Trung Phong Tam Thời

Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Kư,

Phần 12

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không 

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp tiểu đoạn cuối cùng của phần Sáu Phương Phật:

“Di Đà thị Pháp Giới Tạng Thân, cố nhất niệm, nhất thiết niệm, niệm nhất Phật, tức niệm nhất thiết Phật. Cực Lạc thị pháp giới tạng độ, cố nhất sanh, nhất thiết sanh, sanh Cực Lạc nhất độ, tức sanh nhất thiết chư Phật quốc độ dă” (Di Đà là Pháp Giới Tạng Thân, v́ thế niệm một là niệm hết thảy, niệm một vị Phật chính là niệm hết thảy Phật. Cực Lạc là pháp giới tạng độ, v́ thế sanh về một là sanh hết thảy, sanh về một cơi Cực Lạc chính là sanh về cơi nước của hết thảy chư Phật). Tiểu đoạn này là lời khai thị của Ngẫu Ích đại sư, nói rất hay, phá trừ triệt để mọi nghi vấn đối với thế giới Cực Lạc. V́ sao phải niệm A Di Đà Phật? V́ sao phải sanh về thế giới Cực Lạc? Từ trước đến nay chưa có ai giảng rơ ràng, minh bạch được như vậy. Mười phương chư Phật rất nhiều, v́ sao chỉ niệm ḿnh A Di Đà Phật? Do câu nói này bèn minh bạch. Mười phương Tịnh Độ cũng rất nhiều, sao lại chỉ riêng sanh về Cực Lạc Tịnh Độ? Lời giải đáp của Ngẫu Ích đại sư rất hay: “Di Đà là Pháp Giới Tạng Thân”. Trong kinh Đại Thừa thường nói đến Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Độ; Pháp Giới Tạng Thân chính là Pháp Tánh Thân, đấy chính tên gốc của Pháp Thân Phật!

Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) cũng là tên gốc của Pháp Thân. Nếu dịch ư nghĩa của danh hiệu ấy sang tiếng Hán th́ Tỳ Lô Giá Na chính là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp mọi nơi). A Di Đà Phật nếu dịch sang tiếng Hán là Vô Lượng, hết thảy đều vô lượng: Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng. Con người hiện tại cầu vô lượng của cải, vô lượng tướng hảo, vô lượng phước báo, cái ǵ cũng đều là vô lượng, sự vô lượng ấy trọn khắp hết thảy mọi chỗ! Bởi thế, Tỳ Lô Giá Na và A Di Đà Phật đều là đức hiệu của Pháp Giới Tạng Thân; niệm một Phật hiệu này là niệm tất cả hết thảy Phật hiệu, nhất định phải biết điều này! Tỳ Lô Giá Na chỉ là “trọn hết thảy mọi nơi”, cái ǵ “trọn hết thảy mọi nơi”? Nội dung của chữ A Di Đà rất phong phú, đă phô bày rơ những ư nghĩa ấy. Những danh hiệu chư Phật khác chỉ là Báo Thân hay Ứng Hóa Thân của Pháp Giới Tạng Thân. Mười phương cơi nước khác đều là Báo độ, là Phương Tiện độ, là Đồng Cư độ. Tạng Thân là Pháp Tánh Thân, Tạng độ là Pháp Tánh Độ, tức Thường Tịch Quang Độ. Do vậy, niệm một danh hiệu Phật này là niệm tất cả hết thảy Phật!

Giống như hiện nay chúng ta là quốc gia dân chủ, trước kia là thời đại đế vương; chúng ta nói đến danh hiệu Tổng Thống là nói đến tất cả văn vơ bá quan trong một nước, v́ Tổng Thống là bậc nhất. Niệm danh hiệu của những vị Phật, Bồ Tát khác giống như gọi tên bộ trưởng, tỉnh trưởng, huyện thị trưởng, ư nghĩa là như vậy đó. Thế giới Cực Lạc là Pháp Giới Tạng Độ, giống như nói đến tên một quốc gia; [như nói] Trung Quốc th́ tất cả hết thảy những tỉnh, huyện, thành phố của Trung Quốc há chẳng đều được tính gộp trong ấy hay sao? Niệm danh hiệu những cơi Phật khác giống như niệm tên một tỉnh, niệm tên một thành phố, như chúng ta nói đến Bắc Kinh, nói đến Thượng Hải, nói đến Giang Tô, chỉ là một địa khu, chứ không phải là toàn quốc.

Như vậy, nói đến thế giới Cực Lạc giống như nói về toàn thể, A Di Đà Phật là tên gốc của hết thảy chư Phật, không vị Phật nào lại chẳng vô lượng thọ, vô lượng giác ngộ, vô lượng đức năng, vô lượng trí huệ, vô lượng tướng hảo, mọi đức Phật đều là như vậy. V́ thế, đức Thế Tôn dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, dạy chúng ta nhất định phải sanh về Cực Lạc Tịnh Độ. Đạo lư là ở chỗ này, đúng là “nhất niệm, nhất thiết niệm; nhất sanh, nhất thiết sanh” (niệm một là niệm hết thảy, sanh về một là sanh về hết thảy). Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là sanh về hết thảy các cơi Phật. Phải là người đại thiện căn, đại phước đức mới ḥng làm được!

Thế nào là đại thiện căn, đại phước đức? Đối với pháp môn này, nếu ai có thể tin tưởng, có thể nhận hiểu, thực sự chịu thực hành th́ người như vậy chính là đại thiện căn, đại phước đức. Gặp được Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu [pháp môn này] cho chúng ta, lại gặp được rất nhiều thiện tri thức đem pháp môn này giới thiệu cho ḿnh, đấy chính là đại nhân duyên mà trong một đời này chúng ta được gặp gỡ! Gặp gỡ rồi lại có thể tin tưởng, hiểu biết, có thể thực hành, thực sự chẳng dễ dàng! Đây chính là kinh nghiệm của bản thân tôi. Tôi học Phật từ phương diện triết học, chứ không phải từ mặt tôn giáo, theo đuổi Phật giáo trên phương diện học thuật. Sau khi theo đuổi, mới dần dần nhận ra rất nhiều cái hay của Phật pháp, Phật pháp rộng lớn mênh mông, tinh túy, sâu thẳm, sanh khởi ḷng ngưỡng mộ vô hạn; do vậy, mới nghiêm túc học tập!

Phật pháp có nội dung thật phong phú, Tịnh Độ chỉ là một loại. Bởi lẽ, nói thật ra, tu học Tịnh Độ rất dễ dàng, rất đơn giản nên chúng tôi coi thường, không xem trọng. Mục tiêu của chúng tôi là kinh to luận lớn. Tôi đă thưa cùng với quư vị rất nhiều lần, cuối cùng tôi quay đầu chuyên tu Tịnh Độ là nhờ đọc những bộ kinh to luận lớn như kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm mới biết Tịnh Độ thù thắng. Đặc biệt là thấy Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài đồng tử đến cuối cùng, đến cuối kinh Hoa Nghiêm, các Ngài đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Do vậy, tôi mới thức tỉnh, chú ư đến Tịnh Độ, [thắc mắc]: V́ sao những vị ấy lại đều cầu sanh Tịnh Độ? Họ đều là bậc Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng; do vậy, tôi mới thực sự lưu ư, đọc tụng, nghiên cứu, học tập. Càng thâm nhập càng biết pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng lạ ǵ [trong kinh này], đức Thế Tôn bốn lượt khuyên dạy, mười phương chư Phật tán thán. Đến tác phẩm Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư mới nói ra chuyện tiền nhân chưa hề nói: “Di Đà thị Pháp Giới Tạng Thân, Cực Lạc thị Pháp Giới Tạng Độ” (Di Đà là Pháp Giới Tạng Thân, Cực Lạc là Pháp Giới Tạng Độ). Đấy mới chính là thực sự giăi bày trọn vẹn triệt để khiến cho chúng tôi đối với pháp môn này không c̣n tí ti nghi hoặc nào nữa!

Đồng thời, chúng tôi cũng hiểu rơ: Nay vẫn có kẻ ngờ vực, vẫn chẳng thể chết ḷng sát đất học tập, không khác ǵ tôi trước kia. Ba bốn mươi năm trước, đối với pháp môn này chúng tôi đă chẳng từng trải qua giai đoạn ấy hay sao? Bởi vậy, tu học Phật pháp, ta nay phải hết sức quan sát, thọ mạng rất quan trọng! Phải trường thọ th́ quư vị mới có thể học được. Nếu thọ mạng ngắn ngủi, chưa nhận biết th́ đă chết mất rồi, hoặc là vừa mới nhận ra, chưa kịp tu hành th́ thọ mạng đă hết, thật đáng tiếc! Do chỗ này, chúng tôi cũng đặc biệt đề cao Tây Phương Cực Lạc thế giới; cổ nhân nói cái đức thứ nhất (tức là chuyện tốt thứ nhất) chính là vô lượng thọ! Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thọ mạng vĩnh viễn! Thực sự vô lượng, chẳng phải là vô lượng hữu hạn, mà thực sự vô lượng! Sanh về bất cứ đâu cũng là vô lượng hữu hạn, nhưng nhất định phải thành Phật, thành Phật rồi th́ sẽ vô lượng một cách vô lượng.

Do vậy, chúng ta có thể nói: Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ vô lượng thọ là thật chứ không phải giả, quả thật là vô lượng một cách vô lượng. Trong một đời này, chúng ta gặp được cơ hội như thế này, có thể nói là rất nhiều may mắn! Chỉ những người hiểu biết rơ ràng mới chịu triệt để buông xuống hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, chuyên học pháp môn này, chuyên tu pháp môn này! Quyết định phải thành tựu ngay nơi một môn này th́ cái đời này mới có ư nghĩa, có giá trị, không uổng phí! Do vậy, đoạn văn này hết sức quan trọng. Đoạn lớn Sáu Phương Phật chúng tôi giới thiệu đến đây thôi. Tiếp theo là đoạn thứ năm: “Cái lợi của tín nguyện tŕ danh”.

 

6.4.2. Cái lợi của tín nguyện tŕ danh

     

Chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư vân hà? Hà cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh?

利弗。於汝意云何。何故名為一切諸佛所護念經。

(Này Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? V́ sao gọi là kinh Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm?)

 

Đây là câu hỏi, đoạn sau là câu trả lời:

 

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị kinh, thọ tŕ giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

利弗。若有善男子善女人。聞是經受持者。及聞諸佛名者。是諸善男子善女人。皆為一切諸佛之所護念。皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。

(Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này, thọ tŕ và nghe danh hiệu chư Phật th́ những thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm, đều được bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

Đến đây là một đoạn, cuối cùng lại có một câu khuyên dụ chúng ta.

 

Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngă ngữ cập chư Phật sở thuyết.

故舍利弗。汝等皆當信受我語。及諸佛所

(V́ thế Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đă nói).

 

Đây là đoạn kinh văn lớn thuộc phần sau cùng; chúng tôi cũng chia ra thành mấy hạng mục nhỏ, chia thành mười mục nhỏ để học tập. Thứ nhất là “khuyến tín Phật thuyết, văn kinh thọ tŕ, văn chư Phật danh” (khuyên tin lời Phật, nghe kinh thọ tŕ, nghe danh hiệu chư Phật). Ở chỗ này, lại phải giải thích từ ngữ “chư Phật danh”. “Chư Phật danh” không có nghĩa là [danh hiệu của] hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời, mà “chư Phật danh” là ǵ? Chính là A Di Đà Phật, chẳng thể nghĩ bàn! A Di Đà Phật chính là tên của hết thảy chư Phật.

Ở phần sau đoạn kinh này, Thích Ca Mâu Ni Phật có nói như sau: “Như ngă kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức” (Như ta nay xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật), th́ chữ “chư Phật” ấy chính là A Di Đà Phật. “Bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngă bất khả tư nghị công đức” (các vị Phật ấy cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta) th́ “các vị Phật ấy” cũng là A Di Đà Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật xưng tán A Di Đà Phật, A Di Đà cũng xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật. Không riêng ǵ A Di Đà Phật xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật, mà mười phương ba đời hết thảy chư Phật khen ngợi lẫn nhau, đều cùng tán thán Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật cũng thế, khen ngợi A Di Đà Phật và cũng xưng tán mười phương hết thảy Phật; nhưng chữ “chư Phật danh” chủ yếu chỉ A Di Đà Phật, v́ A Di Đà Phật là Pháp Giới Tạng Thân! Danh hiệu ấy là danh hiệu của hết thảy chư Phật, chúng ta nhất định phải hiểu ư nghĩa này! Tín nguyện kiên định do chỗ này mà sanh!

“Văn kinh thọ tŕ” (nghe kinh thọ tŕ), nghe đến kinh A Di Đà, quư vị có thể tiếp nhận, quư vị có thể ǵn giữ chẳng bỏ mất, đúng là “niệm tư tại tư” (niệm ở đâu, nghĩ ở đấy), chuyện tốt là ǵ? “Vị chư Phật chi sở hộ niệm” (được chư Phật hộ niệm). Trong số chư Phật, vị thứ nhất chính là A Di Đà Phật hộ niệm quư vị. Thứ hai là mười phương ba đời tất cả hết thảy chư Phật đều hộ niệm quư vị. Niệm một danh hiệu Phật là tất cả danh hiệu Phật đều niệm, không sót một vị nào! Quư vị niệm những danh hiệu khác, chẳng thể bao quát viên măn như vậy được! Nhất quyết phải hiểu đạo lư này.

Mười phương vô lượng vô biên thế giới, hết thảy chúng sanh có thiện căn, phước đức, nhân duyên đầy đủ trong ấy, không một ai chẳng niệm A Di Đà Phật. Quư vị thấy trong thế giới Hoa Tạng, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát và bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ; bốn mươi mốt địa vị ấy chính là bốn mươi mốt tầng cấp, bao gồm hết thảy tất cả Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng, không sót một vị nào! Địa vị thấp nhất trong thế giới Hoa Tạng là Sơ Trụ Bồ Tát, đó là Viên Giáo, tức Sơ Trụ Bồ Tát trong Đại Thừa Viên Giáo, cao nhất là Đẳng Giác Bồ Tát, [Phổ Hiền Bồ Tát] khuyên dạy những vị ấy đều niệm A Di Đà Phật cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ, thật chẳng thể nghĩ bàn! Chúng tôi thấy cảnh giới như vậy mới hoảng nhiên đại ngộ, nguyên lai Phật pháp đến cuối cùng nhắm vào chuyện này, nên tôi bèn thực sự hiểu rơ, minh bạch, cớ sao không chết ḷng sát đất quy y Tịnh Độ!

Thế nhưng nhân duyên không đủ, sẽ không gặp được pháp môn này, không gặp được những vị thiện tri thức chỉ dạy tỉ mỉ cho ḿnh. Nếu chúng ta vẫn c̣n hoài nghi, vẫn do dự, vẫn chẳng bằng ḷng tin tưởng, chẳng bằng ḷng tiếp nhận là v́ sao? Kinh bảo là v́ thiện căn, phước đức, nhân duyên ít ỏi! Kinh dạy rất rơ ràng: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để được sanh về cơi ấy). Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ thiện căn, phước đức, nhân duyên phải đặc biệt sâu dầy! Chúng ta có biết thiện căn, phước đức, nhân duyên của chính ḿnh có sâu dầy hay chăng? Không biết! Dù hiện tại không biết, dần dần cũng sẽ biết. Dần dần sẽ biết như thế nào? Chúng ta đối với pháp này sanh ḷng tin, chúng ta rất vui ḷng văng sanh th́ sẽ biết là chính ḿnh thiện căn sâu dầy, vốn không ít ǵ! Nếu không ít, v́ sao lúc tiếp xúc lại gặp khó khăn đến thế? Là v́ trong vô lượng kiếp chúng ta bị phiền năo, tập khí chướng ngại, che lấp. Hễ có thiện tri thức dẫn dắt, chúng ta sẽ rất nhanh chóng trừ khử được chướng ngại ấy, tín tâm, nguyện tâm sẽ sanh khởi. Điều này thuộc về nhân duyên.

Đúng là như kinh này đă dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cơi ấy); quư vị có thiện căn và phước đức rất sâu, nhưng không có nhân duyên dẫn dắt và khơi gợi quư vị, dù có thiện căn và phước đức rất sâu, chúng cũng chẳng thể hiện tiền. V́ sao? Bị danh văn, lợi dưỡng trong thế tục, bị ngũ dục, lục trần chướng ngại, mê man trong đó. Do vậy, bậc chân thiện tri thức cảnh tỉnh quư vị một chút, quư vị bèn hoảng nhiên đại ngộ, đầy ắp ḷng tin vào bản thân, trong một đời này, quyết định được văng sanh, quyết định có thể thân cận A Di Đà Phật, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, hết thảy chư Phật đều hộ niệm quư vị. Nay chúng ta gọi sự hộ niệm ấy là “quan hoài” (quan tâm lo lắng). “Hộ” () có nghĩa là che chở, giúp đỡ, quan tâm. Lợi ích là “giai đắc bất thoái Đại Bồ Đề” (đều được chẳng thoái chuyển nơi Đại Bồ Đề). Lợi ích này rất lớn, ai nấy đều được chẳng thoái chuyển Vô Thượng Bồ Đề Tâm! Vô Thượng Bồ Đề Tâm chính là những điều trong mấy năm gần đây chúng tôi thường đề cao: “Chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi”. Nó chính là chân tâm, Phật tánh của chính ḿnh, chúng ta vốn sẵn có.

Hiện tại, cái sẵn có ấy tợ hồ không có, thật ra, nó không mất đi, chỉ là bị tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần chướng ngại. Chúng ta không buông những chướng ngại ấy xuống được, cho nên chân tâm của chính ḿnh chẳng thể hiện tiền. Phải biết tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, cái tâm tham cầu hưởng thụ hết thảy chính là vọng tâm, chứ không phải là chân tâm. Những thứ đó chướng ngại chân tâm của chúng ta. Bởi thế, chỉ cần buông chướng ngại xuống, buông tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông tham, sân, si, mạn xuống th́ chân tâm của chúng ta bèn hiện tiền. Chân tâm có vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng phước báo. Hoàn cảnh thọ dụng của chân tâm là thế giới Cực Lạc, tức thế giới Hoa Tạng.

Hoa Tạng và Cực Lạc ở tại đâu? Ở ngay trước mắt; chỉ cần quư vị buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống sẽ thấy được, sẽ thọ dụng được. Quư vị không chịu buông xuống th́ Hoa Tạng sẽ thuận theo vọng niệm của quư vị biến thành uế độ, biến thành đời ác ngũ trược. Chuyện này trong hiện tại đă nghiễm nhiên bị khoa học phát hiện, đấy là chuyện tốt. Họ vừa mới phát hiện cái khởi đầu, thế nhưng khởi đầu này rất hay, khiến cho những người đă tu Tịnh Độ chúng ta tín tâm mười phần trọn đủ! V́ sao? Đă được khoa học chứng minh. Chứng minh điều ǵ? Chứng minh “tướng chuyển theo tâm”, thân thể và thể chất chuyển theo tâm, hoàn cảnh sống chuyển theo tâm. Chân tâm của chúng ta thuần thiện, thuần tịnh, tướng mạo của chúng ta thuần thiện, thuần tịnh, thân thể chúng ta thuần thiện thuần tịnh, hoàn cảnh sống thuần thiện thuần tịnh, đó là thật, chứ không phải giả. Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng, kinh Hoa Nghiêm giảng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”; kinh Lăng Nghiêm nói: “Chư pháp sở sanh, duy tâm sở hiện, nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Các pháp được sanh chỉ do tâm hiện, hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành Thể), chẳng thể nghĩ bàn! Khoa học đă nghiễm nhiên chứng minh được điều ấy, phát hiện được như vậy, kinh Phật giảng rất thấu triệt dường ấy!

“Giai đắc bất thoái Đại Bồ Đề” (đều được bất thoái Đại Bồ Đề). Có thể nói là Đại Bồ Đề dẫn xuất vô lượng trí huệ, chúng sẵn có trong bản tánh của quư vị, chứ không đến từ bên ngoài, chính ḿnh vốn sẵn có. Trong tâm tánh của chính ḿnh, vốn sẵn có vô lượng trí huệ, vô lượng tài nghệ, vô lượng đức năng, vô lượng vô biên phước báo. Do vậy, đức Phật khuyên dạy lần thứ ba nhằm khuyên chúng ta phải tin tưởng. “Tín Thế Tôn thuyết” (tin lời đức Thế Tôn nói), Thích Ca Mâu Ni Phật giảng cho chúng ta nghe kinh này, chúng ta phải tin tưởng lời đức Thế Tôn nói, phải tin tưởng “lời chư Phật nói”. Kinh Vô Lượng Thọ có không ít đoạn kinh văn do chính A Di Đà Phật nói, mười phương chư Phật Như Lai v́ chúng ta chứng minh, khuyên dạy chúng ta phải tin tưởng, phải tin lời chư Phật. Lại xem tiếp một tiểu đoạn nữa.

“Thử kinh độc hiển” (riêng ḿnh kinh này hiển thị), tức là Phật Thuyết A Di Đà Kinh không dài, nhưng quư báu nhất trong hết thảy các kinh. Tại Trung Quốc, trong số những kinh điển Phật giáo, tuy kinh Kim Cang và Tâm Kinh rất nổi tiếng, nhưng chẳng ai không biết đó là do ảnh hưởng của Thiền tông; chứ xét trên thực tế, quư vị thử xét xem người tu hành thực sự dùng pháp môn nào? Kinh Di Đà là bậc nhất. Không riêng ǵ Tịnh Độ tông, bất luận tông phái nào, quư vị cứ xem Thiền Môn Nhật Tụng, xem sách khóa tụng của nhiều tông phái, khóa tối đều niệm A Di Đà Kinh, đều niệm A Di Đà Phật. Gần như chẳng phân tông phái, hễ là người học Phật, học theo Đại Thừa th́ không ai chẳng niệm kinh Di Đà, không ai chẳng niệm A Di Đà Phật. Đó chính là “thử kinh độc hiển”.

“Vô thượng tâm yếu, năng niệm chi tâm tánh, Đệ Nhất Nghĩa Đế, bổn nguyên Lư Thể” (vô thượng tâm yếu, cái tâm tánh năng niệm, Đệ Nhất Nghĩa Đế, cội nguồn lư thể), chúng ta phải hiểu những điều này. Học Tịnh Độ mà không biết những nghĩa lư tinh vi, tinh túy của Tịnh Độ th́ làm sao có thể thành tựu ngay trong một đời? “Tâm Yếu” như Tánh tông hay Thiền tông thường nói th́: Tâm là chân tâm, là những tinh hoa trong chân tâm, Yếu là khẩn yếu. Đă thế lại c̣n thêm hai chữ Vô Thượng, tức là không c̣n ǵ cao hơn được nữa. Vô Thượng Tâm Yếu là ǵ? Chính là cái tâm tánh năng niệm của chính ḿnh, trong kinh này gọi [“vô thượng tâm yếu”] là “nhất tâm bất loạn”. Nhất tâm bất loạn là chữ La Thập đại sư dùng để dịch, nguyên bản Phạn văn không gọi là “nhất tâm bất loạn”, quư vị xem bản dịch của ngài Huyền Trang sẽ thấy, Huyền Trang đại sư dịch thẳng, dịch là “nhất tâm hệ niệm”. La Thập đại sư dịch là “nhất tâm bất loạn”, dịch rất khéo!

Nhất tâm bất loạn là được A Di Đà Phật gia tŕ, lúc được A Di Đà Phật hộ niệm bèn đạt nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn là quả, là thành tựu; c̣n công phu là nhất tâm hệ niệm, có nghĩa là trong tâm chúng ta, trong cuộc sống thường ngày từ sáng đến tối, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, không bận tâm đến bất cứ ǵ khác, không có bất cứ tạp niệm ǵ, không có vọng tưởng ǵ, cũng chẳng có phân biệt, chấp trước, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật. Vô thượng tâm yếu ấy, cái tâm tánh năng niệm ấy chính là Đệ Nhất Nghĩa Đế, là cội nguồn Lư Thể. Nếu quư vị thực sự “phản bổn hoàn nguyên” (trở về nguồn cội) th́ công đức niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Trong đây lại có lời giải thích:

“Chư Phật danh tự, tức chỉ sở niệm A Di Đà Phật” (Từ ngữ “danh hiệu của chư Phật” chỉ đức A Di Đà Phật được niệm). Như vậy A Di Đà Phật là danh hiệu của chư Phật. Rất ít người biết được điều này, từ xưa đến nay cũng rất ít vị cổ đức giảng như vậy. Bởi thế, cách giảng này của Ngẫu Ích đại sư được Ấn Quang đại sư khen ngợi, chúng ta biết Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, Ngài tán thán sách Yếu Giải: “Dẫu cho cổ Phật tái lai, chú giải kinh A Di Đà lần nữa, cũng không thể hay hơn được”. Tuyệt diệu! Tán thán như vậy tức là coi Ngẫu Ích đại sư như A Di Đà Phật tái lai. Thế nhưng từ đầu đến cuối Ngẫu Ích đại sư không hiển lộ thân phận, chúng ta nghĩ xem: Đại Thế Chí Bồ Tát khen ngợi Ngẫu Ích đại sư như thế, chúng tôi cho rằng, nếu Ngẫu Ích đại sư không phải là A Di Đà Phật tái lai th́ cũng phải là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, dễ đâu được Đại Thế Chí Bồ Tát tán thán như thế!

Có người đă hoài nghi lời tán thán ấy, chúng tôi đă từng gặp qua. Có người tới hỏi tôi: “Pháp sư Tịnh Không! Ấn Quang đại sư tán thán như vậy chẳng phải là quá mức một chút hay không?” Tôi đáp: “Lăo nhân gia tán thán như thế rất thích đáng, không quá lố chút nào”. Đúng là như kinh Kim Cang đă nói: Như Lai là bậc chân ngữ, thật ngữ, như ngữ. “Như ngữ” là lời Ngài tán thán hoàn toàn phù hợp sự thật, quyết chẳng quá mức. Như vậy, kinh này nói đến “chư Phật” đều là chỉ A Di Đà Phật.

“Viên măn cứu cánh vạn đức (rốt ráo viên măn vạn đức); đấy chính là một trong ba điều hiển thị độc đáo của kinh này: Vô thượng tâm yếu chính là cái chân tâm niệm Phật của chúng ta, phải dùng chân tâm để niệm. Lúc mới học th́ chân tâm ấy chính là không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Lúc niệm đến khế nhập cảnh giới th́ cái tâm nhất niệm niệm Phật đă thành thục rồi, tách rời vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chẳng những lúc niệm Phật không xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, mà trong cuộc sống hằng ngày, làm việc, xử sự, đăi người, tiếp vật cũng chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, lúc đó chính là cảnh giới ǵ vậy? Chính là nhất tâm bất loạn, công phu niệm Phật đă đạt được nhất tâm rồi!

Nếu vẫn chưa đạt được nhất tâm, mà lúc niệm Phật quư vị có thể thực sự không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, đó chính là “công phu thành phiến”. Công phu thành phiến là nhất tâm bất loạn ở mức nông cạn nhất, thế nhưng chắc chắn quư vị sẽ được văng sanh, tợ hồ sổ thông hành về Tây Phương Cực Lạc đă nắm chắc trong tay, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đạt được nhất tâm bất loạn, bèn sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư. Cao hơn nữa, đạt đến Lư Nhất Tâm. Lư Nhất Tâm là ly niệm, Sự Nhất Tâm là ly tướng. Kinh Kim Cang nói ĺa bốn tướng: Vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Đó chính là Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu quư vị không có ư niệm, không ngă kiến, không nhân kiến, không chúng sanh kiến, không thọ giả kiến th́ là Lư Nhất Tâm Bất Loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm.

Nếu chúng ta tự hỏi trong một đời này ḿnh có thể đạt đến cảnh giới ấy hay không? Tôi xin trả lời: “Câu trả lời là khẳng định. Vấn đề là chính quư vị có chịu dụng công hay không?” Chuyện ấy chẳng phải cầu nơi ai khác! Cổ thánh tiên hiền nói rất hay: “Nhân sanh tại thế, cầu nhân nan, thăng thiên nan” (Người sống trong cơi đời, cầu cạnh người khác khó khăn như lên trời). Chuyện phải cầu cạnh người khác khó khăn lắm, người ta không đáp ứng ḿnh làm ǵ được đây? Chuyện này chỉ cầu nơi chính ḿnh, đừng cầu nơi ai khác! Vấn đề là quư vị có chịu buông xuống hay không, có buông tự tư, tự lợi xuống được hay không? Có chịu buông danh văn, lợi dưỡng xuống hay không? Có chịu buông hưởng thụ ngũ dục, lục trần xuống hay không? Có chịu buông tham, sân, si, mạn xuống hay không? Chúng tôi thường khuyến khích đồng học, chỉ cần quư vị buông xuống được th́ sẽ nhập cảnh giới, quư vị sẽ khế nhập. Quư vị không buông xuống th́ không có cách ǵ hết, Phật, Bồ Tát cũng không giúp được. Phật, Bồ Tát chỉ có thể dạy chúng ta nguyên lư, nguyên tắc và phương pháp; ngoài ra, không giúp cách nào được nữa. Bởi thế, tự ḿnh phải buông xuống, buông xuống là thấy thấu suốt, thấy thấu suốt rồi lại càng buông xuống triệt để, tự nhiên bèn khế nhập cảnh giới!

Nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh”, chúng ta có thể minh tâm kiến tánh hay không? Được chứ! Đạt đến minh tâm kiến tánh là đại triệt đại ngộ, đạt đến cảnh giới này là Lư Nhất Tâm Bất Loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kiến tánh bèn trọn chẳng chấp tướng, chấp tướng là chưa kiến tánh! Kiến tánh là như vậy đó. Tự chúng ta có nhận biết được chính ḿnh kiến tánh hay không? Biết chứ! Biết rất rơ ràng, minh bạch. Hễ quư vị c̣n chấp tướng, chấp tướng là phân biệt, chấp trước (chấp tướng là phân biệt, chấp trước) th́ quư vị vẫn chưa kiến tánh. Người kiến tánh nhất định chẳng chấp tướng; trong cuộc sống thường ngày, người kiến tánh chắc chắn tùy duyên. Kẻ chưa kiến tánh chắc chắn sẽ phan duyên, khác hẳn! Người kiến tánh được đại tự tại, người chưa kiến tánh không tự tại. Cũng có thể nói là người ấy c̣n vướng mắc; hễ c̣n vướng mắc là c̣n chướng ngại, không được đại tự tại!

Một bộ kinh A Di Đà này, một câu A Di Đà này so với phương pháp tham Thiền dễ hơn nhiều, đạt đến cảnh giới tối cao của tham Thiền là minh tâm kiến tánh bằng phương pháp này dễ dàng hơn phương pháp của Tông môn rất nhiều. Nếu quư vị thực sự muốn học, tôi có thể đưa ra kinh nghiệm năm mươi năm tu học của chính ḿnh cho quư vị tham khảo. Tôi thực sự đắc lực là nhờ lời chỉ dạy của Chương Gia đại sư. Năm mươi năm trước, tôi vừa gặp mặt lăo nhân gia lần đầu, Ngài dạy tôi: “Thấy thấu suốt, buông xuống, bố thí”. Căn cơ học Phật của tôi là lời khai thị của lăo nhân gia trong lần đầu tiên gặp mặt ấy. Năm mươi năm thọ tŕ lời răn dạy, y giáo phụng hành, tôi là kẻ căn tánh trung hạ, dần dần được nâng cao, cảnh giới được nâng cao. Tôi chẳng phải là kẻ thượng căn lợi trí; thượng căn lợi trí là kẻ nghe một hiểu cả ngàn, tôi không được như vậy, tôi phải nâng cao từng bước từng bước một, giống như Khổng lăo phu tử đă nói về việc nâng cao cảnh giới: “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mạng, lục thập nhi nhĩ thuần, thất thập tùng tâm sở dục bất du củ” (Ba mươi tuổi sở học vững vàng, bốn mươi tuổi không lầm lẫn v́ bị ngoại cảnh dao động, năm mươi tuổi biết mạng trời, sáu mươi tuổi nghe người khác nói liền thấu hiểu tâm ư, bảy mươi tuổi thuận theo những mong muốn trong ḷng mà thực hiện không trái vượt quy củ)[1]. Quả thật là tôi nâng cao cảnh giới giống như vậy đó. Đúng là cứ mỗi mười năm lại nâng cao một mức lớn hơn.

Do vậy, con người chẳng thể không tu trường thọ, tu trường thọ bằng

cách nào? Nói thật ra, trường thọ vẫn là do thầy chỉ dạy, ân đức của thầy lớn lao. Thầy dạy tôi tu ba thứ bố thí, tu Tài Bố Thí được của cải, tức là cuộc sống vật chất không thiếu thốn. Chúng tôi không cầu giàu có; dư dật, cầu giàu có th́ sao? Cầu giàu có, dư dật dễ bị đọa lạc. Đấy chính là một cửa ải: Lúc cuộc sống vật chất quá phong phú sẽ không mong văng sanh, chẳng biết nỗi khổ luân hồi. Quư vị thấy thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài xuất thân là vương tử, vứt bỏ ngôi vua, vứt bỏ cuộc sống vinh hoa, phú quư, đi khất thực, ngày ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, làm gương cho chúng ta thấy, chúng ta phải hiểu ư nghĩa này. Nhất định chẳng tham cầu hưởng thụ thế gian, vĩnh viễn ǵn giữ trí huệ cao độ, tỉnh giác cao độ, chẳng để đọa lạc! Thật giống như bậc đại đức trong Tông Môn thường nói: “Bách hoa tùng trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (qua rừng trăm hoa nở, mẩu lá chẳng dính thân); học được bản lănh ấy sẽ vĩnh viễn sống trong cảnh giới thanh lương tự tại, sung sướng lắm! Niềm sung sướng ấy người khác không thể biết được, Khổng phu tử đă nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?), niềm vui ấy chính là pháp hỷ sung măn.

“Viên măn cứu cánh vạn đức” (viên măn vạn đức rốt ráo), trong đây lại có mấy câu, “trí cứu cánh chứng Bát Nhă đức” (trí rốt ráo chứng Bát Nhă đức). Trí huệ viên măn, trí huệ là căn bản của hết thảy các đức, trí huệ là bản thể của chân tâm, chúng ta thường nói là “tâm tánh”, trí huệ chính là bản thể của tâm tánh. Bởi thế, trí có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng rất rơ ràng. Chúng ta thường thấy trong kinh giáo, trong lời giảng kinh thuyết pháp của tổ sư, hoặc là trong chú sớ, thường nói đến “linh tri”, tâm đấy! Ví như trong lời khai thị của thiền sư Trung Phong có nhắc đến ba thứ tâm: Nhục đoàn tâm (trái tim thịt), duyên lự tâm và linh tri tâm. Bát Nhă là linh tri tâm. Hết thảy các pháp do Tâm mà thành thể; do đó, quư vị phải hiểu: Hết thảy pháp đều có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết.

Bởi vậy, từ việc kết tinh nước, tiến sĩ Giang Bổn Thắng đă chứng minh nước có linh tri, nó có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, biết được ư tưởng của chúng ta. Chúng ta dùng thiện ư th́ nó kết tinh hết sức đẹp, chúng ta có ác ư th́ nó lập tức biến hiện hết sức xấu xí. Không chỉ nước như vậy, kinh Phật đă nói: Tất cả hết thảy vạn vật không ǵ chẳng như vậy, tức là bùn, cát, đá, kể cả hư không, hư không cũng là do tâm mà thành Thể; do vậy, chúng đều có công năng phát xuất từ bản tánh. Công năng phát xuất từ bản tánh là thấy, nghe, hay, biết, thảy đều trọn đủ. V́ thế, khoa học hiện tại hay lắm! Tuy đă thí nghiệm thấy được điều đó nơi nước, nhưng chúng ta phải mở rộng thí nghiệm, tất cả hết thảy vạn vật đều nên thí nghiệm nhằm chứng tỏ chúng đều có thể thấy, nghe, hay, biết, nhưng ư niệm ấy lại không có gần hay xa.

Bọn họ đă làm thí nghiệm như sau: Đem một b́nh nước đặt trên cái bàn làm việc ở sở, thông báo cho hơn năm trăm hội viên, trên toàn xứ Nhật Bản ở mọi nơi khác nhau, cùng một thời gian, dùng ư niệm thiện, dùng tưởng tượng, tưởng ḿnh chúc phước cái b́nh nước ấy: “Ngươi rất trong sạch, ngươi rất thanh khiết, ngươi hết sức đẹp đẽ!” Ba bốn phút sau, nước ấy kết tinh hết sức đẹp đẽ, nó nhận lấy lời chúc phước của mọi nơi, chứng tỏ ư niệm không có gần hay xa. Bọn họ cho đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, trong Phật pháp chúng ta đă biết rồi, v́ nguyên nhân ǵ vậy? Là do tâm mà thành Thể. Nó có thể cảm nhận, có thể nghe, có thể biết, nó có thấy - nghe - hay - biết!

“Đoạn cứu cánh, chứng Giải Thoát đức” (đoạn rốt ráo, chứng Giải Thoát đức). “Đoạn” () là đoạn vọng tưởng, đoạn phân biệt, đoạn chấp trước. Chỉ cần đoạn được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sẽ buông xuống được. Giải thoát là tự tại, quư vị được đại tự tại. Sự tự tại ấy chẳng thể nghĩ bàn! Tự tại như thế nào? Năng lực được khôi phục, chúng ta thường gọi [năng lực ấy] là “thần thông”: Quư vị có thể thấy trọn khắp hư không pháp giới, cũng nghe được như vậy, năng lực của sáu căn được khôi phục viên măn. Nhà Phật gọi đó là “sáu món thần thông”, người hiện tại gọi là “năng lực đặc dị”. Đấy chính là năng lực sẵn có của chính ḿnh, nào có đặc dị (đặc biệt, lạ lùng) chi đâu! Chỉ cần quư vị buông xuống được; quư vị buông xuống một phần, năng lực khôi phục một phần, buông mười phần sẽ khôi phục mười phần.

“Tâm tánh cứu cánh, chứng Pháp Thân đức, tam đức viên măn, vạn đức tất cụ” (Tâm tánh rốt ráo, chứng Pháp Thân đức, ba đức viên măn, vạn đức ắt đầy đủ). Đây chính là những điểm độc đáo được hiển thị bởi bộ kinh này. Nếu chúng ta có huệ nhăn, có linh tri, quư vị thấy, thấu hiểu, và khế nhập; đừng nghĩ bộ kinh này quá nhỏ! Nội dung của kinh này chẳng khác ǵ kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm chỉ là giải nói tường tận mà thôi. Bởi thế, cổ nhân nói ba bộ kinh này chỉ là một bộ, một tức là ba, ba tức là một. A! Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp đoạn thứ ba ở phần sau:

“Đại Bổn vân: Nhược bất văng tích tu phước huệ, ư thử chánh pháp bất năng văn, dĩ tằng khâm phụng chư Như Lai, cố đắc nhân duyên văn thử nghĩa” (Kinh Đại Bổn nói: - Nếu trước kia chẳng tu phước huệ th́ chẳng được nghe chánh pháp này. Do đă từng kính ngưỡng, phụng sự chư Như Lai, nên mới có nhân duyên được nghe nghĩa này). Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ là kinh A Di Đà được giảng giải tường tận; cho nên mới gọi là Đại Bổn và Tiểu Bổn. Tiểu Bổn giản lược, tiện thọ tŕ, tiện đọc tụng, tiện tu hành; thế nhưng người tu hành pháp môn Tịnh Tông chẳng thể không đọc Đại Bổn. V́ sao? Quư vị đọc Đại Bổn, sẽ có thể hóa giải rất nhiều nghi lự. C̣n như để thọ tŕ th́ chúng ta phải áp dụng những giáo nghĩa trong kinh vào thực tế, đương nhiên là càng đơn giản càng hay. Do vậy, Tiểu Bổn là cương yếu của Đại Bổn, là cương lănh của Đại Bổn.

Nhất là trong phần trước, Ngẫu Ích đại sư đă nói “thử kinh độc hiển” (điểm hiển thị độc đáo của kinh này), hết thảy kinh đều không nói đến ba chuyện đặc sắc như trong kinh này, chuyện thứ nhất là “vô thượng tâm yếu”, chuyện thứ hai là “danh hiệu của chư Phật” chính là A Di Đà Phật, chuyện thứ ba là “rốt ráo viên măn vạn đức”, trí huệ viên măn, đức năng viên măn, tướng hảo viên măn, Pháp Thân viên măn, giải thoát viên măn, không có ǵ chẳng viên măn! Kinh này thực sự chẳng thể nghĩ bàn!

Nếu quư vị muốn hiểu rơ tường tận hơn nữa, c̣n có kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, giảng những sự việc ấy hết sức chi ly, hết sức minh bạch, hết sức thấu triệt. V́ thế, cổ đức lại nói kinh Hoa Nghiêm là đại bổn của kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ là Hoa Nghiêm trung bổn, A Di Đà kinh là Hoa Nghiêm tiểu bổn. Ba bộ kinh này cùng giảng một sự việc, chỉ là kinh này giảng đơn giản, kinh kia giảng chi tiết. Bởi vậy, quư vị muốn hiểu rơ tường tận th́ hăy đọc kinh Hoa Nghiêm, muốn áp dụng trong cuộc sống thường ngày th́ dùng kinh A Di Đà. Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm rút gọn thành Phật Thuyết A Di Đà Kinh, chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, ở đây chúng tôi dẫn mấy câu trong Đại Bổn, tức mấy câu trong bài kệ đầu tiên, nếu quư vị thực sự hiểu được, quư vị sẽ tiếc quư một đời này, đời này chúng ta may mắn lắm.

“Nhược bất văng tích tu phước huệ” (nếu trước kia không tu phước huệ), giả sử đời đời kiếp kiếp trong quá khứ không tu phước, tu huệ, tức là như kinh Di Đà đă nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cơi ấy). Nhiều thiện căn (thiện căn là huệ), nhiều phước đức; do đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp tu phước, tu huệ nên nhiều thiện căn, nhiều phước đức “ư thử chánh pháp bất năng văn” (chẳng thể nghe chánh pháp này), chánh pháp ở đây là Tịnh tông, tức pháp môn Tịnh Độ, quư vị sẽ không được nghe. Dẫu được nghe cũng như thế nào? Nghe xong chẳng tin tưởng, ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, chẳng thể tiếp nhận, đối với pháp môn này nẩy sanh rất nhiều nghi vấn, tự cậy thông minh!

Trong hai câu tiếp theo, “dĩ tằng khâm phụng chư Như Lai” (đă từng kính ngưỡng, phụng sự chư Như Lai), nghĩa là sao? Đấy chính là nhân duyên, trong đời quá khứ có duyên cùng Phật, từng học Phật pháp, từng y giáo phụng hành, v́ sao không thành công? Nguyên nhân không thành công là v́ vẫn chưa buông xuống được! Đối với danh lợi thế gian này chưa buông xuống được, vẫn c̣n tham ái, tài sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê, vẫn c̣n chấp trước. V́ thế, tuy thân cận chư Như Lai (chữ “Như Lai” này bao gồm cả các Bồ Tát, các thiện tri thức) mà chẳng thể thành công. Dẫu không thành tựu, nhưng nhân duyên vẫn c̣n, trong một đời này lại được gặp gỡ. Gặp gỡ rồi, thời tiết, nhân duyên bất đồng. Như chính bản thân tôi là một thí dụ rất rơ rệt! Năm hai mươi sáu tuổi mới được nghe Phật pháp do tiên sinh Phương Đông Mỹ giới thiệu. Nếu cụ giới thiệu nhằm đúng mười năm trước đó, ắt tôi chẳng thể tiếp nhận, dẫu gặp Phương tiên sinh cũng uổng, tôi cũng chẳng tin tưởng cụ. Do có thời tiết, nhân duyên, được chư Phật hộ niệm, Phật, Bồ Tát ngầm bảo hựu ḿnh, khi nào duyên chín muồi? Lúc nào quư vị có thể tiếp nhận, có thể tin tưởng th́ thiện tri thức sẽ đến.

Thậm chí có rất nhiều người thiện căn, phước đức rất sâu, nhưng suốt đời mê man trong ngũ dục lục trần, phải đến khi lâm chung [thiện căn và phước đức] mới phát hiện, lúc lâm chung mới tin tưởng. Giống như khi xưa chúng tôi ở Washington DC, Hoa Kỳ, tiên sinh Châu Quảng Đại cả một đời chẳng tin bất cứ một tôn giáo nào, khi ấy có dạy ông ta cũng không tin. Con người ông ta hết sức trung hậu, là người tốt, dẫu làm ăn buôn bán bên đó nhưng nhiệt tâm làm sự nghiệp công ích, chịu làm sự nghiệp phước thiện xă hội, chịu giúp đỡ người khác, nhưng không tin tưởng bất cứ tôn giáo nào. Ba ngày trước khi lâm chung, do v́ bác sĩ đă hết cách chữa trị, người nhà không biết làm sao, đúng là “bệnh ngặt vái tứ phương”, bà vợ ông ta quen biết những đồng học thuộc Tịnh Tông Học Hội chúng ta, thường gặp gỡ nhau khi mua thức ăn ngoài chợ. Khi ấy, bà nghĩ đến những vị đồng học ấy, hỏi họ học Phật có cách ǵ cứu ông ta hay không?

Khi ấy, Tịnh Tông Học Hội bèn phái một vài vị đồng học đến khuyên ông ta niệm Phật, ông ta vừa nghe bèn hoan hỷ. Khi ấy, Cung cư sĩ (tức cư sĩ Cung Chấn Hoa) khuyên ông ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thế giới này rất khổ, có ǵ đáng lưu luyến cơ chứ? Ông ta vừa nghe bèn giác ngộ, gọi cả nhà: “Tất cả vợ con đừng bi ai, đừng bận ḷng v́ ta, ai nấy hăy niệm Phật, hăy giúp ta niệm Phật!” Ba ngày sau, Phật đến tiếp dẫn, ra đi hiện tướng lành hy hữu. Có người thấy Phật đứng trên nóc nhà tiếp dẫn ông ta văng sanh! Quư vị coi đó: Lúc lâm chung, nhân duyên của ông ta chín muồi, đúng là “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân” (trong nhà Phật chẳng bỏ một ai), mỗi người nhân duyên khác biệt!

Do vậy, chúng ta chớ khinh thường người không học Phật và người không niệm Phật. Chớ nên coi thường! V́ sao? Chúng ta là phàm phu, chẳng biết lúc nào nhân duyên của người ấy sẽ chín muồi, cũng chẳng biết thiện căn trong đời quá khứ của người ấy như thế nào, biết đâu một hai ngày trước khi lâm chung, nhân duyên của người ấy thành thục, phẩm vị văng sanh c̣n cao hơn chúng ta nữa kia, chúng ta đâu có bằng được họ! Chuyện này đâu phải là không có! V́ thế, người học Phật thời thời khắc khắc phải biết tôn trọng hết thảy chúng sanh, chẳng dám khinh thị một chúng sanh nào, vậy là chính xác. Phải nên coi họ giống như chư Phật Như Lai, dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, b́nh đẳng đối đăi hết thảy chúng sanh, hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh! Hết thảy vạn vật có Pháp Tánh! Nếu quư vị thấy chúng sanh có Phật Tánh, thấy vạn vật có Pháp Tánh th́ chúc mừng quư vị, quư vị chẳng phải là phàm phu nữa, mà đă minh tâm kiến tánh, đă là Pháp Thân Bồ Tát. Giáo pháp Đại Thừa nhằm dạy chúng ta chuyện sau đây: “Tôn trọng hết thảy chúng sanh, hữu t́nh và vô t́nh cùng viên măn Chủng Trí”.

Do vậy, hiện thời bản thân chúng ta cũng vô cùng may mắn, chúng ta có phần nơi bốn câu kệ này, trong đời quá khứ, quả thật đă tu phước, tu huệ, trong đời quá khứ quả thật đă có duyên cùng Phật. Chúng ta vừa tiếp xúc, gặp được thiện tri thức vừa phân tích, vừa giải nói cho chúng ta, đúng là có đạo lư, chúng ta bèn tin tưởng. Chúng ta cũng hết sức nghiêm túc nỗ lực học tập, cảnh giới mỗi năm quả thật ngày càng nâng cao, trong một đời này pháp hỷ sung măn, hoan hỷ khôn sánh, không ưu lự, không phiền năo, không vướng mắc, từ nội tâm hóa giải hết thảy sự trái nghịch. Trước hết, phải cầu cho tâm tánh được ḥa thuận th́ thân thể sẽ khỏe mạnh.

Lúc tôi giảng kinh cũng thường giảng v́ sao thân thể con người không được mạnh khỏe? Là do nội bộ những tế bào và khí quan phát sanh xung đột. Cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Gia ḥa, vạn sự hưng”. Nói trên phương diện nhỏ hơn là thân thể chúng ta th́ đối với tất cả khí quan và tế bào trong thân thể phải đối đăi b́nh đẳng, đối xử ḥa mục với nhau th́ thân thể sẽ khỏe mạnh! Nếu các khí quan bên trong chúng ta đối chọi nhau, hai bên không hợp tác sẽ đổ bệnh, không mạnh khỏe! Duyên do là như vậy. Ai gây nên đối chọi? Thưa cùng quư vị, phiền năo gây nên đối chọi! V́ thế, cổ nhân nói một câu hết sức hợp lư: “Ưu năng sử nhân lăo” (lo buồn khiến con người già xọm). Con người nếu sống trong ưu lự, bận tâm quá nhiều, rất dễ lăo hóa. Ai có thể buông xuống hết thảy, chuyện ǵ cũng chẳng ghim vào ḷng th́ người ấy lăo hóa rất chậm, cũng có thể nói là chẳng dễ ǵ suy lăo.

Năm hai mươi sáu tuổi tôi mới bắt đầu học Phật, năm ba mươi tuổi mới được biết thầy Lư; lúc đó Lư lăo cư sĩ đă sáu mươi chín tuổi, tôi gặp mặt thầy, ngỡ thầy nhiều lắm là bốn mươi tuổi, chẳng ngờ thầy đă là ông lăo gần bảy mươi! Nói cách khác, người bảy mươi tuổi trông như người mới bốn mươi, chẳng dễ ǵ suy lăo, tinh thần, thể lực hệt như người mới ba mươi, bốn mươi tuổi. Điều này gây ấn tượng giáo huấn rất mạnh cho chúng tôi, khiến chúng tôi chẳng thể không bội phục. Cụ mắt chưa mờ, tai chưa điếc. Có lúc dạy chúng tôi học Cổ Văn, gặp phải chữ hay từ ngữ hiếm lạ, phải cầm tự điển Từ Hải tra. T́m trong Từ Hải, những chữ ấy rất nhỏ, nhỏ hơn những chữ in trên báo rất nhiều, thầy Lư nói: “Đem lại đây, tôi đọc cho các anh nghe”. Cụ lại không đeo kính, đọc không sai một chữ nào, nhăn lực tốt, bảy mươi tuổi mà con mắt như người mới ba, bốn mươi tuổi; rất đáng cho chúng ta học tập. Như vậy, chẳng những lăo nhân gia ngôn giáo (dạy bằng lời lẽ) mà c̣n thân giáo (dạy bằng cách lấy những hành vi cử chỉ làm gương)! Hơn chín mươi tuổi vẫn không cần ai săn sóc, tự ḿnh lo liệu cho ḿnh.

Lúc ấy, lũ chúng tôi hầu như không ai chẳng nói thầy nhất định phải sống đến một trăm hai mươi tuổi, một trăm ba mươi tuổi, quư vị thấy thân thể cụ [mạnh khỏe] như thế đó! Thế nhưng cụ đă đi trước, nguyên nhân mất theo cụ nói là v́ trúng độc từ thức ăn! Hai lần bị trúng độc từ thực phẩm, gây tổn hại rất lớn cho thân thể, chứ cụ không có bệnh ǵ khác. V́ thế, cụ dặn ḍ tôi: “Ăn ǵ cũng phải chú tâm cẩn thận, phải chú ư đến vấn đề vệ sinh”. Cụ bảo tôi rất nhiều lần: “Ngàn vạn lần chẳng được ăn những ǵ bán ngoài quán”. Cụ dạy rất có lư, những thứ bán ngoài quán ăn rất ngon, nhưng không hợp vệ sinh, quư vị cứ xuống bếp sẽ thấy. Ăn uống phải đơn giản, cốt sao đủ dinh dưỡng, chớ coi trọng màu sắc, hương vị quá sức. Ăn uống đơn giản, tâm  địa  thanh  tịnh, ít vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị ít tiêu hao năng lượng.

Do vậy, người tu hành trong quá khứ ngày ăn một bữa, thầy Lư cả đời ngày ăn một bữa. Cụ mỗi ngày chỉ ăn một bữa, nhưng sức làm việc của cụ bằng sức của năm người b́nh thường chúng ta. Cụ mỗi ngày ăn một bữa, lại ăn rất ít, thế là đủ rồi. Nguyên nhân nào? Ít vọng tưởng, tạp niệm, phân biệt, chấp trước, nên tiêu hao rất ít. Tôi ở cùng một chỗ với cụ, học theo cụ! Tôi cũng học ngày ăn một bữa, tôi làm như vậy được năm năm. Tôi ăn như vậy đến tháng thứ tám mới thưa với cụ, tôi nói:

- Thưa thầy! Con cũng ngày ăn một bữa.

- Bao lâu rồi?

- Tám tháng ạ!

- Thấy sao?

- Rất tốt ạ! Tinh thần, thể lực vẫn b́nh thường.

Cụ vỗ bàn:

- Nên giữ vĩnh viễn như vậy! Tốt lắm đó! Suốt cả đời chúng ta không phải cầu cạnh người khác, sống đơn giản, thâu nhập rất ít chúng ta cũng sống tự tại, thâu nhập dư dật th́ đem giúp chúng sanh khổ nạn.

Lăo nhân gia dạy tôi như vậy đó! Sau này, đến Đài Bắc giảng kinh, gặp Hàn Quán Trưởng, Hàn Quán Trưởng nói: “Không được! Thầy ngày ăn một bữa không được đâu! Chúng tôi không dám lo cho thầy, lỡ thân thể thầy không khỏe, bị bệnh, chúng tôi đảm đương sao nổi!” Do vậy, bà ta nhất định buộc tôi phải ăn ba bữa. Tốt thôi! Ba bữa th́ ba bữa, nhưng ăn ba bữa vẫn chỉ bằng ăn một bữa. V́ vậy, cho đến tận bây giờ, quư vị đều biết tôi ăn ǵ cũng ăn rất ít. Năm xưa ở Mỹ, mỗi bữa cơm, món chính là cơm hoặc ḿ, quư vị thấy tôi (người Mỹ hoặc người Tây Phương thường dùng đĩa), mỗi bữa ăn chỉ gồm hai vá cơm. Mỗi vá gần đầy một chén nhỏ, hai vá cơm, rau nhiều hơn cơm, ăn không nhiều! Sáng ăn, tối không ăn, dẫu không ăn vẫn rất mạnh khỏe, không ăn cũng được. Mọi người ép tôi ăn, tôi ăn một chút, nhất định chẳng ăn lặt vặt. Quư vị muốn giữ cho thân thể khỏe mạnh th́ phải biết đạo lư này, trọn chẳng được ăn lặt vặt!

Ở đây, quan trọng nhất là nếu tâm địa thanh tịnh, quư vị sẽ tiêu hao ít năng lượng. Nếu quư vị vọng tưởng nhiều, tạp niệm lắm, một ngày ăn ba bữa cũng không đủ. Bổ sung năng lượng không đủ, vẫn phải ăn điểm tâm mới bổ sung năng lượng được. V́ vậy, chuyện này chẳng thể miễn cưỡng, không phải ai cũng có thể tùy tiện học theo. Giống như xe hơi ngày nay vậy, xe hơi rất phổ biến, có loại hao xăng, có loại tốn ít xăng. Xe hao xăng không đổ đủ xăng sẽ không chạy được, bởi thế, nhất định phải bổ sung năng lượng. Quư vị là loại xe hao xăng th́ mỗi ngày phải ăn nhiều bữa. Quư vị thấy người khác ăn một bữa, chỉ đành hâm mộ, không thể học theo, học không được, nhất định phải hiểu đạo lư này! Thân thể con người là một cỗ máy, thực phẩm là năng lượng bổ sung. Năng lượng tiêu hao th́ chín mươi lăm phần trăm tiêu hao vào vọng tưởng, tạp niệm, phiền năo, tập khí, tiêu hao vào đó. Trên thực tế, lao tâm lẫn lao lực đều không nhiều!

Như vậy, người tu hành hiểu được đạo lư này, tâm địa thanh tịnh, mỗi ngày chỉ cần bổ sung năng lượng một chút là đủ. Quư vị thấy trong kinh, đức Phật nói La Hán bảy ngày ăn một lần, tức là tiêu hao năng lượng hết sức ít, chẳng trở ngại việc làm chút nào. Bích Chi Phật tâm càng thanh tịnh hơn nữa, nửa tháng ăn một bữa, chúng tôi thấy trong kinh nói như vậy. Điều đó nói lên điều ǵ? Chúng ta gọi đó là công phu định lực (định công), công phu định lực là mức độ thanh tịnh của cái tâm. Tâm càng thanh tịnh, tiêu hao năng lượng càng ít. Như vậy, theo bài kệ trong kinh Đại Bổn, chúng ta rất may mắn, hai câu đầu nói về thiện căn, phước đức, hai câu sau luận về nhân duyên. Chúng ta thiện căn, phước đức, nhân duyên đều đầy đủ, thế th́ nay có thể văng sanh hay không? Tùy thuộc quư vị có tinh tấn hay không. Thiện căn duy nhất trong Đại Thừa là tinh tấn!

Chướng ngại lớn nhất đối với tinh tấn là phiền năo, tập khí; bởi thế, quư vị phải buông xuống. Phiền năo chướng ngại căn bản là tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham - sân - si - mạn, tôi nói mười sáu chữ ấy. Tôi thường kính khuyên các đồng học, nếu thực sự buông mười sáu chữ này xuống được, quư vị sẽ phá được cửa ải thứ nhất, sẽ đi trên con đường Bồ Đề. Nếu không buông mười sáu chữ này xuống được, quư vị học Phật chỉ ở ngoài cửa, vẫn không bước vào cửa được! Mười sáu chữ ấy là cái cửa lớn. Sau khi bước vào cái cửa lớn ấy sẽ khác hẳn, cảnh giới khác hẳn, sau đấy quư vị mới có thể đăng đường, nhập thất. Nếu luận theo ba bậc và chín phẩm trong bốn cơi Tịnh Độ th́ vào cửa là Phàm Thánh Đồng Cư độ; tiến hơn nữa, đăng đường là Phương Tiện Hữu Dư độ, nhập thất là Thật Báo Trang Nghiêm độ. Chúng ta có thể nhập thất hay không? Câu trả lời của tôi là khẳng định, nhưng tự ḿnh phải dụng công, không ngừng buông xuống.

V́ vậy, tôi cảm tạ Chương Gia đại sư, niệm niệm chẳng quên ân đức của lăo nhân gia. Ngày đầu tiên, Ngài dạy tôi sáu chữ, tuyệt diệu thật! Hết thảy Bồ Tát thành Phật, từ sơ phát tâm đến địa vị Như Lai, tu những ǵ? Không có chi khác cả, chính là thấy thấu suốt - buông xuống, buông xuống - thấy thấu suốt. Hai phương pháp này hỗ trợ nhau, hoàn thiện nhau, buông xuống giúp thấy thấu suốt, thấy thấu suốt lại giúp cho buông xuống. Áp dụng vào hành động là bố thí. Trong ba thứ bố thí th́ Tài Bố Thí được tướng hảo (về quả, Tài Bố Thí được tướng hảo), Pháp Bố Thí được trí huệ, Vô Úy Thí được trường thọ. Ba thứ quả báo do chính ḿnh tu. Ba thứ bố thí này quyết định không cùng tận, ba thứ quả báo vô lượng vô biên, mà cũng không có cùng tận. Đạt đến quả vị Như Lai mới thực sự là viên măn. Do vậy, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn phải tu ba thứ bố thí, tu Tài Bố Thí, tu Pháp Bố Thí, tu Vô Úy Bố Thí. Trong hạnh môn, một pháp bố thí là viên măn.

Tuy Bồ Tát nói đến Lục Ba La Mật, nhưng nói thật ra, sáu Ba La Mật chỉ là bố thí. Quư vị cứ nghĩ đi: Tŕ Giới Ba La Mật và Nhẫn Nhục Ba La Mật là Vô Úy Bố Thí; Tinh Tấn Ba La Mật, Thiền Định Ba La Mật và Bát Nhă Ba La Mật là Pháp Bố Thí. Trong Bố Thí [Ba La Mật] có Tài [Bố Thí], năm thứ Ba La Mật sau mở ra Pháp Bố Thí và Vô Úy Bố Thí. Nói gộp lại là hai chữ “bố thí”. Quư vị thực sự hiểu rơ, thực sự minh bạch, sẽ tự nhiên chịu tu, sẽ chịu làm. Do b́nh thường chúng ta không hiểu đạo lư sau đây: Phiền năo của phàm phu là keo kiệt, nhỏ nhen, chẳng chịu bố thí, chẳng chịu giúp đỡ người khác, tự tư, tự lợi. Chẳng những không chịu giúp đỡ người khác, mà c̣n nghĩ cách đoạt lấy vật của người khác về tay ḿnh, đúng là tổn người, lợi ḿnh, tổn phước, chứ không phải là tu phước. Tổn phước là phước báo đang có trong mạng ḿnh lại bị tổn thất ở một mức độ lớn. Đó là v́ mê hoặc, vô tri, chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật, người ấy chẳng biết càng bố thí nhiều, đến cuối cùng phước báo lớn đến đâu? Trọn pháp giới hư không giới.

Hoàn cảnh cư trụ của chúng ta là thế giới Hoa Tạng, là thế giới Cực Lạc, những người chăm nom chúng ta là chư Phật, Bồ Tát, là Thanh Văn, Duyên Giác, c̣n chúng sanh khổ nạn là ai? Là chúng sanh trong chín pháp giới. Chúng sanh trong chín pháp giới chính là phước điền của chúng ta; chúng ta trồng phước, chúng ta giúp đỡ họ, chúng sanh trong chín pháp giới là đối tượng để ta bố thí. Trên cúng chư Phật, Bồ Tát, dưới thí hết thảy chúng sanh th́ quư vị mới đạt được phước báo viên măn, trí huệ viên măn, tướng hảo viên măn, trong Đại Thừa Phật pháp gọi là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát, tu thành tựu như vậy! Lại xem tiếp tiểu đoạn thứ ba.

“Chiêm Sát kinh vân: Tạp loạn cấu tâm, tuy tụng ngă danh, nhi bất vị văn. Dĩ bất năng sanh quyết định tín giải, đản hoạch thế gian thiện báo, bất đắc quảng đại thâm diệu lợi ích. Nhược đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại vi diệu hạnh tâm, danh đắc tương tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, năi văn thập phương Phật danh” (Kinh Chiêm Sát nói: “Tâm nhơ tạp loạn, dẫu tụng tên ta nhưng chẳng được nghe [tên ta] v́ chẳng thể sanh tín giải quyết định, chỉ đạt được thiện báo thế gian, không đạt được lợi ích sâu mầu rộng lớn. Nếu đạt đến Nhất Hạnh tam-muội sẽ thành hạnh tâm vi diệu rộng lớn, gọi là đắc tương tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn được nghe danh hiệu của mười phương chư Phật). Trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo có một đoạn giảng rất hay, kinh Chiêm Sát là kinh giảng về Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát có ba bộ kinh, nay [ngoài bộ kinh được] mọi người thường đọc tụng là Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, c̣n có kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh, bộ thứ ba là Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh. [Ba bộ này] gọi là Địa Tạng Tam Kinh. Trong kinh Chiêm Sát có một đoạn giảng về việc tŕ danh niệm Phật, nhưng là niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát. Hiện thời người tu pháp môn Địa Tạng cũng không ít, tôi đă gặp rất nhiều.

Đoạn này hết sức quan trọng, “tâm nhơ tạp loạn” nghĩa là tâm không chân thành, vọng niệm rất nhiều, chuyện vướng gan bận ruột quá nhiều, đó là tâm nhơ tạp loạn. Quư vị không buông tham - sân - si - mạn xuống được, không buông danh văn, lợi dưỡng xuống được, không buông ngũ dục, lục trần xuống được, không buông tự tư tự lợi xuống được, đó là tâm nhơ tạp loạn. Tâm như vậy dù có niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, “nhi bất vị văn” (nhưng chẳng được nghe tên ta). Cái nghe (Văn) ở đây là Văn Huệ, [người có tâm tạp loạn nhơ bẩn dẫu xưng niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, nghe tên Ngài, nhưng cái “nghe” ấy] không phải là trí huệ, không phải là chân tu. V́ sao vậy? Là v́ “bất năng sanh quyết định tín giải” (chẳng thể sanh tín giải quyết định). Nói cách khác, quư vị không tin, không nguyện, ḷng tin không chân thật, như cổ nhân nói là “lộ thủy đạo tâm” (đạo tâm như nước trong giọt sương), ḷng tin không kiên cố, tín tâm không chân thật.

Dẫu niệm danh hiệu Phật hay niệm danh hiệu Bồ Tát, “đản hoạch thế gian thiện báo” (chỉ đạt được thiện báo thế gian), tốt lành cái miệng mà thôi! “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn, hăm phá hầu lung diệc uổng nhiên” (miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, rách toạc cổ họng uổng công thôi). Cổ đức đă nói hai câu ấy. Nói “rách toạc cổ họng” uổng công là v́ sao? V́ quư vị chẳng thể văng sanh! Uổng công! Thế nhưng có phước báo thế gian là điều chắc chắn! Niệm danh hiệu Phật hay niệm danh hiệu Bồ Tát sẽ đạt được phước báo thế gian, nhưng không thoát khỏi tam giới, không thoát luân hồi, chẳng thể văng sanh. Như vậy, quư vị chỉ đạt được sự tốt đẹp như vậy thôi. Một đời này liễu sanh tử, thoát luân hồi, xuất tam giới, vẫn chắc chắn không đạt được! V́ thế, “bất đắc quảng đại thâm diệu lợi ích” (chẳng đạt được lợi ích sâu mầu rộng lớn), vấn đề là ở chỗ này! Lợi ích sâu mầu rộng lớn là liễu sanh tử, thoát luân hồi, thành Phật đạo, đó là lợi ích sâu mầu rộng lớn. Tâm nhơ tạp loạn sẽ không đạt được lợi ích ấy, chỉ có thể đạt được phước báo thế gian.

“Nhược đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại vi diệu hạnh tâm” (Nếu đạt được Nhất Hạnh Tam Muội sẽ thành hạnh tâm rộng lớn vi diệu), Nhất Hạnh tam-muội là ǵ? Dưới đây lại giải thích. Cổ đức Trung Quốc dạy người ta “thâm nhập một môn”. Pháp thế gian cũng không ngoại lệ! Nói đến chuyện đi học, thời cổ thầy dạy tṛ đọc sách, khóa tŕnh là một môn, chẳng giống với trường học hiện thời. Trường học hiện thời bày ra quá nhiều lớp, lớp thứ nhất thầy Giáp đến dạy, lớp thứ hai lại đổi thầy khác, thầy Ất đến dạy, khóa tŕnh (nội dung môn học) khác nhau. Cổ nhân Trung Quốc không làm như thế, ngày xưa chỉ có một thầy. Thầy ở trường tư chỉ có một vị, lúc dạy học chỉ là một môn học. Học xong môn ấy mới được học môn thứ hai, quyết định chẳng được học hai môn cùng lúc. V́ sao? Loạn, liền không đạt được hiệu quả. Nhất Hạnh tam-muội trong nhà Phật rất giống như vậy. Do vậy, quư vị chỉ có thể học một bộ kinh.

Lúc chúng tôi học kinh giáo với thầy Lư, lăo nhân gia dạy chúng tôi bằng phương pháp xưa lưu truyền từ cổ, tức là học một bộ kinh. Học hiểu một bộ mới được phép học bộ thứ hai. Thế nào là học hiểu? Phải lên đài giảng, lăo nhân gia ngồi dưới nghe, nghe đến khi lăo nhân gia gật đầu: “Anh [giảng] không sai lầm”, th́ mới tính là học xong bộ kinh ấy. Nói cách khác, quư vị không lên đài giảng một lần th́ cụ không thừa nhận, không đồng ư: “Anh vẫn chưa học xong bộ kinh ấy, vẫn phải tiếp tục học; chẳng cho phép anh được học bộ thứ hai”.

V́ thế, tôi ở Đài Trung mười năm, trong mười năm học năm bộ kinh. Nói thật ra, năm bộ kinh đó học nửa năm là xong, thông thường một học kỳ ở Phật Học Viện đă học xong. Yêu cầu của thầy chúng tôi là phải giảng được th́ mới là thực sự hiểu được, giảng cho thầy nghe coi như khảo thí. Chúng tôi không có văn tự, không thi viết, cũng không thi vấn đáp. Cứ đem kinh ấy giảng cho thầy nghe một lượt, thầy nghe vừa ư gật đầu là quư vị đă học hoàn tất bộ kinh ấy, mới được chọn bộ kinh thứ hai. Điều này giống như Nhất Hạnh tam-muội, tức là chuyên tâm, “thâm nhập  một  môn, trường  thời  huân  tu” th́ quư vị mới ḥng thành tựu

“hạnh tâm vi diệu rộng lớn”.

“Hạnh tâm vi diệu rộng lớn”, quư vị nh́n vào văn tự cũng hiểu được ư nghĩa: Tâm lượng rộng mở, trí huệ hiện tiền, trí huệ vi diệu, tâm lượng rộng lớn. Trong Đại Thừa Phật pháp, Phật, Bồ Tát thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Khi mẫu thân của Hồ cư sĩ văng sanh, tôi có viết mấy chữ gởi cho bà ta: “Tịnh tâm biến pháp giới”,tịnh” () là thanh tịnh, tâm thanh tịnh trọn khắp pháp giới, tâm tịnh trọn khắp pháp giới. “Thiện ư măn Sa Bà”: Thiện niệm, thiện hạnh của chúng ta phải đầy khắp thế giới Sa Bà. Thực sự làm được như vậy! Bà Hồ bảo tôi: “Mẹ con cả đời thích giúp đỡ người khác”. Tốt lắm! Thiện ư phải tràn ngập cơi Sa Bà. Quan trọng nhất là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh phải trọn khắp pháp giới, “tâm thanh tịnh trọn pháp giới” là huệ, trí huệ viên măn, “thiện ư đầy Sa Bà” là phước báo, phước huệ song tu. Đấy chính là “tâm hạnh vi diệu rộng lớn”.

“Danh đắc Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn” (gọi là được Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn), không thực sự đạt được, chỉ gần giống với Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thực sự đạt được Vô Sanh Pháp Nhẫn th́ trong Đại Thừa phải là từ Thất Địa trở lên. Thất Địa Bồ Tát là Hạ Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa Bồ Tát là Trung Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Cửu Địa Bồ Tát là Thượng Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, cao lắm! Chỉ “tương tự” cũng đă khá khả quan, tâm định rồi, đối với hết thảy pháp không phân biệt, không chấp trước, đó là “tương tự”. Vô Sanh Pháp Nhẫn thực sự th́ vọng tưởng gần như đă đoạn hết. Lúc “tương tự” th́ vọng tưởng vẫn c̣n, những vọng tưởng ấy bọn phàm phu ta không có cách ǵ nhận biết được, chúng rất vi tế, phải đạt đến Thất Địa Bồ Tát mới biết! Công phu định lực ấy sâu đến nỗi chúng ta không có cách ǵ tưởng tượng được.

Nay chúng tôi thấy rất nhiều vị giáo sư đại học trong giới học thuật rất có hứng thú đối với những công năng đặc dị và những sự kiện từ những chiều không gian bất đồng (chúng ta gọi là “linh giới”), người nghiên cứu rất nhiều. Thế nhưng chúng ta biết rất rơ ràng, những cảnh giới đó c̣n chưa bén gót cảnh giới của bậc Tu Đà Hoàn, nhưng cũng có chỗ hay, nói chung là mở rộng tâm lượng chính ḿnh, mở rộng tầm mắt, vượt ngoài khoa học, vượt ngoài triết học, đó là một hiện tượng tốt, kể như là đột phá cả khoa học lẫn triết học. Những thành tựu của họ mới chỉ là tiếp xúc ở ṿng ngoài, ngay cả cảnh giới [thấp nhất] là cảnh giới của bậc Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn, họ c̣n chưa nhận biết được.

Cảnh giới của bậc Tu Đà Hoàn là không  ngă  tướng, không  nhân tướng, không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng; trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường dạy, [bậc Tu Đà Hoàn] đă đoạn sạch tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc thuộc tam giới. Những kẻ có công năng đặc dị biểu diễn rất nhiều cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nhưng họ chưa đoạn được tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, tâm địa họ chỉ thanh tịnh hơn mọi phàm nhân một chút. Đúng như Ấn Quang đại sư thường nói: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính được hai phần lợi ích”. Điều này bọn phàm nhân chúng ta có thể làm được. Chúng ta có mấy phần chân thành, quả thật sẽ được mấy phần công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Thế nhưng những công đức lợi ích ấy là tương tự, chưa phải là chân thật.

Thế nào là “tương tự?” Tương tự có nghĩa là tuy đạt được, nhưng cũng dễ dàng bị mất đi; c̣n thực sự đạt th́ sau khi đạt được, sẽ không bị mất đi. Do vậy, tuy Tu Đà Hoàn là Tiểu Thừa Sơ Quả, họ rất phi phàm, họ đạt Vị Bất Thoái. Họ đạt được Vị Bất Thoái, nhưng địa vị ấy không bị mất đi. Những chúng sanh trong tam giới lục đạo dù đạt được rồi lại bị mất đi, không có cách ǵ thoát ly luân hồi, chẳng thể liễu sanh tử. Tuổi thọ hết, xả thân rồi lại thọ sanh, quên sạch những chuyện đời trước, bị mê khi cách ấm, bị mất đi, không thể ǵn giữ vĩnh viễn. Bậc Tu Đà Hoàn có năng lực ấy, Ngài có thể ǵn giữ [những ǵ đă tu chứng] nên bảy lần sanh vào cơi trời hay nhân gian, quyết định chẳng đọa trong tam đồ, bởi thế, gọi là Vị Bất Thoái!

Thẳng cho đến khi chứng đắc quả A La Hán, A La Hán lại nâng cao lên thành Bồ Tát. Bồ Tát chứng đắc Hạnh Bất Thoái, quyết định chẳng lui xuống thành Tiểu Thừa, vĩnh viễn ǵn giữ được (nói theo cách người hiện tại) ḷng hy sinh phụng hiến đối với hết thảy chúng sanh khổ nạn, dẫu phải bỏ thân mạng của chính ḿnh cũng không tiếc. Do vậy, thế gian lẫn xuất thế gian không ai chẳng tán thán: “Có thể bỏ ḿnh v́ người!” Tiểu Thừa không như vậy! Tiểu Thừa không có tâm lượng lớn lao như thế, Tiểu Thừa coi trọng tự tu cho chính ḿnh, v́ họ cảm thấy chúng sanh rất khó độ: Ta có hảo ư giúp đỡ họ, họ lại dùng ác ư đối đăi ḿnh! Do vậy, người Tiểu Thừa bị ngă ḷng v́ điều này. Người Tiểu Thừa giáo hóa người khác: Tôi dùng thiện ư đối với anh, anh dùng thiện ư đáp lại, bèn rất hoan hỷ dạy dỗ. Nếu quư vị không tiếp nhận, có ác ư đối với họ, họ bèn thoái chuyển, cũng như chẳng muốn gặp mặt quư vị nữa.

Không như Đại Thừa Bồ Tát, Đại Thừa Bồ Tát có tâm lượng từ bi sâu nặng. Chúng sanh có ác ư đối với họ, họ vẫn dùng thiện ư đáp trả; ắt có ngày nào đó, chúng sanh sẽ quay đầu, sẽ giác ngộ, Bồ Tát có tâm nhẫn nại chờ đợi, nhất định chẳng buông bỏ. V́ thế, Đại Thừa Bồ Tát đáng được mọi người tôn kính, đáng quư lắm! Bồ Tát ở mức độ cao hơn nữa bèn nhập cảnh giới của Phật, gọi là Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát nhập cảnh giới của Phật, thực sự thông đạt và hiểu rơ chân tướng của vũ trụ nhân sinh; lúc ấy, thực sự có thể nói là chỉ sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo. Nhân vật đại biểu bậc nhất cho Trung Quốc là Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền tông. Quư vị thấy đó, lúc Lục Tổ nói: “Trong tâm đệ tử thường sanh trí huệ”, chính là Ngài đă nhập cảnh giới của Phật, là Pháp Thân Bồ Tát! Tối thiểu phải là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo mới không sanh phiền năo nữa. Không sanh phiền năo chắc chắn không sanh chấp trước, chắc chắn không sanh phân biệt. Thực sự đoạn được những chấp trước, phân biệt đối với hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật thuộc thế gian lẫn xuất thế gian th́ mới nhập được cảnh giới này. Huệ Năng đại sư đúng là bậc tái lai, chẳng phải là phàm nhân. V́ sao? Mới hai mươi bốn tuổi đă nhập được cảnh giới này!

Chúng ta thấy trong những tổ sư, đại đức các đời; có những vị ba, bốn mươi tuổi mới nhập cảnh giới này; có người năm, sáu mươi tuổi mới nhập cảnh giới này; có người bảy, tám mươi tuổi mới nhập cảnh giới này. Căn tánh, phước đức, nhân duyên mỗi người khác biệt. Trong Tông Môn cũng có một công án rất nổi tiếng: “Triệu Châu bát thập do hành cước”, [nghĩa là] ngài Triệu Châu tám mươi tuổi vẫn c̣n đi khắp nơi tầm sư phỏng đạo. V́ sao? Chưa nhập cảnh giới. Chưa nhập cảnh giới th́ vẫn phải nghiêm túc nỗ lực tu học, đúng là phải tham học. Nhập cảnh giới rồi th́ không cần nữa, đă khế nhập cảnh giới rồi; nếu chưa nhập cảnh giới th́ phải tham học. Đây chính là chỗ khó khăn trong việc tu học Phật pháp; do vậy, tổ sư, đại đức, Phật, Bồ Tát mới khuyên chúng ta chuyên tu Tịnh Độ, thành tựu dễ dàng. Đạo lư là đây! A! Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

Tập 35

 

      Chư vị đồng học!

      Chúng tôi giảng tiếp phần trước. Phần trước giảng phần nói về kinh Chiêm Sát có một đoạn, câu cuối cùng là: “Nhược đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại vi diệu hạnh tâm, danh đắc Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, năi văn thập phương Phật danh” (Nếu đạt được Nhất Hạnh tam-muội, sẽ thành tựu tâm hạnh vi diệu rộng lớn, gọi là được Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn nghe danh hiệu của mười phương Phật). Câu này có ư nói: Nhất Hạnh tam-muội chính là danh hiệu của mười phương chư Phật. Chúng ta phải đặc biệt lưu ư những câu nói này của Ngẫu Ích đại sư. Thế nào là Nhất Hạnh tam-muội? Tiếp theo đây, chúng tôi giải thích đơn giản:

      “Nhất Hạnh tam-muội” chính là Niệm Phật tam-muội, nó c̣n gọi là Nhất Tướng tam-muội. Trong tương lai, nếu quư vị thấy những danh từ sau đây trong kinh luận: Nhất Hạnh tam-muội, Nhất Tướng tam-muội th́ phải biết đó đều là Niệm Phật tam-muội. Nhất Hạnh: Một hạnh là hết thảy hạnh, một tướng là hết thảy tướng, đều luận về Niệm Phật. Niệm vị Phật nào? Chuyên niệm A Di Đà Phật nhất tâm bất loạn! Nhất định phải hiểu ư nghĩa này. Không riêng ǵ pháp xuất thế, mà pháp thế gian cũng không ra ngoài lệ ấy. Nói đến thành tựu th́ quan trọng nhất chính là “một môn thâm nhập”, tinh tấn không lười biếng, trường thời huân tu, không ai chẳng thành tựu!

      Trong pháp xuất thế gian, pháp môn Niệm Phật thù thắng khôn sánh. V́ thế, kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta: “Phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”. Một dạ chuyên niệm chính là Nhất Hạnh tam-muội, hay Nhất Tướng tam-muội, kinh Di Đà gọi nó là “nhất tâm bất loạn”, thành tựu của nó chính là “tâm hạnh vi diệu rộng lớn”, tiêu chuẩn niệm Phật vốn là như thế. Do vậy, không phát Bồ Đề tâm. Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư giảng Bồ Đề tâm rất hay: Nó chính là ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha. Ḷng tin ấy chắc chắn không hoài nghi, nguyện thiết tha là nguyện vọng khẩn thiết, chỉ có nguyện vọng ấy, mọi nguyện cầu khác đều buông bỏ hết! Không cầu danh văn, lợi dưỡng, không cầu sanh lên trời, không cầu phước báo, chỉ cầu văng sanh thế giới Cực Lạc, chỉ cầu thân cận A Di Đà Phật. Tín nguyện ấy chính là Vô Thượng Bồ Đề tâm, lại c̣n thêm “một dạ chuyên niệm”. Một dạ chuyên niệm là đúng, quư vị thấy đó: Ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh đều đầy đủ. Tiêu chuẩn Niệm Phật vốn là như thế! Lại xem tiếp đoạn dưới:

      “Phật độ chúng sanh, bất giản oán thân, hằng vô b́ quyện” (Phật độ chúng sanh, không phân biệt oán - thân, luôn không mệt mỏi). Đối với Phật, nhất định chẳng được dùng phàm t́nh để suy lường. Khi chúng ta chưa tiếp xúc Phật pháp, không nhận biết Phật, Bồ Tát, không hiểu rơ, không khỏi nẩy sanh những sự hiểu lầm. Lại c̣n nghe theo, tin tưởng những lời ngoa truyền, chê người khác mê tín, chê người khác [sùng bái] ngẫu tượng[2], hữu ư hay vô ư khinh miệt người khác, thậm chí lăng nhục, phá hoại, [tưởng là] phá trừ mê tín! Tội lỗi rất sâu, vậy th́ Phật, Bồ Tát có trách móc hay chăng? Có vẫn độ người như vậy hay chăng? Đó là suy nghĩ của phàm phu. Chúng ta hiểu lầm rồi, chúng ta thấy cũng sai bét rồi! Phật, Bồ Tát chắc chắn không thấy ân hay oán, luôn luôn chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi đối với hết thảy chúng sanh.

Quư vị có muốn giết hại các Ngài (đương nhiên Phật, Bồ Tát không ở trong đời, làm sao giết hại được? Hiện tại chỉ là tượng Phật bằng đất nặn, gỗ khắc, quư vị mang ḷng nóng giận, mang ác niệm hủy phá th́ cũng giống như là sát hại Phật, Bồ Tát), Phật, Bồ Tát vẫn không trách móc quư vị! Chỉ cần một niệm quay đầu. Một niệm quay đầu chính là thực sự sám hối, biết lỗi trước của ḿnh. Trước kia, do vô tri nên gây chuyện sai trái, nay con hồi đầu, nương tựa đức Phật, con thực sự tin tưởng, con nguyện sanh về Tịnh Độ th́ Phật, Bồ Tát vẫn đoái hoài, chứ không ghét bỏ! Bởi thế, các Ngài không phân biệt là oan gia đối đầu hay người thân yêu. Không phân biệt như thế, không chấp trước như thế, một mực chân thành, b́nh đẳng, yêu thương, che chở chúng sanh. Chỉ cần quư vị chịu tiếp nhận, Phật, Bồ Tát đều vui vẻ giúp đỡ, thành tựu cho quư vị, nâng đỡ quư vị, hy vọng trong một đời này, quư vị sẽ vượt thoát luân hồi lục đạo, vĩnh viễn thoát khỏi biển khổ (luân hồi là biển khổ), văng sanh thế giới Cực Lạc, thù thắng khôn sánh! Phật, Bồ Tát hộ niệm chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh vĩnh viễn không mệt mỏi. Như mọi người chúng ta hay nói, các Ngài có tinh thần cao, thể lực tốt.

Trong mười phương thế giới, chúng sanh vô lượng vô biên, chỉ cần khởi tâm động niệm cầu Phật, Bồ Tát giúp đỡ, Phật, Bồ Tát lập tức hiện thân, cảm ứng đạo giao. Phật, Bồ Tát có năng lực ấy, chúng ta sanh về thế giới Cực Lạc cũng có năng lực ấy, có thể hóa thân. Đấy chính là thần thông, tức Thần Túc Thông. Một thân có thể biến ra vô lượng vô biên thân, chỗ nào có cầu, chúng ta bèn phân thân, biến một thân sang đó. Cái thân biến hiện ấy lại có thể biến hóa tùy theo ư niệm của chúng sanh. V́ thế, biến ra rất nhiều thân không giống nhau. Quư vị đă đọc phẩm Phổ Môn, ắt biết Quán Thế Âm Bồ Tát có ba mươi hai ứng thân, tức là ba mươi hai thứ thân phận bất đồng, mỗi một loại thân cũng không giống nhau. Đấy không phải là Phật, Bồ Tát có ư nghĩ, có phân biệt, có chấp trước đâu nhé! Phật, Bồ Tát không phân biệt, không chấp trước, mà là hiện tướng tùy theo ư niệm của chúng sanh. Đấy chính là do chúng sanh duy thức sở biến, nguyên do là như vậy.

Giống như tiến sĩ Giang Bổn Thắng làm thí nghiệm kết tinh nước, ông ta làm thí nghiệm suốt tám chín năm. Mỗi ngày dùng kính hiển vi quan sát, từ trước đến giờ chưa hề có hai mẫu nước kết tinh hoàn toàn giống hệt nhau. Như thế là thế nào? Từ trước đến nay chưa bao giờ có hai ư niệm tương đồng! Ư niệm của chúng ta sanh diệt trong từng sát-na, mỗi một niệm đều chẳng giống nhau. Chúng ta nói “giống nhau” th́ “giống nhau” là ǵ? Là tương tự! Tuyệt đối chẳng hoàn toàn giống nhau. V́ vậy, cảnh giới biến hiện bởi ư niệm không có cảnh nào giống nhau. Nếu hiểu đạo lư và sự thật ấy th́ sẽ tùy loại hóa thân, tùy tâm ứng lượng (tùy theo tâm của đối tượng được giáo hóa mà ứng với khả năng tiếp nhận của người ấy), cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn!

V́ sao các Ngài chẳng cảm thấy mệt mỏi? V́ không chấp tướng. Chư Phật, Bồ Tát không có ngă tướng, không có nhân tướng, không có chúng sanh tướng, không có thọ giả tướng, ai mệt nhọc đây? V́ sao chúng ta làm việc cảm thấy mệt mỏi? V́ chấp trước có ngă, chấp trước cái thân này là ta, công việc nhiều quá bèn cảm thấy mệt mỏi. Phật, Bồ Tát không chấp trước thân này là ta, thân là ǵ? Thân là cỗ máy. Nay nhân loại phát minh ra máy móc, sử dụng máy móc rất phổ biến, máy móc không biết mệt mỏi. Máy móc đơn giản nhất chính là cái đồng hồ; quư vị thấy cái đồng hồ chạy suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ không ngừng. Nay đồng hồ chạy bằng pin, đến khi hết pin mới ngừng. Gắn pin mới vào lại chạy tiếp, vĩnh viễn không mệt mỏi, đạo lư là như vậy đấy!

Thân thể của Phật, Bồ Tát giống như cái đồng hồ, v́ hết thảy chúng sanh phục vụ nhất định không mệt mỏi. Nếu các Ngài chấp trước thân này là ta, ắt sẽ mệt mỏi. Các Ngài không chấp trước thân này là ta, hóa ra vô lượng vô biên thân, đều v́ hết thảy chúng sanh phục vụ. Chỉ cần chúng sanh cần đến, Ngài bèn hiện thân, bèn đến phục vụ. Đúng là vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Chẳng những không chấp tướng, mà ngay cả ư niệm cũng không dính mắc, vô ngă kiến, vô nhân kiến, vô chúng sanh kiến, vô thọ giả kiến, không phân biệt. Vô Tướng là không chấp trước. Các Ngài không phân biệt, không chấp trước, cho nên vĩnh viễn không mệt, không nhọc. Ba câu này vạch trần sự nghiệp độ sanh của Phật. Đoạn kế tiếp giảng về cảm ứng.

“Cẩu văn Phật danh, Phật tất hộ niệm, bất luận hữu tâm, vô tâm, tín dữ bất tín, giai thành duyên chủng” (Chỉ cần nghe tên Phật, Phật ắt hộ niệm, bất luận hữu tâm, vô tâm, tin hay không tin, đều thành duyên chủng). Trong đoạn này, chúng ta thấy chữ Cẩu (), nếu nói theo văn Bạch Thoại là “chỉ yếu” (只要: chỉ cần). Chỉ cần quư vị nghe được danh hiệu Phật, chỉ cần quư vị thấy được tượng Phật, bất luận là h́nh vẽ hay là tượng Phật bằng đất nặn, gỗ khắc, chỉ cần quư vị trông thấy tượng Phật, nghe danh hiệu Phật đă là có duyên cùng Phật, Phật sẽ hộ niệm quư vị. Kinh Phật nói “hộ niệm”, dân gian thường nói là “bảo hựu”, nghĩa là Phật che chở, ban phước, người thế gian gọi là “quan hoài” (quan tâm, nhớ nghĩ), Phật, Bồ Tát quan hoài quư vị. Quư vị từng trông thấy h́nh tượng Ngài, từng được nghe danh hiệu Ngài, “bất luận hữu tâm, vô tâm”, vô tâm là ngẫu nhiên, cũng bất luận tin hay chẳng tin. Có những người, nhất là những người tin vào tôn giáo khác, trông thấy tượng Phật, nghe đến danh hiệu Phật, chắc chắn không tin tưởng, thậm chí c̣n hủy báng, nói là mê tín. Anh chê là mê tín, nhưng Phật vẫn bảo hựu anh, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, “giai thành duyên chủng” (đều thành duyên chủng). Chúng ta chẳng thể không biết điều này, vô ư kết duyên cùng Phật, chuyện này rất nhiều!

Do đây biết rằng: Phật kết duyên với chúng sanh, nói thật ra, rộng lớn chẳng hề có bờ mé. Thế nhưng để Phật kết duyên với chúng sanh th́ cũng cần phải tạo Tăng Thượng Duyên cho chúng sanh. Có rất nhiều người trông thấy tượng Phật là do v́ lẽ nào? Đương nhiên là phải có người tạo tượng Phật cho người khác thấy. Nếu ở chỗ này không có người tạo một bức tượng Phật th́ người ở đây từ trước đến nay chưa hề trông thấy tượng Phật. Do vậy, những hàng đệ tử Phật chúng ta có nghĩa vụ tạo tượng Phật! Hiện tại ở Trung Quốc, ở ngoại quốc có rất nhiều chỗ dựng tượng Phật lớn; chúng ta phải biết, dựng những tượng lớn ấy có công đức ở chỗ nào? Công đức là như ở đây nói: “Cẩu văn Phật danh, Phật tất hộ niệm, bất luận hữu tâm, vô tâm, tín dữ bất tín, giai thành duyên chủng” (Chỉ cần nghe danh hiệu Phật, Phật ắt hộ niệm, bất luận hữu tâm, vô tâm, tin hay không tin, đều thành duyên chủng), tạo Tăng Thượng Duyên cho hết thảy chúng sanh!

Đặc biệt là những nơi du lịch, văn cảnh, những nơi có người mỗi ngày từ các nơi, các quốc gia đến thăm viếng ngoạn cảnh, bất luận tin hay không tin, họ trông thấy tượng Phật, nghe có người niệm Phật ở đó, nghe được danh hiệu Phật th́ họ sẽ có duyên với Phật. Đúng như câu nói: “Nhất lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (Vừa thoảng qua tai, vĩnh viễn thành hạt giống đạo). Khi nào duyên chín muồi sẽ đắc độ. Thế nào là chín muồi? Có thể tin, có thể nguyện, có thể y giáo phụng hành, đó là chín muồi. Nay duyên phận giữa ta và Phật chín muồi, chẳng phải là ngẫu nhiên; nhiều đời, nhiều kiếp thấy tượng Phật, nghe danh hiệu Phật, cũng là có khi tin, có khi không tin, hữu tâm, vô ư, trong quá khứ chúng ta là như vậy đó. Trong một đời này, duyên chín muồi, cho nên trông thấy tượng Phật, nghe danh hiệu Phật, bèn thực sự tin tưởng, thực sự hiểu rơ, hoan hỷ học theo đức Phật. Chúng ta xem tiếp mấy câu cuối cùng.

“Phật từ bất khả tư nghị, danh hiệu công đức bất khả tư nghị, đích thị nan tín chi pháp” (Ḷng Từ của Phật chẳng thể nghĩ bàn, công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn, đích thực là pháp khó tin). Ở đây nói lên ba điều:

1) Ḷng từ bi của Phật chẳng thể nghĩ bàn, bọn lục đạo chúng sanh ta không có cách ǵ tưởng tượng được nổi. Phật từ bi, khoan dung, tha thứ, rộng răi, bao dung chẳng thể nghĩ bàn!

2) Danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn: Quư vị thấy đó, hết thảy chúng sanh bất luận hữu ư hay vô ư, tin hay không tin, nghe đến danh hiệu Phật, bèn được Phật hộ niệm, có duyên với Phật. Công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn!

3) Câu cuối cùng: [Pháp này] xác thực là pháp khó tin.

Trong một đời này, chúng ta hiểu rơ, thấu suốt, cho nên đem Phật pháp giới thiệu cùng hết thảy chúng sanh. Dùng cách thức nào? Dùng cách niệm danh hiệu Phật. Nay khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta dùng máy niệm Phật chạy pin (battery), thâu tiếng niệm A Di Đà Phật vào “tinh phiến” (IC)[3]. Cái máy niệm Phật ấy niệm Phật suốt hai mươi bốn tiếng không mệt mỏi. Tiếng niệm Phật phát ra, chỉ cần có người nghe được, bất kể người ấy tin hay không tin, bất luận hữu tâm hay vô tâm, thảy đều gieo chủng tử Phật, thảy đều có duyên với Phật.

Nhất là trong năm nay, đài truyền h́nh Hoa Tạng của chúng ta ra mắt từ ngày Nguyên Đán, giảng kinh, niệm Phật hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Mỗi đoạn kinh văn giảng xong, lại niệm Phật hai mươi phút, phát ra toàn thế giới. Những ai có duyên? Người tiếp thâu hay xem nghe là người có duyên. Mỗi một khi tiếp thâu, người xem nghe tự ḿnh xem, người bên cạnh cũng vô ư hay hữu ư, ngẫu nhiên nghe được, đều tạo thành chủng tử Phật, gieo chủng tử Phật vào A Lại Da Thức, công đức vô lượng vô biên, chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, trong kinh này, đức Thế Tôn nói kinh này là pháp khó tin. Trong tập sách Tịnh Ngữ, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư nói: Nan tín, nan tín, chân nan tín” (Khó tin, khó tin, thật khó tin!), dùng cả ba chữ Nan. Khó tin mà chúng ta có thể tin tưởng được, thật hết sức đáng quư. Lại xem tiếp đoạn dưới.

“Văn kinh, thọ tŕ, bất cẩn chư Phật hộ niệm, nhân nhân giai đắc viên chứng tam Bất Thoái, niệm niệm thú hướng Phật quả diệu giác dă” (Nghe kinh, thọ tŕ, không chỉ được chư Phật hộ niệm, mà ai nấy c̣n đều được viên chứng ba thứ Bất Thoái, niệm niệm hướng đến Phật quả diệu giác). Câu này nói đến cái hay của việc nghe kinh thọ tŕ, niệm Phật, lợi ích cũng chẳng thể nghĩ bàn. “Nghe kinh” là nghe bộ kinh này. Từ cổ đến nay, kinh Di Đà được rất nhiều người giảng, v́ sao? V́ công đức lợi ích thù thắng khôn sánh; không chỉ pháp sư xuất gia, những pháp sư giảng kinh cả đời chưa chắc đă giảng những kinh khác, nhưng kinh A Di Đà nhất định phải giảng. Chẳng cần biết là pháp sư thuộc tông hay phái nào, hễ là pháp sư giảng kinh, chắc chắn trong đời vị đó phải từng giảng kinh Di Đà. Nếu quư vị hỏi vị ấy có duyên cùng Tịnh Độ hay không? Đương nhiên là kết duyên! Chẳng những kết duyên, mà giảng kinh này c̣n là kết duyên rất sâu. Dẫu một đời này chẳng nghĩ đến chuyện văng sanh, ngày nào đó duyên chín muồi, chắc chắn sẽ văng sanh thế giới Cực Lạc, đó là đạo lư nhất định!

Những pháp sư chuyên tu Tịnh Độ, nhất định cả đời không chỉ giảng kinh Di Đà một lần. Trong quá khứ, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giảng kinh thuyết pháp tại Đài Trung suốt ba mươi tám năm, trong ba mươi tám năm ấy cụ giảng kinh Di Đà sáu lần. Mười mấy năm qua, kể từ sau khi thầy Lư văng sanh, các đồng học trong ngoài nước xin tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ, tôi giảng hơn mười lần. Lần giảng thứ mười một gần đây nhất là giảng tại Tân Gia Ba; lần này, chúng tôi không bị thời gian hạn chế, cứ mỗi lần về Tân Gia Ba tôi lại tiếp tục giảng, cho nên giảng rất tường tận, so ra giảng kỹ càng hơn những lần trước. Tôi cũng đă giảng kinh Di Đà mấy lượt, tôi giảng Yếu Giải rồi giảng Sớ Sao, [đem những tác phẩm ấy] giảng bằng văn Bạch Thoại. Mỗi một lượt cảm nhận khác nhau, cứ mỗi lần lại [có ấn tượng] sâu đậm hơn lần trước, cảnh giới hoàn toàn chẳng tương đồng.

Cuốn Di Đà Yếu Giải Nghiên Tập Báo Cáo này được giảng trong khóa giảng đại chuyên Phật học. Do v́ thời gian nghe kinh của các học sinh bị hạn chế nên bản báo cáo ấy giảng mấy ngày là xong? Bảy ngày! Mỗi ngày giảng hai tiếng. Giảng xong trong mười bốn tiếng đồng hồ! Lần này, ở đây chúng tôi cũng dùng bản Báo Cáo cũ như lần trước, nhưng giảng tường tận, không quá tường tận, chỉ là so với lần giảng trong khóa Đại Chuyên tỉ mỉ hơn một chút, tốn không ít thời gian, nhiều hơn mười bốn giờ. Như vậy, “nghe kinh, thọ tŕ”, chúng ta hữu duyên nghe được bộ kinh này, nghe xong sanh tâm hoan hỷ, lại có thể tiếp nhận, tiếp nhận những phương pháp, lư luận, cảnh giới được giảng trong kinh, hay lắm! Chứng tỏ quư vị thiện căn, phước đức đă chín muồi nên quư vị có thể tiếp nhận, có thể duy tŕ.

Tŕ” là ǵ? Nay ta gọi “tŕ” là áp dụng vào cuộc sống thường nhật của chính ḿnh, áp dụng vào công việc của chính ḿnh, vào cách xử sự, đăi người, tiếp vật. Bộ kinh này có tác dụng đối với tư tưởng, kiến giải, hành vi của chúng ta, đó gọi là Thọ Tŕ, là nhập vào cảnh giới của kinh A Di Đà. Bất kể quư vị nhập sâu hay cạn, thời gian dài hay ngắn, đều được chư Phật hộ niệm. Ư nghĩa của chữ “chư Phật” phải được hiểu nước đôi, ở phần trên chúng tôi đă nói rồi, kinh nói “chư Phật” là chỉ A Di Đà Phật. A Di Đà Phật đă hộ niệm quư vị th́ mười phương chư Phật không vị nào chẳng hộ niệm quư vị. V́ sao? Mỗi một vị Phật đều tôn kính A Di Đà Phật, tôn trọng A Di Đà Phật, khen ngợi A Di Đà Phật, nên đệ tử của A Di Đà Phật được hưởng lây! Bất luận đến thế giới của đức Phật nào, vị Phật nào trông thấy đệ tử của A Di Đà Phật cũng đặc biệt tiếp đăi, ai nấy cùng có tấm ḷng này, tâm cùng một lư này. Không chỉ là được chư Phật hộ niệm, phần sau lại c̣n cho biết cái điều tốt lành lớn lao hơn nữa:

“Nhân nhân giai đắc viên chứng tam Bất Thoái” (Ai nấy đều được viên chứng ba thứ Bất Thoái), nhưng ở đây, phải có điều kiện. Điều kiện chính là phải đầy đủ “ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, một dạ chuyên niệm”. Nay quư vị chưa văng sanh, vẫn c̣n ở trong thế gian này, dẫu ở trong thế gian này, nhưng tự ḿnh đă chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái mà chính ḿnh không biết! Tuy chính ḿnh không biết, nhưng quả thật đă thành tựu. V́ sao? V́ quư vị nhất định văng sanh. Văng sanh Cực Lạc thế giới là quư vị viên chứng ba thứ Bất Thoái. V́ vậy, chỉ cần quư vị nhất định được văng sanh ngay trong một đời này th́ khác nào quư vị đă viên chứng ba thứ Bất Thoái ngay trong hiện tại! Ư nghĩa là như vậy đó.

Ba thứ Bất Thoái này chẳng dễ ǵ đạt được, nhất là viên chứng! “Viên” hết sức khó được! Nếu nói quư vị chứng ba thứ Bất Thoái th́ Sơ Trụ Bồ Tát thuộc Viên Giáo đă chứng được, nhưng không viên. Địa vị nào mới có thể gọi là Viên? Luận trên sự thật, Đẳng Giác Bồ Tát mới là Viên. Thực sự chẳng thể nghĩ bàn! Thật là pháp khó tin! Nếu quư vị nới rộng ư nghĩa chữ Viên một chút, mở rộng điều kiện một chút th́ Tịch Diệt Nhẫn là Viên. Hạ Phẩm Tịch Diệt Nhẫn là Pháp Vân Địa Bồ Tát, Đẳng Giác là Trung Phẩm Tịch Diệt Nhẫn, nơi quả địa Như Lai là Thượng Phẩm Tịch Diệt Nhẫn. Như vậy, viên chứng ba thứ Bất Thoái th́ địa vị thấp nhất phải là Thập Địa Bồ Tát, rất cao! Đấy là ta đă nới rộng ư nghĩa chữ Viên một chút rồi! Nếu hỏi c̣n có thể nới rộng thêm chút nữa hay không? Nếu nới rộng chút nữa th́ không phải là viên chứng thực sự, chỉ là tiếp cận viên chứng, đă mấp mé viên chứng, là hạng Bồ Tát nào vậy? Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát. Chứng đắc Vô Sanh Nhẫn, Vô Sanh Nhẫn là hết thảy pháp bất sanh bất diệt, thuộc những địa vị nào? Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa!

Do vậy, chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy nói sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu sanh trong Hạ Hạ Phẩm thuộc Phàm Thánh Đồng Cư Độ, đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Cũng có thể nói A Duy Việt Trí Bồ Tát là Bồ Tát viên chứng ba thứ Bất Thoái, điều kiện rộng răi hơn. A Duy Việt Trí Bồ Tát là từ Thất Địa trở lên. Nói cách khác, Bồ Tát chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn là Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa, từ Thất Địa trở lên có thể nói là “viên chứng”, nhưng thực sự viên chứng th́ là Đẳng Giác Bồ Tát, Thất Địa rất gần với viên chứng. Không dễ đâu! Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, trong vô lượng vô biên các cơi Phật đều không có [chuyện này]. Chỉ có niệm Phật, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thành tựu như thế.

Chúng ta biết: Mười phương hết thảy chư Phật Như Lai không vị nào chẳng giảng Tịnh Độ Tam Kinh, không vị nào chẳng giảng Hoa Nghiêm; nghĩa là kinh Hoa Nghiêm và Tịnh Độ Tam Kinh là giáo học căn bản để hết thảy chư Phật độ chúng sanh, ai nấy đều phải giảng. Giống như môn học căn bản, môn học bắt buộc phải học trong nhà trường, tám vạn bốn ngàn pháp môn khác là những môn học nhiệm ư (elective courses), c̣n đây là căn bản pháp luân. Thành tựu trong một đời th́ chỉ có mỗi ḿnh pháp môn này, lại thành tựu thật cao, thực sự chẳng thể nghĩ bàn, thực sự là pháp khó tin! “Niệm niệm thú hướng Phật quả diệu giác dă” (niệm niệm hướng đến Phật quả diệu giác). Đó chính là viên chứng ba thứ Bất Thoái. Phương hướng và mục tiêu để tinh tấn là Vô Thượng Phật Quả, tức Diệu Giác, cao hơn Đẳng Giác. Diệu Giác là Phật quả rốt ráo viên măn. Trực tiếp hướng đến mục tiêu này, chứ không phải là theo từng giai đoạn địa vị Bồ Tát mà tiến dần lên, không phải vậy! Đây thực sự là đạo thành Phật danh xứng với thật, trong ấy không có tướng trạng cong quẹo, không ṿng vèo, ngoắt ngoéo.

Danh hiệu của quả Diệu Giác, trong kinh điển chúng ta thường đọc thấy là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, hoàn toàn là dịch âm tiếng Phạn, quả thật rất dễ phiên dịch sang tiếng Hán, v́ sao không phiên dịch? V́ tôn trọng danh hiệu này nên không dịch, chứ chẳng phải là không thể dịch được. Chúng ta đặc biệt tôn trọng danh hiệu này, bởi lẽ, nó chính là quả đức tối hậu mà mọi người học Phật đều mong đạt được. Chúng ta học Phật v́ lẽ ǵ? Nhằm cầu cái ǵ? Chính là cầu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nếu dịch sang tiếng Hán, A dịch là Vô, Nậu Đa La dịch là Thượng, Tam dịch là Chánh, Miệu dịch là Đẳng, Tam Miệu dịch là Chánh Đẳng. Tam dịch là Chánh, Bồ Đề dịch là Giác; bởi thế, dịch toàn bộ sang tiếng Hán th́ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói thật ra, nếu tách danh hiệu ấy ra để luận th́ có ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là Chánh Giác; giai đoạn thứ hai là Chánh Đẳng Chánh Giác; giai đoạn thứ ba là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu quư vị thực sự đạt được th́ danh hiệu liền biến đổi.

Có thể nói danh hiệu ấy chính là học vị (degree) trong nền giáo dục của đức Phật. Theo tiêu chuẩn học vị th́ học vị thấp nhất là A La Hán, giống như trong các trường đại học hiện tại, học vị thấp nhất gọi là Học Sĩ (Cử Nhân, Bachelor), A La Hán tương đương với Học Sĩ. Học vị thứ hai là Bồ Tát, giống như Thạc Sĩ (Cao Học, Master), học vị thứ ba là Phật, giống như Tiến Sĩ (PhD). Như vậy, ba danh hiệu trên (tức Chánh Giác, Chánh Đẳng Chánh Giác, và Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) là ba danh hiệu học vị, chúng ta phải hiểu như vậy. Có thể thăng lên từng cấp: A La Hán thăng lên một cấp là Bồ Tát. Bồ Tát lại thăng lên một cấp thành Phật; Phật là học vị cao nhất. Phải tu những pháp ǵ mới đạt được những học vị ấy? Tám vạn bốn ngàn pháp môn chính là phương pháp, chính là đường lối, cái được ḿnh tu để ḥng đạt đến đều là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Nếu quả thật quư vị tu thành Chánh Giác th́ chính là thành A La Hán. Ở chỗ này, cũng có rất nhiều người hỏi tôi: “Người thế gian chúng ta có ai giác ngộ hay không? Khoa học gia có được tính là giác hay chăng? Triết học gia có được coi là giác hay không? Trong thế gian vẫn có rất nhiều thánh hiền có trí huệ, có đạo đức, có tính là giác hay không?” Tính chứ! Coi họ là giác, nhưng có thể gọi là A La Hán hay chăng? Không thể! V́ sao? Tiêu chuẩn của nhà Phật là phải có Chánh. Tiêu chuẩn của Chánh là ǵ? Đoạn sạch phiền năo! Phiền năo là ǵ? Danh từ nhà Phật gọi phiền năo là Thân Kiến: Coi thân thể này là ta, đó là cách nh́n lầm lạc, thân thể không phải là ta, thân thể là ǵ? Thân thể là cái được sở hữu bởi ta, giống như y phục, y phục không phải là ta, ta sở hữu nó mà thôi!

Lục đạo chúng sanh đều chấp thân thể là Ngă, lầm rồi! Đấy không phải là Chánh Giác. Do quư vị vẫn c̣n chấp trước thân thể là ta, c̣n chấp tham, sân, si, mạn là ta, không buông những thứ ấy xuống được, thị - phi, nhân - ngă không buông xuống được; tham, sân, si không buông xuống được; ngũ dục, lục trần không buông xuống được, dù giác cũng chẳng thể gọi là Chánh Giác. Người chánh giác buông hết những thứ ấy xuống, chẳng c̣n chấp trước thân là ta, quyết định chẳng chấp trước danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, quyết định không có những thứ ấy. Giác phù hợp với tiêu chuẩn nhà Phật th́ Phật gọi là Chánh Giác; người như vậy có danh hiệu là A La Hán. Người đạt Chánh Giác sẽ vượt thoát luân hồi trong lục đạo, vượt thoát luân hồi rồi lại phải trở vào lục đạo, đấy là thừa nguyện tái lai, trọn chẳng phải là thân nghiệp báo, Ngài trở về làm ǵ? Vị ấy đến độ chúng sanh, đến giáo hóa chúng sanh, hoàn toàn giống hệt chư Phật, Bồ Tát thị hiện trong lục đạo. Thuận theo tâm niệm của chúng sanh bèn biến hóa những thân, sắc tướng bất đồng. Đó là học vị đầu tiên.

Học vị thứ hai lại vượt lên một cấp, nâng lên thành Bồ Tát, Bồ Tát là Chánh Đẳng Chánh Giác, cao lắm. Chánh Đẳng: Đẳng là ǵ? Đẳng (: ngang bằng) với Phật, nhưng chưa phải là Phật. Rất gần với Phật, gần như Phật, chưa phải là Phật, cao hơn A La Hán nên thêm chữ Chánh Đẳng vào trước Chánh Giác.

Học vị tối cao chính là Phật Đà. Điều thành tựu của đức Phật chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩa là Chánh Đẳng Chánh Giác đạt đến đỉnh điểm, không ǵ cao hơn nữa. Chánh Đẳng Chánh Giác đạt đến rốt ráo viên măn, nên thêm chữ Vô Thượng, Vô Thượng là Phật quả! Chánh Đẳng Chánh Giác là quả vị Bồ Tát. A La Hán và Bích Chi Phật đều là Chánh Giác, trong nhà Phật gọi họ là Tiểu Thừa, hoặc c̣n gọi là Nhị Thừa. Phải hiểu ư nghĩa nội hàm của những danh từ thuật ngữ ấy, nếu không hiểu sẽ đi chệch ra ngoài. Sau rốt, chúng ta hăy xem điều cuối cùng:

“Văn danh công đức, như thử siêu thắng, Thế Tôn cập thập phương chư Phật, đồng sở tuyên thuyết, bất khả tín hồ” (Công đức nghe danh hiệu siêu thắng như thế, do Thế Tôn và mười phương chư Phật cùng tuyên nói, chẳng đáng tin ư?). Nghe được một câu danh hiệu A Di Đà Phật, công đức lợi ích quá lớn, chính ḿnh không có cách ǵ tưởng tượng được nổi! Nếu không do chư Phật, tổ sư đại đức giảng giải cho ta, ta làm sao hiểu được? Ta thường cho là danh hiệu A Di Đà Phật nghe đă quen tai, há lại hiếm lạ, phi thường đến mức như thế ư? Nói thật ra, danh hiệu ấy “như thử siêu thắng” (siêu thắng như thế đó). Siêu () là siêu việt, Thắng () là thù thắng. Bất luận quư vị tin hay không tin, bất luận hữu ư hay vô ư, đều đă gieo chủng tử vào A Lại Da Thức; nói theo cách bây giờ là “đă ghi ấn tượng vào óc”, người thế gian nói như vậy đó. Quư vị đă có ấn tượng, ấn tượng ấy vĩnh viễn chẳng mất đi, khi nào duyên chín muồi, lúc ấy sẽ thưc sự đạt được lợi ích chân thật, sẽ hiện tiền.

Duyên chín muồi th́ gặp được thiện tri thức, gặp được đồng học tốt đến chỉ dạy quư vị, giúp quư vị đoạn nghi sanh tín, giúp quư vị tu hành đúng lư, đúng pháp, trong một đời này bèn thành công, vĩnh viễn thoát luân hồi, chứng thân Kim Cang bất hoại, chứng vô lượng thọ, chứng vô lượng quang (“vô lượng quang” là vô lượng trí huệ), sẽ chứng đắc được như thế. Do vậy, đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật và mười phương chư Phật đều khuyên chúng ta, đều tuyên thuyết, há có thể nào chẳng ư? Chẳng thể không tin! Bây giờ hết giờ rồi!

 

*

 

6.4.3. Khuyến nguyện lưu thông

     

Chư vị đồng học!

Xin hăy xem tiếp đoạn lớn cuối cùng của kinh A Di Đà “khuyến nguyện khuyến hành lưu thông”. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhân đẳng giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ!

舍利弗。若有人已發願。今發願。當發願。欲生阿彌陀佛國者。是諸人等。皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。於彼國土。若已生。若今生。若當生。是故舍利弗。諸善男子善女人。若有信者。應當發願。生彼國土。

(Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đă phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh trong cơi nước của A Di Đà Phật, th́ những người ấy đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đối với cơi nước ấy hoặc là đă sanh, hoặc đang sanh, hoặc

sẽ sanh.

V́ thế, này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có ai tin tưởng, hăy nên phát nguyện sanh về cơi ấy).

 

Đoạn này là khuyến nguyện, tức “khuyến nguyện lưu thông”. Chúng ta đọc kinh văn đến chỗ này, vẫn phải chia thành mấy tiểu đoạn để học tập. Tiểu đoạn thứ nhất là “khuyến nguyện văng sanh”. “Dĩ phát nguyện” là đă văng sanh rồi, “kim phát nguyện” là hiện tại, hiện tại phát nguyện, hiện tại niệm Phật nhất định được văng sanh Tịnh Độ. “Đương phát nguyện” là nói đến vị lai; sau này những ai có duyên phận gặp được pháp môn này, gặp được kinh điển này, thiện căn, phước đức, nhân duyên đầy đủ, trong tương lai họ phát nguyện, nhất định được văng sanh. Đây chính là quá khứ, hiện tại, vị lai: “Dĩ phát nguyện” là quá khứ, “kim phát nguyện” là hiện tại, “đương phát nguyện” là vị lai, “giai đắc bất thoái Bồ Đề” (đều được bất thoái Bồ Đề); bởi lẽ “đă phát nguyện” là đă văng sanh, “nay phát nguyện” là hiện tại văng sanh, “sẽ phát nguyện” là tương lai văng sanh. “Nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện” (Nếu có ḷng tin tưởng, hăy nên phát nguyện): Trong kinh này đức Phật khuyên chúng ta phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ!

“Tín nguyện văng sanh, chánh hiển sở phát chi nguyện vô hư dă” (Tín nguyện văng sanh, chính là nhằm chỉ rơ nguyện đă phát không hư huyễn). Người phát ra nguyện ấy nhất định thực hiện, nhất định chẳng để nguyện ấy trở thành chuyện xuông. Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư nói: “Được văng sanh hay không là do có tín nguyện hay không quyết định”. Quư vị có tin, có nguyện th́ mới được văng sanh. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị cao hay thấp, chúng ta biết trong kinh nói đến ba bậc chín phẩm trong bốn cơi Tịnh Độ; đại sư bảo chúng ta: “Phẩm vị cao hay thấp là do công phu tŕ danh sâu hay cạn”. Chúng ta dùng lời lăo nhân gia khai thị để luận định những thân nghiệp báo trong lục đạo. Đức Phật dạy trong lục đạo, xả thân thọ sanh có Dẫn Nghiệp và Măn Nghiệp. Dẫn Nghiệp hướng dẫn quư vị đầu thai trong một đường nào đó, chúng ta cũng coi Tây Phương Cực Lạc thế giới như một đường. Hướng dẫn chúng ta sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới là Tín - Nguyện. Tín Nguyện là Dẫn Nghiệp, niệm Phật là Măn Nghiệp. Măn Nghiệp là sau khi sanh vào chỗ nào đó, quư vị sẽ được hưởng phước báo và lợi ích khác biệt nhau. Có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm khác nhau là do công phu niệm Phật của quư vị sâu hay cạn.

Do đây biết rằng: Niệm Phật rất quan trọng, quan trọng hơn bất cứ ǵ

khác. Quư vị muốn văng sanh trong phẩm vị cao th́ phải chăm chỉ niệm Phật, chớ nên lăng phí thời gian, chẳng được lăng phí tinh thần, phải tranh thủ đại phước báo Tây Phương Cực Lạc thế giới, nâng cao phẩm vị. Thế nhưng Tây Phương Cực Lạc thế giới và mười phương thế giới chư Phật thật ra chẳng khác nhau. Mười phương thế giới đặc biệt là trong lục đạo như chúng ta, phước báo sai khác rất lớn! Phú quư và bần tiện sai khác nhau thật lớn; vậy mà Tây Phương thế giới tợ hồ không sai biệt. V́ sao?

Chúng tôi lại dùng tỷ dụ để diễn tả: Nếu Măn Nghiệp của quư vị, tức là công phu niệm Phật thật tốt, niệm đến Lư nhất tâm bất loạn, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới, Thượng Thượng Phẩm văng sanh, hoa nở thấy Phật, đạt đến địa vị A Duy Việt Trí Bồ Tát, quư vị thực sự đạt được, đó là do chính ḿnh tu được; c̣n những người khác không tu thành công như vậy th́ sao? Chỉ cần có tín nguyện, công phu niệm Phật rất cạn, có thể là chỉ niệm Phật mấy ngày, thậm chí như trong lời nguyện thứ mười tám đă nói: “Lâm mạng chung thời, niệm thập thanh Phật hiệu” (Lúc lâm chung niệm mười tiếng Phật hiệu), thậm chí c̣n chưa niệm được mười tiếng, chỉ niệm một, hai tiếng, công phu niệm Phật rất mỏng, người ấy sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, đương nhiên sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ. Thế nhưng sự hưởng thụ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ thể hiện trí huệ, tướng hảo, quang minh, thần thông tợ hồ không khác Bồ Tát trong cơi Thật Báo, chuyện này là như thế nào vậy?

Trong đây có đạo lư: Chính là do bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, chứ không phải do chính người ấy tu được! Giống như tôi đă từng nói: Chúng ta có một người bạn phú quư, bản thân ḿnh rất nghèo, cái ǵ cũng không có, đến nhà người ta làm khách, sống trong nhà đẹp của người ta, ra khỏi cửa cũng có xe, ăn uống, sinh hoạt giống hệt người ta, hưởng thụ đều giống hệt, người ta có phước mà! Chúng ta hưởng phước của chủ nhân, chứ không phải do phước báo của chính ḿnh. Ra khỏi cửa cũng có xe, xe không phải của ḿnh, toàn là phước báo của người, ta hưởng, nhưng chúng ta hoàn toàn không có quyền sở hữu. Sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư hay cơi Phương Tiện Hữu Dư của Tây Phương Cực Lạc thế giới đều giống như vậy. Măn Nghiệp của chính ḿnh không đủ, nhưng có đủ Dẫn Nghiệp để sanh về thế giới Cực Lạc th́ phước báo, trí huệ, phước đức được hưởng hết thảy đều chẳng khác với A Di Đà Phật cho mấy, tợ hồ b́nh đẳng với các Bồ Tát thuộc cơi Thật Báo Trang Nghiêm. [Phước báo của] Bồ Tát trong cơi Thật Báo là do tự tu mà được, c̣n [phước báo trong] cơi Phàm Thánh Đồng Cư và cơi Phương Tiện Hữu Dư là do Phật gia tŕ, thảy đều hưởng phước báo của A Di Đà Phật. Duyên do là như vậy đó!

Một mặt hưởng phước của A Di Đà Phật, một mặt chính ḿnh vẫn phải tu phước huệ, trọn chẳng thể ở măi trong cơi Đồng Cư, chẳng thể ở măi nơi cơi Phương Tiện. Tự ḿnh phải nâng cao, v́ thế, ở nơi đó phải tu học, tu học để đạt đến cơi Thật Báo là do chính ḿnh tự tu thành. Chính ḿnh không tu thành cũng chẳng sao, hưởng phước của A Di Đà Phật. A Di Đà Phật có vô lượng vô biên phước báo cúng dường đại chúng, có phước cho mọi người cùng hưởng, chẳng riêng một ai hưởng, từ bi đến cùng cực. Bởi thế, đây là chuyện chẳng thể nghĩ bàn, là pháp khó tin. Trong hết thảy thế giới chư Phật không đâu được như vậy, tự bản thân quư vị chẳng thể đạt đến cảnh giới có loại thần thông, phước báo như vậy; nhưng Tây Phương Cực Lạc thế giới lại khác, A Di Đà Phật gia tŕ, dẫu chính ḿnh không tu cũng được hưởng, cũng có thần thông, cũng có phước báo. Ngẫu Ích đại sư giảng là do tín nguyện và tŕ danh, c̣n chúng tôi giảng là Dẫn Nghiệp và Măn Nghiệp, quư vị phải hiểu cho kỹ. Đoạn tiếp theo:

“Bổn kinh tam khuyến phát nguyện” (kinh này ba lần khuyên phát nguyện). Chúng ta hăy xem kỹ một lượt. Lần trước chúng tôi giảng Hệ Niệm, phần giảng kinh A Di Đà trong đó chỉ giới thiệu rất giản lược, không nói tường tận; nhưng khi xem kỹ, kinh này đúng ra bốn lần khuyên chúng ta hăy nên phát nguyện văng sanh. Lần thứ nhất, là “chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (chúng sanh nghe được, hăy nên phát nguyện, nguyện sanh về cơi ấy), rồi đến “sở dĩ giả hà? Đắc dữ chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ” (v́ cớ sao vậy? Được cùng các thượng thiện nhân ở cùng một chỗ). Đấy chính là lần thứ nhất khuyên nên phát nguyện. Lần thứ hai th́ chúng tôi cũng đă nói qua: Chính là đoạn Phật gọi ngài Xá Lợi Phất, “ngă kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn: Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ” (ta thấy điều lợi ấy, nên nói như thế này: Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, hăy nên phát nguyện, sanh về cơi ấy). Đó là lần thứ hai. Lần thứ ba nằm trong ngay đoạn kinh văn chúng tôi vừa đọc trong giờ giảng trước: “Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngă ngữ, cập chư Phật sở thuyết” (V́ thế Xá Lợi Phất! Các ông hăy nên tin tưởng lời ta và lời chư Phật đă nói). Đó là lần thứ ba. Lần thứ tư là: “Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ” (Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu có ai tin hăy nên phát nguyện sanh về cơi ấy), bốn lần khuyên! Một rồi ba, ba rồi bốn.

Ở đây, chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật đại từ đại bi, đặc biệt khẩn thiết, chẳng ngại phiền bốn lượt khuyến cáo. Chúng ta đọc kinh văn, nghe giảng giải, nếu chẳng phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, đúng là cô phụ Phật ân. Ở chỗ này, chúng tôi cũng viết mấy câu: “Thích Ca bi tâm đặc biệt khẩn thiết, chẳng ngại trùng lập, bốn lượt khuyến dụ. Nếu chẳng phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, chính là cô phụ ơn Phật quá đáng!” Ở chỗ giống như thế này, nhất định phải chú tâm thấu hiểu ân sâu của Phật, thấu hiểu tâm ư của Phật.

Phát nguyện th́ phải phát như thế nào? Cổ đức thường khuyên chúng ta: “Nguyện phải y theo Tứ Hoằng Thệ”. Ai nấy đều biết Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tức là bốn điều nguyện tổng quát của chư Phật, Bồ Tát. Ngay cả bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, bốn mươi tám nguyện ấy quy nạp lại sẽ chẳng ra ngoài bốn hoằng thệ nguyện. Bốn hoằng thệ nguyện mở rộng ra chính là bốn mươi tám nguyện, bốn mươi tám nguyện quy nạp lại thành ra bốn hoằng thệ nguyện.

Nguyện thứ nhất là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Nói thật ra, trong bốn nguyện, nguyện thứ nhất này trọng yếu nhất, nó là chánh nguyện, ba nguyện kia đều nhằm hoàn thành nguyện này. Khắp pháp giới hư không giới, trong hết thảy các cơi Phật, nhiều cơi có lục đạo, những cơi không có lục đạo rất ít. Tây Phương Cực Lạc thế giới không có lục đạo, rất hiếm! Xem kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy rất nhiều thế giới thực sự có lục đạo, có chín pháp giới rất nhiều. Những cơi không có lục đạo, không có chín pháp giới, thuần nhất thanh tịnh như thế giới Cực Lạc chỉ là thiểu số, không phải là không có, nhưng không nhiều.

“Độ” () là giúp đỡ, nói theo cách bây giờ th́ “hộ niệm” là quan hoài, chiếu cố, giúp đỡ, chữ Độ bao gồm nhiều ư nghĩa như vậy. Hăy hỏi chính ḿnh có phát được cái nguyện ấy hay không? Có thời thời, khắc khắc, niệm niệm nghĩ giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn hay không? Nếu quả thật trong mỗi niệm đều mang ư niệm ấy th́ quư vị đă thực sự phát nguyện. Ḿnh yêu thương, che chở hết thảy chúng sanh, quan hoài hết thảy chúng sanh, chiếu cố hết thảy chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tận tâm, tận lực chẳng phân biệt chúng sanh thuộc chủng loại nào, thuộc tộc loại nào trong chín pháp giới, người cũng được, trời cũng được, quỷ cũng được, quái cũng được, yêu cũng được, ma cũng được, súc sanh cũng được, địa ngục cũng được, quan hoài hết tất cả, chiếu cố hết tất cả, giúp đỡ hết tất cả! Chỉ cần ta có thể giúp đỡ họ chỗ nào, ta trông thấy, ta nghe thấy, nhất định sẽ đưa tay giúp đỡ, thực sự có thể bỏ ḿnh v́ người.

Tâm nguyện của ta là như thế. Nếu không đủ năng lực, giúp người c̣n được, giúp súc sanh đạo có khi ḿnh c̣n làm được, c̣n quỷ thần ḿnh không trông thấy, thiên thần ḿnh lại càng không thấy, làm sao giúp họ được? Tâm, nguyện thấu suốt! Quư vị muốn giúp đỡ chúng sanh trong chín pháp giới th́ phải hội đủ điều kiện. Hội đủ điều kiện ǵ? Qua lại giao tiếp với họ, phải hội đủ điều kiện ấy. Những nhà khoa học trong hiện tại gọi điều kiện ấy là “những chiều không gian khác nhau”. Quư vị muốn đột phá những chiều không gian khác nhau để có năng lực giao tiếp với chúng sanh trong chín pháp giới ư? Phải đoạn phiền năo!

Do vậy, điều nguyện thứ hai là “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. V́ sao? Bản năng (những năng lực sẵn có trong tự tánh) của chúng ta bị phiền năo che lấp, chỉ cần không c̣n phiền năo nữa, bản năng sẽ hiện tiền. Người ta thường gọi bản năng là “thần thông”. Mắt chúng ta thấy vượt khỏi những chiều không gian không bị chướng ngại, thấy được thiên thần, thấy được quỷ thần, thấy được địa ngục, thấy được hết thảy chúng sanh trong những chiều không gian bất đồng. Chúng ta có thể nghe được, thấy được, và cũng có thể thực sự giúp đỡ họ, bởi lẽ, đoạn phiền năo sẽ khôi phục bản năng. Đoạn phiền năo là tam-muội, là Thiền Định. Thiền Định hiện thần thông, phiền năo không có, tâm địa thanh tịnh. Trong cái tâm thanh tịnh ấy, trí huệ, đức năng, tướng hảo thảy đều hiện tiền, đó chính là thần thông.

Như vậy, thần thông không có ǵ là kỳ quái cả, ai nấy đều có, chỉ là hiện thời thần thông của ḿnh chưa hiện tiền v́ phiền năo quá nặng, phiền năo gây chướng ngại. Thần thông là cái hết thảy chúng sanh vốn có, ai nấy đều b́nh đẳng, [thần thông] to như nhau, trọn chẳng thể nói thần thông của người này to, thần thông của người kia nhỏ, không hề có! To như nhau cả! Lớn, nhỏ sai khác là do đâu phát sanh? Là do phiền năo nhiều hay ít mà phát sanh [hiện tượng thần thông sai khác ấy]. Phiền năo nhiều, thần thông rất nhỏ; phiền năo nhẹ đi, thần thông sẽ lớn hơn. Đoạn sạch phiền năo th́ năng lực thần thông chẳng khác ǵ chư Phật Như Lai. Bởi lẽ, thần thông là bản năng, không phải do tu mà có, không do học mà đạt, vốn đă sẵn đủ trong tự tánh của quư vị. Phải hiểu rơ, phải thấu đáo điều này!

      Thần thông, đức năng khôi phục th́ tướng hảo cũng khôi phục. Nếu chúng ta không có trí huệ là không xong; không có trí huệ [th́ khả năng] giúp người rất hữu hạn. Do vậy vẫn phải học: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, học pháp môn nhằm khai trí huệ. Phiền năo đoạn sạch rồi, nhà Phật nói là Căn Bản Trí hiện tiền, lúc nó khởi tác dụng th́ gọi là Căn Bản Trí. Tiếp xúc vô lượng vô biên chúng sanh, vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, bèn khai trí huệ, đó gọi là Hậu Đắc Trí. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” chính là thành tựu Hậu Đắc Trí. Giống như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử tham học với năm mươi ba vị thiện tri thức. Ở chỗ thầy ḿnh là Văn Thù Bồ Tát, trong pháp hội của thầy, Thiện Tài đă thành tựu hai điều nguyện đầu: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, Ngài đă phát được nguyện ấy; “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”, Ngài đă làm được điều ấy. Do vậy, Ngài đă đạt Căn Bản Trí. Đạt được hai điều ấy rồi, thầy bèn dạy Ngài đi tham học, giống như bảo Ngài ra thi thố, ra lăn ḿnh vào xă hội, đi tham phỏng rất nhiều thiện tri thức để thành tựu Hậu Đắc Trí.

      Hậu Đắc Trí là không ǵ chẳng biết, nếu không tham học làm sao đạt được Hậu Đắc Trí? Căn Bản Trí không cần tham học cũng đạt được, c̣n Hậu Đắc Trí th́ chẳng thể như vậy! Không có Hậu Đắc Trí, chẳng thể giáo hóa chúng sanh! V́ sao? Căn Bản Trí khế lư, Hậu Đắc Trí khế cơ. Nếu quư vị không có Hậu Đắc Trí sẽ khế lư nhưng chẳng khế cơ, chẳng độ chúng sanh được, không có cách ǵ giúp đỡ họ. Khế cơ nhưng không khế lư cũng chẳng độ được chúng sanh. Đức Phật dạy chúng ta phải vừa khế cơ vừa khế lư, nên tham học rất quan trọng. Tham học là “quảng học, đa văn” (học rộng nghe nhiều). Trong năm mươi ba lần tham học, chúng ta thấy đối tượng tham phỏng của Thiện Tài gồm già, trẻ, trai, gái, đủ mọi ngành nghề, có quốc vương, đại thần, có hạng b́nh dân, lại c̣n nhiều nhà tôn giáo như Bà La Môn, như ngoại đạo Biến Hành, không ai chẳng tiếp cận, nên thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí. Đó mới thực sự là giúp đỡ, lợi ích hết thảy chúng sanh, Ngài có năng lực như thế.

      V́ vậy, học Phật, sau khi Căn Bản Trí hiện tiền, phải nhớ kỹ là quư vị phải tham học! Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện, quư vị thấy đó, trước khi thị hiện thành Phật dưới cội Bồ Đề, Ngài cũng tham học khắp Ấn Độ. Tham học xong trở về, dưới cội Bồ Đề thị hiện đại triệt đại ngộ, thành tựu Phật đạo. Đấy chính là thệ nguyện cuối cùng trong bốn Hoằng Thệ Nguyện: “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Như vậy, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành chính là phải thành tựu hai điều kiện trước đó là phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn và pháp môn viên măn rồi mới có thể thành tựu Phật đạo. Nếu quư vị chỉ đoạn hết phân biệt, nhưng không chịu học pháp môn, chẳng chịu tiếp xúc chúng sanh trong chín pháp giới th́ vĩnh viễn chẳng thể thành Phật đạo. Phải hiểu đạo lư này! Có những đồng học giữ quan niệm sai lầm, cho rằng học Phật chỉ là thật thà học Phật, nhất định chẳng được qua lại với những kẻ không học Phật, càng chẳng được qua lại với những tôn giáo khác. Như vậy sẽ vĩnh viễn chẳng thể thành Phật đạo, vĩnh viễn không có cách nào độ sanh, chẳng thể rộng độ chúng sanh. Phật pháp sống động, không phải đă thành rồi bèn bất biến!

Lúc mới học, thầy quy định những quy củ hết sức nghiêm khắc, là v́ sao? Nhằm giúp quư vị đoạn phiền năo, Giới Luật nhằm giúp quư vị đoạn phiền năo, giúp quư vị đạt tâm thanh tịnh, giúp quư vị mở mang Căn Bản Trí. Quư vị định rồi, do Giới đắc Định, đă đạt được Định rồi, Định là ǵ? Chẳng chấp lấy tướng, như như bất động, ngoài không chấp tướng, trong tâm bất động, thực sự thành tựu tam-muội. Sau khi thành tựu th́ phải tham học, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Ai thực sự đạt được “ngoài không chấp tướng, trong tâm bất động” th́ không pháp môn nào chẳng phải là Phật pháp. Pháp Đại Thừa thường nói: “Pháp nào chẳng phải là Phật pháp?

Phật, Bồ Tát là Phật pháp, yêu ma quỷ quái cũng là Phật pháp. Nghĩa là sao? Nay quư vị phải hiểu hai chữ “Phật pháp” nghĩa là ǵ. Phật là giác, giác chứ không mê. Quư vị ở trong mười pháp giới, ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, mà quư vị giác chứ không mê th́ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh há chẳng phải luôn luôn là Phật pháp ư? Nếu quư vị không giác, mê chứ không giác, th́ ngày ngày ở cùng một nơi với Phật, Bồ Tát, cũng vẫn là pháp thế gian, vẫn chẳng phải là Phật pháp. V́ sao? V́ quư vị mê chứ không giác, bất giác! Tà chứ không chánh, nhiễm chứ không tịnh, quư vị làm chuyện mê - tà - nhiễm, không phải là giác - chánh - tịnh. Giác - chánh - tịnh là Phật pháp, mê - tà - nhiễm là pháp thế gian, là pháp chúng sanh. Nói khó nghe hơn một chút là pháp luân hồi, không phải là Phật pháp!

Quả thật, chúng tôi thấy có những người học Phật không ít năm, mê nơi Phật pháp, mê chứ không giác, hết sức đáng tiếc! Do vậy, giáo học thế gian lẫn giáo học nhà Phật đều nói phải cầu “ngộ tánh”, Phật pháp hết sức coi trọng điều này, pháp thế gian cũng thế. Trung Quốc thời cổ, dạy học tại các trường tư, quư vị thấy thầy giáo phải quan sát học tṛ, biết đứa nào có ngộ tánh. Có ngộ tánh th́ căn tánh ấy viên dung, tương lai sẽ rất hữu dụng! Đối với xă hội, đối với quốc gia, đối với chúng sanh sẽ có cống hiến rất lớn. Người không ngộ tánh khổ hơn, chẳng thể phát huy, những ǵ họ học trở thành chết cứng, người đọc sách thường gọi là “kẻ cuồng sách”. Dẫu kẻ ấy là người tốt, có quy củ, nhưng kẻ ấy không hấp thụ được những ǵ đă học, không tiêu hóa được, không biến thành dưỡng chất được! Không tiêu được sẽ tích trong bụng, biến thành bệnh.

“Ngộ” là tiêu hóa, nhà Phật thường nói “tiêu quy tự tánh” nghĩa là hoàn toàn tiêu hóa, trở về tự tánh, tự tánh có vạn đức vạn năng. V́ thế, thành tựu đức hạnh, Căn Bản Trí hiện tiền th́ phải nhớ kỹ: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học! Pháp môn bao gồm những tôn giáo bất đồng, tộc loại bất đồng, học thuật bất đồng khắp pháp giới hư không giới, quư vị đều phải tiếp xúc hết tất cả, không thứ nào chẳng biết, giống hệt như đức Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị hiện. Trong cả đời Thích Ca Mâu Ni Phật, không có ai đến hỏi câu nào, đem bất cứ nghi nan tạp chứng nào đến hỏi mà Ngài không biết, đó là học rộng nghe nhiều. Ngài đă từng thấy, từng học qua rồi!

Phát bốn nguyện này, quư vị thấy đó: Đoạn phiền năo, thành tựu đức hạnh, thành tựu Căn Bản Trí; học pháp môn thành tựu Hậu Đắc Trí, thành tựu “không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể”; cuối cùng, thị hiện thành Phật đạo, v́ sao? Chỉ có thành Phật đạo, là địa vị Phật th́ mới có thể độ Đẳng Giác Bồ Tát. Nếu không, thuộc địa vị Bồ Tát th́ quư vị chỉ có thể độ những hạng thấp hơn, chẳng thể độ những địa vị cao, chẳng thể độ những người cùng hàng với ḿnh. V́ vậy thành Phật nhằm phổ độ, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, thực hiện viên măn cái nguyện ấy.

Do vậy, những bạn đồng tu thuộc học viện chúng ta muốn phát tâm hoằng pháp độ sanh trong tương lai, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ th́ quư vị hăy suy nghĩ: Phải đoạn phiền năo, phải học pháp môn. Thứ tự của việc đoạn phiền năo, học pháp môn chúng tôi vừa mới giảng, quư vị phải nhớ nhé: Trước hết, đoạn phiền năo, chứ không phải là học pháp môn trước, mà trước hết là phải đoạn phiền năo. Nay buộc quư vị học một bộ kinh, học một bộ luận, quư vị phải chuyên đổ công nơi bộ kinh hay luận ấy để làm ǵ vậy? Để giúp quư vị đoạn phiền năo. Do vậy, phải thâm nhập một bộ kinh hay luận. Quư vị phải hiểu đây là phương pháp do chư tổ truyền cho nhau, chúng tôi vẫn dùng phương pháp cổ xưa, v́ phương pháp này đáng tin cậy. Mấy ngàn năm qua, người khai ngộ, chứng quả, văng sanh, tu hành có thành tựu, bất luận tại gia hay xuất gia đều nhờ phương pháp cũ kỹ này. Như vậy, phương pháp xưa cũ, nhưng vẫn đáng tin cậy, chúng tôi chẳng thể nêu cách mới, lập dị được. Dạy lầm chúng sanh tội lỗi không nhẹ, chính ḿnh lầm lạc c̣n có thể tha thứ, chứ lầm lạc chúng sanh không thể tha được. Do vậy, chúng tôi vẫn theo lối cũ, sử dụng quy củ, biện pháp xưa. Một bộ kinh, một bộ luận giúp quư vị đoạn phiền năo, định tâm, thâu nhiếp tâm. Nếu chúng ta không học tập kinh giáo, sẽ suy nghĩ lung tung. Suy nghĩ lung tung ắt tạo nghiệp luân hồi. Tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, quyết định chẳng thể thoát khỏi luân hồi trong lục đạo.

Như vậy, hiện tại chúng ta phải nghĩ như thế nào? Nghĩ đến một bộ kinh, ta học bộ kinh ấy, ngày ngày nghĩ đến nó, không nghĩ chi khác. Hết thảy đều buông xuống, chuyên tâm suy nghĩ những ư nghĩa trong kinh ấy, quư vị sẽ dễ dàng nhiếp tâm, nhiếp trọn sáu căn! Tịnh niệm tiếp nối, tịnh niệm của chúng ta là suy nghĩ nghĩa lư trong kinh, như thế vọng niệm dần dần giảm thiểu, tam-muội hiện tiền. Chúng ta học kinh Di Đà liền nhập Di Đà tam-muội, học kinh Vô Lượng Thọ bèn nhập Vô Lượng Thọ tam-muội, đó là “nhất tâm bất loạn” như kinh Di Đà đă nói. Tam-muội có cạn, sâu: Cạn là công phu thành phiến, sâu là Lư Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu chứng được Lư Nhất Tâm Bất Loạn rồi th́ ngay lập tức tiến nhập khóa tŕnh kế tiếp, khóa tŕnh ấy là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Chưa đạt Lư Nhất Tâm Bất Loạn th́ chưa được, vẫn phải “một môn thâm nhập, trường thời huân tu”. Đạt đến Lư Nhất Tâm Bất Loạn th́ Căn Bản Trí hiện tiền. Căn Bản Trí hiện tiền sẽ lập tức triển khai tu Hậu Đắc Trí. Hậu Đắc Trí là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

Ngày nay chúng ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ “nguyện nương vào bốn Hoằng Thệ”, hai nguyện đầu “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn” là chán nhàm Sa Bà. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”: Sanh về thế giới Cực Lạc sẽ hoàn thành hai nguyện ấy, trong thế gian này ta chưa làm được. Trong thế gian này, chúng ta chỉ có thể phát nguyện độ chúng sanh, nhưng năng lực độ sanh rất nhỏ bé; bởi thế, nhất định phải cầu sanh thế giới Cực Lạc. Cầu sanh thế giới Cực Lạc mới có thể thực sự đoạn sạch phiền năo, mới có thể hoàn toàn học pháp môn; sau đó, mới thả chiếc bè Từ, trở vào chín pháp giới, độ hết thảy chúng sanh. Thả chiếc bè Từ chính là Pháp Thân Bồ Tát, cao hơn La Hán, cao hơn Quyền Tiểu Bồ Tát nhiều lắm. Huống chi lại được oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, lúc ấy, vào chín pháp giới độ chúng sanh, không khác ǵ chư Phật Như Lai. Phải phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là v́ đạo lư này.

“Cố đắc bất thoái chuyển ư Đại Bồ Đề” (V́ thế, được bất thoái chuyển nơi đại Bồ Đề). Như vậy, trong mười phương thế giới, độ hết thảy chúng sanh nhằm giúp cho chúng ta mau chóng thành tựu Phật quả rốt ráo viên măn, chúng ta chẳng thể không biết điều này. Lại xem tiếp đoạn kế, chính là đoạn khuyến nguyện cuối cùng:

“Nhất niệm tương ứng nhất niệm sanh, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh, diệu nhân, diệu quả, bất ly nhất tâm, hà sĩ Sa Bà báo tận, chỉ kim tín nguyện tŕ danh, liên ngạc quang vinh, kim đài ảnh hiện, tiện phi Sa Bà thế giới nội nhân dă” (Một niệm tương ứng một niệm sanh, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh, diệu nhân, diệu quả, chẳng ĺa nhất tâm, nào đợi Sa Bà báo tận, chỉ là hiện nay tín nguyện tŕ danh, búp sen sáng ngời, đài vàng hiện bóng, đă không c̣n là người trong thế giới Sa Bà nữa). Trong mấy câu này, chúng ta thấy điều quan trọng trước nhất là “tương ứng”, khó nhất cũng là một câu tương ứng! Thế nào là tương ứng? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói, thường khuyên các đồng học, thực sự tương ứng chúng ta làm chưa được! V́ sao? Thực sự tương ứng th́ phải kiến tánh, có như vậy mới thực sự tương ứng. Chưa kiến tánh chỉ có thể tương tự tương ứng. “Tương tự tương ứng” là như thế nào? Chúng tôi thường nói: “Tâm đồng Phật tâm, nguyện đồng Phật nguyện, ngôn đồng Phật ngôn, hạnh đồng Phật hạnh”. Đó chính là tương ứng. Thực hiện như thế nào? Cách thực hiện chính là câu cuối cùng trong mỗi bộ kinh “tín thọ phụng hành” (tin nhận, vâng làm). Cuối mỗi bộ kinh đều có bốn chữ ấy, đó là tương ứng.

Trong kinh, đức Phật giảng những đạo lư, phương pháp, cảnh giới, phải thực sự tin, không hoài nghi tí ti nào! Thực sự phát nguyện, thực sự mong mỏi sanh về thế giới Cực Lạc càng nhanh càng tốt, thực sự mong được bái A Di Đà Phật làm thầy, hằng ngày nghe Ngài dạy dỗ. Có rất nhiều đồng học than: “Tôi đúng là như thế đó, nhưng không có chút tin tức ǵ!” Không sai! Tôi cũng biết quư vị thực sự có mong ước ấy, nhưng tâm quư vị chưa thật. V́ sao nói là tâm chưa thật? Quư vị có tâm chân thành hay không? Có tâm thanh tịnh hay không? Có tâm b́nh đẳng hay không? Có tâm chánh giác hay không? Có tâm từ bi hay không? Cho nên trong cuộc sống thường ngày phải vun vén cái tâm ấy, tâm như vậy là chân tâm. Chân tâm vốn có đủ năm đặc tánh:

a) Chân thành: Quyết định không hư ngụy; đối người, đối sự, đối vật quyết định không hư ngụy.

b) Quyết định không sanh nhiễm ô là thanh tịnh.

c) Quyết định không có cao thấp. Không có cao thấp là b́nh đẳng.

d) Quyết định không mê. Không mê là chánh giác.

e) Quyết định không tự tư. Không tự tư mới là từ bi.

Như vậy, chúng ta niệm Phật không linh là v́ đâu? V́ không tương ứng!

Do đó, cổ nhân thường nói: “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn, hăm

phá hầu lung dă uổng nhiên” (Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, hét rách cổ họng uổng công thôi). Nếu quư vị dùng cái tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, chánh giác, không chỉ niệm Phật, niệm kinh bằng cái tâm ấy, mà trong xử sự b́nh thường, đăi người, đăi vật đều bằng cái tâm ấy. Chẳng được đối với Phật bằng chân tâm, c̣n đối với người khác bèn dùng vọng tâm. Đấy chẳng phải hạng người có chân tâm, té ra kẻ ấy vẫn dùng vọng tâm đối với Phật, v́ sao? Có phân biệt, có chấp trước, nên không b́nh đẳng. Khó! Điều này khó lắm!

Do vậy, chúng ta phải thực sự thấy thấu suốt, thấy thấu suốt là ǵ? Quư vị phải thực sự hiểu rơ chân tướng của sự thật, rồi mới thực sự buông xuống. Buông xuống sự hư giả, chân thành hiện tiền; buông xuống hết thảy những nhiễm ô, thanh tịnh hiện tiền, buông xuống kiêu căng, ngạo mạn, b́nh đẳng hiện tiền; buông xuống ngu mê, chánh giác hiện tiền; buông xuống tự tư, tự lợi, từ bi hiện tiền. Lúc ấy, quư vị niệm Phật th́ một niệm tương ứng một niệm sanh, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh, bất cứ đường nào thông sang Cực Lạc đều thông suốt, vô ngại, quả thật tâm tâm tương ứng với Phật Di Đà, tâm là tâm Phật, nguyện là nguyện Phật, hạnh là hạnh Phật, ngôn ngữ là ngôn ngữ Phật, quư vị nghĩ coi: Quư vị được văng sanh hay không? Thực sự nắm chắc! Bởi thế, phải hiểu như thế nào là tương ứng, thế nào là không tương ứng! Chẳng thể sai lầm chút xíu nào!

Do lẽ này, Ấn Quang đại sư dạy chúng ta trong thời kỳ Mạt Pháp, những người cùng tu với nhau không được quá hai mươi người, chuyên lấy niệm Phật làm chánh, công khóa mỗi ngày giống như Phật thất thông thường, chẳng làm pháp hội, không hóa duyên, không quyên góp, không làm kinh sám Phật sự, không truyền giới, không thâu đồ đệ, một mực chất phác niệm Phật, ngay cả kinh cũng không giảng. Như tôi đă nói, những điều khác tôi đều tuân thủ lời Tổ Sư răn dạy, nhưng cần phải giảng kinh. Tổ Sư dạy không cần giảng kinh, trước kia th́ được; xă hội, ḷng người thuần hậu, thiện nhiều, ác ít, ai nấy đều hiếu thuận, tôn sư; dạy họ niệm Phật, họ sẽ thật thà niệm Phật, nên có thể thành tựu!

Nay th́ không thể, xă hội hiện tại ác nhiều, thiện ít, chúng ta nghi lự trùng trùng, lại c̣n tà tri tà thuyết lúc nào cũng có thể tiếp xúc, luôn luôn phá hoại tín tâm của chính ḿnh, chướng ngại nguyện vọng của chính ḿnh; bởi thế, chẳng thể không giảng kinh. Mục đích giảng kinh không có chi khác cả: “Đoạn nghi, sanh tín, kiên định tín nguyện”, chỉ như thế mà thôi! Kinh không cần giảng nhiều, giảng kinh Tịnh Độ là được rồi, học một hai loại là đủ, chắc chắn có thành tựu. Như vậy, giảng kinh nhằm mục đích giúp chúng ta tương ứng, chứ không có mục đích nào khác, đoạn nghi, sanh tín, niệm niệm tương ứng th́ mục đích giảng kinh của chúng tôi đă đạt. A! Nay đă hết thời gian rồi!

 

Tập 36

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp tiểu đoạn thứ năm trong phần “Khuyến nguyện, khuyến hạnh lưu thông”:

      Nhất niệm tương ứng nhất niệm sanh, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh” (Một niệm tương ứng một niệm sanh, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh). Hai câu này trong phần trên đă giảng rồi. Thực sự tương ứng th́ bọn phàm phu chúng ta làm chưa được, ắt nhất định phải là đă đạt Lư Nhất Tâm Bất Loạn, tức là đă thành bậc Pháp Thân đại sĩ như trong hội Hoa Nghiêm đă nói th́ mới niệm niệm tương ứng. Ấy là “niệm niệm lưu nhập biển Tát Bà Nhă, cũng là niệm niệm tương ứng với tự tánh”, đấy mới thực sự là một niệm tương ứng một niệm sanh, “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. So với tiêu chuẩn ấy, tiêu chuẩn cầu sanh Tịnh Độ của chúng ta thấp hơn một chút, nhưng nhất niệm rất trọng yếu. Trong nhất niệm, không có tạp niệm, thực sự không hoài nghi, không xen tạp, niệm niệm chẳng gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp niệm Phật hoàn toàn giống như phương pháp của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, hôm qua tôi đă tŕnh bày cùng quư vị rồi.

Quan trọng nhất là tâm tánh của năng niệm (cái tâm niệm Phật) phải là chân tâm, thanh tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm. Trong cuộc sống hằng ngày, đối với người, đối với sự, đối với vật đều phải dùng cái chân tâm ấy, nhất định chớ nên dùng vọng tâm. Trong xă hội ngày nay, dẫu toàn bộ người đời đều dùng vọng tâm, họ dùng vọng tâm hư ngụy đối với ta, ta vẫn phải dùng tâm chân thành đối xử với họ. V́ sao? Vọng tâm là tâm luân hồi, chúng ta biết người dùng vọng tâm chẳng thể ra khỏi luân hồi. Nay chúng ta cầu sao chẳng bị luân hồi nữa; nếu dùng cái tâm luân hồi niệm Phật th́ vẫn bị luân hồi, phải hiểu đạo lư này! Chúng ta không muốn luân hồi nữa, hy vọng một đời này vĩnh viễn thoát luân hồi, văng sanh Cực Lạc th́ phải dùng chân tâm, chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, chánh giác, không thể ĺa tâm ấy trong khoảnh khắc! Đối với người, sự, vật trong thế gian và xuất thế gian, đối với hết thảy các pháp đều phải dùng cái tâm ấy, đó là một niệm tương ứng một niệm sanh, tương ứng với chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi, niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh. Dùng cái tâm ấy sẽ chẳng luân hồi trong sáu nẻo. Từ trong cái tâm ấy, sanh khởi ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, thật thà niệm Phật.

“Diệu nhân, diệu quả, bất ly nhất tâm” (diệu tâm, diệu quả, chẳng ĺa nhất tâm) nhất tâm xưng niệm là Diệu Nhân, nhất tâm bất loạn là Diệu Quả. Muốn đạt được nhất tâm, quư vị nhất định phải buông xuống vạn duyên. Trong quá khứ, đường chủ Niệm Phật Đường thường hay nói ra rả: “Buông thân tâm thế giới xuống”. Không buông thân tâm thế giới xuống, chẳng thể đạt nhất tâm! Quư vị không có cái nhân nhất tâm xưng niệm, đương nhiên chẳng đạt được cái quả nhất tâm bất loạn! Do vậy, nhân và quả đều diệu. Nhất tâm rất trọng yếu; người biết tu ắt hiểu rơ đạo lư này, liễu giải sự thật chân tướng, trong tâm quả thật không vướng mắc mảy may, một chút vương vấn cũng không có. Trong cuộc sống thường ngày, họ tùy duyên, tùy duyên mà sống, đối xử ḥa thuận với hết thảy chúng sanh, đối đăi b́nh đẳng, mảy may “quái ngại” cũng không có. “Quái” () là “khiên quái” ( : mắc míu, nắm níu), “Ngại” () là chướng ngại. Đều buông xuống hết, nhân quả đều tương ứng.

Tiếp đó, đại sư Ngẫu Ích giảng mấy câu rất hay: “Hà sĩ Sa Bà báo tận” (nào đợi Sa Bà báo tận),” () là chờ đợi, [“hà sĩ Sa Bà báo tận” nghĩa là] cần ǵ phải chờ đợi đến khi thọ mạng trong thế giới Sa Bà này hết rồi mới được văng sanh? Chỉ cần nhân chân thật, quả chân thật, th́ sanh ngay trong hiện tại! “Chỉ kim tín nguyện tŕ danh” (chỉ nay tín nguyện tŕ danh): Chỉ cần trong hiện tại có thể tin, có thể nguyện, nhất tâm xưng danh, th́ quang minh và màu sắc của đóa sen trong ao bảy báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới ngày càng tươi sáng. Dẫu chúng ta chưa mất, nhưng hoa sen trong ao ở bên ấy do diệu nhân, diệu quả của chúng ta sẽ ngày ngày tăng trưởng, quang minh, màu sắc đẹp đẽ. Trong hoa sen “kim đài ảnh hiện” (đài vàng hiện bóng) sao gọi là hiện bóng? Phải biết hoa sen trong Tây Phương Cực Lạc thế giới trong suốt, từ bên ngoài có thể nh́n thấu bên trong, trông thấy đài vàng bên trong ấy, đó là chỗ sanh về, là chỗ ở của ḿnh, là chỗ tu hành chứng quả trong tương lai.

“Tiện phi Sa Bà giới nội nhân dă” (Đă không c̣n là người trong thế giới Sa Bà nữa), đó là lời thật, là chân tướng sự thật. Bởi lẽ, chỉ cần chúng ta thực sự tu nhân, tương lai nhất định chứng đắc diệu quả. Nay chúng ta đă báo danh, ghi sổ tại Tây Phương Cực Lạc thế giới, giống như di dân, đă cầm được sổ thông hành rồi, lúc nào ra đi cũng được. Dẫu chưa đi, nhưng có thể nói chính ḿnh đă là cư dân của thế giới Cực Lạc, ḿnh đă cầm được sổ thông hành về thế giới Cực Lạc. Trọn chẳng phải là sanh về nơi ấy rồi mới là cư dân, cầm sổ thông hành cũng là cư dân.

Pháp môn này “cực viên, cực đốn, nan tư, nan nghị, duy hữu đại trí, phương năng đế tín” (cực viên, cực đốn, khó nghĩ, khó bàn, chỉ có bậc đại trí mới ḥng tin tưởng chắc thật). Pháp môn này cực viên, tức là viên măn đến cùng cực, đúng là t́m chẳng được mảy may khuyết hăm nào. “Đốn” () là nhanh chóng, tám vạn bốn ngàn pháp môn không có pháp nào thành tựu nhanh chóng như thế cả, chỉ có ḿnh pháp môn này. Bởi vậy, cổ đức gọi pháp này là “môn dư đại đạo”, chữ Môn chỉ tám vạn bốn ngàn pháp môn, “môn dư đại đạo” tức là một con đường lớn thành Phật ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn, là con đường tắt để thành Phật. “Nan tư, nan nghị” (khó nghĩ, khó bàn), “” () là tư duy, suy nghĩ; không cách ǵ suy nghĩ, tưởng tượng được, “nghị” () là nghị luận, không cách ǵ nghị luận (bàn bạc) được. Ai có thể tin tưởng được? Bậc đầy đủ thiện căn, phước đức, đại thiện căn, đại phước đức mới ḥng tin tưởng được; không phải là bậc đại thiện căn, đại phước đức sẽ rất khó tin tưởng.

Như vậy, nay chúng ta hữu duyên được tiếp xúc pháp môn này, được thấy pháp môn này, nghe pháp môn này, có thể tin, có thể nguyện, hoan hỷ y giáo phụng hành th́ ta chính là người như Ngẫu Ích đại sư đă nói ở đây: Ta chính là người của thế giới Cực Lạc, đời này chắc chắn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quư vị không thể văng sanh là v́ không buông những vướng mắc nơi đây xuống được, những thứ đó chướng ngại quư vị. Quư vị có vướng mắc, có chướng ngại, thân tâm thế giới hết thảy vạn duyên quư vị không buông xuống được!

Chướng ngại rất nhiều, rất phức tạp, đối với thế tục, nặng nhất là T́nh. T́nh chướng ngại quư vị. Đối với xuất thế gian th́ Pháp cũng chướng ngại quư vị. Bởi vậy, trong kinh Bát Nhă đức Phật giảng rất khéo: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n phải bỏ, huống ǵ phi pháp?) Tác dụng của pháp là ǵ? Kinh Kim Cang giảng: “Như phiệt dụ giả” (Ví như cái thuyền). Tỷ dụ ấy có nghĩa là để vượt sông th́ phải dùng đến thuyền, pháp giống như cái thuyền giúp ḿnh vượt sông. Đă đến bờ bên kia th́ không cần đến cái thuyền ấy nữa, bởi thế nói: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n phải bỏ, huống ǵ phi pháp?) Nếu quư vị c̣n lưu luyến pháp ấy, bỏ không được, sẽ biến thành chướng ngại. Giống như quư vị ngồi thuyền vượt sông, rất quư cái thuyền, chẳng muốn bỏ thuyền th́ không lên bờ kia được. Quư vị phải bỏ cái thuyền ấy mới bước lên được bờ kia, bởi thế, nói: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n phải bỏ, huống ǵ phi pháp?) Chúng ta chọn Tây Phương Cực Lạc thế giới, ba kinh một luận của Tịnh Độ, hoặc nói theo hiện thời là năm kinh một luận, đó là pháp; thông đạt pháp rồi, hiểu rơ pháp rồi, ta có cần đến pháp ấy nữa hay không? Pháp đă biến thành tâm hạnh của chính ḿnh, tức là tương ứng. Đến lúc ấy, đừng lưu luyến những kinh giáo ấy nữa!

Sau khi đă nhập cảnh giới Tịnh Độ, Liên Tŕ đại sư bảo: “Tam Tạng thập nhị bộ, nhượng cấp biệt nhân ngộ” (Tam Tạng mười hai bộ kinh nhường cho người khác ngộ), tức là buông Tam Tạng mười hai bộ kinh xuống. “Bát vạn tứ thiên hạnh, nhiêu dữ biệt nhân hành” (Tám vạn bốn ngàn hạnh dành cho người khác hành), vô lượng vô biên pháp môn cũng buông xuống, tự ḿnh chất phác niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Phương hướng, đường lối, mục tiêu của Ngài thảy đều đạt được. Chúng ta tinh tấn nỗ lực đi trên con đường ấy ắt sẽ đến nơi, nhưng chúng ta cứ ngó trước trông sau, vẫn c̣n vướng bận nhiều ngần ấy, nên không đi trọn. Bởi thế, sau khi nhập cảnh giới này, nhập cảnh giới là thực sự thông đạt, thực sự hiểu rơ, thực sự giác ngộ, pháp thế gian lẫn xuất thế gian thảy đều buông xuống, cuối cùng là một câu danh hiệu. Một câu Di Đà niệm đến cùng cực chính là thực sự tương ứng, một niệm tương ứng, một niệm sanh, niệm niệm tương ứng, niệm niệm sanh. Đó là đại trí, đại thiện căn, đại phước đức thực sự. “Đế tín”,Đế” () là chân thật, là hiểu rơ. “Đế tín” là không mê tín, mà là chân tín. Phần Khuyến Nguyện thuộc phần Lưu Thông giảng đến đây thôi. Trong phần Lưu Thông, phần Khuyến Tín là Sáu Phương Chư Phật, đến đây là hết phần Khuyến Nguyện. Tiếp theo là phần Khuyến Hành của phần Lưu Thông.

 

6.4.4. Khuyến hành lưu thông

 

      Chúng ta xem kinh văn, trước hết, đọc kinh văn một lượt:

 

      Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức.

      舍利弗。如我今者。稱讚諸佛不可思議功德。

      (Này Xá Lợi Phất! Như ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật).

 

      Chư Phật” được nói ở đây, quư vị phải nhớ kỹ, chính là A Di Đà Phật. Ở phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi. Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă dạy chúng ta, “chư Phật” chính là A Di Đà Phật, “công đức chẳng thể nghĩ bàn”.

 

      Bỉ chư Phật đẳng.

      彼諸佛等。

(Các đức Phật ấy).

 

“Bỉ chư Phật” chính là A Di Đà Phật, chữ “đẳng” chỉ sáu phương Phật đă nói ở phần trên, sáu phương chính là mười phương. A Di Đà Phật và mười phương hết thảy chư Phật. Câu này có ư nghĩa như vậy.

 

Diệc xưng tán ngă.

亦稱讚我。

(Cũng khen ngợi ta).

 

“Ngă” là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng. Chư Phật (A Di Đà Phật và chư Phật) cũng “khen ngợi ta”.

 

Bất khả tư nghị công đức.

可思議功德。

(Công đức chẳng thể nghĩ bàn)

 

Họ cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta, ta có công đức chẳng thể nghĩ bàn ǵ? Đoạn sau sẽ cho biết.

 

Nhi tác thị ngôn: “Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự!”

作是言。釋迦牟尼佛。能為甚難希有之事。

(Mà nói thế này: “Thích Ca Mâu Ni Phật có thể làm được chuyện hy hữu rất khó”).

 

Đó chính là công đức chẳng thể nghĩ bàn của Thích Ca Mâu Ni Phật, chuyện ǵ là chuyện hy hữu rất khó?

 

Năng ư Sa Bà quốc độ, ngũ trược ác thế: Kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị chư chúng sanh thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.

於娑婆國土。五濁惡世。劫濁。見濁。煩惱濁。眾生濁。命濁中。得阿耨多羅三藐三菩提。為諸眾生。說是一切世間難信之法。

(Có thể ở trong cơi nước Sa Bà, nhằm đời ác ngũ trược: Kiếp trược, kiến trược, phiền năo trược, chúng sanh trược, mạng trược, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, v́ các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin này).

 

Tiếp đó, Thích Ca Mâu Ni Phật tự nói, Ngài bảo Xá Lợi Phất:

 

Xá Lợi Phất! Đương tri ngă ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự.

   利弗。當知我於五濁惡世。行此難事。

(Này Xá Lợi Phất! Hăy biết ta trong đời ác ngũ trược, làm chuyện khó khăn này).

 

Thế nào là “chuyện khó”?:

1) Thứ nhất là niệm Phật thành Phật.

2) Thứ hai là v́ chúng sanh nói pháp môn này.

Đại sư Ngẫu Ích đă giảng cho chúng ta biết v́ đâu Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật? Đại sư nói: Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật mà thành Phật. Đó là niệm Phật thành Phật. V́ sao biết niệm Phật thành Phật? Trong đoạn kinh này, Ngài ở trong “đời ác ngũ trược”.

 

Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

阿耨多羅三藐三菩提。

(Đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

Đấy chính là thành Phật, chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài dùng cách niệm Phật, niệm Phật thành Phật, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, phần Khuyến Hạnh Lưu Thông cũng chẳng thể nghĩ bàn! Thích Ca Mâu Ni Phật hiện thân thuyết pháp, nêu gương cho chúng ta thấy, chẳng dùng ngôn ngữ khuyên dạy chúng ta, mà dùng hành động biểu diễn cho chúng ta thấy. Đây chính là đoạn “chư Phật cùng khen ngợi Thích Ca, trong đời trược chứng quả độ sanh”. Chúng ta vừa đọc đến đoạn kinh văn này bèn tin nhận phụng hành ngay!

Chư Phật khen [Phật Thích Ca] là “năng vi thậm nan hy hữu” (có thể làm được chuyện hy hữu rất khó), khen Thích Ca Mâu Ni Phật trong thế giới Sa Bà, nhằm đời ác ngũ trược, làm được hai sự nghiệp vĩ đại chẳng thể nghĩ bàn, sự nghiệp hy hữu. Trong thế giới Sa Bà, nhằm đời ác ngũ trược, đại sự hy hữu thứ nhất là “chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, thật phi phàm! Sự nghiệp lớn lao thứ hai là “vị chúng sanh thuyết thử nan tín chi pháp” (v́ chúng sanh nói pháp khó tin này). Tiếp đó, nói: “Vị trược thế chúng sanh thuyết” (V́ chúng sanh đời trược mà nói), đặc biệt là trong xă hội hiện tại, càng khó hơn trước nhiều. Nói Tiệm pháp c̣n dễ, chứ giảng Đốn pháp khó lắm! V́ sao? Mọi người không tin tưởng, chẳng dễ dàng tiếp nhận. V́ sao nói Tiệm pháp lại dễ? Tiệm pháp hợp với lư luận tư tưởng của con người hiện thời, họ thấy rất hợp lư. Đoạn trừ tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc chứng quả Tu Đà Hoàn, rồi đoạn tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc chứng quả A La Hán, mọi người đều tin tưởng. Chỉ niệm mỗi một câu danh hiệu A Di Đà Phật mà có thể vượt ngang ra khỏi tam giới, văng sanh bất thoái thành Phật, người ta nghe xong bảo: “Há có chuyện dễ dàng như vậy được ư?” Đâm ra chẳng thể tin tưởng!

Nói “dư đốn pháp do dị, Tịnh Độ hoành siêu đốn pháp vưu nan” (các Đốn pháp khác c̣n dễ, Tịnh Độ hoành siêu là Đốn pháp khó nhất). Các Đốn pháp khác như Thiền tông, quả thật trong xă hội hiện thời không đả phá Thiền tông, thích tịnh tọa. Phong khí Thiền và Mật ở Mỹ quốc rất thịnh, chứ Tịnh Độ không ai nói cả! Khi xưa, chúng tôi giảng kinh Hoa Nghiêm tại Hoa Tạng Đồ Thư Quán ở Đài Bắc, có một sinh viên học ban tiến sĩ người Mỹ là sinh viên thuộc loại trao đổi (exchanged student) thuộc đại học Đài Loan, nghiên cứu Triết Học tại đại học Đài Loan. Đề tài nghiên cứu của cô ta là kinh Hoa Nghiêm, bởi thế, có những đồng học giới thiệu cô đến gặp tôi. Cô ta yêu cầu được nghe kinh Hoa Nghiêm, cô này độ chừng ba mươi mấy tuổi, là nữ sinh viên, nói được tiếng Hoa. Tôi rất bội phục, tôi giảng kinh Hoa Nghiêm đương nhiên cô nghe được. Sau đó, cô xin phép Quán Trưởng cho ở lại Đồ Thư Quán; Quán Trưởng cũng rất vui vẻ, cho cô được ở lại Đồ Thư Quán. H́nh như cô ở lại Đồ Thư Quán mấy tháng. Cô ta yêu cầu tôi: “Bạch pháp sư! Ngài nên qua Mỹ quốc hoằng dương Tịnh Độ”. Cô ta nói: “Pháp sư khác đến nước Mỹ hoằng dương Tịnh Độ hết sức khó khăn, nhưng thầy qua đó hoằng dương Tịnh Độ th́ được!” Do vậy, sau này tôi sang Mỹ, lời khuyến thỉnh của cô ấy cũng là một nhân tố quan trọng.

Chánh thức từ Mỹ quốc trở về mời tôi qua đó hoằng dương Tịnh Độ

chính là các đồng học thuộc Đại Chuyên Giảng Ṭa: Từ Quang đại chuyên giảng đường, Trung Quốc Phật Giáo Hội đại chuyên giảng ṭa. Những đồng học ấy trong quá khứ từng tham gia Đại Chuyên Giảng Ṭa, đương thời tại Mỹ quốc có khoảng hơn ba trăm người, sống rải rác tại các thành phố. Điều rất hiếm có là bọn họ đều liên lạc, hy vọng tôi sang Mỹ. Gặp được nhân duyên tốt là nhằm lúc Vạn Quốc Đạo Đức Hội của Trung Quốc mở đại hội đại biểu thế giới tại Lạc Sam Cơ (Los Angeles), Hàn Quán Trưởng là ủy viên của họ. Hàn Quán Trưởng giới thiệu tôi với vị hội trưởng, mời tôi làm cố vấn cho họ. Có duyên phận như vậy, tôi liền xin thông hành sang Mỹ, đó là lần đầu tôi sang Mỹ, nhằm năm 1982.

Đến Mỹ rồi, đồng học đều hay tin, từ các tiểu bang đến gặp, duyên phận được kết từ đó. Từ đấy trở đi, mỗi năm tối thiểu sang Mỹ giảng một tháng, có lúc qua hai lần. Pháp khó tin mà! Tôi hiểu rơ t́nh h́nh Phật giáo nước Mỹ, hai năm đầu tôi đến các nơi thuộc nước Mỹ làm công tác hoằng pháp, tôi giảng Thiền, tôi giảng Mật, giảng Pháp Tướng Duy Thức, thỉnh thoảng nhắc đến Tịnh Độ, chứ không lấy Tịnh Độ làm chủ. Hai năm đầu sử dụng phương thức ấy! Mọi người rất vui vẻ tiếp xúc với tôi. Lúc qua giảng lần thứ ba, tôi giảng Tịnh Độ. Lúc ấy, khéo sao tôi vừa giảng xong bộ Di Đà Kinh Sớ Sao, khi ấy chưa có băng thâu h́nh, chỉ có băng thâu âm, thâu âm vào băng cassette, toàn bộ băng thâu âm cuốn Di Đà Kinh Sớ Sao chúng tôi có mang theo một bộ. Trước lúc giảng kinh, tôi bày bộ băng thâu âm trước giảng đài, tổng cộng h́nh như nhiều tới ba trăm ba mươi cuốn, mỗi cuốn là chín mươi phút, nhiều tới ba trăm ba mươi cuốn, một bộ A Di Đà Kinh bày ra đấy.

Tôi bắt đầu giới thiệu Tịnh Độ, mọi người vừa trông thấy những thứ được bầy ra bèn hỏi: “Thứ ǵ vậy?” “A Di Đà Kinh đấy!” “Nhiều đến thế sao?” Kinh A Di Đà chỉ một cuốn mỏng tanh, mỗi ngày chúng tôi giảng mỗi lần một tiếng rưỡi, giảng mất ba trăm ba mươi ba lần, gần hết một năm. Mọi người lúc trông thấy như thế tâm bèn ổn định, cảm thấy rất kinh ngạc: “Kinh Di Đà bé tí tẹo như vậy, làm sao giảng một lần lại mất nhiều thời gian ngần ấy?” Làm như vậy mới khiến họ sanh tín tâm! Thật không dễ dàng, từ trước đến giờ họ chưa để Tịnh Độ vào mắt!

Chúng tôi dùng phương thức ấy để đem Tịnh Tông đến Mỹ quốc làm cho mọi người chẳng dám khinh thường, thực sự là pháp khó tin. Do họ thích Thiền, thích Mật, tôi cũng đều có thể giảng hết, khẩu đầu Thiền mà! Tôi cũng hiểu Mật về mặt thường thức, vị thầy đầu tiên của tôi, Chương Gia đại sư, là thượng sư của Mật Tông, tôi thường ở bên Ngài nghe rất nhiều, pháp môn này thực sự chẳng dễ dàng!

“Tịnh Độ hoành siêu, đốn tu đốn chứng”. V́ sao nói là “đốn tu, đốn chứng?” Một niệm tương ứng, một niệm sanh, không phải là đốn tu, đốn chứng hay sao? Một niệm tương ứng một niệm Phật là chân tướng sự thật của đốn tu đốn chứng. Đốn là nhanh chóng, không có từng giai đoạn, không mất một thời gian dài, Đốn đến mức độ nào? Kinh Di Đà dạy: Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày cho đến bảy ngày bèn thành công! V́ sao có người tu Tịnh Độ cả bao nhiêu năm, không có tin tức ǵ cả, tợ hồ chẳng giống như kinh nói bảy ngày thành công, chẳng khỏi khiến người ta hoài nghi! Thế nhưng quư vị thấy Tịnh Độ Thánh Hiền Lục hoặc trong Văng Sanh Truyện ghi chép, thời xưa có những người thành tựu trong ṿng bảy ngày hay không? Có! Thí dụ rơ ràng, rành rẽ nhất chính là pháp sư Oánh Kha đời Tống, niệm Phật ba ngày bèn niệm được A Di Đà Phật hiện đến. Quả nhiên ba ngày sau Sư văng sanh, giống hệt như kinh nói.

Cư sĩ Châu Quảng Đại văng sanh là chuyện mới mười mấy năm trước thôi, không xa xôi chi! Tôi ở Mỹ quốc, ông ta cũng niệm Phật ba ngày, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày ông ta bèn đi. Mấu chốt là đâu? Vẫn là như kinh nói: “Thiện căn, phước đức, nhân duyên”. Chúng ta niệm Phật niệm suốt mười mấy năm, niệm mấy chục năm, không có tin tức chi hết, chẳng phải kinh không linh mà v́ tự ḿnh nghiệp chướng quá nặng, vướng mắc quá nhiều! V́ chúng ta tu học không đúng lư, không đúng pháp, bởi vậy, cảm ứng không có cách chi hiển hiện được! Nếu quư vị có thể buông hết thảy vướng mắc xuống, tu hành đúng lư, đúng pháp. “Đúng lư, đúng pháp” là phải thông đạt, phải hiểu rơ kinh giáo. Liên Tŕ đại sư cũng thường nói: Nếu đối với những ư nghĩa trong kinh điển, chúng ta không có tŕnh độ hiểu biết, nhận thức kha khá, th́ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha trong tâm ta sẽ không phát khởi được, sẽ sanh ra những chướng ngại!

Ngẫu Ích đại sư chú giải kinh Di Đà không phải là chuyện dễ. Quư vị thấy đó, với cuốn Sớ Sao mà pháp sư Cổ Đức c̣n soạn bản Sớ Sao Diễn Nghĩa. Ngài Cổ Đức là thị giả của Liên Tŕ đại sư, là đệ tử truyền pháp của Liên Tŕ đại sư. Nói thật ra, Di Đà Kinh Sớ Sao chính là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh rút gọn, quả thật đáng xưng tụng là “bác đại tinh thâm” (rộng lớn, tinh vi, sâu xa), thực sự dẫn dắt người ta dự vào chỗ thù thắng. Cuốn Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư có thể nói là tinh hoa của cuốn Sớ Sao, rất nhiều đoạn tiền nhân chưa nói đến, Ngẫu Ích đại sư đă v́ chúng ta vạch trần ra.

Như “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm” chẳng hạn. Đối với chuyện phát Bồ Đề tâm, chúng tôi thường nghi hoặc: Những ông già bà cả trong làng quê không biết chữ, từ trước đến giờ chưa hề nghe kinh, Bồ Đề tâm là cái ǵ chưa hề biết đến, nhưng họ niệm Phật có thể đứng mà văng sanh, ngồi mà văng sanh, biết trước lúc mất, thực sự văng sanh. Chúng tôi thường suy nghĩ: “Rốt cuộc họ có phát Bồ Đề tâm hay không?” Lúc tôi mới học Phật rất hoài nghi, họ không phát tâm Bồ Đề, chỉ niệm Phật xuông, sao vẫn có thể văng sanh? Cứ ôm măi niềm nghi ấy, đến khi đọc Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư mới hoảng nhiên khai ngộ.

Trong Yếu Giải giảng: “Chân tín thiết nguyện tựu thị Vô Thượng Bồ Đề tâm” (Ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha chính là Vô Thượng Bồ Đề tâm), chúng tôi mới hiểu ra. Các bà cụ không hiểu Bồ Đề tâm là ǵ, nhưng họ có ḷng tin chân thành, có nguyện thiết tha, tín nguyện chân thành, không mảy may nghi ngờ, đó vốn là Vô Thượng Bồ Đề tâm! Càng suy nghĩ lời Ngẫu Ích đại sư càng cảm thấy có lư. Chúng tôi mới biết: Những ông già, bà cả thiếu hiểu biết, thiếu văn hóa trong làng quê ấy niệm A Di Đà Phật thầm hợp đạo mầu. Tuy tự ḿnh không biết, nhưng họ quả thật đă hội đủ điều kiện văng sanh như A Di Đà Phật đă nói; họ thực sự đầy đủ, bởi lẽ, họ chẳng có một mảy may vướng mắc nào! Ngẫu Ích đại sư đă giải đáp cho chúng tôi nghi vấn ấy.

      Chữ “chư Phật” cũng do Ngẫu Ích đại sư giảng ra, “chư Phật” chính là A Di Đà Phật, trước kia không ai giảng như vậy cả. Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm A Di Đà Phật mà chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tiền nhân cũng chưa hề nói như vậy. Ngẫu Ích đại sư giảng như vậy, chúng tôi xem kỹ lại kinh văn, đúng là như vậy! Từ trước đến nay, đọc kinh văn lơ mơ, không chú ư đến điểm này. Ngài nói ra, chúng tôi coi kỹ lại, thấy không sai! Thích Ca Mâu Ni Phật quả thật là niệm A Di Đà Phật bèn chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Bởi thế, ở đây nói: “Thuyết thử vô tạ cù lao tu chứng, đản tŕ danh hiệu, văng sanh bất thoái, đệ nhất phương tiện, cánh vi nan trung chi nan dă” (Nêu lên phương tiện bậc nhất không cần nhờ đến sự tu chứng nhọc nhằn, chỉ tŕ danh hiệu, văng sanh bất thoái càng là sự khó nhất trong những sự khó). Do vậy, pháp môn này quan trọng nhất là Tín, cơ sở của ḷng tin ấy là trí huệ. Nếu không có trí huệ chân thật, không có đại trí huệ, quư vị sẽ chẳng thể tin tưởng! Dẫu có trí huệ, nhưng trí huệ không đủ lớn, th́ tín tâm chẳng được viên măn.

Ở đây lại có một câu, những câu này đều do đại sư Ngẫu Ích viết trong Yếu Giải: “Diệu quán dĩ tự bất dị” (chính bản thân phép quán mầu nhiệm đă chẳng dễ). “Diệu quán” là mười sáu phép quán, tức những phương pháp tu hành được giảng trong Quán Kinh, không dễ dàng! Nói đến cách đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, không cần phải nhọc nhằn khổ sở tu học mà có thể thành công th́ “đản tŕ danh hiệu” (chỉ tŕ danh hiệu), quá sức đơn giản! “Văng sanh bất thoái, đệ nhất phương tiện” (văng sanh bất thoái, phương tiện bậc nhất), đúng vậy! Trong vô lượng pháp môn không có pháp nào sánh bằng pháp này, quá đơn giản, quá dễ dàng. Ai ai cũng tu được, vấn đề là tin hay không, có nguyện hay không, có thể buông xuống vạn duyên hay không, có thể buông hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian xuống hay không?

Nếu ta muốn học, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, th́ học ở đâu? Về thế giới Cực Lạc mà học! Chưa đến thế giới Cực Lạc th́ đối với hết thảy pháp môn khác, ta đều không nh́n đến. V́ sao? Ta biết những pháp môn ấy quá khó, ta không có năng lực, ta không có thời gian. Đến thế giới Cực Lạc, ta có vô lượng thọ, trí huệ của ta cũng đă mở mang, có chư Phật Như Lai chỉ dạy ḿnh, có rất nhiều Đẳng Giác Bồ Tát đến giúp chúng ta học, dễ dàng thành tựu! Trong kinh này, đức Thế Tôn bốn lượt khuyên chúng ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, bốn lần lận! Bởi thế, chuyện khó nhất trong các chuyện khó, Thích Ca Mâu Ni Phật đă làm được, nên chư Phật khen ngợi Ngài.

Ngày nay, chúng ta tuân theo lời giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật, y giáo phụng hành, chúng ta cũng có thể làm được. Chúng ta làm được th́ thử hỏi chư Phật Như Lai chẳng tán thán ư? Tán thán giống hệt như vậy! Phải biết văng sanh Tịnh Độ chính là được chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Không sai! Hiện tại chưa chứng đắc, nhưng khẳng định là nhất định sẽ chứng đắc! V́ thế, trước khi quư vị nắm chắc, đă khẳng định quư vị chắc chắn sẽ nắm được, hiện tại gần như đă nắm được rồi. Pháp môn này viên chứng ba thứ Bất Thoái mà! Những chuyện như vậy đều là pháp khó tin cả!

Trong đoạn văn tiếp theo: “Y tŕ danh pháp môn thích ngũ trược ác thế” (nương vào pháp môn tŕ danh để giải thích ngũ trược ác thế), chúng tôi giải thích chữ “ngũ trược ác thế”.

1) Thứ nhất là Kiếp Trược, Kiếp () là thời gian. Chúng ta giải thích là “thời đại không tốt”, thời kỳ bất thường, hết sức bất b́nh thường, thời đại này không b́nh thường. “Trược” () là nhiễm ô (nhơ bẩn), nhơ bẩn nghiêm trọng. Nay chúng tôi gọi Trược là nhơ bẩn, ắt mọi người đều hiểu hết sức rơ ràng. Trước hết, chúng ta hăy nghĩ đến hoàn cảnh sinh thái (ecological environment) trên địa cầu bị phá hoại, do con người gây ra. Nước bị ô nhiễm, không gian bị ô nhiễm, xú dưỡng tằng (tầng ozone) bị phá hoại chính là không gian bị ô nhiễm.

Ngoài ra, trên địa cầu, phi cơ, tàu thuyền, xe hơi, công xưởng phun những làn khói độc tản mát trong không trung nên không gian bị nhiễm độc. Các nhà khoa học hiện đang hết sức lo ngại, bởi lẽ, nồng độ của khối khí độc ấy trong không trung nay đă hết sức lớn, gần như tới mức băo ḥa. Đến một ngày nào đó chẳng thể chứa thêm nữa, lúc nó rớt xuống đất, địa cầu sẽ chết sạch, rất có thể như vậy. Bởi thế, nói đến ngày tận thế th́ có người nói đây cũng là một nhân tố. Sợ rằng một ngày nào đó, lượng khí tồn trữ trong không trung rất lớn, e rằng chúng sẽ rơi xuống. Trên mặt đất càng ô nhiễm nghiêm trọng hơn, động vật, thực vật đều bị ô nhiễm. Lại c̣n tinh thần của chúng ta cũng ô nhiễm, tư tưởng ô nhiễm, sinh lư ô nhiễm. Đấy là Kiếp Trược! Kể từ khi có sử sách đến nay, chưa lúc nào ô nhiễm nghiêm trọng như trong thời đại hiện tại! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

 

      Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần “y tŕ danh pháp môn, thích ngũ trược ác thế” (nương theo pháp môn Tŕ Danh, giải thích ngũ trược ác thế).

1) Thứ nhất là Kiếp Trược. “Phi đới nghiệp hoành xuất chi hạnh, tất bất năng độ” (Không có hạnh đới nghiệp vượt ngang ra khỏi tam giới, ắt chẳng thể đắc độ). V́ sao gọi là Kiếp Trược? Trong phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi. Trong thời đại ô nhiễm nghiêm trọng này, phàm phu tu hành trong lục đạo chẳng thể không bị ảnh hưởng, bị ô nhiễm bởi hoàn cảnh, nên không thể đạt được tâm thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh, đương nhiên quư vị chẳng b́nh đẳng, chẳng chân thành, chánh giác, từ bi thảy đều không có! Con người hiện tại vừa nghe những lời này đều hiểu rơ, sức dụ hoặc của hoàn cảnh so với quá khứ không biết đă tăng thêm gấp bao nhiêu lần, đáng sợ hết sức! Bởi vậy, tổ sư nói ngoại trừ pháp môn đới nghiệp hoành siêu này ra, bất cứ pháp môn nào cũng không có cách nào thành tựu. V́ sao? Bất cứ pháp môn nào cũng đều phải tiêu nghiệp, đều phải đoạn phiền năo, trong thời đại này rất khó [thực hiện được].

Do vậy, người thực sự phát tâm tu hành, v́ sao phải ở trong núi sâu không dấu chân người lui tới? Tâm hạnh và cuộc sống của họ hoàn toàn trở về với tự nhiên, điều ấy rất có lư. Đại khái là không muốn bị ô nhiễm ảnh hưởng th́ phải tránh né. Chúng tôi thường khuyến khích mọi người cũng như khuyên các đồng học đang tu Tịnh Tông: Hiện nay ô nhiễm phổ biến nhất, nghiêm trọng nhất là những phương tiện truyền thông, chúng ta nên buông xuống, không xem báo chí, không đọc tạp chí, không nghe radio, không xem truyền h́nh, cũng không xem Internet, chúng ta mới có thể giữ được tâm thanh tịnh, cố hết sức ít tiếp xúc với bên ngoài. Dẫu không sống trong núi sâu mà trong hoàn cảnh sống nhỏ nhoi nơi đô thị cũng tự động cách tuyệt với bên ngoài, giữ ǵn thân tâm của chính ḿnh thanh tịnh. Mỗi ngày trừ việc niệm Phật ra, bèn tụng kinh, nghiên cứu giáo pháp, vậy là tốt! Có thể giữ được thân tâm của chính ḿnh thanh tịnh, chẳng bị hoàn cảnh bên ngoài ô nhiễm. Quư vị phải có nghị lực, phải có hằng tâm, phải có trí huệ mới thực sự làm được.

Do vậy, chúng tôi kỳ vọng sâu xa, những nhà truyền giáo thuộc các tôn giáo trên toàn thế giới đều có một mạng lưới chuyên môn và băng tần vệ tinh; chúng ta muốn học kinh giáo nào để đoạn nghi sanh tín th́ chúng ta chuyên môn tiếp nhận băng tần ấy, giống như lên lớp ngay tại nhà vậy, như vậy là tốt! V́ sao mỗi pháp sư phải cần một băng tần riêng? Một băng tần có nhiều pháp sư cùng hoằng pháp, há không được sao? Để giảng thông thường th́ được, c̣n đối với người chuyên tu mà nói th́ sẽ gặp khó khăn. Người chuyên tu nhất định phải thâm nhập một môn! Phải có thời gian kha khá mới khế nhập cảnh giới, mới thực sự đạt được lợi ích. V́ thế, chính mỗi pháp sư phải có một băng tần riêng, kẻ làm học sinh chúng ta có thể chọn lựa, muốn học pháp môn nào, muốn thân cận vị pháp sư nào th́ sẽ biết chắc vị pháp sư ấy, biết chắc pháp môn ấy, bám rễ nơi pháp môn ấy, có như vậy mới ḥng thành tựu! Rễ sâu gốc chắc!

Đắc tam-muội nơi một môn, mở mang trí huệ; mở mang trí huệ rồi mới có thể học rộng, nghe nhiều, thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí, không ǵ chẳng biết. Thời gian rất dài, các tổ sư đại đức Trung Quốc thời cổ hạn định thời gian ấy là năm năm, tối thiểu là năm năm, tâm quư vị sẽ định! Trên thực tế, trong hoàn cảnh chúng ta hiện giờ, năm năm thật ra không đủ! Tôi theo thầy Lư, thầy Lư yêu cầu tôi trong năm năm chuyên nghe một ḿnh thầy giảng thôi, nhất định không được tiếp xúc một vị thiện tri thức nào khác, thầy chịu trách nhiệm. [Áp dụng] phương pháp ấy độ chừng ba bốn tháng sẽ thấy hiệu quả hiện tiền, hiệu quả rất hiển nhiên, tâm dần dần định lại, trí huệ mở mang, cảm giác chính ḿnh có năng lực làm được những việc khác.

Thầy Lư yêu cầu tôi giữ như vậy năm năm; xong năm năm, tôi lại xin thầy Lư cho giữ thêm năm năm nữa, thầy mỉm cười gật đầu. Tôi tuân thủ lời giáo huấn của lăo nhân gia đến mười năm, thân cận một vị thiện tri thức, nghe một người giảng dạy, chỉ đạo. Mười năm ấy quả thật bám chắc cội rễ, [giúp cho tôi] có năng lực phân biệt chân - vọng, có năng lực phân biệt tà - chánh, thị - phi, lợi - hại, được - mất. Lúc đó, học rộng nghe nhiều, ai cũng tiếp xúc được, pháp môn nào cũng lạm dự được, chỉ giúp cho ḿnh, chứ không tổn hại, chẳng thấy lạ, nghĩ khác, tiếp xúc bất cứ ai, tiếp xúc bất cứ pháp môn nào đều biết quay đầu, biết trở lại, chẳng bị cảnh giới mê hoặc. Do vậy, đối với ḿnh, cảnh giới không thể làm tổn hại, chẳng bị lay động bởi nó, nó tăng trưởng định lực cho ta, tăng trưởng trí huệ. Đó là học rộng nghe nhiều, có tư cách tham học.

Phương pháp dạy học từ xa (viễn tŕnh giáo học - telecourses) trên đài truyền h́nh cũng giống như thế, tự ḿnh phải học với một vị thầy, học một pháp môn, đắc định, đắc huệ nơi pháp môn ấy. Trí huệ mở mang rồi th́ bất cứ pháp sư giảng kinh hay cư sĩ giảng kinh nào ḿnh cũng đều có thể nghe, tuyệt đối tăng trưởng tam-muội, tăng trưởng trí huệ của ḿnh, thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí, không tạo ra những tác dụng trái nghịch. Thế nhưng trước khi đắc Định Huệ th́ khó lắm! Quyết định chẳng được la cà pháp khác, la cà th́ nghe pháp này thấy hay, pháp kia cũng tuyệt, cái này cũng muốn học, cái kia cũng muốn học, khiến cho sự học tập của ḿnh bị tán loạn, đáng sợ lắm!

Bởi thế, sự giáo huấn tại Phật Học Viện rất khó thành tựu, đạo lư là ở chỗ này, v́ nhiều thứ quá khiến cho học sinh phân tâm, tinh thần ư chí không thể tập trung. Những ǵ học viên học tập chỉ là Phật học thường thức, c̣n Giới - Định- Huệ như trong Phật pháp đă nói, chắc chắn kẻ ấy không đạt được. Nếu muốn đạt được Tam Học Giới - Định - Huệ th́ phải thâm nhập một môn, trường thời huân tu, mới ḥng đạt được. Giới - Định - Huệ thực sự hữu dụng, thực sự giúp quư vị liễu sanh tử, xuất tam giới, c̣n Phật học thường thức sẽ không thể. Trong cuộc sống thường ngày, phiền năo tập khí vẫn cứ làm chủ tể y như cũ; nói cách khác, quư vị vẫn là một gă phàm phu sanh tử trong lục đạo, chẳng được thọ dụng nơi Phật pháp! Bởi thế, mới nói “tất bất năng độ” (ắt chẳng thể độ được), đạo lư là đây! Đặc biệt là trong xă hội hiện tại, càng phải nhận biết hoàn cảnh rơ ràng.

2) Thứ hai là Kiến Trược. Trược () là nhiễm ô, Kiến () là kiến giải. Kiến giải của chúng ta bị ô nhiễm [th́ gọi là Kiến Trược]. “Ngũ Lợi Sử tăng thịnh, phi bất giả phương tiện chi hạng, tất bất năng độ” (Ngũ Lợi Sử tăng mạnh, nếu không nhờ vào hạnh phương tiện, ắt chẳng thể độ được). Nhất định phải dựa vào phương tiện, tức là phương pháp thích đáng nhất (Tiện là tiện nghi, Phương là phương pháp. Phương Tiện là phương pháp thích đáng nhất) th́ mới được, mới ḥng được độ! Ngũ Lợi Sử là ǵ? Nói tổng quát, Ngũ Lợi Sử là Kiến Hoặc. Trong Đại Thừa thường nói đến Kiến Tư phiền năo, Ngũ Lợi Sử là Kiến phiền năo, tức kiến giải lầm lạc. V́ sao gọi là Lợi Sử? Đây là tỷ dụ. Thời cổ, nha môn là cơ cấu tư pháp của chánh phủ, giống như đơn vị tư pháp hoặc đơn vị h́nh cảnh hiện tại, kẻ nào phạm tội bèn phái người đi bắt về, người ấy bị sai sử. Lợi () là rất nhạy bén. Năm thứ kiến giải lầm lạc ấy giống như (nói theo cách bây giờ cho mọi người dễ hiểu) năm đội h́nh cảnh vây quanh thân quư vị, thời thời khắc khắc giám sát quư vị, bắt quư vị bất cứ lúc nào, ư nghĩa là như vậy. Đây là tỷ dụ, ư nói bị kiến giải mê hoặc. Ngũ là năm điều.

a) Điều thứ nhất là Thân Kiến: “Thân Kiến. Bất ngộ Tứ Đại giả hợp, hư huyễn vô thường” (Thân Kiến: Chẳng hiểu là Tứ Đại giả hợp, hư huyễn vô thường). Không ngộ là mê, chẳng biết thân này rốt cuộc là ǵ, chấp trước cái thân này là chính ḿnh, chấp trước nghiêm trọng, v́ nó mà tạo vô lượng vô biên tội nghiệp. Thân ấy đâu phải là Ngă, trong những buổi giảng chúng tôi thường nói: Rốt cuộc thân này là ǵ? Chỉ là cái ta có mà thôi, giống như y phục là thứ ta có, nhưng chẳng phải là ta, ta nên để nó phục vụ ḿnh mới là chính xác, mới là Phật, Bồ Tát, mới là không mê. Nếu ta phục vụ nó th́ là sai mất rồi! Nếu như nói y phục không phải là ta, y phục phải phục vụ ta th́ ta không thể ngày ngày phục vụ nó. Ta ngày ngày phục vụ nó th́ nó trở thành chủ nhân, ta thành đầy tớ, chẳng phải là điên đảo hay sao? V́ thế, trong kinh đức Phật thường nói hết thảy chúng sanh điên đảo tán loạn, điên đảo ở chỗ nào? Điên đảo ở ngay chỗ này, chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật.

Vậy th́ cái ǵ là Ngă? Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường giảng tâm tánh là Ngă, nói như vậy là đúng! Tâm tánh có thể biến, có thể hiện. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hư không, pháp giới, nhất thiết chúng sanh, duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” (Hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến). Như vậy, tánh thức là Ngă, chứ thân không phải là Ngă. Thân do Ngă hiện ra, do Ngă biến ra, lẽ ra nó phải phục vụ ta mới là chính xác, ta chớ nên phục vụ nó. Ta là chủ nhân, nó là đầy tớ, là nô bộc tùy thân, nó phải tận trung với ta, sao ta lại mê hoặc điên đảo đến nỗi nó trở thành chủ nhân! Do vậy, đây là kiến giải lầm lạc thứ nhất.

Thân thật ra là ǵ? “Tứ Đại giả hợp”. Tứ Đại là vật chất, thân do vật chất tổng hợp lại. Nay ta biết thân con người do rất nhiều khí quan tổng hợp thành giống như một cỗ máy do các bộ phận tổng hợp thành. Mỗi một khí quan lại do các tế bào hợp thành. Lại đem tế bào phân tích th́ tế bào do rất nhiều phân tử hợp thành, phân tử do nguyên tử hợp thành, nguyên tử do nguyên tử hạch (nuclear) và các điện tử (electron) hợp thành, điện tử lại do các lạp tử (lepton) hợp thành. Cứ phân tích dần dần, sẽ thấy do rất nhiều điều kiện, vật chất tổng hợp thành, nhưng cái được hợp thành lại “hư huyễn vô thường”, những thứ được tổng hợp này sanh diệt trong từng sát-na. V́ thế, trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy chúng ta cách nh́n chính xác: Những hiện tượng ấy, từ thân thể cho đến núi, sông, đại địa bên ngoài, “nhất thiết pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Mộng, huyễn, bọt, bóng hư huyễn, vô thường, “như lộ, diệc như điển, ưng tác như thị quán” (như sương cũng như chớp, phải nên quán như vậy). Đó là chánh giác của chư Phật, Bồ Tát, chính xác không sai lầm điểm nào, giác ngộ rồi mà! V́ thế, nó là công cụ, nó không phải là ta, mà là cái được ta sở hữu. Quan niệm lầm lạc thứ nhất là như vậy đấy!

Khi nào ta sẽ sửa đổi được quan niệm lầm lạc ấy? Khi tuyệt đối chẳng cho thân này là ta nữa. Sau khi sửa đúng quan niệm ấy, lợi ích rất lớn! V́ sao? Đối với đời người, thống khổ lớn nhất là sanh - lăo - bệnh - tử, quư vị xem nhẹ, Ngă đâu có sanh - lăo - bệnh - tử! Sanh - lăo - bệnh - tử là cái ta sở hữu, nó có sanh - lăo - bệnh - tử, giống như y phục là cái được ta sở hữu, y phục dùng lâu ngày phải bị hư rách, không được yêu thích nữa, không cần nữa, bèn bỏ đi, thay cái mới. Hiểu thân thể giống như y phục, dùng một thời gian lâu, bộ máy lăo hóa, không c̣n hữu dụng lắm, bỏ đi, đổi cái khác, đó gọi là sanh tử tự tại! Không đau khổ một chút nào! Đối với những thứ cũ mèm phải vứt bỏ đi, không lưu luyến chút nào. Trong nhà quư vị, những đồ đạc cũ dùng hư nát rồi, vứt vào thùng rác, quư vị có lưu luyến hay không? Cách nh́n của người giác ngộ đối với thân thể này cũng như vậy, đó là cách nh́n chính xác.

Những phẩm vật chính bản thân ta có, ta phải yêu tiếc chúng, phải tiếc phước, phải khéo sử dụng, chớ lăng phí. Hiện thời không có mấy ai hiểu đạo lư này, người hiện tại chỉ biết hưởng phước, không biết tiếc phước, không biết tu phước. Phước báo do đâu mà có? Do tu trong đời quá khứ. Trong đời quá khứ tu phước báo lớn, đời này thời gian hưởng phước dài lâu. Nếu trong đời quá khứ tu phước báo không lớn như vậy, thời gian hưởng phước sẽ hữu hạn, hoặc là hưởng mười năm, hoặc hưởng hai mươi năm, hoặc hưởng đến ba mươi năm, hoặc là bốn mươi năm rồi không c̣n nữa. Nói cách khác, bốn mươi, năm mươi năm sau kẻ ấy hưởng hết phước, cuộc sống khốn khổ, hăm trong khốn khổ. Người ấy chẳng cam tâm hứng chịu nỗi khổ ấy, họ không hiểu chân tướng sự thật, bèn làm chuyện ǵ?

Tạo nghiệp chướng, phải nghĩ cách chiếm đoạt tài sản của người khác để chính ḿnh thụ hưởng. Đoạt lấy! Do vậy, tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, đời vị lai mắc quả báo tam đồ! Thật ra, họ chiếm đoạt được cũng là v́ trong mạng họ có, nếu trong mạng không có, dù có đoạt cũng không đoạt được! Đó là chân tướng sự thật, chỉ có người học Phật chân chánh mới thông đạt, hiểu rơ. Do vậy, người thực sự giác ngộ sẽ biết tu phước, chứ không hưởng phước. Dẫu có phước báo, nhưng đem phước báo cúng dường cho người khác hưởng, nên phước báo vẫn c̣n, đă thế lại c̣n tăng trưởng, giống như gởi tiền vào ngân hàng lại c̣n có tiền lời! Tự ḿnh không dùng, để cho người khác dùng, lại có lời, đạo lư tương đồng.

Có phước không hưởng, thân thể ḿnh có thể chịu khổ một chút, khổ một chút sẽ chẳng lưu luyến thế gian này, tâm hướng về Tây Phương Cực Lạc thế giới càng khẩn thiết. Nếu chính ḿnh phước báo quá lớn, hưởng thụ quá nhiều. Như vậy là khá quá, rất tốt, người ấy bỏ mặc, không nh́n đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, không tách ĺa khỏi thế gian này được, luống uổng đời này, không văng sanh được! Do vậy, dẫu Thích Ca Mâu Ni Phật không tán thành tu khổ hạnh, Ngài phản đối sự khổ hạnh vô ích, nhưng lại tán thán người tu khổ hạnh. Tu khổ hạnh hay ở chỗ nào? Không lưu luyến thế gian này, tâm hướng về Tây Phương Cực Lạc thế giới càng tăng thêm, càng lớn mạnh, đúng là có cái lợi. Có phước bèn để cho người khác hưởng, kết duyên cùng chúng sanh là chuyện tốt! Tương lai khi chính ḿnh thành Phật, pháp duyên hết sức thù thắng. Do vậy, phải biết bản thân ḿnh có phước báo th́ hăy nên biết bớt ra một chút để kết duyên với người khác.     

Quư vị đọc sách Liễu Phàm Tứ Huấn, quư vị thấy tiên sinh Liễu Phàm sau khi đă hiểu rồi, cuộc sống trong nhà ông rất tiết kiệm. Mùa Đông may áo bông cho trẻ nhỏ, trong nhà có bông sợi, bà vợ ông bán bông sợi đi, mua bông g̣n. Bông sợi mắc, bông g̣n rẻ, dùng bông g̣n dồn áo bông có thể may được nhiều hơn, con ḿnh có áo mặc, lại c̣n có thể đem cho người khác mặc, tâm ấy tốt quá! Đó là tiếc phước! Tiên sinh Liễu Phàm nghe vợ nói như vậy, bảo: “Ta không sợ con cái chẳng có phước báo!” Đó là tu phước cho con, thêm phước cho con. Chúng ta đọc cuốn sách ấy phải hiểu rơ đạo lư, phải thực sự ngộ, chẳng thể đọc xuông!

Nhất là kẻ xuất gia chúng ta, đến độ tuổi như tôi, bao năm hoằng pháp dạy học, tích lũy được một chút phước báo, người cúng dường rất nhiều, tôi không hưởng thụ! Tôi nhường cho mọi người hưởng thụ, tôi vẫn sống đời thanh bần, v́ sao? Tôi sống cuộc đời như vậy đă quen, sống rất thoải mái. Mỗi ngày ăn uống một chút là đủ rồi, bao nhiêu năm từ trước tới nay tôi chưa hề cảm thấy đói đến nỗi phải ăn món ǵ. V́ vậy, mỗi lần tôi vào pḥng ăn phải ăn thứ ǵ cũng đều rất đau khổ, không đói mà! Mọi người ăn, tôi cũng ăn một chút, không ăn được không? Được! Một ngày không ăn ǵ rất b́nh thường, tinh thần thể lực vẫn vậy, không thay đổi tí xíu nào! Hai ba ngày không ăn tôi chưa từng thử qua, nhưng một ngày không ăn ǵ, có lúc đúng là không muốn ăn ǵ hết. Tâm địa càng thanh tịnh, càng ít tiêu hao năng lượng! Mấy chục năm qua đều sống như vậy, sống cuộc đời rất b́nh ổn!

Đừng nghĩ ḿnh phước báo hiện tiền, chúng ta bèn có thể nâng cao mức sống, lầm rồi, không được đâu! Lúc có phước báo ấy, hăy để người khác hưởng một chút. Thân thể khỏe mạnh, thanh tịnh, từ bi, ăn uống càng ít càng tốt, nhất định không được ăn vặt. Thứ tôi thường uống là nước đun sôi, trà pha nhạt, những loại nước quả ép tôi tuyệt đối không nhúng môi. Cuộc sống như thế là khỏe mạnh nhất, là phương thức sinh hoạt vật chất tốt nhất. Y phục cốt sao giữ ấm, không cần phải bằng chất liệu tốt, không cần phải hoa lệ, không cần! Càng không được ganh đua cùng người khác, ganh đua là sai lầm lớn lao! Hoàn cảnh cư trụ ưu nhă là tốt, cũng không cần phải to, săn sóc cho dễ. Mọi người cùng hoan hỷ học đạo, tu đạo! Đấy là chuyện chánh của chúng ta. Như vậy, phải phá Thân Kiến, biết nó là giả, không thật.

Bảo dưỡng thân thể th́ thanh tịnh là quan trọng nhất, chớ có phiền năo. Cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Ưu năng sử nhân lăo” (Buồn rầu khiến con người già xọm). Trong ḷng có vướng mắc không buông xuống được, có ưu lự, có phiền năo th́ bộ máy bị tổn hoại, hiệu dụng của bộ máy ấy giảm thấp. V́ vậy, phải giữ ḷng thanh tịnh, chân thành, từ bi, hiền lành. Dùng cái tâm ấy để đối đăi thân thể ḿnh, chẳng ưu lự, chẳng phiền năo, sao cho tâm thường sanh hoan hỷ. Thường sanh tâm hoan hỷ, pháp hỷ sung măn, thiền duyệt làm thức ăn, kinh Đại Thừa thường nói như thế. Đấy là dưỡng chất tốt nhất, khỏe khoắn nhất, chẳng hề có mảy may tác dụng phụ. Phải hiểu đạo dưỡng thân, thân là công cụ, thân chẳng phải là Ngă.

b) Thứ hai là Biên Kiến, Biên () ở đây là hai bên. “Bất ngộ kiến giải kư thiên, thất hồ Trung Đạo” (kiến giải do chẳng ngộ nên thiên lệch, đánh mất Trung Đạo). Lệch về một phía trong hai bên, không phải là Trung Đạo, người hiện tại gọi là “tương đối”, tương đối là hai bên. Trong quan niệm của chúng ta, quư vị thấy con người quả thật sống trong Biên Kiến, sống trong không gian tương đối. Đă có dài th́ đối nghịch của dài là ngắn, đối nghịch của xa là gần, đối nghịch của lớn là nhỏ, không ǵ chẳng tương đối. Đấy chẳng phải là chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật là ǵ? Chân tướng sự thật là pháp môn Bất Nhị. Phật pháp thường nói đến pháp môn Bất Nhị. Ai nhập pháp môn Bất Nhị? Ai minh tâm kiến tánh th́ nhập pháp môn Bất Nhị; nói cách khác, Nhất Chân pháp giới là pháp môn Bất Nhị. Nếu quư vị vẫn c̣n có ư niệm đối lập th́ chẳng nhập pháp môn Bất Nhị; nói cách khác, quư vị không ra khỏi mười pháp giới; quư vị thoát khỏi lục đạo nhưng không ra khỏi mười pháp giới. Bậc Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo phá một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh, chứng một phần Pháp Thân, nhập pháp môn Bất Nhị! Trong quan niệm của họ, chắc chắn không có sự đối lập.

Sự đối lập rơ rệt nhất của người thế gian chúng ta là tôi - bạn, tôi và bạn đối lập nhau, rắc rối xảy ra liền. Đối lập sẽ phát sanh xung đột! Xung đột rồi bèn có đấu tranh, nên mới có chiến tranh. Sở dĩ người nhập pháp môn Bất Nhị th́ mới gọi là thánh nhân là v́ người ấy thực sự giác ngộ, không c̣n tương tự nữa! Trong Phật pháp gọi người ấy là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy, đối lập không phải là chuyện tốt! Toàn là nẩy sanh từ quan niệm lầm lạc, nhà Phật thường nói “nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh). Đấy là vọng tưởng, không phải sự thật, trong sự thật không có đối lập. Câu này hết sức khó hiểu, v́ sao trong sự thật lại không đối lập? Lúc chúng ta không phân biệt th́ vẫn là đối lập, có dài - ngắn, có xa - gần! Ta không phân biệt, không chấp trước pháp nào th́ vẫn c̣n có dài - ngắn, vẫn c̣n có xa - gần! Do vậy, chúng ta rất khó thể hiểu nổi lời Phật dạy!

Nhưng trong hiện tại các nhà khoa học đă giúp ích chúng ta rất nhiều. Gần đây, khoa học gia đă phát hiện thực sự không có đối lập. V́ sao? Họ phát hiện thời gian và không gian không thật. Trong một điều kiện nào đó, không gian và thời gian bằng zéro, hiện tượng đối lập không c̣n nữa! Không gian bằng zéro là không c̣n xa - gần, thời gian bằng zéro là không có quá khứ, hiện tại, vị lai, đấy là những thứ tương đối khó hóa giải nhất. Thời gian và không gian chẳng đối lập th́ hết thảy những thứ đối lập khác đều dễ dàng hóa giải, không c̣n đối lập nữa.

Đối lập sanh từ vọng tưởng, chấp trước của chúng ta; những vọng tưởng, chấp trước vi tế bản thân chúng ta không biết được, tập khí mà! V́ vậy, không hay không biết. Những vọng tưởng, chấp trước thô, rơ rệt chúng ta biết rất rơ, nhưng những thứ vi tế chúng ta không biết. Do vậy, theo kinh Phật, hiểu rơ triệt để chân tướng của sự thật phải là Bát Địa Bồ Tát. Bát Địa Bồ Tát mới thấy được những chủng tử tập khí trong A Lại Da Thức. Chúng quá vi tế, mắt thịt của chúng ta không có cách ǵ thấy được. Do vậy không ngộ, không ngộ th́ mê, kiến giải lệch lạc! Đối với vũ trụ, nhân sinh, hết thảy người, sự, vật đều thấy sai lạc! “Thất hồ Trung Đạo” (đánh mất Trung Đạo), không giống với bậc chân chánh giác ngộ, bậc thực sự giác ngộ biết, thấy Trung Đạo, chẳng thiên lệch, chẳng tà vạy. Đó là kiến giải thực sự chính xác.

c) Thứ ba là Kiến Thủ Kiến. “Phi quả kế quả” (Không phải Quả coi là Quả). Kiến Thủ Kiến là kiến giải lầm lạc trên mặt Quả, không phải là quả báo chân chánh [mà tưởng là quả báo chân chánh]. “Kế” () là ǵ? Kế là “cho là”. Tự ḿnh suy tính cho nó thực sự là quả báo. “Bất ngộ hữu lậu giới trung, chung phi cứu cánh” (Chẳng ngộ trong hữu lậu giới trọn không phải là rốt ráo). Giảng về điều này, đức Phật thường lấy thiên đạo làm thí dụ. Cơi trời không phải là quả báo chân chánh. Có rất nhiều người tưởng cơi trời là hằng sống, lên được cơi trời ắt bất sanh bất diệt. Hiểu vậy là sai lầm. Cơi trời có thọ mạng, thọ mạng của họ dài hơn thọ mạng của chúng ta, dài nhất là cơi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên trong tầng trời Vô Sắc. Thọ mạng dài ngần nào? Phật bảo là tám vạn đại kiếp. Quư vị nhất định phải hiểu thế giới này, chúng ta thường gọi là thế giới Sa Bà, mỗi một lần thế giới thành - trụ - hoại - không là một đại kiếp. [Mỗi một giai đoạn trong bốn giai đoạn] thành - trụ - hoại - không là một trung kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp. Thế giới một lần thành - trụ - hoại - không là một đại kiếp. Thế giới này thành - trụ - hoại - không bao nhiêu lần? Tám vạn lần. Thời gian ấy rất dài!

Tuy thời gian dài như vậy, nhưng nếu luận về thời gian dài vô hạn th́ tám vạn đại kiếp không dài! Bởi lẽ, khi hết tám vạn đại kiếp th́ thọ mạng phải chấm dứt, cho nên chẳng phải là rốt ráo! Chẳng phải là quả báo rốt ráo, quư vị lại tưởng là quả báo rốt ráo, lầm rồi! Thứ kiến giải ấy gọi là Kiến Thủ Kiến, chẳng phải là quả mà coi là quả. Bởi lẽ, người ta không liễu giải, không ngộ nên không biết. “Hữu lậu giới trung” (trong hữu lậu giới), lục đạo là hữu lậu, “lậu” () là phiền năo. Phiền năo, tập khí chưa đoạn th́ ở trong lục đạo! Công phu định lực của quư vị sâu th́ chỉ có thể khuất phục phiền năo, chứ phiền năo trọn chẳng chuyển thành Bồ Đề, cũng có nghĩa là không thực sự đoạn phiền năo, chỉ đè nén nó không cho khởi tác dụng mà thôi! V́ vậy, ở trong lục đạo là chẳng rốt ráo! Lại thưa cùng quư vị, chín pháp giới cũng chẳng phải là rốt ráo. Nói chín pháp giới chính là nói mười pháp giới, mười pháp giới không rốt ráo! Chỗ nào mới là rốt ráo? Nhất Chân pháp giới là rốt ráo!

Do vậy, tu học Phật pháp, chẳng cần biết là tông nào, phái nào, Tịnh Độ tông cũng không nằm ngoài lệ ấy! Nhất định phải chứng đắc minh tâm kiến tánh, đừng tưởng Tịnh Độ tông là có thể chẳng cần tới minh tâm kiến tánh, đới nghiệp văng sanh, không phải vậy! Đới nghiệp văng sanh, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn phải chứng “minh tâm kiến tánh”, đó mới là thành tựu thực sự! Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn phải tu, vẫn phải học! Không ngừng tinh tấn, không ngừng nâng cao, từ Phàm Thánh Đồng Cư Độ tiến lên Phương Tiện Hữu Dư Độ, từ Phương Tiện Hữu Dư Độ tiến lên Thật Báo Trang Nghiêm Độ, vậy là quư vị thực sự kiến tánh! Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh, phải biết: Trong cơi Đồng Cư và cơi Phương Tiện hoa chưa nở! Cơi Thật Báo hoa mới nở. V́ thế, về nơi đó ngày ngày vẫn phải tu, hằng ngày vẫn phải học.

Dẫu hoa chưa nở, nhưng hoa ấy rất lớn, hoa và hư không pháp giới không khác. Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm mới có thể lănh hội đại lược như sau: Trong vi trần có thế giới, vi trần không lớn, thế giới không nhỏ. Quư vị hiểu hoa sen trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoa sen không phóng đại, thế giới không rút nhỏ, nhưng quư vị cảm thấy thế giới trong hoa sen chẳng khác ǵ hư không pháp giới bên ngoài. Bởi vậy, đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Trong hoa chẳng những có Tây Phương Tam Thánh, mà c̣n có mười phương chư Phật, Bồ Tát. Chẳng những có mười phương chư Phật, Bồ Tát, mà trong hoa c̣n có vô lượng vô biên thế giới. Trong mỗi một đóa hoa của mỗi người văng sanh đều như thế. Thật ra, Tây Phương thế giới là như vậy, mà thế giới này của chúng ta có lúc nào chẳng như vậy? Cái khác là người ở Tây Phương thế giới là giác chứ không mê, chúng sanh trong thế giới này mê chứ không giác, khác nhau ở chỗ này, trừ điều ấy ra, không có ǵ khác cả!

d) Thứ tư là Giới Thủ Kiến, “phi nhân kế nhân” (không phải nhân mà tưởng là nhân). Giới Thủ Kiến là kiến giải lầm lạc nơi nhân. Như vậy, nói thật ra, hai Kiến Hoặc (Giới Thủ Kiến và Kiến Thủ Kiến) này là luận theo nhân quả. Giới Thủ Kiến là nh́n lầm nơi nhân, chẳng phải là nhân mà coi là nhân. “Bất ngộ chưng sa tác phạn, trần kiếp nan thành” (Chẳng biết là nấu cát thành cơm, trải trần kiếp (kiếp số nhiều như vi trần) khó thể thành): Phần sau đó, nêu ra một tỷ dụ. Quư vị muốn nấu cơm, nhân của cơm là ǵ? Nhân của cơm là gạo tẻ, quư vị lấy gạo nấu cơm th́ rất dễ dàng nấu thành cơm. Nếu lấy bùn cát nấu, mong nó biến thành cơm (“trần kiếp” ư nói thời gian rất dài), cứ coi một vi trần là một kiếp [th́ dù nấu trong số kiếp nhiều bằng số vi trần] cũng không thể nấu cát thành cơm được. V́ sao? Nó không phải là nhân! Tỷ dụ đơn giản này chắc mọi người dễ hiểu. Lại bảo cùng quư vị, chúng ta muốn phát tài th́ phát tài là quả báo, quư vị cầu tài. Dùng phương pháp ǵ để cầu tài? Hiện tại trong thế gian này có rất nhiều phương pháp, hoàn toàn không phải là cái nhân thực sự để phát tài, quư vị hoàn toàn sai lầm, cái nhân thực sự của phát tài là ǵ?

Trong kinh đức Phật dạy chúng ta phải thực hiện tài bố thí. Tài bố thí là cái nhân thực sự. Quư vị không chịu tu tài bố thí, keo kiệt, hẹp ḥi, ngày ngày vắt kiệt trí năo tính toán muốn biến của cải của người khác thành của ḿnh, tức là ngày ngày động năo tổn người lợi ḿnh, vậy th́ làm sao có thể phát tài cho được? Cái nhân sai lầm, vĩnh viễn chẳng được giàu có. Nghĩ đủ cách làm người khác phải lo lắng, hăm hại người khác, lừa dối người khác! Có lừa được th́ vẫn là trong số mạng của ḿnh sẵn có, nhưng sự giàu có trong mạng ḿnh bị hao hụt. Bị chiết khấu th́ khi ḿnh hưởng hết sẽ không c̣n nữa! Người thực sự hiểu th́ bố thí, càng thí càng nhiều, về sau quư vị của cải vô lượng vô biên, do như vậy mà có. Người thế gian mấy ai hiểu được cái nhân thực sự, hiểu cái quả thực sự. Chỉ có người chân chánh giác ngộ mới hiểu, kẻ mê hoặc điên đảo không hiểu! Khởi tâm động niệm, hết thảy hành vi luôn phạm sai lầm rất nghiêm trọng, lẽ đâu không khổ? Khổ là do chính ḿnh chuốc lấy, không ai gây cho ḿnh cả. Nay đă hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Giảng Kư

Phần 12 hết



[1] Câu này trích từ thiên Vi Chánh sách Luận Ngữ, chúng tôi dịch theo cách diễn giải của cụ Lư Bỉnh Nam trong bộ Luận Ngữ Giảng Yếu. Cụ giảng rơ: “Lập là sở học thành lập, tức là học vấn có căn cơ vững vàng, có thể nhận biết đúng sai ngay lập tức. Hoặc là nghi hoặc, tức là năm 40 tuổi đă không bị ngoại cảnh làm dao động, biết xử sự quyền biến. Tri thiên mạng là thấu hiểu cùng tận Lư trong vũ trụ, xử sự thuận theo lẽ trời, tṛn hết trách nhiệm của chính ḿnh. ‘Nhĩ thuần’ là nghe lời người khác nói liền thấu hiểu tâm ư của người đó”. Các nhà chú giải đều công nhận đây là Khổng Tử tự thuật cảnh giới tiến bộ từ từ của chính ḿnh trong quá tŕnh tu dưỡng, hoàn thiện bản thân, chứ không phải là một khuôn mẫu chung cho mọi người. Thậm chí có người do không hiểu kỹ, không đọc chú giải của cổ nhân, tự tiện diễn giải “tam thập nhi lập” là năm 30 tuổi phải lập gia đ́nh, hoặc 30 tuổi phải có sự nghiệp vững vàng, xuyên tạc ư của thánh nhân quá sức!

[2] Ngẫu tượng: Những tượng có h́nh dáng người, thần thánh được làm bằng gỗ, đất, kim loại v.v... và được con người sùng bái, thờ cúng.

[3] “Tinh phiến” (chip, microchip): Chip là những linh kiện điện tử, gọi đầy đủ là “tập thành điện lộ” (IC, Integrated Circuit, đôi khi dịch nôm na là “vi mạch tích hợp”, hay“mạch tích hợp” tuy nghe hơi kỳ kỳ), có kích thước rất nhỏ gồm các mạch điện kết hợp các linh kiện bán dẫn (như transitor), và linh kiện điện tử thụ động như điện trở, điện dung khí (capacitor, ta thường gọi là “tụ điện”) được chế tạo bằng chất bán dẫn (semiconducting material) như chất silicon chẳng hạn.