Này Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết  Chư  Phật  Sở  Hộ  Niệm

này”).

 

Quư vị phải thường ghi nhớ, bộ kinh này là hết thảy chư Phật “Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn”, cũng là “Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm”, kinh này chẳng thể nghĩ bàn! Ở phương Nam cũng nêu lên năm vị Phật, năm vị Phật này tượng trưng cho Tu Huệ; bởi lẽ, trong giáo học nhà Phật, trí huệ là bậc nhất. Hết thảy bọn chúng sanh chúng ta vốn sẵn có trí huệ, trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ trí huệ. Thật vậy! Trí huệ bất sanh, bất diệt, không đến, không đi, đối với trí huệ của hết thảy chư Phật Như Lai không hai, không khác, hoàn toàn tương đồng! V́ sao nay chư Phật, Bồ Tát có trí huệ lớn lao đến thế, c̣n chúng ta tợ hồ biến thành vô cùng ngu xuẩn, không có tí xíu trí huệ nào, v́ nguyên nhân ǵ vậy? Phật bảo chúng ta: Trí huệ của chúng ta giống hệt như Phật, cũng không hề mất đi, v́ sao nay lại thành ra nông nỗi ấy? Là v́ chính bản thân chúng ta có chướng ngại, tự ḿnh chướng ngại trí huệ của chính ḿnh! Đức năng và tướng hảo của chính ḿnh cũng bị chướng ngại.

Trí huệ giống như vầng thái dương, chư Phật, Bồ Tát là thái dương lúc trời quang đăng, quang minh chiếu khắp; phàm phu chúng ta là mặt trời trong hôm u ám, trên đầu chúng ta có mây đen che phủ rất dầy, dẫu có ánh nắng, nhưng bị che lấp, không soi thấu được! Đạo lư là như vậy đó. Rốt cuộc những thứ che lấp ấy là ǵ vậy? Thích Ca Mâu Ni Phật dạy: Những thứ che lấp ấy chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Kinh Hoa Nghiêm giảng rất hay: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ, đức tướng, đản dĩ vọng tưởng, chấp trước, nhi bất năng chứng đắc” (Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng như Như Lai; nhưng v́ vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc). V́ thế, đức Phật dạy chúng ta tu hành, tu những ǵ? Chỉ là bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đi mà thôi! Chỉ cần bỏ được, trí huệ vốn sẵn có trong tự tánh sẽ hiện tiền, đức năng hiện tiền, tướng hảo hiện tiền, quư vị vốn là Như Như Phật! Nay v́ ta có phiền năo, có tập khí, kinh Hoa Nghiêm gọi phiền năo tập khí là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng là tập khí; phân biệt và chấp trước là phiền năo. Quư vị có những thứ ấy nên trí huệ, đức năng, tướng hảo sẵn có nơi tự tánh đều chẳng thể hiện tiền.

Vọng tưởng, tập khí là v́ chính ḿnh mê mất bổn tánh, nên mới sanh ra những thứ ấy. Những thứ ấy không thật, là giả, lúc mê bèn có, lúc giác ngộ bèn không có. V́ thế, Phật pháp dạy con người giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm, quư vị có thể bỏ được mà! Do vậy, giáo học của Phật pháp từ đầu đến cuối chẳng ĺa trí huệ. Quư vị thấy đó: Trước hết là nói ra căn bản (căn bản tu học), tiếp đến là giảng về tu huệ, tu phước. Trước hết, chúng ta hăy xét danh hiệu năm vị Phật.

Vị Phật thứ nhất là Nhật Nguyệt Đăng Phật. Mặt trời chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm. Chỗ nào nhật nguyệt không soi thấu th́ đèn (đăng) có thể soi được. Dùng Nhật, Nguyệt, Đăng để biểu thị quang minh chiếu khắp. V́ thế, đức Phật này tượng trưng “tánh có đủ trí huệ Bát Nhă viên măn, viên dung vô ngại, không đâu chẳng chiếu, là điều được mong cầu vậy”. Chúng ta mong cầu trí huệ viên măn, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể, không thiếu khuyết mảy may. Những điều danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng biểu thị chính là những điều chúng ta mong cầu.

Tên của vị Phật thứ hai là Danh Văn Quang Phật. Xét đức hiệu của vị Phật này, Quang là trí huệ, hằng ngày đang tu, tu ǵ vậy? Tu đoạn phiền năo. Tập khí phiền năo nếu thực sự đoạn được đôi phần, trí huệ sẽ hiện tiền. Do vậy, đoạn một phần phiền năo, trí huệ sẽ lộ ra một phần; đoạn hai phần phiền năo, trí huệ sẽ lộ ra hai phần. Quư vị muốn trí huệ Bát Nhă nơi tự tánh hiện tiền th́ không có ǵ khác cả, chỉ đoạn phiền năo mà thôi! Nếu vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của quư vị vẫn c̣n nặng nề như thế, chẳng chịu buông xuống th́ nói cách khác, trí huệ của quư vị vĩnh viễn không thể hiện tiền. Đó là công phu đấy, chứ không phải là niệm kinh Phật cho nhiều. Đọc nhiều các loại sách thông thái, quư vị bèn có “trí huệ” th́ trí huệ ấy là giả, chẳng thật! Giáo học Nho gia gọi cái học đó là cái học vay mượn[3]! Quư vị chẳng mở mang trí huệ, những ǵ quư vị có được toàn là của người khác, không có ǵ là của chính ḿnh hết! Khi nào trí huệ của quư vị mở mang, lúc ấy sẽ được đại tự tại, chẳng cần phải nhớ những thứ của người khác nữa!

Chư Phật Như Lai, chư đại Bồ Tát có trí huệ, quư vị cũng có, quư vị vay mượn làm chi? Chỉ khi sơ học, trí huệ chưa mở mang, cần phải nhờ vả người khác, cầu người khác giúp đỡ. Người khác chỉ có thể giúp ḿnh trong một giai đoạn, chẳng thể nương nhờ người ta vĩnh viễn, cứ vĩnh viễn nương tựa người ta sẽ không ngóc đầu lên được! Sau khi dựa dẫm người khác một thời gian, tự ḿnh phải dần dần tự lập. Dựa vào Phật, nhưng trí huệ mở mang một chút, v́ sao? Thực sự hiểu được ư nghĩa lời Phật dạy, có thể y giáo phụng hành. Đức Phật dạy chúng ta thấy thấu suốt, buông xuống, chúng ta phải thực sự buông xuống! Buông xuống một phần, trí huệ tăng trưởng một phần, quư vị thấy thấu suốt một phần. Thấy thấu suốt giúp quư vị buông xuống, buông xuống lại giúp quư vị thấy thấu suốt. V́ thế, tu học Phật pháp từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai, thấy thấu suốt giúp hành giả buông xuống, buông xuống giúp cho hành giả thấy thấu suốt, giúp đỡ lẫn nhau, thành tựu lẫn nhau, thăng tiến trên con đường vô thượng đạo!

Phương pháp ấy do chính Chương Gia đại sư dạy tôi, rất hy hữu! Ngày đầu gặp mặt, Ngài dạy tôi phương pháp ấy. Suốt năm mươi năm qua tôi được đại lợi ích nơi phương pháp này. Cảm ân thầy, chẳng thể không buông xuống, nếu không buông xuống được th́ đúng là ngu si, đúng là đáng tiếc. “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên bỏ, huống ǵ phi pháp). Cứ bỏ, quư vị sẽ đạt được, được ǵ vậy? Được những ǵ sẵn có nơi tự tánh! Chẳng phải do từ bên ngoài mà được, được trí huệ, được năng lực, được tướng hảo.

“Danh Văn Quang Phật, biểu thị sự thành tựu nhỏ nơi tu huệ”. Có chút thành tựu nhỏ. Chút thành tựu nhỏ là quư vị có “danh văn” (tiếng tăm), nay chúng ta gọi là nổi tiếng. Chỉ cần có chút thành tựu nhỏ, bên ngoài người ta biết đến tiếng tăm ḿnh, khen ngợi ḿnh, “ắt có danh văn”. Lúc ấy danh văn là cái cửa ải trọng yếu nhất: Nếu quư vị đọa lạc trong danh văn, lợi dưỡng là xong! Danh lợi là cửa ải quư vị phải đột phá! Nếu chẳng thể đột phá, bị nó chướng ngại, sẽ vẫn phải luân hồi trong lục đạo y như cũ. V́ thế, danh văn như bóng tối. Đó là nói tỷ dụ. Danh văn giống như bóng tối, ta vẫn phải y như cũ, dùng ánh sáng trí huệ để soi tan. V́ thế, “trí quang chiếu đến liền diệt”. Đó là tỷ dụ. “Phải bỏ danh văn, lợi dưỡng, sẽ không trở ngại cho việc thăng tấn đạo nghiệp”. Con người, có thể nói là đa số, đại đa số con người cứ hễ danh văn, lợi dưỡng vừa hiện tiền bèn hồ đồ, khởi tâm tham chấp, từ tham chấp lại khởi lên kiêu căng, ngạo mạn, tự cho ḿnh rất phi thường, khinh mạn người khác, đấy cũng là phiền năo hiện hành! Bị đọa lạc liền!

Chắc quư vị đều đọc Từ Bi Tam Muội Thủy Sám rồi, quư vị thấy Ngộ Đạt quốc sư mười đời là cao tăng, chẳng phải là chuyện dễ dàng! Trong nhân đạo, Ngài chẳng bị đọa lạc, chết đi vẫn tái sanh trong nhân gian, cứ mỗi lần [tái sanh] phước báo lại càng lớn hơn. V́ sao? Do Ngài tu rất giỏi, tŕ giới, tu định, tu phước, phước huệ song tu, đời đời kiếp kiếp, mười đời là cao tăng. Đến đời thứ mười, phước báo càng lớn, làm thầy của hoàng đế. Hoàng đế bái Ngài làm sư phụ, tức là Quốc Sư. Có một ngày, hoàng đế cúng dường một bảo ṭa bằng trầm hương, nay chúng ta gọi bảo ṭa là “Thái Sư ỷ”[4] (ghế Thái Sư), cái ghế Thái Sư ấy làm bằng trầm hương. Chúng ta biết hết thảy loài gỗ đều nổi trên mặt nước, nhưng nếu thả gỗ trầm hương (tức “trầm thủy hương”) xuống nước, nó liền ch́m tận đáy. Trầm hương hết sức nổi tiếng, quư giá. Hoàng đế dùng trầm hương làm thành cái ghế Thái Sư để cúng cho thầy.

Ngộ Đạt quốc sư tiếp nhận ṭa báu trầm hương ấy, trong tâm hết sức hoan hỷ, khởi lên tâm ngạo mạn: “Trong quốc gia hiện thời có bao nhiêu là đại pháp sư, có ai được ngồi cái ṭa báu này? Chỉ có ḿnh ta, trừ ta ra, không có người thứ hai!” Tâm ngạo mạn vừa khởi lên, thần hộ pháp bỏ đi. Thần hộ pháp không nói chuyện t́nh cảm, không có cảm t́nh riêng như con người đâu nhé! Hễ quư vị tu hành đúng pháp, các ngài nhất định đến hộ tŕ. V́ sao? Nguyên nhân là v́ quư vị tu hành đúng pháp, chư Phật hộ niệm; chư Phật hộ niệm th́ lẽ đâu thần hộ pháp chẳng ủng hộ! Thần hộ pháp phải ủng hộ! Nhưng nếu quư vị vừa sanh phiền năo, phiền năo tập khí vừa hiện hành, đạo tâm không c̣n, quư vị không c̣n chân thành, khiêm nhường nữa, nay quư vị kiêu căng, ngạo mạn, không để ai vào mắt, thần hộ pháp bỏ đi ngay! Thần hộ pháp bỏ đi là phiền lắm, oán thân trái chủ bèn t́m đến ngay, oán thân trái chủ trong đời quá khứ đấy!

Oán thân trái chủ cũng thường ở quanh quẩn quư vị, ŕnh rập đợi cơ hội. Bên quư vị có thần hộ pháp th́ họ chẳng dám đến gần, đợi ngày nào quư vị phạm lỗi, tạo tác tội nghiệp, thần hộ pháp bỏ đi, cơ hội đến rồi! Họ bèn đến t́m quư vị gây rối. V́ thế, quốc sư bị mọc một mụt ghẻ có h́nh mặt người, gần như sắp mất mạng. Đúng là trong đời quá khứ Sư tu cũng khá, cho nên trong lúc tai nạn, lập tức có cảm ứng, tôn giả Ca Nặc Ca là bậc Đại A La Hán đến cứu Sư. Phương pháp cứu chữa là điều giải (thương thảo, ḥa giải). Oán thân trái chủ của Sư tiếp nhận sự điều giải ấy. Tiếp nhận xong, mụt ghẻ mặt người bèn nói cho biết ḿnh là ai, trong đời quá khứ bị Sư sát hại, phải chết oan uổng: “Oán căn ấy đời đời kiếp kiếp không cách ǵ tiêu trừ được; v́ thế, đời này thấy Sư tiếp nhận ṭa báu trầm hương của hoàng đế cúng dường, sanh khởi tâm ngạo mạn (theo như người ấy nói), thần hộ pháp bỏ đi, ta mới có cơ hội đến báo cừu. Nay được tôn giả Ca Nặc Ca là bậc đại A La Hán đến điều giải, ta bằng ḷng tiếp nhận, chẳng gây rối nữa”. Mụt ghẻ mặt người liền lành.

Đọc câu chuyện này, chúng ta phải khéo suy nghĩ, sánh với Ngộ Đạt quốc sư, chúng ta tu hành như thế nào? Có hơn được Ngài hay không? Chúng ta tạo tác nghiệp chướng, phiền năo tập khí ít ra phải nặng gấp trăm gấp ngàn lần Ngộ Đạt quốc sư, nhưng không có oán thân trái chủ đến t́m chúng ta, là v́ nguyên nhân ǵ vậy? Oán thân trái chủ ở quanh bên quư vị thấy rất rơ ràng, quư vị tu hành chẳng ra tṛ trống ǵ, cũng không thể văng sanh, đợi mấy bữa nữa báo thù cũng không muộn. Chẳng phải là không có sự ấy đâu nhé! Chính là như trong Phật pháp nói “nhân quả báo ứng” đấy! Chẳng phải là không báo, chưa đến lúc đấy thôi! Oán thân trái chủ ở gần bên ta trông thấy, cười hề hề, không gấp ǵ! Tới khi quả báo xảy đến, quư vị có hối cũng không kịp!

Nói thật ra, những chuyện cũ của cổ đức, chúng ta phải xem cho nhiều mới ḥng luôn đề cao tỉnh giác, nỗ lực tu hành đạo pháp, chẳng dám tạo tội nghiệp, chẳng dám khởi một ư niệm bất thiện. Đem công đức tu học của chính ḿnh hồi hướng cho oán thân trái chủ bao đời, v́ sao? Chúng ta có phước báo, mọi người cùng hưởng, hy vọng oán thân trái chủ bao kiếp chẳng gây chướng ngại, tôi thành tựu chính là quư vị cùng thành tựu. Lúc tôi thành tựu, nhất định chẳng quên quư vị, sẽ độ quư vị trước. Mọi người đều luân hồi trong lục đạo thọ khổ, tôi thoát khỏi lục đạo rồi sẽ nhất định giúp đỡ mọi người, mọi người đều cùng có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi, đều có thể văng sanh Cực Lạc Tịnh Độ. V́ thế, oán thân trái chủ đều biến thành Hộ Pháp, chẳng những không gây rối, mà c̣n ủng hộ, lại c̣n bảo hựu quư vị. V́ thế, cát - hung, họa - phước quả thật chỉ trong một niệm. Danh lợi hiện tiền chính là cửa ải rất đáng sợ!

Chúng tôi cũng thường khuyến khích các đồng học, chúng ta ở trong thuận cảnh, thuận theo thiện duyên, vậy là tốt. Lúc ấy, sợ nhất là khởi tham luyến; bất luận đối với người, đối với sự, đối với vật mà có tâm tham, có ḷng keo kiệt, không bỏ ra cho người khác th́ không xong rồi! Vừa khởi ư niệm ấy lên, chư Phật không thể hộ niệm nữa. Chẳng phải là chư Phật không hộ niệm, nhưng v́ quư vị có chướng ngại nên gây chướng ngại cho sự hộ niệm của chư Phật. Oán thân trái chủ bao kiếp đều kéo đến, lúc ấy họ có dịp báo thù quư vị, phiền toái xảy ra, hung tai, họa hại liên tiếp không ngừng! Chúng tôi thấy rất nhiều đồng tu học Phật gặp phải ma nạn. Nhân tố thứ nhất gây ra ma nạn chính là tâm không thanh tịnh, phiền năo tập khí chiêu cảm ma nạn. V́ thế, trong hết thảy thuận cảnh, phải đặc biệt cảnh giác danh văn, lợi dưỡng, chớ sanh tham si, như vậy mới là tốt, trí huệ, phước báo mới thực sự hiện tiền.

Phước báo hiện tiền, trọn chẳng tự ḿnh hưởng nhận, nhất định phải biết trong thế gian này người khổ nạn rất nhiều, nếu chúng ta cúng dường phước báo cho những kẻ khổ nạn ấy th́ phước báo đó sẽ vô lượng vô biên! Bởi lẽ, tu phước báo chẳng nhằm hưởng trong nhân gian, đến chỗ nào mới hưởng? Đến thế giới Cực Lạc bèn hưởng, quyết định chẳng hưởng phước ở nơi đây. Ở nơi đây thường chịu khổ một chút là được, v́ sao? Chịu khổ sẽ không có cái tâm tham luyến thế gian này. Nếu trong thế gian này, cái ǵ cũng hưởng thụ, sẽ chẳng muốn ĺa khỏi thế gian này, chẳng về được thế giới Cực Lạc. Phước chớ nên hưởng! Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, quư vị thấy Ngài có phước báo bậc nhất, nhưng cả đời Ngài chưa hề hưởng phước. Suốt một đời ba y một bát, giữa Ngọ ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, nêu gương cho chúng ta thấy! Ngài hưởng phước nơi đâu? Hưởng phước trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ, Ngài ứng hóa thân trong chín pháp giới, nhất định không thị hiện hưởng phước nơi những tướng ấy, tuyệt đối chẳng thị hiện.

Tiếp đó là Đại Diệm Kiên Phật, “biểu thị bắt đầu có đủ hai trí”. Kiên () là cái vai, hai vai. Diệm () là ngọn lửa, chỉ quang minh. V́ thế, đây là nói tới Quyền Trí và Thật Trí, bắt đầu có đủ hai trí! Vượt được danh văn rồi mới có Quyền Trí và Thật Trí. Trong lúc danh văn hiện tiền, nếu quư vị không vượt qua được, sẽ chẳng có Quyền Trí lẫn Thật Trí. Vượt qua danh văn thuận lợi, quyết định không có tâm tham luyến danh văn, lợi dưỡng, lúc ấy Quyền Trí và Thật Trí bèn hiện tiền. “Phát tâm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh, tức là tự lợi và lợi tha”. Ở đây, quư vị phải hiểu thật rơ: Để hoằng pháp lợi sanh th́ phải có Quyền Trí và Thật Trí. Thật Trí là ǵ? Thật Trí là tâm thanh tịnh. Chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng là Thật Trí; chánh giác, từ bi là Quyền Trí. Quư vị hăy nghĩ xem: Nếu danh lợi hiện tiền, trong tâm có chút ǵ tham chấp th́ sẽ chẳng chân thành, không thanh tịnh, cũng không b́nh đẳng. Nói cách khác, Thật Trí không có. Không có Thật Trí th́ Quyền Trí cũng chẳng có. Nói khác đi, chẳng có tâm giác ngộ th́ tâm từ bi cũng chẳng có, tâm từ bi chính là Thế Gian Ái Duyên Từ, vui vẻ đối với người khác, từ bi đối với người khác. Quư vị chán ghét người khác tức là đối với người khác không có tâm từ bi, không b́nh đẳng!

Xưa nay, trong nước, ngoài nước, không ít kẻ v́ danh văn lợi dưỡng mà bị đào thải, bị đào thải với một mức độ rất lớn. Tướng trạng đào thải chúng ta thấy rất rơ: Danh văn, lợi dưỡng hiện tiền, đúng là [những kẻ ấy] tạo vô lượng vô biên tội nghiệp mà không biết. Nếu trí huệ hiện tiền th́ họ sẽ hiểu rơ, dùng danh văn, lợi dưỡng để hộ tŕ chánh pháp, để giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn. V́ thế danh văn, lợi dưỡng đưa đến cũng chẳng cần phải tránh né, cốt yếu là quư vị dùng nó như thế nào, dùng như thế nào cho hợp trí huệ th́ sẽ có lợi ích lớn lao! Nếu dùng theo kiểu ngu si, sẽ bị họa hại rất lớn! Đại hại hay đại lợi đều là do một niệm giác hay mê, rất quan trọng! Tiếp đó c̣n hai vị Phật nữa, nay đă hết giờ rồi!

 

*

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp vị Phật thứ tư ở phương Nam:

 

      Tu Di Đăng Phật.

彌燈佛。

 

“Biểu thị tu Huệ, tự chuyển Thức thành Trí, lại c̣n giúp đỡ người khác”. Học Phật, giáo hóa chúng sanh, quan trọng nhất là phải chuyển. Phật, Bồ Tát khác với phàm phu ở chỗ này. Phàm phu chẳng thể chuyển cảnh giới, nhất định bị cảnh giới chuyển. Chư Phật, Bồ Tát liễu giải Thật Tướng của các pháp, bởi thế, các Ngài chuyển được cảnh giới, sai biệt ở chỗ này. Chúng ta học Phật, nói thật ra, quan trọng nhất là học theo Phật, Bồ Tát xoay chuyển cảnh giới.

Bọn phàm phu chúng ta thật đáng thương; trong cảnh giới thuận, cảnh giới tốt lành sẽ bị thuận cảnh chuyển, chuyển như thế nào? Khởi tâm tham luyến. Gặp cảnh giới không tốt, cảnh giới xấu hèn, lập tức bị cảnh giới chuyển, sanh tâm nóng giận, sanh tâm chán ghét. Chúng ta thường nói là “thất t́nh ngũ dục đều động”. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, khởi tâm động niệm đều là phiền năo, đều là thất t́nh ngũ dục, đó gọi là “tạo nghiệp”!

Đă tạo nghiệp, lẽ đâu chẳng chịu quả báo? Nhà Phật thường nói: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không” (Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không). V́ sao nhân quả chẳng không? Nhân tự nhiên biến thành quả, quả lại biến thành nhân; v́ thế, nhân quả “chuyển biến bất không” (chuyển biến chẳng phải là không), nhân quả “tương tục bất không” (tiếp nối chẳng không). Nói chung là tiếp nối nhau, do tiếp nối nên có quả, quả tiếp nối lại biến thành nhân, “tuần hoàn bất không” (tuần hoàn chẳng không). Nói “nhân quả chẳng không” là v́ có ba hiện tượng sau đây: chuyển biến, tiếp nối, tuần hoàn.

Phật, Bồ Tát hiểu rơ, hiểu rành rẽ, v́ thế, các Ngài chuyển được cảnh giới, chẳng bị cảnh giới chuyển. Trong cảnh giới tốt, chắc chắn các Ngài chẳng khởi tham - sân - si - mạn, quyết định chẳng khởi thất t́nh ngũ dục, không hề khởi, không khởi tâm, không động niệm, chẳng bị cảnh giới chuyển. Đối với cảnh giới bất thiện, cảnh giới ác, ác duyên hiện tiền, chẳng những các Ngài không bị chúng chuyển, mà trái lại, biến cảnh giới bất thiện thành cảnh giới thiện, biến ác duyên thành thiện duyên, thật phi phàm! Bởi thế, các Ngài thọ dụng chẳng thể nghĩ bàn!

Tây Phương Cực Lạc thế giới và thế giới của chúng ta đây có ǵ khác biệt? Nói thật ra, hoàn toàn giống nhau, không sai biệt chút nào! Thế nhưng, theo những ǵ tŕnh bày trong kinh, sai biệt rất lớn. V́ nguyên nhân nào vậy? Không có ǵ khác cả, thế giới giống hệt nhau, nhưng tâm chúng sanh trong thế giới Cực Lạc đều hiền lành, đều thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ biến thành Tịnh Độ, tất cả hết thảy vạn vật không ǵ chẳng thanh tịnh, cảnh chuyển theo tâm. Tâm con người trong thế giới chúng ta không thanh tịnh, trong tâm ô nhiễm nghiêm trọng, nên hoàn cảnh sống của chúng ta cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thanh tịnh!

Cảnh chuyển theo tâm! Bản thân cảnh không ô nhiễm, tâm thanh tịnh th́ cơi Phật thanh tịnh; tâm không thanh tịnh, cơi nước ḿnh ở cũng chẳng thanh tịnh. Đạo lư là như vậy. Nếu tâm chúng ta thực sự thanh tịnh, hiền lành, tất cả hết thảy người, sự, vật chung quanh chúng ta không ǵ chẳng thanh tịnh, hiền lành, Tịnh Độ sẽ hiện tiền! Tâm chúng ta hư ngụy, ô uế, bất b́nh, ngu si, tự tư tự lợi, tất cả hoàn cảnh chúng ta đang sống đều biến đổi theo tâm niệm, biến thành ngũ trược ác thế. Ngũ trược ác thế vốn do đây mà có, phải hiểu như thế!

Thế giới Cực Lạc cố nhiên là do A Di Đà Phật thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi mà thành tựu. Phàm những ai văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tâm địa của mỗi người cũng phải thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi giống như A Di Đà Phật th́ mới được văng sanh. Bởi thế, kinh Vô Lượng Thọ nói trong ba bậc văng sanh, chánh nhân văng sanh đều là “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”. Đấy là điều kiện trọng yếu nhất để được văng sanh! Mấy năm gần đây chúng tôi đă hiểu “phát Bồ Đề tâm” rất rơ ràng, Bồ Đề tâm là ǵ? Chính là “chân thành tâm, thanh tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”. Quư vị dùng cái tâm ấy để “một dạ chuyên niệm” th́ sẽ cảm ứng đạo giao! Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.

Niệm Phật không đắc lực, niệm Phật vẫn có ma chướng hiện tiền là v́ nguyên nhân nào? V́ quư vị không có tâm Bồ Đề! Nếu quư vị đầy đủ ḷng chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi th́ niệm một câu Phật hiệu bèn có công đức, hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn! V́ thế, chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa những lời đức Phật giảng trong kinh, phải thực sự biết y giáo phụng hành. Chúng ta miệng niệm Di Đà tâm tán loạn; tâm tán loạn là không chân thành, không thanh tịnh, không b́nh đẳng, không trí huệ, không từ bi, đó gọi là tâm tán loạn. Tâm tán loạn dù một dạ chuyên niệm cũng không có hiệu quả, chẳng thể đạt công phu thành phiến, v́ nguyên nhân ǵ? V́ tâm tán loạn! Điều này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác. V́ thế, tu Huệ th́ quan trọng nhất là phải biết chuyển, tức là chuyển Thức thành Trí, chuyển được một th́ sẽ chuyển được hết thảy.

Tiếp đó, chúng tôi lại có câu giải thích đơn giản: “Tự hành, hóa tha, phá mê, khai ngộ”: Tự ḿnh tu hành, lấy việc phá mê khai ngộ làm mục tiêu hàng đầu; giúp đỡ người khác, giáo hóa chúng sanh, cũng là lấy phá mê khai ngộ làm mục tiêu hàng đầu! Đó là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc nhất định phải nắm vững. Thức là vọng tâm, Trí là chân tâm; nói cách khác, chuyển vọng tâm thành chân tâm, dụng công nơi tâm địa! Phải hiểu tác dụng của vọng tâm, tám thức; tác dụng của thức thứ sáu là phân biệt; ư thức phân biệt; thức thứ bảy là chấp trước; thức thứ tám giống như cái kho, chúng ta thường nói là “ghi ấn tượng”, mọi ấn tượng đều cất vào đó, tích trữ trong cái kho ấy. Từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp, bất kể ấn tượng tốt hay ấn tượng xấu, thảy đều được chứa trong ấy, đó là vọng tưởng! Năm thức đầu là nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư, bản thân chúng không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đều nghe theo sự chỉ huy của thức thứ sáu và thức thứ bảy mà hành động. Thức thứ bảy chấp trước, thức thứ sáu phân biệt, biểu hiện ra bên ngoài, biểu hiện qua năm thức trước, tạo nghiệp như vậy đấy!

Bồ Tát thông minh, có trí huệ, Ngài có thể chuyển biến, chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí. Quán Sát là hiểu rơ, nơi mắt, tác dụng của ư thức là thấy rơ, nơi tai là nghe hiểu, nơi mũi là ngửi rơ, nơi lưỡi là nếm rành rẽ, nơi thân tiếp xúc bèn hiểu rơ ràng, nơi ư là biết rơ ràng. Quán Sát lại thêm chữ Diệu. Diệu là dẫu hiểu rơ, nhưng không chấp tướng, không phân biệt, hiểu rơ nhưng không phân biệt, đó là trí huệ chân chánh! Hiểu rơ mà tṛng thêm phân biệt th́ thành mê, không phải là trí huệ chân chánh, phải gọi là Thức, chẳng gọi là Trí. Giống như tấm gương soi cảnh tượng bên ngoài, quư vị thấy rất rơ ràng minh bạch, rành rẽ, thông suốt, nhưng không phân biệt, không chấp trước, không vọng tưởng. V́ thế, đức Phật thường dạy chúng ta “dụng tâm như kính” (dụng tâm như gương). Trong cuộc sống thường nhật, đối với hết thảy người, sự, vật, chúng ta khởi tâm động niệm giống hệt như tấm gương trong trẻo, sáng suốt, rành rẽ, phân minh, không có vọng tưởng, không phân biệt, không chấp trước. Đó gọi là Trí chiếu! Diệu Quán Sát Trí chiếu cảnh giới sáu trần.

“Chuyển thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí”. Thức thứ bảy là nhiễm ô, chấp trước; chấp trước là không b́nh đẳng, b́nh đẳng th́ không chấp trước. V́ thế, đối với hết thảy pháp, không c̣n chấp trước, tâm b́nh đẳng hiện tiền, B́nh Đẳng Tánh Trí hiện tiền. Hễ có mảy may chấp trước, phải như thế này, phải như thế nọ mới là đúng; như thế kia là không đúng, đấy chẳng phải là Trí, mà là Thức! Thức sẽ tạo nghiệp, Trí không tạo nghiệp. Dùng Trí không dùng Thức, dùng Trí để chu toàn mọi sự th́ sẽ càng thực hiện viên măn, trí huệ chân thật. Dùng Thức để xử sự, chẳng thấy được viên măn, v́ sao? V́ rất nhiều chỗ quư vị không thấy được. Nếu dùng Trí để xử sự, sẽ thấy thấu suốt quá khứ, hiện tại, vị lai, có thể thấy cơi này và mười phương, há lầm được ư? Học Phật phải học lấy trí huệ, có như vậy mới có thể chuyển Thức thành Trí.

“Chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí”. Đại Viên Kính (tấm gương tṛn lớn) là tỷ dụ, Viên là viên măn; nói cách khác, không ǵ chẳng biết. V́ sao không ǵ chẳng biết? Do trong A Lại Da Thức từ vô thỉ kiếp đến nay, tích chứa chủng tử tập khí, trong ấy có nào thiện, nào ác, nào vô kư (không thiện, không ác), thảy đều chuyển thành trí huệ. Do vậy, thiện cũng tốt, ác cũng xong, thảy đều rơ ràng, thảy đều thấu suốt, nghiệp nhân quả báo chẳng mê hoặc mảy may. Vừa chuyển biến liền biến thành không ǵ chẳng biết. Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết!

Chuyển được ba thức này th́ năm thức trước sẽ chuyển theo, chuyển thành “Thành Sở Tác Trí”, thành tựu hành vi trí huệ, tạo tác trí huệ, không bị mê hoặc, dùng trí huệ để tạo tác nên tự lợi, lợi tha. Đối với chính ḿnh, thành tựu ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, trở thành bậc thầy, thành gương mẫu, thành tiêu chuẩn cho hết thảy chúng sanh noi theo, thành mẫu mực cho hết thảy chúng sanh, biểu lộ qua năm Thức trước cho nên tạo thành h́nh tượng ấy! Tu hành quư nhất là chuyển biến; chúng tôi cũng thường giảng như thế.

Chuyển biến từ đâu? Bắt đầu từ đâu? Nhà Phật dạy từ ngay nơi phương tiện ban đầu. Chuyển từ chỗ nào? Phải chuyển từ ư niệm. Ư niệm quá nhiều. Từ sáng đến tối, niệm trước diệt, niệm sau sanh, sanh diệt không ngừng! Đó là tướng phàm phu khổ năo, chẳng giống với chư Phật và Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài không khởi tâm, không động niệm, các Ngài trụ trong đại định, trụ trong tam-muội. Lục đạo phàm phu trụ trong vọng niệm hết sức đau khổ. Phật, Bồ Tát Thiền Định rất sâu, trong hết thảy cảnh giới không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, đó là “thường trụ tam-muội”. Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, đó là nhân; quả báo bèn là luân hồi lục đạo. Nhân quả tuần hoàn, nhân quả tiếp nối.

Thưa quư vị, chúng ta hăy thực sự tu hành, đừng tu hành trên mặt h́nh tướng! Tu hành trên h́nh thức chính là đại từ đại bi biểu diễn cho người khác thấy; c̣n chính ḿnh phải dụng công thực sự tu hành, người khác không thấy được. V́ thế, phải biểu diễn sự tu hành nhằm tiếp dẫn đại chúng, nhằm lợi ích chúng sanh. V́ người khác nói, diễn nói chẳng phải v́ bản thân, mà v́ người khác, nhằm hóa độ người khác. Để độ chính ḿnh th́ quan trọng nhất là nếu khởi tâm động niệm mà có ư niệm tự tư tự lợi th́ khi ư niệm ấy khởi lên, phải ngay lập tức diệt trừ, v́ đó là tâm luân hồi! Niệm niệm nghĩ đến ǵ? Nghĩ sao cho chánh pháp tồn tại dài lâu, sao cho giáo huấn của hết thảy thánh hiền được thường trụ trong thế gian, được hoằng dương rạng rỡ, to lớn, lợi ích chúng sanh. Chúng ta phải thường nghĩ đến những điều này. Thường nghĩ giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn, giúp họ ĺa khổ được vui, chúng ta có thể hy sinh chính ḿnh v́ người khác, phải từ những chỗ ấy mà chuyển biến. Tuyệt đối chớ nên nghĩ như thế này: Trước hết phải tính sao cho có lợi cho chính ḿnh, chuyện ǵ có lợi cho ḿnh th́ làm, chuyện ǵ vô ích đối với ḿnh, có lợi cho chúng sanh th́ chẳng buồn làm. Nếu vậy là lầm mất rồi! Vẫn là cái tâm luân hồi, ngày ngày tạo nghiệp luân hồi, dẫu có niệm Phật suốt đời cũng chẳng thể văng sanh, vẫn cứ phải luân hồi trong lục đạo, v́ sao? Tâm luân hồi mà! Không có tâm buông bỏ luân hồi!

Nếu quư vị chuyển cái tâm luân hồi thành tâm Bồ Đề, tôi thường nói mười sáu chữ, v́ sao cứ phải nói măi? V́ chưa làm được! “Tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn”, phải đoạn mười sáu chữ ấy. Phải chuyển! Chuyển tự tư thành đại công, chuyển tự lợi thành lợi ích hết thảy chúng sanh. V́ sao không chuyển được ư niệm ấy? Quư vị phải biết tự tư tự lợi rất khổ! Lo được, lo mất, khổ không thể nói nổi! Chuyển biến được cái tâm ấy sẽ được đại lạc, ĺa khổ được vui. Quư vị khởi tâm động niệm đại công vô tư th́ ư niệm và nguyện vọng của ḿnh nếu duyên chín muồi sẽ có rất nhiều người giúp ḿnh, sự việc bèn thành tựu, vui sướng, chúng sanh có phước. Nếu không có thiện duyên, thậm chí vẫn có rất nhiều chướng duyên chướng ngại ḿnh, chúng ta chỉ than một tiếng: “Chúng sanh không có phước báo, duyên chưa chín muồi”. V́ sao? Tự ḿnh không có ư niệm được hay mất: Việc thành công, tự ḿnh không có ư niệm đạt được; việc không thành công, tự ḿnh chẳng có ư niệm mất mát.

Không có ư niệm được - mất nên tâm quư vị thanh tịnh, tâm chân thành, trong tâm vui sướng, không thọ khổ. Thành công, thọ lạc; không thành công, vẫn cứ thọ lạc, không thọ khổ. Người thế gian mê hoặc, điên đảo, lo được, lo mất, sung sướng th́ sướng phát cuồng; mất mát th́ đau khổ quá đỗi, chẳng liễu giải chân tướng sự thật, ư niệm tự tư tự lợi quá nặng. V́ thế, “chuyển Thức thành Trí” phải chuyển từ chỗ này.

Lúc tôi mới học Phật, Chương Gia đại sư dạy tôi thấy thấu suốt, buông xuống. Buông xuống chính là chuyển, buông tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông sự hưởng thụ ngũ dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống, trí huệ bèn tăng trưởng! Rơ ràng nhất không sai mấy là cảnh giới mỗi tháng mỗi khác, mỗi tháng đều có lạc thú; đấy chính là như sách Luận Ngữ nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?), trong nhà Phật gọi điều này là “pháp hỷ sung măn”. Pháp hỷ bổ dưỡng con người, dưỡng thân, dưỡng tâm, thân tâm mạnh khỏe. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Nhân phùng hỷ sự tinh thần sảng” (người gặp chuyện vui, tinh thần sảng khoái), suốt cả đời quư vị sống trong hoan hỷ, đó là hạnh phúc lớn lao nhất. Quư vị không phiền năo, không lo lắng, không vướng mắc chuyện ǵ trong ḷng, vui nào sánh bằng! Niềm sung sướng ấy quư vị vốn có, nay quư vị biến thành đau khổ như vậy là v́ có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tự tư tự lợi, có tham - sân - si - mạn, hằng ngày truy cầu danh văn, lợi dưỡng; cầu được th́ lại sợ mất; cầu không được bèn đau khổ không thể nói nổi! V́ thế, cầu được cũng khổ, cầu không được cũng khổ; nỗi khổ ấy do chính ḿnh chuốc lấy, chứ đâu phải quư vị sẵn có!

V́ vậy, học Phật phải học chuyển biến cảnh giới, chuyển cảnh giới chẳng phải bên ngoài mà là chuyển biến trong nội tâm. Trong kinh, đức Phật đă giảng rất nhiều: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh). Tâm năng tưởng, cảnh giới bên ngoài là sở tưởng. Quư vị muốn chuyển th́ đừng chuyển nơi cái được tưởng (sở tưởng) mà phải chuyển nơi năng tưởng. Chuyển được năng tưởng th́ sở tưởng bèn biến đổi. Rơ ràng nhất là trong thí nghiệm kết tinh nước của ông Giang Bổn Thắng. Lần này, pháp sư Định Luật từ Nhật Bản qua Đài Loan viếng tang mẹ của Hồ cư sĩ, mang theo một cuốn băng thâu h́nh, Sư có cuốn băng ấy từ chỗ ông Giang Bổn Thắng. Chúng tôi thấy rất rơ, so với h́nh chụp trong sách rơ rệt hơn nhiều lắm. Là v́ trong sách, quư vị nh́n vào h́nh chụp, không thấy nó biến hóa, qua băng thâu h́nh, thấy h́nh ảnh biến hóa, khiến cho người ta rất cảm động. Cảnh giới biến đổi theo tâm niệm con người, ư niệm của quư vị là tốt lành th́ nó càng biến đổi càng đẹp, càng biến đổi càng to; lúc tâm lượng không lành, h́nh dạng của chúng rất khó coi. Điều ấy chứng minh hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh, hết thảy pháp chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến, chứng minh rơ ràng! Bởi thế, cảnh giới chuyển biến trong mỗi niệm.

Cư sĩ Giang Bổn Thắng [thật ra] vẫn chưa là cư sĩ, ông ta là tiến sĩ, cực lực hô hào, mong mỏi người thế gian ai nấy đều có thể dùng thiện tâm, thiện niệm đối đăi hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật th́ quả địa cầu này sẽ biến thành tốt đẹp phi thường. Lời kêu gọi ấy giống như thiền sư Trung Phong đă nói trong Hệ Niệm Pháp Sự, tâm ta là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta, Cực Lạc là cơi này, cơi này chính là Cực Lạc. Vậy th́ quư vị biến đổi cái tâm bằng cách nào? Nếu tâm biến thành thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, thế giới này sẽ là thế giới Cực Lạc, không phải biến đổi nơi cảnh giới mà là biến đổi nơi tâm địa!

Trong thế gian này, những người sống trên địa cầu không cần nhiều, cổ đức thường nói là một phần mười, tức trong mười người có một người tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, thiện lương th́ thế giới này đă biến thành thế giới Cực Lạc rồi. Chắc chắn một người có thể ảnh hưởng cả chín người kia. V́ thế, ông ta cổ vũ sự giáo dục yêu thương và biết ơn. Trong những năm qua, chúng tôi thực sự không tiếp xúc với ông ta, chúng tôi cũng cổ động giáo dục yêu thương, giáo dục ḷng cảm ơn, không bàn tính mà cùng hợp! V́ thế, chúng tôi hoan nghênh ông Giang Bổn Thắng đến thăm Úc Châu, trong thời gian viếng thăm, tôi hy vọng ông ta có thời gian đến thăm học viện chúng ta, chúng tôi sẽ sắp xếp một buổi diễn giảng cho ông tại Đồ Văn Ba (Toowoomba). Trong phần sau là tổng kết, ở đây là tiểu kết.

“Chiếu phá Tam Hoặc của ḿnh lẫn người”. Tam Hoặc là ba loại mê hoặc lớn. Ba loại này chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Trong các kinh Đại Thừa, đức Thế Tôn thường gọi ba loại mê hoặc này là phiền năo, tức Kiến Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, và Vô Minh phiền năo. Kiến Tư phiền năo là chấp trước, Trần Sa phiền năo là phân biệt, Vô Minh phiền năo là vọng tưởng, danh từ khác nhau nhưng ư nghĩa hoàn toàn tương đồng. Phải dùng trí huệ để chiếu phá, “Tu Di biểu thị nhất thể bất nhị”, Tu Di là Pháp Thân, núi Tu Di tượng trưng cho Pháp Thân. Kinh luận thường nói: “Thập phương tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (Mười phương ba đời Phật cùng chung một Pháp Thân), nói mười phương ba đời Phật là gộp cả chúng ta trong ấy. Ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai, hết thảy chúng sanh đều là Phật vị lai, mọi người chúng ta đều là Phật vị lai, chúng ta cùng với quá khứ Phật và hiện tại Phật có chung một Pháp Thân, nhất thể bất nhị, đức hiệu của vị Phật này biểu thị ư nghĩa ấy. Vị Phật cuối cùng là.

 

Vô Lượng Tinh Tấn Phật.

量精進佛。

 

“Biểu thị pháp tu căn bản, thiện căn Đại Thừa chỉ gồm một loại là tinh tấn, thành tựu đại huệ”. Đức Phật nói đến thiện căn, Căn là dùng thực vật làm tỷ dụ, thực vật phải có rễ (Căn) th́ mới có thể sống được, tăng trưởng được, khai hoa kết quả được. Nói đến thiện căn, là sánh ví nó giống như rễ của thực vật, thiện căn có thể sanh trưởng hết thảy thiện pháp, tất cả hết thảy thiện pháp đều từ căn này sanh ra, đức Phật gọi đó là “thiện căn”.

Thiện căn có thế gian thiện căn và xuất thế gian thiện căn. Trong lục đạo thế gian, tất cả hết thảy thiện pháp từ đâu mà sanh? Đức Phật nói có ba thứ thiện căn: không tham, không sân, không si, như trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói bất tham, bất sân, bất si là ba thiện căn! Tất cả hết thảy thiện pháp trong lục đạo đều sanh từ những Căn này. Trái với ba thiện căn là tham - sân - si, gọi là Tam Độc! Khi chúng tôi giảng kinh thường gọi chúng là “bệnh độc”, trong tâm mỗi người chúng ta có bệnh độc nghiêm trọng là tham - sân - si. Ba thứ bệnh độc tham - sân - si gây tạo tất cả hết thảy tật bệnh và tai nạn trong thế gian này. Người ta thường nói đến thiên tai, nhân họa, thủy tai, hỏa tai, phong tai, địa chấn (động đất), ôn dịch, những thứ ấy từ đâu mà có? Cội nguồn của chúng đều là tham - sân - si.

V́ vậy, quư vị phải hiểu minh bạch đạo lư sau đây: Nếu trong tâm quư vị không có tham - sân - si, sẽ tránh khỏi rất nhiều tai nạn. Dù quư vị có đến chỗ đang có bệnh dịch cũng không bị truyền nhiễm. V́ sao? Quư vị không có những điều kiện cảm ứng với chúng; virus gây bệnh truyền nhiễm phải có môi giới, môi giới chính là cái tâm bất thiện của chính ḿnh. Ác niệm sẽ khởi cảm ứng đạo giao với chất độc ấy, sẽ lây nhiễm dễ dàng. Nếu tâm địa của chính ḿnh thanh tịnh, tâm địa từ bi, không có ư niệm tham - sân - si, quư vị sẽ chẳng bị lây nhiễm. Từ nguyên lư, nguyên tắc mà nói th́ đúng là như thế!

Bởi thế, con người chẳng thể không tu thiện. Cát - hung, họa - phước thực sự chỉ trong một niệm. Một niệm lành th́ đại cát, đại lợi; một niệm không lành, đại hung, đại họa. Nếu chúng ta thực sự có tâm xu cát tỵ hung (t́m lành tránh dữ) th́ phải xu cát tỵ hung bằng cách nào? Phải đoạn ác tu thiện, quư vị sẽ không có tai nạn! Đúng như cổ nhân đă nói: Người có phước báo, tâm địa thanh tịnh, có trí huệ, có phước báo! Ngạn ngữ nói rất hay, gặp phải tai nạn th́ “phùng hung hóa cát, ngộ nạn thành tường” (gặp điều dữ hóa điều lành, gặp tai nạn biến thành chuyện tốt lành), chuyển biến đấy! Gặp phải hung tai nó bèn chuyển biến thành hảo sự, cát tường. Gặp phải tai nạn, chuyển biến thành phước báo cát tường. Đều là chuyển biến nơi tâm, lúc b́nh thường phải chuyển biến, chứ không phải đến lúc tai nạn mới tính chuyển th́ chuyển chẳng được đâu! Công phu do lúc b́nh thời, b́nh thời niệm niệm đều thiện, niệm niệm là thiện niệm, hành vi nào cũng là thiện hạnh. Quư vị thấy đó: Thiện niệm, thiện ư, thiện hạnh th́ không ǵ chẳng phải là tốt lành! Tâm tịnh, ư tịnh, hành vi thanh tịnh, ắt sanh Tịnh Độ. Kinh đă dạy mà cổ đức cũng thường nói: “Tâm tịnh tắc quốc độ tịnh” (Tâm tịnh th́ cơi Phật tịnh). Quư vị khởi cảm ứng đạo giao với Tịnh Độ th́ tự nhiên sẽ văng sanh.

Trong pháp xuất thế gian, thiện căn chỉ có một, chính là Tinh Tấn. Tinh tấn là thiện căn duy nhất của Bồ Tát, “Thiện căn Đại Thừa chỉ có một loại là Tinh Tấn”. Tinh tấn là không lười nhác, “thành tựu đại huệ”. Mục tiêu mà chúng ta mong cầu là viên măn rốt ráo hiện tiền th́ phải nhờ vào đâu? Nhờ vào tinh tấn. Tương phản với tinh tấn chính là điều chướng ngại lớn nhất cho pháp xuất thế gian, điều ǵ vậy? Giải đăi! Người học pháp xuất thế quyết định không tham - sân - si, tức là hội đủ ba thiện căn thế gian cho nên mới tu pháp xuất thế. Quư vị nhất định phải hiểu đạo lư này: Tu pháp thế gian chưa trọn mà toan tu pháp xuất thế gian sẽ chẳng thể được đâu! Chẳng thể làm người tốt trong thế gian mà lại muốn thành Phật, thành Bồ Tát, chẳng thể nào được! Chẳng thể không hiểu đạo lư này, phải hiểu thấu triệt. V́ sao? Có hiểu th́ mới phát sanh ảnh hưởng đối với tâm hạnh của chính ḿnh. Nếu quư vị hiểu rất sâu, rất triệt để, sẽ tự nhiên chịu làm như vậy. V́ sao? Làm như vậy có đại lợi ích, làm như vậy có chỗ rất tốt. Với chính ḿnh là ĺa khổ được vui, với chúng sanh cũng giúp cho họ ĺa khổ được vui. C̣n ǵ vui hơn mà không làm cơ chứ?

Rất nhiều đồng học học Phật nghe những lời này đều gật đầu, nhưng rất cảm thán bảo tôi: “Thưa pháp sư! Con làm không được!” Tôi biết v́ sao họ làm không được! V́ sao họ làm không được? V́ hiểu chưa sâu, nên thường đến hỏi tôi phải làm cách nào? Tôi dạy họ nghe kinh cho nhiều. Nghe kinh nhiều không có nghĩa là kinh ǵ cũng nghe, phải hiểu ư này. Quư vị là sơ học, nói “sơ học phải nghe kinh nhiều” nghĩa là chỉ nghe một bộ kinh, tối đa là hai bộ, ba bộ kinh, đừng nhiều hơn ba. Nghe bao lâu? Từ xưa đến nay, tổ sư đại đức ấn định quy củ là năm năm.

Tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lư. Thầy Lư cũng dạy tôi năm năm phải chuyên công! [Tức là] chuyên môn nghe một loại, hoặc là nghe hai loại, tối đa không được quá ba loại, tối đa là ba loại. Nghe đi nghe lại như vậy, hằng ngày không gián đoạn, nghe suốt cả năm năm. Tốt ở chỗ nào? Tâm quư vị bèn định. Nếu trong năm năm ấy, quư vị nghe mười mấy loại, tâm sẽ chẳng định. Há chẳng phải như kinh này dạy “nhất tâm bất loạn”, tu nhất tâm bất loạn đó sao? Nhất tâm bất loạn là tam-muội, nhất tâm bất loạn là Thiền Định rất sâu, tu như thế nào? Phải thâm nhập một môn, tâm bèn định. Cứ nghe đi nghe lại, mỗi lần nghe một lượt, quư vị lại cảm nhận, lănh hội khác nhau. Mỗi lần nghe lại được một lần công phu định lực, mỗi lần nghe là một lần đắc trí huệ. Nghe suốt năm năm như thế, quư vị ắt có định, có huệ. Nói cách khác, dẫu chưa đạt được Căn Bản Trí, nhưng đă đạt được Tương Tự Căn Bản Trí. Từ chỗ này, quư vị có thể kiến lập tín tâm, đạt được pháp hỷ, rất sung sướng, cảm nhận rất rơ phiền năo của chính ḿnh giảm thiểu, tức vọng tưởng, phân biệt, chấp trước ít hơn, trí huệ tăng trưởng. Bất luận tiếp xúc hết thảy người, sự, vật, tợ hồ chính ḿnh có trí huệ, chính ḿnh xử trí rất thích đáng.

Bản thân tôi đi theo con đường này, tôi không tu pháp môn nào khác, chỉ là nghe kinh, đọc kinh, giảng kinh, cả đời vui sướng không mệt mỏi. Những chuyện đáp ứng lời mời mọc giảng diễn bên ngoài nói thật ra toàn là chuyện bất đắc dĩ, chẳng phải là tôi muốn đi; không muốn đi sao lại cứ đi? Đối với xă hội có chút lợi ích th́ chúng tôi phải làm. Xă hội hiện tại là đời loạn mà! Tà tri, tà kiến, tà thuyết, tà hạnh ngập ngụa thế gian, chúng sanh rất khổ, không giác ngộ! V́ thế, có ai t́m tôi, có cơ duyên ấy, tôi cũng vui ḷng dâng chút cống hiến. Đem sở học của chính ḿnh, đem những ǵ ḿnh hiểu biết để thưa cùng đại chúng, dâng cho đại chúng tham khảo ḥng tu học, tận hết chút sức kém cỏi của chính ḿnh. Xong việc, tôi trở về gấp studio của chính ḿnh, chẳng thích đi ra ngoài, chỉ là bất đắc dĩ mà thôi! Hết thảy là v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, hết thảy là v́ chúng sanh khổ nạn. A! Hôm nay hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 10 hết



[1] Trường Thủy là hiệu của ngài Tử Tuyền (965-1038). Sư có pháp hiệu là Đông B́nh, thường được gọi là Trường Thủy đại sư (v́ Ngài thường trụ tại chùa Trường Thủy). Sư là người huyện Tiền Đường, Hàng Châu, là cao tăng thuộc tông Hoa Nghiêm. Sư xuất gia từ nhỏ, xuất gia với ngài Hồng Mẫn, theo học với ngài Khế Tông chùa Phổ Huệ, chuyên dốc sức nơi kinh Lăng Nghiêm. Năm 13 tuổi, Sư đă được đặc cách thọ Cụ Túc Giới. Sư cực lực hoằng dương tông Hoa Nghiêm, được coi là người có công lớn nhất trong công cuộc trung hưng tông Hoa Nghiêm thời Tống. Những tác phẩm trọng yếu nhất của Sư là Lăng Nghiêm Kinh Nghĩa Sớ Chú Kinh, Lăng Nghiêm Kinh Khoa, Kim Cang Bát Nhă Toản Yếu Khoa, Đại Thừa Khởi Tín Luận Bút Tước Kư.

[2] Tuyên đạo (宣導): Tuyên nói, chỉ dạy, hướng dẫn.

[3] Nguyên văn “kư vấn chi học” tức là nền học vấn do t́m đọc, học hỏi, ghi nhớ, chứ không phát xuất từ sự thể nghiệm, chứng nghiệm.

[4] Thái Sư Ỷ là loại ghế có lưng tựa cao, hai bên có chỗ đặt tay. Loại ghế này đă có từ thời Tống. Thoạt đầu nó giống như giao ỷ (giao ỷ là loại ghế có thể xếp được, có chỗ tựa lưng và đặt tay), nhưng không xếp được. Thành ghế và tay vịn hai bên ghế nối liền với lưng ghế và mặt ghế, chứ không tách khỏi mặt ghế như giao ỷ. Lưng ghế cũng thẳng chứ không xiên như giao ỷ. Đến thời Minh, lưng Thái Sư Ỷ làm cao hơn nữa và thường chạm thủng, hoa văn uốn lượn cầu kỳ sao cho phía trên của lưng ghế gồm nhiều đoạn uốn lượn, móc vào nhau, ghế cũng được làm to hơn trước, chân ghế, thành ghế đều được chạm trổ, uốn lượn thật thanh nhă. Có thuyết nói loại ghế này mô phỏng các pháp tọa giảng kinh của người Ấn Độ.