Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

phần 4

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

Tập 10

 

6.3. Chánh Tông Phần

     

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn lớn thứ hai của kinh A Di Đà trong Hệ Niệm Pháp Sự, tức phần Chánh Tông. Đoạn lớn này là một bộ phận trọng yếu nhất của kinh A Di Đà; được chia thành ba đoạn vừa (trung đoạn):

1) Đoạn thứ nhất là “quảng trần bỉ độ y chánh diệu quả dĩ khải tín” (tŕnh bày rộng răi về diệu quả y báo và chánh báo của cơi kia để khơi gợi ḷng tin).

2) Đoạn thứ hai là “đặc khuyến chúng sanh ưng cầu văng sanh dĩ phát nguyện” (đặc biệt khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu văng sanh).

3) Đoạn thứ ba là “chánh thị hành giả chấp tŕ danh hiệu dĩ lập hạnh” (dạy hành giả chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh).

Phần Chánh Tông cũng là ba đoạn tương ứng với Tín, Nguyện, Hạnh. Cả ba đoạn này đều khá dài; nay chúng ta học tập một đoạn.

 

6.3.1. Rộng bày diệu quả y báo, chánh báo để khởi tín

 

Xin hăy xem kinh văn từ:

 

Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?”

利弗。彼土何故名為極樂。

(Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao có tên là Cực Lạc?)

 

Đấy là đoạn bắt đầu cho đến:

 

Chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị. Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc

độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

菩薩眾亦復如是。舍利弗。彼佛國土。成就如是功德莊嚴。

(Các vị Bồ Tát cũng giống như vậy. Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế đó).

 

      Chúng ta lại phải chia [đoạn lớn này] thành những tiểu đoạn để nghiên cứu, học tập.

 

6.3.1.1. Minh định tông chỉ: Tín nguyện tŕ danh

 

Tiểu đoạn thứ nhất là “Tín nguyện tŕ danh, nhất kinh yếu chỉ, tín nguyện vi Huệ hạnh, tŕ danh vi Phước hạnh” (Tín nguyện tŕ danh là tông chỉ trọng yếu của kinh, tín nguyện là hạnh thuộc về Huệ, tŕ danh là hạnh thuộc về Phước). Học tập kinh này, trước hết phải nhận biết chính xác mới ḥng nhận thức chính xác, hiểu rơ ràng. Ở phần trên, tôi đă báo cáo cùng quư vị sự thù thắng của bản kinh này, mười phương chư Phật cùng tán thán! “Tuyệt đối viên dung, siêu t́nh ly kiến, chẳng thể nghĩ bàn”. Tông chỉ trọng yếu của bản kinh này là giềng mối để ta học tập, trong nhà Phật nói: Cương lănh tu hành, tổng nguyên tắc tu hành chính là “tín nguyện tŕ danh” hay Tín - Nguyện - Hạnh. Tín - Nguyện là Huệ, tức là thiện căn như đă nói ở phần trên. Tŕ Danh là phước! Người chịu niệm Phật là có phước. Không thể niệm Phật là v́ sao? V́ bạc phước! Đúng là có không ít người, dạy họ niệm một câu Phật hiệu sáu chữ “Nam-mô A Di Đà Phật”, thậm chí đơn giản hơn một chút là bốn chữ A Di Đà Phật, họ cũng chẳng thể niệm được.

Nếu chẳng nghiên cứu, thảo luận kinh điển th́ chúng tôi chẳng nói; nhưng nếu nghiên cứu, thảo luận kinh điển, tự bản thân chúng ta phải hiểu rơ, phải biết rơ tướng trạng ấy là tướng trạng bạc phước; ta thường nói là “không có phước báo”. Trong mười hai thời, chấp tŕ danh hiệu; đó là phước báo thù thắng khôn sánh, phước báo hiếm có trong thế gian. Chúng ta thấy có rất nhiều người nghèo khổ, suốt ngày miệng chẳng ĺa A Di Đà Phật, tay chẳng ĺa xâu chuỗi, một ngày niệm mười vạn tiếng. Niệm rất siêng năng, nhanh lẹ! Tôi nghe nói trước khi văng sanh độ hai, ba tháng, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ mỗi ngày niệm Phật mười sáu vạn câu. Ngài là một vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông, lúc lâm chung nhất tâm niệm Phật, nêu khuôn phép, làm gương cho chúng ta, chúng ta phải biết như thế. Đấy là Ngài đại từ đại bi thị hiện.

Các vị hăy chú tâm suy nghĩ, có phước báo thế gian, xuất thế gian nào lớn bằng phước báo niệm Phật hay chăng? Quư vị t́m không ra. Ai là người có phước báo? Nếu chú tâm quan sát, đó là người “tay chẳng ĺa xâu chuỗi, miệng chẳng ĺa Phật hiệu”. Người như vậy phước báo lớn nhất. V́ sao biết? Người ấy trong một đời này sẽ sanh về thế giới Cực Lạc làm Phật, ai sánh bằng người ấy được? Đừng nói là trong nhân gian không ai sánh bằng, Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương trên trời cũng không có cách ǵ sánh bằng được! Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương c̣n là phàm phu trong sáu đường, chưa ra khỏi lục đạo, chẳng niệm Phật! Người ấy chịu niệm Phật, văng sanh ngay trong một đời này; thực sự hiểu rơ, thực sự minh bạch, thực sự giác ngộ, quyết định tu tập pháp này. Trong thế gian này, dù có cho họ vinh hoa, cho họ hưởng thụ thế nào, người ấy đều chẳng thích thú. Hứng thú, chí hướng của người ấy là sống qua ngày tháng, thật thà niệm Phật! Đấy phải là người chân chánh giác ngộ, triệt để giác ngộ th́ mới có thể làm được như vậy!

      Thế gian đă loạn quá, cụ Lư Bỉnh Nam nói rất hay: “Dù Phật, Bồ Tát, thần tiên đến cũng cứu không được!” Dù chúng ta có tâm đại từ bi, nói trắng ra là tâm có thừa nhưng sức chẳng đủ, trong t́nh huống ấy, chúng ta phải làm như thế nào? Dốc ḷng tŕ danh niệm Phật, quyết định văng sanh bất thoái thành Phật! Bởi thế, trong thế gian này thọ mạng dài - ngắn không cần đếm xỉa tới, hết thảy đều tùy duyên. Buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, tự độ, độ người. Chính ḿnh đă thành tựu, người khác trông thấy, học tập theo, ḿnh bèn hóa độ người khác. Nay đối với pháp môn này, chúng ta có tín nguyện kiên định như thế; há chẳng phải là từ xưa đến nay có rất nhiều người niệm Phật thành tựu, nêu gương cho ta thấy, đó gọi là “chứng truyền”; [tức là] họ chứng minh, chứng minh sự việc này là thật, chẳng giả. Chúng ta thấy rơ ràng, nghe minh bạch, mới bèn kiên định tín nguyện, mới buông xuống vạn duyên, chuyên tu, chuyên hoằng. Chuyên tu và chuyên hoằng chỉ là một việc, chẳng phải hai; chuyên tu là chuyên hoằng, chuyên hoằng chính là chuyên tu. Phải nhớ kỹ, phải hiểu rơ cương lănh này. Tiếp theo đây, tôi trích lục mấy câu hết sức trọng yếu, đều là những câu trích từ sách Yếu Giải.

      “Đắc sanh dữ phủ, toàn do tín nguyện chi hữu vô. Phẩm vị cao hạ, toàn do tŕ danh chi thâm thiển” (Được văng sanh hay không, hoàn toàn là do tín nguyện có hay không? Phẩm vị cao hay thấp, hoàn toàn là do tŕ danh sâu hay cạn). Có được văng sanh hay không do tín nguyện quyết định, tín nguyện có nghĩa rất sâu. Quư vị thực sự tin tưởng, thực sự phát nguyện, tự nhiên quư vị rất lănh đạm đối với thế gian này. Thấy thế gian này như thế nào? Coi như một cuộc lữ du, nơi này như lữ điếm (quán trọ), như lữ quán. Tốt cũng được, không tốt cũng xong, ở đôi ba ngày rồi đi. Chỗ này chẳng mảy may liên quan ǵ đến ta, nó có chủ nhân, ta là khách đi đến. Tự nhiên quư vị có ư tưởng ấy; bởi thế, đối với hết thảy mọi sự trong thế gian này, quư vị tuyệt đối chẳng để tâm.

      Có rất nhiều người trong cơi đời niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, suốt đời niệm Phật rốt cuộc chẳng thể văng sanh, là v́ nguyên nhân nào? Quư vị nói họ chẳng tin ư? Họ rất tin tưởng, tin rất kiền thành. Quư vị nói họ chẳng có nguyện ư? Suốt ngày miệng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới; v́ sao chẳng đến được? V́ xen tạp! Xen tạp duyên cơi đời, chẳng buông xuống được! Trong tâm kẻ ấy vướng mắc, đến lúc lâm chung vướng mắc chẳng dứt, bị chúng lôi lại! Duyên do là như vậy. Khi xưa, thầy Lư rất cảm khái nói: “Một vạn người niệm Phật, thực sự được văng sanh chỉ có hai, ba người mà thôi!” Trong một vạn người mà chỉ có hai, ba người, chín ngàn chín trăm chín mươi bảy người kia chẳng được văng sanh.

      Chúng ta phải hiểu nguyên nhân v́ sao chẳng được văng sanh, đó là v́ tâm có vướng mắc. V́ sao tâm họ có vướng mắc? Chẳng thực sự tin, nguyện chẳng chân, hành chẳng hết sức, luống uổng một đời, chỉ tăng cường được chủng tử tịnh nghiệp trong A Lại Da Thức, đến khi nào lại gặp được duyên phận để tiếp nhận tu tập thật rất khó nói! Chắc chắn là có lần sau, nhưng thời gian lần sau ấy dài hay ngắn, khó nói lắm. Có kẻ lui sụt, bèn lui sụt mấy đời, thậm chí có kẻ lui sụt bèn lui sụt cả mấy kiếp, đáng sợ lắm! Nếu quư vị hỏi là do nguyên nhân ǵ ư? Thiện Đạo đại sư nói rất rơ: “Gặp duyên bất đồng”. Phải biết: Được làm thân người, nghe Phật pháp, gặp được pháp môn Tịnh Độ, đúng là trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, là một ngày khó gặp gỡ từ vô lượng kiếp đến nay.

      Mọi người chúng ta cũng là đối với một ngày khó gặp trong vô lượng kiếp mà ngày hôm nay chúng ta được gặp. Gặp được mà chẳng biết quư tiếc, chẳng biết sốt sắng nỗ lực tu tập, đáng tiếc lắm! Đối với cơ hội, người thế gian thường nói là “hễ bỏ lỡ là xong luôn”, chẳng biết năm nào, tháng nào, ngày nào mới gặp lại. Phàm những người có thành tựu xuất thế gian hay thành công trong thế gian, chẳng có bí quyết mầu nhiệm chi khác, chỉ là nhận biết cơ hội, chụp lấy cơ hội bèn thành tựu. Người chẳng nhận biết cơ hội, hoặc nhận biết cơ hội nhưng không chịu chụp lấy, đều thất bại! Chẳng thể buông duyên trong cơi đời (thế duyên) xuống được! “Buông xuống” không có nghĩa là mặc kệ, chẳng quan tâm tới. Quư vị thấy điều ǵ phải quan tâm cứ quan tâm, nhưng đồng thời lại buông xuống, tuyệt diệu như thế đó! Đấy là ǵ? Là trí huệ. Người thế gian nếu đă quan tâm bèn bận ḷng, chẳng buông xuống được. V́ nguyên nhân nào? V́ t́nh chấp, do họ có t́nh chấp.

      Sao Phật, Bồ Tát vừa quan tâm, vừa chiếu cố, lại buông xuống được? Các Ngài có trí huệ, trí huệ chân thật, hoàn toàn chuyển t́nh chấp thành trí huệ, ta thường nói là “trí huệ viên măn rốt ráo”. Phương tiện thiện xảo thù thắng diệu tuyệt, nói theo kiểu bây giờ là “thủ đoạn khéo léo cao độ”. Trong nhà Phật gọi thủ đoạn khéo léo cao độ là “phương tiện thiện xảo”. Trong tâm chẳng vướng mắc mảy may dấu vết nào th́ gọi là “buông xuống”. Lại đại từ đại bi phổ độ chúng sanh, dù phổ độ chúng sanh nhưng tâm chẳng có mảy may nhiễm trước, đấy là diệu dụng của tánh đức.

Đức Phật thường dạy chúng ta: Loại diệu dụng trí huệ ấy chẳng phải chỉ riêng một cá nhân nào có, mà hết thảy chúng sanh ai nấy đều sẵn có. Trọn chẳng phải chỉ ḿnh Phật, Bồ Tát mới có, không phải vậy! V́ sao nay các Ngài có, chúng ta không có? Các Ngài giác, chúng ta c̣n mê. Giác chẳng có chướng ngại, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại. Mê th́ nơi nào cũng thành chướng, chốn chốn đều là chướng ngại. Chúng ta cam bề chịu mê, mê mất tự tánh. Chân tướng sự thật ấy chúng ta chẳng thể không biết. Nay Phật, Bồ Tát giúp chúng ta, giúp điều ǵ? Phá mê khai ngộ! Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát đều coi giúp hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ là công đức bậc nhất, không ǵ có thể thù thắng hơn được, không ǵ tốt hơn được nữa. Đó là lợi ích chân thật rốt ráo viên măn, là sư đạo (đạo làm thầy).

Trong kinh Phật dạy “sư ân siêu quá phụ mẫu” (ơn thầy vượt trỗi ơn cha mẹ), vị thầy vừa nói đó chẳng phải là những thầy giáo thông thường trong thế gian. Trong tâm mục của người Trung Quốc, thường xem những vị thầy trong thế gian như cha mẹ. Ân đức của thầy lớn như ân đức của cha mẹ, tương đương, bằng với ân cha mẹ; nhưng trong Phật pháp, những vị thầy vừa nói trên đây chính là chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát, ân đức các Ngài vượt trỗi ân đức cha mẹ; v́ sao? Ân đức cha mẹ đối với chúng ta là ân đức một đời; nhưng chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát có ân đức vĩnh hằng đối với chúng ta, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn chiếu cố, vĩnh viễn quan tâm. Chỉ cần ta có một chút giác ngộ, các Ngài chẳng ĺa bỏ, liền nhanh chóng đến giúp đỡ, mong mỏi một điểm giác ngộ ấy được khuếch đại, trở thành sâu  đậm  hơn. Ân  đức

ấy cả thế gian lẫn xuất thế gian không có ǵ sánh bằng được!

Do đây biết rằng: Nói trên mặt hiện thực, công đức lợi ích thù thắng bậc nhất là ǵ? Là giúp cho chúng ta TIN pháp môn này, nguyện sanh Tịnh Độ. Đấy là đức bậc nhất, là đại sự bậc nhất của hết thảy Như Lai độ chúng sanh. Chúng sanh căn tánh chưa chín muồi th́ không có cách nào hết. Chưa chín muồi th́ Phật, Bồ Tát giới thiệu các pháp môn khác. Quư vị phải biết: Giới thiệu các pháp môn khác cho quư vị là chuyện bất đắc dĩ! Bởi vậy, Thiện Đạo đại sư nói một câu mà chúng tôi cho khắc thành ấn chương. Ngài nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất thế, duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải” (Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm để nói biển bổn nguyện Di Đà). Câu nói này thật hay. Hết thảy chư Phật Như Lai, hết thảy Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới của hết thảy cơi nước trọn khắp pháp giới hư không là v́ lẽ nào? V́ thành thực nói cùng quư vị, v́ giúp cho quư vị tin có Tây Phương Cực Lạc thế giới, tin có A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh, tin chính ḿnh có duyên văng sanh cơi Phật. Giúp cho quư vị tin tưởng sự việc ấy, giúp cho quư vị phát nguyện, giúp cho quư vị niệm Phật!

      Do đây biết rằng: Chư Phật Như Lai hóa độ chúng sanh chỉ có một môn là pháp môn Tịnh Độ, một môn như vậy. Nếu đối với một môn này, quư vị có chướng ngại, chẳng thể tiếp nhận, có nghi hoặc, có hứng thú khác th́ Phật luôn hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, đức Phật tuyệt đối chẳng miễn cưỡng. Thiện căn, phước đức, nhân duyên của quư vị chưa chín muồi, miễn cưỡng cũng vô ích! Chẳng những miễn cưỡng vô tác dụng, mà phải nói thật là: Miễn cưỡng c̣n tạo thành chướng ngại bất lợi. Chẳng miễn cưỡng, quư vị thích học điều ǵ, bèn dạy quư vị học điều đó. Thích Thiền dạy Thiền, thích Mật dạy Mật, thích Giáo dạy Giáo, thích Giới Luật bèn dạy Giới Luật, thích môn ǵ, dạy môn đó. Do đây biết rằng: Tất cả hết thảy pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn là phụ; pháp môn cốt lơi, pháp môn chủ chốt của hết thảy pháp môn là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

      Bởi thế, quư vị thấy trong kinh Vô Lượng Thọ, Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật. Thích Ca Mâu Ni tán thán là thay mặt cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai tán thán A Di Đà Phật “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (tôn quư nhất trong các quang minh, là vua của các Phật), tán thán đến cùng cực. Chúng ta nghe hết thảy chư Phật tán thán A Di Đà Phật như thế mà vẫn c̣n nghi hoặc, chẳng thể hạ quyết tâm, vẫn chẳng thể buông xuống muôn duyên, đấy chẳng phải là nghiệp chướng sâu nặng th́ là ǵ vậy? Nghiệp chướng  sâu

nặng đấy!

      Kinh Bát Nhă giảng thế gian rất rơ ràng: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (phàm tất cả h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Người thông minh, người có trí huệ phải lắng tịnh, phải chú tâm quán sát, nh́n thấu suốt thế giới. V́ sao nói là hư vọng, là mộng, huyễn, bọt, bóng? Lời Phật nói là chân thật, Phật giảng cho chúng ta biết chân tướng của vũ trụ. Từ kinh điển Đại Thừa, chúng ta thường đọc thấy cảnh giới của Như Lai, của Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài thấy mười phương các cơi Phật như ở ngay trước mắt. Mười phương các cơi Phật ở tại đâu? Ở ngay trước mắt, chẳng xa cách ǵ!

      Chẳng phải giống như chúng ta hiện nay đối trước màn ảnh máy truyền h́nh, chúng ta có thể nghe họ nói, nhưng họ chẳng nghe thấy chúng ta nói, chúng ta có câu hỏi ǵ cũng không hỏi họ được. Trong cảnh giới của các Ngài, quư vị thấy mười phương chư Phật. Mười phương chư Phật không đến đây, quư vị cũng không đi qua đó, nhưng ở ngay trước mặt, có thể nắm tay, có thể tṛ chuyện! Điều đó nói lên điều ǵ? Cho thấy trong Nhất Chân pháp giới không có không gian, ta muốn thấy Phật quá khứ, chư Phật cũng như đang ở ngay trước mặt; chúng ta muốn thấy Phật vị lai, vẫn là như ở ngay trước mặt. Trong cảnh giới ấy, chẳng có không gian, chẳng có thời gian, nên gọi là Nhất Chân. Nếu có quá khứ, hiện tại, vị lai th́ là ba chẳng phải một; có xa - gần th́ là hai, cũng chẳng phải một. Chẳng có hai, ba, nên gọi là Nhất Chân Pháp Giới.

      Hiện tại, các nhà khoa học dùng Toán Học suy tính bèn nhận thấy “chẳng có thời gian, chẳng có không gian” là điều hoàn toàn có khả năng. Trong một điều kiện nào đó, thời gian và không gian hoàn toàn tiêu mất, đấy chính là điều kinh Phật thường nói, thường gọi là “chân tướng sự thật”. Ngoài ra, họ c̣n phát hiện Hữu từ Vô biến hiện ra, trong Vô sanh Hữu. Thật ra, kinh Bát Nhă đă giảng đạo lư này quá nhiều lần rồi: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Sắc là Hữu, Không là Vô, Hữu do đâu mà có? Từ Vô sanh Hữu. Bởi thế, cái Vô ấy chẳng thể nói là cái ǵ cũng đều không có! Cái ǵ nó cũng có, lại c̣n hết sức viên măn. Đó là ǵ vậy? Là tự tánh! Kinh Phật gọi là pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như vậy), đó là đức năng của tự tánh, chúng ta thường nói “tự tánh vạn đức vạn năng”.

      Thật ra, ai cũng biết nói “vạn đức, vạn năng”, nhưng không ai thực sự hiểu được ư nghĩa. Thế nào là vạn đức, vạn năng? Vốn chẳng có, cái ǵ cũng không có, lại có thể biến hiện hư không, biến hiện thế giới, biến hiện vạn vật, đó là vạn đức vạn năng. Kinh Hoa Nghiêm gọi cái có khả năng, có khả năng hiện ấy là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Thức vẫn là tự tánh. Do vậy, Chân Như bổn tánh là vạn đức vạn năng, có khả năng hiện, có khả năng biến. Chân Như bổn tánh cái ǵ cũng không có, nhưng có thể hiện ra vạn pháp, biến hiện toàn thể vũ trụ.

      Hiện thời, các nhà khoa học cũng khẳng định, họ nói toàn thể vũ trụ lúc chưa biến hiện th́ giống như thế nào? Toàn thể vũ trụ co rút, đậm đặc, cô đặc lại thành một lạp tử rất bé. Bé đến mức độ nào? Các nhà khoa học nói bé đến mức nhổ một sợi tóc, đem sợi tóc đó cắt ngang; nơi mặt cắt ngang đó, ta có thể xếp khít những lạp tử bé tí. Mỗi lạp tử bé tí ấy là vũ trụ co rút lại. Nơi mặt cắt ngang của một sợi tóc ấy, có thể xếp được bao nhiêu hạt nhỏ ấy? Họ nói sau con số một trăm vạn, phải thêm ba chữ Ức, tức là một trăm vạn ức ức ức; hết sức nhỏ bé! Mỗi một lạp tử bé tí ấy có thể biến thành đại thế giới. Phương pháp tính toán của họ là dùng số thập phân. Sau dấu phẩy có ba mươi ba con số zéro, lạp tử nhỏ bé như vậy đó lại biến hiện thành thế giới lớn như thế đó.

      Trong kinh đức Phật dạy tự tánh không lớn hay nhỏ; phát hiện khoa học nói trên đă chứng minh kinh Hoa Nghiêm. Ở phần trên tôi đă nói qua, trong vi trần có thế giới, Phổ Hiền Bồ Tát có thể vào được. Vi trần ấy nhỏ đến đâu chúng ta chẳng có cách ǵ tưởng tượng được, kính hiển vi hiện thời chưa thấy được. Mặt cắt ngang của sợi tóc chứa được một trăm vạn ức ức ức lạp tử bé xíu như thế, xếp theo hàng ngang, xếp kín mặt cắt ngang của một sợi tóc. Các nhà khoa học nói những thứ ấy sau một cơn bùng nổ lớn (Big Bang) sẽ biến thành thế giới.

      Thế giới này, tức thế giới chúng ta đang cảm nhận đây, biến hiện ra như thế nào? Hiện thời, các nhà khoa học cũng phát hiện thế giới này chẳng phải là tiến hóa (phát triển từ từ), họ gọi là “nhất thời đốn hiện”, [tức là] đột nhiên hiện ra. Cách giải thích ấy rất gần gũi kinh Hoa Nghiêm. Rất giống! Hăy nhớ những ǵ đức Phật thường dạy chúng ta, bốn câu kệ trong kinh Kim Cang là:

      Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng huyễn bào ảnh,

Như lộ, diệc như điển,

Ưng tác như thị quán.

(Hết thảy pháp hữu vi,

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương, cũng như chớp,

Phải thường quán như vậy!)

Chúng ta thấy những điều các nhà khoa học nói giống như kinh Hoa Nghiêm đă nói, đúng là nhất thời đốn hiện! Cái “nhất thời” ấy là lúc nào? Nhất thời đó là “đương hạ” (ngay trong lúc ấy). Chẳng phải là quá khứ. Không có quá khứ mà cũng không có vị lai; ấy chính là “đương hạ”. Việc này rất khó hiểu. Trước hết, chúng tôi dùng huyễn đăng phiến[1] [để tỷ dụ]. Trong quá khứ, ở Hoa Tạng Đồ Thư Quán h́nh như có ba cái máy chiếu huyễn đăng phiến (slide projector). Lúc ấy, chúng tôi có khoảng chừng sáu, bảy ngàn tờ, rất có thể có đến cả vạn tờ huyễn đăng phiến; rất nhiều lúc chúng tôi dùng chúng trong giảng dạy.

Huyễn đăng phiến là một tấm phim trong suốt, chúng tôi bỏ vào máy, liền thấy hiện h́nh toàn bộ trên màn chiếu, nhất thời đốn hiện! Chẳng có trước - sau, chẳng có xa - gần, thời gian, không gian đều chẳng có, nhất thời đốn hiện một trang. Trang thứ hai đặt lên rồi, trang đầu tiên biến mất ngay, trang thứ hai lại nhất thời đốn hiện! Quư vị hăy nghĩ kỹ lời tôi vừa nói đó, hăy nghĩ đến cảnh giới ấy. Máy chiếu huyễn đăng phiến chạy bằng điện, quư vị ấn nút một cái bèn đổi được một trang, trang thứ ba đưa lên th́ trang thứ hai bèn mất, trang thứ ba nhất thời đốn hiện. Mỗi trang đều nhất thời đốn hiện. Hiện tượng ấy, chúng ta nghĩ kỹ xem, có phải là như đức Phật đă nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Ngay nơi đây sanh ra, cũng từ nơi đây diệt mất) chăng? Huyễn đăng phiến chiếu nhanh chậm tùy ư chúng ta. Nếu ta thấy ảnh đó nh́n rất đẹp, xem hai ba phút mới đổi qua trang khác; ảnh không đẹp th́ chừng mấy giây liền đổi qua trang khác, đều là nhất thời đốn hiện.

      Sau đó, chúng ta lại tăng tốc độ nhanh hơn, khi tăng tốc, quư vị sẽ thấy những tấm phim trở thành điện ảnh. Trong quá khứ ở Hoa Tạng, chúng tôi có một cái máy chiếu phim tám ly (8mm); h́nh như có một máy chiếu phim, hai máy quay phim, ra bên ngoài quay phim rồi đem về chiếu lại. Toàn bộ thiết bị chúng tôi đều có. Lúc đó, chúng tôi tự chiếu, tự ḿnh cắt ghép phim rồi chiếu cho mọi người xem. Máy chiếu phim tám ly có hai tốc độ: Tốc độ chậm th́ một giây chiếu được mười tám tấm ảnh; tốc độ nhanh một giây chiếu được hai mươi bốn tấm. Quư vị tưởng tượng xem: Những h́nh ảnh hiện trên màn bạc, mỗi một tấm (v́ tốc độ chiếu nhanh) lọt vào ống kính lúc nó mở ra, bèn nhất thời đốn hiện, lập tức hiện h́nh, rồi ống kính đóng lại, biến mất. Chiếu qua tấm thứ hai có phải là tấm thứ nhất “tùy xứ diệt tận” hay không? Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận, chẳng phải là hiện tượng đó hay sao? Đấy là chân tướng vũ trụ. Bởi thế, nhất thời đốn hiện là hiện tiền, chẳng phải là quá khứ, cũng chẳng phải là vị lai.

      Thế giới được cảm nhận bởi sáu căn của chúng ta trong hiện tại cũng giống như các nhà khoa học nói, nhưng dùng phim ǵ? Tấm phim rất nhỏ, trong mặt cắt ngang của một sợi tóc có thể xếp kín một trăm vạn ức ức ức, tốc độ chiếu rất nhanh, đại khái là một ức vạn phần của một giây, chẳng phải là một phần hai mươi bốn giây, mà là một phần vạn ức giây, thế giới hiện tiền của chúng ta là như vậy đó! Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận! Bởi thế, kinh Kim Cang nói: “Như lộ diệc như điển” (như sương cũng như chớp), “điển” () là “thiểm điển” (閃電: ánh chớp), ví cho cái ǵ rất nhanh (thật ra, tốc độ của tia chớp c̣n chậm rất nhiều). Rất nhanh! Làm sao phàm phu chúng ta biết được? Đức Phật nói: Phải là Bát Địa Bồ Tát mới thấy được chân tướng của những hiện tượng ấy !

      Các nhà khoa học hiện thời chẳng thể thấy được, chỉ từ Toán Học mà tính toán ra, chứ không thấy. Nếu thấy được, phải là Bát Địa Bồ Tát. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nếu quư vị thực sự thấu hiểu chân tướng của sự thật, há c̣n tham luyến thế giới này chăng? Há c̣n khởi tâm động niệm nơi thế giới này chăng? Thật đấy! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn hết. V́ sao thế giới này biến hóa nhiều như thế? Những biến hóa ấy đều do năng lượng của vọng tưởng, chấp trước, phân biệt; những thứ đó khiến cho tất cả hết thảy hiện tượng phát sanh phản ứng. Biến hóa là do đạo lư như vậy. Trong Nhất Chân pháp giới v́ sao chẳng có những phản ứng đó? Trong Nhất Chân Pháp Giới, chư Phật, Bồ Tát đều đă giác ngộ, thảy đều không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. V́ thế, cảnh giới của họ vĩnh hằng bất biến, chân thật viên măn, chẳng có một chút khuyết hăm nào; đạo lư là đây!

      Chúng ta hy vọng khoa học không ngừng phát triển, sẽ chứng thực hết thảy mọi điều kinh Phật đă nói. Họ chứng thực được, nhưng họ chẳng nhập cảnh giới. V́ sao chẳng nhập cảnh giới? Do chẳng đoạn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đoạn được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước rồi, quư vị liền khế nhập cảnh giới, mới thấy được chân tướng sự thật. Bởi vậy, kiến lập tín tâm không dễ! Tín tâm kiến lập, nguyện tâm kiến lập, hành tâm kiến lập, triệt để liễu giải chân tướng sự thật, sẽ giải quyết được vấn đề. Nếu quư vị chẳng triệt để liễu giải chân tướng sự thật ấy, chẳng đoạn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước được, sẽ có chướng ngại. A! Nay đă đến giờ rồi.

 

*

 

      Chư vị đồng học!

      Chúng ta coi tiếp tiểu tiết thứ nhất trong đoạn lớn thứ nhất của phần Chánh Tông. Chúng ta đọc qua một lượt, tiểu đoạn thứ nhất là: “Tín nguyện tŕ danh, nhất kinh yếu chỉ, tín nguyện vi Huệ hạnh, tŕ danh vi Phước hạnh; đắc sanh dữ phủ, toàn do tín nguyện chi hữu vô” (Tín nguyện tŕ danh là tông chỉ trọng yếu chỉ của kinh này, tín nguyện là hạnh thuộc về Huệ, tŕ danh là hạnh thuộc về Phước. Được văng sanh hay không, hoàn toàn do có tín nguyện hay không). Lần trước, chúng tôi đă giảng đến chỗ này, hăy xem tiếp đoạn dưới đây:

      “Phẩm vị cao hạ, toàn do tŕ danh chi thâm thiển, tín nguyện vi tiền đạo, tŕ danh vi chánh tu” (Phẩm vị cao hay thấp, hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn. Tín nguyện để dẫn đường, tŕ danh là cách tu hành chánh yếu). Chúng tôi sẽ giảng đoạn này. Tín - Nguyện - Hạnh có thứ tự, đặc biệt là đối với hàng Sơ Học. Trước hết, chúng ta phải phát khởi được tín tâm, tín tâm thực sự chẳng dễ dàng. Trong phần trước, chúng tôi đă nói khá nhiều, không điều nào chẳng nhằm khiến cho chúng ta phát khởi tín tâm đối với Phật pháp, liễu giải chân tướng của nhân sanh và vũ trụ. Hiện nay, khoa học đă chứng thực, nhưng nói thật ra, chỉ chứng thực ở một mức độ hết sức hữu hạn. Đối với sự tướng, lư luận ở một mức độ sâu hơn, khoa học chẳng có cách nào để giải thích được cả.

Ví như nói đến sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp giới, khoa học không có cách nào giải thích được. Các nhà khoa học biết trong vũ trụ này tồn tại những chiều không gian (spatial dimensions) khác biệt; sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp giới chính là t́nh trạng thuộc về những chiều không gian khác biệt, khoa học không có cách nào hiểu được. Thù thắng hơn cảnh giới của chúng ta là thiên đạo. Trong thiên đạo có Dục Giới thiên, có Sắc Giới thiên, có Vô Sắc Giới thiên. Ngoài lục đạo lại c̣n có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; dưới đó lại có ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Trong súc sanh lại phức tạp hơn nữa! Hiểu biết của chúng ta hết sức hữu hạn! Bởi thế, theo nhận định của Phật pháp, tri thức khoa học nói trắng ra, thật hết sức hữu hạn, thật nhỏ nhoi, chẳng đáng để nói tới!

      Một nhà khoa học chân chánh sẽ có thái độ rất rơ ràng, điều ǵ ông ta chứng thực được bèn tin tưởng, điều ǵ chẳng thể chứng thực, chẳng dám nói là không có. V́ sao? Khoa học kỹ thuật vẫn c̣n đang tiến bộ không ngừng. Trong quá khứ, các nhà khoa học tưởng những ǵ họ đă phát hiện là chân lư; chẳng ngờ không lâu sau, các nhà khoa học lớp sau lại có những phát hiện mới, phải thay đổi những định luật. T́nh trạng như thế rất nhiều! Bởi vậy, nhà khoa học thông minh trong hiện tại luôn nói những chân lư được phát hiện chỉ là tạm thời, nói như vậy rất thông minh. Sau này lại có những phát hiện mới, những phát hiện mới vượt trỗi hơn [những phát hiện cũ]. Những điều uyên áo, kỳ diệu trong vũ trụ không có giới hạn, sâu không đáy, rộng vô biên, c̣n đang đợi con người từ từ phát hiện ra. Dùng kỹ thuật khoa học và phương pháp cơ giới th́ những ǵ quư vị nghiên cứu được vẫn là hữu hạn. Kinh Phật nói họ dùng “nhất thời” để nghiên cứu; hiện tại [khoa học] vẫn chưa tách rời “nhất thời”, nên [những sự phát hiện] có hạn chế.

      Theo Phật pháp, “nhất thời” chỉ có thể duyên A Lại Da Thức, chứ không thể duyên Chân Như tự tánh. Bởi vậy, đối với Chân Như tự tánh, đức Phật chỉ nói gọn một câu “chẳng thể nghĩ bàn”. Chẳng thể nghĩ là chẳng thể dùng cái tâm ư thức để hiểu rơ nó; chẳng thể bàn là chẳng thể dùng ngôn ngữ để tŕnh bày rơ rệt được. Đối với chân tướng của sự thật, ngôn ngữ chỉ có năng lực hữu hạn, không diễn tả được nổi. Năng lực tư duy cũng hữu hạn, quư vị tư duy, suy nghĩ cũng có mức giới hạn tột cùng. Cái giới hạn tột cùng nằm trong A Lại Da Thức. Chân Như bổn tánh chẳng phải là A Lại Da thức nên [cái tâm ư thức của] quư vị duyên không được. Bởi vậy, trong lúc ấy, tất cả hết thảy phương pháp khoa học đều vô tác dụng.

      Điều này do tiên sinh Phương Đông Mỹ nói với tôi. Do v́ trước kia, tôi ở Đài Loan, pháp sư Đạo An chủ tŕ Phật Giáo Hội. Khóa Đại Chuyên Phật Học Giảng Ṭa do hội Phật giáo Trung Quốc tổ chức, mời tôi đảm nhiệm vai tṛ tổng chủ giảng. Tôi rất mong mở lớp Nhân Minh trong khóa giảng ấy. Nhân Minh[2] là la-tập (logic), thuộc biện chứng pháp, cũng thuộc vào phương pháp khoa học. Chúng tôi rất hy vọng mời được tiên sinh Phương Đông Mỹ đến giảng môn học này. Tôi đến t́m cụ, Phương tiên sinh nói: “Phật pháp giảng đến một mức độ cao th́ môn này vô dụng. Nhân Minh, biện chứng pháp lẫn la-tập thảy đều vô ích”. Không sai! Cụ nói chẳng sai chút nào. Trong Phật pháp ở tŕnh độ cao, đúng là chúng vô dụng. Giảng những môn đó cho ai? Cho hàng sơ học. Với sơ cấp, trung cấp c̣n có ích, chứ với cao cấp, chúng trở thành vô dụng. Họ vượt khỏi rồi, những môn ấy đều thuộc về phương pháp luận của khoa học. V́ thế, sau này chúng tôi không mở lớp đó.

      Phật pháp cao cấp dùng ǵ? Dùng Thiền Định, dùng tâm thanh tịnh. Thiền có nghĩa là “tịnh lự”, Tịnh là Chỉ, Lự là Quán. Bởi vậy, Thiền c̣n gọi là Chỉ Quán. Chỉ là buông xuống, Quán là thấy thấu suốt. Buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị sẽ thấy được chân tướng sự thật. Tất cả phương pháp luận thế gian hay xuất thế gian đều chẳng ĺa khỏi ư thức. Nguyên nhân thực sự v́ sao bản chú giải Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại sư có mặt cũng là v́ đạo lư này. Kinh Lăng Nghiêm do tôn giả Bát Lạt Mật Đế truyền sang Trung Quốc vào cuối đời Vơ Tắc Thiên. Kinh Lăng Nghiêm phiên dịch xong nhằm thời vua Đường Trung Tông. Kinh được phiên dịch xong, tất cả chú sớ, giảng giải đều dùng nguyên lư, nguyên tắc Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai để giải thích.

      Giao Quang đại sư là người đời Minh, đồng thời với Liên Tŕ đại sư. Ngài cho rằng cách suy nghĩ trên (tức là cách dùng Tam Chỉ Tam Quán để giải thích kinh Lăng Nghiêm) chẳng phải là chỉ thú của kinh Lăng Nghiêm ; bởi lẽ, Tam Chỉ Tam Quán là dùng Ư thức, chẳng ĺa khỏi tâm ư thức. Bởi vậy, lăo nhân gia chủ trương ứng dụng giáo nghĩa “xả Thức dùng Căn” của chính kinh Lăng Nghiêm, hoàn toàn chẳng dùng đến thức thứ sáu là Ư Thức. Dùng ǵ? Dùng căn tánh của lục căn. Cách giảng này chính xác, chứng minh được. Ngài Giao Quang cũng là người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đại khái, thọ mạng Ngài đă hết, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, Ngài thấy A Di Đà Phật, thưa cùng A Di Đà Phật: “Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh trọng yếu trong Đại Thừa Phật pháp, điều hết sức đáng tiếc là từ cổ đến nay, rất nhiều người chú giải bộ kinh này đều chẳng nắm được chỉ thú chân chánh”. Ngài muốn viết một bộ chú giải mới, “xin A Di Đà Phật cho phép con nay tạm thời chẳng văng sanh, đợi khi con chú giải bộ kinh này xong xuôi, sẽ văng sanh thế giới Cực Lạc”. A Di Đà Phật chấp thuận, Phật liền rời đi. Câu chuyện này được ghi trong Lời Tựa của sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, chúng tôi tin tưởng Giao Quang đại sư chẳng dối người, chẳng bịa ra câu chuyện ấy.

      Xả Thức dùng Căn, nói thật chẳng sai, nhưng khó quá, không ai có thể tu được! Dùng phương pháp Tam Chỉ Tam Quán, người căn tánh trung hay thượng làm được, vẫn c̣n có thể tu học được. Nếu bỏ Thức dùng Căn th́ giống như Thiền tông, người thượng thượng căn mới hành được; chẳng phải thượng thượng căn sẽ chẳng có phần. Kinh Lăng Nghiêm giảng chân tướng của nhân sanh và vũ trụ; bởi vậy, nó là một bộ kinh rất nổi danh trong Phật môn. Từ cổ, tổ sư đại đức thường nói: “Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, thành Phật là kinh Pháp Hoa”, hai câu nói ấy, những người học Phật đều biết. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, v́ sao nói thành Phật là kinh Pháp Hoa?

      Bởi lẽ, trong quá khứ, trong rất nhiều kinh, đức Phật đều nói Nhất Xiển Đề chẳng thể thành Phật. Nhất Xiển Đề (Icchantika) là ǵ? Nhất Xiển Đề dịch nghĩa sang tiếng Hán là “người không có thiện căn”, hoặc dịch là “người đoạn thiện căn”. Không có thiện căn làm sao thành Phật được? Đấy là điều đức Phật thường nói! Nhưng trong hội Pháp Hoa, đức Phật lại nói Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh, Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật, tức là “không một ai chẳng thể thành Phật”. Ư nghĩa này tương ứng với câu kinh Hoa Nghiêm: “T́nh và vô t́nh đều viên măn Chủng Trí”.

Kẻ ngũ nghịch thập ác, tạo tội ác cùng cực trong thế gian đều có Phật tánh, chẳng thể nói kẻ ấy tội ác lớn cùng cực, chẳng thể thành Phật được! Chẳng có đạo lư ấy! Kẻ ấy có Phật tánh, nếu kẻ ấy gặp duyên cũng thành Phật. Thiện Đạo đại sư nói tuyệt diệu: “Tổng tại ngộ duyên bất đồng” (Đều do gặp duyên khác nhau). Kẻ ấy chưa gặp duyên bèn tạo tội nghiệp, phải chịu quả báo, quả báo cũng có ngày xong. Khi nào xong hết quả báo? Không nhất định, nghĩa là sao? Nếu kẻ ấy giác ngộ th́ tội báo đó tiêu diệt; nếu kẻ ấy chẳng giác ngộ th́ vẫn c̣n tội báo phải thọ. Giống hệt như nằm mộng, gặp ác mộng khổ ghê lắm, nhưng nếu tỉnh giấc, mộng ấy không c̣n nữa. Khi nào kẻ ấy tỉnh mộng? Tỉnh mộng rất nhanh th́ thọ tội rất ngắn, ĺa khổ rất nhanh. Nếu tỉnh mộng chậm, thọ tội lâu dài.

      Bởi vậy, người phạm tội đại cực ác, đọa A Tỳ địa ngục, lúc nào sẽ thoát ra? Không nhất định! Tùy thuộc lúc nào người ấy giác ngộ, lúc nào sám hối, hồi đầu, tự ḿnh thực sự biết ḿnh lầm. Do một niệm sám hối ấy, Phật tánh bột khởi. V́ thế, trong kinh giáo, Phật thường chỉ dạy chúng ta đừng coi thường kẻ ác, v́ sao? Không chừng kẻ ấy thành Phật trước chúng ta, ta phải làm đệ tử kẻ ấy, rất có khả năng! Sức mạnh của sám hối chẳng thể nghĩ bàn! Thực sự biết sai, thực sự hồi đầu, ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Lăng tử hồi đầu kim bất hoán” (lăng tử quay đầu, vàng chẳng đổi). Bởi vậy, tín nguyện trọng yếu hơn bất cứ điều ǵ.

      Chúng tôi hết sức kính ngưỡng Giao Quang đại sư, tán thán Ngài là một vị đại thiện tri thức. Pháp sư Viên Anh suốt đời nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm. Qua truyện kư viết về Ngài, chúng ta thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài hết sức thích thú kinh Lăng Nghiêm, lập chí chuyên dốc công nghiên cứu, đến năm bảy mươi lăm tuổi, hoàn thành Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, nay rất phổ biến. Chúng tôi xem kỹ bản ấy, hơn sáu phần mười lư luận trong ấy dựa theo sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, cho thấy Ngài chịu ảnh hưởng sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch rất sâu. Nay chúng ta học Lăng Nghiêm, học theo sách Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh. Tốt! Ngài là người cận đại, văn tự khá đơn giản, rơ ràng; Giao Quang đại sư là người đời Minh, văn tự đúng là sâu hơn.

Nhất là trong thời hiện tại, chúng ta coi thường văn học cổ Trung Quốc, không có căn bản Hán học, đọc những tác phẩm của cổ nhân khá khó khăn. Học kinh Lăng Nghiêm hăy nên bắt đầu bằng sách Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, sau đấy mới đọc chú giải của cổ nhân. Quư vị phải có cơ sở trước rồi quư vị đọc chú giải của ngài Giao Quang, ngài Trường Thủy. Kinh Lăng Nghiêm được chú giải rất nhiều, những chú giải trứ danh có tới hai mươi, ba mươi loại. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ! Nhưng những vị đại gia, thiện tri thức ấy cuối cùng đều cầu sanh Tịnh Độ. Giao Quang đại sư văng sanh Tịnh Độ. Quư vị thấy Tam Cầu Đường của Viên Anh Pháp Sư: “Cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ”. Bậc thực sự có trí huệ, có kiến địa, chẳng một ai không cầu sanh Tịnh Độ.

      Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta đọc được rất nhiều về Tây Phương Cực Lạc thế giới từ kinh Vô Lượng Thọ. Trong quá khứ, chúng tôi đă giảng mười lần bản hội tập của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư. Giảng lần này ở Tân Gia Ba là lần thứ mười một, vẫn chưa giảng xong. Cứ cách một, hai tháng, chúng tôi lại phải qua Tân Gia Ba giảng tiếp. Lần này, chúng tôi chẳng bị hạn chế thời gian, có thể nói tường tận, các đồng tu bên ấy thích nghe, người đến nghe giảng ước chừng một hai ngàn người. Kinh Vô Lượng Thọ cho chúng ta biết bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, phẩm vị trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do đâu h́nh thành phẩm vị cao - thấp? Ngẫu Ích đại sư nói: “Toàn do tŕ danh chi thâm thiển” (Hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn). Ngài nói vậy có lư chăng? Có đạo lư! C̣n như bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, Thiện Đạo đại sư bảo là “tổng tại ngộ duyên bất đồng” (đều do gặp duyên bất đồng), Ngẫu Ích đại sư bảo “hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn”. Lời hai vị đại sư nói chẳng hề mâu thuẫn, mà có thể bổ túc lẫn nhau. Tŕ danh sâu hay cạn cũng chính là nói quư vị niệm Phật có biết niệm hay không? Đúng là gặp duyên bất đồng. V́ sao? Nếu quư vị gặp được thiện tri thức chân chánh, dạy cho quư vị phương pháp chẳng giống nhau. Duyên trọng yếu nhất là thầy! Quư vị học với ai? Công phu tu hành của người đó như thế nào? Kế đó là đồng học. Đồng học cũng là duyên hết sức trọng yếu. Bạn đạo đồng tham khích lệ, thiết tha giùi mài lẫn nhau. Kế đến là hoàn cảnh học tập. Những điều đó đều là gặp duyên bất đồng.

      Trong hoàn cảnh th́ đại hoàn cảnh là quả địa cầu chúng ta đang sống, hoàn cảnh kế đó là khu vực chúng ta đang sanh sống, hoàn cảnh nhỏ hơn nữa là đạo tràng. Thiện duyên giúp ích cho chúng ta tu học. Duyên bất thiện thường dẫn dụ, phát khởi những tập khí phiền năo trong A Lại Da Thức của chúng ta, những duyên ấy là bất thiện! Thiện duyên là ǵ? Những ǵ có thể hóa giải phiền năo tập khí, tăng trưởng đạo tâm, tăng trưởng Tín - Nguyện - Hạnh, đó là duyên thù thắng. Bởi vậy, hết thảy duyên đều thù thắng, hết thảy đều đạt được, đấy chẳng phải là chuyện dễ dàng! Chúng tôi thấy rất nhiều người lúc mới học rất giỏi, học chừng đâu mười mấy năm sau, thậm chí hai mươi năm sau, ba mươi năm sau, gặp phải chướng duyên, bèn buông bỏ, chẳng c̣n học pháp môn này nữa, xoay sang pháp môn khác. Những người như vậy rất nhiều, trong nước lẫn ngoài nước thấy rất nhiều, há chẳng phải là gặp duyên bất đồng ư?

      Hoàn cảnh căn bản nhất là sư thừa, anh không có sư thừa, hoặc chẳng gặp được thầy giỏi, chẳng có ḷng tin đối với thầy, trí huệ chẳng khai, làm việc theo cảm t́nh, chẳng chống đỡ nổi dụ dẫn, mê hoặc, nhà Phật gọi những điều đó là “ma chướng”, anh gặp phải ma chướng. Nh́n từ nhân quả, chúng ta hiểu rơ ma chướng có nghĩa là trong đời đời kiếp kiếp quá khứ có lầm lỗi, toàn là ḿnh chướng ngại người ta, đời này ḿnh tu đạo, lại gặp phải người ta đến chướng ngại ḿnh, oan oan  tương

báo măi không xong!

      V́ vậy, thiện căn chân chánh dù là pháp thế gian hay xuất thế gian đều kiến lập trên cơ sở hiếu đạo. Thiện căn chân chánh là hiếu đạo. Việc này khó lắm! Một đời chúng tôi gặp rất nhiều chướng ngại, thử thách rất nhiều, bị đả kích rất nhiều, vẫn có tín tâm, vẫn có nguyện tâm, vẫn chẳng lui sụt, vẫn có thể tinh tấn nỗ lực, là do nguyên nhân nào? Do thực sự có chút cơ sở lúc nhỏ. Cơ sở ấy chẳng phải là khi học tiểu học, mà là khi học ở trường tư, lúc nào? Lúc sáu, bảy tuổi, được “bén rễ” trong khoảng thời gian đó, thầy dạy học tṛ hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ dạy con cái tôn sư trọng đạo, có căn cơ từ đó. Nếu bây giờ tôi chẳng tôn kính thầy, chẳng xem trọng đạo nghiệp, tôi cảm thấy ḿnh có lỗi với cha mẹ, chẳng dám! Đấy là như cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Thiếu thành nhược thiên tánh, tập quán thành tự nhiên” (Lúc nhỏ tập thành bẩm tánh, theo thói quen trở thành tự nhiên): Giáo dục lúc nhỏ ảnh hưởng cả một đời! Một đời tôi có được một chút thành tựu đều là do lúc nhỏ, lúc đó học đâu chừng hai năm, c̣n sống ở quê nhà. Sau này học ở trường, sự giáo dục trong trường dạy những điều này rất ít!

      Bởi thế Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Thành tựu dữ phủ, tại ư thành kính” (Có thành tựu hay không là do thành kính [hay không]). Chân thành, cung kính, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Nếu chẳng thành, chẳng kính, chẳng đáng bàn tới nữa! Nói cách khác, chẳng thành tựu ǵ! Bởi thế, chúng tôi có thể chịu đựng được đả kích, chịu đựng được thử thách; người khác tranh, chúng tôi nhường, người khác chửi chúng tôi, sỉ nhục chúng tôi, chúng tôi quyết chẳng đáp trả. Người khác đánh chúng tôi, chúng tôi nhất định không đánh trả. Kinh luận dạy chúng ta: “Chẳng những không có tâm oán hận mà c̣n phải có tâm cảm ơn”. Cảm cái ơn ǵ? Ơn tiêu nghiệp chướng. Họ hủy báng tôi, nhục mạ tôi, v́ sao họ chẳng hủy báng người khác, chẳng nhục mạ người khác, chỉ t́m tôi? Nếu tôi có thần thông, tôi sẽ biết chuyện trong đời quá khứ, rất có thể trong quá khứ tôi đă đối xử với kẻ ấy như vậy, ngày nay họ đối với tôi như vậy là đền trả. Lần lượt đền trả, người hiểu biết cứ tiếp nhận sẽ hóa giải được. Đời sau, đời kế, gặp nhau nữa bèn thành bạn tốt, báo đền xong rồi!

      Chẳng nên tranh, chẳng nên có chút ḷng oán hận. Có một chút tâm oán hận, oan kết ấy vĩnh viễn tồn tại, sẽ biến thành ǵ? Oan oan tương báo chẳng xong, vậy là không được rồi! Đời đời cả hai bên đều đau khổ, đó là sai lầm vô cùng. Người giác ngộ, người hiểu biết chẳng tạo chuyện tồi tệ ấy. V́ vậy, giữ ǵn cơi ḷng ḿnh thanh tịnh, quyết định chẳng mê, quyết định chẳng loạn, quyết định chẳng điên đảo, vĩnh viễn trong t́nh trạng trong lặng, tỉnh thức, chúng ta chịu đựng quả báo. Chịu đựng quả báo, nghiệp chướng bèn tiêu! Nghiệp chướng tiêu rồi, phước huệ liền hiện tiền. Pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng ra ngoài lệ đó. Bởi vậy, công phu tŕ danh sâu hay cạn vẫn cần phải có trí huệ, vẫn cần có thiện tri thức chỉ dạy. Trong đây, để có thể tránh được hết thảy chướng nạn th́ điều trọng yếu nhất là phải nhờ vào trí huệ, phải nhờ vào công phu định lực, phải nhờ vào nhẫn nhục. Thực sự học theo người tu đạo thời cổ, làm một người có học vấn, vĩnh viễn tuân giữ “không tranh cùng người, không cầu nơi sự”.

      V́ thế, pháp sư Ấn Quang dạy con người hiện tại chúng ta: Nếu các đồng học chí đồng đạo hợp cùng tu một chỗ, số người chẳng được quá hai mươi người, đạo tràng theo quy mô nhỏ. Tại Trung Quốc, trước kia chúng tôi nói ở am tranh rất tốt. Cuộc sống rất đơn giản, ít người! Chẳng cần hóa duyên, chẳng phải lôi kéo tín đồ, chẳng cần phải làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, Phật thất suốt năm, đả Phật thất theo cách thông thường[3], Phật thất suốt năm! Nỗ lực tu! Nếu thực sự có thể tu học theo đúng phương pháp ấy của Ấn Quang đại sư, tôi tin tưởng sâu xa rằng trong ṿng từ ba năm đến năm năm, hai mươi người ấy thảy đều văng sanh.

      Nếu quư vị nghe lời đó mà run sợ là không được rồi! Trong ṿng từ ba năm đến năm năm phải chết ư? Thôi đi! Không tu nữa! Vậy là không có cách ǵ hết! V́ sao? Mục đích của quư vị chẳng phải là cầu văng sanh ư? Thế giới Cực Lạc tốt như vậy, ở đây khổ nạn quá chừng, bên kia không có khổ nạn. Do đây biết rằng: Quư vị chỉ nói cái miệng là văng sanh; chứ thật ra, tâm quư vị tham sống sợ chết, chẳng thể thành tựu nổi! Cụ Lư nói một vạn người tu, thực sự chỉ có hai ba người văng sanh rất có lư! Hai ba người đó thực sự muốn đi, c̣n đại đa số miệng nói muốn văng sanh, nhưng mong sống ở đây đến một trăm tuổi, hai trăm tuổi, họ không muốn đi, không c̣n cách nào nữa cả!

      Nói tóm lại, những chuyện như thế vẫn là gặp duyên bất đồng, chẳng gặp được thiện tri thức chân chánh, chẳng được nghe lời chỉ dạy chân chánh, tự ḿnh vẫn mê chứ không giác, đối với duyên thế gian vẫn tham luyến rất sâu, nên công phu niệm Phật chẳng đắc lực! Bởi thế, người chân chánh tu hành trong hiện tại, chí đồng đạo hợp, đồng tham đạo hữu t́m được hai ba người, nói thật ra là rất khó! T́m đâu được hai mươi người? T́m không ra! Nói thật đó!

      Thích Ca Mâu Ni Phật đầu tiên độ năm vị tỳ-kheo tại vườn Lộc Dă, kể cả chính Ngài là sáu người. Sáu người đồng tâm đồng đức có thể lập giáo, chí đồng đạo hợp. Bởi thế, trong quá khứ tôi đă từng nói: Vào thập niên bảy mươi, pháp sư Tẩy Trần ở Hương Cảng đến Đài Loan t́m tôi, cùng tôi thảo luận cách nào hưng vượng Phật giáo. Tôi bảo pháp sư: “Muốn hưng vượng Phật giáo th́ phải có người chân chánh phát tâm, chân tâm cầu đạo”. Tôi nói: Bao nhiêu người? Năm người là được rồi! Thích Ca Mâu Ni Phật năm người lập giáo. Nay có được năm người th́ có thể hưng giáo; nhưng năm người ấy hành tŕ nhất định phải học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, phải thực hành chế độ khất thực. Ngày nay ngủ dưới gốc cây, chúng ta chẳng cần phải cất đạo tràng nào; tôi nói năm người đó du hóa nhân gian. Lúc ấy tôi đề nghị: “Chúng ta ở trong một cái lều tranh nhỏ, mỗi một người sống một lều, năm người thôi!”

      Những cái lều hiện tại, quư vị thấy lều cắm trại của đồng tử quân (hướng đạo sinh hay thiếu sinh quân) hết sức gọn nhẹ, mỗi một cái lều (tôi đă hỏi rồi) dùng được ba năm. Năm người sống vây quanh dưới gốc cây, là một Tăng đoàn nhỏ. Ngày ăn một bữa, đi khất thực. Chúng tôi làm như vậy, nhất định có thể xin được một bát cơm. Mỗi ngày một bát cơm là được rồi, trở về năm người chúng ta cùng nghiên cứu kinh giáo, niệm Phật. Tăng đoàn như thế nhất định có thể hưng vượng Phật giáo. Lúc ấy, pháp sư rất có hứng thú, tôi nói: “Thầy về Hương Cảng trù bị. Lúc nào trù bị sẵn sàng, t́m được năm người, tôi nhất định đến tham gia”. Sư trở về bên đó, dần dần bặt tin tức, t́m đâu ra năm người chịu đựng khổ sở, thực sự có thể buông xuống được? Chẳng dễ đâu!

      Bởi thế, hiện thời chúng tôi có một đạo tràng nhỏ như thế này, đạo tràng nhỏ này cũng là gặp duyên bất đồng. Hàn Quán Trưởng sáng lập Hoa Tạng Đồ Thư Quán, bản thân tôi th́ suốt đời chẳng có ư niệm tạo dựng đạo tràng. Hoa Tạng Đồ Thư Quán do bà ta lập, chúng xuất gia ở Đồ Thư Quán cũng do bà ta tuyển chọn. Thâu được nhiều vị xuất gia như thế xong, bà ta bèn tịch. Bà ta tịch rồi, tôi chẳng thể không coi sóc. Nếu tôi chẳng coi sóc là có lỗi với bà ta. Thành tựu của tôi chính là thành tựu của bà ta, tôi thất bại chính là bà ta thất bại; mọi người đều hiểu như vậy. Bà ta hộ tŕ tôi suốt ba mươi năm, tôi mới có thành tựu như ngày nay, mở được một chút trí huệ, có nhận biết đôi chút đối với Phật pháp. Chúng tôi cảm cái ơn của bà ta, nay ở đây kiến lập được đạo tràng thế này, đạo tràng được lập to lớn như thế này cũng là quá vượt phận; nhưng so với đạo tràng của bà ta, đạo tràng chúng tôi vẫn là đạo tràng nhỏ. Bởi thế, hết thảy kiến thiết làm đến đây là thôi, chúng tôi hạ quyết tâm nghiên cứu kinh, niệm Phật!

      Kinh Vô Lượng Thọ và Di Đà Yếu Giải là nguyên tắc chỉ đạo trọng yếu nhất của chúng ta. V́ thế, hai câu tiếp đó: “Tín nguyện vi tiền đạo, tŕ danh vi chánh tu” (Tín nguyện để dẫn đường, tŕ danh là phương cách tu hành chánh yếu). Chánh tu không phải là giảng kinh, chánh tu là niệm Phật. Giảng kinh giúp cho chúng ta tin sâu, nguyện thiết, khiến cho chúng ta có nhận thức chánh xác đối với y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, cũng như y báo và chánh báo của thế giới Sa Bà chúng ta đang sống và mười pháp giới khắp hư không pháp giới. Tuyển chọn ổn thỏa nhất là tuyển chọn Tây Phương Tịnh Độ. Nếu quư vị chẳng thể nhận biết, trong tâm có nghi hoặc: C̣n có pháp môn nào tốt hơn pháp môn này, c̣n có thế giới nào lư tưởng hơn thế giới Cực Lạc, tâm sẽ chẳng thể buông xuống được! Quư vị phải hiểu rơ, phải minh bạch, chết sạch tấm ḷng mong ngóng, khiêm hư sát đất tu hành pháp môn này.

      Tiếp đó là: “Tŕ danh thời, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, tắc nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật” (Lúc tŕ danh, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, hành như Phật, th́ một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật). Đó gọi là Niệm Phật, đó gọi là Tŕ Danh. Tŕ Danh tuyệt đối chẳng phải là “miệng có, tâm không”. Tâm quư vị có phải là tâm Phật hay chăng? Phật có tâm ǵ? Mười năm trước, chúng tôi đă nêu rơ: “Chân thành tâm, thanh tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”. Chúng ta có những tâm ấy hay không? Những tâm ấy là tâm Phật. Tuy những thứ đó là tâm Phật, nhưng tâm A Di Đà Phật c̣n thù thắng hơn nữa. Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng ở nơi bốn mươi tám nguyện. Bốn mươi tám nguyện tổng kết: Niệm niệm v́ cứu độ hết thảy chúng sanh. Cứu độ bằng cách nào? Niệm niệm giúp cho hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là tâm A Di Đà Phật.

      “Chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi” là tâm của hết thảy chư Phật, chúng ta có hay không? Nếu chẳng có cái tâm ấy, niệm Phật chẳng tương ứng! Bởi thế, quư vị công phu chẳng đắc lực, suốt ngày vẫn suy nghĩ bậy bạ, tâm chẳng thanh tịnh, ngu si, chẳng có trí huệ, tự tư, tự lợi, chẳng từ bi, cái ải đầu tiên không vượt qua được. Niệm Phật như thế chỉ là một loại thiện căn, chẳng thể dễ dàng văng sanh trong một đời. Bởi vậy, đầu tiên là “tâm phải như Phật”. Nay đă hết giờ rồi, buổi học hôm nay giảng đến đây thôi!

 

Tập 11

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn Tín Nguyện Tŕ Danh trong cuốn A Di Đà Kinh Nghiên Tập Báo Cáo, chúng tôi giảng đến: “Tŕ danh thời, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, tắc nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật” (Lúc tŕ danh, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, hành như Phật, th́ một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật).

Ở trên, tôi đă thưa cùng quư vị, tâm chúng ta vốn là tâm Phật, đáng buồn là bản thân chúng ta mê mất nên mới luân lạc làm phàm phu, luân lạc trong lục đạo bao kiếp chẳng thể xuất ly, càng mê càng lún sâu, càng hăm càng khổ trong ấy. Nếu trong một đời này, chúng ta chẳng nghe đến Phật pháp, làm sao hiểu được chuyện ấy? Chẳng biết chân tướng sự thật ấy, làm sao có thể quay đầu? Đấy là một vận hên lớn nhất trong đời này, là duyên phận thù thắng khôn sánh, được nghe Phật pháp, được nghe Đại Thừa, được nghe pháp môn Tịnh Độ, đấy chẳng phải là chuyện dễ dàng ǵ!

      Bao nhiêu Bồ Tát, Thanh Văn trong thế gian này muốn được nghe pháp môn này, nhưng chẳng có cơ hội. Chính như đức Thế Tôn đă nói trong kinh Vô Lượng Thọ, mỗi một vị đồng học chúng ta trong vô lượng kiếp đến nay đă kết pháp duyên rất sâu dầy với A Di Đà Phật, nên trong một đời này mới có cơ hội gặp gỡ. Kết pháp duyên rất sâu, nhưng v́ sao vẫn chẳng thể văng sanh? Pháp duyên dù sâu vẫn chưa đủ, trong kinh, đức Thế Tôn đă dạy chúng ta: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cơi ấy). Chữ “thiểu” (ít) thông cả ba câu, tức là chẳng thể ít thiện căn, ít phước đức, ít nhân duyên. Nói cách khác, thiện căn phải nhiều, phước đức phải nhiều, nhân duyên phải nhiều th́ một đời này nhất định được văng sanh. Ba điều kiện ấy thiếu một điều không được, đều thành chướng ngại!

      Chúng ta làm thế nào để đầy đủ cả ba điều kiện trên trong một đời này? Câu hỏi này rất hợp lư. Thật ra, có đủ ba điều kiện ấy hay không, tự ḿnh biết, thiện tri thức biết, thậm chí quỷ thần cũng biết. Nói chung, quỷ thần có Ngũ Thông, họ có thể thấy được. Chuyện đó không quan trọng, quan trọng nhất là chính ḿnh. Chính ḿnh làm sao biết? Tổ sư đại đức thường nói: Quư vị có chân tín hay không? Chân tín đă có th́ tư tưởng, kiến giải, hành vi tự nhiên khác rất nhiều so với lúc chưa gặp Phật pháp! Ḷng tin chân thành mà!

      Quư vị có thực sự nguyện được sanh về thế giới Cực Lạc hay không? Nếu thực sự nguyện sanh thế giới Cực Lạc, hết thảy người, sự, vật trong thế gian này, quư vị tự nhiên buông xuống hết. Nếu quư vị không buông được, chỉ cần một sự chưa buông được, cái nguyện của quư vị chẳng chân thật. Có chân tín, chân nguyện, lại phải coi quư vị có chân hạnh hay không! Nếu quư vị thực sự niệm Phật, coi niệm Phật là chuyện quan trọng nhất trong một đời này, biến niệm Phật thành chuyện quan trọng nhất trong suốt một ngày từ sáng đến tối. Việc xảy đến phải làm, đành để Phật hiệu xuống, chuyên tâm làm việc. Lúc xong việc, buông công việc xuống, Phật hiệu lại dấy lên, thực sự niệm!

      Tịnh Tông Học Viện chúng ta đề xướng kinh giáo; kinh giáo là chuyện chúng ta làm kèm thêm, chẳng phải là quy củ chánh yếu, chỉ là phụ thuộc! Phải phân định chủ - khách rơ ràng; bởi lẽ, kinh giáo không phải là chuyện ai cũng có thể học được, chính ḿnh phải hiểu rơ điều này, muôn vàn chẳng được điên đảo! Văng sanh là chuyện lớn! Chúng ta học kinh giáo ở đây là do chính ḿnh có đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên kinh giáo nên quư vị học được. Chẳng hoài nghi kinh giáo, hiểu được kinh giáo th́ có hai điều kiện trọng yếu: Một là kư ức, hai là giải ngộ. Quư vị thực sự nhớ được kinh giáo là trí nhớ tốt. Trước kia, thầy Lư bảo chúng tôi: “Nghe pháp sư giảng kinh, nghe xong, anh nhắc lại một lần, anh có khả năng giảng được tối thiểu sáu phần. Anh có năng lực ấy th́ có thể học kinh giáo được. Không có năng lực ấy th́ tùy hỷ. V́ sao? Không có năng lực th́ đừng miễn cưỡng quá phận, học chẳng thành công!”

      Khi xưa, lúc tôi cầu học ở Đài Trung, tôi quen biết pháp sư Huệ Nhẫn là một người rất thông minh. Nếu vị này thực sự khéo học, trong tương lai sẽ trở thành một nhân tài giảng kinh hoằng pháp. Tôi giới thiệu ông ta đến Đài Trung, thầy Lư gặp mặt cũng rất hoan hỷ. Ông ta lớn hơn tôi chừng năm tuổi, cùng tuổi với Hàn Quán Trưởng, xuất gia từ nhỏ, chưa từng học kinh giáo, nghe tôi giảng kinh hết sức hoan hỷ. Tôi nói: “Chúng ta cùng đến học với nhau”. Đến Đài Trung, tôi học Lăng Nghiêm với thầy Lư, khi đó thầy Lư đang giảng kinh Lăng Nghiêm. Chúng tôi học từ đầu, c̣n ông ta thầy dạy được một nửa mới đến học, tôi khuyên ông học một bộ kinh nhỏ, đừng học Lăng Nghiêm. Lăng Nghiêm lớn quá! Tôi bảo ông ta: “Tôi đă nghe thầy Lư giảng hơn ba mươi bộ kinh nhỏ”. Nói cách khác, tôi đă có hơn ba mươi bộ kinh nhỏ làm cơ sở, hễ nghe qua bộ nào một lần tôi đều có thể giảng được.

      Tôi từng bảo các vị đồng học tôi có khả năng phúc giảng lại chín mươi lăm phần trăm, tôi có khả năng ấy. Có trí nhớ như vậy, cũng như có khả năng hiểu. Tôi khuyên ông ta nên học dần dần từ những kinh nhỏ, theo học từng bộ; ông ta chẳng vui lắm, nghĩ tôi coi thường ông ta: “Ông học Lăng Nghiêm, sao tôi không thể học được?” Vậy là hết cách, chịu thôi! Đương nhiên, căn tánh của mỗi người không giống nhau, cũng có thể ông ta có căn tánh cao hơn tôi, tôi chẳng bằng được ổng. Tôi từ những bộ kinh nhỏ tiến lên dần dần, ổng vừa bắt đầu đă học ngay kinh lớn, thật bất phàm!

      Pháp sư Huệ Nhẫn hết sức dụng công, ngày đêm chẳng gián đoạn nghe thầy giảng kinh, đọc chú giải của cổ nhân, t́m kiếm tài liệu tham khảo, mỗi tối đều học đến hai, ba giờ sáng. Tôi thấy ông ta thật dũng mănh, tinh tấn, được khoảng mười tháng, thân thể suy sụp. Có một buổi tối đang xem kinh, bỗng thấy tối đen, không thấy ǵ nữa cả. Đến hôm sau, Sư bảo tôi v́ dụng công quá độ, không có cách nào nữa, đành phải rời Đài Trung lên Đài Bắc. Ông ta xuất gia từ nhỏ, xướng niệm hết sức hay. Khi đó, trong số những pháp sư trẻ tuổi giỏi xướng tụng, ông cũng là người có hạng. Do giỏi dùng pháp khí, ông đi làm pháp hội, làm kinh sám Phật sự. Làm độ hai năm, dành dụm được không ít tiền, mua một kư nhi viện (nhà giữ trẻ) ở vùng Mộc San thuộc Đài Bắc. Người ta muốn bán kư nhi viện ấy, ông ta liền mua ngay, lập một tiểu đạo tràng, gọi là Pháp Tạng Liên Xă. Đến Đài Trung bảo tôi: “Nay tôi có đạo tràng, thỉnh thầy lên Đài Bắc giảng kinh”. Tôi nói: “Tốt lắm! Chúng ta là bạn bè cũ mà!”

      Lúc ấy, ông ta bảo tôi: “Tôi hối hận không nghe lời ông. Nếu tôi bắt đầu từ những kinh nhỏ, học dần dần từng bộ, há cũng chẳng thành công ư?” Đúng vậy! Khi đó, tôi đă đề nghị, khuyên chỉ ông ta lời hay, tuyệt đối chẳng coi thường ông ta. Học tập pháp thế gian hay xuất thế gian đều có thứ tự, từ cạn đến sâu, từ bộ nhỏ sang bộ lớn mới không mất sức v́ dụng công quá độ. Vị pháp sư ấy h́nh như mấy năm trước, độ chừng bốn năm năm trước đă văng sanh tại Hương Cảng. Về sau, ông ta qua Hương Cảng, chúng tôi rất ít qua lại với nhau.

      Bởi thế, học kinh giáo phải có điều kiện học kinh giáo. Mục đích trọng yếu nhất của việc học kinh giáo là tự ḿnh đoạn nghi sanh tín. Tôi đề xuất “tâm, nguyện, giải, hạnh”, v́ sao chúng ta chẳng được như Phật? Chúng ta chẳng thể lư giải thấu triệt. Nếu quả thật lư giải thấu triệt khá, tức là đối với chân tướng của nhân sanh vũ trụ, chân tướng của nghiệp nhân quả báo có tŕnh độ lư giải kha khá sẽ đoạn nghi hoặc rồi, chẳng c̣n vấn đề ǵ nữa! Khi trước, tôi thường nói: “Các đồng học niệm Phật, quư vị gặp tôi nêu lên rất nhiều câu hỏi, tôi dùng một câu chung để đáp, câu ǵ vậy? Chẳng thật thà!” Nếu quả thật quư vị thật thà niệm, há c̣n vấn đề ǵ nữa ư? Vấn đề ǵ cũng chẳng có! Đó là lời thật. V́ sao chẳng thật thà? Vọng tưởng quá nhiều, phân biệt, chấp trước quá nhiều; bởi vậy, quư vị không chắc thật. V́ sao vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nhiều đến thế? V́ chưa hiểu rơ chân tướng sự thật.

      Do vậy, chúng ta học kinh giáo nhằm mục đích ǵ? Mục đích chủ yếu nhất là giúp chính ḿnh đoạn nghi sanh tín, chân chánh chắc thật niệm Phật, tự ḿnh được thọ dụng, tự ḿnh có thành tựu! Tôi chẳng giúp chúng sanh hay sao? Quư vị đă giúp, nhưng chính ḿnh không hiểu. Tôi giúp như thế nào? Quư vị đă là tấm gương niệm Phật tốt nhất cho người khác nh́n vào. Người hữu duyên trông thấy hành vi, ngôn ngữ quư vị, kẻ ấy sẽ cảm động, giác ngộ. Người vô duyên nh́n chẳng ra, người hữu duyên nh́n ra: Đây là người chân chánh niệm Phật!

      Bởi vậy, tự hành chính là hóa tha, chúng tôi thường nói bất luận tại gia hay xuất gia, đệ tử Phật môn niệm niệm, thời thời, chốn chốn đều phải là gương tốt cho hết thảy đại chúng trong xă hội. Làm người phải là một con người tốt, làm gương tốt cho hết thảy mọi người. Những đồng học tại gia, gia đ́nh ḿnh phải là gương tốt cho mọi gia đ́nh khác trong xă hội, là gia đ́nh mô phạm. Trong đạo tràng này, nhất định phải biến đạo tràng này thành gương tốt cho hết thảy các đạo tràng. Chớ cầu ai hết, phải cầu chính ḿnh; người khác làm ǵ chẳng ăn nhập ǵ đến ḿnh! Nhất là trong thời đại hiện tại, dân chủ, tự do, cởi mở, mỗi cá nhân có tự do ngôn luận, được tự do xuất bản. Bởi thế, phải dốc ḷng nhớ kỹ giáo huấn chân thật của các cổ đức, ta đối xử với người, quyết định chẳng thể nói lỗi lầm của người khác. Nói lỗi lầm của người khác, gây thị phi, kết oan cừu, tự ḿnh đă sai mất rồi!

      Cổ đức dạy chúng ta: “Tịnh tọa thường tư kỷ quá” (Tịnh tọa thường nghĩ đến lỗi ḿnh). Tự ḿnh phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa đổi cho tốt hơn, “nhàn đàm mạc luận nhân phi” (chuyện gẫu đừng bàn luận khuyết điểm của người khác), chẳng những không nên nói mà hết thảy những điều bất thiện của người khác đừng ghim vào ḷng. Quư vị để tâm là sai rồi. Tôi thường hay nói như vầy: “Để tâm đến hết thảy những chuyện bất thiện của người khác, tâm quư vị biến thành cái thùng rác!” Chuyên môn thâu thập những thứ phế thải của người ta, tâm ta biến thành thùng rác, tâm hỏng mất rồi, chẳng c̣n là tâm Phật nữa, tâm ḿnh làm sao biến thành tâm Phật được? Quư vị chuyên môn thâu thập mọi ngôn luận, mọi đức hạnh của chư Phật Như Lai, tâm không c̣n chứa đựng những thứ ǵ khác, chỉ toàn trang hoàng bằng những thứ tốt đẹp của chư Phật Như Lai. Đọc tụng kinh điển, tư duy ư nghĩa kinh, nghiên cứu làm sao để thực hiện những giáo huấn trong kinh vào cuộc sống, áp dụng vào công việc, áp dụng vào xử sự, đăi người, tiếp vật. Đấy là tâm Phật.

      Tâm giống Phật, nguyện như Phật, Phật nguyện ǵ? Nói chung, các nguyện của mười phương tam thế hết thảy chư Phật dẫu rất nhiều, nhưng quy nạp lại, không ngoài bốn nguyện lớn, đức Thế Tôn gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện; quy nạp lại, chẳng ngoài bốn nguyện lớn! Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nếu quư vị quy nạp lại cũng chẳng ngoài bốn đại nguyện ấy. Chúng tôi thường nói bốn đại nguyện ấy thực sự chỉ gồm một nguyện, chỉ có một điều thôi: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Những chúng sanh nào? Chúng sanh trong chín pháp giới, ai chưa chứng đắc Phật quả đều là chúng sanh. “Độ” () có nghĩa là ǵ? Nói theo ngôn ngữ hiện tại, độ là giúp đỡ, thành tựu cho người ấy. Chư Phật Như Lai chỉ có một nguyện ấy, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, chẳng riêng ǵ loài người mà là chúng sanh trong chín pháp giới. Trong đó bao gồm ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, bao gồm cả yêu ma quỷ quái, họ đều là chúng sanh. Quư vị phải giúp họ thành Phật. V́ sao họ lại biến thành ra như thế? Mê mất tự tánh, do vậy mới biến thành ra như thế.

      Phật đă giác ngộ, đă hoàn toàn hiểu rành hết thảy chân tướng. Hết thảy chúng sanh có quan hệ ǵ với ḿnh? Quan hệ rất mật thiết! Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta thường đọc thấy “tự - tha bất nhị”. Tôi và anh về h́nh dáng chẳng giống nhau, nhưng Phật tánh giống hệt như nhau, cùng một Phật tánh. Bởi thế, trong kinh điển Đại Thừa, đức Phật đă nói bao nhiêu lần: “Thập phương tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (Mười phương tam thế Phật cùng chung một Pháp Thân). Mười phương tam thế Phật bao gồm cả anh lẫn tôi, loài người chúng ta, thậm chí tất cả chúng sanh trong lục đạo, ngạ quỷ, địa ngục, hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Nói tam thế là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật; vị lai Phật là hết thảy chúng sanh hiện tiền, cùng chung một Pháp Thân, “một tâm, một trí huệ”. Chúng ta thường nói một tâm một đức, chẳng sai chút nào.

      Chúng sanh mê  mất  tự  tánh, chẳng  biết  chân  tướng  sự  thật, khởi

vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trong hết thảy cảnh giới. Từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, lại khởi tham - sân - si - mạn. Mê mất tự tánh, càng đi càng xa. Mê quá lâu, càng mê sâu hơn, chẳng biết mối quan hệ giữa ḿnh và chúng sanh, chẳng những ta cùng hết thảy hữu t́nh chúng sanh là một thể, mà với vô t́nh chúng sanh (như cây cối, hoa cỏ, núi, sông, đại địa), toàn thể vũ trụ đều là Pháp Thân thanh tịnh của chính ḿnh. Ai biết? Pháp Thân Bồ Tát biết, họ chứng đắc được. Chứng đắc là hiểu rơ, chẳng c̣n nghi hoặc. Bởi thế, họ chủ động giúp hết thảy chúng sanh vô điều kiện. Tự ḿnh giúp chính ḿnh, tự ḿnh thành tựu chính ḿnh! Sự nhận biết ấy trong Phật pháp gọi là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Hiểu rơ ràng quan hệ giữa hết thảy người, sự, và vật trong vũ trụ, hiểu minh bạch; đến lúc đó, nguyện của người ấy tự nhiên giống hệt như nguyện của Phật.

      Quư vị muốn độ chúng sanh th́ độ bằng cách nào? Phải biết chúng sanh đang mê, chính ḿnh khai ngộ rồi, giác ngộ rồi, làm thế nào khiến cho chúng sanh hồi đầu, giúp họ thành tựu bằng cách nào? Ba điều nguyện sau chính là phương pháp: “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Quư vị phải cho họ thấy đoạn phiền năo như thế nào, họ thấy rồi sẽ giác ngộ, sẽ hiểu rơ: Phải làm như thế nào! Bồ Tát sơ học th́ chư Phật Như Lai v́ kẻ ấy thị hiện, có đức Phật nào chẳng thị hiện tŕ giới trong chín pháp giới? Tŕ giới để làm ǵ? Để đoạn phiền năo! Tŕ giới là phương pháp, đoạn phiền năo là mục đích. Nhân Giới đắc Định, Định khuất phục được phiền năo. Nhân Định khai Huệ, Huệ chuyển được phiền năo, chuyển phiền năo thành Bồ Đề. Đấy là công khóa tu hành thứ nhất, tức đức hạnh! Giáo học thế gian lẫn xuất thế gian đều lấy đức hạnh làm đầu. Quư vị muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh, bọn họ là chúng sanh đang điên đảo, mê hoặc, là chúng sanh mê mất tự tánh. Quư vị muốn giúp đỡ họ, điều trước tiên là phải thành tựu đức hạnh của chính ḿnh. Nay chúng ta chẳng phải là Phật, Bồ Tát tái lai; chúng ta xác thực là phàm phu. Phàm phu th́ càng phải làm! V́ sao? Độ chính ḿnh, đoạn phiền năo là thành tựu đức hạnh của chính ḿnh.

      Điều này tôi phải học mất năm mươi năm, chẳng phải trong thời gian ngắn. Thoạt đầu, Chương Gia đại sư dạy tôi, quả thật lăo nhân gia dùng trí huệ chân thật, thiện xảo phương tiện khiến tôi thay đổi quan niệm, tiếp nhận Giới học. Tôi vốn nẩy sanh quan niệm sai lầm nghiêm trọng đối với Giới học, hết sức ưa thích kinh luận, nhưng đối với Giới Luật rất coi nhẹ, chẳng buồn để mắt đến. Chương Gia đại sư lao tâm khổ tứ khiến tôi giác ngộ. Giới Luật chẳng phải là những khuôn mẫu sanh hoạt thế gian như ta thường tưởng; nó chính là ranh giới phân chia phàm - thánh, là khuôn mẫu sinh sống của thánh nhân, chẳng phải của phàm nhân. V́ vậy, nó vĩnh hằng bất biến, siêu việt không gian lẫn thời gian. Chúng ta phải hiểu đạo lư này!

      Thông thường, Đại Thừa Phật pháp thường nói hai mươi sáu món phiền năo, tức hai mươi sáu loại. Phiền năo vô lượng vô biên; v́ để dạy dỗ cho thuận tiện, đức Thế Tôn quy nạp thành hai mươi sáu loại. Trong hai mươi sáu loại này, lại chia thành hai loại lớn: Thứ nhất là Căn Bản phiền năo, thứ hai là Tùy phiền năo. Căn Bản phiền năo sáu điều, Tùy phiền năo hai mươi điều. Trong Tùy phiền năo lại chia thành Đại Tùy phiền năo, Trung Tùy phiền năo và Tiểu Tùy phiền năo. Nếu đoạn được hai mươi sáu loại phiền năo này th́ mọi phiền năo đều đoạn sạch, khởi công từ đó. Đặc biệt là căn bản phiền năo; sáu điều căn bản phiền năo cũng là sáu loại lớn: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Trong ác kiến lại chia thành năm loại lớn: thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến. Bởi thế, trong sáu món phiền năo, ác kiến lại chia ra thành năm thứ, trên thực tế thành ra mười điều. Mười điều đó chia thành Kiến phiền năo và Tư phiền năo, gọi chung là Kiến Tư phiền năo.

      Đức Phật bảo luân hồi lục đạo là do năm món tham, sân, si, mạn, nghi trong Kiến Tư phiền năo biến hiện. Nếu quư vị thực sự đoạn được Kiến Tư phiền năo, sẽ không c̣n luân hồi lục đạo nữa. Kiến Tư phiền năo chưa đoạn, vĩnh viễn ở trong lục đạo luân hồi, lục đạo do đâu mà có? Do Kiến Tư phiền năo biến hiện thành. Quư vị muốn vượt thoát lục đạo, đức Phật dạy rất đơn giản: Quư vị phải bỏ hết những thứ có khả năng biến hiện ra luân hồi lục đạo th́ lục đạo luân hồi sẽ chẳng c̣n nữa! Ai làm được? A La Hán làm được. A La Hán đoạn Kiến Tư phiền năo, vượt thoát lục đạo luân hồi.

      Trong Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia đại sư có mấy câu:

      Mộng lư minh minh hữu lục thú,

      Giác hậu không không vô đại thiên.

      (Trong mộng rành rành phân sáu nẻo,

      Giác rồi ba cơi rỗng toang hoang).

      A La Hán giác ngộ rồi, hễ giác ngộ th́ sáu nẻo không c̣n nữa, sáu nẻo trống rỗng không c̣n tam thiên đại thiên thế giới. Chúng tôi nói thế giới Sa Bà là một đại thiên thế giới, tức là lục đạo luân hồi. Trong kinh giáo, Phật thường giảng về tam thiên đại thiên thế giới rất rơ ràng: Trong kinh Phật gọi tinh cầu mà chúng ta đang sống đây là Nam Thiệm Bộ Châu (Jambudvīpa). Tinh cầu này di chuyển trong hư không, xoay chuyển quanh núi Tu Di (Sumeru). Núi Tu Di là trung tâm. Thái dương, mặt trăng, rất nhiều tinh cầu đều xoay quanh eo (khoảng giữa) núi Tu Di. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ giảng rất có lư. Quư vị thấy đó: Chẳng phải là Thái Dương hệ (solar system) chuyển động trong Ngân Hà Hệ đó ư?

      Hoàng lăo cư sĩ gọi trung tâm của Ngân Hà Hệ là núi Tu Di. Núi Tu Di chẳng ở trên địa cầu, cũng chẳng thuộc Thái Dương hệ. Thiên văn học cổ truyền Trung Quốc gọi trung tâm của Ngân Hà Hệ là Hoàng Cực. Hoàng Cực là núi Tu Di. Chúng ta biết Hoàng Đạo là quỹ đạo của chín đại hành tinh[4] xoay quanh mặt trời, chúng ta gọi quỹ đạo ấy là Hoàng Đạo. Trước kia, người ta không biết địa cầu xoay quanh mặt trời, ngỡ địa cầu là trung tâm, trông thấy các hành tinh (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao) có quỹ đạo nên gọi là Hoàng Đạo. Lúc các hành tinh xoay quanh địa cầu, họ phát hiện ra Nam Cực và Bắc Cực, hoàn toàn lấy địa cầu làm bản vị. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ bảo trên thực tế, Phật đă dạy trong kinh, nếu quư vị chú tâm quan sát, tư duy, sẽ thấy núi Tu Di chính là trung tâm của Ngân Hà Hệ.

      Hiện nay có người nói trung tâm của Ngân Hà Hệ là lỗ đen (black hole), có năng lượng rất lớn, ngay cả ánh sáng chiếu đến lỗ đen cũng bị nuốt mất. Đến bên nó, chịu ảnh hưởng bởi dẫn lực (sức hấp dẫn, sức hút), ánh sáng đều bị co rút lại. Năng lượng lớn như thế đó. Một Ngân Hà Hệ như vậy là một đơn vị thế giới, một ngàn đơn vị thế giới gọi là một tiểu thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một đơn vị thế giới (Ngân Hà Hệ) là Sơ Thiền Thiên; một Ngân Hà Hệ chỉ có một Sơ Thiền Thiên. Như vậy, một ngàn đơn vị thế giới, tức là một ngàn Ngân Hà Hệ, là một tiểu thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một tiểu thiên thế giới chính là Nhị Thiền Thiên. Một tiểu thiên thế giới chỉ có một Nhị Thiền Thiên. Tiếp đó, lấy tiểu thiên thế giới làm đơn vị, hợp một ngàn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới, trên thiên đỉnh của trung thiên thế giới là Tam Thiền Thiên. Rồi lại dùng trung thiên thế giới làm đơn vị, gộp một ngàn trung thiên thế giới lại, gọi là một đại thiên thế giới, một đại thiên thế giới chỉ có một Tứ Thiền Thiên.

      V́ vậy, lục đạo là thế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà là một tứ thiên hạ, một ngàn Tam Thiền Thiên, một ngàn nhân một ngàn, thành một trăm vạn Nhị Thiền thiên, lại nhân cho một ngàn, thành mười ức Sơ Thiền Thiên. Vậy th́ nếu coi một Ngân Hà Hệ là đơn vị thế giới, phạm vi sẽ rất lớn. Chúng ta độ chúng sanh, tối thiểu phải phát nguyện độ một cơi như vậy. Sa Bà thế giới là bổn quốc, quư vị phải có tâm lượng lớn như thế. Quư vị phải dùng tâm lượng ấy đối với hết thảy chúng sanh. Nếu ai đối với chúng sanh thấy chẳng thuận mắt, tức là có thành kiến đối với kẻ ấy, người ấy chẳng phải là học Phật, chẳng đoạn được phiền năo. Làm sao đoạn được phiền năo? Quư vị c̣n học pháp môn nào nữa? Nguyện chẳng phải là chuyện dễ! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

 

      Chư vị đồng học!

      Chúng tôi lại giảng tiếp về “nguyện đồng Phật”, chẳng thể giảng quá nhiều, chỉ đơn giản giảng Tứ Hoằng Thệ Nguyện.

      Phải hiểu chánh xác Tứ Hoằng Thệ Nguyện, phải phát nguyện, phải thực hiện, phải làm được những nguyện đó. Bởi lẽ, đoạn được Kiến Tư phiền năo bèn vượt khỏi lục đạo, thoát ly biển khổ Sa Bà. Niệm Phật là một pháp môn nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, dễ dàng, đơn giản, lại thành tựu thù thắng khôn sánh. Bởi vậy, trong kinh này, đức Thế Tôn bốn lần khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, một rồi hai, hai rồi ba, ba rồi bốn lần khuyên, buốt ḷng rát miệng như thế, tất cả chúng ta phải nhớ kỹ. Bởi vậy, chẳng thể không đoạn phiền năo, chẳng thể không học pháp môn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, nay chúng ta chỉ học một môn, học đến mức áp dụng được, chuyên tu Tịnh nghiệp. Pháp sư Ấn Quang thường dùng bốn chữ “chuyên tu Tịnh nghiệp” để khích lệ, khuyến tấn học nhân.

      Đối với các kinh luận khác, tôi đă có nói rồi, quư vị tu Tịnh nghiệp th́ phải nắm cho chắc, có nghĩa là nắm chắc văng sanh. Nếu quư vị c̣n có nhiều thời gian th́ nghiên cứu các kinh giáo khác chẳng trở ngại ǵ, có thể học được. Nếu chưa nắm chắc Tịnh nghiệp, quư vị hăy nghĩ xem có nên buông xuống, chuyên tu hay không? Rất nhiều kinh luận ḿnh chưa học đến th́ làm thế nào đây? Về Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ học sau, c̣n trong thế gian này, ta không quan tâm đến chúng; v́ sao vậy? Ta là hạng căn tánh trung hạ, ta không có năng lực ấy!

      Nếu quư vị thực sự đủ sức, đủ điều kiện như vậy th́ được! Quư vị học những điều đó để làm ǵ? Để giúp đỡ người khác. Trong thế gian này có những người không thuộc căn cơ Tịnh Độ, họ chẳng thể tiếp nhận kinh giáo Tịnh Độ. Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, trong một đời Ngài, đức Phật giảng rất nhiều kinh luận, rất phong phú! Bất luận ai t́m đến, đức Phật đều có khả năng dạy hết, đúng như vậy. Chúng ta không có năng lực như Phật, tốt nhất là ngoan ngoăn nghe lời, thâm nhập một môn. Thực sự thông được một môn; thế nào là thông? Ngộ nhập môn ấy, khai ngộ, đại triệt, đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Trong Tông môn gọi là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ gọi là “đại khai viên giải”, pháp môn Niệm Phật gọi là “nhất tâm bất loạn”. Danh từ khác nhau, nhưng cảnh giới hoàn toàn tương đồng, đều là minh tâm kiến tánh, đều cùng một cảnh giới. Đến lúc ấy, cái ǵ cũng thông. Bởi thế, nói: “Một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Quư vị thông suốt toàn bộ, chẳng có ǵ quư vị chẳng thể giảng được!

      Đến lúc đó, tôi có cần phải giảng hết thảy các kinh nữa hay không? Rất có thể. Hết thảy các kinh là để tiếp dẫn các căn cơ bất đồng, nhưng tự ḿnh th́ chuyên tu Tịnh Độ. Quư vị chẳng tin tưởng ư? Quư vị hăy nh́n vào Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát! Văn Thù, Phổ Hiền giáo hóa hết thảy chúng sanh, pháp môn ǵ cũng nói, nhưng như quư vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm đó, chính họ phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Tự ḿnh nêu gương cho chúng ta thấy, ḥng bảo với đại chúng: “Bất luận các ngươi tu học pháp môn nào, rốt cuộc quay về Tịnh Độ là bậc nhất; bất luận tu học pháp môn nào, phải đem công đức tu học của ḿnh hồi hướng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều văng sanh”.

      Chúng ta thấy trong khoa phán của Vô Lượng Thọ Kinh, pháp sư Từ Châu phán định đoạn cuối của phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) là “nhất tâm tam bối”, nghĩa là đoạn kinh ấy nói về những người tu các pháp môn Đại Thừa khác, chẳng phải là chuyên tu Tịnh tông. Bất luận tu theo tông phái Đại Thừa Phật pháp nào, Hiển giáo, Mật giáo, đến cuối cùng đem công đức đă tu học hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, th́ đều được văng sanh cả. Pháp môn rộng lớn thay! Trọn chẳng nhắc tới A Di Đà Phật, chẳng tu pháp môn Tịnh Độ, quư vị chẳng thể văng sanh ư? Không phải vậy! Bất luận quư vị tu học pháp môn nào, chỉ cần quư vị tu có thành tựu; thành tựu điều ǵ? Đoạn được phiền năo, mở mang trí huệ, có đại nguyện độ chúng sanh, [Phật] đều nhất loạt hoan nghênh. Pháp môn rộng lớn thay! Nói rơ hơn, bản kinh ấy giảng về bốn mươi tám đại nguyện của A Di Đà Phật.

      Chúng tôi thành lập Tịnh Tông Học Hội, đặc biệt lấy chương thứ sáu “phát đại thệ nguyện” của kinh Vô Lượng Thọ làm kinh văn để đọc tụng trong khóa sáng, nhằm dụng ư ǵ? Nguyện như Phật! Dụng ư là đây! Kinh văn để tụng vào khóa chiều chọn từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ nhằm dụng ư ǵ? Hành như Phật. Từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là Như Lai hạnh, nội dung những phẩm ấy quư vị đều đă biết cả rồi: Ngũ Giới, Thập Thiện, chẳng giảng quá cao, quá huyền, quá diệu, rất chất phác, thành thật. Đấy là ưu điểm của kinh Vô Lượng Thọ, đặc biệt là bản hội tập, càng đọc, càng thích thú.

      Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư là bậc tái lai, chẳng phải người tầm thường! Không phải là tôi nói như vậy, một người có công năng đặc dị ở Mại A Mật (Miami), Mỹ quốc, nói như thế đó. Trong Phật pháp, ta thường nói là có thần thông, người Hoa gọi là “công năng đặc dị”. Vị ấy không phải là người Hoa, mà là người Mỹ, chưa hề gặp mặt cụ Hạ, trông thấy ảnh cụ Hạ, liền bảo với mọi người: “Vị này thân thể trong suốt”. Chúng ta chỉ cần nghe nói “thân thể trong suốt” th́ hiểu có nghĩa là ǵ? Phiền năo đoạn sạch rồi. Phiền năo thuộc về vô minh, chẳng trong suốt. Thân thể trong suốt, tức phiền năo đoạn sạch. Phiền năo đoạn sạch, há phải người tầm thường ư? A La Hán đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, nhưng chưa đoạn Trần Sa và Vô Minh. Nói cách khác, thân A La Hán trong suốt một phần, chẳng trong suốt hoàn toàn. Mức độ trong suốt của Bồ Tát phải cao hơn A La Hán, đạt đến quả địa Như Lai sẽ hoàn toàn trong suốt, chúng ta thường nói là giống như thủy tinh, như lưu ly.

Hội tập chẳng phải là việc dễ dàng ǵ, cụ hội tập khéo như thế. Cư sĩ Vương Long Thư đời Tống là người thứ nhất soạn hội tập, cư sĩ Ngụy Mặc Thâm là người thứ hai, các bản hội tập ấy vẫn c̣n! Quư vị mở ba bản hội tập ra so sánh, quư vị mới thấy bản hội tập của cụ Hạ rất tuyệt, đúng là khiến cho người đời phải khen là quán chỉ[5]. Lăo cư sĩ Mai Quang Hy tán thán khẳng định: “Trong kinh, Phật từng thọ kư, đến lúc Phật pháp diệt, tất cả hết thảy kinh giáo thảy đều diệt mất, kinh Vô Lượng Thọ c̣n lưu lại trong thế gian này hơn một trăm năm nữa. Bản diệt sau cùng chắc chắn là bản hội tập của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư”.

Chúng tôi tin tưởng điều này! Nếu quư vị hỏi   sao  tôi  tin  tưởng?

Tôi có số liệu thống kê để làm căn cứ. Trong mười mấy năm qua, bất luận quốc nội hay quốc ngoại, chưa có ai chẳng yêu thích bản kinh này, cho thấy bản này rất khế cơ! Khế lư, khế cơ, bản này đương nhiên trường tồn trong thế gian, đó là đạo lư! Bởi thế, chúng tôi hữu duyên được giảng kỹ càng bản này một lần nữa để lưu lại cho hậu học tham khảo. V́ vậy, chúng tôi dùng bốn mươi tám nguyện làm khóa sáng, dùng một đoạn kinh lớn đức Phật giảng rất tường tận về Ngũ Giới, Thập Thiện làm khóa tối. Khóa sáng là cảnh tỉnh chính ḿnh: Ngày hôm nay tâm nguyện chúng ta phải giống như Phật. Khóa tối là để phản tỉnh, phải sám hối, những ǵ Phật dạy ta làm, ta có làm được không? Những ǵ Phật dạy chúng ta đừng làm, chúng ta có vi phạm hay không? Phải phản tỉnh, phải kiểm điểm, sửa lỗi, đổi mới.

Trước khi Hành, nhất định phải Giải, chữ Giải () ở đây hiểu theo nghĩa rộng, tức là liễu giải chân tướng của nhân sanh và vũ trụ, liễu giải hết thảy người, sự, vật, giống như trí huệ của Phật, hiểu rơ mọi thứ, thấu hiểu mọi thứ, đối với mọi thứ chẳng mê hoặc; xử sự, đăi người, tiếp vật chẳng sai lầm. Có như vậy th́ mới có thể thực sự diễn nói cho người khác. Chúng ta thường nghe cổ đức nói: “Nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật; niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Một niệm ấy tương ứng với ǵ? Tương ứng tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật. Nếu quư vị chẳng biết rơ, chẳng hiểu rơ tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật th́ làm sao tương ứng được? Muốn hiểu rơ, muốn thấu hiểu th́ phải nương vào lời dạy. Bởi thế, khi Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, Ngài theo đuổi việc dạy học suốt bốn mươi chín năm. Dạy điều ǵ? Vẫn dạy chẳng ngoài những điều “tâm như Phật tâm, nguyện như Phật nguyện, giải như Phật giải, hành như Phật hành”, dạy những điều như thế.

Chớ lấy tri kiến của ḿnh làm tiêu chuẩn, chớ lấy cách nghĩ, cách làm, cách nh́n của ḿnh làm tiêu chuẩn. V́ sao? Chúng ta là phàm phu, thành kiến sai lầm; tư tưởng, kiến giải chẳng chánh xác. Những điều Phật dạy trong kinh thật ra cũng là phương tiện nói, vẫn chưa phải là nói chân thật. Phật nói: Đợi đến khi nào quư vị chứng đắc quả A La Hán rồi, tức là khi đoạn được Kiến Tư phiền năo rồi, quư vị mới có thể tin vào ư nghĩ, cách nghĩ, cách nh́n của chính ḿnh, đức Phật nói phương tiện như thế. Bây giờ đừng nói chi quả A La Hán, ngay Sơ Quả Tu Đà Hoàn ta cũng chẳng có phần, v́ sao? Tu Đà Hoàn đă đoạn hết Kiến phiền năo, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến, thực sự đoạn sạch. Kiến giải như Phật, nhưng suy tưởng vẫn chưa giống hệt như Phật. Kiến giải như Phật, chứng Tiểu Thừa Sơ Quả, trong kinh Hoa Nghiêm của Đại Thừa gọi [địa vị ấy] là Sơ Tín Vị Bồ Tát. Ngay địa vị ấy chúng ta c̣n chưa đạt được, làm sao có thể tin vào chính ḿnh được?

Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán là bốn quả Tiểu Thừa, quư vị thấy đối với ba quả đầu, đức Phật chẳng nói: “Các ngươi có thể tin vào suy nghĩ của chính ḿnh!” Nói cách khác, đều chưa thể tin vào suy nghĩ của chính ḿnh. Tôi thường hay nói: “Phải buông xuống thành kiến, vứt bỏ cách nghĩ, cách nh́n, cách nói, cách làm của chính ḿnh, tùy thuận sự giáo huấn của đức Phật”. Trong cách nghĩ, cách nh́n đối với vũ trụ, đối với hết thảy con người, sự vật, chúng ta phải coi đức Phật nghĩ như thế nào th́ học theo như thế đó. Phật thấy như thế nào, ta phải học theo thế ấy. Như vậy là đúng! Dù đă chứng quả A La Hán, Tiểu Thừa thoát khỏi lục đạo, nhưng chưa ra khỏi mười pháp giới; dẫu ḿnh là chánh giác, nhưng c̣n kém Bồ Tát rất xa, Bồ Tát là chánh đẳng chánh giác. Bởi vậy, tốt nhất vẫn là tiếp tục không ngừng tùy thuận lời Phật răn dạy, sẽ chẳng sai, chúng ta sẽ sớm có một ngày thành Vô Thượng Đạo.

Lời giáo huấn chân thật của chư Phật Như Lai là khuyên chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ; như Thiện Đạo đại sư đă nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất thế, duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải” (Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm nói ra biển bổn nguyện của Phật Di Đà). Chúng ta phải nhớ kỹ, đấy mới là giáo huấn chân thật bậc nhất. Tùy thuận lời giáo huấn của đức Phật là tương ứng, đấy mới là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”.

“Cố kinh vân: Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền, đương lai, tất định kiến Phật” (Bởi thế, kinh dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”). Mười hai chữ ấy nằm trong kinh văn của chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm. Nhớ Phật, niệm Phật là nhớ ǵ, niệm ǵ? Phải biết điều này! Nhớ tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật, niệm tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Đó gọi là “thực sự niệm Phật”, chẳng phải là nghĩ đến tướng hảo hay danh hiệu Phật. Tướng hảo và danh hiệu là phương tiện. Chẳng thể buông bỏ phương tiện, do phương tiện mà nhập chân thật, chân thật là tâm - nguyện - giải - hạnh.

Chúng ta nghĩ đến tướng hảo của Phật, trông thấy tượng Phật có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, trông thấy tượng Phật bèn nghĩ đến tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật phải nghĩ đến thực chất của danh hiệu Phật. Thực chất của danh hiệu Phật là ǵ? Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh! Ta tự ḿnh niệm một câu Phật hiệu, hoặc nghe người khác niệm một câu Phật hiệu, lập tức nhắc nhở, đánh thức chính ḿnh, phải giữ tâm ḿnh sao cho tâm giống hệt như Phật, nguyện giống hệt như Phật, giải giống hệt như Phật (giải là trí huệ), hạnh giống hệt như Phật (hạnh là đức hạnh). Một câu Phật hiệu chứa đựng thật viên măn tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật, không thiếu sót chút nào.

Nếu chúng ta lại hỏi: “Có tài liệu tham khảo nào để chúng ta học tập tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật hay không?” Có chứ! Đơn giản nhất là kinh A Di Đà. Đó là tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Tỉ mỉ hơn chút nữa là kinh Vô Lượng Thọ, tỉ mỉ hơn chút nữa là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Cổ đức nói Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh là đại bổn của kinh A Di Đà; nay chúng ta niệm kinh A Di Đà chính là niệm tiểu bổn kinh Hoa Nghiêm. Vô Lượng Thọ kinh là trung bổn. Ba kinh này giảng những điều rộng lược khác nhau. Kinh A Di Đà nói lược, nói rất đơn giản, rất thiết yếu, nói lược. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nói rộng, nói rất chi tiết. Toàn kinh giảng điều ǵ? Giảng Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh. Quư vị nghĩ xem có phải như vậy hay không? Hiểu được đạo lư này, quư vị sẽ hiểu v́ sao chúng tôi coi trọng nghiên cứu kinh giáo và nghiên cứu giáo lư đến thế! Chẳng có ǵ khác cả, chúng ta học Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh. Đó là niệm Phật, đó là nhớ Phật.

Sau câu “ức Phật, niệm Phật” là Quả: “Hiện tiền, tương lai, tất định kiến Phật”. Hiện tiền là hiện tại, tương lai là sau khi văng sanh; hiện tiền là lúc ta chưa văng sanh. “Tất định”: Chúng ta thấy ngữ khí câu này rất khẳng định, người ấy lúc lâm chung thấy Phật đến tiếp dẫn, nói với người bên cạnh: “Tôi thấy A Di Đà Phật rồi!” Đó là hiện tiền thấy Phật. Kẻ ấy được thấy, chúng ta cùng ở trong pḥng bệnh, chẳng ai thấy cả mà kẻ ấy thấy được. Chuyện này chẳng phải giả, là thật đấy!

Vào lúc ấy, người b́nh thường sẽ trông thấy người nhà thân quyến, bảo mọi người chung quanh: “Tôi thấy ông X. đến, ổng đứng ngoài cửa”. Những người được nhắc đến ấy đều là người nhà, thân quyến của kẻ ấy, đều đă chết rồi, lúc ấy kẻ sắp chết trông thấy. Đó có phải là người nhà, thân quyến của kẻ ấy hay chăng? Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện giảng rơ sự t́nh này: Chẳng phải là người nhà, quyến thuộc của kẻ ấy, mà là ai vậy? Là oán thân trái chủ. Oán thân trái chủ biến hiện ra h́nh dạng người nhà, quyến thuộc đến để làm ǵ? Đến kéo kẻ ấy đi, kéo kẻ ấy đi tính sổ, trong kinh Địa Tạng, đức Phật dạy như vậy.

Người niệm  Phật phải đặc biệt cẩn thận, người lâm chung nói những

câu ấy, phải đặc biệt cảnh tỉnh kẻ ấy: “Đừng quan tâm đến! Bất luận thấy ai cũng đừng quan tâm đến, cứ nhất tâm niệm Phật. Ông (bà) thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn th́ ông (bà) có thể theo Ngài; ngoại trừ A Di Đà Phật ra, Phật, Bồ Tát nào khác đến cũng chẳng được theo. Trong số đó chỉ có Quán Âm, Thế Chí, A Di Đà Phật, đó là Tây Phương Tam Thánh; c̣n tất cả Phật, Bồ Tát khác, ông (bà) trông thấy đều chẳng được theo. V́ sao? Ma có thể giả mạo đấy!”

Ma giả mạo Phật, Bồ Tát, giả mạo người nhà, quyến thuộc đều chẳng phạm pháp, nhưng nó chẳng thể giả mạo Bổn Tôn. Chúng ta tu Tịnh Độ, Tây Phương Tam Thánh là Bổn Tôn của chúng ta. Yêu ma quỷ quái chẳng thể giả mạo Bổn Tôn, giả mạo Bổn Tôn, thần Hộ Pháp bèn trừng phạt nó, nó chẳng dám làm vậy. Nó giả mạo Phật, Bồ Tát khác, hộ pháp thần chẳng can thiệp, nhất định chẳng được giả mạo Bổn Tôn. Bởi thế, mọi người đừng sợ hăi: Lúc lâm chung gặp A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, cứ an tâm đi theo, đó là thật, chẳng giả đâu! “Hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”.

 

6.3.1.2. Y Báo diệu nghiêm

6.3.1.2.1. Tổng thuyết y báo diệu nghiêm

 

Chúng ta xem tiếp đoạn dưới, giảng về sự mầu nhiệm của Y Báo. Đoạn kinh văn này tiếp theo đoạn Tự Phần ở trên, trước hết là:

 

      Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?

      舍利弗。彼土何故名為極樂。

      (Này Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao tên là Cực Lạc?)

 

      C̣n đây là câu giải đáp:

 

      Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.

      其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。

(Chúng sanh cơi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên tên là Cực Lạc).

 

      V́ sao thế giới ấy có tên là thế giới Cực Lạc? Câu này giải thích: Chúng sanh sống trong thế giới ấy gồm có trời, người, Thanh Văn, Bồ Tát, không có ba ác đạo, Tây Phương Cực Lạc thế giới không có ba ác đạo. Cư dân nơi đó không khổ, không khổ là lạc; v́ vậy thế giới ấy tên là Cực Lạc.

Dưới đoạn này, chúng tôi thuyết minh đơn giản “tổng thuyết, vô chúng khổ, thọ chư lạc” (nói chung, không có các khổ, hưởng các sự vui). Các khổ rất ư là nhiều, trong kinh Đại Thừa, đức Phật nói có vô lượng khổ; lại nói đến tám vạn bốn ngàn nỗi khổ. Tám vạn bốn ngàn chẳng phải là nói tùy tiện, quư vị hăy tra trong Phật Học Từ Điển, hoặc tra Giáo Thừa Pháp Số, [những sách ấy] sẽ thực sự liệt kê từng điều cho quư vị thấy tám vạn bốn ngàn sự khổ! Trong nền giáo học nhà Phật, tất cả hết thảy sự khổ quy nạp thành ba loại lớn, thường được nói đến rất nhiều trong khi dạy dỗ. Đại Thừa Phật pháp cũng thường gọi ba loại lớn ấy là Tam Khổ, tức là ba loại khổ lớn: Thứ nhất là Khổ Khổ, thứ hai là Hoại Khổ, thứ ba là Hành Khổ. Trong các từ ngữ này, chữ thứ nhất là động từ, chữ thứ hai là danh từ. Như Khổ Khổ, chữ đầu là động từ, chữ sau là danh từ.

      Ǵ gọi là Khổ? Nói chung là “phiền năo bức bách thân tâm” (nay ta gọi là “áp lực”), thân chịu áp lực, tinh thần chịu áp lực. Thân thể có áp lực, chẳng tự tại, rất đau khổ, nỗi khổ ấy nói măi chẳng tận. Phật lại chia [Khổ Khổ] thành tám loại lớn. V́ thế, Khổ Khổ cũng gọi là Bát Khổ, tức là tám thứ Khổ Khổ. Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ gọi là Tam Khổ; đó là ba loại lớn. So Bát Khổ với Tam Khổ th́ Tam là ba loại lớn, c̣n Bát [là những sự khổ nói chi tiết hơn], thuộc về một loại trong ba loại [khổ lớn]. Bát Khổ thuộc về Khổ Khổ, tám cái khổ nào vậy? “Sanh khổ, tử khổ, bệnh khổ, lăo khổ” là bốn loại lớn; “Cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội ngộ khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ” (khổ v́ cầu chẳng được, khổ v́ yêu thương biệt ly, khổ v́ chán ghét mà cứ phải gặp gỡ, khổ v́ năm ấm lừng lẫy) là bốn loại lớn nữa, gộp thành tám loại, gọi là Bát Khổ. Khổ được định nghĩa như sau: “Phiền năo bức bách thân tâm”.

      Chúng ta thấy hết thảy chúng sanh đều chẳng thể tránh khỏi tám loại khổ lớn ấy như đức Thế Tôn đă nói. Đă ở trong lục đạo th́ phải chịu đựng hết. Đúng là người người b́nh đẳng. Đừng nói là đế vương, ngay cả thiên vương – thiên ở đây là Dục Giới. Sắc Giới thiên không có Khổ Khổ, nhưng có Hoại Khổ, có Hành Khổ – trong Dục Giới thiên, Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ thảy đều đầy đủ. Đúng là khổ chẳng thể nói nổi!

      Cái ải Sanh Khổ chúng ta đă trải qua, khổ đến mức nào nay đă quên hết rồi. Trong kinh đức Phật đă giảng, chúng ta phải chú tâm tư duy quán sát mới hiểu được đôi chút. Chúng tôi lấy con người làm thí dụ, tất cả hết thảy hữu t́nh chúng sanh chẳng ra ngoài lệ ấy. Quư vị sanh vào thế gian này là v́ có duyên với cha mẹ; không có duyên chẳng thể biến thành người cùng một nhà. Đức Phật nói những duyên nào? Duyên rất phức tạp! Đức Phật giảng kinh quả thật có phương tiện thiện xảo, Ngài đem những thứ duyên phức tạp đó quy nạp thành bốn loại lớn, rất dễ nói. Thứ nhất là báo ân, thứ hai là báo oán, thứ ba là đ̣i nợ, thứ tư là trả nợ. Người cùng một nhà chẳng ra ngoài bốn mối quan hệ này. Nếu chẳng có bốn mối quan hệ ấy, chẳng thể trở thành người một nhà!

Trong một đời quư vị, quư vị quen biết bất cứ ai, bất luận nhân vật nào cũng đều là bốn mối duyên ấy. Bốn mối duyên ấy sâu, cạn, dầy, mỏng khác nhau. Duyên sâu, duyên dầy sẽ biến thành người một nhà. Người duyên cạn, duyên mỏng hơn một chút biến thành thân thích, bằng hữu. Cạn hơn nữa, mỏng hơn nữa, sẽ biến thành những người quen thân. Thậm chí, ngay cả những người ta gặp trên đường, cười với họ, gật đầu chào nhau là duyên rất cạn. Phải có duyên! Không có duyên, họ chẳng chào quư vị. Thậm chí, người ta bất ngờ gặp ngoài đường, vốn chẳng quen biết, người ta thấy ḿnh ngứa mắt, trừng mắt một cái cũng là duyên, nhưng duyên ấy rất cạn, cũng có thể là những người ấy cả đời ta chỉ gặp một lần. Cổ nhân thường nói: “Hữu duyên thiên lư lai tương ngộ, vô duyên đối duyện bất tương phùng” (Hữu duyên ngàn dặm gặp nhau, vô duyên đối diện nh́n nhau chẳng màng).

      V́ thế, Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thường chỉ dạy chúng ta phải kết thiện duyên cùng người khác, phải kết pháp duyên, điều này rất có lư. Đă hiểu bốn mối quan hệ giữa người với người, nếu ai trong quá khứ chịu ơn ḿnh, họ sẽ đối xử hết sức tốt với ta. Lúc ta gặp gian nan, khốn khổ ǵ, kẻ ấy chẳng tiếc nuối mảy may, toàn tâm toàn lực giúp ḿnh, báo ân mà! C̣n báo oán th́ kẻ ấy thấy ḿnh hoàn toàn gai mắt, thường hay lăng nhục, hủy báng, dối trá, thậm chí làm thương tổn ḿnh, báo oán đấy! Kẻ đến lừa đảo tài vật, trộm cắp của cải của ḿnh đều là đ̣i nợ. Ai đến giúp quư vị kiếm tiền, giúp cuộc sống quư vị được giàu có, dư dật, là trả nợ vậy!

      Chú tâm quan sát, tùy thuận lời đức Phật răn dạy, ai báo ân th́ hy vọng đôi bên chúng ta ân đức càng sâu, chẳng những càng sâu thêm mà c̣n phải giác ngộ, chúng ta đền đáp bằng cách nào? Phải giúp cho kẻ ấy giác ngộ. Với kẻ báo oán, muốn hóa giải oán th́ phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo. Phương pháp không nhất định, cốt sao vận dụng hết sức thích đáng, oán ấy sẽ hóa giải; nhưng nguyên tắc, cương lănh quan trọng nhất để hóa giải oán kết là nhẫn nhục, nhường nhịn.

      Cổ nhân thường dạy chúng ta nghịch cảnh xảy đến phải thuận chịu, ta vĩnh viễn ǵn giữ tấm ḷng nhân từ, ḷng khoan dung, tha thứ, ḷng báo ân. Người ta đến lừa dối hay đến báo oán là có ân ǵ với ḿnh? Hóa giải oán kết là ân. Huống hồ chẳng cần biết những kẻ ấy có lư hay vô lư, họ đến lừa dối, hủy báng, khinh nhục ḿnh, không phải là quư vị chẳng có khả năng báo thù, quư vị có năng lực ấy, nhưng không báo thù, đó chính là đức hạnh, chính là giác ngộ. Trong tâm không oán hận, hiểu rơ ràng, minh bạch, sổ nợ của ḿnh với họ đến đây thanh toán xong. Vui mừng, cũng như tôi ghi sổ nợ trong quá khứ: Tôi lừa dối anh, trong đời này, anh cũng lừa dối tôi, có đi, có lại là huề, rất vui mừng, xóa nợ rồi!

      Ân ở chỗ nào? Thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật cho ḿnh, Nhẫn Nhục Ba La Mật được hiển thị vào lúc nào? Trong những lúc ấy, quư vị thấy có Nhẫn Nhục Ba La Mật hay chăng? Có Bát Nhă Ba La Mật hay chăng? Có Thiền Định Ba La Mật hay chăng? Có Tŕ Giới Ba La Mật hay chăng? Có Bố Thí Ba La Mật hay chăng? Nhẫn một điều là tu trọn sáu Ba La Mật. Người ta giúp ḿnh, thành tựu “lục độ đều tu” cho ḿnh, quả là việc tốt, chứ không phải việc xấu! Bởi vậy, quư vị phải hiểu đạo lư ấy, tự ḿnh thực sự thọ dụng, sao chẳng cảm ơn?

Nếu quư vị chẳng tiếp nhận sự răn dạy của thánh hiền, do thói quen, nhất định chúng ta sẽ làm sao? Ôm ḷng sân hận, nay ta chẳng có năng lực th́ trong tương lai sẽ báo thù, nếu ta có năng lực sẽ phản kháng ngay trong hiện tại. Nhất định là như vậy! Thế th́ oan oan tương báo đến bao giờ xong? Chẳng phải chỉ một đời này đâu! Một đời này lầm lỗi nhỏ nhặt, đời sau càng nghiêm trọng hơn, cứ mỗi một đời lại càng nghiêm trọng hơn; hai bên cùng đau khổ, lầm lạc quá! Bởi thế, phải có trí huệ cao độ, phải thực sự nhẫn nhục, hóa giải oán kết, đôi bên cùng có lợi. Chỉ có bậc thánh hiền mới dạy chúng ta như thế, c̣n những kẻ tầm thường chẳng thể. Vậy th́ bốn mối duyên ấy chúng ta phải hiểu biết rơ ràng. “Sanh” chính là đến thọ sanh. Sanh vẫn chưa giảng xong, bây giờ đă hết giờ rồi. A! Ngày mai chúng tôi giảng tiếp.

 

Tập 12

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần “Y báo diệu” (y báo mầu nhiệm), chúng ta đọc kinh văn tới câu này:

 

      Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc. Cố danh

Cực Lạc.

      其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。

      (Chúng sanh cơi ấy không có các nỗi khổ, chỉ hưởng các niềm vui, nên cơi ấy có tên là Cực Lạc).

 

      Tiết trước, chúng tôi đă giảng “vô chúng khổ”, đă nói đến Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ. Trong Khổ Khổ, giảng tám thứ khổ: sanh, lăo, bệnh, tử, cầu chẳng được, thương yêu chia ĺa, chán ghét phải gặp gỡ, năm Ấm lẫy lừng. Tám thứ phiền năo ấy bức bách thân tâm, nói theo kiểu bây giờ là “thân thể chịu áp lực rất lớn, tâm t́nh chịu áp lực rất lớn”. Ở phần trên, chúng tôi đă giảng đến Sanh, tức Sanh Khổ. Thật ra, chúng tôi nói Sanh Khổ vẫn chưa xong. Trước hết, nói đến việc thọ sanh hay đầu thai, đầu thai (sanh vào thai mẹ) th́ có bốn duyên: Báo Ân, Báo Oán, Trả Nợ, Đ̣i Nợ.

      Con người, thật ra là hết thảy động vật, xả thân thọ sanh trong lục đạo, nói chung chẳng ngoài bốn duyên. Chúng ta liễu giải chân tướng của sự thật ấy, nhất định phải nhớ cho thật kỹ: Nhất định đừng để thiếu nợ, nhất định chẳng nên kết oán. Hai việc ấy trọng yếu hơn bất cứ ǵ khác. Trong một đời này, chúng ta gặp được thánh nhân giáo huấn nên hiểu biết. Nếu trong một đời này, chúng ta chẳng gặp được thánh nhân giáo huấn sẽ chẳng hiểu, chẳng biết, chẳng thể liễu giải đạo lư ấy, chẳng liễu giải chân tướng sự thật; thử hỏi có kết oán cừu với chúng sanh hay chăng? Chắc chắn là có! Có thiếu nợ hay chăng? Chắc chắn là có! Thiếu nợ người những ǵ? Chiếm tiện nghi của người ta, đó là thiếu nợ. Thiếu nợ th́ phải trả nợ, kết oán phải bị báo đền, oan oan tương báo măi chẳng thôi. Sự t́nh ấy đáng sợ, đáng hoảng hốt hơn bất cứ chuyện ǵ khác.

      Con người chẳng biết chịu lép! Chịu lép là có phước, nói như vậy chẳng sai chút nào! V́ sao chịu lép là phước? Chịu lép th́ nghiệp chướng từ trước bèn tiêu, tu như thế nào? Tu hành: Hành () là hành vi, hành vi sai lầm; Tu () là sửa cho đúng, sửa đổi cho đúng những hành vi sai lầm th́ gọi là “tu hành”. Từ trước đến nay, chúng ta chẳng chịu thiệt; ư niệm ấy, hành vi ấy là sai lầm. Nói chung, khi chúng ta bị thiệt tḥi, bị lừa gạt, bèn oán hận, bèn mong báo thù. Hễ tâm niệm ấy khởi lên th́ chủng tử bèn gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp duyên, chủng tử ấy sẽ khởi hiện hành rất phiền phức, rất đáng sợ!

      Phải làm sao chân chánh giác ngộ, thực sự hiểu thấu suốt giống như Phật! Trong một đời này, nhất định chẳng kết oán cừu với người khác. Ḿnh bị thiệt tḥi chuyện chi, bị người khác lừa gạt điều ǵ, bị người khác hăm hại như thế nào, trong tâm cảm thấy như không chuyện ǵ xảy ra, nhất định chẳng để tâm, đó gọi là “tu hành”. Chẳng có tâm oán hận, chẳng có tâm báo thù. Sửa đổi như thế; đời sau lúc gặp lại sẽ thành bạn bè tốt. Giải được oán kết rồi, hóa giải rồi th́ đó chính là phước. Người bị thiệt tḥi trong tương lai nhất định có phước báo. Chẳng chịu thiệt tḥi, ôm hận trong ḷng, niệm niệm chẳng quên, sau này gặp lại nhau, báo thù, oan oan tương báo. Báo thù như vậy chẳng phải là đôi bên đều đau khổ  ư? Đó là họa, đâu phải phước! Đời đời kiếp kiếp, oan oan tương báo không xong, quư vị nói xem: Chẳng phải là rất khổ ư?

      Oan gia đối đầu phải là hai bên, nếu một bên đă giác ngộ sẽ bèn hóa giải. Chúng ta chẳng cần đợi người khác giác ngộ, tự ḿnh hăy giác ngộ; hễ tự ḿnh giác ngộ sẽ hóa giải. Cam ḷng chịu thiệt, cam ḷng bị lừa gạt, nhất tâm nhất ư tích cực nỗ lực tu học, học tập, nỗ lực niệm Phật, quyết định trong một đời này sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, trí huệ mở mang, đức năng, thần thông hiện tiền, thả chiếc bè Từ, lại trở vào chín pháp giới giúp đỡ chúng sanh hữu duyên trong quá khứ. Duyên ǵ vậy? Chính là những kẻ ân, oán, đền nợ, đ̣i nợ, họ có những duyên ấy cùng ta, chúng ta giúp đỡ họ, độ họ.

      Hăy nhớ kỹ “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”, chỉ cần có duyên là quư vị đều có thể dùng trí huệ, phương tiện thiện xảo giúp đỡ họ phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh. Phải hiểu đạo lư này, phải liễu giải chân tướng sự thật. Thành tựu người khác chính là thành tựu đức hạnh, trí huệ, thần thông, phước báo của chính ḿnh. Chướng ngại, ngăn trở người khác, dù hữu ư hay vô ư gây thương tổn người khác, ngạn ngữ gọi là “tổn người, lợi ḿnh”. Nhất định chớ nên tổn người lợi ḿnh! Nếu quư vị vị kỷ[6], một đời này thọ mạng rất ngắn, có thể hưởng nhiều lợi ích, thụ hưởng lâu dài ư? Nhưng tội báo trong tam đồ, trong địa ngục, chẳng biết phải chịu khổ như thế gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, cớ ǵ cứ phải làm những chuyện như thế?

      Trước kia, thầy Lư có kể cho chúng tôi một câu chuyện, thuộc loại chuyện ngụ ngôn, thầy kể đâu chừng mấy lần. Bởi vậy, chúng tôi có ấn tượng rất sâu. Thầy kể chuyện một gă thầy lang bất tài giết người. Chẳng phải là cố ư, nhưng y thuật không cao minh nên chẩn đoán sai lầm, dùng trật thuốc! Phàm ai để cho thầy lang chữa bệnh, bệnh nhẹ không sao, c̣n bệnh nặng mời gă đến, trị một cái là chết, làm chết chẳng ít người! Đến lúc chính gă chết, tiểu quỷ bắt đi, giải đến chỗ vua Diêm La. Gă ta đến trước điện Diêm La, thấy trong điện Diêm La có không ít người, đều là những người bị gă làm chết. Vua Diêm La phán đày gă thầy  lang  xuống

tầng địa ngục thứ mười tám, gă tâu cùng vua Diêm La:

- Oan uổng! Tôi đâu cố ư hại người! V́ tôi y thuật không cao minh, dùng sai thuốc, tôi chẳng cố ư giết hại họ!

- Chẳng phải cố ư, nhưng mạng người nhiều như thế, mi phải gánh chịu. Trước hết đọa địa ngục, từ địa ngục trở ra lại phải đền mạng. Hữu ư th́ hữu ư đền mạng, vô ư th́ vô ư đền mạng, vô ư là ngộ sát. Chẳng tránh khỏi nhân quả, cổ nhân nói đúng đấy, chẳng giả đâu; nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai, tống hắn xuống địa ngục tầng thứ mười tám!

Xuống đến địa ngục vẫn kêu oan, chẳng cam ḷng, chạy loạn lên trong địa ngục. Gây náo loạn như thế, chợt nghe phía dưới có người nói: “Lăo huynh! Ông đừng chạy lung tung như thế. Ông vừa cất bước, tro bụi đều rớt đầy xuống người tôi!” Ông ta nghĩ: “Ḿnh đă ở tầng địa ngục thứ mười tám, sao c̣n có tầng địa ngục thứ mười chín?” Bèn hỏi: “Lăo huynh làm ǵ vậy?”

- Tôi dạy học! Thầy thuốc dở làm chết người đọa tầng địa ngục thứ mười tám. Thầy dạy dở đọa tầng địa ngục thứ mười chín, tức là anh dạy học, dạy lầm con em người ta c̣n nặng tội hơn thầy thuốc dở làm chết người.

Nhưng quư vị phải biết: Một vị thầy giỏi có công đức cả pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian không ǵ sánh bằng được. Ở Trung Quốc, quư vị thấy có ai sánh bằng Khổng lăo phu tử hay chăng? Ngài có công đức ǵ? Dạy học! Ông thầy tốt chẳng dạy lầm con em người ta. Quư vị thấy Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy tốt, tuyệt đối chẳng dạy người lầm lạc, dạy suốt bốn mươi chín năm. Bởi thế, công đức dạy học của đức Phật là bậc nhất trong mọi pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Dạy học phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả, giống như thầy thuốc vậy. Dạy học vụng về phải đọa tầng địa ngục thứ mười chín! Đó là ngụ ngôn, chưa chắc là sự thật, nhưng quư vị phải hiểu, như chúng ta mới vừa đọc trong kinh, tôn giả Châu Lợi Bàn Đà Già đời xưa kia là Tam Tạng pháp sư: Tuy không dạy sai lầm, nhưng v́ tiếc pháp, dạy cho người ta, chỉ dạy một nửa, nửa sau không dạy. V́ sao? Sợ người trong tương lai hơn ḿnh, đấy là ǵ? Tâm ghen ghét, tiếc pháp! Đọa địa ngục, tội báo địa ngục măn rồi, được ra, tuy được làm thân người, nhưng ngu si! Tiếc pháp mắc quả báo ngu si như thế, chúng ta phải hiểu việc ấy.

Ở Trung Quốc, công án “dă hồ” (chồn hoang) trong Thiền Tông rất nhiều người biết. Con chồn hoang ấy trong năm trăm năm trước là một pháp sư giảng kinh, thuyết pháp, nói sai một câu, tức là nói câu chuyển ngữ sai một chữ. Nói sai một chữ thôi, bị quả báo đọa làm thân chồn hoang năm trăm năm, được Bách Trượng đại sư cứu vớt. Nếu chẳng gặp ngài Bách Trượng, vẫn phải thọ tội trong đường súc sanh; nghĩa là ǵ? Dạy học chẳng thể không cẩn thận.

Biết th́ nói biết, không biết nói không biết, chẳng được miễn cưỡng không biết nói biết, chẳng được thể diện hăo. Người ta đến hỏi ḿnh, ḿnh không biết cảm thấy quê quá, phải dùng đại điều ǵ đó để đáp cho xuông, làm vậy rất đáng sợ! Nếu quư vị dạy điều ǵ sai lầm, hăy nghĩ đến chuyện con chồn hoang trong nhà Thiền, hăy nghĩ đến Châu Lợi Bàn Đà Già, ḿnh sẽ gặp phải quả báo. Nếu nói người ta đến hỏi ḿnh, cái ǵ ḿnh cũng không biết th́ làm cách nào đây? Niệm A Di Đà Phật là xong. A Di Đà Phật là vô thượng pháp môn, quyết định chẳng hại người, quyết định chẳng dối người. Khuyên mọi người cầu sanh Tịnh Độ, thù thắng hơn bất cứ ǵ khác. Sao chúng ta không làm như vậy? Các đại đức, thiện tri thức xưa kia làm như vậy không ít; bất luận quư vị hỏi các Ngài điều ǵ, các Ngài đều niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Ngoại trừ một câu A Di Đà Phật ra, chẳng có câu thứ hai nào hết. Các Ngài tự ḿnh tu hành thành công, dạy hết thảy chúng sanh cũng thành công, đạo lư ấy hết sức sâu xa.

Chúng tôi giảng pháp nhiều năm, nói thật ra, cũng nêu lên vô lượng vô biên Phật pháp, nhưng đến cuối cùng đều quy vào một câu A Di Đà Phật. Quư vị nêu lên một câu A Di Đà Phật, đấy chính là vô thượng pháp bảo. Vạn pháp quy nhất, nhất là ǵ? Nhất chính là một câu danh hiệu, vạn đức hồng danh. Nhất quy về đâu? Quy về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, được oai thần và bổn nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ. Tu học trong hoàn cảnh ấy, một đời chứng đắc quả Phật rốt ráo viên măn chẳng thể nghĩ bàn! Đúng là như trong kinh nói: “Vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (không có các khổ, chỉ hưởng các vui) nên thế giới ấy tên là Cực Lạc, quyết định chẳng sai!

Bởi vậy, chúng ta phải hiểu rơ nhân duyên của việc đầu thai, giữa con người với nhau không tránh khỏi bốn duyên ấy. Sanh là khổ, phần trên đă giảng rồi, chúng tôi đă nói rồi, [quư vị] quên rồi! Trong kinh đức Phật giảng rất rơ ràng, quư vị đầu thai th́ đầu thai là mê hoặc; nếu quư vị hiểu rất rơ ràng, rất tỉnh táo, sẽ chẳng đầu thai nữa. Hữu t́nh đến đầu thai, đến thọ sanh trong lục đạo do nguyên nhân nào? Trong kinh Phật nói là v́ dâm dục. Hết thảy chúng sanh (chỉ lục đạo chúng sanh) đều lấy dâm dục làm tánh mạng chánh, đều đến đầu thai như thế. Nếu lúc đầu thai, quư vị mang thân nữ, tức là quư vị thích thân nữ bèn mang thân nữ; nếu thích thân nam, bèn mang thân nam. Bởi  vậy, chẳng  đoạn  t́nh  dục,

chẳng thể không đầu thai.

Do đó, chẳng đoạn t́nh dục, chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. V́ vậy, giới luật tại gia, đặt Sát làm đầu, chẳng sát sanh, chứ không phải tà dâm; c̣n trong giới luật xuất gia, chẳng dâm là điều đầu tiên. V́ sao? Xuất gia muốn liễu sanh tử, muốn thoát tam giới, chẳng đoạn dâm dục sẽ chẳng thể thoát tam giới được. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói rất tường tận: Dục là cội gốc của luân hồi lục đạo; chẳng nhổ tận rễ, làm sao ly khai lục đạo được? Bởi vậy, quư vị đầu thai, sau khi đầu thai, nằm trong bụng mẹ, đức Phật gọi mười tháng hoài thai ấy là “thai ngục”, trong bụng mẹ chịu nỗi khổ giống như trong địa ngục. Khi mẹ uống một chén nước lạnh, quư vị cảm thấy như đang ở trong địa ngục Hàn Băng. Mẹ ăn thứ ǵ nóng, cảm thấy như đang ở trong Đại Hỏa địa ngục, khổ chẳng thể nói nổi, “thai ngục” là như vậy! Bởi thế, mười tháng hoài thai, quên sạch sành sanh những kư ức thuộc đời trước, rất khổ! Chúng ta phải tin vào sự kiện này.

Trong quá khứ, tôi có một người bạn già, đứa con của ông ta độ chừng mười mấy tuổi, rất khờ khạo. Ông ta bảo tôi: “Đứa nhỏ này hồi bé hết sức thông minh, lên ba bốn tuổi mắc phải một trận bệnh nặng. Lành bệnh rồi, thông minh, kư ức đâu mất hết!” Một trận bệnh nặng trong thế gian c̣n có thể khiến kư ức bị mất, mất sạch thông minh, trí huệ. Thời gian mười tháng rất dài, ở trong thai, tất cả hết thảy kư ức đời trước đều quên sạch hết, đẻ ra không biết ǵ hết. Trong kinh Phật nói: Thai nhi nằm trong bụng mẹ cứ mỗi bảy ngày lại biến hóa, đức Phật giảng sự biến hóa cách mỗi bảy ngày rất tường tận, đó là “khổ chẳng thể nói nổi”. Bởi vậy, đứa nhỏ sanh ra, âm thanh thứ nhất là ǵ? Quư vị có chú ư chăng? Âm thanh thứ nhất là “khổ a!” Sanh ra là khổ, khổ suốt đời, đó là Sanh Khổ!

Có một số nhỏ trẻ sanh ra c̣n nhớ được chuyện đời trước là do nguyên nhân ǵ? Trong kinh, đức Phật gọi t́nh trạng đó là “đoạt thai”. Lúc mẹ nó hoài thai chẳng phải là hoài thai nó, mà là mang thần thức của người khác. Kẻ ấy đến đ̣i nợ, nhưng không thiếu nợ nhiều lắm. Người mẹ mang thai phải thọ tội, phải chịu tội hoài thai mười tháng, thân thể chẳng được thong dong. Vừa sanh ra liền chết, tức là thần thức ly khai liền, v́ sao? Hai bên chỉ có quan hệ đến đó mà thôi; nhưng kẻ khác có duyên đối với gia đ́nh đó, khi thần thức kẻ kia vừa ly khai, thần thức kẻ này bèn dựa ngay vào thân thể đó. Nói cách khác là thay đổi thần thức, trong nhà Phật gọi chuyện ấy là “đoạt thai”. Lúc hoài thai chẳng phải kẻ này, lúc sanh ra kẻ này mới đến. V́ thế, cái ǵ nó cũng hiểu rơ, chẳng quên một mảy sự t́nh đời trước; nhưng hiện thời biến thành một đứa trẻ nhỏ. Cũng có lúc đứa trẻ [mới sanh ra đă] nói được, mọi người chẳng chấp thuận, cho nó là quái vật. Bị quở như vậy chẳng dám nói nữa, nhưng hiểu rành rẽ, minh bạch. Đoạt thai chỉ là một số ít, nhưng không phải chẳng có. Người đoạt thai như vậy không có Sanh Khổ, không phải ở trong thai mười tháng, chẳng chịu nỗi khổ thai ngục; nhưng đó chỉ là thiểu số, hết sức là ít!

Hễ có sanh th́ nhất định có lăo, cho nên con người phải giác ngộ. Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện: Ngài có giác tánh rất cao, hết sức linh mẫn, linh hoạt mẫn tiệp. Tuy ḿnh chưa già, nhưng trông thấy người già, trông thấy nỗi khổ của người già cả, lập tức nghĩ trong tương lai ḿnh có bị già hay không? Già rồi có giống như người kia hay không? Cảm thấy rất hoảng sợ. Người sống trong thế gian sống nhờ vào ngũ cốc và các món lương thực, chẳng thể không sanh bệnh. Dẫu tự ḿnh chưa sanh bệnh, nhưng thấy người khác mắc bệnh khổ sở mọi bề như thế liền giác ngộ. Những tướng ấy (sanh, lăo, bệnh, tử) không một cá nhân nào có thể tránh khỏi được.

Sanh - lăo - bệnh - tử là tướng bày ra trước mắt ta mỗi ngày, vây bủa ta khắp bốn phía, thời thời khắc khắc cảnh cáo chúng ta, nhưng quư vị có nhận biết hay không? Trong Phật pháp nói người thiện căn sâu dầy rất dễ nhận biết. Nhận biết rồi, liền nghĩ cách giải quyết vấn đề như thế nào? Tất cả hết thảy phương pháp thế gian đều chẳng thể giải quyết được chuyện này! Thích Ca Mâu Ni Phật vứt bỏ ngôi vua, vứt bỏ sự hưởng thụ vinh hoa, phú quư, đi tu, đi xuất gia, để giải quyết vấn đề “tử sanh đại sự” ấy.

Chư vị đồng tu phải nghe cho kỹ! Tôi chẳng nói “sanh tử” mà nói là “tử sanh”. Sanh tử là từ sanh đến tử đă xong, tử sanh không có ư nghĩa như vậy. Chết rồi, cách mấy ngày lại sanh ở chỗ nào đó. Tử sanh vĩnh viễn tuần hoàn, vĩnh viễn chẳng gián đoạn. Đấy là luân hồi, chuyện này rất rắc rối. Nếu tử lẫn sanh đều chẳng có th́ tốt quá, không c̣n có chuyện ǵ nữa. Tử rồi lại sanh, sanh rồi lại tử, tử rồi lại sanh, phiền phức quá! Trong kinh, đức Phật nói lục đạo chúng sanh nhọc nhằn sanh tử, đều là chân tướng sự thật. Chúng ta có bao giờ nghĩ đến sanh - lăo - bệnh - tử hay chăng? Sanh Khổ có nhân là dục ái, phải trừ dục ái, phải đoạn cái nhân sanh tử. Đó là điều đức Phật dạy.

Suy lăo, ngạn ngữ cổ Trung Quốc nói rất hay: “Ưu năng sử nhân lăo” (Lo buồn lo khiến con người già cỗi). Một con người trong đời ưu lự quá nhiều, vướng mắc quá nhiều, buông không được, rất dễ dàng suy lăo. Ưu tư khiến con người già cỗi! Lại nói: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, những câu như vậy đều rất có lư. Nhiều chứng bệnh, đa phần là v́ tham ăn, tham uống, ăn bậy bạ. Gần đây nhất, có nhiều báo cáo cho thấy virus gây bệnh SARS do đâu mà có? Không ít người nói do từ động vật hoang dă. Ở phía Nam Trung Quốc, người ta thích ăn thịt động vật hoang dă (“dă vị”). Hiện tại, người ta truy t́m căn nguyên bệnh SARS, nghi ngờ bệnh này h́nh như truyền từ các món dă vị. Đấy đều là truy tầm trên sự tướng biểu hiện, thực sự đă chứng minh “họa tùng khẩu nhập”, tham ăn! Phật dạy chúng ta: Nguyên nhân chân chánh chẳng ngoài nhân quả nghiệp báo; nói như vậy mới là thực sự thấu triệt, mới giải thích minh bạch được.

Như trong kinh nói, lục đạo phàm phu trong tâm chẳng buông Kiến Tư phiền năo xuống được, liền phải thọ nghiệp báo. Thiện nghiệp th́ được thiện quả nơi ba đường lành; ác nghiệp th́ nhất định phải thọ báo nơi ba đường ác. Nhưng đối với hết thảy chúng sanh, ta chẳng t́m được người nào thuần thiện không ác, t́m không ra; cũng chẳng t́m được một ai thuần ác vô thiện. Hạnh nghiệp của hết thảy chúng sanh là thiện - ác lẫn lộn, mỗi một chúng sanh vừa có thiện vừa có ác, nhưng có nặng - nhẹ, nhiều - ít, lớn - nhỏ chẳng giống nhau. V́ thế, sau khi thọ sanh, quả báo chẳng giống nhau. Thiện nhiều, ác ít, trong đời này sẽ hưởng phước báo nhiều, tai nạn ít. Nếu ác nhiều, thiện ít, một đời này phải gặp lắm đổ vỡ; nhưng v́ có chút điều thiện, nên cũng có những thời gian ngắn rất b́nh tịnh. Nói chung, chẳng ngoài nhân quả báo ứng, quư vị phải thực sự hiểu được đạo lư này, liễu giải chân tướng sự thật này, mới ḥng bổ cứu trong một đời này, tức là có thể xoay chuyển quả báo và vận mạng.

Thiền sư Vân Cốc dạy Viên Liễu Phàm điều này. Tiên sinh Liễu Phàm là người đọc sách, có trí huệ, vừa nghe bèn hiểu rơ, lại chịu làm theo. Đổi lỗi, hướng lành hết sức tích cực, thực sự thay đổi quả báo, thay đổi rất nhanh, thay đổi rất hữu hiệu. Cuốn sách thứ nhất tôi đọc khi học Phật là Liễu Phàm Tứ Huấn do lăo cư sĩ Châu Kính Trụ tặng. Khi tôi có được cuốn sách nhỏ đó, xem từ đầu đến cuối hơn ba mươi lần, hết sức cảm động; v́ tôi lúc trẻ tuổi đă phạm những tật giống như tiên sinh Viên Liễu Phàm, nhưng bất luận trí huệ hay phước báo của tôi đều chẳng bằng tiên sinh Liễu Phàm, cuộc sống của tôi c̣n đáng thương hơn nữa, càng khổ hơn nữa! Có một phương pháp thay đổi vận mạng như thế th́ tốt quá, như gặp được vật quư báu nhất, tiếp nhận lời thầy răn dạy, tiếp thọ thiện tri thức chỉ dạy.

Tôi quen biết lăo cư sĩ Châu Kính Trụ, h́nh như cụ đă sáu mươi tám tuổi, tôi mới hai mươi sáu. Lăo cư sĩ hết sức yêu thương, che chở bọn người trẻ tuổi chúng tôi, nhất là thấy ai đọc thiện thư liền nẩy ḷng ưa thích, có thể y giáo phụng hành th́ cụ bèn đặc biệt yêu mến người ấy. Đúng là xem như con của chính ḿnh vậy. Cụ dạy chúng tôi phải biết nhân quả báo ứng, dạy chúng tôi phải biết sửa lỗi làm lành, “chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Chúng tôi tiếp thọ sự giáo huấn từ bi, thiện ư của cụ, được thật nhiều lợi ích, có dịp chuyển được sanh - lăo - bệnh - tử của cả một đời ḿnh. Đúng là giảm chậm sự lăo hóa, chẳng phải là không già, nhưng là giảm chậm, giống như kéo dài thời gian vậy. Điều này về sau học Phật, mới dần dần hiểu ra đạo lư, đó chính là như cổ nhân nói “ưu lự khiến con người già cỗi”. Đối với hết thảy sự trong thế gian tôi xem nhẹ hơn, chẳng c̣n bận ḷng nữa.

Từ nhỏ hiếu học, thích đọc sách, lúc tuổi trẻ sống rất khổ, thâu nhập ít ỏi. V́ thế, những người tuổi trẻ thường t́m đến những nơi ăn chơi, chúng tôi tuyệt đối chẳng dám la cà, gần gũi. Nguyên nhân ǵ? Chẳng có tiền bạc. Bởi thế, tuổi trẻ sanh trong nhà giàu có chưa phải là chuyện tốt. Người gia cảnh bần cùng chẳng dám đến những nơi ăn chơi, suy nghĩ cuộc sống tương lai của ḿnh sẽ ra sao? Nếu chẳng phát phẫn, chẳng nỗ lực, chẳng gắng học hành giỏi giang, sau này sẽ ra sao? Bởi thế chúng tôi có quan niệm khác với những người tuổi trẻ. Khi họ rảnh rỗi, thường đến những nơi ăn chơi vui thú, tôi gần gũi những vị thầy nổi tiếng. Tôi đi đến đâu? Đến thư viện, tiệm sách, đấy là những nơi tôi la cà.

Không có tiền mua sách th́ đến tiệm đọc sách. Ở tiệm sách có lúc giở sách ra, đọc cả một hai tiếng. Xem xong, đặt trả sách lên giá, đi qua tiệm khác xem sách. Người thời đó rất tử tế, tôi thường ghé tiệm sách, chủ tiệm quen mặt, có lúc c̣n giới thiệu sách hay cho chúng tôi xem. Chúng tôi muốn mua, không có tiền, không sao cả! Cứ lấy trước, khi nào có tiền trả sau. Chủ tiệm tin tôi, hễ lúc nào tôi có tiền sẽ mau mắn đem đến trả, có tín nhiệm. Hầu như mấy tiệm sách ở Đài Bắc, tôi đến mua sách đều có thể ghi nợ, có tín nhiệm mà! V́ tâm địa thanh tịnh, chẳng bị ngũ dục lục trần ô nhiễm, con người chẳng dễ bị suy lăo. Sống cuộc đời đơn giản, chẳng ăn quà vặt (không có tiền ăn!), sống quy củ, ít đổ bệnh.

Sau khi học Phật, phải hai ba chục năm mới hiểu ra, hết thảy chúng sanh vốn đều chẳng sanh chẳng diệt. Chẳng riêng ǵ chư Phật, Bồ Tát, mà tất cả hết thảy chúng sanh đều chẳng sanh chẳng diệt. Chết giống như thay một bộ y phục. Tôi thường nói là thân thể này đă già rồi, đă dùng không ít năm, dùng cũ mèm rồi, chẳng tái sử dụng được nữa, phải thay đổi, càng thay càng tốt, càng đổi càng thù thắng. Đó chẳng phải là chết, chỉ thay đổi thân thể mà thôi, giống như quần áo mặc  cũ, mặc  rách

rồi, không cần đến nữa, bỏ đi, đổi lấy bộ mới.

Trong sanh - lăo - bệnh - tử, phải hiểu rơ, thấu hiểu lư sự th́ chính ḿnh mới làm chủ được! Nếu chẳng hiểu rơ lư, chẳng minh bạch sự tướng th́ đối với bốn sự việc này, ta rất sợ sệt, ta suy nghĩ không thích đáng, xử sự chẳng thích đáng, càng rắc rối to! A! Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

*

 

Chư vị đồng học!

Chúng ta coi tiếp:

 

Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.

      其國眾生。無有眾苦。但受諸樂。故名極樂。

(Chúng sanh cơi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên tên là Cực Lạc).

 

Trong Khổ Khổ, chúng tôi giới thiệu đơn giản Sanh - Lăo - Bệnh - Tử, thứ năm là Cầu Bất Đắc. Hết thảy chúng sanh có ai không có dục vọng? Cá nhân nào chẳng mong cầu? Dục vọng, mong cầu, hết thảy chúng sanh đều có; nhưng dục vọng, mong cầu chẳng có giới hạn, mong cầu phần nhiều đều thất vọng, chân tướng sự thật ấy rất khổ. Dục vọng nhiều, khổ càng nhiều; mong mỏi nhiều, thất vọng càng nhiều! Người chân chánh tu đạo đối với sanh hoạt vật chất lẫn sanh hoạt tinh thần đều tùy duyên, thế nào cũng xong, chẳng mong cầu nên ít khổ. Trong tâm ít vọng niệm, ít mong cầu, chỉ cần duy tŕ được cuộc sống đă hết sức thỏa măn. Người như vậy luôn luôn mạnh khỏe, sống lâu, thế mà rất ít người hiểu được!

Xưa kia, lúc Trung Quốc mới mở cửa, rất nhiều người đến thăm viếng du lịch, nhận thấy nội địa Trung Quốc bần cùng lạc hậu, nói như bây giờ là điều kiện vệ sinh, điều kiện vệ sinh ǵ cũng không có, thế mà dân cư sống rất lâu khỏe mạnh. Tám chín mươi tuổi vẫn là trẻ, người một trăm hai mươi, một trăm ba mươi tuổi không ít, do nguyên nhân nào? Tôi nghe nói người ngoại quốc đến đó khảo sát, t́m chẳng ra nguyên nhân. Nguyên nhân thực sự rất đơn giản, trong kinh Phật thường nói là tâm thanh tịnh, ít ham muốn, ít mong cầu. Đấy là nguyên nhân khỏe mạnh sống lâu. Biết đủ, thường vui, chẳng có những sự phiền muộn trong tâm, chẳng có điều ǵ phải lo lắng, mỗi ngày được no bụng đă rất đẹp dạ rồi! Bởi thế, ngạn ngữ thường nói: “Ưu lự khiến cho con người già cỗi”. Những quốc gia đă phát triển, cuộc sống người dân hết sức giàu có, nhưng thường ưu lự, chẳng tri túc, ngày đêm truy cầu hưởng thụ, theo đuổi việc nâng cao phẩm chất cuộc sống, sao không bị lăo hóa? Rất dễ dàng suy lăo, đạo lư là đây.

Thế gian cũng có hiền thánh, vấn đề là chưa thấy ai gặp được, chưa thấy ai gặp được thánh nhân mà có thể tiếp nhận giáo huấn, chuyện này tùy thuộc phước báo của mọi người. Thánh hiền thế gian, xuất thế gian chỉ dạy chúng ta, ta có thể cầu được, chẳng phải là không cầu được. Trong Phật pháp càng nói hay hơn: “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa Phật, có cầu ắt ứng). Chẳng có ǵ không cầu được, nhưng quư vị phải hiểu đạo lư và phương pháp để cầu! Nếu mong cầu đúng lư, đúng pháp, không ǵ chẳng đạt được. Những ǵ thiền sư Vân Cốc truyền cho tiên sinh Liễu Phàm chính là đạo lư này. Tiên sinh Liễu Phàm nghiêm túc làm theo, quả nhiên có ứng nghiệm, cầu công danh được công danh, cầu con cái được con cái, chứ trong mạng ông ta không có.

Số mạng ông ta không có công danh, thời cổ gọi “công danh”, nay gọi là “học vị”, Trung Quốc vào thời cổ chẳng gọi là học vị, mà gọi là công danh. Công danh c̣n chia thành ba đẳng cấp: Thấp nhất là Tú Tài, nói thật ra, Tú Tài chẳng thể tính là công danh. Cao hơn Tú Tài một bậc là Cử Nhân, Cử Nhân có thể tính là công danh. Cao nhất là Tiến Sĩ. Trên thực tế, Tiến Sĩ có thể sánh với học vị Bác Sĩ[7] hiện tại. Học vị tối cao là Tiến Sĩ, thấp hơn là Cử Nhân, tương đương với Thạc Sĩ [hiện tại], Tú Tài tương đương Học Sĩ, hiện thời. Đó là ba đẳng cấp của người có học ở Trung Quốc vào thời cổ.

Liễu Phàm tiên sinh chỉ đậu Tú Tài, trong mạng không có Cử Nhân, Tiến Sĩ đương nhiên khỏi bàn tới. Quư vị thấy trong mạng ông ta không có công danh, ông ta cầu công danh, quả thật ông ta đậu Cử Nhân, đỗ Tiến Sĩ. Trong mạng không có con cái, kết quả ông ta cũng có con cái. Đúng là “trong nhà Phật, hữu cầu tất ứng”. Mạng ông ta chỉ thọ năm mươi ba tuổi, gần như kéo dài tuổi thọ hai mươi năm nữa, sống đến năm bảy mươi bốn tuổi, đúng là hữu cầu tất ứng!

Thánh nhân chẳng lừa dối người, phàm muốn cầu phải  hiểu   luận,

hiểu phương pháp. Lư luận là nhân quả, gieo nhân thế nào, được quả báo thế ấy. Nay trong thế gian này, mong mỏi, dục vọng đă biến thành chuyện lớn nhất trong tư tưởng con người hiện tại, cả đời người theo đuổi phương hướng ấy, hướng theo mục tiêu ấy liều mạng truy cầu. Chẳng hiểu lư luận, chẳng biết phương pháp, cứ cậy vào phiền năo tập khí, tri kiến thế tục để phán đoán, cho nên cạnh tranh! Tranh có được hay chăng? Tranh không được! Tranh không được bèn dùng thủ đoạn phi pháp, tổn người, lợi ḿnh, xâm phạm người khác, xâm đoạt người khác nhằm thỏa măn dục vọng của chính ḿnh. Có lúc tợ hồ có hiệu quả, thực sự đoạt được của cải người ta, nào biết ḿnh đoạt được rồi, hưởng thụ trong một thời gian ngắn, vẫn là v́ trong mạng ḿnh có. Nếu mạng ḿnh không có, dẫu tranh cũng chẳng được, có đoạt cũng chẳng được. Ví dù đoạt được, chính ḿnh chẳng thể hưởng dụng được, trong mạng không có mà! Đấy mới là cái nhân chân chánh, trong mạng đă có, cớ ǵ phải tranh?

Thoạt đầu, Liễu Phàm tiên sinh được Khổng tiên sinh đoán mạng, đoán mạng ông ta có của cải, mỗi năm có bao nhiêu thâu nhập nhất định. Mỗi năm ông ta thử thí nghiệm, chẳng sai chút nào, chẳng sai chạy chút mảy may nào so với lời đoán của Khổng tiên sinh. Bởi thế, ông ta tin tưởng con người có vận mạng chẳng thể miễn cưỡng. V́ thế, ư niệm cạnh tranh, tranh thủ đều buông xuống hết, cũng chẳng cầu, cũng chẳng tranh. V́ sao? Cầu không được, tranh chẳng được, trong mạng không có mà! Những vọng niệm ấy thảy đều không có, tâm định, nên mới cùng thiền sư Vân Cốc ngồi trong thiền đường ba ngày ba đêm không có một vọng niệm nào. Thiền sư Vân Cốc cảm thấy rất hy hữu, ba ngày ba đêm chẳng khởi vọng niệm, chẳng phải người tầm thường làm được như vậy, rất bội phục: “Công phu tu hành của ông khá quá!”

Tiên sinh Liễu Phàm nói:

- Chẳng phải là tôi không có vọng niệm, nhưng khởi vọng niệm cũng vô ích, chẳng làm được ǵ, nên tôi mặc kệ, không nghĩ tới nữa.

Thiền sư Vân Cốc hỏi:

- Tại sao?

- Mạng tôi đă được Khổng tiên sinh đoán định rồi. Những ǵ tôi gặp gỡ, thành tựu trong một đời này, tôi đều đă biết rơ cả rồi, đều hiểu hết rồi, khởi vọng tưởng ích ǵ cơ chứ?

Thiền sư Vân Cốc nghe xong bèn cười ha hả:

- Tôi vốn tưởng ông có công phu tu hành, nào ngờ là như vậy, phàm phu, phàm phu!

Bèn khai thị cho ông ta:

- Không sai! Phàm phu đúng là có vận mạng, ai cũng chẳng thoát khỏi vận mạng, v́ sao? Chỉ cần ông có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ông bèn có vận mạng. Ai không có vận mạng? Người đoạn sạch vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thánh nhân đă vượt khỏi vận mạng.

Nói cách khác, nếu anh có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chắc chắn anh là lục đạo chúng sanh, anh đương nhiên bị câu thúc bởi mạng số trong lục đạo, động đậy chẳng được, “nhất ẩm, nhất trác, mạc phi tiền định” (một hớp uống, một miếng ăn không ǵ chẳng phải là tiền định). Nếu anh không hiểu đạo lư này, cứ muốn cùng người tranh đoạt, làm bậy làm bạ th́ sao? Tổn hại phước báo nơi mạng. Chẳng hạn như (chúng tôi nêu thí dụ để giảng), trong mạng anh giàu có đến một triệu, trong mạng anh có như vậy, giàu có một ức, nhưng anh khởi tâm động niệm, toàn làm chuyện bất thiện, toàn làm chuyện ác, ác niệm, ác hạnh. Kết quả là một ức của cải trong mạng anh bị hao tổn, chỉ c̣n năm ngàn vạn. Anh kiếm được năm ngàn vạn tự cảm thấy rất phi thường, nhưng phải dùng phiền năo làm như thế này như thế nọ, bị giảm bớt rồi. Nếu tạo thành ác nghiệp rất nặng, đoạt được tài sản bằng cách thương thiên hại lư, đại khái càng bị hao tổn lớn hơn nữa. Rất có khả năng một ức tiền tài của anh biến thành một ngàn vạn. Cổ nhân Trung Quốc bảo “tổn phước, tổn thọ”. Đấy là chẳng hiểu đạo lư, chẳng biết phương pháp chính xác, làm sai!

Trong mạng chẳng có của cải, người ấy phải biết tích đức, tu thiện, dùng thiện tâm, thiện hạnh đăi người, tiếp vật, có thể bỏ ḿnh v́ người. Của cải là Tài Bố Thí, dẫu tự ḿnh chẳng có tiền của, ta vẫn có một bát cơm ăn, người ta không có ǵ ăn, ḿnh xẻ nửa bát cho. Đó đều là cái nhân của giàu có. Trong mạng đă có của cải, càng chứa, càng nhiều, của cải hiện tiền, phước báo hiện tiền, trí huệ hiện tiền. Trong mạng của tiên sinh Liễu Phàm có một chút của cải, chẳng nhiều, rất ít! Thiền sư Vân Cốc dạy ông ta như vậy, ông ta hiểu rơ, hoảng nhiên đại ngộ. Mạng do đâu mà có? Do đời trước tạo, mạng do chính ḿnh tạo, tự ḿnh tạo th́ tự ḿnh thay đổi. Bởi thế, hiểu được đạo lư, hiểu phương pháp, vấn đề bèn được giải quyết.

Trong kinh luận, đức Phật thường dạy chúng ta rất nhiều, bố thí được giàu to. Những người giàu có trong thế gian này, của cải do đâu mà có? Do đời trước tu Tài Bố Thí; bởi vậy, trong mạng có kho tàng dư dật đến thế, bất luận làm việc ǵ, của cải cuồn cuộn kéo tới. Tài Bố Thí càng thí càng nhiều, nhất định chẳng được keo lẫn. Làm nhiều việc tốt, chẳng sợ bị gạt, chẳng sợ người khác dối ḿnh. Hiện tại, rất nhiều người làm việc tốt, người xấu trong thế gian này rất nhiều, ta làm việc tốt đều bị họ lừa gạt. Chẳng sao, cứ lừa đi, trong tương lai họ sẽ phải trả nợ. Nhân quả thông ba đời, ḿnh bị người ta gạt th́ sao? Của cải ḿnh lưu lại kiếp sau, trong đời sau, bọn chúng đền trả cho ḿnh. Quư vị hoàn toàn chẳng bận tâm; quyết định chẳng để chuyện đó gây chướng ngại rồi chẳng dám làm việc tốt.

Ví như cứu tai ách, cứu tai nạn, chúng ta biết quả thật phải qua tay rất nhiều người lo liệu, có rất nhiều người nói phát tài nhờ tai nạn, đó là chuyện của họ, ai có nhân quả nấy. Có người nói: “Như vậy khác ǵ tôi giúp kẻ ấy tạo tội nghiệp đâu?” Nếu quư vị có tâm giúp kẻ ấy tạo tội nghiệp th́ quư vị mắc tội báo. Ta không có tâm đó, nhưng người ta ôm ḷng bất thiện, trộm tiền tài để cứu tế tai nạn, nhân quả kẻ đó phải gánh! Chúng ta phát thiện tâm, là cứu tế tai nạn. Thiện tâm, thiện hạnh ấy của quư vị không bị hao tổn một chút nào, đó là chánh lư. Nếu v́ có vài kẻ thừa cơ nuốt mất tiền bạc ấy, người mắc tai nạn chẳng được hưởng, hoặc được hưởng rất ít, mà quư vị không làm th́ chính ḿnh chẳng có phước báo, đă đánh mất cơ duyên tu phước báo. Như vậy là không có trí huệ, là làm việc theo cảm t́nh. Người chân chánh tích đức tu phước không có tâm niệm ấy, đối với ai cũng tin tưởng, đúng như cổ nhân nói: “Nghi nhân bất dụng, dụng nhân bất nghi” (Ngờ người chẳng dùng, dùng người chẳng ngờ). Tôi tin tưởng anh, chính anh làm sai th́ anh phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả!

Toàn bộ vấn đề là giáo dục, nhưng hiện tại giáo dục băng hoại, chúng ta chỉ có thể cảnh tỉnh, khuyên người tu phước. Quư vị phụ trách vấn đề cứu tế tai ương, tất cả tiền tài nằm trong tay quư vị, nếu đối với tiền tài ấy quư vị chẳng chút tư tâm, đem đi cứu tai nạn, quư vị sẽ có phước báo rất lớn, phước sau này vô cùng! Quư vị nuốt mất tiền tài cứu tế tai nạn, hậu quả chẳng thể tưởng tượng được! Kẻ ấy chẳng hiểu đạo lư đó, ngu si, chúng ta chỉ có thể cảnh tỉnh kẻ đó. Cảnh tỉnh nhưng hắn vẫn cứ làm, tương lai hắn đọa lạc ta chẳng lạ ǵ hết, hắn vẫn phải cảm tạ: “Đáng tiếc khi ấy, tôi không nghe lời ông, hiện thời phải chịu khổ nạn lớn lao như thế!”

Giáo dục phải bắt đầu từ lúc nhỏ, đă trưởng thành rồi th́ tập khí đă dưỡng thành thói quen, quan niệm sai lầm đă ăn sâu, chẳng dễ ǵ cải biến. Nhưng phải nhớ kỹ: “Trong cửa Phật, chẳng bỏ một ai”, phải có ḷng nhẫn nại, phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo, thành tựu chính ḿnh, thành tựu chúng sanh. Đừng sợ! Phải tin tưởng Phật, Phật dạy chúng ta càng thí sẽ càng nhiều. Thí tài được của cải, quư vị liên tục đem của cải bố thí cho hết thảy chúng sanh khổ nạn, vĩnh viễn chẳng ngơi nghỉ. Cuộc sống của chính ḿnh tàm tạm là được rồi, chớ mong cầu hưởng thụ quá phận, kẻo tạo oan nghiệt! Người thế gian khổ rất nhiều.

Bố thí Pháp tăng trưởng thông minh, trí huệ. Vô úy bố thí, thường hay nói ăn chay là bố thí vô úy, chẳng sát sanh! Tích cực hơn nữa th́ phóng sanh, bố thí thuốc men, giúp kẻ quan quả cô độc[8], chúng sanh tàn tật đau khổ. Quư vị toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, sẽ được quả báo ǵ? Mạnh khỏe, sống lâu, vô úy bố thí sẽ được sống lâu mạnh khỏe. Quư vị phải làm! Không làm là không đúng. Bởi thế, phước báo, trí huệ, khỏe mạnh sống lâu là do chính ḿnh tu được, cầu được, chẳng phải là không cầu được. Thánh nhân hiểu đạo lư, hiểu nhân quả, muốn có quả tốt th́ phải tu nhân tốt. Nếu quư vị tạo nhân sai trái, gieo đủ mọi nhân bất thiện, hậu quả sẽ rất khổ, khổ chẳng thể nói nổi! Bởi vậy, chúng tôi thấy chữ “Cầu Bất Đắc”, đúng là người thế gian cầu chẳng được, nhưng chúng ta có cầu ắt ứng.

Thứ sáu là Ái Biệt Ly (yêu thương phải chia ĺa). Phạm vi sự khổ này rộng lớn phi thường. Quư vị chẳng thường được kề cận người ḿnh yêu mến, đó là Ái Biệt Ly. Những thứ vật chất quư vị yêu thích dẫu có thừa, nhưng không hưởng thụ được; điều ḿnh ưa thích, thường hay có biến hóa. Phàm những ǵ quư vị yêu, ưa thích, nhưng chẳng dễ ǵ đạt được, chẳng dễ ǵ hưởng thụ được th́ đều thuộc về loại này. Nhất là sanh ly tử biệt, lúc sống rất ít khi được đoàn tụ, thậm chí những người ḿnh rất yêu thích, tuổi trẻ mất sớm để lại người già buồn tủi, khổ lắm!

Oán Tắng Hội là oan gia đối đầu, chẳng thích gặp, chẳng thích gặp th́ sao? Ngày ngày chạm mặt nhau. Khi xưa, lúc tôi mới giảng kinh, giảng đến tám nỗi khổ, tôi nêu lên thí dụ: Khi c̣n đi học, đa phần là nêu những thí dụ trong thời gian đi học, có rất nhiều bè bạn tốt, rất ưa thích ngày ngày ở cùng một chỗ, rồi sao? Đến khi chia lớp, học trong những lớp khác nhau. Oan gia đối đầu, người ḿnh chán ghét nhất cứ ở gần ḿnh suốt, thầy xếp hai đứa ghét nhau vào cùng một bàn, quư vị nói có bực hay không? Tôi nghĩ mỗi cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm đó, đúng là Oán Tắng Hội. Người ḿnh chán ghét cứ gặp mặt hoài, người ḿnh ưa thích mong gặp không gặp được. Trong nỗi khổ này có người, có sự, có vật, cảnh giới rộng lớn không ngằn mé.

Đức Phật dạy chúng ta tất cả đều là duyên, thiện duyên hay ác duyên,

chẳng ngoài bốn mối duyên quan hệ như phần trên đă nói: Báo oán, báo ân, đ̣i nợ, trả nợ. Làm sao ĺa được nỗi khổ này? Phải giác ngộ, khổ đều do mê sanh khởi. Mê chấp, t́nh chấp, những thứ khổ ấy. Giác ngộ rồi trí huệ nắm quyền, trí huệ làm chủ. Bởi thế, đối với Ái nhất định chẳng tham luyến, đối với Oán tuyệt đối chẳng sân hận, hai thứ khổ đó được hóa giải. Trong Ái chẳng thể không có t́nh chấp. Cái Ái của lục đạo phàm phu chẳng rời khỏi t́nh chấp, bởi thế mới khổ. Ḷng thương yêu to lớn của chư Phật, Bồ Tát là đại từ đại bi, tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng giác. Tâm ấy chẳng có t́nh chấp, bởi thế không khổ, chẳng thuộc vào loại này.

Chúng ta phải hiểu đạo lư này, chúng ta phải chuyển biến, hóa t́nh chấp thành trí huệ. Bởi vậy ḷng ái của Phật, Bồ Tát là chân thành, là thanh tịnh, là b́nh đẳng, là trí huệ. Phật pháp sợ mọi người hiểu lầm chữ Ái này, nên gọi bằng danh từ khác là Từ Bi, hoặc chỉ nói độc một chữ là Từ. Ḷng Từ ấy là Ái. Trong ḷng Từ Ái ấy chẳng có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước, chỉ có chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, trí huệ. Ái t́nh của lũ phàm phu chúng ta chẳng b́nh đẳng, trong ḷng ái đó chẳng chân thành, v́ sao không chân thành? Ḷng ái ấy biến thành luyến, thậm chí luyến như thế nào, luyến đến mức độ nào chính ḿnh cũng chẳng biết, không tin tưởng được.

V́ thế, qua lại cùng lục đạo phàm phu, quư vị phải có trí huệ cao độ, giác ngộ cao độ. V́ sao? Lục đạo phàm phu như đứa trẻ lên ba, quư vị phải nh́n họ bằng tâm thái ấy, tánh t́nh họ chẳng ổn định. Vừa mới nói tôi rất thích anh, rất mến anh, chập sau lại chán ghét anh lắm. Chẳng nghiêm túc ǵ cả! Nếu quư vị nghiêm túc sẽ khổ đấy. Quư vị biết sao không? Họ hỷ nộ vô thường, biến hóa quá chừng, biến hóa không lường được. Họ sử dụng vọng tâm, bị chuyển theo cảnh giới, bị bên ngoài khích động, tâm t́nh sanh ra biến hóa. V́ vậy, chẳng ổn định! Không như chư Phật, Bồ Tát, tâm chư Phật, Bồ Tát định, chẳng bị cảnh giới bên ngoài quấy nhiễu; do vậy, ḷng ái của các Ngài vĩnh hằng, từ bi vĩnh hằng.

“Từ bi là gốc, phương tiện là cửa”, thế nào là phương tiện? Rất nhiều người không hiểu. Phương () là phương pháp, tức là ta dùng phương pháp nào để biểu lộ; người hiện thời gọi là “biến thành hiện thực”. Quư vị có phương pháp [làm như vậy]. Tiện (便) nghĩa là ǵ? Tiện là tiện nghi. Nói cách khác, đó là phương pháp thích đáng nhất. Phương pháp rất nhiều, phương pháp nào đối phương thích nhất, dễ dàng tiếp nhận nhất, đó là tiện nghi. Ḿnh có phương pháp, nhưng người ta không tiếp nhận, chẳng hoan hỷ, th́ phương pháp ấy không thuận tiện. Bởi vậy, phương tiện là cửa, ḷng từ bi, trí huệ, đức năng của quư vị nếu không có phương tiện th́ hoàn toàn chẳng thể bày tỏ được. Từ bi là như trong các buổi giảng tôi thường nói, trong Đại Thừa Phật pháp, từ bi nhất định phải bao gồm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác. Từ bi? Phương tiện! Quư vị khiến cho người ta thực sự sanh tâm vui thích, khiến người ta vui vẻ tiếp nhận, y giáo phụng hành.

Do đây biết rằng, đức Thế Tôn v́ chúng ta thị hiện, dạy dỗ chúng ta, nguyên tắc tối cao của phương tiện là v́ người khác diễn thuyết; đặc biệt chú trọng đến diễn. Diễn là biểu diễn, quư vị phải thể hiện ra. Nói cách khác, trước hết phải thực hiện ngay trên thân ḿnh, áp dụng ngay trong cuộc sống của chính ḿnh, thực hiện ngay trong cách ḿnh xử sự, đăi người, tiếp vật. Quư vị chẳng thực hiện được, há phải là phương tiện ư? Độ người trước hết phải độ ḿnh, cứu người trước hết phải cứu ḿnh; nói chung, chính ḿnh phải niệm niệm đều là gương tốt cho xă hội đại chúng, phải có ư niệm đó. Hễ có ư niệm ấy sẽ tự nhiên có hành vi ấy; không có ư niệm ấy, chẳng thể khởi lên hành vi. Đấy là Phật tâm, đấy là chân tâm. Trong vọng tâm chẳng có! Vọng tâm là tự lợi, khởi tâm động niệm chỉ nghĩ đến lợi ích của chính ḿnh!

Phật tâm, chân tâm nghĩ lợi ích hết thảy chúng sanh trong pháp giới hư không giới. Nếu khởi tâm động niệm được như vậy, sẽ chẳng khác ǵ Phật, Bồ Tát. “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Thực hiện tám chữ này ra sao? Là khởi tâm động niệm đều nghĩ đến lợi ích hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới, ḿnh phải giúp đỡ họ như thế nào. Quư vị có được ư niệm ấy, phước báo của quư vị sẽ chẳng thể nghĩ bàn. Lại c̣n có những hành vi như thế th́ phước báo của quư vị sẽ hiện tiền rất nhanh chóng. Tâm yêu thương trọn khắp pháp giới, thiện xảo phương tiện đầy ắp Sa Bà. Nỗi khổ Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội tự nhiên hóa giải. Tâm lượng càng nhỏ càng khổ, người tự tư tự lợi đáng thương nhất. Người tự tư tự lợi khổ nhất, hiện tại đă khổ, tương lai càng khổ hơn. V́ sao nói tương lai càng khổ? Hiện tại tự tư tự lợi, việc làm đều là tổn người, lợi ḿnh, tổn người th́ chẳng tránh khỏi quả báo! Đừng nói tổn người lợi ḿnh không sao! Sau này ắt có quả báo. Anh hại người càng sâu, tương lai người ta báo đền chẳng chỉ có thế thôi đâu mà c̣n gấp bội, có phiền phức hay không vậy?

Bởi thế, có nên ở thế gian này hay chăng? Nói thật ra, chẳng thể ở được. V́ sao chẳng thể ở được? V́ chắc chắn chẳng thể bảo đảm tương lai gặp được Phật pháp, chẳng thể bảo đảm đời sau giác ngộ. Đời sau chẳng gặp được Phật pháp, lại hồ đồ tùy thuận phiền năo, chẳng hiểu lại tạo nghiệp nhiều đến đâu nữa! Lại làm bao nhiêu chuyện lầm lỗi! Chúng ta phải hiểu rơ, phải minh bạch lẽ này: Tiền đồ càng ngày càng tệ! Một đời sau chẳng bằng được đời trước, đi lên rất khó khăn, đọa lạc đi xuống rất dễ dàng!

Trong thế gian hiện tại này, các đồng học học Phật chúng ta nếu thực sự giác ngộ một chút sẽ bèn hiểu rơ: Trong thế giới này, làm quan lớn, đại phát tài, cuộc sống tợ hồ rất khiến cho người khác hâm mộ, chết đi quá nửa đọa trong tam đồ. Rất nhiều đồng học đều hiểu đọa tam đồ là khổ! Quư vị thấy người trong thế gian hưởng thụ phước báo nhân gian, hưởng được mấy năm? Nếu quư vị chú tâm quan sát, có thể nói là họ chẳng hưởng được ngày nào cả! Sống trong địa vị cao như thế, dẫu có tài sản nhiều như thế, tâm chẳng được tự tại! Bận tâm, lo lắng quá nhiều, lo được, lo mất, một mặt phải nghĩ cách làm sao để giữ ǵn, làm sao kiếm nhiều hơn một chút, thời thời khắc khắc nhọc ḷng, chẳng có một ngày có thể buông xuống hết thảy để sống được một ngày thanh nhàn, chẳng bao giờ có! Vui ở chỗ nào?

Địa vị cao nhất là làm người lănh đạo một quốc gia, bị kẻ dưới lừa dối, chẳng báo tŕnh chân tướng sự thật, bị che giấu! Chuyện như vậy từ cổ đến nay thường có; có được bao nhiêu vị minh quân chẳng bị dối gạt đâu? Văn vơ đại thần đều lừa dối vua: “Thiên hạ thái b́nh, rất tốt!” Nhân dân phải chịu khổ nạn to lớn đến mấy cũng không cách nào tâu lên được. Bản thân vua chẳng biết một điều ǵ, tự nghĩ cả đời ḿnh là một vị thái b́nh thiên tử. Đâu đâu cũng tạo tội nghiệp như thế, chết đi đều có báo ứng.

Lúc tôi c̣n trẻ, Chương Gia đại sư dạy tôi tŕ giới, Ngài dạy tôi đừng dính đến chánh trị. Một quan niệm lầm, một chánh sách lầm, bao nhiêu người mắc hại! Anh phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả, có dám chắc cả đời anh không làm sai điều ǵ hay không? Cả một đời chẳng hại ai hay không? Có rất nhiều trường hợp vô ư tổn hại người, hữu ư càng không được, tội càng nặng hơn, đấy đâu phải là chuyện dễ dàng. V́ vậy, đại sư chỉ cho tôi một con đường ra: “Đă muốn phát tâm giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn, phục vụ hết thảy chúng sanh khổ nạn, ngài bảo tôi xuất gia tốt nhất! Hoằng pháp lợi sanh, theo đuổi việc giảng kinh thuyết pháp, làm công tác dạy dỗ, vậy là tốt! Tôi thích đọc sách, đấy cũng là điều anh ham thích”. Ngài chỉ dạy tôi như vậy, tôi đi theo con đường đó. Con đường ấy do Chương Gia đại sư thay tôi chọn lựa, tôi tin tưởng Ngài. V́ sao? Ngài hết sức thương yêu tôi. Ngài thương yêu tôi, tôi cũng

tôn kính Ngài, y giáo phụng hành. Ngài chỉ cho tôi con đường chẳng lầm.

Vậy th́ hết thảy khổ nạn trong nhân gian chẳng dễ dàng ĺa thoát. Nói cách khác, không có cách nào thoát được. Muốn thoát khỏi, phải ra khỏi lục đạo. Muốn thoát ly, trừ Phật pháp ra, không c̣n ǵ hết. Bao nhiêu tôn giáo trong thế gian, cảnh giới tối cao của họ là thiên đạo, Dục Giới thiên, Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, chẳng có cách nào vượt thoát lục đạo, nên Thích Ca Mâu Ni Phật mới xuất thế. Thích Ca Mâu Ni Phật nói lời chân thật, lăo nhân gia thân tâm thanh tịnh: “Nhiều thêm một việc chẳng bằng ít đi một việc, ít đi một việc chẳng bằng vô sự”. Nếu có kẻ có thể giúp cho chúng sanh trong thế giới Sa Bà thoát ly luân hồi lục đạo, chắc chắn Ngài chẳng giáng sanh. Ngài đến đây làm chi? Chẳng có ǵ để làm cả! Thực sự nghĩ [chúng sanh muốn] siêu việt lục đạo luân hồi mà chẳng có biện pháp nào cả, quư vị nói xem Phật có cần phải vào thế gian này chăng? Ngài không vào không được; Ngài chẳng vào thế giới này là chẳng từ bi. Trong lục đạo, quả thật có không ít người giác ngộ, mong cầu vượt khỏi lục đạo luân hồi, đó là Cảm, Phật phải Ứng. Chúng sanh hữu Cảm, Phật bèn Ứng, bèn đến nơi đây. Phật giúp chúng ta siêu việt luân hồi, siêu việt mười pháp giới. V́ vậy, Phật đến trong thế gian này.

Đấy là Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội, chúng ta phải nhận biết rơ ràng, Ái chẳng được tham luyến, Oán nhất định phải hiểu cách hóa giải. Nay đă hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 4 hết



[1] “Huyễn đăng phiến” (reversal film) tức là những tấm slide trong suốt, hoặc microfilm, có in những văn bản hay h́nh ảnh đen trắng hay có màu, ta thường dùng trong máy slide projector để chiếu lên một tấm màn cho thính chúng thấy để tŕnh bày một vấn đề. Chúng tôi không biết tiếng Việt gọi chính xác là ǵ nên đành để nguyên tiếng Hán. Trong nước, thường dùng từ ngữ “phim đèn chiếu” để gọi những tấm phim này; nhưng loại máy chiếu được nói ở đây (slide projector) có thể tự động đổi qua trang khác khi ta bấm nút, không cần phải đặt từng trang lên như trong loại máy “phim đèn chiếu” thường dùng trong nước.

[2] Nhân Minh (Hetuvidyā) là một trong Ngũ Minh (Pañcavidyâ, tức năm chủng loại kiến thức cần thiết mà Bồ Tát cần phải hiểu biết. Ngũ Minh là Thanh Minh, Công Xảo Minh, Y Phương Minh, Nhân Minh và Nội Minh). Nhân Minh là môn nghiên cứu lư luận trong Phật giáo nhằm biện luận khuất phục ngoại đạo, xiển dương chánh giáo và khơi gợi tín tâm cho người nghe bằng lư luận chặt chẽ. Lư luận căn bản của Nhân Minh là mỗi vấn đề, luận thuyết đều gồm ba phần Tông. Nhân, Dụ. Tông là chủ đề lập luận, Nhân là nguyên nhân, Dụ là thí dụ để giải thích v́ sao có nguyên nhân. Đây là cách lư luận căn bản. Do chú trọng đến Nhân nên gọi là Nhân Minh. Vị luận sư nổi tiếng của Nhân Minh là Trần Na (Mahādinnāga) với tác phẩm Nhân Minh Chánh Lư Môn Luận được coi là người đă hệ thống và tập thành môn Nhân Minh. Pháp sư Huyền Trang rất ưa thích Nhân Minh và đă phiên dịch nhiều tác phẩm thuộc Nhân Minh.

[3] Đây là “phổ thông Phật thất” nhằm phân biệt với “tinh tấn Phật thất”. Phổ thông Phật thất niệm Phật chỉ có sáu thời, c̣n tinh tấn Phật thất là niệm Phật suốt 24 tiếng đồng hồ.

[4] Chín đại hành tinh là Thủy Tinh (Mercury), Kim Tinh (Venus), Địa Cầu, Hỏa Tinh (Mars), Mộc Tinh (Jupiter), Thổ Tinh (Saturn), Thiên Vương Tinh (Uranus) và Hải Vương Tinh (Neptune).

[5] Quán chỉ (觀止): Hiểu theo mặt văn tự, “quán chỉ” là đáng khen ngợi hết lời, tuyệt diệu tột bậc. “Quán chỉ” thường được dùng như một mỹ từ để khen ngợi những tác phẩm văn chương hay. Thuật ngữ “quán chỉ” xuất phát từ một câu nói của Quư Trát trong Tả Truyện: Công tử Quư Trát của nước Ngô đi sứ sang nước Lỗ, nghe nhạc Thiều xong, nức nở ca ngợi: “Quán chỉ tai! Nhược hữu tha nhạc, ngô bất cảm thính dĩ”. Câu này được chú giải là: “Nhạc Thiều đă đạt đến mức cao tột nhất trong các thứ âm nhạc, đă được thưởng thức xong ta không c̣n muốn nghe loại nhạc nào khác nữa!”

[6] Vị kỷ (selfish), chỉ biết nghĩ đến ḿnh, không hề biết quan tâm, nghĩ đến lợi ích của người khác.

[7] Bác Sĩ ở đây chính là học vị Tiến Sĩ (PhD). Người Hoa không gọi bác sĩ y khoa là “bác sĩ” như người Việt mà gọi là y sinh. Người Hoa gọi ba bậc học vị hiện thời như sau: Học Sĩ (Cử Nhân, Bachelor), Thạc Sĩ (Cao Học, Master) và Bác Sĩ (Tiến Sĩ, PhD).

[8] Quan: góa vợ, quả: góa chồng, cô: không cha mẹ, độc: không con cái.