Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư

phần 6

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

Chư vị đồng học!

Chúng tôi giảng tiếp đoạn nhỏ thứ tư Ngũ Căn và đoạn nhỏ thứ năm Ngũ Lực trong phần “thuyết pháp trang nghiêm”. Ngũ Căn và Ngũ Lực có thể cùng gộp lại để giảng, đó là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ.

Căn () có nghĩa là giống như thực vật có rễ. Rễ có thể sanh và tŕ. Tŕ () là “bảo tŕ” (ǵn giữ), Sanh () là có thể sanh trưởng, chữ Căn có nghĩa như vậy. Căn gồm có năm thứ nên gọi là Ngũ Căn, tức Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Huệ Căn. Nói đến đây, chúng ta phải nhớ kỹ: Trong phần đầu [của bảy khoa Đạo Phẩm] là ba khoa, có tổng cộng mười hai phương pháp tu học, tức là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc. Mười hai khoa mục này hết sức quan trọng, thông cả thế pháp lẫn xuất thế pháp.

Tứ Niệm Xứ dạy chúng ta thấy thấu suốt, nhận thức, hiểu rơ chân tướng nhân sinh và vũ trụ, chẳng mê hoặc; bởi thế, chúng thuộc về trí huệ. Chúng tôi nói Tứ Chánh Cần là học tập tích công lũy đức; đoạn ác tu thiện phải căn cứ trên những chuẩn tắc này. Ba mươi bảy Đạo Phẩm là ba mươi bảy công khóa siêu việt thời gian lẫn không gian, cũng như siêu việt hết thảy pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Chúng là nguyên tắc, nguyên lư, giống như công thức trong Toán Học; ứng dụng triển khai của chúng đúng là vô lượng vô biên, không một pháp nào chẳng dựa theo nguyên lư, nguyên tắc này để đạt đến thành tựu viên măn cả.

Hôm nay, chúng tôi giảng đến Ngũ Căn và Ngũ Lực, kinh Di Đà chỉ nói bắt đầu từ những pháp này. V́ sao vậy? Giảng về đại pháp xuất thế gian. Phần trên là những pháp chung cho cả thế gian lẫn xuất thế gian; nay phải giảng đại pháp xuất thế gian. Chúng ta cầu điều ǵ? Cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật quả viên măn rốt ráo. Căn là ǵ ta phải hiểu rơ! Căn là tự tánh của đương nhân, đương nhân là chính ḿnh, chính bản thân ḿnh, là tự tánh của chính ḿnh; chân tâm, bổn tánh chính là Căn. Trong Phật pháp thường nói hết thảy chúng sanh vốn sẵn là Phật, vốn sẵn là Phật chính là Căn. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát nói: “Bản Giác vốn có”, Bản Giác là Căn. “Vốn sẵn thành Phật”“Bản Giác vốn có”, hai câu này cùng một ư nghĩa, cùng nói về một sự. Kẻ học Nho nói: “Nhân chi sơ tánh bản thiện” (Con người lúc đầu vốn là lành), “bản thiện” chính là Căn.

Trong Hệ Niệm Pháp Sự, Trung Phong đại sư nói: “Ngă tâm tức thị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức thị ngă tâm” (Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta), “tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm” (tâm chính là Phật, Phật chính là tâm). Tâm và Phật là một, chẳng phải hai. Đó chính là Căn! Tất cả hết thảy thiện pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều sanh từ Căn này. Người thế gian chẳng tin trong thế giới này có người tốt, chúng ta nghe rất nhiều người nói: “Tánh con người đều là thiện”, hay “tánh con người đều là ác”, “người như vậy không có căn!” Chẳng phải không có căn, kẻ ấy chỉ không tin chính ḿnh có Căn, chẳng tin tưởng hết thảy chúng sanh đều có Căn, nên phiền toái rất lớn. Tất cả hết thảy ác niệm, ác pháp, ác nghiệp đều sanh từ đó, nó là gốc của hết thảy tội ác, hết thảy tai nạn. Kẻ ấy chẳng tin tưởng tánh con người vốn lành, chẳng tin hết thảy chúng sanh vốn sẵn thành Phật, chẳng tin “tâm tức thị Phật, Phật tức thị tâm” (tâm chính là Phật, Phật chính là tâm). Chuyện này rắc rối lắm đây!

Kẻ ấy chẳng tin tưởng, ta cũng chẳng thể trách móc hắn được! Nho và Phật giảng rất rơ ràng, rất minh bạch; v́ sao kẻ ấy chẳng tin. Tam Tự Kinh nói: “Cẩu bất giáo, tánh năi thiên” (Nếu không dạy, tánh bèn đổi), “tánh tương cận, tập tương viễn” (tánh vốn gần [điều thiện], nhưng do hoàn cảnh, huân tập mà tánh bèn xa dần [điều lành]). Luận trên phương diện “tánh người vốn lành” th́ tất cả hết thảy chúng sanh đều có bổn tánh là lành, đều giống hệt như nhau, v́ sao trở thành khác biệt? Biến thành khác biệt là v́ tập tánh, chứ chẳng phải là bổn tánh. Nhưng v́ các chúng sanh ngỡ tập tánh là bổn tánh, hiểu sai lầm. Sự sai lầm ấy đúng là sai chỉ hào ly, lầm đến ngàn dặm. Chẳng dễ dàng đâu! “Cẩu bất giáo, tánh năi thiên” (nếu không dạy, tánh bèn thay đổi [theo chiều hướng xấu]). Nếu chúng ta gặp được thầy tốt dạy dỗ, chúng ta sẽ hiểu rơ, sẽ giác ngộ. Chúng ta khẳng định tự tánh của chính ḿnh vốn lành, tâm ḿnh đích xác là Phật, khẳng định chính ḿnh có chân tâm.

Tâm của chính ḿnh đích xác là chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi, chẳng c̣n chút nào nghi ngờ; nay v́ sao Tánh Đức ấy chẳng có? Do v́ đối với người, đối với sự, đối với vật đều hư ngụy, nhiễm ô, bất b́nh đẳng, ngu si, tự tư, tự lợi. V́ đâu mà đến nỗi như thế? Do tập tánh, do không có người dạy, chẳng được thầy tốt dạy dỗ. Ngày nay xă hội bất hảo, xă hội là một cái chum lớn dơ bẩn, trong kinh Phật gọi là “ngũ trược ác thế”, Trược () tức là nhơ bẩn. “Kiếp trược”: Thời đại này bất hảo, là đời loạn. Nói “kiếp trược” th́ mọi người không hiểu lắm, nói “đời loạn” mọi người hiểu dễ dàng. “Phiền năo trược”: Chúng sanh đông đảo ai mà chẳng có phiền năo? Ai nấy đều phiền năo hết sức nghiêm trọng. “Kiến trược” là nói đến phiền năo nơi tư tưởng và kiến giải. Tư tưởng hỗn loạn, kiến giải ngoắt ngoéo; đó là Kiếp Trược, đấy là gốc của Ngũ Trược. Nếu đối với vũ trụ và nhân sinh, đối với hết thảy người, sự, vật, quư vị nh́n lầm lạc th́ đó là Kiến Trược. Suy nghĩ sai lầm là Phiền Năo Trược. Một thứ đă trược th́ hết thảy đều trược, phiền năo cũng xảy ra liền.

Như vậy, chúng ta hiện đang sống trong thời đại nào? V́ sao lại có thứ thời đại như vậy? Thời đại này không có bậc thánh hiền răn dạy, nên thành ra như thế. Mọi người chẳng tin tưởng lời giáo huấn của thánh hiền. Sách vở của thánh nhân hết sức quư báu, nhưng quư vị đâu có tin! Dẫu sách vở c̣n đó, quư vị chẳng buồn giở ra xem. Quư vị cứ cho những thứ đó là đồ cũ rích, chẳng hợp thời nữa, nên không có cách chi t́m được căn bản, không cách nào thấu hiểu. Đấy là sai lầm, chẳng phải là thái độ của người học vấn, tâm không chút cởi mở nào!

Người thực sự có học vấn th́ nếu người ta nói điều ǵ hay, ta phải chú tâm t́m hiểu; ai nói thứ khác bất hảo, ta cũng phải chú tâm quan sát. Ai cũng nói [điều ǵ đó là] tốt th́ ta phải biết nó tốt tại chỗ nào! Ai cũng chê không tốt, ta phải biết nó xấu tại chỗ nào. Đều phải nghiêm túc nghiên cứu, có như vậy mới trở thành học vấn chân chánh. Những lời trên đây do tiên sinh Phương Đông Mỹ dạy cho tôi để làm cơ bản cho thái độ học vấn, quyết chẳng đến nỗi thấy người ta bảo tốt bèn mù quáng hùa theo, người ta chê xấu ḿnh bèn cự tuyệt. Nếu vậy là lầm lạc mất rồi. Nhất định phải đích thân ḿnh tiếp xúc, nghiên cứu. Rất nhiều khi ḿnh nghiên cứu mới phát hiện những thứ người khác chê dở lại thực sự là hay, có những điều thực sự là tốt! Người ta nói tốt, ḿnh nghiên cứu kỹ, thấy cả trăm điều tệ hại, chưa chắc đă thực sự tốt. Người ta nói sao ḿnh nghe vậy, sẽ thường hay bị mắc lừa, bị người ta che mắt.

Người học vấn chân chánh vĩnh viễn khiêm hư, cung kính, th́ mới có thể thành tựu đạo đức, học vấn thực sự được. Đạo lư này nói thật ra chẳng khó hiểu chi, chúng tôi cho rằng: Trong thời cổ, dường như tất cả những ai đọc sách đều biết đến đạo lư này; nhưng hiện nay, trong thế kỷ này, người ta lại không biết. Những người trẻ tuổi, chúng tôi nói “những người trẻ tuổi” th́ đại khái là những ai vào độ tuổi năm, sáu chục, cả đời chưa từng nghe đến chuyện này, có đáng buồn bă chăng? Lũ chúng tôi đă gần tám mươi, chỉ là thiểu số cỏn con, đúng là ít ỏi, sau này không c̣n ai nói đến nữa. Nếu tôi không nói ra, quư vị làm sao biết được? Sẽ chẳng nghe được những thanh âm này. V́ thế, thiện tâm, thiện ư phải phát sanh từ sự nhận biết chính xác, khẳng định hết thảy chúng sanh tánh vốn lành, khẳng định hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, khẳng định hết thảy vô t́nh có pháp tánh, pháp tánh và Phật tánh chỉ là một tánh.

Nếu quư vị thâm nhập Đại Thừa, quư vị khẳng định tất cả hết thảy vạn pháp “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” th́ đó là Căn, là căn cội của vũ trụ vạn hữu! Chúng ta tin cái căn này tương đồng, căn là b́nh đẳng, căn chẳng có hai. Tôi và anh, tôi cùng người khác, mọi người chúng ta chẳng giống nhau, đều thực sự là ḍng dơi thổ dân Úc châu bị biến chất. V́ sao biến? Mê rồi! Mê mất căn bản. Mê mất căn bản sẽ trở thành chủng loại bị biến đổi, chủng loại bị biến đổi đáng thương thay! Suy nghĩ bậy bạ, làm bậy, làm càn, chuốc lấy rất nhiều tai nạn, tự gây, tự chịu. Người nào nhận biết Căn, hiểu rơ Căn, đối với hết thảy chẳng quên căn bản, cuộc đời người ấy rất mỹ măn, rất hạnh phúc, hoàn cảnh sống của người ấy là Nhất Chân pháp giới, là thế giới Cực Lạc. Hễ có Căn bèn có Lực. Đại học vấn thế gian hay xuất thế gian đều đặt nền tảng trên đây.

Quư vị thấy thế giới ngày nay tranh chấp tưng bừng, người mắt sáng, Phật, Bồ Tát, đại thiện tri thức trông thấy đều cảm thán! Thật đúng như kinh Vô Lượng Thọ nói: “Tiên nhân vô tri”: Người đời trước coi thường, “bất thức đạo đức, vô hữu ngữ giả” (không biết đạo đức, không có ai nói): Bọn họ chẳng nói với chúng ta, chẳng dạy chúng ta, “thù vô quái dă” (c̣n trách móc ǵ được nữa). Ngày nay, chúng ta tạo tác những tội lỗi ǵ, chịu những khổ nạn quả báo ǵ, bậc thánh hiền chẳng trách móc ta. V́ sao? V́ những kẻ này chưa từng được dạy dỗ! Sự lầm lạc của họ phải truy từ sự coi thường của người đời trước; đời trước đó của đời trước cũng coi thường. Chúng tôi truy cứu tối thiểu phải là hai trăm năm trước; từ hai trăm năm trước [con người] đă coi thường sự răn dạy của thánh hiền. Lúc đó cũng có dạy, nhưng chẳng tích cực, dạy trẻ con, dạy người trẻ tuổi chẳng nghiêm khắc, chẳng nghiêm ngặt như thời cổ. Tam Tự Kinh có câu: “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (Dạy chẳng nghiêm v́ thầy lười), cha mẹ, sư trưởng chưa tận hết trách nhiệm!

Quư vị phải hiểu rơ đạo lư này, hiểu rơ chân tướng sự thật này th́ quư vị mới biết căn nguyên lầm lỗi nằm đâu! Căn nguyên ở nơi cha mẹ, sư trưởng; v́ thế, làm cha mẹ chẳng đơn giản! “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá; giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (Nuôi không dạy là lỗi cha, dạy không nghiêm do thầy lười). Đời sau không đi theo chánh đạo, đi theo đường tà, cha mẹ, sư trưởng phải chịu trách nhiệm nhân quả. Trách nhiệm nhân quả ấy lớn lắm. Từ chỗ này chúng ta mới có thể nhận hiểu sâu xa, công đức bậc nhất, đại thiện bậc nhất trong thế gian và xuất thế gian là ǵ? Dạy học, đem chánh pháp truyền trao cho chúng sanh. Ở Trung Quốc thấy rơ nhất: Khổng lăo phu tử dạy học năm năm, năm năm chuyên tâm, tận hết trách nhiệm, nghiêm khắc dạy dỗ học tṛ, [nên Khổng Tử] trở thành vị Vạn Thế Sư Biểu (bậc thầy gương mẫu của muôn đời).

V́ sao? Có rất nhiều người suốt đời theo đuổi công tác giáo dục, nhưng mười mấy năm vẫn âm thầm không có tiếng tăm. V́ sao Khổng lăo phu tử chỉ dạy học năm năm lại có thành tựu như vậy? Do tận tâm tận lực dạy, thực sự hy vọng đời sau có nhân tài. Học sinh thực sự giác ngộ, thực sự tu dưỡng đạo đức, đoạn ác tu thiện, v́ nhân dân, v́ quốc gia, v́ chúng sanh tạo phước, đó là thành tựu của thầy! Thầy (dùng cách nói của nhà Phật là “phổ độ chúng sanh”) phổ độ chúng sanh, khiến cho học sinh thực sự thực hiện được những điều đó. Nếu chẳng thể tận tụy dạy dỗ, học sinh chẳng thể thành tựu, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” trở thành chuyện hư dối.

Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện: Vứt bỏ tất cả hết thảy danh văn, lợi dưỡng thế gian, địa vị, quyền lực đều vứt bỏ, theo đuổi công tác giáo dục xă hội, v́ sao? Thị hiện cho chúng ta thấy sự việc này là đại sự nghiệp bậc nhất trong thế gian lẫn xuất thế gian. Không có trí huệ chân thật sẽ không thể làm được, chẳng bằng ḷng làm! Trí huệ chân thật chính là sự nghiệp chân thật! Xưa nay trong nước, ngoài nước, biết bao là đế vương trải bao đời, có mấy ai biết đến? Nhưng người thực sự theo đuổi giáo học trên thế gian th́ không ai là chẳng biết, không ai chẳng kỷ niệm! Mỗi một vị sáng lập tôn giáo đều là những nhà giáo dục xă hội đa nguyên văn hóa vĩ đại nhất, ngàn năm vạn đời, bao nhiêu người tôn kính, sùng bái, lại c̣n học theo. Bởi thế, Căn hết sức trọng yếu. Quư vị phải nhận biết ǵ là Căn, ǵ là Thiện Căn, ǵ là Ác Căn? Tùy thuận Tánh Đức là thiện căn, trái nghịch Tánh Đức là ác căn.

Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ ai mà không có, nhưng vấn đề ở chỗ Tín của quư vị là ǵ? Theo các chú giải của cổ đức, Tín có Chánh Đạo và Trợ Đạo. Thế nào là Chánh Đạo, thế nào là Trợ Đạo, phải hiểu thật rơ, thật thấu suốt, không thể hàm hồ! Chánh Đạo: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác viên măn rốt ráo mỗi chúng sanh đều có, vốn sẵn có, nay quư vị mê mất. Thế nào là Trợ Đạo? Thích Ca Mâu Ni Phật giảng cho chúng ta tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, đấy là Trợ Đạo.

Ở đây, chúng ta phải chú tâm kiểm điểm, quan sát pháp môn nào thích hợp với ḿnh th́ ta chọn lấy pháp môn ấy, thâm nhập một môn th́ pháp môn ấy biến thành Chánh Đạo để ta tu học. Quư vị phải hiểu Chánh Đạo và Trợ Đạo này. Trong Chánh Đạo lại có Chánh Đạo và Trợ Đạo; trong Trợ Đạo cũng có Chánh Đạo và Trợ Đạo! Nay chúng ta chọn lựa pháp môn Tịnh Độ, kinh điển y cứ (căn cứ để lập luận, tu học) của pháp môn Tịnh tông là “năm kinh một luận”, đó là Chánh Đạo của chúng ta. Các kinh luận khác do các vị tổ sư đă chọn lựa cho chúng ta, khuyên chúng ta phải xem, phải tu học để bổ trợ pháp môn Niệm Phật, đó là Trợ Đạo. Chúng ta phải tin tưởng điều này.

Tin Chánh Đạo và Trợ Đạo th́ phải có Căn, Căn chẳng thể biến. Lúc tin, lúc ngờ, lúc tin, lúc không tin, tức là niềm tin của quư vị không có Căn. Ḷng tin có Căn, tức là ḷng tin của quư vị đối với Tịnh Độ tông có Căn th́ trong ao bảy báu bên Tây Phương Cực Lạc thế giới mọc lên một đóa sen, trên hoa có tên quư vị. Ḷng tin phải có Căn, nhất định chẳng được ngờ vực. Hiện tại, nguyên bản và bản hội tập của kinh Vô Lượng Thọ tổng cộng có chín bản, chớ có hủy báng, chớ có ư kiến, quư vị thích bản nào th́ chọn dùng bản đó. Giống như ăn uống, khẩu vị mỗi người khác biệt: chua, ngọt, đắng, cay, mặn; tôi thích ăn ngọt, chẳng thể ép mọi người đều ăn ngọt hết. Nếu không như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật cần ǵ phải giảng nhiều kinh điển đến thế? Cần ǵ phải nói nhiều pháp môn như vậy? Một môn không đủ hay sao? Quư vị thấy đức Phật rất từ bi, rất tùy thuận nhân t́nh, quư vị thích điều ǵ, đức Phật dạy điều đó, chẳng miễn cưỡng mảy may! Đó là chỗ vĩ đại của đức Phật, đức Phật đại đức đại trí, khiến cho hết thảy chúng sanh tôn kính, ngưỡng mộ.

Chúng ta mở xem chín bản ấy; trước kia, chúng tôi in chín bản ấy thành một bộ, tức là với một bản Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bản quư vị đọc được toàn bộ [chín bản dịch và hội tập của kinh Vô Lượng]. Trong chín bản ấy, quư vị thích bản nào th́ dùng bản đó, không có bản nào chẳng tốt cả! Bởi lẽ, chúng đều giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới, giống như sách thuyết minh hay sách giới thiệu, đều dạy cho quư vị phương pháp Tŕ Danh Niệm Phật. Kinh dạy chẳng sai một chút nào, “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”. Cả chín bản đều nói như vậy. Người niệm Phật tu điều ǵ? Quư vị phải biết nhé: Tu nhất tâm bất loạn, tu tâm chẳng điên đảo! Nếu đối với hết thảy các pháp, quư vị có nghi hoặc, làm sao tâm quư vị định được? Làm sao có thể thành tựu nhất tâm? Làm sao bất loạn được? Bất loạn là trí huệ, nhất tâm là Thiền Định. [Tu nhất tâm bất loạn] là tu Định - Huệ. Quư vị có quá nhiều ư kiến, chấp trước rất nặng là tự ḿnh chướng ngại ḿnh, không ai chướng ngại quư vị cả!

Chính ḿnh tuyển chọn th́ có một tiêu chuẩn rất đơn giản: Thứ nhất, lư luận, phương pháp, cảnh giới không sai lầm. Đối với kinh điển Đại Thừa chúng ta có thể so sánh không sai lạc: Kinh văn nào rơ ràng, không quá sâu, dễ đọc tụng, dễ hiểu, thích hợp với tŕnh độ người hiện thời th́ bản đó là bản kinh hay. Nay đem chín bản đó bày trước mặt, quư vị đọc mỗi bản một lượt, bản nào đọc hay nhất? Bản này đọc hay nhất. Bản của cụ Hạ khá lắm, là bản dễ đọc nhất trong chín bản, chẳng có câu nào khó khăn, trúc trắc, vậy cụ hội tập có sai lầm hay không? Đem năm bản dịch gốc đối chiếu tỉ mỉ th́ tín tâm bèn trọn đủ.

Xin thưa cùng các đồng học: Tôi không bằng mọi người, tôi chẳng bằng ai, mọi người tâm tư rất tế nhị, tôi không được tế nhị như vậy; nhưng tôi có ưu điểm là tin tưởng thầy. Thầy đem bản này giao cho tôi, tôi hoàn toàn chẳng đối chiếu với năm bản dịch gốc, tôi chẳng làm chuyện đó; cho đến tận bây giờ cũng không làm chuyện ấy. Tôi tin tưởng thầy, thầy chẳng hại tôi. Thầy học suốt đời, trí huệ, đức hạnh, giáo huấn của thầy rất đáng để tôi tôn kính, tôi chẳng hoài nghi thầy chút nào. V́ thế, thầy dạy ǵ, tôi bèn tiếp nhận, tôi bèn y giáo phụng hành. Ai ở trước mặt tôi nói ba điều bốn chuyện, tôi không tiếp nhận, cũng không phản đối, v́ sao?

Tôi tuân thủ lời đức Phật răn dạy, tôi tuân thủ lời tổ sư răn dạy. Đức Phật dạy chúng ta: Đối với những tri kiến bất đồng, kiến giải bất đồng – trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư cũng dạy chúng ta như thế – nên làm như thế nào? Dùng tâm tư thái độ ǵ? Chắp tay hoan hỷ! Tôi chẳng biện bác cùng anh, chắp tay cung kính anh; nhưng tôi vẫn đi đường cũ, vẫn dùng phương pháp cũ của tôi để tu hành, chẳng bị anh làm dao động. Tôi tôn kính anh, tôi không phản bác anh một câu nào, Phật dạy chúng ta “mặc tẫn”[1]. Nói thật ra, Nho Gia gọi mặc tẫn là “kính nhi viễn chi”.Viễn” không phải là tách rời ra xa, không có nghĩa như vậy. “Viễn” nghĩa là cách nghĩ, cách làm của anh tôi không bắt chước theo, tôi vẫn đi theo kinh luận. Nếu tự tôi có năng lực, tôi sẽ tuyển chọn kinh luận; nhưng tôi không có năng lực, thầy giúp tôi chọn kinh luận. Những kinh luận tôi học trong một đời này đều là do thầy giúp tôi chọn lựa, đều là do thầy chỉ dạy.

Nói thật ra, bản thân tôi vẫn chưa có năng lực chọn lựa kinh luận, tôi thừa nhận ḿnh thuộc căn tánh trung hạ, chẳng phải là thượng căn. Người thượng căn phải có, chắc chắn có người thượng thượng căn, nhưng tôi chưa từng gặp được. Chuyện ấy không quan hệ, dẫu là hạ hạ căn mà gặp được thiện tri thức, giống như người đồ đệ làm nghề vá nồi của pháp sư Đế Nhàn, ông ta là hạ hạ căn, gặp vị chân thiện tri thức là pháp sư Đế Nhàn dạy một câu Nam-mô A Di Đà Phật niệm mệt cứ nghỉ, nghỉ khỏe lại niệm tiếp. Thực sự chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, ông ta thực sự thành công. Nếu ông ta hoài nghi hay xen tạp sẽ chẳng thể thành công. Bí quyết thành công của ông ta là “chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn”, nên thành công. Tín chẳng phải là chuyện dễ, tín phải có Căn. Tín quyết định chẳng bị dao động, cả đời chẳng biến đổi, người như vậy đạo nghiệp nhất định thành công!

Thứ hai là Tấn Căn. Tấn là đối với Chánh Đạo và Trợ Đạo, cầu tiến bộ chẳng ngơi, dũng mănh, tinh tấn, quyết định chẳng có một ngày nào buông lung, có chút khế nhập cảnh giới bèn vui sướng chẳng mệt. “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?), đúng là vui sướng chẳng mệt.

Niệm là hệ niệm nơi tâm. Điều được hệ niệm nơi tâm là Chánh Đạo và Trợ Đạo. Nay mục tiêu của người niệm Phật chúng ta là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật; đấy chính là Chánh Đạo và Trợ Đạo của chúng ta trong giai đoạn này. Trợ Đạo là ǵ? Đoạn ác, tu thiện, tích công lũy đức. Cổ đức thường dạy chúng ta: “Đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện”. Tự ḿnh phải hiểu rơ, phải minh bạch tiêu chuẩn thiện - ác. Ǵ là ác? Tự tư tự lợi là ác; đại công vô tư, lợi ích xă hội, lợi ích chúng sanh là thiện. Có người nghe nói như thế chẳng đồng ư, làm sao mà có lợi cho bản thân ta lại là ác được cơ chứ? Với pháp thế gian nói như vậy th́ được, chứ đối với pháp xuất thế gian, nói như thế là sai lầm quá sức. Sai lầm ở chỗ nào? Ngă Chấp không thể phá được! Cửa ải đầu tiên của pháp xuất thế gian là phá Ngă Chấp. Có lợi cho ḿnh là tăng trưởng Ngă Chấp! Kinh Kim Cang nói “ngă tướng, ngă kiến” niệm niệm đều chấp trước kiên cố, tăng trưởng ngă tướng, tăng trưởng ngă kiến th́ tới lúc nào mới có thể phá hết sạch Ngă Chấp được? Chẳng phá Ngă Chấp, sẽ chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. V́ thế, đức Phật đặt điều này lên đầu.

Chúng ta khởi tâm động niệm đúng là vô ngă. Nói cụ thể, vô ngă là nhất định không v́ lợi ích của chính ḿnh; bởi thế, phải triệt để buông tự tư tự lợi xuống. Phá Ngă Chấp bằng cách nào? Bí quyết để phá Ngă Chấp là khởi tâm động niệm, làm hết thảy chuyện ǵ đều v́ xă hội, v́ chúng sanh, v́ để chánh pháp tồn tại lâu dài, nhất định không có mảy may ư niệm nào làm lợi cho cá nhân ḿnh, một chút ǵ khiến việc văng sanh Tây Phương thế giới bị vướng mắc cũng không có, ra đi rất tự tại. Thường xuyên nhớ kỹ đức Phật dạy chúng ta phải sửa đổi, uốn nắn cách nh́n lầm lạc đối với vũ trụ, nhân sinh và hết thảy người, sự, vật. Kinh Kim Cang nói rất khéo: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng). Vậy th́, khởi lên một niệm rất ưa thích một cảnh giới, đó chính là tâm tham luyến, “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, bị một chén nước lạnh ấy hắt vào, tâm ta bèn b́nh tịnh. Gặp phải oan gia đối đầu rất trái mắt, gặp người, gặp sự, gặp vật trong tâm rất chán chường, [liền khởi tâm niệm] “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”, tâm lập tức b́nh ngay, dấy lên một câu “A Di Đà Phật”, biết ḿnh đến thế giới này là lữ du, [tạm ngụ] hai ba ngày rồi sẽ đi, thế giới này tốt cũng được, xấu cũng xong, ăn nhằm ǵ đến ḿnh? Cớ chi phải nhọc ḷng? Có duyên để khuyên th́ khuyên người ta, khuyên người ta làm lành; không có duyên th́ làm gương cho người ta thấy, người ta thấy mà hiểu th́ họ có phước báo; họ dẫu thấy nhưng không hiểu th́ cũng đành thôi. Chẳng cần phải so lường từng chút! Phật, Bồ Tát thị hiện trong thế gian, khởi tâm động niệm, nói năng, tạo tác, từng điểm, từng giọt đều nhằm giáo hóa chúng sanh, v́ người khác diễn nói từ trước đến nay chưa từng ngưng nghỉ.

V́ người diễn nói, “diễn” là biểu diễn, làm cho người ta thấy, “nói

là thuyết minh cho người ta; chẳng hề có chút mảy may danh lợi nào xen vào đó, chẳng xen tạp một mảy nào. V́ thế, các Ngài làm nhưng không làm, không làm mà làm, rất tự tại! Xen tạp chính ḿnh vào đó sẽ phiền lắm, v́ sao? Quư vị có lợi - hại, được - mất trong ấy; chỉ cần có lợi - hại, được - mất trong ấy. Hễ quư vị vừa khởi tâm động niệm, bèn nghĩ ngay đến lợi ích của chính ḿnh, sẽ thường mắc sai lầm. Người hoàn toàn không có lợi - hại, được - mất mới có thể thực sự buông xuống được, hết thảy thân tâm, thế gian đều buông xuống, tâm được giải thoát, trí huệ mở mang. Trừ điều này ra, không được xen tạp niệm ǵ, bất luận niệm ǵ xen tạp trong đó cũng không được. Đúng là chẳng dung một hào, một phân bất tịnh nào xen tạp! Chẳng dung một hào, một phân bất thiện nào xen tạp! Tâm phải thuần tịnh, thuần thiện.

Định” là nhiếp tâm, thâu tâm. Mạnh phu tử nói rất hay: “Học vấn chi đạo vô tha, cẩu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học vấn không có ǵ khác, cốt sao thâu hồi cái tâm đă buông lung mà thôi!). Đó là công phu định lực. Tâm ta chẳng c̣n hướng ra ngoài nắm níu nữa, chẳng những không nắm níu pháp thế gian, mà Phật pháp cũng chẳng nắm níu th́ tâm quư vị thực sự định! Ấn Quang đại sư cả đời dạy chúng ta phương pháp này, chính là như trong kinh Đại Tập đức Thế Tôn đă gọi Tŕ Danh Niệm Phật là “vô thượng thâm diệu Thiền”. Thiền Định sâu mầu vô thượng chính là Niệm Phật! Nhiếp tâm nơi Phật hiệu, trừ một câu Phật hiệu ra, niệm ǵ trong tâm cũng không có. Đó là Định Căn. Định ấy là Niệm Phật Tam Muội, Niệm Phật Tam Muội có Căn vậy! Trừ điều này ra, cái ǵ cũng không có. Niệm niệm tương ứng với A Di Đà Phật, niệm niệm tương ứng với kinh giáo Tịnh tông. Đó chính là “nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”.

Huệ Căn: Trí huệ quán chiếu, soi thấy chân tướng của hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian. Quư vị có Huệ Căn, có căn th́ khá lắm! Quư vị chẳng bị dao động, tự ḿnh chân bước vững vàng, như như bất động, thực hiện xong việc tự độ, lại c̣n nghĩ giúp cho người khác được đắc lực. Ngũ Căn tăng trưởng bèn đắc lực. Nói tới Lực th́ thật ra chính ḿnh phải có Căn càng sâu th́ mới có thể giúp người khác phá trừ nghi hoặc, giúp người khác kiến lập Ngũ Căn. Nay đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin tiếp về phần Ngũ Lực. Lực là đoạn nghi, thành tựu phẩm đức. Danh tướng của Ngũ Lực hoàn toàn giống với Ngũ Căn: Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Ngũ Lực là sự tăng trưởng của Ngũ Căn. Đạo lư này đối với chúng ta không khó hiểu. Cái được Huệ Căn tăng trưởng quan trọng nhất là trí huệ, sau khi Huệ Căn tăng trưởng, Ngũ Căn sẽ có sức mạnh; giống như thực vật, nó có rễ rồi, từ rễ dần dần tăng trưởng trở thành mầm cây. Mầm cây lại dần dần tăng trưởng trở thành cây lớn, nó có sức như vậy, chịu đựng được gió thổi, mưa dập v́ đă trưởng thành rồi.

Tín Căn tăng trưởng bèn phá được nghi hoặc; quyết định chẳng nghi hoặc đối với chánh pháp, chánh tri kiến. Bởi thế, nó có thể phá được nghi, phân biệt tà tri tà kiến; nó có năng lực như thế, tất nhiên có thể làm cho phiền năo nhẹ đi. Chúng sanh trong thế gian phiền năo tập khí nặng nề, chẳng tin tưởng chánh pháp, chẳng tin vào giáo huấn của thánh hiền. Nếu chúng ta có ḷng tin sâu xa chẳng nghi đối với chánh pháp, đạo đức, tánh đức và giáo huấn của thánh hiền th́ phiền năo đă giảm quá nửa! Điều tốt nhất đối với chính ḿnh, như tôi thường hay nói, là con người chẳng thể không già, nhưng người có tín tâm kiên định sẽ lăo hóa khá chậm chạp, đấy là đạo lư nhất định. V́ sao? Kẻ ấy sống cuộc đời sung sướng, có phương hướng, có mục tiêu, chẳng mê hoặc chút nào, mỗi ngày có tiến bộ, thường sanh tâm hoan hỷ! Cuộc đời người ấy rất sung măn, rất khoái lạc, đều là do từ trong tâm phát sanh. Tín tâm có sức mạnh như vậy.

Tinh Tấn có sức mạnh, chẳng lười nhác. Quư vị phải biết lười nhác chính là phiền năo nghiêm trọng; trong Lục Ba La Mật của Bồ Tát, Tinh Tấn đối trị giải đăi. Nếu một con người chẳng giải đăi, bất luận làm chuyện ǵ, dù pháp thế gian hay xuất thế gian, chẳng lẽ nào không thành tựu. V́ sao chẳng thành tựu? V́ sao thất bại? V́ giải đăi! Lúc vừa mới làm, tinh thần đầy đủ trăm phần; làm được ít lâu bèn giải đăi, chẳng thể duy tŕ được, chẳng có tâm thường hằng. Đấy là nguyên nhân thứ nhất khiến cho rất nhiều sự nghiệp thế gian hay xuất thế gian chẳng thể thành tựu, không có cách ǵ ǵn giữ được! Học Phật cũng chẳng phải là ngoại lệ, cổ đức chẳng thường nói: “Học Phật nhất niên, Phật tại nhăn tiền” (Học Phật một năm, Phật ngay trước mặt) đó ư? Vừa mới học Phật, bèn nhiệt tâm, bèn chân thành như thế, quư vị phải ǵn giữ, cổ nhân nói “thành Phật hữu dư” (thành Phật có thừa), [nghĩa là] người giữ được cái tâm ban đầu thành Phật cả đống. “Học Phật lưỡng niên, Phật tại thiên biên” (Học Phật hai năm, Phật ở trên trời), cái tâm kiền thành, cái tâm tinh tấn đă suy thoái rồi. “Học Phật tam niên, Phật hóa vân yên” (Học Phật ba năm, Phật hóa thành mây khói), không c̣n nữa! Học Phật bèn biến thành một con cáo già, vậy th́ sao vẫn phải học Phật?

Học Phật có lợi cho chính ḿnh, chẳng nghĩ đến Phật, chẳng nghĩ đến chúng sanh, chỉ nghĩ đến ḿnh, v́ có lợi cho ḿnh, giương chiêu bài nhà Phật, lợi dụng chiêu bài nhà Phật để lừa bịp, mưu cầu danh văn, lợi dưỡng cho chính ḿnh, ḥng hưởng thụ ngũ dục, lục trần, v́ những thứ đó mà thôi! Những lợi dưỡng họ đạt được, nói trắng ra, chỉ là v́ trong mạng họ có, nhưng tâm ấy là tâm chẳng lành, hành vi ấy chẳng phải là thiện hạnh, khiến cho phước báo trong mạng họ bị tổn thất lớn lao. Chúng tôi thường nói: Phước báo một trăm phần trăm trong mạng rất có thể bị tổn hoại chỉ c̣n có hai mươi phần trăm hay ba mươi phần trăm mà thôi! Tổn thất với một mức độ lớn, tâm hạnh chẳng lành mà! Người thành công, tu hành chứng quả, chẳng có bí quyết chi khác, chỉ là giữ được cái tâm ban đầu, tinh tấn chẳng lùi, bèn thành công, có bí quyết ǵ đặc biệt đâu!

Mỗi đồng học chúng ta bất luận tại gia hay xuất gia, hăy nghĩ lúc ḿnh mới phát tâm là như thế nào, tâm hiện nay là như thế nào? Quư vị có thấy rơ v́ sao ḿnh chẳng tiến bộ hay không? V́ sao học nhiều năm như vậy mà đối với việc văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có một chút nào nắm chắc cả, vẫn cứ nửa tin nửa ngờ, biết làm sao được! Bởi thế, trong kinh luận, đức Phật thường nói thế pháp thiện căn (thiện căn trong lục đạo, thiện căn nơi thế gian pháp) là ba thiện căn, không ngoài “chẳng Tham, chẳng Sân, chẳng Si”. Ba thiện căn này thành tựu hết thảy thiện pháp của thế gian. Nay chúng ta muốn thành một người lành trong thế gian th́ quư vị phải nhớ kỹ lời Phật giáo huấn: Đối với hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Thiện căn xuất thế gian chỉ có một: Tinh Tấn! Tinh Tấn là thiện căn duy nhất của Bồ Tát! Bồ Tát có thể chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề chẳng có ǵ khác cả, vĩnh viễn giữ được cái tâm ban đầu chẳng biến đổi đó thôi!

Chúng ta phải hiểu đạo lư này, ứng dụng vào pháp xuất thế gian sẽ thành Vô Thượng đạo, ứng dụng vào pháp thế gian sẽ thành tựu đại đức, đại nhân đại đức! Chúng ta giao thiệp cùng hết thảy chúng sanh, lúc mới tiếp xúc, đầu tiên đều hết sức khiêm hư, hết sức lịch sự, hết sức thân thiện, quư vị có giữ măi được như vậy hay không? Nếu quư vị giữ măi được như vậy th́ chính là đại nhân đại đức. Thánh nhân chẳng có ǵ khác cả, giao tiếp cùng hết thảy chúng sanh dẫu lâu ngày vẫn không thay đổi, không lui sụt. V́ sao? Các Ngài dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi, vĩnh viễn chẳng biến đổi! Đối phương biến đổi là chuyện của đối phương, chẳng phải là chuyện của  ḿnh. Ta chỉ  có thể  bảo đảm  chính ḿnh, chứ không  bảo đảm cho

người khác được! Ta thành tựu đức hạnh của chính ḿnh.

Chư Phật, Như Lai cũng chẳng thể thành tựu đức hạnh cho người khác. Nếu có năng lực thành tựu đức hạnh cho người khác th́ hết thảy chúng sanh chẳng cần phải tu hành nữa, Phật, Bồ Tát đại từ đại bi chẳng làm cho hết thảy chúng sanh đều thành Phật hay sao? Làm không được! Chúng ta phải hiểu điều này! Thành tựu đức hạnh của chính ḿnh để giúp đỡ người khác, làm cho người khác thấy, người ta thấy ḿnh cũng là phàm phu, ḿnh thành tựu được th́ họ cũng có thể thành tựu. Đó là biểu diễn, biểu diễn cho người khác xem. Nếu ta cả đời giữ vững chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi bất biến, trong thuận cảnh chẳng có tâm tham luyến, trong nghịch cảnh cũng chẳng có tâm sân khuể, nhất định phải giữ vững, nhất định phải làm được, vĩnh viễn chẳng lui sụt; đó là thanh tịnh. Tinh tấn có thể hoàn thành hết thảy mọi sự thế gian và xuất thế gian.

Niệm Căn tăng trưởng, tà niệm chẳng sanh, từ bản thân ḿnh th́ nói là “tà niệm chẳng sanh”, từ hoàn cảnh th́ nói “tà niệm chẳng nhập”. Chúng ta biết những tà tri tà kiến trong xă hội hiện thời có thể nói là tràn ngập cả thế gian, quư vị mỗi ngày hai mươi bốn giờ đều tiếp xúc với những tà tri tà kiến được truyền bá trong thế gian. Nếu Niệm Căn của quư vị hữu lực th́ tà tri tà kiến chẳng thể ảnh hưởng quư vị. Dù quư vị mắt thấy, tai nghe, tiếp xúc, cũng không bị ảnh hưởng tí nào! Giống như các đại đức trong Tông Môn thường nói: “Bách hoa tùng trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (Qua rừng trăm hoa nở, mảnh lá chẳng dính thân). V́ sao vậy? V́ Niệm hữu lực! Có thể thành tựu hết thảy công đức chánh niệm thế gian và xuất thế gian.

Định Căn tăng trưởng, trong tâm có chủ tể, quyết định chẳng bị dao động. Nh́n trên mặt h́nh tướng, tối thiểu là như tiên sinh Liễu Phàm và ḥa thượng Vân Cốc cùng ở trong Thiền Đường không khác ǵ nhau, ba ngày ba đêm không có vọng niệm. Người niệm Phật định lực hiện tiền, tối thiểu là công phu thành phiến, công phu thành phiến là Niệm Phật tam-muội, đă đạt được Niệm Phật tam-muội! Niệm Phật tam-muội là ǵ? Trong hết thảy thời, hết thảy nơi, trong tâm niệm của quư vị đều là A Di Đà Phật; ngoại trừ A Di Đà Phật ra, quyết định chẳng có một tạp niệm nào, đó là Niệm Phật tam-muội! Ngoại trừ một câu A Di Đà Phật ra, nếu vẫn c̣n ư niệm nào khác th́ công phu chưa thành phiến. Bởi thế, nhất định phải nhớ kỹ, phải chịu thừa nhận ḿnh là kẻ sơ học. Con người quư nhất là tự biết rơ ḿnh, quư nhất là tự ḿnh hiểu ḿnh, tự ḿnh hiểu bản thân là  hạng người nào:  Ta là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân, ta là

sơ học, chẳng phải tu thuần thục.

Phàm phu sơ học th́ quan trọng nhất là thâm nhập một môn, trường thời huân tu. Tam Tự Kinh nói: “Giáo chi đạo, quư dĩ chuyên” (đạo dạy dỗ, quư nơi chuyên tinh). Thế nào là chuyên? “Thâm nhập một môn, trường thời huân tu” là chuyên đấy! Chẳng được tham quá nhiều, chẳng được quá tạp! Quá tạp, quá nhiều là tạp tu, loạn tu; ta đă là phàm phu lại c̣n sơ học, làm sao thành tựu được? Bởi thế, nếu quư vị chú tâm suy nghĩ [sẽ thấy] bao nhiêu năm qua, ta đă lăng phí ngần ấy thời gian, thật đáng tiếc quá! Nếu chịu chuyên tu, chịu buông xuống vạn duyên, dẫu trong nhà Phật có kinh giáo nào đi nữa cũng đều chẳng động tâm. Ba năm khéo công phu sẽ đắc nhất tâm bất loạn; công phu kém hơn một chút là công phu thành phiến. Công phu thành phiến sẽ có năng lực sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ, muốn đi lúc nào là đi, rất tự tại vậy! Nếu đắc Sự nhất tâm bất loạn sẽ sanh vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Công phu thành phiến đă có thể sanh tử tự tại th́ Sự nhất tâm bất loạn chẳng cần phải nói nữa!

V́ sao chúng ta chẳng đạt được mức độ ấy? Là v́ cái ǵ cũng muốn học, cái ǵ cũng thích hết, rốt cuộc cái ǵ cũng chẳng thể thành tựu. Sai lầm rồi, lầm quá đỗi rồi! Phàm những ai thành công nơi pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng có bí quyết nào khác để thành công cả, chỉ chuyên nhất mà thôi! Toàn bộ tinh thần, ư chí, thời gian đều tập trung, sẽ thành tựu được việc ấy. Quư vị thấy rất nhiều các chủ nhân đại xí nghiệp, dẫu các hạng mục trong xí nghiệp của họ rất nhiều, nhưng nếu hỏi họ, sẽ thấy thoạt đầu chỉ là một dạng, một thứ, chuyên môn kinh doanh một thứ. Thành công rồi, sau khi thành công mới có tài lực, có thừa lực lượng bèn kinh doanh thêm thứ khác, dần dần mới có thể phát triển đến mấy chục thứ. Sanh từ một căn bản, chẳng phải là vừa thoạt đầu đă có được bao nhiêu thứ như thế. Có nhiều thứ như thế chắc chắn thất bại, chúng ta phải thấy rơ như vậy!

Có người không hiểu, tính gom tiền vốn bỏ vào nhiều ngành để kiếm lời, làm chưa được mấy năm công ty phải đóng cửa. Do nguyên nhân nào? Chẳng có căn bản. Rất nhiều người chẳng hiểu đạo lư này! Quư vị cứ chú ư quan sát một đại xí nghiệp gia thực sự hay một tay công thương nghiệp lăo luyện, quư vị sẽ thấy họ rất có căn bản. Nếu chúng ta chú tâm quan sát về mặt xuất thế pháp, sẽ thấy chư Phật, Bồ Tát học rộng nghe nhiều, điều ǵ cũng thông đạt là v́ có cơ sở, tuyệt đối chẳng phải là vừa bắt đầu đă học quá nhiều thứ. Chẳng phải vậy, họ có căn bản. Sau đấy, học rộng nghe nhiều, vẫn là do căn bản ấy sanh trưởng. Dẫu căn bản khác nhau, mỗi cá nhân học một pháp môn bất đồng, nhưng không hề chi, pháp môn b́nh đẳng, không có cao hay thấp, quư vị phải hiểu đạo lư này.

Biết đạo lư này th́ cái tâm tham luyến, cái tâm hâm mộ sẽ chẳng sanh khởi. Nếu chúng ta không chuyên học một môn, cứ măi măi hâm mộ rất nhiều pháp môn, kết quả cuối cùng là môn ǵ cũng chẳng thành. Phải chết chặt một môn! Chết tươi ḷng mong ngóng, khiêm hư sát đất! Sau khi thành một môn rồi, một môn thông th́ hết thảy các môn đều thông. Một kinh thông th́ hết thảy các kinh đều thông! Một pháp môn thông, tất cả hết thảy pháp môn đều thông. Tiêu chuẩn của “thông” là ǵ? Là minh tâm kiến tánh. Mỗi một pháp môn đều có thể giúp quư vị minh tâm kiến tánh, bởi vậy, pháp môn b́nh đẳng, không có cao - thấp. Quư vị phải thâm nhập, không thâm nhập sẽ chẳng kiến tánh. Cổ nhân cầu học cũng tốt đẹp, tu đạo cũng tốt đẹp, chưa đạt đến cảnh giới kiến tánh th́ nhất định chẳng lạm tu pháp môn thứ hai, quư vị phải liên tục nỗ lực, không ngừng ra sức.

Trong phương diện Trợ Đạo, thầy dạy, đồng học, hoàn cảnh tu học đều là duyên trợ đạo. Đức Phật giảng rất rơ bốn thứ duyên: Thân nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên, tăng thượng duyên. Trợ Đạo là tăng thượng duyên. Tăng thượng duyên cũng rất quan trọng, quư vị phải tin tưởng thầy dạy, phải tin vào đồng tham đạo hữu, trong nhà Phật c̣n gồm cả “hộ pháp”, đều là trợ đạo. Những vị hộ pháp dùng tài lực, vật lực giúp đỡ quư vị, khiến cho quư vị sống an định, thân tâm an ổn. Trong kinh, đức Phật thường nói: “Pháp luân vị chuyển, thực luân tiên” (Pháp luân chưa chuyển, bánh xe ăn đă xoay trước). Nếu cuộc sống quư vị chẳng an định, làm sao quư vị yên ḷng tu tập đạo? Giúp cho quư vị thân tâm an định, đó là hộ pháp. Hộ pháp có đại ân, nội hộ có đại đức, khiến quư vị thân tâm an ổn, vô ưu, vô lự, một ḷng tu đạo dễ dàng thành tựu.

Điều cuối cùng là Huệ Lực, Huệ Căn tăng trưởng, trí huệ hiện tiền, có năng lực phân biệt chân - vọng, có năng lực phân biệt thị - phi, thiện - ác, lợi - hại. Những điều này bày ra trước mắt rơ ràng, rành rẽ, minh bạch, không mê hoặc chút nào. Tư tưởng kiến giải thuần chánh, ngôn ngữ, hành vi thuần chánh, đoạn nghi, thành tựu đức hạnh, thành tựu đại đức đại năng của chính ḿnh, toàn là nhờ vào trí huệ. Trong kinh điển, đối với ba mươi bảy Đạo Phẩm, đức Thế Tôn khởi sự nói từ Ngũ Căn, Ngũ Lực, ba khoa trước lược đi. Trong chú sớ, chú giải của Ngẫu Ích đại sư và Liên Tŕ đại sư, dẫu đức Phật không nói, nhưng các Ngài đều nói thêm vào, có lợi rất lớn cho bọn sơ học chúng ta.

Kế đó là tiểu đoạn thứ sáu: “Thất Bồ Đề phần”. Bồ Đề (Bodhi) là tiếng Phạn, phiên dịch sang nghĩa tiếng Hán là Giác. Bồ Đề có nghĩa là giác ngộ, bởi thế “c̣n gọi là Thất Giác Phần”. Giác chứ không mê. “Ư nhất thiết pháp thiện năng giác liễu” (khéo có thể hiểu hết thảy các pháp), đấy là công phu! Đối với những khoa mục lớn, chúng tôi đều dùng phương pháp giới thiệu đơn giản để nhắc nhở quư vị: Tứ Niệm Xứ là thấy thấu suốt, trước tiên là phải thấy thấu suốt. Tứ Như Ư Túc là buông xuống, quư vị phải buông xuống được. Khi tôi vào cửa Phật, thân cận vị xuất gia thứ nhất, vị thứ nhất ấy dạy tôi “khán đắc phá, phóng đắc hạ” (thấy cho thấu suốt, buông xuống được). Thất Bồ Đề Phần là công phu chân chánh, bảy thứ này đều là giác ngộ chân chánh, “Huệ Lực sở phát, vô lậu chánh trí” (do Huệ Lực phát sanh, là chánh trí vô lậu). Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần do đâu mà có? Do Huệ Lực mà có; Thất Bồ Đề Phần cũng phải nương vào Huệ Lực. Nếu Huệ Quán vô lực, nhờ vào đâu mà giác được?

Tiếp đây sẽ giảng bảy hạng mục. Cả bảy hạng mục này đều là giác ngộ, trong Phật pháp gọi giác ngộ là Bồ Đề.

Thứ nhất là trạch pháp (chọn lựa pháp); tức Trạch Pháp Giác Phần. Trạch pháp là “thiện biệt” (khéo phân biệt), “biệt” () là phân biệt. Quư vị khéo có thể phân biệt chân - vọng, tà - chánh, đúng - sai, thiện - ác, chẳng lấy pháp hư ngụy. Đó gọi là Trạch Pháp Giác Chi (ở đây gọi là Giác Phần). Người học Phật hoặc cầu học trong thế gian, tu đạo - đạo có thế gian đạo và xuất thế đạo. Thế gian đạo có thiên đạo, tiên đạo; xuất thế gian đạo có Thanh Văn đạo, Duyên Giác đạo, Bồ Tát đạo, quư vị phải biết chọn lựa. Tiêu chuẩn chọn lựa phải dựa vào lư, tức chánh lư. Lại phải dựa vào sự, sự là ǵ? Sự là những điều kiện bản thân ta sẵn có. Chánh pháp không phải chỉ có một loại, trong Đại Thừa Phật pháp thường nói là vô lượng pháp môn, trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện có câu “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, vô lượng pháp môn đều là chánh pháp. Với những điều kiện sẵn có của chúng ta th́ trong vô lượng pháp môn, hoặc nói là tám vạn bốn ngàn pháp môn, ta có thể học được pháp nào?

Tôi đă thưa cùng quư vị đồng tu rất nhiều lần, trong những buổi giảng cũng đă nói rất nhiều. Tôi thích học kinh giáo, tôi thích thâm nhập một môn, tôi có nguyện vọng học đ̣i tổ sư đại đức; tôi nhớ h́nh như Đạo Xước đại sư một đời giảng Quán Kinh hơn hai trăm lần. Ngài không giảng kinh nào khác, chỉ giảng một loại, cũng giống như những vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử: “Pháp môn vô lượng vô biên, tôi chỉ hiểu một môn, anh đến đây th́ tôi có thể nói cho anh nghe [môn này]. Giảng xong, nếu anh muốn nghe pháp khác th́ hăy đến chỗ vị thiện tri thức khác. Những vị đó biết nhiều hơn tôi, tôi chẳng bằng các vị đó. Thành tựu một môn thôi!”

Năm mươi ba lần tham học, năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi vị đều là “thâm nhập một môn”, đều không có pháp môn thứ hai. V́ thế, Thiện Tài tham học: “Anh đến đây, tôi đem pháp do chính ḿnh tu bảo cho anh biết. Nếu anh muốn học rộng, nghe nhiều, tôi giới thiệu anh đến chỗ khác”. Tự ḿnh khiêm hư, tán thán người khác. Đấy đều là thị hiện để dạy chúng ta! Căn bệnh lớn của chúng ta là “khen ḿnh, chê người”, tự cho ḿnh là phi phàm, coi rẻ người khác. Sai rồi, sai lầm quá đỗi rồi! Chẳng biết hết thảy chúng sanh vốn sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, chẳng biết ǵ cả! Cuồng vọng tự đại. Bởi thế, trên con đường Bồ Đề, quư vị đi rất khổ sở, đi chẳng thành công dường ấy. Thường là nửa đường ngă ḷng, thất bại hoàn toàn, chẳng phải là không có nguyên nhân: Tâm tư thái độ tu học của quư vị đă sai bét rồi!

Nói thật ra, cội rễ là do chẳng biết hiếu thuận đối với cha mẹ, chẳng biết tôn kính sư trưởng, đă hư từ căn bản! Đạo Nho của Trung Quốc và đạo Phật đều kiến lập trên cơ sở Hiếu đạo, Hiếu đạo là gốc! Sư đạo (đạo thầy tṛ) kiến lập trên cơ sở hiếu đạo. Nho là sư đạo, Phật cũng là sư đạo. Tôn sư trọng đạo kiến lập trên cơ sở hiếu thảo với cha mẹ. Nếu ai chẳng hiếu thuận với cha mẹ, chẳng hiểu đạo Hiếu, làm sao kẻ ấy tôn trọng sư trưởng cho được? Bởi vậy, học tập không có căn bản, giống như cất nhà, xây lầu không có nền móng, làm sao thành công được? Trong Ngũ Căn, Ngũ Lực đă giảng ở phần trên, tôi đặc biệt đề xuất Tín Căn, hết sức trọng yếu! Một bề tu dần dần cho tăng trưởng, trí huệ bèn mở ra, có năng lực chọn lựa pháp môn; lúc ḿnh chưa có năng lực th́ thầy thay thế ḿnh chọn lựa.

Pháp môn thầy đă chọn, ḿnh có được thay đổi hay không? Được chứ! Quư vị tu học đến một giai đoạn nào đó, nhận thấy ḿnh c̣n có thể tu một pháp môn khác, chính quư vị đă có năng lực chọn pháp. Nếu ḿnh không có năng lực ấy, th́ cứ ngoan ngoăn tuân thủ lời thầy chỉ dạy là an toàn, bảo đảm! Nếu quư vị thực sự thấy rơ các pháp b́nh đẳng, không có cao - thấp, pháp nào thầy chọn lựa cho ta rất thích hợp với căn tánh, lại phù hợp với tŕnh độ của ḿnh, mà cũng thích hợp với hoàn cảnh sinh hoạt của ḿnh th́ đó là chọn lựa tốt! Chết sạch tấm ḷng mong ngóng, chụp giựt, thâm nhập một môn, có ai chẳng thành tựu? Đến khi chính ḿnh thực sự thành tựu, mới cảm mộ ân đức thầy. Nếu thầy không răn dạy, nếu thầy không thay ḿnh chọn lựa, làm sao ta có thể thành tựu được?

Phương hướng chung, mục tiêu lớn của cả đời tôi là học Phật. Chương Gia đại sư thay tôi chọn lựa, Ngài dạy tôi bỏ đi các nghề nghiệp khác, đi theo con đường xuất gia hoằng pháp, Chương Gia đại sư dạy tôi như vậy đó. Ngài đă suy nghĩ rất lâu, Ngài nói: “Bất cứ sự nghiệp nào khác đều chẳng tốt bằng; sự nghiệp này đối với chính ḿnh, đối với chúng sanh là trăm điều lợi, chẳng có một điều tệ”. Tôi nghe dạy xong, suy nghĩ rất lâu, quyết định tiếp nhận lời thầy giáo huấn. Lúc ấy tôi vẫn đang đi làm, tôi từng hỏi Chương Gia đại sư: “Nếu con xuất gia th́ phải tu pháp nào?” Đại sư bảo tôi: “Ông phát tâm ấy, ông không cần phải t́m pháp sư”. Ngài dạy rất hay: “Nếu ông cần t́m một vị pháp sư thế độ cho ông, nếu vị ấy không đáp ứng, ông có sanh phiền năo hay chăng?” Tôi thưa có. Chẳng cần t́m thầy, cũng chẳng cần t́m đạo tràng. Tôi hỏi làm như thế nào đây? [Ngài đáp]: “Cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ!”

Rồi Ngài dạy tôi: “Nếu tâm ông phát là chân tâm, nguyện là chân nguyện, Phật, Bồ Tát sẽ thay ông an bài cả một đời, ông không cần phải lo lắng chi cả, đến khi duyên thành thục, ông sẽ biết ngay!” Đấy là chuyện tốt, tôi cảm ơn thầy. Một đời chịu ân huệ của thầy! Đúng là chuyện ǵ cũng chẳng bận ḷng, một đời tùy duyên, chẳng phan duyên. Độ mấy năm sau, quả nhiên có một vị sư phụ xuất gia đến t́m tôi, mời tôi xuất gia. Thọ giới cũng như thế. Khai giới rồi, tôi rất muốn đến thọ giới, nhưng không có duyên phận. Lúc đó, lại có người đến mời tôi đi thọ giới. Lúc đó thọ giới phải đóng lệ phí, khi tôi mới xuất gia cũng chẳng có cúng dường, khoản tiền chi phí ấy rất lớn, kiếm chẳng ra. Có người đă chuẩn bị đầy đủ mọi khoản lệ phí thọ giới đưa cho tôi, bảo tôi đi thọ giới, duyên chín muồi vậy! Cả đời bị động, chưa hề chủ động, bất luận đến địa phương nào cũng đều là bị động, tùy duyên, chẳng phan duyên, không có vọng tưởng, cuộc sống quá sướng! Rất là khoái lạc, rất tự tại, thầy dạy tôi như vậy đó!

Nếu quư vị chẳng tin tưởng thầy th́ không có cách nào hết! Tự ḿnh hằng ngày khởi vọng tưởng, cuộc sống ấy chắc chắn chẳng sung sướng, tự tại như tôi đang được hưởng. V́ thế, tôi thường rất cảm thán nói: “Người thế gian hiện thời chẳng nghe lời người xưa, chịu đựng thiệt tḥi trước mắt”. Tôi được hưởng một chút tiện nghi là nhờ tin tưởng thầy, tôi rất nghe lời. Những vị thầy tôi được thân cận đúng là chân thiện tri thức, thực sự có đức hạnh, có trí huệ, có học vấn, có tu dưỡng. Cả đời tôi có ba vị thầy, mọi người đều biết cả, vị tại gia là tiên sinh Phương Đông Mỹ, những vị dạy tôi Phật pháp th́ thứ nhất là Chương Gia đại sư, vị thứ hai là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam. Tôi học với Chương Gia đại sư ba năm, học với Lư lăo cư sĩ mười năm. Cả đời chẳng trái nghịch lời thầy dạy dỗ, những ǵ thầy dạy tôi đều tốt lành, đều có đạo lư, quyết định chẳng phải là ác pháp, hoàn toàn đúng với kinh giáo. Bởi thế, tự bản thân chúng tôi không có năng lực chọn lựa pháp (trạch pháp), thầy v́ tôi chọn lựa pháp môn Tịnh Độ.

Sau này, tôi đọc kinh Đại Tập, thấy Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng sanh đời Mạt Pháp chọn lựa pháp môn này. Đức Phật dạy trong thời kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu; thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu; thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu. Chúng ta chọn lựa pháp môn này đúng với ư Phật, rất khế hợp căn tánh của chính ḿnh. Tôi tự chọn Di Đà Kinh Yếu Giải v́ nó khế hợp với căn tánh của ḿnh nhất. Trước kia, ở Dallas có một vị đồng học hỏi tôi:

- Đại Tạng kinh nhiều như vậy, nếu chỉ cho phép thầy chọn một môn, thầy chọn môn nào?

- Tôi chọn A Di Đà kinh, nhưng trong những chú giải kinh A Di Đà, tôi chọn sách Yếu Giải.

Tôi nhớ đă giảng Yếu Giải một lần ở Gia Châu (California), cư sĩ Lưu Thừa Phù ghi thành sách Di Đà Yếu Giải Thân Văn Kư. Lúc ấy, tuổi cụ đă rất cao, cụ sống ở Tây Nhă Đồ (Seattle). Những đồng học ở bên tôi thật hiếm có, họ đem băng thâu âm lời giảng mỗi ngày gởi qua đó, từ băng giảng, cụ Lưu chép ra thành sách.

Có rất nhiều kinh luận được giảng chẳng do chủ ư của tôi. V́ nguyên nhân ǵ? Trong thời đại này, pháp sư giảng kinh rất ít. Có nhiều vị đồng học đến khải thỉnh, bất đắc dĩ phải phân tâm giảng những kinh luận ấy! Nếu pháp sư giảng kinh nhiều, mỗi một tông phái đều có pháp sư giảng kinh th́ quư vị biết đó: Cả đời tôi chỉ nhất định học đ̣i bậc cổ đại đức, một đời chuyên giảng A Di Đà Kinh Yếu Giải, trở thành chuyên gia, chứ không làm bậc thông gia. Hiện tại thế giới to lớn như thế này, đến mỗi thành phố giảng một lần, giảng cả ba trăm năm cũng chưa giảng xong, có phải là rất tự tại hay chăng?

Tôi đă thưa cùng thầy Lư chuyện này, thầy cười cười: “Ông rất tự tại, nhưng những lời sau đây rất khó nghe: Ông chẳng thể độ chúng sanh”. Tôi hỏi v́ sao? Thầy dạy: “Ông có thấy lúc nào chúng sanh nhờ nghe một bộ kinh mà khai ngộ, chứng quả hay chăng?” Thực sự chẳng có! V́ thế, lăo nhân gia dạy thật chánh xác, đúng là phải giúp đỡ chúng sanh, thành tựu chúng sanh, phải ở một nơi, chẳng đi cùng khắp mọi nơi được. Đấy là những điều thầy dạy tôi. A! Nay đă đến giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi!

 

Tập 17

 

Chư vị đồng học!

Chúng ta lại xem đến phần Thất Bồ Đề Phần trong kinh.

Trong Thất Bồ Đề phần, phần thứ nhất là Trạch Pháp: Trạch Pháp Giác Phần. [Sách Yếu Giải giảng]: “Thiện biệt chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác, bất thủ hư ngụy pháp” (Khéo phân biệt chân - vọng, tà - chánh, đúng - sai, thiện - ác, chẳng lấy pháp hư ngụy). Trong điều này, quan trọng nhất vẫn là dạy chúng ta phải khéo chọn lựa pháp môn. Trên thực tế, chuyện này chẳng dễ dàng đâu nhé! Giống như thầy lang trị bệnh, kê toa nhất định phải phù hợp căn bệnh. Toa hoàn toàn tương ứng với bệnh th́ uống thuốc vào, bệnh sẽ lành. Muốn hiểu rất rơ, muốn nắm rất chắc căn tánh của hết thảy chúng sanh, th́ so với việc thầy lang chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh càng khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vậy, chuyện này đúng là chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo; nếu chúng sanh gặp được Phật là một vị thầy thuốc tốt lành dường ấy th́ không có vấn đề ǵ, trong kinh thường gọi đức Phật là Đại Y Vương. Ngài có trí huệ viên măn, thần thông viên măn, đức năng viên măn, đức Phật thấy đời đời kiếp kiếp trong quá khứ của mỗi cá nhân, Ngài làm được chuyện này rất tốt!

Bởi thế, khi đức Phật v́ chúng sanh thuyết pháp, trong kinh chúng ta thường thấy, khi một bộ kinh chưa giảng xong, đă có khá nhiều thính chúng khai ngộ, chứng quả rồi. V́ sao nay chúng ta dù nghe, nhưng lại không đạt được như vậy? Đức Phật biết rơ chuẩn xác căn bệnh của chúng ta, thuyết pháp đúng với căn cơ. Nói trắng ra, sau khi Phật nhập diệt, đúng là hàng đệ tử mỗi đời sau kém hẳn đời trước. V́ sao chư Phật, Bồ Tát chẳng đến ứng hóa trong thế gian? Nói đúng ra, chư Phật Bồ Tát, đúng là vẫn ứng hóa trong thế gian, nhưng chúng sanh căn tánh bất đồng, chẳng được như trước. Trước kia, chúng sanh căn tánh sâu dầy, dù đối với người, với sự, hay với vật, đều có ḷng thành kính, hiện thời chẳng được vậy. Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích; mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Hiện nay chẳng có thành kính, dẫu cho Phật, Bồ Tát đến giáo hóa, chúng ta vẫn không đạt được lợi ích là v́ không có tâm cung kính! Bởi vậy, trách nhiệm hoàn toàn chính nơi bản thân chúng ta, chứ chẳng phải là Phật, Bồ Tát!

Đối với Trạch Pháp, trong thời đại này chúng ta chẳng thể không lưu ư. Tự ḿnh nhất định phải biết tŕnh độ của bản thân, biết căn tánh của chính ḿnh, biết hoàn cảnh sinh hoạt của ḿnh. Chúng ta tu tập pháp môn này, chúng ta chiếu theo đó tu hành, trong hiện tại sẽ giảm thiểu chướng ngại đến mức tối thiểu, mong rằng thành tựu tu học của chúng ta càng ngày càng lớn. Chẳng được nói pháp môn này hay, pháp môn nọ hay. Pháp môn nào cũng hay cả, chẳng có pháp môn nào không hay! Vấn đề là [pháp môn ấy] có thích hợp cho ta tu học, có thích hợp với hoàn cảnh sinh hoạt hiện tại của chúng ta hay không, chuyện đó mới rất quan trọng!

Tự chúng ta không có năng lực tuyển chọn, Phật, Bồ Tát, tổ sư đại đức đă ban cho chúng ta rất nhiều tài liệu tham khảo. Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta chọn lấy pháp môn Tịnh Độ trong thời kỳ Mạt Pháp; chúng ta hiện đang sống trong thời kỳ Mạt Pháp. Kinh luận Tịnh Độ ít nhất, kể cả những kinh do các tổ sư cận đại thêm vào, tổng cộng chỉ có năm kinh một luận. Năm kinh một luận ấy thứ nào hợp với chúng ta, chỉ chọn lấy một loại là đủ. Tu học một thứ có thành tựu th́ sẽ đạt được pháp ích (lợi ích nơi pháp). Nếu vẫn c̣n có sức th́ lại học thêm một thứ, hai thứ nữa, chẳng được lan man quá nhiều. Lan man quá nhiều th́ tinh thần, tâm lực của chúng ta bị phân tán, rất khó thể thành tựu!

Ở đây, câu cuối cùng rất trọng yếu: “Bất thủ hư ngụy pháp” (Chẳng lấy pháp hư ngụy). Trong những pháp hư ngụy, đặc biệt là tà tri trà kiến, chẳng phải là chánh pháp. Chúng ta phải phân biệt chuyện này cho rơ ràng! Trong pháp môn Tịnh Độ, hai năm gần đây nhất, có rất nhiều người phản đối bản hội tập, chê bản hội tập là ngụy kinh, những lời lẽ ấy đúng là khiến những vị thông hiểu phải ph́ cười. Thế nào là ngụy kinh? Ngụy kinh là kinh do tự ḿnh bịa đặt ra, ngụy tạo! Bản hội tập này không ngụy tạo, từng chữ từng câu đều có căn cứ, đều do chính Phật nói, sao gọi là ngụy kinh được? Nếu bảo những bản hội tập đều là ngụy tạo th́ ngụy kinh quá nhiều. Hiện tại, những sám nghi (nghi thức bái sám) trong tất cả đạo tràng, cho đến khóa bản để tụng trong khóa lễ sáng tối đều là những bản hội tập, vậy th́ toàn bộ đều ngụy kinh. Vậy th́ những ǵ Phật pháp thực hành trong hơn hai ngàn năm đều là tầm bậy ư? Có đạo lư ấy hay chăng? Chẳng thể nói tùy tiện như vậy được! Nói năng là cả một môn học vấn lớn.

Trong nền giáo dục của Khổng lăo phu tử, ngôn ngữ là khoa thứ hai,

đức hạnh là khoa thứ nhất. Do đây biết rằng: Ngôn ngữ được coi là rất quan trọng. Cát - hung, họa - phước, ngôn ngữ chiếm quá nửa. Thiện ngôn, thiện hạnh công đức vô lượng. Nếu như vọng ngữ, nói đôi chiều, tội lỗi vô biên, chẳng thể không cẩn thận, chẳng thể không biết. Nếu nói bản hội tập là ngụy kinh, chính là nhục mạ toàn bộ tổ sư đại đức trong quá khứ! Bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ của ông Vương Long Thư được xếp vào Càn Long Đại Tạng Kinh. Trong quá khứ, những kinh điển được xếp vào Kinh Tạng, phải được tất cả cao tăng đại đức đương thời thẩm tra, xem xét, công nhận là không sai sót mới được đưa vào Kinh Tạng. Những ư kiến thẩm sát được gởi lên hoàng đế, hoàng đế phê chuẩn nhập tạng. Bởi thế, “được nhập tạng” (được đưa vào Đại Tạng Kinh) là tiêu chuẩn tuyệt đối, ngụy kinh làm sao đưa vào Tạng được?

Nói đây là ngụy kinh, không phải là nhục mạ toàn bộ cao tăng đại đức [đă tham gia] thẩm sát hay sao? Đúng là một mẻ lưới bao trùm hết. Giống như cho rằng hiểu Phật pháp chỉ có một ḿnh anh thôi, ngoại trừ anh ra, mắt tổ sư đại đức đều mù hết. Quư vị phải biết tội đó rất nghiêm trọng! Chẳng biết nhân quả đáng sợ; Phật, Bồ Tát tha thứ cho quư vị, nhưng nhân quả chẳng tha đâu! Phật, Bồ Tát từ bi, “tiên nhân vô tri, bất thức đạo đức, vô hữu ngữ giả, thù vô quái dă” (người đời trước không biết, chẳng biết đạo đức, chưa từng nói đến, chẳng có lạ ǵ). Người thực sự có học vấn, có đức hạnh nghe đến những lời đó, trông thấy chuyện như vậy, chỉ cảm thán mà thôi. Đáng tiếc anh chưa được thân cận thiện tri thức chân chánh, không ai dạy cho anh, đúng là tự ḿnh nh́n lầm, chứ người khác không lầm. Chuyện này rốt cuộc ai đúng ai sai, tự có người đời sau phân định, chẳng phải trong đương thời mà lịch sử sẽ phán xét.

Điều thứ hai trong Thất Bồ Đề Phần là: “Tinh tấn, thường cần ư chân chánh, bất thủ vô ích khổ hạnh” (Tinh tấn là thường siêng năng chân chánh, chẳng giữ lấy khổ hạnh vô ích). Cả bảy điều đều dựa trên Huệ Căn, Huệ Lực trong Ngũ Căn, Ngũ Lực, trí huệ hiện tiền; nhưng quư vị phải hiểu Ngũ Căn, Ngũ Lực dựa vào đâu? Dựa vào Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc ở trước đó. Ba mươi bảy Đạo Phẩm có thứ tự, nếu không có khoa trước, chắc chắn chẳng có khoa sau. Nay chúng ta không có năng lực chọn lựa, v́ sao? Không có trí huệ! V́ sao không có trí huệ? Không tu Ngũ Căn, Ngũ Lực. V́ sao chẳng thể tu thành công Ngũ Căn, Ngũ Lực? Đều v́ chẳng dốc sức nơi Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc ở phần trên; chúng là cơ sở của những cơ sở.

Học nhân thời cổ, bất luận tại gia hay xuất gia, gặp được chân thiện tri thức, thầy tốt, đúng là theo thứ lớp dạy dỗ, bồi dưỡng, thành tựu. Trí huệ của quư vị chưa mở mang, thầy giúp đỡ. Đến khi nào chính quư vị đă mở mang trí huệ, sẽ có năng lực quyết định chọn lựa pháp môn. Lúc ấy bèn tinh tấn, siêng năng chân chánh. Trong Tịnh tông, chân chánh là một câu Phật hiệu; chư Phật Như Lai, cổ thánh tiên hiền dạy chúng ta phương pháp này chính là pháp Tŕ Danh Niệm Phật trong bốn cách niệm Phật. Cận đại, Ấn Quang đại sư cực lực đề xướng, hoằng dương, khuyên dạy chúng ta niệm Phật.

Lăo pháp sư Đế Nhàn dạy ông thợ vá nồi đừng khổ hạnh vô ích, phương pháp của Ngài rất hay! Một câu A Di Đà Phật ấy niệm đến khi mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ khỏe rồi lại niệm tiếp, khiến cho thân thể, tinh thần của quư vị chẳng hề có mảy may áp lực nào, nhưng cần phải buông xuống vạn duyên. Ta đến trong thế gian này, chuyện ǵ đă qua bèn cho qua luôn, nhất định không kéo trở lại nữa, sau này ta c̣n có thể sống thêm được mấy năm nữa? Thời gian quư báu hơn bất cứ thứ ǵ khác, phải thực sự giác ngộ! Thân, tâm, thế giới, hết thảy buông xuống hết, bất cứ sự ǵ dù thế gian hay xuất thế gian đều chẳng ăn nhằm ǵ đến ta, ta nhất tâm niệm Phật, sống được một ngày bèn niệm một ngày, nhất định thành công!

Niệm Phật chẳng thể văng sanh là v́ nguyên nhân nào? Vị chỉ dạy đầu tiên hết là Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Nhiếp trọn sáu tâm là gom cái tâm lại. Đó là buông xuống vạn duyên! Thâu hồi con mắt từ nơi Sắc Trần lại, thâu hồi cái tai từ nơi Thanh Trần lại, sáu căn chớ đeo đuổi bên ngoài, thâu hồi lại, nhất tâm chuyên niệm. Đại Thế Chí gọi đó là “nhiếp trọn sáu căn”, tức là như Mạnh tử nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học vấn không có ǵ khác, cốt sao thâu hồi được cái tâm đă phóng dật mà thôi). Đó là học vấn thực sự, thâu hồi sáu căn lại, chẳng phan duyên nơi cảnh giới lục trần là đúng. Đó gọi là “nhất tâm chuyên niệm, nhất hướng chuyên niệm”, chỉ một phương hướng, chỉ một mục tiêu, chẳng xen tạp! “Bất hoài nghi, bất giáp tạp, bất gián đoạn” (không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn) là “tịnh niệm tiếp nối”. Tịnh là không xen tạp, tiếp nối chẳng gián đoạn.

Chín chữ  của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát đă nói có cùng một ư nghĩa với lời dạy của Đại Thế Chí Bồ Tát. Trong tập sách nhỏ Tây Phương Xác Chỉ, Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói: “Bất hoài nghi, bất giáp tạp, bất gián đoạn” (Không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn) rất dễ hiểu! Bí quyết niệm Phật là đây. Nếu thực sự làm được như thế th́ gọi là chân tinh tấn, vạn người tu vạn người văng sanh. Chớ có suy nghĩ bậy bạ! Cả đống nghi vấn! Chúng tôi thường thấy các đồng tu đến hỏi, [than thở bản thân họ] nghiệp chướng sâu nặng, nhưng nghiệp chướng nặng nề là ở chỗ nào? Nghiệp chướng là như thế này đây: Lo lắng, ngờ vực quá nhiều, chẳng thật thà! Tâm không định được! Nếu công phu đắc lực, chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, người ấy tuyệt đối chẳng đến t́m tôi! V́ sao chẳng t́m tôi? Tôi chẳng bằng họ, họ t́m tôi để làm ǵ? Người ta muốn thành Phật ngay lập tức, tôi tụt sau họ, họ t́m những ǵ ở trước chứ t́m đằng sau làm ǵ? Họ nhất định t́m những ǵ cao minh hơn, chẳng thể t́m kẻ kém họ!

Quư vị phải biết giảng kinh không bằng Niệm Phật! Niệm Phật công phu đắc lực đúng như lăo ḥa thượng Đế Nhàn nói (lăo ḥa thượng Đế Nhàn là pháp sư giảng kinh), Ngài thấy người đồ đệ làm thợ vá nồi của ḿnh văng sanh, Ngài cảm thán. Ngài nói ǵ? “Thành tựu của ông cao hơn phương trượng trụ tŕ các tùng lâm trong thiên hạ nhiều lắm, những thiện tri thức hoằng Tông nghiên Giáo (hoằng dương Thiền Tông, nghiên cứu Giáo Hạ) trong thiên hạ, những pháp sư ấy chẳng bằng được ông!” Đúng vậy, nói không sai, kể cả chính bản thân Ngài. Người thợ vá nồi duyên tốt, thực sự làm được! Duyên của pháp sư Đế Nhàn chưa được, Ngài muốn niệm Phật, người ta đến thỉnh giáo, người ta thỉnh ḿnh đi giảng kinh, ḿnh làm cách nào đây? Người thợ vá nồi không ai biết đến, chắc chắn không có ai t́m. Ông ta không biết chữ, đó là duyên thù thắng. Do đây, chúng ta chẳng thể không hiểu rơ: Nổi danh, tiếng tăm lớn có tốt hay chăng? Không tốt đâu!

Lúc càng nổi danh, chướng ngại càng nhiều! Người t́m đến ḿnh nhiều quá, bị người ta t́m th́ bận rộn, khiến cho công phu của ḿnh bị gián đoạn, khiến ḿnh bị xen tạp, công phu chẳng thuần. Dù có văng sanh, phẩm vị cũng không cao. Nếu như quư vị thực sự hiểu được đạo lư này, quư vị có c̣n muốn tranh danh hay chăng? Tranh danh, tranh lợi chỉ khiến cho chính ḿnh chuốc phiền, những điều này đều phải có trí huệ chân thật mới hiểu rơ nổi, không có trí huệ chân thật là không xong! Người thế gian ngỡ danh lợi là tốt, đối với người tu đạo, danh lợi là chướng ngại, đại chướng ngại, chướng ngại quư vị tinh tấn. V́ thế, phương pháp ấy của lăo ḥa thượng Đế Nhàn hết sức đáng tuân thủ.

Trước kia, tôi ở rất nhiều đạo tràng tại Mỹ quốc, tôi đều khuyên mọi người dùng phương pháp sau đây, họ bảo tôi phương pháp này hết sức hay. Cùng tu một chỗ, dẫu cùng tu chung một chỗ vẫn là mỗi người mỗi tu, chỉ có âm thanh niệm Phật, âm điệu thống nhất. Ngoài ra, đều tùy thuộc vào sự thuận tiện cho chính ḿnh. Một Niệm Phật Đường chia thành ba khu vực: Trong đó một bộ phận đối trước tượng Phật lễ Phật, đó là khu vực lễ Phật. Hai bên Phật đường, dựa sát tường là khu vực tịnh tọa. Giữa khu vực tịnh tọa và lễ Phật là khu vực nhiễu Phật. Anh thích nhiễu Phật th́ đi nhiễu Phật theo đường đó. Anh nhiễu Phật mệt rồi, muốn ngồi xuống nghỉ một chút, “chỉ tịnh” nh́n vách, đi đến bên tường anh bèn ngồi xuống. Chỉ có người nhiễu Phật niệm Phật ra tiếng, người tịnh tọa không niệm ra tiếng, chỉ niệm thầm, hoặc niệm theo lối Kim Cang Tŕ: Miệng động, nhưng không vang ra tiếng, dưỡng thần, khôi phục thể lực. Lễ Phật chẳng niệm ra tiếng, nghe âm thanh Phật hiệu, hoặc là cứ một câu Phật hiệu lễ một lạy, hoặc hai câu Phật hiệu lễ một lạy. Lễ Phật nhanh hay chậm miễn sao tiện cho chính ḿnh.

Phương pháp này tốt hơn bất cứ phương pháp nào khác, đúng là già trẻ đều thích hợp. Người già cả thể lực yếu, tốc độ lễ Phật rất chậm, người trẻ tuổi lễ Phật rất mau. Nếu quư vị muốn gơ dẫn khánh, cùng lúc lạy xuống, cùng lúc đứng lên; có lúc người cao tuổi theo không kịp, ắt sanh phiền năo. Bởi vậy, chúng tôi không dùng dẫn khánh, mỗi người tự lễ, hoàn toàn không có áp lực, hoan hỷ! Hết sức thích hợp cho xă hội hiện thời, cốt ư chẳng giữ những khổ hạnh vô ích. Nói thật ra, những khổ hạnh ấy đối với chúng ta vô ích, chúng tôi không dùng.

Hỷ Giác Phần: “Trụ chân pháp hỷ, bất y điên đảo chi pháp nhi hỷ” (Trụ vào chân pháp hỷ, chẳng vui theo pháp điên đảo). Chân pháp hỷ th́ công phu tu học đắc lực, sự hỷ duyệt ấy từ nội tâm lưu xuất; “vui nơi pháp điên đảo” nghĩa là ǵ? Chính là những ǵ khích động bên ngoài! Người thế gian ham thích ngũ dục, lục trần, chỗ vui chơi, dạ hội trong thế gian. Lúc tôi ước chừng hai mươi tuổi, lúc đó vừa mới ra trường, từng ở Thượng Hải bốn tháng. Tối đến, bè bạn thường cùng nhau đi hộp đêm (nighclub) chơi, những hộp đêm đó là những nơi chốn “vui theo pháp điên đảo”. Những nơi ca vũ, những nơi hư kịch đều là “vui do nương theo pháp điên đảo”.

Trụ trong chân pháp hỷ, nương vào giáo huấn của thánh hiền để tu hành; trong tu hành có pháp hỷ, công phu đắc lực có pháp hỷ, đắc định, khai huệ. Nghiên cứu kinh giáo cũng có pháp hỷ, khế nhập cảnh giới, pháp hỷ sung măn. Thánh hiền thế gian đọc sách của thánh hiền thế gian khế nhập cảnh giới, Phu Tử nói cũng chẳng vui ư: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học rồi thường thực hành, cũng chẳng vui ư?). Đó là nương theo chánh pháp mà sanh ḷng hoan hỷ. Hỷ trong Thất Giác Chi chẳng phải là sự vui mừng thông thường, không có nghĩa như vậy. Hỷ lạc như vậy chẳng gọi là Giác Chi, chẳng ăn nhập, chẳng dính dáng ǵ tới Bồ Đề cả. Nhất định phải tương ứng với Giới - Định - Huệ, phải là Pháp Hỷ.

Thứ tư là Trừ Giác Chi, Trừ () là đoạn trừ. “Đoạn trừ chư kiến phiền năo, bất tổn chân chánh thiện căn” (Đoạn trừ các kiến phiền năo, chẳng tổn hoại thiện căn chân chánh), phải hiểu điều này! Vừa đoạn trừ phiền năo vừa chẳng tổn hoại thiện căn chân chánh bằng cách nào đây? Chỗ này quư vị nhất định phải hiểu. Trong kinh luận, đức Phật nói rất nhiều, chúng ta nghe cũng đă quen tai: “Phiền năo tức Bồ Đề”. Quư vị thấy trong Thất Bồ Đề Phần, nếu phiền năo chính là Bồ Đề, phải đoạn trừ phiền năo th́ chẳng phải là Bồ Đề cũng cần phải đoạn ư? Thiện căn bị tổn thất rồi! “Đoạn các kiến phiền năo”, các kiến ở đây là tà kiến, lại c̣n “chẳng tổn thiện căn chân chánh”, nghĩa là sao? Chuyển phiền năo thành Bồ Đề th́ phiền năo không có nữa, phiền năo biến thành Bồ Đề, duyên do là như thế.

Chuyển như thế nào? Ở đây là giác và mê, lúc mê là phiền năo, sau khi giác ngộ là Bồ Đề. Chúng tôi nêu thí dụ dễ hiểu nhất! Dường như trong cuộc đời của mỗi một vị đồng học đều gặp phải người khác hữu ư hay vô ư hủy báng ḿnh, quư vị nghe xong rất tức giận; đó là sanh phiền năo. Người ta hủy báng quư vị, quư vị tiếp nhận. Trong tâm quư vị sanh sân hận, lại c̣n nghĩ cách báo thù, ấy là sanh phiền năo. Nếu quư vị đă giác ngộ, quư vị chẳng thèm để ư. Càng hủy báng nghiêm trọng, quư vị càng niệm A Di Đà Phật, tôi thường nói quư vị phải cảm tạ người đó. V́ sao? Người ta tiêu nghiệp chướng thay cho quư vị! Quư vị thấy đó: Phiền năo chẳng có th́ Bồ Đề bèn sanh khởi! Trong những thí dụ giống như vậy đó, th́ một niệm là giác hay mê; một niệm giác th́ phiền năo bèn chuyển thành Bồ Đề!

Tai nạn nghiêm trọng nhất là như trong kinh Phật đă kể: Nhẫn Nhục tiên nhân gặp phải vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Đó là tai nạn nghiêm trọng nhất, đúng là oan uổng! Nhẫn Nhục tiên nhân chẳng có chút lầm lỗi ǵ, cớ sao vua Ca Lợi lại nổi nóng? V́ sao lại phát sanh sân tâm lớn như thế, xử tử Nhẫn Nhục tiên nhân? Câu chuyện này được chép tường tận trong kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Kim Cang chỉ nhắc tới, chứ không nói kỹ. Vua Ca Lợi dẫn theo rất nhiều đại thần văn vơ và quyến thuộc trong cung đi săn, cũng đáng là chuyện rất cao hứng, rất hưng phấn. Những cung nữ được vua dẫn theo gặp Nhẫn Nhục tiên nhân, trông thấy một vị tu đạo khổ hạnh trong núi, rất hiếu kỳ, bèn hỏi han tiên nhân. Nhẫn Nhục tiên nhân thuyết pháp cho họ, họ nghe pháp hết sức hoan hỷ. Vua Ca Lợi thấy như vậy, đương nhiên [trong số những tùy tùng của vua] cũng có oan gia đối đầu, tâu “gă này giả tu hành, chứ không phải thật tu, đang trêu ghẹo cung nữ”. Vua Ca Lợi nghe xong, hết sức giận dữ, truyền xử tử h́nh, xử tử bằng cách lăng tŕ.

Đây là oan uổng rất lớn, sỉ nhục rất lớn, nhưng Nhẫn Nhục tiên nhân giác chứ không mê, chẳng những không hận vua, tâm không oán hận một chút nào, Nhẫn Nhục Ba La Mật viên măn, chẳng hề có mảy may tâm báo thù, Tŕ Giới Ba La Mật viên măn, lại c̣n cảm tạ vua Ca Lợi, phát nguyện: “Trong tương lai tôi thành Phật, người thứ nhất tôi sẽ độ chính là nhà vua”. Đó chẳng phải là “đoạn các kiến phiền năo, thành tựu Vô Thượng Bồ Đề” ư? Chẳng những [thiện căn] không bị tổn, mà c̣n thành tựu Vô Thượng Bồ Đề! Chúng ta phải nhớ kỹ, nghịch cảnh ác duyên thường gặp phải, khi gặp rồi, quư vị hăy nghĩ Phật, Bồ Tát thị hiện, dạy chúng ta phải xử sự trong nghịch cảnh, đối xử với ác duyên như thế nào, phải học theo trí huệ cao độ của Phật, Bồ Tát, chuyển phiền năo thành Bồ Đề.

Tiếp đến là Xả Giác Chi. “Xả sở kiến niệm trước cảnh, vĩnh bất truy ức” (Bỏ chấp trước vào những cảnh đă trông thấy hay nghĩ đến, vĩnh viễn chẳng nhớ lại). Giữa Xả và Trừ th́: Trừ là đối nội, bên trong ta có sân khuể, báo thù, th́ đó là phiền năo bên trong. Xả là đối với cảnh giới bên ngoài, tức cảnh giới ngũ dục, lục trần bên ngoài thường dụ dỗ, mê hoặc ta, ta trông thấy hay nghe thấy, nhưng chẳng chấp vào tướng. Đối với những cảnh giới ấy, quư vị chẳng chấp tướng, cảnh nào đă qua, vĩnh viễn chớ nên hoài niệm. Cứ mỗi lần quư vị hoài niệm là lại gieo một chủng tử vào A Lại Da Thức, đó là tạo nghiệp! Khẩu không tạo, thân cũng không tạo, nhưng ư tạo nghiệp. Phải thường nhớ rằng: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng); đức Phật giảng chân tướng sự thật như thế. Phàm phu rất khó giác ngộ, rất khó liễu giải. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, đúng là thiên ngôn vạn ngữ, nhưng Ngài chẳng ngừng lập đi lập lại những điều quan trọng nhất, chúng ta nghe đă quen tai, nhưng chẳng thể thọ dụng, hễ cảnh giới hiện tiền bèn mê lập tức. V́ sao biết là mê? Vọng  tưởng, phân biệt, chấp trước sanh khởi, vô dụng!

Các nhà  khoa học  hiện tại  cũng rất  cần cù,  họ dùng  phương pháp

khoa học, dùng cách suy đoán cao sâu của Toán Học để dần dần làm sáng tỏ đôi chút Thật Tướng của các pháp như đă được nói trong kinh Phật. Ví dụ như Phật nói “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Những điều này mọi người nghe quá quen rồi, kinh Kim Cang nói như vậy. Hiện thời, các nhà khoa học phát hiện (cư sĩ Chung Mậu Sâm hồi trước đă từng giảng diễn về chuyện này ở đây) rằng dưới một điều kiện nào đó, thời gian và không gian sẽ bằng zéro. Kinh Đại Thừa thường nói thời gian dài vô lượng kiếp, một sát-na là thời gian ngắn ngủi. Vô lượng kiếp có thể rút ngắn thành một sát-na, một sát-na có thể triển khai thành vô lượng kiếp. Thời gian không c̣n nữa!

Cơi Phật ở phương khác khoảng cách xa xôi, như kinh Di Đà đă nói: Sa Bà cách Cực Lạc mười vạn ức cơi Phật. Trong cảnh giới nào đó, chúng ta ngồi ở đây, A Di Đà Phật ở đâu? Ở ngay trước mặt chúng ta. A Di Đà Phật không đến, ta cũng không đi, nhưng ở ngay trước mặt nhau, vậy là xa - gần không c̣n nữa, không gian không c̣n nữa. Hiện tại, do suy luận Toán Học, các khoa học gia thấy dưới một điều kiện nào đó, không có không gian, không có xa - gần, không có quá khứ, hiện tại, vị lai, không có thời gian. Kinh Phật nói như vậy, khoa học gia gật đầu: “Tin tưởng được!” Nói đến khởi nguyên của vũ trụ là như thế nào, các nhà khoa học cũng dần dần phát hiện giống như kinh Phật dạy: “Nhất thời đốn hiện, sát-na chẳng trụ”. Dần dần khoa học cũng chứng minh được những chuyện này.

Dẫu họ chứng minh được, chứng minh trên mặt lư luận th́ không có vấn đề ǵ: “Có khả năng có những chuyện như vậy!”, nhưng họ chẳng thể khế nhập cảnh giới ấy. Những cảnh giới kinh luận dạy cho chúng ta biết đều thuộc về định lực rất sâu. Định lực rất sâu làm cho vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta đều bị đoạn trừ hết, chân tướng của vũ trụ hiển hiện rơ ràng. Trong kinh điển Đại Thừa, đức Phật thường gọi chân tướng sự thật là “cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn”. Sự giải thoát ấy là đại tự tại, đại tự tại chẳng thể nghĩ bàn, chẳng có xa - gần, chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng có sanh - diệt; tức là “bất sanh, bất diệt, bất khứ, bất lai, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị” (không sanh, không diệt, không đến, không đi, không thường, không đoạn, không một, không khác); Trung Quán Luận gọi là “bát bất”. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn là cảnh giới của Pháp Thân Bồ Tát, là cảnh giới Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới và mười pháp giới là một, chứ không phải hai, lạ lùng lắm! Một niệm giác th́ thế giới này đúng là Nhất Chân pháp giới; một niệm mê, thế giới này là ngũ trược ác thế. Thế giới không có giác hay mê, giác hay mê, nhiễm hay tịnh là do chính ḿnh.

Bởi vậy, như chúng tôi thường nói Xả là buông xuống, buông xuống vạn duyên, buông thân tâm thế giới xuống, quan trọng nhất là buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. V́ sao? Cảnh giới bên ngoài không chướng ngại, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại. Chướng ngại là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước phát sanh. Do đây biết rằng: Chướng ngại chẳng do cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên ngoài không chướng ngại. Phàm phu chúng ta lầm lạc, cứ tưởng chướng ngại ở bên ngoài; đức Phật dạy chúng ta cảnh giới bên ngoài không gây chướng ngại.

Thứ sáu là Định Giác Phần: “Ư chư Thiền Định cảnh giới, bất sanh ái kiến vọng tưởng” (Trong các cảnh giới Thiền Định, chẳng sanh ái kiến vọng tưởng). Câu sau hết sức quan trọng. Cảnh giới Thiền Định hết sức khoái lạc, Thiền Duyệt làm thức ăn mà! Bởi thế, lắm người đắc Thiền Định chẳng thể nâng công phu lên một mức cao hơn là v́ tham đắm cảnh giới Thiền Định. Tứ Thiền Bát Định là như vậy, họ chẳng thể ra khỏi luân hồi, đắm say mùi vị Thiền Định, vị ấy là pháp vị. Chấp vào đó, chấp không chịu bỏ, trong Phật pháp thường gọi là “chấp tướng”. Do chấp tướng nên sanh khởi tham ái. Tham ái vẫn là vọng tưởng. Bởi thế, phải đặc biệt cảnh tỉnh chính ḿnh: Quư vị có trí huệ cao độ th́ trong bất luận cảnh giới Thiền Định nào, quư vị cũng có thể hưởng thụ, nhưng chớ nên chấp trước; vậy mới là đúng, chẳng nẩy sanh một chút tác dụng phụ nào. Cảnh giới hiện tiền của chúng ta cũng như vậy, chúng ta có thể hưởng thụ cảnh giới ấy, nhưng chớ nên chấp trước. Nếu quư vị sanh khởi phân biệt, chấp trước, th́ là lầm mất rồi, rắc rối xảy ra liền.

Cuối cùng là Niệm Giác Chi. Niệm Giác Chi là “Định Huệ cân bằng”. Nếu Định vượt quá Huệ bèn hôn trầm; Huệ vượt quá Định bèn lao chao. Lao chao là trong tâm vọng niệm tơi bời. Có hiện tượng vọng niệm tơi bời là Huệ nhiều Định ít. Hôn trầm là Định nhiều, Huệ ít. V́ thế phải luôn giữ cho Định Huệ quân b́nh, đều là thuộc về trí huệ. A! Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

 

Chư vị đồng học!

Phần trên chúng tôi đă giới thiệu Thất Bồ  Đề  Phần; b́nh  thường dụng công tu học bất cứ một pháp môn nào th́ Thất Bồ Đề Phần luôn là nguyên lư nguyên tắc. Trong cuộc sống thường nhật, xử sự, đăi người, tiếp vật, quan trọng là phải biết sử dụng [những nguyên tắc đó], biết tu luyện trong sinh hoạt thường nhật, dùng sự việc để luyện tâm! Nói thật ra, trong năm mươi ba lần tham học, Thiện Tài đồng tử đă thực hiện công phu ấy rất thuần thục, chúng ta cũng phải học tập điều này.

Đoạn cuối cùng, “Bát Thánh Đạo phần”. “Bát Thánh Đạo, hựu danh Bát Chánh Đạo, tu học thành tựu, chánh trí hiện tiền, giác bất mê dă” (Bát Thánh Đạo, c̣n gọi là Bát Chánh Đạo, tu học thành tựu, chánh trí hiện tiền, giác chứ không mê). Bất luận tu học pháp môn nào, quư vị nhất định phải dựa vào Căn và Lực; để có thể điều tiết thân tâm qua việc tu tập trong cuộc sống hằng ngày th́ nhất định phải có Thất Bồ Đề phần; chúng giúp quư vị biến chuyển cảnh giới, thành tựu công phu chân thật. Bát Chánh Đạo là “chánh trí hiện tiền”, quư vị mới có thể thực sự đạt đến “giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm”. Trong Giác - Chánh - Tịnh, hễ đạt được một điều th́ hai điều kia đều đồng thời đạt được. Người giác chứ không mê nhất định chẳng tà tri tà kiến, nhất định chánh chứ không tà, tâm địa nhất định thanh tịnh, tịnh chứ không nhiễm. Nếu tâm địa người ấy nhiễm ô là không giác, nếu kiến giải bất chánh th́ người ấy cũng không giác. V́ thế một mà ba, ba nhưng một, đạt được một điều bèn đạt được hết.

Trước hết, chúng ta xem điều thứ nhất trong Bát Chánh Đạo: “Chánh Kiến: Tu vô lậu hạnh quán, kiến Tứ Đế phân minh” (Chánh Kiến: Tu vô lậu hạnh quán, thấy Tứ Đế phân minh). Lậu () là tên gọi khác của phiền năo. Thế nào là Vô Lậu? Nói đơn giản nhất, dễ hiểu nhất th́ Lậu là tên gọi khác của phiền năo. Kinh Hoa Nghiêm nói: Trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ chấp trước là Kiến Tư phiền năo, phân biệt là Trần Sa phiền năo, vọng tưởng là Vô Minh phiền năo. Như vậy, nếu nói theo kinh Hoa Nghiêm th́ mọi người sẽ dễ hiểu: Lậu là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vô Lậu là không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Quư vị quan sát vũ trụ, nhân sinh, hết thảy sự, hết thảy người, hết thảy vật trong cuộc sống thường nhật trọn chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đó là “tu Vô Lậu Quán”.

Kiến giải chính xác, chánh tri chánh kiến, quư vị “thấy Tứ Đế phân minh”. Tứ Đế là hai thứ nhân quả. “Khổ, Tập” là nhân quả thế gian; “Diệt, Đạo” là nhân quả xuất thế gian. Chúng tôi thường nói: Tánh - tướng, sự - lư, nhân - quả trong vũ trụ rơ ràng, rành mạch, phân minh; đó là Chánh Kiến. Nói theo cách của người hiện thời th́ là “có Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan chính xác”. Nói đúng ra, người thế gian không hề có Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan chân chánh. V́ sao không có? V́ bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xen tạp vào đó, chẳng thấy rơ rệt chân tướng. Đức Phật đúng là tuyệt diệu! Đức Phật dạy chúng ta trừ bỏ chướng ngại, quan sát chính xác th́ mới thực sự thấy được chân tướng. Đó là Chánh Kiến.

Thứ hai là Chánh Tư, c̣n gọi là Chánh Tư Duy. “Bát Nhă vô tri, vô sở bất tri, thị Tư” (Bát Nhă vô tri nhưng không ǵ chẳng biết, là Tư). Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư giảng là “dĩ vô lậu tâm tương ứng tư duy, động phát giác tri trù lượng, vị linh tăng trưởng nhập đại Niết Bàn” (dùng sự tư duy tương ứng với tâm vô lậu để khởi lên sự nhận biết, tính toán, ngơ hầu tăng trưởng, nhập đại Niết Bàn). Đó là Chánh Tư Duy. Chúng tôi giải thích đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, nhưng không trái nghịch ư nghĩa. Tôi dùng kinh Bát Nhă để nói: “Bát Nhă vô tri”. Vô Tri là Căn Bản Trí, Vô Tri là Thiền Định rất sâu, chứ không phải là chẳng biết ǵ cả, nó biết chứ! Nhưng nó không khởi tác dụng, tác dụng ấy là Tự Thọ Dụng, chưa phải là Tha Thọ Dụng. Hiểu rơ hết thảy nhưng lại như như bất động, trong kinh Đại Thừa chúng ta thường đọc thấy: “Tịch mà thường chiếu, chiếu nhưng thường tịch”. Bát Nhă vô tri là như vậy đấy.

Tịch là một niệm chẳng sanh, Chiếu là rành rẽ, rơ rệt, minh bạch, tỏ tường. Giống như ǵ? Giống như nước, gió im, sóng lặng, nước thanh tịnh, chẳng ô nhiễm mảy may, giống hệt như một tấm gương, thường chiếu, thường tịch! Nước chẳng lay động một chút nào, chúng ta nghĩ xem trong cảnh giới ấy, nước giống như ǵ? Như tâm! Lúc tâm tịch tĩnh bất động bèn chiếu, chẳng phải là không chiếu, tự nhiên chiếu, chẳng phải hữu ư chiếu, cũng chẳng phải vô ư, hữu ư lẫn vô ư đều không có, nó vốn sẵn là như vậy. Bởi thế, trong Phật pháp thường nói: “Pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như thế). “Pháp nhĩ như thị” nghĩa là tự nhiên, vốn sẵn là như thế. Một tấm gương chiếu rất rơ ràng, rành rẽ, cảnh giới ấy thuộc về quả địa của chư Phật Như Lai.

Chẳng những Phật đă nhập cảnh giới ấy, chúng tôi nói mọi hàng Bồ Tát Tịch Diệt Nhẫn cũng đều nhập cảnh giới ấy. Tịch Diệt Nhẫn là Pháp Vân Địa Bồ Tát, những Đẳng Giác Bồ Tát đều thuộc cảnh giới ấy, cao hơn cảnh giới Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nếu đem Vô Sanh Pháp Nhẫn so với Tịch Diệt Nhẫn th́ Tịch Diệt Nhẫn giống như nước hoàn toàn lặng yên, chẳng động chút nào; c̣n Vô Sanh Pháp Nhẫn vẫn c̣n một chút lăn tăn. Quư vị phải rất chú tâm mới có thể nhận biết; nếu không chú tâm th́ về căn bản quư vị chẳng biết tâm ḿnh đang động. Dù sóng gợn rất nhẹ, vẫn có thể chiếu được cảnh giới bên ngoài rất rơ ràng. Chúng ta thấy mặt hồ lặng yên khi im gió, mặt hồ phản chiếu bóng núi soi ngược xuống, cảnh ấy hết sức đẹp. Nếu quư vị nh́n kỹ vẫn thấy mặt hồ gợn sóng lăn tăn, dẫu chẳng phải là sóng lớn, nhưng chưa phải là hoàn toàn b́nh lặng, điều đó giống như cảnh giới của Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát. Cảnh giới Tịch Diệt Nhẫn dẫu chỉ một tí sóng gợn cũng không có. Bát Nhă vô tri giống như thế đó, “không ǵ chẳng biết” là khởi tác dụng. Quư vị đồng học nhất định phải hiểu: Đối với chư Phật, Bồ Tát, đừng nói đến những Bồ Tát nào khác, hễ là Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát th́ phải là từ Thất Địa Bồ Tát trở lên.

Tịch Diệt Nhẫn của Phật, Bồ Tát đúng là trọn pháp giới khắp hư không giới, hễ nơi nào có chúng sanh Cảm (tức là có duyên, có cảm đối với Phật, Bồ Tát), Phật, Bồ Tát lập tức hiện thân thuyết pháp ở nơi đó. Hiện thân là Ứng Hóa Thân. Đáng dùng thân nào để [người nghe pháp đắc] độ, bèn hiện thân đó, tuyệt đối chẳng nghĩ ta phải hiện thân nào! Không hề có ư tưởng như vậy, hoàn toàn tự nhiên! Nếu quư vị phải nghĩ “ta muốn hiện thân nào?” th́ quư vị là phàm phu, chẳng phải là Bồ Tát. Chúng ta nghĩ không ra [cảnh giới siêu việt ấy] nên nói là “chẳng thể nghĩ bàn”. Hiện thân hữu t́nh, hiện thân vô t́nh. Ba mươi hai ứng thân của Quán Thế Âm Bồ Tát thực sự chẳng hề khởi tâm, chẳng hề động niệm, tức là Ngài vĩnh viễn trụ trong cảnh giới tịch tĩnh.

Ngài đến ứng hóa bên chúng ta, Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này thị hiện tám tướng thành đạo, Ngài có thực sự động niệm hay chăng? Không hề có! Nếu Ngài thực sự động niệm là bị thoái chuyển mất rồi, thoái chuyển với một mức độ rất lớn. Thực sự chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, Ngài vĩnh viễn trụ trong Tịch Diệt Nhẫn, trong thanh tịnh tịch diệt, tự nhiên hiện thân. Hiện thân, khởi tác dụng là “không ǵ chẳng biết”. “Không ǵ chẳng biết” do đâu mà có? Không đâu chẳng biết là do “vô tri” mà có. Bởi đâu đức Phật có trí huệ lớn lao đến như thế? Bất luận ai, bất luận nghi nan tạp chứng cỡ nào, cứ đến thỉnh giáo đức Phật, đức Phật lập tức giải đáp, chưa hề nghĩ ngợi ǵ, không hề có! Hễ quư vị hỏi là đức Phật lập tức đáp ngay; tại sao vậy? Tịch Diệt Nhẫn giống như chúng tôi vừa mới nói: Nước hồ b́nh tịnh, không có chút sóng gợn nào, chiếu rất rơ ràng. Nếu quư vị hỏi Phật, Phật có biết chăng? Đương nhiên biết rất rơ!

      C̣n quư vị v́ sao không rơ? V́ tâm quư vị chẳng thanh tịnh! Chúng sanh và Phật có cùng một tâm, nhưng tâm Phật thanh tịnh chẳng khởi sóng ṃi, tâm chúng sanh nổi ba đào vô minh. Ba đào không nhỏ đâu, bốn mươi mốt phẩm vô minh chẳng phải là ba đào nhỏ nhặt, “phân biệt” là sóng gió lớn, “chấp trước” là ba đào đáng kinh hăi. Quư vị thấy chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thật phiền quá! Do vậy, cái ǵ cũng chẳng rơ, Phật, Bồ Tát có đến dạy ta, ta nghe cũng chẳng hiểu rơ. Các Ngài v́ ta thị hiện, chúng ta cũng chẳng thấy rơ. V́ nguyên nhân nào? Tâm thủy của ta ba đào cuồn cuộn, sóng to, gió lớn. Gió là ǵ? Là gió cảnh giới thổi động, chẳng kháng cự được sự dẫn dụ, mê hoặc của cảnh giới bên ngoài. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng lập tức khởi tâm động niệm, một chút công phu định lực cũng chẳng có. Không có công phu định lực th́ một tí trí huệ cũng chẳng thể có!

      Huệ do đâu mà có? Huệ từ Định mà có, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lư này. Bởi thế, đức Phật có Chánh Tư Duy, Pháp Thân Bồ Tát có Chánh Tư Duy, minh tâm kiến tánh. Các Ngài có Chánh Tư Duy, nghĩa là các Ngài suy nghĩ đúng đắn, như phần trên đă nói đến Chánh Kiến (kiến giải đúng đắn), tư duy như vậy là chánh tri. Trong nhà Phật thường nói “chánh tri chánh kiến”, chánh tri là Chánh Tư Duy, chánh kiến chính là Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo. Cách nghĩ, cách nh́n của quư vị không sai lầm, hoàn toàn là trí huệ. Tôi nói như vậy chắc quư vị dễ hiểu.

Thứ ba là Chánh Ngữ: “Trừ tứ tà mạng, nhiếp chư khẩu nghiệp, danh Chánh Ngữ” (Trừ bốn thứ tà mạng, nhiếp các khẩu nghiệp gọi là Chánh Ngữ). Thế nào là bốn thứ Tà Mạng? Trong Chú Giải có giải thích, trong Phật Học Đại Từ Điển và Giáo Thừa Pháp Số cũng có nói. Bốn thứ này quá nửa nói về người xuất gia, nhưng hiện thời kẻ tại gia cũng phạm bốn bệnh này.

1) Thứ nhất là Phương Khẩu Thực (方口食):

Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thích bợ đỡ kẻ quyền quư, giống như thời cổ gọi là “thuyết khách”, du thuyết tứ phương để hưởng danh văn, lợi dưỡng. Ở đây, phải đặc biệt chú ư một điều: V́ làm lợi cho chính ḿnh, v́ đạt danh văn, lợi dưỡng cho chính ḿnh. Mục đích là như vậy! Từ đây mà khởi tâm th́ gọi là Tà Mạng. Nếu chánh tri chánh kiến, tuyệt đối chẳng v́ bản thân ḿnh, mà v́ an toàn xă hội, nhằm lợi ích cho chúng sanh, th́ lại là cứu khổ cứu nạn, đại từ đại bi. Đó là Chánh Ngữ.

Phương Khẩu Thực như trong thời cổ có Tô Tần, Trương Nghi, bọn họ hoàn toàn v́ bản thân, v́ công danh phú quư của bản thân, nên du thuyết nơi các chư hầu [của nhà Châu], nơi quư nhân hiển đạt, mưu cầu địa vị cao sang bất ngờ, chẳng phải v́ quốc gia, dân tộc, chẳng v́ lợi ích của chúng sanh, mà v́ lợi ích cá nhân. V́ thế, họ chẳng phải là thánh nhân, mà là phàm phu. Đó là một loại. Chúng ta phải hiểu (chỉ sợ quư vị hiểu lầm): Nếu người ta thực sự cần quư vị, nếu quư vị quả thật có trí huệ, có duyên phận, v́ an toàn xă hội, v́ lợi ích của chúng sanh mà có thể làm chút việc ǵ đó, nhưng quư vị không làm th́ trật mất rồi! Bởi vậy, ở đây một đằng là v́ bản thân, một đằng là v́ người khác. V́ người khác là Chánh Ngữ; v́ bản thân th́ là Tà Mạng.

2) Loại thứ hai là Duy Khẩu Thực (維口食):

Thật ra chữ Thực ở đây nếu nói như bây giờ th́ chính là “cách kiếm sống”. Duy Khẩu Thực là dùng chú thuật, xủ quẻ, đoán mạng, xem tướng, xem Phong Thủy. Dùng những phương cách kiếm sống ấy để được chúng sanh cung phụng th́ gọi là Duy Khẩu Thực.

3) Loại thứ ba là Ngưỡng Khẩu Thực (仰口食):

Ngưỡng Khẩu Thực bây giờ gọi là “dự ngôn”. Ngửa trông tinh tú tiên đoán tốt - xấu, họa - phước, cũng nhằm để được người ta cung phụng, nuôi nấng. Từ xưa đến nay, xưa nay trong ngoài nước đều có [những hạng người này]. Nói chung, chúng sanh đều mong “xu cát tỵ hung” (hướng lành, tránh dữ); bởi thế, đối với những dự ngôn cũng rất quan tâm, xem trọng. Trước mỗi năm đầu tiên của một thế kỷ, xưa nay trong nước ngoài nước luôn có những dự ngôn tiên đoán lúc đó ắt có tai nạn lớn, thậm chí những kinh điển viết về ngày tận thế: Vào những lúc ấy có rất nhiều tai nạn xảy ra! Những kiểu như vậy thuộc loại Ngưỡng Khẩu Thực.

4) Loại thứ tư là Hạ Khẩu Thực (下口食):

Hạ Khẩu Thực là tự ḿnh trồng trọt. Đức Phật quy định đệ tử xuất gia phải khất thực, tự ḿnh chẳng gieo trồng. V́ sao? Gieo trồng ắt có thâu hoạch, ắt có sản phẩm, dễ khởi tâm tham. Phật chế định phương thức như vậy đều nhằm đoạn trừ tham - sân - si - mạn. Mỗi ngày đi khất thực, người ta cho ǵ ăn nấy, chẳng có tâm tham, chẳng có phân biệt, kiêu căng, ngạo mạn chắc chắn không khởi lên được. Tự ḿnh trồng trọt sản xuất, ta có thâu hoạch, khởi tâm tham, khởi ngạo mạn: “Năm nay ta trúng mùa nhiều, các ngươi coi ta thâu hoạch hơn bọn ngươi nhiều lắm” nên dẫn khởi phiền năo. Đức Phật chẳng hứa khả, chỉ chấp nhận cho ta khất thực, những phương thức sanh sống khác đức Phật đều không cho. Đó là bốn thứ Tà Mạng.

V́ những phương thức sanh sống này đều liên quan đến khẩu nghiệp, chúng ta gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), hoa ngôn xảo ngữ, trong ấy chẳng thể tránh khỏi vọng ngữ, lưỡng thiệt (nói đôi chiều). Ỷ ngữ nhằm đánh động tâm người khác, hy vọng người khác cung phụng, châu cấp, đó đều là Tà Mạng, đều là sai trái. Do đây, chúng ta cũng thấy được chỗ dụng tâm của đức Thế Tôn nhằm làm cho chúng ta chẳng khởi phiền năo, thường sanh chánh niệm. “Nhiếp các khẩu nghiệp”: Khẩu nghiệp là vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, ác khẩu, quyết định chẳng có, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ỷ ngữ, không ác khẩu. Đó là Chánh Ngữ.

Thứ tư là Chánh Nghiệp: “Trừ thân nhất thiết tà nghiệp” (Trừ hết thảy tà nghiệp nơi thân). Nghiệp là tạo tác, chính đang trong lúc tạo tác th́ gọi là Sự. Quư vị làm chuyện ǵ, đang trong lúc tạo tác th́ gọi là Sự, làm xong việc th́ kết quả của nó gọi là Nghiệp. Bởi thế, người thế gian thường nói gom lại là “sự nghiệp”. Sự là đang trong lúc tạo tác, Nghiệp là kết quả của tạo tác. Hết thảy những nghiệp nào trái nghịch trí huệ chân thật th́ những nghiệp đó chẳng phải là Chánh Nghiệp. Nói cách khác cho mọi người dễ hiểu hơn: Quư vị theo đuổi một sự nghiệp nào, kể cả việc học Phật, tu hành, nếu trong đó xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ những nghiệp ấy đều là tà nghiệp, chẳng phải là Chánh Nghiệp! Chánh Nghiệp chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ mới là Chánh Nghiệp.

Nói “trụ thanh tịnh chánh thân nghiệp” cũng là nói quư vị theo đuổi bất cứ việc ǵ, hạnh nghiệp tốt đẹp đến đâu th́ dù là xuất gia hay tại gia đều như nhau, quư vị nhất định phải tương ứng với chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi th́ mới là Chánh Nghiệp! Chẳng tương ứng với những điều trên th́ là tà nghiệp. Hàng xuất gia giảng kinh, thuyết pháp, mục đích giảng kinh thuyết pháp là ǵ? Mục đích nhằm nâng cao danh tiếng, hy vọng mọi người tôn kính ḿnh, hy vọng mọi người cúng dường ḿnh, đó là tà nghiệp, chẳng phải chánh nghiệp. Giảng kinh thuyết pháp nhằm tiếp nối huệ mạng của Phật, v́ hoằng pháp lợi sanh, v́ giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh, chuyển ác thành lành, tuyệt đối chẳng có xen tạp mảy may lợi ích cho bản thân vào đó, đấy là Chánh Nghiệp. Nói cách khác, có chút xíu vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nào xen tạp vào đó th́ Chánh Nghiệp biến thành tà nghiệp, chánh - tà do đây mà phân định!

Thứ năm là Chánh Mạng: “Trừ tam nghiệp trung ngũ chủng tà mạng, trụ thanh tịnh chánh mạng” (Trừ khử năm thứ tà mạng nơi tam nghiệp, trụ trong chánh mạng thanh tịnh). Mạng ở đây là sanh mạng, phàm phu đều hy vọng sống lâu hơn một chút, mạng tốt hơn một chút. Ở trên, trong phần Ngữ Nghiệp (tức phần Chánh Ngữ) đă nói đến bốn thứ Tà Mạng là những phương thức sanh sống; năm thứ Tà Mạng nói ở đây rất gần với bốn thứ Tà Mạng ấy, nhưng vẫn có sai biệt. Chánh Mạng không chỉ có nghĩa là sống đúng lư, mà chữ Chánh trong Bát Chánh Đạo có nghĩa là “vô lậu huệ, nương vào trí huệ chân thật”. Trong trí huệ chẳng xen  tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́  gọi là Vô Lậu Huệ,

nói như vậy th́ quư vị dễ hiểu hơn.

Trong trí huệ xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, hoặc nói dễ hiểu hơn nữa là trí huệ xen tạp tự tư tự lợi, xen tạp ḷng mong cầu danh văn, lợi dưỡng cá nhân, xen tạp tham - sân - si - mạn th́ hết thảy đều bất chánh, đều biến thành tà. Không xen tạp, trọn chẳng xen tạp tự tư tự lợi, trọn chẳng xen tạp danh văn, lợi dưỡng, trọn chẳng xen tạp tham - sân - si - mạn th́ là trí huệ chân chánh, hết thảy đều chánh. Trong ba nghiệp thân - khẩu - ư, bốn thứ Tà Mạng nói ở trên toàn là khẩu nghiệp; ở đây bao gồm cả thân và ư, phạm vi của năm thứ Tà Mạng này càng lớn hơn nữa.

Loại Tà Mạng thứ nhất là “trá hiện dị tướng kỳ đặc” (dối hiện tướng tướng lạ đặc biệt), tâm thuật bất chánh, cố ư làm ra vẻ khác người, thời cổ cũng có! Tu khổ hạnh: Khổ hạnh là điều được tôn giáo Ấn Độ cổ xưa kính ngưỡng, Phật pháp cũng hết sức tôn trọng. Tu hành khổ hạnh nhằm mục đích ǵ? Mục đích nhằm làm cho người khác nẩy sanh ḷng tin, sanh tâm cung kính, cúng dường ḿnh, mục đích là như vậy. Tâm thuật bất chánh, như tôi vừa mới nói “xen tạp danh văn, lợi dưỡng, xen tạp tự tư tự lợi”. Do chẳng có đức hạnh chân chánh nên dùng những phương pháp ấy. Đó là loại thứ nhất.

Thứ hai là tự ḿnh khen công đức của chính ḿnh, “vị lợi dưỡng, tự thuyết công đức” (v́ lợi dưỡng nên tự nói công đức của ḿnh). Mục đích nhằm dẫn dụ người khác, vẫn là mong cầu danh văn, lợi dưỡng cho chính ḿnh, v́ danh văn, lợi dưỡng nên tự khoe công đức.

Thứ ba là “chiêm tướng cát hung” (xem tướng tốt xấu), v́ người khác thuyết pháp, nhưng trong khi thuyết pháp lại xen tạp bói toán, xem tướng, đoán mạng, xem Phong Thủy, dạy người ta xu cát tỵ hung (hướng lành, tránh dữ) như thế nào, mục đích đều là v́ tham lam, tham cầu lợi dưỡng.

Thứ tư là “cao thanh hiện oai, linh nhân úy kính” (lớn tiếng ra oai khiến cho người ta nể sợ). Dùng đủ mọi phương pháp đều nhằm cùng một mục đích: Tự ḿnh không có oai đức bèn dùng những phương thức khác [để ra oai], với hy vọng thỏa dục vọng, thỏa tư lợi của chính ḿnh.

Thứ năm là “thuyết sở đắc cúng dường” (khoe những thứ ḿnh được cúng dường), nói người này cúng dường bao nhiêu, người nọ cúng dường bao nhiêu, cốt ư dụ dỗ người khác làm theo. Những kiểu như vậy chắc chắn không thể chấp nhận được!

Năm thứ này, đức Phật đều gọi là dùng những ư niệm thiếu chánh đáng để  đoạt lấy danh văn,  lợi dưỡng’ nhờ vào đó  để nuôi thân nên gọi

là năm thứ Tà Mạng. Phật pháp nhất định không chấp nhận!

“Thanh tịnh chánh mạng”, câu này nghĩa là sao? Người học Phật, bất luận xuất gia hay tại gia, nhất định phải tuân thủ sự giáo huấn của đức Phật. Đối với của cải, đức Phật đă nói rất rơ, bất luận tại gia hay xuất gia, bố thí là chánh nhân của giàu có. Quư vị chịu tu bố thí th́ làm sao cuộc sống vật chất của quư vị thiếu hụt cho được? Hết thảy cúng dường bố thí chẳng cầu mà tự nhiên có, v́ nguyên nhân nào? Do ḿnh thường tu bố thí cúng dường. Tín đồ cúng dường bố thí nhiều quá, chính ḿnh chẳng dùng hết, liền đem bố thí cho người khác, thay họ tu phước, phước của ḿnh cũng nằm trong đó. Quư vị thấy đó: Người ta cúng dường ḿnh, ḿnh đem cúng dường bố thí lại cho người khác, ḿnh có phước, người ta cũng có phước, ḿnh lẫn người đều có phước. Nếu ḿnh chẳng chịu bố thí, muốn tham cầu hưởng thụ, tự ḿnh chẳng có phước báo ǵ, người cúng dường ḿnh cũng chẳng được phước. Không gieo được phước th́ sao? Nhà Phật thường nói: “Kim sanh bất liễu đạo; phi mao đới giác hoàn” (Đời này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền), tương lai vẫn phải trả nợ. Người ta bố thí cúng dường quư vị bao nhiêu, tương lai quư vị phải trả lại bấy nhiêu, lại c̣n phải trả thêm tiền lời, phiền phức lắm!

V́ thế, người có trí huệ không tích cóp, hễ thấy trong thế gian chỗ nào cần thiết bèn nhanh chóng bố thí. Kinh luận thường nói bố thí cúng dường phước vô biên! Tà mạng đều là mê hoặc điên đảo, thiếu trí huệ, tâm tự tư tự lợi quá nặng. Tâm hạnh ấy là tạo nghiệp, có phước ở chỗ nào? Dùng những thủ đoạn dối trá để đối phó người khác, lầm lẫn quá lớn.

Thứ sáu, Chánh Tinh Tấn: “Cần hành tinh tấn, tu Niết Bàn đạo” (Siêng hành tinh tấn, tu đạo Niết Bàn). Do vậy, mọi thứ đều nương theo trí huệ chân thật. Nay Chánh Tinh Tấn của chúng ta là ǵ? Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ! Cầu sanh Tịnh Độ là đạo Đại Niết Bàn. Trong một đời này, chúng ta nhất định phải thực hiện viên măn, có thành tựu được hay không toàn là do quư vị có tinh tấn hay không? Nếu quư vị vẫn biếng nhác, vẫn buông lung, tinh thần ư chí chẳng thể tập trung th́ rất khó nói. Đời này quư vị kết thiện duyên cùng A Di Đà Phật, nhưng đời này chưa về được. V́ sao? Chẳng phù hợp điều kiện thành cư dân Tây Phương Cực Lạc thế giới, đơn giản vậy thôi! Quư vị chẳng đạt yêu cầu, yêu cầu quan trọng nhất là “tâm tịnh th́ cơi nước tịnh”, tâm quư vị chẳng thanh tịnh!

V́ sao tâm chẳng thanh tịnh? V́ xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp

trước. Điều này thực sự là quan trọng nhất, vọng niệm quá nhiều. Bởi thế, chúng tôi thường hay nói: “Chúng ta không bằng những bà cụ già, không bằng những kẻ ngu si, cái ǵ họ cũng không hiểu, chữ cũng không biết luôn, nhưng họ có đức hạnh thực sự. Đức hạnh của họ là ǵ? Họ không ngạo mạn, luôn khiêm tốn nhún nhường, trong hết thảy lúc, hết thảy chỗ chẳng dám đứng trước người khác. Khiêm nhường! Đó là đức hạnh. Chất phác là đức hạnh của họ, họ không mong mỏi điều ǵ xa xỉ, không có bất cứ mong cầu ǵ, chất phác, thật thà niệm Phật. Vọng tưởng ǵ cũng chẳng sanh, đều buông xuống hết, niệm mấy năm bèn thành công”. Chúng ta cậy ḿnh thông minh, tự cho ḿnh là phi phàm nên chẳng thể văng sanh. Chúng ta coi những người ấy không ra ǵ, chẳng thèm để vào mắt, nhưng họ thành Phật rồi, bọn họ chánh tinh tấn! C̣n bọn chúng ta loạn tấn, tạp tấn, cái ǵ cũng muốn học, chuyện ǵ cũng không buông xuống được, tệ hại là v́ vậy!

“Chánh Niệm: Niệm chánh đạo cập trợ đạo pháp” (Chánh Niệm: Niệm pháp chánh đạo và trợ đạo). Trong pháp môn này, Chánh Đạo là ǵ? “Phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm” là chánh đạo! Trợ đạo là ǵ? Đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, tích công chứa đức, hồi hướng Tịnh Độ. Chúng ta tu Ngũ Giới, tu Thập Thiện, tu Lục Độ, tu Tứ Nhiếp, tu ba mươi bảy Đạo Phẩm đều gọi là pháp Trợ Đạo. [Những ǵ] giúp chúng ta dứt tập khí, đoạn phiền năo, giúp chúng ta kiên định tín nguyện, giúp chúng ta nhất tâm tinh tấn th́ là pháp trợ đạo. Đó là Chánh Niệm.

Cuối cùng là Chánh Định: “Dĩ vô lậu huệ tương ứng nhập Định” (Dùng vô lậu huệ tương ứng để nhập Định). Tâm phải định, kinh Di Đà nói “nhất tâm bất loạn” chính là Chánh Định; “tâm chẳng điên đảo” là Chánh Huệ. Nhất tâm bất loạn là đă khuất phục được phiền năo của chính ḿnh (chúng tôi không nói “diệt” hay “đoạn phiền năo” v́ công phu ấy rất sâu, chúng ta chưa thể làm được). Một câu A Di Đà Phật niệm cho khéo, tín tâm, nguyện tâm, tâm niệm Phật khiến cho tất cả phiền năo tập khí, tức là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều bị khuất phục, đè nén được chúng, chẳng cho chúng khởi hiện hành, đó là bước đầu của Niệm Phật tam-muội, chúng ta thường gọi là “công phu thành phiến”. Công phu thành phiến là như thế nào? Là như thế này đây: Phiền năo tập khí chưa đoạn, nhưng chẳng thể hiện hành.

Sáu căn của chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu trần bên ngoài, nhưng chấp trước chẳng khởi, phân biệt chẳng khởi, vọng tưởng chẳng khởi th́ chính là “công phu thành phiến”. Đó là Niệm Phật tam-muội sơ cấp. Quư vị đạt được Niệm Phật tam-muội, chắc chắn văng sanh Phàm Thánh Đồng Cư độ là chuyện nắm chắc! Chúng ta thấy sắc nghe hương mà vẫn khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ quư vị phải nhớ kỹ: Chưa có công phu chân thật, vẫn bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển. Dù có niệm Phật, vẫn chưa đạt được công phu thành phiến. Chẳng đạt được công phu thành phiến th́ không thể đoan chắc sẽ văng sanh . Quư vị nghĩ xem: Việc này lớn lao lắm, trọng yếu lắm!

Kinh nói đến “vô lậu huệ”, tức là trong trí huệ không xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Quư vị phải nhớ thật kỹ câu này: Xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ vô lậu huệ không c̣n nữa, kinh Phật gọi cái trí huệ quư vị có đó là “thế trí biện thông”, không phải là trí huệ chân thật, mà là thế trí biện thông! Thế trí biện thông khác với trí huệ chân thật ở chỗ này: Một đằng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; một đằng không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là thế trí biện thông; không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là trí huệ chân thật, là “vô lậu huệ”. Tâm định rồi, “dùng vô lậu huệ tương ứng nhập Định”. Tốt! Tám điều danh tướng đă giới thiệu cùng quư vị xong rồi. Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

Tập 18

 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần “thuyết pháp trang nghiêm”, đoạn cuối cùng là Bát Chánh Đạo.

Tám điều này trong lần trước chúng tôi đă giới thiệu danh tướng và ư nghĩa đại lược cùng quư vị; nhưng chúng ta biết tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn đều tương ứng với cương lănh, nguyên tắc dạy dỗ của đức Thế Tôn, nhưng trong mỗi pháp môn bất đồng bèn có cách giải thích bất đồng, quư vị nhất định phải hiểu điều này th́ sự tu học hiện tiền của chúng ta mới đạt lợi ích, mới ḥng đạt được mong cầu. Ngày nay chúng tôi cùng các đồng tu học pháp môn Tịnh Độ; nay trong pháp môn Tịnh Độ, Bát Chánh Đạo được giải thích bằng cách nào? Nhất định phải biết điều này.

“Chánh Kiến”: Chúng ta thấy y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới như đức Thế Tôn đă dạy trong kinh bèn tin chắc, chẳng hoài nghi; đó là Chánh Kiến. Chánh Kiến của chúng ta chẳng do trực tiếp thấy được thế giới Tây Phương, mà là do được nghe đức Thế Tôn giới thiệu. Đối với đức Thế Tôn, chúng ta có tín tâm kiên định. Lăo nhân gia tuyệt đối chẳng lừa dối chúng ta, lời lăo nhân gia quyết định giống như kinh Kim Cang đă nói: “Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả” (Như Lai là bậc chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, bậc chẳng nói lừa dối). Chúng ta tin tưởng mỗi câu mỗi chữ trong lời Phật đều là chân thật. Chánh Kiến của chúng ta được kiến lập trên Tịnh Độ tam kinh, tin sâu chẳng nghi. Đó là Chánh Kiến của Tịnh Độ Tông.

Chánh Tư Duy của Tịnh Độ Tông là như Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật), đó là Chánh Tư Duy! Để nghĩ nhớ y báo và chánh báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, cũng phải đọc thuộc kinh điển, phải thường nghĩ tới y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới được nói trong kinh điển, phải thường nhớ tưởng! Chánh Kiến vừa nói ở trên là Tín tâm, c̣n ở đây là tư duy, thường xuyên nghĩ đến. V́ sao? Nếu chẳng nghĩ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ suy nghĩ loạn xạ liền! Suy nghĩ loạn xạ là nghiệp luân hồi. Trong tâm suy nghĩ bậy bạ chính là tạo nghiệp luân hồi, trong tương lai phải chịu quả báo luân hồi. Bởi vậy, chúng ta phải chuyển cái tâm luân hồi, chuyển ư niệm luân hồi, chuyển cái nghiệp luân hồi thành tịnh nghiệp Tây Phương. Chúng ta nghĩ đến thế giới Cực Lạc, nghĩ đến y báo và chánh báo trang nghiêm dạy trong kinh Vô Lượng Thọ, nghĩ đến bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nghĩ cách thực hiện những điều đó trong cuộc sống thường nhật như thế nào, chúng ta nghĩ như vậy th́ ư nghĩ ấy tốt lành!

Thế nào là Chánh Ngữ của Tịnh Độ học nhân? Chánh Ngữ là một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, câu ấy là Chánh Ngữ của chúng ta. Bởi thế, chúng ta chào hỏi nhau đều chắp tay “A Di Đà Phật”; người ta gọi tên ḿnh, ḿnh đáp A Di Đà Phật. Chúng ta nhận điện thoại, cầm điện thoại lên bèn “A Di Đà Phật”, Chánh Ngữ của chúng ta là như vậy. Thời thời khắc khắc niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật.

Chánh Nghiệp của chúng ta là ư nghiệp tưởng A Di Đà Phật, thân nghiệp lễ bái A Di Đà Phật, khẩu nghiệp niệm A Di Đà Phật, đó là tam nghiệp của Tịnh tông.

Chánh Mạng: Tùy theo cái nghiệp báo thân của chính ḿnh, sống được một ngày th́ suốt ngày đó niệm A Di Đà Phật, y giáo phụng hành. Ba nghiệp thân - ngữ - ư diễn nói, v́ người khác diễn nói; lúc lâm chung tâm chẳng điên đảo, rơ ràng rành rẽ, minh bạch, phân minh, không bị bệnh khổ, đứng mà mất, ngồi mà mất, biểu diễn cho người khác thấy, chẳng dễ dàng đâu! Con người có ai không chết? Ai nấy đều phải chết, nhưng ai ra đi tự tại, tiêu sái, rơ ràng minh bạch như thế được? Phải là người niệm Phật! Đó là v́ người khác biểu diễn, v́ người khác diễn nói, vô cùng có sức thuyết phục. Những chuyện ấy khoa học không thể giải thích, v́ đó là siêu khoa học! Khoa học là hữu hạn, có hạn cục, có giới hạn, thế nhưng vẫn có một nền học vấn không có hạn cục, không có giới hạn mà khoa học chưa phát hiện được. Chúng ta nhất định phải biết điều này.

Thế giới tâm linh siêu việt khoa học, nói cách khác, phạm vi của khoa học chỉ thuộc nhân đạo (thế giới loài người). Nhân đạo chỉ là một pháp giới trong mười pháp giới, pháp giới này hữu hạn, chẳng có biện pháp đột phá không gian nhiều chiều, chẳng thể thích hợp cho mười pháp giới. Nhất định phải hiểu đạo lư này, nếu không hiểu, quư vị sẽ bị hạn chế trong phạm vi của lục đạo luân hồi, chẳng thể ra khỏi lục đạo luân hồi! Không ra khỏi lục đạo luân hồi th́ nói cách khác: Đúng như sự thật đă được giảng trong kinh Phật, thời gian quư vị ở trong tam ác đạo dài lâu, thời gian trong ba thiện đạo ngắn ngủi.

Phật pháp nói đến giác và mê; nói đến mê tín th́ nói đúng ra là mê tín tôn giáo, mê tín cổ thánh tiên hiền. Nếu chúng ta rất lắng tịnh, rất khách quan quan sát th́ những niềm mê tín ấy so ra có lợi hơn nhiều so với mê tín khoa học. V́ sao? Cổ thánh tiên hiền, tôn giáo nói đến không gian nhiều chiều vượt ngoài nhân gian, nó có thật, chứ chẳng phải không có. Linh giới (thế giới tâm linh) thực sự tồn tại, hiện nay có không ít những người trong giới khoa học chấp trước cứng ngắc vào khoa học, nhưng khi tiếp xúc với những “linh môi” (Medium: Những người có khả năng giao tiếp với cơi âm[2]), họ bèn tin tưởng. Từ kinh nghiệm bản thân, [họ nhận thấy] quả đúng là có linh giới. Những nhà khoa học này cả mấy chục năm mê muội khoa học, rốt cục tin tưởng. Họ viết rất nhiều báo cáo, gần đây được in thành sách, quư vị hăy tự t́m đọc.

Ở Trung Quốc và ngoại quốc có rất nhiều người quay đầu tin tưởng, khẳng định sự tồn tại của linh giới. Chữ “linh giới” là phiếm chỉ, nói chung, chín pháp giới ngoài pháp giới của con người ra đều gọi là “linh giới”. Linh[3] có cao thấp khác nhau, trong tất cả các tôn giáo th́ Phật giáo giảng rơ ràng nhất, giảng thấu triệt nhất. Chẳng những giảng chánh báo rất rơ rệt, mà ngay cả y báo cũng được giảng hết sức rơ ràng: “Y chánh trang nghiêm” (y báo, chánh báo trang nghiêm). Bởi thế, nghiệp là những ǵ tạo tác bởi thân - ngữ - ư. Nếu không trái nghịch kinh giáo th́ là Chánh Nghiệp, trái nghịch kinh giáo là tà nghiệp, là sai lầm.

Thế nào là Chánh Mạng? Ấn Quang đại sư giảng rất hay: Nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, không hóa duyên, không làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, mỗi ngày đều giống như đang tu Phật thất. Học hội và Tịnh Tông Học Viện của chúng ta thêm vào một môn công khóa nữa là giảng kinh, giải hạnh tương ứng. Đó là Chánh Mạng của chúng ta, chúng ta lấy đó làm mạng sống. Đạo tràng hiện thời không có hằng sản, không có nguồn kinh tế cố định, chúng ta không hóa duyên th́ sống bằng cách nào? Chuyện này không một ai phải lo ngại cả. Tôi không quan tâm, v́ sao tôi không quan tâm? Chương Gia đại sư dạy tôi: “Nhất tâm hướng về đạo, nhất tâm v́ pháp, v́ chúng sanh, Phật, Bồ Tát sẽ an bài cả đời này cho ḿnh, ḿnh không cần phải nhọc ḷng”.

Hôm nay không có ǵ ăn, nhịn đói một ngày cũng là Phật, Bồ Tát an bài, không một chút ǵ phải bận ḷng cả! Phật, Bồ Tát an bài cho ḿnh chịu đói một ngày th́ cái ngày nhịn đói ấy chắc chắn có cái hay, chẳng dở đâu. Huống hồ chúng ta mỗi ngày “v́ người khác diễn nói” là tu bố thí, tôi đă nói điều này rất nhiều. Tuy chúng ta không có Tài Bố Thí (ngoại tài bố thí), nhưng chúng ta nội tài bố thí, mỗi ngày diễn nói cho mọi người xem. Nội tài bố thí, pháp bố thí, vô úy bố thí ngày ngày chẳng gián đoạn nên quả báo rất thù thắng, cái ǵ cũng không thiếu, chẳng cầu mà có.

Năm mươi năm nay đích thân chúng tôi thể nghiệm đúng thật là như vậy, tôi không hoài nghi chút nào, quyết chẳng v́ cuộc sống vật chất mà sanh khởi vọng niệm, không hề có. Quư vị có tín tâm ấy hay không? Quư vị có thể tin nổi hay không? Đạo tràng có thần hộ pháp hộ tŕ, ngoài Phật hộ niệm ra c̣n được thần hộ pháp hộ tŕ, quư vị dốc tâm nơi đạo, hạnh nơi đạo, thần hộ pháp cũng phải chiếu cố. Nếu tâm hạnh của quư vị trái nghịch với đạo, thế nào là đạo? Đạo là những đạo lư, những phương pháp được giảng trong kinh điển, chúng ta luôn tuân thủ th́ là “tâm và hạnh đều ở nơi đạo”. Nếu chúng ta không tuân thủ th́ tâm và hạnh đă tách rời khỏi đạo. Tách khỏi đạo th́ Phật, Bồ Tát không c̣n cảm ứng nữa, thần hộ pháp cũng bỏ đi luôn, chẳng c̣n chiếu cố nữa.

Khi nào quư vị sanh tâm sám hối: “Tôi lầm, tôi quay đầu”, Phật, Bồ Tát lại đến, thần hộ pháp cũng quay lại. Thần hộ pháp, Phật, Bồ Tát chẳng giận, tâm và hạnh của quư vị tương ứng với đạo, các Ngài bèn đến, trái nghịch với đạo, họ bèn đi. Bởi vậy, phải tương ứng mới tốt. Ngày ngày niệm kinh v́ cớ ǵ? Cầu cho kiến giải, tư tưởng, ngôn hạnh của chính ḿnh tương ứng với kinh điển, chẳng trái nghịch. Mục đích và dụng ư chân chánh của việc đọc tụng kinh điển là ở chỗ này. Sống như thế gọi là Chánh Mạng.

Chánh Tinh Tấn: Thâm nhập một môn, trường thời huân tu, nhất định không biếng nhác. Trước hết là thành tựu “công phu thành phiến” của chính ḿnh. Công phu thành phiến sẽ hoàn toàn khống chế được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đúng là những thứ ấy chưa đoạn, nhưng chúng chẳng thể phát tác. Trong nghịch cảnh và ác duyên cũng chẳng sanh phiền năo, chẳng sanh tâm nóng giận. Trong thuận cảnh thiện duyên cũng chẳng khởi tham luyến, đó là công phu thành phiến, quư vị khuất phục được chúng. Phật, Bồ Tát dạy chúng ta: Công phu như vậy mới bảo đảm văng sanh, nhưng quư vị nhất định phải giữ được công phu ấy măi măi, chẳng thể hờ hững, xem nhẹ được. Phải biết: Tập khí phiền năo rất nặng, thời gian tích lũy tập khí phiền năo rất dài. Nếu chúng ta lăng ư một chút, chúng lại bùng phát liền, rắc rối to! Bởi thế, thời thời khắc khắc đều phải đề cao cảnh giác, chẳng dám lơ là chút nào.

Đạt đến Sự Nhất Tâm sẽ hoàn toàn khống chế được chúng, chẳng cần phải tác ư nó vẫn bị khống chế. Đạt đến Lư Nhất Tâm là tốt nhất, chuyển hết những phiền năo ấy thành Bồ Đề, đấy thực sự là đoạn phiền năo. Cảnh giới Lư Nhất Tâm hoàn toàn tương đồng với “minh tâm kiến tánh” của Tông môn, thường gọi là “phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân”. Niệm Phật đạt đến Lư Nhất Tâm Bất Loạn chính là cảnh giới này. Cảnh giới ấy không phải cá nhân nào cũng đều có thể chứng được, nhưng đối với công phu thành phiến có thể nói là nếu mỗi người chịu dụng công, tuân thủ những điều kinh điển răn dạy, y giáo phụng hành, ai cũng đều có thể đạt được công phu thành phiến.

Đạt được mức ấy th́ như chúng tôi vừa nói đó, trong thuận cảnh thiện duyên chẳng khởi tham luyến, trong nghịch cảnh ác duyên chẳng sanh sân khuể, hết sức tự nhiên, chẳng phải là cố ư khống chế, cố ư đè nén! Nếu phải cố ư đè nén th́ quư vị c̣n đang trong giai đoạn tu học, chưa đạt được công phu thành phiến. Thực sự đạt được công phu thành phiến th́ chẳng cần phải tác ư, mà là tự nhiên, phản ứng rất tự nhiên, cảnh giới tốt đẹp mà! Không khó! Điều này mọi người thực sự có thể làm được. Từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện, chúng ta thấy những người niệm ba năm đạt được cảnh giới này rất nhiều. V́ sao người khác đạt  được, ḿnh không  làm được? Do vậy,  ta phải  sanh tâm

hổ thẹn!

Luyện công phu tại đâu? Trong cuộc sống thường ngày, trong xử sự, đăi người, tiếp vật. Người này đối xử tốt với tôi, tôi đối xử tốt hơn; cứ hễ tôi gặp người ấy, tôi nhất định xử tốt với người ấy hơn người ấy xử tốt với tôi, tôi báo đáp người ấy, như câu nói: “Thọ nhân trích thủy chi ân, thường tư dũng tuyền vi báo” (Nhận cái ơn nhỏ bằng giọt nước của người, thường nghĩ dùng cả mạch suối để báo đáp). Thế nhưng người ấy chẳng ở trước mặt tôi, trong tâm rỗng rang, chẳng lưu lại dấu tích ǵ, đó là trí huệ, quyết định không tham luyến. Hễ gặp mặt bèn báo ân, tâm cảm kích tự nhiên sanh khởi. Đó mới là đúng, chẳng phải là t́nh thức mà là trí huệ, tâm địa vĩnh viễn thanh tịnh, b́nh đẳng, giác.

Cũng có những đồng học hỏi tôi, có rất nhiều người hỏi tôi, Quán Trưởng đă mất nhiều năm như vậy, sao thầy vẫn c̣n tưởng niệm bà ta măi? Đúng vậy! Đấy có phải là tham luyến hay chăng? Nếu thuộc vào t́nh thức th́ là tham luyến, nếu thuộc vào chánh trí th́ là giáo học. Ở đây chúng ta dựng một Kỷ Niệm Đường kỷ niệm Quán Trưởng, đó là giáo dục, giáo dục xă hội, dạy đại chúng trong xă hội biết ân, báo ân. Trong quá khứ, bà ta đối xử tốt đối với chúng ta, chúng ta niệm niệm chẳng quên, biết ân, báo ân mà! Đấy chính là giáo dục xă hội đa nguyên văn hóa, đặc biệt là trong xă hội hiện thời. Xă hội hiện thời “biết ân, báo ân” rất ít, toàn là vong ân phụ nghĩa. Quả báo của vong ân phụ nghĩa là tam đồ, quả báo của tri ân báo ân là nhân thiên. Làm thế nào để giúp hết thảy chúng sanh chẳng đọa tam đồ, lại c̣n có thể hưởng phước báo nhân thiên, công đức giáo dục ấy rất to lớn. Nếu làm được như vậy mà tâm địa vẫn giữ được thanh tịnh b́nh đẳng giác sẽ siêu việt lục đạo luân hồi. Những điều đó ở đây gọi là Chánh Nghiệp, Chánh Mạng; v́ thế, quư vị phải hiểu ư nghĩa này.

Đối với người oán hận, kẻ oan gia đối đầu, trong tâm chớ nên có chút sân khuể, chớ nên có mảy may ư niệm báo thù. Chẳng những không có, mà c̣n thời thời khắc khắc phải chú ư, hễ khi nào họ gặp phải khó khăn, ḿnh đến giúp đỡ, thường biết oan gia phải hóa giải. Túc oán quá khứ, oán kết hiện tại đều phải hóa giải hết, “oan gia nghi giải, bất nghi kết” (oan gia nên gỡ, không nên buộc). Trong lúc kẻ ấy gặp khó khăn, ta toàn tâm toàn lực giúp đỡ, mặc kệ tỵ hiềm xưa kia, oan kết bèn hóa giải. Phật pháp có vai tṛ ǵ trong thế gian? Chẳng thể không biết điều này, Phật pháp có mặt trong thế gian là để giáo hóa chúng sanh, không một mảy may nào không nhằm dạy dỗ Giác - Chánh - Tịnh, dạy dỗ Bát Chánh Đạo.

Thứ bảy là Chánh Niệm, niệm ở đâu tâm bèn ở đó, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật). Đó là Chánh Niệm. Trong mười hai thời chấp tŕ danh hiệu là Chánh Niệm. Hết thảy ngôn hạnh hoàn toàn tương ứng với những điều kinh luận dạy dỗ là Trợ Niệm. Chánh - Trợ song tu nhất định được văng sanh, nhất định được thấy A Di Đà Phật, tương ứng với Phật.

Chánh Định: Một đời một kiếp này, ta tu hành pháp môn này, quyết định chẳng thay đổi, nương theo kinh điển này, quyết chẳng dao động, đó là Chánh Định. Bát Chánh Đạo của Tịnh Độ Tông là như thế đó!

Chúng ta lại xem tiếp câu kế: “Bát Chánh Đạo do Trạch Pháp Giác Phần”, tức là điều thứ nhất trong Thất Bồ Đề Phần, “bất y thiên tà, cố nhập Chánh Đạo” (chẳng nương theo [những kiến giải, tư tưởng, quan niệm, hành vi] lệc lạc, tà vạy, nên vào được Chánh Đạo): Chọn lựa dứt khoát pháp môn ta tu học cả đời. “Vô lậu thánh pháp” là Chánh, “năng thông Niết Bàn” (có thể thông với Niết Bàn) là Đạo, Tịnh tông thực sự là chánh đạo của mọi chánh đạo. Thế giới Cực Lạc và phương pháp văng sanh thế giới Cực Lạc là Chánh! Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong một đời nhất định thành tựu viên măn Vô Thượng Bồ Đề, đó là Đạo, đại đạo đấy!

“Tam thập thất phẩm, thâu pháp tuy tận” (Tuy ba mươi bảy phẩm gồm thâu trọn hết mọi pháp), ba mươi bảy môn này là đại cương, bao quát tất cả những pháp do mười phương ba đời hết thảy chư Phật đă nói, đă tu, không có pháp nào ra khỏi ba mươi bảy phẩm này; nhưng quư vị phải biết “cơ duyên bất đẳng” (cơ duyên chẳng giống nhau): Cơ () là cơ hội, Duyên () là duyên phận; duyên phận, cơ hội của mỗi cá nhân trong từng đời chẳng giống nhau. V́ thế, “tác chủng chủng khai hợp” (tạo thành các thứ pháp môn mở rộng hay gộp lại [ba mươi bảy Đạo Phẩm này]), Khai () là triển khai, Hợp () là gộp lại. Triển khai [ba mươi bảy môn Đạo Phẩm] sẽ thành vô lượng vô biên pháp môn. Nếu quy nạp lại, gộp lại th́ chẳng ngoài Giác - Chánh - Tịnh, chẳng ngoài Giới - Định - Huệ, thảy đều bao gồm trong ấy.

“Danh nghĩa bất đồng, vô bất diễn sướng” (Danh nghĩa sai khác, không ǵ chẳng diễn bày, giải nói thông suốt): Diễn () là chư Phật, Bồ Tát ngày ngày làm như vậy cho chúng ta thấy. Quư vị phải thực sự hiểu hữu t́nh lẫn vô t́nh đều là biểu diễn. Chư Phật Như Lai biểu diễn ở chánh diện, biểu diễn mặt Giác, lục đạo chúng sanh biểu diễn mặt Mê. Chúng ta ngồi dưới sân khấu xem diễn kịch, thấy rất rơ ràng: Bên Giác th́ sáng sủa, bên Mê th́ tối tăm; hành thiện được thiện quả, hành ác mắc ác báo, khắp pháp giới trọn hư không giới vốn là một sân khấu lớn. Chúng ta vừa là diễn viên, vừa là khán giả trong ấy. Nơi sàn diễn thông thường th́ diễn viên chẳng phải là khán giả, khán giả chẳng phải là diễn viên. Chúng ta tuyệt vời lắm, tuyệt vời đến tột bậc! Vừa là diễn viên, vừa là khán giả, đă là khán giả, lại là diễn viên. V́ thế, pháp này gọi là “diệu pháp”.

Người tu hành chân chánh, người tu Giác - Chánh - Tịnh, cái ǵ cũng quan sát, cái ǵ cũng nh́n, thấy toàn thể vũ trụ đều là diễn viên. Ở trong ấy, họ thành tựu Giới - Định - Huệ, thành tựu Giác - Chánh - Tịnh, không pháp nào chẳng rơ. Mười pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm, tánh tướng, sự lư, nhân quả vằng vặc phân minh là Huệ. Trong Bát Nhă không ǵ không biết; tuy không ǵ chẳng biết nhưng trong tâm thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần, như như bất động, đó là Đại Định! Đại Định ấy là chân tâm, Huệ là chân tâm sanh khởi tác dụng. Tâm là tịch diệt, nhất định phải hiểu điều này.

Qua danh hiệu, Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy rơ: “Mâu Ni” (Muni) là thanh tịnh tịch diệt. Đối với bản thân chúng ta, nhất định phải tu thanh tịnh tịch diệt. “Diệt” là diệt phiền năo, diệt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Sáu căn đối với cảnh giới sáu trần không có phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, đó chính là tướng tịch diệt. Tâm đúng là như vậy, đă thế, lại c̣n hết sức từ bi: Năng Nhân. Thích Ca (Śākya) là Năng Nhân: Sống động chứ không chết cứng, năng lượng và thông tin từ cảnh giới bên ngoài đưa vào bèn lập tức có phản ứng. Phản ứng ấy sanh khởi từ lư thể của Tịch Diệt, nhất định không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xen tạp trong ấy; đấy là Phật, là Pháp Thân Bồ Tát. Nếu chúng ta không liễu giải, không hiểu rơ, không minh bạch cảnh giới ấy, làm sao có thể tu được? Phải hiểu rơ, phải minh bạch, hiểu Phật, Bồ Tát là như vậy. Chúng ta phải khéo học theo, thực sự nhập pháp giới vô chướng ngại. Năng Nhân: Phổ độ hết thảy chúng sanh, nhưng quư vị thấy đó, chẳng hề trở ngại sự thanh tịnh tịch diệt của chính ḿnh, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại. Nay chúng ta mới biết chướng ngại phát sanh từ đâu? Chướng ngại phát sanh từ phân biệt, vọng tưởng, chấp trước; ĺa được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sự sự vô ngại.

Bởi vậy, đến cuối cùng sách Yếu Giải tổng kết: “Vô bất diễn sướng, cố linh văn giả niệm Tam Bảo, phát Bồ Đề tâm, phục diệt phiền năo dă” (Không ǵ chẳng diễn bày thông suốt, nên khiến cho người nghe niệm Tam Bảo, phát Bồ Đề tâm, chế phục, diệt trừ phiền năo). Chế phục và diệt trừ là hai giai đoạn. Trong công phu niệm Phật của chúng ta, thấy rất rơ rệt: Công phu thành phiến là chế phục, Sự nhất tâm bất loạn là chế phục, Lư nhất tâm bất loạn là diệt, phiền năo bị chuyển hết, chuyển phiền năo thành Bồ Đề. Phải là Lư nhất tâm mới có thể chuyển được. Do đây biết rằng: Công phu thành phiến không ra khỏi lục đạo v́ nó là công phu trong lục đạo; Sự nhất tâm bất loạn siêu việt lục đạo v́ thuộc về tứ thánh pháp giới, nhưng vẫn là chế phục; đến khi phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân mới chuyển, mới thực sự diệt phiền năo.

Chúng ta lại xem tiếp đoạn kế đó: “Tam Bảo lược thích” (giải thích Tam Bảo một cách sơ lược). Tam Bảo nói đơn giản th́ có “biệt tướng Tam Bảo”, có “nhất thể Tam Bảo”, danh tự Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng.

1) Phật có ba thân Pháp, Báo, Ứng Hóa: Pháp Thân Phật, Báo Thân Phật, Ứng Hóa Thân Phật. Đó là chuyện thường nghe nói.

2) Pháp có bốn thứ: giáo pháp, lư pháp, hành pháp, quả pháp, tức là Giáo - Lư - Hành - Quả. Quư vị phải hiểu: Mỗi một bộ kinh bất luận lớn - nhỏ như thế nào, bất luận kinh văn sâu hay cạn thế nào, thảy đều đầy đủ Giáo - Lư - Hành - Quả. Nếu một bộ kinh chẳng có đủ bốn ư nghĩa ấy, kinh ấy chẳng thể gọi là kinh Phật được! Hễ là kinh Phật th́ nhất định phải có đủ bốn phần sau đây: Giáo - Lư - Hành - Quả.

3) Tăng, “Tam thừa thánh hiền”: Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa. Trong ấy có hiền, có thánh, thánh khác với hiền. Trong địa vị Bồ Tát, hiền nhân là từ Sơ Trụ Bồ Tát đến Thập Hồi Hướng, thánh nhân là từ Sơ Địa cho đến Đẳng Giác, tam hiền thập thánh[4], đó là hiền thánh nơi địa vị Bồ Tát. Hiền thánh trong Tiểu Thừa: Tứ Quả là Thánh, Tứ Hướng là Hiền. Sơ Quả Hướng là Hiền, Tu Đà Hoàn tính là Thánh. Nhị Quả Hướng là Hiền, Tư Đà Hoàn là Thánh. Trong mỗi một tầng cấp của Tam Hiền, Hiền Thánh lại khác nhau! Hiền là c̣n đang trong địa vị tu học, Thánh là đă chứng quả. Giống như chúng ta đi học trong nhà trường vậy! Quư vị c̣n đi học chưa tốt nghiệp, đang c̣n học là Hiền, học xong, tốt nghiệp là Thánh, lấy được học vị rồi th́ là Thánh. Giống như quy chế trong các trường đại học hiện tại trong thế gian, c̣n đang học trong đại học là Hiền, ngày nào đó quư vị lấy được bằng Học Sĩ (Cử Nhân) bèn thành Thánh, tiểu thánh! Tiếp tục học theo ban Thạc Sĩ (Cao Học), sinh viên ban Thạc Sĩ là Hiền, sinh viên đều là Hiền. Tốt nghiệp chương tŕnh Thạc Sĩ, giành được học vị Thạc Sĩ (Master) gọi là Thánh, trung thánh. Nếu học tiếp theo chương tŕnh Tiến Sĩ th́ sinh viên của ban Tiến Sĩ là Hiền, tốt nghiệp Tiến Sĩ, lấy được học vị Tiến Sĩ là thượng thánh. Thượng - trung - hạ, tam thừa hiền thánh giống như vậy đó.

Trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông vào đời Đường chẳng nói đến Phật - Pháp - Tăng, Sư nói đến Giác - Chánh - Tịnh. Lúc tôi mới đọc Đàn Kinh, tôi cứ suy nghĩ v́ sao Ngài lại nói như thế? Ai cũng nói là Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, sao Ngài lại nói Giác - Chánh - Tịnh? Nhất định phải có duyên cớ. Rất có khả năng là vào đời Đường, đối với khái niệm Phật - Pháp - Tăng người ta khá hồ đồ, chỉ biết danh hiệu, chẳng biết ư nghĩa được bao hàm trong danh từ. Nói cách khác, chưa thọ dụng được. Lục Tổ đại sư có trí huệ, đại từ, đại bi, Ngài đem ư nghĩa của Tam Bảo chỉ rơ ra, khiến cho chúng ta dễ hiểu ḥng thọ dụng được. Ngài truyền trao Tam Quy, chẳng nói là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, Ngài không làm vậy! Lúc Ngài truyền trao Tam Quy bèn nói “quy y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh”. Ngài truyền trao như vậy, quư vị đọc Đàn Kinh sẽ thấy, rồi mới giải thích: “Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh”.

Bởi thế, nếu với Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, chúng tôi thêm vào mấy chữ nữa, mọi người càng nhận hiểu rơ ràng. Thế nào là Phật? Giác chứ không mê là Phật. Thế nào là Pháp? Chánh chứ không tà là Pháp. Thế nào là Tăng? Tịnh chứ không nhiễm là Tăng. Giải thích như vậy mọi người đều hiểu rơ rệt, chẳng c̣n nói Phật Giáo là mê tín nữa! Nếu không, người ta chẳng hiểu rơ ư nghĩa này, quư vị nói đến Phật, người ta nghĩ đến tượng Phật bằng đất nặn hay gỗ khắc thành; quư vị nói đến Pháp, người ta nghĩ đến kinh điển; quư vị nói đến Tăng, người ta tưởng là người xuất gia. Nói cách khác, hoàn toàn chấp vào tướng, chỉ chấp vào tướng chẳng biết đến ư nghĩa! Bởi thế, xă hội đại chúng đâm ra hiểu lầm Phật giáo là mê tín!

Lục Tổ đại sư thuyết pháp như vậy th́ quan niệm sai lầm ấy lập tức bị hóa giải. Như vậy, người ta hỏi quư vị Phật giáo là ǵ, quư vị cứ đem lời của Lục Tổ đại sư bảo với họ: Phật giáo là giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm. Lấy mười hai chữ ấy để giới thiệu Phật giáo một cách đơn giản cho người ta, chánh pháp đấy! Đó là thường thức, đó là học vấn đấy! A! Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

*

Chư vị đồng học!

Chúng ta tiếp tục xem phần “Tam Bảo lược thích”. Ở trên, tôi đă giới thiệu đơn giản cùng quư vị Biệt Tướng Tam Bảo, tiếp theo đây là nói về Nhất Thể Tam Bảo.

Trong Nhất Thể Tam Bảo, Phật có nghĩa là ǵ? “Trạm nhiên trí chiếu, linh minh giác liễu” (trí chiếu soi thanh tịnh, bất động, linh thông, sáng suốt, hiểu biết trọn vẹn) chính là Phật. Trong tự tánh vốn có sẵn đức năng, nói theo thuật ngữ khoa học hiện thời, [đức năng] là năng lượng. Năng lượng chẳng phải từ bên ngoài mà có, cũng chẳng do tu thành, mà từ tự tâm. Chân tâm ta vốn sẵn có, kinh Phật thường gọi những ǵ sẵn có là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như vậy). Chuyện ấy chẳng liên quan ǵ đến tu chứng, bất sanh, bất diệt, không đến, không đi. “Bất sanh, bất diệt” là không có sanh tử, “không đến, không đi” là chẳng có không gian lẫn thời gian; “không tăng, không giảm” là khi ḿnh giác ngộ, tâm ấy chẳng tăng thêm, khi đang mê hoặc, tâm ấy chẳng giảm thiểu, cho nên thường nói: “Tại thánh không tăng, tại phàm chẳng giảm”, tánh đức mà! Hết thảy chúng sanh ai nấy đều có đủ, hoàn toàn b́nh đẳng. “Trạm nhiên” là thanh tịnh, xưa nay chưa hề dao động, đó là bản thể của tự tánh chân tâm, không có h́nh tướng, nhưng không đâu chẳng tồn tại. Hư không, pháp giới, cơi nước, chúng sanh do đâu mà có? Kinh Hoa Nghiêm nói rất rơ: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” (chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến). Đây là nói theo mặt Thể. Chân tâm, bổn tánh là bản thể của vũ trụ, nhân sinh, ta - người, là một chẳng phải hai.

Pháp Bảo là ǵ? “Thật Tướng lư thể thanh tịnh viên diệu”, đấy là Pháp. Thật Tướng là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Tướng chân thật chỉ do tâm hiện, đó là Thật Tướng! “Thanh tịnh viên diệu”. Tướng ấy đúng là mảy trần chẳng nhiễm, vi diệu viên măn, hoặc có thể nói là vi diệu viên dung! Diệu là chúng ta không có cách ǵ tưởng tượng được, chẳng thể nghĩ bàn! Đó chính là Pháp Bảo trong Nhất Thể Tam Bảo. Trên thực tế, Phật - Pháp - Tăng là một, chẳng phải hai, một nhưng ba, ba nhưng một, chẳng thể tách ĺa, chỉ tùy theo quư vị nh́n từ góc độ nào mà thôi. Như vậy, Phật là nh́n từ Thể; Pháp là nh́n từ Tướng; Tăng là nh́n từ Dụng, tức là nh́n từ mặt tác dụng.

Tăng Bảo: “Lư Trí bất nhị, ḥa hợp vô vi” (Lư - Trí không hai, ḥa hợp không chống trái). Quư vị phải thực sự tham thấu, hiểu rơ: Vũ trụ là cả một khối ḥa đồng lớn. Văn hóa Nhật Bản từ Trung Quốc truyền qua. Tổ tiên người Nhật rất thông minh, họ gọi dân tộc ḿnh là “dân tộc Đại Ḥa” (Yamato Minzoku). Ư tưởng Đại Ḥa ấy chính là tinh tủy (tinh hoa, cốt tủy) của Nho và Đạo của Trung Quốc và Phật pháp; tổ tiên dùng điều đó để dạy dỗ con cháu đời sau. Nếu con cháu đời sau hiểu được ư nghĩa này, đều có thể thực hiện được th́ Thiên Hoàng[5] của Nhật Bản sẽ chính là Kim Luân Thánh Vương như trong kinh Phật nói, là lănh tụ của toàn thế giới, chứ chẳng phải chỉ của một quốc gia hay một dân tộc nào. V́ sao? Ông ta cổ động ḥa b́nh, ḥa b́nh cho thế giới, cả thế giới là một nhà. Ḿnh yêu người nhà ḿnh, ta yêu dân tộc ta, ta yêu quốc gia ta, ta yêu toàn thế giới như yêu chính người nhà ta, đại ḥa rồi!

Tuy tổ tông xướng xuất, con cháu chẳng làm được! Chúng ta chớ coi thường tổ tông, đừng nghĩ trong thời tổ tông không có khoa học kỹ thuật, tinh thần văn minh của họ bọn hậu nhân chúng ta thực sự không có cách ǵ tưởng tượng được đâu! Trí huệ, học vấn, tâm tư, kiến thức của họ thực sự đều là rộng lớn, tinh tường, sâu thẳm, tương ứng với pháp tánh. Phật pháp là văn hóa Ấn Độ, Nho và Đạo là văn hóa Trung Quốc, là chân lư tích tụ cả ngàn vạn năm, kẻ trí cạn tuyệt đối chẳng thể trộm nh́n [mà thấu hiểu] được. Đó là Nhất Thể Tam Bảo.

 

6.3.1.2.6. Hàng thụ diễn pháp (hàng cây diễn pháp)

 

Đoạn kế tiếp là “hàng thụ diễn pháp”, chúng tôi đọc kinh văn một lượt. Chúng ta đọc tiếp đoạn kinh văn sau:

 

Lợi Phất! Nhữ vật vị thử điểu thật thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo.

Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thật? Thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác.

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động chư bảo hàng thụ, cập bảo la vơng, xuất vi diệu âm. Thí như bách thiên chủng nhạc đồng thời câu tác. Văn kỳ âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.

利弗。汝勿謂此鳥。實是罪報所生。所以者何。彼佛國土。無三惡道。舍利弗。其佛國土。尚無惡道之名。何況有實。是諸眾鳥。皆是阿彌陀佛。欲令法音宣流。變化所作。舍利弗。彼佛國土。微風吹動諸寶行樹。及寶羅網。出微妙音。譬如百千種樂。同時俱作。聞是音者。自然皆生念佛念法念僧之心。

(Này Xá Lợi Phất! Ông chớ có nói những con chim ấy thực sự do tội báo sanh ra. V́ cớ sao vậy? Cơi nước Phật ấy không có ba đường ác.

Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật đó c̣n không có cái tên ba đường ác, huống hồ có thật? Các loài chim ấy đều do A Di Đà Phật muốn cho pháp âm được tuyên lưu bèn biến hóa ra.

 Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới mành báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm ngàn loại nhạc cùng lúc ḥa tấu. Nghe âm thanh ấy tự nhiên đều sanh ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).

 

Đoạn này là “hàng cây diễn pháp”. Cây và gió trỗi nhạc. Gió lùa qua cây báu. Chúng ta biết cây cối trong Tây Phương Cực Lạc thế giới do các thứ báu hợp thành, gió thổi qua, cành, nhánh, hoa, lá cọ vào nhau phát ra những âm thanh giống như những cái phong linh (wind chime) chúng ta thường dùng trong thế gian này. Hiện tại ở ngoại quốc, chúng tôi cũng thường thấy phong linh; chúng tôi treo ngoài cửa, lúc gió thổi qua, tự nhiên nó vang ra những âm thanh rất vi diệu. Tây Phương Cực Lạc thế giới càng chẳng cần phải nói nữa, cây báu quá nhiều, giống như nay ta gọi là “nhạc giao hưởng”, mỹ diệu cùng cực. Gió thổi cây tấu nhạc, chẳng do con người chế tác. Những âm thanh do chúng phát ra, quư vị phải nhớ kỹ: Trong kinh luận Phật thường dạy: “Y báo tùy trước chánh báo chuyển” (Y báo chuyển theo chánh báo).

Chuyện gần đây nhất là chúng tôi thấy tiến sĩ Giang Bản Thắng của Nhật Bản làm thí nghiệm kết tinh nước, ông ta thí nghiệm suốt tám chín năm, rất có thành tích. Chúng tôi đă xem những tấm ảnh do ông ta chụp, đọc sách của ông ta, chứng thực điều Phật đă nói trong kinh: “Y báo chuyển theo chánh báo”, chứng minh pháp tánh, chân tâm pháp tánh “trạm nhiên trí chiếu, linh minh giác liễu”, kinh Lăng Nghiêm gọi điều này “kiến văn giác tri” (thấy, nghe, hay, biết). Chân tâm và bổn tánh của quư vị có đầy đủ bản năng (những năng lực sẵn có), người hiện tại gọi [những năng lực sẵn có ấy] là “năng lượng”. Năng lượng vốn sẵn có, có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Tất cả hết thảy vạn vật đều có năng lượng đó! Bởi vậy, thí nghiệm trên nước đă chứng minh nước có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Chúng ta cung cấp thông tin nào cho nó, nó lập tức có phản ứng. Nếu thông tin ấy tốt lành th́ phản ứng hết sức đẹp. Đó là phản ứng chúng ta thấy được qua sự kết tinh của nước.

Cũng có những người luyện Khí Công. Hiện thời, luyện Khí Công cũng rất thịnh hành. Trắc nghiệm nơi những đứa trẻ nhỏ từ bảy tám tuổi cho đến mười bốn tuổi trở xuống, chưa từng bị nhiễm ô ǵ, tâm địa rất thanh tịnh. Những trẻ nhỏ rất thiên chân ấy chỉ cần huấn luyện một giờ, chúng bèn có thể sờ được chữ, nhận được mặt chữ bằng đầu ngón tay. Quư vị viết một số chữ, viết từ một cho đến một trăm, cả trăm chữ, không cho chúng nh́n thấy, chỉ cho chúng lấy tay sờ vào chữ, rồi bảo chúng nó đọc ra chữ ǵ, chúng bèn nói được. Thí nghiệm mấy chục lần chẳng trật một lần nào, nói lên điều ǵ? Tay nh́n được. Kinh Đại Thừa thường gọi chuyện này là “lục căn hỗ dụng” (sáu căn dùng thay thế lẫn nhau). Tâm phải thanh tịnh th́ mới có năng lực ấy.

Nhưng có một điều rất kỳ quái, điều ǵ vậy? Quư vị viết danh hiệu Phật, Bồ Tát, danh hiệu quỷ thần, những chữ ấy chúng không biết, nhưng có cảm giác. Nếu quư vị viết chữ “Phật”, trẻ nói chữ ấy phóng ra ánh sáng màu vàng, phóng kim quang, mở ra xem là chữ “Phật”. Có trẻ lúc sờ chữ, nói chữ này phóng quang, trong ấy lại có mùi thuốc, mở ra xem th́ thấy viết “Dược Sư Phật”. Chỉ những khi viết những chữ thuộc về linh giới, chúng nhận không ra mặt chữ, nhưng có thể mô tả h́nh tượng rất rơ ràng. Những người ấy làm thí nghiệm, kiếm những trẻ nhỏ làm thí nghiệm, đại khái là trong một trăm đứa, có chừng mười mấy đến hai mươi đứa thí nghiệm thành công. Lúc nhiều nhất là trong một trăm đứa trẻ tham gia thí nghiệm, gần như hơn bốn mươi đứa thành công, đó là con số tối đa. Tối thiểu th́ không ít hơn mười đứa bé tuổi từ bảy tuổi đến mười bốn tuổi. Trong những thí nghiệm khoa học ấy, ta không có cách nào giải thích được cả, chứng minh thực sự có thể thấy được bằng cách lấy tay sờ.

Bởi vậy, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới gió và cây tấu nhạc [là v́] người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới tâm đều tịnh, đều thiện, thuần tịnh thuần thiện, âm thanh của âm nhạc bên ngoài và tâm linh của họ khởi cảm ứng đạo giao trở thành khúc nhạc du dương nhất, chẳng do ai soạn, tự nhiên mà! Nói thật ra, gió và cây ở ngay cơi chúng ta đây, hết thảy âm thanh cũng đều có nhạc khúc, thuận theo chúng sanh đang sống trong thế gian này, do tâm niệm của họ mà phản ứng, vang ra âm thanh. Người trong thế gian tâm bất thiện, tâm chẳng thanh tịnh, v́ thế, âm thanh nghe rất đáng sợ, khiến cho ta nghe không cảm thấy an toàn, gió dữ, mưa cuồng! Nhớ kỹ, nhất định phải nhớ kỹ, đức Phật dạy: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Chánh báo là ǵ? Ư niệm của chúng ta, khởi tâm động niệm là chánh báo. Tất cả hết thảy hoàn cảnh vật chất, mỗi một tế bào trên thân thể chúng ta đều chẳng phải ngoại lệ, đều là vật chất. Bởi thế, tâm và vật gắn liền, chẳng thể phân ly, chẳng thể xem như hai việc được!

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói: “Nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần đều do tâm mà thành Thể). Câu này thuyết minh hết thảy các pháp, lớn như thế giới, nhỏ như vi trần, vật chất và tâm gắn liền, nhất định chẳng thể tách rời được. Nếu có thể tách rời th́ làm sao có cảm ứng được? Chẳng thể có cảm ứng! Bản thể của chúng là Chân Tâm, là pháp tánh. Pháp tánh tự nhiên đầy đủ “linh minh giác liễu”, kinh Lăng Nghiêm gọi [điều này] là “kiến văn giác tri” (thấy, nghe, hay biết). Đó là bản năng của nó, lẽ đâu nó chẳng thể nghe, chẳng thể thấy? Quư vị phải biết: Chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy hành vi, bất cứ điều ǵ núi, sông, đại địa cũng thấy hết, ta c̣n che mắt ai được? Chúng ta nói năng ǵ, nói khẽ cách mấy, chúng cũng nghe được. Nhất là hiện tại dùng điện thoại cầm tay (cell phone), nhờ vào làn sóng vô tuyến điện, những lời lẽ của quư vị truyền đi khắp cơi hư không. Đối phương phải cầm cell phone mới nghe được quư vị; chứ chúng sanh trong linh giới chẳng cần đến điện thoại, họ nghe trọn vẹn. Chân tướng sự thật đấy!

Cổ thánh tiên hiền thường dạy chúng ta phải cẩn thận, mỗi người phải cẩn thận, như thường nói: “Thập thủ sở chỉ, thập mục sở kiến” (Mười cánh tay chỉ vào, mười mắt nh́n vào), giống như thường có mười ngón tay chỉ vào ḿnh, có mười con mắt nh́n ḿnh, nay chúng ta hiểu không phải chỉ có thế! Vô lượng vô biên con mắt nh́n vào ḿnh, vô lượng vô biên ngón tay đang chỉ ḿnh, đâu phải chỉ mười! Nếu nói theo ư nghĩa biểu thị pháp trong Phật pháp th́ con số Mười biểu thị ư nghĩa viên măn, nghe rất hợp lư. Tất cả hết thảy sinh vật (nay chúng ta gọi là sinh vật), [ngoài ra] c̣n có những loài phi sinh vật, sinh vật là hữu t́nh chúng sanh, phi sinh vật là thực vật, khoáng vật, kể cả hư không, toàn bộ đều thấy được, toàn bộ đều nghe được.

Con người chớ nên khởi  ác niệm, chớ nói lời ác, chớ làm chuyện ác,

tất cả hết thảy chúng sanh, thiên địa quỷ thần thảy đều thấy biết, điều này đă được khoa học hiện đại dần dần chứng thực. Trước kia, chúng ta chỉ thấy những điều này được ghi trong sách vở cổ, người hiện tại cho là mê tín, người tin vào khoa học cho đó là mê tín, nay khoa học chứng thực thực sự có những chuyện đó. Tất cả hết thảy vạn vật đều có linh tánh; trong Phật pháp nói là “hết thảy vạn vật đều có pháp tánh”. Pháp tánh vốn có đủ linh minh giác tri, nhà khoa học Nhật Bản cũng phát hiện điều sau đây: Chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật gọi [khả năng ấy] là “kiến văn giác tri”. Đấy là bản năng, là tự tánh, pháp tánh vốn sẵn trọn đủ năng lượng phân bố khắp hư không pháp giới, phân bố trong hết thảy chúng sanh.

Đoạn kế tiếp là “phong thụ tác nhạc, vi diệu pháp âm, văn chánh pháp lạc” (gió và cây tấu nhạc, pháp âm vi diệu, [đó là] niềm vui do nghe chánh pháp). Nghe những pháp âm ấy đều mở mang trí huệ, khiến cho cơi ḷng của quư vị càng thêm thanh tịnh, tự nhiên bèn niệm Giác, niệm Chánh, niệm Tịnh “tự niệm Tam Bảo, đắc chánh niệm lạc dă” (tự niệm Tam Bảo, đạt được niềm vui Chánh Niệm). “Thử trung hiển hóa cầm, vi phong, thụ, vơng đẳng âm, năi nhất thiết y chánh giả thật” (Đoạn này thể hiện những âm thanh của loài chim biến hóa, gió nhẹ, cây cối, lưới mành v.v… chính là y chánh giả - thật). “Y” là y báo, “chánh” là chánh báo; Giả là Tướng Phần, tức là cái được biến hiện (sở biến), c̣n Thật là pháp tánh năng biến (chủ thể thực hiện hành vi biến hiện). Pháp tướng được biến hiện ra là giả, v́ sao? Chúng sanh diệt trong từng sát-na, pháp tánh năng biến là chân. “Đương thể tức thị A Di Đà Phật tam thân tứ đức, hào vô sai biệt dă” (Bản thể của chúng là ba thân, bốn đức của A Di Đà Phật, không mảy may sai biệt), [những giả tướng như các loài chim được biến hóa, gió nhẹ, hàng cây v.v..] là do A Di Đà Phật biến hiện ra. Ba thân của A Di Đà Phật là Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân; bốn đức là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh.

Không những kinh này dạy những con chim ấy không phải là súc sanh v́ Tây Phương Cực Lạc thế giới không có ba ác đạo, mà ngay cả đến những tên gọi ba ác đạo cũng đều không có, huống là có thật, toàn là A Di Đà Phật biến hóa ra đó thôi! Phải biết những chuyện biến hóa này chỉ thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ, v́ sao? Người thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ là những người mới vừa văng sanh, phàm t́nh c̣n chưa đoạn hết. V́ thế, A Di Đà Phật rất từ bi, đúng là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức biến hóa ra những sự ấy. Từ chỗ này, chúng ta có thể thấy đúng là đức Phật từ bi đến cùng cực, A Di Đà Phật thực sự là một vị thầy tốt, khéo ra rả khuyên dụ.

Tiếp đó là “t́nh dữ vô t́nh, đồng tuyên diệu pháp, tứ giáo đạo phẩm, vô lượng pháp môn, đồng thời diễn thuyết, tùy loại các giải, năng linh văn giả, niệm Tam Bảo dă” (hữu t́nh và vô t́nh cùng tuyên nói diệu pháp, [ba mươi bảy] Đạo Phẩm trong bốn giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên), vô lượng pháp môn đồng thời diễn nói, tùy mỗi loại đều hiểu, có thể khiến cho người nghe thấy đều niệm Tam Bảo vậy). V́ sao nghe xong tự nhiên ai nấy khởi ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng? Do hoàn cảnh quá tốt. Hoàn cảnh ấy do A Di Đà Phật biến hóa ra. Ở nơi đây, nếu chúng ta muốn thiết kế một hoàn cảnh tốt đẹp, chúng ta phải dùng rất nhiều tâm tư để thiết kế, phải tưởng tượng mới thiết kế được!

Chúng ta biết ở Trung Quốc vào thời cổ, có rất nhiều khu vườn rừng do sức người tạo thành. Tại Tô Châu, Dương Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh, có rất nhiều chỗ, thuở xưa kia, quốc vương, đại thần, trưởng giả giàu có lớn lập ra những hoa viên trong nhà họ với quy mô rất lớn. Có lẽ cái hoa viên mọi người quen thuộc nhất (do đọc bộ tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng) là vườn Đại Quan trong Hồng Lâu Mộng, nó được dụng tâm thiết kế tinh vi. Tây Phương Cực Lạc thế giới là vườn Đại Quan thực sự chẳng dùng đến thiết kế, tự nhiên biến hóa ra. Cơi đó vi diệu đến mức cùng cực, không có cách nào tưởng tượng có một thế giới tốt đẹp đến thế! Cơi ấy do tánh đức tự nhiên lưu lộ. Nếu quư vị thực sự đạt đến cảnh giới thuần thiện thuần tịnh, khôi phục hoàn toàn tự tánh, th́ trong tự tánh sẽ hết sức tự nhiên lưu lộ những thứ tốt đẹp như vậy, một tí xíu khuyết hăm t́m cũng chẳng ra.

Do nhân công thiết kế th́ dù khéo đến đâu vẫn có sai sót, vẫn có khuyết hăm, không có cách ǵ thập toàn thập mỹ được. Do tự tánh lưu lộ th́ chân thiện, thuần thiện, trong đó, t́nh và vô t́nh (“t́nh” là những con chim, “vô t́nh” là cây cối hoa cỏ) đều thuyết pháp. Ở đó, lúc chim hót nếu quư vị nghe kỹ sẽ thấy là tiếng thuyết pháp. Khi gió lùa qua lá, cây toàn là cây báu, lá cây chạm vào nhau, phát ra những âm thanh cũng là thuyết pháp. Âm thanh thuyết pháp trong Tây Phương Cực Lạc thế giới trọn khắp pháp giới, trong hết thảy thời, hết thảy nơi không hề gián đoạn.

Nội dung thuyết pháp là “Đạo Phẩm thuộc bốn giáo, vô lượng pháp môn, đồng thời diễn nói”. Đồng thời diễn nói há chẳng phải là nghe thành tiếng loạn xạ ư? Chẳng phải vậy. Quư vị muốn nghe pháp môn nào, quư vị sẽ nghe pháp môn đó được nói. Hai người chúng ta cùng ngồi một chỗ, tôi muốn nghe kinh A Di Đà, lắng nghe toàn thấy là kinh Di Đà; anh ngồi bên cạnh tôi, anh thích nghe kinh Hoa Nghiêm, những ǵ anh nghe được toàn là kinh Hoa Nghiêm. Tuyệt diệu! Đấy thực sự chính là như trong Phật pháp thường nói: “Phật dĩ nhất âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (Đức Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, mỗi loại chúng sanh đều hiểu). Vô lượng vô biên pháp môn, quư vị muốn nghe pháp môn ǵ liền được nghe pháp môn ấy.

Trong thế gian hiện tại này của chúng ta chẳng thể làm được chuyện ấy! Ví dụ như với những thiết bị ta hiện đang có như thế này, chúng ta có pḥng phát âm, chúng ta đem mấy chục bộ kinh điển thậm chí mấy trăm bộ kinh điển (quá nhiều cũng không được) cùng phát trên các băng tần (phát trên mấy chục băng tần, hay mấy trăm băng tần khác nhau), đồng thời phát đi. Quư vị muốn nghe một loại kinh nào, vẫn phải vặn nút này nút nọ, bắt đúng tần số mới nghe được, không đúng tần số chẳng nghe được! Hai người chúng ta ngồi cùng một chỗ, mỗi người có một cái máy thâu âm nhỏ, tôi nghe kinh Hoa Nghiêm, tôi vặn sang tần số kinh Hoa Nghiêm; bạn nghe kinh Di Đà, bạn phải vặn sang tần số kinh Di Đà.

Ở Tây Phương Cực Lạc thế giới không cần phải phiền phức như vậy, chẳng có băng tần chi hết, mà cũng chẳng cần đến máy móc ǵ. Thuận theo ḷng muốn, muốn nghe ǵ liền được nghe thứ đó, muốn thấy ǵ bèn thấy những h́nh ảnh đó, thật chẳng thể nghĩ bàn! Nếu như đang ở Tây Phương Cực Lạc thế giới mà đột nhiên nghĩ: Ta từ thế giới Sa Bà đến đây, những thân thích bè bạn của ta trong thế giới Sa Bà hiện thời ra sao? Ư niệm ấy vừa khởi lên, thế giới Sa Bà liền hiện ngay trước mắt quư vị, đều thấy rơ hết, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, đến được thế giới Cực Lạc là thực sự đạt được đại viên măn, không giả chút nào. Nay chúng tôi nói như vậy, người tin tưởng ngày càng nhiều hơn, v́ sao? Khả năng tánh (possibility) ấy được khoa học thừa nhận, được những nhà khoa học gần đây phát hiện ra.

Cư sĩ Chung Mậu Sâm đă từng báo cáo với chúng ta ở đây. Mấy hôm trước, ông ta gọi điện thoại cho tôi: Lần báo cáo trước ông ta chưa thỏa ư lắm, ông ta muốn báo cáo lại. Được chứ! Tôi hoan nghênh ông ta lên núi bất cứ lúc nào để báo cáo tường tận lần nữa tại xưởng phát h́nh của chúng ta. Nội dung bản báo cáo lần này của ông ta gồm ba sự kiện:

1) Phát hiện thứ nhất: Dưới một điều kiện nào đó, thời gian và không gian không c̣n nữa. Thời gian và không gian bằng zéro. Nếu nói không có thời gian th́ không có xa - gần, Tây Phương Cực Lạc thế giới ở đâu? Ở ngay nơi đây, A Di Đà Phật đối diện với chúng ta, giống như kinh Phật đă nói. Thời gian không c̣n nữa th́ quư vị có thể thấy được quá khứ, có thể thấy được vị lai. Quá khứ, hiện tại, vị lai không c̣n nữa, biến thành một. Kinh Phật thường ghi: “Như thị ngă văn: Nhất thời...” (Tôi nghe như thế này: Một thời…). “Một thời” có nghĩa là như vậy, thời gian và không gian bằng zéro. Đấy là điều phát hiện thứ nhất của khoa học.

2) Phát hiện thứ hai: Trong Không sanh ra Có. Kinh Bát Nhă đă nói vậy, Mọi người thường đọc Tâm Kinh: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc” đủ chứng minh đạo lư này. Dưới một điều kiện nào đó, trong Không sẽ sanh ra Có; dưới một điều kiện nào đó, Có trở thành Không. Có lại quy về Không!

3) Điều thứ ba được báo cáo là khởi nguyên của vũ trụ. Khởi nguyên của vũ trụ là “nhất thời đốn hiện”, chứ không phải là tiến hóa (phát triển dần dần tốt hơn). Trước kia mọi người tin tưởng vào thuyết tiến hóa, nay khoa học tiến bộ hơn, phát hiện vũ trụ không phải là tiến hóa, mà là nhất thời đốn hiện. Điều này hoàn toàn tương đồng với những ǵ kinh Phật đă giảng. Cho thấy kinh Phật không phải là ngụ ngôn, chẳng phải là thần thoại. Người xưa thiện căn sâu dầy, họ tin tưởng! Người hiện tại thiện căn chẳng sâu dầy như thế, cứ phải dùng chứng cứ khoa học để chứng minh th́ mới chịu tin. Điều này cho thấy tiền nhân so với con người chúng ta hiện tại, nếu nói một cách thông tục, họ lợi hại hơn chúng ta. Trí huệ của họ cao hơn chúng ta, thiện căn sâu dầy hơn chúng ta.

Nếu ngày nay không có những chứng thực khoa học ấy, chúng ta sẽ dùng hai chữ “mê tín” để gạt bỏ sạch, có phải là đáng tiếc quá hay không? Chúng là chân lư, là sự thật chân chánh mà trong một đời này ta bỏ lỡ mất. V́ thế, nay chúng ta đọc được những điều này, đọc đến những cảnh giới như kinh điển đă nói, có khoa học giúp phần chứng minh th́ tín tâm càng sâu thêm hơn, tư duy càng thêm rộng mở; do đấy, phát sanh ḷng tin, sanh khởi ư muốn văng sanh, có nguyện vọng cầu được chứng. Nếu quư vị mong được văng sanh, mong được cầu chứng th́ hăy hành theo những phương pháp dạy trong kinh điển, quư vị sẽ chứng thực.

Phần sau, [sách Yếu Giải] có một đoạn tổng kết nhỏ, tổng kết về y báo trang nghiêm: “Linh thâm tín nhất thiết trang nghiêm, giai Đạo Sư nguyện hạnh sở thành, Chủng Trí sở hiện” (Làm cho [người nghe kinh] tin tưởng sâu xa rằng hết thảy sự trang nghiêm đều do nguyện hạnh của đấng Đạo Sư tạo thành, do Chủng Trí hiện ra). Đây là nói về Phật lực gia tŕ khiến cho người học tin sâu, đúng là chẳng dễ dàng! Bởi vậy, trong kinh đức Phật đă nói [pháp môn Tịnh Độ] là “pháp khó tin”. Nếu không có khoa học làm chứng cho chúng ta th́ đúng là trong một vạn người t́m không ra được một người [thực sự tin tưởng]. Đối với hiện thời th́ phải nói ra sao? Phải nói đến một ức người. Chỉ sợ trong một ức người, chỉ t́m được có một người! Trên thế giới hiện thời có gần bảy mươi ức người (bảy mươi tỷ); như vậy, trong toàn thế giới, người thực sự thâm tín chỉ có khoảng bảy mươi người là cùng, họ nhất định văng sanh, quư vị thấy tỷ lệ ấy không cân xứng! Trong một ức, tức là trong một vạn vạn người (một trăm triệu), chỉ có một người. Hy vọng với luận chứng khoa học này, chúng ta phổ biến tuyên dương cho mọi người đều biết, khiến cho người tin tưởng kinh giáo sâu xa càng ngày càng nhiều. V́ sao? Có chứng cứ khoa học, không phải mê tín, đó là chuyện thật, chẳng phải giả đâu!

Hôm qua tôi nghe nói ở Trung Quốc Đại Lục xây đập nước trên Trường Giang, ngày hôm qua bắt đầu ngăn nước. Đại khái, mực nước trong hồ chứa trong tương lai sẽ cao hơn một trăm bảy mươi (170) mét. Rất nhiều cổ tích hai bên bờ sông đều bị ngập dưới nước. Rất nhiều thần miếu, ngay cả thành Phong Đô (thành Phong Đô[6] là Quỷ Thành) trứ danh trong lịch sử Trung Quốc cũng bị ch́m mất. Một giải Trường Giang có rất nhiều miếu thờ long vương, miếu long vương lớn nhỏ ǵ cũng bị ch́m ngập hết. Chúng tôi xem bản tin đó, có người fax cho chúng tôi xem, cho biết họ thông cáo những quỷ thần bên bờ sông, kể cả những yêu ma quỷ quái sống ở hai bờ Trường Giang, khuyên họ phải dọn nhà, càng quan trọng hơn là khuyên họ phải niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ.

Hoàn cảnh cư trú, đạo tràng hương hỏa của bọn họ nay hoàn toàn bị nước nhận ch́m, nhất định chẳng thể trách móc cư dân trong lưu vực Trường Giang, hy vọng những quỷ thần ấy hiểu đạo lư, phát tâm từ bi, di cư đến chỗ đất báu tốt đẹp hơn, quyết chẳng giáng tai ương xuống đầu quần chúng. Mọi người cho là mê tín, hoàn toàn không hợp khoa học, thế nhưng hiện thời có rất nhiều khoa học gia tin tưởng linh giới quả thật tồn tại. Họ gởi những tin tức ấy cho chúng tôi, tôi nói: “Rất tốt! Làm như vậy rất là hay, thực sự có cảm ứng”.

Mẹ bà cư sĩ họ Hồ văng sanh trong ngày thứ Sáu, ngày hôm đó đạo tràng chúng ta phát khởi Tam Thời Hệ Niệm để siêu độ bà. Đến ngày hôm sau, ở chỗ chúng ta có cảm ứng, có đồng tu bảo tôi: “Mẹ bà ta đến chỗ chúng tôi”. Có thật đấy, chẳng giả đâu! Tuy Hàn quán trưởng văng sanh đă hơn năm năm rồi, không ít người cảm nhận bà ta đến các đạo tràng của chúng ta để hộ tŕ, chẳng hề rời khỏi. Rất nhiều đồng tu chúng ta không hoài nghi, đều biết chuyện đó. Bởi vậy, những điều đó khiến chúng ta càng phải tin sâu chẳng nghi, hết thảy sự trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là do hạnh nguyện của A Di Đà Phật tạo thành, do Chủng Trí hiện ra, do trí huệ Bát Nhă trong tự tánh biến hiện. Đó là nói về phía Phật.

Đoạn kế tiếp là: “Giai ngô nhân tịnh nghiệp sở cảm, duy thức sở biến” (Đều do tịnh nghiệp của chúng ta cảm vời, chỉ do thức biến), chẳng phải là hoàn toàn do Phật hiện, không liên quan ǵ đến chúng ta. Tâm, nguyện, giải, hạnh của chúng ta phải tương ứng với Phật th́ cảnh giới ấy đồng thời hiện tiền. Nếu tâm - nguyện - giải - hạnh của chúng ta hoàn toàn trái nghịch, chúng ta chẳng thấy được cảnh giới do đức Phật đă hiện. Phải tương ứng th́ mới thấy được! “Đều do tịnh nghiệp của chúng ta cảm vời” là nói về người niệm Phật văng sanh. Chúng tôi thường nói: Tâm - nguyện - giải - hạnh của người niệm Phật văng sanh tương ứng với A Di Đà Phật; bởi vậy, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, họ thấy được cảnh giới ấy, có thể thọ dụng!

“Phật tâm, sanh tâm hỗ vi ảnh chất” (Tâm Phật và tâm chúng sanh làm ảnh chất cho nhau): Ảnh chất là ǵ? Chất () là thực chất, ảnh () là huyễn ảnh; giống như thân một người đứng dưới bóng mặt trời, thân ta đây là chất, tức thực chất, mặt trời chiếu xuống có bóng, có bóng của chúng ta, cái bóng đó là huyễn ảnh. A Di Đà Phật là thực chất, chúng ta là huyễn ảnh; chúng ta là thực chất, A Di Đà Phật là huyễn ảnh: “Hỗ vi ảnh chất” (làm ảnh chất cho nhau). Chẳng thể nói nhất định A Di Đà Phật là thực chất, bọn phàm phu chúng ta là huyễn ảnh, không thể nói như vậy được! Nói như vậy là bất b́nh đẳng, nói như vậy không phải là chân tướng sự thật, phải là “làm ảnh chất cho lẫn nhau”. Chúng sanh - Phật, ảnh - chất là một, không phải hai, chẳng thể nghĩ bàn!

Tiếp đó, sách lại nêu một tỷ dụ: “Như chúng đăng chiếu, các biến dĩ nhất” (Như các ngọn đèn chiếu sáng, ánh sáng mỗi ngọn đèn chiếu khắp mọi nơi, giống như là ánh sáng của một ngọn đèn), giống như chúng ta thắp rất nhiều đèn trong một gian nhà, ngọn đèn nào cũng thắp hết, quư vị thấy giống như chỉ có một ánh sáng; thật ra, ngọn nào tỏa sáng ngọn đó. V́ sao? Nếu chúng ta thổi tắt đi, ánh sáng của ngọn đèn ấy không c̣n nữa, trọn chẳng trở ngại các ngọn đèn khác. Thắp lên, nó lại sáng bừng, ḥa lẫn ánh sáng với những ngọn khác. Thật ra, mỗi ngọn tỏa sáng riêng, ánh sáng của mỗi ngọn đều rọi khắp cả pḥng, ánh sáng rọi lẫn nhau, tợ hồ như một, nhưng không phải là một, không phải là một mà dường như là một.

“Toàn lư thành sự, toàn sự tức lư, toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, diệc bất khả thâm tư hỹ” (Toàn bộ lư trở thành sự, toàn bộ sự chính là lư, dùng toàn bộ tánh ấy để khởi tu, cũng chẳng thể không suy nghĩ sâu xa vậy). Đấy mới là chân tướng của sự thật, chân tướng của nhân sinh và vũ trụ là như vậy, thế giới Cực Lạc là như vậy, mà t́nh trạng hiện tại của địa cầu chúng ta trong thế giới Sa Bà này cũng là như vậy. Bất đồng là v́ tâm nhiễm - tịnh bất đồng, hạnh có thiện - ác bất đồng. Tây Phương Cực Lạc thế giới tâm thuần tịnh, hạnh thuần thiện. Ở nơi chúng ta đây, nhiễm nhiều, tịnh ít, ác nhiều, thiện ít! Bởi vậy, trong thế giới này tai nạn nhiều, khổ nạn nhiều, nguyên nhân là v́ đây. Nay đă hết giờ rồi!

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

phần 6 hết



[1] Mặc tẫn (Brahmadanda): C̣n phiên âm là Phạm Đàn hoặc Phạm Đát, theo nghĩa gốc là một h́nh thức nhằm đối trị những kẻ ngoan cố, bướng bỉnh trong Tăng chúng. Hành Sự Sao, quyển 22 ghi: “Nói Mặc Tẫn, là như luật Ngũ Phần dạy: ‘Pháp Phạm Đàn là hết thảy thất chúng (tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di), đều chẳng nói chuyện với kẻ phạm lỗi”. Sách Tư Tŕ Kư giảng rơ hơn: “Phạm Đàn là trước cung điện của Phạm Vương lập một cái đàn cao, chư thiên nếu có vị nào chẳng đúng pháp, sẽ bị bắt đứng trên đó, không được nói chuyện với bất cứ ai qua lại. Trong luật Ngũ Phần, do tỳ-kheo Xiển Đàn (tức Xa Nặc) năo loạn Tăng chúng nên Phật chế định dùng phương pháp ấy [để đối trị]”. Nói chung, đây là phương pháp ngăn dứt tranh căi. Kẻ biết phục thiện th́ khuyên can; chứ nếu với kẻ ương bướng, ngang ngược, tốt nhất là dùng phương pháp im lặng, không tranh căi với hắn, tránh xa, không quở trách, không phê b́nh, nhưng không giao thiệp với hắn, hắn sẽ không có cớ ǵ quấy rối được nữa. Ở đây, “mặc tẫn” được dùng với ư nghĩa rộng: Không tranh căi với những kẻ căi chày căi cối. Ta giữ chủ kiến của ta, tu theo pháp môn của ta, không mất hơi sức tranh căi với những kẻ chẳng thèm đọc kinh sách Tịnh Độ mà cứ nhơn nhơn cao giọng phỉ báng pháp môn Tịnh Độ.

[2] Chúng tôi không dịch “linh môi” thành ông đồng bà cốt, mà để nguyên tiếng Hán với dụng ư nhấn mạnh những người thực sự có khả năng giao tiếp với linh giới, chứ không phải hạng đồng bóng quàng xiên bịp bợm.

[3] Chữ “linh” (spirits) ở đây chỉ những hữu t́nh chúng sanh không phải là con người như chư thiên, ngạ quỷ, a-tu-la v.v...

[4] Tam hiền thập thánh: Tam Hiền là các địa vị Bồ Tát trước khi đạt đến Thập Địa, gồm Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Thập Thánh là mười địa vị Bồ Tát thuộc Thập Địa.

[5] Thiên Hoàng (Tennō) là danh xưng của hoàng đế Nhật Bản, nhưng khi trực tiếp xưng hô với vua th́ dùng chữ Mikado (hoàng đế). Thiên Hoàng được coi là con cháu trực tiếp của Thái Dương Thần Nữ, và là lănh tụ tôn giáo cao nhất của Thần Đạo (Shinto) Nhật Bản. Hoàng gia Nhật là hoàng gia là ḍng dơi cai trị lâu đời nhất từ năm 660 trước Công Nguyên đến nay, theo Nhật Bản Sử Kư và Cổ Sự Kư, Thiên Hoàng đầu tiên là hoàng đế Thần Vũ (Jimmu Kamuyamato Iwarebiko) và ngôi vua được truyền liên tục từ đó cho đến Nhật Hoàng hiện đại là Minh Nhân Thiên Hoàng (Akihito Tennō).

[6] Phong Đô là một huyện của thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên. Tại Phong Đô có một nơi gọi là Quỷ Thành nằm ngay trên núi Phong Đô, tương truyền đây là nơi cư ngụ của Phong Đô Đại Đế (vị chưởng quản cơi Âm) theo tín ngưỡng dân gian của Trung Hoa. Từ thời Hán Ḥa Đế, Quỷ Thành đă được triều đ́nh sắc phong là Quỷ Quốc Kinh Đô, và được Đạo Giáo coi là một trong số 72 nơi gọi là “động thiên phước địa” tại Trung Hoa. Theo các nhà nghiên cứu, tại núi Phong Đô, theo truyền thuyết (được Cát Hồng ghi lại trong bộ Thần Tiên Truyện), thoạt đầu có hai vị đạo sĩ là Vương Phương B́nh và Âm Trường Sinh tu luyện thành tiên tại núi này, Đạo giáo về sau coi hai vị này là “Thiên Sư” của núi, và ghép hai tên hai vị này thành Âm Vương dẫn đến sự ngộ nhận nơi này là chỗ cư ngụ của vua cơi Âm (âm vương), dẫn đến h́nh thành niềm tin Phong Đô là chỗ âm tào quản lư linh hồn người chết. Với công tŕnh xây đập thủy điện Tam Hiệp, nơi này đă bị vùi sâu dưới nước.