Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 11

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

     

Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn Tây Phương trong phần Sáu Phương Chư Phật, trước hết chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

      Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.

      利弗。西方世界。有無量壽佛。無量相佛。無量幢佛。大光佛。大明佛。寶相佛。淨光佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Xá Lợi Phất! Thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”).

 

      Trong đoạn này, đức Thế Tôn nêu danh hiệu của bảy vị Phật trong các thế giới ở phương Tây. Quư vị thấy trong hai phần trên đều là năm vị Phật, ở chỗ này đột nhiên lại kể tên bảy vị Phật. Trong pháp hội Di Đà, con số Bảy tượng trưng cho viên măn, như trong phần trước chúng ta đă thấy “thất trùng la vơng, thất trùng hàng thụ, thất trùng lan thuẫn” (bảy tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, bảy tầng lan can). “Bảy” ở đây không phải là con số mà hoàn toàn nhằm biểu thị pháp, biểu thị sự viên măn. Con số Bảy biểu thị viên măn v́ bốn phương, trên, dưới, thêm vào chính giữa th́ sẽ là viên măn. Kinh Hoa Nghiêm dùng con số Mười để biểu thị viên măn, Mười là con số, từ một đến mười, đó là con số viên măn. Từ mười đến một trăm, từ một trăm đến một ngàn đều nhằm biểu thị sự viên măn. Kinh Di Đà dùng số Bảy để biểu thị viên măn; chúng ta thấy trong kinh Vô Lượng Thọ có bảy, có mười sáu, có hai mươi mốt, có hai trăm mười ức đều nhằm biểu thị sự viên măn, đều chẳng thể hiểu chúng chỉ là những con số. Thế giới Cực Lạc ở phương Tây, cho nên liệt kê danh hiệu bảy vị Phật ở phương Tây.

      Vị Phật thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ Phật có phải là giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Cũng có thể nói như vậy! Nhưng như trong phần trên đă nói, phương Tây có Hằng hà sa số chư Phật, trong số hết thảy chư Phật, có rất nhiều vị Phật đồng danh đồng hiệu. Dẫu đồng danh đồng hiệu, nhưng Vô Lượng Thọ Phật của Tây Phương Cực Lạc thế giới được đặc biệt tôn kính, là do ư nghĩa nào? Trong phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi, thế giới Cực Lạc không phải là một thế giới b́nh thường, mà là thế giới như thế nào? Giống như hết thảy chư Phật lập một ngôi trường ở đó, ngôi trường ấy là trường học của Phật, Bồ Tát. Hết thảy chư Phật giống như gia trưởng (người chủ trong gia đ́nh), hết thảy chúng sanh giống như con cái; con cái muốn thành Phật, thành tựu trí huệ viên măn, đức năng viên măn, tướng hảo viên măn th́ phải đến đó học. V́ thế, lập ra một ngôi trường như vậy!

A Di Đà Phật làm hiệu trưởng của ngôi trường ấy, Quán Âm và Thế Chí giống như chủ nhiệm giáo vụ, chủ nhiệm huấn đạo. Vị hiệu trưởng ấy được hết thảy các gia trưởng tôn kính. Chắc từ tỷ dụ này quư vị hiểu rơ v́ sao không một vị Phật nào lại chẳng tôn kính, tán thán A Di Đà Phật, v́ sao? Chư Phật có tôn trọng th́ đệ tử chư Phật mới tôn trọng; gia trưởng có tôn trọng th́ con cái mới tôn trọng. V́ thế, chư Phật (gia trưởng) phải đứng ra nêu gương, dẫu Phật Phật đạo đồng, các vị Phật hoàn toàn b́nh đẳng, không có sai biệt, nhưng để biểu thị pháp, để giáo hóa chúng sanh nên hết thảy chư Phật đặc biệt tôn kính vị hiệu trưởng ấy. Đạo lư là như vậy đó! V́ thế, trong đoạn này, kinh văn liệt kê bảy đức Phật để biểu thị sự viên măn.

      Vị  Phật  thứ nhất  là Vô Lượng Thọ Phật.  Chúng ta  thấy Vô Lượng

Thọ là thọ mạng vô lượng. Thọ là một loại phước báo, người Hoa thường nói “ngũ phước lâm môn” (năm thứ phước vào cửa), phước bậc nhất trong năm phước là Thọ. Từ xưa, tổ sư đại đức khi giới thiệu Tây Phương Tịnh Độ, nói đức bậc nhất (đức tánh to lớn nhất) của Tây Phương Tịnh Độ là ǵ? Thọ mạng trường cửu! Có thọ mạng trường cửu th́ chúng ta tu hành chứng quả mới không khó; chẳng hạn như nói theo kinh này, phàm phu từ Sơ Phát Tâm đến khi tu thành Phật quả phải trải vô lượng kiếp; hàng Pháp Thân Bồ Tát từ Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo tu cho đến khi viên măn Phật quả phải mất ba A-tăng-kỳ kiếp. Những con số ấy đều là con số thiên văn, không cách nào tính toán được! Đức Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vô lượng lần vô lượng thọ, hăy nên giảng như thế nào?

      Nên biết “vô lượng” là một đơn vị số đếm của cổ Ấn Độ; kể từ A-tăng-kỳ trở đi là mười con số lớn cuối cùng. A-tăng-kỳ là con số lớn nhất đầu tiên [trong mười số ấy]. Mười con số lớn này không tính theo lối gấp mười mà tính theo lối nhân gấp bội. A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ là một Vô Lượng. Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên, tính theo cách như thế! Do vậy, Vô Lượng Thọ vẫn c̣n là có hạn lượng, nhưng số lượng ấy không quan trọng! Nếu cứ tính là một Vô Lượng thôi th́ thọ mạng của quư vị là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ, nhưng để thành Phật phải mất bao nhiêu thời gian? Ba A-tăng-kỳ! Thọ mạng của quư vị là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ, vậy th́ ba A-tăng-kỳ có thấm vào đâu! Giống như người sống được một trăm tuổi, để thành tựu tu hành chứng quả, chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, phải cần bao nhiêu thời gian? Ba ngày thôi! Thọ mạng một trăm năm, ba ngày thấm vào đâu? Chẳng phải là quyết định thành Phật ư?

      Thành Phật đúng là vô lượng không hạn lượng, thực sự là vô lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn lượng, mà là vô lượng không hạn lượng. Do vậy, ta có thể nói phàm ai văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều có thọ mạng vô lượng không hạn lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn lượng. V́ sao? Do họ đều có thể trong một thời gian rất ngắn (dựa trên thọ mạng của họ để so sánh) chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, rốt ráo Phật quả, đó là phẩm đức bậc nhất của Tây Phương Cực Lạc thế giới! Bất cứ thế giới nào khác đều không có chuyện này. Chỉ dựa vào một điều này thôi, nếu chúng ta thực sự thấu hiểu rơ ràng sẽ chẳng thể không sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị chẳng muốn sanh về đó là lầm lạc quá đỗi rồi! Như vậy, trong danh hiệu này có phước báo, có phước, có thọ, phước vô lượng, thọ vô lượng. Như tôi vừa mới nói đó, vô lượng ở đây thực sự là vô lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn lượng.

      Vị Phật thứ hai là Vô Lượng Tướng Phật. Tướng là tướng hảo, biểu thị phú quư. Người thế gian chúng ta thường nói người nào đó có “phước tướng”, [tức là người ấy có] tướng giàu có, tướng cao quư. “Quư” là có địa vị cao cả trong xă hội như quốc vương, đại thần có quư tướng. Giàu là của cải dư dật. Vô Lượng Tướng Phật là vừa tôn quư lại vừa giàu có, vô lượng vô biên phước đức và của cải.

      Vị Phật thứ ba là Vô Lượng Tràng Phật. Tràng () tiêu biểu cho những ǵ cao cả, rơ ràng, cao hiển. Tràng có nghĩa là được hết thảy đại chúng tôn kính, đức cao, chúng ta thường nói là “đức cao vọng trọng”, [tức là] đức cao, trí cao, danh cao, nay ta nói là mức độ nổi danh rộng khắp; không ai chẳng ca ngợi. Quư vị thấy đó, cả ba điều sau đây đức Phật đều hội đủ: Thọ mạng, phú quư, cao hiển (tài nghệ cao), không ǵ chẳng cao; những điều ấy đều nhằm biểu thị quả báo. Quả báo do đâu mà có? Quả nhất định phải có nhân; v́ thế, ba đức Phật tiếp theo đại diện cho nhân hạnh.

      Đại Quang Phật: Quang là quang minh trí huệ, Ngài đại diện cho Trí; bởi lẽ phước thọ, phú quư, cao hiển đều do trí huệ sanh ra.

      Đại Minh Phật: “Minh” là chiếu sáng, tức là đại trí khởi tác dụng. Tác dụng ấy gồm có Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng. Ở phần trên đă nói đến phước báo, phú quư, cao hiển; cao hiển là Tự Thọ Dụng, đồng thời cũng là tác dụng giáo hóa chúng sanh; không có đại trí, đại đức, đại năng như thế, làm sao có thể giáo hóa chúng sanh? Chính ḿnh phải có những thành tựu thù thắng như thế th́ mới có năng lực giúp cho người khác thành tựu, trí huệ khởi tác dụng là như vậy! Y báo và chánh báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc đều là do trí huệ của A Di Đà Phật khởi tác dụng. Phàm đại chúng từ mười phương thế giới văng sanh thế giới Cực Lạc đều là do tịnh nghiệp của họ khởi tác dụng. Do tịnh nghiệp đă tu của người văng sanh tương ứng với nguyện hạnh của A Di Đà Phật nên chiêu cảm được [như vậy]. Trong phần khai thị của Hệ Niệm Pháp Sự này, thiền sư Trung Phong đă giảng rất rơ ràng.

      Bảo Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng. Trong kinh Đại Thừa, đức Thế Tôn thường nói: “Phật hữu vô lượng tướng, tướng hữu vô lượng hảo” (Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo). Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ đạt được thân Kim Cang Na La Diên, Kim Cang Na La Diên (Vajra-nārāyana) là thân kim cang. Kim Cang Lực Sĩ[1] thân thể cứng chắc, không ai sánh bằng. Thân thể Phật giống như vậy đó. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, những thế giới phương khác không thể sánh bằng, điều thù thắng nhất là ǵ? Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ thân thể, tướng hảo, quang minh, trí huệ, đức năng, phước báo của chính ḿnh tợ hồ gần bằng với A Di Đà Phật. Mười phương thế giới chắc chắc chẳng có việc như vậy, [ở Cực Lạc] hưởng phước của A Di Đà Phật mà! Thật là chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, Bảo Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng. Nếu quan sát kỹ sáu đức Phật này th́ trí huệ, thọ mạng, phước đức, tức những điều hết thảy chúng sanh mong cầu, các Ngài đều trọn đủ, lại c̣n rốt ráo viên măn, không thiếu khuyết chút nào.

“Vô phước chẳng thể độ sanh, thành Phật rồi, trăm kiếp tu phước”. Nếu quư vị không có phước báo, quư vị chẳng thể độ sanh. V́ sao? Dù có trí huệ, có năng lực, nhưng tướng mạo không tốt, người ta vừa nh́n bèn nghĩ: “Gă này không có phước báo!”, đánh mất tín tâm đối với quư vị. Thuyết pháp cho họ nghe, họ bèn hoài nghi, chẳng thể tin nhận phụng hành. V́ thế, Bồ Tát thành Phật, phải dùng thời gian một trăm kiếp để chuyên môn tu phước báo, tu tướng hảo! Trong nhà Phật thường nói là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, ngạn ngữ thường nói “tướng tùy tâm chuyển”. Phải dùng cả một thời gian dài như thế để tu điều ǵ? Tu cái tâm thuần thiện thuần tịnh, cái hạnh thuần thiện thuần tịnh. Tâm hạnh thuần thiện thuần tịnh, sẽ cảm được tướng hảo, quang minh. Tướng Phật đúng là viên măn, ai trông thấy cũng đều yêu mến. Tướng hảo tiếp dẫn chúng sanh, chúng sanh thích thấy, bằng ḷng đi theo, bằng ḷng học theo, bằng ḷng nghe giảng dạy, y giáo phụng hành.

      Nói thật ra, công phu tu hành của quư vị đắc lực hay không, quư vị có bao nhiêu công phu không thể lừa người khác chút xíu nào, v́ sao? V́ đều thể hiện trên tướng hảo của quư vị! Ngạn ngữ Trung Quốc đă nói về việc này rất có lư như sau: “Một người trước khi tṛn bốn mươi tuổi, mạng tướng chịu ảnh hưởng của tiên thiên[2], tức là chịu ảnh hưởng của nghiệp báo trong đời quá khứ. Từ bốn mươi tuổi trở đi, chịu ảnh hưởng của hậu thiên; nói cách khác, chính ḿnh phải chịu trách nhiệm”. Khởi tâm động niệm, hết thảy hành vi trong bốn mươi năm sẽ biến đổi tướng mạo trang nghiêm. Bởi thế, người nào đến tuổi già, tướng mạo đoan nghiêm th́ nhất định phải là người tốt, tu phước, tu cả đời. Tướng chuyển theo tâm, mạng chuyển theo tâm. Thân thể và thể chất của chúng ta cũng chuyển theo tâm!

Qua thí nghiệm kết tinh nước, tiên sinh Giang Bổn Thắng đă chứng minh điều này, chứng minh những điều được nói trong kinh Đại Thừa: Vũ trụ sống động! Chính ngay trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng: “Chư pháp sở sanh, duy tâm sở hiện, nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Các pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện, hết thảy nhân quả, vi trần, thế giới, do tâm mà thành Thể). Ấy là do tâm hiện, thức biến, là bản năng (năng lực sẵn có) của tâm. Năng lực ấy bất sanh, bất diệt, không đến, không đi, không thường, không đoạn, chẳng phải có, chẳng phải không, vĩnh hằng. Bản năng ấy là ǵ vậy? Bản năng là có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết; trong phần khai thị của Hệ Niệm Pháp Sự, thiền sư Trung Phong gọi [bản năng ấy] là “tâm linh tri”.

Nói về Tâm, Ngài cũng giảng ba thứ. Thứ nhất là Nhục Đoàn Tâm, tức là trái tim trong thân thể chúng ta. Đó là trái tim thịt, chỉ là một cơ quan mà thôi, không có tác dụng ǵ lớn lao cho lắm [ngoài việc duy tŕ sự sống]. Thứ hai là Duyên Lự Tâm, nghĩa là mọi người chúng ta có khả năng suy nghĩ, tưởng tượng, phân biệt thị - phi, thiện - ác, cũng như mọi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều thuộc về cái tâm này. Trong Phật pháp, tâm ấy được gọi là Thức. Thức là sở biến (cái được biến hiện), nó có thể biến, duy thức sở biến, Duyên Lự Tâm là sở biến. Cảnh giới ấy hiện tướng, [chủ thể có khả năng] hiện tướng là chân tâm. Chân tâm được gọi là “linh tri tâm”, [tức là cái tâm có khả năng] linh minh giác tri. Chữ “linh” bao hàm cả ba chữ kia (tức “minh, giác, tri”); kinh Lăng Nghiêm nói bốn chữ, chữ “linh” bao gồm kiến, văn, giác (thấy, nghe, cảm nhận). Linh là như vậy đó! Sau “linh” c̣n có một chữ “tri” nữa, “linh tri” là “kiến - văn - giác - tri”.

Từ thực nghiệm khoa học, phát hiện nước có thể thấy, có thể nghe, có thể hiểu được ư tưởng con người, tùy theo trạng huống ư tưởng con người mà nước biến hóa bất đồng, đấy chẳng phải là như kinh Phật thường nói “cảnh chuyển theo tâm” hay sao? Thế gian xem tướng đoán mạng cũng thường nói “tướng chuyển theo tâm”, thật vậy đó! Mạng chuyển theo tâm, Phong Thủy cũng chuyển theo tâm. Phong Thủy là hoàn cảnh chúng ta đang sống; v́ thế, các nhà Phong Thủy thường nói: “Phước nhân cư phước địa, phước địa phước nhân cư” (Người có phước sống nơi đất có phước, đất tốt lành th́ người có phước ở). Vấn đề là chính ḿnh phải tu phước. Tự ḿnh tu phước th́ bất luận sống tại nơi nào, Phong Thủy nơi đó sẽ tự nhiên biến đổi, hoàn toàn giống như hiện tượng nước kết tinh. Thí nghiệm khoa học chứng minh những đạo lư và những sự tướng đă được nói trong kinh Phật. Đối với điều này chúng ta tin sâu không nghi.

Cái hay của việc học Phật là chuyển được cảnh giới. Chúng tôi thường nói: Chuyển cảnh giới th́ chuyện đầu tiên là chuyển thân thể. Thân thể chúng ta vốn chẳng khỏe mạnh mà chuyển thành khỏe mạnh, thọ mạng vốn không dài chuyển thành trường thọ. T́nh trạng thông thường là từ sáu mươi tuổi trở đi, con người dần dần suy lăo, khí quan dần dần lăo hóa. Người học Phật có khả năng giảm chậm sự lăo hóa khí quan; vốn sáu mươi tuổi bị lăo hóa nhưng phải đến năm tám mươi tuổi vẫn chưa bị lăo hóa, tai nghe mắt thấy rơ ràng, mắt không ḷa, tai không điếc, da dẻ không nhăn nheo; đó là công phu niệm Phật, công phu tu hành của quư vị! V́ vậy, công phu tu hành nh́n ở chỗ này. Nếu cảnh giới nơi cái thân ḿnh không chuyển được, há quư vị c̣n có thể chuyển được cảnh giới bên ngoài ư? Đầu tiên là phải chuyển cảnh giới nơi cái thân ḿnh. Cái đầu tiên phải chuyển nơi thân là vẻ mặt. Nói cách khác, quư vị học Phật mười năm, hai mươi năm, hăy xét kỹ xem quư vị có đoan nghiêm và an tường như Phật hay chăng?

Vị Phật cuối cùng, tức vị Phật thứ bảy ở Tây Phương là Tịnh Quang Phật, Ngài “biểu thị pháp tu phước căn bản”. Quư vị thấy: Ở phần trên nói đến tu huệ, c̣n ở đây là tu phước! Tây Phương Cực Lạc thế giới tu phước, phương Nam tu huệ, phương Tây tu phước. “Phải tu ba nghiệp thanh tịnh quang minh, thành măn đại phước”.Thành” là thành tựu, “măn” là viên măn. V́ vậy, quư vị thấy phương pháp tu phước là “tịnh”, “quang”, thuần tịnh! Thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh, cảnh giới thanh tịnh, đại phước báo!

Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, có một câu dạy chúng ta: “Bồ Tát hữu nhất pháp, năng ly nhất thiết thế gian khổ” (Bồ Tát có một pháp có thể ĺa hết thảy khổ thế gian). Pháp ấy thù thắng. Pháp ǵ vậy? Chúng ta phải nghe cho kỹ, phải học cho khéo. Phật dạy: “Thường niệm thiện pháp”, tức là tâm thiện, “tư duy thiện pháp” tức suy nghĩ thiện, “quán sát thiện pháp” tức hành vi thiện. Sau đó lại nói: “Bất dung hào phân bất thiện hiệp tạp” (Chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp). Câu này rất quan trọng! Nay chúng ta tu hành, tu hành thành tựu không rơ ràng, không có ǵ chuyển biến rơ rệt, là v́ nguyên nhân nào? V́ quư vị tu bị xen tạp. Điều thiện quư vị tu bị xen tạp bất thiện, tâm xen tạp bất thiện, niệm xen tạp bất thiện, hành vi cũng xen tạp bất thiện. V́ thế, hiệu quả không rơ ràng, không trừ nghiệp chướng được, nguyên nhân là do đây.

Phỏng theo cách đức Thế Tôn thuyết pháp, chúng tôi bảo mọi người: Tâm chúng ta “thường niệm pháp thanh tịnh, tư duy tịnh pháp, quán sát tịnh pháp”. V́ thế, trong những năm qua, chúng tôi đặc biệt đề xướng thuần thiện thuần tịnh, “bất dung hào phân bất tịnh hiệp tạp, bất dung hào phân bất thiện hiệp tạp” (chẳng dung mảy may bất tịnh xen tạp, chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp). Đó chính là Tịnh Quang Phật! Tâm chúng ta thanh tịnh, hiền lành, tư tưởng thanh tịnh, hiền lành, hành vi thanh tịnh, hiền lành, hoàn toàn tương ứng với Tịnh Độ, vô lượng trí huệ phước đức bèn hiện tiền. Trí huệ, phước đức hiện tiền, quư vị sẽ biết rơ ràng, rành mạch.

Người thực sự học Phật chẳng sanh bệnh. Thời đầu Dân Quốc, vị giảng kinh thuyết pháp nổi tiếng nhất là lăo pháp sư Đế Nhàn (Ngài giảng kinh thuyết pháp nổi danh nhất thời ấy), có một thời kỳ Ngài bị bệnh. Chuyện này đồn đến tai pháp sư Ấn Quang. Pháp sư Ấn Quang liền gởi một lá thư: “Ông là pháp sư giảng kinh thuyết pháp, làm sao có thể sanh bệnh được?” Lời tổ Ấn Quang rất hữu lư, bệnh là ǵ? Bệnh là nghiệp bất thiện, nếu tâm địa thực sự thuần thiện thuần tịnh, làm sao sanh bệnh được? Tâm thanh tịnh quyết định chẳng nhiễm virus, tâm từ bi chắc chắn có thể hóa giải virus. V́ thế, ai tâm địa thanh tịnh từ bi sẽ chẳng sanh bệnh; nói cách khác, thân quư vị thường có bệnh chứng tỏ tâm quư vị không thanh tịnh, không từ bi. Nếu tâm địa thực sự chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, mỗi tế bào nơi thân quyết định rất b́nh ổn, những tế bào trong thân rất tự nhiên giữ đúng trật tự, cho nên thân thể con người khỏe mạnh.

Bệnh là ǵ? Bệnh là những tế bào trong thân thể không ổn định khiến bệnh tật sanh ra. V́ sao chúng không được ổn định? V́ sao chúng bị loạn trật tự? Ắt phải có nguyên nhân. Đức Phật đă nói nguyên nhân là ba độc phiền năo khởi tác dụng, ba độc là tham - sân - si. Như vậy, tham- sân - si là virus bên trong chúng ta; bên trong đă có virus th́ virus bên ngoài mới có thể cảm nhiễm được, trong ngoài giao cảm! Nếu bên trong không có tham - sân - si, không có virus, dẫu virus bên ngoài tàn hại cũng chẳng thể cảm nhiễm quư vị được. V́ sao? V́ quư vị mạnh khỏe, không có điều kiện cảm nhiễm, các bác sĩ hiện thời cũng nói như thế, họ gọi đó là “sức khỏe tâm lư”. Tâm lư khỏe mạnh, không có tham - sân - si th́ mới là khỏe mạnh thực sự. Không đoạn tham - sân - si th́ tâm chẳng khỏe mạnh. Tịnh Quang Phật hay lắm! Để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ phương pháp tu hành này rất quan trọng, nó là pháp môn tu phước. Ở phần trên, chúng ta đă thấy trong phần tu huệ, “vô lượng tinh tấn”, tức tinh tấn tu huệ. “Tịnh Quang” là tu phước. Lại xem tiếp đoạn phương Bắc, chúng tôi đọc kinh văn một lượt.

 

Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật. Như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.

利弗。北方世界。有燄肩佛。最勝音佛。難沮佛。日生佛。網明佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Xá Lợi Phất! Thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”).

 

Quư vị thấy đức Thế Tôn thuyết pháp hết sức có ư nghĩa; đến phương Bắc lại nói năm vị Phật, cho thấy việc nêu lên bảy vị Phật [ở phương Tây] là đặc thù. Trong mọi lúc thông thường th́ đều là năm vị Phật. “Phương Bắc kể đại lược năm vị Phật biểu thị sự hóa tha”. Phần trên là thành tựu trí huệ và phước đức của chính ḿnh; có trí huệ, có phước đức th́ mới có thể giáo hóa chúng sanh. “Phước huệ đầy đủ, lấy độ sanh làm sự nghiệp”. Trong thế gian này, chư Phật, Bồ Tát làm những việc ǵ? Người sống trong thế gian chẳng thể không làm chuyện ǵ, cả một đời này không có chuyện ǵ hết, vậy là hưởng phước rồi. Hưởng phước nhưng không tu phước th́ phước báo ấy sẽ bị hưởng hết, hưởng hết rồi th́ không c̣n phước nữa! Không có phước, nhưng trong A Lại Da Thức chắc chắn vẫn c̣n có nghiệp bất thiện. Những nghiệp bất thiện ấy sẽ đem lại khổ báo cho quư vị. Hưởng phước xong, hưởng thiện phước xong, nỗi khổ bất thiện sẽ hiện tiền. Bởi lẽ người sống trong thế gian chẳng thể không có việc này việc nọ, chẳng thể không làm này làm nọ.

Do vậy, chư Phật xuất hiện trong thế gian, Bồ Tát xuất hiện trong thế gian phải có sự nghiệp. Sự nghiệp của chư Phật chẳng giống với những nghề nghiệp thông thường trong thế gian, mà là ǵ? Nghề nghiệp của Ngài là “sư đạo” (đạo làm thầy). Chư Phật Như Lai xuất hiện trong thế gian, nhất định phải xuất hiện dưới thân phận một vị thầy. C̣n Bồ Tát không nhất định, Bồ Tát có thể xuất hiện làm các ngành nghề. Trong phẩm Phổ Môn, chúng ta thấy Quán Thế Âm Bồ Tát có ba mươi hai ứng thân, mọi người đều biết. Trong kinh Hoa Nghiêm, quư vị thấy Phật, Bồ Tát thị hiện thành năm mươi ba vị thiện tri thức, nam, nữ, già, trẻ, làm các nghề nghiệp. Nếu mang thân Phật th́ chắc chắn là thầy, chẳng thể theo đuổi các nghề nghiệp khác. Phật pháp là “sư đạo”, mang thân phận ông thầy th́ chắc chắn hằng ngày phải dạy học.

V́ thế, Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện: Từ năm ba mươi tuổi, Ngài biểu diễn tu hành chứng quả, chứng đắc quả Phật Vô Thượng Bồ Đề. Sau khi thành Phật, bắt đầu giáo hóa chúng sanh, bắt đầu giảng kinh, thuyết pháp. Tám mươi tuổi viên tịch, giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm. Tám mươi tuổi viên tịch là v́ người Hoa tính theo tuổi ta, nếu theo cách tính tuổi của người ngoại quốc th́ Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch năm bảy mươi chín tuổi. Giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm; nay gọi giảng kinh, thuyết pháp là “lên lớp”, tức là dạy học! Lên lớp dạy học suốt bốn mươi chín năm, không nghỉ ngày nào, không có ngày nào nghỉ xả hơi, không hề có! Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều dạy học, từ trước đến nay chưa từng gián đoạn; nay chúng ta gọi là “cơ hội giáo dục”. Bất luận ở chỗ nào, bất luận gặp được ai, hoặc là đức Phật chủ động gọi ai đó đến mà giảng, hoặc người nào đó hướng về đức Phật nêu câu hỏi thỉnh giáo, đức Phật bèn v́ người ấy giải đáp.

Đức Phật lên lớp không có pḥng học cố định, thính chúng không cố định. Kinh nói “một ngàn hai trăm năm mươi lăm người”, đó là Thường Tùy Chúng. Đức Phật đi đến đâu, những học tṛ ấy theo Ngài đến đó. Bọn họ cũng buông hết thảy thế gian xuống, chuyên môn theo Thích Ca Mâu Ni Phật học tập. V́ thế, kinh thường liệt kê đại chúng. Liệt kê đại chúng cũng nhằm biểu thị pháp. Ở đây, lần này chúng tôi giới thiệu rất đơn giản, không giảng cặn kẽ như khi giảng kinh Di Đà, [đại chúng] biểu thị pháp. Một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị ấy, nói thật ra, đều là những học tṛ kiệt xuất, đều là những học sinh có sở trường, đức Phật dùng bọn họ để biểu thị pháp, hiển thị trong cuộc sống thường nhật, lúc lên lớp dạy học, từng chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt đều chân thật chẳng dối, học vấn chân thật, đức hạnh chân thật!

Phạm vi giảng dạy của đức Phật hết sức rộng lớn, không giống như Khổng lăo phu tử. Khổng lăo phu tử chỉ dạy con người, chẳng dạy cho thiên địa quỷ thần, chỉ hy vọng con người làm người cho trọn vẹn là được rồi! Phạm vi dạy dỗ của đức Phật rất lớn, bao gồm cả những chiều không gian sai khác như khoa học ngày nay đă đề cập. Phạm vi hết sức rộng lớn; v́ thế, đức Phật giảng y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, kinh Đại Thừa thường nói như vậy. Kinh Hoa Nghiêm chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất, nói đến pháp giới trùng trùng vô tận, khoa học ngày nay đang nghiên cứu theo phương hướng này. Chúng tôi mong mỏi sẽ có những thành quả nghiên cứu, những thành quả ấy nhất định sẽ tương ứng với những điều được giảng trong kinh Hoa Nghiêm.

Sở dĩ đức Phật lấy độ sanh làm sự nghiệp; ngày nay chúng ta gọi “độ sanh” là “giáo dục xă hội”. Đức Phật theo đuổi sự nghiệp giáo dục xă hội đa nguyên văn hóa, nay ta gọi là một nghề. Thế nhưng Phật dạy học không thâu học phí, Ngài không có trường học cố định, hết thảy chúng sanh đều là đối tượng giáo hóa của Ngài, thực sự đáng gọi là “đại học”. Nam, nữ, già, trẻ, đủ các ngành nghề. Trái ngược với họ, đức Phật trí huệ viên măn, đức năng viên măn, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể. Hiện thời học vị tối cao là “tiến sĩ”, [tạm nói theo thuật ngữ hiện thời], đức Phật là vị tiến sĩ danh xứng với thực. Tiến sĩ thuộc các trường học trong thế gian không hiểu biết rộng răi, họ chỉ nghiên cứu một bộ phận, vượt ra ngoài bộ phận ấy họ chẳng biết! Có thể nói là “cách hành như cách sơn”[3]. Thích Ca Mâu Ni Phật đúng là quảng bác, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể.

Lược nêu tên năm vị Phật, vị thứ nhất là Diệm Kiên Phật. Kiên () là cái vai, Diệm () là ngọn lửa, ngọn lửa biểu thị trí huệ. Con người chúng ta có hai vai, dùng Diệm Kiên để biểu thị Quyền Trí và Thật Trí. V́ thế, “sau khi phước huệ trọn đủ, liền dùng hai trí Quyền và Thật để gánh vác gia nghiệp của Như Lai, lợi ích chúng sanh”. Như Lai là Phật quả rốt ráo, thành Phật rồi th́ bổn phận sự nghiệp của Ngài được gọi là “gia nghiệp”. Sự nghiệp bổn phận của Ngài là giáo dục xă hội đa nguyên văn hóa, nền giáo dục ấy bao gồm những điều như hiện nay gọi là “giáo dục gia đ́nh, giáo dục nhà trường, giáo dục xă hội”, thảy đều bao gồm trong ấy. Đúng là đại học vấn.

Ngài làm như thế nào để giúp đỡ giáo dục gia đ́nh? Học tṛ tại gia rất nhiều, xuất gia ít. Đối với học tṛ tại gia, đức Phật dạy họ sống ở nhà th́ phải học tập luân lư, đạo đức như thế nào, đối xử ḥa thuận với người trong nhà ra sao, trọn hết bổn phận của chính ḿnh. Cha mẹ thương yêu, trong ngũ luân thập nghĩa[4] đă nói: “Phụ tử hữu thân, phu thê hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, quân thần hữu nghĩa, bằng hữu hữu tín” (Cha con thương yêu, vợ chồng có trách nhiệm khác nhau, lớn nhỏ có tôn ty trật tự, vua tôi có nghĩa, bạn bè giữ chữ tín). Đấy chính là giáo dục gia đ́nh. Giáo dục trong nhà trường nhằm dạy quư vị học làm vị thầy tốt như thế nào, học làm đứa học tṛ ngoan như thế nào. Chẳng phải kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung đă giảng rất rơ ràng ư? Đức Phật thường nói như thế. Giáo dục xă hội không cần phải nói nữa! Bất luận đến nơi đâu, bất luận gặp ai, chẳng phân quốc gia nào, chẳng phân chủng tộc nào, chẳng phân tôn giáo nào, chẳng phân văn hóa nào, chỉ cần quư vị đến học, đức Phật đều vui vẻ dạy dỗ. Lợi ích hết thảy chúng sanh bằng hai trí Quyền và Thật. A! Bây giờ đă đến giờ rồi!

 

*

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần phương Bắc lược nêu năm đức Phật. Vị Phật thứ nhất là Diệm Kiên Phật, biểu thị sự gánh vác gia nghiệp của Như Lai, tức sứ mạng hoằng pháp lợi sanh. Công tác ấy được thực hiện như thế nào? Phần ư nghĩa biểu pháp của bốn vị Phật tiếp theo đó nhằm chỉ dạy chúng ta [cách thực hiện].

      Tối Thắng Âm Phật, “biểu thị dùng âm thanh làm Phật sự, diễn nói kinh này, khuyên dạy niệm Phật, chính là âm thanh tối thắng”. Nói như vậy là thuần dựa theo pháp môn Tịnh Độ để nói. Nếu giảng theo nghĩa rộng th́ “thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (chân giáo thể phương này, thanh tịnh tại nghe tiếng); đấy chính là như Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế gian này, suốt bốn mươi chín năm ngày ngày thuyết pháp dạy học. Những âm thanh do đức Phật thốt ra đều là Tối Thắng Âm, âm thanh ấy tối thắng v́ giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ. Quư vị phải nhớ kỹ, khuyên dạy một chúng sanh đoạn ác tu thiện, chẳng đọa tam đồ, đời sau vẫn có thể tiếp tục hưởng phước báo trời người th́ âm thanh ấy là âm thanh thù thắng, rất thù thắng. Không như trong xă hội hiện thời, quư vị nghĩ xem: Trong xă hội hiện thời, mắt thấy tai nghe những âm thanh ǵ vậy? Âm thanh tam đồ! Đúng là chỉ sợ quư vị chẳng đọa tam đồ!

      Âm thanh thuyết pháp của đức Phật là âm thanh thanh tịnh. Âm thanh thù thắng khuyên con người đoạn ác tu thiện, khuyên con người chớ đọa tam đồ. Âm thanh ấy tối thắng, âm thanh tối thắng là âm thanh giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, đó chính là âm thanh tối thắng! Đem Tịnh Tông so với Đại Thừa th́ âm thanh của Tịnh Tông là thù thắng nhất; Đại Thừa chẳng thể sánh bằng! V́ sao? Phá mê khai ngộ, quư vị chẳng thấy trong một đời mà có thể vượt thoát lục đạo luân hồi, thành Phật, thành Tổ! Chuyện ấy các pháp khác không làm được, nhưng Tịnh Tông có thể làm được. Tịnh Tông dạy quư vị niệm Phật văng sanh, bất thoái thành Phật. V́ thế, nó thù thắng khôn sánh. Đặc biệt là “diễn nói kinh này”, kinh này thông với kinh Vô Lượng Thọ, chẳng những thông với kinh Vô Lượng Thọ mà c̣n thông với kinh Hoa Nghiêm. Cổ đức nói kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà là cùng một bộ kinh, kinh Hoa Nghiêm là Đại Bổn, kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn, c̣n kinh A Di Đà là Tiểu Bổn, không sai chút nào!

      Kinh A Di Đà Tiểu Bổn này là lược thuyết, tức là giới thiệu đại lược. Kinh Vô Lượng Thọ giảng rất tường tận, giới thiệu mọi phương diện của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh Hoa Nghiêm giảng rộng, giảng cụ thể nhất, thuyết minh tường tận nhất. V́ thế, ba bộ kinh này chỉ là một bộ. “Diễn nói kinh này”, nói theo nghĩa rộng, chính là diễn nói kinh điển văng sanh Tịnh Độ, “khuyên người niệm Phật là âm thanh thù thắng nhất”. Đó chính là hoằng pháp lợi sanh, thực sự gánh vác gia nghiệp của Như Lai, đảm đương sự nghiệp chẳng thể nghĩ bàn.

      Vị Phật tiếp theo là Nan Trở Phật, “biểu thị hoằng hộ chánh pháp, dũng mănh tinh tấn, chẳng sợ tà ma, ngoại đạo và hết thảy chướng nạn”. Trở () là phá hoại, Nan Trở là rất khó phá hoại. “Hoằng hộ”: Hoằng pháp và hộ pháp là một Thể, hoằng pháp và hộ pháp công đức như nhau; thậm chí công đức hộ pháp c̣n cao hơn hoằng pháp. Người hoằng pháp, có thể nói là chẳng dễ dàng, rất khó có; thế nhưng hộ pháp càng khó hơn! Nếu không có người hộ pháp mạnh mẽ, người hoằng pháp dù giỏi nhưng không có ai hộ tŕ, sẽ không có cơ hội hoằng dương Phật pháp. Nói cách khác, dù thầy thực sự giỏi, có học vấn, có đức hạnh, lại có phương pháp giảng dạy rất tốt, nhưng không ai dùng đến, không có trường nào mời, đúng là “không đất dụng vơ”. Trường học chính là hộ pháp của ông thầy.

      Nếu nay quư vị học thành tựu rồi, quư vị đúng là một nhân tài hoằng pháp tốt, nhưng không đạo tràng nào mời quư vị. Chủ nhân của đạo tràng, trụ tŕ, đương gia, chấp sự đều là nhân tài hộ pháp, bọn họ phải hộ tŕ quư vị, mời quư vị trụ trong đạo tràng ấy giảng kinh, thuyết pháp, mọi việc đều chiếu cố rất châu đáo, chẳng để quư vị không phải lo lắng chút ǵ, cứ chuyên làm công việc giảng kinh, thuyết pháp, hết thảy sự vụ thuộc phương diện thường trụ bọn họ đều chia nhau gánh vác. Hoằng pháp và hộ pháp phải phối hợp mật thiết th́ Phật pháp mới hưng vượng. Nếu không có hộ pháp, quư vị giảng kinh, thuyết pháp ở đó, người ta không thích thú ǵ. V́ sao không thích thú? Anh giảng được, tôi không thể giảng. Tín đồ thường đến nghe anh, tôn kính anh, không tôn kính tôi, [do vậy] thường hay ghen ghét chướng ngại [người hoằng pháp]. Người ta chướng ngại ḿnh, trọn chẳng cho ḿnh có cơ hội giảng kinh hoằng pháp, hỏng rồi! Đó là ǵ vậy? Kẻ ấy thiếu trí huệ, chẳng hiểu đạo lư này, cũng chẳng hiểu nhân quả.

Người làm hiệu trưởng không cần phải giảng kinh, thuyết pháp, không cần phải lên lớp dạy học như giáo viên, không cần thiết! Học tṛ nghe vị thầy giỏi giảng, học thành công th́ công đức bậc nhất quy về ai? Hiệu trưởng! Hiệu trưởng v́ chúng ta mời vị thầy giỏi như thế, thầy do chính hiệu trưởng mời về, quyền mời thầy nằm trong tay hiệu trưởng. Bởi thế, chăm sóc trường cho tốt đẹp th́ học tṛ thành tựu nhiều, công lao không do giáo viên, mà do hiệu trưởng. Hiệu trưởng có huệ nhăn nhận biết ông thầy tốt, có năng lực mời mọc giáo sư tốt. Bởi thế, công đức hộ pháp cao hơn hoằng pháp, hoằng pháp là giáo viên, hộ pháp là hiệu trưởng. Hiệu trưởng có quyền lực mời mọc, cũng có quyền lực băi chức: “Tôi không cần đến anh nữa!” Ông ta có quyền lực ấy. Người hoằng pháp chỉ nghe theo lệnh: “Ông mời tôi, tôi nỗ lực dạy dỗ; ông không cần tôi nữa, tôi đành ra đi thôi!”

      Nhất định phải hiểu đạo lư ấy, thành tựu của đạo tràng là có được nhân tài. Đạo tràng không xuất hiện nhân tài tức là thất bại hoàn toàn. Sanh ra những nhân tài như thế nào? Có sanh ra được nhân tài hay không? Mấu chốt nằm ở người trụ tŕ, hay vị thường trụ, hoặc vị chấp sự chủ chốt. Vị chấp sự chủ chốt là những người có quyền lực trong đạo tràng ấy như Trụ Tŕ, Đương Gia, Thủ Ṭa, Duy Na. Đấy đều là những người có quyền lực nhất trong đạo tràng ấy; [thành tựu của đạo tràng] chính là thành tựu của họ. Do vậy đạo tràng hưng hay suy, trách nhiệm đặt trên thân mấy người đó. Nhân tài hoằng pháp không chịu trách nhiệm, họ không có quyền, không làm chủ, họ phải nghe theo lời sai phái, nghe lệnh chỉ huy. Bởi vậy, người hoằng pháp là giáo viên, hộ pháp là người thực sự có quyền lực.

Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, đối với người xuất gia, đức Phật yêu cầu mọi sự đều là công tác hoằng pháp, giao phó công tác hộ pháp cho quốc vương, đại thần, thỉnh những người ấy đến hộ tŕ. Bọn họ lập đạo tràng, lễ thỉnh pháp sư đến giảng kinh, thuyết pháp. Quư vị giảng hay, pháp duyên thù thắng th́ tiếp tục lễ thỉnh hàng năm. V́ thế, pháp sư nhất định phải tu dưỡng đạo đức, học vấn, và ngôn hạnh của chính ḿnh hầu nêu gương tốt nhất cho đại chúng trong xă hội. V́ sao? Nếu pháp sư không tu tập tốt đẹp, năm sau người ta không thỉnh nữa. Thậm chí giảng xong một bộ kinh này, bộ kinh tiếp theo người ta không mời giảng nữa. Chẳng nghiêm túc, chẳng khéo học không được! Bởi vậy, giáo viên và chức viên (người có chức vụ trong trường) có quan hệ mật thiết, hoằng hộ chánh pháp như thế mới không bị phá hoại. Nhất là hộ pháp, trọng yếu lắm! Hộ pháp phải chánh trực, phải có huệ nhăn.

Đặc biệt là trong thời kỳ Mạt Pháp, con người không phải là thánh hiền, có ai không phạm lầm lỗi! Pháp sư giảng kinh chẳng phải là thánh nhân, c̣n là phàm phu, chắc chắn có lầm lỗi! Người ngoài nắm lấy những lỗi lầm ấy để công kích, đồn đăi, sanh sự, hủy báng, tạo đủ mọi áp lực với người hộ pháp. Nếu người hộ pháp không có trí huệ, không có nghị lực, nghe những kẻ đó bàn ra tán vào sẽ hiểu lầm pháp sư giảng kinh, khai trừ vị pháp sư giảng kinh ấy. Chuyện như vậy từ xưa đến nay rất nhiều, không phải là ít; v́ thế, hoằng pháp và hộ pháp đều không phải là chuyện dễ. Thế nhưng hiện thời lại có một con đường, con đường ǵ vậy? Tức là mạng Internet và truyền thông vệ tinh. Tuy vậy, vẫn phải có người hộ pháp có sức lực lui tới chủ tŕ chánh nghĩa, mời mọc các đại đức, pháp sư, trưởng giả, cư sĩ v́ hết thảy chúng sanh giảng kinh thuyết pháp.

Đạo tràng không cần phải lớn lắm, có một studio nhỏ là được rồi. Mỗi ngày ở đó dùng máy chiếu phim, nhờ khoa học kỹ thuật để phát h́nh ảnh và âm thanh đi khắp thế giới, chúng sanh có duyên sẽ thích thú nghe, bất luận ở chỗ nào cũng đều có thể thâu được. Khoa học kỹ thuật thông tin đại chúng ngày càng tiến bộ, tôi thường bảo các đồng học, đại khái năm năm sau là chuyện rất có khả năng, năm năm sau nhất định các băng thông (digital bandwith) rộng gấp mấy lần hiện thời, rất có thể mạng Internet sẽ thay thế truyền h́nh. Giá thành của truyền h́nh vệ tinh mắc, giá thành của mạng Internet rất thấp, lại rất thuận tiện. Trong tương lai những máy móc thâu phát rất có thể sẽ giống như điện thoại di động (cell phone) hiện thời, màn huỳnh quang nơi điện thoại cầm tay được nới rộng hơn một chút; bất luận khi nào, dù đang du hành cũng nh́n thấy được, đều có thể nghe được.

Trước kia, chúng tôi nói [truyền h́nh] vệ tinh là đem giảng đường giảng kinh thuyết pháp đến tận nhà quư vị, quư vị ở nhà mở máy truyền h́nh (TV) lên là thấy. Nay tiến bộ hơn, chẳng những đưa đến tận nhà mà c̣n đưa đến tận tay, quư vị nói có phải là tiện lợi quá hay chăng? Trước kia đâu có như thế, trước kia không có ai tưởng tượng việc này, nay dần dần thực sự thực hiện được, giá thành không cao, hiệu quả rất lớn. Bởi thế, người phát tâm hoằng pháp phải tích cực, phải nỗ lực, phải học tập cách đối diện trước máy quay phim để giảng kinh thuyết pháp trong studio, khiến cho Phật pháp được phục hưng theo phương hướng ấy. Ḷng tôi mong mỏi mỗi vị pháp sư giảng kinh đều có một trạm phát h́nh, tương lai chúng ta có thể phát đi suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ trên mạng Internet. Mỗi một cá nhân chuyên đổ công sức nơi một, hai bộ kinh, không cần quá nhiều, thính chúng có thể chọn lựa. Họ thích học bộ kinh nào cũng như thích nghe quư vị giảng diễn, họ sẽ hằng ngày nghe, tiếp nhận sự giáo huấn của quư vị. Nan Trở Phật là như vậy đấy!

Hoằng hộ lại sợ bị ma tà, ngoại đạo chướng nạn, từ xưa đến nay, trong nước, ngoài nước đều không tránh khỏi chuyện này, suốt cả đời bản thân chúng tôi phải gặp không ít lần! Đụng chuyện, chúng tôi không tranh, mau chóng thoái nhượng. Mau chóng thoái nhượng như vậy khiến cho chướng nạn giảm ít. Nói chung, phải nhớ kỹ, phải thường suy tưởng: “Chư Phật, Bồ Tát vĩnh viễn không đối lập với bất cứ một chúng sanh nào”, phải nhớ thật kỹ điểm này. Sở dĩ Phật, Bồ Tát được gọi là Nhân Giả, tức là người nhân từ, bậc nhân từ không đối địch ai. Thế nào là Nhân Giả? Không có địch nhân. Đấy là nhân từ thực sự. Nếu có kẻ đối lập, có oan gia đối đầu th́ chẳng phải là người nhân từ. Người nhân từ vĩnh viễn không có oan gia đối đầu, lúc oan gia đối đầu đến t́m, ta phải nhường nhịn họ, tuyệt đối không đối lập với họ, quyết định không nóng giận, quyết định không báo thù. Người như vậy chính là Bồ Tát, là người giác ngộ.

Người không giác ngộ mới có tâm sân khuể, mới có ư niệm báo thù. Người giác ngộ quyết định không có! V́ thế, lúc cảnh giới hiện tiền, sẽ thấy quư vị là giác ngộ hay vẫn c̣n mê hoặc. Trong cuộc sống thường ngày, trong những sự việc nhỏ nhặt ḿnh gặp phải, phải rèn luyện từ những chuyện nhỏ nhặt. Rèn luyện như thế nào? Đối với nghịch cảnh, chuyện chẳng vừa ḷng, chuyện không như ư, không có tâm nóng giận, không mang tâm oán hận, không tâm báo thù, phải rèn luyện công phu ấy. Khi nghịch cảnh lớn lao hiện tiền, tâm địa quư vị tự nhiên rất thản nhiên, dùng trí huệ để xử trí, chẳng làm việc theo cảm t́nh th́ quư vị mới không bị hết thảy ma chướng gây chướng nạn.

Vị Phật thứ tư, Nhật Sanh Phật. Nhật là mặt trời, biểu thị trí huệ. Bởi thế, “Nhật Sanh Phật biểu thị tướng giáo học tăng trưởng, huệ nhật tự - tha sáng rực giữa trời, chánh pháp tồn tại lâu dài, phước lợi trời - người”. V́ vậy, giảng kinh, dạy học ḷng phải rỗng rang! Học tập nhất định phải hiểu phương pháp, người trên dạy dỗ chúng ta như thế nào, ta học thành như vậy rồi, ta phải biết dạy người khác như thế nào? Đời đời truyền cho nhau. Trước kia, thầy Lư dạy chúng tôi, thường thường khuyến khích chúng tôi: Từ cổ đến nay, những người sơ học phát tâm giảng kinh rất nhiều, đến cuối cùng, thành tựu e rằng chỉ được một, hai hay hai ba người mà thôi. V́ nguyên nhân ǵ? Thoái chuyển, thoái tâm! Gặp phải khó khăn chẳng thể đột phá. Nguyên nhân phổ biến nhất khiến ta gặp phải khó khăn là ǵ? Tâm háo thắng quá mạnh, tâm mong giỏi giang quá mạnh, đấy là nguyên nhân gây thất bại bậc nhất trong việc học kinh giáo. Mười người thất bại, đại khái là chín người v́ nguyên nhân này, tâm mong giỏi giang quá mạnh, hy vọng giỏi hơn người khác.

V́ thế, thầy Lư dạy chúng tôi: Từ cổ đến nay, người thành công phải ngồi yên đứng vững, giữ lấy câu giáo huấn lời vàng lẽ ngọc của cổ nhân: “Đản cầu vô quá, bất cầu hữu công” (Chỉ cầu không có lỗi, chẳng cầu có công). Quư vị giữ được hai câu ấy th́ rất có thể thành công. Bởi lẽ, chỉ mong lên ṭa giảng, giảng không sai lầm, không cầu giảng hay, không cầu giảng có hiệu quả, thường xuyên phản tỉnh, thường sửa lỗi. Muốn giảng giỏi th́ nói chung phải mười năm, hai mươi năm, trong một thời gian dài như vậy ngày ngày sửa lỗi, ngày ngày phản tỉnh, tích lũy công đức mười năm, hai mươi năm, đương nhiên sẽ giảng rất hay. Đây chẳng phải là chuyện trong một thời gian ngắn, chỉ mấy tháng là đă giảng giỏi, hoặc một, hai năm bèn giảng giỏi, không có chuyện ấy đâu! Những bậc tổ sư đại đức xưa nay, thông Tông thông Giáo, không vị nào chẳng huân tu lâu dài mà thành công!

Dẫu là thiên tài, nghĩa là “nghe một, ngộ cả ngàn” như Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông, hai mươi bốn tuổi khai ngộ, Ngũ Tổ đem y bát truyền cho, vẫn phải như thế nào? Tuổi c̣n trẻ quá, phải đến ẩn cư trong đám thợ săn mười lăm năm, gần như là đến bốn mươi tuổi mới lộ diện. Hai mươi bốn tuổi được truyền y bát, ẩn cư trong đám thợ săn mười lăm năm, quư vị cứ nghĩ đi, bốn mươi tuổi mới xuất hiện, mà Ngài là bậc thiên tài đó nghe! Cũng chẳng thể cứ hễ làm được là ra mặt liền, sẽ làm không được đâu! V́ thế, tâm kiên nghị, nhẫn nại là bí quyết thành công, thành tựu càng lớn th́ càng phải có tâm nhẫn nại. Người không có tánh nhẫn nại, đừng nói pháp xuất thế gian, ngay cả pháp thế gian cũng chẳng thể thành tựu. V́ thế, kinh Kim Cang nói rất hay, “nhất thiết pháp đắc thành ư Nhẫn” (hết thảy pháp được thành do Nhẫn), quư vị có thể nhẫn nại! Tuân thủ quy củ của thầy, thầy dạy quư vị như thế nào th́ cứ thật thà làm theo.

Tôi ở Đài Trung thân cận thầy Lư, tôi học bất cứ ǵ so với đồng học quả thật đều nhanh hơn, tôi có sức hiểu biết, tôi có năng lực ghi nhớ, nhưng thầy Lư vẫn hạn chế tôi: Bốn mươi tuổi trở đi mới được ra ngoài giảng kinh. Trước khi bốn mươi tuổi phải luyện tập giảng ở nhà, không cần ra ngoài. Bên ngoài có người mời cũng không đi, tôi tuân thủ quy củ ấy mười năm. Nếu tôi giống những người khác tâm mong giỏi giang quá mạnh, chẳng tuân thủ quy củ của thầy Lư, rất có thể tôi đă sớm bị đào thải rồi. Về thành tựu thế gian hay xuất thế gian thường có câu nói rất hay: “Người chất phác, người tuân thủ quy củ, những người như vậy được thành tựu”. Không thật thà, không tuân thủ quy củ, ngày ngày cứ nghĩ chuyện huê dạng, thọ mạng sẽ không lâu! Chẳng những bị người khác ghen ghét, c̣n bị quỷ thần ghen ghét; nói cách khác, thần hộ pháp ít, c̣n những ác quỷ, la-sát rất nhiều. Họ đều t́m đến gây phiền phức, chướng ngại rất nhiều, đều ở quanh bên cạnh, làm sao có thể làm cho tốt được cơ chứ?

Bởi thế, con người chớ nên có tâm ghen ghét, phải thường mong người khác giỏi hơn ḿnh. Người khác giỏi hơn ḿnh th́ ḿnh có phước. Giảng kinh, thuyết pháp, hoằng hộ chánh pháp đều là tu phước, ai sẽ hưởng phước? Đại chúng thanh tịnh hưởng phước, mỗi ngày nghe kinh niệm Phật là hưởng phước đấy! Tôi rất thích mỗi ngày được nghe kinh, niệm Phật, chuyện ǵ cũng không cần hỏi đến, quư vị nói xem: Có phải là cuộc sống rất tốt đẹp hay chăng? Thế nhưng tôi không có phước báo ấy, không ai giảng cho tôi nghe. Nếu hiện thời có một người có thể giảng kinh cho tôi nghe mỗi ngày, tôi sẽ hằng ngày cúi lạy người đó, hằng ngày cảm tạ, thật đó, không giả đâu! Tôi phải cảm tạ người ấy cúng dường pháp, cảm tạ tài cúng dường của những vị đại đức hộ pháp, lấy thành quả tu hành của chính ḿnh để báo đáp.

Vị Phật cuối cùng là Vơng Minh Phật, “biểu thị phương pháp hoằng nguyện độ sanh, dùng vô lượng pháp môn (như những mắt lưới) cứu độ chúng sanh”. Hoằng dương và hộ tŕ chánh pháp phải có hoằng nguyện như thế, phải có tâm lượng như thế, phải có trách nhiệm như thế th́ Phật pháp mới hưng thịnh. Một đạo tràng giảng kinh thuyết pháp không phải chỉ có một vị pháp sư, nay chúng ta lập mười pḥng học, chúng tôi hy vọng có mười vị pháp sư, chúng tôi hy vọng có mười môn, hai mươi môn học; nhưng học sinh chẳng thể cái ǵ cũng học hết được, không thể được! Học sinh tối đa chỉ học hai môn. Trước kia, ở Đài Trung, thầy Lư dạy chúng tôi như thế; tối đa chỉ có thể học đồng thời hai môn, nhất định chẳng được học ba môn! Thầy nói học ba môn chẳng thể thành tựu. Tốt nhất là như thế nào? Tốt nhất là học một môn sẽ mau có thành tựu. Theo một vị thầy học một bộ kinh, học cho kỹ bộ kinh ấy, tốt nghiệp xong, quư vị mới có thể học bộ thứ hai.

Thế nào là tốt nghiệp? Nhất định phải được vị thầy gật đầu: “Ngươi học được rồi”. Ngay chính bản thân tôi, trước kia ở Đài Trung, dẫu thầy Lư không hạn chế, nhưng chính chúng tôi tự hạn chế ḿnh, học xong một bộ kinh, nhất định phải giảng mười lần, lên đài giảng! Thầy Lư dạy chúng tôi chỉ giảng một lượt, lần thứ hai là học sinh giảng cho thầy nghe, thầy giúp chúng tôi sửa cho đúng. Từ đó về sau, lần thứ ba, lần thứ tư, cho đến lần thứ mười, đều là thầy ngồi ở dưới nghe, học sinh giảng trên ṭa. Giảng xong mười lần, thầy gật đầu: “Được rồi!”, th́ mới coi là tốt nghiệp môn học ấy. Phương pháp dạy học chúng tôi dùng hiện nay tuân theo phương pháp ấy. Thầy hằng ngày nghe giảng, hằng ngày giúp tṛ sửa cho đúng, ngày ngày giúp quư vị giải quyết vấn đề, giúp quư vị nâng cao cảnh giới.

Một bộ kinh học mười biến xong, lại xem xét đức hạnh, định lực của quư vị. Quư vị có định lực sẽ chẳng bị danh văn lợi dưỡng bên ngoài lay động th́ mới có thể ra giảng kinh được. Nếu ra giảng kinh, vừa tiếp xúc danh văn, lợi dưỡng bèn khởi tham - sân - si - mạn, ngay lập tức bị đọa lạc là xong. Trong t́nh huống ấy, chắc chắn không được đi. Đạo tràng có thể bảo vệ quư vị, quư vị ra ngoài không có ai bảo vệ, không chống chọi nổi dụ hoặc sẽ bị đọa lạc. Đọa lạc rồi quay đầu rất khó.

Vơng Minh Phật là trong đạo tràng có nhiều nhân tài hoằng pháp, nhiều khoa mục. V́ thế, Phật giáo giống như một trường đại học, mỗi một vị thủ ṭa ḥa thượng là thầy giáo, mỗi thầy giáo đều có sở trường chuyên môn, thâm nhập một môn. Quư vị muốn học một bộ kinh luận nào, cứ theo học với vị đó, vị thầy ấy nhất định rất nghiêm túc dạy quư vị, thành tựu cho quư vị. Thầy tṛ hợp đạo, người dạy, kẻ học cùng tăng trưởng. Làm công tác hoằng pháp rồi nghỉ hưu th́ làm công tác hộ pháp, cũng có nghĩa là đảm nhiệm chấp sự thường trụ, v́ đại chúng phục vụ. Lúc tôi mới học Phật, tôi có ư nghĩ như sau: Trước năm bốn mươi tuổi học tập, hoằng pháp cũng thuộc về học tập. Từ năm bốn mươi đến sáu mươi tuổi, suốt cả hai mươi năm phải làm thường trụ phục vụ, đảm nhiệm công tác. Sau sáu mươi tuổi bèn nghỉ hưu, từ khước mọi công tác thường trụ, từ khước để làm ǵ? Chuyên môn giảng kinh dạy học, không phải bận tâm lo công việc.

Đối với hoằng pháp lẫn hộ pháp, tự ḿnh đều có kinh nghiệm khá phong phú, biết phải bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp như thế nào, biết chăm sóc nhân tài hoằng pháp ra sao, bồi dưỡng nhân tài hộ pháp, có kinh nghiệm thực tế. Nếu trong đạo tràng người hoằng pháp càng nhiều, chúng tôi cũng càng mở nhiều pháp môn. Phương châm của chúng tôi là “nhất định phải tuân thủ cách thức thâm nhập một môn, trường thời huân tu” của cổ đức. Mỗi vị thầy chuyên dốc công sức nơi một môn, thời gian tối thiểu phải là mười năm. Mười năm chuyên dốc công phu nơi một môn th́ sẽ thành tựu, chẳng thể học quá nhiều, quá tạp. Thông một môn, hết thảy đều thông; dẫu thông hết thảy môn, vẫn cứ chuyên hoằng một môn, v́ sao? Nêu gương cho hậu học. Con người hiện thời không biết lợi ích của việc chuyên tu, nên nhất định phải làm gương cho họ thấy, khiến cho họ hiểu rơ, khiến họ hoan hỷ, họ sẽ có thể thành tựu. Lại xem tiếp phần Hạ phương, chúng tôi cũng đọc đoạn kinh văn nói về Hạ phương một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.

利弗。下方世界有師子佛。名聞佛。名光佛。達磨佛。法幢佛。持法佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當

信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Xá Lợi Phất! Thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”).

 

Đến đây là một đoạn. Phương dưới có tên sáu vị Phật, không giống như phần trên, trong đoạn trên là năm vị Phật, ở đây sáu vị. Đương nhiên những con số đều có ư nghĩa, chắc chắn không phải là ngẫu nhiên, chắc chắn không nêu tùy tiện. Con số ấy “biểu thị đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng sanh”; đấy là nói về pháp Đại Thừa! Dùng sáu vị Phật để biểu thị pháp, tượng trưng cho sáu Ba La Mật của Đại Thừa. Phương Bắc biểu thị sự hóa tha, khởi đầu! Giống như vị pháp sư học kinh giáo, đại khái là từ mười năm đến hai mươi năm đầu, đều thuộc vào giai đoạn này. Sau hai mươi năm dạy dỗ, giảng kinh giáo, có thể nói là lúc ấy đă mở mang trí huệ, dần dần cũng có thể khế nhập tam-muội. Người ấy có định lực, có trí huệ, có kinh nghiệm, có thể mở rộng sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, “đại hạnh giáo hóa phổ độ chúng sanh”, người ấy đă có thể ứng phó được.

Trong những đức hiệu của chư Phật, vị thứ nhất là Sư Tử Phật. Sư Tử là tỷ dụ, “sánh ví sự thuyết pháp của Phật, biểu thị pháp vương tử thay Phật hoằng pháp, giống như Phật, chẳng hai”. Bởi lẽ, người hoằng pháp ở đây không phải là sơ học, mà là pháp sư hoằng pháp thành thục, trong nhà Phật gọi là bậc Thượng Tọa. Hoằng pháp trọn mười năm là Hạ Tọa, hai mươi năm là Trung Tọa, trọn ba mươi năm là Thượng Tọa. Theo như tập tục của chúng ta, tức tập tục trong nhà Phật mà nói, th́ địa vị ấy (được biểu thị bằng sáu vị Phật ở phương Hạ) là Thượng Tọa. Thượng Tọa là người thực hiện sự nghiệp giảng kinh hoằng pháp ba mươi năm, phải nhớ như vậy. Suốt ba mươi năm phải hằng ngày dạy dỗ th́ mới xứng [danh xưng Thượng Tọa]!

Cả năm chỉ giảng một hai tuần hoặc một tháng th́ không tính, v́ không phải là giáo viên. Có trường học nào mà thầy chỉ lên lớp một tháng mỗi năm hay chăng? Dạy một hai tuần thôi ư? Không có trường nào như thế cả! Giáo viên của những trường chánh quy phải dạy học hằng ngày, giáo sư đại học mỗi tuần tối thiểu phải lên lớp một lần hai tiếng hoặc ba tiếng, mỗi một tuần như thế chẳng thể gián đoạn, trường học như thế đó! Trong Phật pháp không như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật làm gương cho chúng ta. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh mỗi ngày, suốt bốn mươi chín năm không gián đoạn. Ngày ngày giảng, mỗi năm giảng không gián đoạn, đủ ba mươi năm mới thực sự là Thượng Tọa. Tuyệt đối chẳng thể một ngày nóng, mười ngày lạnh mà tính là Thượng Tọa đâu nhé!

Năm vị Phật ở phương Bắc tượng trưng cho ba mươi năm đầu, sáu vị Phật ở phương dưới tượng trưng cho ba mươi năm sau. “Đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng sanh”. Đức hạnh, trí huệ, học vấn, kinh nghiệm, kỹ xảo giáo hóa chúng sanh của quư vị đều thành thục; lúc đó có thể nói là “pháp duyên thù thắng, hiện sư tử hống”. Sư tử hống tượng trưng cho đức Phật thuyết pháp. Pháp vương tử thay Phật thuyết pháp, nên ta nói là “giống như Phật, chẳng hai”. Quư vị không giảng lầm kinh giáo, bất luận quư vị nói cạn hay sâu, nói dài, nói ngắn, nhất định khế cơ, khế lư. Trên là khế hợp lư được chứng bởi chư Phật, dưới khế hợp căn cơ của chúng sanh đáng được độ. Đó là bản lănh của Phật, quư vị cũng phải học theo. Quư vị hăy suy nghĩ: Tự hành, hóa tha, năm dài tháng chầy thành thục, chẳng phải là háo cường háo thắng trong một thời gian ngắn mà ḥng thành tựu! Không có đạo lư ấy đâu nhé! Bởi thế, đối với một điểm này, quư vị nhất định phải cảm kích người hộ pháp.

Sở dĩ tôi cảm kích Hàn Quán Trưởng là v́ bà ta giúp tôi suốt cả ba mươi năm. Ba mươi năm giúp cho tôi có cơ hội hằng ngày lên đài giảng. Mỗi ngày đều có cơ hội lên đài giảng, đó mới chính là chân chánh hộ pháp. Do đó, chúng tôi cảm kích, chúng tôi được thành tựu như thế này. Nếu không có ba mươi năm ngày ngày giảng kinh, dễ ḥng thành tựu ư? Ba mươi năm, đúng là như người ta thường nói “bà ta giúp tôi lên bậc Thượng Tọa rồi bèn tịch”. Chúng tôi vĩnh viễn ghi nhớ, vĩnh viễn ôm ḷng báo ân, dùng cách nào để báo ân? Dùng thành tích của chính ḿnh để báo đáp; ngoài cách ấy ra, không có cách ǵ báo đáp được. Nay đă hết giờ rồi!

 

Tập 32

 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần phương dưới, vị Phật thứ hai trong sáu vị Phật ở phương dưới.

 

Danh Văn Phật.

名聞佛。

 

“Danh xưng (tức danh hiệu của Ngài) vang khắp mười phương, biểu thị Ngài là con mắt của trời người, giống như Quán Âm, Phổ Hiền, các vị tổ sư trong nhà Phật”. Phương dưới nêu tên sáu vị Phật nhằm biểu thị nền giáo dục của đức Phật thịnh hành trong thế gian, giúp hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, cầu sanh về Tịnh Độ. V́ sao phá mê khai ngộ phải cầu sanh về Tịnh Độ? Có đạo lư đấy! Có thực sự giác ngộ th́ mới cầu sanh về Tịnh Độ. Nói cách khác, bất luận quư vị tu học pháp môn nào, dẫu công phu giỏi đến mấy, đắc tam-muội, minh tâm kiến tánh, nhưng nếu không cầu sanh về Tịnh Độ, quư vị chẳng thực sự triệt ngộ. Người thực sự triệt để giác ngộ, không ai chẳng cầu sanh về Tịnh Độ!

Quư vị thấy bậc Địa Thượng Bồ Tát (hàng Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên) trong kinh Hoa Nghiêm, Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối không rời niệm Phật, thực sự giác ngộ, triệt để giác ngộ. Đầu - cuối: Đầu là bậc Sơ Địa, cuối là Đẳng Giác, tổng cộng mười một địa vị. Trong mười một địa vị ấy, không vị nào chẳng niệm A Di Đà Phật, không vị nào chẳng cầu sanh về Tịnh Độ. Văn Thù, Phổ Hiền nêu gương! Hai vị thượng thủ trong hội Hoa Nghiêm bày đầu, phát nguyện cầu sanh về Tịnh Độ! Do đây biết rằng: Chân chánh giác ngộ, triệt để giác ngộ, không ai chẳng phát tâm cầu sanh về Tịnh Độ!

Danh Văn Phật đương nhiên không ngoại lệ. Ở đây, danh hiệu Phật này tượng trưng cho con mắt của trời - người. Thiên - nhân tượng trưng cho ba đường lành trong lục đạo, có huệ nhăn, có khả năng phân biệt đúng - sai, tà - chánh, lợi - hại. Trong các pháp thế gian và xuất thế gian, niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ thù thắng bậc nhất, thù thắng không ǵ sánh bằng, sao không tuyển chọn pháp môn này? Quán Âm Bồ Tát là vị thượng thủ Bồ Tát của Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ Hiền Bồ Tát là vị thượng thủ Bồ Tát trong pháp hội của Tỳ Lô Giá Na Phật nơi thế giới Hoa Tạng, các tổ sư đại đức trong nhà Phật phát nguyện cầu sanh về Tịnh Độ rất nhiều. Danh hiệu mấy vị Phật [trong phương dưới] này đều là [biểu thị] Phật pháp thịnh hành trong thế gian, hiển thị t́nh trạng hưng vượng. Vị Phật thứ ba là:

 

Danh Quang Phật.

名光佛。

 

“Biểu thị đại trí tùy diễn, pháp âm xa nghe, có thể khiến cho chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui”. Trong đức hiệu của Phật có một chữ Danh nhằm bao hàm mật nghĩa! Mật nghĩa ấy chính là dạy chúng ta chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo, quyết định văng sanh. Quang biểu thị trí huệ. V́ thế, danh hiệu này biểu thị trí huệ viên măn, hằng thuận chúng sanh, ứng theo căn cơ mà ban bố giáo pháp; “Tùy” là tùy thuận chúng sanh. [“Tùy diễn”] là tùy thuận căn tánh, tùy ḷng chúng sanh ưa thích, tùy thuận phương thức sinh sống hiện tại của chúng sanh mà v́ họ diễn nói. Bởi thế, Phật giáo hóa chúng sanh hết sức sống động, tùy thời, tùy chỗ mà biến hóa, điều này rất giống với việc dạy học trong thế gian. Ví như một đứa trẻ, tùy theo độ tuổi của nó, tuổi của nó lớn hơn th́ trí huệ và kinh nghiệm cũng tăng trưởng theo. Thầy dạy nó nhất định phải tùy theo độ tuổi, tùy theo trí huệ, tùy theo kinh nghiệm của nó mà không ngừng điều chỉnh tài liệu giảng dạy và phương pháp dạy dỗ. Tuyệt đối chẳng thể dạy nó bằng một khóa tŕnh hễ đă soạn thành th́ bất biến, không phải như vậy!

Dẫu cho việc dạy học thời cổ, đúng là từ nhỏ (lúc mới sáu bảy tuổi) liền dạy nó đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh, đến năm bảy tám mươi tuổi tóc râu bạc trắng vẫn đọc Tứ Thư Ngũ Kinh, tài liệu giảng dạy không thay đổi; nhưng quư vị phải hiểu: Trong phương pháp dạy học, đối với việc giải thích, thấu hiểu, vận dụng tài liệu giảng dạy, đúng là theo từng độ tuổi mà thay đổi. Kinh điển Phật giáo cũng giống như thế. Từ lúc quư vị mới học Phật dạy quư vị đọc kinh, cho đến một trăm tuổi vẫn là đọc một bản kinh đó, nhưng có thể nói là quư vị lănh hội sai khác, mỗi năm không giống nhau, mỗi tháng khác nhau. Đem những ư nghĩa do quư vị đă thấu hiểu từ kinh sách áp dụng vào cuộc sống thực tại, áp dụng vào công việc, áp dụng trong cách xử sự, đăi người, tiếp vật, dẫn dắt chúng sanh phá mê khai ngộ trong đời này, ĺa khổ, được vui. Chẳng những dẫn dắt một đời mà lại c̣n dẫn dắt đời đời kiếp kiếp trong mai sau, kinh điển chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, phải biết tùy cơ diễn nói!

“Pháp âm xa nghe”: Phàm phu chúng ta chẳng dễ ǵ hiểu nổi chuyện “pháp âm xa nghe” này. Hiện tại khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta có thể dùng kỹ thuật khoa học để chuyển tải h́nh ảnh và âm thanh thành sóng điện từ (electromagnetic wave). Người ở phương xa thâu được sóng điện từ ấy, lại chuyển nó thành h́nh ảnh và âm thanh, nên sẽ thấy được, nghe được. Nay nhờ máy truyền h́nh, máy phát thanh (radio), mạng Internet nên h́nh ảnh và âm thanh đều có thể thấy được. Pháp âm xa nghe đấy! Nhưng thật ra, chúng ta mê mất tự tánh nên tác dụng đức năng trong tự tánh chẳng hiện tiền, bởi thế, các nhà khoa học dùng máy móc, dùng khí cụ (dụng cụ) để hỗ trợ chuyển biến. Chứ trên thực tế, kinh Phật dạy chúng ta, không cần phải nhờ vào bất cứ máy móc nào, tự bản thân chúng ta sẵn có năng lực. Sắc tướng, âm thanh, ư niệm và tạo tác của chúng ta trong khoảng sát-na tợ hồ đồng thời trọn khắp hư không pháp giới. Chúng ta phải hiểu đạo lư và chân tướng sự thật này. Nếu sự thấy - nghe - hay - biết của chúng ta chẳng trọn khắp hư không pháp giới, quư vị hăy nghĩ xem, lẽ nào chúng ta lại có thể khởi tác dụng cảm ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát?

Tâm tánh của Phật và Bồ Tát trọn khắp hư không, pháp giới, tâm tánh của hết thảy chúng sanh cũng trọn khắp hư không pháp giới. V́ thế, nói theo mặt tâm tánh th́ không hai, không khác, tự - tha bất nhị; chẳng những chúng sanh và Phật không hai, mà chúng sanh và hết thảy hữu t́nh, vô t́nh chúng sanh cũng không hai! Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta hăy chú tâm thấu hiểu và quán sát sẽ thấy vũ trụ là một Thể, đă là một Thể th́ nhất định chẳng thể chia cắt! Nay nói từ cái thân người của chúng ta đây th́ tất cả hết thảy khí quan và các tế bào trên thân người đều là một Thể, nhưng cái một Thể ấy lại có thể chia cắt, hiện tại có thể dùng “thủ thuật ngoại khoa” (giải phẫu) để chia cắt. Vũ trụ một Thể là Pháp Thân, Pháp Thân chẳng thể chia cắt. Bởi vậy, nếu muốn tỷ dụ th́ nói thật ra, chẳng có một vật nào có thể dùng để sánh ví cho thích hợp; tỷ dụ chỉ có thể mường tượng, tương tự; chắc chắn không có cách nào sánh ví cho thật phù hợp được.

Như vậy, thấy - nghe - hay - biết trọn khắp pháp giới, hư không giới, do chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên năng lực ấy bị chướng ngại, chứ năng lực ấy không hề bị hoại mất. Khi nào quư vị trừ được chướng ngại ấy, năng lực sẽ khôi phục hiện tiền. Nói “khôi phục” cũng không thích đáng! Khôi phục là phải mất đi rồi có lại được th́ mới gọi là khôi phục; chứ về căn bản, năng lực ấy không hề bị mất đi, chỉ là bị chướng ngại mà thôi! Dẫu bị chướng ngại, năng lực vẫn khởi tác dụng y như cũ, chẳng qua nó khởi tác dụng nhưng chúng ta không cảm nhận được. Chướng ngại là như vậy đó, chướng ngại sự cảm nhận của chính chúng ta là v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chưa thể buông xuống được! Nói chung, phải hiểu rơ: Quả thật pháp âm có thể xa nghe.

“Có thể khiến cho chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui”. Đây là âm thanh thù thắng, phần trên gọi là “âm thanh tối thù thắng” (Tối Thắng Âm). Thế nhưng, nói thật ra, mê hay ngộ là do chính ḿnh. Người hiểu và kẻ không hiểu khác biệt rất lớn; bởi vậy, tổ sư đại đức trong Tông Môn và Giáo Hạ nhà Phật thường trắc nghiệm học tṛ: “Ngươi hiểu ư?” Câu hỏi này có ư nghĩa rất sâu xa, sâu rộng vô tận. “Ngươi hiểu ư?”, nếu quả thật hiểu, phàm tất cả tướng đều là Thật Tướng; tất cả âm thanh đều là Phật âm, hiểu là như vậy đó! Hiểu là giác ngộ. Nếu như mê th́ cảnh giới bên ngoài, tức cảnh giới được tiếp xúc bởi sáu căn sẽ được gọi là “sáu trần”!

Trần () là ǵ? Trần là bất giác, Trần là mê hoặc, Trần là ô nhiễm, đó gọi là “sáu trần”. Sau khi giác ngộ th́ không gọi là sáu trần nữa mà gọi là “sáu tánh”, mắt thấy Sắc Tánh, chứ không phải là Sắc Trần. Như vậy, chưa hiểu th́ mắt thấy Sắc Trần, tai nghe Thanh Trần; c̣n nếu giác ngộ th́ mắt thấy Sắc Tánh, tai nghe Thanh Tánh, thấy - nghe - hay - biết đều là tánh, minh tâm kiến tánh! Căn tánh Năng Kiến (chủ thể nhận biết) của sáu căn và sáu tánh (tánh của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu tánh) của cảnh giới Sở Kiến (bị nhận biết), Năng - Sở là một không hai. V́ thế, ông Âu Dương Cánh Vô nói: “Phật pháp không phải là triết học!” Trong triết học, Năng và Sở là hai; trong Phật pháp, Năng và Sở là một, không hai. Ư nghĩa này rất sâu!

 Tánh Thấy và Sắc Tánh là một tánh. Quư vị thường nghe nói đến Phật Tánh và Pháp Tánh, ở đây, quư vị sẽ hiểu rất rơ ràng: Mắt thấy Sắc, căn tánh của mắt là Phật Tánh; c̣n sắc tánh của sắc tướng được quư vị thấy đó th́ là Pháp Tánh. Nếu như mê th́ [tác dụng nhận biết của nhăn] căn chẳng được gọi là Căn Tánh, mà gọi là Nhăn Thức, những ǵ ở bên ngoài được thấy bởi Nhăn Thức sẽ gọi là Sắc Trần, không gọi là Sắc Tánh. Mê một th́ mê hết thảy, mê nơi chính ḿnh nên cũng mê nơi cảnh giới bên ngoài. Mê nơi chính ḿnh là chuyển Tánh Thấy thành Nhăn Thức, đó là mê vậy! Tánh Thấy bị chuyển thành Nhăn Thức th́ cảnh giới bên ngoài cũng bị chuyển theo, y báo chuyển theo chánh báo; Sắc Tánh bên ngoài bị chuyển thành Sắc Trần, cảnh chuyển theo tâm mà! Từ chỗ này, ta có thể hiểu hết sức rơ ràng thế nào là Phật tánh, thế nào là Pháp Tánh? Phật Tánh có thể biến, có giác và mê; Pháp Tánh th́ không, Pháp Tánh chuyển theo Phật Tánh. Phật Tánh là chánh báo, Pháp Tánh là y báo; y báo hoàn toàn chuyển theo chánh báo.

Chánh báo giác ngộ th́ chính là như Giao Quang đại sư đă nói trong sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch; Sư giảng rất hay: “Bỏ Thức dùng Căn”. Bỏ Thức dùng Căn là chuyển Thức thành Trí, Pháp Tướng Tông gọi [bỏ Thức dùng Căn] là “chuyển Thức thành Trí”. “Chuyển” th́ có chuyển trên mặt Nhân và chuyển nơi mặt Quả. Trong tám thức th́ thức thứ sáu và thức thứ bảy chuyển nơi Nhân, năm thức đầu và thức thứ tám chuyển nơi Quả. Quư vị hiểu rơ th́ sẽ biết chúng ta phải dụng công như thế nào. Năng lực mạnh nhất của thức thứ sáu tức Ư Thức là phân biệt, năng lực mạnh nhất của thức thứ bảy tức Mạt Na Thức là chấp trước. Vậy th́ chúng ta phải chuyển chúng bằng cách nào? Không chấp trước hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian, không chấp trước là chuyển Mạt Na Thức thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Không phân biệt hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian nữa; không phân biệt sẽ chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí. Phải chuyển từ chỗ ấy. Đối với thức thứ tám và năm thức trước, quư vị không cần phải bận tâm, hai thứ đó sẽ chuyển theo. Thức thứ tám và năm thức trước thảy đều bị chuyển cả, liên đới chuyển theo.

Người tu hành bất luận tu học một pháp môn nào, trong kinh Phật thường nói là “tác quán”. Danh từ “Chỉ Quán” chỉ chung cả tám vạn bốn ngàn pháp môn, kể cả pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật. Trong nhà Phật, bất luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Hiển Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, Giáo Hạ, danh từ ấy (tức Chỉ Quán) là nguyên tắc chỉ đạo tổng quát, là tổng cương lănh. Chẳng hạn như chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật có phải là tu Chỉ Quán hay không? Phải! Lúc niệm một câu A Di Đà Phật, buông xuống vạn duyên, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, ư niệm ǵ cũng không có, buông ư niệm xuống chính là Chỉ; một câu Phật hiệu rơ ràng, minh bạch là Quán. V́ thế, trong kinh Đại Tập, đức Thế Tôn nói Tŕ Danh Niệm Phật là “thậm thâm thượng diệu Thiền”, Thiền chính là Chỉ Quán. V́ sao nói niệm Phật không phải là Tu Thiền? Đúng là đang tu Thiền ấy chứ, đă thế, lại c̣n tu Thượng Thượng Thâm Diệu Thiền, rất ít ai biết!

Chỉ () là ǵ? Là dứt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khiến cho chúng ngừng dứt. Trong giáo pháp Đại Thừa, Chỉ thường được gọi là tam-muội, tâm địa vĩnh viễn giữ chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi là Chỉ! Quán () là cảnh giới bên ngoài rơ ràng, minh bạch; trong - ngoài đều rơ ràng; trong là căn tánh của sáu căn, ngoài là Pháp Tánh. Minh tâm kiến tánh! Minh tâm là năng kiến, chân tâm; Kiến tánh: Không một pháp nào chẳng do tánh biến hiện, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, tâm thức là Pháp Tánh. V́ thế, đạt đến cảnh giới này, những cảnh giới mà sáu căn đối ứng và tiếp xúc chỉ là Pháp Tánh mà thôi! Giống như cổ đức thường ví von: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng). Vàng ṛng chế làm ngàn vạn món đồ vật, lấp lánh chóa mắt để ḿnh đến ngắm nghía, thưởng thức. Quư  vị nh́n xong, thấy  chúng là ǵ? Chỉ là  hoàng kim mà

thôi! Ngoài hoàng kim ra, không có ǵ khác hết.

V́ vậy, người thực sự minh tâm kiến tánh thấy núi, sông, đại địa, hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh, nếu quư vị hỏi người ấy thấy ǵ ư? Những ǵ họ thấy là một tánh; giống như những thứ lấp lánh chóa mắt ta thấy toàn là vàng ṛng, khắp tất cả là vàng ṛng! Trừ hoàng kim ra, không c̣n có ǵ khác. Lúc kiến tánh, ngoại trừ Pháp Tánh ra, cái ǵ cũng không có! Pháp Tánh là thanh tịnh, Pháp Tánh là b́nh đẳng, Pháp Tánh không sanh diệt, Pháp Tánh không đến đi: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra từ nơi nào, diệt tận ngay nơi đó), “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (tùy theo tâm chúng sanh, ứng theo khả năng nhận biết của họ). Quư vị thấy mấy câu kinh Lăng Nghiêm giảng rất rơ ràng. Chân tướng của vũ trụ vạn hữu đấy! Phá mê khai ngộ rồi sẽ ĺa khổ được vui, tất cả hết thảy khổ đều chẳng có; chẳng bị hết thảy khổ, đó chính là lạc!

Trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn cho biết v́ sao thế giới ấy gọi là Cực Lạc? Đức Phật giảng rất hay, chúng sanh trong thế giới ấy không có các nỗi khổ, không phải chịu khổ, nên gọi là Cực Lạc. Thế giới này của chúng ta khổ nhiều vui ít, vui cũng là khổ, chẳng phải là chân lạc! V́ thế, đức Phật nói Vui là Hoại Khổ, không khổ không vui là Hành Khổ; nói cách khác, nỗi khổ bao trùm mọi trạng huống cuộc sống của chúng sanh trong thế giới Sa Bà. Bọn họ đang chịu khổ, tam giới đều khổ. Thế giới Cực Lạc không khổ, chẳng có Khổ Khổ, Hoại Khổ, và Hành Khổ; v́ thế, gọi là Cực Lạc. Chúng ta hiểu rơ, hiểu thông suốt, hiểu rành rẽ ư nghĩa thô thiển ấy th́ sẽ chết ḷng trọn ư niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đă thế, c̣n khuyên người khác. Bất cứ chướng nạn nào cũng chẳng chướng ngại quư vị được! V́ sao? Thực sự hiểu rơ, hiểu minh bạch chân tướng của sự thật. Danh Quang Phật là như vậy đó. Tiếp theo là vị Phật:

 

Đạt Ma Phật.

達磨佛。

 

Đạt Ma (Dharma) là dịch âm tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Pháp. Chúng ta nói Phật - Pháp - Tăng: Phật Đà (Buddha), Đạt Ma (Dharma), Tăng Già (Sangha) đều là dịch âm tiếng Phạn, bởi thế, Đạt Ma được dịch là Pháp, “biểu thị đại pháp được truyền thừa từ chính đức Phật”. Pháp môn ấy sâu rộng vô tận, không pháp nào có thể sánh bằng. Quư vị học đại pháp ấy từ đâu? Ta học từ thầy, thầy là ai? Thầy là Thích Ca Mâu Ni Phật, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đương nhiên, chúng ta được thừa hưởng từ từng đời tổ sư truyền xuống nên chúng ta mới biết. Tuy là tổ sư dạy cho chúng ta, nhưng kinh chúng ta đọc ở đây là do chính miệng Như Lai nói ra, tổ sư đại đức lại giới thiệu cho ḿnh. Chúng ta mở kinh ra chính là được truyền thừa trực tiếp từ đức Phật.

Huống chi Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn dạy chúng ta Tứ Y Pháp (bốn phép nương tựa). Phật không c̣n trong thế gian, chúng ta phải nương tựa vào đâu? Đức Phật rất từ bi, chỉ dạy chúng ta Tứ Y Pháp:

1) Thứ nhất là “y pháp, bất y nhân” (nương vào pháp, chứ không nương theo người). Pháp là ǵ? Pháp là kinh điển. Nương theo Pháp, Pháp do đức Phật nói, trực tiếp nương theo lời Phật giảng. Quư vị thấy đó, thực sự phi phàm! Chúng ta là truyền nhân trực tiếp của Thích Ca Như Lai. Đặc biệt là Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Tông không có tổ sư, tổ sư Tịnh Độ Tông do đâu mà có? Do người đời sau đặc biệt tôn kính những vị tu Tịnh Độ ấy, xưng tụng các Ngài là tổ sư. Bởi thế, tổ sư Tịnh Độ Tông khác với tổ sư các tông phái khác. Hết thảy tông phái khác là một thầy truyền cho một tṛ, v́ thế có nhiều đời. Tịnh Độ Tông không có, Tịnh Độ Tông là dân tuyển, chẳng phải là một người truyền cho một người: Sơ Tổ không truyền cho Nhị Tổ, Nhị Tổ cũng chẳng truyền cho Tam Tổ. Người đời sau công nhận thành tựu của vị ấy: Đối với sự tu tŕ Tịnh Độ, đối với việc hoằng dương Tịnh Độ Tông, Ngài có cống hiến đặc biệt thù thắng, bèn tôn Ngài làm tổ sư. Bởi thế, cho đến nay, Tịnh Độ Tông chỉ có mười ba đời, tức là chỉ có mười ba vị. “Y pháp bất y nhân”, trực tiếp truyền thừa.

Chúng ta trực tiếp truyền thừa giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật, ba kinh một luận của Tịnh Độ Tông, sau này, tổ sư đại đức thêm vào hai loại, nay là năm kinh một luận, đủ rồi, đó là trực tiếp truyền thừa! Chúng ta phải hiểu ư nghĩa này, quả thật trong Tịnh Độ Tông không có Tổ Sư truyền cho nhau từng đời, chúng ta chớ hiểu lầm. V́ sao? Mỗi một người tu Tịnh Độ đều là trực tiếp truyền thừa, thật chẳng thể nghĩ bàn! Ai nấy đều là đệ tử Thích Ca Mâu Ni Phật, là đích truyền! Bởi thế, pháp môn này được hết thảy chư Phật khen ngợi, hết thảy Bồ Tát, thiện thần ủng hộ, chẳng phải là không có lư! “Kham làm khuôn phép cho chúng sanh”, được truyền thừa từ chính đức Phật, kham làm khuôn phép cho chúng sanh, làm mô phạm cho hết thảy chúng sanh, “tức là Tứ Y Pháp trong nhà Phật vậy”. Chúng tôi cũng nêu Tứ Y Pháp ở đây, “y pháp bất y nhân”.

2) Thứ hai, “y nghĩa bất y ngữ” (nương theo nghĩa chứ không nương theo lời nói). Hiện thời có rất nhiều người phê b́nh bản hội tập, họ không hiểu câu này trong pháp Tứ Y. Nếu hiểu được câu này, vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Cốt sao ư nghĩa của Phật minh bạch, lời lẽ nhiều thêm một câu hay bớt đi một câu, nói sâu, nói cạn, nói dài, nói ngắn cũng không ăn nhằm ǵ. Chỉ cần đúng ư nghĩa là được rồi! Nêu ra pháp Tứ Y này, đức Phật biết rơ ràng minh bạch rằng trong tương lai kinh giáo lưu thông đến mười phương, ngôn ngữ, văn tự tại mỗi địa phương khác nhau, nhất định phải thông qua phiên dịch. Phiên dịch rồi, những bản dịch ấy có được đại chúng tin tưởng hay không th́ dùng pháp Tứ Y này để luận. Bản dịch không có vấn đề: Hễ ư nghĩa đúng th́ ngôn ngữ bất đồng cũng không sao hết! Ư nghĩa phải đúng! “Y nghĩa bất y ngữ”.

Bản hội tập là [tập hợp những ư quan trọng được] tuyển chọn từ năm bản dịch gốc, chúng ta đem bản hội tập đối chiếu với những bản dịch gốc, không sai ư nghĩa, y nghĩa bất y ngữ, chúng ta thấy tin tưởng được, có thể sử dụng được. Nếu phản đối tức là không hiểu Tứ Y Pháp. Nói thật ra, hiện nay có rất nhiều người nghi hoặc những bản phiên dịch không đáng tin, nhất định phải dựa vào nguyên bản Phạn văn. Theo như chúng tôi biết về kinh điển nguyên bản bằng Phạn văn th́ lúc đức Phật c̣n tại thế, không dùng văn tự để ghi chép. Sau khi đức Phật diệt độ, ngài A Nan nhắc lại, đại chúng ghi chép. Rốt cuộc là đáng tin tưởng hay không? Nếu thực sự t́m lấy bản rốt ráo tin tưởng được, th́ không phải do người thân cận Thích Ca Mâu Ni Phật ghi chép lại sẽ không được. Từ miệng người này truyền sang người khác, ai nấy đều hoài nghi, sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng. Tất cả hết thảy kinh, ngay cả nguyên bản Phạn văn cũng bị phết mấy dấu hỏi, như vậy là quư vị sẽ không đạt được lợi ích thù thắng!

3) Thứ ba, “y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa” (nương theo kinh liễu nghĩa, không nương vào kinh không liễu nghĩa). Liễu nghĩa là ǵ? Bất liễu nghĩa là ǵ? Ở đây, tôi chỉ ra nguyên tắc cho quư vị: Liễu nghĩa, bất liễu nghĩa mỗi người mỗi khác. Khế cơ và khế lư th́ là liễu nghĩa; khế lư không khế cơ là bất liễu nghĩa. Khế cơ mà không khế lư cũng là bất liễu nghĩa. Liễu nghĩa nếu giảng đến rốt ráo là nếu chúng ta nương vào pháp môn này để tu học, trong một đời chúng ta có thể khai ngộ, có thể chứng quả, có thể vượt thoát lục đạo, vượt thoát mười pháp giới, th́ đối với ta, pháp môn ấy là liễu nghĩa! Rốt ráo liễu nghĩa th́ phải giúp cho chúng ta trong một đời này chứng được Phật quả viên măn rốt ráo. Đấy chính là liễu nghĩa bậc nhất trong các liễu nghĩa. Ngàn kinh vạn luận bày trước mặt quư vị, chính quư vị chọn lựa, pháp môn nào, bộ kinh nào đối với chúng ta là rốt ráo liễu nghĩa? Chính là bộ kinh nào, pháp môn nào mà chúng ta y theo đó, trong một đời này sẽ chắc chắn thành tựu Phật quả viên măn. Quư vị hăy suy nghĩ, trừ kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ ra, muốn trong một đời sẽ chứng đắc Phật quả viên măn rốt ráo là chuyện không thể được. Nói cách khác, kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ là liễu nghĩa rốt ráo!

Kinh Di Đà từ xưa đến nay có hai bản dịch, La Thập đại sư dịch ư, đó chính là bản dịch chúng ta đang đọc tụng. Bản dịch của ngài Huyền Trang là dịch thẳng. Hai loại bản dịch như vậy. Nay chúng tôi đều in cả hai bản dịch, quư vị có thể tham khảo, có thể so sánh. Từ cổ đến nay, tổ sư đại đức, rất nhiều người học Phật đều chọn lấy bản dịch của ngài La Thập, quả thật đây là bản dịch hay. C̣n như kinh Vô Lượng Thọ, từ mục lục Đại Tạng Kinh, chúng ta thấy thời cổ kinh này được phiên dịch đến mười hai lần. Từ đời Hậu Hán đến Nam Tống, trong ṿng tám trăm năm, tổng cộng mười hai lần phiên dịch, nhưng có những bản đă bị thất truyền, tức là có bảy bản trong số ấy bị thất truyền, nay chỉ c̣n lưu truyền năm bản, chúng ta gọi là “năm bản dịch gốc”(ngũ chủng nguyên dịch).

Đối chiếu những bản ấy thấy sự khác biệt rất lớn, v́ thế, dựa trên t́nh h́nh này cổ đức nhận định: Nhất định Thích Ca Mâu Ni Phật phải giảng kinh Vô Lượng Thọ nhiều lần, chứ không phải chỉ một lần. Nếu chỉ một lần, cùng một bản gốc dẫu được nhiều người dịch đến đâu đi nữa th́ chỉ đại đồng tiểu dị, không thể nào sai biệt quá lớn như thế được! Rơ ràng nhất là phần phát nguyện của A Di Đà Phật, quư vị thấy đó, trong năm bản dịch, hai bản ghi bốn mươi tám nguyện, hai bản ghi hai mươi bốn nguyện, một bản ghi ba mươi sáu nguyện, sai biệt rất lớn như thế. Nếu chỉ là một bản gốc (tức nguyên bản tiếng Phạn) th́ chẳng thể có dị biệt lớn như vậy được. V́ vậy, từ ba loại sai biệt ấy, cổ đức phán đoán đương thời Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh Vô Lượng Thọ tối thiểu ba lần. Chúng ta không được đọc những bản thất truyền, nhưng nói chung kinh này phải được giảng từ ba lần trở lên! Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh chưa bao giờ giảng trùng lặp, thế nhưng kinh Vô Lượng Thọ lăo nhân gia giảng tối thiểu ba lần, nên bộ kinh này rất đáng được coi trọng!

Do vậy, hội tập là chuyện cần thiết! Người hội tập sớm nhất là ông Vương Long Thư, người đời Tống. Bản hội tập của ông Vương Long Thư mang tên Đại A Di Đà Kinh, đă được lưu trong Càn Long Đại Tạng Kinh, tức là đă nhập tạng rồi. Trong tác phẩm chú giải A Di Đà Kinh là A Di Đà Kinh Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư có trích dẫn kinh Vô Lượng Thọ, quá nửa những đoạn kinh Vô Lượng Thọ được Ngài trích dẫn lấy từ bản hội tập của ông Vương Long Thư. Do đây ta biết, bản hội tập của ông Vương Long Thư đă được tổ sư khẳng định! Tổ sư chẳng trích dẫn từ bản dịch gốc mà dùng bản hội tập là có lư. Nếu nay chúng ta hoài nghi bản hội tập th́ là sai lầm quá sức, chính là không hiểu được pháp Tứ Y!

4) Pháp cuối cùng trong Tứ Y Pháp là “y trí bất y thức”. Đây chính là điều chúng ta hiện đang nói: Chẳng riêng việc học Phật mà ngay cả trong xử sự, đăi người, tiếp vật b́nh thường, cũng phải dựa theo Lư Trí, chẳng được làm việc theo t́nh cảm. Nay ta gọi Thức là “dùng cảm t́nh để xử sự”. Xử sự theo cảm xúc thường mắc sai lầm, quư vị phải dựa vào Lư Trí, học Phật lại càng phải làm như thế. Ở đây, đức Phật dạy chúng ta: Phải dùng trí huệ để phán đoán, chọn lựa, chẳng thể xử sự theo cảm t́nh. Xử sự theo cảm t́nh sẽ tạo thành sai lầm.

Ở đây, chúng tôi có chú thích một câu như sau: “Pháp sư Khuy Cơ soạn Thông Tán Sớ để làm gương cho mạt thế”. Làm gương như thế nào? Chính là “y trí bất y thức”. Khuy Cơ đại sư là đồ đệ của Huyền Trang đại sư, Ngài soạn Thông Tán Sớ để chú giải kinh A Di Đà, nhưng không dùng bản dịch của thầy ḿnh. Nói theo lẽ thường, bản dịch của thầy ḿnh khá lắm, lẽ ra, ta phải dùng bản dịch của thầy ḿnh để soạn chú giải. Ngài lại không làm như vậy, mà dùng bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, chẳng dùng bản dịch của thầy ḿnh. Như vậy có phải là bất kính đối với thầy hay chăng? Không phải! Bản dịch của ngài La Thập rất hay, đă được lưu truyền rộng răi toàn quốc, cớ ǵ phải dùng bản dịch của thầy ḿnh, rất ít người đọc đến bản dịch ấy. Khi Ngài chú giải kinh này, dù là t́nh thầy tṛ, vẫn chẳng thể nhiễu loạn sự thấy nghe của người tu hành. Ngài chọn dùng bản dịch của Cưu Ma La Thập, thầy Ngài là Huyền Trang đại sư cũng không trách móc, không nói: “Ngươi phản thầy nghịch đạo!” Không hề có! Huyền Trang đại sư có nhă lượng như vậy, Khuy Cơ đại sư làm như vậy khá lắm. Đó chính là “y trí bất y thức”, nương theo lư trí chứ không dùng cảm t́nh. Thầy tṛ họ nêu gương cho chúng ta. Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp vị Phật thứ năm trong đoạn thứ sáu của phần Mười Phương Phật.

 

Pháp Tràng Phật.

法幢佛。

 

“Biểu thị v́ chúng sanh làm con mắt chọn lựa pháp, dựng tràng pháp, lập tông chỉ, giáo hóa thịnh hành, phước độ chúng sanh”. Đó là ư nghĩa của danh hiệu này. Tràng (dhvaja) là một loại cờ xí, chúng ta thường nói là “tiêu chí” (biểu hiệu). Tràng có h́nh tṛn, hơi giống b́nh nén khí ở phi trường, hơi giống h́nh dạng ấy. Tại Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta vẫn thường thấy những cái tràng tại các tự viện lớn.

Thời cổ, khi chùa chiền giảng kinh, thuyết pháp, nay chúng ta gọi là “lên lớp”, làm thế nào để thông tri cho người khác biết mà đến nghe, đến cùng học tập? Phật pháp là đạo thầy tṛ, người Hoa hết sức coi trọng và tôn kính thầy. Bởi vậy “chỉ văn lai học, vị văn văng giáo” (chỉ nghe nói có kẻ tới xin học, chứ chưa nghe nói thầy phải đi tới chỗ tṛ để dạy). Học là cầu học, quư vị phải đến chỗ thầy để cầu học, chứ thầy không phải đến dạy cho ḿnh. Thầy hết sức khiêm hư, trọn chẳng dám chèo kéo quư vị, nay ta nói “chiêu sinh”, chứ xưa kia không dám bảo là chiêu sinh. Nói “chiêu sinh” là rất cuồng vọng, anh có đức hạnh ǵ mà dám dạy người khác, người càng đạo đức lại càng khiêm hư. Làm cách nào đây? Bèn dùng tràng phan, dùng phương pháp ấy để thông báo cho mọi người biết: Bữa nay trong đạo tràng của chúng tôi có giảng kinh, dạy học, chúng tôi treo tràng trên cột cờ. Mọi người xa gần trông thấy cột cờ của đạo tràng có treo cái tràng h́nh tṛn, liền biết hôm nay pháp sư sẽ giảng kinh, thuyết pháp, người thích nghe kinh sẽ tự đến. V́ thế, không chiêu sinh, mà là thông tri, quư vị thích th́ đến, không thích th́ thôi. Dùng phương pháp ấy, hoàn toàn tự động, khiêm hư mà!

Trong thời đại hiện nay lại khác hẳn, trong thời đại hiện tại đă bước vào giai đoạn kỹ thuật cao, chúng ta không dùng tràng nữa, v́ với khoảng cách rất gần dùng tràng th́ được, chứ với khoảng cách xa th́ không có hiệu quả. Nay chúng ta đem thời gian, băng tần [của đài truyền h́nh hay đài phát thanh] giảng kinh in ra như quảng cáo để giới thiệu cùng hết thảy đại chúng, khiến cho mọi người đều biết. Nếu quư vị thích nghe kinh, thích nghe kinh ǵ, vào lúc nào, ở làn sóng nào th́ đến lúc đó quư vị tự mở lên, hoàn toàn có cùng ư nghĩa với tràng phan.

V́ thế, giới thiệu cho người khác nghe kinh, nay có thể không cần phải gởi tặng kinh sách, băng thâu h́nh, băng thâu âm, đều không cần đến nữa, tốt nhất là in những tấm cạc (card), to bằng tấm danh thiếp, in những thông tin [giảng kinh] trên đó, tặng cho bạn bè thân thiết và người quen biết. Họ thích nghe th́ dựa theo những thông tin đó, vào lúc nào, trên làn sóng nào, họ đều có thể thâu được, hoặc là nối vào Internet, hoặc là xem truyền h́nh, truyền h́nh vệ tinh. Vậy là tốt! Những việc ấy có cùng ư nghĩa như treo tràng phan, giới thiệu người khác nghe kinh nghe pháp. Treo phan th́ quá nửa là pháp hội, thông tri nếu quư vị có thời gian th́ đến cùng tu. Pháp hội cộng tu dùng phan; pháp hội giảng kinh dùng tràng, gọi là “pháp tràng”.

Dạy học, giảng kinh là “v́ chúng sanh làm con mắt chọn lựa pháp”, đặc biệt là đối với kẻ sơ học, đúng là Phật pháp bảng lảng như khói trên mặt biển, pháp môn nhiều như thế, kinh điển ngần ấy, ta học pháp môn nào đây? Pháp môn nào thích hợp cho ḿnh? Bởi thế, bản thân pháp sư có kinh nghiệm tu hành và giảng dạy, có thể giúp mọi người chọn lựa pháp môn, nêu ra những phương pháp tu học cho người ấy tham khảo. Đó là “làm con mắt pháp”, giúp mọi người chọn lựa pháp môn. Chuyện này cần phải có trí huệ, nhất là pháp sư truyền pháp. Truyền pháp là giảng kinh, thuyết pháp, truyền đạo, trong các tôn giáo khác thường gọi là “nhà truyền giáo”. Người ấy nhất định phải hiểu thực trạng xă hội, con người thường suy nghĩ những ǵ? Nói năng những ǵ? Làm những ǵ? Phải chú tâm quan sát! Có như vậy quư vị mới dạy học, mới thuyết pháp khế cơ, những ǵ quư vị đề xuất đều khớp với những nhu cầu bức thiết của người ta, có như vậy người ta mới hoan hỷ, mới bằng ḷng học tập.

Hiện tại xă hội động loạn, nhu cầu bức thiết nhất của con người là xă hội an định, thế giới ḥa b́nh, con người đối xử ḥa thuận với nhau, hợp tác cùng nhau, đấy chính là nhu cầu bức thiết trong hiện tại. Khóa tŕnh dạy học của chúng ta phải lấy những điều ấy làm trung tâm, trọng điểm. Đối với mỗi cá nhân, sự lợi - hại, được - mất của người ấy quan trọng hơn bất cứ ǵ khác. Những chuyện lợi - hại, được - mất, nói chung, chẳng ngoài ba loại: Thứ nhất là cầu giàu có, thăng quan, phát tài; thứ hai là cầu trường thọ, mạnh khỏe, sống lâu. Những điều ấy đều là nhu cầu bức thiết. Từ hai nhu cầu này, chúng ta nêu ra khóa tŕnh thứ ba là trí huệ, cầu trí huệ. V́ sao? Quư vị muốn thăng quan, phát tài, muốn cầu sống lâu, khỏe mạnh, đều cần phải có trí huệ, không có trí huệ sẽ chẳng thể làm được!

Theo thứ tự của nền giáo học nhà Phật, trí huệ được xếp vào hàng đầu. Con người hiện thời xếp trí huệ xuống cuối, cái họ mong muốn đầu tiên là phát tài, kế tiếp là mạnh khỏe, sống lâu, điên đảo như thế đó! Trong sự giáo học và tu hành của Phật pháp, điều đầu tiên là trí huệ, phải cầu trí huệ. Thứ hai là mạnh khỏe sống lâu, phát tài là chuyện cuối cùng, không đáng coi là quan trọng. Có trí huệ th́ vấn đề nào chẳng thể giải quyết được! V́ thế, từ đầu đến cuối, sở cầu của Phật pháp là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu nói theo cách bây giờ th́ là “trí huệ viên măn rốt ráo”. Phật pháp là phương pháp trí huệ, Phật học là học vấn trí huệ, phá mê khai ngộ mà! Đó là Phật pháp. Chữ Phật là tiếng Phạn, có nghĩa là trí huệ, là giác ngộ; v́ thế, theo mặt chữ dịch ra th́ Phật pháp là phương pháp trí huệ, là phương pháp giác ngộ. Quư vị mới thực sự có năng lực, có trí huệ v́ hết thảy chúng sanh chọn lựa phương pháp tốt nhất khiến cho họ học được không khó khăn, lại c̣n đạt được lợi ích thù thắng.

Câu thứ hai: “Dựng pháp tràng, lập tông chỉ”. Nói như bây giờ, “dựng pháp tràng” là tạo lập đạo tràng. Đạo tràng trong hiện thời chẳng thể không tuân thủ lời Ấn Quang đại sư dạy. Lăo nhân gia dạy chúng ta, từ thế kỷ hai mươi trở đi, đạo tràng theo quy mô nhỏ; thời đại đă khác với thời quân chủ, xă hội nông nghiệp trước kia. V́ thế, đạo tràng không thể giống như trước được. Đạo tràng hiện tại phải có quy mô nhỏ, tổ sư dạy chúng ta: Chúng thường trụ lấy hai mươi người làm giới hạn, chẳng được vượt quá hai mươi người, tự ḿnh lo liệu cuộc sống của chính ḿnh. Đạo tràng quy mô nhỏ không cần phải hóa duyên, người thực sự tu hành sẽ được cúng dường, cuộc sống thanh bần một chút là tốt. V́ sao? Cuộc sống thanh bần sẽ kích phát đạo tâm, khiến cho quư vị chẳng lưu luyến thế gian này, không tham ái, không lưu luyến, tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ sẽ khẩn thiết.

Đạo tràng xây cho to, giàu có, choáng lộn, nguy nga th́ con người không có đạo tâm. V́ sao? Khởi tham - sân - si, tham luyến hoàn cảnh ấy, không muốn văng sanh, tâm phan duyên bèn sanh khởi, đều là chướng đạo! Tổ sư suy nghĩ rất hợp lư. Đạo tràng nhỏ, vài người chí đồng đạo hợp cùng nhau tu hành, tốt quá! Chẳng làm pháp hội, quyết định chẳng làm kinh sám Phật sự, thuần túy là đạo tràng niệm Phật. Tổ dạy không thâu đồ đệ, không truyền giới, không làm pháp hội, ngay cả kinh cũng không cần giảng, thật thà niệm Phật. Công khóa mỗi ngày giống như Phật thất thông thường, hai mươi người cùng tu một chỗ. Nay chúng tôi quan sát t́nh h́nh xă hội trong hiện tại, nhận thấy cách nghĩ của tổ sư tuyệt đối chính xác; nhưng trong t́nh h́nh xă hội hiện tại, phải nghe kinh! V́ sao? Không nghe kinh, quư vị sẽ không hiểu lư. Không hiểu lư th́ niệm Phật là tu mù luyện đui! Trong thời đại xưa kia th́ được, chứ trong thời đại hiện thời chẳng được! Chúng ta phải hiểu rơ t́nh trạng hiện tại để tuân thủ nguyên tắc do tổ sư đă chỉ dạy.

Hiện tại, cái đạo tràng nhỏ này của chúng ta phải nghe kinh, một ngày tối thiểu là nghe kinh hai giờ, có thể dùng thời gian c̣n lại để niệm Phật. Mỗi ngày nghe kinh chớ để gián đoạn! Nghe kinh không những khiến quư vị hiểu rơ lư, mà mỗi ngày nghe giáo huấn của Phật, sẽ kiên định tín nguyện của chính ḿnh, hóa giải những phiền năo, vọng tưởng, tập khí. Nghe kinh sẽ hóa giải [những thứ ấy] dễ dàng, giải hạnh tương ứng. Nếu là sơ học, phiền năo tập khí nặng nề, tốt nhất là mỗi ngày nghe kinh bốn tiếng đồng hồ, niệm Phật trong Niệm Phật Đường mười hai tiếng đồng hồ. Tu như vậy không ai chẳng thành công, thực sự thực hành mà! Đạo tràng ấy chắc chắn được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ.

C̣n như hoằng dương Phật pháp, lợi ích chúng sanh th́ dùng Internet, dùng truyền h́nh vệ tinh; v́ thế, trong đạo tràng nhỏ này lập thêm một studio [để thâu phát những buổi giảng kinh] là đủ. Đó là đối ngoại hoằng pháp. Đối ngoại hoằng pháp tự nhiên có người, bản thân chúng ta không cần bận tâm, chúng ta chỉ cần đem bài giảng (tức là giảng kinh nội bộ mỗi ngày hai hay bốn tiếng đồng hồ) thâu âm hay thâu h́nh lại, có những tín đồ rất nhiệt tâm, để cho họ truyền bá là được rồi, chẳng cần phải bận tâm chút nào. Tốt nhất là ít tiếp xúc ngoại cảnh, càng ít càng tốt, tâm chúng ta an định. Đương nhiên sẽ có những cư sĩ nhiệt tâm hộ tŕ đạo tràng nhỏ ấy, chuyện lưu thông Phật pháp để cho họ làm. Như vậy, thân tâm hoàn toàn yên định, vậy là tốt! “Dựng pháp tràng” chính là lập đạo tràng.

“Lập tông chỉ”, tông chỉ là cương lănh và phương châm tu hành. Như pháp sư Ấn Quang đă dạy chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp, đấy chính là “lập tông chỉ”. Đạo tràng này của chúng ta chuyên tu Tịnh tông, chẳng xen tạp các pháp môn khác, thuần túy là tịnh nghiệp đạo tràng. Những kinh luận được học tập ở đây chỉ là năm kinh một luận, đó là khoa mục chủ tu, không cần phải mở rộng ra bên ngoài. Nay chúng tôi kiến lập học viện tại đây, học viện đương nhiên phải bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp. Bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp cũng dùng phương pháp ấy, giải và hạnh cùng tiến. Theo lộ tŕnh, chúng ta cũng dùng phương pháp này, thực sự làm!

Thế nhưng, trong xă hội hiện tại, mỗi cá nhân đều chăm chút cái thân của chính ḿnh, tự tư tự lợi, thậm chí vong ân phụ nghĩa, không có tâm từ bi, không có sự lễ kính chư Phật như trong mười nguyện Phổ Hiền, không có tâm lễ kính. Nhằm báo ân thí chủ, chúng tôi cũng mở lớp Phật học ngắn hạn. Một năm bốn quư chúng tôi mở bốn lần, mỗi khóa học ngắn hạn kéo dài bảy mươi ngày, tức mười Phật thất để các đồng học chúng ta có cơ hội luyện tập giảng kinh, dạy học; đồng thời để cho các thí chủ đàn-việt hộ tŕ có thể trông thấy thành tích tu học của chúng ta tại nơi đây. Chúng ta phải dùng thành tích để báo đáp ân thí chủ, khiến cho họ cùng sống với chúng ta hai tháng, đến xem thành quả giải hạnh của chúng ta có đáng cho họ tiếp tục hộ tŕ hay không. Nếu sau khi xem xét, họ rất không vừa ư, từ đó về sau họ không đến hộ tŕ nữa, như vậy là chánh xác, là đúng. Tông chỉ phải rơ ràng.

“Giáo hóa thịnh hành”, ở đây quư vị làm tốt, chỗ khác có người phỏng theo, mong rằng đạo tràng quy mô nhỏ thực sự tu Tịnh nghiệp này các nơi đều có. Đều có những vị pháp sư hoặc là trưởng giả, cư sĩ tốt đẹp đến lănh đạo. Số người quả thật không cần nhiều, đấy mới là “phước độ chúng sanh”. Vị Phật cuối cùng là:

 

      Tŕ Pháp Phật.

      持法佛。

     

      Đây là vị Phật thứ sáu, Tŕ Pháp, “biểu thị tự - tha y giáo tu hành thật chứng, Phật pháp từ đầu đến cuối coi trọng thực tiễn”. “Tŕ” là ǵn giữ, là thọ tŕ. Chúng ta tiếp nhận lời giáo huấn của Như Lai, vĩnh viễn ǵn giữ, y giáo phụng hành, đó là Tŕ Pháp. Ở đây, đức Phật làm gương cho chúng ta. Chúng ta mong mỏi hết thảy chúng sanh có duyên cùng Phật, đều có thể “thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói”. Y giáo phụng hành th́ chính ḿnh phải tự làm trước, tự ḿnh không làm được lại mong người khác làm th́ đó là chuyện không thể được! Chư Phật Như Lai, tổ sư đại đức, thậm chí bậc thánh hiền, quân tử trong thế gian trong thời cổ đều là tự ḿnh làm được rồi mới khuyên người khác, sau đó mới dạy dỗ người khác. Đó là tŕnh tự nhất định, tự ḿnh phải làm trước, tự ḿnh đạt được lợi ích, bất luận tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh đều không do dự, không hoài nghi, v́ sao? Tự ḿnh làm được là đă trải qua thực chứng: Pháp môn này không sai, tôi thực sự hưởng lợi ích; khi ấy khuyên người, người ta mới tin.

      Như vậy, hoằng pháp có hai giai đoạn: Trước hết, để khuyến cáo mọi người th́ chính ḿnh phải có đức hạnh, phải có tiếng tăm, rồi mới giáo hóa chúng sanh. Đến khi nào khuyên dạy trở thành chỉ dạy? Trong phần trên chúng tôi đă nói rồi, phải là Thượng Tọa mới có tư cách giáo hóa chúng sanh. Chúng tôi dùng thí dụ giảng kinh để luận về Thượng Tọa: Quư vị phải lên đài giảng kinh trọn ba mươi năm. Mười năm là Hạ Tọa, hai mươi năm là Trung Tọa, ba mươi năm là Thượng Tọa. Nói cách khác, chưa đủ ba mươi năm th́ chỉ khuyên dạy. Đủ ba mươi năm th́ đại khái niên kỷ của chính ḿnh cũng không chênh lệch mấy. Hai mươi tuổi ra giảng kinh, giảng đến ba mươi năm là năm mươi tuổi. Xưa kia, người ta thấy người như vậy bèn gọi là “lăo pháp sư” v́ đă năm mươi tuổi rồi, bởi thế, lúc đó có thể chỉ dạy. Đều là chính bản thân phải làm trước. Quư vị muốn dạy người khác, mà chính ḿnh không làm, làm sao dạy được ai?

      Có lần, tôi qua Đài Loan, dẫu thời gian chỉ vỏn vẹn năm ngày, tôi được gặp gỡ nhiều đồng tu. Có vài vị đồng tu bảo tôi: Chúng con ở nhà dạy con cái, con c̣n nhỏ dạy chúng đọc sách Đệ Tử Quy. Trẻ nhỏ đọc xong, hỏi cha mẹ: “Ba má chưa làm được như vậy!” Ba má chúng nó không biết nói sao, [trẻ nhỏ bắt bẻ]: “Ba má chưa làm được, sao kêu con làm?” Giáo dục thời cổ, cha mẹ thực sự làm được, kêu con học tập, con cái ngoan ngoăn học, không nghi ngờ ǵ. Nay khó lắm! V́ sao? Làm thân cha mẹ, lúc nhỏ không có người dạy, nay mới thấy những điều [dạy trong sách Đệ Tử Quy] tốt đẹp, muốn dạy con cái của chính ḿnh, nhưng tự ḿnh chưa thể làm được, tự ḿnh không thể lấy thân ḿnh làm gương, giáo dục gia đ́nh thật chẳng dễ! Muốn dạy con cái phải lấy chính thân ḿnh làm gương. Trường học cũng thế, thầy dạy học tṛ, thầy phải lấy chính thân ḿnh làm gương th́ mới dạy tốt được. Nếu chính ḿnh chẳng thể làm gương, làm sao dạy học sinh cho được?

Cùng một đạo lư đó, người lănh đạo quốc gia, xă hội, nếu chẳng thể dùng thân ḿnh làm gương, làm sao quư vị giáo hóa toàn dân trong nước? Làm sao giáo hóa dân trong cả một thành phố? Quư vị làm thị trưởng, tức là làm vua, làm cha mẹ, làm thầy! Quư vị phải là tấm gương tốt nhất cho đô thị, cho khu vực, cho quốc gia ấy. Trước kia, quả thật là như vậy. Nếu quư vị là người lănh đạo một nước mà vua không ra vua (vua là người lănh đạo một nước), chẳng giống như một người lănh đạo quốc gia, nhân dân sẽ bị khổ. Nhân dân bị khổ sẽ không cam ḷng, sẽ lật đổ chánh quyền, sẽ làm cách mạng.

Do vậy, trước kia, khi giảng kinh ở Tân Gia Ba, lúc ấy tôi vẫn chưa ở lâu dài tại Tân Gia Ba, mỗi năm qua đó một tháng, giảng kinh một tháng. Pháp sư Diễn Bồi đối với tôi hết sức tốt, có lần Ngài mời tôi dùng cơm tại đạo tràng của Ngài, hỏi tôi một câu:

- Pháp sưTịnh Không ! Ông tán thành quân chủ hay tán thành dân chủ?      

Tôi thưa:

- Tôi tán thành quân chủ.

Ngài hỏi:

- Tại sao?

Tôi nói:

- Quân chủ tốt hơn dân chủ.

Ngài nói:

- Đầu óc ông cổ hủ quá, không hợp thời!

Tôi nói:

- Tôi không bận tâm hợp thời hay không hợp thời, tôi chỉ dùng sự luận sự: Điểm tốt của quân chủ là ǵ? Đế vương muốn đời này truyền cho đời kia, muốn con cháu đều làm hoàng đế, điều ấy dẫu là có ḷng riêng tư, nhưng chỉ cần đối xử tốt với nhân dân là được rồi! V́ thế, vua phải bồi dưỡng những người kế vị đất nước, thực sự dụng tâm! Mời những vị học giả đức cao trọng vọng bậc nhất trong toàn quốc, phẩm đức, học vấn, tài nghệ đều bậc nhất làm thầy dạy thái tử, vương tử. Đấy đều là những người thừa kế quốc gia xă hội trong tương lai, bọn họ phải hưởng sự giáo dục tốt nhất. Bởi thế, khi họ nối ngôi chẳng đến nỗi đại loạn v́ nhận sự giáo dục của thánh hiền, đọc sách hiểu lư! Nếu họ không tuân thủ giáo huấn của thánh hiền, không tuân thủ pháp tắc tổ tông đă lập, [tuân theo] điển chế và pháp lệnh do tổ tông đă lập, họ muốn phá hoại, không tuân thủ sẽ khó thể giữ nổi chánh quyền, sẽ bị người khác nổi lên lật đổ, thay đổi triều đại. V́ thế, kẻ làm đế vương chẳng thể không lo lắng, dè dặt th́ mới ḥng giữ được ngôi.

Những hoàng đế cuối cùng, nói trắng ra, là kẻ trái nghịch lời thầy giáo huấn, trái nghịch lời cha mẹ răn dạy. Đến khi họ nắm quyền, làm xằng, làm bậy, tham cầu hưởng thụ, mặc kệ nhân dân sống chết, lập tức bị người ta lật đổ! Chúng ta có thể thấy những chuyện này từ lịch sử Trung Quốc. C̣n những người lănh đạo do dân bầu lên có phải là người được hưởng sự giáo dục tối hảo hay không, rất khó nói! Họ có phải là người có trách nhiệm, thực sự thương yêu trăm họ, quan tâm trăm họ, v́ trăm họ giải trừ khổ nạn, khiến cho trăm họ được thực sự hưởng hạnh phúc mỹ măn, rất khó xác định! V́ sao? Nhiệm kỳ hữu hạn, nói thật ra, cảm giác trách nhiệm không bằng đế vương.

Quư vị hăy khéo chú tâm, chú ư quan sát, thể hội: Dẫu chế độ quân chủ có khuyết điểm, nhưng so với chế độ dân chủ th́ ít khuyết điểm hơn. Nói trên phương diện giáo dục, thời đại quân chủ hết sức coi trọng giáo dục. Rất nhiều chế độ hết sức tốt, ngăn ngừa những cái nhỏ nhặt, chấm dứt những cái sẽ lần lần xảy ra. Quư vị thấy trong lịch sử Trung Quốc, bậc đế vương thực sự có trách nhiệm rất nhiều, kẻ không trách nhiệm cực ít. Ai vậy? Những vua chúa cuối trào. Những vua chúa mất nước là kẻ vô trách nhiệm, bởi thế, họ bị kẻ khác diệt trừ rất nhanh. Quư vị phải nh́n vào những vị vua mở nước, đừng nh́n vào những vua cuối trào; nh́n vào những vị vua khai quốc, nh́n vào những thời kỳ triều đại cường thịnh, sẽ thấy khác hẳn.

Tu học, giáo học Phật pháp, từ đầu đến cuối coi trọng thực tiễn nhất; bởi thế, Phật pháp trọng thực chất chứ không trọng h́nh thức. H́nh thức là nhằm để giáo hóa chúng sanh, đương nhiên cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất lại chính là thực chất. Nếu quư vị không thật tu, chỉ tu h́nh thức th́ h́nh thức chẳng thể lợi ích xă hội, chẳng thể lợi ích chúng sanh, nhất định phải chân tu! Chân tu chính là phải y giáo phụng hành! Trong những khóa giảng, chúng tôi thường khuyến khích, cổ vũ các đồng học: Người chân tu phải buông xuống những thành kiến của chính ḿnh, buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính ḿnh, phải tùy thuận những điều được giảng dạy trong kinh luận. Kinh luận chính là giáo huấn của Phật, Bồ Tát, phải hoàn toàn thực hiện những giáo huấn trong kinh luận, biến chúng thành hành vi sinh hoạt của chính ḿnh trong thực tế, đó gọi là chân tu!

Vừa khởi lên một ư niệm, phải nghĩ trong kinh giáo đức Phật có chấp thuận ư niệm ấy hay không. Ư niệm được Phật hứa khả chắc chắn là thiện niệm, nhất định lợi ích chúng sanh, lợi ích xă hội, ư niệm ấy tốt. Nếu đức Phật không hứa khả th́ ư niệm ấy nhất định là tự tư, tự lợi, nhất định là tổn người, lợi ḿnh. Chẳng được khởi ư niệm “tổn người, lợi ḿnh”, v́ đó là tạo nghiệp. Thực sự dốc công phu nơi khởi tâm động niệm, đó là tu từ căn bản. Ngôn ngữ, tạo tác thời thời khắc khắc đều phải nghĩ đến những ǵ kinh luận đă giáo huấn. V́ sao phải dạy quư vị thực hiện khóa sáng và khóa tối?

Về thực chất, dụng ư của khóa sáng là nhằm cảnh tỉnh chính ḿnh, ngày hôm nay ḿnh phải tuân thủ lời Phật, Bồ Tát giáo huấn, không được trái nghịch. Khóa tối để phản tỉnh, lúc ấy phải nghiêm túc phản tỉnh những tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh của chính ḿnh trong ngày hôm nay có trái nghịch giáo huấn của Phật, Bồ Tát hay không? Hễ có trái nghịch phải gấp sám hối, phải sửa lỗi, ngày mai chẳng dám trái phạm nữa. Những tư tưởng, hành vi hoàn toàn tương ứng giáo huấn của Phật, Bồ Tát th́ ngày mai phải tiếp tục giữ ǵn, đừng để mất đi. Đó là thực sự thực hiện công khóa sáng tối, đấy mới là chân chánh tu hành! Khóa tụng sáng tối không phải là h́nh thức, đọc cho Phật, Bồ Tát nghe; Phật, Bồ Tát không cần nghe! Chính là niệm cho tự ḿnh nghe đấy! Phải hiểu đạo lư mà Tŕ Pháp Phật đă dạy cho chúng ta ở đây. Lại xem tiếp thượng phương Phật, chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật.

舍利弗。上方世界有梵音佛。宿王佛。香上佛。香光佛。大燄肩佛。雜色寶華嚴身佛。娑羅樹王佛。寶華德佛。見一切義佛。如須彌山佛。

(Xá Lợi Phất! Thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật).

 

Ở phương trên, đức Thế Tôn nêu tên mười vị Phật. Trong phần trên, ở phương Tây chúng ta thấy kể tên bảy vị Phật, con số Bảy biểu thị viên măn, con số Mười cũng biểu thị sự viên măn; kinh Hoa Nghiêm dùng số Mười để biểu pháp. Ở chỗ này, trong bút kư[5] ghi: “Phương trên nêu đại lược mười danh hiệu Phật, biểu thị giác hạnh viên măn, một đời thành Phật”. Mọi thứ đều biểu thị pháp môn này. Đoạn kinh văn này có ư nghĩa rất sâu, nhà Phật gọi là “mật nghĩa”. Mật ở đây không phải là bí mật, mà có nghĩa là ư nghĩa sâu kín, rất sâu. Những đồng học chúng ta học Đại Thừa hăy nên thấu hiểu! Ư nghĩa ấy thực sự rất rơ ràng giống như kinh Hoa Nghiêm vậy, chẳng khác ǵ cả! Nhằm biểu thị ư nghĩa ấy! Nếu quư vị chú tâm quan sát danh hiệu mười vị Phật này, thấu hiểu những danh hiệu ấy th́ ư nghĩa của những danh hiệu ấy lại càng rành rành.

Chúng ta hăy xem vị Phật đầu tiên, Phạm Âm Phật. “Phạm” () nghĩa là thanh tịnh, “Âm” là âm thanh. Đây chính là chư Phật thị hiện giáo hóa chúng sanh trong thế giới Sa Bà này. Chúng sanh trong thế giới Sa Bà căn tai nhạy bén nhất. Văn Thù Bồ Tát v́ chúng ta chọn lựa pháp viên thông, [đă nói]: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Giáo thể thực sự của phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Giúp đỡ hết thảy chúng sanh bằng phương cách nào? Bằng dạy dỗ, bằng thuyết pháp. Âm thanh ấy là âm thanh thanh tịnh, từ chỗ nào mà thấy là thanh tịnh? “Xả Tứ Tướng, Tứ Kiến, thuyết pháp thanh tịnh, không nhiễm trước”. Đấy là chân chánh phát tâm giống như chư Phật, Bồ Tát, đến trong thế giới này, thừa nguyện tái lai. Lúc chúng ta đến đây là phàm phu, mê hoặc, điên đảo, nhưng sau hai mươi, ba mươi năm học tập, un đúc, cũng có thể chuyển phàm thành thánh.

Người thượng căn th́ mười năm là chuyển được, chuyển phàm thành thánh, thực sự làm được! Bắt đầu từ đâu? Kinh Kim Cang dạy: Phá Tứ Tướng, phá Tứ Kiến. Tứ Tướng là ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tứ Kiến chính là điều được nửa phần sau kinh Kim Cang nói đến, tức Ngă Kiến, Nhân Kiến, Chúng Sanh Kiến, Thọ Giả Kiến. V́ thế, chúng tôi thường khuyên lơn đồng học: Chúng ta tu hành phải dốc công nơi đâu? Phá Tứ Tướng! Phá Tứ Tướng bằng cách nào? Buông tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông ngũ dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống, đó chính là phương pháp thực tế để phá Tứ Tướng. Trong sinh hoạt thường nhật hằng ngày phải làm như vậy, nghiêm túc thực hiện, người căn tánh thượng đẳng th́ mười năm sẽ chuyển phàm thành thánh. V́ sao? Tứ Tướng, Tứ Kiến đă phá rồi, trong Đại Thừa, quư vị tối thiểu là bậc Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín của Viên Giáo; trong Tiểu Thừa phải là quả Tu Đà Hoàn, thực sự thành tựu. Đó là bậc thượng căn. Trung căn th́ hai mươi năm, hạ căn ba mươi năm sẽ chuyển phàm thành thánh.

Lúc ấy, quư vị thuyết pháp đương nhiên thanh tịnh, vô ngă mà! Khởi tâm động niệm đều v́ hết thảy chúng sanh, họ được lợi ích chứ không phải ḿnh lợi ích, niệm niệm xả kỷ v́ người khác, không nhiễm trước mảy may. Nhiễm trước là ǵ? Tự tư tự lợi là nhiễm trước, [nếu thấy] chúng ta có chỗ nào tốt đẹp hả? Nhiễm trước mất rồi! Không có ta đâu nhé!

Bởi thế, lúc chúng ta đến đây, tức lúc chúng ta đến đầu thai trong thế giới này là do nghiệp lực mà đến. Học Phật rồi sẽ chuyển nghiệp lực thành nguyện lực. Cái thân nghiệp lực đă chết, cái thân hiện tại là thân nguyện lực. Thân nguyện lực [của chúng ta] không khác ǵ chư Phật, Bồ Tát thừa nguyện tái lai. Nay sống trong thế gian này là v́ hết thảy chúng sanh khổ nạn, chẳng phải v́ tự ḿnh. Nếu v́ ḿnh th́ sẽ văng sanh bất cứ lúc nào, chuyện của chính ḿnh đă làm xong rồi. Kinh luận thường nói: “Sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu” (Việc làm đă xong, không c̣n phải chịu lấy thân sau), “bất thọ hậu hữu” là vĩnh viễn không bị đọa trong luân hồi, công việc của chính ḿnh đă giải quyết ổn thỏa. Thân thể này vẫn trụ trong thế gian để làm ǵ? Há chẳng phải rất bất tịnh, rất kém minh bạch ư? V́ chúng sanh, v́ Phật pháp, v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, v́ rộng độ chúng sanh, v́ những lẽ như vậy chứ nào phải v́ chính ḿnh; thực sự chuyển được rồi! Hễ c̣n tự tư tự lợi là chưa chuyển được. Phải hiểu cho rơ ràng, minh bạch điều này. Bây giờ hết giờ rồi!

 

Tập 33

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp danh hiệu của vị Phật thứ hai trong mười đức Phật ở thượng phương thế giới.

 

      Tú Vương Phật.

      宿王佛。

 

      “Biểu thị pháp của Đại Thừa Bồ Tát là đường tắt vô thượng đạo”. Tú (宿) là tinh tú, “tú vương” (vua của các tinh tú) nghĩa là tinh tú lớn nhất trong các ngôi sao. Đấy đều là y theo pháp thế gian để luận, hoàn toàn là dựa trên điều mắt chúng ta thấy được, theo cảm quan chúng ta th́ nó lớn nhất. Lớn nhất trong những ngôi sao trên trời là mặt trăng (theo con mắt chúng ta nh́n), không ngôi sao nào lớn bằng mặt trăng cả! Trên thực tế, mặt trăng có phải là ngôi sao lớn nhất hay không? Chuyện ấy chúng tôi không bàn đến, chỉ nói theo cảm quan của chúng ta mà thôi. Nay chúng ta ngẩng đầu nh́n hư không, thấy mặt trăng lớn nhất. Điều đó tượng trưng cho Đại Thừa Bồ Tát đạo, Đại Thừa Bồ Tát đạo cũng thù thắng bất đồng. Đương nhiên, Đại Thừa nhất định phải vượt trội Tiểu Thừa. Nếu so trong các pháp Đại Thừa th́ sẽ có pháp là đường tắt, dễ dàng thành tựu. Do đó, nói pháp môn có khó, dễ. Đường tắt là đường gần. Tiểu Thừa xa xôi, quanh co, chẳng thể thành Vô Thượng Bồ Đề. So giữa Tiểu Thừa với Đại Thừa th́ Đại Thừa là đường gần; Tiểu Thừa giống các ngôi sao, Đại Thừa giống mặt trăng, quang minh đương nhiên sáng hơn nhiều, dùng ư nghĩa đó.

Thế nhưng chúng ta nhất định phải hiểu: Cả mười Phật hiệu này đều biểu thị Phật pháp viên măn. Quư vị thấy đó, đức Phật đầu tiên là Phạm Âm Phật; nói cách khác, bất luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Hiển Giáo hay Mật Giáo, Tông Môn hay Giáo Hạ, âm thanh thuyết pháp đều là phạm âm. V́ sao? Tiểu Thừa Sơ Quả phá Tứ Tướng, không chấp tướng nữa; nói cách khác, vô ngă, không v́ ḿnh là sự chứng đắc của Sơ Quả. Đấy là nhập vào hàng thánh nhân, dự vào ḍng Thánh, không c̣n là phàm phu nữa. Nói cách khác, phàm phu chẳng rời khỏi tự tư tự lợi, vẫn chưa quên Ngă! Niệm niệm đều là niệm tham chấp, không quên Ngă được! Tiểu Thừa Sơ Quả đă quên Ngă, vô ngă, là bậc thánh nhân, phàm và thánh sai biệt ở chỗ này. Nói cách khác, “hữu ngă” là phàm phu, “vô ngă” là thánh nhân, phân biệt đơn giản như vậy. Phàm và thánh sai khác ở chỗ này!

Lục đạo phàm phu lên đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, chưa phá Tứ Tướng; bởi thế, chẳng thể sánh bằng Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn. Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín của Viên Giáo mới thực sự thanh tịnh, không nhiễm trước. Đấy chính là căn bản của việc học tập Phật pháp. Phạm Âm Phật tượng trưng cho sự tự hành hóa tha, không ǵ chẳng thanh tịnh, không nhiễm trước. Tú Vương Phật tượng trưng cho Đại Thừa, Đại Thừa là đường tắt vô thượng đạo, là con đường gần. Phật hiệu thứ ba là:

 

      Hương Thượng Phật.

      香上佛

 

      “Biểu thị hạnh pháp mà Lục Tổ Thiền Tông đă dạy trong chương Truyền Hương Sám Hối, là đường tắt nhất trong các đường tắt”. V́ sao dùng chữ Hương Thượng? Trong Lục Tổ Đàn Kinh có phẩm Truyền Hương Sám Hối, hương được giảng trong phẩm ấy là Ngũ Phần Pháp Thân Hương: Giới Hương, Định Hương, Huệ Hương, Giải Thoát Hương, và Giải Thoát Tri Kiến Hương, năm phần Pháp Thân Hương. Như vậy, Hương Thượng Phật tượng trưng cho Thiền Tông. Trong Đại Thừa, Thiền Tông lại là đường tắt của Đại Thừa, cho nên là “đường tắt nhất trong các đường tắt”. Đường đă gần lại c̣n có đường gần hơn! Nói cách khác, chọn lựa pháp môn cho chúng ta, pháp môn nào tốt? Đại Thừa hay hơn Tiểu Thừa, nhưng Thiền Tông lại thù thắng nhất trong Đại Thừa. Xin xem tiếp vị Phật thứ tư:

 

      Hương Quang Phật.

      香光佛

     

      “Biểu thị pháp môn Niệm Phật của Tịnh Tông”. V́ sao nói Hương Quang đại diện cho pháp môn này? Trong kinh Lăng Nghiêm có nói Hương Quang Trang Nghiêm; v́ thế, khi thấy hai chữ Hương Quang, quư vị phải biết nó tượng trưng cho Tịnh Độ Tông. Chúng tôi thấy cũng có lúc các chùa miếu dùng chữ Hương Quang làm tên, như Hương Quang Tự, Hương Quang Đường, Hương Quang Thất, Hương Quang Trang Nghiêm. Chỉ cần thấy chữ Hương Quang th́ nơi ấy nhất định phải tu Tịnh Độ. Đó là từ kinh Lăng Nghiêm mà có, tu Tịnh Độ [th́ dùng chữ ấy vậy]. “Kinh Lăng Nghiêm nói Hương Quang Trang Nghiêm là đường càng tắt hơn nữa trong những con đường tắt nhất”. Thiền Tông là đường tắt nhất trong các đường tắt, Tịnh Độ lại là con đường tắt hơn con đường tắt nhất ấy. Nói cách khác, nó là con đường gần nhất trong những con đường rất gần, thẳng chóng nhất, ổn thỏa nhất, thích đáng nhất, dễ dàng nhất, đơn giản nhất; thành tựu lại thù thắng khôn sánh. Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ cũng gọi là đường tắt hơn con đường tắt nhất trong các đường tắt, ư nghĩa là ở chỗ này.

      Quư vị thấy ở đây, danh hiệu Phật nhằm ngầm dạy chúng ta chọn lựa như thế nào. Ba danh hiệu Phật này rất có ư vị, chúng ta phải chọn lựa pháp môn nào? Chọn pháp Đại Thừa, Thiền Tông hay Tịnh Tông? Thiền Tông khó hơn Tịnh Độ. Cổ đức nói pháp môn Tịnh Độ “vạn tu, vạn nhân khứ” (vạn người tu, vạn người về); chẳng sót một ai. Thế nhưng tu học pháp môn này nhất định phải hiểu đạo lư, phương pháp, cảnh giới; kinh điển Tịnh Tông chỉ nhằm giảng giải ba chuyện trên. Chúng ta hiểu đạo lư Tịnh Độ, biết phương pháp tu học Tịnh Độ, biết cảnh giới quả báo Tịnh Độ thù thắng khôn sánh, rơ ràng, rành rẽ, chẳng tu mù, luyện đui. Lại xem tiếp vị Phật thứ năm:

 

      Đại Diệm Kiên Phật.

      燄肩佛。

 

      Ở phần trên, chúng ta đă thấy có Diệm Kiên Phật, ở đây là Đại Diệm Kiên Phật. Vị Phật này biểu thị ư nghĩa: “Trao pháp tối thượng một đời thành Phật cho con người”. Chúng ta muốn giúp đỡ người khác, chẳng được tiếc pháp, phải giới thiệu pháp môn vô thượng cho người khác, khiến họ trong một đời này sẽ thành tựu viên măn Phật Quả. “Do vậy, tổ sư của Tịnh Tông được tôn xưng là đại sư”. Danh xưng “đại sư” dùng để tôn xưng đức Phật, trong nhà Phật chỉ có chư Phật Như Lai mới được xưng là “đại sư”. Quư vị thấy Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát, ta gọi Quán Âm Bồ Tát là Quán Âm đại sĩ, không gọi là đại sư, v́ sao? Ngài không phải là Phật, chẳng thể không hiểu điều này.

      Chúng ta là phàm phu, là hạng xuất gia tầm thường, nếu xưng “đại sư” là hết sức quá phận. Người khác gọi ḿnh là đại sư c̣n tạm chấp nhận được, chứ chính ḿnh quyết định chẳng được tự xưng, không có lẽ ấy đâu! Tổ sư Tịnh Tông cũng chẳng tự xưng là đại sư, mà do hậu nhân xưng tụng. Lúc các Ngài c̣n tại thế, như Ấn Quang đại sư lúc c̣n sống, quư vị thấy những bộ Văn Sao được lưu thông trước kia nhằm lúc tổ sư c̣n sống, mang tựa đề Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, không phải là đại sư mà là Pháp Sư Văn Sao. Sau khi lăo nhân gia viên tịch, văng sanh rồi, hậu nhân tôn Ngài làm vị Tổ thứ mười ba của Tịnh Tông, nên mới gọi là đại sư. Lúc Ngài c̣n sống, không ai gọi Ngài là đại sư cả; tự Ngài cũng chẳng dám xưng là đại sư, do hậu nhân xưng tụng mà thôi!

      Trong lịch sử, mọi người gọi các vị tổ sư Tịnh Độ Tông là đại sư, v́ sao? Là do pháp môn này. Các vị dùng pháp môn này tiếp dẫn chúng sanh, sánh với chư Phật Như Lai không hai, không khác. Chư Phật Như Lai dùng phương pháp nào để chỉ dạy chúng sanh thành Phật ngay trong một đời, thành vô thượng đạo? Chính là phương pháp này. Nay các vị pháp sư trong Tịnh Tông cũng dùng phương pháp này, không khác ǵ phương pháp chư Phật Như Lai đă dùng, do vậy, được xưng tụng là đại sư. Tổ sư Tông Hoa Nghiêm chẳng xưng là đại sư, tổ sư tông Thiên Thai cũng chẳng xưng là đại sư. Thời cổ làm thầy của hoàng đế cũng không xưng là đại sư, mà xưng là “quốc sư”. Tổ sư các tông phái th́ gọi là tổ sư, không gọi là đại sư, mà là tổ sư đời thứ mấy. Thanh Lương đại sư là do hậu nhân chúng ta tôn xưng; Ngài là tổ sư đời thứ tư của tông Hiền Thủ (Hoa Nghiêm), ngài Tông Mật là tổ sư đời thứ năm, nên [hai Ngài được] gọi là Tứ Tổ, Ngũ Tổ, không gọi là đại sư. Chỉ ḿnh [tổ sư của] Tịnh Độ Tông xưng là đại sư. Từ chỗ này chúng ta hiểu rơ: Pháp môn Tịnh Độ thù thắng, không khác ǵ chư Phật đích thân dạy dỗ, thực sự chẳng thể nghĩ bàn! Đó là Đại Diệm Kiên Phật. Xin xem tiếp vị Phật thứ sáu:

 

      Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật.

      色寶華嚴身佛。

 

      Danh hiệu vị Phật này tượng trưng cho kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Tựa đề của kinh Hoa Nghiêm nếu dịch thẳng từ tiếng Phạn là Đại Phương Quảng Phật Đà Tạp Hoa Trang Nghiêm Kinh, dịch từng chữ là như vậy. Người Hoa thích đơn giản, bỏ bớt chữ Đà trong Phật Đà, bỏ bớt chữ Tạp trong Tạp Hoa, tỉnh lược chữ Trang trong Trang Nghiêm; v́ thế dịch Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Quư vị thấy Tạp Sắc Bảo Hoa Trang Nghiêm Phật có phải là biểu thị Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh hay không?

 Đức Phật này “biểu thị một đời viên măn, chỉ có kinh Hoa Nghiêm

giảng tường tận, nhất là nó chứng thực pháp môn Niệm Phật là chỗ quy hướng rốt ráo, phải nên suy nghĩ sâu xa, hăy nên lấy Thiện Tài làm thầy”. Đây là lấy một bộ kinh lớn để làm chứng, một đời viên măn thành Phật th́ Thiện Tài đồng tử là đại diện, có thể nói Ngài nổi tiếng nhất trong nhà Phật. Thiện Tài đồng tử không sanh lần thứ hai, một đời thành tựu, một đời viên măn, “nhất là kinh Hoa Nghiêm chứng thực pháp môn Niệm Phật là chỗ quy hướng rốt ráo”, dùng kinh Hoa Nghiêm để chứng minh. Kinh Hoa Nghiêm dạy một đời chứng đắc viên măn rốt ráo như thế nào? Bằng pháp môn Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Trong hội Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử sau khi đắc Căn Bản Trí – quư vị phải hiểu rơ: Đắc Căn Bản Trí, nhà Thiền gọi là “đại triệt đại ngộ”, minh tâm kiến tánh là đắc Căn Bản Trí. Sau khi đắc Căn Bản Trí, vị thầy dạy Thiện Tài đồng tử ra ngoài tham học. Tham học nhằm ư ǵ? Tham học để thành tựu Hậu Đắc Trí, nhằm thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí. Năm mươi ba lần tham học là v́ vậy đó!

      Vị thiện tri thức tham phỏng đầu tiên rất quan trọng, pháp thế gian hay xuất thế gian đều theo ư nghĩa này, tức là “tiên nhập vi chủ” (pháp nào theo học đầu tiên th́ pháp ấy là chánh yếu), vị thầy đầu tiên hết sức quan trọng! Theo bản Bát Thập Hoa Nghiêm, vị thầy đầu tiên là tỳ-kheo Đức Vân, bản Tứ Thập Hoa Nghiêm gọi là tỳ-kheo Cát Tường Vân. Cát Tường Vân và Đức Vân là một người, Cát Tường chính là Đức, [kinh được] hai người phiên dịch nên [danh hiệu của vị thiện tri thức này được] dịch khác nhau, nguyên bản là một. Tỳ-kheo Cát Tường Vân tu pháp môn nào? Ngài tu cái pháp nay chúng ta gọi là Ban Châu Tam Muội. Ban Châu Tam Muội là chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Ngài tu pháp môn ấy, Thiện Tài đồng tử đến tham học với Ngài, hướng về Ngài thỉnh giáo, Ngài bèn v́ Thiện Tài giảng hai mươi mốt pháp môn Niệm Phật. Hai mươi mốt không phải là con số, chúng ta phải hiểu hai mươi mốt theo ư nghĩa biểu thị pháp trong Mật Tông, hai mươi mốt tượng trưng cho viên măn. Hoa Nghiêm là căn bản của toàn bộ Phật pháp, nhà Phật gọi là “căn bản pháp luân”. Nói theo thuật ngữ của người hiện thời th́ gọi là “Phật học khái luận”. Hết thảy những pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng trong bốn mươi chín năm chẳng ra ngoài kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm bao gồm toàn bộ căn bản Phật pháp, bởi thế, nó được gọi là “pháp luân viên măn”.

Ngài Cát Tường Vân thị hiện pháp môn Niệm Phật này chẳng thể nghĩ bàn! Thiện Tài học được pháp này. Chúng ta hăy chú tâm quan sát kỹ, thầy của Ngài là Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, đều tu pháp môn Niệm Phật, kinh Hoa Nghiêm đă chứng thực rơ ràng như vậy. Đến vị thiện tri thức cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát, tức vị thiện tri thức thứ năm mươi ba (tỳ-kheo Cát Tường Vân là vị thứ nhất, Phổ Hiền Bồ Tát là vị thiện tri thức cuối cùng), Phổ Hiền Bồ Tát dạy Thiện Tài đồng tử “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. [Từ sự kiện toàn bộ quá tŕnh tham học] mở đầu dạy pháp môn niệm Phật, tối hậu “dẫn về Cực Lạc”, chúng ta hoàn toàn hiểu rơ: Thiện Tài đồng tử tu pháp môn nào? Pháp môn Niệm Phật. Từ đầu đến cuối đều tu pháp môn Niệm Phật. Quư vị thấy trong khi tham phỏng, có thể nói pháp môn nào Ngài cũng tiếp xúc, cũng thông đạt, nhưng tự ḿnh vẫn tu pháp môn Niệm Phật, nhất định chẳng bị ảnh hưởng, nhất định chẳng thay đổi. Năm mươi ba lần tham học bao hàm ư nghĩa ấy. Nếu không hiểu điều này th́ năm mươi ba lần tham học coi như trắng tay.

      Cứ mỗi lần tham phỏng một vị thiện tri thức th́ trong khoa phán của Thanh Lương đại sư, Ngài phán định phần cuối của mỗi đoạn kinh văn ấy là “luyến đức lễ từ” (luyến mộ đức hạnh, lễ kính, tạ từ). Nên hiểu bốn chữ ấy như thế nào? “Luyến đức” là cảm tạ thiện tri thức dạy dỗ, thiện tri thức v́ con diễn nói khiến cho con hiểu rơ ràng mọi điều. “Lễ từ” có nghĩa là ǵ? Lễ là cung cung kính kính, “từ” là không học pháp môn ấy, vẫn chỉ học pháp Niệm Phật của chính ḿnh. Con rất cảm kích, Ngài dạy con, con đều hiểu rơ, thấu hiểu nên trí huệ mở mang. “Lễ từ” là như như bất động, tự ḿnh thường trụ trong Niệm Phật tam-muội th́ mới một đời thành tựu được! Một đời thành tựu phải nhờ vào “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. Điều này chứng thực pháp môn Niệm Phật là rốt ráo chỉ quy.

Vị tổ sư thứ nhất của Tịnh Độ Tông là ai? Phổ Hiền Bồ Tát là vị tổ sư thứ nhất. Trong hội Hoa Nghiêm “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, quư vị nói Ngài không phải là vị tổ sư thứ nhất th́ ai là tổ sư đời thứ nhất? Thế nhưng chúng tôi đọc cuốn Tịnh Tu Tiệp Yếu của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư thấy Ngài viết như thế này: “Tịnh Tông Sơ Tổ Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát”; câu này quả thật lay tỉnh tôi. Không sai! Trong hội Lăng Nghiêm, chúng ta thấy Đại Thế Chí Bồ Tát là người chuyên tu Tịnh Độ sớm nhất. Như vậy, Đại Thế Chí Bồ Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ, là pháp giới tổ sư; trọn khắp pháp giới hư không giới, Đại Thế Chí Bồ Tát là người tu Tịnh Độ đầu tiên, là Sơ Tổ của trọn khắp pháp giới. Phổ Hiền Bồ Tát là Sơ Tổ trong thế giới Sa Bà. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành Phật, kinh giảng đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, trong hội thứ nhất, Phổ Hiền Bồ Tát “dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. V́ vậy, Ngài là Sơ Tổ của thế giới Sa Bà.

      Sơ Tổ Tịnh Tông Trung Quốc là Huệ Viễn đại sư. Vào thời đại Đông Tấn, ngài dựng liên xă tại Lô Sơn, tức Đông Lâm Niệm Phật Đường, tập hợp những người chí đồng đạo hợp gồm một trăm hai mươi ba người chuyên tu Tịnh nghiệp. Do chuyên tu tịnh nghiệp tại Lô Sơn, Ngài trở thành người khởi phát Tịnh Tông đầu tiên tại Trung Quốc, nên ta gọi Ngài là Sơ Tổ. V́ vậy khi nói đến Sơ Tổ, chúng ta phải hỏi vị Tổ Sư nào? Sơ Tổ của thế giới Sa Bà hay Sơ Tổ cả pháp giới hay là Sơ Tổ của Trung Quốc? Trước kia, chúng tôi ở Mỹ, cũng đến các nơi thành lập Tịnh Tông Học Hội. Trước kia, ở Mỹ Quốc và Gia Nă Đại có hơn hai mươi Tịnh Tông Học Hội, nay tôi không biết c̣n được bao nhiêu. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ trêu: “Pháp sư Tịnh Không! Ông là Sơ Tổ của Tịnh Tông Mỹ Quốc”. Như vậy, Sơ Tổ tùy thuộc địa phương nào, khu vực nào, ai là người đầu tiên đề xướng niệm Phật.

Cuối cùng là “phải nên suy nghĩ sâu xa”. Chúng ta phải nghĩ cho chín, pháp môn rất nhiều, tám vạn bốn ngàn vô lượng pháp môn, chúng ta tuyển chọn như thế nào? Học theo Thiện Tài, “lấy Thiện Tài làm thầy là được”. Thiện Tài chọn pháp môn Niệm Phật, tŕ danh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, Ngài thành công, Ngài thực sự văng sanh. Vị Phật thứ bảy là:

 

      Sa La Thụ Vương Phật.

      羅樹王佛。

 

      “Biểu thị viên chứng kiên cố rốt ráo, làm đại pháp vương, Mật - Tịnh bất nhị”. Sa La Thụ Vương Phật tượng trưng cho Mật Tông, Mật Pháp gọi là “rốt ráo kiên cố”. Bởi thế, vị Phật này biểu thị sự chứng đắc Mật pháp kiên cố rốt ráo, là đại pháp vương, hiển thị Mật và Tịnh bất nhị. Ấy là v́ Đại Thừa Phật pháp ở Trung Quốc được chia thành tám tông phái, Tiểu Thừa gồm hai tông phái, nên Phật giáo Trung Quốc có tất cả mười tông phái. Trong mười tông phái này, bất luận tu học pháp môn nào, kết cuộc chỉ là ba môn, tức ba môn Giác, Chánh, Tịnh. Như Tánh Tông, Thiền Tông thuộc về Giác Môn: Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Mọi tông của Giáo Hạ thuộc về Chánh Môn: Chánh tri, chánh kiến. Tịnh Tông và Mật Tông thuộc vào Tịnh Môn: Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh. Do vậy, Mật và Tịnh thuộc cùng một loại, dẫu cùng một loại nhưng Mật khó, Tịnh dễ, rất dễ dàng phân biệt khó - dễ!

      Tịnh Độ Tông giảng thân tâm thanh tịnh, xa ĺa ô nhiễm, giữ ǵn thanh tịnh, vậy là c̣n dễ! Thanh tịnh trong Mật Tông c̣n thù thắng hơn Tịnh Tông, v́ sao? Chẳng ĺa nhiễm ô, ở trong nhiễm nhưng chẳng nhiễm, cao lắm! Đương nhiên là khó! V́ thế, Mật Tông chẳng dễ ǵ thành tựu, nhưng đều là tu tâm thanh tịnh. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ là bậc kim cang a-xà-lê trong Mật Tông, chúng ta thường gọi [kim cang a-xà-lê] là Thượng Sư[6]. Lăo nhân gia tối hậu niệm Phật văng sanh, chẳng dùng đến Mật pháp. Trong thời gian tối hậu, mỗi ngày Ngài niệm mười bốn vạn câu Phật hiệu cầu sanh Tịnh Độ. Cụ Hoàng bảo tôi (lúc tôi sang Bắc Kinh thăm cụ, cụ bảo tôi), hơn bốn mươi năm sau ngày Trung Quốc được “giải phóng”[7] (lúc ấy vẫn chưa đến năm mươi năm, mới hơn bốn mươi năm), Trung Quốc có mười ba ức người [học Mật Tông], người học Mật Tông trong hơn bốn mươi năm ấy nhiều dường ấy, có bao nhiêu người thành tựu? Cụ bảo tôi chỉ có sáu người! Rồi lại bảo tôi: “Từ rày về sau, học Mật Tông chẳng thể thành tựu, chỉ có cách tu Tịnh Độ”. Trong ô nhiễm không bị ô nhiễm, công phu ấy cao lắm! Có mấy ai có thể thành tựu?

      Tu học trong Mật Tông chẳng ĺa ngũ dục, lục trần, ngày ngày ở trong ngũ dục, lục trần, chẳng bị tiêm nhiễm mảy may, phải có bản lănh ấy, phải có công phu ấy. Không như Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Tông tách ĺa ngũ dục, lục trần, tu tâm thanh tịnh. Bởi thế, luận về đẳng cấp, Mật Tông là thanh tịnh thượng thừa, thượng thượng thừa. Chúng ta tu Tịnh Độ Tông tâm địa thanh tịnh là trung hạ, trung hạ thừa, chẳng bằng Mật Tông. V́ thế, chúng ta phải tôn kính Mật pháp, tự biết chính ḿnh không có năng lực tu học, nên cứ tu pháp môn Niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Sau khi gặp A Di Đà Phật, phương pháp tu hành, cảnh giới của chúng ta sẽ được nâng cao, như vậy là chính xác, không sai một

chút nào. V́ sao Tịnh - Mật bất nhị? V́ đều là tu tâm thanh tịnh.

      Ba vị Phật kế đó tương ứng với ba vị ở phương Đông. Trong sáu phương Phật, trước hết chúng ta thấy tại phương Đông có các vị Phật tượng trưng cho pháp, biểu thị ba thân: “A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật”; trong đây chúng ta thấy đều dùng chữ Tu Di: Tu Di Tướng, Đại Tu Di, Tu Di Quang là v́ sao? Đấy chính là điều người học Phật chúng ta mong cầu. Phải chứng đắc Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân; ấy là Phật Quả rốt ráo. Đến phương trên, chúng ta trông thấy:

     

      Bảo Hoa Đức Phật.

      華德佛。

 

      “Biểu thị Báo Thân viên măn”. Báo Thân viên măn là thân trí huệ viên măn, tự tánh vốn sẵn đủ trí huệ hiện tiền.

 

      Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật.

      一切義佛。

 

      “Biểu thị ngàn trăm ức hóa thân, ngũ nhăn viên minh, ứng khắp các căn cơ”. Đây là Ứng Hóa Thân, ngàn trăm ức Hóa Thân! Trong chín pháp giới, chúng sanh có cảm, Phật liền có ứng. Cảm ứng đạo giao quyết định chẳng sai chạy, có cảm bèn lập tức có ứng, quyết định chẳng thể nói là không ứng. Ở phần trên, tôi đă nói về đạo lư cảm ứng đạo giao rồi, Cảm có bốn loại lớn, Ứng cũng có bốn loại lớn: Hiển Cảm Hiển Ứng, Hiển Cảm Minh Ứng, Minh Cảm Hiển Ứng, Minh Cảm Minh Ứng, những hiện tượng cảm ứng đạo giao chẳng ngoài bốn loại lớn này. Phật, Bồ Tát, A La Hán đều có năng lực, nhưng Như Lai cảm ứng vô điều kiện, trọn khắp chúng sanh trong khắp pháp giới hư không giới, ứng hiện trọn khắp!

      Bồ Tát và A La Hán có lúc phải có duyên phận, nhà Phật thường nói “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”. Bồ Tát và chúng sanh có duyên phận bèn ứng, nếu không có duyên phận với chúng sanh ấy sẽ chẳng ứng. V́ sao? Lúc Ngài đến, chúng sanh hoàn toàn không vui thích, Ngài rất muốn giúp người ấy, nhưng kẻ ấy không ưa Ngài, chẳng tiếp nhận Ngài, Ngài không đến. Phật khác hẳn, Phật là vô điều kiện, nhưng sự ứng hiện của Phật như vừa mới nói, có hiển ứng (ứng hiện rơ ràng) và minh ứng (ứng hiện ngầm). Minh () là thầm che chở, ban ơn cho quư vị mà quư vị chẳng nhận biết; Hiển () là rất rơ ràng, quư vị có thể cảm nhận được. Cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn! Như vậy, vị Phật này tượng trưng cho Ứng Hóa Thân. Vị Phật sau cùng:

 

      Như Tu Di Sơn Phật.

      須彌山佛。

 

      Tu Di xuất hiện, “biểu thị Pháp Thân thanh tịnh, làm Lư Thể cho hết thảy các pháp”. Như Tu Di Sơn Phật; ba thân ấy là một, “viên chứng một thể ba thân”, ba thân là một nhưng ba, ba nhưng một, từ trí huệ mà nói th́ là Báo Thân, từ Lư Thể mà nói th́ là Pháp Thân, từ tác dụng mà nói th́ là Ứng Hóa Thân; chứng đắc viên măn một Thể ba thân. Quư vị thấy ba vị Phật này tương ứng với phương Đông, thấu triệt từ đầu đến cuối. Chúng ta lại xem tiếp đoạn kế đó:

      “Trên đây đă nêu đại lược danh hiệu của các vị Phật, hàm ư rất sâu, ngầm dạy cho người niệm Phật tông chỉ trọng yếu trong lịch tŕnh tu tập từ sơ phát tâm cho đến viên măn Bồ Đề, như năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm, chẳng thể không biết”. Phật là trí huệ viên măn rốt ráo, phương pháp dạy học cao minh đến cùng tột, trong kinh Phật thường nói là “phương tiện thiện xảo”, bốn chữ này chúng ta chẳng dễ ǵ lănh hội nổi. Quư vị chú tâm quan sát mới ḥng hiểu được Ngài hiển thị phương tiện thiện xảo như thế nào.

      Quư vị thấy đó, đức Phật nêu lên những danh hiệu ấy, những danh hiệu ấy đều nhằm dạy chúng ta nên tu học như thế nào. Phương Đông là căn bản tu học, dạy cho quư vị pháp căn bản. Phương Nam là tu huệ. Phương Tây là tu phước. Phương Bắc là phải phước huệ đều đă có cơ sở rồi mới bắt đầu giáo hóa chúng sanh, phương Bắc là bắt đầu giáo hóa. Dạy học giúp tăng trưởng, quư vị muốn nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, muốn chứng đắc quả vị cao hơn mà quư vị không dùng phương pháp dạy học sẽ rất khó khăn. Bồ Tát không vị nào chẳng dạy học, không có vị nào chẳng phục vụ hết thảy chúng sanh. V́ hết thảy chúng sanh phục vụ là tu phước, dạy học là tu huệ, phước huệ song tu. Do vậy, thành Phật được gọi là Nhị Túc Tôn. Có huệ mà không có phước th́ chẳng thể độ chúng sanh; có phước không huệ cũng chẳng thể độ chúng sanh. Phương Bắc là bắt đầu, rồi đến phương Hạ, phương Thượng. Sáu vị Phật ở phương dưới tượng trưng cho pháp môn Lục Độ của Đại Thừa Bồ Tát. Cuối cùng, phương trên là rốt ráo viên măn.

Quư vị thấy tŕnh tự này, theo thứ tự thuận, mỗi một giai đoạn học một pháp môn nào, dùng danh hiệu Phật, Bồ Tát để biểu thị pháp ấy; v́ thế, những ư nghĩa này rất sâu. “Ngầm dạy người niệm Phật”, chúng ta phải hiểu được mật nghĩa này. Thật đấy, đức Phật giảng kinh thuyết pháp “ư tại ngôn ngoại” (ư nằm ngoài lời), chúng ta phải lănh hội, phải thấu hiểu được. Đấy chính là những điều tổ sư đại đức trước kia thường giảng, quư vị hiểu chăng? Quư vị nghe có hiểu hay chăng? Quư vị có thấu hiểu ư nghĩa này hay chăng? Có hiểu như vậy rồi, quư vị mới biết phải nên tu học như thế nào.

 Pháp thế gian và xuất thế gian, tôi thường nói chỉ có người có trí huệ mới ḥng nắm chắc cơ hội, mới thành công. Pháp thế gian như vậy mà Phật pháp cũng như vậy. Cơ hội ở trước mặt mà quư vị bỏ lỡ, bỏ lỡ lần này không biết đời nào kiếp nào mới có thể gặp gỡ. Phàm ai thành công th́ chẳng có ǵ khác cả, phải nhận biết cơ hội, nắm ngay lấy cơ hội, người ấy sẽ thành công. Giống như người kinh doanh trong thế gian thường nói đến “cơ hội kinh doanh” hay “cơ duyên thương nghiệp”, tức là cơ hội kiếm tiền, phải nhận thấy [cơ hội ấy] rất chuẩn xác, phải nắm ngay lấy, đầu tư vào đó, thực sự kiếm lợi. Cơ hội trước mắt mà để lỡ, không nắm lấy; Phật pháp cũng như vậy, phải nhận biết cơ duyên tu phước, tu huệ.

      Bậc đại thánh đại hiền thế gian hay xuất thế gian không có ǵ khác cả, các Ngài không có ḷng riêng tư, v́ hết thảy chúng sanh phục vụ, nhà Phật gọi là “độ sanh”. Độ sanh nghĩa là ǵ? Độ sanh nay gọi là phục vụ, phục vụ hết thảy chúng sanh vô điều kiện, có thể bỏ ḿnh v́ người, đấy là đại từ đại bi. Đấy gọi là tâm đại Bồ Đề. Người không chịu bỏ ḿnh v́ người, thủy chung không thể thành tựu. Quư vị nói ḿnh niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng sanh có khổ nạn hy vọng ḿnh giúp đỡ mà một chút cũng không chịu làm, trong tâm nghĩ như thế nào? Đợi đến khi tôi sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, tôi học thành sẽ trở lại giúp quư vị, rơ ràng là hiện tại đủ sức giúp người, lại không chịu giúp, đợi về Tây Phương Cực Lạc thế giới học thành rồi mới giúp th́ sẽ chẳng thể sanh về thế giới Cực Lạc được!

      Thế nào mới là “đến Cực Lạc thế giới học thành rồi mới quay về”? Nay thấy chúng sanh khổ sở, nhưng chính ḿnh thực sự không có năng lực giúp đỡ, ḿnh cần phải sang Tây Phương Cực Lạc thế giới học lấy bản lănh, vậy là đúng! C̣n nếu nay quư vị có năng lực, nhưng không chịu làm, chính là trái nghịch bổn nguyện A Di Đà Phật. Có một phần năng lực th́ giúp đỡ một phần, có hai phần năng lực bèn giúp hai phần, công đức viên măn. Cửa ải khó khăn nhất của hết thảy chúng sanh học Phật là ǵ? Tiến th́ ít, lui th́ nhiều. Đừng nói bọn người sơ phát tâm chúng ta gặp phải cảnh duyên bất thuận liền lập tức ngă ḷng, Tiểu Thừa cũng ngă ḷng. Tứ Quả A La Hán ứng hóa trong thế gian này, thấy chúng sanh khó độ đều ngă ḷng, huống chi lũ phàm phu sát đất chúng ta, phiền năo tập khí chưa đoạn được phần nào, rất dễ thoái đọa, vừa lui sụt bèn đọa lạc. Đó là điều khẳng định!

      Sách Liễu Phàm Tứ Huấn nói về t́nh h́nh khi ấy rất hay, lúc ấy nếu gặp được vị thiện tri thức chân chánh cảnh tỉnh ḿnh, nâng đỡ ḿnh, giúp đỡ ḿnh, kinh Kim Cang gọi chuyện đó là “thiện hộ niệm chư Bồ Tát” (khéo hộ niệm các Bồ Tát), Như Lai giáo huấn: Các đại Bồ Tát thường phải chiếu cố các tiểu Bồ Tát. Tiểu Bồ Tát rất dễ thoái chuyển, rất dễ đọa lạc, lúc họ gặp phải thoái duyên [các đại Bồ Tát] phải gấp giúp đỡ họ. Chẳng dễ dàng ǵ, chúng ta cứ nghĩ xem: Trong một đời ta có thể gặp được vị thiện tri thức thực sự hay không? Gặp được thiện tri thức thực sự là phước báo lớn lắm mới có thể giữ cho quư vị không bị thoái chuyển. Chướng duyên đâu đâu cũng có, chướng duyên do đâu mà có? Vô lượng kiếp tạo tác nghiệp chướng, nay chúng đều khởi hiện trên con đường Bồ Đề, chẳng thể không biết điều này. A! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Chúng ta xem tiếp tiểu đoạn thứ chín:

“Phật độ sanh, sanh thọ hóa, kỳ gian nan dị thâm thiển, tổng tại ư duyên, duyên chi sở tại, ân đức hoằng thâm, chủng chủng giáo khải, năng linh hoan hỷ tín nhập, năng linh xúc động túc chủng, năng linh ma chướng nan giá, năng linh thể tánh khai phát, chư Phật bổn tùng Pháp Thân thùy tích, cố kết duyên chủng, nhược thế xuất thế, tất bất khả tư nghị dă” (Phật độ sanh, chúng sanh nhận sự giáo hóa (thọ hóa), khó - dễ, cạn - sâu trong khoảng ấy nói chung là do duyên. Duyên tồn tại, ân đức sâu rộng, đủ mọi thứ dạy dỗ, khơi gợi khiến cho [người được hóa độ] hoan hỷ tin nhập, khiến cho xúc động túc chủng, khiến cho ma chướng khó ngăn trở, khiến cho thể tánh khai phát. Chư Phật vốn từ Pháp Thân thị hiện ứng hóa, kết chắc duyên chủng. Dù là thế pháp hay xuất thế pháp thảy đều chẳng thể nghĩ bàn). Ư nghĩa của đoạn này rất sâu, đó chính là lời đại sư Ngẫu Ích đă viết trong sách Yếu Giải, đặc biệt là người phát tâm theo đuổi công cuộc hoằng pháp và người làm nhiệm vụ hộ pháp không thể chẳng hiểu đạo lư này. Nếu không hiểu đạo lư này, trên con đường tự hành hóa tha chúng ta không thể tránh khỏi ngă ḷng, đó là hiện tượng tất nhiên. Phật độ chúng sanh, “độ” là giáo hóa, chỉ dạy chúng sanh. Chúng sanh tiếp nhận sự giáo hóa của Phật. Chữ “hóa” ư nghĩa rất sâu, chúng tôi thường nói là “tiếp nhận giáo huấn”. Nói “tiếp nhận giáo huấn” chỉ là nói một bên, không viên măn. Dạy rồi th́ sao? Dạy rồi, quư vị có học hay chăng? Quư vị không chịu học th́ sự giáo huấn ấy không thành tựu, không có thành tích.

“Hóa” () là có thành tích, có biến đổi khí chất, thực sự có thành tựu và thành tích. Cổ nhân nói “độc thư chí tại biến hóa khí chất” (đọc sách ḥng biến đổi khí chất), phải có chuyển biến, chuyển biến là biến hóa, chuyển ác thành thiện! Thực sự chuyển được! Chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh, đấy đều là thành tích dạy học được hiển lộ cụ thể. Có thể chuyển phàm thành thánh, hóa phàm thành thánh chính là thành tích tốt nhất, là thành tích viên măn. Có thể chuyển mê thành ngộ là thành tích bậc nh́. Có thể dạy cho chúng sanh chuyển ác thành thiện là thành tích bậc ba. Giống như cổ nhân Trung Quốc dùng cách đánh số Giáp, Ất, Bính… th́ chuyển phàm thành thánh là hạng Giáp, chuyển mê thành ngộ là hạng Ất, chuyển ác thành thiện là hạng Bính v.v... Trong chữ Hóa có những ư nghĩa như thế đó, chúng sanh tiếp nhận sự giáo hóa của Phật, chắc chắn biến hóa! Mức độ thấp nhất là chuyển ác thành thiện, thực sự khởi biến hóa.

“Kỳ gian nan dị thâm thiển, tổng tại ư duyên” (Trong ấy, khó - dễ, cạn - sâu, nói chung là do duyên). Duyên: Chẳng riêng ǵ Phật pháp nói đến duyên, mà pháp thế gian cũng nói đến duyên. Rất nhiều người không biết ư nghĩa này, học tṛ theo học với thầy phải có duyên. Duyên từ đâu mà có? Học tṛ tôn trọng thầy, yêu thích vị thầy ấy, thầy cũng yêu mến tṛ, thầy tṛ ấy có duyên rất sâu. Duyên sâu như thế nào? Học tṛ nghe lời, thầy khéo dạy, do v́ tṛ tôn trọng thầy, thực sự tôn trọng, tôn trọng như thế nào? Y giáo phụng hành. Thầy dạy rồi mà nếu ta không làm được, tự cảm thấy ḿnh phụ ḷng thầy. Đấy là sức thúc đẩy của duyên. Thầy cũng như vậy, học tṛ thực sự chịu học, nếu thầy không dạy cho giỏi, thầy cảm thấy sai trái đối với học tṛ.

Trước kia, tôi cầu học ở Đài Trung, thầy Lư thường dạy tôi, toàn là những lời cổ nhân đă nói: Học tṛ đối với thầy có mười phần thành kính, theo học với thầy; nếu thầy chỉ dạy chín phần, c̣n thiếu một phần là có lỗi với học tṛ. Nếu học tṛ chỉ tôn kính thầy năm phần, thầy chẳng thể dạy tṛ đến sáu phần, v́ sao? Dạy sáu phần là nhiều hơn một phần, tṛ chẳng thể hấp thụ. Nó chẳng thể tiếp nhận, đúng là lăng phí hơi sức! Trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư có nói rất hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Do vậy, thầy dạy học quyết định phải có học tṛ mười phần thành kính, những ǵ thầy giảng đều phơi bày trọn vẹn, không giữ lại một tí nào. Nếu tâm thành kính chưa đủ th́ quư vị có được mấy phần thành kính sẽ lănh hội được mấy phần. Nếu không có tâm thành kính, sẽ chẳng đạt được phần [lợi ích] nào hết! Điều đó cũng không sao! V́ sao? Quư vị thuộc loại dự thính, cũng tính là có duyên, tốt lắm! Bởi lẽ, thông thường quư vị hướng về thầy thỉnh giáo, thầy chẳng thể dạy quư vị, nay trong giảng đường có học tṛ mười phần thành kính, thầy bèn giảng những pháp tinh túy, ḿnh có thể nghe ké bên cạnh. Nghe được bao nhiêu thầy không chịu trách nhiệm.

Do vậy, đức Phật thuyết pháp (đây là những chuyện chúng ta thường thấy trong kinh điển, nhưng chúng ta đọc mà không hiểu, đến khi tổ sư chú giải mới chỉ ra), bậc đương cơ khi ấy là người mười phần thành kính, đức Phật đối với người ấy nói pháp đó, những kẻ khác là bàng thính (nghe ké). Như đức Thế Tôn giảng kinh Hoa Nghiêm, đương cơ của kinh Hoa Nghiêm là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, tức Pháp Thân Bồ Tát; Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác là bàng thính, Phật chẳng giảng cho những người ấy, nhưng gặp được duyên th́ cũng coi như không uổng, gieo được chủng tử vào A Lại Da Thức. Do vậy, “tổng tại ư duyên” (nói chung là do duyên).

“Duyên chi sở tại, ân đức hoằng thâm” (Duyên tồn tại, ân đức sâu rộng), một đời tôi gặp được ba vị thầy, đúng là ân đức sâu rộng. Chúng ta làm học tṛ tôn trọng, kính yêu thầy, đối với học tṛ như vậy, thầy chăm chút tṛ không điều nhỏ nhặt nào chẳng quan tâm, chúng ta cảm kích ân thầy dạy bảo. Dùng ǵ để tỏ ḷng cảm kích? Y giáo phụng hành, ta thường nói là đem công đức do chính ḿnh tu học, công đức hoằng pháp lợi sanh, công đức hộ pháp hồi hướng về thầy, báo ân thầy. Khi xưa, thầy dạy ta chẳng uổng công, chúng ta tiếp nối huệ mạng của Phật, giống như chạy đua tiếp sức, thầy giao cây gậy cho ta, ta nhất định phải hoàn thành. Rồi ta lại giao cho người khác tiếp sức. Người tiếp sức là ai? Là người đối với Phật, đối với Pháp, đối với thầy có tâm thành kính. Không có thành kính th́ quư vị chẳng nắm được cây gậy ấy. Pháp thế gian hay xuất thế gian đều là một ḷng Thành, một ḷng Kính. “Bất Thành vô vật” (không có ḷng Thành chẳng ra ǵ), dẫu như thế nào cũng không đáng bàn đến nữa! V́ vậy, phải có thành kính, có ân đức.

“Chủng chủng giáo khải” (đủ mọi thứ  dạy dỗ, khơi gợi),  Giáo ()

là giáo hối (敎誨: dạy dỗ); Khải () là khải phát (啟發: khơi mở, khơi gợi). “Năng linh hoan hỷ tín nhập” (Có thể khiến cho vui thích tin nhập), học tṛ thực sự có ḷng chân thành, cung kính, tôn sư trọng đạo, nghe lời thầy dạy bảo bèn hoan hỷ, tin tưởng, không ngờ vực, sẽ có thể khế nhập. “Nhập” () có nghĩa là giải ngộ, chứng ngộ, hiểu được, hành được, chứng được, đó là “nhập”. Đó là học tṛ dễ dạy. Ta thường nói là đứa học tṛ “có ngộ tánh”, vừa nói liền hiểu, hiểu rơ ràng. Kẻ căn tánh kém cỏi hơn, khó lắm! Quư vị có giảng cho nó, nó cũng không hiểu, cứ vẫn tùy thuận tập khí phiền năo, không quay đầu lại, hạng người như vậy nhiều lắm! Thực sự nghe rồi tin tưởng, hiểu biết, lại y giáo phụng hành, thực sự ra, trong ngàn vạn người chưa được một kẻ!

Trên thực tế, trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói, nhưng chưa bao giờ đề cập đến chuyện này, chúng tôi thường nói “hiếu học”, quan trọng nhất là chữ “hiếu”, “hiếu” () là ưa thích! Con người chỉ cần hiếu học th́ sẽ nhất định gặp được vị thiện tri thức thực sự, v́ sao? Cảm ứng! Hiếu học là năng cảm, sẽ cảm động được chư Phật, cảm động thiện tri thức. “Hiếu” chắc chắn sẽ y giáo phụng hành, quư vị chịu học, tin được, hiểu được, nhưng làm chưa được th́ chưa phải là hiếu học, chưa đủ điểm đạt chữ Hiếu, chưa đạt tiêu chuẩn. Thực sự “hiếu” th́ nhất định y giáo phụng hành, nhất định làm được.

Duyên quan trọng lắm! Cùng một đạo lư ấy, mười phương thế giới chư Phật rất nhiều, v́ sao chúng ta lại khăng khăng niệm A Di Đà Phật? V́ sao không niệm đức Phật khác? A Di Đà Phật có duyên với ta, ta yêu mến Ngài, Ngài cũng yêu thích ta, có duyên đấy! Phật chẳng độ kẻ vô duyên. Sao biết là có duyên? Vừa tiếp xúc kinh điển Tịnh Độ bèn hoan hỷ, đó là có duyên. Vừa nghe liền hiểu, hiểu rồi lại thực sự chịu làm, y giáo phụng hành, từ những điều đó mà thấy. Thay bằng bộ kinh khác th́ cũng có thể tin tưởng, cũng rất hoan hỷ. Có lúc rất nhiều chỗ ḿnh không hiểu, phải đi hỏi người khác, nghe người khác giảng tợ hồ người ta cũng không hiểu rơ ràng, không có cách nào y giáo phụng hành; hoặc hiểu nhưng hành chẳng dễ, khó lắm. Pháp môn này dễ dàng, thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng lại thành công viên măn, bởi thế có duyên!

Trong hàng Bồ Tát cũng có rất nhiều Bồ Tát, lại khăng khăng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát là v́ nguyên nhân nào? Quán Thế Âm Bồ Tát có duyên với người thế giới Sa Bà. Bởi thế ngạn ngữ Trung Quốc thường nói: “Gia gia Quán Thế Âm, hộ hộ Di Đà Phật” (Nhà nhà Quán Thế Âm, nhà nhà Di Đà Phật). Di Đà, Quán Âm tợ hồ đặc biệt hữu duyên với người Hoa, duyên phận lại rất sâu, đạo lư là như vậy. Mười phương chư Phật cũng đều biết, đại khái Di Đà, Quán Âm chẳng những có duyên với chúng ta ở nơi đây mà mười phương chúng sanh đều có duyên phận rất sâu xa với hai Ngài. Do vậy, chư Phật Như Lai tuyên dương, chư Phật Như Lai khuyên ta phát tâm học theo Di Đà và Quán Âm. Quả thật, mấy câu tiếp theo đó quả thật đă giải thích hết sức rơ ràng về hiệu quả của cái duyên sâu xa.

      “Năng linh xúc động túc chủng” (có thể dấy động những chủng tử xa xưa), “túc chủng” là chủng tử thiện căn trong đời quá khứ. Thiện tri thức, thầy dạy dỗ khiến cho những chủng tử thiện căn trong A Lại Da Thức bị động chạm; nói cách khác, sự học tập của quư vị tiếp nối sự học tập trong quá khứ, duyên ấy tốt lắm! Tiếp nối sự học tập trong quá khứ, sự học tập ấy vốn bị gián đoạn; v́ sao bị đoạn? Mê khi cách ấm, chúng ta là thân nghiệp báo, lúc đầu thai quên mất chủng tử thiện căn trong đời trước; dẫu có, nhưng không khởi hiện hành, không khởi tác dụng. Thiện tri thức chỉ dạy không ngừng, hoát nhiên khai ngộ. Ngộ có nguyên nhân là do trong đời quá khứ đă từng tu học rồi. Thầy là Tăng Thượng Duyên.

 “Năng linh ma chướng nan giá” (có thể khiến cho ma chướng khó ngăn trở), thật đấy! Trên đường Bồ Đề, quư vị muốn tu hành, muốn hóa độ chúng sanh, luôn bị ma chướng ngăn trở. Nếu có thiện tri thức chỉ dạy, ma cảnh ấy sẽ hóa giải. Hóa giải như thế nào? V́ quư vị có trí huệ, nhớ kỹ lời dạy của thiện tri thức, không hoài nghi, không mê hoặc. Ma chướng có thuận cảnh và nghịch cảnh, nếu quư vị có trí huệ, có huệ nhăn, quư vị sẽ thấy được. Thuận cảnh là ǵ? Mọi chuyện đều rất như ư, khiến quư vị khởi tham ái. Phải biết tham ái là phiền năo, là một trong ba độc. Trong t́nh cảnh ấy, quư vị khởi tham ái không phải là chuyện tốt, ma chướng hiện tiền. Quư vị có trí huệ th́ ma chướng không thể chướng ngại, quư vị có thể đối phó hết sức giỏi. Biết ơn, báo ơn, cảm ơn, cung kính đức, sẽ chẳng sanh phiền năo. Phiền năo là tham ái, chẳng sanh tâm tham, không ngu si.

Nếu ma chướng là nghịch cảnh th́ nghịch cảnh sẽ như thế nào? Khiến cho quư vị nóng giận, sanh ghen ghét, ư niệm bất thiện sanh khởi. Quư vị phải nhận biết rơ ràng. Nếu quư vị có trí huệ, sẽ chuyển nghịch cảnh thành thuận cảnh, chẳng những nó không thể chướng ngại quư vị mà có lúc c̣n nâng cao [cảnh giới của] quư vị lên nữa. Bởi thế, cổ đức dạy cho chúng ta một câu thành thực: “Bồ Đề đạo thượng, vô Phật diệc vô ma” (Trên đường Bồ Đề không có Phật mà cũng không có ma). Đúng như vậy đó! Phật và ma từ đâu có? Một niệm giác th́ hữu t́nh và vô t́nh đều là cảnh giới Phật; một niệm mê th́ hữu t́nh và vô t́nh đều là cảnh giới ma. Thưa thật cùng quư vị, quả thật không có Phật lẫn ma, ma và Phật chỉ do tự tánh biến hiện. Đấy chẳng phải là điều kinh Phật thường nói đó ư? Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng. Tâm tưởng của ta giác chứ không mê th́ hết thảy pháp đều là Phật pháp. Tâm tưởng của ta mê hoặc, điên đảo, mê chứ không giác th́ hết thảy pháp đều là ma chướng. Bởi thế, Phật và ma chỉ là cảnh giới do ư niệm của chính ḿnh biến hiện.

Trong thời gian gần đây, ai nấy đều thấy những thí nghiệm kết tinh nước của tiến sĩ Giang Bổn Thắng, từ những tỷ dụ ấy, quư vị có thể hiểu: Chúng ta dùng thiện tâm, một niệm thiện, tâm yêu thương, tâm cảm tạ th́ quư vị thấy nước sẽ kết tinh đẹp đẽ dường ấy. Nếu chúng ta dùng ác niệm, tâm thái rất bất hảo đối với nước th́ nước sẽ kết tinh hết sức khó coi. Nước không tốt cũng không xấu, xấu hay tốt là do tâm ta, do ư niệm của chúng ta, nước chuyển biến theo tâm niệm của chính chúng ta.

V́ thế, Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: “Cảnh duyên vô hảo xú” (cảnh duyên không tốt, xấu). “Cảnh” là hoàn cảnh vật chất. “Duyên” là hoàn cảnh nhân sự (quan hệ giữa con người với nhau). Cũng có thể nói là hoàn cảnh vật chất lẫn hoàn cảnh nhân sự đều không có Phật mà cũng không có ma. Phật tượng trưng cho cái tốt, ma đại diện cho cái xấu, không tốt xấu. “Hảo xú tại ư tâm” (xấu hay tốt do tâm), do chính cái tâm của chúng ta, do ư niệm của ḿnh! Giống như nước, nước chẳng tốt hay xấu. Chúng ta dùng thiện niệm đối với nó, nó sẽ biến thành rất đẹp đẽ. Chúng ta dùng ác tâm đối đăi nó, nó biến thành xấu xa. Bản thân nước quả thật không tốt hay xấu. Quư vị phải hiểu đạo lư này: Tổ sư dạy chúng ta hoàn cảnh vật chất và hoàn cảnh nhân sự là b́nh đẳng, thực sự thanh tịnh, b́nh đẳng, chỉ do tâm hiện. Chúng ta thấy tốt hay xấu là do thức của chính ḿnh biến hiện. Thức là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Hoàn cảnh bên ngoài biến hiện thuận theo tâm niệm.

Trong Hệ Niệm Pháp Sự, thiền sư Trung Phong đă giảng: “Tịnh Độ tức thử phương, thử phương tức Tịnh Độ” (Tịnh Độ là phương này, phương này là Tịnh Độ). Tây Phương Cực Lạc thế giới và thế giới Sa Bà của chúng ta không hai, không khác! Không khác ǵ nhau! V́ sao trên mặt Sự lại có sai biệt quá lớn như thế? Tâm con người không giống nhau. Tâm của người thế giới Cực Lạc là tâm thiện, nên núi, sông, đại địa, hữu t́nh, vô t́nh đều biến thành tốt lành phi thường. Người trên địa cầu này tâm bất thiện, tự tư, tự lợi, tham, sân, si, mạn. V́ thế, hữu t́nh, vô t́nh, núi, sông, đại địa đều biến thành đời ác ngũ trược. Nếu có thể ĺa khỏi cái tâm niệm của người đang sống nơi đây th́ Cực Lạc và Sa Bà b́nh đẳng, một tí ti sai khác cũng chẳng có! Sai biệt bất đồng là do tâm hạnh của cư dân [trong hai thế giới] khác nhau. Chúng ta muốn biến quả địa cầu này thành thế giới Cực Lạc th́ trên lư luận chẳng khó ǵ, chỉ cần cư dân sống trên địa cầu này có thể đoạn ác tu thiện, đều có thể phá mê khai ngộ th́ hữu t́nh, vô t́nh, núi, sông, đại địa thảy đều biến thành thế giới Cực Lạc, vô lượng các thứ báu trang nghiêm. Lư như thế, Sự cũng như thế. Do vậy, chân thiện tri thức có thể giúp đỡ ḿnh, đúng là “năng linh ma chướng nan giá” (có thể khiến cho ma chướng khó ngăn trở).

Những vị thầy của tôi, ba vị thầy của tôi đều văng sanh cả rồi. Thầy Lư mất sau cùng, cũng đă cách đây mười hai năm rồi. Trong mười hai năm ấy chúng tôi đă trải qua không ít ma chướng, nhưng đều có thể vượt qua rất thuận lợi. Đó là v́ nguyên nhân nào? V́ chúng tôi nhớ kỹ những lời thầy dạy trước kia; lúc gặp phải chướng nạn, chúng tôi biết hóa giải như thế nào, chẳng bị ngăn trở, quấy nhiễu ra sao, làm sao nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, làm sao nâng cao, kế tục việc tự hành hoằng pháp chẳng đến nỗi gián đoạn giữa chừng, đều là do thầy dạy dỗ. Nếu thầy không chỉ dạy chúng tôi, quả thật chúng tôi không có năng lực đối phó ma chướng. V́ sao? Chắc chắn sẽ cùng ma chướng ḱnh chống, nhất định sẽ nóng giận, mắc sai lầm. Oan gia nên cởi không nên buộc, kẻo kết oán cùng người. Nay chúng ta đă hiểu phương pháp, gặp phải oán đối, từ nội tâm có thể hóa giải oán kết, từ đó đôi bên cùng được lợi ích, chẳng kết oán hận.

“Năng linh thể tánh khai phát” (Có thể khiến cho thể tánh khai phát), câu này nói về mọi người chúng ta, giúp cho ta được khai ngộ, nhà Thiền gọi “thể tánh khai phát”“minh tâm kiến tánh”. “Khai” là khai ngộ, “phát” là thấy rơ, Tịnh Tông gọi là “nhất tâm bất loạn”; thể tánh khai phát chính là Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm bất loạn là minh tâm kiến tánh trong nhà Thiền, là cảnh giới đại khai viên giải trong Giáo Hạ. Chỉ là ba pháp môn bất đồng, phương pháp tu học bất đồng, mà nói ra danh từ thuật ngữ khác biệt, chứ thật ra chỉ là một cảnh giới. V́ vậy, Lư nhất tâm bất loạn là minh tâm kiến tánh, là đại khai viên giải, ở đây gọi là “thể tánh khai phát”. Trong Phật pháp gọi bản thể của vũ trụ vạn hữu là Phật Tánh và Pháp Tánh; nơi hữu t́nh gọi là Phật Tánh, nơi vô t́nh gọi là Pháp Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh gọi chung là Thể Tánh, quư vị hiểu rơ, tức là khai phát vậy.

Chuyện này rất khó hiểu, cũng rất khó giảng rơ. Trong những buổi giảng, chúng tôi cũng thường nhắc nhở. Nếu quư vị hiểu rơ, sẽ giúp ích rất lớn cho việc tu học, lợi ích lớn nhất chính là câu nói ở phần trên: “Năng linh ma chướng nan giá” (có thể khiến cho ma chướng khó ngăn trở). Quư vị thực sự hiểu được đạo lư này sẽ thuận buồm xuôi gió trên đường Bồ Đề, tinh tấn không lười, không chướng ngại. Phật tánh: Phật Tánh là ǵ? Bản năng (năng lực, khả năng sẵn có) của sáu căn là Phật Tánh, mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân chạm, ư biết, đó là bản năng. Bản năng là Phật tánh. Pháp Tánh là ǵ? Sáu căn tiếp xúc với những đối tượng bên ngoài là Pháp Tánh. Chúng ta dùng tánh Thấy để thấy sắc tướng bên ngoài, th́ cái sắc tướng bên ngoài ấy là Pháp Tánh.

Tổ sư đại đức thường nói cái niệm thứ nhất chính là chánh niệm! Niệm thứ nhất không khác không hai với niệm của chư Phật Như Lai. V́ thế, quư vị là Phật, Như Như Phật; thế nhưng vấn đề nằm ở đâu? Cái niệm thứ hai là phiền toái rồi, bị đọa lạc, chẳng thể duy tŕ cái niệm thứ nhất. Do cái niệm thứ nhất không có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước, chúng vẫn chưa khởi lên. Cái niệm thứ hai là khởi tâm động niệm, vừa khởi tâm động niệm bèn rớt vào ư thức, trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có nơi tự tánh bị biến thành ư thức, biến thành tám thức, hỏng rồi, đọa lạc phàm phu rồi. Hễ đọa lạc bèn tự nhiên khởi lên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng là A Lại Da Thức. Phân biệt là thức thứ sáu: Ư Thức. Chấp trước là Mạt Na, phải biết như thế. Trong Tự Tánh không có những thứ ấy. Tự Tánh, Chân Tâm, trong Chân Tâm không có những thứ đó. Những thứ đó là nhiễm ô, những thứ ấy gọi là Bất Giác. Có những thứ ấy, quư vị sẽ chẳng giác, nhà Phật gọi quư vị là phàm phu. Quư vị không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ Phật pháp gọi quư vị là thánh nhân, gọi là Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát và phàm phu sai biệt ở chỗ này!

Phật, Bồ Tát vĩnh viễn giữ được cái niệm thứ nhất, tuyệt đối chẳng rớt vào niệm thứ hai, bởi thế gọi là “nhất tâm bất loạn”. Chúng ta có nhất tâm, nhưng cái nhất tâm ấy hết sức nhanh chóng, lập tức rớt vào hai, ba, bốn, lập tức đọa lạc. Đọa lạc rồi th́ mắt ta thấy bèn thành Nhăn Thức thấy Sắc Trần, không gọi là Sắc Tánh; Nhĩ Thức nghe Thanh Trần. Đó là cảnh giới phàm phu. Tâm hạnh như vậy sẽ luân hồi trong lục đạo, biến Nhất Chân pháp giới thành lục đạo luân hồi. Phải hiểu đạo lư này, phải hiểu rơ sự thật chân tướng. Thực sự hiểu được, thực sự hiểu rơ th́ lục đạo và chín pháp giới há có chướng ngại? V́ sao không chướng ngại? V́ nó là hư huyễn, không thật.

Kinh Kim Cang nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng), lục đạo, mười pháp giới là mộng, huyễn, bọt, bóng. Trong ấy, chỉ cần quư vị giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm th́ quư vị vẫn trụ trong Nhất Chân pháp giới. Chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian này, phàm phu chúng ta luân hồi trong lục đạo, trụ trong đời ác ngũ trược, c̣n các Ngài trụ trong Nhất Chân pháp giới, không tiêm nhiễm mảy may. Các Ngài ḥa quang đồng trần với chúng ta, cùng ăn uống vui chơi hệt như ta, cùng chuyện văn giống như ta, nhưng hai cảnh giới bất đồng, một đằng giác, một đằng mê. Người giác trụ trong Nhất Chân pháp giới, kẻ mê trụ trong đời ác ngũ trược do chính ḿnh biến hiện, khác hẳn nhau! Sai khác ở chỗ này!

Thân cận bạn lành th́ Phật là bạn lành bậc nhất, chúng ta phải thân cận A Di Đà Phật. A Di Đà Phật ở nơi đâu? Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật. Nếu chúng ta đọc không hiểu, không nhận biết, ắt phải có người giới thiệu, người giới thiệu là ai? Tổ sư, đại đức chú giải chính là người giới thiệu. Quư vị thấy kinh A Di Đà có ba người giới thiệu tốt nhất: Liên Tŕ đại sư, Ngẫu Ích đại sư và U Khê đại sư, ba vị giới thiệu rất hay! Đó là Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư và Viên Trung Sao của U Khê đại sư. Nay đang nhằm lúc chúng ta học kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm có hai người giới thiệu: Thanh Lương đại sư và trưởng giả Lư Thông Huyền. Chúng ta dựa theo chú giải của hai vị này để học tập. Như vậy, không có những vị thực sự hữu tu hữu học, những vị khế nhập cảnh giới ấy dẫn dắt chúng ta, ta sẽ khó ḷng lănh hội những ư nghĩa thực sự rất sâu trong kinh điển, rất khó khế nhập. Đối với chúng ta, những chú giải ấy quan trọng lắm.

Xưa kia, tiên sinh Phương Đông Mỹ coi bộ Sớ Sao của ngài Thanh Lương, bộ Hợp Luận của Lư trưởng giả (tức ngài Táo Bá Lư Thông Huyền) là quốc bảo của văn hóa Trung Quốc, tôn trọng không ǵ sánh bằng. V́ thế, cụ có thể khế nhập. Chưa có vị xuất gia hay tại gia đại đức cư sĩ giảng giải cho cụ cả! Chưa từng tiếp xúc các đại đức nhà Phật, cụ hoàn toàn tự đọc kinh ở nhà. Làm sao cụ có thể đọc hiểu? Không có chi khác, thành kính mà thôi! Phương pháp cụ đă dùng sau này thầy Lư đem dạy chúng tôi: “Chí thành cảm thông!” Phương tiên sinh quả thật chí thành cảm thông, không ai giảng giải, cũng không có ai để bàn bạc, không ai cùng học tập, không hề, chỉ có mỗi một ḿnh! Chúng tôi thấy cụ thành tựu, thấy cụ dạy trong trường. Lúc ấy, không có máy thâu h́nh, chỉ có máy thâu âm. Từ băng thâu âm, học tṛ ghi lại lời lăo nhân gia giảng giải chỉnh đốn thành văn tự, nay chỗ nào cũng lưu thông, chẳng thể nghĩ bàn. Phần sau nói:

Chư Phật bổn tùng Pháp Thân thùy tích” (Chư Phật vốn từ Pháp Thân thị hiện ứng hóa), câu này rất quan trọng. Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là Lư Thể. Ở phần trên nói đến thể tánh, thể tánh chính là Pháp Thân. Chư Phật, Như Lai do đâu mà có? Chúng sanh có cảm, Pháp Thân có ứng. Pháp thân ứng như thế nào? Pháp Thân hiện tướng ứng hóa. Pháp Thân vốn không tướng, nhưng có thể hiện tướng, hiện tướng chính là thân Ứng Hóa của chư Phật; giống như ba ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện tại Ấn Độ là thân Ứng Hóa. Chúng sanh có cảm, Pháp Thân bèn ứng. Pháp Thân là một, chỗ nào có cảm, bèn ứng chỗ đó. Thân ứng hóa vô lượng vô biên, ngàn trăm ức hóa thân. Trăm ngàn ức vẫn là con số có thể tính toán được, chứ trên thực tế, không thể tính được số. “Trăm ngàn ức” chỉ là h́nh dung, chỉ mang ư nghĩa biểu thị vô lượng vô biên, chỗ nào chúng sanh có cảm bèn lập tức ứng [nơi đó].

Nên dùng thân nào để độ chúng sanh, bèn hiện thân đó. V́ thế ở đây bảo là: Chư Phật bổn tùng Pháp Thân thùy tích”. Câu này bao gồm cả các Bồ Tát, các Bồ Tát cũng giống như vậy. Chẳng những bao gồm Bồ Tát, mà c̣n gồm cả Thanh Văn, bao gồm Duyên Giác, bao gồm già, trẻ, trai, gái các ngành nghề trong thế gian. Chẳng phải ai nấy đă từng đọc phẩm Phổ Môn rồi ư? Nên dùng thân nào để độ, bèn hiện thân ấy, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta thấy ba mươi hai ứng thân trong phẩm Phổ Môn chỉ là nêu thí dụ, chia những thân phận ứng hiện thành ba mươi hai loại, trong mỗi một loại lại có vô lượng vô biên thân, thảy đều là “Pháp Thân thùy tích”.

Cố kết duyên chủng” (kết chắc duyên chủng).Cố” () là kiên cố, v́ sao? “Thập phương tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân, nhất tâm, nhất trí huệ, lực, vô úy diệc nhiên” (Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân, một tâm, một trí huệ, lực, vô úy cũng thế). Kinh luận nhà Phật thường nói điều này. Như vậy, chúng ta và hết thảy chư Phật đều có duyên, cũng có duyên với hết thảy Bồ Tát. Đối với hết thảy chúng sanh cũng đều có duyên giống như vậy. Hiện thời gọi “duyên” là “quan hệ”; hiện nay không gọi là “duyên” mà gọi là “quan hệ”. Chúng ta có quan hệ với Phật, có quan hệ với Bồ Tát, có quan hệ với Thanh Văn, Duyên Giác, quan hệ hết sức mật thiết với hết thảy chúng sanh, há có thể nói là không quan hệ được ư? “Nhược thế xuất thế” (Dù là thế gian hay xuất thế gian), thế gian là chín pháp giới chúng sanh; xuất thế là tứ thánh, “tất bất khả tư nghị dă” (thảy đều chẳng thể nghĩ bàn). Đúng là chẳng thể nghĩ bàn, không giả. Không một chúng sanh nào chẳng  hữu duyên với ta, chẳng những  hữu t́nh chúng sanh có

duyên với ta, mà vô t́nh chúng sanh cũng đều chẳng ngoại lệ.

Kinh Hoa Nghiêm nói “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (hữu t́nh và vô t́nh, đều viên thành Chủng Trí). Hữu t́nh lẫn vô t́nh đều chẳng ngoại lệ; nhưng sao lại nói kẻ này có duyên với ta, kẻ kia vô duyên? Đều là hữu duyên cả, nhưng trong duyên lại có thân và sơ. Ví như người cùng một nhà, cha con một nhà thân thiết nhất, chúng ta thường nói là thân thiết bậc nhất, có duyên mật thiết nhất. Thứ hai là huynh đệ, anh em, chị em, anh chị em cùng một bọc là thân thiết bậc nh́, đến đời thứ ba là con cháu ruột và cháu họ là mối thân thiết bậc ba. Như vậy là có thân và sơ khác nhau. Hết thảy đều có quan hệ, nhưng thân hay sơ khác nhau. Có thể dùng pháp thế gian để so sánh với Phật pháp, Phật pháp cũng giống như vậy. Ta và hết thảy chư Phật Như Lai đều hữu duyên, đó là chuyện thật, không giả đâu! Nhưng trong đời đời kiếp kiếp quá khứ, đă thường lai văng với một vị Phật nào đó, thường xuyên thân cận là có duyên với vị ấy, khác hẳn cái duyên đối với những vị Phật khác. Duyên do là như vậy.

Trong ṿng bầu bạn, chúng ta thường qua lại với những ai th́ t́nh cảm đối với những người ấy khác với những người khác. Có như vậy, quư vị mới thực sự hiểu v́ sao nhà Phật thường nói “Phật bất độ vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ kẻ vô duyên), mới thực sự hiểu được đạo lư này. Nói thật ra, ai mà không có duyên? Đều có duyên hết. Phật chẳng độ kẻ vô duyên là v́ duyên ấy quá ít, quá mỏng. Duyên sâu, duyên dầy th́ gặp mặt bèn sanh ḷng vui thích, chúng ta gọi là “rất hợp duyên”. Đó là v́ trong đời đời kiếp kiếp quá khứ thường chung đụng, hoặc thường làm người một nhà, hoặc thường làm bạn bè tốt, thường là đồng tham đạo hữu, duyên ấy rất sâu, rất dễ dung ḥa. Hai bên có thể tạo dựng mối quan hệ tin tưởng, tôn trọng, tin cậy, nương tựa lẫn nhau, duyên sâu là như vậy đó! Phải hiểu đạo lư này, chứ không phải là thực sự chẳng có duyên. Núi, sông, đại địa, thực vật, khoáng vật thảy đều có duyên.

Nếu quư vị bảo là không có duyên th́ nước kia v́ sao quư vị dùng cái tâm yêu thương đối với nó, nó liền kết tinh như một đóa hoa rất đẹp, v́ sao nó lại có thể kết tinh như thế? Từ chỗ này, quư vị mới vỡ lẽ: Hữu duyên! Dùng ư niệm bất hảo đối với nó, nó hiện ra xấu xí. Đó là duyên. Nếu bảo là không có duyên làm sao giảng cho thông? Duyên ấy chính là ǵ? Thể tánh. Một thể tánh, nơi vô t́nh chúng sanh, nước là vô t́nh th́ thể tánh ấy được gọi là Pháp Tánh, nơi hữu t́nh gọi là Phật Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh  gọi gộp lại là  “thể tánh”. Do vậy,  pháp thế gian và

xuất thế gian đều chẳng thể nghĩ bàn. Nay đă hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 11 hết

 



[1] Kim Cang Lực Sĩ là thần hộ pháp của Phật giáo. Vị này thường được coi là hóa thân của Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapani). Kim Cang Lực Sĩ là danh xưng chung để chỉ các vị thần hộ pháp tay cầm Kim Cang Xử bảo vệ Phật pháp như Kim Cang Mật Tích (Guhyapāda-Vajra), Na La Diên Kim Cang, Chấp Kim Cang Thần (Vajradhara, c̣n dịch là Tŕ Kim Cang, Kim Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, Đại Lực Kim Cang Thần, Kim Cang Lực Quỷ Thần) v.v... Theo sách Huyền Ứng Âm Nghĩa, quyển 24: “Na La, cơi này dịch là Nhân (con người), Diên cơi này dịch là Bổn Sanh. Na La Diên là Nhân Bổn Sanh (sanh ra con người), tức là Phạm Vương vậy”. Như vậy, Na La Diên là danh xưng khác của Phạm Vương.

[2] Tiên thiên: Những ǵ được bẩm sanh, tức là điều kiện về thân thể được h́nh thành từ lúc bắt đầu mang thai cho đến khi được sinh ra. Hậu thiên là những biến đổi về thân thể do cách nuôi dưỡng và chăm sóc.

[3]Cách hành như cách sơn” là một thành ngữ, hàm ư: Không phải là người chuyên môn trong một nghề nghiệp sẽ cảm thấy xa lạ đối với nghề nghiệp ấy giống như thuộc vào một thế giới khác, hoặc bị ngăn cách, che lấp bởi một rặng núi to, không thể thấy được những chuyện trong lănh vực ấy.

[4] Ngũ Luân là năm mối quan hệ chính yếu trong xă hội, tức cha con, vua tôi, anh em, vợ chồng, bè bạn. Do trong năm mối quan hệ này, mỗi mối quan hệ đều có quan hệ song phương nên mỗi mối quan hệ đều bao gồm hai ư nghĩa, v́ thế mới nói là ngũ luân thập nghĩa. Câu nói trên đây trích từ thiên Đằng Văn Công trong sách Mạnh Tử. Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích trong sách Tứ Thư Bạch Thoại Giải.

[5] Bút kư ở đây chính là cuốn A Di Đà Kinh Yếu Giải Nghiên Tập Báo Cáo của ḥa thượng Tịnh Không.

[6] Thượng Sư là dịch nghĩa chữ Guru trong tiếng Phạn. Đôi khi c̣n dịch là Đạo Sư, Đại Sĩ. Chữ Guru ban đầu chỉ có nghĩa là bậc thầy, chuyên gia đầy kinh nghiệm về một lănh vực nào đó. Trong Ấn Độ Giáo và đạo Sikh, chữ Guru thường được chỉ những bậc hành giả đạt kinh nghiệm tâm linh cao, thực chứng. Riêng trong Phật giáo Tây Tạng, chữ Guru Rinpoche chỉ dành riêng để gọi Liên Hoa Sanh đại sĩ (Padmasambhava), sáng tổ Phật giáo Tây Tạng.

[7] Chữ “giải phóng” ở đây chỉ thời điểm Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, tức là khi Mao Trạch Đông chiếm trọn Hoa Lục, chánh phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch phải chạy ra Đài Loan. Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành lập ngày Mồng Một tháng Mười năm 1949. Như vậy, ḥa thượng Tịnh Không sang thăm cụ Hoàng là vào năm 1989.