Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 18

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

Tập 52

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp lần khai thị thứ hai trong thời thứ ba, chúng ta xem phần Trường Hàng:

 

      Cổ nhân đạo: Thanh châu đầu ư trược thủy, trược thủy bất đắc bất thanh; niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật.

      人道。清珠投於濁水。濁水不得不清。念佛投於亂心。亂心不得不佛。

      (Cổ nhân nói: “Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong; niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật”).

 

      Hai câu đầu là tỷ dụ, là lời nói tô điểm[1]; câu sau mới chính là câu chủ yếu. Trong phần trên, tôi đă nói đại lược về Thanh Thủy Châu rồi, chuyện này không quan trọng, điều quan trọng là “niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật” (niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật). Chúng ta niệm Phật công phu không đắc lực! Trong tất cả hết thảy pháp môn Đại Thừa hay Tiểu Thừa th́ pháp môn Niệm Phật là thuận tiện nhất, đơn giản nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất. Vậy mà chúng ta niệm Phật đă bao nhiêu năm rồi, v́ sao chẳng được thọ dụng ǵ hết? “Loạn tâm” vẫn y như cũ, nguyên nhân v́ đâu? Có phải là niệm Phật không linh hay chăng? Nếu phương pháp Niệm Phật này không linh th́ mọi phương pháp khác nói chung đều không có hiệu quả!

      Nói thật ra, chẳng phải phương pháp Niệm Phật không linh, mà là do

sự lư giải của chúng ta đối với phương pháp này có vấn đề, cách niệm cũng có vấn đề. Nếu chúng ta không hiểu thấu triệt phương pháp này, chúng ta sẽ hoài nghi; hoài nghi sẽ chướng ngại công phu thành tựu. Giảng kinh, thuyết pháp nhằm mục đích đoạn nghi, sanh tín. Ḷng tin thanh tịnh đă hiện tiền th́ không cần phải nghe kinh, không cần phải nghiên cứu giáo pháp nữa, những việc ấy sẽ biến thành dư thừa! Quan trọng nhất là tín tâm kiên định và tín tâm thanh tịnh. V́ thế, khi c̣n tại thế, đức Thế Tôn v́ mọi người giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm, nhằm mục đích ǵ? Nhằm mục đích giúp cho mọi người “đoạn nghi, sanh tín, phá mê, khai ngộ”, giúp đỡ như vậy đó. Khai ngộ rồi tín tâm bèn sanh khởi, quan trọng nhất là tu hành, thực sự tu hành! Tŕ danh niệm Phật là hành môn, nguyên lư và nguyên tắc của tŕ danh niệm Phật là “chân tín, thiết nguyện, chấp tŕ danh hiệu” (ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh hiệu). Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Tịnh niệm tương kế” (tịnh niệm tiếp nối). “Tịnh”: Niệm phải thanh tịnh, thanh tịnh là không hoài nghi, không xen tạp, đó là tịnh niệm, “tương kế” là không gián đoạn. Chúng ta niệm Phật có làm được như vậy hay chưa?

      Chúng ta không đoạn ḷng nghi; trong cuộc sống hằng ngày, đối với chính ḿnh, đối với người nhà, thân hữu, bè bạn, đối với hết thảy người, sự, vật biến hóa trong thế gian, đặc biệt là những việc liên quan đến mai sau, chúng ta không đoạn nghi hoặc th́ làm sao niệm Phật mà không vướng nghi ngờ cho được? Nếu như niệm Phật không nghi ngờ th́ tất cả hết thảy những mối nghi bên ngoài đều bị đoạn trừ. Thật đấy, không giả chút nào! Quư vị thấy cổ đức buông thân tâm thế giới xuống, đề khởi chánh niệm, do buông thân tâm thế giới xuống nên các Ngài không nghi nữa. Nếu c̣n nghi th́ các Ngài có buông xuống được hay không? Các Ngài đều hiểu rơ, đều thấu hiểu. Tuy thế có những người không thấu hiểu, không hiểu rơ mà vẫn có thể buông xuống được, chúng tôi nói những người ấy thiện căn, phước đức sâu dầy. V́ sao?

      Niệm Phật là chuyện quan trọng. Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, lần này ta gặp được, nhất định phải nắm lấy, những chuyện khác không cần nữa. Bỏ hết đi, không nghi nữa! Niệm Phật quyết định chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đó là niệm Phật đúng pháp. V́ thế, Phật hiệu gieo vào loạn tâm, loạn tâm tự nhiên mất tiêu. Cách này hay lắm! Rất hữu hiệu. Nếu quư vị nghiêm cẩn niệm, đúng lư, đúng pháp, tôi thường nói là từ ba tháng đến sáu tháng, [sẽ thấy] hiệu quả rất rơ rệt. Đến khi hiệu quả hiển hiện, quư vị sẽ tự nhận thấy pháp hỷ sung măn phát sanh, quư vị hoan hỷ niệm. Bắt đầu th́ khó, bắt đầu như thế nào? Phải chế phục phiền năo tập khí của chính ḿnh, phiền năo tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay rất nghiêm trọng! Quư vị [tu tập] đúng lư đúng pháp sẽ tự nhiên chế phục được. Quan trọng nhất là như chúng tôi thường nói: “Thâm nhập một môn, trường thời huân tu”. Công phu nhất định chẳng được gián đoạn, nhất định chẳng được xen tạp, quư vị càng niệm tâm càng thanh tịnh, cảm thấy vọng niệm bớt đi. Vọng niệm ít đi chính là phiền năo nhẹ đi, trí huệ tăng trưởng. Trước kia thấy những ǵ, nghe người ta nói không hiểu, nghe rồi cũng không thấu hiểu, nay càng niệm càng rơ ràng, càng niệm càng sáng suốt, trí huệ tăng trưởng, niệm Phật công phu đắc lực rồi đấy!

      Chỉ cần niệm được công phu thành phiến là nắm chắc văng sanh. Nếu như đạt đến Sự nhất tâm hay Lư nhất tâm th́ quả thật không phải ai cũng có thể làm được. Công phu thành phiến, chỉ cần chúng ta nỗ lực một chút ai nấy đều có thể làm được; v́ thế, cổ đức nói pháp môn này là “vạn người tu, vạn người về”. Niệm Phật mà không thể văng sanh, chắc chắn là v́ niệm Phật có hoài nghi, có xen tạp, thường xuyên gián đoạn. Gián đoạn rất đáng sợ, vừa gián đoạn, phiền năo bèn khởi hiện hành, chỉ có công phu không gián đoạn mới có thể khống chế phiền năo. Phiền năo ấy không phải là diệt đoạn, mà là phục đoạn (chế ngự, đè nén xuống). Quư vị có năng lực khống chế phiền năo, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật, phiền năo sẽ không hiện tiền. Đấy gọi là “tâm vô nhị dụng”, quư vị chớ nên nhất tâm nhị dụng, [tức là] vừa niệm Phật vừa khởi vọng tưởng, chẳng thể dùng tâm vào hai chuyện được. Lúc niệm Phật, quyết định không có vọng tưởng. Lúc vọng tưởng dấy lên th́ niệm Phật nhất định bị phá hoại, chắc chắn là như thế! Trước hết, ngài Trung Phong nêu lên ư nghĩa trọng yếu này giống như nêu lên đề mục, rồi tiếp đó, Ngài giải thích:

 

      Tây thiên hữu bảo, danh viết Thanh Châu.

      西天有寶。名曰清珠。

      (Tây vực có vật báu tên là Thanh Châu).

 

      “Tây thiên” chính là Ấn Độ, Ấn Độ có một loại bảo thạch gọi là Thanh Thủy Châu. Ngài nói:

 

      Vị thử châu đầu nhập trược thủy trung, nhập thủy nhất thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy tức tiện thanh khiết.

      此珠。投入濁水中。入水一寸。則一寸之濁水。即便清潔。

      (Nghĩa là: Loại châu này gieo vào trong nước đục, ch́m xuống nước một tấc th́ một tấc nước đục liền trở thành thanh khiết).

 

      Dùng con mắt khoa học hiện thời để nh́n sự việc này th́ viên châu ấy bỏ vào nước sẽ phát sanh tác dụng hóa học có thể hóa giải những dơ bẩn trong nước, v́ thế, nước khôi phục sự thanh tịnh. Ở Trung Quốc, lúc nhỏ tôi sống ở nông thôn, Trung Quốc thời đó rất lạc hậu, chẳng những ở nông thôn không có nguồn nước sạch, mà ngay ở những đô thị, thành phố nhỏ cũng không có nước máy; chỉ có một số rất ít những đô thị lớn có nước máy. Lúc nhỏ, tôi sống ở quê nhà, huyện Lô Giang không có nước máy. Trong thời gian kháng chiến [chống Nhật], tôi ở tỉnh Phước Kiến, tôi sống ở huyện Diên B́nh không có nước máy; Kiến Âu cũng không có nước máy. Nước phải đi mua, có người chuyên gánh nước đến bán; trong nhà có chum nước, mỗi ngày phải mua nước. Nhà giàu có th́ tự đào giếng trong nhà, có nước giếng; chúng tôi sống ở nông thôn th́ dùng nước sông, nước suối, nước khe. Loại nước này không sạch. V́ thế, chúng tôi ra sông gánh nước, gánh về nhà xong, nhất định phải để cho nước lắng cặn. Dùng phương pháp ǵ để lóng trong? Không có Thủy Thanh Châu, người Hoa dùng phèn chua (minh phàn, potassium alum), phèn chua có thể lóng trong nước, cặn ch́m xuống đáy chum, nước trên mặt rất sạch. Lúc nhỏ, chúng tôi thường dùng phương pháp ấy. Chúng tôi tin rằng Thủy Thanh Châu đại khái giống như một loại phèn chua, cùng một loại. V́ thế, “nhập thủy nhất thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy tức tiện thanh khiết” (ch́m vào nước một tấc th́ một tấc nước đục bèn trở thành thanh khiết).

     

      Thử châu nhập thủy tự thốn chí xích, năi chí ư để, tắc trược thủy diệc tùy chi nhi trừng trạm.

      珠入水。自寸至尺。乃至於底。則濁水亦隨之而澄湛。

      (Châu ấy gieo vào nước từ tấc tới thước, cho đến tận đáy th́ nước đục cũng lặng trong theo).

 

      Chữ “trừng trạm” diễn tả nước rất thanh tịnh, không có mảy may

nhơ bẩn. Thiền sư dùng điều này làm tỷ dụ, làm tiền đề để thuyết pháp.

Phần sau là chánh thuyết (nói thẳng vào vấn đề chánh):

 

      Đương tri thanh châu giả, dụ niệm Phật chi tịnh niệm dă.

      知清珠者。喻念佛之淨念也。

      (Nên biết thanh châu ví như tịnh niệm niệm Phật vậy).

 

      Tịnh niệm tiếp nối! Dùng Thanh Châu để ví cho tịnh niệm niệm Phật. Tịnh niệm giống như Thủy Thanh Châu.

 

      Trược thủy giả, dụ tạp loạn chi vọng tâm dă.

      水者。喻雜亂之妄心也。

      (Nước đục ví như vọng tâm tạp loạn).

 

      Trong tâm chúng ta vọng niệm dấy lên, ch́m xuống bất định, thật vậy! Vọng niệm trước vừa diệt, vọng niệm sau bèn sanh, đêm ngày không ngớt. Tâm chúng ta không thanh tịnh, giống như nước trong biển cả, sóng vỗ dâng trào, trước nay chưa hề ngưng nghỉ. Kinh Phật nói: Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, tâm nổi sóng sanh phiền năo; mức độ dậy sóng càng lớn th́ phiền năo càng nghiêm trọng, quả báo là tam đồ. Lục đạo luân hồi biến hiện ra như thế đó. Học vấn thế gian hay xuất thế gian không có ǵ khác, chỉ là thanh tịnh tâm mà thôi!

V́ thế, mấu chốt tu tŕ trong Phật pháp là chữ Định, Tam Học Giới - Định - Huệ. Giới là phương cách giúp quư vị đắc Định, Định trọn chẳng phải là mục đích, Định có thể mở mang trí huệ, Huệ mới là mục đích. V́ thế, Phật pháp là trí huệ pháp, Phật học là trí huệ học. Thiền Tông không tu Định. Nếu quư vị tưởng Thiền Tông tu Định th́ quư vị hoàn toàn sai lầm, quư vị coi Đàn Kinh thấy câu đầu tiên của Lục Tổ đại sư là ǵ? Câu nói ấy đă phơi bày toàn bộ tông chỉ của nhà Thiền, Ngài dạy đại chúng “tổng niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa” (toàn là niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa). Thiền Tông là Bát Nhă. Bát Nhă hiện tiền bằng cách nào? Phải Định! V́ thế, Thiền Tông tu Định là phương tiện nhằm mục đích mở mang trí huệ, mục tiêu là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, đấy chính là trí huệ Bát Nhă.

      Thiền cầu trí huệ Bát Nhă, Giáo cũng chẳng ngoại lệ, đại khai viên giải! Quư vị xem [đại khai viên giải] có phải là trí huệ Bát Nhă hay không? Tịnh Độ Tông chúng ta đắc nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn bèn sanh trí huệ. Pháp môn bất đồng là bất đồng về phương pháp, về cách thức dụng công, chứ phương hướng và mục tiêu hoàn toàn tương đồng. V́ vậy, đức Phật mới nói pháp môn b́nh đẳng, không có cao - thấp. Bất luận tu học pháp môn nào cũng đều có thể thành vô thượng đạo, đều có thể minh tâm kiến tánh, đều có thể kiến tánh thành Phật. Chúng ta phải biết nguyên tắc này th́ tu hành mới chẳng lầm phương hướng, chẳng lầm mục tiêu. Giới - Định - Huệ là phương hướng chung, là mục tiêu chung; nhân Giới đắc Định, nhân Định đắc Huệ. Chúng ta phải hiểu rơ tỷ dụ này, nay chúng ta dùng phương cách nào để thực hiện công phu? Ở đây, ngài Trung Phong bảo niệm Phật là phương pháp quan trọng nhất.

 

      Đương vọng tâm tạp loạn chi khoảnh, năng cử khởi nhất niệm.

      妄心雜亂之頃。能舉起一念。

      (Ngay trong lúc vọng tâm tạp loạn, có thể khởi lên một niệm).

 

      “Nhất niệm” chính là sáu chữ hồng danh, lúc trong tâm chúng ta rất phiền, rất loạn mà vẫn có thể khởi lên một niệm này, thế nhưng hiệu quả của một niệm này không hiển nhiên, do nguyên nhân nào? Do tâm thái của chúng ta có vấn đề.

 

      Như đối Từ Tôn.

      對慈尊。

      (Như đối trước đức Từ Tôn).

 

      Chúng ta có tâm thái như thế ấy hay chăng? Chí thành cung kính như đang đối trước A Di Đà Như Lai, như đang đối trước Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Chúng ta niệm Phật thiếu tấm ḷng cung kính ấy, nên hiệu quả bị suy giảm rất lớn, bị chiết khấu rất lớn, tợ hồ không thấy hiệu quả ǵ hết. Dụng công, tâm thái tối thiểu chiếm đến chín mươi phần trăm, phương pháp tối đa chỉ chiếm mười phần trăm. Trước kia, tôi khuyên các đồng học đang học giảng kinh, tôi từng khuyên như thế này: “Quư vị học giảng kinh, muốn học phương pháp giảng kinh, tôi thường nói: Tánh chất quan trọng của phương pháp giảng kinh nhiều nhất là mười phần trăm, c̣n chín mươi phần trăm là tâm tư thái độ của quư vị”.

      Trong bài Nội Điển Nghiên Học Cương Lănh (cương lănh nghiên cứu học tập kinh điển nhà Phật), tôi đă từng nói: Chân thành, cung kính quan trọng lắm! Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích; hai phần thành kính được hai phần lợi ích. Mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Chúng ta xướng một tiếng Phật hiệu nhưng miệng có, tâm không, chẳng có tâm cung kính th́ làm sao có thể thành tựu cho được! Tâm cung kính được nuôi dưỡng không chỉ trong lúc niệm Phật. Trong lúc niệm Phật, ta có tâm cung kính; lúc không niệm Phật, không có tâm cung kính th́ cái tâm cung kính ấy là giả, không thật! V́ sao? Một tức là hết thảy, hết thảy chính là một. Nếu quư vị cung kính Phật th́ cũng phải cung kính hết thảy chúng sanh. Thậm chí đối với hết thảy trùng, kiến, muỗi đều cung kính, thấy chúng nó ta nhất định chắp tay: “Bồ Tát kiến, Bồ Tát ruồi”, tâm thành kính sanh khởi. Quư vị chưa làm được như vậy th́ tâm cung kính chưa sanh khởi. Khởi tâm động niệm phiền năo làm chủ, chí thành, cung kính không phát ra được.

Chẳng những đối với hết thảy động vật mà đối với hết thảy thực vật cũng phải như thế. Ở bất cứ nơi đâu, thấy hoa cỏ, thậm chí với bất cứ vật dụng nào, quư vị đều cung kính. Bàn phải lau chùi cho sạch sẽ, sắp đặt cho ngay ngắn, tề chỉnh, cung kính nó đấy! Từ chỗ này có thể thấy quư vị có thực sự cung kính đối với Phật hay không! Chỉ cung kính Phật, đối với những ǵ khác không cung kính, th́ là cung kính giả tạo, không thật! V́ sao? “Nhất thiết chúng sanh giai thị quá khứ phụ mẫu, vị lai chư Phật” (Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là vị lai chư Phật). Kinh Hoa Nghiêm c̣n nói hay hơn nữa: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (t́nh và vô t́nh đều thành Phật đạo). Vô t́nh là thực vật, là khoáng vật; quư vị đối với thực vật, đối với khoáng vật đều có tâm cung kính. V́ thế, trước hết phải học “kính”, câu thứ nhất trong mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát là “lễ kính chư Phật”, chúng ta thiếu sót điều này. Chúng ta thiếu lễ kính, thiếu tán thán, thiếu cúng dường, thiếu sám hối. Do vậy, một câu Phật hiệu không linh. Quư vị đă hiểu rơ hay chưa? Quư vị muốn niệm một câu Phật hiệu được linh, niệm có cảm ứng, niệm khởi tác dụng, thực sự có thể chế ngự vọng tưởng th́ phải từ chí thành cung kính mà niệm mới hữu hiệu! V́ thế, phải “như đối Từ Tôn” (như đối trước đức Từ Tôn).

 

Án định lục tự hồng danh.

定六字洪名

(Giữ vững sáu chữ hồng danh).

 

Tức là Nam-mô A Di Đà Phật từng chữ rơ ràng, dẫu một chữ cũng không hàm hồ.

 

Nhất nhất xuất khẩu nhập nhĩ.

一出口入耳。

(Mỗi câu, mỗi chữ từ miệng phát ra lọt vào tai).

 

Đây là cổ đức dạy chúng ta phương pháp nhiếp tâm niệm Phật: Phật hiệu phát sanh từ tâm chí thành, cung kính; từ miệng phát ra âm thanh, từ tai nghe lọt những âm thanh ấy. Người hiện thời gọi điều này là “sức chú ư tập trung chẳng tán loạn”, như vậy th́ mới có thể chế ngự vọng niệm. Cổ nhân dùng phương pháp này có hiệu quả, các Ngài đem phương pháp hữu hiệu này truyền lại cho chúng ta. Chúng ta phải học tập theo phương pháp này, hăy thử làm xem, thực sự có hiệu quả đấy!

 

Tắc thử tạp loạn tự nhiên tùy niệm tịch tĩnh.

此雜亂。自然隨念寂靜。

(Do đây tạp loạn tự nhiên theo niệm mà ngưng lặng).

 

Đây chính là công phu, không miễn cưỡng chút nào, tự nhiên vọng niệm chẳng khởi. “Tạp loạn” là vọng niệm. Lúc đầu quư vị thấy vọng niệm ít đi, nếu như nói chúng ta mới học, vọng niệm có sanh khởi hay chăng? Vẫn khởi, nhưng ít hơn thôi. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, chúng tôi thấy có không ít người thường viết thư hỏi lăo pháp sư: Niệm Phật đă lâu lắm rồi, trong [thời gian niệm hết] một cây hương vẫn có rất nhiều vọng niệm. Một cây nhang: Nhang dài th́ thường cháy được một tiếng rưỡi, “một cây hương” là như vậy. Do xưa kia khoa học kỹ thuật chưa phát triển, người giàu sang mới có đồng hồ, trong dân gian không có đồng hồ. Tính thời gian bằng cách nào? Đại khái là lúc trời quang bèn nh́n xem mặt trời ở nơi đâu để phán đoán thời gian. Đêm th́ nh́n mặt trăng, nh́n tinh tú. Những người niệm Phật b́nh thường như chúng ta đều dùng nhang; v́ vậy gọi thời gian là “một cây hương, hai cây hương”. Một cây nhang dài cháy khoảng một giờ rưỡi. Hai cây nhang là ba tiếng đồng hồ, không thuận tiện như hiện thời: Trên tay ai nấy đều đeo đồng hồ, xưa kia không có.

Trong ṿng một cây hương vẫn khởi lên rất nhiều niệm, qua Văn Sao của tổ Ấn Quang ta thấy được điều này. Tổ Ấn Quang phúc đáp: Phàm những người dụng công đắc lực cũng chính là những người thực sự thực hiện được “tịnh niệm tiếp nối”, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Niệm như vậy ba năm, đại khái là trong một cây hương vẫn c̣n có dăm ba ư niệm, rất ít, ngẫu nhiên khởi lên dăm ba niệm; v́ thế, phải huân tu trong một thời gian dài. Vọng niệm khởi lên không cần phải bận tâm, không sợ hăi, đó là chuyện b́nh thường. Lúc quư vị không niệm Phật, tự ḿnh không nhận biết vọng niệm hết sức nhiều, quá ư là nhiều! Muốn dùng một niệm niệm Phật để chế ngự bèn nhận thấy vọng niệm hết sức nhiều. V́ thế, có người sợ hăi: “Lúc ta không niệm Phật không có vọng niệm, cớ sao niệm Phật th́ vọng niệm lại nhiều đến thế?” Lúc ấy chính ḿnh không nhận biết, chứ chẳng phải là không niệm Phật th́ không có vọng niệm! Không niệm Phật vẫn có nhiều vọng niệm ngần ấy, nhưng không nhận biết! Nay do niệm Phật nên đột nhiên nhận ra; do vậy, quư vị phải biết đó là hiện tượng b́nh thường.

Quư vị Niệm Phật công phu chớ nên gián đoạn, phải nghiêm túc nỗ lực niệm, dần dần vọng niệm càng ngày càng ít, công phu có tiến bộ! Nếu niệm một thời gian dài mà vọng niệm vẫn nhiều như thế, không cảm thấy giảm thiểu th́ tự ḿnh phải khéo kiểm điểm, phản tỉnh, công phu niệm Phật của ḿnh nhất định có vấn đề; nói chung, vấn đề ở chỗ không có tâm thành kính. V́ thế, hàng sơ học lúc niệm Phật cũng có thể kèm thêm quán tưởng: Lúc chúng ta niệm Phật giống như đức Phật đang ở trước mặt ḿnh, như vậy th́ chính ḿnh mới khởi ḷng chân thành, cung kính, mới có lợi ích. Hoặc là lúc niệm Phật đối trước tượng Phật mà niệm, ở trong Phật Đường giống như ở cùng một chỗ với đức Phật. Chúng ta đối trước Phật, chẳng thể không cung kính, chẳng thể tùy tiện, [nghĩ tưởng như vậy sẽ] có sức câu thúc ḿnh. V́ thế, công phu đắc lực, có tâm chân thành, cung kính, tự nhiên vọng niệm dần dần giảm thiểu, “tùy niệm tịch tĩnh”.

 

Tự thị nhất niệm nhi chí thập niệm, năi chí niệm niệm bất di.

是一念。而至十念。乃至念念不移。

(Từ một niệm như vậy cho đến mười niệm, cho đến niệm niệm chẳng dời đổi).

 

“Bất di” là không biến đổi, một câu Phật hiệu cứ một mực mà niệm, suốt đời không biến đổi. Nhất tâm nhất ư thành khẩn mong sao niệm cảm được A Di Đà Phật hiện đến, làm được như vậy! Từ cổ đến nay người làm được như vậy chẳng ít, đấy gọi là “chí thành cảm thông”, chân thành đến cùng cực sẽ khởi tác dụng cảm ứng đạo giao. Phật đến an ủi quư vị, Phật đến chứng minh cho quư vị. Có lúc Phật bảo quư vị: “Quư vị c̣n thọ được bao nhiêu năm nữa, đến khi mạng chung Phật sẽ đến tiếp dẫn!” Đem tin tức ấy báo cho chúng ta, tin tức ấy hết sức đáng tin. Khi ấy, có không ít người thông minh thực sự cảm ứng được Phật hiện tiền, bảo cho biết c̣n sống bao nhiêu năm nữa, họ không cần: “Bạch A Di Đà Phật! Chẳng dễ ǵ niệm được Ngài đến, nay con theo Ngài ra đi!” Những người như thế rất nhiều, chứ không phải chỉ ḿnh pháp sư Oánh Kha, rất nhiều! Chuyện pháp sư Oánh Kha mọi người đều biết, có rất nhiều người giống như vậy, nhưng họ không kể với người khác nên người ta chẳng biết.

Đương nhiên cũng có những người hoàn toàn chẳng nóng ḷng văng sanh, nghe nói c̣n sống bao nhiêu năm nữa th́: “Được! Từ từ giao phó hậu sự rơ ràng, giao phó xong xuôi, đến lúc sẽ theo Phật ra đi”. Chuyện này chúng ta chỉ cần đọc kỹ Văng Sanh Truyện hay đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục sẽ thấy. Như vậy, ở đây quan trọng nhất là “niệm niệm bất di” (niệm niệm không thay đổi).

 

Tức giáo trung sở vị: “Tịnh niệm tương kế” giả dă!

教中所謂淨念相繼者也。

(Tức là như trong giáo pháp đă nói: “Tịnh niệm tiếp nối”)

 

“Giáo” ở đây là kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Đoạn này nêu rơ ràng, rành rẽ ư “tịnh niệm tiếp nối”. Trong đây, quan trọng nhất là “cử khởi nhất niệm, như đối Từ Tôn” (khởi lên một niệm như đối trước đức Từ Tôn), đó là thành kính. Tiếp theo là “niệm niệm bất di” (niệm niệm không thay đổi). Đấy chính là tịnh niệm tiếp nối, quan trọng lắm! Đấy chính là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Tiếp theo đó, thiền sư hết sức khẩn thiết, từ bi dạy chúng ta:

 

Niệm Phật chi nhân, tu yếu tín tâm khẩn thiết, chánh nhân lẫm nhiên, trùng niệm tử sanh luân chuyển chi khả bi, thâm yếm trần lao phân nhiễu vi khả thống.

佛之人。須要信心懇切。正因凜然。重念死生輪轉之可悲。深厭塵勞紛擾為可痛。

(Người niệm Phật cần phải có ḷng tin khẩn thiết, chánh nhân rạng rỡ, suy đi nghĩ lại tử sanh luân chuyển đáng buồn thương, chán ngán sâu xa trần lao rối bời đáng đau xót).

 

Đoạn này giảng niệm Phật th́ phải dụng tâm giống như lời khai thị ở đây th́ mới ḥng tương ứng. V́ thế, chúng ta đọc đến đoạn khai thị này, hoặc là nghe đến, hăy nghĩ b́nh thường chúng ta niệm Phật có tương ứng với những lời Ngài nói ở đây hay chăng? Nếu tương ứng rất tốt, phải khéo ǵn giữ! Nếu không tương ứng phải đau đáu sửa đổi lỗi cũ! Như vậy, điều đầu tiên là “tín tâm khẩn thiết” (ḷng tin khẩn thiết), chân thành khẩn thiết. “Chánh nhân lẫm nhiên” (chánh nhân rạng rỡ): Tu pháp môn th́ “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” chính là chánh nhân văng sanh. Trong kinh Vô Lượng Thọ, giảng về văng sanh th́ hai phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) và Văng Sanh Chánh Nhân chuyên giảng về phương pháp niệm Phật. Chánh nhân rơ ràng, minh bạch, không hàm hồ một tí nào!

 “Trùng niệm tử sanh luân chuyển chi khả bi” (Suy đi nghĩ lại tử sanh luân chuyển đáng buồn): Nhất định phải có cái tâm này! Từ vô lượng kiếp đến nay tử sanh luân hồi, có thể nói là “thoạt ch́m, thoạt nổi”. Luân hồi trong lục đạo, ngoi đầu lên chính là làm được một chút thiện nhân; gặp được duyên, sanh trong ba đường lành. Quả báo trong ba đường lành hết rồi, ác nhân hiện tiền, ngay lập tức ch́m đắm trong ba đường ác. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Hễ quư vị ở trong sáu nẻo th́ chắc chắn thời gian trong ba đường ác dài lâu, hết sức là dài, thời gian trong ba đường lành ngắn ngủi. V́ thế, chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo, ba đường ác là quê nhà, ba đường lành như đi du lịch, thời gian rất ngắn tạm. Quư vị thấy điều này rất đáng buồn, cái tâm [chán sợ] sanh tử mới khởi.

Thâm yếm” (Chán ngán sâu xa): Yếm () là “yếm ố, yếm phiền” (厭惡、厭煩: chán ghét, chán ngán). Chán ngán chuyện ǵ? “Trần lao phân nhiễu” (trần lao rối bời) chính là những trạng huống sinh hoạt hiện tiền của chúng ta. Những người trẻ tuổi chẳng dễ cảm nhận; chứ người bảy mươi, tám mươi tuổi, nói thật ra là gần như họ đă thấy trọn thế gian này, thấy lâu quá rồi, chán chường lắm! Người hiện thời bảo những người như vậy là “yếm thế” (chán đời). Yếm thế chẳng thể giải quyết vấn đề, hết sức đáng buồn! Mỗi một ngày, nào là người, nào là sự, nào là vật quấy nhiễu, thân tâm chẳng được thanh tịnh, nhất là đối với những người tuổi tác đă cao, cuộc sống là đau khổ, nào có sung sướng chi? Luân hồi khổ, cuộc sống hiện tại đau khổ, nhất là sống trong xă hội hiện thời, con người hiện thời chẳng biết thế nào là nhân nghĩa, đạo đức, không biết đến! Mê man ngập ngụa trong ṿng dụ hoặc của ngũ dục, lục trần, chẳng biết quay đầu. Những thứ dụ dỗ, mê hoặc ấy toàn là tráo trở, nói khó nghe hơn th́ toàn là tội nghiệp.

Hiện thời nhất là Internet, nội dung của Internet là ǵ vậy? Tôi chưa xem qua, tôi nghe những đồng học kể lại: Trong ấy toàn là giết, trộm, dâm, dối, đều dạy quư vị làm ác, quư vị nói xem có đáng sợ lắm hay không? Những người trẻ tuổi, thậm chí những đứa bé từ nhỏ đă mê đắm Internet, mỗi ngày lên mạng xem thứ này thứ nọ, khiến cho một điểm lương tri lương năng bị phá hoại toàn bộ, phá hoại sạch sành sanh! Không ǵ đáng buồn, đáng đau ḷng hơn. Thế giới này chẳng thể không có tai nạn được! Tai nạn do đâu mà có? Tai nạn do ác nghiệp chiêu cảm, chính những kẻ tạo ác nghiệp không hay biết. V́ sao? Chính họ không có năng lực phân biệt đúng - sai, thiện - ác, ch́m đắm mê man trong ấy. Nếu quư vị bảo với họ những chuyện tốt lành nào, họ sẽ cảm thấy rất kỳ quái, từ trước đến giờ chưa từng nghe nói đến. Nghe như quư vị đang kể chuyện thần thoại, họ không thể tiếp nhận được, nghe không lọt tai, tâm họ khởi gió to sóng lớn, c̣n làm ǵ được nữa! Chúng ta hăy nh́n những cái nhân và những duyên đă tạo trong xă hội hiện thời rồi hăy nghĩ đến những kết quả sau này như thế nào.

Các nhà khoa học nghiên cứu lịch sử biến thiên và tiến hóa của địa cầu có đưa ra thuyết như sau: Trong quá khứ địa cầu có một nền văn minh cao tột, nhưng văn minh phát triển đến một thời kỳ nào đó bèn bị hủy diệt. Các nhà khoa học cho rằng tối thiểu địa cầu đă từng bốn lần đạt đến văn minh tột đỉnh rồi đột nhiên bị hủy diệt. Khoa học kỹ thuật hiện thời của chúng ta đă đạt đến đỉnh điểm hay chưa? Tôi cho rằng không xa mấy đâu! Đỉnh điểm là ǵ? Là phá hoại sinh thái thiên nhiên (natural biological environment), phá hoại sự cân bằng sinh thái trên địa cầu. Khoa học kỹ thuật phát triển đến mức độ này th́ hiện thời chúng ta hiểu: Thiên nhiên phải báo thù. Hễ thiên nhiên báo thù th́ chẳng những tai nạn xảy ra mà ngày tàn của thế giới cũng xảy ra, cuối cùng sẽ thấy ai thắng, ai bại!

V́ thế, cổ nhân nói một câu ngạn ngữ rất ư vị: “Nhân định thắng thiên”. Năng lực trí huệ thông minh của con người chế tạo được rất nhiều máy móc thắng được tự nhiên khiến trời giận, quỷ thần ghen ghét. Quỷ thần ganh ghét, làm cho trời giận, trời nổi nóng là phiền toái rồi! Có phải là đại hủy diệt sẽ xảy tới hay không? Trong rất nhiều ngạn ngữ của cổ nhân có ẩn giấu huyền cơ, phải chú tâm quan sát th́ mới có thể lănh hội được. Ư nghĩa của những câu ấy rất sâu xa, khiến cho chúng ta phải cảnh giác cao độ. Trong lúc này, chúng ta chỉ c̣n có cách nghiêm túc sám hối, sửa lỗi, đổi mới, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nay đă hết giờ

rồi!

 

*

      Chư vị đồng học!

      Xin tiếp tục xem đoạn khai thị kể từ “niệm Phật chi nhân, tu yếu tín tâm khẩn thiết, chánh nhân lẫm nhiên, trùng niệm tử sanh luân chuyển chi khả bi, thâm yếm trần lao phân nhiễu vi khả thống” (Người niệm Phật cần phải có ḷng tin khẩn thiết, chánh nhân rạng rỡ, suy đi nghĩ lại tử sanh luân chuyển đáng buồn thương, chán ngán sâu xa trần lao rối bời đáng đau xót). Bắt đầu từ chỗ này, ư nghĩa của đoạn này trong phần trên chúng tôi đă nói rồi, hăy xem tiếp câu kế đó:

 

      Cử khởi nhất thanh Phật danh.

      起一聲佛名。

      (Khởi lên một tiếng danh hiệu Phật).

 

      Cũng là nói trong lúc tâm t́nh đau xót như vậy, khởi lên một câu Phật hiệu.

 

      Trực hạ cánh vô dị kiến, như Thái A kiếm hoành án đương hiên; như đại hỏa luân tinh đằng diệm xí. Vạn vật anh chi tắc liệu, xúc chi tắc thương.

      下更無異見。如太阿劍。橫按當軒。如大火輪,星騰燄熾。萬物攖之則燎。觸之則傷。

      (Từ đây không c̣n dị kiến, như gươm Thái A cầm ngang trước xe, như ṿng lửa lớn cháy rực như sao sa, vạn vật chạm phải bèn cháy, đụng vào bèn bị tổn thương).

 

      Chúng ta xem đoạn này, quả thật thiền sư Trung Phong đang nói đến t́nh trạng xă hội hiện thời của chúng ta. T́nh trạng xă hội cũng đang dần dần diễn biến thành ngày càng đọa lạc. Đại khái là kể từ lúc nào? Phải kể từ thời đại của Thích Ca Mâu Ni Phật, thói đời ngày càng tệ đi, làm sao chúng ta biết? Qua lời Khổng phu tử, chúng ta sẽ hiểu rơ ngay.

Lúc Khổng phu tử tại thế, Ngài nồng nhiệt khen ngợi Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Nghiêu, Thuấn có lẽ ra đời trước Khổng Tử hai ngàn năm. Khổng lăo phu tử cách chúng ta khoảng hơn hai ngàn năm trăm năm, vậy thời Nghiêu, Thuấn phải là bốn ngàn năm trăm năm trước. Khổng Tử khen ngợi thời thượng cổ ai nấy đều biết hiếu, đễ, trung, tín, đều tuân thủ luân thường, đạo đức. Vào thời Khổng phu tử, Ngài đă rất cảm khái trước sự động loạn của xă hội, Ngài sống nhằm thời Xuân Thu Chiến Quốc, cảm thấy đạo đức bị ch́m đắm rất sâu, thói đời mỗi ngày mỗi tệ. Từ thời Khổng Tử đến hiện thời là hơn hai ngàn năm trăm năm, trong ṿng một trăm năm trở lại đây, có thể nói là luân lư và đạo đức đọa lạc, tốc độ băng hoại càng tăng nhanh, không c̣n là đọa lạc nữa mà là băng hoại! Đọa lạc từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, đến bây giờ là băng hoại, hoàn toàn không c̣n nữa. Luân lư, đạo đức biến thành những danh từ lịch sử, chẳng những không thấy có trong thực tế xă hội, mà thậm chí những danh từ ấy cũng không c̣n nghe nói đến nữa. Trong thời buổi này, rất nhiều tôn giáo ở ngoại quốc nói đến chuyện ngày tàn của thế giới.

      Trong ṿng ba bốn chục năm qua, chúng tôi cũng nhận được những báo cáo, ghi chép; hiện nay dường như chúng ta thấy các ghi chép đều đoán định [ngày tận cùng thế giới xảy ra] vào năm 2000. Năm nay là năm 2003, năm sau là 2004. Nếu chúng ta có tánh cảnh giác cao độ th́ quư vị tự nhiên thực sự buông xuống vạn duyên, có thể nắm chặt thời gian hết sức quư báu, nghiêm túc nỗ lực niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Những chuyện khác đều là phụ thuộc, không phải là chuyện chánh yếu đáng phải lo toan của ḿnh. Chuyện chánh yếu phải lo toan của chúng ta là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chúng ta vẫn phải nghe kinh, nghe kinh để làm ǵ? Để giúp chúng ta phá mê, khai ngộ, giúp chúng ta tỉnh ngộ, giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm, tăng trưởng nguyện tâm, giúp chúng ta hiểu rơ hết thảy trạng huống trên con đường về Tây Phương. Nghe kinh để phụ trợ, lên đường [về gấp Cực Lạc] quan trọng hơn, vừa đi đường vừa nghe kinh giới thiệu, không phải là phương pháp tốt đẹp hay sao? Thực sự hiểu rơ và thấu suốt th́ những giới thiệu ấy không cần nghe tới nữa, cứ đi theo con đường là được rồi. Đi đến nơi th́ chẳng phải là điều ǵ cũng đều biết hay sao? Đấy là người thực sự thông minh.

      “Cử khởi nhất thanh Phật danh, trực hạ cánh vô dị kiến” (Khởi lên một tiếng Phật hiệu, từ nay không c̣n dị kiến). “Vô dị kiến” là không c̣n hoài nghi, cũng không phân biệt, không c̣n chấp trước, điều ǵ cũng buông xuống hết, cứ thẳng một đường mà đi. Tiếp đó, thiền sư nêu tỷ dụ “như Thái A kiếm, hoành án đương hiên” (như gươm Thái A cầm ngang trước xe). “Thái A kiếm” là một thanh gươm báu, giống như những thanh Can Tương, Mạc Gia[2] thời Xuân Thu Chiến Quốc (hai người này đều là chuyên gia chế tạo bảo kiếm). Thanh Thái A cũng do họ đúc ra, bén nhọn khôn sánh. Ở đây giống như trong lúc đánh nhau, vị tướng quân tay cầm gươm báu ngồi trên chiến xa. “Hiên” () là cái bệ nằm ngang ở trước xe. Chống tay trên xe cầm bảo kiếm, đó là thái độ trên chiến trường.

      Lại “như đại hỏa luân, tinh đằng diễm xí” (như ṿng lửa lớn, cháy rực như sao sa). Hai tỷ dụ này không biết nên hiểu như thế nào? Nói về Thái A Kiếm th́ nói được. Bởi thời cổ, xung phong hăm trận nơi chiến trường “hoành án đương hiên” (cầm ngang trước xe), điều này chúng ta có thể tưởng tượng được. C̣n thí dụ tiếp đó “đại hỏa luân, tinh đằng diễm xí” (ṿng lửa lớn, cháy rực như sao sa). Cái ṿng lửa lớn này chắc giống như bom nguyên tử hiện thời. Thiền sư Trung Phong là người sống vào đầu triều Nguyên, lúc ấy khoa học kỹ thuật chưa phát triển, nay chúng ta thấy “đại hỏa luân tinh đằng diễm xí” ở đây nếu dùng bom nguyên tử để tỷ dụ th́ không c̣n ǵ thích hợp hơn nữa. Hai thứ này đều là chiến tranh, nhân họa, thiên tai nhân họa. Thiền sư Trung Phong là bậc minh tâm kiến tánh; chúng ta biết đối với bậc Kiến Tánh, không gian chẳng c̣n nữa, thời gian cũng không c̣n. Chuyện vị lai Ngài chẳng thể không biết, Ngài biết chứ. Do vậy, câu này rất có thể là nói về chúng ta trong hiện tại.

      “Vạn vật”, bất luận vật nào, chỉ cần tiếp xúc với nó; câu “anh chi tắc liệu” (chạm vào liền cháy) chỉ ṿng lửa lớn, tiếp xúc với nó bèn bị cháy. Câu “xúc chi tắc thương” (đụng vào bèn bị thương tổn) chỉ Thái A Kiếm. Thái A Kiếm chớ nên đụng vào, đụng vào nhất định bị thương. Thiền sư dùng h́nh ảnh này để sánh ví một câu Phật hiệu. Một câu Phật hiệu giống như Thái A kiếm, giống như ṿng lửa lớn. Vật nào “anh chi tắc liệu, xúc chi tắc thương” (chạm vào bèn cháy, đụng vào bèn bị thương tổn)? Ṿng lửa lớn ví cho điều ǵ? Sánh ví huệ Bát Nhă, Thái A Kiếm ví như tam-muội. Ở phần trên đă nói: “Tử sanh luân chuyển, trần lao phân nhiễu” (tử sanh luân chuyển, trần lao rối bời), chỉ cần chạm phải Định - Huệ chúng sẽ không c̣n nữa, tiêu khói, tan mây, dùng những h́nh ảnh này để tỷ dụ.

 

Trực chí nhất tâm bất loạn.

至一心不亂。

(Măi cho đến khi nhất tâm bất loạn).

 

“Nhất tâm bất loạn” là mục tiêu niệm Phật của chúng ta. Chúng ta niệm Phật để làm ǵ? Để cầu nhất tâm bất loạn. Lúc đạt đến nhất tâm bất loạn th́:

 

Năng Sở lưỡng vong.

所兩忘。

(Năng lẫn Sở cùng mất).

 

Đây chính là Lư Nhất Tâm, chứ không phải Sự Nhất Tâm. V́ sao? “Năng Sở lưỡng vong” (Năng lẫn Sở cùng mất) chính là nhập pháp môn Bất Nhị. Nhập pháp môn Bất Nhị chính là cảnh giới Như Lai. Niệm đến nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất loạn là Pháp Thân Bồ Tát.

 

Đáo gia chi thuyết, bất dung tái cử.

家之說。不容再舉。

(Câu nói “về đến nhà” chẳng được nêu lên nữa)

 

V́ sao? Những lời ấy thành thừa, “đến”“không đến” không c̣n nữa, nhập cảnh giới Bất Nhị mà!

 

Tiệp kính chi từ, hà lao quải xỉ.

逕之詞。何勞挂齒。

(Từ ngữ “đường tắt” cần ǵ phải nhắc đến).

 

Pháp môn này là đường tắt, trong phần trên tôi đă tŕnh bày cùng quư vị, đây là đường tắt nhất trong các con đường tắt, tức là tu hành chứng quả rất mau, là con đường gần nhất. Nay quư vị đă đến nơi rồi, chẳng những lời này không c̣n nữa, mà ư niệm cũng không có. Mấy câu này hoàn toàn luận về cảnh giới công phu: Quư vị đă khế nhập Niệm Phật tam-muội, đă nhập pháp môn Bất Nhị, đă nhập cảnh giới thuộc quả địa Như Lai.

 

Khả vị chứng tu hành chi thần thuật.

謂證修行之神術。

(Có thể nói là cách thần diệu để tu hành chứng quả)

 

Đây chính là “thân chứng” (tự ḿnh chứng đắc). “Thuật” () là phương pháp. Quư vị dùng phương pháp tŕ danh niệm Phật, đạt đến cảnh giới nơi quả địa Như Lai, quư vị đă tự chứng nghiệm rồi, Tín nguyện tŕ danh là “thần thuật” (phương thức thần diệu), Thuật là “phương thuật” (cách thức).

 

Siêu phương tiện chi chánh đồ.

方便之正途。

(Là đường chánh phương tiện siêu thắng).

 

Trong hết thảy pháp phương tiện, đây là phương tiện bậc nhất. Con đường này là con đường chánh thông thẳng vào Phật đạo, không ngoắt ngoéo, là một con đường thẳng tắp, phàm phu thành Phật nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, thành tựu thù thắng khôn sánh, đạt được điều khó khăn! Dẫu chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát cực lực tuyên dương trong hư không pháp giới, đúng là vi trần nói, cơi nước nói, không lúc nào, không chỗ nào chẳng nói, nhưng rất đáng tiếc, kẻ biết giá trị không nhiều. Chứng tỏ kẻ không biết giá trị là đa số, cứ tưởng phương pháp này quá đơn giản, quá dễ dàng, lẽ đâu đạt thành tựu như thế ấy được! Chẳng khởi lên ḷng tin, chê bai là pháp để dạy những bà già tu! Rất nhiều người cho đến tận bây giờ vẫn có quan niệm sai lầm ấy, cứ tưởng những kinh to luận lớn đức Phật dành để nói với hàng thượng căn lợi trí, c̣n niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ dành cho bọn hạ hạ căn, chỉ để giảng cho những kẻ không hiểu biết, ngu si, thiếu tŕnh độ! Thậm chí c̣n có kẻ lầm tưởng Thích Ca Mâu Ni Phật kể chuyện cổ tích để an ủi những kẻ ngu si. Những kẻ ngu si như thế rất đáng thương, không đúng như thế đâu! Quư vị hăy xem: Những hiểu lầm như vậy rất nghiêm trọng. Quư vị đă mắc sai lầm, lại c̣n làm ảnh hưởng đến người khác. Đúng là “dĩ manh dẫn manh, tương khiên nhập hỏa khanh” (kẻ đui dẫn người mù, kéo nhau vào hầm lửa). Đây là chuyện đau xót nhất trong thế gian!

Như Lai đem vật quư báu vô thượng dâng cho quư vị, quư vị không nhận biết, không biết giá trị, coi nó chưa đáng một đồng, vứt đi chẳng đoái hoài. Kẻ biết giá trị – kinh Phật nói – là người đă tu tập, tích tụ thiện căn, phước đức đời đời kiếp kiếp trong quá khứ. Họ vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, không có ǵ khác cả! Đấy là do thiện căn, phước đức, nhân duyên chín muồi, họ có thể tiếp nhận. Thế nhưng phàm phu trong phàm trần bị nhiễm ô nghiêm trọng, dẫu thiện căn trong đời quá khứ sâu dầy, nhưng khi được tiếp xúc bèn có thể thực sự tin sâu phát nguyện lại không phải là chuyện dễ. V́ thế, trong phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị: Phải đúng thời tiết nhân duyên, phải gặp được chân thiện tri thức!

Thế nào là chân thiện tri thức? Người mà chính ḿnh suốt đời kính ngưỡng nhất, bội phục nhất, tin tưởng nhất. Ba điều kiện này t́m ở đâu? Quư vị phải hỏi trong thế gian lăng xăng này, quư vị bội phục người nào nhất? Quư vị tin tưởng ai nhất? Tôn kính ai nhất? Nếu quư vị gặp được người như vậy, học với người ấy sẽ nhất định thành tựu. Đây không phải là vọng ngữ, v́ sao nói khẳng định là thành tựu? Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật đă nói rất nhiều, “nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh). Đối với người ấy, quư vị có thể sanh tín tâm, người ấy dạy điều ǵ quư vị sẽ thực hiện một trăm phần trăm, làm sao không thành tựu cho được? Cũng cùng một phương pháp ấy, cùng một câu nói ấy, người khác giảng cho quư vị, nhưng quư vị không tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, đương nhiên chẳng thể phụng hành. Do vậy, quư vị chẳng thể thành tựu!

Từ cổ đến nay, ai được gọi là thiện tri thức? Từ ngữ lục, truyện kư

của cổ đức, chúng ta thấy chép rất nhiều; lúc tôi c̣n trẻ mới học Phật thấy vậy rất lạ: Có người cầu học đến tham học (những bậc thiện tri thức trong lịch sử đều là người hữu danh, đều được người khác xưng tụng là bậc thiện tri thức đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, học tṛ đến tham phỏng các Ngài), Ngài bảo kẻ ấy: “Duyên của ông chẳng ở nơi tôi, duyên của ông là ở chỗ kia, chỗ nọ, ông phải đến nơi đó, tham phỏng vị đó”. Người đến tham học nghe xong, quả nhiên nghe theo lời vị ấy dạy, đến nơi kia t́m vị thiện tri thức ấy. Quả nhiên không lâu sau đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, thành tựu nơi ấy. Lúc ấy, chúng tôi cứ nghĩ: “Làm sao mà biết được? Nếu đă biết, sao không dạy, giới thiệu người ta qua nơi khác để làm ǵ?” Nghĩ không ra! Những vị ấy quả thật phi thường, biết người khác ở chỗ nào, thân cận ai sẽ được khai ngộ, sẽ chứng quả, có bản lănh như thế đó.

Đến sau này, học Phật lâu rồi, dần dần hiểu được đạo lư ấy. Văn tự, lời lẽ của cổ nhân đều hết sức đơn giản, mỗi chuyện chỉ được ghi lại bằng mấy chữ hay một hai hàng mà thôi. Tưởng tượng trong cuộc sống hiện thời của chúng ta, nếu có ai đến bái phỏng quư vị, hướng về quư vị thỉnh giáo, nhất định phải nói rất nhiều, những lời ấy nếu ghi xuống tổng cộng phải là mấy vạn chữ. Các Ngài chỉ ghi có mấy chục chữ, tinh giản như thế đó; do vậy, có rất nhiều thứ chúng ta nh́n không ra, người hiện thời chúng ta xem đến bèn sanh nghi hoặc. Phổ biến nhất là nếu có ai đến bái phỏng quư vị, quư vị nhất định hỏi người ấy: “Tên họ là ǵ, nhà cửa ở đâu? Từ chỗ nào đến? Trong quá khứ đă thân cận những vị thiện tri thức nào? Trong nhiều pháp môn như thế, có hứng thú với pháp môn nào nhất?” Chắc chắn phải hỏi những chuyện ấy. Lúc tôi c̣n trẻ gặp thiện tri thức, thầy cũng hỏi như thế!

      Hỏi xong, đến cuối cùng bảo quư vị: “Ông không có duyên với tôi!” Vậy th́ sao? Thấy được chí hướng và sự ưa thích của người ấy, thấy người ấy tôn trọng pháp môn nào, trong tâm người ấy kính ngưỡng nhân vật nào nhất? Những chuyện ấy đều phải hỏi rơ ràng, cho rành rẽ, lại bảo: “Những điều trong tâm ông mong muốn tôi không có, sự tu học ở nơi đây không hợp với chí hướng của ông”. Nên nhớ: Phật pháp “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”, quyết định chẳng được thay đổi nguyện vọng của người khác, chẳng biến đổi hứng thú của người khác, chứ không phải là “vứt bỏ những thứ đó đi, học theo tôi mới tốt”. Trong thiên hạ không có loại thiện tri thức như thế, đấy không phải là thiện tri thức thực sự. Thiện tri thức chân chánh phải nghĩ: Trong xă hội hiện thời c̣n có những vị đại đức, ở chỗ kia chỗ nọ có một đại đức mà sở tu và sở học của vị ấy phù hợp với hứng thú của ông, ông hăy đến chỗ vị ấy nhất định sẽ được thành tựu, giới thiệu như vậy đó! Giống như đi học, học đại học, quư vị có hứng thú về phương diện nào th́ có thể theo học khoa ấy. Trong những đại học lớn, trường học nào dạy tốt nhất về môn đó bèn giới thiệu cho quư vị đến đó học.

Nếu ghi chép lại tỉ mỉ, chúng ta vừa đọc đến sẽ hiểu rơ ngay, sách cổ ghi chép quá giản lược! Trọn chẳng phải là những vị ấy có thần thông, không phải vậy, nay chúng ta đă hiểu rơ rồi! Ví như nói có người tuổi trẻ đến chỗ tôi, người ấy rất có hứng thú đối với Thiền, niệm niệm chẳng quên, đối với niệm Phật chẳng thích thú ǵ, nhất định tôi phải bảo người ấy: “Ông chẳng có duyên nơi tôi”. Tôi cũng bắt chước lời cổ nhân, “duyên của ông ở tại nơi nào đó”. Như nay chính tôi biết: Vị đại đức trong Tông Môn chúng tôi kính ngưỡng nhất là pháp sư Thánh Nhất ở Đại Dự sơn, Hương Cảng. Ở Trung Quốc đại lục cũng có [bậc tri thức trong Thiền Tông], nhưng tôi rất ít tiếp xúc, không biết rơ. Pháp sư Thánh Nhất ở Đại Dự Sơn tôi quen thân, tôi từng đến thăm đạo tràng của Ngài: Quả thật vẫn giữ được phong thái, khuôn phép của Tông Môn, mỗi ngày có thời gian tọa hương nhất định. Lúc tôi đến thăm, trong Thiền Đường có hơn bốn mươi người, có cả người ngoại quốc đều đang học tọa Thiền. Tôi bèn đề cao! Nếu thích Pháp Tướng Duy Thức ư? Tôi không biết hiện nay ai sở trường môn này; trước kia pháp sư Diễn Bồi nghiên cứu môn này. Nếu quư vị hứng thú đối với pháp này, tôi sẽ giới thiệu cho quư vị đến thân cận pháp sư Diễn Bồi, đó gọi là khế cơ!

Chẳng thể nói pháp môn Niệm Phật của tôi tốt hơn nhiều, anh phải bỏ pháp ḿnh hứng thú đi, theo tôi học pháp môn Niệm Phật, không thể được! Nếu thuyết pháp như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật lúc tại thế việc ǵ phải nói nhiều pháp môn đến thế? Chỉ giảng một pháp môn Niệm Phật là được rồi! Quư vị hiểu: Chư Phật Như Lai, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát, Thanh Văn, Duyên Giác đều biết hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, không miễn cưỡng mảy may. Nếu có chút nào miễn cưỡng, là v́ ḿnh đă tự ư thêm vào chút ư kiến của ḿnh. Làm thế nào để không thêm vào chút ư kiến nào của ḿnh? Tự nhiên thôi! Tự nhiên mà thành, đấy mới là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Chúng ta phải nhận thức, phải học tập điều này.

Căn bệnh của người thế gian là thường nghĩ ḿnh đúng, thường thích sửa đổi người khác, buộc người khác phải theo ḿnh, người thế gian như vậy đó. Chẳng thể thuận theo căn tánh và ḷng ưa thích của người ta, chẳng thể tùy thuận. Trong mười đại nguyện vương có nói “tùy hỷ công đức”, phải học tùy hỷ, phải hằng thuận. Con người có thể tùy hỷ và hằng thuận, tâm chính ḿnh nhất định phải thanh tịnh. V́ thế nói phải vĩnh viễn giữ sao cho không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước nơi cảnh giới, hết thảy tùy duyên, quyết định không phan duyên. Đó là “chứng tu hành chi thần thuật” (phương thức thần diệu để tu hành chứng quả”) chữ “thần thuật” (phương thức thần diệu) chuyên chỉ pháp môn Tín Nguyện Tŕ Danh, là “siêu phương tiện chi chánh đồ” (con đường chánh phương tiện siêu thắng).

 

Phá tử sanh trập hộ chi lôi đ́nh.

  死生蟄戶之雷霆。

(Sấm sét phá tan [giấc ngủ] tử sanh của loài sâu bọ).

 

“Trập” () là những loài trùng nhỏ, có rất nhiều loài động vật nhỏ ngủ Đông, mùa Đông về bèn ngủ, thời gian rất dài. Đến lúc nào chúng mới tỉnh? Vào ngày Kinh Trập, trời Xuân sấm rền, tiếng sấm kinh động chúng, chúng bèn tỉnh dậy. Do vậy, tiết khí ấy được gọi là tiết Kinh Trập (kinh động sâu bọ)[3]. Ở đây nói “phá tử sanh trập hộ chi lôi đ́nh” nghĩa là giống như sấm mùa Xuân kinh động, lay tỉnh những động vật ngủ Đông thức dậy.

 

Chúc mê vọng u cù chi nhật nguyệt.

迷妄幽衢之日月。

(Như mặt trời, mặt trăng chiếu tỏ nẻo mê vọng).

 

“Chúc” () là chiếu sáng, chiếu tỏ. “Chúc mê vọng u cù chi nhật nguyệt”: Cù là con đường, “u cù” (幽衢) là con đường nhỏ. Câu này có nghĩa là Phật hiệu giống như mặt trời, mặt trăng, chiếu rơ ràng đường lối khiến quư vị không bị lầm đường, chẳng bị lạc lối. Đây đều là những tỷ dụ, nhằm sánh ví công đức thành tựu thù thắng của pháp môn Niệm Phật, trỗi vượt hết thảy các pháp môn khác. Tu học mọi pháp môn nhất định đ̣i hỏi đầy đủ rất nhiều điều kiện, khuyết một điều kiện nào sẽ chẳng thể thành tựu. Chỉ riêng pháp môn này đơn giản, điều kiện ít nhất, chỉ cần Tín, chỉ cần Nguyện, cốt sao chịu niệm Phật, cốt sao quư vị có thể buông xuống vạn duyên là thành tựu. V́ thế, trong hết thảy pháp môn, pháp môn Niệm Phật ít điều kiện nhất, đơn giản nhất, ngay cả kinh điển cũng chỉ có ba kinh một luận. Nói thật ra, chỉ có ba kinh, c̣n một luận của Thiên Thân Bồ Tát (tức Văng Sanh Luận) giống như một bản báo cáo tâm đắc từ việc tu tập pháp môn Niệm Phật của chính Ngài đưa cho mọi người tham khảo! Ngài tu hành như thế nào mà được thành tựu, đó là một phần tài liệu tham khảo. Kinh điển thực sự chỉ có ba bộ kinh, quư vị đều đọc cả rồi, phân lượng không nhiều. Kinh có phân lượng lớn nhất là kinh Vô Lượng Thọ, hiện tại có nhiều người mỗi ngày niệm kinh Vô Lượng Thọ bao nhiêu lượt. Đơn giản nhất là kinh A Di Đà, từ đầu đến cuối niệm một biến mất năm phút; đơn giản, dễ dàng đến như thế đó.

      Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ địch không lại phiền năo, tập khí, khó ở chỗ này! Không biết dùng phương pháp tốt đẹp đến ngần này, tức là phương pháp “tịnh niệm tiếp nối”, bốn chữ này không làm được! Nói thật ra, bốn chữ này ai cũng đều phải làm được, v́ sao làm không được? V́ phiền năo tập khí quá nặng, chẳng thể khắc phục phiền năo, chẳng thể biến niệm Phật thành một thói quen. Vấn đề thực sự ở đây vẫn như Thiện Đạo đại sư đă dạy chẳng sai: “Tổng tại ngộ duyên bất đồng” (toàn là do gặp duyên bất đồng). Duyên là ǵ? Thầy giỏi, đồng học tốt, hoàn cảnh học tập tốt, đấy chính là “gặp duyên bất đồng”. Nghiệp chướng dẫu nặng, nhưng nếu gặp được duyên tốt, có thầy giỏi dạy ḿnh, có đồng học tốt có thể thường xuyên cảnh tỉnh ḿnh, có hoàn cảnh tu học tốt đẹp, không ai chẳng thành công. Tổ sư đại đức nói: “Vạn người tu, vạn người về” là nói thật đấy, không giả chút nào! Chúng tôi tin ai cũng có thể tu pháp môn Niệm Phật, ai trong một đời này cũng có thể thành tựu viên măn. Chúng ta nói đến duyên th́ pháp sự Tam Thời Hệ Niệm là duyên thù thắng nhất, ḥa thượng chủ pháp là thiện tri thức, chúng xuất gia và tại gia cùng tu là thiện hữu, đạo tràng là hoàn cảnh niệm Phật tốt nhất, duyên đầy đủ!

Khải thỉnh giảng giải Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự lần này là Hồ cư sĩ. Lúc mẹ bà ta lâm trọng bệnh, trong lúc c̣n đang nằm bệnh, bà ta đến thỉnh cầu tôi đem công đức này hồi hướng cho mẹ bà. Nếu tuổi thọ vẫn c̣n, hy vọng bệnh bà cụ sớm ngày b́nh phục; nếu thọ mạng đă hết, sẽ giúp cho cụ niệm Phật văng sanh. Ḷng hiếu thảo ấy khiến cho chúng tôi cảm động, v́ thế, đem pháp sự này giảng từ đầu đến cuối một lượt. Tôi ước tính phải mất một trăm giờ, quả nhiên không sai. Bữa nay chúng tôi giảng đến tập thứ năm mươi hai, mỗi tập là hai tiếng đồng hồ, tức là một trăm lẻ bốn giờ. Chúng tôi nghĩ phần sau không nhiều, có lẽ chừng hai ba lần nữa là giảng xong, tôi nghĩ nhiều nhất không quá sáu tiếng đồng hồ, tức giảng ba lần nữa là viên măn. Mẹ bà Hồ đă văng sanh rồi, đem công đức này hồi hướng cho bà cụ, giúp cho bà cụ tăng cao phẩm vị. Phần khai thị của thiền sư Trung Phong đến đây là hết một đoạn. Chúng ta xem phần tiếp theo, tức là phần phó chúc và khuyến khích:

 

Kim tiêu Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự tương viên.

宵三時繫念佛事將圓。

(Phật sự Tam Thời Hệ Niệm đêm nay sắp viên măn).

 

Đây là thời hệ niệm thứ ba, nhất tâm hệ niệm A Di Đà Phật, mọi người chúng ta cùng tu, Phật sự này sắp viên măn rồi.

 

Vong linh thừa tư thượng thiện, quyết định văng sanh.

靈承茲上善。決定往生。

(Vong linh nhờ vào thiện sự bậc thượng này, nhất định văng sanh).

 

Tám chữ này quan trọng lắm! ” () nghĩa là “này”, nói theo văn Bạch Thoại là “giá cá” (這個: cái này). Quư vị nhờ vào “thượng thiện này”, thượng thiện chỉ cho Phật sự này. Phật sự Tam Thời Hệ Niệm chính là hành pháp thượng thiện, là phương pháp tu hành “quyết định văng sanh”, lời lẽ kiên quyết khẳng định, không có mảy may nghi hoặc nào.

 

Thả đạo nhất niệm vị manh dĩ tiền, hoàn hữu giả cá tiêu tức dă vô.

道一念未萌以前。還有者箇消息也無。

(Lại nói: Trước khi một niệm vừa chớm, c̣n có tin tức nào hay không?)

 

Lời lẽ này đều là ngữ khí Thiền tông. Ngài Trung Phong là thiền sư, chúng ta thường thấy ư vị nhà Thiền trong văn bản Hệ Niệm. “Thả đạo nhất niệm vị manh” ư nói: Lúc một niệm chưa sanh, trước khi một niệm chưa sanh, “hoàn hữu giả cá tiêu tức dă vô”: Có tin tức ǵ hay không? Nhà Thiền nói đến Nghi, tiểu nghi được tiểu ngộ, đại nghi được đại ngộ. Không nghi sẽ không ngộ. V́ thế, đường chủ Thiền Đường thường dùng những phương cách khơi gợi nghi t́nh của mọi người. Nghi t́nh ấy không được giải đáp. Nếu giải đáp, quư vị sẽ không thể ngộ. Nếu không giải đáp th́ nghe xong, có người hoát nhiên khai ngộ, có người ngơ ngác không biết, những lời ấy gọi là “cơ phong ngữ”, không đạt đến cảnh giới ấy nghe không hiểu được. Tiếp theo đó, đại sư lại có một bài kệ:

 

Thị tâm không tịch niệm hà y?

心空寂念何依。

(Tâm này trống lặng, niệm theo đâu?)

 

“Nhất niệm vị manh” (một niệm chưa chớm), một niệm chẳng sanh tâm ấy không tịch. Hỏi quư vị c̣n có tin tức ǵ hay không? Niệm nương vào đâu? Nói thật ra, ư nghĩa của câu này rất phong phú. “Thị tâm”, ở đây chúng ta đọc thẳng xuống, “tâm này”. “Không tịch” là Bản Giác, tâm là trạm tịch linh minh, niệm là Thỉ Giác, Thỉ Giác hợp với Bản Giác, đại giác rạng ngời. Chân Như Lư địa, pháp vốn là như thế, chẳng thể nói nó hữu y hay vô y. Hữu y hay vô y, quư vị khởi lên ư niệm, ư niệm ấy chưa khởi là nhất niệm chưa chớm. V́ thế, câu này nhằm giải đáp câu hỏi ở phần trên. Tiếp đó là hoàn toàn áp dụng vào sự tướng:

 

Cố quốc vân quy thục vị quy?

國云歸孰未歸。

(Nước cũ bảo về, ai chưa về?)

 

“Cố quốc” chính là nhà cũ của quư vị, nhà cũ nơi đâu? Tại thế giới Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật chẳng phải là mong sanh về thế giới Cực Lạc ư? Hiện tại vẫn chưa về. Thế nhưng nay chúng ta coi như đă hiểu rơ rồi, có thực sự thấu hiểu hay không vẫn là ẩn số! Thực sự hiểu thấu th́ hăy tích cực mau trở về nhà, chúng ta lữ du đến nơi đây, nơi đây sanh ra lắm chuyện phiền toái lắm, nơi đây có động loạn. Ngay cả Khổng phu tử c̣n nói: “Nguy bang bất cư, loạn bang bất nhập” (Nước nguy không ở, nước loạn không vào!) Nay địa cầu này vừa nguy vừa loạn, về đi thôi! Lời này có ư nghĩa là như thế!

 

Hoa ngoại ngọc kê đề hiểu nhật.

外玉雞啼曉日。

(Ngoài hoa gà ngọc gáy b́nh minh).

 

“Hoa” () là hoa sen, tức hoa sen trong ao bảy báu. Câu này hàm nghĩa phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui. “Ngọc kê đề hiểu nhật” (gà ngọc gáy rạng đông) là tỷ dụ: Phá mê khai ngộ ví như trời rạng đông, trời sáng. Lúc nào trời sáng? Nay chúng ta mê không giác, giống như ở trong tối tăm, một niệm hồi quang giống như trời rạng sáng. Trời vừa rạng đông gà bèn gáy, ví như khai ngộ, ví như từ mê vọng mà quay đầu lại.

 

Viễn nghênh tân Phật phụng từ oai.

迎新佛奉慈威。

(Xa đón tân Phật phụng từ oai).

 

Sanh về thế giới Cực Lạc bèn thành Phật, “tân Phật” đấy! Ngoài Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, c̣n có mọi Bồ Tát, Thanh Văn đại chúng từ Tây Phương Cực Lạc thế giới đều đến đón quư vị. Họ là những người đă văng sanh trong quá khứ, văng sanh trước, đều là người quư vị quen biết, đều là người nhà thân quyến của quư vị, là đồng tham đạo hữu của chính ḿnh, trong đời quá khứ cùng tu hành một chỗ, họ thành tựu, ta chưa thành tựu. Ta vẫn ch́m nổi trong luân hồi; kể ra c̣n khá lắm, hôm nay ta giác ngộ, ta thành tựu, họ bèn theo Phật đến tiếp dẫn.

V́ thế, phải biết hảo bằng hữu chân chánh, bằng hữu hiểu ḿnh đều ở thế giới Cực Lạc. Do vậy, đến thế giới Cực Lạc không cô đơn, người nhà quyến thuộc trong đời đời kiếp kiếp, thân bằng hảo hữu, đồng tham đạo hữu, đến thế giới Cực Lạc đều gặp mặt hết. Hỏi quư vị là thời đại này, thời đại nọ mới có ư vị. Rồi sao nữa? Ai nấy đều có thành tựu, không có phàm phu, đúng như kinh đă dạy: “Toàn bộ đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát ”, cảnh giới ấy phi thường lắm! Nếu chúng ta hiểu rơ chân tướng sự thật ấy sẽ không c̣n do dự nữa, thật đấy, ư niệm ǵ cũng đều đoạn, nhất tâm nhất ư niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. “Thừa tư thượng thiện, quyết định văng sanh” (nương theo thiện sự bậc thượng này, quyết định văng sanh). Nay đă hết giờ rồi!

 

Tập 53

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần niệm Phật lần thứ hai trong thời thứ ba, nhiễu niệm:

 

      Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.

      南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。

 

      Lần này cũng nhiễu niệm một ngàn tiếng, chúng ta xem chung [phần này] với những phần trước: Trong Hệ Niệm Pháp Sự này, gộp chung cả ba thời lại, mỗi người niệm khoảng chừng bốn ngàn tiếng Phật hiệu, mười người là bốn vạn tiếng, một trăm người là bốn mươi vạn tiếng. Thông thường trong Hệ Niệm Pháp Sự này, lúc chúng tôi tổ chức số người tham dự khoảng từ một trăm đến ba trăm người. Nếu tính là ba trăm người th́ là ba lần bốn ngàn là một trăm hai mươi vạn tiếng Phật hiệu, có phải là sức mạnh rất lớn hay không? Huống chi lại c̣n có tán Phật, tụng kinh, niệm chú, khai thị, thuyết pháp, phát nguyện, hồi hướng, sám hối! Quán sát như vậy quư vị mới biết pháp sự này thù thắng.

      Trong những năm qua, tại các nơi trên toàn thế giới, chúng tôi đề xướng, mỗi Tịnh Tông Học Hội đều thực hiện kèm thêm pháp hội này. Đối với thời đại tai nạn lớn lao này, chắc chắn pháp sự này mang lại lợi ích tiêu tai miễn nạn (tiêu trừ tai chướng, thoát khỏi hoạn nạn). Lợi ích ấy chúng ta có thể nh́n thấy từ thí nghiệm của tiến sĩ Giang Bổn Thắng tại hồ Tỳ Bà[4] ở Nhật Bản. Số người [tham dự thí nghiệm ấy] không đông, hơn ba chục người, với sức mạnh của ngần ấy người, trong ṿng một giờ, thỉnh một vị pháp sư hướng dẫn đại chúng niệm kinh, đem ư nguyện và thiện ư của chính ḿnh hồi hướng cho nước trong hồ. Trong tâm mọi người có ư niệm như vậy, ư niệm hết sức thành khẩn, dị khẩu đồng âm nói: “Nước hồ thanh khiết, nước hồ trong sạch, chúng tôi hết sức hoan hỷ, vô cùng cảm tạ”. Cầu đảo trong một tiếng đồng hồ, hai ba ngày sau, nước hồ quả nhiên trong vắt, không dậy sóng ṃi, không ô nhiễm nữa. Quư vị biết là nước hồ được thiện ư gia tŕ.

      Thực vật và khoáng vật đều có bản năng thấy được, nghe được, hiểu được, biết được; bản năng ấy chính là bản năng của Pháp Tánh. Chúng ta thường gọi những đức tánh sẵn có nơi Pháp Tánh là “nhân từ, bác ái”. Mười mấy năm gần đây, chúng tôi quy kết giáo nghĩa Đại Thừa, nêu ra cương lănh tu hành “chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi”. Đấy chính là các đức hạnh sẵn có nơi Pháp Tánh. Có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết là bản năng sẵn có nơi Pháp Tánh. Kinh dạy như thế, lời khai thị của thiền sư Trung Phong ở đây cũng nhằm nói như thế. Hiện thời, khoa học đă dần dần chứng minh được [những điều này].

      Ngày hôm qua tôi nhận được một bản fax, h́nh như là bản chụp của một cuốn sách được xuất bản ở Đài Loan, vốn là một báo cáo mang tựa đề Đời Sống Bí Mật Của Thực Vật. Có người đă tốn một thời gian rất dài, dùng phương pháp khoa học để thí nghiệm, phát hiện thực vật có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, lại không bị ngăn trở bởi khoảng cách. Thực vật hoàn toàn hiểu rơ tâm ư của con người đối với chúng. Từ trước đến nay, chúng ta cứ tưởng thực vật hoàn toàn không có sanh mạng, nay các nhà khoa học nghiên cứu, phát hiện thực vật có sanh mạng, người ta dùng thiện ư chăm sóc chúng, chúng sẽ cảm ơn. Nếu người chăm sóc chúng có chuyện đi xa, chúng cảm thấy rất buồn bă, rất đau xót, gục đầu ủ rũ. Nếu người chăm sóc chúng trở về, chúng rất vui vẻ, thấy rất rơ điều này. Toàn thể vũ trụ là sống động!

Chúng ta có cả mấy trăm người ở cùng một chỗ, niệm Phật là thông điệp thù thắng nhất, chân thật nhất, là lời chúc phước tốt lành nhất, thiên địa quỷ thần đều cảm động! V́ thế, trong Hệ Niệm Pháp Sự, chánh yếu nhất là niệm Phật. Nghe khai thị xong, buông xuống vạn duyên, nhất tâm nhất ư chấp tŕ Phật hiệu, thực sự không xen tạp, câu này tiếp nối câu kia không gián đoạn. Niệm một ngàn tiếng, thông thường chúng ta niệm một ngàn tám mươi tiếng. Mỗi một xâu chuỗi là một trăm lẻ tám tiếng, mười chuỗi là một ngàn lẻ tám mươi tiếng. Đương nhiên lúc niệm Phật thời gian càng dài càng tốt, nhân v́ trong Pháp Sự, khai thị rất nhiều, khai thị hết sức quư báu, đúng là dương gian và âm cảnh cùng được lợi.

 

33. Từ Vân Sám Chủ Tịnh Độ Văn

 

Trong đoạn tiếp theo, thiền sư Trung Phong sử dụng bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ, giống như trong thời thứ hai, thiền sư trích dẫn bài văn phát nguyện của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây, chúng ta dường như thấy được tâm lượng của cổ đức, các Ngài bao dung, không phân biệt đây - kia, không cứ nhất định cái ǵ cũng phải là của ḿnh. Trong thời thứ hai chúng ta thấy bài “thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, cửu phẩm độ chúng sanh, oai đức vô cùng tận”. Đấy chính là bài văn phát nguyện của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây, chúng ta đọc bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ[5]. Từ chỗ này chúng ta có thể thấy được tâm lượng của thiền sư: bao dung, tự - tha bất nhị. Lời người khác nói hay dạy tương ứng với những ǵ chính ḿnh đang tu th́ không c̣n là của người khác nữa mà là của chính ḿnh!

Quư vị thấy trong những phần trước, thiền sư dạy: “Ngă tâm tức A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức thị ngă tâm” (tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta). A Di Đà Phật và ta đă là không hai th́ Đại Từ Bồ Tát cũng không hai, Đại Từ Bồ Tát chính là tâm ta, tâm ta chính là Đại Từ Bồ Tát. Ở đây cũng giống như vậy, tâm ta chính là Từ Vân Sám Chủ, Từ Vân Sám Chủ chính là tâm ta, tự - tha bất nhị, tánh - tướng như một. Con người khế nhập được cảnh giới này th́ thiên hạ thái b́nh, há c̣n có tranh chấp nữa ư? Không c̣n! Tự ḿnh không tranh chấp với chính ḿnh! Bài văn này chúng ta đọc rất nhiều, có rất nhiều đồng tu thường xuyên niệm. Nay chúng ta cũng đọc đoạn văn này.

Nhất tâm quy mạng.

一心歸命。

(Một ḷng quy mạng).

 

Vừa mở đầu đă chỉ điểm chúng ta. Quy Mạng cũng là Quy Y. Từ mặt chữ, có thể thấy là quy mạng so với quy y càng phải chân thành hơn, chân thành đến cùng cực. Quy () là quay về, toàn bộ quay trở lại. “Nhất tâm quy mạng”, quy về đâu?

 

Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.

極樂世界。阿彌陀佛。

 

Đây là người thực sự giác ngộ triệt để. Nếu không phải là người thực sự giác ngộ triệt để, sẽ không thể quy y hoàn toàn “Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật”. Thực sự làm được như vậy, cổ đức thường nói có hai loại người:

1) Một là người thượng căn lợi trí, họ hoàn toàn hiểu rơ Thật Tướng của các pháp, không ngờ vực mảy may. V́ thế họ có thể triệt để buông xuống vạn sự vạn pháp dù là thế gian hay xuất thế gian, “nhất tâm quy mạng”. Thượng căn lợi trí mà! Những ai vậy? Nay chúng ta thấy họ chính là Pháp Thân Bồ Tát trong pháp Đại Thừa. Nhất là Thập Địa Bồ Tát, từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật, đúng là nhất tâm quy mạng.

2) Ngoài ra là hạng người hạ căn, ngu độn, ngạn ngữ thường nói là “ngu bất khả cập” (ngu không ai bằng). Hạng người hạ căn ngu độn ấy chúng ta không thể sánh bằng. V́ sao? Họ cũng nhất tâm quy mạng, hỏi đến đạo lư họ hoàn toàn không hiểu, thầy họ dạy bảo, họ bèn thật thà niệm Phật. Họ ngoan ngoăn niệm Phật, rơ ràng là một vọng niệm cũng chẳng có, hoàn toàn phó thác, nhất tâm quy mạng, họ thực sự làm được. Hỏi họ đạo lư ǵ họ cũng chẳng biết, thầy dạy tôi làm sao, tôi cứ làm như thế đó.

Cận đại, chúng ta đọc cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục, thấy pháp sư Tu Vô, hoặc vị “pháp sư phơi nến” (tên họ vị này là ǵ trong nhất thời tôi không nhớ, trước kia nhớ kỹ lắm)[6]. Ngoài ra, lăo pháp sư Đàm Hư thường kể lăo ḥa thượng Đế Nhàn có một đồ đệ làm nghề vá nồi, chưa hề đi học, không biết chữ, chất phác. Sư phụ bảo làm sao, bèn làm đúng y như thế, làm triệt để, suốt đời không hoài nghi. Họ thực sự tu tập không xen tạp, không gián đoạn, bèn thành công. Đúng là chẳng thể nghĩ bàn! Khó nhất là những kẻ thượng chẳng phải thượng, hạ chẳng phải hạ, những kẻ được gọi là “lơ lơ lửng lửng” ở giữa là phiền toái nhất! Quư vị bảo họ không có trí huệ ư? H́nh như cũng thông minh. Quư vị bảo họ thực sự có trí huệ ư? Họ nghi lự trùng trùng, người như vậy khó độ lắm! Chúng ta biết lúc đức Phật tại thế giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm là v́ ai mà giảng vậy? Chính v́ những kẻ này. Thượng trí, hạ ngu đơn giản lắm, đức Phật độ bọn họ chẳng tốn sức, độ rất dễ dàng. Ân đức của Phật đối với chúng ta lớn lao quá! Đọc đến đoạn văn của Từ Vân đại sư ở đây, chúng tôi có cảm xúc rất sâu! Phải thường nghĩ bản thân chưa thực hiện được chuyện nhất tâm quy mạng “Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật”! Bài Tịnh Độ Văn vẫn là văn cầu nguyện, cầu đảo, phát nguyện:

 

Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă, từ thệ nhiếp ngă.

願以淨光照我。慈誓攝我。

(Nguyện dùng quang minh thanh tịnh chiếu đến con, dùng thệ nguyện từ bi nhiếp độ con).

 

Lời nguyện này rất linh, cảm ứng hết sức linh mẫn. V́ sao? Nhất tâm quy mạng mà! Nhất tâm là tâm chí thành, chân thành đến cùng cực. Trong tâm không xen tạp mảy may vọng tưởng nào, đương nhiên phân biệt, chấp trước không có. Đúng là thực sự không hoài nghi, không xen tạp, đấy mới là nhất tâm. Nhất tâm cầu nguyện th́ cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. “Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă”: A Di Đà Phật dùng ánh sáng Bát Nhă viên măn rốt ráo nơi tự tánh, quang minh ấy không nhiễm ô, vốn sẵn thanh tịnh, vĩnh viễn chẳng bị nhiễm ô. Tâm tánh của Phật phóng quang, thế giới cũng phóng quang minh, thế giới là Pháp Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh. Quang minh của thế giới là ǵ? Người Hoa gọi quang minh của thế giới là Khí. Người Hoa gọi là Khí hoặc Phong Thủy. Ở chỗ này, Phong Thủy tụ khí cực tốt, trong nhà Phật gọi là “thế giới phóng quang”, người ngoại quốc gọi là Từ Trường.

Địa cầu có từ trường của địa cầu, thái dương hệ có từ trường của thái dương hệ. Khoa học gia thường nói như vậy, chúng ta nghe đă quen tai. Thế giới phóng quang! Sát-độ (cơi Phật) phóng quang! Quang minh ấy chính là đức năng sẵn có của hết thảy các pháp, không từ bên ngoài đến, mỗi một chúng sanh đều có, không khác biệt, hoàn toàn tương đồng. Vậy th́ tại sao lại có sự khác biệt rất lớn nơi sự tướng? Đức Phật dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ đức tướng, đản dĩ vọng tưởng chấp trước nhi bất năng chứng đắc” (Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc). Đức Phật dạy rơ ràng, minh bạch như thế đó, v́ sao quư vị bị mất quang minh? V́ có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước khiến cho đức năng nơi tự tánh bị che lấp. Quư vị phải biết: Bị che lấp, chứ hoàn toàn chẳng bị mất đi. Giống như ngày mưa trời u ám, mây đen dày kịt che khuất thái dương, thái dương không mất đi, vẫn tồn tại, chỉ bị chướng ngại, che khuất, tỏa ánh sáng yếu ớt, chẳng thấy được đức dụng chói lọi viên măn. Nguyên do là như vậy đó!

Nếu chúng ta trừ khử mây đen vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ đức năng nơi tự tánh sẽ hiện tiền viên măn. Ánh thái dương lại chiếu khắp nơi. Nay chúng ta đang mê, tịnh quang của tánh đức bị khuất đi, nay cầu Phật gia tŕ, Phật quang chiếu gội, khiến chướng ngại của chúng ta bị hóa giải, đây là chuyện thật, không giả đâu! Nay chúng ta phải thực hiện cụ thể bằng cách nào? Phật quang chiếu đến ta, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều bị hóa giải; phiền năo tập khí dần dần tiêu trừ, chuyện tốt! Phật quang nhiễu quanh thân chúng ta, vấn đề là quư vị phải tiếp nhận. Quư vị nói: “Tôi không thấy Phật quang, làm sao tiếp nhận?” Kinh sách ở đâu là Phật phóng quang tại chỗ đó. Do vậy, v́ sao chúng tôi thường nghĩ phải ấn tống Đại Tạng Kinh ḥng giới thiệu kho báu chân thật nhất (Pháp Bảo) trong thế gian và xuất thế gian cho hết thảy

chúng sanh? “Tịnh quang chiếu ngă” đấy!

Trong thời gần đây, lại có thêm một tầng chướng ngại. Chướng ngại ǵ vậy? Người hiện tại không học văn chương Văn Ngôn. Phải biết văn chương Văn Ngôn là một sáng tạo trí huệ khôn sánh của tổ tiên xa xưa Trung Quốc. Bởi lẽ, họ biết ngôn ngữ sẽ bị biến chuyển theo thời đại; nếu văn tự giống hệt như ngôn ngữ [thường nhật] th́ người hiện thời nghe những lời cổ nhân nói sẽ chẳng hiểu ǵ. Văn tự cổ nhân viết nay ta không có cách ǵ đọc được, phải t́m chuyên gia, học giả khảo cổ, mà vẫn chưa chắc thực sự hiểu được ư nghĩa, đa số chỉ là suy đoán. V́ thế, lăo tổ tông của người Hoa thông minh, tách rời ngôn ngữ và văn tự. Không cần biết ngôn ngữ biến hóa ra sao, văn tự quyết định không thay đổi. Chiêu này lợi hại lắm, văn tự là công cụ, dùng văn tự ghi chép lại những trí huệ và kinh nghiệm của tổ tiên xa xưa, truyền lại cho con cháu đời sau, khiến cho con cháu đời sau đọc đến văn tự cũng giống như tṛ chuyện trao đổi ở ngay trước mặt nhau. Đấy là một phát minh hết sức vĩ đại, cả thế giới có dân tộc nước nào có được như thế đâu?

      Hiện tại người ta không muốn học nữa, cho là văn chương Văn Ngôn khó khăn quá. Thật ra, văn chương Văn Ngôn không khó khăn chút nào hết, vô cùng dễ dàng! Không học th́ khó, nếu quư vị học rồi sẽ không khó nữa. Xưa kia tôi đến Đài Loan, tôi c̣n thâu thập được mười mấy bản, không nhiều, h́nh như mười hai, mười ba bản thôi, những bản văn ấy là sách giáo khoa của học tṛ Tiểu Học thời đầu Dân Quốc. Trong những sách ấy, có sách dạy học tṛ tiểu học làm văn thời đầu Dân Quốc, tức là sách làm văn mẫu. Khi ấy, tôi thường dọn nhà trôi nổi khắp nơi, những cuốn sách ấy bị thất lạc, nay ước chừng chỉ c̣n năm, sáu quyển. Những loại văn chương dành cho trẻ nhỏ khoảng mười tuổi ấy nay sinh viên học khoa Văn của đại học chẳng những viết không được, mà đọc cũng thấy khó khăn, vẫn phải tra tự điển t́m tài liệu; chứng tỏ sinh viên khoa Văn trong đại học hiện thời tŕnh độ không bằng học tṛ tiểu học thời đầu Dân Quốc!

      Trẻ nhỏ độ mười tuổi c̣n có thể viết được văn chương, đương nhiên kinh Phật đối với bọn chúng chẳng khó khăn ǵ. Kinh Phật là loại văn Văn Ngôn đơn giản, rơ ràng nhất. Vào thời đầu Dân Quốc, với tŕnh độ văn học như vậy, học tṛ Tiểu Học có thể đọc kinh là v́ khi tổ sư đại đức dịch kinh, các Ngài đặc biệt dùng loại văn tự đơn giản, rơ ràng nhất. Trong văn học sử Trung Quốc, văn tự được dùng trong kinh Phật được gọi là Biến Thể Văn. Nếu quư vị đem so với cổ văn, chẳng hạn như lấy bộ Cổ Văn Quán Chỉ ra so, bất cứ thiên văn chương nào trong Cổ Văn Quán Chỉ cũng phức tạp hơn kinh Phật. Kinh Phật có thể nói là văn Bạch Thoại của thời ấy, ư các tổ sư phiên dịch kinh đều mong mỏi kinh Phật được lưu thông phổ biến, chẳng bị văn tự gây chướng ngại. Nay không đọc được văn chương Văn Ngôn là tăng thêm một tầng chướng ngại. Hiện nay, trong những điều khó khăn, lại có thêm một chuyện khó khăn nữa! Hiện thời mọi người dùng lối viết Giản Thể, không biết Phồn Thể[7], khó khăn lại nhiều thêm lên; có phải là rắc rối lắm hay không? Khiến cho Pháp Bảo thực sự vô thượng, là sách vở có thể giúp cho chúng ta giải quyết hết thảy vấn đề thế gian và xuất thế gian càng ngày càng cách xa chúng ta! Nghĩ đến điều này đúng là khiến cho người ta đau ḷng buốt dạ!

      Bọn con cháu đời sau chúng ta quên mất ân đức tổ tiên, không biết tổ tiên dụng tâm khổ sở, yêu thương con cháu sâu đậm. Do vậy, nay chúng ta đọc đến câu “tịnh quang chiếu ngă, từ thệ nhiếp ngă” ở đây, th́ “thệ” là bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng đều nhằm giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, văng sanh Tịnh Độ, một đời thành Phật. Phật có nguyện ấy, nay chúng ta có tâm, dùng chân tâm cầu khẩn, tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật. Phải thực sự tương ứng, chúng ta phải giống với bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật. Chúng ta đọc tụng kinh điển mỗi ngày, mỗi lần quư vị đọc tụng là một lần Phật quang chiếu soi, Phật quang chiếu rọi quư vị. Quư vị niệm Phật, mỗi câu Phật hiệu là một lần Phật quang chiếu đến.

      Trong Mật Giáo có Đại Quán Đảnh, Quán Đảnh nghĩa là ǵ? Trong bản chú giải Vô Lượng Thọ Kinh, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đă giảng rất rơ ràng. Cụ vốn là một vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông, cụ giảng rất dễ hiểu. Trong từ ngữ Quán Đảnh, chữ Đảnh () chỉ cho Phật pháp tối cao, đại pháp vô thượng chí cao. Quán () là ǵ? Quán là truyền thụ. Nói cách khác, ư nghĩa thực sự của Quán Đảnh là đem vô thượng đại pháp truyền cho quư vị th́ gọi là Quán Đảnh. Nay chúng ta biết vô thượng đại pháp là ǵ? Là Vô Lượng Thọ Kinh, là A Di Đà Kinh, vô thượng đại pháp đấy!

      Vào thời đại Tùy - Đường, những cao tăng đại đức là tổ sư các tông phái, hầu như đều công nhận kinh Hoa Nghiêm là kinh bậc nhất trong hết thảy các kinh do đức Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, gọi Hoa Nghiêm là “kinh trung chi vương” (vua của các kinh). Hoa Nghiêm đến cuối cùng quy về Tịnh Độ. V́ thế, tổ sư đại đức nói Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, những bộ kinh lớn ấy đều là những kinh chỉ dẫn [hành nhân học Phật] hướng về kinh Vô Lượng Thọ, những kinh to luận lớn chỉ dẫn quư vị hướng về kinh Vô Lượng Thọ, dẫn dắt quư vị quay về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chúng tôi thấy những lời ấy không sai chút nào, xác thực là như thế, dẫn dắt về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tây phương Cực Lạc thế giới mới là bậc nhất trong những thứ bậc nhất, thù thắng khôn sánh.

      Khi giới thiệu những bộ kinh lớn ấy, chúng tôi đă nói rất rơ ràng, chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối một lượt chính là A Di Đà Phật và mười phương chư Phật Như Lai đă quán đảnh cho ḿnh một lượt. Quư vị đọc hai lần là được quán đảnh hai lần. Trong một đời này, quư vị được chư Phật Như Lai quán đảnh không biết bao nhiêu lần! Thế mà vẫn không khai ngộ, vẫn cứ hồ đồ! Hăy nghĩ xem! Quư vị nghĩ xem: Nghiệp chướng sâu nặng quá, hằng ngày quán đảnh mà quư vị vẫn không khai ngộ. Do đây phải biết nghiệp chướng, tập khí, phiền năo đáng sợ! Làm thế nào để tiếp nhận Phật quang chiếu gội, tiếp nhận đại pháp quán đảnh? Trong những buổi giảng, chúng tôi cũng thường nói: “Phải trừ khử chướng ngại của chính ḿnh!” Chúng ta có chướng ngại nghiêm trọng, chướng ngại ḿnh, ḱm hăm ḿnh, Phật quang không chiếu gội được, không có cách ǵ tiếp nhận quán đảnh! Tôi thường khuyên các đồng học, không biết đă khuyên bao nhiêu lần, phải dẹp trừ ư niệm tự tư tự lợi, buông tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông hưởng thụ ngũ dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống. Nếu thực sự buông xuống được, chướng ngại sẽ không c̣n nữa, “tịnh quang chiếu ngă”, thực sự chiếu đến, “từ thệ nhiếp ngă”, thực sự có sức nhiếp thọ mà quư vị sẽ cảm nhận được. Đem đảnh pháp (pháp vô thượng) rưới vào ḿnh, ḿnh cũng cảm nhận được.

      Có thể nói là phiền năo của quư vị mỗi tháng nhẹ đi, phiền năo nhẹ đi theo từng tháng, trí huệ tăng trưởng theo từng tháng, pháp hỷ sung măn, quư vị bèn hết sức vui vẻ, yêu thích học tập những pháp môn ấy. V́ sao? Quư vị thực sự được lợi ích, công phu quả nhiên đắc lực. Mỗi một tuần quư vị cảm thấy khác hẳn, tức là tuần nào cũng tiến bộ, rơ rệt, hiển nhiên. Lúc công phu đạt đến một mức độ cao, quư vị cảm thấy như thế nào? Mỗi ngày khác nhau. Ngày hôm nay khác với ngày hôm qua, ngày hôm qua khác hẳn ngày trước đó, tiến bộ nhanh chóng! Chỉ cần thực sự thực hiện, chuyện này mọi người đều b́nh đẳng, vốn sẵn b́nh đẳng, vấn đề là quư vị có chịu thực hiện hay không? Chịu buông xuống hay không? Mấu chốt là ở chỗ này. Thấy thấu suốt bèn buông xuống, buông xuống bèn thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt hỗ trợ buông xuống, buông xuống hỗ trợ thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt là trí huệ, buông xuống là công phu. Hễ buông xuống tâm bèn thanh tịnh, tâm thanh tịnh sanh ra trí huệ.

      V́ sao không chịu buông xuống? V́ sao đối với tập khí, phiền năo vẫn tham đắm như thế? Phải thường ghi nhớ những ǵ đức Phật giảng trong hội Bát Nhă là sự thật: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng), phải thường suy tưởng! V́ sao? Để đối phó mê hoặc, tham luyến từ vô thỉ kiếp đến nay. Quư vị không buông xuống được là v́ mê hoặc, tham luyến, bất cứ ǵ vẫn muốn giành lấy. Thực sự thấu hiểu th́ người ta có đưa cho ḿnh, ḿnh cũng không cần. V́ sao? Hư vọng! Không thật! Vạn pháp đều không, kể cả thân thể của chính ḿnh cũng đều hư huyễn, chẳng thể được! Kinh Bát Nhă giảng rất hay: “Nhất thiết pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc” (hết thảy pháp vô sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể được). Thực sự thực hiện những lời giáo huấn ấy của đức Thế Tôn trong cuộc sống thường ngày th́ mỗi ngày quư vị có tiến bộ, ngày ngày tăng trưởng trí huệ, giống như trong Đàn Kinh, Huệ Năng đại sư đă nói, Ngài thưa cùng Ngũ Tổ: “Trong tâm đệ tử thường sanh trí huệ”. Cảnh giới ấy không phải là ngày ngày sanh trí huệ, mà là niệm niệm sanh trí huệ! Đó là hạng người nào vậy? Pháp Thân Bồ Tát! Minh tâm kiến tánh, niệm niệm sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo, phiền năo không có, đoạn sạch sẽ rồi!

      V́ thế, ở đây, chúng ta nhất định phải biết nhất tâm quy mạng, nhất tâm cầu nguyện, cầu Phật gia tŕ, chúng ta sẽ tiến bộ rất nhanh. Cầu nguyện th́ tự ḿnh phải có hành động; không có hành động chỉ nói xuông th́ là hư vọng, chẳng thể có cảm ứng, phải có hành động. Hành động như thế nào? Câu tiếp theo sẽ cho biết:

 

      Ngă kim chánh niệm, xưng Như Lai danh, vị Bồ Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ.

      我今正念。稱如來名。為菩提道。求生淨土。

      (Con nay chánh niệm, xưng danh Như Lai, v́ đạo Bồ Đề, cầu sanh Tịnh Độ).

 

      Đây là thể hiện ra hành động, thực sự mong cầu. Niệm Phật nhằm loại bỏ, xa ĺa tà niệm. Tà niệm là ǵ? Là tham luyến đối với hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian. Trong những buổi giảng, chúng tôi thường nói: Đối với hết thảy người, sự, vật, có ư niệm khống chế, có ư niệm chiếm hữu, những ư niệm ấy là tà niệm, đâu phải là chánh niệm! Ư niệm tổn người lợi ḿnh, ư niệm kiêu mạn, ghen ghét là tà niệm nghiêm trọng, thảy đều phải buông xuống. Chánh niệm là ǵ? Nhất tâm quy mạng, phát tâm Bồ Đề, chuyên cầu Tịnh Độ, đấy là chánh niệm. Tiếp theo đó lại nói rất rơ ràng: “Xưng Như Lai danh”, chánh niệm đấy! Trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, đó là chánh niệm. Ư niệm thuần chánh, trừ A Di Đà Phật ra, quyết định chẳng có một tà niệm nào xen tạp.

Ta xưng danh, ta cầu văng sanh, ta hy vọng thành Phật đạo, nhằm để làm ǵ? “Vị Bồ Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ”. Bồ Đề đạo chính là thấu hiểu triệt để rốt ráo viên măn chân tướng của nhân sinh vũ trụ, đó gọi là Bồ Đề đạo. Hiểu rơ rồi mới biết: Khắp pháp giới hư không giới chỉ là chính ḿnh. Ai biết sự thật ấy ? Không ai biết, chỉ có Pháp Thân Bồ Tát biết. Từ ngữ lục của Tông Môn, chúng ta nghe những người giác ngộ nói ra cảnh giới giác ngộ, họ nói: “Hư không pháp giới thị sa-môn nhất chích nhăn” (Hư không pháp giới là một con mắt của sa-môn). Nghĩa là sao? Hư không, pháp giới, sát-độ, chúng sanh và chính ḿnh là một Thể, gọi là Pháp Thân, thanh tịnh Pháp Thân. Pháp là ǵ? Pháp là hết thảy các pháp; v́ thế, đối với người thực sự giác ngộ hiểu thấu th́ hết thảy các pháp là tự thân, là chính ḿnh, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”.

Tâm hiện là Nhất Chân pháp giới, thức biến là mười pháp giới. Hoàn toàn là chính ḿnh, giống như nằm mộng. Mộng cảnh hoàn toàn do chính ḿnh tâm hiện thức biến, không có ǵ là pháp ngoài tâm cả! V́ vậy, nói: “Tâm ngoại vô pháp, pháp ngoại vô tâm” (Ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm). Tâm ở đâu? Tâm ở nơi các pháp. Pháp ở đâu? Pháp do Tâm hiện, Tâm và Pháp là một, không hai. Ngài A Nan t́m Tâm ở chỗ nào? Nói thật ra, về căn bản, Ngài cũng không hiểu, chẳng những không hiểu Chân Tâm, mà cũng không biết vọng tâm. Hiểu được một thứ th́ hiểu hết thảy. Quư vị hiểu chân tâm bèn biết vọng tâm. Triệt để hiểu rơ vọng tâm sẽ thấu hiểu chân tâm. Vũ trụ là một, sống động, là chính ḿnh. Chính ḿnh đối với chính ḿnh, lẽ đâu không yêu thương! V́ thế, Phật pháp nói: “Đồng thể đại từ, vô duyên đại bi”. Từ bi không có điều kiện, cũng không có đẳng cấp, b́nh đẳng.

Khắp pháp giới, hư không giới do chính ḿnh tâm hiện thức biến; v́ thế, trong hết thảy vạn pháp, vạn vật là chính ḿnh, là tự phần! Cớ sao không thương tiếc? Ta tiếc quư tṛng mắt của chính ḿnh, chẳng để cho một hạt bụi tro nhiễm ô [tṛng mắt]. Ta yêu mến thân thể ḿnh, nay hiểu rơ rồi, yêu mến hết thảy cơi nước và chúng sanh trọn khắp pháp giới, hư không giới. Đấy là Bồ Đề đạo! V́ vậy, cầu sanh Tịnh Độ chính là viên măn rốt ráo Phật quả vô thượng Bồ Đề, ta v́ điều đó mà cầu sanh Tịnh Độ. Đấy chính là bổn nguyện của Như Lai, hy vọng hết thảy chúng sanh nhanh chóng thành Phật, hoàn toàn tương ứng với bổn nguyện của Như Lai. A! Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ trong thời thứ ba:

 

Phật tích bổn thệ: Nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngă quốc, chí tâm tín nhạo, năi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác.

佛昔本誓。若有眾生。欲生我國。志心信樂。乃至十念。若不生者。不取正覺。

(Phật xưa đă thề: Nếu có chúng sanh muốn sanh cơi ta, chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm, nếu chẳng được sanh, chẳng lấy Chánh Giác).

 

Chúng ta xem đoạn này. Đoạn này nhắc tới lúc A Di Đà Phật tu hành Bồ Tát đạo. Từ kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đọc thấy, sau khi Ngài xuất gia, trở thành tỳ-kheo Pháp Tạng, đối trước Tự Tại Vương Phật phát bốn mươi tám nguyện. Chữ “bổn thệ” chỉ bốn mươi tám nguyện. Mỗi một nguyện trong bốn mươi tám nguyện đều nhằm dẫn dắt mười phương thế giới hết thảy chúng sanh văng sanh Tịnh Độ. Nguyện được nêu ở đây chính là nguyện thứ mười tám, bốn mươi tám nguyện quả thật lấy nguyện thứ mười tám làm trung tâm. Nguyện thứ mười tám nói ǵ? “Thập niệm tất sanh” (Mười niệm ắt được văng sanh). Mười niệm này là mười niệm lúc lâm chung, giả sử một người cả đời chưa từng tiếp xúc Phật pháp, lúc lâm chung có ai dạy kẻ ấy niệm Phật; kẻ ấy chịu tiếp nhận, thực sự chịu niệm, cầu nguyện văng sanh đều được văng sanh, pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn!

V́ thế, ở Nhật Bản nay có một tông phái mang tên Bổn Nguyện Niệm Phật. Nói thật ra, cổ nhân, cổ đại đức đề xướng bổn nguyện niệm Phật không sai, quyết định chính xác; nhưng con người hiện tại đề cao bổn nguyện niệm Phật lại là đầu cơ, mánh khóe, không thể văng sanh v́ không có thành ư! Bốn mươi tám nguyện họ không cần biết đến, chỉ chuyên biết đến nguyện thứ mười tám, sai lầm rồi! Chúng ta xem lời khai thị của thiền sư Trung Phong ở phần trên: Phát nguyện! Pháp môn này là Tín - Nguyện - Hạnh, hội đủ ba điều kiện. Nguyện phải tương ứng với bốn mươi tám nguyện, thiền sư Trung Phong giảng rất rơ ràng, rất minh bạch. Lời ấy không phải chỉ ḿnh Ngài nói mà tổ sư đại đức xưa nay đều nói như thế. Từ giáo pháp Đại Thừa chúng ta hiểu được ư nghĩa này, kinh Hoa Nghiêm thường nói: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (Một chính là hết thảy, hết thảy chính là một). Đây là một nguyên tắc cơ bản bất biến trong Phật pháp. Do vậy, quư vị phải hiểu: Mỗi một nguyện trong bốn mươi tám nguyện nhất định phải bao hàm bốn mươi bảy nguyện kia, thiếu một nguyện th́ Nguyện sẽ không viên măn, bị khiếm khuyết!

Do con người hiện tại không hiểu đạo lư này, cho là trong bốn mươi tám nguyện chỉ cần nguyện thứ mười tám là được rồi, lâm chung mười niệm ắt văng sanh, những thứ khác không cần đến. Trơ trọi một ḿnh nguyện ấy, không có bốn mươi bảy nguyện kia th́ nguyện ấy chẳng thể thành lập. V́ sao nói cổ đức không sai lầm? Bốn mươi tám nguyện cổ đức biết cả, nguyện mười tám này bao hàm trọn vẹn bốn mươi bảy nguyện kia, dẫu một nguyện cũng không thiếu, đấy là đúng! Do vậy, không sai. Người hiện thời không hiểu, nói khó nghe hơn là dạy chúng sanh sai lầm, [khiến cho] những chúng sanh hảo tâm ấy cuối cùng chẳng được văng sanh. Chuyện này xưa nay tổ sư đại đức không ngừng cảnh tỉnh chúng ta, chỉ sợ chúng ta hiểu lầm ư nghĩa: [Nhiều người cứ tưởng] b́nh thời không học Phật, ăn uống, vui chơi, đến khi lâm chung niệm Phật là được, cớ ǵ lúc b́nh thường cứ phải nhọc nhằn? Tợ hồ niệm Phật tiện nghi như thế đó! Xưa nay đại đức khuyên dạy chúng ta: Lâm chung mười niệm phải hội đủ ba điều kiện, lúc lâm chung quư vị có đủ ba điều kiện ấy hay không?

1) Thứ nhất, lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo, không mê hoặc, không điên đảo, điều này quư vị có làm được hay không? Quư vị hăy chú tâm quan sát những người mắc bệnh rất nặng, cái chết gần kề. Quư vị thấy đại đa số ngay cả người nhà mà họ c̣n không nhận biết được, mê hoặc, điên đảo. Trong t́nh huống ấy, thậm chí một niệm trong mười niệm ấy c̣n không khởi tác dụng, chẳng thể niệm được! Con cái, cháu chắt mà họ c̣n không nhận biết, đều không biết, làm sao biết đến A Di Đà Phật cho được? Không thể nào! V́ thế điều kiện đầu tiên này hết sức khó khăn. Lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo là đại phước báo, quư vị có đạt được phước báo này hay chăng? Quư vị có đảm bảo lúc ấy ra đi rất sáng suốt, tỉnh táo hay không?

Nhất là trong hiện tại, trong xă hội hiện thời chúng ta thường nghe nói tới chứng bệnh si ngốc ở tuổi già (Alzheimer’s disease), mắc bệnh si ngốc lúc tuổi già ấy là xong, không c̣n hy vọng ǵ nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới nữa. Tây Phương Cực Lạc thế giới không có người si ngốc, kinh Di Đà giảng rất rơ ràng: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về nước ấy). Nói cách khác, phàm ai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là người đại thiện căn, đại phước đức. Đại thiện căn, đại phước đức th́ làm sao si ngốc được? Không có đạo lư ấy! Si ngốc là nghiệp chướng hiện tiền! V́ thế, Phật, Bồ Tát, tổ sư đại đức dạy chúng ta: Lúc c̣n sống tu phước, tu huệ. Quư vị có phước, có huệ th́ lúc lâm chung mới được sáng suốt, minh mẫn, mới không bị si ngốc. Quư vị hăy nghĩ xem ḿnh có nắm chắc được điều kiện đầu tiên này hay không?

2) Điều kiện thứ hai: Trong lúc khẩn yếu, lúc sắp mất, lúc sắp thở hắt ra hơi cuối cùng, lúc ấy phải gặp được thiện tri thức khuyên quư vị niệm Phật. Lúc đó quư vị có chắc chắn gặp được người như vậy cảnh tỉnh quư vị hay không? Nếu lúc ấy không có ai cảnh tỉnh, dẫu tỉnh táo vẫn không thể văng sanh. Lúc ấy phải có người cảnh tỉnh, nay chúng ta gọi là “trợ niệm”. Tự ḿnh có công phu thực sự th́ có thể không cần đến người khác trợ niệm; nếu tự ḿnh không có công phu th́ trợ niệm rất quan trọng, bên cạnh có người cảnh tỉnh. Đây là điều kiện thứ hai.

3) Điều kiện thứ ba, người ta cảnh tỉnh, quư vị bèn lập tức tin tưởng, có thể tiếp nhận, y giáo phụng hành, nói dễ dàng sao? Phiền năo rành rành, người khác cảnh tỉnh, khuyên quư vị niệm Phật, vẫn cứ nửa tin, nửa ngờ, lúc ấy làm sao có thể tin tưởng được? Làm sao có thể phát nguyện được? V́ thế, trên mặt lư luận th́ “mười niệm ắt văng sanh” chẳng có vấn đề ǵ, chứ xét theo sự thật th́ khó khăn lắm!

Nhưng trên thực tế, có ai như vậy hay không? Có chứ! Đúng là trong

vạn ức người khó t́m được một kẻ! Đối với người như vậy, tổ sư đại đức nói rất hay: Chẳng phải là ngẫu nhiên, người ấy đời đời kiếp kiếp trong quá khứ đă tu pháp môn Niệm Phật, thiện căn rất sâu dầy, chỉ v́ trong một đời này không gặp được thiện duyên, mê hoặc, đúng là “cận châu giả xích, cận mặc giả hắc” (gần son th́ đỏ, gần mực th́ đen), trong một đời này không gặp được Phật pháp, bị hoàn cảnh nhiễm ô, nhưng đến lúc lâm chung, có người cảnh tỉnh như thế, thiện căn và phước đức sâu dầy trong đời quá khứ lập tức hiện tiền, bèn tiếp nhận, ra đi như thế không phải là chuyện ngẫu nhiên! Cách giải thích này phù hợp lời Thiện Đạo đại sư đă giảng trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, Thượng Phẩm Thượng Sanh Chương. Ngài nói văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới bốn cơi, ba bậc, chín phẩm “tổng tại ngộ duyên bất đồng” (toàn là do gặp duyên khác nhau). Câu nói này rất hay, toàn là do gặp duyên khác nhau. Suốt một đời này, quư vị chẳng gặp được thiện tri thức, không gặp được nhân duyên tốt, dẫu trong quá khứ có thiện căn và phước đức sâu dầy vẫn chẳng thể hiện tiền.

V́ thế, chúng ta phải thực sự nắm vững chuyện văng sanh thế giới Cực Lạc, lúc lâm chung muốn có thể đảm bảo chính ḿnh tỉnh táo, sáng suốt th́ phải hạ công phu ngay trong hiện tại, phải thực hiện công tác chuẩn bị. Công phu ấy chính là đoạn ác tu thiện, đoạn ác tu thiện là phước báo. Lâm chung không bị bệnh khổ rơ ràng là phước báo, quư vị phải có phước. Hiện thời có phước đừng nên hưởng, hưởng hết phước báo ấy th́ lâm chung không có phước. Hiện tại có phước báo th́ phải nhường phước ấy cho người khác hưởng, cúng dường đại chúng, phước báo càng lớn. Chúng ta mong cầu phước báo đến lúc nào mới hưởng? Lúc lâm chung sẽ hưởng. Lúc lâm chung tâm không điên đảo, ư không tán loạn, rơ ràng, minh bạch, đấy là đại phước báo thù thắng khôn sánh. Bởi lẽ, thời khắc quan yếu ấy dính líu đến đời sau, đời sau phải đi theo Phật đạo chứ không đi vào lục đạo.

V́ thế, ngàn vạn, ngàn muôn phần chớ nên hiểu lầm ư nghĩa mười niệm, chẳng nên có tâm lư cầu may. Hiện tại có không ít kẻ tu Bổn Nguyện Niệm Phật, tự quư vị phải suy nghĩ cho kỹ: Tốt nhất là xem kinh, nghe kinh cho nhiều, thấu hiểu đạo lư này. Pháp thế gian cầu may c̣n chẳng thể thành tựu, huống chi đại pháp thành Phật! Tâm cầu may, tâm đầu cơ, mánh mung, lẽ đâu có chuyện tiện nghi dường ấy! Chính ḿnh phải suy nghĩ, dẫn dụng thệ nguyện của Phật, nay nguyện vọng của chúng ta tương ứng với thệ nguyện của Phật.

“Nhược hữu chúng sanh” (nếu có chúng sanh): Phạm vi rất lớn, lục đạo chúng sanh trong hết thảy các cơi Phật trọn pháp giới, hư không giới, chủ yếu là đối với lục đạo chúng sanh mà nói. “Dục sanh ngă quốc” (muốn sanh về cơi ta), “dục” là bằng ḷng, là hướng theo, mong mỏi sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tiếp đó, kinh văn nói đến điều kiện quư vị phải hội đủ: “Chí tâm tín nhạo” (Chí tâm tin ưa). Chí tâm tin ưa là giống như một câu văn ngay trong thiên phát nguyện này: “Nhất tâm quy mạng”. Nhất tâm quy mạng mới là thực sự chí tâm tin ưa. Chí tâm có thể hiểu là tâm chân thành, cũng có thể hiểu là chí nguyện, nguyện tâm; chí tâm là nguyện tâm. Ta tin vào Tây Phương Cực Lạc thế giới, quả thật có Tây Phương Cực Lạc thế giới, quả thật có chuyện A Di Đà Phật đến tiếp dẫn văng sanh, tin chính ḿnh thực sự hội đủ điều kiện văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đầy đủ ba thứ tin tưởng như vậy mới gọi là tín tâm thành tựu. “Nhạo” () là ưa thích, hoan hỷ, tức là có Tín, có Nguyện. Trong Di Đà Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích bảo chúng ta: Điều kiện để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là tín - nguyện: “Chân tín, thiết nguyện, tất định đắc sanh” (Ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, nhất định được văng sanh). Tiếp đó, Ngài nói công phu niệm Phật sâu hay cạn liên quan đến phẩm vị sẽ cao hay thấp. Người có công phu niệm Phật sâu th́ phẩm vị cao, người có công phu niệm Phật cạn th́ phẩm vị thấp. Phẩm vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn: “Đắc sanh dữ phủ, tại tín nguyện chi hữu vô” (Được văng sanh hay chăng là do tín - nguyện có hay không?). Đối với ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh ấy, lâm chung mười niệm th́ mười niệm chính là Hạnh, cũng đầy đủ Tín - Nguyện - Hạnh; dẫu cho lâm chung một niệm th́ niệm ấy cũng là Hạnh, ba điều kiện được tương ứng.

Hai câu sau chúng ta nghe đă quá quen, rất quen thuộc: “Nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (Nếu [hành nhân Tịnh Độ đă đầy đủ những điều kiện như đă nói trên đây] mà chẳng được sanh [về Cực Lạc], chẳng lấy Chánh Giác). [A Di Đà] Phật đă từng phát nguyện như thế, nếu ai hội đủ những điều kiện ấy mà không thể văng sanh th́ Pháp Tạng Bồ Tát chẳng thành Phật, “thành Chánh Giác” chính là thành Phật. Pháp Tạng Bồ Tát nay đă thành Phật nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, thành A Di Đà Phật, thành Phật đến nay đă mười kiếp. Nói cách khác, nguyện nào trong bốn mươi tám nguyện của Ngài cũng đều được thực hiện hoàn tất; nếu c̣n một nguyện nào chưa hoàn tất, Ngài không thể thành Phật. Câu nói này có ư nghĩa rất sâu, nhất định phải hiểu: Một nguyện chưa hoàn tất th́ chẳng thể thành Phật, chứ không phải chỉ có một nguyện thứ mười tám. Ở đây, thiền sư Trung Phong khai thị rất hay: Nếu nhất định tương ứng với mỗi nguyện trong bốn mươi tám nguyện th́ quư vị sẽ tương ứng với nguyện thứ mười tám. Sao lại có thể chuyên giữ lấy một nguyện, vứt bỏ bốn mươi bảy nguyện kia, A Di Đà Phật làm sao thành Chánh Giác cho được? Nghĩa lư kinh Phật luôn giảng hết sức viên măn, chính chúng ta phải chú tâm đọc tụng, quan sát, chẳng thể nh́n lệch lạc. Nếu quư vị nh́n lệch lạc, hiểu sai, nguyện vọng muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới trong một đời này sẽ chẳng đạt được, uổng công mất rồi! Chúng ta lại xem đoạn văn tiếp theo:

 

Dĩ thử niệm Phật nhân duyên, đắc nhập Như Lai đại thệ hải trung.

以此念佛因緣。得入如來大誓海中。

(Do nhân duyên niệm Phật này được vào trong biển đại thệ của Như Lai).

 

Do đức Phật đă từng phát nguyện ấy, nay chúng ta phát tâm tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật, nay chúng ta nghiêm túc niệm Phật. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế gian này, giảng kinh, thuyết pháp bốn mươi chín năm nhằm mục đích giúp cho chúng ta trong một đời viên măn thành Phật. Đấy là tấm ḷng của đức Phật, là ư của đức Phật. Thế nhưng đức Phật giáo hóa chúng sanh hy hữu nhất là tùy duyên, đức Phật không phan duyên. Từ mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát trong kinh giáo, quư vị thấy “tùy hỷ công đức, hằng thuận chúng sanh”. Tùy hỷ, hằng thuận, Phật chẳng mảy may miễn cưỡng hết thảy chúng sanh. V́ thế, quư vị thích pháp môn nào, Ngài giảng cho quư vị pháp môn ấy. Quư vị thích tu pháp nào, Ngài dạy quư vị tu pháp môn ấy. Ngài không nói pháp môn này hay hơn pháp môn nọ, trong hết thảy kinh điển quư vị chưa hề thấy đức Phật nói như vậy. Tùy thuận căn tánh của mỗi người, tùy thuận duyên phận của mỗi người từ vô thỉ kiếp đến nay.

Mỗi cá nhân trong một đời, như nay chúng ta ưa thích pháp môn này, chẳng phải là chuyện trong một đời này đâu nhé! Trong đời đời kiếp kiếp quá khứ đă từng tu học pháp môn này, vừa được tiếp xúc bèn sanh ḷng hoan hỷ, các pháp môn khác quư vị tiếp xúc rất nhiều, nhưng tâm hoan hỷ không sanh khởi, v́ nguyên nhân nào? V́ cảm thấy không thân thuộc. Từ trước đến nay chưa từng qua lại, c̣n pháp môn này rất quen thuộc. Bởi vậy, hết thảy chúng sanh căn tánh không giống nhau, chí thú khác nhau, yêu thích khác nhau, đức Phật có thể tùy thuận bởi tâm Phật thanh tịnh. Đức Phật làm như thế, đúng là độ chúng ta. V́ sao chúng ta chẳng thể tự độ ḿnh? Ta đối với pháp môn này hoan hỷ, khuyên người khác cũng tin theo pháp môn này, người ấy cũng tin theo pháp môn này. Nếu lúc người ấy không tin, chính ḿnh sanh phiền năo là xong rồi! Phiền năo tập khí vừa hiện khởi bèn bị đọa lạc. Quư vị phải giống như đức Phật, tấm ḷng mở rộng, tùy thuận ḷng người ta ưa thích, mới tốt! Bất luận học pháp môn nào cũng tốt cả, không có ǵ chẳng tốt. Quư vị thấy bụng dạ của ḿnh rộng răi hơn nhiều, thanh tịnh b́nh đẳng lắm; như vậy là tự độ.

Sự thị hiện của đức Phật mang ư nghĩa rất sâu, khiến cho chúng ta trông thấy bèn giác ngộ, chúng ta phải học theo đức Phật, chớ có chấp trước. Nếu người ta muốn học theo những pháp môn khác, ta có năng lực giúp đỡ kẻ đó, như Thích Ca Mâu Ni Phật có năng lực: Quư vị muốn học Thiền bèn dạy Thiền, mong học Mật bèn dạy Mật, muốn học Luật bèn dạy Luật, bất luận muốn học pháp môn nào, đức Phật đều có năng lực dạy, toàn tri toàn năng! Do vậy, đức Phật có thể phổ độ chúng sanh, chúng ta không có được trí huệ và năng lực như thế, chỉ có thể học pháp môn này.

Người khác muốn học những pháp môn khác, chúng ta bèn giới thiệu người khác cho họ. Trong phần trên, tôi đă nêu thí dụ rồi đó: Có ai muốn học Thiền, tôi đều giới thiệu đến học với pháp sư Thánh Nhất, tôi biết Ngài là bậc đại đức trong Tông Môn. Ngài là một vị pháp sư giỏi, chuyên tu, chuyên môn tham Thiền. Tôi hết sức kính ngưỡng Ngài. Quư vị muốn học Thiền tôi đều giới thiệu đến chỗ Ngài học. Muốn học Duy Thức, trong quá khứ tôi giới thiệu đến học với pháp sư Diễn Bồi, Ngài chuyên tu học Pháp Tướng Duy Thức Tông. Tôi giới thiệu người khác, không nhất định cứ phải lôi kéo: “Pháp môn ấy tu không tốt đâu, chẳng bằng pháp môn này đâu!” Chẳng thể nói như vậy được, nói như thế không phải là ư Phật. Nói như vậy th́ trong tâm ḿnh phải mang gánh, mang gánh những ǵ? Gánh lấy nhân quả, tâm của chính ḿnh không thanh tịnh, b́nh đẳng.

“Pháp môn b́nh đẳng, không có cao - thấp”, bất b́nh đẳng là v́ chúng sanh căn tánh không b́nh đẳng, phước đức của chúng sanh bất b́nh đẳng, nhân duyên của chúng sanh bất b́nh đẳng, chứ pháp môn quyết định là b́nh đẳng. Ḿnh là hạng người căn tánh như thế nào, pháp môn nào thích hợp cho ḿnh, tự ḿnh phải hiểu rơ ràng, thâm nhập một môn, trường thời huân tu, không ai chẳng thành công. Nếu quư vị muốn thành tựu, viên măn thành Phật trong một đời này, quyết định phải buông bỏ hết thảy ô nhiễm thế gian và xuất thế gian, phải buông tập khí phiền năo xuống. Những thứ ấy chướng ngại tâm tánh và sự tu học của chúng ta. Người thực sự học đạo công phu đắc lực, tâm cảnh của người ấy vĩnh viễn thanh tịnh, vĩnh viễn khoái lạc, quyết định chẳng nẩy sanh phiền năo.

Không những học đạo, mà những Nho sĩ đọc sách ở Trung Quốc trong quá khứ, họ đọc sách cũng hiểu rơ đạo lư! Quư vị thấy Luận Ngữ là sách ghi chép ngôn hạnh cả một đời của Khổng phu tử, câu thứ nhất là: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học rồi thường tu tập, cũng chẳng vui ư?) Từ kinh nghiệm một đời của Khổng lăo phu tử, tất cả hết thảy pháp trong thế gian này, nay chúng ta gọi là tất cả hết thảy nghề nghiệp thế gian, tất cả hết thảy sự nghiệp, nghề ǵ tốt nhất? Quư vị hăy xem điều tâm đắc của Khổng lăo phu tử lăo nhân gia, Ngài nói: “Ngô thường chung nhật bất thực” (Ta thường suốt ngày không ăn), ta cả ngày không ăn cơm, “chung dạ bất tẩm” (suốt đêm không ngủ), “dĩ tư (để suy nghĩ), suy nghĩ rất kỹ, nghĩ đến rốt ráo, “bất như học dă” (không ǵ bằng học cả). Đấy chính là sự sung sướng nhất trong thế gian, bất cứ sự nghiệp nào, bất cứ nghề nghiệp nào chẳng bằng học! Học xong là dạy! Nói như bây giờ là theo đuổi nghề dạy học, nghề này thanh cao, nghề ấy vui sướng, “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”. Trong nền giáo dục thời cổ, học những ǵ? Học theo hiền thánh, đọc sách chí muốn làm hiền thánh. Cổ nhân Trung Quốc đọc sách cầu học nhằm mục đích ǵ? Mục đích là muốn chính ḿnh trở thành thánh nhân, thành hiền nhân; mục đích ấy chính xác, nhà Phật chúng ta gọi là “chuyển phàm thành thánh”.

Cả một đời đức Phật dạy dỗ, theo đuổi công tác dạy dỗ, mục đích dạy dỗ của Phật chúng ta có thể quy nạp thành ba câu. Câu thứ nhất là giúp cho hết thảy chúng sanh “chuyển ác thành thiện”, đấy là mức thấp nhất, nhằm nói với mọi người b́nh thường. Những ai thiên phận cao hơn một chút, thông minh linh lợi th́ giúp cho họ “chuyển mê thành ngộ”. Kẻ lợi căn bậc nhất th́ thành tích cao nhất, nâng cao hơn một bậc nữa, giúp cho họ “chuyển phàm thành thánh”, đấy là mục đích giáo dục. Ngày nay phiền phức rất lớn, hiện thời giáo dục không c̣n nữa, trường học rất nhiều, nhưng dạy điều ǵ? Dạy danh văn lợi dưỡng. Trường học ngày nay nhắm tới mục đích cầu danh, cầu lợi, chứ không phải là làm hiền làm thánh, giáo dục hiền thánh không c̣n nữa. Do vậy thế giới động loạn, tai nạn dồn dập, rất nhiều tôn giáo ngoại quốc nói đến chuyện tận thế. Chúng ta thấy hiện tượng xă hội hiện thời đúng là giống như những điềm báo trước ngày tận thế, rất đáng sợ!

Giáo dục của Trung Quốc lẫn ngoại quốc trong mấy ngàn năm đều lấy thánh học làm chủ đạo, tức là học làm thánh, làm hiền là chuyện sung sướng nhất. Bởi thế, “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (học rồi thường tu tập, cũng chẳng sướng sao), pháp hỷ sung măn. “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” (Có bạn từ xa đến, cũng chẳng vui sao?) “Bằng” () ở đây là ai? Là người truyền pháp. Học thuật, đạo đức của quư vị có người kế thừa, vui sướng lắm! Sự nghiệp nơi pháp thế gian phải có người kế thừa, sự nghiệp của quư vị thực sự có thành tích. Dẫu một đời quư vị làm tốt đến cách mấy, về sau không có ai kế thừa, ḿnh mất đi là xong, sự nghiệp thành tích cũng như không. Đạo học cũng thế, đạo học phải có người kế thừa, có truyền nhân. Truyền thừa quan trọng nhất, đời đời truyền nhau. Ở Trung Quốc, trong nhà Phật có rất nhiều tông phái là tổ tổ tương truyền, cái được truyền là đạo, là đức. Cận đại, trong thế kỷ này, dường như đă đoạn tuyệt, đều là hiện tượng của ngày tàn.

Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát từ Tây Phương Cực Lạc thế giới tái lai, đại từ, đại bi, hy vọng cứu văn kiếp nạn này, Ngài dùng phương pháp ǵ để cứu văn? Ngài dạy chúng ta trong thời kỳ Mạt Pháp học tập tổng cương lănh, tổng nguyên tắc gồm mười sáu chữ “đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” (giữ vẹn luân thường, tận hết trách nhiệm, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ). Tổ sư Tịnh Độ Tông dạy như vậy đó! Đối với quảng đại quần chúng, dù không tu Tịnh Độ đi nữa, tu theo những tông phái khác, hai câu đầu nhất định phải tuân thủ. “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành” chính là đạo đức. Đôn luân tận phận là đạo, đại đạo; nhàn tà tồn thành là đức. Bất luận tu học một tông phái nào, chẳng thể không có đạo đức. Không có đạo đức th́ chẳng phải là Phật pháp, mà là ma pháp!

Đối với sự truyền thừa Phật pháp, Ngài nói hết sức hay: Lập đạo tràng nhỏ, đồng tu không được quá hai mươi người, không hóa duyên, nhất định phải nhớ điều này, quyết định chẳng được hóa duyên, chẳng được quyên mộ. V́ sao? Tâm định. Thường phải động cân năo để hóa duyên, để quyên mộ, tâm sẽ vĩnh viễn không định, tâm không định là xong luôn! Tâm muốn định th́ đừng hóa duyên, không làm pháp hội, không truyền pháp, không thâu đồ đệ, không truyền giới, không làm kinh sám Phật sự, chuyên môn niệm Phật tu Tịnh Độ. Phương pháp này hay lắm, tâm quư vị định được. Chúng tôi là truyền thừa trực tiếp của Ấn Quang đại sư, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam thầy tôi là học tṛ của pháp sư Ấn Quang, chúng tôi được truyền thừa từ cùng một mạch, quyết định tuân thủ sự giáo huấn của thầy. V́ thế cái đạo tràng nhỏ này của chúng ta xây cất sắp hoàn tất, đạo tràng nhỏ bé như vậy, chúng thường trụ tuân theo nguyên tắc của thầy “không quá hai mươi người”, đấy là nói về chúng xuất gia chúng tôi không đông hơn hai mươi người. Mọi người khéo ở cùng một chỗ niệm Phật, dạy học.

Niệm Phật là v́ chính ḿnh, để chính ḿnh được văng sanh. Dạy học là truyền pháp, chúng tôi hy vọng thánh giáo của Như Lai được truyền từ đời này sang đời kia, có người kế tục. Học Giáo là ngày ngày giảng kinh, hằng ngày giảng kinh có khó khăn, v́ sao? Viết bài giảng không kịp. V́ thế, trong đạo tràng nhỏ này của chúng ta, học Giáo th́ mỗi tuần tối thiểu giảng kinh hai lượt, quư vị lên giảng đài giảng hai lần. Mỗi lần giảng hai tiếng, hai lần là bốn tiếng. Mỗi tuần là bốn giờ, đại khái quư vị có thể soạn bài giảng được. Một giờ phải viết một vạn chữ, một tuần viết bản thảo dài bốn vạn chữ được. Thường trụ có chuyện ǵ quư vị cũng không quan tâm tới, chuyên môn học kinh giáo, lên ṭa giảng cho mọi người chúng ta nghe. Mọi người chúng ta nghe không vừa ư, quư vị bèn bị gạch tên, bỏ tên quư vị ra, lại có người khác muốn học bèn bổ sung vào đó. Danh sách ghi tên đủ rồi, người ngoài muốn tham dự cũng không ghi tên được, khác nào chúng ta khai trừ. Do vậy, nếu quư vị không dụng công th́ không phải là chân chánh học Giáo, không dụng công nơi học vấn, nơi đạo đức, rất dễ bị khai trừ!

Xưa kia, Huệ Viễn đại sư ở Lô Sơn có Tuyển Phật Điện để tuyển lựa. Ở đây, chúng ta cũng tuyển Phật, không hội đủ tŕnh độ bèn bị đào thải. V́ thế, quư vị nhất định phải dụng công, chẳng thể có tạp niệm, cũng chẳng thể có tạp sự. Người đến hầu hạ, phục vụ cho quư vị đông dường ấy, nếu quư vị không thành tựu đạo đức, học vấn, tức là ḿnh coi thường những người ấy, quư vị chỉ đành nhanh chóng ra đi, nhường chỗ cho người khác. Ở đây không nói chuyện t́nh cảm, nếu nói t́nh cảm th́ Phật pháp bị hủy diệt do chính quư vị, chúng ta cần phải nghiêm ngặt tuân thủ giáo huấn của tổ Ấn Quang, hy vọng trong ṿng mười năm ở nơi đây sẽ có được mấy nhân tài xuất hiện. Không cần nhiều! Có được dăm ba vị là chúng ta thành công rồi. Phải khổ luyện, khổ học!

Chúng ta do nhân duyên niệm Phật này “đắc nhập Như Lai đại thệ hải trung” (được vào trong biển đại thệ của Như Lai), tức là bốn mươi tám nguyện. Tâm nguyện, tư tưởng, hành tŕ của chúng ta tương ứng với Phật tức là tương ứng với kinh giáo. Kinh điển dạy chúng ta như thế nào, chúng ta đều phải thực hiện, phải làm cho được. Có như vậy th́ mới có thể tương ứng với từng nguyện trong bốn mươi tám nguyện, tương ứng chính là “nhập Như Lai đại thệ hải trung” (vào trong biển đại thệ của Như Lai). Nếu tương ứng với bốn mươi tám nguyện mà chỉ tương ứng được một nửa, c̣n một nửa vẫn chưa tương ứng th́ không được rồi! Nguyện nào cũng tương ứng, chẳng thể có nguyện nào không tương ứng, đấy mới là “nhập Di Đà nguyện hải”. Lúc ấy đương nhiên sẽ...

 

Thừa Phật từ lực, chúng tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng.

承佛慈力。眾罪消滅。善根增長。

(Nương từ lực Phật, các tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng).

 

Đây là điều khẳng định. Được từ lực của Phật gia tŕ. Từ lực nào của Phật gia tŕ? Chính là kinh giáo của Phật gia tŕ. Chúng ta biến những tư tưởng trong kinh giáo thành tư tưởng của chính ḿnh, b́nh thường chính ḿnh suy nghĩ lung tung nay đều buông bỏ hết. Buông xuống những thành kiến của chính ḿnh, buông xuống cách nghĩ và cách nh́n của chính ḿnh; cách nói và cách làm tùy thuận lời giáo huấn của Phật, tùy thuận kinh giáo, biến những đạo lư trong kinh giáo thành tư tưởng của chính ḿnh. Những giáo huấn trong kinh giáo biến thành hành vi sinh hoạt của chính ḿnh. Đó là “học Phật”, học giống lắm. Phật là tấm gương, là khuôn mẫu cho chúng ta, ta phải học giống hệt như Ngài. Dù chẳng thể học hoàn toàn giống hệt như Ngài, nhưng cũng phải tương tự. Học như vậy th́ mới chẳng luống uổng! Chúng ta tiếp nhận mười phương tín chúng cúng dường. Tôi vừa mới nói rồi đó, nếu chẳng đạt đến cảnh giới ấy th́ như cổ nhân đă nói rất hay:

Thí chủ nhất lạp mễ,

Đại như Tu Di sơn,

Kim sanh bất liễu đạo,

Phi mao đới giác hoàn!

(Một hạt gạo thí chủ,

To như núi Tu Di,

Đời này không liễu đạo,

Mang lông, đội sừng đền!)

Quư vị mắc quả báo, lúc chịu xong quả báo, vẫn phải đền nợ. Những năm qua, trong những buổi giảng chúng tôi thường nói: “Một bát cơm xuất gia khó nuốt lắm, khó hơn kẻ ăn mày xin cơm nhiều!” Kẻ ăn mày xin cơm được người ta thí cho, không phải đáp đền. C̣n ở đây là người ta đến trồng phước. Tam Bảo là ruộng phước, họ đến gieo phước! Quư vị có phải là phước điền hay không? Người ta có thực sự gieo phước được hay không? Nếu người ta không gieo phước được, người ta sẽ tính sổ với ḿnh. Do vậy, ở đây “thừa Phật từ lực” (nhờ vào từ lực của Phật). Phải biết: Từ lực của Phật chính là kinh giáo, quang minh của Phật cũng chính là kinh giáo. Ngày ngày chẳng tách rời kinh giáo, ngày ngày đọc kinh, ngày ngày nghiên cứu kinh giáo, ngày ngày ở đây nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, phóng quang đấy! Phật phóng quang phổ chiếu nơi đây!

“Chúng tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng” (các tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng): Hai câu này suy nghĩ sẽ biết ngay. Quư vị buông bỏ những tập khí phiền năo nơi bản thân, hết thảy tùy thuận lời giáo huấn của Phật, đương nhiên tội tiêu diệt, tự nhiên thiện căn tăng trưởng! Thiện căn là ǵ? Tội là ǵ? Gốc của tội là tham - sân - si; bởi thế, tam độc phiền năo là tội căn (gốc tội). Thiện căn là ǵ? Tương phản với tội căn là thiện căn. Vô tham, vô sân, vô si là ba thiện căn. Tham - sân - si trừ rồi, vô tham, vô sân, vô si hiện tiền, tất cả hết thảy thiện pháp thế gian đều sanh khởi từ ba thiện căn này. Tham - sân - si không c̣n, phiền năo bèn đoạn, tội bèn diệt. Điều này các đồng học chúng ta phải hằng ngày phản tỉnh, hằng ngày phải kiểm điểm.

Thực hiện công khóa sáng tối, khóa sáng tụng kinh nhằm lay tỉnh chính ḿnh. Quư vị nh́n vào nghi thức tụng niệm của chúng ta sẽ hiểu ngay, Tịnh Tông Học Hội thành lập, tôi cho soạn một cuốn nhật tụng, bản khóa tụng này do thầy Ngộ Hạnh phụ trách, tôi bảo thầy ấy soạn. Kinh đọc trong khóa sáng là bốn mươi tám nguyện [trích từ] kinh Vô Lượng Thọ. Nói đến đây, trong tâm quư vị vỡ lẽ, bèn hiểu rơ v́ sao lại dùng bốn mươi tám nguyện làm kinh văn khóa sáng? Khóa tối chúng tôi dùng phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ, tôi chỉ chọn hai đoạn kinh văn ấy. Khóa sáng để cảnh tỉnh chính ḿnh, suốt ngày hôm nay tư tưởng và hành tŕ của chính ḿnh phải tương ứng với bốn mươi tám nguyện. Kinh văn khóa tối là Ngũ Giới, Thập Thiện khiến cho chúng ta phản tỉnh, đức Phật dạy chúng ta làm như thế nào, chúng ta có làm được hay không? Đức Phật bảo chúng ta đừng làm, chúng ta có trái phạm hay không? Đấy là tu sám hối!

Đức Phật dạy chúng ta làm ǵ mà nếu chúng ta chưa làm, ngày mai nhất định phải làm. Phật dạy chúng ta không được trái phạm điều ǵ, chúng ta phạm phải th́ ngày mai nhất định phải răn dè. Đấy chính là công đức của khóa tụng sáng tối, khóa tụng sáng tối nhằm diệt tội sanh thiện. Khóa tụng sáng tối không phải là để niệm cho Phật, Bồ Tát nghe. Đối trước Phật, Bồ Tát tụng khóa niệm sáng tối với ư nghĩa nhờ Phật, Bồ Tát trông chừng, đốc thúc, chứng minh cho chúng ta: Ta có y giáo phụng hành hay không? Đó chính là “thừa Phật từ lực” (nương vào từ lực của Phật) gia tŕ, thực sự gia tŕ, không giả chút nào, trong đây không có mảy may mê tín. Phật, Bồ Tát dùng sự giáo huấn để gia tŕ chúng ta, bản thân chúng ta vui vẻ tiếp nhận giáo huấn, sửa lỗi, đổi mới, đổi mê thành ngộ, chẳng phải là được gia tŕ đó ư? Huân tập trong một thời gian dài, hằng ngày thực hiện, chẳng bỏ sót ngày nào.

Chúng ta phiền năo tập khí nặng nề, sức dụ dỗ, mê hoặc bên ngoài quá lớn. Một ngày không tu tập, tâm bèn biến đổi; ba ngày không tu tập, chắc chắn toàn bộ tập khí ác đều hiện hành, quư vị tạo tội nghiệp, ắt đọa tam đồ. Trong xă hội thời xưa vẫn duy tŕ mỗi nửa tháng tụng giới, đấy chính là quy củ Phật môn. Vào thời ấy th́ được, chứ hiện tại không được, bây giờ mỗi nửa tháng tụng giới một lần không có tác dụng chút nào hết! Phải như thế nào? Ngày ngày tụng, chúng tôi đem phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ đặt làm khóa tối, v́ đoạn này là giới luật, hằng ngày phải tụng giới, ngày ngày phải phản tỉnh, ta đă làm được hay chưa? Quư vị hiểu rơ ư nghĩa này, mới hiểu lời giáo huấn và văn tự của cổ nhân, quư vị thực sự học, làm sao không được thọ dụng? Kẻ thông minh lanh lợi, trong một đời nhất định chuyển phàm thành thánh chẳng phải là chuyện giả. Bây giờ hết giờ rồi!

 

Tập 54

 

Chư vị đồng học!

Xin xem từ nửa đoạn sau bài Tịnh Độ Văn của pháp sư Từ Vân trong thời thứ ba:

 

Nhược lâm mạng chung, tự tri thời chí, thân vô bệnh khổ, tâm bất tham luyến, ư bất điên đảo, như nhập Thiền Định.

若臨命終。自知時至。身無病苦。心不貪戀。意不顛倒。如入禪定。

(Nếu sắp mạng chung, tự biết lúc mất, thân không bệnh khổ, tâm không tham luyến, ư chẳng điên đảo, như nhập Thiền Định).

 

Đến đây là một tiểu đoạn. Mỗi một người thọ mạng trong thế gian dài hay ngắn đều là nhất định, phàm phu hoàn toàn bị nghiệp lực làm chủ, cũng có thể nói là nghiệp báo. Nếu thực sự hiểu rơ nghiệp báo, tự nhiên sẽ coi nhẹ sanh tử, chẳng tham sống sợ chết; bởi lẽ, quả báo của nghiệp nhân này đă hết, nghiệp nhân tiếp đó lại sanh khởi, giống như thực vật đơm hoa, kết trái, quả chín nẫu th́ phải rụng. Trong quả lại có nhân: Trong quả có hạt, hạt chính là nhân, nhân rơi xuống đất, đại địa là duyên, lại đâm rễ, lại nẩy mầm, tương lai lại đơm hoa kết quả, đó chính là quả báo lần thứ hai. Nhân quả tuần hoàn vĩnh viễn không ngưng dứt, trong nhân có quả, trong quả có nhân.

Chúng ta hiểu được đạo lư như vậy, tâm không hề có mảy may kinh sợ sanh tử, quư vị sẽ như thế nào? Nhất định phải gieo thiện nhân trong lần quả báo này. Quả báo lần này như quả đào chẳng hạn, nay quư vị đă có quả ấy. Quả ấy đă tăng trưởng thành quả đào, nhưng vẫn chưa chín rục. Chín rục th́ phải rụng xuống, giống như chính cái cây ấy tự gạt bỏ đi, không cần ai hái. Trong quả đào có hạt, tức là lại có nhân, đấy là nhân đă tạo trong một đời này, nhân ấy phải tốt! Nhân tốt th́ quả báo lần sau chẳng thể không thù thắng hơn, càng tốt đẹp hơn! Nếu Nhân không tốt, Quả cũng không tốt. Do vậy, hễ hiểu rơ đạo lư này, chắc chắn sẽ không làm càn, làm xằng, quyết định ghi nhớ giáo huấn của cổ thánh tiên hiền, kinh nghiệm, trí huệ của họ chúng ta đều hấp thụ, biến thành trí huệ, thành kinh nghiệm của chính ḿnh, sáng tạo tiền đồ tốt đẹp cho ḿnh trong đời sau; như vậy là chính xác! Đó là lục đạo phàm phu.

Nếu là Phật, Bồ Tát, A La Hán, là những bậc chánh giác ứng hóa trong thế gian này th́ các Ngài sẽ chẳng do nghiệp lực mà do nguyện lực. Các Ngài đến trong nơi này chẳng v́ chuyện ǵ khác, không thọ quả, mà đến để giáo hóa chúng sanh, đến để diễn tuồng: Nêu gương cho hết thảy chúng sanh, đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui, siêu phàm nhập thánh, nêu gương như thế cho đại chúng xem. Như vậy, trong thế gian các Ngài có thọ mạng hay không? Vẫn có! Thọ mạng dựa vào đâu? Dựa vào duyên! Duyên nói theo như bây giờ nghĩa là Ngài ở nơi nào diễn nói, biểu diễn, thuyết pháp, có người tiếp nhận hay không, có người vui thích nghe, thích học tập hay không? Nếu có th́ là hữu duyên; nếu không có, duyên ấy bèn hết. Duyên tận, Ngài ra đi. Có duyên bèn trụ thế; không duyên bèn tách ĺa, ẩn mất, đi qua thế giới khác.

Chúng ta biết vũ trụ to lớn, thế giới vô lượng vô biên, Ngài đắc đại tự tại, thế giới nào có duyên bèn vào thế giới ấy; Ngài không có nghiệp. V́ sao không có nghiệp? V́ đâu mà không có? Không có ư niệm tự tư tự lợi th́ nghiệp không c̣n nữa. Đây là nói tổng quát. Ai không có ư niệm tự lợi, không có ư niệm tự tư, bèn không có Nghiệp. Tự tư tự lợi đều không có, quư vị nghĩ xem c̣n có danh văn, lợi dưỡng nữa hay không? C̣n có ngũ dục, lục trần hay không? C̣n có tham, sân, si, mạn nữa hay không? Đương nhiên cái ǵ cũng không có. Tự tư tự lợi giống như rễ cây, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn là cành, lá, hoa, quả. Rễ đă không có th́ hết thảy đều không có.

Do vậy, Phật pháp coi trọng Vô Ngă; kinh Kim Cang nói Bồ Tát khác với phàm phu ở chỗ Bồ Tát không có Ngă Tướng. Nói thật ra, bốn tướng (nhân tướng, ngă tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng) đều có cội rễ là Ngă Tướng. Đă không có ta, nào c̣n có người? Há c̣n có chúng sanh, thọ mạng nữa ư? Ba tướng sau chẳng phải đều từ Ngă Tướng sanh khởi hay sao? Ngă Tướng là rễ; bởi thế, không có Ngă th́ thứ ǵ cũng không có. Nay chúng ta nói đến phiền năo, ư niệm tự tư, tự lợi không có th́ tất cả hết thảy phiền năo, nghiệp chướng tập khí đều không có, chúng đều do từ Ngă tướng mà có! Đấy chính là lằn ranh phân định giữa phàm và thánh, tự chúng ta phải hiểu.

Con người đạt đến vô ngă, há phải đâu không biết ứng xử! Giữa người và người v́ sao không thể cư xử tốt với nhau? V́ quyền lợi bị xung đột. Đấy chính là tự tư, tự lợi, có lợi cho ḿnh th́ người này tốt, tôi rất thích anh ta. Đối với ḿnh vô ích hoặc quyền lợi bị đụng chạm th́ gă đó là địch nhân, là kẻ đối đầu, chẳng phải là như vậy hay sao? Do vậy, đạt đến vô ngă, vô tư th́ sẽ thực sự chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển nghiệp lực thành nguyện lực. Do nguyện lực vào trong thế gian này th́ không ǵ chẳng tự tại! Các Ngài quả thật không có sanh tử, chẳng phải là nhân duyên quả báo, mà là “thừa nguyện tái lai” (nương theo bổn nguyện mà ứng hiện trở lại)! Duyên tụ, duyên tán, có duyên bèn ứng hiện, duyên là Năng Cảm, tự nhiên vị ấy bèn ứng. Duyên hết, không c̣n Ứng nữa, ẩn mất đi. Duyên do là như vậy.

Bởi thế, “nhược lâm mạng chung, tự tri thời chí” (nếu sắp mạng chung, tự biết thời giờ đă đến), đây là tu hành có công phu, tự ḿnh biết nghiệp báo đă tận. Đây là phàm phu, phàm phu biết nghiệp báo của đời này đă tận. Nghiệp báo một đời này đă tận, nghiệp báo đời sau đă chín muồi, tự ḿnh biết, đa số sanh lên trời. Sanh lên trời tự ḿnh biết: Đây là trong một đời này gieo nhân lành, làm chuyện tốt, đời sau sanh lên trời. Nếu là bậc thừa nguyện tái lai, đương nhiên càng không có vấn đề, cảnh giới càng cao hơn. Nơi này hóa duyên đă hết, Ngài đến ứng hóa trong thế giới khác. Nói thật ra, phạm vi ứng hóa là trọn pháp giới, hư không giới, thân ứng hóa vô lượng vô biên, không ở nơi đây th́ hiện nơi kia. Thật ra, chẳng phải là nơi đây thực sự không có, hiện ở nơi kia, không phải vậy! “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra ở chỗ nào, diệt tận ngay chỗ đó)[8]. Đấy mới là chánh lư, đấy mới là chân tướng sự thật. Không như lục đạo phàm phu, phàm phu quả thật ĺa khỏi đường này bèn đầu thai vào đường khác. Quư vị không được đại tự tại như thế này: “Sanh ra ở chỗ nào, diệt tận ngay chỗ đó”. Quư vị không được tự tại như thế. Bậc đại triệt đại ngộ tự tại như thế ấy!

Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ hầu như ai cũng có năng lực này; dù ai nấy đều có năng lực này, nhưng lúc lâm chung không thể hiện tướng lành là v́ đâu? Họ vẫn c̣n nghiệp chướng khá nặng gây chướng ngại, lúc trợ niệm chúng ta thường thấy chuyện này. Lúc người ấy ra đi, có rất nhiều người trợ niệm, thấy người ấy môi mép cũng động, tợ hồ cũng niệm Phật theo chúng ta. Không sai! Có lúc người ấy niệm Phật cùng đại chúng, nhưng có lúc người ấy trông thấy Phật đến tiếp dẫn, miệng họ mấp máy là muốn bảo đại chúng: “Phật đến tiếp dẫn, tôi muốn theo Phật ra đi”. Kẻ ấy không nói ra tiếng, không có hơi sức, nói không nổi. Quư vị chú tâm quan sát nơi sự biểu lộ t́nh cảm th́ rơ ràng là người ấy rất an tường, người ấy rất hoan hỷ; ta thấy người ấy biểu lộ thái độ ra đi rất an tường, rất hoan hỷ, Phật đến tiếp dẫn mà!

Nhưng cũng có lúc, họ đi rồi, biểu lộ thần thái không tốt, mọi người trợ niệm, niệm hai, ba tiếng sau, biến thành rất đẹp đẽ, có hai khả năng:

a) Một là người ấy đă văng sanh.

b) Hai là người ấy đă tiêu nghiệp chướng, tuy không thể văng sanh, nhưng sanh trong đường lành là chuyện chắc chắn.

Bởi thế, công đức trợ niệm chẳng thể nghĩ bàn. Ngày nay, khoa học đă chứng minh hiệu quả của việc trợ niệm: Đây không phải là chuyện giả, là chuyện công đức lợi ích chân thật. Gặp được cơ duyên như thế này đừng bỏ lỡ. Chúng ta thường trợ niệm giúp người khác, lúc ḿnh lâm chung ắt có người trợ niệm. Đây đều thuộc về quả báo: Quư vị gieo nhân tốt, sau này nhất định có quả báo tốt. Trong một đời này, chúng ta hiểu rơ điều này, dùng thiện tâm đối xử hết thảy mọi người, sẽ được báo đáp là tất cả hết thảy mọi người đều dùng thiện ư đối với ḿnh. Ta dùng thiện ư đối với người ta mà người ta vẫn dùng ác ư đối với ḿnh, nghĩa là thiện ư của ta chưa đủ, đừng trách móc người khác, phải trách chính ḿnh: Ta thành tâm, thiện ư chưa đủ, ta phải gắng hơn, vĩnh viễn chẳng có lầm lỗi nơi cảnh giới bên ngoài.

Hăy nhớ kỹ Ngẫu Ích đại sư giáo huấn: “Cảnh duyên vô hảo xú, hảo xú tại ư tâm” (Cảnh duyên không tốt - xấu, tốt - xấu tại nơi tâm), do chính tâm ḿnh. Tâm ḿnh tốt th́ cảnh giới nơi hết thảy người, sự vật đều tốt. Tâm ḿnh không đủ tốt th́ cảnh giới bên ngoài chẳng tốt. Nếu quư vị oán trời trách người là lầm lẫn quá đỗi, hoàn toàn mê chẳng giác. Người học Phật chúng ta, đừng nói chi ta là phàm phu, hăy xem tổ sư đại đức, Thanh Văn, Bồ Tát: Mỗi ngày các Ngài đều nghiêm túc phản tỉnh, sửa lỗi, đổi mới. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n phải ngày ngày sửa lỗi, huống ǵ những kẻ thấp hơn Đẳng Giác! Phải trống ḷng, phải khiêm hư, phải cung kính, phải biết tôn trọng người khác, chúng ta mới có thể viên măn đức hạnh của chính ḿnh. Trong xă hội, bất luận pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, chuyện tốt nhường cho người khác, chuyện khổ sở chính ḿnh phải vui ḷng gánh vác, làm như vậy th́ tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ không c̣n ǵ nhanh hơn được nữa!

 

Thân vô bệnh khổ, tâm bất tham luyến, ư bất điên đảo, như nhập Thiền Định.

身無病苦。心不貪戀。意不顛倒。如入禪定。

(Thân không bệnh khổ, tâm chẳng tham luyến, ư chẳng điên đảo, như nhập Thiền Định).

 

Cảnh giới này tôi nghĩ không ít đồng học đă tự thấy được, cũng có thể là thấy không ít lần. Quư vị từ nơi ấy có giác ngộ hay không? Người ta làm được th́ ḿnh cũng làm được! Hy vọng ḿnh c̣n làm hay hơn người ta nữa kia! Nhưng lúc mạng sắp hết, thực sự không có bệnh khổ th́ hạng người ấy ít lắm! Đại đa số người niệm Phật văng sanh lúc lâm chung vẫn đổ bệnh, dẫu mắc bệnh, nhưng bệnh khổ của họ rất nhẹ nhàng, không nghiêm trọng. Nghiệp chướng hoàn toàn tiêu sạch lúc lâm chung. Như vậy th́ cớ sao không tiêu nghiệp chướng lúc b́nh thời? Lúc b́nh thời, nhẫn nhục chính là tiêu nghiệp chướng, cớ sao không thể nhẫn? Hết thảy những chuyện do người, sự, vật dồn đến cho ḿnh như: Hiểu lầm, hủy báng, tinh thần lẫn vật chất mọi mặt đều vất vả; đó đều là tiêu nghiệp chướng! Ta vui vẻ, hoan hỷ hứng chịu, không mang tâm nóng giận, không có ư niệm áo năo, càng chẳng báo thù. Trong cuộc sống thường nhật phải huấn luyện như thế, lúc lâm chung sẽ không có bệnh khổ, tự nhiên biết trước lúc mất, lúc nào ra đi bèn biết rơ ràng, minh bạch.

Trong thế gian này, khởi tâm động niệm, làm việc ǵ đều nhằm lợi

ích chúng sanh, ta niệm một câu Phật hiệu, đem công đức lợi ích của Phật hiệu ấy hồi hướng cho hết thảy chúng sanh, ta v́ hết thảy chúng sanh mà niệm. Đặc biệt là nghĩ đến chính ḿnh hiện tại, oán thân trái chủ bao kiếp chất chồng, ḿnh niệm niệm v́ họ. Chúng tôi mỗi ngày ở nơi đây đem Phật pháp giới thiệu cho đại chúng; trước lúc vào giảng, chúng tôi cung kính quán tưởng hết thảy thần linh khắp pháp giới, hư không giới, hết thảy thành hoàng, thổ địa, tôn thần nơi này phương khác. Trong bài kệ hồi hướng có câu: “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” (nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ân nặng, dưới cứu vớt tam đồ). Tất cả hết thảy chúng sanh thảy đều bao gồm trong ấy. V́ họ mà chúng ta làm chuyện này, chẳng nhằm lợi ích chính ḿnh, v́ sao? Tự ḿnh và pháp giới chúng sanh là một Thể, niệm niệm đều v́ pháp giới chúng sanh, không nghĩ đến chính ḿnh, điều này rất khẩn yếu, v́ sao? Nghĩ đến chính ḿnh th́ tự tư tự lợi không đoạn, Ngă Chấp không phá. Nếu khởi tâm động niệm chỉ có hết thảy chúng sanh th́ Ngă Chấp chẳng phá mà tự nhiên không c̣n, đấy chính là pháp phương tiện của Đại Thừa.

Ngă Chấp phá rồi, mọi người biết luân hồi không c̣n nữa, đời sau chúng ta sanh về đâu? Tuyệt đối chẳng đọa trong lục đạo luân hồi nữa. Quư vị thấy Tiểu Thừa phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc mới có thể vượt thoát lục đạo luân hồi. Đại Thừa cao minh hơn Tiểu Thừa, thuận tiện hơn Tiểu Thừa, Tiểu Thừa dùng phương pháp cực nhọc vất vả như vậy, phải trải qua một thời gian rất dài lâu. Bảy lần sanh vào cơi trời và nhân gian mới thoát khỏi lục đạo. Đại Thừa biết chỉ cần phá được Ngă Chấp là đủ, phá Ngă Chấp bằng cách nào? Từ tư tưởng, từ khởi tâm động niệm, cho đến hết thảy hành vi trong cuộc sống thường nhật, chẳng v́ ḿnh mà v́ chúng sanh, khẳng định chúng sanh chính là ḿnh, tự ḿnh là chúng sanh. Ḿnh và người là một chứ không hai, so với Tiểu Thừa phải nhanh hơn! Thù thắng hơn nhiều, ai v́ chính ḿnh là ngu si!

Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật nói quá nhiều, chúng ta phải hiểu, phải giác ngộ, quyết định chẳng c̣n v́ chính ḿnh nữa. Trong cuộc sống thường nhật, chính ḿnh phải thường nhớ đến Thích Ca Mâu Ni Phật; lúc tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật sống như thế nào? Ba y một bát, đêm ngủ dưới gốc cây, ngày ăn một bữa. Không có ǵ cả! Ngài trí huệ siêu phàm, lời Ngài nói ra chính là Đại Tạng kinh. Đại Tạng Kinh không do Ngài trước tác, mà do Ngài tùy cơ giảng giải cho mọi người, ghi chép lại thành Đại Tạng Kinh. Nay chúng tôi đem ra dạy dỗ vẫn phải chuẩn bị một đống tài liệu, Thích Ca Mâu Ni Phật không có ǵ cả, quư vị nói có phải là tự tại lắm không, đại tự tại! Đây chính là điều chúng ta phải học.

Trí huệ của Phật do đâu mà có? Ngài dạy chúng ta “tự tánh bổn cụ” (tự tánh vốn sẵn đủ), đức Thế Tôn nói “ta có, ngươi cũng có”. Quư vị có, cớ sao chẳng hiện tiền? V́ quư vị có nghiệp chướng. Cội rễ của nghiệp chướng là Ngă Chấp, là tự tư tự lợi, quư vị chẳng thể vứt bỏ những thứ ấy, nếu bỏ được th́ phàm phu bèn thành Phật. Trên lư luận, phàm phu thành Phật chỉ trong một niệm, một niệm quả nhiên giác ngộ, triệt để giác ngộ, phàm phu bèn thành Phật. Thể hiện của sự triệt ngộ là như thế nào? Triệt ngộ là Vô Ngă, chẳng những Vô Ngă, mà c̣n Vô Pháp.

      Vô Ngă bèn giải thoát phiền năo, cũng có thể nói là đức hạnh sẵn có nơi tự tánh bèn hiện tiền; không có Pháp th́ trí huệ Bát Nhă sẵn có nơi tự tánh bèn hiện tiền. Vô Pháp th́ phá được Pháp Chấp, Vô Ngă là phá Ngă Chấp, trong kinh Đại Thừa, đức Phật giảng rất nhiều về điều này. Sở dĩ chúng sanh trở thành chúng sanh, chẳng thể thành Phật là v́ hai thứ chấp: Ngă Chấp và Pháp Chấp. Chúng c̣n được gọi là Nhị Chướng: Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng. Phiền Năo Chướng là Ngă Chấp, Sở Tri Chướng là Pháp Chấp. Do vậy, Ngă Chấp phá rồi, đức hạnh tṛn đủ; Pháp Chấp phá rồi, trí huệ viên măn. Người thực sự biết dụng công phải dụng công nơi đây. Công phu thành tựu sẽ giống như Từ Vân đại sư đă nói ở đây: Đấy chính là hiện thân thuyết pháp, chứng tỏ công phu thành tựu. Mạng chung tự ḿnh biết, người công phu giỏi biết trước một hai năm.

      Từ Đàn Kinh chúng ta thấy Lục Tổ Huệ Năng đại sư biết trước lúc mất, bao lâu? Hơn cả năm trước. Hơn một năm trước đó Ngài đă biết rơ, phái người chuẩn bị hậu sự cho ḿnh, bảo người ấy đến gặp Ngài chuẩn bị hậu sự. Trước kia, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam ở Đài Trung biết trước lúc mất hai năm. Có một lần giảng kinh, cụ bảo đại chúng: “Tôi chỉ giảng kinh hai năm nữa!” Trong số thính chúng có người nghe không hiểu cụ nói vậy nghĩa là sao, đến Đài Bắc hỏi tôi. Tôi nói:

- Thầy quả thật nói chỉ giảng kinh hai năm nữa thôi ư?

Người ấy nói:

- Đúng vậy!

Tôi nói:

- Vậy th́ hai năm nữa thầy sẽ văng sanh.

Người ấy hỏi:

- Sao pháp sư biết thầy sẽ văng sanh?

      - Lăo nhân gia đến thế gian này chẳng làm chuyện ǵ khác, chỉ là để giảng kinh. Nếu Ngài không giảng kinh, Ngài không có chuyện ǵ khác để làm; đương nhiên phải ra đi.

      Quả nhiên hai năm sau [cụ Lư văng sanh], tâm địa thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, sớm biết rơ như thế đó. Thông thường tôi thấy người niệm Phật đại khái biết từ ba tháng trước, hai tháng trước, một tháng trước, là chuyện thường thấy. Họ bảo quư vị lúc nào đó họ sẽ ra đi, đại khái thời gian chừng một, hai tháng, hay ba tháng đă rất khá rồi. Lăo lâm trưởng Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba là cụ Trần Quang Biệt biết trước ba tháng, xác định rơ ngày giờ nào, không sai tí nào. Tuy nhiên cụ có bệnh, nhưng không bị bệnh khổ, đầu óc sáng suốt dù thể lực suy, đó là ǵ? Đó là tàn dư nghiệp chướng tiêu hết rồi. Nếu b́nh thường chịu dụng công, nghiệp chướng b́nh thời đều tiêu sạch, lúc lâm chung không có nghiệp chướng, lúc lâm chung chẳng sanh bệnh, nói đi là đi, đều là do trong cuộc sống hằng ngày, người ấy dùng tâm hạnh xử sự đăi người tiếp vật như thế nào, từ chỗ này chúng ta phải thực sự phản tỉnh, ư thức, bởi lẽ, xử sự đăi người tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày đều gọi là “chân tu hành”.

      Do vậy, chúng tôi thường nghe nói, lăo pháp sư Đàm Hư lăo nhân gia kể lại, lăo ḥa thượng Đế Nhàn có một người đồ đệ là thợ vá nồi. Vị ấy lúc mất là đứng mà mất, đợi thầy ḿnh đến thay ḿnh lo liệu hậu sự. Suốt ba ngày ba đêm, ông ta đứng sững nơi đó, không giả đâu, thật đấy! Chuyện thật đấy! Một bà cụ ở làng Tướng Quân thuộc Đài Nam niệm Phật ba năm, cũng đứng mà mất, không sanh bệnh. Khoảng hai mươi năm trước, tối đa là hai mươi mốt hay hai mươi hai năm, vào đầu thập niên tám mươi, vào năm 1983 tôi giảng kinh tại Cựu Kim Sơn (San Francisco), bà cụ Cam kể cho tôi biết thân thích của bà (cũng là một bà cụ) văng sanh một hai năm trước đó, ngồi mà văng sanh, bệnh tật ǵ cũng không có. Viết sẵn di chúc, đồ tang của con, dâu, cháu đều may sẵn, đặt bên cạnh giường. Quư vị thấy một bà cụ không nói một câu nào, hằng ngày làm việc nhà, săn sóc người nhà, con trai, con dâu đi làm, cháu đi học, bà ở nhà một ḿnh trông nhà, đại khái là niệm Phật công phu không gián đoạn, thực sự thành công!

      Những người như vậy v́ người khác mà thị hiện, đúng là đă thực sự làm được chuyện thọ tŕ đọc tụng, v́ người khác diễn nói. Dù không nói, nhưng bà cụ biểu diễn chính là nói, làm cho quư vị thấy. Quư vị thấy niệm Phật văng sanh và chăm nom việc nhà chẳng trở ngại nhau chút nào. Nếu bà cụ không biết trước lúc mất, làm sao may đầy đủ đồ tang cho con trai, con dâu và cháu? Có thể nói là cụ đă lo một nửa chuyện hậu sự. Do v́ ở ngoại quốc không tiện tay làm sẵn như thế, lúc lâm chung t́m đâu ra? Cụ biết trước bèn chuẩn bị sẵn, cũng chẳng hé môi câu nào, đột nhiên người trong nhà nhận ra bà cụ đă mất, ngồi tịnh tọa trên giường, không mắc bệnh khổ! Biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh khổ!

      “Tâm bất tham luyến, ư bất điên đảo” (Tâm không tham luyến, ư không điên đảo): Hai câu này hết sức trọng yếu, nghĩa là ǵ vậy? Thực sự buông xuống. Thực sự buông xuống trong lúc b́nh thời, ngay bây giờ phải buông xuống, quư vị c̣n đợi lúc nào nữa! V́ sao lâm chung bị sanh bệnh? Do quư vị chưa hoàn toàn buông xuống. Nếu hoàn toàn buông xuống, làm sao sanh bệnh cho được? Không tham luyến, trong tâm chẳng tham luyến hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian, không nóng giận, rơ ràng, minh bạch, không ngu si. “Ư bất điên đảo” chính là không ngu si, hai câu này (tức câu “tâm bất tham luyến, ư bất điên đảo”) là “tham - sân - si” quả thật không có. Đối với hết thảy pháp, hết thảy người, hết thảy sự không có chút ư niệm tham - sân - si nào, trong Phật pháp thường nói là thấy thấu suốt, buông xuống. “Ư bất điên đảo” là thấy thấu suốt, “tâm bất tham luyến” là buông xuống, triệt để buông xuống, phải buông xuống ngay trong hiện tại.

Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài (tức là hết thảy người, sự, vật), ư niệm vừa động đă sai. Ư niệm vừa động là ǵ? Quư vị không buông xuống, không thấy thấu suốt. Lúc đó phải làm sao? Ngay lập tức khởi lên một câu Nam-mô A Di Đà Phật để khuất phục ư niệm ấy, khuất phục được th́ tự nhiên không khởi, vậy là tốt. Cùng mọi người tiếp xúc, đúng là “bách hoa tùng trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (qua rừng trăm hoa nở, mẩu lá chẳng dính thân). Thực sự thấy thấu suốt, thực sự buông xuống. Đối xử mọi người hết thảy tùy duyên, nhưng trong ấy vẫn có nguyên nhân: Toàn là v́ lợi ích chúng sanh, toàn là v́ chánh pháp tồn tại lâu dài. Nếu không v́ lợi ích chúng sanh, không v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, quyết chẳng tham dự bất cứ hoạt động nào. Vậy nghĩa là sao? Chẳng gây tạo danh văn lợi dưỡng, cũng chẳng tham cầu ngũ dục, lục trần; trong xă hội có rất nhiều hoạt động như thế nếu quư vị tham dự th́ có nghĩa lư ǵ chăng? Không nghĩa lư ǵ hết. Dẫu là luyện tâm bằng cách trải qua mọi việc, nhưng phải thực sự nhờ những việc ấy để tu hành, rèn luyện bản thân. Rèn luyện điều ǵ? Luyện tâm không tham luyến, ư chẳng điên đảo, luyện những điều này, ra công rèn luyện. Ra công rèn luyện cũng là v́ lợi ích chúng sanh.

“Như nhập Thiền Định”: Đây là thành tích. Trong kinh Kim Cang, đức Thế Tôn dạy tôn giả Tu Bồ Đề trong cuộc sống thường ngày “bất thủ ư tướng, như như bất động” (chẳng chấp lấy tướng, như như bất động), đó chính là Thiền Định. Một người lúc sắp mạng chung cũng là “như nhập Thiền Định”, biểu diễn cho mọi người thấy, giống như lúc b́nh thường tịnh tọa nhập định, nhưng lúc b́nh thường tịnh tọa xong bèn xuất định, đến lúc nào đó sẽ ra định. C̣n người này nhập định rồi không xuất định, đi luôn. Người học Phật có thể đạt được công phu như thế th́ mới tính là thực sự thành công. Thành tựu ấy có lớn, có nhỏ, nghĩa là sao? Ra đi được thành tựu như vậy th́ chỉ cần sanh lên trời Đao Lợi của Dục Giới là đă có năng lực như thế, đă đều hiện tướng như thế, những ai sanh lên trời Đao Lợi hay những cơi trời cao hơn đều hiện tướng lành như thế. Người niệm Phật càng hy hữu hơn, lúc người niệm Phật ra đi, nếu có tướng lành hiện tiền, khẳng định sẽ giống như trong những câu sau đây:

 

Phật cập thánh chúng, thủ chấp kim đài, lai nghênh tiếp ngă, ư nhất niệm khoảnh, sanh Cực Lạc quốc.

佛及聖眾。手執金臺。來迎接我。於一念頃。生極樂國。

(Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng, đến tiếp đón con, trong khoảng một niệm, sanh cơi Cực Lạc)

 

A Di Đà Phật, Quán Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, nếu quư vị đồng thời thấy vô lượng chư Phật th́ là Thượng Thượng Phẩm văng sanh. Nếu chỉ thấy A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí theo Phật hiện đến, có rất nhiều Bồ Tát, A La Hán, cảnh giới ấy là văng sanh bậc Thượng, tức Thượng Bối Trung Phẩm hay Thượng Bối Hạ Phẩm. Quư vị chú tâm quan sát những ai theo A Di Đà Phật đến tiếp dẫn ḿnh, trong ấy nhất định có người ḿnh quen biết. Đương nhiên quư vị không bỡ ngỡ, họ là những vị thiện tri thức quư vị đă từng thân cận trong một đời này, họ văng sanh trước, thực sự văng sanh. Lúc quư vị văng sanh, họ nhất định đến, cùng theo Phật đến tiếp dẫn quư vị, quen biết mà!

Như lúc Viễn công đại sư (tổ Huệ Viễn) văng sanh thấy A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí đến tiếp dẫn, Ngài thấy ông Lưu Di Dân, trông thấy mấy vị thuộc liên xă đă văng sanh trước, cùng theo Phật đến tiếp dẫn Ngài. Ông Lưu Di Dân cười bảo Ngài: “Đại sư! Chúng tôi đều theo Ngài học Phật, chúng tôi về thế giới Cực Lạc trước, bây giờ Ngài mới về, sao chậm thế!” Do vậy, tôi thường nói về đến thế giới Cực Lạc mới có bè bạn thực sự, mới có tri giao thực sự, về thế giới Cực Lạc không tịch mịch. Trong thế gian này, cổ nhân thường cảm thán: “Tương tri măn thiên hạ, tri tâm hữu kỷ nhân?” (Quen biết khắp thiên hạ, mấy người hiểu được ta?) Một người t́m cũng không ra! Thế nhưng khắp thế giới Cực Lạc đều là tri giao, v́ sao? Ai cũng tâm địa thuần tịnh thuần thiện, đều không có tư tâm, đều không chấp Ngă, đều không chấp Pháp, thế giới ấy có phải là tốt đẹp lắm hay không? Quư vị thực sự hiểu rơ, minh bạch th́ hăy gấp lên, đừng lưu luyến thế gian này nữa, chẳng lưu luyến mảy may nào, v́ sao không gấp ra đi?

“Phật cập thánh chúng, thủ chấp kim đài” (Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng): Ở đây, chúng ta chẳng cần phải phân biệt đài vàng hay đài bạc chi hết, không cần thiết. Thời cổ thiền sư Hoài Ngọc thấy đức Phật cầm đài bạc đến, Ngài nhíu mày: “Tôi suốt đời cầu được đài vàng văng sanh!” Đức Phật cầm đài bạc đến, Ngài không muốn đi, đức Phật biến mất. Ngài lại thực sự nỗ lực niệm suốt bảy ngày bảy đêm, đức Phật hiện đến, lần này quả nhiên thấy là đài vàng, Ngài rất hoan hỷ, theo Phật văng sanh. Chúng tôi nghĩ những người như vậy đều là v́ chúng ta thị hiện, nhưng chúng ta bất tất phải chấp nhặt như thế, đài bạc cũng không sao! Cớ ǵ cứ nhất định phải đài vàng? Cần ǵ phải chấp trước như thế?

“Lai nghênh tiếp ngă, ư nhất niệm khoảnh, sanh Cực Lạc quốc” (đến nghênh đón con, trong khoảng một niệm, sanh cơi Cực Lạc): Câu này bao hàm ư nghĩa rất sâu. “Nhất niệm khoảnh” (trong khoảng một niệm) là thời gian rất ngắn, đúng là một cái khảy ngón tay, thế giới Cực Lạc cách chỗ chúng ta bao xa? Mười vạn ức cơi Phật. Điều này cho thấy không có xa hay gần. Nói cách khác, quư vị thấy Phật, lúc Phật đến tiếp dẫn th́ trước hết Phật phóng quang chiếu quư vị. Phật quang chiếu đến là Phật lực gia tŕ, công phu của quư vị nhất định được nâng cao hơn một bậc: Công phu niệm Phật của chúng ta là công phu thành phiến, nâng cao hơn một bậc thành Sự nhất tâm bất loạn. Nếu chúng ta niệm đến Sự nhất tâm bất loạn th́ nâng cao hơn một bậc là Lư nhất tâm bất loạn. V́ thế, La Thập đại sư dịch là “nhất tâm bất loạn, tâm bất điên đảo” không sai chút nào! Nhưng nguyên bản Phạn Văn ghi là “nhất tâm hệ niệm”, nhất tâm hệ niệm là chưa được Phật lực gia tŕ. Lúc lâm chung, Phật quang chiếu gội là nhất định gia tŕ, do sự gia tŕ ấy, công phu của quư vị nâng cao hơn một bậc. Nâng cao hơn một bậc là nhất tâm bất loạn. La Thập đại sư đối với cảnh giới này hiểu rất rơ ràng, thấu suốt, Ngài cũng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. A! Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp câu cuối cùng của bài Tịnh Độ Văn:

 

Hoa khai kiến Phật, tức văn Phật thừa, đốn khai Phật huệ, quảng độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện.

華開見佛。即聞佛乘。頓開佛慧。廣度眾生。滿菩提願。

(Hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, mau khai Phật huệ, rộng độ chúng sanh, măn nguyện Bồ Đề).

 

Chúng ta hăy xem mấy câu tổng kết này. Nếu công phu thực sự khá th́ Thượng Thượng Phẩm văng sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, không phải ai cũng làm được điều này. Chắc chắn đại đa số văng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Ở đây là Lư nhất tâm bất loạn, v́ sao? “Sanh Cực Lạc quốc, hoa khai kiến Phật” (sanh cơi Cực Lạc, hoa nở thấy Phật) chính là Lư nhất tâm bất loạn, cảnh giới này hoàn toàn giống như cảnh giới minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ của Tông môn. Đương nhiên cũng là thiểu số, bởi Kiến Tư phiền năo đă đoạn sạch, Trần Sa phiền năo cũng đă đoạn hết, Vô Minh cũng phá được mấy phẩm, đấy là “ư nhất niệm khoảnh, sanh Cực Lạc quốc, hoa khai kiến Phật” (trong khoảng một niệm, sanh cơi Cực Lạc, hoa nở thấy Phật).

“Tức văn Phật thừa” (liền nghe Phật thừa): Chúng ta thường gọi “Phật thừa” là pháp Nhất Thừa. Trong Đại Thừa, Nhất Phật Thừa là pháp chân thật nhất. Trong hội Pháp Hoa, đức Thế Tôn nói: “Duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết” (chỉ có pháp Nhất Thừa; không hai cũng không ba, trừ khi đức Phật nói phương tiện). Do đây biết rằng chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới, thực sự dạy người quả thật chỉ có pháp Nhất Thừa. Chỉ có pháp Nhất Thừa mới là thực sự b́nh đẳng, mới thực sự là từ bi. Tam Thừa là ǵ? Tam Thừa là Đại Thừa, Đại Thừa là Bồ Tát Thừa, [hợp với] Duyên Giác Thừa, Thanh Văn Thừa thành Tam Thừa. Bồ Tát Thừa là Đại Thừa, Duyên Giác Thừa là Trung Thừa, Thanh Văn Thừa là Tiểu Thừa; đó là Tam Thừa. Nếu nói Nhị Thừa th́ là Đại Thừa và Tiểu Thừa; Đại Thừa là Bồ Tát, Tiểu Thừa là Thanh Văn và Duyên Giác gộp chung lại gọi là Tiểu Thừa. Trong hội Pháp Hoa, đức Thế Tôn “khai quyền hiển thật” (mở ra quyền giáo, chỉ bày thật giáo), chỉ rơ pháp nào là pháp quyền xảo phương tiện. Nói hai thừa hay nói ba thừa chính là đức Phật nói một cách phương tiện, chứ không nói chân thật. Nói chân thật th́ chỉ có pháp Nhất Thừa. Kinh Pháp Hoa là Nhất Thừa, kinh Hoa Nghiêm là Nhất Thừa, kinh Phạm Vơng là Nhất Thừa.

Do vậy, ở đây chúng ta thấy: “Hoa khai kiến Phật, tức văn Phật thừa” (hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa), Phật thừa chỉ cho điều ǵ? Theo ư chúng tôi, nhất định là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh! Pháp Nhất Thừa rốt ráo viên măn; do vậy, đương cơ kinh Hoa Nghiêm là ai? Bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ. Pháp Thân đại sĩ trụ ở nơi đâu? Trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ. Chúng ta phải biết Tây Phương Cực Lạc thế giới có bốn cơi, Phàm Thánh Đồng Cư Độ [của Cực Lạc] tương đương với Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong thế giới này của chúng ta. Địa cầu của chúng ta chính là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, chúng ta biết A La Hán tu hành tại nơi đây. Thế nhưng do khác chiều không gian, chúng ta không thấy được A La Hán. A La Hán cũng chẳng khinh dị để cho chúng ta thấy.

      Quư vị đă từng đọc Tam Muội Thủy Sám thấy quốc sư Ngộ Đạt nghiệp chướng hiện tiền, đau đớn v́ mụt ghẻ mặt người, gần như muốn chết. Lúc ấy chợt nhớ khi trước có một vị ḥa thượng, vị ḥa thượng ấy sanh bệnh khắp ḿnh lở loét, hôi thối không thể diễn tả nổi. Sư không ngại, Sư phát tâm từ bi săn sóc vị ḥa thượng ấy. Sau này, vị ḥa thượng đó bảo Sư: “Trong tương lai khi ông có đại nạn, hăy đến t́m tôi”. Ngài cho biết ḿnh ở tại ngọn núi đó thuộc Tứ Xuyên, trên núi ấy có hai cây tùng, “Cứ đến đó t́m tôi, tôi sẽ giúp đỡ ông!” Sau này, khi Sư bị bệnh ghẻ mặt người, nhớ lại lời ấy, bèn đi t́m, kết quả mới biết vị ḥa thượng ấy chính là A La Hán thị hiện. Sư đến chỗ ấy t́m Ngài, quả nhiên thấy đạo tràng A La Hán, bảy báu trang nghiêm! Vị ḥa thượng ấy vốn là tôn giả Ca Nặc Ca, ḥa giải, hóa trừ oan kết cho Sư. Oán gia trái chủ bỏ đi, dùng nước tam-muội rửa vết thương mới khôi phục. Sau đấy, Sư rời đi, ngoảnh đầu nh́n lại không c̣n ǵ nữa, chỉ c̣n một giải núi hoang, cái ǵ cũng không có, mới biết trong nhân gian có đạo tràng của A La Hán, không có duyên phận thù thắng đặc biệt sẽ chẳng thấy được!

      Vị tổ sư đời thứ tư của Tịnh Độ Tông chúng ta là ngài Pháp Chiếu, Ngài cũng là thiền sư, có duyên với Tịnh Độ rất sâu. Có một ngày vào lúc quá đường (tức là ăn cơm), trong tự viện quá đường dùng bát, hôm ấy ăn bữa sáng. Bữa sáng ăn cháo, Ngài cúi đầu nh́n vào bát, chợt thấy cảnh Ngũ Đài Sơn hiện ra trong bát. Chùa Đại Thánh Trúc Lâm Tự của Văn Thù Bồ Tát hiện ra trong bát, thấy thật rơ ràng, Ngài không biết đấy là đâu, hỏi người khác. Người khác nh́n vào, có người đă từng đến Ngũ Đài Sơn, vừa nh́n là biết cảnh Ngũ Đài Sơn. Do vậy, Tổ phát tâm triều bái Ngũ Đài. Lúc triều bái Ngũ Đài, đến được Ngũ Đài Sơn, quả nhiên thấy con đường này giống hệt như cảnh đă hiện trong bát, bèn lần theo con đường ấy đi t́m, quả nhiên t́m được Đại Thánh Trúc Lâm Tự. Văn Thù, Phổ Hiền hai vị Bồ Tát đều ngự trong đó, Văn Thù Bồ Tát giảng kinh, Ngài ngồi nơi đó nghe hết buổi giảng. Sau đấy hướng về Văn Thù Bồ Tát thỉnh giáo: “Thế gian này đă bước vào thời Mạt Pháp, căn tánh con người ngày càng kém cỏi, phiền năo tập khí ngày càng sâu hơn người đời trước, phải tu pháp ǵ mới ḥng thành tựu?” Văn Thù Bồ Tát bảo Tổ: “Phải tu pháp môn Niệm Phật”.

Cách niệm như thế nào? Văn Thù Bồ Tát niệm mấy câu cho Tổ nghe, Tổ bèn học lấy. Sau này ra khỏi Trúc Lâm Tự, ven theo đường đi vẫn đánh dấu, sợ lạc đường, để lần sau trở lại! Vừa đánh dấu, quay đầu nh́n lại đă thành một giải núi hoang, chùa miếu không c̣n nữa, thật đúng như một giấc mộng. Do vậy mới hiểu đấy là cảnh giới của thánh nhân. Trở về, Tổ bèn đề xướng pháp môn Niệm Phật, Ngũ Hội Niệm Phật do chính thiền sư Pháp Chiếu đề xướng. Thanh điệu Ngũ Hội Niệm Phật do chính Văn Thù Bồ Tát truyền cho Tổ. Hiện tại cũng có Ngũ Hội Niệm Phật nhưng tôi nghe qua, không giống! V́ sao? Ngũ Hội Niệm Phật hiện thời, chúng ta nghe xong tâm không định; c̣n phương pháp Niệm Phật do Văn Thù Bồ Tát truyền không thể nào khiến cho quư vị nghe xong tâm chẳng thanh tịnh, không thể nào! Nhất định phải rất nhiếp tâm. Như vậy, phương pháp Ngũ Hội Niệm Phật ấy đúng là đă thất truyền. Khúc nhạc Ngũ Hội Niệm Phật hiện thời là do vào thời đầu Dân Quốc có một vị pháp sư soạn ra nhạc phổ, giống như xướng ca, nghe rất êm ái. Tôi nghe xong, tôi nói tốt lắm, đây là một phương pháp tốt để tiếp dẫn những người trẻ tuổi hiện thời, nhưng thực sự niệm Phật nhiếp tâm, muốn niệm đến mức công phu thành phiến, nhất tâm bất loạn th́ phương pháp ấy có vấn đề.

Như vậy, Bồ Tát, A La Hán ở cùng một chỗ với chúng ta là thật, không giả. Sử sách, bút kư, tiểu thuyết của cổ nhân đă ghi chép rất nhiều, c̣n như chuyện chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian này càng nhiều hơn nữa! Chúng ta là phàm phu nhục nhăn không thấy được, đây là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Phương Tiện Hữu Dư Độ giống như tứ thánh pháp giới, Phàm Thánh Đồng Cư Độ giống như lục đạo của chúng ta. Trong lục đạo, kinh điển nói Phàm Thánh Đồng Cư Độ có ba chỗ: Chỗ nhân gian của chúng ta là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Trong Dục Giới thiên có trời Đâu Suất, nội viện của Bồ Tát Di Lặc ở trên trời Đâu Suất, Đâu Suất thiên là Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong Dục Giới. Đệ Tứ Thiền trong Sắc Giới có Ngũ Bất Hoàn Thiên là nơi tu hành của chư thiên thuộc cơi trời Tịnh Cư. Chư thiên cơi trời Tịnh Cư đều chứng từ Tam Quả trở lên; do vậy nơi ấy cũng là một cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Những cơi này tương đương với cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng không thù thắng. Ở chỗ chúng ta, tuy là cơi Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng cảnh giới phàm và thánh khác nhau, phàm phu không thấy được thánh nhân, thánh nhân cũng chẳng thấy phàm phu. Trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới, phàm và thánh hằng ngày gặp nhau, sống cùng một chỗ, chẳng thể nghĩ bàn!

Do vậy, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, ở Phàm Thánh Đồng Cư Độ hằng ngày gặp mặt Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, cũng như hằng ngày gặp mặt các vị đại Thanh Văn. Ngày ngày cùng học một chỗ, rất hy hữu, thù thắng khôn sánh. Phương Tiện Hữu Dư Độ tương đương với bốn thánh pháp giới của chúng ta, Thật Báo Trang Nghiêm Độ [của hai cơi Sa Bà và Cực Lạc] giống nhau, không phân biệt ǵ. Cơi Thật Báo của Thích Ca Mâu Ni Phật và cơi Thật Báo của thế giới Cực Lạc không khác ǵ nhau. V́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng nhất là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, có thể làm cho phàm phu chúng ta chẳng đoạn một phẩm phiền năo mà vẫn có thể một đời viên thành Phật đạo. Do vậy, thập phương chư Phật tán thán thế giới Cực Lạc, tán thán A Di Đà Phật, đạo lư là đây! Đă thế, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, dù là Hạ Hạ Phẩm văng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, như chúng ta xem trong Quán Kinh, đến khi hoa nở thấy Phật chỉ là mười hai kiếp, Hạ Hạ Phẩm văng sanh đấy nhé!

Mọi người chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới có thể không phải là Hạ Hạ Phẩm, tối thiểu là Hạ Trung Phẩm, Hạ Thượng Phẩm, Trung Hạ Phẩm, Trung Trung Phẩm, rất có khả năng. Hạ Hạ Phẩm tạo Ngũ Nghịch, Thập Ác, nhưng chúng ta không tạo tội nghiệp, không tạo tội nặng như thế. Trong hiện tại, tạo tác ác nghiệp rất có khả năng, chứ thời cổ rất khó, quư vị thấy: Giết cha mẹ, tội đại nghịch bất đạo hiện thời là có, chúng ta thường nghe tin tức nói đến. Trước kia, đúng là hết sức khó nghe nói có những chuyện như vậy, con người dẫu tệ hại cũng không đến nỗi giết cha mẹ, giết hại anh em.

Nghe kinh Hoa Nghiêm hết sức khó khăn v́ kinh này giảng cho Pháp Thân đại sĩ. Ngày nay chúng ta gặp được duyên phận này, mọi người cùng học kinh Hoa Nghiêm, tuy chúng ta không phải là Pháp Thân Bồ Tát, nhưng chúng ta học chương tŕnh học của Pháp Thân Bồ Tát, nhân duyên hy hữu khó được! Chúng ta được huân tập, dù học Hoa Nghiêm, nhất định phải nhớ chuyên tâm tu Tịnh Độ. Chúng ta nghe kinh Hoa Nghiêm, đọc kinh Hoa Nghiêm, công phu của chúng ta vẫn là niệm A Di Đà Phật y như cũ, cầu sanh về thế giới Cực Lạc, kinh này giúp cho chúng ta rất lớn. V́ sao? Quư vị thấy Vô Lượng Thọ Kinh vừa mở đầu đă nói: “Hàm cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức” (đều cùng tuân tu đức hạnh của Phổ Hiền đại sĩ). Đức của Phổ Hiền đại sĩ chính là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Do vậy, học Hoa Nghiêm, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chính là nâng cao phẩm vị văng sanh của chúng ta rất lớn, nâng cao thứ bậc lên. Cơ duyên khó được, chẳng dễ gặp được, nhất định phải quư tiếc.

“Đốn khai Phật huệ” (mau khai Phật huệ) chính là minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, chúng ta chẳng dám mong mỏi cảnh giới ấy. Nếu thực sự hiểu rơ, thực sự giác ngộ, buông tự tư tự lợi xuống, đối với chính ḿnh không chấp trước, đối với hết thảy người, sự, vật, hết thảy vạn pháp chẳng c̣n chấp trước nữa. Hai thứ chấp Ngă Chấp và Pháp Chấp dẫu chưa thể nói là đă đoạn sạch, nhưng đă nhạt đi rất nhiều th́ phẩm vị của quư vị tự nhiên nâng cao. Do vậy, đối với những bộ kinh giúp cho chúng ta rất lớn, phải nghiêm túc nỗ lực học tập.

      “Quảng độ chúng sanh”: Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới “quảng độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện” (rộng độ chúng sanh, măn nguyện Bồ Đề) là điều khẳng định. Dù chính ḿnh chưa khai ngộ, văng sanh bậc Hạ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ nhưng vẫn có thể rộng độ chúng sanh, dựa vào đâu? Dựa vào bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. Do người ấy chưa kiến tánh, những thứ trí huệ, năng lực, tướng hảo trong tự tánh chưa hiện tiền, nhưng do Phật lực gia tŕ, được bốn mươi tám nguyện đại từ đại bi của A Di Đà Phật gia tŕ nên trí huệ, đức năng, tướng hảo liền chẳng kém Thất Địa Bồ Tát cho mấy, A Duy Việt Trí Bồ Tát mà! Phàm ai văng sanh đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Trong tất cả hết thảy các cơi nước khác, t́m chẳng ra chuyện này, mười phương thế giới chư Phật đều chẳng có! V́ vậy, hết thảy chư Phật tán thán Tây Phương Cực Lạc thế giới, tán dương A Di Đà Phật, đạo lư là đây! Đây chính là chân chánh thỏa măn đại nguyện Bồ Đề của chư Phật, mà cũng là thỏa măn nguyện Bồ Đề của chính ḿnh.

      Một thiên Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ được rất nhiều người thọ tŕ. Không chỉ những vị đồng học Tịnh Độ Tông khi tụng kinh, niệm Phật, sám hối, hồi hướng thường tụng bài này, mà ngay cả những người không chuyên tu Tịnh Độ; thậm chí trong Tông Môn, Giáo Hạ, những người nương theo bài văn này để phát nguyện rất nhiều. Thiên văn tự này có vô lượng vô biên công đức, giúp không ít người văng sanh Tịnh Độ. Chúng ta lại xem bài kệ tiếp theo:

 

      Niệm Phật lâm chung kiến bảo đài,

      Bảo phan, bảo cái măn không bài,

      Di Đà, Thế Chí, Quán Âm đẳng,

      Hiệp chưởng tương tùy quy khứ lai.

      念佛臨終見寶臺。

寶幡寶蓋滿空排。

彌陀勢至觀音等。

合掌相隨歸去來。

      (Niệm Phật lâm chung thấy bảo đài,

Lọng phan quư báu ngập trời bày,

Chắp tay theo gót Di Đà Phật,

Quán Âm, Thế Chí trở về Tây).

     

      Bài kệ này tán thán người niệm Phật lâm chung văng sanh, quư vị thấy thù thắng như thế đó! Người thế gian chúng ta gọi là “phô trương, chưng bày”, phô bày sự thù thắng khôn sánh, dù là pháp thế gian hay xuất thế gian đều t́m không được, chỉ có người chân chánh niệm Phật, công phu niệm đến nơi đến chốn không c̣n phân biệt, chấp trước Ngă và các pháp, như kinh Kim Cang đă nói: “Vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Niệm đến cảnh giới ấy, lúc lâm chung sẽ giống như bài kệ này đă nói: “Kiến bảo đài” (thấy đài báu), tức là thấy hoa sen, “Phật cập thánh chúng, thủ chấp kim đài, lai nghênh tiếp ngă” (Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng đến tiếp đón con). Quư vị thực sự thấy như vậy, chứ không phải là giả vờ thấy. “Bảo phan, bảo cái măn không bài” (Lọng, phan quư báu bày đầy hư không), quư vị thấy những thứ cúng dường theo chân Phật, Bồ Tát: Lọng báu, tràng phan báu tràn ngập hư không. Nay chúng ta ít thấy nhà Phật chưng bày như thế, chứ trước kia th́ có, trước kia trong đại pháp hội quả thật phô trương như thế đó, nay rất ít thấy, thời đại đă khác rồi! Người ta coi sự chưng bày choáng lộn ấy là mê tín.

Thế nhưng nay ở Trung Quốc, Tây Tạng, Thanh Hải, các dân tộc Tây Tạng trên cao nguyên hoặc dân Mông Cổ theo Mật Tông vẫn c̣n duy tŕ như vậy. Chúng tôi thấy ở những nơi đó khắp núi non, đồng trống là tràng phan, lọng báu. Bất cứ nơi nào chúng tôi báo tin đến thăm, người ta vẫn đem những thứ ấy đến cúng dường. Tràng phan, bảo cái đều mang ư nghĩa biểu thị pháp. Nay chúng ta coi trọng việc biểu thị pháp. Những thứ ấy đều thuộc loại cờ xí, thứ dẹp và dài gọi là Phan (); thứ tṛn, giống như một cái ống thông gió th́ gọi là Tràng (). Cái () là tàn lọng để ngăn che bụi bặm. Tràng biểu thị thuyết pháp, Phan biểu thị pháp hội. Ở nơi nào thực hiện những hoạt động với quy mô lớn th́ dùng tràng phan, bảo cái. Mỗi một người văng sanh là đại sự, chư Phật, Bồ Tát đều đến. Số người đông đảo chúng ta không có cách ǵ tưởng tượng được, xếp bày đầy ắp hư không.

      “Di Đà, Thế Chí, Quán Âm” là Tây Phương Tam Thánh, là những nhân vật chính đến tiếp dẫn! Người lâm chung trông thấy những tướng lành như thế quyết định văng sanh. Tướng lành như vậy ma không thể hiện được, quả thật là lâm chung Tây Phương Tam Thánh đến tiếp dẫn, an tâm theo các Ngài đi, ổn thỏa, thích đáng không sai lầm chút nào! V́ thế “hiệp chưởng tương tùy quy khứ lai” (Chắp tay theo chân Phật, Bồ Tát trở về). “Quy khứ” là văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, “lai” là hy vọng quư vị sẽ nương theo bổn nguyện trở lại (thừa nguyện tái lai). Trong bài này có đủ những ư tán thán, phó chúc, cầu nguyện.

 

34. Tam Bảo Tán – Tán Tăng Bảo

 

      Tiếp theo là phần tán thán Tăng Bảo thuộc phần tán Tam Bảo của thời thứ ba. Trong những phần trên chúng ta đă tán thán Phật Bảo, tán thán Pháp Bảo, nay là tán thán Tăng Bảo.

Trước hết, chúng ta chỉ nói về Tăng, tiếng Phạn là Tăng Già Da (Sanghaya), người Hoa thích đơn giản nên những âm cuối đều lược bớt, chỉ gọi là Tăng. Kỳ thật chữ Da ở cuối chữ mang ư nghĩa tôn kính. Quư vị thấy Phật Đà Da (Buddhaya), Đạt Ma Da (Dharmaya), Tăng Già Da, Da mang ư nghĩa tôn kính. Tăng: Từ bốn người trở lên cùng nhau tu hành, tuân thủ giáo giới của Phật Đà (giáo giới ấy chính là Lục Ḥa Kính), bốn người cùng tuân thủ Lục Ḥa Kính th́ mới gọi là Tăng. Do vậy, Tăng là một đoàn thể, không phải chỉ một người. Đoàn thể từ bốn người trở lên như thế được gọi là Tăng Đoàn. Người dẫu đông nhưng không tu Lục Ḥa Kính, không thể gọi là Tăng Đoàn, chẳng thể gọi là Tăng. V́ vậy, Tăng nhất định phải ḥa kính.

      Tăng nghĩa là thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần. Nếu quư vị nghĩ bất ḥa, bất kính, tâm quư vị thanh tịnh sao được? Đă bị nhiễm ô mất rồi! Thực sự thực hiện được “ḥa kính” sẽ tự nhiên chẳng nhiễm mảy trần, thân tâm thanh tịnh. Do đây biết rằng: Lục Ḥa là nhân, sáu căn thanh tịnh là quả. Tu nhân nhất định phải đạt được quả báo. Quả báo là sáu căn thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần. Tu nhân quan trọng lắm! Trong Lục Ḥa, điều thứ nhất là Kiến Ḥa Đồng Giải, nay chúng ta gọi là “thiết lập nhận thức chung”, rất khó khăn. Giữa người với người, đây kia đều có ư kiến, mỗi người nghĩ một cách, mỗi người nh́n một cách, phiền toái lắm. Làm sao mới có thể tương đồng? Quư vị nói: “Tốt! Chúng ta đều nương theo lời Phật dạy, đức Phật dạy như thế nào, chúng ta nương theo đức Phật, c̣n ǵ bất đồng nữa!”

V́ sao? Ư kiến của Phật khác với ư kiến của chúng ta. Có người nói: “Y theo ư kiến của Phật ư? V́ sao không thể theo ư kiến của chúng ta?” Là v́ chư Phật Như Lai cao minh, cao minh đến cùng cực, lời Ngài nói ra đúng là khế lư, khế cơ, hết sức công bằng, hết sức công chánh. Vậy th́ mọi người chúng ta buông hết thảy cách nghĩ, cách nh́n của ḿnh xuống, há chẳng b́nh đẳng ư? Chúng ta buông xuống, Phật cũng buông xuống, đấy gọi là “trở về với Nhất Chân”, quư vị thấy phương pháp này cao minh lắm! Đức Phật nói: Quư vị không cần phải theo tôi, mọi người chúng ta đều buông xuống, b́nh đẳng. Thực sự b́nh đẳng, không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, Kiến Ḥa Đồng Giải mà! Có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ cách nghĩ và cách nh́n đều khác nhau. Có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước bèn sanh phiền năo; không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước bèn sanh trí huệ. V́ thế, kinh luận thường nói: “Phiền năo tức Bồ Đề” (phiền năo chính là Bồ Đề). Buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống, Bồ Đề bèn hiện tiền; cứ hễ kèm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước vào th́ phiền năo bèn hiện tiền. Phiền năo và Bồ Đề là một, từ quan điểm này đức Phật lập ra “kiến ḥa đồng giải”.

      Chúng tôi thường nói: Thật ra, chúng ta chưa buông xuống được, chưa buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống được; buông xuống không được th́ làm sao đây? Đó là chuyện bất đắc dĩ, mọi người chúng ta phải nghĩ: Nên y theo lời giáo huấn của đức Phật, y giáo phụng hành; nói chung là căn cứ vào đó. Đây là phương pháp bất đắc dĩ, rớt vào Đệ Nhị Nghĩa; chứ trong Đệ Nhất Nghĩa, ngay cả Phật cũng buông xuống, đó là thật, thực sự sanh, chân thật sanh. Nay chúng ta dựa vào những giáo huấn của Phật, Bồ Tát trong kinh luận để tu hành, nói thật ra là Tương Tự Vị, không phải là Chân Thật Vị, mà là Tương Tự Vị, rất giống nhưng chưa phải là thật, nhưng cũng kể là khá lắm: Từ Tương Tự có thể dần dần chứng được chân thật. Nếu chẳng trải qua Tương Tự, chắc chắn chẳng thể đạt được Chân Thật. Do vậy, chúng ta phải thừa nhận bản thân nghiệp chướng sâu nặng, là phàm phu không có năng lực buông phiền năo, tập khí xuống. Nếu nay chúng ta không nhờ vào kinh giáo để giúp đỡ, ngoài cách này ra, không c̣n có cách thứ hai nào để theo! Ta là hạng căn tánh trung hạ th́ nhất định phải tuân theo giáo huấn của thánh hiền. Giáo huấn của thánh hiền là sự chứng đắc từ trong tự tánh của chính họ, là trí huệ chân thật! Tánh đức vốn có đức năng. Đức năng vốn có nơi tánh đức chính là Giới Luật. Trí huệ vốn sẵn đủ chính là kinh giáo.

      Như vậy, tuân theo những giáo huấn trong kinh điển chính là tuân theo tánh đức của chính ḿnh. Khi bản thân quư vị đă minh tâm kiến tánh rồi, tư tưởng, kiến giải và hành vi của quư vị nhất định hoàn toàn giống với chư Phật, Bồ Tát. Phật Phật đạo đồng, chúng ta phải hiểu đạo lư này. Hiểu rồi mới chết ḷng trọn ư nơi kinh giáo, ta niệm kinh là niệm ǵ vậy? Chính là niệm trí huệ, công đức của tự tánh. Chúng ta y giáo phụng hành là y theo ǵ? Y theo trí huệ, đức năng sẵn có nơi tự tánh để hành động, để sống, chẳng trái nghịch tánh đức. Ngàn vạn phần phải nhớ kỹ, không phải là ta bị Phật, Bồ Tát xỏ mũi lôi đi đâu nhé! Hiểu như vậy là lầm lẫn quá đỗi! Ngay cả Ấn Quang đại sư trong thời hiện tại, thực sự là Phật, Bồ Tát, quư vị thấy Ngài dạy, Ngài chỉ đạo chúng ta: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” (Giữ vẹn luân thường, trọn trách nhiệm, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành; tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ), hoàn toàn là tánh đức, tuyệt đối chẳng phải là chúng sanh trong chín pháp giới có thể nói ra [những lời như vậy] được. Lời này lưu xuất từ tánh đức, nhất định phải hiểu rơ ràng những chữ này.

      Tu hành bắt đầu từ đâu? Nhất định phải bắt đầu từ tŕ giới. Theo truyện kư về Phó Đại Sĩ trong nhà Phật, Ngài là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát; quả thật, Bồ Tát đều có năng lực như thế này: Nên dùng thân cư sĩ để độ, bèn hiện thân cư sĩ thuyết pháp. Di Lặc Bồ Tát hiện thân cư sĩ là Phó Đại Sĩ; Di Lặc Bồ Tát hiện tướng xuất gia là ḥa thượng Bố Đại. Ḥa thượng Bố Đại cũng là Di Lặc Bồ Tát hóa thân; hiện tướng tại gia cư sĩ là Phó Đại Sĩ. Ngài dạy chúng ta không phải là Di Lặc Bồ Tát dạy chúng ta hay sao? Ngài dạy chúng ta như thế nào? Ngài dạy: “Thị tâm thị Phật, thị Phật thị tâm, niệm niệm Phật tâm, Phật tâm niệm Phật, dục đắc tảo thành, giới tâm tự luật, tịnh luật tịnh tâm, tâm tức thị Phật” (Tạm dịch: Tâm này là Phật, Phật này là tâm, trong mỗi niệm [tâm là] tâm Phật, [dùng] tâm Phật để niệm Phật, muốn được sớm thành th́ phải dùng cái tâm giới luật để tự ước thúc ḿnh, giữ giới thanh tịnh th́ tâm thanh tịnh, tâm chính là Phật). Không một vị Phật hay Bồ Tát nào chẳng dạy người phải khởi đầu bằng Giới Luật!

      Cận đại, lăo ḥa thượng Hư Vân thường dạy hàng sơ học, câu đầu tiên là “nghiêm tŕ giới luật”. Bởi thế, điều thứ hai trong Lục Ḥa Kính là “giới ḥa đồng tu”. Giữ giới luật, giữ quy củ th́ Tăng đoàn của quư vị mới được mọi người tôn kính, có trật tự, có quy củ, là tấm gương tốt cho tất cả hết thảy những đoàn thể trong xă hội. V́ người khác diễn nói đấy! Toàn bộ đoàn thể biểu diễn nơi đấy, biểu diễn cho đại chúng xă hội xem, mong tất cả hết thảy đoàn thể đều ḥa thuận giống như thế. Mọi người đều biết tôn kính lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm đến nhau, hợp tác với nhau. Làm như thế nào mới đạt được như thế? Tŕ giới mới có thể đạt. Quư vị không tŕ giới, không tuân thủ quy củ sẽ không thể làm được. Một đoàn thể như vậy thực sự chẳng những được người thế gian tôn trọng, mà chư thiên cũng đều ủng hộ, đều khen ngợi. Trong cuộc sống hằng ngày th́ thực hiện “thân đồng trụ, khẩu vô tranh, ư đồng duyệt, lợi đồng quân” (thân cùng ở, miệng không căi, cùng chia sẻ ư kiến, lợi chia đều), thực sự thực hiện Lục Ḥa Kính. Đối với chính ḿnh th́ chính ḿnh tu dưỡng bằng Ngũ Giới, Thập Thiện; sau đấy nâng cao lên thành Thập Giới, hai mươi bốn oai nghi, đấy chính là Sa Di. Nay chúng tôi chỉ mong mỏi làm được tiêu chuẩn này.

V́ thế, sau khi học viện mở cửa, hết thảy mọi việc đi vào khuôn khổ, môn học đầu tiên tức môn học chung cho mọi lớp chính là Sa Di Luật Nghi, tại gia hay xuất gia đều phải học Thập Giới hai mươi bốn oai nghi. Tương lai, học viện chúng ta mỗi một quư (Xuân, Hạ, Thu, Đông mỗi một quư) mở một lần Phật học giảng ṭa. Trong Phật học giảng ṭa, có ba môn học cơ bản cần phải có, tức là mỗi lần chúng ta đều phải giảng ba môn ấy. Môn thứ nhất là Nhận Thức Phật Giáo. Học Phật mà quư vị không biết rơ ràng Phật giáo là ǵ th́ học cái ǵ đây? Đấy chính là khoa mục chung của chúng ta. Môn thứ hai chính là tác phẩm mà Ấn Quang đại sư lăo nhân gia suốt đời cực lực đề xướng, tức Liễu Phàm Tứ Huấn. Môn thứ ba là Sa Di Luật Nghi. Ba môn ấy là công khóa chủ tu (tu học chánh yếu) của chúng ta, nhất định phải giảng. Một năm giảng bốn lần, nếu không thường xuyên cảnh tỉnh chúng ta như thế, ấn tượng sẽ không sâu, không thể giác ngộ. V́ thế, quư vị tu rất khổ sở, rất khó khăn, không muốn thực hiện. Nếu thực sự hiểu rơ, quư vị sẽ rất hoan hỷ thực hiện, quyết định chẳng trái nghịch.

      V́ sao? V́ quư vị đạt được pháp hỷ từ đó, quư vị biết làm như vậy sẽ thực sự vui sướng, nếu trái nghịch sẽ thực sự đau khổ. Khoan nói đến nghiệp báo, lương tâm bị cắn rứt; nhưng nay quư vị hoàn toàn ngược lại, tợ hồ chẳng bị lương tâm cắn rứt là v́ sao? Quư vị không có lương tâm! Tâm ôm ấp những điều xấu xa, chẳng lành, bởi thế lương tâm không cắn rứt, quư vị không có lương tâm! Nếu có lương tâm sẽ bị lương tâm cắn rứt. Người không có lương tâm chính là người thuộc ba ác đạo, không c̣n thuộc nhân đạo nữa, đương nhiên càng chẳng thể là người thuộc về thiên đạo. Lư và Sự này chúng ta đều phải hiểu, phải thấy rơ. Do vậy, ba môn trên đây chúng tôi ấn định là ba môn phải tu học đối với hàng sơ học. Ngoài ra, trong những điều phải tu c̣n có những môn tuyển tu, tức là những môn học phụ trợ cũng rất quan trọng: Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Đức Dục Khóa Bản, về kinh điển th́ có Thập Thiện Nghiệp Đạo, kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung, những môn học ấy chúng tôi đều phải mở. Nếu những môn học ấy không thiết lập được cơ sở sâu dầy th́ chúng ta học Phật sẽ không có gốc rễ!

      Chúng ta niệm Phật muốn thực sự niệm đến “lâm mạng chung thời, dự tri thời chí, một hữu bệnh khổ, như nhập Thiền Định” (lúc mạng sắp hết, biết trước lúc đi, không bị bệnh khổ, như nhập Thiền Định), rất khó đạt được. Quư vị chú tâm quan sát phàm ai lâm chung có những tướng lành như thế, quư vị chú tâm quan sát: Những người ấy dầu không học vẫn có thể làm được; họ thực sự có lương tâm, đúng là thiện nhân, đăi người, tiếp vật, không có tí xíu ác ư nào. V́ thế, lâm chung mới có được tướng lành như thế. Do vậy, nay ở học viện này của chúng ta, tốn mất thời gian hai năm để đặt vững cơ sở, các kinh luận khác dù chúng ta chưa học, thậm chí chúng ta không cần phải học, cứ một câu niệm Phật niệm đến triệt để, lúc lâm chung quư vị sẽ có tướng lành như thế. Thượng phẩm văng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, tướng lành hết sức hy hữu, đều có thể biết trước lúc mất, thân không bệnh khổ, [văng sanh trong] ba bậc Thượng của Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Tất cả hết thảy pháp trong thế gian đều là giả, c̣n điều này là thật, chúng ta phải tranh thủ cái thật, buông cái giả xuống. Danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần là giả, triệt để buông xuống. A! Nay đă hết giờ rồi!

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự

Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 18 hết

 



[1] Nguyên văn “thị bồi sấn đích thoại” tức là lời nói dẫn khởi với mục đích làm nổi bật ư sẽ được nói trong câu kế tiếp.

[2] Can Tương và Mạc Gia  (thời cổ thường dùng lẫn lộn chữ , nên tên của bà này thường viết thành 莫邪, do vậy, đôi khi bị đọc sai thành Mạc Tà) là hai vợ chồng người nước Ngô, là thợ giỏi đúc kiếm thời ấy. Mạc Gia là vợ của Can Tương. Vua nước Ngô là Hạp Lư sai Can Tương đúc kiếm, nhưng sắt đun măi không chảy. Vợ hỏi phải làm như thế nào? Can Tương nói: “Thuở xưa, đại sư Âu Dă Tử đúc kiếm, sắt nấu không chảy, do vậy, cậy một nữ nhân làm thần ḷ, bèn đúc thành công rất nhanh”. Mạc Gia nghe nói như vậy bèn lập tức nhảy vào ḷ đúc, sắt liền chảy tan ra. Can Tương đúc thành hai thanh kiếm báu, thanh hùng kiếm đặt tên là Can Tương, thanh thư kiếm đặt tên là Mạc Gia. Có truyền thuyết khác nói Can Tương đúc hai thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia, nhưng chỉ dâng thanh Mạc Gia cho vua Sở, biết chắc vua phát giác sẽ bị kết tội chết, nên dặn vợ là Mạc Gia: “Sau này con sanh ra, khôn lớn, hăy bảo nó t́m kiếm bên Nam Sơn trong hang đá”. Về sau, Mạc Gia sanh con trai tên là Xích. Khi Xích khôn lớn, toan đi báo thù cho cha, nhưng Sở Vương nằm mộng thấy một thanh niên sẽ đến giết ḿnh bèn ra lệnh truy nă con trai của Can Tương. Xích phải bỏ trốn, trên đường bôn tẩu, ca lên một khúc bi thương. Khi bị kẻ truy sát bắt được, Xích kể lể đầu đuôi rồi tự trao kiếm và cắt đầu ḿnh cho kẻ truy sát. Kẻ truy sát đem đầu và kiếm về dâng cho vua Sở, khuyên vua hăy đem đầu Xích nấu lên. Vua Sở nghe lời, nhưng nấu măi không chín. Kẻ truy sát ấy mời vua nh́n vào vạc, bảo hễ vua nh́n vào, đầu Xích sẽ chín ngay. Vua vừa cúi nh́n, kẻ truy sát thừa cơ vung gươm chặt đứt đầu vua lọt vào vạc, rồi cũng tự chặt đầu ḿnh cho lọt vào vạc. Đầu vua, đầu kẻ truy sát lẫn đầu của Xích cùng bị nấu nát bét, không phân biệt được đầu ai với ai, phải cùng chôn chung tại ranh giới huyện Nghi Xuân, gọi là mộ Tam Vương.

[3] Kinh Trập (c̣n gọi là Khải Trập, hoặc Khải Triết) là một trong 24 tiết khí trong một năm (sau tiết Lập Xuân và Vũ Thủy, trước các tiết Xuân Phân, Thanh Minh và Cốc Vũ của mùa Xuân). Tiết khí này được bắt đầu từ khoảng mồng Năm hay mồng Sáu tháng Ba Dương Lịch, kéo dài 2 tuần lễ. Lúc này trời ấm lên, đă có sấm mùa Xuân, vạn vật hồi sinh, bắt đầu bước vào mùa Hạ. Chữ Tiết Khí là nói gọn của thời tiết và khí hậu. Theo cách ấn định của lịch pháp, chữ Tiết Khí nhằm mô tả một giai đoạn trong năm mà thời tiết khí hậu mang một tính chất đặc trưng, chẳng hạn Vũ Thủy là lúc có mưa Xuân lất phất, c̣n Kinh Trập là lúc sâu bọ thức giấc, hồi sinh, sinh sản.

[4] Hồ Tỳ Bà (Biwa) c̣n có tên là Ōmi (Đạm Hải), là hồ nước ngọt lớn nhất của Nhật Bản thuộc huyện Tư Hạ (Shiga-ken) thuộc vùng Quan Tây (Kansai) trên đảo Honshū (Bản Châu, đảo chính của Nhật Bản) của Nhật Bản. Hồ rộng đến 670 km2, là nguồn cung cấp nước chính cho hai thành phố Kyoto (Kinh Đô) và Ōtsu (Đại Tân). Vào mùa Xuân, khi tuyết tan, nước hồ dâng lên cao đến 3m, nhưng không gây ngập lụt v́ có sông Yodo (Đính Xuyên) đă tháo nước từ hồ Tỳ Bà vào vịnh Osaka (Đại Bản).

[5] Từ Vân Sám Chủ chính là ngài Tuân Thức (964-1032), tự Tri Bạch. Ngài c̣n được tôn xưng là Từ Vân Tôn Giả, Linh Ứng Tôn Giả, Thiên Trúc Sám Chủ. Do Ngài soạn rất nhiều bản sám pháp nên c̣n có mỹ hiệu là Bách Bổn Sám Chủ. Ngài là một vị cao tăng của tông Thiên Thai. Đại sư quê ở Lâm Hải, Thai Châu (nay là huyện Ninh Hải, tỉnh Chiết Giang). Ngài sống vào đời Tống, xuất gia năm 18 tuổi, thọ Cụ Túc Giới vào năm 20 tuổi tại chùa Thiền Lâm, từng đốt ngón tay phát nguyện trước tượng Phổ Hiền Bồ Tát, thệ nguyện nghiên cứu và xiển dương quang đại giáo nghĩa Thiên Thai. Ngài theo học giáo nghĩa Thiên Thai với ngài Nghĩa Thông chùa Bảo Vân vào năm Ung Hy nguyên niên (984), về sau, cùng với ngài Tứ Minh Tri Lễ, ngài Tuân Thức được coi là lănh đạo của pháp Sơn Gia trong tông Thiên Thai. Năm 28 tuổi, sau khi tuyên giảng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, Niết Bàn, Kim Quang Minh, ngài suất lănh tăng tục chuyên tu Tịnh Độ, đồng thời biên soạn các bản sám pháp cho các bản kinh trên đây. Điểm đặc sắc là sám pháp nào cũng quy hướng Tịnh Độ. Năm Càn Hưng nguyên niên (1022) đời Tống Chân Tông, vua ban cho ngài hiệu là Từ Vân. Năm Thiên Thánh thứ hai (1024), Ngài dâng sớ xin triều đ́nh chấp thuận đưa các tác phẩm của tông Thiên Thai vào Đại Tạng Kinh, được hứa khả. Cũng trong năm này, Ngài bèn soạn tác phẩm Giáo Tạng Tùy Hàm Mục Lục nhằm lược thuật ư nghĩa chánh yếu của các bộ phái. Các tác phẩm chủ yếu của Ngài là Đại Di Đà Sám Nghi, Tiểu Di Đà Sám Nghi, Văng Sanh Tịnh Độ Sám Nguyện Nghi, Kim Quang Minh Tam Muội Nghi, Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu, Triệu Luận Khoa Sớ, Kim Viên Tập, Thiên Trúc Biệt Tập v.v...

[6] Vị pháp sư này giữ nhiệm vụ Hương Đăng trong chùa Kim Sơn ở Dương Châu, quá thật thà đến nỗi ngờ nghệch. Ở Hoa Nam, vào mùa Xuân thường có mưa phùn khiến cho mọi vật ẩm mốc, tới đầu mùa Hè, mọi người bèn đem chăn nệm ra phơi cho khỏi mốc. Ngay cả kinh điển trong Tàng Kinh Các cũng phải đem ra phơi, có người nói giỡn: “Nến (đèn cầy) cũng phải mang ra phơi, kẻo mốc”. Sư tưởng thật mang toàn bộ nến ra phơi, khiến sáp bị chảy tan hết. Đến tối khi thắp đèn th́ toàn bộ nến dự trữ chỉ c̣n tim, vị Duy Na Sư hỏi ra, biết chuyện, mới biết Sư bị người khác lừa, không biết nói sao, tức quá mà ráng nhịn, mới bảo thầy ấy: “Thầy là người thông minh tột đỉnh, tu Thiền ở đây sẽ phí lắm, hăy qua chùa Đầu Đà ở Ôn Châu nghe pháp sư Đế Nhàn giảng kinh để hoằng dương Giáo Hạ”. Ngài Đế Nhàn hỏi chuyện, biết là chùa Kim Sơn muốn tống khứ vị này đi, nhưng rất từ bi, bèn thiện xảo phương tiện dạy vị ấy: “Nay ngươi chưa đủ tư lương học Giáo, hăy hành khổ hạnh quét dọn nhà xí”. Vị ấy chăm chỉ quét dọn nghiêm túc suốt mười mấy năm. Về sau, có người hỏi: “Đă đến nơi đây học Giáo, sao không nghe pháp?” Sư nói: “Lăo pháp sư bảo tôi không đủ tư lương, hăy hành khổ hạnh trước”. Một thời gian sau, biết Sư là người có tín tâm kiên định, lăo pháp sư Đế Nhàn bảo: “Nay ngươi có thể nghe Giáo từng chút được rồi đó”. Sư vâng lời, nghiêm túc học tập, về sau, trở thành một vị đại pháp sư lỗi lạc của chùa Đầu Đà.

[7] Giản Thể và Phồn Thể là hai cách viết chữ Hán. Giản Thể là những chữ Hán được bớt nét, cho dễ nhớ, dễ viết (chẳng hạn chữ Quảng (), chỉ giữ lại bộ Nghiễm, bỏ chữ Hoàng bên trong đi, viết thành 广), hoặc sử dụng những chữ đồng âm dị nghĩa (chẳng hạn chữ Vân (: mây) bèn dùng chữ Vân (: nói), hoặc chế ra những chữ mới đơn giản hơn chữ cũ (chẳng hạn Đăng () viết thành 灯); c̣n Phồn Thể là viết đủ nét theo truyền thống. Lối viết Giản Thể được áp dụng chính thức tại Hoa Lục; c̣n Phồn Thể vẫn được sử dụng tại Đài Loan, Tân Gia Ba... Nói chung chữ Giản Thể tiện dụng, nhưng đánh mất vẻ đẹp cân đối hài ḥa của chữ Hán, trông khá lệch lạc, què quặt, cũng như dễ gây hiểu lầm nếu đọc các văn bản cổ. Chúng tôi đă gặp một số đồng nghiệp đến từ Hoa Lục rất lúng túng khi phải đọc các văn bản viết bằng lối Phồn Thể.

[8] Theo pháp sư Tịnh Giới, chữ “đương xứ” ở đây phải hiểu là chân tánh, chân tâm. Hết thảy các hiện tượng do nhân duyên hội đủ bèn hiện ra, nhưng chân tâm bất động, khi các nhân duyên đă hết, các tướng đă hiện bèn mất, nhưng chân tâm chẳng tổn giảm mảy may.