Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 17

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần khai thị của thiền sư Trung Phong. Ngày hôm qua giảng đến “tâm, Phật, chúng sanh”. Về Tâm, giảng đến Duyên Lự Tâm và Linh Tri Tâm. Những danh từ này rất quan trọng, chúng ta phải hiểu ư nghĩa của những danh từ ấy. Vũ trụ vạn hữu, những hiện tượng ấy do đâu mà có? Hư không do đâu mà có? Pháp giới do đâu mà có? Sát-độ (ksetra), nay chúng ta gọi là rất nhiều “tinh cầu” trong không gian (trong kinh Phật gọi vô lượng vô biên tinh cầu và tinh hệ ấy là “sát-độ”) do đâu mà có? Chúng sanh do đâu mà có? Hữu t́nh chúng sanh và vô t́nh chúng sanh do đâu mà có? Chúng ta gọi cái có thể sanh ra vạn vật, hư không, sát-độ và hết thảy chúng sanh là Tâm.

      V́ thế, Tâm ấy chẳng phải là tâm tạng (quả tim) trong thân thể chúng ta, tâm tạng chẳng thể sanh ra trời đất vạn vật được. Kinh Phật gọi “có thể sanh” (năng sanh) là “có thể hiện” (năng hiện), không gọi là Sanh mà gọi là Hiện. Nói Hiện có ư nghĩa hay hơn Sanh, bởi lẽ, chúng ta đều lầm tưởng Hữu Sanh Hữu Diệt là thật; Năng Hiện là hư huyễn. Giống như chúng ta xem phim, cái màn bạc có thể hiện ra tướng, gọi là “hiện tướng”, chứ không gọi là “sanh”. V́ thế, “hiện” có ư nghĩa hay hơn. Năng Hiện, hoặc như ta gọi là Năng Sanh, những danh từ ấy đều có thể gọi là Tánh. Lại c̣n có Năng Biến, hiện tượng thiên biến vạn hóa, Năng Biến là ǵ vậy? Chúng ta gọi Năng Biến là Thức.

      Thức và Tâm là một chuyện. Tâm không đèo thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ gọi là Tâm; nếu kèm thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ gọi là Thức. Trong Phật pháp cũng thường nói đến chân tâm và vọng tâm. Chân tâm không kèm thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; c̣n thức tâm xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nên gọi là vọng thức. Phải hiểu rành rẽ, rơ ràng sự việc này th́ mới biết được chân tướng sự thật của vũ trụ và các pháp, kinh gọi sự thật ấy là “chư pháp Thật Tướng” (Thật Tướng của các pháp), tức chân tướng của vũ trụ vạn hữu, chúng ta phải hiểu rơ ràng. V́ thế, ở đây thiền sư nêu lên

một tổng kết:

 

      Thị dĩ Phật tức chúng sanh, chúng sanh tức Phật.

      是以佛即眾生。眾生即佛。

      (Do vậy, Phật chính là chúng sanh, chúng sanh chính là Phật).

 

      Nói như vậy nghĩa là sao? Tâm chính là Thức, Thức chính là Tâm. Thức và Tâm là một, không phải hai, lúc mê gọi là Thức, lúc ngộ gọi là Tâm. Ở đây chỉ có mê và ngộ, ngoại trừ mê và ngộ ra, cái ǵ cũng không có. V́ thế, ở đây mới nói: Chư Phật ngộ chi, giả danh duy tâm, chúng sanh mê chi, tiện thành vọng thức. Thị dĩ Phật tức chúng sanh, chúng sanh tức Phật” (Chư Phật ngộ nên giả gọi là duy tâm; chúng sanh mê bèn thành vọng thức. Do vậy, Phật chính là chúng sanh; chúng sanh chính là Phật). Chữ “chúng sanh” ở đây chỉ hữu t́nh chúng sanh, nhưng sau đó lại nói:

 

      Thả tâm ngoại vô Phật, diệc vô chúng sanh.

      且心外無佛。亦無眾生。

      (Nhưng ngoài tâm không có Phật, cũng không có chúng sanh).

 

      Phạm vi của “chúng sanh” rất rộng. Chữ “chúng sanh” này bao quát tất cả hết thảy những hiện tượng do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi, những hiện tượng ấy đều được gọi là “chúng sanh”. Ngay cả hư không cũng là chúng sanh. Phạm vi của các hiện tượng do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi rất lớn. V́ thế, chúng ta phải hiểu cách sử dụng danh từ này: Tên gọi tương đồng, danh từ tương đồng, nhưng tùy mỗi chỗ lại giải thích khác nhau, phạm vi bao quát của danh từ ở mỗi chỗ khác nhau.

 

      Duy mê ngộ chi hữu gián.

      唯迷悟之有間。

      (Chỉ do mê hay ngộ mà có sai biệt).

 

      “Gián” () là sai biệt, gián cách (間隔) là sai biệt. Nói thật ra, do mê hay ngộ mà có sai biệt.

 

      Cố phàm thánh nhi huưnh dị.

      故凡聖而迥異。

      (V́ thế, phàm - thánh sai khác vời vợi).

 

      Do vậy mới nói đến phàm và thánh. Mê là phàm, ngộ là thánh. Phàm và thánh là một, không hai, vẫn chỉ là một người mà thôi. Nay chúng ta vẫn chưa ngộ th́ gọi là phàm; ngày nào đó ḿnh giác ngộ th́ gọi là thánh. Ngộ là người nào th́ mê cũng là người ấy. V́ vậy, trong hết thảy cảnh duyên không có mê hay ngộ. Mê hay ngộ là do con người, con người có mê - ngộ, cảnh giới bên ngoài chẳng có mê lẫn ngộ. Nếu nói thân thiết hơn một chút (ư nghĩa này lại càng sâu hơn, nói thật ra không dễ hiểu ǵ), mê hay ngộ tại ḿnh, chẳng do người khác, chỉ do mỗi một ḿnh ta mà thôi. Cảnh giới bên ngoài chẳng những vô t́nh chúng sanh không có mê hay ngộ, mà ngay cả hữu t́nh chúng sanh đối với ta mà nói th́ cũng chẳng mê hay ngộ. Mê hay ngộ là chuyện của người ta, đối với chúng ta mà nói th́ cũng chẳng có mê hay ngộ. Đạo lư này rất sâu. Đó là chân tướng sự thật, hăy chú tâm quan sát, mong rằng quư vị sẽ hiểu thấu suốt chân tướng sự thật này.

 

      Khởi tri tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.

豈知心佛眾生。三無差別。

      (Há biết tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt).

 

      Câu này nêu rơ quan hệ giữa tâm, Phật và chúng sanh. Quan hệ ǵ vậy? Một mà ba, ba nhưng một. Tâm có thể hiện, có thể biến (năng hiện, năng biến), chúng sanh và Phật là cái được hiện, cái được biến (sở hiện, sở biến). Năng và Sở là một, không hai. Trong Năng Hiện không có mê hay ngộ, phải biết điều này. Trong Năng Hiện đă không có mê hay ngộ th́ trong Sở Hiện cũng không có mê hay ngộ; nhưng Năng Biến, Sở Biến lại có mê và ngộ. Năng Biến, Sở Biến là vọng tâm, vọng cảnh. Năng Hiện, Sở Hiện là Nhất Chân pháp giới. Phải hiểu rơ điều này th́ sau đấy chúng ta tu hành mới biết phải nên tu những ǵ? Xa ĺa Năng Biến và Sở Biến như thế nào? Làm thế nào để ǵn giữ Năng Hiện và Sở Hiện? Công phu là ở chỗ này.

      Thực sự khế nhập cảnh giới rồi th́ Năng - Sở không hai, Năng Hiện - Sở Hiện không hai, Năng Biến - Sở Biến không hai, Năng Hiện - Năng Biến bất nhị, Sở Hiện - Sở Biến bất nhị. Chúc mừng quư vị đă nhập pháp môn Bất Nhị, đây là cảnh giới của Pháp Thân Bồ Tát, là cảnh giới Hoa Nghiêm, là cảnh giới vô chướng ngại chẳng thể nghĩ bàn, Lư vô ngại, Sự vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. V́ sao Sự vô ngại? Sự là hư huyễn, không thật, hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng; bởi thế, không có chướng ngại. Kết luận cuối cùng cho chúng ta là: “Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt” (Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt). Đây là tánh b́nh đẳng hiện tiền, cảnh giới không chướng ngại hiện tiền.

     

      Vĩnh Gia vân:

      永嘉云。

      (Ngài Vĩnh Gia nói).

 

      Trong Chứng Đạo Ca của thiền sư Vĩnh Gia có hai câu:

 

      Mộng lư minh minh hữu lục thú,

      Giác hậu không không vô đại thiên.

      夢裡明明有六趣。

覺後空空無大千。

      (Trong mộng rành rành bày sáu nẻo,

      Giác rồi ba cơi rỗng toang hoang).

 

      Lúc mê th́ Duy Thức Sở Biến, giống như cảnh mộng; giác rồi bèn hiểu rơ, hoảng nhiên đại ngộ, giống như tỉnh giấc mộng. Tỉnh giấc rồi, những cảnh giới trong mộng không c̣n nữa. Nếu đă tỉnh rồi th́ chẳng những sáu nẻo không c̣n nữa, mà mười pháp giới cũng không c̣n! Lục đạo và mười pháp giới đều là cảnh mộng, không thật, do vọng thức biến ra, Thể của nó là Nhất Chân pháp giới, Thể của nó là nhất tâm bất loạn. V́ thế, Tịnh Độ Tông (tức Tịnh Độ Giáo) nói: “Nhất tâm bất loạn là giác ngộ, tam tâm nhị ư là mê hoặc”. Thật Tướng của các pháp rốt cục là như thế đó, nói đại lược như vậy. Dẫu nói không nhiều, nhưng giảng rất rơ ràng, rất minh bạch, chúng ta không dễ ǵ thấu hiểu, ư nghĩa sâu xa quá!

      Chẳng thể thấu hiểu cũng không sao, ngày ngày đọc, ngày ngày có cơ hội nghe đến, một thời gian lâu sau, tâm quư vị định lại. Quan trọng nhất là tâm định th́ trí huệ sẽ khai phát, sẽ nghe hiểu. Tâm chao động th́ nghe chẳng hiểu. Tâm phải thanh tịnh th́ mới có thể nghe hiểu, mới có thể thấu hiểu: Tịnh có thể sanh ra Huệ. Cổ nhân nêu tỷ dụ ngọn đèn: Nếu ngọn đèn bị lay động th́ chiếu vật ǵ cũng không rơ ràng; nước nếu không có sóng gợn sẽ soi bóng cảnh giới bên ngoài chi li, tường tận. V́

thế, chữ Tịnh hết sức quan trọng!

      Làm thế nào để giữ cho lục căn của chính ḿnh như như bất động đối với cảnh giới lục trần? Như như bất động là sử dụng chân tâm. Điều này phải rèn luyện, rèn luyện chính là tu hành, phải thực sự thực hiện! Cách thực hiện như thế nào? Luyện sáu căn nơi cảnh giới sáu trần, luyện chẳng khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước. Pháp Tướng Tông gọi phương pháp này là “chuyển tám Thức thành bốn Trí”. Chuyển bằng cách ấy, học sao cho không khởi tâm, không động niệm. Không khởi tâm, không động niệm là không dùng thức thứ tám; không phân biệt là không dùng thức thứ sáu; không chấp trước là không dùng thức thứ bảy. Chỉ cần quư vị không dùng đến chúng th́ rơ ràng là ngay lập tức chân tâm được sử dụng.

      A Lại Da Thức biến thành Đại Viên Kính Trí, trí huệ chân thật, rơ ràng, rành rẽ, hiểu thấu suốt. Thức thứ bảy biến thành B́nh Đẳng Tánh Trí, không chấp trước, vạn pháp b́nh đẳng. Thức thứ sáu biến thành Diệu Quan Sát Trí, [các thức] bị chuyển đổi đi, cách chuyển như thế đó! Hễ khởi tâm động niệm là xong, lại rớt vào hai ba (tam tâm, nhị ư), lại biến thành chúng sanh. Phật và chúng sanh khác nhau ở chỗ này. Phật và Pháp Thân Bồ Tát có năng lực ấy, chắc chắn chẳng rớt vào hai hay ba. Không rớt vào hai hay ba th́ chắc chắn sẽ chẳng khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước. Khởi tâm động niệm thuộc về vọng tưởng.

 

      Kư nhiên như thị, tắc kinh vân: “Tùng thị Tây Phương, quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.

      既然如是。則經云。從是西方。過十萬億佛土。有世界名曰極樂。其土有佛號阿彌陀。今現在說法。

      (Đă là như vậy th́ như kinh nói: “Từ đây đi về phương Tây qua khỏi mười vạn ức cơi nước, có một thế giới tên là Cực Lạc. Cơi ấy có Phật, hiệu là A Di Đà nay đang thuyết pháp”).

     

      Đây chính là những điều kinh Phật đă nói. Đoạn kinh này giảng về Sự. Sự và Lư nhất định phải tương ứng, Sự chẳng trái nghịch Lư, Lư nhất định không trở ngại Sự. Lư - Sự bất nhị. Có Lư đương nhiên có Sự, có Tánh đương nhiên có Tướng. Quư vị hiểu rơ ràng điều này rồi th́ mới hiểu được những tướng được hiện ấy.

 

      Tổng bất xuất duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà dă.

      總不出唯心淨土。本性彌陀也。

      (Nói chung, chẳng ngoài duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà).

 

      “Bản tánh” chính là tự tánh. Như vậy, Tây Phương Cực Lạc là Tịnh Độ, là do chân tâm của chúng ta hiện ra. A Di Đà Phật ở thế giới Cực Lạc là do tự tánh của chúng ta hiện ra. Cơi nước được hiện bởi tự tánh, đức Như Lai được hiện bởi tự tánh, lẽ nào chúng ta không thể thân cận được, chúng có quan hệ quá mật thiết đối với chúng ta. V́ thế, quư vị nhất định phải tin tưởng ta có phần văng sanh. Ở phần trên, đại sư đă bảo chúng ta hăy tin tưởng: Tin thực sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thứ hai, phải tin trong Tây Phương Cực Lạc thế giới quả thật có A Di Đà Phật phát nguyện tiếp dẫn chúng sanh hữu duyên trong mười phương. Thế nào là hữu duyên? Có thể tin, có thể nguyện, có thể chấp tŕ danh hiệu, đó là hữu duyên. Nay chúng ta tin, ta có thể tin, ta phát nguyện, ta suốt ngày từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật tức là ta hữu duyên, khẳng định ta phải có phần văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      Do thị nhi tri, tức kim hiện tiền.

       由是而知。即今現前。

      (Do vậy biết rằng: Ngay trong hiện tiền đây).

 

      Dựa trên những đạo lư ấy, chúng ta nên hiểu rơ:

 

      Vong linh, kỳ sanh dă liên hoa đóa đóa, kỳ một dă hàng thụ trùng trùng.

      亡靈,其生也蓮華朵朵。其歿也行樹重重。

      (Vong linh sống th́ hoa sen đóa đóa, thác th́ hàng cây tầng tầng).

 

      Hai câu này nghĩa là sao? Sống lẫn chết đều chẳng ĺa thế giới Cực Lạc, thực sự không tách ĺa. Vấn đề là ở chỗ nào? Vấn đề là giác hay mê. Nếu quư vị giác là được, ngay nơi này chính là Cực Lạc. Nếu mê th́ Tây Phương Cực Lạc thế giới t́m không ra. Ngộ th́ ngay nơi này chính là Cực Lạc.

 

      Vô nhất thời bất đạt liên bang, vô nhất niệm bất y từ phụ.

      無一時不達蓮邦。無一念不依慈父。

      (Không lúc nào chẳng đến cơi sen, không niệm nào chẳng nương từ

phụ).

 

      “Liên bang” là thế giới Cực Lạc, “từ phụ” là A Di Đà Phật. Chúng ta ngày nay khẩn thiết cầu mong, tức là cầu mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật. Xưa kia, thiền sư Tử Tâm tức ngài Triệt Ngộ, những đồng học tu Tịnh Độ chắc không ít vị đă đọc cuốn Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, tôi đang nói đến vị này. Ngài đại triệt đại ngộ nơi Thiền Tông xong, khuyên những ai học Thiền phải niệm A Di Đà Phật. Ngài nói người tham Thiền tốt nhất nên niệm Phật, v́ nguyên nhân nào? Sợ rằng cả một đời này không có cách ǵ đại triệt đại ngộ được. Nếu Thiền không đại triệt đại ngộ, sẽ không ra khỏi lục đạo, vẫn phải sanh tử luân hồi, là hỏng rồi! V́ thế phải nương vào nguyện lực của A Di Đà Phật tiếp dẫn văng sanh.

      Ngài nói nếu chịu niệm Phật, có thể tin, có thể nguyện, có thể niệm Phật mà nếu chẳng sanh về Tịnh Độ th́ “lăo tăng đương đọa Bạt Thiệt địa ngục” (lăo tăng sẽ đọa vào địa ngục bị quỷ sứ kéo lưỡi tội nhân ra cho trâu cày). Ngài bảo đảm như vậy, pháp môn này đúng là “vạn người tu, vạn người về”. Hiện tại, v́ sao người niệm Phật rất đông, người văng sanh lại ít? V́ họ niệm không đúng như pháp! Căn bản là họ không hiểu được đạo lư và phương pháp niệm Phật. Họ không hiểu, cho nên miệng có, tâm không, chẳng tương ứng. Nếu đối với những đạo lư, cảnh giới ấy quư vị đều hiểu rơ, đều thấu suốt, đúng lư, đúng pháp, chẳng để sót một điều ǵ th́ đúng là vạn người tu, vạn người văng sanh. Đến đây cũng là hết một đoạn khai thị, chúng ta xem tiếp phần sau, ngài Trung Phong lại tổng kết:

 

      Thẩm như thị, thả đạo: Ly thử tâm Phật chúng sanh ngoại, biệt hữu thương lượng xứ dă vô.

      審如是。且道。離此心佛眾生外。別有商量處也無。

      (Xét như thế, nên nói: Ĺa tâm, Phật, chúng sanh này ra, c̣n có chỗ thương lượng nào khác hay không?)

 

      “Thẩm” () là thẩm sát (xem xét, suy xét) kỹ càng, cũng có nghĩa là quan sát. Những Sự - Lư vừa nói trên đây, nếu quư vị đều hiểu rơ, đều thấu suốt, th́ nay phải hỏi: “Thả đạo: Ly thử tâm Phật chúng sanh ngoại, biệt hữu thương lượng xứ dă vô” (Nên nói: Ĺa tâm, Phật, chúng sanh này ra, c̣n có chỗ thương lượng nào khác hay không?): Ĺa ngoài tâm, Phật, chúng sanh ra, c̣n có ǵ hay không? Một câu này đă nói hết sạch. Tâm, Phật, chúng sanh bao quát hết thảy vạn sự vạn pháp trong toàn bộ vũ trụ. Ở đây thiền sư dùng phương cách trong Thiền Tông để hỏi: “Ngươi hiểu chưa?” Một phen giảng cho các ngươi đại đạo lư này, các ngươi nghe rồi đă hiểu hay chưa? Các ngươi có hiểu thấu hay chăng? Các ngươi thực sự rơ thấu hay chưa? Tiếp đó, thiền sư lại nói một bài kệ:

 

      Đại viên kính lư tuyệt tiêm ai.

      大圓鏡裡絕纖埃。

      (Nơi gương tṛn lớn sạch tinh khôi).

 

      “Đại viên kính” là tâm tánh. Trong tâm tánh không có vật ǵ. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đă nói rất hay: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn không có một vật). Đại viên kính là chân tâm, trong chân tánh vốn chẳng có một vật nào. “Ai” () là trần ai (塵埃: bụi bặm), “tiêm” () là rất nhỏ. Một mảy trần ai cũng không có, chân tâm mà! Câu này giảng về Thể, về Lư, chân tâm, bản tánh. Câu tiếp theo luận về Sự, tức những tướng được hiện. Hễ có Lư nhất định phải có Sự. Có Tánh nhất định có hiện tướng. Hiện những tướng nào?

 

      Bích ngẫu hoa trung hữu thánh thai.

      碧藕華中有聖胎。

      (Xanh biếc gị sen nẩy thánh thai).

     

      Câu này nói về ao sen bảy báu nơi thế giới Tây Phương. Bốn câu kệ này nhằm dạy chúng ta; trong hai năm gần đây, chúng tôi đặc biệt đề cao “thuần tịnh, thuần thiện”. Tâm chúng ta phải thuần tịnh, hạnh của chúng ta phải thuần thiện. “Thuần tịnh, thuần thiện” tương ứng với tánh đức, tương ứng với Di Đà, tương ứng Tịnh Độ. Câu kệ này nói đến ao sen bảy báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, “bích ngẫu hoa trung hữu thánh thai” (trong đóa sen biếc có thánh thai). Ở đây, chúng ta vừa phát tâm, trong ao bảy báu mọc lên một búp sen, trên hoa ghi tên họ của chúng ta. Chúng ta niệm Phật công phu càng siêng năng, hoa sen ngày càng to. Khi nào tâm quư vị lui sụt, hoặc đổi sang tu pháp môn khác, hoa ấy bèn khô héo, không c̣n nữa!

      Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hết thảy các pháp đều bất sanh bất diệt, chỉ riêng hoa sen trong ao bảy báu có hiện tượng sanh diệt. Quư vị thấy hoa sen liền biết có một người phát tâm chân chánh, muốn sanh về thế giới Cực Lạc. Mấy bữa sau, thấy hoa sen không c̣n nữa, biết người ấy đă ngă ḷng, thay đổi ư niệm. Lúc nào phát tâm, lúc ấy đóa sen bèn trổ. Câu kệ này đúng như kinh đă nói: “Tịnh cực quang thông” (Tịnh đến cùng cực th́ sẽ chiếu sáng thông suốt), tướng báu thanh tịnh được hiện ra. Thật đấy! Chính chúng ta có thể làm được điều này, chớ bỏ mất. Chuyện ǵ trong thế gian này cũng đều là giả, chỉ có ḿnh chuyện này là thật. V́ thế, quư vị phải biết buông cái giả xuống, phải biết buông bỏ. Riêng chuyện này là thật.

 

      Dao vọng kim sa tŕ chiểu ngoại.

      遙望金沙池沼外。

      (Cát vàng ao báu ngoài xa ngắm).

 

      Tây Phương Cực Lạc thế giới cách chúng ta mười vạn ức cơi Phật. Nay chúng ta là phàm phu chưa đạt đến cảnh giới ấy; v́ thế, không gian vẫn c̣n xa - gần, đạt đến cảnh giới nào th́ sẽ không c̣n xa - gần nữa? Khi kiến tánh th́ sẽ không c̣n nữa, khi minh tâm kiến tánh th́ xa - gần không c̣n nữa. Chúng ta chưa đạt đến cảnh giới ấy, “dao vọng kim sa tŕ chiểu ngoại” là phía ngoài ao sen bảy báu. Trong ao bảy báu ấy, có nước tám công đức, có hoa sen.

     

Bảo quang thường chiếu ngọc lâu đài.

寶光常照玉樓臺。

      (Bảo quang chiếu măi ngọc lâu đài).

 

      Phía ngoài ao bảy báu là nơi hoạt động của những người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới hoa nở thấy Phật, họ tự hành, hóa tha, thân cận Như Lai, rộng độ chúng sanh. Thiền sư dùng từ ngữ “ngọc lâu đài” để h́nh dung. Phần sau là nói đến chuyện Chánh Tu. Đoạn khai thị này nhằm lay tỉnh mọi người đang mê chấp hăy thực sự tỉnh ngộ, hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tự nhiên buông xuống. Buông xuống rồi th́ công phu của chúng ta mới đắc lực. Một tiếng Phật hiệu, một tiếng ḷng, một niệm tương ứng một niệm Phật, phải niệm Phật liên tục. Nay chúng ta quen thói lúc nhiễu Phật bèn vừa đi nhiễu vừa niệm Phật một ngàn câu, đấy là Chân Tu.

 

      Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.

      南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。

 

      Niệm một ngàn tiếng là chánh xác, tiêu chuẩn đấy! Tiếp đó, niệm ba lần “Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát, nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát”, mỗi danh hiệu ba lần. Phật sự ấy hoàn tất, tức niệm Phật xong xuôi, tiếp đó lại khai thị lần thứ hai, đúng là rát miệng xót ḷng. Pháp Sự này có Sự, có Lư, hỗ trợ nhau, hoàn thành cho nhau, niệm Phật thành tựu tam-muội, khai thị nhằm khải phát trí huệ. V́ thế, pháp sự này là học Định lẫn Huệ một cách quân b́nh, phước huệ song tu, hết sức thù thắng, nhất định phải thành tâm thành ư tu tập. Xin xem phần Khai Thị tiếp theo, cũng là phần phát nguyện, khai thị bằng cách phát nguyện.

 

22. Phát nguyện

 

      Thập phương tam thế Phật,

      A Di Đà đệ nhất.

      十方三世佛。

阿彌陀第一。

      (Mười phương tam thế Phật,

      A Di Đà bậc nhất).

 

      Từ kinh Vô Lượng Thọ chúng ta có thể thấy được điều này. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn khen ngợi A Di Đà Phật, khen A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (ánh sáng tôn quư nhất, vua trong chư Phật). Thích Ca Mâu Ni Phật xưng tán A Di Đà Phật như vậy, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai cũng giống hệt như Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thay mặt cho hết thảy chư Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán như thế chính là mười phương ba đời hết thảy chư Phật tán thán. Chúng ta nhất định khẳng định được điều này.

      “Thập phương tam thế Phật, A Di Đà Phật đệ nhất” (mười phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất): Lời này nào phải tùy tiện nói! Không phải là chúng ta tu Tịnh Độ rồi cố ư tán thán Tịnh Độ. Không phải vậy, mà là sự thật đấy nhé! V́ sao phải tán thán như thế? Trong những bộ kinh to luận lớn cũng tán thán rất nhiều. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư cũng nói hết sức rơ ràng: Cơi thù thắng nhất của A Di Đà Phật không phải là cơi Thật Báo, cũng không phải cơi Phương Tiện, mà là Phàm Thánh Đồng Cư độ. Ngài thiết lập cơi Phàm Thánh Đồng Cư độ quá khéo, khiến cho hết thảy những chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng đều có thể đới nghiệp văng sanh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, được bốn mươi tám nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, khiến những người ấy được thọ dụng hoàn cảnh tu học bằng với hàng Thất Địa Bồ Tát. V́ thế, họ đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Mười phương hết thảy các cơi Phật đều chẳng có được điều này, chỉ riêng thế giới Cực Lạc là có, nên hết thảy chư Phật đều xưng tán Ngài.

      Trong hết thảy các cơi Phật đều có lục đạo chúng sanh, lục đạo chúng sanh chẳng dễ ǵ được thành tựu. V́ thế, hết thảy chư Phật Như Lai đều giảng Tịnh Độ tam kinh, đều khuyên lục đạo chúng sanh trong những cơi ấy hăy niệm Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc, thân cận A Di Đà Phật. V́ vậy, thế giới Cực Lạc giống như một đại học Phật giáo do hết thảy chư Phật cùng lập ra, chư Phật gởi các đệ tử của chính ḿnh đến trường đó học, A Di Đà Phật là hiệu trưởng của trường ấy. Vị hiệu trưởng ấy giỏi giang, khéo dạy, nên tất cả hết thảy chư Phật đều tôn kính Ngài, đều bội phục Ngài. Quư vị hăy từ tỷ dụ này mà thấu hiểu, mới biết lời xưng tán này không phải là hư giả.

 

      Cửu phẩm độ chúng sanh,

       Oai đức vô cùng tận.

  九品度眾生。

威德無窮盡。

      (Chín phẩm độ chúng sanh,

      Oai đức không cùng tận).

 

      Trước kia, có kẻ nói Tây Phương Cực Lạc thế giới không thể đới nghiệp, chỉ có thể tiêu nghiệp văng sanh, chứ không thể đới nghiệp văng sanh. Những lời lẽ ấy gần như khiến cho toàn bộ những người niệm Phật trên thế giới bị chấn động, gây ra một phen hoang mang, không biết phải làm sao: “Không đới nghiệp th́ biết làm sao đây? Chúng ta tu pháp môn này cũng như không!” Nói thật ra, trong thời Mạt Pháp hiện tại, nếu không đới nghiệp văng sanh, bất luận tu học pháp môn nào cũng không ai có thể thành tựu được. V́ sao? V́ không tiêu được nghiệp chướng tập khí, trong ức vạn người khó có được một ai. V́ vậy, không đới nghiệp văng sanh sẽ chẳng thể phổ độ chúng sanh. Quư vị thấy “cửu phẩm độ chúng sanh” (chín phẩm độ chúng sanh) th́ là đới nghiệp hay là không? Nếu không đới nghiệp th́ chín phẩm do đâu mà có? Chín phẩm há chẳng phải là do đới nghiệp nhiều hay ít khác nhau hay sao? Cho dù chưa đoạn được một phẩm phiền năo nào mà niệm Phật vẫn được văng sanh, sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ.

      V́ thế, đem so thế giới Tây Phương với hết thảy các cơi Phật th́ Phàm Thánh Đồng Cư độ của Cực Lạc thù thắng khôn sánh, qua kinh luận chúng ta đă đọc thấy rất nhiều. Tây Phương Tịnh Độ sanh về một là sanh về hết thảy, ở trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, quư vị có thể thân cận Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, những bậc Pháp Thân đại sĩ như thế. Trong những Tịnh Độ các phương khác, những vị đại sĩ đó trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, quư vị không tiến vào Thật Báo Trang Nghiêm độ sẽ không thể gặp những vị ấy. Thế nhưng tại Phàm Thánh Đồng Cư độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn có thể suốt ngày từ sáng đến tối ở cùng một chỗ với các Ngài, thù thắng khôn sánh! “Cửu phẩm độ chúng sanh, oai đức vô cùng tận” (chín phẩm độ chúng sanh, oai đức không cùng tận). Sự thù thắng ấy do oai đức từ bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ.

 

      Ngă kim đại quy y,

      Sám hối tam nghiệp tội.

      我今大歸依。

懺悔三業罪。

      (Con nay đại quy y,

      Sám hối tội tam nghiệp).

 

      Nay chúng ta gặp được duyên này, kinh Di Đà dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cơi ấy). Chúng ta ngày nay gặp được duyên này, thiện căn là ǵ? Có thể tin, có thể phát nguyện, mong cầu văng sanh, đấy là thiện căn. Phước đức là ǵ? Phước đức là niệm Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối. Đấy là phước đức. Vậy th́ chúc mừng quư vị, quư vị thoát ly lục đạo luân hồi, thoát ly mười pháp giới, về Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Phật. Đối với chúng sanh trong chín pháp giới, chẳng những pháp môn này độ được người, mà c̣n độ được cả súc sanh đạo. Quư vị thấy trong Tịnh Tông có cuốn sách Vật Do Như Thử (loài vật c̣n như thế)[1] chuyên ghi chép những chuyện súc sanh niệm Phật văng sanh, ngạ quỷ niệm Phật văng sanh, thậm chí c̣n có chuyện địa ngục niệm Phật văng sanh. Đúng là phổ độ chúng sanh. Nay chúng ta gặp được [pháp môn Tịnh Độ], đă gặp th́ phải nên phát tâm, “đại quy y”.

      “Sám hối tam nghiệp tội” giống như trong bài kệ Sám Hối của Phổ Hiền Bồ Tát đă nói trong phần trên. Sám hối phải phát xuất từ nội tâm, thực sự sám hối. Trong tam nghiệp tội th́ tội ǵ nặng nhất? Thưa cùng quư vị: Không phải là sát sanh, trộm cắp, hay dâm dục, không phải những tội đó, tội lớn nhất là không tin vào Tịnh Độ. V́ sao? V́ chẳng thể văng sanh, bỏ lỡ mất cơ hội này. Quư vị nên biết: Qua kinh luận, đức Phật dạy chúng ta, Ngũ Nghịch Thập Ác tội nặng đến đâu? Giết cha mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá ḥa hợp Tăng, những tội nặng nề! Nếu như sám hối, quay đầu niệm Phật th́ đều được văng sanh. Như vậy, tội lỗi nặng nhất khiến cho quư vị chắc chắn chẳng thể văng sanh chính là v́ quư vị hoài nghi, không tin tưởng, tội lỗi ấy quá nặng. Ngày nay chúng ta “sám hối tam nghiệp tội” phải chú trọng điều này, không chịu niệm Phật, không tin vào niệm Phật. Hiện tại chúng ta có cái tội này hay không? Mỗi người hăy tự phản tỉnh!

       Chúng tôi thường nghĩ đến lời giáo huấn của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, những lời dạy ấy được ghi trong tập sách nhỏ [mang tựa đề] Tây Phương Xác Chỉ. Ngài dạy chúng ta niệm Phật “không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn”. Chúng ta không làm được những điều ấy là có tội! Những tội nghiệp ấy khiến cho chúng ta trong một đời này chẳng thể thành tựu. Khi sám hối tam nghiệp tội, chúng ta phải đặt chuyện này lên đầu. Thực sự không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Chúng ta niệm Phật, câu niệm Phật nơi miệng có thể gián đoạn, nhưng niệm Phật nơi tâm không được gián đoạn. Miệng niệm th́ phải coi ḿnh đang ở nơi đâu, có những chỗ không thuận tiện niệm [ra tiếng], nhưng Phật hiệu trong tâm chưa hề bị gián đoạn.

      Trong đời này, tôi đă thấy một người từ trước đến nay chưa hề thấy có lúc gián đoạn, gây ấn tượng rất sâu cho tôi, người ấy chính là Chương Gia đại sư. Lăo nhân gia không niệm Phật mà tŕ chú, Ngài tŕ chú theo cách Kim Cang Tŕ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chẳng trở ngại người khác, miệng Ngài động, tay lần xâu chuỗi; tay động, miệng động nhưng không phát ra âm thanh. Chúng tôi đến gặp lăo nhân gia, Ngài cùng tôi tṛ chuyện, lúc đang tṛ chuyện, chúng tôi thấy rơ tay lần chuỗi không động, tay cầm xâu chuỗi không động. Ngài nói chuyện với quư vị, nói xong, ngay lập tức lại lần chuỗi tiếp. Từ trước đến nay chưa hề thấy Ngài thay đổi cách ấy, đúng là đă thành thói quen, tâm Ngài định, tâm thanh tịnh.

Thầy Lư từng thân cận đại sư, lúc tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lư, nhắc đến chuyện ấy, [tôi thưa với thầy Lư là] trong quá khứ tôi chỉ có một vị thầy là Chương Gia đại sư dạy tôi ba năm. Thầy Lư đối với Chương Gia đại sư rất khâm phục, thầy nói chúng ta là phàm phu không thể suy lường nổi cảnh giới của Chương Gia đại sư. Thầy nói nh́n vào cách hành tŕ của đại sư, bất luận quan sát bất cứ khi nào, đại sư luôn đang ở trong Định. Thầy nói không biết đại sư đă khai ngộ hay chưa, nhưng đại sư đă đắc tam-muội, thật đấy, không giả đâu! Quả thật đại sư đi, đứng, nằm, ngồi đều trong Định. Công phu của đại sư (chúng tôi không biết Ngài ngủ như thế nào), bất luận trong trường hợp nào mỗi khi quư vị quan sát đại sư, quư vị quan sát kỹ thấy đại sư công phu không gián đoạn, chẳng bị khuấy nhiễu. Bất luận trong hoàn cảnh nào, dù là thiện duyên hay ác duyên, nghịch cảnh hay thuận cảnh, chẳng mảy may liên can đến Ngài. Ngài lần chuỗi, niệm chú không ra tiếng. Đấy là sám hối chân thật.

      Sám hối phải thể hiện bằng hành động. Không phải là đối trước Phật, Bồ Tát cầu xin, van vái, nói: “Con sám hối, cầu Phật Bồ Tát tha tội!” Không hề mang ư nghĩa ấy, làm như vậy sẽ chẳng sám hối được, nhất định phải hiểu lư! Chương Gia đại sư chỉ cho chúng ta cách tu sám hối, cách tu như thế nào? Sau này không làm nữa, đó mới thực sự là sám hối. Niệm Phật là sám hối rốt ráo. Trong mười hai thời, từ nay trở đi Phật hiệu trong tâm không gián đoạn. Quư vị chẳng có vọng tưởng th́ khuất phục được phiền năo. Phật hiệu vừa đoạn th́ vọng niệm bèn khởi. Vọng niệm là tội nghiệp, quư vị tạo nghiệp nơi ư. Ư tạo nghiệp, thân khẩu tự nhiên sẽ tạo nghiệp theo. Do vậy, pháp sám hối rốt ráo chính là “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp). Đấy mới là cách sám hối rốt ráo. A! Nay đă đến giờ rồi.

 

*

Chư vị đồng học!

Chúng ta lại xem  tiếp phần  Khai Thị của  thiền sư  Trung Phong.

Trong buổi trước, chúng ta đă đọc đến:

 

Ngă kim đại quy y,

Sám hối tam nghiệp tội.

我今大歸依

懺悔三業罪。

(Con nay đại quy y,

Sám hối tội tam nghiệp).

 

Đối với người niệm Phật mà nói th́ câu này là xưng niệm sáu chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô là Quy Y, A Di Đà Phật là chân chánh sám hối diệt tội. Trong quá khứ, Phật môn đặc biệt là Tịnh Độ Tông yêu cầu học nhân trong từng niệm tâm phải luôn có A Di Đà Phật, phải dưỡng thành thói quen. B́nh thường tiếp xúc người khác, thậm chí người ta gọi tên ḿnh, phải trả lời như thế nào? Đều trả lời: “A Di Đà Phật”. Dưỡng thành thói quen đó, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật ra, cái ǵ cũng không có, gần như biến thành một loại quy củ trong nhà Phật.

Người có tâm cầu văng sanh niệm một câu A Di Đà Phật, phước huệ tăng trưởng. Không có ư nghĩ mong văng sanh, thậm chí không muốn học Phật pháp th́ niệm một câu A Di Đà Phật sanh phước báo, diệt tội sanh phước, vô lượng vô biên công đức. Vô cùng đáng tiếc, người ấy không hiểu, mà cũng không biết, cho nên trong cuộc sống thường ngày không biết tu. V́ nguyên nhân nào vậy? V́ mê hoặc, v́ mê mất. A Di Đà Phật là đức hiệu của tự tánh, là tên gốc của Chân Như Bản Tánh, trong những phần trên chúng tôi đă giảng rồi, A Di Đà Phật là tên gốc của hết thảy chư Phật, chẳng thể nghĩ bàn!

Ngay trong số những người tu Tịnh Độ chúng ta, số người biết [điều này] cũng không nhiều. Nếu thực sự biết, sẽ quư trọng một câu [danh hiệu] này, sẽ coi một câu danh hiệu này là vô thượng trân bảo, không có một pháp thế gian hay xuất thế gian nào có thể sánh bằng! Quư vị chỉ cần một mực niệm, đúng như Chương Gia đại sư đă nói trước đây: “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng). Quư vị muốn cầu văng sanh, muốn cầu thành Phật, đều dễ dàng đạt được, huống chi tất cả hết thảy những pháp thế gian? Thực sự là “hữu cầu tất ứng”. Vấn đề là phải niệm đến mức độ nào? Phải niệm đến khi không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Trong một đời này (thế giới hiện tại đúng là quá nhiều tai nạn), gặp hung hóa cát, gặp nạn thành lành, chuyện ǵ cũng xứng tâm như ư. Mỗi câu tôi vừa nói đều là lời chân thật, hiện tại quư vị được hết thảy chư Phật hộ niệm, hết thảy các thiện thần ủng hộ. Hai câu trên đây lợi ích vô biên, sâu rộng không ngằn mé, nhưng những người học Phật thường coi thường, thuận tiện như thế mà bỏ qua, đúng là v́ nghiệp chướng sâu nặng mà thành ra như vậy. Tiếp đó nói:

 

Phàm hữu chư phước thiện,

Chí tâm dụng hồi hướng.

凡有諸福善。

至心用回向。

(Bao phước thiện đă có,

Chí tâm đem hồi hướng).

 

Trong cuộc sống thường nhật, làm được những “phước thiện”, khởi thiện tâm, thiện niệm, thiện hạnh, v́ xă hội, v́ đại chúng tu phước. Tuy vậy, phải nhớ rơ: Chớ tự ḿnh hưởng thọ phước báo, tự ḿnh sống khổ sở một chút. Tốt ở chỗ nào? Đối với thế gian này không có tâm lưu luyến, thường có tâm xuất ly, chẳng khởi tham ái đối với thế gian này. V́ thế, có phước báo phải chia cho chúng sanh hưởng, phải giúp đỡ chúng sanh khổ nạn. Trong khi giúp đỡ th́ quan trọng nhất là giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, điều này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác. Bởi lẽ, phá mê khai ngộ th́ người ta mới có thể đoạn ác tu thiện, mới có thể thoát sanh tử, xuất tam giới, triệt để vượt thoát hết thảy khổ nạn, các phương pháp khác làm không được. Đó gọi là Phật sự. Phật sự là việc của bậc đại trí đại giác, không phải là chuyện nhỏ!

Nếu có phước báo mà tự ḿnh hưởng thụ, rất dễ bị mê hoặc. Một người hưởng phước bèn mê, bèn điên đảo, bèn tạo ác nghiệp, bèn đọa lạc; phước báo nên dành cho mọi người hưởng. Tự ḿnh mỗi ngày ăn không cầu no, chớ ăn quá no. Ăn quá no sẽ hôn trầm, trọn chẳng tham cầu ăn uống. Ăn uống nhằm bù đắp thể lực, bù đắp năng lượng cho thân thể của chính ḿnh, vừa đủ là tốt rồi, cũng đừng quá phận, hết thảy tùy duyên. Nghĩ đến đức Thích Ca Mâu Ni Phật khi c̣n tại thế ôm bát đi khất thực, người ta cho thứ ǵ ăn thứ nấy; có thứ ǵ vui thích hay không vui thích chăng? Không có! Trong tâm vẫn là một câu A Di Đà Phật. Ăn ngon, A Di Đà Phật; khó nuốt cũng là A Di Đà Phật. Như vậy mới tốt! Tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ.

“Chí tâm dụng hồi hướng”: “Chí tâm” là tâm chân thành, thành tâm thành ư hồi hướng. Trong phần giảng về mười nguyện Phổ Hiền trước đây, chúng tôi đă nhắc đến hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Thật Tế. Nay chúng ta hồi hướng chúng sanh, hồi hướng thế giới Cực Lạc, nguyện đem công đức này trang nghiêm Tịnh Độ Phật, niệm niệm chẳng quên cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, niệm niệm chẳng quên thân cận A Di Đà Phật.

 

Nguyện đồng niệm Phật nhân,

Cảm ứng tùy thời hiện.

願同念佛人。

感應隨時現。

(Nguyện người cùng niệm Phật,

Cảm ứng tùy thời hiện).

 

Chỉ cần chân thành, thầy Lư truyền cho tôi bốn chữ “chí thành cảm thông”. Chân thành đến cùng cực, đó là Năng Cảm, chư Phật, Bồ Tát bèn Ứng. “Cảm ứng tùy thời hiện”, thế tục thường gọi chuyện này là “Phật, Bồ Tát gia tŕ, Phật, Bồ Tát bảo hựu[2]”. “Tùy thời hiện”: Trong hết thảy thời, hết thảy nơi chẳng ĺa Phật, Bồ Tát, trong tâm chúng ta chỉ có A Di Đà Phật, trong hết thảy thời, hết thảy xứ, chẳng tách ĺa, trong hết thảy thời, hết thảy xứ, Phật, Bồ Tát thường chiếu cố.

 

Lâm chung Tây Phương cảnh,

Phân minh tại mục tiền.

臨終西方境。

分明在目前。

      (Lâm chung cảnh Tây Phương,

      Hiện rơ ràng trước mắt).

 

      Ở Trung Quốc, người đầu tiên đề xướng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là Huệ Viễn đại sư thuộc thời đại Đông Tấn. Ngài dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, tập hợp một trăm hai mươi ba người chí đồng đạo hợp, không xuống núi, lấy Hổ Khê làm giới hạn, chí đồng đạo hợp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Trong suốt một đời Ngài, ba lần thấy thế giới Cực Lạc, thấy trong Định, nhưng từ trước đến nay chưa hề kể với người khác, giấu kín không nói. Ngài thấy t́nh trạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới giống hệt như kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Trước khi văng sanh bảy ngày, A Di Đà Phật hiện ra trước mặt, bảo Ngài: “Tịnh nghiệp của ông đă chín muồi, bảy ngày nữa ông sẽ văng sanh thế giới Cực Lạc”. A Di Đà Phật đến tiếp dẫn Ngài. Đến ngày thứ bảy, quả nhiên A Di Đà Phật đến tiếp dẫn. Ngoài Quán Âm, Thế Chí, lại c̣n có mấy người thuộc liên xă đă văng sanh trước Sư cũng đứng gần bên A Di Đà Phật. Ngài Huệ Viễn bảo với mọi người như thế; nói xong, Ngài ngồi ngay nơi đó, viên tịch, không sanh bệnh.

      Một trăm hai mươi ba người thuộc Liên Xă khi ấy gần như đều văng sanh hết, chẳng thể nghĩ bàn! Là v́ mọi người lúc sơ phát tâm không giống nhau, Viễn Công từ nhỏ đă thông minh tuyệt đỉnh. Truyện kư chép lúc Ngài c̣n bé, sáu kinh[3] của Nho Gia đọc rất nhuần, không những đọc nhuần nhuyễn c̣n hiểu được ư nghĩa. Năm mười mấy tuổi, dường như là năm mười ba tuổi, nghe biết Phật pháp, thân cận vị thầy đương thời là pháp sư Đạo An[4], nghe pháp sư Đạo An giảng kinh Bát Nhă bèn khai ngộ. Khai ngộ rồi bèn phát tâm xuất gia. Về sau, Ngài lập đạo tràng tại Lô Sơn, trở thành tổ đời thứ nhất của Tịnh tông, thành khai sơn tổ sư. Bốn câu kệ trên nếu áp dụng vào Niệm Phật Đường ở Lô Sơn quả thật hoàn toàn tương ứng. “Nguyện đồng niệm Phật nhân, cảm ứng tùy thời hiện, lâm chung Tây Phương cảnh, phân minh tại mục tiền” (Nguyện người cùng niệm Phật, cảm ứng tùy thời hiện, lâm chung cảnh Tây Phương, hiện phân minh trước mắt).

      Từ xưa những vị đại đức, đặc biệt là các tổ sư đại đức của Tịnh Độ tông cho đến những bậc đại đức trong hàng cư sĩ tại gia, đă nêu những tấm gương vô cùng tốt đẹp. Chúng ta thấy trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục hay Văng Sanh Truyện, chỉ cần là người thực sự niệm Phật, thực sự thực hiện được hai câu kệ ở phần trên: “Ngă kim đại quy y, sám hối tam nghiệp tội” (con nay đại quy y, sám hối tội tam nghiệp), một câu A Di Đà Phật chết ḷng[5] niệm, quyết định chẳng c̣n xen tạp những pháp môn nào khác, nhất tâm niệm th́ không ai chẳng được văng sanh.

      Nay Ấn Quang đại sư dạy chúng ta, Ngài nói rất hay: Dựng đạo tràng trong thời hiện tại, đạo tràng dù nhỏ vẫn là đạo tràng thập phương. Nếu ai không có tâm riêng tư, nếu không tự tư, tự lợi, bất luận từ địa phương nào đến, cốt sao chí đồng đạo hợp, thực sự tu Tịnh Độ th́ chúng ta đều hoan nghênh dự vào đạo tràng chuyên tu Tịnh nghiệp. Chúng thường trụ trong đạo tràng không được vượt quá hai mươi người, đạo tràng ấy không hóa duyên[6], không làm pháp hội, không truyền pháp, không thâu đồ chúng, không truyền giới, không làm những Phật sự kinh sám thù tạc, mà chuyên nhất niệm Phật, công khóa mỗi ngày giống như Phật thất phổ biến vậy.

      Nay chúng tôi đề xướng, Ấn Quang đại sư dạy không giảng kinh, nay chúng tôi lại đề xướng phải nghe kinh, v́ sao? Là v́ con người hiện thời không hiểu Lư. Giảng kinh hạn cuộc trong năm kinh một luận Tịnh Độ, trừ những thứ ấy ra th́ không giảng. Có thể giảng năm kinh một luận của Tịnh Độ, hoặc ngữ lục của những tổ sư Tịnh Độ tông, đặc biệt là ngữ lục của Liên Tŕ đại sư, Ngẫu Ích đại sư, Ấn Quang đại sư, chúng ta rút gọn lại trong phạm vi nhỏ như vậy. Mọi người hiểu lư minh bạch, rành rẽ phương pháp, chất phác niệm, chắc chắn thành tựu. V́ thế, đạo tràng tốt nhất phải có giảng đường, có Niệm Phật Đường. Giảng đường để nghe kinh, không hạn chế. Quư vị thích nghe th́ nghe, quư vị không thích nghe th́ đi niệm Phật. Lấy Niệm Phật Đường làm chủ, dùng giảng đường để phụ trợ, giải hạnh tương ứng, Định lẫn Huệ được học cân bằng, đó là đạo tràng đúng pháp. Chúng ta lại xem đoạn văn tiếp theo:

 

      Kiến văn giai tinh tấn,

      Đồng sanh Cực Lạc quốc.

      見聞皆精進。

同生極樂國。

      (Thấy, nghe đều tinh tấn,

      Cùng sanh cơi Cực Lạc).

 

      Đây là đoạn văn mở đầu phần hồi hướng, phát nguyện.

 

      Kiến Phật liễu sanh tử,

      Như Phật độ nhất thiết.

      見佛了生死。

如佛度一切。

      (Thấy Phật hết sanh tử,

      Độ hết thảy như Phật).

 

      Đây là nguyện vọng duy nhất của chúng ta: Chúng ta nhất định phải thấy A Di Đà Phật, tu hành trong thế giới Cực Lạc, đoạn xong hai thứ Biến Dịch và Phần Đoạn sanh tử. Quyết định phải chứng được Phật quả rốt ráo th́ mới có thể phổ độ chúng sanh trong mười phương pháp giới. Tiếp theo:

 

      Vô biên phiền năo đoạn.

      無邊煩惱斷。

     

      Đây chính là “phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn”.

 

      Vô lượng pháp môn tu.

       無量法門修。

 

      Đoạn phiền năo, thành tựu đức năng cho chính ḿnh, bèn học pháp môn để thành tựu học vấn của chính ḿnh, sau đấy mới có thể thực hiện ư nguyện độ chúng sanh.

 

      Thệ nguyện độ chúng sanh.

      誓願度眾生。

 

      Câu tiếp theo sau câu này có phạm vi rất lớn, nguyện cho hết thảy chúng sanh đều thành Phật đạo.

 

      Tổng nguyện thành Phật đạo.

      總願成佛道。

      (Nguyện cùng thành Phật đạo).

 

      So với Tứ Hoằng Thệ Nguyện, cảnh giới của nguyện này càng rộng hơn nữa. “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành” của Tứ Hoằng Thệ Nguyện chỉ nói về chính ḿnh, c̣n ở đây nói đến tất cả hết thảy chúng sanh, “tổng nguyện thành Phật đạo” (nguyện đều thành Phật đạo).

 

      Hư không hữu tận,

      Ngă nguyện vô cùng.

      虛空有盡。

我願無窮。

      (Hư không có thể tận,

      Nguyện của tôi khôn cùng).

 

      Phải phát đại nguyện lớn lao như thế mới tương ứng với nguyện của Như Lai, không có mảy may tự tư, tự lợi nào. Ta đoạn phiền năo là v́ chúng sanh, ta học pháp môn cũng là v́ chúng sanh. Ta thành Phật đạo vẫn là v́ chúng sanh. V́ chúng sanh mới chính là thực sự v́ ḿnh, v́ riêng ḿnh chính là tự hại ḿnh. Phải hiểu đạo lư này! Chúng ta có phước trao cho hết thảy chúng sanh hưởng th́ quư vị thực sự có phước, phước vĩnh viễn chẳng hưởng hết. Nếu phước báo để chính ḿnh hưởng, dẫu là phước báo tích tập nhiều đời nhiều kiếp, thường chỉ hưởng trong một đời, hai ba mươi năm là hết. Sự t́nh này nếu quư vị chú tâm quan sát những đế vương trong lịch sử [sẽ thấy]: Kẻ làm vua chúa, phước báo không phải do tu được trong một đời, hai đời, mà là do tu tập tích tụ phước đức từ nhiều đời, sanh vào nhân gian hưởng phước, nên mới được làm đế vương. Họ hưởng được bao nhiêu năm?

Trong số đế vương các đời, người có thể sống đến tuổi sáu mươi rất hiếm. Chúng ta chú tâm quan sát lịch sử, có rất nhiều vua chúa mới ba, bốn mươi tuổi đă mạng chung. Dẫu cho họ sanh trưởng trong nhà đế vương, từ nhỏ đă hưởng thụ phú quư, về sau kế thừa ngôi vua; ba bốn mươi tuổi đă chết rồi. Quư vị nghĩ xem nhiều đời nhiều kiếp tu tập, tích tụ phước đức cũng không quá ba, bốn mươi năm là hết, kể cả thời gian làm vương tử. Thực sự làm đế vương th́ có rất nhiều kẻ làm vua chưa đầy mười năm! Có vậy quư vị mới hiểu phước đức ḿnh tích tụ để cho chính ḿnh hưởng sẽ bị hết đi rất nhanh. Nếu cấp cho mọi người hưởng, phước báo ấy sẽ cuồn cuộn đưa tới, vĩnh viễn không gián đoạn, đấy mới là tốt, đúng là đại phước báo. V́ thế, nguyện của chúng ta phải lớn, phải giống với chư Phật, Bồ Tát, “hư không hữu tận, ngă nguyện vô cùng” (hư không dẫu có tận, nguyện của tôi vô cùng). Tiếp theo đây là bài kệ Hồi Hướng, cũng là bài kệ Hồi Hướng của những người chuyên tu Tịnh Độ chúng ta:

 

23. Hồi hướng

 

      Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,

      Thượng phẩm liên hoa vi phụ mẫu.

      願生西方淨土中。

上品蓮華為父母。

      (Nguyện sanh trong Tây Phương Tịnh Độ,

      Hoa sen thượng phẩm là cha mẹ).

 

      Thế giới Cực Lạc không có cha mẹ, chẳng có thai sanh mà là liên hoa hóa sanh, nên ví hoa sen như cha mẹ, chứ không phải là cha mẹ thật. “Thượng phẩm liên hoa” là Thượng Phẩm Thượng Sanh. Con người phải có chí khí, chúng ta đă tu Tịnh Tông, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, v́ sao không cầu Thượng Phẩm Thượng Sanh? V́ sao Hạ Hạ Phẩm là đă măn nguyện rồi? Những thứ khác đều buông xuống, chỉ yêu cầu mỗi một điều sau đây. Cầu điều ǵ? Cầu sớm thành Phật đạo, thành sớm một ngày sẽ giúp chúng sanh khổ nạn, vẫn là v́ chúng sanh, chứ không v́ chính ḿnh. Nếu v́ chính ḿnh chứ không v́ chúng sanh th́ nói thật ra, quư vị không thể văng sanh được đâu! V́ sao? Nguyện ấy khác với nguyện của A Di Đà Phật, không giống với nguyện của tất cả các thượng thiện nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, trái nghịch với họ, nên không văng sanh được. Hết thảy v́ chúng sanh, đoạn phiền năo v́ chúng sanh, thành Phật đạo v́ chúng sanh, cầu Thượng Phẩm Thượng Sanh vẫn là v́ chúng sanh.

 

      Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh,

      Bất thoái Bồ Tát vi bạn lữ.

      華開見佛悟無生。

不退菩薩為伴侶。

      (Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh,

      Bất thoái Bồ Tát là bè bạn).

 

      Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa hóa sanh, thượng phẩm thượng sanh, đến nơi ấy hoa nở rất nhanh. “Hoa nở” tượng trưng cho điều ǵ? Tượng trưng cho chính ḿnh, không phải do A Di Đà Phật gia tŕ, mà do công phu tu hành của chính ḿnh đă đạt đến Lư nhất tâm bất loạn. Chúng ta văng sanh đại đa số là công phu thành phiến, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới ở trong hoa sen, hoa sen chưa nở. Đến lúc nào hoa mới nở? Đến khi nào chứng được Lư nhất tâm bất loạn, cũng tức là đă đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Do v́ quư vị ở trong hoa sen, Phật đến dạy quư vị, chư Phật, Như Lai đến giảng kinh thuyết pháp cho quư vị, quư vị thích tu pháp môn nào đều có thể học pháp môn ấy.

      “Bất Thoái Bồ Tát”: Các vị Bồ Tát viên chứng ba thứ Bất Thoái từ Thất Địa trở lên là đồng tham đạo hữu của quư vị, là đồng học của quư vị, là bằng hữu ở cùng một chỗ với quư vị. Nhiều đồng tham đạo hữu tốt lành đến như thế, lại có chư Phật Như Lai tới dạy dỗ, quư vị nghĩ thử xem: Khai ngộ rất nhanh chóng! Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, hoa sen bèn nở. V́ thế, hoa sen vừa nở th́ đó là cảnh giới nào? Là Thật Báo Trang Nghiêm Độ! Trong hoa sen là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, là Phương Tiện Hữu Dư Độ. Hoa nở rồi là Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Đấy là cảnh giới quư vị đích thân chứng được.

Tất cả hết thảy khai thị, tán tụng, phát nguyện, không ǵ chẳng nhằm

hiển thị y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng khôn sánh. Chúng ta nghe xong, thấy xong, hăy nên phát nguyện văng sanh cơi Phật. Duyên ấy đúng là “bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ” (trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ). Cư sĩ Bành Tế Thanh nói rất hay: “Vô lượng kiếp lai, hy hữu nan phùng chi nhất nhật” ([ngày được gặp gỡ, nghe nói pháp môn Tịnh Độ] là một ngày hiếm có, khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay). Ngày hôm nay chúng ta đă gặp. Tiếp đến là phần tán thán Pháp Bảo trong phần tán thán Tam Bảo. Ở trên, chúng ta đă đọc qua về phần tán thán Phật Bảo. Ở đây là tán thán Pháp Bảo trong thời thứ hai:

 

24. Tam Bảo tán – tán thán Pháp Bảo

 

      Pháp Bảo thực nan lượng.

法寶實難量。

      (Pháp Bảo thật khó lường).

 

      “Lượng” () là đo lường, suy lường. Nói cách khác, “Pháp Bảo thực nan lượng” nghĩa là Pháp Bảo quả thật chẳng thể nghĩ bàn. Không cần phải xem kinh luận nào khác, nay chúng ta chỉ đọc ḿnh Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự này thôi, quư vị thấy kinh Di Đà, chú Văng Sanh, lại c̣n tán Phật, phát nguyện, khai thị, nh́n vào một chút nhỏ nhặt dường này mà đă [thấy Pháp Bảo] chẳng thể nghĩ bàn, huống chi cả một Đại Tạng Giáo, quả thật khó nghĩ khó bàn, chẳng thể nghĩ bàn!

 

      Như Lai kim khẩu tuyên dương.

      如來金口宣揚。

 

      Chữ “kim khẩu” (miệng vàng) hàm ư xưng tán. Nh́n từ mặt Sự, Phật là kim sắc thân, [nghĩa là] thân Phật màu vàng ṛng, bởi thế chúng ta nói mặt Phật là “kim diện” (mặt vàng), gọi miệng Phật là “kim khẩu”. Nếu luận theo Lư th́ trong bảy báu, v́ sao vàng được mọi người coi trọng đến thế? V́ vàng chẳng biến đổi, những thứ khác như bạc chẳng hạn có thể bị “dưỡng hóa” (oxidize: ốc-xít hóa), biến thành màu đen. Riêng màu vàng của vàng trong bất cứ t́nh huống nào cũng vẫn giữ được bản sắc, nên trong những thứ kim loại, mọi người đều quư vàng. Chữ “kim khẩu” ư nói những lời Như Lai nói đều là vĩnh hằng bất biến, chữ Kim có ư nghĩa như vậy, biểu thị ư nghĩa này. Hết thảy pháp do từ miệng vàng của đức Như Lai tuyên dương.

 

      Long cung hải tạng tán thiên hương.

      龍宮海藏散天香。

      (Cất tại cung rồng trong biển cả, rải hương trời)

     

      Lúc đức Thế Tôn thuyết pháp, nói xong, Đại Long Bồ Tát thâu thập lại, cất giữ trong thư viện của ḿnh, cất giữ trong cung rồng. Câu này chỉ kinh ǵ vậy? Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện mới thành Phật, ở dưới cội Bồ Đề, đức Phật nói kinh này trong Định, thời gian không dài, trong hai tuần, có chỗ nói là ba tuần. Nói cách khác, tính là ba tuần th́ mới là hai mươi mốt ngày, đức Phật giảng kinh trong Định. Phàm phu chẳng có phần, chẳng thể tham dự pháp hội trong Định của Như Lai, bởi lẽ, đại chúng tham dự pháp hội là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ. Chúng tôi thường nói: “Phá một phẩm vô minh, chứng một phần Chân Tánh”. Người như vậy mới đủ tư cách tham dự pháp hội Hoa Nghiêm, nghe đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm, đi vào trong Định của Như Lai. Cũng có nghĩa là người trong mười pháp giới chẳng có phần.

      Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy có rất nhiều thiên chúng, thần chúng, v́ sao họ cũng tham dự được? Phải biết: Những loại chúng quỷ thần ấy đều là chư Phật hay Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới, không thực sự là phàm phu. Nếu thực sự là phàm phu, họ làm sao có thể tham dự pháp hội ấy được? V́ thế, trong số các quỷ thần cũng có chư Phật, Bồ Tát ứng hóa, họ là ứng hóa nên có thể tham gia. Họ tham gia cũng như đại diện cho một loài chúng sanh, chứ không phải là phàm nhân, mà toàn là Pháp Thân Bồ Tát.

      Trong thời gian ngắn ngủi như thế, đức Phật giảng bao nhiêu? Giảng quá ư là nhiều! Đức Phật diệt độ sáu trăm năm, Long Thọ Bồ Tát sanh ra. Ngài Long Thọ là Sơ Địa Bồ Tát, đi vào long cung, thấy Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh lớn đến chừng nào? Ngài nói: “Mười đại thiên thế giới vi trần kệ, một tứ thiên hạ vi trần phẩm”. Trong thế gian này không có ai có thể đọc hết nổi! Lại xem có bản nào đơn giản hơn hay không? À! Lại coi đến Trung Bổn, người thế gian chúng ta vẫn không thể lănh thọ được nổi, v́ phân lượng quá lớn. Cuối cùng, c̣n có thứ nào đơn giản hơn hay chăng? Đại Long Bồ Tát liền đưa phần mục lục đề yếu của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh cho ngài Long Thọ xem. Giống như Tứ Khố Toàn Thư của chúng ta vậy. Quư vị thấy bộ Tứ Khố Toàn Thư ở giảng đường chúng ta, nay là bản in chữ rút nhỏ lại, tổng cộng một ngàn năm trăm tập. Bộ sách này có bản Mục Lục Đề Yếu đơn giản nhất, in thành năm tập; phần này do Kỷ Hiểu Lam biên soạn: Mỗi một cuốn sách, tựa đề, tác giả, sáng tác trong niên đại nào, nội dung nói những ǵ, đều được giới thiệu đơn giản. Những thứ này trước đây được soạn cho vua Càn Long xem. Hoàng đế Càn Long không có thời gian xem nhiều sách đến thế, do vua muốn hiểu nội dung mỗi cuốn sách như thế nào, nên [Kỷ Hiểu Lam] đặc biệt soạn tóm tắt cho vua xem.

Ngày nay chúng ta đọc kinh Hoa Nghiêm, chính là mục lục đề yếu của kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Quư vị mới hiểu đức Thế Tôn nhập Định, quư vị phải biết là thời gian trong Định đem so với thời gian hiện tại của chúng ta phải có sai biệt. Kinh Đại Thừa thường nói: “Một niệm có thể mở rộng thành vô lượng kiếp, vô lượng kiếp có thể rút gọn thành một niệm”. Niệm và kiếp viên dung. V́ thế, đức Phật có thể trong khoảng một niệm giảng vô lượng vô biên Phật pháp, biến thành vô lượng kiếp. Đấy chính là ư nghĩa của câu “long cung hải tạng tán thiên hương”. Đại Long Bồ Tát thâu cất trong cung rồng. Bản Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh do Long Thọ Bồ Tát truyền ra gồm mười vạn kệ[7], bốn mươi phẩm, đều là phần mục lục đề yếu.

 

      Giác giả tụng lang hàm.

      覺者誦琅函。

      (Bậc giác ngộ đọc kinh văn).

 

      Chỉ có người thực sự giác ngộ mới hiếu học, mới thích thú, thích thọ tŕ, đọc tụng. Từ ngữ “lang hàm” (琅函) ngày nay cũng ít người hiểu. Lang Hàm là ǵ vậy? Lang Hàm là cái hộp chứa đựng sách thời cổ. Như nay quư vị thấy những cuốn sách in theo lối cổ, bên ngoài có một cái hộp đựng để bảo vệ. Câu này có ư nghĩa là đọc quyển kinh, nói theo cách bây giờ là đọc bản kinh.

      Ngọc trục, hà điều, kim tả tự.

      玉軸霞條金寫字。

      (Trục ngọc, lụa màu ráng trời, viết chữ vàng).

 

      Những bản kinh xưa kia, những bản kinh cổ nhất được viết trên lụa, giống như thư họa hiện tại. V́ thế gọi là một Quyển (: cuộn lại). Quyển ấy viết xong, cuộn lại, gắn trục, trục được làm bằng ngọc. Dùng lụa loại tốt nhất nhằm tôn trọng kinh điển, coi kinh điển như của báu vô thượng. Kinh quyển thời cổ như thế – nói theo cách bây giờ là “trang hoàng” – dùng cách trang hoàng kinh điển đẹp đẽ, quư trọng nhất, chữ viết bằng vàng. Hiện tại quư vị có thể thấy những quyển kinh như thế trong những viện bảo tàng, có loại viết chữ vàng, có loại viết chữ bạc; dùng [bột] vàng hay bạc [ḥa vào mực hay chất son] để viết.

 

      Tự bài thu nhạn thành hàng.

      似排秋雁成行。

      (Như chim nhạn bay thành hàng trong mùa Thu).

 

      Câu này có ư chỉ Phạn văn, cũng có thể hiểu là thư pháp viết hết sức đẹp đẽ, thư pháp tinh xảo, tề chỉnh. Phạn văn được viết theo hàng ngang, c̣n Hán văn viết theo hàng dọc. Văn tự Tây Tạng là biến thể trực tiếp của văn tự tiếng Phạn, giống như văn tự Nhật Bản do học từ Trung Quốc rồi biến đổi đi, có quan hệ hết sức mật thiết. Nay chúng tôi đến Nhật Bản, nói thật ra, không khác ǵ ở Trung Quốc cả, dẫu ngôn ngữ không thông, nhưng văn tự xem đến liền hiểu được. Chúng tôi đọc tên mỗi đường phố đều hiểu, dù âm đọc khác nhau, nhưng nhận biết được mặt chữ, hiểu được ư nghĩa. Câu này chúng ta có thể giải thích là văn tự chỉnh tề, lối chữ khéo léo, ngay ngắn, chỉnh tề, đều hàm ư tôn trọng Pháp Bảo.

 

      Tích nhân tam tạng thủ lai Đường.

      昔因三藏取來唐。

      (Xưa nhờ Tam Tạng đem qua Trung Hoa).

 

      Mọi người vừa đọc đến câu này, thấy từ ngữ “Tam Tạng” bèn nghĩ ngay đến pháp sư Huyền Trang, tức Đường Tam Tạng. Trên thực tế, câu này mang ư nghĩa rất rộng. Thời cổ, rất nhiều pháp sư từ Trung Quốc qua Ấn Độ thỉnh kinh, học tập. Cao tăng đại đức Ấn Độ mang theo tượng Phật, kinh sách đến Trung Quốc cũng không ít. Vào thời đó, những pháp sư phiên dịch kinh điển đều gọi là “Tam Tạng pháp sư”. Kinh Phật [dịch sang tiếng Hán] bắt đầu từ thời Hán, vào đời Hậu Hán[8] kinh Phật được chánh thức truyền sang Trung Quốc, truyền sang rồi mới bắt đầu phiên dịch, nhưng kinh được phiên dịch nhiều nhất là vào đời Đường. V́ thế, vào đời Đường, mười tông phái Đại Thừa và Tiểu Thừa[9] của Phật giáo Trung Quốc được thành lập, có thể nói là Phật pháp Ấn Độ đă di thực[10] hoàn toàn đến Trung Quốc. Vào đời Đường có thể nói là [Phật giáo] đă di thực hết sức viên măn, biến thành một bộ phận của văn hóa Trung Quốc, ảnh hưởng hết sức rộng lớn. Có rất nhiều thuật ngữ trong cuộc sống thường ngày của chúng ta phát xuất từ Phật giáo. V́ vậy, lăo cư sĩ Triệu Phác Sơ từng nói rất hay; cụ nói: “Nếu chúng ta vứt bỏ Phật giáo sẽ không thể nói năng ǵ được nữa!” Cụ nói như vậy là đúng đấy, nhưng người hiểu được câu nói ấy không nhiều. Trong những thuật ngữ thường dùng hằng ngày của chúng ta có rất nhiều từ ngữ lấy từ kinh Phật.

 

      Vạn cổ vị phu dương.

      萬古為敷揚。

      (Phô diễn đến muôn đời).

 

      Tức là đời  đời truyền  tụng, lưu thông  muôn đời, lợi ích  rộng răi

chúng sanh. Đây là đại ư của bài tán Pháp Bảo.

      Trong Phật sự có xướng niệm, do vậy thời gian làm Phật sự phải dài. Nếu rất nghiêm túc, rất chân thành làm Phật sự th́ một buổi Phật sự phải mất ba tiếng. Ba tiếng đồng hồ, sức lực ai nấy đều kém đi một chút, cảm thấy mỏi mệt. Bởi thế, trong Phật sự phải có âm nhạc, phải có xướng tụng, có nhiễu Phật, có hoạt động. Phối hợp rất nhiều phương tiện thiện xảo lại, khiến chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, rất nhanh chóng, không biết là thời gian kéo dài, cũng không cảm thấy nhọc nhằn. Tâm chân thành thực hiện được một buổi Phật sự viên măn, cơi âm lẫn cơi dương cùng được lợi. Nói thật ra, người làm Phật sự chúng ta được lợi ích lớn nhất. Kinh Địa Tạng dạy không sai, bảy phần công đức th́ bản thân chúng ta được hưởng sáu phần, vong linh, quỷ thần được hưởng một phần bảy.

      Thế nhưng Phật sự ấy có lợi ích rất thù thắng đối với vong linh. Do nguyên nhân nào? Người làm pháp sự rất đông, chẳng phải chỉ là mấy vị pháp sư làm, không phải thế, mà là đại chúng đều có thể tham dự. V́ vậy, nay chúng ta thường làm Phật sự Tam Thời Hệ Niệm; tại Đài Loan, tại Trung Quốc, có đến hơn cả trăm người tham dự, thậm chí có khi đến hơn ba trăm người, quư vị nói xem công đức ấy lớn đến đâu! Lợi ích ấy rất lớn. Từ báo cáo nước kết tinh, chúng ta có thể hiểu được đạo lư này: Tập hợp sức mạnh của đại chúng, công đức thù thắng! Nhất là tập hợp những người thực sự có tu hành, những người tâm địa thanh tịnh, tâm địa thiện lương, những người ấy tâm ít nhiều tương ứng cùng kinh giáo. Trong khi làm Phật sự, họ có thể buông xuống vạn duyên, tối thiểu là trong lúc làm pháp hội, trong thời gian ngắn ngủi, buông xuống hết thảy tạp niệm, chuyên tâm thực hiện buổi công khóa ấy. Người [tham dự] lại đông ngần ấy, có pháp sư dẫn đầu; do vậy, Phật sự như vậy thù thắng hơn những Phật sự khác quá nhiều! Ví như nói Lương Hoàng Sám, người tham dự không đông được như thế; thực sự làm pháp sự chỉ có vài vị pháp sư, chứ đại chúng không thực sự tham dự; nhưng Tam Thời Hệ Niệm là thực sự tham dự, khác hẳn. A! Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

Tập 50

 

25. Khai thị

     

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần khai thị lần thứ ba trong thời thứ hai, tiếp ngay sau phần tán thán Pháp Bảo. Chúng tôi đọc lời khai thị một lượt:

      Cái văn: Hư nhi hữu minh đáp chi thanh, tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng. Nhiên cốc hưởng tự nhiên, phi hô chi nhi bất đáp. Phật thân vô tác, phi khấu chi nhi bất chương.

      聞虛而有鳴答之聲。寂而無形影之相。然谷響自然。非呼之而不答。佛身無作。非扣之而不彰。

      (Từng nghe: Trống rỗng mà có tiếng đáp ứng, tịch nhưng không có tướng h́nh ảnh. Thế nhưng, hang dội tiếng vọng là tự nhiên, không bao giờ kêu mà chẳng đáp. Phật thân vô tác, không bao giờ gơ mà chẳng hiển bày).  

     

Chúng ta xem tiểu đoạn này trước. Đoạn này giảng về đạo lư cảm ứng đạo giao. “Cái văn” (từng nghe) – “văn” () là nghe – từng nghe đức Thế Tôn khi giảng kinh, thuyết pháp thường nói đến. “Hư nhi hữu”: Hư () là hư vô, con người hiện nay gọi “hư nhi hữu” là “từ trong Không sanh ra Có”. Trước kia thường tưởng chuyện trong Không sanh ra Có không thể nào xảy ra được. Các nhà khoa học cận đại đă chứng thực: Quả thật, Hữu từ Vô sanh ra, đúng là trong Không sanh ra Có. “Hư nhi hữu minh đáp chi thanh” (trống rỗng mà có tiếng đáp vọng), “minh đáp chi thanh” (tiếng đáp vọng lại) là cách nói h́nh tượng, ở phần sau thiền sư sẽ nói cụ thể cho chúng ta hiểu, dẫn sự tướng làm chứng. “Tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng” (tịch nhưng không có tướng h́nh ảnh), trong thanh tịnh tịch diệt không có tướng h́nh ảnh, pháp vốn là như thế. H́nh tướng do đâu mà có? Nói chung không ngoài cảm ứng. Tiếp đó, dùng sự thật để nói. Hai câu đầu giảng về Lư Thể, Thể của Pháp Tánh vốn là như vậy, thanh tịnh tịch diệt!

      “Nhiên cốc hưởng tự nhiên, phi hô chi nhi bất đáp” (nhưng hang dội tiếng vọng là tự nhiên, không bao giờ kêu mà chẳng đáp). Đây là nêu thí dụ minh họa ư đầu tiên “hư nhi hữu minh đáp chi thanh” (trống rỗng mà có tiếng đáp vọng). Hang núi quả thật không có âm thanh, nhưng nếu quư vị hú dài một tiếng sẽ có tiếng vọng; bởi thế, “phi hô chi nhi bất đáp” (không bao giờ kêu mà chẳng đáp). Nếu quư vị không hú dài một tiếng, hang núi cũng không vọng lại tiếng. Đấy chính là “trống rỗng mà có tiếng đáp vọng”. Tiếng đáp vọng ấy phải do chính quư vị dẫn khởi; hang núi có khả năng ứng tiếng, nhưng quư vị phải cảm, cảm ứng mà, tướng được hiện bèn hiện tiền.

      Trong câu kế đó, “Phật thân vô tác” chính là “tịch nhi vô h́nh ảnh chi tướng” (tịch nhưng không có tướng h́nh ảnh). Quả thật chư Phật Như Lai không có h́nh tướng, nhưng nếu quư vị đánh động, chư Phật liền hiện ra. Khấu (: gơ, đánh động) là Cảm, Chương () là hiển hiện rất rơ rệt, tức là Ứng. Chúng sanh có Cảm, Phật bèn có Ứng. Cảm khác nhau, thiên sai vạn biệt (muôn vàn sai khác) nên Ứng cũng khác nhau, cũng là thiên sai vạn biệt. Người cảm có lúc hữu ư, có lúc vô ư, hoặc có thể nói là chúng ta hữu tâm hay vô tâm, nhưng Ứng luôn luôn là vô tâm. Vô tâm, vô ư, tùy quư vị cảm như thế nào sẽ ứng như thế đó, cảm ứng đạo giao, hiển hiện vô lượng vô biên sắc tướng. Sự cảm ứng ấy đều là duy thức sở biến, nó có thể hiện th́ là duy tâm sở hiện, tâm hiện, thức biến. Thức do tâm hiện, biến thành vô lượng vô biên sắc tướng, trong Phật pháp gọi là “vô lượng vô biên pháp giới”. Vốn là Nhất Chân, kết quả Nhất Chân biến thành vô lượng vô biên pháp giới, trong ấy có khổ hay vui khác nhau. Tiểu đoạn này nói không nhiều, nhưng nghĩa lư sâu rộng vô tận, người học Phật chẳng thể không biết.

      Tin Phật th́ dựa vào đâu để tin? Dựa vào đạo lư mà tin, nhờ vào những sự thật mà tin tưởng. Phá mê khai ngộ, phản vọng quy chân (bỏ vọng trở về chân) là nhờ vào đâu? Cũng nhờ vào đạo lư này. Nếu quư vị thực sự hiểu được đạo lư này sẽ có thể thay đổi được vận mạng hiện tiền. Ta muốn được vận mạng tốt, ta hy vọng suốt đời gặp may, không khó đâu, chỉ cần quư vị có Cảm tốt, tự nhiên sẽ có Ứng tốt. Cổ đức đă nói: “Chủng thiện nhân đắc thiện quả” (Trồng thiện nhân được thiện quả). Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Thế Tôn đă dạy chúng ta: “Thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện pháp, bất dung hào phân bất thiện hiệp tạp” (Thường nghĩ đến thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện pháp, chẳng để mảy may bất thiện xen tạp), quư vị sẽ được hạnh phúc vĩnh hằng, rốt ráo, viên măn, “năng ly nhất thiết thế gian khổ” (ĺa được hết thảy nỗi khổ trong thế gian). Đó là cảm ứng! Lư cảm ứng pháp vốn là như thế, là đức năng của tánh đức. Tự tánh vốn sẵn có, vốn có năng lực, vốn có đức tướng. Nay chúng ta thành ra nông nỗi này th́ không có chi khác cả, chỉ do mê mất mà thôi! Đă mê mất nên khởi tâm động niệm đều là bất thiện, nếu cảm là bất thiện th́ sự hồi đáp làm sao thiện cho được? Không có đạo lư ấy đâu!

      Người thế gian cầu tài, hiện tượng này phổ biến nhất, tài ở nơi đâu? Tài ở ngay trong mạng của quư vị. Trong mạng quư vị không có của th́ quư vị cầu nơi đâu? Dẫu của cải ngập đất quư vị cũng không dùng được! Nếu quư vị cố làm cho được th́ họa hại xảy ra liền. V́ sao? Không có số để hưởng. Trong mạng không có tiền của, phải tu! Chẳng phải là cầu không được, có thể cầu, hăy tu đi! Tu ǵ? Đức Phật dạy chúng ta tu Tài Bố Thí. Càng không có tiền của, càng keo kiệt, đúng là sai lầm, phải cùng quẫn suốt đời. Nếu quư vị thấy ai cùng khổ, đúng là người ấy không có chút phước báo nào. Nếu quư vị thấy họ là người rất rộng răi, dẫu không có, vẫn bỏ ra một chút, cũng chịu bố thí, chúng ta biết người ấy sau này nhất định sẽ khá giả. V́ sao? Hiện tại người ấy gieo nhân, trong mạng dẫu không có tiền của, nhưng người ấy có thể dần dần chất đầy cái kho tiền tài trong số mạng.

Tài Bố Thí được giàu có, Pháp Bố Thí được thông minh, trí huệ, Vô Úy Bố Thí được khỏe mạnh, sống lâu. Đức Thế Tôn thường nói như vậy trong các kinh luận Đại, Tiểu Thừa. Trong những buổi giảng, chúng tôi cũng không ngừng lặp lại, quư vị nghe có hiểu hay chăng? Quư vị có nghe lọt tai hay không? Quư vị có y giáo phụng hành hay chăng? Chỉ cần quư vị chịu làm, đừng lo lắng, năm năm, mười năm, hai mươi năm sau, quả báo sẽ hiện tiền. Không phải ta bố thí hôm nay, ngày mai sẽ được phát tài liền, không có đạo lư như vậy đâu! Chỉ thành tâm thành ư mà làm, ngạn ngữ thường nói: “Chỉ vấn canh vân, mạc vấn thâu hoạch” (chỉ hỏi cấy cày, chớ hỏi thâu hoạch). Chỉ cần [quan tâm] ta phải trồng nhân lành, ta phải tu Tài Bố Thí, Pháp Bố Thí, Vô Úy Bố Thí, đừng hỏi đến quả báo. Nhân duyên chín muồi, quả báo sẽ tự nhiên hiện tiền. Như vậy rồi quư vị mới thực sự hiểu rơ lời Phật nói là thật, không giả! Cảm và Ứng thực sự hiện tiền. Hiện tiền rồi, quư vị phải có trí huệ, quả báo hiện tiền nhưng chính ḿnh không hưởng thụ, lại phải bố thí cho hết thảy chúng sanh hưởng thụ, như vậy mới là tốt!

      Những vị lăo đồng học, quư vị theo tôi đă lâu, bao nhiêu năm rồi, quư vị đă thấy, đều thấy cả rồi. Lúc tôi mới học, tôi là người có phước hay không, nh́n tướng mạo là biết liền. Quư vị thấy tướng mạo tôi lúc mới xuất gia, quư vị biết ngay: Một tí phước báo cũng không có! Nếu quư vị chú tâm quan sát thêm, lại c̣n là tướng đoản mạng. Lúc tôi xuất gia là đă học Phật bảy năm rồi. Nói cách khác, lúc ấy đă có chút chuyển biến nhỏ nhoi. Lúc vừa mới học Phật, tướng mạo lúc ấy đúng là bất hảo. V́ thế, chính tôi cũng chẳng biết nói làm sao! V́ lẽ nào thầy lại chiếu cố đến tôi? Đây không phải là chuyện dễ dàng! Người ta thường chiếu cố ai đó đều là v́ thấy kẻ ấy có tương lai, người ấy có thể dạy được. Thấy kẻ nào vừa không có phước lại vừa đoản mạng, trong cái nh́n và ư nghĩ của mọi người, ắt họ kính nhi viễn chi kẻ đó, buông bỏ kẻ đó. Những vị thầy của tôi quả thật chẳng phải là phàm nhân!

      Đại khái trong đời quá khứ, tôi không tu Tài Bố Thí, coi thường, mà cũng chẳng tu Vô Úy Bố Thí. Đời này khi trẻ tôi c̣n đi săn, đi săn cả ba năm, hằng ngày sát sanh, không ngày nào chẳng sát sanh. Sát nghiệp rất nặng. May là trong đời quá khứ tu được chút Pháp Bố Thí, có được một chút trí huệ. Lúc nhỏ (thời gian không dài, đại khái chỉ chừng hai ba năm, lúc c̣n rất nhỏ), đại khái khoảng năm sáu hay bảy tuổi, trong khoảng thời gian ấy được cha mẹ dạy dỗ. Lúc ấy tuy chưa lớn, nhưng đă bén rễ khiến cho tôi hiếu học, biết hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo, nền tảng rất sâu dầy. Trông thấy miếu Thành Hoàng bị quân đội phá hủy, Thành Hoàng phải dọn nhà; ba ngày trước khi miếu bị phá hủy, tôi giúp Thành Hoàng dọn nhà, bởi thế tôi kết duyên rất tốt với Thành Hoàng. Vị Thành Hoàng ấy thường thân cận bên tôi.

      Được thầy quan tâm chiếu cố, cuối cùng tôi hiểu rơ, giác ngộ, quay đầu, đoạn ác, tu thiện, tự ḿnh nhận thấy trước đây ḿnh sát nghiệp rất nặng, khi hiểu ra, tôi bèn ăn chay trường, phóng sanh! Dẫu thâu nhập hết sức ít ỏi, tôi bằng ḷng bỏ hết tiền để phóng sanh. Học xong, xuất gia, xuất gia năm ba mươi ba tuổi, bắt đầu nhận lời người khác mời giảng kinh, giảng kinh được cúng dường. Tôi có tiền bèn phóng sanh, có tiền để bố thí thuốc men, có tiền bèn in kinh. Có lúc in kinh, chúng tôi không có tiền để in kinh một ḿnh, xưởng in kinh in kèm thêm[11], gởi trước một ít tiền thôi. Kinh sách in xong, họ gởi cho tôi mấy bản. Tôi làm chuyện như vậy, làm như vậy suốt đời. Đến khi ngoài bốn mươi tuổi, cúng dường dần dần nhiều hơn, tôi có khả năng đứng ra in kinh một ḿnh, chính ḿnh muốn in bao nhiêu cũng được, suốt đời làm chuyện này, cuộc sống hết sức đơn giản.

      Gần đây nhất, khoảng chừng hơn ba mươi năm, tôi không dùng đến tiền. Ở Mỹ, ngân hàng Mỹ Quốc cấp cho tôi thẻ tín dụng, tôi có khá nhiều thẻ tín dụng loại vàng (gold credit card), từ đó đến nay chưa dùng tới lần nào. H́nh như họ cấp cho đôi ba lượt, về sau không cấp nữa, chưa hề dùng đến. Như vậy phước báo như quư vị hiện đang thấy đó h́nh như là càng ngày càng nhiều, đúng là tâm tưởng sự thành. Chúng tôi không có ư niệm ác, không có ư niệm hưởng thụ, toàn là tất yếu “có cảm ắt có ứng”. V́ thế, chính ḿnh chẳng nên thụ hưởng phước báo, nhường cho hết thảy chúng sanh hưởng, đặc biệt là chúng sanh khổ nạn.

      Sau khi hiểu rơ đạo lư này, quư vị mới thực sự làm, thực sự có cảm ứng. Quư vị càng làm càng hoan hỷ, v́ sao? Có thể giúp cho rất nhiều chúng sanh khổ nạn. Giúp đỡ quan trọng nhất vẫn là Pháp Bố Thí. Hiện tại, chúng ta thực hiện Pháp Bố Thí, ngoại trừ công khai giảng diễn ra, có không ít bản giảng kư được lưu thông. Rốt cuộc số lượng là bao nhiêu? Chúng tôi không biết, không phải do tôi in. Thậm chí rất nhiều bản giảng kư không do tôi viết. Tôi giảng xong, có người chép lại từ băng thâu h́nh hay băng thâu âm, soạn thành sách để lưu thông. Rất nhiều thứ ghi chép tôi chưa từng xem đến, tôi cũng không muốn xem. V́ sao? Nói xong th́ thôi. Cớ ǵ phải lưu lại vết tích? Ai thích làm th́ tùy duyên, quư vị thích làm th́ cứ làm!

Hiện thời c̣n lợi dụng kỹ thuật cao, chúng ta có Internet, có vệ tinh. Internet hay vệ tinh cũng không do tôi làm, ai làm tôi đều hoan hỷ, tôi cũng chẳng chướng ngại người ấy, mà cũng chẳng tán trợ người ấy. Nếu tôi tán trợ quư vị, tôi phải đi hóa duyên, tôi phải đi kêu gọi quyên góp, suốt đời tôi không làm chuyện ấy. Có không ít người hảo tâm làm chuyện đó, làm khá thành công, đều là chuyện tốt. Bản thân chúng tôi suốt đời không nhọc ḷng, không phan duyên. Không nhọc ḷng th́ chuyện ǵ cũng tốt, như vậy mới tự tại, tâm mới thanh tịnh. Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, trí huệ mở mang rồi mới có thể hiểu kinh giáo, mới có thể lănh hội. V́ thế, tâm phải thuần thiện thuần tịnh, chẳng những tiếp xúc với kinh luận của Phật, Bồ Tát, trí huệ của quư vị mở mang mà ngay cả những pháp thế gian, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài thảy đều mở mang trí huệ. Đấy chính là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài.

Từ kinh giáo mở mang Căn Bản Trí, từ cuộc sống thường ngày khai phát Hậu Đắc Trí. Suốt một đời chúng ta có thể sống trong trí huệ, không sống trong phiền năo, không sống trong ưu lự, quư vị nói xem: Hạnh phúc nào sánh bằng? Hạnh phúc ấy do Phật, Bồ Tát, thầy, thiện tri thức ban cho chúng ta, ân đức ấy niệm niệm chẳng quên, tri ân báo ân, báo ân bằng cách nào? V́ người khác diễn nói. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói th́ mới là báo ân Phật, mới ḥng báo ân thầy, mới ḥng báo ân thiện tri thức, mới ḥng báo ân hết thảy chúng sanh. Xin xem tiếp đoạn văn kế đó:

 

Thượng lai khải kiến đệ nhị thời Hệ Niệm Phật Sự dĩ viên.

來啟建第二時繫念佛事已圓。

(Từ trên tới đây tạo tác Hệ Niệm Phật Sự thời thứ hai đă viên măn).

 

Hệ Niệm Phật Sự thời thứ hai tới đây đă viên măn.

 

Như thượng thù huân, đầu nhập Như Lai đại nguyện hải trung,

xuất sanh công đức.

上殊勳。投入如來大願海中。出生功德。

(Công huân thù thắng như thế, gieo vào trong biển đại nguyện của Như Lai, sanh ra công đức).

 

[Ư nghĩa] hoàn toàn giống như trong thời thứ nhất.

     

      Chuyên vị vong linh tẩy trừ nghiệp cấu.

      為亡靈洗除業垢。

      (Chuyên v́ vong linh rửa trừ nghiệp cấu).

 

      Phần trên là thời thứ nhất, đây là thời thứ hai. Có nhiều người như thế cùng hợp lại tu pháp sự này, nhằm để làm ǵ? “Chuyên v́ vong linh”, cũng v́ hết thảy quỷ thần, “rửa trừ nghiệp cấu”.

 

      Tăng trưởng thiện căn, xả thử báo duyên, văng sanh Tịnh Độ.

      長善根。捨此報緣。往生淨土。

      (Tăng trưởng thiện căn, bỏ báo duyên này, sanh về Tịnh Độ).

 

      Chúng ta tu pháp sự này nhằm vào mục đích này đây. Lợi người, đương nhiên cũng là tự lợi. Chúng ta nhất định phải hiểu rơ “tự - tha không hai”. V́ sao? Trên kia đă nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt”. Tâm, Phật, chúng sanh nguyên là một thể. V́ thế, lợi tha mới là thực sự tự lợi, tự lợi nhất định phải lợi tha. Nếu tự lợi, chẳng lợi tha th́ chẳng phải là tự lợi mà là “tự ḿnh hại ḿnh”! Phần khai thị tiếp theo đây đối với chúng ta có tánh chất khải phát rất mạnh.

     

      Đản niệm tự tùng vô thỉ, ngật chí kim sanh.

      念自從無始。迄至今生。

      (Nhưng nghĩ từ vô thỉ cho đến đời này).

 

      “Đản niệm” là chúng ta hồi tưởng, phản tỉnh, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay.

 

      Âu sanh cự hải, trục thức lăng dĩ cao đê.

      生巨海。逐識浪以高低。

      (Bọt nước sanh trong biển cả, theo sóng thức lên cao xuống thấp).

      Đây là nói tỷ dụ. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn từng nhắc đến tỷ dụ này. Trong kinh Lăng Nghiêm có tỷ dụ như sau: Đức Phật ví Chân Tâm, Tâm Tánh, Pháp Tánh như biển cả, ở phần trên gọi là Linh Tri Tâm, tâm Linh Tri như biển cả. Tâm phân biệt, tức là Duyên Lự Tâm, là ǵ? Duyên Lự Tâm là một cái bọt nước sanh từ nước biển. “Âu” () chính là bọt nước. Đấy chính là ư nghĩa của câu “âu sanh cự hải”. Thức sanh từ Pháp Tánh, mê mất tự tánh, do mê mất tự tánh bèn sanh ra vọng tâm, vọng tâm là A Lại Da Thức. Từ A Lại Da Thức biến ra [các thức khác] (nó có thể biến), biến thành thức thứ bảy, thức thứ sáu, và năm thức đầu, lại biến thành Tâm Sở, lại biến thành Sắc pháp, thảy đều biến hiện ra, [những thức, tâm sở, sắc pháp này so với chân tâm chỉ là] “âu sanh cự hải”.

      “Trục Thức lăng dĩ cao đê” (theo sóng Thức mà lên cao xuống thấp). “Sóng Thức” là ǵ? Sóng là động, không tịnh. Tâm tánh chúng ta tịnh, trạm tịch linh minh, trong Phật pháp thường dùng bốn chữ [“trạm tịch linh minh”] này để h́nh dung. Thức (vọng tâm) không như vậy; vọng tâm là động, vọng tâm là sóng ṃi. Sóng ṃi có cao hay thấp, gió lớn sóng to, gió nhỏ sóng bé. Gió to sóng lớn là lục đạo tam đồ. Gió nhẹ sóng bé là Tứ Thánh Pháp Giới. Trong lục đạo, gió to sóng lớn là ba ác đạo; gió nhẹ sóng bé là ba thiện đạo, lục đạo luân hồi. Câu này giảng v́ sao có lục đạo luân hồi. Tiếp theo lại là một tỷ dụ:

 

      Vân điểm thái thanh, nhậm t́nh phong nhi nhân ngă.

      點太清。任情風而人我。

      (Mây điểm hư không, mặc t́nh nổi gió ta - người).

 

      “Thái thanh” là hư không, dùng hư không sánh ví tâm tánh. Một áng mây trong hư không ví cho mê hoặc. Áng mây trong hư không bị gió đùa, gió Đông thổi bạt sang phía Tây, gió Tây đánh dạt về phía Đông, tự ḿnh hoàn toàn chẳng tự chủ được. Câu này h́nh dung điều ǵ? H́nh dung sự lưu chuyển theo nghiệp lực, tự ḿnh chẳng thể làm chủ. “Nhậm t́nh phong nhi nhân ngă” (mặc t́nh nổi gió nhân ngă). Đây là giảng về Lư, câu kế giảng về Sự.

 

      Ư thị tuần hoàn chư thú, lưu chuyển tứ sanh, nghiệp hải mang mang, tội sơn ngập ngập.

      是循環諸趣。流轉四生。業海茫茫。罪山岌岌。

      (Do vậy xoay vần các nẻo, trôi lăn tứ sanh, biển nghiệp mênh mông,

núi tội chót vót).

 

      A! Quả báo hiện tiền, luận trên mặt Sự. “Tuần hoàn chư thú”: Chư thú” chính là lục đạo, quư vị xoay vần trong lục đạo. Gió nhẹ sóng bé, vượt lên ba thiện đạo; gió to sóng lớn bèn ch́m xuống, vào trong ba ác đạo. “Lưu chuyển tứ sanh”: Chữ “tứ sanh” chỉ những cách để sanh thành trong lục đạo, tức Noăn, Thai, Thấp, Hóa. Loài người chúng ta là Thai Sanh, trong súc sanh đạo có cả bốn loại sanh. Có thai sanh, có noăn sanh. Loài chim là noăn sanh (sanh bằng trứng), loài cá trong biển quá nửa là loài noăn sanh. Có loài thấp sanh (sanh nơi ẩm ướt), có loài hóa sanh. Loài côn trùng hóa sanh, thấp sanh khá nhiều. Kinh Phật nói trong loài ngạ quỷ cả bốn loại sanh đều có. Trong địa ngục đạo chỉ có một loại là hóa sanh. Thiên đạo phước báo rất lớn, quá nửa là hóa sanh. Đấy là luận về cách thức sanh ra.

      “Nghiệp hải mang mang, tội sơn ngập ngập” (Biển nghiệp mênh mông, núi tội chót vót): “Ngập ngập” là cao lớn, giống như một ḥn núi lớn, tội lớn đến như thế, nặng đến như thế. Đoạn này thuyết minh đạo lư luân hồi, mà cũng chỉ ra chân tướng sự thật của luân hồi. Nói xong, phải làm sao? Làm thế nào để tiêu tội nghiệp, thoát luân hồi?

 

      Phỉ bằng phát lộ.

      憑發露。

      (Không nhờ bày tỏ).

 

      Nếu không nhờ vào phát lộ sám hối, thế nào là “phát lộ”? Làm chuyện sai trái, tự ḿnh đă tạo tội nghiệp, chớ có giấu diếm, phải nên tuyên bố cùng đại chúng: “Tôi đă làm chuyện chi chi đó!” Mạnh bạo nhận sai, thừa nhận lỗi lầm của chính ḿnh. Mọi người đều biết, người ta trừng mắt nh́n ḿnh, phê b́nh mấy câu. Thôi! Báo hết rồi. Đó nghĩa là ǵ? Tội nặng báo nhẹ, báo trả hết rồi. Chớ nên giấu diếm tội nghiệp của chính ḿnh, giấu diếm không xong đâu. V́ sao? Tội ấy càng tích lại càng nặng thêm, tương lai quả báo to lớn đáng sợ lắm.

V́ thế, đức Phật dạy chúng ta làm chuyện sai trái th́ phải phát lộ, làm chuyện tốt phải giấu diếm. Làm chuyện tốt chẳng cần phải cho người khác biết, v́ sao? Đức càng ẩn càng dầy, quả báo tốt đẹp. Sự t́nh tốt chẳng cần phải phô trương, tích âm đức mà! Ngạn ngữ Trung Quốc thường nói: “Quả báo của âm đức lớn nhất, báo rất dầy”. Nếu quư vị làm chuyện tốt, ai nấy đều biết, người ta đến biểu dương, khen ngợi, vỗ tay, tặng bằng tưởng thưởng cho ḿnh, thế là báo xong rồi, chuyện tốt của ḿnh đă xong, báo hết sạch rồi! Chuyện tốt chớ để cho người khác biết; làm chuyện bất thiện, làm chuyện tội lỗi th́ mong mỏi mọi người đều biết, dù người ta chửi ḿnh, chán ghét ḿnh đi nữa th́ báo cũng xong rồi. Nếu quư vị hiểu rơ đạo lư này th́ mới thực sự biết: Người hủy báng, lăng nhục, hăm hại chúng ta, đều là tiêu nghiệp chướng cho ḿnh, ta phải cảm ơn họ. Nếu không như thế, nghiệp chướng làm sao tiêu được!

      Người hủy báng càng nhiều, nghiệp chướng càng tiêu nhiều. Trong hai năm qua, tại Đài Loan, tại Trung Quốc và ngay cả những nơi khác, không những người ta chửi tôi rất nhiều, mà ngay trên báo chí, trên tạp chí c̣n đăng nhiều bài viết gọi đích danh tôi ra chửi, nói tôi đề cao bản hội tập của cụ Hạ Liên Cư là lỗi lầm không ǵ lớn hơn nữa. Thoạt đầu, pháp sư Ngộ Đạo không nén được giận, thầy ấy muốn hợp mấy người lại, mọi người cùng nghiên cứu, viết bài công kích họ. Thầy c̣n đem những tài liệu ấy gởi cho tôi, cũng như gởi cả những báo chí, tạp chí ấy cho tôi, tôi đều đem chúng quăng vô sọt rác hết. Tôi gọi điện thoại cho Ngộ Đạo: “Đừng quan tâm đến, quyết định chẳng được làm như thế. Làm như vậy giống như chửi lộn, người ta chửi ḿnh, ḿnh không nhịn được, chửi lại là xong rồi. Coi như đă giải quyết xong chuyện đó”. Chẳng nên chửi qua chửi lại, không lúc nào xong, lầm lạc quá đỗi!

Người ta đến chửi ḿnh, hủy báng ḿnh, chính ḿnh phải phản tỉnh, có lỗi th́ sửa, không có lỗi th́ càng thêm gắng sức, như vậy mới là tốt! Nếu đúng là ḿnh có lầm lỗi th́ ngay lập tức phải sửa lỗi, tự đổi mới, sao lại có thể biện bác, tranh căi cho được? Ḿnh biết ḿnh không có lỗi lầm ấy th́ ḿnh được tiêu túc nghiệp, trong đời quá khứ ḿnh tạo tội quá nhiều, họ đến thay ḿnh tiêu nghiệp chướng, ḿnh càng phải cảm kích người ta.

      C̣n chuyện phản đối bản hội tập dù hữu ư hay vô ư, thôi đừng bàn luận! Có rất nhiều bản hội tập, cớ sao lại phản đối bản hội tập này mà không phản đối những bản khác? Đấy có phải là có dụng ư riêng hay chăng, chúng tôi không biết được! Họ đem tựa đề kinh ra công kích. Tôi đă từng có nói: “Người trên cả thế giới đều phản đối bản hội tập này, tôi vẫn cứ chiếu theo bản hội tập này mà học tập”. V́ sao? Do quan hệ thầy tṛ! Pháp môn này do thầy truyền cho tôi. Nếu tôi nghe theo những lời đó, chẳng dám đọc bản này, vậy th́ tội của tôi nặng quá. Mắc cái tội ǵ? Nghịch thầy phản đạo; quư vị nghĩ xem tôi có gánh nổi tội danh ấy hay không? Bọn họ phản đối cách nào, tôi vẫn cứ tu như vậy, tôi tôn sư trọng đạo, báo Phật ân, báo tổ ân, báo ân thầy!

      Tôi tin tưởng thầy tôi có tu tŕ, có đức hạnh, có trí huệ. Quư vị phản đối thầy v́ quư vị không phải là học tṛ của thầy, không có quan hệ ǵ với thầy hết. Tôi với thầy có quan hệ, tôi chẳng thể phản đối, đó là đại nghĩa. Con người nếu không có đạo nghĩa th́ làm người sao được? V́ thế, mặc kệ người ta hủy báng, lăng nhục thế nào, một câu tôi cũng không đáp, tối thiểu tôi tuân thủ đại nghĩa, tối thiểu là trong tương lai có ai đó phê b́nh: “Người như vậy vẫn c̣n tôn sư trọng đạo, biết ân, báo ân!” Bởi thế, tôi chẳng thể tin nghe theo mấy câu của người ta rồi chẳng dám đọc kinh này nữa, như thế mới là được! Học tṛ của thầy rất đông, v́ sao thầy không đem chuyện này phó thác cho họ, mà lại phó thác cho tôi? Thầy nh́n tôi chẳng lầm, thầy biết tôi chẳng thể nghịch thầy phản đạo, tôi chẳng thể vong ân phụ nghĩa.

      V́ thế, có lầm lỗi phải phát lộ sám hối. Người khác hủy báng, nhục mạ, th́ chính ḿnh phải nghiêm túc phản tỉnh, có th́ sửa, không th́ càng cố gắng. Vĩnh viễn dùng cái tâm báo ân để đối đăi hết thảy chúng sanh. Đấy là nói về phát lộ sám hối. “Phỉ bằng phát lộ” (nếu không nhờ vào phát lộ) là như vậy!

 

      Hạt toại tiêu trừ, sám-ma dĩ văng, phát nguyện đương lai.

      遂消除。懺摩已往。發願當來。

      (Sao tiêu trừ được! Sám hối cho quá khứ, phát nguyện cho tương lai).

 

      Hai câu này nói lên cách thực hiện như thế nào. Thực hiện phát lộ sám hối bằng cách nào? Phải “sám-ma”, tức là sám hối, quá khứ đă làm bậy phải biết sám hối, phải biết sửa lỗi. “Phát nguyện đương lai” (phát nguyện cho tương lai), nguyện sẽ phát ấy phải nương theo bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, phải nương theo Tứ Hoằng Thệ Nguyện của chư Phật, nhất định phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Có vậy mới là không sai.

 

      Tái lao pháp chúng, chí tâm sám hối phát nguyện.

      勞法眾。至心懺悔發願。

      (Lại phiền pháp chúng chí tâm sám hối phát nguyện).

 

26. Sám hối phát nguyện

Thời thứ nhất có sám hối phát nguyện, thời thứ hai cũng có sám hối phát nguyện. H́nh thức sám hối phát nguyện không khác ǵ với lần trước, sám hối dùng mười đại nguyện vương, Sám Hối Kệ, tức bài kệ sám hối của Phổ Hiền Bồ Tát. Phát nguyện th́ vẫn là Tứ Hoằng Thệ Nguyện y như cũ. Chúng tôi đọc bài kệ này một lượt, hơi khác với phần trên một chút.

     

      Văng tích sở tạo chư ác nghiệp,

      Giai do vô thỉ tham - sân - si,

      Tùng thân - ngữ - ư chi sở sanh.

      昔所造諸惡業。

皆由無始貪瞋痴。

從身語意之所生。

      (Xưa kia trót tạo các ác nghiệp,

      Đều do vô thỉ tham - sân - si,

      Từ thân - miệng - ư phát sanh ra).

 

      Phần này giống hệt phần trước, khác biệt ở chỗ nào ư? Ở chỗ này đây:

 

      Nhất thiết tội chướng giai sám hối.

      切罪障皆懺悔。

      (Hết thảy tội chướng đều sám hối).

 

      Đây là chỗ khác biệt. Không phải là cầu mà là “đều sám hối”. Cầu sám hối cũng được. Ở phần trước trong thời thứ nhất câu này là “ kim đối Phật tiền cầu sám hối” (nay đối trước Phật cầu sám hối). Trong thời thứ hai là “nhất thiết tội chướng giai sám hối” (hết thảy tội chướng đều sám hối), khác biệt ở chỗ này. Cứ mỗi lần sám hối càng triệt để hơn, v́ sao? So với thời thứ nhất, thời thứ hai có chỗ ngộ rồi, có tiến bộ rồi, từ bài kệ sám hối này cũng có thể thấy được quư vị có tiến bộ. Phát nguyện vẫn giống hệt như trước:

 

      Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,

      Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn,

      Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

      Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

      生無邊誓願度。

煩惱無盡誓願斷。

法門無量誓願學。

佛道無上誓願成。

 

      Sám hối phát nguyện phải nương theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát, trong phần trên tôi đă giới thiệu cùng quư vị rồi, Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho lư luận và phương pháp tu nhân chứng quả của hết thảy Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát đại diện cho những điều ấy. Nếu nói gộp cả hai vị lại, tức là gộp cả Văn Thù vào th́ Phổ Hiền tượng trưng cho tam-muội, Văn Thù tượng trưng cho Bát Nhă. Nếu nói một ḿnh Ngài th́ Ngài hoàn toàn tượng trưng cho cả hai điều đó. Lại xem đoạn khai thị cuối cùng. Đoạn khai thị cuối cùng là:

 

27. Khai thị

 

      Thượng lai sám hối phát nguyện dĩ cánh, cụ hành do nhân cụ nhăn mục, nguyện như nhật, nguyệt, đăng quang minh.

      來懺悔發願已竟。具行猶人具眼目。願如日月燈光明。

      (Từ trên tới đây sám hối phát nguyện đă xong, Hành đầy đủ th́ giống như người đầy đủ mắt, Nguyện như ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, đèn đóm).

 

      “Cụ hành”, hành ở đây là hành động. Câu này có nghĩa là quư vị đều có thể đem những đạo lư, phương pháp ḿnh đă học tập áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Ở đây quan trọng nhất là tŕ danh niệm Phật, hạnh quan trọng nhất là hạnh này. Đây chính là như phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói: “Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” (phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm). Chữ “hạnh” này chỉ việc niệm Phật, chứ không nhằm vào những hạnh khác. Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

*

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn khai thị cuối cùng trong thời thứ hai:

 

      Thượng lai sám hối phát nguyện dĩ cánh.

      上來懺悔發願已竟。

      (Từ trên tới đây, sám hối phát nguyện đă xong)

 

      Câu này là lời tổng kết, tổng kết những phần trên.

 

      Cụ hành do nhân cụ nhăn mục, nguyện như nhật, nguyệt, đăng quang minh. Y quang chiếu chúc kiến phân minh, hành giả phương năng đạt tiền cảnh.

      具行猶人具眼目。願如日月燈光明。依光照燭見分明。行者方能達前境。

      (Hạnh đầy đủ như người đủ đôi mắt, nguyện như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đèn đóm. Nương theo ánh sáng chiếu tỏ mà thấy phân minh, hành giả mới ḥng thấu hiểu tiền cảnh[12]).

 

      Câu này là nói chung, chứ không nhất định chỉ là pháp môn Niệm Phật. Có thể nói là trong Phật pháp, bất luận kinh Đại Thừa hay Tiểu Thừa, bất luận tông phái nào, bất luận pháp môn nào, những điều nói ở đây là nguyên tắc, là nguyên lư, nguyên tắc chung, chẳng những chung cho hết thảy Phật pháp, mà c̣n đúng cho mọi pháp thế gian. Hết thảy pháp thế gian chẳng thể vượt ra ngoài những điều này được.

      Chúng ta phải thấu hiểu những câu nói này. “Cụ hành”: Hành () là tu hành. Tu hành là sửa đổi cho đúng những hành vi lầm lạc th́ gọi là tu hành. Những hành vi sai quấy rất nhiều, đúng là “nhân phi thánh hiền, thục năng vô quá” (con người không phải là thánh hiền, ai có thể không có lỗi?) Thánh hiền là chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát. Dưới Pháp Thân Bồ Tát, như là Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát, Phật trong mười pháp giới, không ai có thể nói ḿnh không có lầm lỗi được! Thánh hiền thế gian càng chẳng thể nói như vậy được! Theo những ǵ ghi chép trong những thư tịch cổ Trung Quốc, bậc thánh hiền thế gian như Nghiêu, Thuấn vẫn chẳng thể đảm bảo chính ḿnh không có lỗi lầm, huống ǵ những người khác?

      V́ vậy, tu hành là một khoa mục quan trọng nhất, việc này phải được thực hiện trong cuộc sống thường nhật, khởi tâm động niệm, nói năng, hành vi, phải hiểu chi ly từng chút một, thời thời khắc khắc phải cảnh giác cao độ, nhận biết ư niệm của chính ḿnh vừa khởi lên, biết ngay ư niệm ấy là thiện niệm hay ác niệm, biết ư niệm ấy có nên khởi lên hay không. Nếu không cần thiết, dẫu là thiện niệm, th́ tốt nhất ư niệm thứ hai là “Nam-mô A Di Đà Phật”, vậy là tốt! Sao cho trong mười hai thời trong tâm có Phật, trong mỗi niệm có Phật, h́nh ảnh đều là Phật; tâm ḿnh là tâm Phật, hành động là Phật hạnh, thân là thân Phật. Như vậy mới là tốt, mới thật nên làm.

      Đầy đủ hạnh, ở đây được ví như người có đủ cả hai mắt, có được cặp mắt sáng. Dù có được cặp mắt sáng nhưng trong chỗ tối tăm không thấy được, giữa ban ngày có mặt trời, dương quang (ánh sáng của mặt trời); ban đêm có ánh trăng, có ánh đèn, quư vị mới không lạc mất phương hướng. “Quang” rất giống như Nguyện, v́ thế Hạnh chẳng thể tách rời Nguyện. Nếu Hạnh ĺa Nguyện th́ chính là mắt đui. Nói cách khác: Không biết phương hướng, chẳng biết mục tiêu. Dẫu quư vị rất tinh tấn, rất nỗ lực tiến lên, nhưng rốt cuộc đi về đâu? Không biết được!

V́ thế nói: “Nguyện như nhật nguyệt đăng quang minh” (Nguyện như ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, đèn đóm). Câu này chỉ rơ Hạnh và Nguyện chẳng thể tách rời nhau. Đúng như Ngẫu Ích đại sư đă nói: Có được văng sanh Tịnh Độ hay không hoàn toàn nhờ vào tín nguyện có hay không. Có Hạnh mà không có Nguyện, hoặc có Nguyện mà không có Hạnh đều chẳng thể văng sanh! Trong các pháp môn khác, có Hạnh không có Nguyện hoặc là có Nguyện không có Hạnh cũng đều chẳng thể thành tựu, uổng phí một đời này! Nhiều lắm là gieo được một chủng tử thiện căn trong A Lại Da Thức, trong đời này, [chủng tử ấy] chắc chắn không khởi tác dụng. Đấy chính là như thầy Lư thường nói khi xưa: “Nên sanh tử như thế nào th́ vẫn cứ sanh tử như thế đó”. Quư vị vẫn cứ bị nghiệp lực xoay chuyển như cũ, không làm chủ được. V́ thế mới nói: “Y quang chiếu chúc kiến phân minh” (Nương theo ánh sáng chiếu tỏ mà thấy phân minh); quư vị phải có Nguyện, Nguyện là quang minh, Nguyện để dẫn Hạnh th́ quư vị mới có thành tựu, mới có thể đạt đến mục tiêu và quả đức mà chính ḿnh hy vọng. Phải hiểu đạo lư này, người niệm Phật cũng không ngoại lệ.

 

Thị dĩ niệm Phật chi nhân, nhược bất phát nguyện văng sanh, túng hữu công hạnh, diệc thành hư thiết, dĩ bất thuận Phật cố.

以念佛之人。若不發願往生。縱有功行。亦成虛設。以不順佛故。

(Do vậy, người niệm Phật nếu không phát nguyện văng sanh, dẫu có công hạnh cũng trở thành đặt bày hư huyễn, v́ không thuận theo Phật vậy).

 

Quư vị phát tâm niệm Phật, tốt lắm! Niệm Phật nhất định phải phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. V́ sao? Nếu không phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, dẫu quư vị công phu niệm Phật rất sâu vẫn như không. V́ sao vẫn như không? Vẫn bị lưu chuyển theo nghiệp, vẫn không ra khỏi lục đạo luân hồi được! Niệm Phật là thiện nghiệp, thiện nghiệp th́ có sanh vào ba thiện đạo được hay không? Không nhất định! Nếu quư vị chỉ là khẩu thiện (chỉ tốt lành nơi cửa miệng), tâm hạnh bất thiện, sẽ chẳng sanh vào ba đường lành. Thế nhưng không cần biết quư vị sanh vào đường nào, quư vị vẫn có một chút phước báo. Nếu tội nghiệp rất nặng, đọa trong địa ngục đạo, phước báo ấy vẫn tồn tại. Lúc nào quư vị thoát khỏi địa ngục, lúc sanh vào các đường khác, phước báo ấy lại hiện tiền, biến thành phước báo hữu lậu thế gian.

      Tuy thiền sư Trung Phong là bậc đại triệt đại ngộ của Thiền Tông, Ngài lại niệm Phật văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới; v́ thế, Ngài khuyên lơn chúng ta, tự Ngài thực sự làm được. V́ sao? V́ quư vị “bất thuận Phật cố” (chẳng thuận theo Phật). Quư vị trái với nguyện của Phật, ư nguyện của Phật là mong chúng ta sanh về thế giới Cực Lạc. Quư vị cũng trái nghịch lời Phật dạy. Đúng là nghịch thầy phản đạo! Tu pháp môn này, đúng như Phật nguyện, đúng như lời Phật dạy th́ mới là tôn sư trọng đạo. Trên thực tế, thiền sư nói những câu này là nói với chúng ta đấy!

 

      Kim nhĩ vong linh đương tri thử ư.

      爾亡靈。當知此意。

      (Nay các vong linh hăy biết ư này).

 

      Trên h́nh thức là nói với vong linh, nói với quỷ thần, chứ trên thực tế là bảo cùng chúng ta. Vong linh c̣n phát nguyện văng sanh, mà chúng ta không thể phát nguyện văng sanh; nói thật ra, c̣n thua cả quỷ! Ngay cả quỷ mà c̣n thua th́ c̣n xứng đáng là người nữa ư? Lời ẩn trong lời, quư vị phải nghe hiểu những ư nghĩa ẩn trong ư nghĩa, ư tại ngôn ngoại (ư nằm ngoài lời). Quư vị phải hiểu được âm thanh ngoài dây đàn th́ mới có chỗ ngộ, mới ḥng có thụ dụng, nhất định phải thực sự thực hiện. Tiếp đó là bài kệ tán Phật để tổng kết một thời:

 

28. Tán Phật tổng kết

 

      A Di Đà Phật,

      Vô thượng y vương,

      Nguy nguy kim tướng phóng hào quang,

      Khổ hải tác từ hàng,

      Cửu phẩm liên bang,

      Đồng nguyện văng Tây Phương.

      彌陀佛。

無上醫王。

巍巍金相放毫光。

苦海作慈航。

九品蓮邦。

同願往西方。

      (A Di Đà Phật,

      Vô thượng y vương,

      Tướng vàng ṿi vọi phóng hào quang,

      Biển khổ thả thuyền từ,

      Chín phẩm liên bang,

      Đồng nguyện về Tây Phương).

 

      Nội dung bài tán này hết sức khẩn thiết.

 

      Nam mô Liên Tŕ hội Bồ Tát Ma Ha Tát.

      無蓮池會菩薩摩訶薩。

     

ĐỆ TAM THỜI

 

      Tiếp theo, chúng ta xem đến thời thứ ba. Thời thứ ba, tụng kinh, niệm chú hoàn toàn giống với thời thứ nhất, đều là hồi hướng Liên Tŕ Hội Bồ Tát Ma Ha Tát. Nay chúng ta xem từ phần Khai Thị, xem đoạn khai thị lần thứ nhất trong thời thứ ba.

29. Khai thị

 

      Thập vạn dư tŕnh bất cách trần,

      Hưu tương mê ngộ tự sơ thân,

      Sát-na niệm tận Hằng sa Phật,

      Tiện thị liên hoa quốc lư nhân.

      萬餘程不隔塵。

休將迷悟自疏親。

剎那念盡恆沙佛。

便是蓮華國裡人。

      (Đường hơn mười vạn cơi,

Chẳng xa cách mảy trần,

Thôi đừng đem mê ngộ,

Để tính kể sơ thân,

Sát-na niệm chư Phật,

Số nhiều đến Hằng sa.

Liền thành người đă ở

Trong cơi nước hoa sen).

 

      Trong bài kệ này, thiền sư Trung Phong chân thành khôn sánh, khẩn thiết khuyên dạy chúng ta, cũng như phó chúc chúng ta: Cơ duyên này rất khó được, là cơ hội khó gặp gỡ hiếm có từ vô lượng kiếp đến nay, hôm nay chúng ta được gặp, chớ có bỏ lỡ. Bỏ lỡ th́ đúng là chẳng xứng với lời khuyên dạy khẩn thiết dường ấy của thiền sư Trung Phong.

      “Thập vạn dư tŕnh” (đường xa hơn mười vạn) chính là như kinh A Di Đà đă nói, từ thế giới Sa Bà qua khỏi mười vạn ức cơi Phật có một thế giới gọi là thế giới Cực Lạc. Nay thiền sư nói “thập vạn dư tŕnh” (đường xa hơn mười vạn cơi), khoảng cách lớn như thế, “bất cách trần” (không cách biệt mảy trần). Trần là nhỏ nhất, tức vi trần, xa bao nhiêu? Giữa các vi trần không có kẽ hở, nói lên điều ǵ? Nói lên xa và gần không hai, không gian bị phá mất, không c̣n xa hay gần. Tây Phương Cực Lạc thế giới ở đâu vậy? Ở chính ngay nơi đây, không hề cách biệt mảy trần. Chúng ta nói đến khoảng cách th́ vẫn c̣n có đường xa một dặm, đường xa nửa dặm, thậm chí vẫn c̣n có khoảng cách một mét, hoặc một centimetre, c̣n “bất cách trần” (không cách biệt một mảy trần) nghĩa là một centimetre cũng không có! Câu kệ tiếp theo nói rất hay.

      “Hưu tương mê ngộ tự sơ thân” (thôi đừng để mê hay ngộ khiến cho [Cực Lạc] đối với ḿnh trở thành sơ hay thân). Mấu chốt ở chỗ nào? Giác ngộ! Chuyển mê thành ngộ. Ở trên, thiền sư đă nói rất hay: “A Di Đà Phật thị ngă tâm, ngă tâm thị A Di Đà Phật” (A Di Đà Phật là tâm ta, tâm ta chính là A Di Đà Phật). Thế giới Cực Lạc là phương này, “Tịnh Độ tức thử phương, thử phương tức Tịnh Độ” (Tịnh Độ chính là phương này, phương này chính là Tịnh Độ). Đường xa mười vạn không cách biệt mảy trần, quư vị thấy trước và sau tương ứng, mấu chốt là mê hay ngộ. Mê th́ [cách xa] mười vạn ức cơi Phật, ngộ th́ ở ngay trước mặt. Phật có vọng ngữ hay không? Không! Mê th́ quả thật có không gian, không gian có xa và gần. Lúc ngộ th́ không gian chẳng c̣n. Chuyện này rất hiếm có, chúng tôi cảm tạ các khoa học gia hiện đại đă chứng tỏ trong một điều kiện nào đó, không gian sẽ bằng zéro.

Khoảng cách ư? Trong một điều kiện nào đó, mọi khoảng cách đều bằng zéro. Điều kiện ǵ vậy? Ngộ! Các khoa học gia không biết điều kiện, chỉ nói “trong một điều kiện nào đó”, đức Phật bảo chúng ta “ngộ!” Điều kiện chính là Ngộ. Mê th́ có khoảng cách, có xa hay gần; ngộ bèn không có. Ngộ th́ không gian bằng với zéro. Tin tức ấy của các nhà khoa học tốt lắm, chúng tôi dùng ngay điều này, bởi nếu không có tin tức này, cảnh giới ấy rất khó thể diễn tả rơ ràng. Trong khoa học c̣n có công thức, công thức ấy lần sau tôi sẽ ghi lại. Nói thật ra, chỉ là mê hay ngộ, “hưu tương mê ngộ tự sơ thân” (thôi đừng v́ mê hay ngộ khiến cho [Cực Lạc] đối với ḿnh thành ra sơ hay thân), ngàn muôn phần chớ bỏ lỡ cơ duyên hy hữu khó gặp này! Thân hay sơ chỉ trong một niệm, sơ là mê, thân là giác ngộ, ngộ th́ chính nơi đây là Cực Lạc, mê th́ cách xa mười vạn ức cơi.

      “Sát-na niệm tận Hằng sa Phật, tiện thị liên hoa quốc lư nhân” (Trong sát-na niệm hết Hằng sa Phật, bèn là người trong cơi hoa sen). Hai câu kệ đầu giảng về Lư, hai câu sau luận về Sự. Đối với Lư, chúng ta không thể ngộ nhập cảnh giới vẫn không sao cả, quư vị chỉ cần biết tín nguyện tŕ danh, cầu sanh về Tịnh Độ là được rồi. Ấn Quang đại sư suốt đời dạy người, tôi c̣n cho khắc một con ấn: Ấn Quang Đại Sư Truyền Pháp Ấn. Pháp Ấn của Ngài là ǵ vậy? Suốt đời Ngài nói nhiều nhất, viết nhiều nhất – thật đấy, tự hành, hóa tha – là bốn câu, mười sáu chữ sau đây: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” (Giữ trọn luân thường, tận hết trách nhiệm, ngăn ḷng tà, giữ ḷng thành, tín nguyện niệm Phật). Lăo pháp sư cả một đời thực sự thực hiện cũng như dạy người khác điều này. Mười sáu chữ ấy theo cái nh́n của tôi, chính là “truyền tâm pháp ấn” tự hành, hóa tha của Ấn Quang đại sư. Đây là nguyên tắc chỉ đạo tối cao, tôi khẳng định trong chín ngàn năm thuộc đời Mạt Pháp của đức Thế Tôn chẳng thể biến đổi [nguyên tắc này]. Nếu nhất định tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo này th́ trong một đời này chúng ta nhất định sanh về Tịnh Độ.

      Hai câu đầu (tức “đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành”) nói về pháp thế gian. Phật pháp kiến lập trên cơ sở thế gian pháp, không làm người tốt trong thế gian th́ làm sao có thể văng sanh thế giới Cực Lạc cho được? Quư vị muốn văng sanh thế giới Cực Lạc th́ quư vị nhất định phải làm một người tốt trong thế gian. Tiêu chuẩn của một người tốt là như hai câu nói của Ấn Quang đại sư: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành”. Đây là tiêu chuẩn của một người tốt trong thế gian như trong Phật pháp gọi là “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Trước hết, quư vị phải đạt tiêu chuẩn thiện nam tử, thiện nữ nhân, sau đó niệm Phật, tín nguyện niệm Phật th́ mới được văng sanh.

Chữ “sát-na” (ksana) chỉ một thời gian rất ngắn, chỉ điều ǵ? Chỉ một câu Phật hiệu A Di Đà Phật. Quư vị thấy nhiều nhất là trong khoảng một giây, người tầm thường chúng ta niệm được một câu A Di Đà Phật, một giây thôi, trong một giây ấy niệm hết Hằng sa Phật. Đến bây giờ chúng tôi mới lănh hội được đôi chút ư nghĩa này. Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư nói: “Niệm một đức Phật (một đức Phật ở đây là A Di Đà Phật) không khác ǵ niệm hết thảy chư Phật”. Niệm một câu A Di Đà Phật chính là niệm hết mười phương ba đời chư Phật, chẳng sót một vị Phật nào. Niệm một đức Phật chính là niệm hết thảy chư Phật. Ư nghĩa này hay lắm, là thật đấy, không giả đâu. V́ sao biết là thật? Qua kinh A Di Đà, chúng ta thấy sáu phương Hằng hà sa số chư Phật tán thán A Di Đà Phật. Những lời tán thán ấy chính là niệm A Di Đà Phật, hết thảy chư Phật đều niệm A Di Đà Phật. Vậy th́ chúng ta niệm A Di Đà Phật chẳng phải là niệm hết thảy chư Phật hay sao? Bởi vậy, niệm một câu A Di Đà Phật, mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều sanh tâm hoan hỷ, hết thảy chư Phật đều hộ niệm, có thể lấy kinh A Di Đà làm chứng. Sáu phương chư Phật là chứng minh, chứ c̣n ǵ nữa! Pháp môn nào có thể sánh bằng được? Thực sự là t́m chẳng ra!

V́ thế, chỉ cần quư vị làm được mười sáu chữ của pháp sư Ấn Quang th́ quư vị đă thực hiện được bài kệ này của thiền sư Trung Phong, quư vị “tiện thị liên hoa quốc lư nhân” (liền thành người thuộc cơi nước hoa sen). Dẫu hiện thời quư vị chưa sang [Tây Phương Cực Lạc], nhưng chắc chắn được sang, không hoài nghi chút nào hết; giống như nói quư vị đă ghi tên vào sổ bộ ở Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi. Giống như nay chúng ta muốn di trú, quư vị đă cầm được sổ thông hành, cầm được giấy phép cư trú vĩnh viễn, chắc chắn sẽ đi được, muốn đi lúc nào cũng được. Cầm được giấy thông hành th́ quư vị là người của thế giới Cực Lạc. Bài kệ này hay lắm, phải thực hiện cho thật tốt. Lại xem tiếp phần Khai Thị.

 

Hiệp trần bối giác, tài kinh cức ư thất bảo viên lâm. Xả vọng quy chân, liệt châu vơng ư tứ sanh môn hộ.

塵背覺。栽荊棘於七寶園林。捨妄歸真。列珠網於四生門戶。

(Xuôi trần nghịch giác, trồng gai góc nơi vườn rừng bảy báu. Bỏ vọng về chân, giăng lưới châu nơi cửa ngơ tứ sanh).

 

Chúng ta hăy xem câu này trước. “Hiệp trần bối giác” là bọn phàm phu lục đạo chúng ta. Tâm chúng ta là vọng tâm, vọng tưởng, phân biệt, hiệp với ǵ? Hiệp với ngũ dục lục trần, niệm niệm đều là ngũ dục, lục trần. Giống như thế nào? Giống như “tài kinh cức ư thất bảo viên lâm” (trồng gai góc trong vườn rừng bảy báu). “Thất bảo viên lâm” chính là Chân Như Bản Tánh của chúng ta. Nơi Chân Như Bản Tánh của chúng ta nay đang trồng kín gai góc. “Gai góc” là khởi Hoặc, tạo nghiệp, khổ báo. Gai góc là tỷ dụ Hoặc nghiệp khổ, tam chướng. Tam chướng sanh khởi trong Chân Như Bản Tánh của chúng ta v́ chúng ta trái nghịch Tự Tánh Giác, không giác ngộ, mê hoặc, điên đảo, niệm niệm đều là ngũ dục, lục trần. Câu này có ư nghĩa như vậy. Lục đạo phàm phu ai nấy đều như thế cả!

Lại thưa rơ cùng mọi người, nói rơ ràng hơn chút nữa, rừng vườn bảy báu chính là căn tánh nơi sáu căn của chúng ta, nơi mắt gọi là tánh Thấy, nơi tai gọi là tánh Nghe, nơi mũi, nơi lưỡi, nơi thân gọi là tánh Cảm Nhận, nơi ư gọi là tánh Biết. Thấy - nghe - hay - biết là vườn rừng bảy báu, là tánh đức, tánh năng, nhưng mê rồi. Mê rồi bèn biến thành sáu thức, nơi mắt là Nhăn Thức, nơi tai là Nhĩ Thức, nơi ư gọi là Ư Thức. Quư vị thấy đó, tánh đức vừa mê bèn chuyển thành tám thức, đó gọi là “hiệp trần bối giác”, chính là hiện tượng hiện tiền của chúng ta.

Quay đầu lại là tốt, vừa quay đầu lại chính là “xả vọng, quy chân”. Xả vọng, quy chân là chuyển Thức thành Trí, buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống, bỏ đi, khôi phục thấy - nghe - hay - biết, vĩnh viễn giữ được thấy - nghe - hay - biết, trọn chẳng rớt vào ư thức, cũng quyết định chẳng để sáu căn khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước nơi sáu cảnh. Khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước là hỏng rồi, là mê rồi. Thấy sắc, nghe tiếng, không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, đấy chính là “xả vọng, quy chân”. Mọi người nhất định phải hiểu: Khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước là vọng, quư vị phải bỏ chúng đi.

Trong Tánh (tánh đức) quyết định chẳng có khởi tâm động niệm, quyết định chẳng phân biệt, chấp trước, giống như là “liệt châu vơng ư tứ sanh môn hộ” (giăng lưới châu nơi cửa ngơ tứ sanh). “Tứ sanh môn hộ” chính là lục đạo luân hồi. Trong lục đạo luân hồi, trong đời ác năm trược, có lưới mành bảo châu, tức y báo trang nghiêm nơi Cực Lạc thế giới, do tánh đức hiển hiện. Tánh đức ở chỗ nào? Tánh đức ở ngay trong đời ác năm trược!

 

Tung hoành vạn pháp, viên khỏa nhất tâm.

橫萬法。圓裹一心。

(Dọc ngang vạn pháp, nhất tâm bao trọn).

 

Đến đây là một đoạn. Hai câu này để tổng kết. “Tung” (: chiều dọc) chỉ thời gian, “hoành” (:chiều ngang) chỉ không gian. Trong nhà Phật thường nói: “Hoành biến thập phương, thụ cùng tam thế” (Theo chiều ngang trọn khắp mười phương, theo chiều dọc khắp cùng ba đời), Tung chính là Thụ (). Ở đây, “tung hoành” chỉ cho thời gian và không gian. Trong không gian và thời gian có tất cả hết thảy vạn pháp. Hết thảy vạn pháp chẳng tách ĺa không gian và thời gian, đều thuộc trong không gian và thời gian. Vạn pháp trong không gian và thời gian, “viên khỏa nhất tâm”, Khỏa () là bao trùm, “viên khỏa” (圓裹) là bao bọc trọn vẹn, ai bao trùm? Nhất tâm, không thoát khỏi nhất tâm, chẳng ĺa nhất tâm. Vậy th́ chúng ta niệm Phật, chúng ta niệm Phật chuyên môn cầu nhất tâm, quư vị thấy đó: Cao minh đến cùng cực! Mục tiêu công phu của chúng ta là nhất tâm bất loạn, nhất tâm tung hoành vạn pháp, bao trọn hết thảy. Đoạn này giảng về Lư, hễ có Lư th́ nhất định có Sự. Đoạn tiếp theo giảng về Sự Tướng. Chúng ta xem đoạn kế tiếp:

 

Phi tư lượng xứ, A Di Đà Phật. Tọa đoạn lục căn, vô tạo tác thời. Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực, phá quần hôn như cảo nhật lệ thiên, liệu chúng bệnh như Thiện Kiến thần dược.

思量處。阿彌陀佛。坐斷六根。無造作時。清泰故

。橫吞八極。破群昏如杲日麗天。療眾病如善見神藥

      (A Di Đà Phật không chỗ nghĩ lường. Nhằm lúc khuất phục sáu căn, không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt trọn khắp tám phương, phá các tối tăm như mặt trời chói rực giữa trời, trị các bệnh như thuốc thần Thiện Kiến).

 

      Đây là một đoạn, thuộc về sự tướng. Trong đoạn này quan trọng nhất là “phi tư lượng xứ” (không chỗ nghĩ lường), “vô tạo tác thời” (lúc không tạo tác). Giác và mê khác biệt ở chỗ này! Lúc mê, vọng niệm tơi bời, chúng tôi thường bảo là suy nghĩ loạn xị (hồ tư loạn tưởng). Tư tưởng của kẻ ấy chưa từng ngưng nghỉ, đêm ngủ vẫn suy tưởng nên mới có mộng cảnh. Nếu không suy tưởng, sẽ không nằm mộng. Mộng do nguyên nhân nào? Chính là do A Lại Da Thức của quư vị hoạt động không ngừng, chẳng ngưng lặng trong mỗi sát-na. Phàm phu chúng ta biết được những ư niệm thô, biết được nó sanh diệt, nhưng không biết những ư niệm vi tế. Những ư niệm cực kỳ vi tế, những chủng tử trong A Lại Da Thức th́ kinh Phật nói phải là Bát Địa Bồ Tát trở lên mới biết được sự sanh diệt của chúng. Bát Địa Bồ Tát là Bất Động Địa, kinh Nhân Vương gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Bát Địa Bồ Tát là Trung Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Thất Địa là Hạ Phẩm. Hạ Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn c̣n chưa thấy được [sự sanh diệt của ư niệm vi tế], Trung Phẩm Vô Sanh thấy được. Phải thấy mới đoạn được, quư vị không thấy th́ đoạn chỗ nào? V́ thế, kiến đạo rồi mới có thể tu đạo, đạo không thấy, quư vị tu ở chỗ nào? Chúng ta phải học điểm này. “Phi tư lượng xứ”, quư vị thấy A Di Đà Phật đă đạt được cảnh giới ấy.

      Như vậy, “tọa đoạn lục căn” (khuất phục sáu căn) tức là nói sáu căn không c̣n khởi tác dụng nữa[13]. Nói “lục căn” hàm ư những Thức nơi sáu căn, những Thức ấy vĩnh viễn không khởi tác dụng. Người ấy khởi tác dụng nào? Khởi những đức năng sẵn có (bản năng) trong Pháp Tánh; bản năng của Pháp Tánh là thấy - nghe - hay - biết. Thấy - nghe - hay - biết trọn khắp pháp giới, hư không giới. Các nhà khoa học ngày nay dùng phương pháp khoa học để thí nghiệm, chứng minh thực vật và khoáng vật có khả năng thấy - nghe - hay - biết, đấy chính là bản năng của Pháp Tánh. Thực vật và khoáng vật mê hay không mê? Cũng là mê. V́ thế, sự thấy - nghe - hay - biết của chúng chẳng thể trọn khắp pháp giới, hư không giới. Quư vị xem nhé: Viết chữ Ái (yêu) cho nước thấy, để xa quá không được, phải dán lên b́nh đựng nước cho gần, đại khái phải mất một tiếng đồng hồ nước mới phản ứng. Nó cũng mê, so với con người nó c̣n mê tệ hại hơn. Con người chúng ta vừa trông thấy chữ ấy từ xa đă có phản ứng; c̣n nước phải dán cho gần, vẫn phải tốn một thời gian dài, điều này chứng tỏ thực vật và khoáng vật mê nặng hơn chúng ta, khoáng vật so ra mê c̣n nặng hơn thực vật.

      Kinh Lăng Nghiêm nói thuần t́nh thành thực vật hay khoáng vật. Kinh Lăng Nghiêm nói đến t́nh và tưởng; thuần tưởng th́ bay lên, thuần t́nh th́ đọa xuống. “Thuần t́nh” là ǵ? Chấp trước! Chấp trước quá mức, nhưng tánh năng chẳng bị vùi mất. Chấp trước nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như khoáng vật sẽ rất khó chuyển biến. Trong khoáng vật th́ nước có thể nhận được những tin tức từ chúng ta, sau một tiếng đồng hồ nó sẽ có phản ứng. Đại khái, quư vị gởi đến bùn, cát, đá những thông điệp, rất có thể cần đến cả mười tiếng, hai mươi tiếng, thậm chí ba mươi tiếng, chúng mới phản ứng. Quư vị thấy đó: Chúng phản ứng. Đương nhiên phản ứng cực kỳ vi tế, chúng ta không thấy được. V́ thế, bọn họ dùng trái cây, dùng cơm, dùng mạn đầu làm thí nghiệm, trong hai tuần phản ứng hết sức rơ ràng. Đó là nói về khoáng vật, không phải là thực vật. Thực vật là hoa, cỏ, cây cối, chúng cảm ứng cũng khá linh mẫn, quả thật có thấy - nghe - hay - biết. Bản năng nơi Pháp Tánh, những đức sẵn có nơi Pháp Tánh không hề bị mất đi, mà bị mê t́nh che lấp. Dẫu che lấp vẫn có tác dụng, vẫn khá rơ ràng.

Ở đây, chúng ta phải thực sự hiểu rơ: Tận sức bớt suy lường, cũng có thể hiểu là tận sức ít khởi vọng tưởng. Vọng tưởng càng ít càng tốt, nhưng như thế nào? Vọng tưởng không ngừng được, vấn đề ở chỗ này! Chúng ta muốn ngừng dứt, bởi không vọng tưởng sẽ thành Phật; nhưng có những chuyện ta muốn buông xuống, lại không buông xuống được, ta muốn bỏ đi, chẳng những bỏ không được, càng muốn bỏ đi lại càng nhiều. Làm thế nào đây? Đức Phật dạy cho chúng ta một phương pháp hay: Niệm A Di Đà Phật. Ư niệm vừa dấy lên, cấp tốc A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, giữ ǵn một niệm này. Quư vị muốn đoạn một niệm này, đoạn không được, vậy th́ nay dùng một niệm thay thế hết thảy niệm, cách này hay lắm! Một niệm ấy không đoạn nên gọi là “đới nghiệp văng sanh”. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới tu hành một khoảng thời gian, niệm ấy không c̣n nữa, bèn thành công, đạt đến Lư nhất tâm bất loạn.

Niệm ấy không c̣n nữa th́ minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật.

      Thành Phật rồi c̣n niệm A Di Đà Phật nữa hay không? Vẫn niệm. Niệm lúc đó và niệm lúc này hoàn toàn khác nhau. Niệm ấy là ǵ? V́ người khác diễn nói, làm gương cho hết thảy chúng sanh khổ nạn: Các ngươi muốn thành tựu th́ phải làm giống như ta đây! Trong kinh Di Đà, Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị hiện, Ngài niệm Phật chứng vô thượng Bồ Đề; bởi thế, đấy chính là làm gương cho người khác xem, là lợi tha đấy! Hiện tại, chúng ta chưa đạt đến Lư nhất tâm bất loạn th́ tự lợi, tự lợi cũng là lợi tha, lợi tha cũng là tự lợi, tự - tha bất nhị. V́ thế, để đạt đến chỗ không suy lường, chúng ta dùng một câu Phật hiệu, trong mười hai thời, suốt ngày từ sáng đến tối, trong mỗi niệm, tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, niệm ǵ cũng chẳng có.

      Nếu quư vị hỏi: Việc này phiền quá, trong cuộc sống thường ngày nhiều chuyện ḿnh không biết, niệm xuông một câu Phật hiệu th́ lo liệu mọi việc ra sao đây? Giải quyết như thế nào? Đúng là ư niệm quy về một câu Phật hiệu th́ trí huệ bèn mở mang, bất luận chuyện ǵ cũng không cần phải biết, quư vị vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, tự nhiên sẽ có phương pháp ổn thỏa tốt lành để giải quyết, chẳng cần phải suy nghĩ, t́m ṭi, chẳng cần phải biết trước. Biết trước, suy nghĩ cặn kẽ như thế nào đi nữa, nhưng đến lúc đụng chuyện vẫn làm sai. Đó là phàm phu. Chư Phật, Bồ Tát giải quyết hết thảy mọi chuyện vặt vănh, tạp nhạp của đại chúng, Phật, Bồ Tát có làm sai chuyện nào hay không? Không! Từ trước đến nay chưa từng làm chuyện ǵ sai quấy, do nguyên nhân nào? Trí huệ! Tâm các Ngài thanh tịnh, không nhiễm ô, không có tạp niệm, “tọa đoạn sáu căn”. “Tọa đoạn” là chữ dùng để h́nh dung, không thực sự đoạn, ở đây có nghĩa sáu thức nơi sáu căn không khởi tác dụng.

      Lúc không tạo tác, “Thanh Thái cố hương, hoành thốn bát cực” (quê cũ Thanh Thái nuốt trọn tám phương): Thanh Thái là thế giới Cực Lạc , “bát cực” là tám phương. Người Hoa thường nói “tứ phương, tứ duy” (bốn phương chánh, bốn phương bàng[14]), thêm vào thượng, hạ thành mười phương. “Hoành thôn” (nuốt ngang) là bao quát toàn bộ, hoàn toàn bao trùm. Thế giới Cực Lạc được h́nh thành như thế nào? Thế giới Cực Lạc không do con người tạo tác, cũng có thể nói là không phân biệt, không chấp trước, “phi tư lượng xứ”, không có vọng tưởng. Nói gộp lại là “không có phân biệt, không chấp trước”. Người trong thế giới Cực Lạc không chỉ học với A Di Đà Phật, dù là những người thuộc Hạ Hạ Phẩm – chúng ta đọc thấy trong kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật đă giới thiệu – bọn họ mỗi ngày nghe kinh, nghe pháp, mỗi ngày đi tham phỏng mười vạn ức Phật. Thật ra, “mười vạn ức” không phải là con số mà là mười phương thế giới hết thảy đạo tràng của chư Phật, Bồ Tát, họ đều đến tham phỏng, đến cúng Phật, nghe Phật thuyết pháp, cúng Tăng, giúp đỡ Phật giáo hóa chúng sanh. Bận bịu như thế cũng chẳng vui ư?

      V́ sao gọi là “vô tạo tác thời” (lúc không tạo tác)? Quả thật, họ bận rộn cũng chẳng vui ư? Họ không có ư niệm ấy, cũng không khởi tâm động niệm, không phân biệt, chấp trước. Chúng sanh có Cảm, họ bèn Ứng. Cảm ứng hoàn toàn tự nhiên, quả thật chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng chấp trước, nên mới có Ứng. Chúng ta nay không có cách nào làm như vậy được. Do nguyên nhân nào? Bản năng ấy của chúng ta bị chướng ngại, bị nghiệp chướng chướng ngại. Nghiệp chướng là ǵ? Nghiệp chướng là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chúng ta không buông những thứ ấy xuống được. Những thứ ấy chướng ngại tánh đức, tánh năng của chúng ta. Người văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu chưa phá được một phẩm vô minh, nhưng họ được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, đức năng nơi tự tánh của họ không bị chướng ngại nên khởi tác dụng; v́ thế, họ có thể tự do tự tại thị hiện trong mười phương thế giới, thật chẳng thể nghĩ bàn.

      Nếu chúng ta học theo họ sẽ học không được, làm cách nào đây? Thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Đến thế giới Cực Lạc, cảnh giới ấy sẽ hiện tiền. V́ thế, nay chúng ta đọc đoạn kinh này, phải áp dụng vào hiện tại như thế nào? Tùy duyên, đừng phan duyên! Trọn đừng nghĩ ḿnh phải làm điều này, điều nọ, hết thảy mọi việc cứ để “nước chảy thành suối!” Có cơ hội, biết là chuyện tốt, ḿnh có khả năng có thể làm được th́ hăy toàn tâm toàn lực mà làm; không đủ sức th́ chẳng cần phải khởi vọng tưởng, chẳng cần khởi ư niệm nào. Có khả năng nhưng việc ấy đă có người làm, ḿnh không bắt buộc phải làm, cũng chẳng cần phải bận tâm nữa. Việc tốt, đúng là việc tốt, lại không có ai làm, ḿnh có sức làm th́ ḿnh tùy hỷ. Tốt! Tự tại lắm!

      Như vậy, trong cuộc sống hiện thời, học tùy duyên đừng phan duyên, quư vị được đại tự tại. Thấy thấu suốt, buông xuống, tự tại, tùy duyên, đấy chính là những ǵ thầy truyền cho tôi, trong bao nhiêu năm qua, tôi tùy tâm sử dụng, rất tự tại! Càng làm, ḷng tin càng trọn đủ, càng làm, càng cảm tạ thầy dạy dỗ. A! Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

Tập 51

      Chư vị đồng học!

      Xin xem phần khai thị thứ nhất trong thời thứ ba của Hệ Niệm Pháp Sự. Buổi học trước chúng tôi đă giảng đến đây:

 

      Phi tư lượng xứ A Di Đà Phật, tọa đoạn lục căn, vô tạo tác thời, Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực.

      非思量處。阿彌陀佛。坐斷六根。無造作時。清泰故鄉。橫吞八極。

      (A Di Đà Phật không chỗ nghĩ lường. Nhằm lúc khuất phục sáu căn, không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt trọn khắp tám phương).

 

      Trong hai câu này, quan trọng nhất là “phi tư lượng xứ” (chỗ không suy lường) và “vô tạo tác thời” (lúc không tạo tác), thánh - phàm sai biệt cũng ở chỗ này. Thánh nhân (chúng ta gọi là “bậc giác ngộ”), bậc giác ngộ tâm địa thanh tịnh không có vọng niệm. Phàm phu không giác ngộ, mê hoặc, vọng niệm chẳng đoạn. Phàm - thánh sai biệt, nói thật ra, chính là ở chỗ này. V́ thế, thời cổ thánh nhân dạy người “khắc niệm tác thánh” (chế ngự được ư niệm th́ thành thánh), quư vị thấy bốn chữ này rất thú vị! Phàm ai có thể chế ngự được ư niệm sẽ thành thánh, ai không khắc phục được ư niệm của chính ḿnh th́ là phàm phu. Chư Phật, Bồ Tát cũng không có ǵ khác, đoạn được vọng niệm mà thôi, đoạn sạch sẽ, mảy may cũng không c̣n, nên gọi là Phật Đà, là chư Phật Như Lai! Đoạn nhưng c̣n một chút, hăy c̣n một chút cực kỳ vi tế chưa đoạn th́ là Đẳng Giác Bồ Tát. Do đây biết rằng: Tu hành nói đến tổng nguyên tắc, tổng cương lănh th́ không có ǵ khác cả, khắc phục vọng niệm mà thôi! Như vậy, A Di Đà Phật làm được điều này. “Phi tư lượng xứ” A Di Đà Phật làm được, v́ thế, lục căn của Ngài tịch tĩnh. Lục căn tịch tĩnh, phản bổn hoàn nguyên (trở về với nguồn cội), thành công! Câu này giảng về chuyện khắc phục vọng niệm.

      Câu thứ hai giảng về tạo tác. Phật, Bồ Tát hiện vô lượng vô biên thân trong mười phương pháp giới, độ vô lượng vô biên người, quư vị nói thử xem: Các Ngài có tạo tác hay chăng? Không tạo tác! V́ sao bảo là không tạo tác? Rành rành là tạo tác, v́ sao nói là không tạo tác? Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật v́ mọi người giảng kinh, thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, hằng ngày giảng, không nghỉ một ngày nào, thế nhưng trong kinh Bát Nhă lại bảo “Phật không nói một câu nào, ai nói Phật thuyết pháp chính là báng Phật!” Trong giáo pháp Đại Thừa chúng ta cũng đă từng nghe nói, có khi là: “Thuyết nhi vô thuyết, vô thuyết nhi thuyết” (nói mà không nói, không nói mà nói). Phật, Bồ Tát đến hiện thân trong chín pháp giới thuyết pháp chính là “hiện nhi vô hiện, vô hiện nhi hiện, thuyết nhi vô thuyết, vô thuyết nhi thuyết” (hiện nhưng không hiện, không hiện mà hiện, nói mà không nói, không nói nhưng nói). Những câu ấy khiến chúng ta như đang ở trong đám sương phủ mù mịt[15], nghe xong mê muội luôn: Sao lại nói hiện nhưng không hiện, nói nhưng không nói? Trong những phần trên đă nói rất nhiều lần về hiện thân thuyết pháp rồi: Ứng theo ḷng Cảm của chúng sanh mà tự nhiên hiện, tự nhiên nói, không hề có ư nghĩ nào trong ấy cả. Không có một ư nghĩ nào là “không nói”, ứng theo ḷng Cảm của chúng sanh là “có nói”. V́ thế, nói mà không nói, không nói mà nói; nghĩa là như vậy đấy. Đúng là nói rất nhiều, nhưng đức Phật tuyệt đối chẳng khởi tâm động niệm, tuyệt đối chẳng phân biệt, chấp trước.

      Chúng ta nghe những lời này chẳng hiểu! Rốt cuộc, chúng có nghĩa là ǵ? Chúng tôi vẫn dùng cái màn huỳnh quang như trong phần trên để tỷ dụ. Màn huỳnh quang của TV, hoặc màn huỳnh quang của computer sạch sẽ chẳng nhiễm mảy trần! Đúng hay không? Quư vị gật đầu, đúng rồi! Nay quư vị thâu nhận tín hiệu, màn h́nh bèn hiện tướng. Nếu chúng ta hỏi: Màn huỳnh quang hiện tướng rốt cuộc là chuyện ǵ vậy? Chẳng phải là hiện mà không hiện hay sao? Tướng th́ hiện, nhưng màn huỳnh quang quả thật chẳng tiêm nhiễm mảy may, quư vị nghĩ xem có phải là “hiện nhưng không hiện, không hiện mà hiện” đó ư? Những h́nh ảnh được hiện ấy cũng là giảng kinh, cũng là thuyết pháp, chẳng phải là “nói nhưng không nói, không nói mà nói” hay sao? Chư Phật hiện thân thuyết pháp trong chín pháp giới cũng giống như những tướng được hiện trên màn huỳnh quang. Đạo lư thuyết pháp giống như vậy đó.

Như vậy, trong nhà quư vị ai cũng có TV, mỗi ngày người biết tu hành xem TV đều là tu hành, nhờ vào đó mà đại triệt đại ngộ, nguyên lai là như thế đó! Màn huỳnh quang tượng trưng cho Pháp Tánh, tướng hiện nơi đó. Màn huỳnh quang có thể hiện (năng hiện), tướng ấy là cái được hiện (sở hiện), Năng Hiện - Sở Hiện, Năng - Sở là một, tuyệt đối không phải hai. Năng Hiện quyết định bất biến, Sở Hiện bị biến, biến ra sao? Khởi tâm động niệm bèn biến; không khởi tâm, không động niệm th́ chẳng biến. Không khởi tâm, không động niệm gọi là Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới sống động, không chết cứng; “bất biến” hàm nghĩa không động, giống như màn h́nh vậy. V́ thế, năng hiện - sở hiện, năng biến - sở biến là một, không hai. Có như vậy quư vị mới thực sự hiểu rơ, thực sự thấu hiểu Thật Tướng của các pháp.

V́ thế, “vô tạo tác thời, Thanh Thái cố hương, hoành thôn bát cực” (lúc không tạo tác, quê cũ Thanh Thái nuốt trọn tám phương): Chúng tôi dùng cái màn huỳnh quang để tỷ dụ. A Di Đà Phật và quê cũ Thanh Thái đều dùng cái màn huỳnh quang để làm tỷ dụ, “tọa đoạn lục căn” (khuất phục sáu căn), “hoành thôn bát cực” (nuốt trọn tám phương), chúng tôi dùng những h́nh ảnh hiện ra nơi màn h́nh để tỷ dụ. Tôi giảng như vậy chắc mọi người hiểu được, nhưng quư vị vẫn phải chú tâm quán sát, không chú tâm sẽ chẳng hiểu những thứ ấy đều ở ngay trước mặt. Lúc quư vị hiểu được th́ trí huệ sẽ sanh khởi, đối với hết thảy những tướng được hiện quư vị mới thực sự bội phục. Kinh Kim Cang dạy: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Đức Phật nói ra được những lời ấy quả thật là phi phàm, một lời vạch trần Thật Tướng của các pháp. Hôm nay chúng ta lại xem tiếp, xem tiếp đoạn văn sau đây:

 

Phá quần hôn như cảo nhật lệ thiên.

破群昏如杲日麗天。

      (Phá các tối tăm như mặt trời chói rực giữa trời).

 

      Trí huệ hiện tiền! Trí huệ hiện tiền có thể phá mê hoặc, có thể phá chướng. Trong Tam Chướng, khó phá nhất là Hoặc Chướng, tức là Phiền Năo Chướng, mê hoặc đấy! Phá được mê hoặc th́ vấn đề nào cũng giải quyết được; chỉ cần phá được mê hoặc th́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tự nhiên bị khống chế, không thể sanh khởi được nữa, đấy chính là cảnh giới nơi quả địa Như Lai. “Phá quần hôn”: Hết thảy mê hoặc đều dùng hai chữ “quần hôn” (các thứ tối tăm) để tượng trưng. “Như cảo nhật lệ thiên” (như mặt trời chói rực giữa trời): “Cảo nhật” là mặt trời. Chữ “cảo” () viết theo cách Hội Ư, nhằm làm cho quư vị nh́n vào tướng (tức mặt chữ) sẽ thấu hiểu được ư nghĩa. Mặt trời mọc lên, cao lắm, đă vượt lên đầu ngọn cây. V́ thế, chữ Cảo dưới là chữ Mộc (), trên là chữ Nhật (), ngụ ư Thái Dương nay đă vượt khỏi ngọn cây, rất cao rồi, hết sức sáng chói. Thái Dương quá xa, v́ thế nó mang ư nghĩa cao xa, mang ư nghĩa sáng sủa. “Cảo nhật lệ thiên” biểu thị ư nghĩa ǵ? Biểu thị đại triệt đại ngộ, biểu thị thông đạt, hiểu rơ, khai ngộ rồi. Câu kế

tiếp:

 

      Liệu chúng bệnh như Thiện Kiến thần dược.

      療眾病如善見神藥。

      (Trị các bệnh như thuốc thần Thiện Kiến).

 

      “Chúng bệnh” (các bệnh) chỉ chúng sanh trong chín pháp giới vẫn c̣n mê hoặc, vẫn c̣n tạo nghiệp, vẫn c̣n chịu báo, nhất là chúng sanh luân hồi trong lục đạo rất đáng thương, rất khổ! Phật, Bồ Tát thị hiện trong thế gian để làm ǵ? Cứu khổ, cứu nạn, giúp cho những kẻ khổ nạn ấy, đến trị bệnh cho họ! Giống như “Thiện Kiến thần dược” (thuốc thần Thiện Kiến) là nói tỷ dụ. Trong kinh Phật có tỷ dụ một loại thuốc, loại thuốc này có thể trị hết thảy các bệnh, loại thuốc ấy có tên là Thiện Kiến. Chữ Kiến () này nên đọc là Hiện (), thời cổ chữ Kiến và Hiện có cùng một âm, cũng mang cùng một ư nghĩa, nay thêm bộ Ngọc () vào bên cạnh [chữ Kiến thành chữ Hiện]. Thần dược Thiện Kiến (Hiện): Chúng sanh trông thấy thuốc ấy, (theo cách nói bây giờ của chúng ta) tất cả hết thảy virus đều bị hóa giải, chúng ta nghĩ xem thuốc ấy là thuốc ǵ vậy? Thuốc ấy chẳng phải là Tam Bảo như Phật pháp thường nói đó chăng? Tam Bảo là ǵ? Tự Tánh Giác, Tự Tánh Chánh, Tự Tánh Tịnh. Tự Tánh Giác - Chánh - Tịnh là đức hạnh vốn sẵn có trong tự tánh, đức Phật nói tới thần dược Thiện Kiến chính là nói điều này. Tự Tánh Giác - Chánh - Tịnh hiện tiền, virus nào cũng không c̣n nữa, đều bị hóa giải hết. Thiên địa, vạn vật, hết thảy chúng sanh đều chuyển biến thành Giác - Chánh - Tịnh, trong tự tánh há có virus!

      Như vậy, nay chúng ta chuyển tham - sân - si thành Giác - Chánh - Tịnh, chuyển keo tham thành thanh tịnh như thế nào? Keo tham (keo kiệt, tham lam) là nhiễm ô nghiêm trọng nhất. Chuyển sân khuể thành thuần chánh. Chuyển ngu si thành thuần giác. Chuyển được th́ là Phật, Bồ Tát; chuyển không được th́ là phàm phu. Chúng tôi muốn chuyển th́ xin hăy dạy cho tôi phương pháp nào để chuyển? Phương pháp rất nhiều, tám vạn bốn ngàn pháp môn, tám vạn bốn ngàn loại phương pháp, vô lượng pháp môn, vô lượng vô biên phương pháp đều có thể chuyển. Nhiều phương pháp như vậy, chúng ta phải học theo phương pháp nào mới là tốt nhất? Đức Phật dạy chúng ta: “Pháp môn b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (Pháp môn b́nh đẳng, không có cao hay thấp). V́ sao? Mỗi phương pháp đều có thể giúp cho chúng ta chuyển Mê - Tà - Nhiễm thành Giác - Chánh - Tịnh. Mê - Tà - Nhiễm là Tham - Sân - Si, chuyển thành Giác - Chánh - Tịnh. Bởi vậy, “pháp môn b́nh đẳng, không có cao hay thấp”.

      Thế nhưng chúng ta là chúng sanh nghiệp chướng, tập khí, phiền năo rối bời, mỗi người khác nhau, sâu - cạn, dày - mỏng khác nhau. Người lợi căn phiền năo tập khí mỏng một chút, cạn một chút, học pháp môn ǵ cũng đều dễ dàng. Người phiền năo tập khí rất nghiêm trọng, có rất nhiều pháp môn người ấy không có cách ǵ học được. V́ thế gian này hiện thời quá khổ, tai nạn quá nhiều, chúng ta nhất định phải t́m lấy một pháp môn nào dễ dàng nhất, nhanh chóng nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất để nương cậy. Chư Phật Như Lai dạy chúng ta: “Có! Có một pháp môn: Niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ”. Pháp môn này là pháp môn lư tưởng. Chúng ta hăy xem đoạn văn tiếp theo:

 

      Sở dĩ vân: Nhất xưng A Di Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức kiếp sanh tử chúng khổ.

      所以云。一稱阿彌陀佛名號。能滅八萬億劫生死眾苦。

      (Bởi thế nói: Vừa xưng danh hiệu A Di Đà Phật, diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử).

 

      Đây chính là lời chư Phật Như Lai đă nói! Chúng ta có tin tưởng hay không? Nếu quư vị tin, chứng tỏ quư vị có thiện căn to lớn. Trong đời quá khứ đă có thiện căn rất sâu dầy, trong đời này mê hoặc, khi nào có người cảnh tỉnh quư vị, vừa tỉnh th́ thiện căn trong đời quá khứ liền phát khởi, quư vị bèn tin tưởng. Lúc nào thiện căn chín muồi, đúng đấy, nhất định phải có lúc đó, trong nhà Phật thường gọi là “thời tiết nhân duyên”. Thời chưa đến là chưa được.

Tôi thừa nhận, trong đời quá khứ, tôi có thiện căn sâu dầy, nhưng trước khi tôi tṛn hai mươi tuổi, chắc chắn tôi không thể tiếp nhận Phật pháp. Ai đến giảng giải cho tôi cũng uổng công, tôi chẳng thể tiếp nhận. Hết sức chấp trước, hết sức ngoan cố, tự cho ḿnh đúng, tự cậy ḿnh thông minh. Năm hai mươi sáu tuổi thân cận tiên sinh Phương Đông Mỹ, Phương tiên sinh là bậc thiện tri thức được ngưỡng mộ trong tâm tôi, là vị thầy tôi kính ngưỡng nhất. Gặp được cụ, cụ giới thiệu Phật pháp cho tôi, tôi không nói ǵ cả, tin tưởng ngay. Thầy chẳng lừa dối tôi, đối với tôi cụ hết sức tốt, hết sức yêu thương. Năm hai mươi sáu tuổi chính là lúc thời tiết nhân duyên chín muồi, gặp được bậc thiện tri thức như vậy. Thật đấy! Cụ là đại triết gia, chẳng những là vị giáo sư nổi tiếng tại Đài Loan mà c̣n là bậc thầy nổi danh trên thế giới. Tôi bị đạo đức, học vấn của cụ chiết phục, cụ nói: “Kinh Phật là triết học cao sâu nhất trong triết học toàn thế giới (tôi học Triết Học với cụ), học Phật là sự hưởng thụ cao nhất trong đời người”. Tôi bị hai câu nói ấy của cụ dẫn vào cửa Phật. Nếu không phải là Phương tiên sinh mà là người khác nói hai câu ấy, tôi chẳng tin tưởng; nhất định phải từ miệng cụ nói ra tôi mới tin tưởng được. Ai độ người nào đều là có duyên phận. Duyên phận ấy chỉ có thể gặp chứ không thể cầu. Tôi được cụ tiếp dẫn vào cửa nhà Phật như thế đấy!

      Tiếp dẫn vào cửa Phật rất hy hữu! Chưa đầy một tháng sau tôi quen biết Chương Gia đại sư, tôi có người để thỉnh giáo về những chuyện liên quan đến Phật giáo. Tôi tự ḿnh t́m kinh điển đọc, có ngờ vực ǵ, bèn hướng về Chương Gia đại sư thỉnh giáo. Chương Gia đại sư giúp tôi suốt ba năm, căn cơ Phật giáo của tôi được xây đắp vững vàng từ nơi lăo nhân gia. Nói cách khác, năm hai mươi sáu tuổi, trước khi gặp Phương tiên sinh, bất cứ ai muốn giới thiệu Phật giáo cho tôi cũng đều không thể được. Tôi tranh căi với người ấy, tôi có cả một đống lư luận vặn vẹo, quư vị không có cách ǵ đả phá lư luận vặn vẹo của tôi, nên tôi chẳng thể tin tưởng.

      Lúc c̣n trẻ, độ những người như tôi rất khó khăn. Lúc ấy tôi c̣n đang đi học, c̣n chưa đến hai mươi sáu tuổi, lúc mười mấy tuổi, thường hay thân cận Cơ Đốc giáo. V́ tôi có rất nhiều bạn học là tín đồ Cơ Đốc Giáo, thường đi nhà thờ, tôi theo họ đi nhà thờ, cũng đọc Kinh Thánh của họ, tôi đọc hết sức nghiêm túc, bọn họ đều kém tôi. Mục sư mấy lần rủ rê, hy vọng tôi chịu rửa tội. Tôi nói tôi có nghi vấn, đợi khi nào thấu hiểu những nghi vấn ấy tôi sẽ rửa tội, chứ hiện nay những nghi vấn ấy không có cách ǵ giải quyết được. Ông ta hỏi những nghi vấn nào? Tôi nhớ h́nh như ḿnh nêu lên hơn bảy mươi điều, ông ta không trả lời được một điều nào. Ông ta nghe xong, lắc đầu: “Khó quá, không cách ǵ độ cậu được!” Thế trí biện thông mà! Nay học Phật mới biết, đời quá khứ tu Huệ không tu Phước; v́ thế, có Thế Trí Biện Thông, không có phước báo, cũng không có thọ mạng. Học Phật rồi mới biết, mới biết ḿnh nên tu bổ cứu như thế nào, không có phước báo th́ phải bổ cứu. Không có thọ mạng cũng phải bổ cứu. Nhất là Chương Gia đại sư dạy tôi: “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng). Thật ra, tôi trọn chẳng cầu phước, cũng trọn chẳng cầu trường thọ, nhưng tôi cầu trí huệ là thật. Đại khái là đời đời kiếp kiếp trong quá khứ chú trọng nơi tu Huệ, nay c̣n mang theo tập khí nhiều đời nhiều kiếp trước, chú trọng tu Huệ; nhưng tu Huệ bao gồm cả Tài Bố Thí và Vô Úy Bố Thí trong ấy. Thầy Lư khuyên tôi học giảng kinh: “Học giảng kinh th́ ba thứ bố thí đồng thời đầy đủ!” Quư vị lên giảng đài v́ đại chúng, đem Phật pháp giới thiệu cho đại chúng, giảng giải cho đại chúng nghe, phải có thân thể, phải có sức khỏe. Thân thể và sức khỏe chính là Nội Tài Bố Thí, so ra c̣n thù thắng hơn Ngoại Tài. Ngoại Tài là những tài vật ngoài thân. Quư vị giúp cho người khác có phước báo, dùng thân thể và sức lực để giúp đỡ người khác, phước báo càng lớn. Phước báo của Nội Tài so với Ngoại Tài c̣n lớn hơn. Đấy là Tài Bố Thí! Những ǵ chúng ta giới thiệu chính là Phật pháp, thuộc về Pháp Bố Thí. Mọi người thực sự hiểu rơ, thông suốt Phật pháp, phá trừ nghi chướng, đấy là Vô Úy Bố Thí. V́ thế, làm một chuyện đạt được cả ba, thầy Lư dạy tôi như vậy.

      Trước khi gặp được thầy Lư, tôi chỉ biết chăm chú học Phật; Phương tiên sinh giảng cho tôi. Cho đến lúc ấy tôi chẳng hề khởi ư niệm lên đài giảng kinh, chẳng dám khởi ư niệm ấy. Chính là thầy Lư dạy dỗ, dẫn dụ tôi lên giảng đài. Lên giảng đài rồi vui sướng không mệt mỏi, nói thật ra là do thiện căn trong đời quá khứ dẫn khởi phát hiện. V́ thế, thầy Lư thường nói chúng ta lên đài giảng kinh không phải là một đời, một kiếp, mà là trong quá khứ đời đời kiếp kiếp đều lên giảng đài. Bởi vậy, quư vị lên giảng đài mới được tùy ḷng ứng đối, pháp nào cũng giảng được, không bị khó khăn. Thật đấy! Quả thật là thiện căn trong quá khứ, là hạnh nghiệp trong quá khứ. Trong quá khứ từng làm hạnh này, làm sự nghiệp này, nên trong một đời này có thể tiếp tục làm nữa, nguyên do là như vậy.

      Vậy th́ “nhất xưng A Di Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức kiếp sanh tử chúng khổ” (xưng danh hiệu A Di Đà Phật một tiếng, diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử). Chư Phật nói như vậy, chúng ta phải tin. Chư Phật nói mà không tin th́ c̣n tin cái ǵ được nữa? Chuyện ấy nếu đợi chúng ta chứng minh được th́ đâu phải là chuyện dễ dàng. Nếu quư vị muốn chứng minh chuyện này th́ phải là bậc Bát Địa trở lên mới có thể chứng minh chân tướng sự thật này rơ ràng: “Nhất xưng A Di Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức kiếp sanh tử chúng khổ” (Niệm danh hiệu A Di Đà Phật một tiếng, diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử). Rất đáng tiếc! Người thế gian không chịu niệm, không biết niệm. Người chịu niệm, hiện tại người niệm Phật chúng ta rất nhiều, mà có diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử hay không? E rằng không được! Không được th́ lời Phật hóa ra không đúng hay sao? Đức Phật chắc chắn chẳng nói dối, nhưng chữ “diệt” ở đây có hai loại: Trong kinh Phật thường dạy có Đoạn Diệt và Phục Diệt. Hai thứ khác nhau!

      Nay chúng ta niệm Phật diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử, nói thật ra, không phải là đoạn diệt, không đoạn được! Chúng ta niệm Phật một tiếng sẽ khuất phục, đè nén [được các nỗi khổ]. Thế nhưng khi không niệm, chúng lại trỗi dậy, như thế là lấy đá đè cỏ, chứ chưa trừ được rễ. Người biết niệm trừ được cả rễ. Nay chúng ta không biết niệm, thế nào mới là “biết niệm”? Trong những phần trên tôi đă giảng rồi! Nói thật đơn giản, thật minh bạch, thật rơ ràng th́ không ǵ hơn lời Đại Thế Chí đă dạy: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Đó là biết niệm. Biết niệm th́ trước hết vẫn là chế phục, rồi sau mới đoạn. Đấy là đạo lư nhất định, trước chế phục, sau đoạn trừ. Quư vị niệm Phật, phải tịnh niệm, tịnh là thanh tịnh, không hoài nghi, không xen tạp. Hoài nghi: không thanh tịnh; xen tạp cũng chẳng phải là thanh tịnh, khó lắm! Trong khi quư vị niệm Phật mà vẫn c̣n khởi vọng tưởng, vẫn có tạp niệm th́ công phu chưa thuần, đó gọi là không thanh tịnh!

      Niệm Phật, có lúc niệm, có lúc gián đoạn, chẳng thể liên tục, lúc niệm th́ khuất phục được phiền năo, lúc gián đoạn th́ phiền năo lại hiện hành. Do vậy, niệm đă lâu như thế nào đi nữa, vẫn không chế phục được. Quư vị không khuất phục được phiền năo là v́ có gián đoạn. Một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, thời gian niệm Phật ngắn ngủi, thời gian không niệm Phật lại dài. Nói cách khác, mỗi ngày quư vị dùng đá đè cỏ, thời gian đè nén ngắn; lúc không chèn ép, cỏ lại tăng trưởng. V́ thế, quư vị hao sức niệm bao nhiêu năm dài lâu như thế, niệm mấy mươi năm, ngay cả tin tức cũng chẳng có ǵ hết, nghĩ lại vẫn không khác ǵ lúc chưa học Phật cho mấy, đấy chính là công phu không đắc lực! Công phu không đắc lực là v́ quư vị không biết niệm, quư vị niệm Phật khi có, khi không, cổ nhân bảo là “lộ thủy đạo tâm” (đạo tâm như nước trong giọt sương đọng). V́ thế, dù quư vị niệm Phật chỉ là gieo chủng tử vào A Lại Da Thức, không địch lại nổi tập khí phiền năo, không chế phục được. Vậy th́ phải niệm ra sao?

      Chính là “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối), phải làm theo cách ấy. Làm theo cách như vậy, từ những ghi chép về sự tu hành chứng quả của cổ đức, chúng ta thấy: Nếu là bậc lợi căn th́ ba tháng liền thấy hiệu quả, người căn tánh bậc trung phải mất sáu tháng, tức là trong nửa năm bèn thấy hiệu quả. Hiệu quả hiện hữu rồi, tín tâm lớn bội phần. Thật đấy! Đúng là có lợi ích, v́ sao? Phiền năo ít đi, vọng niệm ít đi, vọng niệm ít đi rồi th́ trí huệ tăng trưởng. Chuyện ǵ cũng vậy, bắt đầu đều khó, quư vị muốn đè nén tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay mà! Lúc tôi mới học Phật, thân cận Chương Gia đại sư, Chương Gia đại sư nói và làm khác nào nêu gương cho tôi, tôi hiểu rơ: “Phật hiệu quyết định chẳng được gián đoạn!” Đại sư tŕ chú, tŕ chú giống như niệm Phật, không gián đoạn!

      Mỗi Chủ Nhật tôi đến gặp Ngài, thời gian là hai tiếng đồng hồ. Trong hai tiếng đồng hồ ấy, Ngài tŕ chú không ngừng. Tôi hướng về Ngài thỉnh giáo, Ngài trả lời câu hỏi, đáp xong lại niệm chú. Ngài tŕ theo lối Kim Cang Tŕ, không phát ra tiếng, chỉ động môi, toàn thân ở trong Định. Ngài gởi cho tôi một bức ảnh, mọi người đă thấy rồi đó, b́nh thường Ngài luôn như vậy, chứ không phải lúc chụp h́nh cố ư làm ra vẻ. B́nh thường Ngài là như vậy, ở trong Định, đi, đứng, nằm, ngồi đều trong Định. V́ vậy, thầy Lư rất bội phục, cả đời chúng tôi chưa thấy được một người thứ hai như thế. Động tác, hành động của Ngài hết sức từ tốn, nói năng cũng chậm răi, không gấp gáp, lụp chụp tí xíu nào, ôn ḥa. Những đức tánh “ôn, lương, cung, kiệm, nhượng” (ôn ḥa, hiền lành, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhượng) như Khổng phu tử đă nói trong Luận Ngữ đều thấy thể hiện nơi đại sư, thánh đức đấy! Đó là Ngài nêu gương cho chúng ta thấy, măi cho đến nay chúng tôi vẫn chưa học được. Ngài tịnh như thế, định như thế, ổn trọng như thế khiến ai thoạt nh́n đều tự nhiên sanh ḷng cung kính, sức nhiếp thọ rất lớn. V́ thế, niệm Phật phải biết niệm, chúng ta phải tin vào lời Phật, đúng là trong một câu Phật hiệu không xen tạp, không hoài nghi, không gián đoạn.

      Trước kia, lần thứ nhất tôi đến hội Phật giáo Cát Long Ba (Kuala Lumpur) không phải để giảng kinh mà là giảng diễn, h́nh như liên tục suốt năm ngày. Cuối cùng, tôi dạy mọi người pháp Thập Niệm. Pháp Thập Niệm ấy như sau: Một ngày chín lần, mỗi lần chỉ niệm mười câu A Di Đà Phật, niệm bốn chữ thôi: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, mười câu liên tục như thế. Trong mười câu ấy quả thật không hoài nghi, không xen tạp. Niệm quá lâu sẽ xen tạp vọng niệm, niệm mười câu ấy chỉ cần một phút, một phút th́ chúng ta có thể làm được: Trong một phút quyết định không xen tạp, mười câu Phật hiệu, vả lại, mười câu ấy câu này tiếp theo câu kia là liên tục, cũng có thể phù hợp với nguyên tắc như Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói. Quư vị nghiêm túc làm, một ngày chín lần, ngày ngày không gián đoạn. Có không ít đồng học nghe như vậy bèn làm theo, làm một hai tháng rất có hiệu quả, gọi điện thoại cho tôi, viết thư cho tôi, nói phương pháp này tốt lắm. V́ thế,

phương pháp ấy được truyền bá.

      Sau này ở Mỹ, Gia Nă Đại có nhiều đồng tu áp dụng phương pháp này. Dùng phương pháp này kể ra rất thích hợp đối với người hiện tại, công việc bề bộn, chẳng tốn thời gian. Sáng dậy rửa mặt xong, trong nhà có tượng Phật th́ đối trước tượng Phật mà làm. Không có tượng Phật th́ hướng về phương Tây, một phút là thực hiện xong công khóa. Đêm trước khi đi ngủ làm một lần, sáng tối hai lần. Trước ba bữa ăn, do làm vậy nên ba bữa ăn chúng ta không cần phải niệm chú Cúng Dường, chúng ta niệm A Di Đà Phật, niệm mười câu rồi mới ăn cơm, đó là ba lần. Vậy là năm lần, cộng hai lần sáng tối thành năm lần. Vô làm việc, về nghỉ, buổi sáng bắt đầu vào làm việc, nghỉ trưa; buổi chiều trở vào làm việc tiếp, ra về, trước lúc bắt đầu làm việc chắp tay niệm Phật hiệu mười tiếng rồi hăy làm việc. Lúc hết buổi, làm xong việc, xếp gọn sổ sách, rồi lại chắp tay niệm Phật mười tiếng. Một ngày chín lần, phù hợp “tịnh niệm tiếp nối”. Rất có hiệu quả đối với người công việc bận rộn trong hiện tại.

      Nếu về hưu th́ quư vị nên học theo Chương Gia đại sư, suốt ngày từ sáng đến tối Phật hiệu không gián đoạn, không cần phát ra tiếng. Nếu niệm ra tiếng trong một thời gian dài sẽ rất mệt, thân thể không kham nổi. Kim Cang Tŕ, hoặc là mặc niệm, mặc niệm là niệm không ra tiếng, miệng cũng không động, Phật hiệu trong tâm câu này tiếp theo câu kia, vọng niệm không có, quư vị thực sự làm được! Vọng niệm không có, hoàn toàn bị khống chế, gọi là “công phu thành phiến”, đấy chính là Niệm Phật tam-muội [ở mức độ] nông cạn nhất, quư vị đă đắc Niệm Phật tam-muội. Cũng có thể nói là quư vị đă hoàn toàn khống chế vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng trở ngại công việc. Cứ làm lụng, thù tiếp như cũ. Không phải là dứt tuyệt mọi ngoại duyên; ngoại duyên tất yếu phải có, chẳng thể đoạn tuyệt được, nhưng không trở ngại chút nào. Chuyện không cần thiết th́ hăy đoạn đi, nghĩa là: Những chuyện không quá cần thiết, cấp bách trong cuộc sống thường ngày th́ đừng quan tâm đến nữa.

      Cổ nhân nói hai câu rất hay: “Thức nhân đa xứ thị phi đa; tri sự đa thời phiền năo đa” (Càng biết nhiều người càng lắm chuyện, càng biết nhiều chuyện càng phiền năo). Nếu không biết rất nhiều chuyện, không cần phải đi khắp nơi t́m nghe. Người ta đưa tin đến, bảo cho ḿnh chuyện ǵ, chuyện nào không liên can đến ḿnh ta không thèm nghe. Biết càng ít chuyện càng tốt, quen càng ít người càng hay, không cần thiết! Vĩnh viễn giữ được cái tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi của chính ḿnh, bản thân chúng ta tu học như thế th́ mới có thể ảnh hưởng người khác. Người khác thấy quư vị tu học như thế, tu tốt lắm, người ta học theo quư vị. Người ta học bao nhiêu năm công phu không đắc lực, v́ sao công phu không đắc lực? Nếu quư vị thực sự muốn công phu đắc lực th́ cách tu là như thế, duyên nào nên buông xuống th́ nhất định phải buông xuống. Quư vị phải nhớ kỹ, chuyện ǵ không nên buông xuống chớ nên buông xuống, không có trở ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại.

      Người trong nhà ḿnh th́ ḿnh phải yêu thương, phải chiếu cố, chuyện này không thể buông xuống, không được nói là chẳng quan tâm đến gia đ́nh nữa. Học Phật như vậy sẽ chẳng thể thành tựu! Hết thảy chư Phật đều dạy chúng ta phải hiếu dưỡng cha mẹ, ngay cả cha mẹ mà quư vị cũng không màng th́ làm sao có thể thành Phật đạo? Bởi vậy, chẳng được buông bỏ đạo đức luân thường thế gian, người học Phật sống trong thế gian phải thể hiện sự giáo hóa người đời như vậy. Ấn Quang đại sư giảng rất hay: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành” (Giữ trọn luân thường, tận hết trách nhiệm, ngăn ḷng tà, giữ ḷng thành). Đôn luân tận phận là về mặt Sự, nhàn tà tồn thành là không ngăn ngại. Pháp thế gian chính là Phật pháp, giác rồi th́ pháp nào chẳng phải là Phật pháp? Không giác th́ có pháp nào là Phật pháp đâu nhỉ? Không giác th́ thứ ǵ cũng chẳng phải, niệm Phật cũng chẳng phải!

      Trước kia, tôi từng nghe những vị lăo ḥa thượng bảo tôi: Tại nhiều nơi trong nội địa có những bà cụ niệm Phật, hỏi họ v́ sao phải niệm A Di Đà Phật? Họ nói niệm A Di Đà Phật để trữ tiền[16]. Tôi chết đi rồi, có rất nhiều tiền trữ sẵn để dùng. Niệm Phật như vậy không phải là Phật pháp, họ hoàn toàn sai lầm. Họ muốn tương lai chết đi làm quỷ, làm một con quỷ giàu có, không làm một con quỷ nghèo nàn. Ngày ngày niệm A Di Đà Phật để kiếm tiền, quư vị nói xem có phải là hoàn toàn sai lầm hay không? Như vậy, hễ mê rồi th́ Phật pháp cũng trở thành pháp thế gian; ngộ th́ hết thảy pháp thế gian đều là Phật pháp. Thật vậy! Ở đây thiền sư Trung Phong giảng rất nhiều, giảng rất hay, quan hệ giữa chúng sanh và Phật, phàm và thánh là ở chỗ này. Nhất định phải hiểu đạo lư này. V́ thế, đối với lời chư Phật đă nói: “Nhất xưng A Di Đà Phật danh hiệu, năng diệt bát vạn ức kiếp sanh tử chúng khổ” (xưng danh hiệu A Di Đà Phật một tiếng, diệt được các khổ trong tám vạn ức kiếp sanh tử), chúng ta tin tưởng sâu xa không nghi.

 

      Lợi ích như thị, khởi thí dụ ngôn thuyết chi khả cập hồ!

      利益如是。豈譬喻言說之可及乎。

      (Lợi ích như thế, há có thí dụ, lời lẽ nào diễn tả trọn vẹn cho được!)

 

      Lợi ích ấy quá lớn. Tất cả lợi ích thế gian hay xuất thế gian đều không thể sánh bằng lợi ích do niệm Phật. Của cải vạn ức trong thế gian không bằng chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật. Chí tâm là thành tâm thành ư, thành tâm thành ư chính là niệm niệm tiếp nối. “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối), tương ứng với tiêu chuẩn ấy, niệm một tiếng A Di Đà Phật như thế th́ của cải ức vạn chẳng thể sánh bằng. Ức ức vạn của cải cũng không thể sánh bằng. V́ sao? Dẫu nhiều của cải ngần ấy, quư vị vẫn không thể thoát khỏi luân hồi, chỉ có thể giải quyết cuộc sống vật chất giàu có, dư dả một chút, chứ ngoài điều này ra, chẳng thể giải quyết vấn đề nào khác cả! Một câu A Di Đà Phật phi thường, vấn đề nào cũng đều có thể giải quyết được hết, cuộc sống vật chất trước mắt quyết định chớ nên bận ḷng, v́ sao? Quư vị có phước mà! Người có phước há có thể bị lạnh, bị đói hay chăng? Không thể! Chịu khổ nạn một chút th́ có, v́ sao phải bị khổ nạn? Do nghiệp chướng trong đời đời kiếp kiếp quá khứ, chịu khổ nạn bèn tiêu nghiệp chướng, nghiệp chướng tiêu rồi sẽ thành Phật đạo.

      V́ thế, chúng ta thấy rất nhiều người chân chánh tu hành, cả một đời tu khổ hạnh, như trong cận đại ai nấy đều biết lăo ḥa thượng Hư Vân suốt đời tu khổ hạnh, Ngài có phước báo rất lớn. Ở Nam Dương (Indonesia) có rất nhiều quốc vương, đại thần đều tôn Ngài làm thầy, tín đồ đại phú quư, đồ đệ tại gia không biết là bao nhiêu, cúng dường hết sức phong phú, lăo ḥa thượng đúng là muốn ǵ có nấy, nhưng Ngài dùng trà thô, cơm nhạt, mặc áo vá chằng, vá đụp, suốt một đời không thay đổi, tiêu nghiệp chướng! Đối với phước báo, tất cả hết thảy cúng dường, lăo nhân gia chuyên dùng để tu sửa chùa, tu bổ chùa, cất chùa, làm những chuyện như thế. Chùa sửa chữa hay xây dựng xong, Ngài trọn chẳng làm trụ tŕ, mời người khác làm trụ tŕ, cúng dường cho chúng xuất gia tu hành, suốt đời làm như vậy. Ấn Quang đại sư suốt đời in kinh để bố thí, lăo ḥa thượng Hư Vân suốt đời dựng chùa, đều là nêu gương mẫu cho chúng ta, khiến chúng ta tự trông thấy phải khéo suy nghĩ ḿnh nên làm như thế nào! Phước đức ấy vô lượng vô biên, không có cách ǵ tỷ dụ được, không có cách chi diễn tả được. Nay đă hết giờ rồi!

 

*

 

Chư vị đồng học!

      Chúng ta lại xem tiếp phần Khai Thị trong thời thứ ba, đoạn văn trong phần Khai Thị lần thứ nhất là như sau:

 

      Chỉ như tức kim Hệ Niệm, đệ tam thời Phật sự. Thả đạo: Hiện tiền chúng đẳng, đồng thanh tương ứng nhất cú, như hà chỉ trần?

      只如即今繫念。第三時佛事。且道。現前眾等。同聲相應一句。如何指陳。

      (C̣n như nay Hệ Niệm Phật Sự, nhằm thời thứ ba. Vậy th́ hiện tiền đại chúng, đồng thanh tương ứng một câu, chỉ bày như thế nào đây?)

 

      Mấy câu này gần như là một loại nghi thức thuyết pháp trong nhà Phật chúng ta; trong nhà Phật, có thể nói là chẳng phân biệt Tông Môn, Giáo Hạ, [mấy câu này] gần như là thông dụng, chúng ta phải nên biết. “Chỉ như tức kim”: Nay chúng ta đang làm “Hệ Niệm Tam Thời Phật Sự, vậy th́ hiện tiền đại chúng” đại chúng đang cùng tham dự pháp hội này, chúng ta cùng nhau thành tâm thành ư đến điện đường này làm Phật sự, “đồng thanh tương ứng một câu” là ǵ? “Chỉ trần” (chỉ bày) như thế nào đây? “Chỉ” là “chỉ thị” (chỉ ra, nêu ra), “trần” là “trần thuyết” (diễn tả, nói phô bày). Như nhà Thiền thường nói, tức là như tổ sư trong Tông Môn bảo: “Đạo nhất cú lai!” (Hăy nói một câu xem!), tức là hăy nói một câu nghe thử coi. “Như hà chỉ trần” mang ư nghĩa như vậy đó, hăy nói một câu xem, ư nói: Mọi người hiện đang cùng ở đây làm pháp sự, đồng thanh tương ứng. Rồi thiền sư bảo chúng ta:

     

      Nhất tùng Phật hướng thiệt căn niệm,

      Bất giác hoa tùy túc để sanh.

      一從佛向舌根念。

不覺華隨足底生。

      (Nhất tâm theo Phật nguyện xưng niệm,

      Nào biết hoa sen dưới gót sanh).

     

      Ở đây thiền sư không nói “nhất thanh Phật hiệu thiệt căn niệm” (một tiếng Phật hiệu dùng lưỡi niệm), nói như vậy dễ hiểu rồi, Ngài không nói như thế, Ngài nói “Nhất tùng Phật hướng thiệt căn niệm”. “Nhất tùng Phật hướng” nghĩa là ǵ? “Nhất” là “nhất tâm”, mấu chốt là có khế nhập cảnh giới Phật hay không, nhất tâm sẽ có thể nhập được. Nhập được cảnh giới Phật, cảnh giới Phật là cái bị nhập (sở nhập), Nhất Chân pháp giới là sở nhập, Nhất Chân là năng nhập. Như vậy, pháp môn này chẳng tu hành điều ǵ khác, chỉ là tu “nhất tâm bất loạn”. Pháp môn Niệm Phật không niệm ǵ khác, mà là niệm đến nhất tâm, nhất tâm là chân tâm. Hai tâm, ba tâm là vọng tâm, đưa vọng trở về chân tâm, pháp môn này là như vậy đó!

      Tây Phương Cực Lạc thế giới là Nhất Chân pháp giới, bởi thế, chúng ta phải “nhất tâm tùng Phật”,tùng” () là thuận tùng, thuận tùng điều ǵ của Phật? Thuận tùng “Phật hướng”. Phật hướng (phương hướng của Phật) chính là Phật nguyện. Quư vị nghĩ coi có đúng hay không? Chính là Phật nguyện. Phương hướng của đức Phật là ǵ? Phương hướng của đức Phật là phổ độ hết thảy chúng sanh, mong hết thảy chúng sanh sớm thành Phật giống như Ngài. Đức Phật dạy chúng ta phương pháp nào để thành Phật? Niệm Phật thành Phật. Niệm Phật thành Phật là phương hướng của Phật. Nay chúng ta dùng “thiệt căn niệm”, công đức của thiệt căn chẳng thể nghĩ bàn; đặc biệt là trong thế giới Sa Bà, trong sáu căn th́ công đức của thiệt căn rất lớn. Giảng kinh, thuyết pháp phải dùng thiệt căn, Thích Ca Mâu Ni Phật rộng độ chúng sanh, v́ hết thảy chúng sanh giảng kinh, thuyết pháp phải dùng thiệt căn. Chúng ta muốn thành tựu th́ vẫn phải dùng thiệt căn để niệm Phật. Đấy là “nhất tùng hướng Phật thiệt căn niệm”. V́ thế, ngài Trung Phong không nói “nhất thanh Phật hiệu thiệt căn niệm” (dùng thiệt căn niệm một tiếng Phật hiệu), một tiếng Phật hiệu ư nghĩa c̣n cạn, nói theo ư nghĩa trên đây sẽ sâu xa hơn. Niệm Phật như thế chính là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, thực sự tương ứng! Chính là những điều thiền sư Trung Phong đă nói trong những lời khai thị ở những phần trước đă được thực hiện ở đây: Thực hiện tương ứng niệm Phật, đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, đó là “chất phác niệm”.

      Niệm Phật như vậy hiệu quả thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Câu tiếp theo nói đến sự việc sau đây: “Bất giác hoa tùy túc để sanh” (nào biết hoa sen dưới gót sanh). Nơi ao sen bảy báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, đóa hoa sen của quư vị đă mọc, mọc trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Giống như chư Phật, Bồ Tát; chúng ta nh́n vào Biến Tướng Đồ[17]: Chư Phật, Bồ Tát đều ngồi hay đứng trên hoa sen, dưới chân chúng ta cũng trổ hoa sen, hễ niệm bèn sanh. Nhớ kỹ: Không niệm bèn chẳng có, bị diệt mất. V́ thế, mỗi ngày quư vị niệm Phật không gián đoạn th́ hoa sen trong ao bảy báu ngày càng lớn, ánh sáng và màu sắc càng xinh đẹp thù thắng khôn sánh. Tương lai văng sanh, A Di Đà Phật cầm hoa ấy, hoa do chính quư vị niệm, chính quư vị trồng, vẫn là chính quư vị thâu lấy quả báo. Hoa sen trong ao sen không phải do A Di Đà Phật trồng, mầu nhiệm chẳng thể nói.

      Hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, chỉ có ḿnh pháp này là thật; những pháp khác “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng). Danh văn, lợi dưỡng thế gian, công danh, phú quư, ngũ dục, lục trần, sanh ra chẳng mang theo đến, chết không mang đi, chớ nên tham luyến! Nói thật ra, không có mảy may ư nghĩa nào! V́ thế, người giác ngộ tùy duyên, nhất định không phan duyên. Giúp đỡ chúng sanh th́ chúng sanh phải có phước báo, chúng sanh không có phước báo th́ Phật cũng không có cách ǵ giúp đỡ được, huống chi là chúng ta! Thế nào là chúng sanh có phước? Chúng sanh có thể tin, có thể nguyện, có thể hành, chúng sanh nghe nói đến Phật pháp, trông thấy những sự thị hiện bèn có thể giác ngộ, có thể quay đầu, có thể đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, những chúng sanh ấy có phước. Tai nạn dù lớn đến mấy đều có thể hóa giải, dẫu chẳng thể hoàn toàn hóa giải th́ tai nạn cũng giảm nhẹ, đó là điều khẳng định! Đại chúng cùng nhau tu tập “đồng thanh tương ứng một câu”. Hai câu này của Ngài không sâu xa lắm, nếu chúng ta lănh hội được th́ quả thật sẽ rạng rỡ ngay trong hiện tiền, Tiếp đến, phải nghiêm cẩn niệm Phật, bởi lẽ, Hệ Niệm Phật Sự lấy niệm Phật làm chủ. Ngàn tiếng niệm Phật này chẳng thể ơ hờ. Tiếp theo đây là bài kệ Tán Phật, tức kệ Tán Phật trong thời thứ ba, bắt đầu niệm Phật.

 

 30. Kệ Tán Phật

 

      A Di Đà Phật thân kim sắc,

      Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,

      Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,

      Cám mục trừng thanh tứ đại hải,

      Quang trung hóa Phật vô số ức,

      Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên.

      Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,

      Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

      Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.

      阿彌陀佛身金色。

相好光明無等倫。

白毫宛轉五須彌。

紺目澄清四大海。

光中化佛無數億。

化菩薩眾亦無邊。

四十八願度眾生。

九品咸令登彼岸。

南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。

 

      Lúc xướng kệ Tán Phật, quan trọng nhất là phải “tùy văn nhập quán” th́ tự ḿnh mới đạt được lợi ích. Nếu chỉ là miệng xướng, chẳng thể khế nhập nghĩa lư tám câu kệ này sẽ chẳng thể khế nhập cảnh giới của tám câu kệ, được lợi ích rất nhỏ. Nếu có thể khế nhập th́ được lợi ích rất lớn. Không chỉ khi xướng kệ Tán Phật hoặc nghe kệ Tán Phật mà lúc b́nh thường đọc kinh hay nghe kinh cũng như vậy. V́ thế, cổ nhân thường nói và hết sức coi trọng chuyện “tùy văn nhập quán”. Cũng v́ những đạo lư ấy, nhân lần này có cơ hội, chúng tôi bèn giảng Hệ Niệm Pháp Sự tỉ mỉ một phen, mong mọi người trong tương lai khi làm Hệ Niệm Pháp Sự có thể tùy văn nhập quán, đều có thể hiểu rơ. Tốt nhất là trước khi làm Hệ Niệm Phật Sự, hăy nghe phần giảng diễn lần này một lượt, nghe từ đầu đến cuối rồi mới làm, sẽ khác hẳn, công đức lợi ích khác hẳn. Tiếp theo là niệm Phật, ở đây niệm Phật một trăm tiếng, rồi lại có kệ Tán Phật. Trong ba thời, phần Tán Phật này hoàn toàn tương đồng.

 

31. Tổng tán Di Đà

 

      Đệ nhất đại nguyện,

      Quán tưởng Di Đà,

      Tứ thập bát nguyện độ Sa Bà,

      Cửu phẩm dũng kim ba,

      Bảo vơng giao la,

      Độ vong linh xuất ái hà.

      第一大願。

觀想彌陀。

四十八願度娑婆。

九品湧金波。

寶網交羅。

度亡靈出愛河。

 

      Tiếp đó niệm:

 

      Nam mô Liên Tŕ Hội Bồ Tát Ma Ha Tát.

      南無蓮池會菩薩摩訶薩。

 

32. Khai thị

 

      Tiếp theo là phần Khai Thị, thuyết pháp lần thứ hai. Trước phần Khai Thị thuyết pháp cũng có một bài kệ dẫn khởi.

 

      Đả phá hư không tiếu măn tai,

      Linh lung bảo tạng khoát nhiên khai,

      Trực nhiêu không kiếp sanh tiền sự,

      Lục tự hồng danh tất cánh cai.

      打破虛空笑滿腮。

玲瓏寶藏豁然開。

直饒空劫生前事。

六字洪名畢竟該。

      (Đả phá hư không cười toét miệng,

      Kho tàng lóng lánh mở toang ra,

      Thấu hiểu chuyện xưa bao kiếp trước,

      Hồng danh sáu chữ trọn thâu gồm).

 

      Ư nghĩa của bốn câu kệ này rất sâu! Hai câu đầu h́nh dung người tu hành đại triệt đại ngộ. “Đả phá hư không”: Các nhà khoa học hiện thời biết thời gian và không gian chẳng thật, họ nói dưới một điều kiện nào đó, thời gian và không gian bằng zéro. Không gian không có xa - gần, thời gian không có trước - sau. Các nhà khoa học nay đă phát hiện lư luận này, nhưng chưa làm được. Nếu họ thực hiện được, nhất định sẽ “tiếu măn tai” (cười ngoác tận mang tai). Nay chúng ta thường nói “tiếu măn tai”“pháp hỷ sung măn”, vui mừng vô lượng! Thật đấy, từ vô thỉ kiếp đến nay, luôn bị hạn cuộc trong thời gian và không gian, không thể chuyển động được tí ti nào! Người chưa giác ngộ, chưa đại triệt đại ngộ th́ không gian có xa - gần, thời gian có trước - sau, ngày hôm trước, ngày hôm sau, đó là thời gian. Chúng ta nói ngày hôm qua, ngày mai tức là thời gian đấy! Chúng ta chẳng thể quay lại ngày hôm qua, nay chúng ta cũng không có cách ǵ tiến trước vào ngày mai được; nhưng đến khi quư vị công phu thành tựu, tức là quư vị đă đạt được “điều kiện nào đó” như các nhà khoa học đă nói, quư vị bèn có thể trở về quá khứ, cũng có thể thấy được vị lai, xa - gần không có, đột phá những chiều không gian khác nhau, lúc ấy có phải là rất khoái lạc hay chăng?

      Phật pháp dùng ǵ để đột phá? “Đả phá hư không”. Câu “đả phá hư không” chẳng phải là giả thiết, mà là sự thật, các nhà khoa học hiện tại đă chứng minh cho chúng ta: Họ nói dưới một điều kiện nào đó, Phật pháp gọi điều kiện ấy là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Trong tâm tánh không có xa - gần, trong tâm tánh không có trước - sau, trong tâm tánh chẳng t́m được điều ǵ đối lập. V́ thế, trong tâm tánh không có chúng sanh và Phật (chúng sanh và Phật là đối lập), không Phật, không chúng sanh, nhất thể! Trong ấy lại không có chân - vọng, không có tà - chánh, không có đúng - sai, không có thiện - ác, v́ thế, gọi là Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân là nói theo mặt Lư, tức là tâm tánh thực sự đạt đến thanh tịnh tịch diệt; một niệm chẳng sanh, chúng tôi thường nói là “không khởi tâm, không động niệm”, thật vậy đó! Đă không khởi tâm, không động niệm, c̣n đâu phân biệt, chấp trước? Phân biệt, chấp trước là thô tướng của khởi tâm động niệm, tế tướng c̣n không có, huống chi thô tướng? Khắp pháp giới hư không giới là một thân thanh tịnh, quư vị chứng đắc rồi.

      V́ thế, câu thứ hai nói “linh lung bảo tạng khoát nhiên khai” (kho tàng lóng lánh mở toang hoang). “Linh lung” là tỷ dụ những ǵ chói ngời sáng lóa, kho báu mà! “Lung linh bảo tạng” là nói về chân tâm, bản tánh. “Khoát nhiên khai” (mở toang ra) là kiến tánh. Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng tài nghệ, vô lượng tướng hảo, vô lượng phước báo trong tâm tánh thảy đều hiện tiền, chúng không do tu được, mà là sẵn có nơi tự tánh, hết thảy chúng sanh b́nh đẳng. Giống như núi, sông, đại địa tươi đẹp rực rỡ, phàm những ai sống trên mặt đất đều được b́nh đẳng hưởng thụ, quyết định không có mảy may nào phân biệt, chấp trước. Hết thảy chúng sanh là người một nhà, là nhất thể, ai nấy đều biết [điều này], v́ thế, tôn kính lẫn nhau, yêu kính lẫn nhau, quan tâm đến nhau, hợp tác với nhau, quư vị nói xem có phải là thế giới tốt đẹp lắm hay chăng? Đấy chính là Nhất Chân pháp giới. Trong ấy không có phiền năo, không có tai chướng, không có khổ nạn, chỉ có ngày ngày tăng trưởng trí huệ. Ngày ngày tiêu, vẫn c̣n một chút tập khí sót lại, tập khí ǵ vậy? Vô minh phiền năo, bốn mươi mốt phẩm vô minh chưa đoạn hết. Đoạn vô minh, khai trí huệ, tăng phước đức, ngày ngày làm như vậy măi cho đến khi viên măn rốt ráo, chứng đắc quả địa Như Lai. “Linh lung bảo tạng khoát nhiên khai”! Như vậy, câu này nói về khai ngộ; tự ḿnh đạt được trong nhà Phật thường nói là “hồi đầu thị ngạn” (quay đầu là bờ), quư vị đă t́m được bờ, mới biết bờ ấy vốn phong phú như thế đó, viên măn như thế ấy, không mảy may khiếm khuyết ǵ.

      Câu thứ ba nói về quả đức: “Trực nhiêu không kiếp sanh tiền sự” (thấu hiểu chuyện xưa bao kiếp trước), chuyện trong vô lượng kiếp trước quư vị đều thấy được toàn bộ, chuyện vô lượng kiếp sau quư vị cũng thấy được, v́ sao? Thời gian không c̣n nữa! Trong vô lượng kiếp mê hoặc, điên đảo, đời đời kiếp kiếp trong quá khứ mê hoặc, điên đảo, tạo nghiệp, thọ báo, đường nào trong lục đạo luân hồi đă đi vào, lúc ấy đều thấy được hết, mới biết trước kia [chính ḿnh] ngu muội vô tri, sao lại gây tạo những điều đó! Hiện tại đều hiểu rơ hết. Hiểu rơ rồi lại chú tâm quan sát: C̣n có rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ, vẫn chưa quay đầu, vẫn tiếp tục gây tạo những chuyện ấy, tâm đại từ đại bi tự nhiên sanh khởi. Do đấy bèn cảm ứng các căn cơ, những chúng sanh trong ấy có cảm, quư vị đương nhiên có ứng. Lúc ứng, chẳng khởi tâm động niệm; nếu khởi tâm động niệm th́ quư vị là phàm phu, đă mê hoặc mất rồi; không khởi tâm động niệm mà tự nhiên cảm ứng.

      Cảm ứng hết sức kỳ diệu, chúng sanh hữu duyên với ta vừa cảm, ta bèn ứng. Chúng sanh vô duyên với ḿnh mà cảm th́ ta không thể ứng. Người nào khác có duyên với người ấy th́ người đó ứng, chứ ta không ứng. Giống như ǵ? Giống như băng tần (channels) trong TV hiện thời vậy, mỗi một người trong chúng ta đều có một băng tần, không ai giống ai. Người kia cảm th́ cũng như một băng tần, ai tương ứng với băng tần ấy sẽ tự nhiên hiển hiện. Đấy chính là như trong Phật pháp thường nói: “Phật bất độ vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ kẻ vô duyên). Thoạt nghe như vậy dường như bọn chúng sanh ta chẳng c̣n hy vọng ǵ, không phải vậy! Mỗi cá nhân đều có một vị Phật hay Bồ Tát có duyên với ḿnh; vị Phật, Bồ Tát có duyên với quư vị chưa chắc có duyên với người khác. Người kia có vị Phật, Bồ Tát khác có duyên với họ; v́ thế, hết thảy chúng sanh không ai chẳng đắc độ.

      Phải hiểu đạo lư sau đây: Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng khởi tâm động niệm, tuyệt đối không có “tôi yêu mến anh, tôi ưa thích anh, tôi đến độ anh; kẻ kia tôi chán ghét, tôi chẳng thích độ hắn”, không phải như vậy! Nơi đây không có chán ghét, mà là trong đời quá khứ từng kết duyên với quư vị th́ gọi là người hữu duyên. Duyên ấy bất luận thiện duyên hay ác duyên đều là duyên. Thiện hay ác không quan trọng, đến lúc ấy thiện và ác không c̣n nữa, chỉ sợ quư vị không kết duyên, không có duyên là không được rồi. Nếu quư vị biết chân tướng sự thật ấy, quư vị sẽ tự nhiên kết duyên rộng răi với hết thảy chúng sanh. V́ sao? Thiện duyên dễ độ nhất, kết ác duyên cũng là duyên, nhưng chúng ta đừng kết ác duyên với chúng sanh nữa! Từ nay trở đi, ta kết thiện duyên cùng hết thảy chúng sanh. Vun bồi tâm cảnh thuần tịnh, thuần thiện của chính ḿnh, không sanh phiền năo, chẳng khởi tâm động niệm, chẳng phân biệt, chấp trước nữa. Phải hiểu được đạo lư này, phải hiểu được ư nghĩa này.

Câu cuối cùng là phương pháp: “Lục tự hồng danh tất cánh cai” (Sáu chữ hồng danh rốt ráo bao gồm trọn vẹn). Đây là nói hết thảy pháp môn cùng quy về Niệm Phật. Vô lượng vô biên pháp môn đến cuối cùng đều quy về pháp môn này, do chỗ nào mà thấy như vậy? Từ kinh Hoa Nghiêm quư vị sẽ thấy được. Vô lượng pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, đến khi thành tựu viên măn rốt ráo đều quy về Hoa Tạng. Tương lai quư vị thoát khỏi lục đạo luân hồi, ĺa khỏi lục đạo đương nhiên vào tứ thánh pháp giới, ĺa khỏi tứ thánh pháp giới nhất định vào Hoa Tạng, Nhất Chân pháp giới. Quư vị gặp Tỳ Lô Giá Na Như Lai, gặp gỡ Văn Thù, Phổ Hiền Bồ Tát. Lúc ấy, Văn Thù, Phổ Hiền đem mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Như vậy, cuối cùng vẫn là “lục tự hồng danh tất cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu gồm). Lúc này chúng ta nhận được thông điệp này, thông điệp ấy rất quư báu. Nếu thiện căn sâu dầy, phước đức viên măn, vừa nghe liền hiểu rơ, vừa nghe liền tiếp nhận, vừa nghe th́ mọi pháp thế gian và xuất thế gian đều buông xuống hết, chết sạch ư niệm so đo, khiêm hư sát đất niệm Phật sẽ thành công.

      Pháp thế gian hay xuất thế gian dù hay đến cách mấy, đến thế giới

Cực Lạc sẽ học. Ở nơi đây, chúng ta không có thọ mạng dài đến như thế, không có tinh lực nhiều như thế, học không nổi. Học quá nhiều sẽ nẩy sanh nghi ngờ đối với pháp môn Niệm Phật. Do vậy phải triệt để buông xuống, một câu Di Đà niệm đến rốt ráo sẽ thành công. Ấn Quang đại sư dạy chúng ta phương pháp sau đây, chính là phương pháp “nhất tùng tâm hướng” (nhất tâm đi theo phương hướng) của chư Phật, Bồ Tát. Lăo nhân gia dạy chúng ta phương pháp: Tiểu đạo tràng, không cần lập đạo tràng lớn. Đạo tràng lớn th́ quư vị phải nhọc ḷng, phải phân tâm. Đạo tràng nhỏ dễ duy tŕ, cất một cái cḥi tranh là được, là thành một đạo tràng không ǵ thù thắng hơn. Hai mươi người cùng tu với nhau, không hóa duyên là điều thứ nhất. V́ sao? Hóa duyên th́ quư vị sẽ không có cách nào ĺa được tham - sân - si, đây là điều đầu tiên. Không hóa duyên, không làm pháp hội, không truyền pháp (không thâu đồ đệ), không truyền giới, không làm kinh sám Phật sự thù tạc, cũng không giảng kinh. V́ sao? Mọi thứ đều buông xuống. Pháp xuất thế gian hay thế gian đều buông xuống, chuyên nhất niệm Phật. Công khóa mỗi ngày giống như Phật thất thông thường. Đấy chính là thực sự hiểu “lục tự hồng danh tất cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu gồm). Sáu chữ hồng danh ấy thâu trọn hết thảy các pháp, là tinh túy của hết thảy Phật pháp! Quư vị c̣n làm chuyện khác nữa ư?

      Thế nhưng vấn đề là đâu? Cần phải thực sự hiểu rơ, thấu suốt, quư vị mới chịu tu. Muốn dạy cho người khác thông đạt hiểu rơ mà chẳng giảng kinh th́ sẽ không được! Thích Ca Mâu Ni Phật giảng cho chúng ta suốt bốn mươi chín năm, mục đích của bốn mươi chín năm giảng kinh là nhằm giúp cho chúng ta niệm Phật. Do khuyên dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ nên trong những kinh điển của đức Thế Tôn, trong những bản dịch bằng tiếng Hán, đại khái có gần hai trăm loại kinh luận, đều dạy cầu sanh Tịnh Độ. Chuyên giảng về cầu sanh Tịnh Độ là ba kinh: Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh là chuyên giảng. Giảng kèm về Tịnh Độ, cổ nhân bảo là “ngàn kinh, vạn luận”. Chúng ta không đọc hết ngàn kinh vạn luận, nhưng những kinh điển được lưu hành bằng tiếng Hán ta thấy có gần hai trăm loại, đủ thấy đức Phật dạy người ta văng sanh Tịnh Độ, thường xuyên giảng, thường xuyên nói.

      Kinh điển do đức Phật đă nói trong cả một đời Ngài, phần lớn chưa truyền đến Trung Quốc, v́ khi ấy giao thông hết sức bất tiện, đường sá xa xôi ngần ấy. Bất luận là cao tăng đại đức Ấn Độ, hay pháp sư từ Trung Quốc qua Ấn Độ thỉnh kinh, đều chọn lọc kỹ càng, tinh vi những kinh điển thích hợp khẩu vị người Hoa, chọn lấy những kinh điển nào người Hoa rất yêu thích, rất vui thích để truyền sang trước. V́ thế, kinh Phật truyền đến Trung Quốc rất hữu hạn, chưa phải là hoàn toàn truyền đến Trung Quốc. Trải qua gần ba ngàn năm, có rất nhiều sách vở bị thất truyền; rất may mắn là những kinh điển truyền đến Trung Quốc được bảo tồn. Sau này có một bộ phận kinh điển được truyền sang Tây Tạng, truyền sang Tây Tạng khá trễ. Đời Đường, công chúa Văn Thành[18] được gả về Tây Tạng, Phật pháp ở Tây Tạng do công chúa Văn Thành mang đến. V́ thế, Phật giáo ở Tây Tạng trễ hơn ở Trung Quốc gần một ngàn năm.

      Tây Tạng gần với Ấn Độ hơn, v́ thế, những kinh điển tiếng Phạn được truyền sang Tây Tạng. Tây Tạng là vùng núi cao, chuyên chở cũng hết sức khó khăn, nên chúng ta có thể suy ra kinh điển nhà Phật cũng chưa được truyền toàn bộ sang đó, cũng chỉ là một bộ phận. Kinh điển được truyền thừa ở Tây Tạng và kinh điển Hán truyền so ra rất giống nhau. Có những cuốn bản tiếng Tây Tạng có, bản tiếng Hán cũng có. Chỉ có một số rất ít là Hán văn có, Tạng văn không có; hoặc Tạng văn có, Hán văn không có. Thế nhưng trong quá khứ, kinh điển được phiên dịch qua lại. Những bản Tạng văn không có bèn dịch từ Hán văn, dịch sang tiếng Tạng. Bản nào Hán văn không có bèn dịch từ Tạng văn sang Hán văn, hiện thời sự sai biệt không lớn lắm.

      Đến cuối cùng, quư vị thấy là quy về Hoa Tạng, Hoa Tạng quy về Tịnh Độ, đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, chúng ta đọc thấy Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật, “lục tự hồng danh tất cánh cai” (sáu chữ hồng danh trọn thâu gồm!) Có rất nhiều người coi thường một câu A Di Đà Phật, nghĩ câu Phật hiệu tầm thường quá, không có ǵ là hiếm lạ! Đúng là không có ǵ hiếm có, kỳ lạ cả! Do nguyên nhân nào? Tâm khinh mạn. Chúng ta phải nhớ: Đức Thế Tôn giảng cho chúng ta một câu chân lư, một câu thành thật: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh). Tâm quư vị tôn trọng th́ câu danh hiệu này sẽ sanh ra những hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn. Tâm địa quư vị rất khinh mạn, về căn bản là không coi trọng, tùy tiện niệm một câu A Di Đà Phật sẽ chẳng khởi tác dụng. Dẫu không khởi tác dụng, nhưng vừa xưng một câu Nam-mô A Di Đà Phật là đă gieo chủng tử vào A Lại Da Thức. Chủng tử ấy trân quư khôn sánh, chủng tử ấy vĩnh viễn chẳng hoại. Chẳng biết là đời nào, kiếp nào, quư vị gặp được thiện duyên, gần như nghiệp chướng tiêu trừ, chủng tử ấy sẽ khởi hiện hành, quư vị vẫn là niệm Phật văng sanh Tịnh Độ, chẳng thể nghĩ bàn!

      “Danh hiệu công đức bất khả tư nghị” (Danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn): Một câu này rất nhiều người nghe đă nhàm tai, nhưng hoàn toàn không hiểu. Danh hiệu rốt ráo có lợi ích ǵ, không hiểu! Lúc chúng tôi giảng kinh đă giảng về điều này không ít lần, hy vọng mọi người phải ghi nhớ, hy vọng mọi người chú tâm lănh hội. Trong một đời này chúng ta may mắn khôn sánh, hiểu rơ công đức của danh hiệu. Nếu có thể tín nguyện thọ tŕ, trong một đời này quư vị sẽ siêu phàm nhập thánh, một đời này vĩnh viễn thoát khỏi lục đạo mười pháp giới, c̣n chi hơn! Nay quư vị không thành tựu, v́ sao? Đối với lục đạo mười pháp giới, quư vị chưa buông xuống được, nên không văng sanh, lầm lạc một đời này mất rồi! V́ vậy, tôi thường bảo các đồng học: Phát tâm giảng kinh là tốt, hiếm có, chư Phật tán thán; phát tâm đến Niệm Phật Đường là đi thành Phật. Do vậy, công đức lănh chúng niệm Phật trong Niệm Phật Đường trỗi vượt công đức của pháp sư giảng kinh.

      Pháp sư giảng kinh hằng ngày khuyên, mọi người chưa chắc tin tưởng. [Những người niệm Phật trong] Niệm Phật Đường là đă tin tưởng, không tin tưởng làm sao đến Niệm Phật Đường được? Chỉ là mức độ tin tưởng sai khác, nói chung có một hai kẻ mức độ tin tưởng cao, Niệm Phật Đường thực sự văng sanh. Ai văng sanh người ấy thành Phật. Quư vị đọc bài kệ khuyên người niệm Phật của Đại Từ Bồ Tát: Quư vị khuyên được hai người niệm Phật là hai người văng sanh, trong số những người được quư vị khuyên dạy, có hai người thực sự niệm Phật văng sanh, công đức ấy thù thắng hơn chính ḿnh niệm Phật. Nếu những người được quư vị khuyên có mười mấy người văng sanh, phước đức của quư vị vô lượng vô biên. Nếu có được mấy trăm người cho đến cả ngàn người, những người được quư vị khuyên văng sanh, quư vị thực sự là Bồ Tát. Khuyên được vạn người văng sanh, quư vị là A Di Đà Phật tái lai! Bài kệ khuyên người niệm Phật của Đại Từ Bồ Tát là như vậy đó! Tôi thỉnh lăo pháp sư Mính Sơn (茗山) viết bài kệ khuyên người niệm Phật của Đại Từ Bồ Tát, viết xong, chúng tôi đem in, hiện tại ở trai đường có treo một bức.

      Giảng kinh là khuyên dạy, là tiếp dẫn, rất trọng yếu. V́ sao? Không có ai giảng kinh sẽ không có ai biết cái hay của việc Niệm Phật, không biết chân tướng của Tây Phương Cực Lạc thế giới và thế giới Sa Bà. Pháp sư giảng kinh giảng rơ ràng, giảng minh bạch, khiến cho mọi người tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ rồi th́ quan trọng nhất là phải về thế giới Cực Lạc. Về thế giới Cực Lạc không phải ở nơi giảng đường mà là ở Niệm Phật Đường. V́ thế, ngàn vạn phần mọi người chẳng được khinh thị, pháp sư giảng kinh là tốt, mọi người đều tôn trọng vị ấy; nhưng coi thường pháp sư niệm Phật là điên đảo! Tín, Giải, Hành, Chứng! Pháp sư giảng kinh giúp người khác “Tín Giải” (tin hiểu), những vị pháp sư trong Niệm Phật Đường giúp cho mọi người “Hành Chứng”. Do đây có thể biết: Tín - Giải - Hành - Chứng phải hỗ trợ nhau, hoàn thành lẫn nhau. Giảng đường và Niệm Phật Đường chẳng được đối lập, hễ đối lập th́ cả hai đều bị phá hoại, phải biết cả hai là một thể; v́ thế, phải khen ngợi lẫn nhau. Nếu muốn cho Phật pháp hưng thịnh, trừ phi Tăng khen ngợi Tăng [nếu không, Phật pháp sẽ chẳng thể nào hưng thịnh được!]. Nếu muốn Tịnh Độ hưng thạnh, pháp sư giảng kinh phải biết tán thán pháp sư thuộc Niệm Phật Đường, pháp sư thuộc Niệm Phật Đường phải biết tán thán pháp sư giảng kinh, Tịnh Độ mới hưng khởi được. Tín - Giải - Hành - Chứng, khuyết một điều chẳng được!

      Như vậy, hai mươi tám chữ trong bài kệ này, nghĩa lư và cảnh giới vô cùng vô tận, đấy là cảnh giới Lư Nhất Tâm Bất Loạn. Chư Phật, Bồ Tát, chân thiện tri thức hy vọng chúng ta trong một đời này đều có thể khế nhập cảnh giới ấy. Bài kệ này chúng tôi giảng đến đây thôi. Lại xem tiếp phần Khai Thị kế đó, phần Khai Thị này chú trọng phương pháp niệm Phật, trong ấy có Sự, có Lư. Xin hăy xem phần Khai Thị lần thứ

hai của Thiền sư Trung Phong trong thời thứ ba:

     

      Cổ nhân đạo: Thanh châu đầu ư trược thủy, trược thủy bất đắc bất thanh. Niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật.

      古人道。清珠投於濁水。濁水不得不清。念佛投於亂心。亂心不得不佛。

      (Cổ nhân nói: Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong; niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn không thể chẳng thành tâm Phật).

 

      Chúng ta thấy câu này dùng tỷ dụ để nói. Thanh Thủy Châu (Viên châu có tác dụng lắng trong nước đục) đem bỏ vào nước đục, nước đục là nước nhiễm ô. Viên châu ấy có công năng khiến cho nước đục lắng cặn hoặc là – nói theo phương thức hóa học hiện thời – hóa giải nhiễm ô biến thành nước trong. V́ thế, “trược thủy bất đắc bất thanh” (nước đục chẳng thể không trong). Đây là tỷ dụ, dùng chuyện này làm tỷ dụ.

      Nói “niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật” (niệm Phật gieo vào loạn tâm, tâm loạn không thể chẳng thành tâm Phật). Đây chính là đạo lư niệm Phật làm Phật. Tâm chúng ta vọng niệm rất nhiều! Tâm loạn! Lục đạo phàm phu có ai tâm không loạn? Chỉ là mức độ loạn khác nhau. Có người vọng niệm ít một chút, có người vọng niệm nhiều một chút, có người vọng niệm nhẹ một chút, có người vọng niệm nặng một tí, chỉ là nặng nhẹ nhiều ít khác nhau, lục đạo phàm phu ai nấy đều có vọng niệm. Có vọng niệm là phàm phu, phải luân hồi lục đạo. Đoạn vọng niệm rồi th́ mới có thể vượt thoát sự luân hồi trong lục đạo. Lục đạo luân hồi do đâu mà có? Do vọng niệm tạo thành. Quư vị nhất định phải hiểu: Có vọng niệm bèn có lục đạo, có vọng niệm bèn có mạng vận (số mạng), bèn có nghiệp lực, bèn có luân hồi. Không có vọng niệm th́ nghiệp lực không c̣n, luân hồi không c̣n. Chúng ta làm thế nào để đoạn được những vọng niệm ấy; ở đây, dùng phương pháp Niệm Phật. Đem niệm Phật gieo vào vọng niệm, vọng niệm sẽ không c̣n nữa. Bây giở đă hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 17 hết



[1] Vật Do Như Thử có nghĩa là loài vật mà c̣n biết hiếu hạnh, nhân nghĩa, tu hành như thế, há con người lại thua kém ư? Tác phẩm này do Từ Hạc Tử biên soạn vào đời Thanh, chép những gương hiếu hạnh, trung tín cũng như niệm Phật văng sanh của các loài vật.

[2] Bảo hựu (保佑): Che chở và ban phước, gia tŕ.

[3] Sáu kinh của Nho Gia (Nho gia lục kinh): Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu.

[4] Đạo An (312-385) là một vị cao tăng lỗi lạc, có đóng góp rất lớn trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Ngài có họ ngoài đời là Vệ, người xứ Phù Liễu, Thường Sơn (nay thuộc tỉnh Hà Bắc), là người đi tiên phong trong nghiên cứu học thuyết Bát Nhă tại Trung Quốc, được pháp sư Cưu Ma La Thập tôn xưng là Đông Phương Thánh Nhân. Ngài mồ côi từ bé, được người anh họ nuôi dưỡng. Tuy diện mạo xấu xí, nhưng Ngài thông minh tột đỉnh, mới lên bảy đă biết đọc, sách nào cũng chỉ cần đọc hai lượt là thuộc nằm ḷng. Ngài xuất gia năm 12 tuổi. Do bổn sư của Ngài thấy Ngài quá xấu xí, không coi trọng, sai trông coi việc cày bừa. Ngài chăm chỉ cày cấy suốt ba năm rồi mới xin học kinh Phật. Thầy thuận tay trao cho cuốn Biện Ư Kinh năm ngàn chữ, Sư chỉ học trong một buổi nghỉ trưa mà thuộc ḷng, thông hiểu nghĩa kinh. Đến tối trả lại kinh cho thầy, xin học bộ khác, thầy tức giận quở trách, Sư bèn đọc thuộc ḷng và c̣n giảng được ư nghĩa. Thầy thử sức, trao cho bộ Thành Cụ Quang Minh Kinh một vạn chữ. Sư lại học thuộc ḷng trong lúc nghỉ trưa ngày hôm sau. Thầy kinh ngạc, bèn chú tâm bồi dưỡng Sư thành nhân tài hoằng pháp. Khi ngài Phật Đồ Trừng từ Thiên Trúc đến Nghiệp Quận, Sư theo học với ngài Phật Đồ Trừng, rất được ngài Phật Đồ Trừng ưa thích. Do diện mạo xấu xí, đại chúng vẫn có ư coi thường Sư. Do vậy, ngài Phật Đồ Trừng mỗi lần giảng kinh xong, đều yêu cầu pháp sư Đạo An giảng lại, Sư giảng không sai một chữ, khiến đại chúng bội phục. Sư được vua chúa thời ấy rất trọng. Vua nhà Tiền Tần là Phù Kiên đă nói: “Ta đem 10 vạn quân đánh Tương Dương chỉ để lấy được một người rưỡi, một người là ngài Đạo An, c̣n Tập Tạc Xỉ là nửa người” (Tập Tạc Xỉ là một văn nhân kiêm sử gia trứ danh thời ấy). Ngài là người đề xướng phương pháp “cách nghĩa” để giải thích kinh Phật, tức là dùng ngay những tư tưởng và điển cố sẵn có của Trung Hoa để giải thích những nghĩa lư phức tạp trong kinh Phật. Ngài c̣n đề xướng khi giảng giải một bản kinh, nếu có nhiều bản dịch th́ sẽ đối chiếu, so sánh để hiểu trọn vẹn bản kinh ấy. Ngài đề xướng chia một bản kinh ra thành ba phần Tự, Chánh Tông và Lưu Thông, cũng như chế định nghi thức, phẩm phục của tăng sĩ cho thích hợp với văn hóa Trung Hoa, đề xướng Tăng sĩ dùng chữ Thích trước pháp danh v.v...

[5] Chết ḷng (tử tâm), không phải là ‘hết ḷng’. Nói “tử tâm” với ư nghĩa những ư niệm so đo, chụp giựt, đứng núi này trông núi nọ đều đă hết sạch, cơi ḷng lặng lẽ, không lay động trước những lời giảng thuyết của các pháp sư, đại đức, thiện tri thức dè bỉu Tịnh Độ, khuyên dụ hành nhân hăy tu tập pháp môn khác, không c̣n dấy lên hồ nghi, xao động nên gọi là “chết ḷng”.

[6] Hóa duyên: Khuyến hóa, kêu gọi người khác đóng góp tiền bạc để xây dựng điện đường, tô chuông, đúc tượng v.v...

[7] Theo ḥa thượng Tịnh Không đă giảng trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện Đích Khải Thị, “kệ” là cách người cổ Ấn Độ tính kích thước một tác phẩm. Cứ bốn câu gọi là một Kệ (không phân biệt mỗi câu dài ngắn khác nhau); chữ Kệ này có ư nghĩa khác với chữ Kệ Tụng (cũng thường gọi tắt là Kệ). Kệ Tụng cũng gồm bốn câu, nhưng số chữ có hạn định, có vần điệu, thường được dùng để trùng tuyên những ư nghĩa đă giảng hay thưa thỉnh hoặc giải đáp.

[8] Hậu Hán tức là nhà Đông Hán (25-234). Đông Hán là nhà Hán được phục hưng sau khi Hán Quang Vũ Đế (Lưu Tú), là người đă diệt trừ Vương Măng (người soán đoạt ngôi vua của nhà Tây Hán) và đánh tan các tướng lănh quân phiệt, tái lập nhà Hán. Do đóng đô tại Lạc Dương (nằm về phía Đông của cố đô Trường An của nhà Tây Hán) nên gọi là Đông Hán. Kinh Phật được hai vị Trúc Pháp Lan và Ca Diếp Ma Đằng truyền vào Trung Hoa vào năm Vĩnh B́nh thứ 10 (67) đời Hán Minh Đế. Hai vị này trụ tại chùa Bạch Mă ở Lạc Dương để phiên dịch kinh điển, bộ kinh đầu tiên được dịch sang tiếng Hán là Tứ Thập Nhị Chương Kinh.

[9] Mười tôn phái của Phật giáo Trung Hoa là Câu Xá Tông (Tiểu Thừa Hữu Tông), Thành Thật Tông (Tiểu Thừa Không Tông), Tam Luận Tông (Pháp Tánh Tông), Luật Tông (Nam Sơn Tông), Từ Ân Tông (Du Già Tông, Duy Thức, Pháp Tướng Tông), Mật Tông (Chân Ngôn Tông), Tịnh Độ Tông (Liên Tông), Thiên Thai Tông (Pháp Hoa Tông), Hiền Thủ Tông (Hoa Nghiêm Tông, Pháp Giới Tông) và Thiền Tông (Tâm Tông, Tông Môn).

[10]Thực” () ở đây là gieo trồng. Đem loại cây nào trồng sang một nơi khác không phải là quê hương của cây ấy gọi là “di thực” (移植, transplant).

[11] Tức là đă có người khác đặt in với số lượng lớn, nên nhà in nhân tiện in thêm vài bản nữa cho ḿnh.

[12] Tiền cảnh: Cảnh đối trước các căn, tức là các trần do đối ứng với các căn mà gọi là “tiền cảnh”.

[13] Ở đây nói sáu căn không c̣n khởi tác dụng không có nghĩa là sáu căn mất hết khả năng nhận biết (linh minh giác tri) mà là sáu thức không c̣n khởi phân biệt, vọng tưởng, chấp trước mà nh́n thấy sự vật đúng như bản chất của nó, thấy được chân tánh của vạn vật, vạn pháp. Nói cách khác, sáu căn dùng sáu tánh để liễu tri vạn pháp, chứ không dùng Thức. Thức đă chuyển thành Trí.

[14] Bốn phương bàng là Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc.

[15] Nguyên văn “ngũ lư vụ trung” (ở trong đám sương phủ đến năm dặm).

[16] Niệm Phật để được tiền: Có một tà thuyết khá phổ biến ở Trung Hoa là cứ niệm Phật một câu sẽ để dành được một ít tiền nơi cơi âm, khi chết đi ḿnh sẽ được hưởng dụng số tiền đó nơi cơi U Minh. Trong Ấn Quang Văn Sao, Tổ có nhắc đến chuyện này, như vậy, tà thuyết này đă có từ trước thời Dân Quốc, ít nhất nó đă có từ thời Minh - Thanh.

[17] Biến Tướng Đồ: Những h́nh vẽ thuyết minh cảnh giới trong kinh điển, phổ biến nhất là Cực Lạc biến tướng đồ (h́nh vẽ mô tả cảnh tượng Cực Lạc), hoặc Địa Ngục Biến Tướng Đồ (h́nh vẽ mô tả cảnh địa ngục)…

[18] Công chúa Văn Thành (623-680), có tên tiếng Tạng là Giáp Tát Hán Công Chúa (Gyasa, hoặc Mung-chang Kungco, hay Mung-chang Konchu), cháu của Đường Thái Tông (Lư Thế Dân), là hoàng hậu thứ hai của Tsanpo Songtsan Gampo, là vua đời thứ 33 của vương triều Yarlung của Cổ Tây Tạng nhằm mục đích cầu thân và tái lập ḥa b́nh giữa Tây Tạng và Trung Hoa. Lúc ấy, người Tây Tạng (thường được sử Trung Hoa gọi là Thổ Phiên) rất hùng mạnh, thường xuyên quấy nhiễu biên giới phía Tây của Đại Đường. Sau khi Songtsan Gampo (Tùng Tán Cam Bố) đánh bại Thổ Cốc Hồn (vương quốc của dân tộc Azha), cắt đứt con đường giao thương của nhà Đường sang Tây Vực, vua Đường phải gả công chúa Văn Thành cho Songtsan Gampo và kư ḥa ước, phong cho Songtsan Gampo làm Pḥ Mă Đô Úy Tây Hải Quận Vương. Theo truyền thuyết, công chúa Văn Thành đem theo một tượng Thích Ca Mâu Ni Phật bằng vàng ṛng và 360 quyển kinh như của hồi môn. Songtsan Gampo đă xây chùa Đại Chiêu (Jokhang) để thờ tượng này. Cùng với hoàng hậu Bhirukti Devi (Xích Tôn Công Chúa hoặc Ba Lợi Khố Công Chúa) của Nepal, Songtsan Gampo và Văn Thành Công Chúa được người Tây Tạng coi là ba vị thánh có công truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng. Songtsan Gampo được coi là hóa thân của Quán Thế Âm, công chúa Văn Thành là hóa thân của Bạch Độ Mẫu (White Tara, một hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát), c̣n Xích Tôn Công Chúa là Lục Độ Mẫu (Green Tara). Tara Bồ Tát lại có hai mươi mốt hóa thân (21 vị Độ Mẫu), được tôn sùng nhất là Lục Độ Mẫu, Bạch Độ Mẫu và Xích Độ Mẫu (Red Tara).