Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư

Phần 8

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

Tập 22

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp tiết thứ hai của đoạn thứ hai “nhất sanh thành Phật” (thành Phật trong một đời) [trong sách Yếu Giải]:

      “Kinh vân: Di Đà Niết Bàn, Quán Âm tức bổ Phật vị, hiệu Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, quốc danh Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm, kỳ Phật diệt hậu, Đại Thế Chí Bồ Tát tức bổ Phật vị, hiệu Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai” (Kinh dạy: Đức Phật Di Đà nhập Niết Bàn, ngài Quán Âm liền kế tục thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, cơi nước tên Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, Đại Thế Chí Bồ Tát liền kế tục làm Phật, hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai). Đoạn kinh này thuyết minh Tây Phương Cực Lạc thế giới quả thật thù thắng khôn sánh, không giống với các cơi Phật phương khác. Thông thường, các cơi Phật khác sau khi Phật diệt độ nói chung sẽ có một khoảng thời gian [không có Phật], thời gian ấy dài hay ngắn không giống nhau. Nói chung, sẽ giống như trong thế giới Sa Bà của chúng ta, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, Bổ Xứ Bồ Tát nay đang ở trên trời Đâu Suất; thọ mạng trên cơi trời Đâu Suất hết rồi, Ngài mới đến thị hiện thành Phật trong thế gian này. Thọ mạng trong cơi trời Đâu Suất rất dài. Chúng ta biết một ngày trên trời Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân gian. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Một ngày trên trời Đao Lợi bằng một trăm năm dưới trần, thọ mạng của Đao Lợi Thiên là một ngàn năm. Dạ Ma Thiên nhiều gấp bội: Một ngày trên Dạ Ma Thiên bằng hai trăm năm trong nhân gian; thọ mạng là hai ngàn năm. Trời Đâu Suất lại tăng gấp bội: Một ngày trên Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân gian; thọ mạng là bốn ngàn năm.

      Chư vị cứ tính ra là biết ngay: Một ngày bằng bốn trăm năm, mỗi năm lại có ba trăm sáu mươi lăm ngày mà [thọ mạng] lại có đến bốn ngàn năm lận; v́ thế, trong kinh Di Lặc Hạ Sanh nói: Đại khái nếu tính theo năm tháng trong nhân gian th́ thọ mạng cơi trời Đâu Suất là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Sau năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, Di Lặc Bồ Tát mới từ cơi trời Đâu Suất giáng sanh thị hiện thành Phật trong nhân gian. Đâu Suất Thiên là Tri Túc Thiên, là nơi cư trụ của Bổ Xứ Bồ Tát. V́ vậy, nói thật ra, thời gian có Phật trong thế gian này của chúng ta rất ít, thời gian không có Phật rất dài. Quư vị thấy pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm, phải năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau, Di Lặc Bồ Tát mới giáng sanh; trong đêm tối dài dằng dặc ấy, chúng sanh đau khổ thay!

      Thế nhưng, Phật, Bồ Tát hết sức từ bi, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, Di Lặc Phật chưa xuất sanh, trong khoảng thời gian đó làm thế nào đây? Chúng ta thấy trong kinh Địa Tạng, Thích Ca Mâu Ni Phật đă ủy thác Địa Tạng Bồ Tát thay Phật giáo hóa chúng sanh. Sứ mạng của Địa Tạng Bồ Tát rất lớn, trong một thời gian dài dằng dặc như vậy phải giúp đỡ chúng sanh khốn khổ, hoạn nạn. Chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới khác xa thế giới của ḿnh: A Di Đà Phật thị hiện nhập bát Niết Bàn, Quán Âm Bồ Tát lập tức thị hiện thành Phật. Quán Âm Bồ Tát thành Phật, thế giới ấy không gọi là Cực Lạc nữa, mà đổi thành thế giới Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Quán Âm Bồ Tát có đức hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta tiên đoán sự kiện trong vô lượng kiếp sau. A Di Đà Phật vô lượng thọ, mà A Di Đà thành Phật đến nay mới chỉ mười kiếp; nói cách khác, Ngài mới thành Phật chưa lâu. Thế giới Cực Lạc hết sức thù thắng!

      Quán Âm Bồ Tát thị hiện thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Sau khi lăo nhân gia nhập diệt, Đại Thế Chí Bồ Tát lại thị hiện thành Phật tiếp theo liền. Lúc đó, chẳng gọi là Đại Thế Chí Bồ Tát, mà gọi là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai. Thật đấy! Công đức bảo vương của Bồ Tát thù thắng khôn sánh, quư vị thấy Ngài tu tập, tích lũy công đức trong vô lượng kiếp lần vô lượng kiếp, thị hiện gương sáng cho chúng ta thấy. Cớ sao chúng ta không thể tích cực đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức? Tuy Pháp Thân Bồ Tát đă chứng đắc tâm tánh đến mức cùng cực, Ngài vẫn v́ hết thảy chúng sanh thị hiện tu đức, từ bi đến mức độ cùng cực; dạy dỗ chúng ta, làm gương cho chúng ta thấy. Nếu chúng ta không giác ngộ, chẳng thể lănh hội, làm sao xứng đáng với Phật, Bồ Tát đă v́ chúng ta thị hiện, diễn nói?

      Đoạn tiếp theo [trong sách Yếu Giải] là: “Phục thứ, Thích Ca nhất đại thời giáo” (Lại nữa, trong giáo pháp suốt một đời của đức Phật Thích Ca), ư nói Phật Thích Ca Mâu Ni bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, “duy Hoa Nghiêm minh nhất sanh viên măn, nhi nhất sanh viên măn chi nhân, tắc mạt hậu Phổ Hiền Hạnh trung, thập đại nguyện vương, đạo quy Cực Lạc. Thả dĩ thử khuyến tấn Hoa Tạng hải chúng, tư chi, tư chi” (chỉ riêng ḿnh kinh Hoa Nghiêm giảng rơ cái lẽ viên măn trong một đời, nhưng đến cuối cùng cái nhân viên măn trong một đời lại nằm ngay trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Lại c̣n dùng những điều đó để khuyên lơn, khích lệ đại chúng đông như biển trong thế giới Hoa Tạng. Hăy nghĩ đi, xét đi). Tôi đă từng nhiều lần thưa cùng các đồng học rồi, phải suy nghĩ kỹ càng, chúng ta không phải là thượng căn, không phải lợi căn, nói miễn cưỡng th́ là căn tánh bậc trung. Nói thật ra, Phật, Bồ Tát gia tŕ thọ mạng cho tôi. Nếu tôi không có thọ mạng, có thể nói là cả một đời này tôi chẳng có thành tựu ǵ cả. V́ sao?

Khi xưa, tôi theo thầy Lư, thầy Lư đau ḷng rát miệng khuyên tôi tu học pháp môn Tịnh Độ, thậm chí c̣n nói: “Anh thấy từ xưa đến nay không ít tổ sư đại đức, đức hạnh, đạo đức, học vấn của các Ngài, chúng ta thực sự không thể sánh bằng”. Đúng là như vậy! “Chúng ta không thể viết ra sách Yếu Giải như Ngẫu Ích đại sư, cũng không thể viết bộ Sớ Sao như Liên Tŕ đại sư. Họ là những bậc đại trí huệ, đại đức hạnh nhưng đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”, thầy Lư nêu những thí dụ như vậy. “Nếu pháp môn này không đúng, các vị tổ sư đại đức, đại thiện tri thức nhiều ngần ấy đều đi lầm đường”, thầy Lư bảo: “Chúng ta cũng lầm một phen đâu có sao!” Nói những lời như vậy để khuyên tôi, tôi rất cảm kích, nhưng vẫn không chết sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư dốc ḷng nơi pháp môn này. Tôi chết sạch ḷng mong ngóng, khiêm hư dốc ḷng học pháp môn này là vào năm Dân Quốc 60 (1971) khi giảng kinh Hoa Nghiêm tại Đài Bắc. Lúc ấy tôi cũng thường ra ngoại quốc, v́ vậy giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Bắc cứ gián đoạn hoài, tôi nhớ phải giảng gián đoạn như vậy chừng đâu mười mấy năm mà chỉ mới giảng được một nửa kinh, vẫn chưa giảng hoàn tất. Hàn Quán Trưởng văng sanh rồi mà kinh Hoa Nghiêm vẫn c̣n giảng dang dở.

      Mỗi lần về lại Đài Loan, tôi lại tiếp tục giảng kinh Hoa Nghiêm. Có một ngày tôi đột nhiên nghĩ Thiện Tài đồng tử tu pháp môn nào? Do tôi giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Loan là giảng đồng thời hai bản Bát Thập và Tứ Thập. Mỗi tuần giảng ba lần, hai lần giảng Bát Thập Hoa Nghiêm, một lần giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm. Cả hai bản đều giảng nửa chừng rồi ngưng. Chú tâm tra cứu kinh, chú tâm xem đọc, thật là bất phàm! Thiện Tài đồng tử tu pháp môn Niệm Phật. Thầy của Thiện Tài đồng tử là Văn Thù Bồ Tát cũng phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Ngài phát nguyện gần như hoàn toàn giống với Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù và Phổ Hiền đều cầu sanh Tịnh Độ. Thiện Tài là học tṛ đắc ư của ngài Văn Thù. Nếu học tṛ đắc ư chẳng thể kế thừa nguyện vọng của thầy th́ chẳng phải là đệ tử truyền pháp!

Lại xem kỹ: Thiện Tài đồng tử đi tham phỏng, gặp được vị [thiện tri thức] đầu tiên là tỳ-kheo Cát Tường Vân (bản Bát Thập Hoa Nghiêm ghi là Đức Vân, bản Tứ Thập dịch là Cát Tường Vân) dạy Ngài pháp môn Niệm Phật. Nay ta gọi phương thức mà bản thân tỳ-kheo Cát Tường Vân tu hành là Ban Châu tam-muội, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Vị thiện tri thức đầu tiên mang ư nghĩa biểu pháp rất sâu, cổ nhân thường nói “tiên nhập vi chủ” (học pháp nào đầu tiên, pháp ấy là chủ). Pháp môn thứ nhất của Thiện Tài đồng tử là niệm Phật, tiên nhập vi chủ mà! Lại xem đến cuối cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba, tức vị cuối cùng, là Phổ Hiền Bồ Tát: Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Tôi hiểu rơ: Tỳ-kheo Cát Tường Vân khởi đầu, Phổ Hiền Bồ Tát kết thúc, từ đầu đến cuối Thiện Tài tu pháp môn nào? Tu pháp môn Niệm Phật! Lúc đó, tôi mới chết sạch ḷng mong ngóng, so đo, khiêm hư sát đất, không c̣n nghi hoặc nữa, chẳng c̣n do dự nữa, tôi đă hiểu rơ rồi. Huống chi Văn Thù và Phổ Hiền khuyên dạy bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng, những hải chúng (đại chúng đông nhiều như biển cả) trong thế giới Hoa Tạng này, ai nấy đều cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chúng ta hăy nghĩ xem: Trang nghiêm đến mức độ nào?

      Lại xem thấy Tỳ Lô Giá Na Như Lai (đều là thị hiện cho chúng ta thấy), Tỳ Lô Giá Na Như Lai hoan hỷ, không nói: “Văn Thù! Phổ Hiền! Sao các ông đem đại chúng của ta đi hết vậy? Mọi người trong đạo tràng của ta đều mang qua thế giới Cực Lạc th́ đạo tràng này biến thành cái ǵ đây? Chắc chắn trong thế gian của ta sẽ nẩy sanh hiểu lầm. Đừng có nói là các ông đem toàn bộ mọi người đi, dù chỉ đem một, hai người đi, ta cũng không chấp thuận!” Trong đạo tràng này, nhất là những người thông minh lanh lợi, dụng công tu hành, nếu quư vị đem đi hết mà không được lăo ḥa thượng của tự viện đồng ư là lôi thôi liền!

      Trong thế giới Hoa Tạng, chúng tôi tin Văn Thù, Phổ Hiền nhất định phải được Tỳ Lô Giá Na Phật đồng ư. Tỳ Lô Giá Na Phật chấp thuận: “Tốt lắm! Mọi người đều đi được”. V́ sao? Đến thế giới Cực Lạc thành Phật nhanh chóng, so với Hoa Tạng nhanh hơn nhiều lắm, rút ngắn thời gian. Tỳ Lô Giá Na Phật chẳng có tư tâm, Phật Phật đạo đồng, chư Phật chỉ có một nguyện vọng là hy vọng mọi người mau chóng thành Phật; nhanh nhất th́ không ǵ hơn là đến thế giới Cực Lạc thân cận A Di Đà Phật. Bởi vậy, Văn Thù, Phổ Hiền suất lănh các vị Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mươi địa vị văng sanh Cực Lạc thế giới, Tỳ Lô Giá Na Phật hoan hỷ! Chúng ta phải hiểu đạo lư này. Nếu chúng ta biết đạo tràng khác có vị thiện tri thức chân chánh, tôi không bằng vị ấy, các đồng học muốn đến thân cận vị ấy, tôi hoan hỷ, quư vị thân cận vị đó là đúng, không sai lầm chút nào!

      Trước kia, tôi giảng kinh ở Đài Loan có những đồng học là sinh viên đại học, nghe tôi giảng hai ba năm, đến bảo tôi: “Thưa pháp sư! Con muốn qua Đài Trung thân cận thầy Lư”. Tốt lắm! Những vị ấy thông minh, tôi học từ thầy Lư. Các anh thân cận thầy tôi chính là điều tôi cầu không được. Nếu thực sự có duyên phận th́ phải thân cận vị thiện tri thức hạng nhất. Vị thiện tri thức bậc nhất trong các cơi Phật được hết thảy chư Phật công nhận là A Di Đà Phật. Quang minh tôn quư nhất, vua trong các Phật mà! Bởi vậy, chỉ cần quư vị phát tâm thân cận A Di Đà Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc th́ tất cả hết thảy chư Phật đều vỗ tay: “Ngươi thật thông minh! Ngươi chọn lựa đúng!” Những lời tôi thưa cùng quư vị ở đây câu nào cũng đều chân thật. Do vậy, đối với những lời khai thị trong đoạn này, chúng ta càng phải suy nghĩ cặn kẽ.

      Đoạn tiếp theo là: “Ngẫu Công thán viết” (Ngẫu Công than rằng), Ngẫu Ích đại sư than thở, “Ta hồ! Phàm phu lệ đăng Bổ Xứ, kỳ xướng cực đàm, bất khả trắc độ” (Ôi chao! Phàm phu được liệt vào ngôi Bổ Xứ, là một xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột chẳng thể suy lường được!). Trước hết, chúng tôi nói về câu này. Ngẫu Ích đại sư chú giải kinh, viết đến đây, tự ḿnh hết sức cảm thán: Rành rành là phàm phu, một phẩm phiền năo chưa đoạn, đới nghiệp văng sanh đến cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, đương nhiên “liệt vào ngôi Bổ Xứ”. Kẻ ấy không thực sự là Bổ Xứ, chỉ ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát. Không phải là Bổ Xứ Bồ Tát sẽ chẳng thể ở chung một chỗ được, kẻ kia là phàm phu v́ sao lại có thể ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát? Ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát là gần bằng Bổ Xứ, là không khác Bổ Xứ cho mấy. “Kỳ xướng cực đàm” (một xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột), “Kỳ” () ở đây là “hy kỳ” (希奇: hiếm lạ), chưa từng nghe đến, chưa hề thấy qua, nhưng thế giới Cực Lạc lại có chuyện như vậy đấy! “Đàm” () là bàn kinh giảng đạo đến mức cùng  tột. Ngẫu  Ích  đại   tán  thán: Thật  sự   chuyện  này,

không giả đâu!

      “Hoa Nghiêm sở bẩm, khước tại thử kinh (chư Phật sở thuyết đệ nhất kinh, Bồ Tát tu hành đệ nhất pháp môn)” (Những điều riêng ḿnh kinh Hoa Nghiêm có (kinh bậc nhất của chư Phật đă nói, pháp môn tu hành bậc nhất của Bồ Tát) hoàn toàn được nêu lên trong kinh này). Câu trong ngoặc đơn là do tôi viết. Đối với câu này tôi cũng hiểu đôi chút. Chúng ta đọc kinh Hoa Nghiêm, đọc đến cuối cùng “thập đại nguyện vương đạo quy Cực Lạc” (mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc), tức là quy về kinh Vô Lượng Thọ. Cổ nhân gọi kinh Vô Lượng Thọ là Hoa Nghiêm bản trung. Trong ba kinh Tịnh Độ, kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc nhất. Nếu chúng ta dùng ba phần Tự Phần, Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần của kinh điển để nói th́ kinh Vô Lượng Thọ là phần Chánh Tông của Tịnh Độ; kinh A Di Đà là Lưu Thông Phần. Trong kinh này, đức Thế Tôn bốn lượt khuyên chúng ta hăy phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, thật chẳng thể nghĩ bàn! Cổ nhân thường nói một mà hai, hai nhưng ba, ba nhưng bốn, bốn lượt khuyên dạy văng sanh. Chỗ quy túc cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là quy hướng thế giới Cực Lạc. Kinh Di Đà là Hoa Nghiêm tiểu bổn, kinh Vô Lượng Thọ là đại bổn của kinh A Di Đà. Cư sĩ Vương Long Thư hội tập kinh Vô Lượng Thọ cũng đặt tên là Đại A Di Đà Kinh, ông đặt tựa đề kinh như thế. Bởi vậy, đây chính là kinh bậc nhất do chư Phật nói, là pháp môn bậc nhất để các Bồ Tát tu.

      “Nhi thiên hạ cổ kim, tín tiển[1], nghi đa, dư duy hữu phẫu tâm lịch huyết nhi dĩ” (nhưng thiên hạ xưa nay, tin ít, nghi nhiều, tôi chỉ đành mổ tim vẩy máu mà thôi). Đây là lời cảm khái đau ḷng buốt óc của Ngẫu Ích đại sư. Thiên hạ xưa nay, người tin tưởng ít ỏi, kẻ hoài nghi đông đảo, Ngẫu Ích đại sư viết đến đây, nghĩ đến đây, đúng là đau ḷng đến cùng cực! Rơ ràng là trong một đời có thể thoát luân hồi viên thành Phật đạo, chẳng phải đợi đến đời thứ hai, chỉ một đời mà thôi! Một đời viên măn; bởi lẽ, quư vị văng sanh là ra đi khi đang c̣n sống, chẳng phải chết rồi mới đi. Bởi thế, tôi thường nói pháp môn này gọi là “pháp môn không chết”, thực sự không chết. Quư vị thấy đó: Lúc thời tiết nhân duyên chín muồi, người văng sanh thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, từ tạ mọi người: “Phật đến rồi, tôi theo Ngài về thế giới Cực Lạc”. Nói rồi bèn đi, đi ngay trong lúc sống. Đi rồi th́ sao? Không cần đến cái đăy da thối này nữa, vứt bỏ, triệt để buông xuống, đi qua thế giới Cực Lạc đổi lấy thân khác.

      Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là liên hoa hóa sanh, hoa sen ấy do chính ḿnh trồng, chẳng phải do ai khác trồng! Tất cả hết thảy chúng sanh chỉ cần thực sự phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, trong ao sen bảy báu nơi thế giới Cực Lạc sẽ mọc lên một búp sen. Quư vị tín nguyện kiên định, niệm Phật rất siêng, hoa sen trong ao ấy ngày càng to dần, càng tăng trưởng. Lúc quư vị hết tuổi thọ, A Di Đà Phật cầm hoa sen ấy đến tiếp dẫn quư vị. Hoa sen ấy của chính quư vị, chứ không phải của ai khác, trên hoa c̣n có đề tên, chắc chắn không lầm lẫn được. Quư vị vào trong hoa sen, chẳng phải là một đứa bé con dần dần lớn lên, mà là thân tướng giống hệt như Phật. Tây Phương thế giới là pháp giới b́nh đẳng, bỏ nhục thân, đạt được thân ǵ? Được thân vàng ṛng sắc tía giồi mài sáng bóng, trong bốn mươi tám nguyện [của A Di Đà Phật] có lời nguyện này. Tướng hảo, quang minh [của mỗi chúng sanh trong thế giới Cực Lạc] không khác ǵ A Di Đà Phật và Bổ Xứ Bồ Tát, thực sự b́nh đẳng.

Đó là v́ trong quá khứ, lúc A Di Đà Phật đang tu đạo Bồ Tát trong khi tu nhân, đọc trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta sẽ thấy đoạn lịch sử ấy, Ngài đă từng tham phỏng hai trăm mười ức cơi Phật. “Hai trăm mười ức” biểu thị pháp chứ không phải là một con số; trong Mật Tông, hai trăm mười ức biểu thị ư nghĩa viên măn, hàm nghĩa “khắp pháp giới hư không giới, hết thảy các cơi Phật, không sót một cơi nào”, Ngài đều đến tham học hết. Đối với ưu điểm và những chỗ hay của mỗi một thế giới Ngài liền học lấy; những khuyết điểm Ngài đều bỏ đi. V́ thế, sự thành tựu nơi thế giới Cực Lạc chính là do kết hợp tất cả những ưu điểm trong hết thảy cơi Phật khắp pháp giới hư không giới, không có khuyết điểm, cơi ấy được kiến tạo như vậy. Sự kiện này là một sự khải thị rất lớn cho chúng ta! A Di Đà Phật kiến lập Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là đóng cửa mày ṃ tự chế, cũng chẳng phải ở riệt trong nhà nghĩ cách; không phải vậy, mà là sở đắc từ sự tham học. Đấy là học vấn chân chánh, học vấn thực sự!

Chắc chắn Ngài trông thấy thế giới Sa Bà (chắc chắn Ngài đă từng đến thế giới Sa Bà của chúng ta), thấy hết thảy chúng sanh tướng mạo khác biệt. Tướng mạo đẹp th́ phiền năo hiện tiền, phiền năo ǵ vậy? Ngạo mạn! Tướng mạo không đẹp, phiền năo cũng hiện tiền, phiền năo ǵ vậy? Mặc cảm tự ty rất nặng! Những điều này chúng ta đều biết rất rơ. A Di Đà Phật biết điều này, nên tất cả hết thảy những ai văng sanh về thế giới Cực Lạc tuyệt đối chẳng nẩy sanh phiền năo, v́ sao? Tướng mạo mọi người giống hệt nhau, không một ai đẹp hơn ai, cũng không ai có khuyết điểm, thảy đều giống hệt như nhau, thể chất giống hệt, cao - thấp giống hệt, gầy - béo giống hệt, tướng hảo như nhau.

      Nói như vậy th́ chúng ta lại có vấn đề, vấn đề ǵ vậy? Nếu ta muốn t́m một người nào đó, ta biết ai là ai đây? Toàn bộ giống hệt nhau. [Nếu thắc mắc vớ vẩn] như vậy là chúng ta lo xa quá đấy, v́ sao? Chúng ta không có trí huệ, không có huệ nhăn, không có thần thông; nhưng người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều có thần thông nên nhất định chẳng nhận lầm người. Tất cả mọi người tướng mạo giống hệt A Di Đà Phật, nhất định quư vị chẳng thể nhận lầm. Tuy tướng mạo của mỗi cá nhân văng sanh cũng giống hệt nhau, quư vị vẫn chẳng nhận lầm, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, đọc đến đoạn này, hăy nên phát nguyện! Trong kinh này đức Phật lại khuyên chúng ta nên phát nguyện lần nữa, phải nên văng sanh cơi nước kia.

Lại xem tiếp đoạn dưới: “Hạnh Nguyện Phẩm vân” (Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói), tức là trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có đoạn chép: “Thị nhân dục lâm mạng chung thời, nhất thiết chư căn, tất giai bại hoại, dĩ trí thân thuộc, oai thế, tượng, mă, trân bảo đẳng, tất giai tán diệt” (lúc người ấy sắp mạng chung, hết thảy các căn thảy đều bại hoại, cho đến thân thuộc, oai thế, voi, ngựa, các món quư báu v.v... thảy đều tan diệt). Chúng tôi giảng đoạn này trước. Đoạn này nói lên điều ǵ? Lúc thọ mạng con người đă hết, lúc lâm chung, “nhất thiết chư căn, tất giai bại hoại” (hết thảy các căn thảy đều bại hoại), tức là không khởi tác dụng nữa. “Chư căn” như là mắt v.v.., người chết rồi mắt không thể thấy nữa, tai không thể nghe được nữa, mũi không hô hấp, lưỡi cũng chẳng thể động, thân thể cũng chẳng thể cử động. Đó là “nhất thiết chư căn, tất giai bại hoại” (hết thảy các căn thảy đều bại hoại), không khởi tác dụng, sáu căn mất đi năng lực. Thân thể của chính ḿnh là như vậy đó.

C̣n những vật ngoài thân của quư vị như “thân thuộc”, tức là người nhà, quyến thuộc của ḿnh, ḿnh phải chia ĺa. “Oai thế” là địa vị, quyền lực. Dẫu cho địa vị, quyền lực đạt đến cùng cực, làm đến quốc vương; lúc ấy có làm vua cũng không được nữa, thọ mạng đă hết, ngôi vua cũng vứt đi, quyền lực cũng buông xuôi. “Tượng, mă” (voi, ngựa) là công cụ giao thông sử dụng trong thời cổ. Công cụ giao thông hiện tại gồm xe hơi, du thuyền, thậm chí tư gia có máy bay, cái ǵ cũng không mang theo được, không mang theo cái ǵ được hết! “Trân bảo” là của cải; hết thảy các món quư báu do quư vị góp, không mang theo được ǵ! “Giai tất tán diệt” (thảy đều tan diệt), không cầm ǵ theo được, thuộc về người khác hết, quư vị phải giác ngộ điều này! Trong kinh luận, đức Phật thường cảnh tỉnh chúng ta: “Vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân” (Muôn thứ không mang được, chỉ mỗi nghiệp theo thân). Quư vị phải hiểu rơ ràng, minh bạch: Tất cả hết thảy những vật ngoài thân chắc chắn không phải là của chính ḿnh. Bản thân ta cái ǵ cũng không có, ngay đến cái thân này cũng không có, thân thể cũng phải bại hoại.

V́ vậy, trong thế gian này, kinh Bát Nhă giảng rất rơ: “Nhất thiết pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc” (Hết thảy pháp không có sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể được). Đó là chân tướng sự thật. Nếu quư vị cho là hữu sở đắc, vẫn muốn giành lấy th́ quư vị lầm rồi! Quư vị có giành lấy, trong tương lai cũng không mang theo được, lại c̣n tạo thêm vô lượng vô biên nghiệp chướng. Trong thế gian có mấy ai giác ngộ? Có mấy ai thực sự hiểu rơ? Người giác ngộ buông bỏ toàn bộ pháp thế gian, ngay cả thân ḿnh cũng không màng, quyết định chẳng lưu luyến.

“Duy hữu nguyện vương, bất tương xả ly, nhất thiết thời trung, dẫn đạo kỳ tiền, nhất sát-na gian tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (Chỉ có nguyện vương chẳng hề ĺa bỏ, trong hết thảy thời, nó thường dẫn đường đằng trước. Trong khoảng sát-na liền được văng sanh thế giới Cực Lạc). Nói về điều ǵ? Nói về cái quư vị mang theo được. Cái mang theo được là thiện nghiệp, ác nghiệp, tịnh nghiệp, ba thứ nghiệp này đi theo quư vị. Người thực sự giác ngộ đoạn trừ ác nghiệp, tuy vẫn tu thiện nghiệp nhưng quyết không chấp trước. Do không chấp trước nên biến thành tịnh nghiệp; nếu chấp trước liền biến thành thiện nghiệp. Chấp trước th́ quả báo là ba thiện báo; không chấp trước th́ quư vị phải hồi hướng cầu sanh về Tịnh Độ, quả báo của quư vị sẽ là vượt thoát tam giới, vượt thoát mười pháp giới, thù thắng khôn sánh!

Mười đại nguyện vương dạy chúng ta điều ǵ? Quư vị phải biết:

1) Thứ nhất là dạy chúng ta cung kính “lễ kính chư Phật”.

2) Thứ hai dạy chúng ta xưng tán, tức là khen ngợi điều lành, quyết định chẳng ăn nói sai trái. Thấy bất cứ sai trái ǵ cũng trọn chẳng rêu rao, ḥng bồi dưỡng thiện tâm, thiện ư và thiện hạnh của chính ḿnh, miệng không lầm lỗi, “xưng tán Như Lai”!

3) Thứ ba dạy chúng ta bố thí cúng dường “quảng tu cúng dường”.

4) Thứ tư dạy chúng ta “sám hối nghiệp chướng”, phải biết sám hối nghiệp chướng của chính ḿnh.

5) Thứ năm là dạy chúng ta “tùy hỷ công đức”, tùy hỷ công đức hết sức trọng yếu! Hết thảy chúng sanh đều có tâm ghen ghét, tùy hỷ công đức nhằm phá trừ ghen ghét. Trông thấy chỗ hay của người khác, ta không ôm ḷng ghen ghét chút nào, mà tùy tâm, tùy lực giúp đỡ người ta, thành tựu cho người ta. Đó là tùy hỷ công đức. Người ta có công đức nhiều lớn, ḿnh tùy hỷ th́ công đức cũng lớn như người ta vậy, công đức của người ta hoàn toàn chẳng bị giảm thiểu. Cũng giống như người khác có một cây nến đă thắp rồi, ḿnh có một cây nến chưa thắp, người ta dùng cây nến ấy thắp sáng cho ḿnh, quang minh nơi cây nến của người ta không tổn thất mảy may. Cây nến của ḿnh được thắp xong, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tùy hỷ công đức là như vậy đó!

6) Thứ sáu, “thỉnh chuyển pháp luân”.

7) Thứ bảy, “thỉnh Phật trụ thế”.

Thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế không v́ chính ḿnh, mà nhằm lợi ích chúng sanh. Quư vị gặp được thiện tri thức, chúng sanh không biết, ta biết. Ta biết th́ ta thay họ thỉnh, thay mặt cho chúng sanh trong khu vực ấy, thay cho chúng sanh khắp cả thế gian lễ thỉnh thiện tri thức hăy v́ chúng ta giảng kinh, thuyết pháp. Nhân duyên chín muồi, chúng ta phải thỉnh thiện tri thức trụ lâu dài trong khu vực của chúng ta. Thiện tri thức ở lâu dài nơi ấy th́ người ở nơi ấy có phước. Chân thiện tri thức được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, Ngài sống tại nơi này, mọi người chẳng lẽ không được hưởng lây ư? Không phải là ai nấy đều có phước hay sao? Phải là người có trí huệ chân chánh, phước báo chân chánh th́ mới biết khải thỉnh.

Trong thực tế, mười điều nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát chỉ gồm bảy điều, bảy điều trên đây chính là các nguyện [của Phổ Hiền Bồ Tát]. So với trước kia, hiện thời thỉnh chuyển pháp luân thuận tiện hơn. Nay chúng ta có thể lợi dụng những kỹ thuật khoa học cao cấp, lợi dụng mạng thông tin quốc tế (Internet), lợi dụng truyền h́nh vệ tinh (satellite TV) thỉnh pháp sư, thỉnh thiện tri thức giảng kinh, thuyết pháp. Chúng ta đưa CD, băng thâu h́nh lên Internet, phát trên truyền h́nh vệ tinh ḥng lợi ích chúng sanh toàn thế giới. Làm như vậy chính là ǵ? Đều thuộc về thỉnh chuyển pháp luân và thỉnh Phật trụ thế. Hiện tại, hai nguyện trên có thể gộp thành một, hai nguyện gộp thành một, thật chẳng thể nghĩ bàn!

Ba điều nguyện sau đó đều thuộc về hồi hướng, “thường tùy Phật học” là hồi hướng Bồ Đề, “hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh, “phổ giai hồi hướng” là hồi hướng pháp giới và hồi hướng pháp tánh. Do vậy, ba điều nguyện cuối này thuộc về hồi hướng viên măn, đính kèm theo. Mười đại nguyện này dẫn dắt quư vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp tiểu đoạn thứ năm, câu cuối cùng là: “Quán thử tắc phát nguyện cầu sanh, tự thuộc đương vụ chi cấp” (Thấy như thế bèn phát nguyện cầu văng sanh, tự lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách). Thời thời, chốn chốn đều thấy Thế Tôn, Tổ Sư ân cần, khẩn thiết khuyên dạy chúng ta, chỉ sợ chúng ta lại bỏ lỡ cơ hội lần này. Bởi vậy, chúng ta chỉ nên nhớ kỹ: Như trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói đến mười đại nguyện, mười đại nguyện ấy là cương lănh tu học. Ba điều nguyện cuối tôi nói là hồi hướng. Hồi hướng với ư nghĩa ǵ? Nhằm mở rộng tâm lượng, thực sự khôi phục “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Phải biết bổn nguyện của ḿnh vốn sẵn tâm bao thái hư, lượng châu sa giới. Cái tâm này hiện thời nhỏ nhoi dường ấy, thật đáng thương, đáng xót xa lắm! V́ thế, dùng phương pháp hồi hướng này để mở rộng nó, khôi phục nó.

“Thường tùy Phật học” (thường học theo Phật), niệm niệm chẳng quên lời Phật dạy, đó là hồi hướng Bồ Đề. Trong những tôn giáo khác, chúng tôi cũng thường xem kinh điển của họ, hết thảy vinh diệu đều quy về Thượng Đế, đều quy về Chân Chúa! Trong Phật pháp, chúng ta không nói đến Thượng Đế, không có Chân Chúa, chúng ta nói đến thầy, thầy dạy dỗ chúng ta. Con người trong thế gian, vào thời cổ, mỗi người khi có thành tựu, nhất định sẽ quy sự vinh diệu về cha mẹ, về thầy, ḥng báo ân dưỡng dục, báo ân thầy giáo hóa. Niệm niệm chẳng quên, tâm cảm ân. Cái tâm cảm ân ấy trọn khắp pháp giới hư không giới. Đó là hồi hướng Bồ Đề.

“Hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh. Trong đây, quan trọng nhất là Thuận, chẳng phải thuận tạm thời, chẳng phải thuận hữu hạn, mà là hằng thuận, vô hạn, vĩnh hằng! Quư vị thấy chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát giáo hóa hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới, nêu gương tốt cho chúng ta, đó là thuận! Quư vị muốn học điều ǵ bèn giúp cho, chỉ không giúp đỡ khi quư vị học sự bất thiện, học theo cái ác th́ Ngài không dạy. Chứ nếu là thiện th́ không ǵ không dạy! Đại thiện lẫn tiểu thiện đều dạy hết, chẳng nệ nhọc nhằn, chẳng sợ cay đắng, chẳng ngại gian lao, chỗ nào có cầu bèn ứng ở chỗ đó.

Đức Thế Tôn v́ chúng ta thị hiện, lúc đức Phật c̣n tại thế - ta phải biết khi ấy đâu có công cụ giao thông, người xuất gia toàn đi bộ - Phật đi đến mọi nơi dạy dỗ. Vết chân Phật in dấu khắp Ấn Độ, luôn du hành, cực Nam đến tận đảo Tích Lan, ngày nay là Tư Lư Lan Kha (Sri Lanka). Thị hiện ngàn chỗ mong cầu, ngàn chỗ ứng như vậy, địa phương nào muốn thỉnh Phật:  “Xin giáo hóa chúng con!”  Phật bèn đến. Hễ có người

thỉnh, Phật bèn đến.

Học tṛ của Ngài không ít vị là Bồ Tát, Bồ Tát không cần ai thỉnh, chủ động đi đến, làm “bạn chẳng mời” (bất thỉnh hữu) của hết thảy chúng sanh; nhưng Phật nhất định phải thỉnh, v́ sao? Phật đại biểu cho sư đạo, tôn sư trọng đạo, bởi thế, nhất định phải thỉnh. Bồ Tát là đồng học, đồng học chẳng cần phải nghiêm túc, “anh chẳng cần mời tôi cũng đến”; nhưng trong đây vẫn có một điều kiện, trước hết phải lắng nghe xem [người mà ḿnh định tiếp độ] có thể tiếp nhận hay không. Nếu có thể tiếp nhận, hoan hỷ nghe, nghe được, hiểu được, Bồ Tát bèn đến. Chẳng thỉnh Ngài cũng đến, hằng thuận chúng sanh mà! Tuyệt đối chẳng chấp trước vào một pháp môn. Quư vị nói pháp môn Niệm Phật rất tốt, quá tốt ấy chứ! Nhưng người ta không thể tiếp nhận th́ chẳng thể đem pháp môn này ra nói. Họ muốn pháp ǵ, quư vị phải biết! Người ấy có thể tiếp nhận điều ǵ? Quư vị phải biết! Ưa thích điều ǵ? Quư vị phải biết th́ quư vị thuyết pháp mới khế cơ. Điều này những đồng học muốn học kinh giáo phải đặc biệt chú ư, quán cơ (xem xét căn cơ). Chư Phật Bồ Tát v́ thuyết pháp khế lư, khế cơ cho chúng sanh nên dạy dỗ thành công.

Nguyện cuối cùng là “phổ giai hồi hướng”, tức là hồi hướng khắp tất cả, tâm lượng hoàn toàn mở rộng, chẳng có một tí ti bó buộc nào, đúng là trọn khắp hư không pháp giới; khắp hư không pháp giới là Tánh Đức viên măn, Tánh Đức mà! Hư không, pháp giới, cơi nước, chúng sanh đều do tự tánh hiện, chỉ do Thức biến. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật giảng rất rơ: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Hồi hướng khắp tất cả là hồi hướng về tâm tánh, hết thảy đều quy về tự tánh, tất cả hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian phát sanh từ tự tánh, đến cuối cùng trở về tự tánh, đó gọi là đại viên măn!

Bởi thế, nguyện vương này “bất tương xả ly” (chẳng hề bỏ ĺa), lúc con người lâm chung, tất cả hết thảy đều tách rời, không mang theo được ǵ, chỉ mang được theo một ḿnh nguyện vương này. Tịnh nghiệp thù thắng khôn sánh đi theo quư vị, “nhất thiết thời trung, dẫn đạo kỳ tiền” (trong hết thảy thời, nó dẫn đường đằng trước), dẫn dắt quư vị về đâu? Dẫn quư vị về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đó chính là những nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. “Quán thử tắc phát nguyện cầu sanh, tự thuộc đương vụ chi cấp” (Thấy như thế bèn phát nguyện cầu văng sanh, tự lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách trong hiện tại): “Đương” () là “đương hạ”, tức là hiện tiền. “Vụ” () là chuyện bắt buộc phải làm, “cấp” () là lập tức; [“đương vụ chi cấp”] tức là chuyện lập tức phải làm. Nếu quư vị thực sự hiểu rơ, thấu hiểu, sẽ phải làm ngay lập tức, buông xuống hết thảy những thứ khác. Trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, hành vi, nhất định phải tương ứng với kinh giáo.

Tinh thần và nghĩa thú chân chánh của kinh giáo là ǵ? “Thọ tŕ độc tụng, vị nhân diễn thuyết” (thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói), là tám chữ ấy. Những ǵ Phật dạy trong kinh giáo chúng ta tiếp nhận toàn bộ, đó là “thọ tŕ”. Tiếp thâu toàn bộ xong, biến chúng hoàn toàn thành của chính ḿnh. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính ḿnh là hư huyễn, là giả, là nghiệp, nghiệp bất thiện; thảy đều buông xuống hết, thay thế toàn bộ bằng kinh giáo của đức Như Lai. Cách nh́n, cách nghĩ, cách làm của chúng ta hoàn toàn tương ứng với kinh giáo, đó là thọ tŕ! Thọ () là tiếp nhận, Tŕ () là ǵn giữ, chẳng để mất. Chẳng để mất dẫu chỉ một ngày hay chỉ trong một sát-na. Đó là Thọ Tŕ!

“Độc tụng” là ôn tập. Hằng ngày ôn tập, ôn cố tri tân (ôn chuyện cũ để hiểu chuyện mới), trường thời huân tu. Huân tu lâu ngày bèn khai ngộ! Ngộ rồi th́ sao? “Vị nhân diễn thuyết” (v́ người khác diễn nói), tức là thực hiện trong cuộc sống thường nhật, thực hiện trong công việc, thực hiện trong việc xử sự, đăi người, tiếp vật, v́ người khác biểu diễn, v́ người khác diễn nói, hết thảy đều v́ chúng sanh, chẳng v́ chính ḿnh. Hết thảy đều nhằm biểu diễn cho chúng sanh thấy: Đây là cuộc sống giác ngộ, cuộc sống của Phật, Bồ Tát, cuộc sống đại tự tại. Khổng lăo phu tử nói: “Học nhi thời tập chi” (Học rồi luôn tu tập - tức thực hiện). “Tập” () chính là như nay ta nói là “thực hiện”, thực hiện trong cuộc sống, thực hiện trong công việc, thực hiện trong cách xử sự, đăi người, tiếp vật. “Thời” () là luôn luôn, không gián đoạn; tiếp đó là “bất diệc duyệt hồ” (cũng chẳng vui sao); nói theo cách nói của nhà Phật là “pháp hỷ sung măn”, thực sự sung sướng, pháp hỷ sung măn! Sự vui sướng ấy không do bên ngoài mà có, mà là từ trong tự tánh lưu lộ. Tiểu tiết cuối cùng là:

“Kinh vân: Đắc dữ chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”(Kinh dạy: ‘Được cùng các thượng thiện nhân như vậy ở cùng một chỗ’). Kinh văn viết như vậy. “Sở vị Quán Âm, Thế Chí, bả thủ cộng hành” (Ư nói: Quán Âm, Thế Chí nắm tay cùng đi).Bả thủ” (把手) là nắm tay, tay trong tay! Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị đi theo Quán Âm, Thế Chí tức là tay nắm tay cùng đi: Kinh hành, tản bộ, chuyện tṛ, đàm luận Phật pháp, có phải là vui sướng lắm hay không? “Văn Thù, Phổ Hiền thân vi thắng hữu” (Văn Thù, Phổ Hiền làm bạn bè thân thiết thù thắng). Văn Thù và Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng; các Ngài thường sống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Thắng hữu” là bạn bè tốt nhất, bạn bè thù thắng nhất. Câu này miêu tả t́nh trạng cuộc sống và t́nh h́nh học tập tại Tây Phương Cực Lạc thế giới: Những người chung quanh ta toàn là thượng thiện nhân. “Tắc huân đào tự hữu, thành Phật vô nan” (Nên tự được un đúc, thành Phật chẳng khó), không sai chút nào! Chúng ta trường thời huân tu, huân tập, un đúc, là do nguyên nhân ấy, chứ không phải là chẳng có có nguyên nhân.

Vậy th́ v́ sao trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu nhanh chóng đến thế? Thành tựu thù thắng dường ấy? V́ sao trong thế gian này chúng ta chẳng thể đạt được như thế? Xem đến đây quư vị hiểu ngay. Trong thế gian chúng ta, làm sao có thể ngang vai sát cánh cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, chẳng có lẽ ấy! Bồ Tát quá cao! Nhưng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới lại khác, v́ sao khác? Đều là học tṛ của A Di Đà Phật, quan hệ giữa chúng ta là ǵ? Đồng học. Các vị ấy theo A Di Đà Phật đă lâu, chúng ta mới theo. Về thân phận, họ là lớp đàn anh, ḿnh là đàn em, đàn anh đương nhiên phải chăm nom đàn em. Chúng ta có câu hỏi ǵ ngại không hỏi Phật, hỏi họ rất thuận tiện. Một ngày từ sáng đến tối sống cùng một chỗ, cho nên thành Phật không khó.

Tiếp đó là mấy câu tỏ ư mừng rỡ trước vận may: “Thử sanh hữu hạnh, hoạch kiến, hoạch văn, khả bất nguyện sanh dư?” (Đời này may mắn, được thấy, được nghe, há chẳng nguyện văng sanh ư?) Một đời này chúng ta thực sự may mắn, nói đúng ra, ḿnh may mắn quá đỗi! Quư vị được thấy chuyện này, được nghe kinh điển này, há vẫn chẳng bằng ḷng văng sanh ư? Phải hiểu đây là chuyện thành Phật trong một đời, là đại sự nhân duyên bậc nhất trong các pháp thế gian và xuất thế gian, không có chuyện ǵ có thể sánh bằng chuyện này, chúng ta chẳng thể không biết như vậy. Đúng là không thể nào so sánh được. Nếu để lỡ việc này, đúng là tổn thất lớn lao không ai có thể diễn tả được, lớn lao quá mà! Nhân duyên để thành Phật trong một đời mà!

Ngẫu Ích đại sư nói rất hay, v́ đâu ta coi thường? Coi thường là v́ lẽ ǵ? Rất mong đến đó, nhưng không nghiêm túc tu tập thực sự, nguyên nhân v́ đâu? Không tin! Không thực sự tin, trong một đời này thậm chí hằng ngày đọc kinh này, hằng ngày giảng kinh này, nhưng bán tín, bán nghi. Kẻ ấy tin ǵ? Vẫn là tin vào danh văn, lợi dưỡng trong thế gian này, hưởng thụ ngũ dục lục trần, vẫn tin vào những thứ ấy. Nếu bày hai chuyện ấy ở trước mặt, họ sẽ chọn thứ ǵ? Chọn danh văn lợi dưỡng, chọn lấy ngũ dục lục trần thế gian, chẳng chọn lấy Niệm Phật, lầm lẫn ở chỗ này! Bởi thế, đối với việc này Tổ Sư rất đau ḷng, đau ḷng v́ không phải là v́ trong một đời này [chúng sanh] không có cơ hội nghe được, không phải v́ họ nghiệp chướng sâu nặng đến nỗi cả đời không được gặp gỡ pháp này, mà đau ḷng bởi lẽ ǵ? Họ được gặp gỡ, nhưng lại ra sao? Ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, chẳng thể y giáo phụng hành, vẫn cứ tùy thuận phiền năo tập khí của chính ḿnh như cũ, vẫn tạo tác mười ác nghiệp như cũ, biết làm cách nào nữa đây?

Người thực sự hiểu rơ, thực sự tin tưởng sẽ làm hết sức rơ ràng như thế này: Ngay lập tức đoạn trừ mười ác nghiệp! Chẳng những không tạo mười ác nghiệp nữa, mà c̣n quyết định tu mười thiện nghiệp đạo. V́ sao? Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị ở cùng một chỗ với các thượng thiện nhân, dẫu chúng ta chưa phải là thượng thiện th́ cũng phải là hạ thiện. Ngay cả hạ thiện cũng chưa có, làm sao quư vị có thể ở cùng một chỗ với các thượng thiện nhân cho được? V́ thế, người thực sự cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới nhất định đoạn ác tu thiện; đó là điều khẳng định, nhất định tương ứng với Đại Bồ Đề. Chúng ta thường gọi tâm Đại Bồ Đề ấy là chân thành. Người ấy nhất định chân thành, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, đúng là: “Tâm một mực chân thành”, không có nhị niệm, tâm nhất định thanh tịnh, tâm nhất định b́nh đẳng, tâm nhất định chánh giác, tâm từ bi, niệm niệm khởi tâm động niệm nhất định tương ứng với những thứ ấy.

Chúng ta biết con người giác ngộ, hồi đầu ấy trong một đời này nhất định được sanh về Tịnh Độ. Nếu nói tôi tin, tôi hằng ngày niệm Phật, trong mười hai thời chẳng thiếu khóa lễ nào tại Niệm Phật Đường, nhưng tâm địa chẳng thanh tịnh, chẳng b́nh đẳng, ngu si, tự tư, chẳng thành thật, vẫn chẳng thể văng sanh! Cổ đức nói: “Nhất thiên niệm thập vạn thanh Phật hiệu, hăm phá hầu lung dă uổng nhiên” (Một ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, rách toạc cổ họng cũng uổng công) là v́ lẽ nào? Tâm hạnh chẳng lành. Chỉ tốt lành đằng miệng, trong ba nghiệp thân - khẩu - ư th́ thân và ư bất thiện, chỉ có cái miệng từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, chẳng chửi người, như vậy th́ chưa văng sanh được! Quư vị xem kinh Vô Lượng Thọ th́ thấy đúng là như vậy, vừa mở đầu kinh văn, đức Thế Tôn dặn ḍ chúng ta khéo giữ ǵn tam nghiệp, đó là điều kiện cơ bản để cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Điều lành đầu tiên là khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi người khác; khéo giữ ǵn thân nghiệp, chẳng mất luật nghi; khéo giữ ư nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm. Đó là mười thiện nghiệp! Niệm Phật mà vẫn tạo nghiệp th́ tương lai đi về đâu? Đi vào địa ngục đạo!     

Quư vị xem bộ Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao do pháp sư Quán Đảnh soạn vào đời Càn Long nhà Thanh. Trong đoạn cuối cùng của bộ Sớ Sao này có nói đến một trăm thứ quả báo khác nhau của người niệm Phật, câu đầu tiên là người niệm Phật đọa A Tỳ địa ngục. Lúc tôi c̣n trẻ, vừa mới học Phật, đọc đến đoạn này hết sức nghi hoặc: Dù niệm Phật không tốt, lẽ ra chẳng đến nỗi đọa A Tỳ địa ngục, sao lại đọa A Tỳ địa ngục được? Tôi cầm sách đem hỏi thầy Lư: “Rốt cuộc là chuyện ǵ đây? Con nghĩ không ra, không có cách ǵ hiểu được!” Thầy Lư đọc rồi bảo: “Đây là câu hỏi lớn, tôi chẳng giảng cho một ḿnh ông! Khi tôi giảng kinh, sẽ giảng cho khắp đại chúng”. Miệng niệm Di Đà nhưng chẳng đoạn ác nghiệp, kẻ ấy vẫn tạo ác nghiệp. Ác nghiệp nghiêm trọng nhất là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng! Hủy báng Tam Bảo, lẽ đâu chẳng đọa địa ngục? Niệm vị Phật nào cũng vô ích, không ai cứu được hết!

Trong những tội ấy, mọi người dễ phạm nhất là tội tự khen ḿnh, chê người! Hiện nay, chúng ta cũng thường thấy: Trong vô lượng pháp môn, chỉ có pháp môn của tôi tốt, người khác đều trật hết! Quư vị phải hiểu mỗi pháp môn đều do đức Phật nói. Quư vị nói một pháp môn nào không đúng th́ quư vị nói bậy rồi, những pháp môn ấy do ai nói? Do đức Phật nói đấy. Chẳng phải quư vị đă báng Phật ư? Pháp do đức Phật nói! Đừng nói chi khác, cứ nói đơn giản là kinh Vô Lượng Thọ thôi. Ai nấy đều biết kinh Vô Lượng Thọ có mười hai bản dịch, nhưng trải qua nhiều đời bảy bản bị thất truyền, chỉ c̣n năm bản được truyền đến nay. Đối với năm bản đó, nếu nói bản này hay, chê bản kia dở th́ đều là báng Phật, chẳng được nói như vậy. Nếu không hay th́ làm sao được lưu truyền trong thiên hạ? Được lưu truyền trong thiên hạ, nhất định phải có giá trị lưu truyền. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc rất coi trọng giá trị ấy! Nếu anh không có giá trị, mọi người đâu chịu lưu thông; [thế mà các bản dịch ấy được] lưu thông thành sách rất nhiều. Chẳng giống như ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, kỹ thuật ấn loát rất phát triển, in sách rất dễ dàng; thời cổ chẳng dễ dàng như vậy!

Ngay như thời đầu Dân Quốc mới đây thôi, kể ra rất thích hợp [để so sánh]; chúng ta thấy vào thời đầu Dân Quốc vẫn c̣n in sách bằng bản khắc gỗ, rất tốn công. Một người một ngày làm suốt tám chín tiếng đồng hồ, in được bao nhiêu bản? Trước kia, sách được in thành từng quyển, một quyển không nhiều, đại khái chừng sáu mươi hay bảy mươi trang. Một ngày chỉ in có thể in sáu bản! Tôi đến viếng Kim Lăng Khắc Kinh Xứ, họ ấn loát bằng bản khắc gỗ. Khi đó tiến bộ hơn trước nhiều, xưa kia phải dùng muội khói gỗ tùng [làm mực in], hiện thời vẫn dùng muội khói gỗ tùng nhưng pha thêm mực dầu, vậy là tiến bộ hơn trước nhiều! Nhưng khi in th́ vẫn phải áp từng trang lên bản gỗ, đặt giấy lên đó, rồi mới ép xuống, rất tốn công! Làm tám tiếng một ngày, một người chỉ in được sáu quyển. Hiện tại, máy móc quá tiện lợi, in mấy ngàn bản trong ṿng ba bốn ngày là xong, là hoàn tất, công việc được cơ giới hóa. Trước kia dùng sức người, cho nên giá trị của sách vở rất cao. Đúng là người b́nh thường không mua nổi sách.

Khoảng năm Dân Quốc hai mươi mấy, lúc đó tôi chưa đến mười tuổi, chừng tám hay chín tuổi chi đó, Thương Vụ Ấn Thư Quán in bộ [từ điển] Từ Nguyên, in b́a cứng đẹp đẽ thành hai quyển thượng - hạ. Bộ Từ Nguyên ấy chưa được in đẹp đẽ như bây giờ, giá bao nhiêu? Năm đồng Đại Dương. Năm đồng Đại Dương giá trị ra sao? Thưa cùng quư vị, bằng tiền ăn xài của một gia đ́nh bốn người trong cả tháng. Phải mất một số tiền bằng tiền tiêu dùng của một gia đ́nh bốn người trong cả tháng mới mua được sách, mà chỉ mua được một bộ tự điển thôi! Nói vậy, quư vị mới hiểu khi đó sách đắt như thế nào! Người giàu có mới tích lũy sách, sách khi ấy giống như đồ sưu tập của người chơi đồ cổ bây giờ vậy, coi sách như vật quư giá để tặng nhau.

Đọc sách cũng hết sức trân quư. Lúc đọc sách, nhất định chẳng được khuyên hay chấm, không được phép! Muốn khuyên hay chấm th́ làm cách nào? Phải chép lại. V́ thế, trước kia người ta đọc sách, chắc chắn là sách nào ḿnh ưa thích sẽ sao lại một bản. Tự ḿnh sao lấy một bản th́ có thể khuyên hay điểm, có thể dùng bút màu để đánh dấu. Sách bản gốc là bảo bối! Tự ḿnh đọc xong lại c̣n truyền cho đời sau, đời sau lại truyền xuống đời sau nữa. Bởi thế, chẳng được có chút ǵ nhơ bẩn, nhất định chẳng được tổn hoại. Trước kia, sách vở được quư trọng như thế, bây giờ đâu có được như thế! Hiện nay, khoa học kỹ thuật quá phát triển, sách vở biến thành rẻ mạt, chẳng đáng giá, mọi người coi thường; trước kia, sách vở đúng là của báu!

Bây giờ, chúng ta lại xem tiếp đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt đăi” (nhanh chóng vượt thoát, dứt bặt đối đăi), phần này có bốn tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất là: “Hạ phàm chúng sanh, Niệm Bất Thoái trung, siêu tận tứ thập nhất nhân vị (Sơ Trụ chí Đẳng Giác), vị thị phàm phu, khước bất lịch Dị Sanh, tất bổ Phật vị, dữ Quán Âm, Thế Chí vô biệt” (Hạ phàm chúng sanh trong Niệm Bất Thoái, vượt hết khỏi bốn mươi mốt địa vị (từ Sơ Trụ đến Đẳng Giác Bồ Tát) tu nhân, có nghĩa là kẻ ấy tuy là phàm phu nhưng chẳng trải qua [các địa vị] Dị Sanh, ắt bổ vào địa vị Phật, không khác ǵ Quán Âm, Thế Chí). Trước hết, chúng ta đọc đoạn này. Câu trên đây thuộc phân nửa trước của đoạn này. Chữ “hạ phàm” chỉ ai? Những kẻ văng sanh trong bậc Hạ thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ, tức là ba phẩm Hạ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, liền đắc Niệm Bất Thoái. Chẳng những là Niệm Bất Thoái, mà c̣n viên chứng Niệm Bất Thoái. Nếu chỉ nói đơn giản là Niệm Bất Thoái th́ có thể nói là kẻ ấy chỉ bằng với Sơ Trụ Bồ Tát, chúng ta có thể hiểu như vậy. Nếu nói là “viên chứng ba thứ Bất Thoái” th́ khác hẳn, v́ bậc viên chứng ba thứ Bất Thoái là ai? Là Đẳng Giác Bồ Tát. Ở đây, Ngẫu Ích đại sư khẳng định viên chứng ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát, cho nên Ngài viết: “Siêu tận tứ thập nhất nhân vị” (vượt hết khỏi bốn mươi mốt địa vị tu nhân). Bốn mươi mốt địa vị khi c̣n đang tu nhân của Bồ Tát là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, và Đẳng Giác. Đúng là khó tin! Bởi thế, phải nói kẻ ấy là phàm phu nhưng trong một đời nhất định thành Phật “tất bổ Phật vị, dữ Quán Âm, Thế Chí vô biệt” (ắt bổ vào địa vị Phật, chẳng khác ǵ Quán Âm, Thế Chí), không khác ǵ bậc Đẳng Giác Bồ Tát cả! Kẻ ấy là hạ phàm chúng sanh, ở trong thế giới Cực Lạc cớ sao có thể thành được như vậy? Đó là chân tướng sự thật của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tiếp theo đó là đoạn:

“Nhược vị thị Nhất Sanh Bổ Xứ, khước khả danh phàm phu, bất khả danh Đẳng Giác Bồ Tát” (Nếu bảo là Nhất Sanh Bổ Xứ th́ chỉ có thể gọi là phàm phu, chẳng thể gọi là Đẳng Giác Bồ Tát): Kẻ ấy là chúng sanh thuộc ba phẩm Hạ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, nếu quư vị nói kẻ ấy là Nhất Sanh Bổ Xứ th́ chẳng thể nói như vậy được. V́ sao? V́ kẻ ấy thuộc ba phẩm hạ văng sanh về Phàm Thánh Đồng Cư độ, là phàm phu mà! Một phẩm phiền năo chưa đoạn, chẳng thể gọi kẻ ấy là Đẳng Giác Bồ Tát được! Sự việc này “thử giai giáo vơng sở bất năng thâu, sát vơng sở bất năng lệ” (chẳng thể tính gộp trong giáo vơng được, chẳng thể xếp vào sát vơng được). Chữ “giáo vơng” chỉ giáo học; trong giáo học không thể có t́nh huống như vậy được. Trong giáo vơng, theo Ngũ Thừa Phật giáo th́ pháp để phàm phu học tập là pháp Nhân Thiên “Ngũ Giới, Thập Thiện, tứ vô lượng tâm”; họ học những thứ đó. Thanh Văn học pháp Tứ Đế, Duyên Giác học pháp Thập Nhị Nhân Duyên, Bồ Tát học lục độ vạn hạnh, đó là nói về Giáo! Những điều đó không có cách ǵ thích ứng với t́nh trạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, làm sao phàm phu lại ở cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát được? Khác nào học tṛ tiểu học lại học cùng một lớp với nghiên cứu sinh, thành ra thể thống ǵ nữa?

“Sát vơng sở bất năng liệt” (Chẳng thể xếp vào sát vơng): Chữ “sát vơng” chỉ thế giới. Trong tất cả thế giới không có sự việc này! Phàm phu quyết định phải thuộc vào Phàm Thánh Đồng Cư độ, quyết định chẳng dự vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát quyết định thuộc Phương Tiện Hữu Dư độ, chẳng thuộc vào Thật Báo Trang Nghiêm độ. Pháp Thân Bồ Tát quyết định ở trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, chẳng ngụ nơi Phàm Thánh Đồng Cư độ. Sát vơng là như vậy đó. Tây Phương Cực Lạc thế giới phá cái lệ ấy, người thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ ở cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát, mà Đẳng Giác Bồ Tát thuộc Thật Báo Trang Nghiêm độ. Bởi thế, Giáo Hạ của mười phương thế giới không có sự t́nh này, không có cái lệ này. Trong bốn cơi [Tịnh Độ của một thế giới Phật] cũng không có trạng huống này, nên [pháp môn Tịnh Độ] gọi là pháp môn đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nào? Ở đây chúng ta thấy rơ thật là đặc biệt!

Đoạn này giảng “đốn siêu tuyệt đăi” như thế đó, rất trọng yếu. Sau khi quư vị thực sự hiểu được rồi th́ ḷng tín nguyện đối với việc cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng những sẽ sanh khởi mà c̣n kiên định nữa. Đối với việc một đời sanh về Tây Phương Tịnh Độ, đây chính là chỗ mấu chốt.

“Đương tri ngô nhân đại sự nhân duyên, Đồng Cư nhất quan, tối nan thấu thoát” (Nên biết trong đại sự nhân duyên của chúng ta th́ một ải Đồng Cư khó vượt thoát nhất). Câu này luận về các cơi Phật thông thường. Phàm Thánh Đồng Cư Độ là ǵ? Là lục đạo luân hồi. Vượt khỏi luân hồi lục đạo rất khó khăn, “tối nan thấu thoát” (khó vượt thoát nhất). Phật, Tổ nói như vậy, chúng ta phải chú tâm suy nghĩ, quan sát, không được lầm lẫn chút nào. Hăy suy nghĩ: Nay chúng ta đang sống trong cái ải Đồng Cư này, chúng ta có năng lực ǵ để vượt thoát đây? Từ xưa, tổ sư đại đức nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, trừ Tịnh Độ ra, quư vị tu hành bất cứ pháp môn nào cũng không thể thành tựu trong một đời được! Không thể thành tựu sẽ chẳng thể vượt thoát luân hồi được! V́ sao? Bất luận quư vị tu học một pháp môn nào, công phu định lực nhất định phải là Cửu Thứ Đệ Định th́ mới có thể vượt thoát tam giới. Tứ Thiền Bát Định trong tam giới không thể vượt thoát lục đạo luân hồi được!

Bởi thế, nếu quư vị suy nghĩ: Quư vị muốn vượt thoát luân hồi lục đạo th́ công phu định lực phải cao hơn Bát Định. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy sở chứng của A La Hán là Đệ Cửu Định, Cửu Thứ Đệ Định mới vượt thoát được! Chúng ta có năng lực ấy hay chăng? Hiện tại, các nhà khoa học nói đến những chiều không gian khác nhau, Phật pháp gọi là “vượt thoát luân hồi lục đạo”. Cơi trời gồm hai mươi tám tầng, tức là trong Tam Giới có hai mươi tám tầng trời, nghĩa là hai mươi tám thứ không gian có chiều khác nhau. Quư vị phải vượt khỏi hai mươi tám thứ không gian có chiều khác nhau mới vượt được cái ải Đồng Cư này! Xưa kia vào thời Chánh Pháp và Tượng Pháp th́ có người làm được, chứ trong thời kỳ Mạt Pháp th́ không được! Đàm Hư đại sư đă nói về t́nh h́nh này rất khéo, quư vị cứ đọc sách của cụ Đàm sẽ biết ngay; hăy đọc cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục là truyện kư của cụ Đàm.

Tôi chưa từng gặp mặt Sư, nhưng được nghe băng thâu âm lời Sư khai thị trong kỳ đả Phật Thất tại Hương Cảng. Băng ghi âm ấy nay chúng tôi đă chế thành CD, chỗ chúng tôi có lưu truyền. Băng thâu âm lời khai thị ấy, tôi đă nghe ít nhất hơn trăm lần, nghe rất thích, rất cảm động. Sư giảng rất hay. Suốt một đời Sư (lúc đó Sư đă chín mươi tuổi), chưa hề thấy hay nghe nói có một người nào trong Thiền Tông khai ngộ cả, chưa từng nghe nói đến. Sư nói đă từng gặp những người tham Thiền đắc Định, chứ chưa hề gặp người khai ngộ!

Đắc Thiền Định chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo. Nếu đắc Sơ Thiền hay Nhị Thiền th́ nói thật ra sẽ sanh trong Tứ Thiền Thiên, không thoát khỏi luân hồi lục đạo. Bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới thoát khỏi được. Bậc đại khai viên giải bên Giáo, đại sư cũng chưa từng nghe nói có một ai. Người niệm Phật văng sanh chẳng những nghe nói rất nhiều, mà cả đời Sư được chính mắt thấy phải hơn hai mươi trường hợp. Sư thường khuyên người khác niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ; trừ phương pháp này ra, không c̣n phương pháp thứ hai nào nữa cả. Đấy là lời tŕnh bày về kinh nghiệm suốt cả một đời của cụ Đàm. Ngài niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, lúc mất cũng là ngồi qua đời. A! Nay đă hết giờ rồi.

 

Tập 23

 

Chư vị đồng học!

Chúng ta xem tiểu đoạn thứ hai của đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt đăi”. Chúng tôi đọc một lượt: “Đương tri ngô nhân đại sự nhân duyên, Đồng Cư nhất quan, tối nan thấu thoát, duy Cực Lạc Đồng Cư, siêu xuất thập phương Đồng Cư chi ngoại. Liễu thử phương năng thâm tín Di Đà nguyện lực, tín Phật lực phương năng thâm tín danh hiệu công đức, tín tŕ danh phương năng thâm tín ngô nhân tâm tánh, bổn bất khả tư nghị dă”(Nên biết trong đại sự nhân duyên của chúng ta, một cửa ải Đồng Cư khó vượt thoát nhất. Chỉ riêng cơi Đồng Cư của Cực Lạc vượt ngoài các cơi Đồng Cư của mười phương. Hiểu rơ điều đó th́ mới có thể tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Phật Di Đà, tin vào Phật lực th́ mới có thể tin tưởng sâu xa nơi công đức của danh hiệu. Có tin vào tŕ danh th́ mới có thể tin tưởng sâu xa tâm tánh của chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn vậy!)

Tuy những điều được nói trong đoạn này trong phần trên chúng tôi đă nói không ít, nhưng đoạn này có ư nghĩa rất sâu, hết sức trọng yếu. Kinh Pháp Hoa giảng “đại sự nhân duyên”“khai thị ngộ nhập tri kiến Phật”, đó là đại sự nhân duyên của chúng ta. Nói cách khác, cái gọi là đại sự nhân duyên chính là kiến giải, tư tưởng, và trí huệ của chúng ta phải viên măn rốt ráo giống như Phật. Hết thảy nhân quả, cơi nước, chúng sanh trong mười phương ba đời không ǵ chẳng biết, đó chính là đại sự nhân duyên.

Chẳng những không ǵ chẳng biết, mà c̣n không ǵ chẳng thể, chính ḿnh thực sự làm chủ vũ trụ; Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, bốn việc này đều viên măn hiện tiền. Nói thật ra, tự tánh của mỗi chúng sanh đều đầy đủ viên măn bốn việc này; dẫu đầy đủ nhưng lại mê mất tự tánh, nên bốn việc này hoàn toàn không có. Bởi vậy, chúng ta nói “[viên măn] hiện tiền” th́ đó chỉ là khôi phục tự tánh, nhà Phật thường gọi là “minh tâm kiến tánh”, hay là “đại sự nhân duyên”. Đó là cảnh giới tu học tối cao, là mục tiêu chung cục của chúng ta. Phải bắt đầu thực hiện từ đâu? Từ một cửa ải Đồng Cư, phải khởi đầu từ đó. Trước hết, ta phải đột phá được cửa ải này, cũng có nghĩa là phải vượt thoát luân hồi lục đạo. Khó lắm! Hôm qua, tôi đă thưa cùng quư vị, thực sự khó lắm!

Chúng ta không có năng lực vượt thoát, nay đức Thế Tôn dạy cho chúng ta một phương pháp, chẳng cần phải vượt thoát vẫn có thể đột phá được, làm thế nào vậy? Nay chúng ta đang mang thân phận con người trong lục đạo, dùng ngay thân phận này để di dân sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, vẫn mang thân người. Chúng ta mang thân người không có cách ǵ di dân lên thiên đạo, nhưng từ nhân đạo [tại Sa Bà] di dân sang nhân đạo [bên Cực Lạc] chẳng phải là chuyện khó. Chúng ta di dân sang Phàm Thánh Đồng Cư độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Phàm Thánh Đồng Cư độ cơi ấy rất đặc biệt, “duy Cực Lạc Đồng Cư, siêu xuất thập phương Đồng Cư chi ngoại” (chỉ riêng cơi Đồng Cư của Cực Lạc là vượt thoát ngoài các cơi Đồng Cư trong mười phương). Các cơi Đồng Cư của chư Phật, Bồ Tát trong mười phương ba đời đều chẳng sánh bằng cơi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc.

Ấy là v́ trong thế giới Cực Lạc, cơi Đồng Cư, cơi  Phương  Tiện, cơi

Thật Báo, cơi Thường Tịch Quang dung hợp thành một thể, giống như bốn ngọn đèn vậy! Tịch Quang là ngọn đèn lớn, chúng ta nói nó có độ sáng là một vạn chi quang[2], ngọn đèn ấy sáng bừng. Cơi Thật Báo [là ngọn đèn] có độ sáng một ngàn chi quang. Độ sáng [của ngọn đèn] Phương Tiện Độ là một trăm chi quang. Cơi Đồng Cư chỉ sáng bằng một ngọn nến hay một chi quang. Nay cả bốn ngọn đèn ấy đều được đặt trong cùng một căn pḥng, quư vị thấy có diệu kỳ hay không? Cây đèn một nến của ta cũng sáng khắp cả gian pḥng, cây đèn sáng chói trăm nến cũng chiếu khắp pḥng, cây đèn sáng chói một ngàn nến cũng chiếu khắp pḥng. Cây đèn một vạn nến cũng chiếu khắp pḥng, dung hợp thành một thể. Cơi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc giống như vậy đó. Cơi Đồng Cư của mười phương thế giới giống như mỗi căn pḥng chỉ có một ngọn đèn một nến, không giống với Cực Lạc; v́ thế, Cực Lạc vượt ngoài [các cơi Đồng Cư trong các thế giới ở] mười phương.

“Liễu thử” (hiểu rơ điều đó), Liễu () là “minh liễu” (hiểu rành rẽ, rơ ràng). Quư vị phải hiểu rơ chân tướng sự thật này th́ quư vị mới có thể “thâm tín Di Đà nguyện lực” (tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Phật Di Đà), nguyện lực của bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn! V́ sao t́nh h́nh cơi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc lại được như thế? V́ nó được hiển hiện bởi nguyện lực của A Di Đà Phật. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư giải thích điều này rất khéo: Chủ yếu nhất là Di Đà nguyện lực, kế đến là công lực niệm Phật của chúng ta, tức là sức mạnh của tịnh nghiệp. Di Đà nguyện lực giống như ngọn đèn sáng một vạn nến, tịnh nghiệp của chúng ta giống như ngọn đèn một nến, đến nơi đó bèn có thể dung hợp. Nhờ vào nguyện lực của A Di Đà Phật, quang minh ngọn đèn một nến của chúng ta cũng lớn phổng lên, chẳng khác quang minh của A Di Đà Phật cho mấy, đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Quư vị hăy suy nghĩ thí dụ này của tôi, hăy quan sát, dần dần quư vị sẽ lănh hội được. Đó chính là điều chẳng thể t́m thấy trong các thế giới của mười phương chư Phật.

Chúng ta “tín Phật lực, phương năng thâm tín danh hiệu  công  đức”

(tin vào Phật lực mới có thể tin tưởng sâu xa công đức của danh hiệu). Công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn! Đối với mỗi câu trong đoạn này, chúng ta phải đặc biệt chú ư đến chữ “thâm tín” (tin tưởng sâu xa), một mảy hoài nghi cũng chẳng có, tin tưởng sâu xa đấy nhé! Danh hiệu có công đức thù thắng. Trong những năm qua, chúng tôi giảng kinh luận Tịnh Độ, đă tŕnh bày cùng mọi người rất nhiều lần. Qua việc so sánh nhiều tầng, chúng ta sẽ hiểu được công đức của danh hiệu, v́ mỗi khi nói danh hiệu công đức thù thắng khôn sánh, chúng tôi thường nghe nói: “Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng bằng cách nào? ” Chẳng thể đoạn mối nghi hoặc ấy, sẽ không đạt được lợi ích nơi công đức của danh hiệu.

Tôi đă từng tŕnh bày cùng mọi người nhiều lần: Trong thời đại Tùy - Đường, có không ít cao tăng đại đức nghiên cứu hết thảy các kinh do đức Phật đă nói trong suốt bốn mươi chín năm, [muốn t́m ra] bộ nào đại biểu cho toàn bộ những lời dạy trong bốn mươi chín năm của đức Thế Tôn. T́m được bộ kinh nào có thể đại biểu cho toàn bộ giáo pháp th́ cũng chính là khẳng định kinh ấy là bậc nhất trong hết thảy các kinh; [kinh ấy] sẽ là một hội thù thắng khôn sánh trong bốn mươi chín năm thuyết pháp của đức Thế Tôn. Tổ sư đại đức các tông phái đều đồng ư, đều thừa nhận Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là kinh bậc nhất do đức Phật nói ra. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm được gọi là “căn bản pháp luân”. Lúc tôi vừa mới tiếp xúc Phật giáo sơ sài, tiên sinh Phương Đông Mỹ đă giới thiệu kinh Hoa Nghiêm là khái luận Phật giáo, các kinh điển khác đều là những phần đặc biệt thuyết minh tường tận một bộ phận nào đó của kinh Hoa Nghiêm, c̣n kinh Hoa Nghiêm giảng về toàn thể. Thuyết này của tiên sinh Phương Đông Mỹ rất dễ hiểu! Phật pháp khái luận, đúng là như vậy!

So sánh hai bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và Vô Lượng Thọ Kinh, các tổ sư đại đức cũng đều thừa nhận kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất. Hoa Nghiêm đă là đệ nhất, sao Vô Lượng Thọ Kinh lại là đệ nhất? Giải thích cách nào đây? Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng là “mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc”, kinh Vô Lượng Thọ chính là Cực Lạc; c̣n kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng quy vào Cực Lạc. Bởi thế, so với Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất! Cổ đức nói đến đây thôi.

Trên cơ sở này, chúng ta lại tiến thêm một bước nữa. Nay đối với kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta chọn bản hội tập của cụ Hạ Liên Cư. Trong bản hội tập, cụ chia toàn bộ kinh văn thành bốn mươi tám phẩm, chúng ta phải hỏi phẩm nào là bậc nhất trong bốn mươi tám phẩm đó? Chúng ta phải t́m cho ra phẩm bậc nhất. Các tổ sư đại đức cũng đều nói, phần tinh vi đẹp đẽ nhất, không ǵ sánh bằng của kinh Vô Lượng Thọ chính là bốn mươi tám nguyện; tức là phẩm thứ sáu của kinh Vô Lượng Thọ, phẩm thứ sáu là bậc nhất. Phẩm kinh ấy do chính đức A Di Đà Phật nói ra, Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ thuật lại cho chúng ta biết mà thôi. Thuật lại, không thêm, không bớt, nghĩa là A Di Đà Phật nói làm sao, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng kể lại như vậy, kể lại cho chúng ta nghe bốn mươi tám nguyện do A Di Đà Phật đă phát thệ. Phẩm này là phẩm bậc nhất của toàn bộ cuốn kinh. Nói thật ra, bốn mươi tám nguyện giống như hiến pháp của một quốc gia, chúng chính là hiến pháp của thế giới Cực Lạc.

Bốn mươi tám nguyện tức bốn mươi tám điều, điều nào là bậc nhất? Lại t́m ṭi! Đây cũng chính là ư kiến của các tổ sư đại đức, nguyện thứ mười tám là bậc nhất. Nguyện thứ mười tám nói những ǵ? Mười niệm ắt sanh! Điều này nói lên danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Nguyện thứ mười tám nói về danh hiệu: “Lâm mạng chung thời, nhất niệm, thập niệm, tất sanh Tịnh Độ” (Lúc lâm chung, từ một niệm đến mười niệm ắt sanh về Tịnh Độ). Do đây biết rằng: Chấp tŕ danh hiệu là trung tâm của bốn mươi tám nguyện này; bốn mươi tám nguyện chỉ nhằm giải thích công đức của danh hiệu. Kinh Vô Lượng Thọ giải thích bốn mươi tám nguyện, kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm nhằm giải thích kinh Vô Lượng Thọ. Cả một Đại Tạng Giáo, giáo pháp của Đại Tạng Kinh chính là hết thảy các pháp do đức Thế Tôn đă nói trong suốt bốn mươi chín năm chỉ nhằm giải thích kinh Hoa Nghiêm đó thôi!

Có quan sát như vật quư vị mới hiểu danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, Thiện Đạo đại sư nói: “Sở dĩ đức Như Lai xuất hiện trong thế gian, chỉ nhằm để nói biển bổn nguyện của A Di Đà Phật”. Lời nói này chẳng nhằm nói riêng về Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài không nói “sở dĩ Phật Thích Ca xuất hiện trong thế gian” mà nói là “sở dĩ Như Lai...”. Nói “Như Lai” nhằm chỉ chung mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai ứng hóa trong chín pháp giới của vô lượng vô biên cơi Phật, chỉ nhằm một chuyện, nhắm vào một đại sự nhân duyên: Giới thiệu Tịnh Độ của A Di Đà Phật với hết thảy chúng sanh, chỉ để như vậy mà thôi! Thật tuyệt diệu! Bởi vậy, chúng ta tin vào Di Đà nguyện lực th́ mới có thể tin sâu xa công đức chẳng thể nghĩ bàn của danh hiệu!

Nhất tâm tŕ danh ắt sanh về Tịnh Độ. Hăy nhớ kỹ trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường dạy chúng ta: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng), kể cả trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, tâm tưởng là chủ tể. Tâm của quư vị chẳng lành th́ thân thể và hoàn cảnh chung quanh cũng trở thành chẳng tốt đẹp. Thân và tâm phải tốt lành! Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật dạy chúng ta: “Thường niệm thiện pháp, tâm thiện; tư duy thiện pháp, ư thiện; quán sát thiện pháp, hạnh thiện” (thường nghĩ đến thiện pháp là tâm thiện; tư duy thiện pháp là ư thiện; quán sát thiện pháp là hạnh thiện). Thuần thiện, chẳng để mảy may bất thiện xen tạp th́ chính là hạng người nào? Chính là Phật, là Như Lai. Chúng ta muốn làm Phật, muốn làm Như Lai th́ không có ǵ khác cả, phải thuần tịnh, thuần thiện, nhất định chẳng để nhiễm ô mảy may, đó chính là điều tự ḿnh có thể làm được. Người khác gây nhiễm ô cho chúng ta! Nếu chúng ta tiếp nhận ḿnh th́ mới bị nhiễm ô; không tiếp nhận sẽ chẳng thể nhiễm ô. Bởi thế, tự ḿnh phải biết giữ ǵn sự thanh tịnh và thuần thiện của chính ḿnh, điều đó rất trọng yếu. V́ sao không làm?

Trong quá khứ không biết th́ c̣n tha thứ được, nay chúng ta đă tiếp xúc Phật pháp nhiều năm ngần ấy, đă biết rồi. Biết rồi mà quư vị không làm, sai trái là do chính ḿnh! Không thể sốt sắng làm th́ nói chung là có nguyên nhân, nguyên nhân ǵ vậy? Quư vị chẳng hiểu biết triệt để, chẳng biết rơ ràng. V́ thế, biết một phần, hiểu một nửa, bán tín, bán nghi, tạo thành chướng ngại, cho nên chẳng thể làm được! Nếu quư vị thực sự biết th́ lẽ đâu chẳng thể làm được! Lẽ đâu chẳng vui thích làm! Không hề có, trong thế gian t́m đâu ra một con người như vậy? [Hiểu biết triệt để] sẽ có lợi ích vô lượng vô biên cho chính ḿnh, chúng ta quả thật phải khéo suy nghĩ cặn kẽ!

Trong đây lại có chân lư, chân lư ǵ vậy? “Tín tŕ danh, phương năng thâm tín ngô nhân tâm tánh, bổn bất khả tư nghị dă” (Tin vào tŕ danh th́ mới có thể tin tưởng sâu ra rằng tâm tánh của chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn). Câu này là chân lư đấy! Tâm tánh của chúng ta chẳng thể nghĩ bàn, kinh Hoa Nghiêm dạy: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, tâm tánh chẳng thể nghĩ bàn! Hư không do đâu mà có? Thế giới từ đâu mà có? Vô lượng vô biên cơi nước từ đâu mà có? Mọi loài chúng sanh từ đâu mà có? Do tâm hiện, thức biến! Tâm thuần tịnh thuần thiện, ngay cả thiện lẫn tịnh cũng chẳng có dấu vết, chẳng để lại dấu vết v́ thuần mà! Trong Thức có thiện niệm, có ác niệm. Quư vị thấy trong kinh luận của Pháp Tướng Duy Thức Tông, đức Phật nói trong Tâm Sở có Thiện Tâm Sở và Ác Tâm Sở.

Tâm Sở vô lượng vô biên, đức Phật quy nạp thành năm mươi mốt loại. Trong đó, Thiện Tâm Sở gồm mười một loại, Tâm Sở bất thiện là phiền năo gồm hai mươi sáu loại. Nay chúng ta phải làm sao dẹp hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện qua một bên, không đếm xỉa đến chúng nữa, phải làm cho mười một Tâm Sở thiện được nẩy nở, rạng rỡ. Nhất định phải vùi lấp, phải vượt qua hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện th́ chúng ta mới ḥng thành công. Tâm tánh vốn chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vấn đề là ǵ? Là giác, không giác th́ mê, mê là phàm phu, giác là Phật, Bồ Tát. Phàm phu và Phật, Bồ Tát không hai, không khác, chỗ sai khác chính là giác hay mê khác nhau. Giác ngộ th́ phàm phu thành Phật, chẳng giác ngộ bèn là mê hoặc, sẽ thành phàm phu, chuyện là như vậy đó. Lại xem tiếp đoạn sau:

“Cụ thử thâm tín, phương năng phát ư đại nguyện, kinh trung ‘ưng đương’ nhị tự, tức chỉ thâm tín” (Có đầy đủ ḷng tin sâu xa ấy th́ mới có thể phát đại nguyện, hai chữ “ưng đương” (phải nên) trong kinh chỉ ḷng tin sâu xa ấy). Trong kinh, đức Phật khuyên dạy chúng ta: “Ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cơi nước kia), sách Yếu Giải nhắc đến hai chữ “ưng đương” này. V́ thế, chúng ta hiểu rơ tuy chưa thể nói là triệt để, nhưng cũng là hiểu rơ kha khá. Cơi Phàm Thánh Đồng Cư Độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới do đại nguyện và Chủng Trí của A Di Đà Phật hiện thành, do tịnh nghiệp niệm Phật của chúng ta cảm vời, cảm ứng đạo giao! Do tâm tánh của chính ḿnh hiện, tức là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, hết thảy pháp chẳng tách rời tự tánh, [tự tánh] chính là tâm tánh của chính ḿnh. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cũng do tâm tánh của chính ḿnh biến hiện, do nghiệp nhơ (nhiễm nghiệp) cảm thành. Tây Phương Cực Lạc thế giới do tịnh nghiệp cảm thành, do tịnh nghiệp “đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức với A Di Đà Phật” mà cảm thành. Nếu chúng ta chẳng dốc công phu vào ngay chỗ này th́ là trật rồi! Bởi thế, hai chữ “ưng đương” trong kinh chính là nói về ḷng tin sâu đậm.

“Thâm tín phát nguyện, tức Vô Thượng Bồ Đề” (tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề). Từ trước đến nay chưa có ai giảng như vậy. Chúng ta thấy rất nhiều người niệm Phật thực sự văng sanh, nhưng họ là hạng người như thế nào? Không biết chữ, về căn bản chẳng hiểu kinh giáo chi hết, họ biết niệm kinh A Di Đà, nhưng kinh A Di Đà có ư nghĩa ra sao, họ hoàn toàn không biết, chỉ biết niệm A Di Đà Phật, vẫn nghiễm nhiên văng sanh. Văng sanh thực sự có tướng lành, đứng mất, biết trước lúc đi, lúc nào A Di Đà Phật sẽ đến đón ḿnh; hoặc ngồi mất, người ấy không biết chữ! V́ thế, chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy nói muốn văng sanh ắt phải có đủ điều kiện là “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”, chúng ta biết: Đối với người ấy, một dạ chuyên niệm không có vấn đề ǵ, chúng ta có thể khẳng định điều này, nhưng người ấy chưa từng phát Bồ Đề tâm! Người ấy không phát Bồ Đề tâm, v́ sao vẫn có thể văng sanh? Tôi ôm nghi vấn ấy cả mười mấy năm, cứ nghi măi. Về căn bản, bà lăo niệm Phật văng sanh kia chẳng biết Bồ Đề tâm là ǵ cả!

Khởi Tín Luận nói đến trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói đến chí thành tâm, thâm tâm, và hồi hướng phát nguyện tâm, bà cụ làm sao hiểu được những thứ đó, nhưng sao vẫn văng sanh? Lúc đọc Yếu Giải, đọc đến đây tôi mới hiểu rơ. Một câu nói này của Ngẫu Ích đại sư trọng yếu hơn tất cả, nó đă ban cho chúng ta lời giải đáp. “Thâm tín phát nguyện, tức Vô Thượng Bồ Đề”. Về căn bản, người ấy không hiểu Vô Thượng Bồ Đề là ǵ, nhưng tin rất sâu, phát nguyện, không hoài nghi chút nào, đó chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Khi ấy, đọc tới câu này, tôi suy nghĩ măi, càng nghĩ càng có lư, Ngẫu Ích đại sư giảng không sai lầm!

Bởi thế, những người ấy là Hạ Hạ Căn, chúng ta thường gọi là kẻ ngu, không có trí huệ, là người ngu, ngu ngốc nhất, chính là như cổ nhân thường nói “ngu bất khả cập” (ngu không ai bằng), nhưng chúng ta thua xa họ. Họ cái ǵ cũng không biết, nhưng quư vị dạy họ, họ bèn tin, tin chân thành, tin tưởng thực sự, chẳng hoài nghi; dạy họ cầu sanh Tịnh Độ họ bèn thực sự phát nguyện, họ nghiễm nhiên buông thế gian này xuống, chẳng có mảy mảy lưu luyến nào! Kết quả: Niệm Phật dăm ba năm bèn thành công. Thọ mạng vẫn c̣n, nhưng họ không cần đến nữa, bèn văng sanh. Bởi thế, đến đây chúng ta mới thực sự hiểu rơ: “Tin sâu, phát nguyện” chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Quư vị thấy họ đáp ứng tiêu chuẩn “tin sâu, phát nguyện, một dạ chuyên niệm”. Bản thân chúng ta vẫn hiểu lơ mơ, vẫn ngờ vực, lo âu trùng trùng, công phu không đắc lực. Những ông già bà cả kia chuyện ǵ cũng không hiểu, nhưng công phu đắc lực, nay ta gọi là “tập trung tinh thần, tập trung ư chí”, nên có sức mạnh to lớn! Tập trung vào đâu? Tập trung nơi thế giới Cực Lạc, tập trung nơi A Di Đà Phật, phát sanh năng lượng to lớn, cảm ứng đạo giao cùng A Di Đà Phật!

 Mấy hôm trước, pháp sư Ngộ B́nh hạ tải (download) từ Internet xuống một vài văn kiện. [Theo những văn kiện đó], đại khái ở Đài Loan có bốn, năm trường tiểu học, thầy hướng dẫn học tṛ làm thí nghiệm: Dùng thiện ư, bất thiện ư và thái độ không thèm quan tâm để thử tác động lên thực vật và một số vật; dùng ba thứ đề mục đó để trắc nghiệm thực vật, trắc nghiệm hiệu quả đạt được. Thầy tṛ hết sức kinh ngạc [trước kết quả thu được]. Ông Giang Bổn Thắng của Nhật Bản làm thí nghiệm với nước, c̣n trong bản báo cáo này, tại Đài Loan họ dùng hoa lan, ba gị hoa lan. Đại khái h́nh dạng lớn nhỏ không khác nhau chi mấy, chọn mỗi gị hoa xong, treo bên cửa để học sinh mỗi ngày ba lượt, chia thành mấy tổ: một tổ thiện ư, một tổ ác ư, một tổ chẳng thèm quan tâm, tức là mặc kệ không để ư đến.

Thiện ư là nói với hoa: “Hoa đẹp lắm, tôi rất thích hoa”, khen ngợi nó một ngày ba lần; bảo những học tṛ tham gia tổ ấy mỗi ngày ba lần bày tỏ thiện ư với hoa. Tổ bất thiện ư th́ nói: “Tao chán ghét mày quá, tao không thích mày! Mày xấu xí quá đi!”, nói như vậy đấy. Độ mấy ngày sau, hoa được đối đăi bằng thiện ư chẳng thay đổi, rất thơm. Hoa bị đối xử ác ư dần dần héo rụi, không c̣n mùi thơm nữa. C̣n hoa không được quan tâm đến th́ bắt đầu tàn tạ, mục nát ra. Hoa thực sự có thể nghe, có thể tiếp nhận ư tưởng của con người. Họ thí nghiệm với “mạn đầu”[3] , cũng dùng phương pháp trên đối với ba cái mạn đầu nhỏ. Kết quả là cái mạn đầu được đối xử bằng thiện ư, hai tuần lễ vẫn không bị biến đổi; thật đấy! Tợ hồ thiện ư là một loại thuốc chống mục nát vậy. Đối xử bằng ác ư th́ mạn đầu bị biến hóa, mùi vị rất khó ngửi. Cái mạn đầu không được quan tâm đến cũng dần dần bị biến hoại.

Bọn họ dùng chuối, táo, dùng rất nhiều thứ khác. Lại c̣n dùng giá đậu, đậu xanh đă được ủ cho nẩy mầm thành giá. Dùng thiện ư đối xử, mầm giá mọc rất khỏe. Đối xử bằng ác ư, giá mọc rất chậm. Nếu không quan tâm đến, nó bèn chết khô. Họ nhận ra các loài thực vật, ngay cả bánh mạn đầu cũng hiểu được ư nghĩa của con người, đều có thể tiếp nhận hết. Trên thực tế, trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng: Bất luận loại vật chất nào cũng đều có linh tri. Thiền sư Trung Phong gọi cái tâm này là “linh tri tâm”. Linh tri tâm chính là bản thể của hết thảy vạn sự vạn vật, Thể là linh tri.

V́ thế, mỗi tế bào trên thân thể chúng ta, mỗi một sợi lông đều có thể thấy, nghe, cảm nhận, hay biết, đừng tưởng chúng vô tri. Những bậc chân nhân thổ dân Úc Châu hiểu được điều này; bởi vậy, lúc họ trị bệnh, về căn bản là chẳng dùng đến thuốc men. Họ cho rằng khi ḿnh bị thương ở chỗ nào th́ tṛ chuyện cùng với những tế bào chung quanh vết thương, dùng thiện ư an ủi chúng, dần dần chúng sẽ khôi phục b́nh thường, tự nhiên khôi phục b́nh thường. Lúc bị thương chúng bị chấn động, kinh sợ, kinh hoảng nên trật tự bị rối loạn, không b́nh thường, nên chúng ta thấy chúng bị tổn thương. Nếu làm cho mỗi tế bào khôi phục b́nh thường th́ chúng hết khủng hoảng, sẽ trở lại b́nh thường, rất hợp lư! Chẳng cần dùng đến thuốc men! Trên thân quư vị, chỗ nào bị đau nhức, chẳng thoải mái, chỗ đó nhất định phát sanh vấn đề, chúng ta phải mau điều ḥa, giải trừ, an ủi nó, khiến cho nó được khôi phục b́nh thường th́ quư vị sẽ hết bị đau nhức.

Mọi người cảm thấy [nói như vậy] quá thần kỳ, chứ trong Phật pháp, đạo lư này được giảng rất thấu triệt: Nhỏ là một thân, lớn là toàn thể vũ trụ, vũ trụ phải hài ḥa. V́ thế, yêu thương và cảm ơn, cảm tạ chính là vũ trụ hài ḥa. Hài ḥa là nhân tố chẳng thể khuyết thiếu của sanh mạng vũ trụ. Sở dĩ Phật có thể thành Phật, sở dĩ Pháp Thân Bồ Tát có thể thành Pháp Thân Bồ Tát, không có chi khác cả, tôi thường nói: “Chân thành trọn khắp hư không pháp giới, thanh tịnh, b́nh đẳng trọn khắp hư không pháp giới, chánh giác từ bi trọn khắp hư không pháp giới”. Nói cách khác, tâm thương yêu trọn khắp hư không pháp giới, ḷng cảm ơn trọn khắp hư không pháp giới. Ta gọi những vị như vậy là chư Phật Như Lai, là Pháp Thân Bồ Tát. Đáng thương hại thay! Tâm lượng chúng ta quá nhỏ nhen!

Nay từ những thí nghiệm ấy, chúng ta biết được t́nh h́nh trên, kinh Lăng Nghiêm đă từng giảng t́nh h́nh ấy như sau: Chư pháp sở sanh, duy tâm sở hiện, nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Các pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện. Hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần do tâm mà thành Thể). Tâm là linh tri, tâm là kiến văn giác tri. Bởi thế, mỗi một vật thể, dù nhỏ tí như vi trần cũng đều có thể thấy, có thể nghe; ta có thể nói là chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể hay, có thể biết. Nhà khoa học Giang Bổn Thắng dùng phương pháp khoa học để quan sát nước kết tinh bằng kính hiển vi, là một khởi đầu tốt đẹp ḥng làm cho mọi người trong hiện tại nhận biết, dần dần qua thí nghiệm, [chứng thực] hết thảy vạn vật quả thật đều có thể nghe và thấy, đều có thể tiếp nhận năng lượng và tín hiệu từ con người. Chúng ta có thiện ư, chúng sẽ hồi đáp hết sức tốt đẹp.

Chúng ta muốn thân thể của chính ḿnh mạnh khỏe th́ phải dùng thiện ư đối với mỗi một khí quan và mỗi một tế bào trên toàn thân. Thân chúng ta giống như một quốc gia, ư niệm của ta giống như ông Tổng Thống. Mỗi một tế bào giống như nhân dân trong nước. Quư vị phải dùng thiện ư đối xử với họ th́ quốc gia mới cường thịnh, đạo lư là như vậy đấy! Dùng thiện ư để đối xử với mỗi một khí quan hay mỗi một tế bào trên thân chúng ta th́ thân thể mạnh khỏe, cường tráng. Nếu hoài nghi một khí quan nào đó nơi thân: ‘Bao tử ḿnh không tốt, chỗ này chỗ nọ không khỏe!’ Ái chà! Quư vị khởi ư niệm bất thiện đối với chúng, chúng bèn yếu đi. Quư vị có hiểu đạo lư này chăng? Đạo lư này đă được đức Phật đă giảng trong các kinh Đại Thừa, hy vọng các nhà khoa học sẽ dần dần thí nghiệm để khẳng định, chúng tôi tin rằng [những thí nghiệm ấy] không khó đâu, chúng ta đều có thể chứng thực được.

Hiểu được đạo lư này, nếu quư vị muốn cầu thế giới ḥa b́nh th́ không có ǵ khác cả: Dùng thiện ư đối đăi hết thảy tất cả chúng sanh trên thế giới! Chẳng những đối với mọi người trên toàn thế giới, mà đối với hết thảy động vật, hết thảy thực vật, hết thảy khoáng vật, sơn hà đại địa trên toàn thế giới đều đối đăi bằng cái tâm thuần thiện, thuần tịnh th́ thế giới này sẽ an định, ḥa b́nh, hưng vượng, có thể chuyển thế giới Sa Bà thành thế giới Cực Lạc. “Sự thành do người”, người nào vậy? Phải là người giác ngộ mới được! Quyết định chẳng có tâm toan tính riêng tư th́ hết thảy sẽ hóa thành rộng lớn, không có tư tâm, không có dục vọng. Nay chúng ta hiểu được mỗi một khí quan trên toàn thân là do các tế bào hợp thành; cái thân này của chúng ta là một tiểu thế giới, bên ngoài là đại thế giới. Tiểu thế giới và đại thế giới là một, không hai. Đấy là Phật pháp, là pháp giác ngộ chân chánh. Đoạn tiếp theo nói:

“Hợp thử tín nguyện tức vi Tịnh Độ chỉ nam, do thử chấp tŕ danh hiệu, năi vi Chánh Hạnh” (Tín và nguyện này hợp lại chính là kim chỉ nam của Tịnh Độ, do đây mà chấp tŕ danh hiệu th́ đấy là chánh hạnh). Bởi vậy, Ấn Quang đại sư dạy chúng ta trong thời đại hiện tại, chẳng cần phải cất đạo tràng to, mà lập đạo tràng nhỏ, số người cùng tu chẳng được quá hai mươi người, nhất tâm tŕ danh niệm Phật, cầu sanh về Tịnh Độ, ai nấy đều thành tựu. Không hóa duyên, không làm pháp hội, chẳng làm kinh sám Phật sự, cũng chẳng truyền giới, cũng chẳng thâu đệ tử, niệm Phật tu hành tốt đẹp; ngay cả kinh cũng không giảng. Tôi thêm giảng kinh vào. V́ sao thêm giảng kinh vào? Là v́ nếu quư vị không hiểu đạo lư này, sẽ có nghi hoặc, tin sâu, phát nguyện rất khó. Chúng ta không phải là kẻ hạ ngu; kẻ hạ ngu th́ được, họ lợi hại hơn chúng ta nhiều lắm!

Chúng ta lại chẳng phải là thượng trí, vừa không phải là hạ ngu, lơ lửng ở giữa, trên không thấu, dưới không đến, nghi vấn đặc biệt nhiều. Nếu quư vị chẳng chú trọng nhờ vào kinh giáo để đoạn nghi sanh tín th́ “tin sâu, phát nguyện” sẽ không có, công phu chẳng đắc lực. Nay chúng tôi giảng những kinh giáo cũng chẳng có ǵ khác, hoàn toàn quy về Cực Lạc! Giảng kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng ra ngoài lệ ấy, nhất định phải giảng đại đạo lư chân tướng của nhân sinh và vũ trụ cho rơ ràng, cho minh bạch th́ chúng ta mới đoạn trừ nghi hoặc được, chết sạch ḷng so đo, mong ngóng, khiêm hư sát đất tin sâu, phát nguyện. Như vậy th́ mới tương ứng với một câu Phật hiệu, một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật. V́ thế, đấy là Chánh Hạnh. Bây giờ đă hết giờ rồi!

 

*

 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp đoạn cuối cùng: “Nhược tín nguyện kiên cố, lâm chung thập niệm, nhất niệm, diệc quyết đắc sanh” (Nếu tín nguyện kiên cố, lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết định được văng sanh). Trước hết, chúng tôi nói một câu: Từ xưa, tổ sư đại đức công nhận nguyện thứ mười tám là thù thắng nhất, là lời răn dạy thù thắng khôn sánh; nhưng điều kiện là “tín nguyện kiên cố”: Tín tâm quyết định không nghi hoặc, “nguyện sanh” (nguyện được văng sanh) là nguyện vọng, suốt một đời này chỉ có một nguyện vọng này; trừ nguyện vọng này ra, không có nguyện vọng nào khác cả! Đơn thuần như vậy, kiên định như vậy, lâm chung niệm mười câu Phật hiệu, hoặc niệm một câu Phật hiệu, quyết định được văng sanh. Chữ “quyết” này hết sức trọng yếu, khẳng định! Một chút nghi hoặc cũng không có, sẽ quyết định được văng sanh.

Nhưng ở đây, quư vị phải hiểu: Thật ra, không phải ngẫu nhiên đâu nhé! Ngàn vạn phần chẳng được nghĩ v́ đoạn kinh văn này được tổ sư đại đức coi trọng, tán thán dường ấy, chúng ta bèn nẩy sanh ḷng cầu may: “Nay ḿnh không niệm Phật, chẳng tu hành cũng không sao! Đến lúc lâm chung một niệm hay mười niệm đều có thể văng sanh”. Hễ có tâm lư cầu may như thế th́ là hoàn toàn thất bại rồi. Ở phần trên tôi đă thưa cùng quư vị rồi đó, phải thường xuyên ghi nhớ, chớ quên: Lâm chung mười niệm hay một niệm văng sanh th́ nhất định phải hội đủ ba điều kiện. Lúc lâm chung quư vị có thể hội đủ ba điều kiện ấy hay chăng?

1) Điều thứ nhất, lúc lâm chung thần trí phải sáng suốt, không mê hoặc tí xíu nào. Đó là điều kiện đầu tiên. Cả đời người chẳng thể không tu phước, chớ nên tạo tội nghiệp. Người Hoa nói có năm thứ phước báo, “ngũ phước lâm môn”, trong năm thứ phước ấy, quan trọng nhất là phước sau cùng. Phước sau cùng là phước ǵ vậy? Chết tốt lành! Lúc chết tỉnh táo, sáng suốt, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo, đấy là phước báo lớn nhất, là phước báo chân thật nhất. V́ sao? Nó ảnh hưởng đến đời sau của quư vị. Nếu lúc ấy, gặp được người niệm Phật dạy quư vị niệm Phật, quư vị thành Phật rồi! Trong năm phước, bốn thứ phước đầu không thật, chỉ là sự hưởng thụ trong một đời này, trong nhà Phật gọi [những phước ấy] là “hoa báo”, phước cuối cùng (chết tốt lành) là quả báo. Một đời hành thiện tích đức, dùng thiện tâm, thiện sự đối đăi hết thảy người, sự, vật, đối đăi thiên địa quỷ thần; lúc lâm chung sáng suốt, minh bạch, tâm không điên đảo, không tán loạn, lúc ấy niệm một niệm hay mười niệm mới có thể văng sanh. Bởi thế, lúc ấy phải có người cảnh tỉnh quư vị, sợ quư vị quên mất. Như vậy, điều kiện thứ nhất là thần trí sáng suốt, đó là điều kiện đầu tiên.

2) Điều kiện thứ hai là có người cảnh tỉnh quư vị.

3) Điều kiện thứ ba là quư vị có thể tiếp nhận. Người ta cảnh tỉnh bèn lập tức tiếp nhận, liền quyết tâm, tín nguyện lập tức kiên định, cầu sanh về Tịnh Độ chắc chắn được văng sanh.

Quư vị hăy nghĩ xem lúc lâm chung ḿnh có thể hội đủ ba điều kiện này hay chăng? Quan trọng nhất là điều kiện đầu tiên, quư vị phải có phước báo. Chúng tôi thấy rất nhiều thân thích bằng hữu, lúc họ sắp mất, chúng tôi đến đưa đi, có người khi bệnh chuyển nặng, không c̣n biết ǵ hết, chẳng nhận biết được ai, vậy là hỏng bét! Đáng sợ lắm! Lúc lâm chung chẳng biết ǵ hết, mê hoặc, điên đảo, sẽ lưu chuyển theo nghiệp, đáng sợ nhất là chuyện đó! Đoạn ác, tu thiện, tích lũy công đức để làm  ǵ? Để cầu lúc lâm chung ra đi sáng suốt rơ ràng, minh bạch, rành rẽ. Không học Phật, không biết văng sanh Cực Lạc thế giới th́ cũng quyết định sanh vào đường lành. Quư vị hăy nghĩ xem: Con người sáng suốt, minh bạch rành rẽ ấy có thành ngạ quỷ, có thành súc sanh được chăng? Chẳng thể nào! Phàm những kẻ đọa vào ba ác đạo đều chết một cách mê muội, hồ đồ! Trong tam ác đạo có quỷ thần dẫn dụ, mê hoặc, quư vị không biết đó là sai trái, thấy rất hợp ư ḿnh, lôi kéo tham - sân - si - mạn, dẫn khởi phiền năo tập khí của chính ḿnh, đọa lạc liền! Hết sức đáng sợ!

Bởi thế con người phải tu phước, biết tu phước, biết làm lành, chúng ta đều nh́n từ duyên, nh́n từ bên ngoài, không dễ ǵ làm được! Xin giảng sâu thêm một tầng nữa: Người thập niệm văng sanh trong quá khứ đă tu tập, tích lũy thiện căn sâu dầy, đó là cái nhân chân thật! Thiện căn tu tập, tích lũy trong bao kiếp, nhưng trong một đời này không gặp được thiện duyên, không gặp được Phật pháp. Nếu người ấy sớm gặp được Phật pháp th́ thiện căn trong A Lại Da Thức đă sớm dẫn khởi, phát khởi tác dụng, người ấy nhất định là một người tu hành rất tốt đẹp, hay là một vị thiện tri thức rất tốt. Trong đời này không có duyên, không có duyên tiếp xúc với Phật giáo, không có duyên dẫn phát thiện căn. Trong một sát-na lúc sắp mạng chung, trong thời gian ngắn ngủi ấy, gặp được thiện tri thức vừa cảnh tỉnh, vừa chỉ dạy cho biết Tây Phương Cực Lạc thế giới tốt đẹp vừa khuyên lơn, kẻ ấy vừa nghe th́ thiện căn trong A Lại Da Thức bèn phát hiện, lập tức tin tưởng, bèn có thể tiếp nhận, bèn có thể phát nguyện, niệm Phật theo mọi người.

Tại Washington DC chúng ta đă thấy ông Châu Quảng Đại là một trường hợp như vậy. Ba ngày trước khi ông ta văng sanh, tận cho đến lúc văng sanh, thần trí ông sáng suốt, không mê hoặc tí nào, chẳng có chút ǵ tán loạn, dặn ḍ mọi người trong nhà cùng niệm Phật giúp ông. Thân thích, bằng hữu đến thăm đều niệm A Di Đà Phật, vui sướng lắm! Tuy bệnh rất nặng, cơi ḷng ông rất sung sướng, bởi lẽ, niệm Phật giảm thiểu bớt đau khổ, không đau đớn nữa, ông ta kêu mọi người đều niệm Phật giúp ông, niệm ba ngày rồi mất. Có tướng lành! Không biết là đồng học trong Tịnh Tông Học Hội, hay là thân thuộc trong gia đ́nh ông ta, thấy Phật đến tiếp dẫn, thấy tướng lành như sau: Thấy quang minh, ngửi thấy mùi thơm. H́nh như có một người thấy Phật đứng trên nóc nhà, thấy như vậy đó! Tướng lành hy hữu sao!

Chúng ta không biết trong đời quá khứ ḿnh có túc căn hay không, chính ḿnh không biết, nhưng nếu chú tâm quán sát trên mặt dấu vết, chúng ta sẽ có thể thấy được. Nếu trong đời quá khứ thực sự có thiện căn th́ trong đời này người ấy khá hiền lành; chúng ta thường gọi là “người có lương tâm”, chẳng hại người. Đó đều là hiện tượng chứng tỏ thiện căn sâu dầy. Biết cảm thông với người khác, giúp đỡ những người khổ nạn là trong quá khứ từng có thiện căn! Có thể bỏ ḿnh v́ người, biết nghĩ đến đại cuộc, đó đều là h́nh tướng được biến hiện bởi thiện căn và trí huệ. Chúng ta lắng ḷng quán sát sẽ biết ngay. Quan trọng nhất vẫn là chính ḿnh phải nỗ lực tu hành, chú trọng tín nguyện kiên cố, tín - nguyện - giải - hạnh tương ứng với Phật. Lại xem tiếp đoạn dưới:

“Nhược vô tín nguyện, túng tương danh hiệu, tŕ chí phong xuy bất nhập, vũ đả bất thấp, như đồng tường thiết bích tương tự, diệc vô đắc sanh chi lư. Tu Tịnh nghiệp giả, bất khả bất tri dă” (Nếu không có tín nguyện th́ dù có tŕ danh hiệu đến mức gió thổi không lọt, mưa tạt chẳng ướt, giống hệt như tường đồng, vách sắt, cũng không lẽ nào được văng sanh. Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết điều này). Chúng ta phải hiểu rơ đoạn này: Tín tâm nếu lúc có, lúc không, có lúc tợ hồ tin, có lúc lại hoài nghi, nguyện chẳng khẩn thiết. Nguyện chẳng khẩn thiết là v́ lẽ nào? Không buông danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần của thế gian này xuống được! Tín nguyện kiên cố th́ bất cứ sự ǵ trong thế gian cũng buông xuống được, chẳng phải đến lúc mạng chung mới buông xuống, mà buông ngay trong hiện tại. Chúng ta phải hiểu lư sự này, những việc trong hiện tại có cần phải làm hay không? Phải làm chứ! Trong thế gian này, tuy chúng ta ḥa quang đồng trần cùng hết thảy chúng sanh, những việc ǵ nên làm chúng ta đều tích cực nỗ lực làm, nhưng trong tâm không vướng mắc! Trong mười hai thời, một câu Phật hiệu trong tâm niệm niệm không quên.

Thực sự đầy đủ tín nguyện tŕ danh, cổ đức gọi phương pháp niệm Phật như vậy là “bất hồi hướng pháp môn”. V́ sao gọi là “bất hồi hướng?” Không dùng đến hồi hướng! Mục đích của một câu A Di Đà Phật đối với ta là để cầu sanh về Tịnh Độ, cho nên niệm niệm đều là hồi hướng, tŕ danh và hồi hướng hợp thành một. Chúng ta chẳng cầu bất cứ ǵ dù thế gian hay xuất thế gian, ta chỉ có một niềm cầu nguyện là cầu sanh về Tịnh Độ, thân cận Di Đà, nguyện vọng như vậy đó. Bởi thế, gọi là “bất hồi hướng pháp môn”.

Bậc thiện tri thức trong Niệm Phật Đường thường dạy chúng ta hồi hướng để làm ǵ? Để nhắc nhở quư vị, sợ quư vị quên mất, nhằm ư nghĩa này! Hồi hướng, phát nguyện không phải là nói với Phật mà là để thường tự nhắc nhở chính ḿnh, phải biết chính ḿnh niệm Phật để làm ǵ? Tu hành để làm ǵ? Ta đoạn ác tu thiện để làm ǵ? Ăn chay, niệm Phật để làm ǵ? Bố thí, cúng dường để làm ǵ? Quyết định chẳng cầu danh văn, lợi dưỡng thế gian, quyết định chẳng cầu phước báo nhân thiên, chỉ cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cầu sớm có ngày thấy được A Di Đà Phật. Bởi thế, pháp môn này gọi là “bất hồi hướng pháp môn”. Dành trọn thời gian niệm kệ hồi hướng để niệm Phật hiệu, tín - nguyện - giải - hạnh của ta (hạnh bao gồm cả hồi hướng) đều gộp trong một câu Phật hiệu. Đó gọi là thuần tịnh, thuần thiện. Tâm địa thanh tịnh, thân, tâm, thế giới, hết thảy đều buông xuống.

Vậy th́ nếu tín nguyện có vấn đề, bán tín, bán nghi, có lúc muốn về Tây Phương Cực Lạc thế giới, có lúc không muốn đi, có tâm thái như vậy th́ niệm Phật “túng tương danh hiệu, tŕ chí phong xuy bất nhập, vũ đả bất thấp, như đồng tường thiết bích tương tự” (Dẫu chấp tŕ danh hiệu đến mức gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt, giống hệt như tường đồng vách sắt), mấy câu này h́nh dung: Dù quư vị niệm một câu Phật hiệu rất giỏi, cổ đại đức nói một ngày niệm mười vạn tiếng hay niệm hai mươi vạn tiếng, tâm - miệng chẳng tương ứng, cho nên rách toạc cổ họng cũng uổng công. V́ sao? “Diệc vô đắc sanh chi lư” (cũng chẳng có lẽ nào được văng sanh). Quư vị chẳng thể văng sanh v́ quư vị niệm Phật mà tâm và miệng chẳng tương ứng, tâm là ǵ? “Tâm” chỉ cho tín và nguyện. Quư vị không có tín, chẳng có nguyện. Tin chẳng chân thành, nguyện chẳng thiết tha th́ niệm Phật chẳng thể văng sanh. Niệm Phật như thế nào mới có thể văng sanh? Niệm Phật thế nào sẽ chẳng thể văng sanh? “Tu Tịnh nghiệp giả, bất khả bất tri dă” (Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết vậy). Chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, nhất định phải loại trừ những nhân tố khiến cho ḿnh chẳng được văng sanh, phải sửa đổi, nhất định phải thực sự đáp ứng những điều kiện để được văng sanh.

“Đại Bổn A Di Đà Kinh (Đại Bổn A Di Đà Kinh tựu thị Vô Lượng Thọ Kinh), diệc dĩ phát Bồ Đề tâm vi yếu, chánh đồng thử kinh” (Đại Bổn A Di Đà Kinh (Đại Bổn A Di Đà Kinh là kinh Vô Lượng Thọ) cũng lấy phát tâm Bồ Đề làm chủ, chính là giống với kinh này), lấy phát Bồ Đề tâm làm sự việc trọng yếu. Quư vị xem trong kinh Đại Bổn A Di Đà hai phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng Sanh) và Chánh Nhân Văng Sanh chuyên giảng về những điều kiện cần phải hội đủ để được văng sanh. Chúng ta có đủ những điều ấy hay không? Nếu không có đủ, phải gấp tu đi; đă đủ rồi th́ phải ǵn giữ, vĩnh viễn chẳng để bị mất đi. Trong phẩm Tam Bối Văng Sanh, trong mỗi đoạn đức Phật đều nói “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” (phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm). Một phương hướng, một mục tiêu, quyết định chẳng được tam tâm, nhị ư.

Có một lần đúng vào lúc bệnh dịch SARS lan tràn khắp thế giới, tôi nghe nói h́nh như ở Úc Châu có một bài phát biểu cho biết chứng cảm mạo viêm phổi này rất b́nh thường, nhưng làm cho mọi người hoảng loạn, là do hệ thống truyền thông gây ra. Nếu truyền thông không đăng tin, ai biết? Bởi thế, chuyện này vừa phát sanh, có người đến hỏi tôi, tôi nói chuyện này b́nh thường, năm nào cũng có. Trời vừa cuối Xuân sang Hạ, hoặc khi cuối Thu chớm Đông, nhằm lúc đổi mùa th́ trúng gió cảm mạo, bệnh truyền nhiễm lây lan thường phát sanh trong những lúc ấy, năm nào cũng có. Từ xưa đến nay, trong lịch sử Trung Quốc, ngoại quốc đều ghi nhận, chúng ta thấy rất nhiều, là chuyện rất b́nh thường. Nay chúng ta học Phật hiểu được đạo lư sau: Tâm thiện, hạnh thiện, ư niệm thiện th́ những bệnh khuẩn (bacteria), bệnh độc (virus) ấy ta đều hóa giải được hết.

Lúc đó, tôi cứ tưởng bệnh dịch ấy nhiều lắm chừng một tháng là  hết,

nếu dài lắm cũng chừng một tháng rưỡi mà thôi, nay nó kéo dài đă hơn ba tháng, là do con người tạo nên như vậy. Từ các thí nghiệm (những bản báo cáo thí nghiệm này do các đồng học hạ tải từ Internet), chúng ta biết là chính mỗi cá nhân chúng ta đă đem những tin tức bất thiện truyền báo cho các vi khuẩn biết, khiến chúng cũng bị truyền nhiễm những ư niệm bất thiện của chúng ta. Chúng ta muốn giết chết, muốn tiêu diệt nó. Lúc truyền cho chúng nó những ư niệm ấy, chúng bèn biến đổi, càng biến đổi càng độc địa hơn. V́ sao? Chúng cũng phải tự bảo vệ ḿnh chứ! Có phải càng thêm phiền phức hay không? Giống như trên thế giới đang chạy đua vũ trang càng ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu chúng ta dùng thái độ rất ôn ḥa, thái độ thiện ư để đối xử với chúng, quư vị thấy ở Trung Quốc từ xưa đến nay, đối với những loại virus hoặc những vi khuẩn có chất độc, người Trung Quốc nói “giải độc”, tức là hóa giải! C̣n người Tây Dương nói sao? Tiêu độc! “Tiêu” là tiêu diệt, ư niệm khác hẳn nhau!

Bệnh truyền nhiễm này đă phát sanh, đối địch con người, nếu gây chiến với nó th́ rắc rối nằm ở chỗ đối lập. Chuyện đối lập phiền phức nhất. Làm thế nào để hóa giải? Đối với đạo lư này, người học Phật chúng ta hiểu rơ lắm: Những bệnh khuẩn (bacteria) này cũng sanh từ tâm tưởng, cũng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, làm sao có thể vượt ra ngoài tâm tánh cho được? Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến đều là tốt cả. Nói cách khác, nó cũng có quyền sanh tồn, nay chúng ta gọi là “nhân quyền”, vi khuẩn có “khuẩn quyền”, chúng ta phải hiểu điều ấy. Chúng ta phải yêu thương, che chở chúng, chúng ta phải chăm sóc chúng, sanh mạng của chúng không dài! Chúng ta biết thời gian sanh tồn của vi khuẩn chẳng thể lâu hơn mười ngày, sao lại phải hận thù đến vậy? Bởi thế, muốn hóa giải th́ phải dùng thiện ư để khen ngợi, chúng nó sẽ bị hóa giải, không tổn thương con người nữa. Điều này thật có lư! Quyết chẳng thể dùng ác ư, quyết chẳng thể đối địch cùng chúng nó.

Như vậy, từ cách đối xử với những vi khuẩn tí ti, chúng ta mở rộng ra đối với hết thảy người, hết thảy thế gian phải nhu ḥa, nhẫn nhục như thế nào? Căn bản nhất vẫn là phải ngưng dứt tham, sân, si. Tham, sân, si được gọi là ba độc, điều này tôi đă nói từ lâu. Có người hỏi tôi: “Virus SARS từ đâu mà có?” Tôi bảo người ấy: “Từ ba độc mà có”. Những loài vi khuẩn ấy vốn không độc, v́ sao trở thành độc? Là v́ tham, sân, si của chúng ta truyền qua chúng, chúng cảm nhận cái độc nên biến thành độc. Chúng ta biến chúng thành độc, chúng lại truyền cái độc ấy cho chúng ta, hai bên cùng bị hại! Hiểu được đạo lư này rồi th́ chúng ta hóa giải bằng cách nào? Phương pháp hóa giải th́ trước hết là phải hóa giải tham - sân - si, cảnh giới bên ngoài không c̣n tham - sân - si nữa, ba độc cũng không c̣n nữa.

Nhưng con người hiện tại chẳng thể tiếp nhận đạo lư này, con người hiện thời tin vào khoa học, chẳng tin Phật học, tin vào những khoa học gia hiện thời, không tin tưởng cổ thánh tiên hiền. Do vậy, tôi thường nói: Ngày nay thế giới loạn như vậy, con người khổ sở như vậy, truy tầm tới cội rễ th́ là ǵ? “Bất thính lăo nhân ngôn, ngật khuy tại nhăn tiền” (Chẳng nghe lời người già, chịu thiệt tḥi trước mắt). Kinh nghiệm và trí huệ của cổ thánh tiên hiền được tích lũy trong ngàn vạn năm, quư vị coi không đáng một đồng ư? Dùng bốn chữ “không hợp khoa học” để sổ toẹt hết th́ quư vị phải chịu khổ, phải mắc nạn. Bởi thế, người thầy thuốc - thầy thuốc Tây phương hiện thời tôi không biết rành lắm - tôi biết thầy thuốc thời cổ Trung Quốc, tức Trung Y, hầu như trong nhà mỗi thầy thuốc đều thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, phổ biến nhất! Nhà nhà Quán Thế Âm Bồ Tát, thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, học theo hạnh đại từ đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đúng là từ bi cứu thế, ôm tấm ḷng cứu người, chẳng v́ danh lợi của chính ḿnh, chẳng phải vậy! V́ cứu người mà thôi!

Bởi thế, khi chẩn bệnh cho người ta, nhất định chẳng nói tới chuyện tốn bao nhiêu tiền, không hề có! Thầy thuốc không phải là buôn bán kiếm lợi, trị lành bệnh rồi; người ta đền đáp, tùy hỷ cúng dường quư vị. Người ta giàu có, quư vị được tặng nhiều một chút, nhà bần cùng th́ người ta cho ít đi một chút. Thậm chí hoàn toàn không có ǵ, thầy thuốc c̣n phải bố thí thuốc men và chăm sóc! Bởi thế, địa vị người thầy thuốc ở Trung Quốc rất cao, đại chúng xă hội hết sức tôn kính, họ là những nhà đại từ thiện. Ở Trung Quốc, có hai hạng người được tôn kính nhất th́ thứ nhất người đọc sách, theo đuổi công việc giảng dạy; thứ hai là thầy thuốc; bởi lẽ hai hạng người này đều hy sinh phụng hiến cho xă hội.

Dạy học chẳng hề thâu nhận học phí. Thâu học phí th́ c̣n ai muốn theo học nữa! Khổng lăo phu tử dạy dỗ không phân biệt, bất cứ ai chỉ cần thích học th́ cứ việc đến. Học tṛ dâng thầy một chút lễ vật, chúng ta thấy trong sách Luận Ngữ ghi lễ vật rất đạm bạc: “Thúc tu” (束脩). Thúc Tu là ǵ? Người Hoa trong lục địa (Trung Quốc lục địa) gọi [“thúc tu”] là “lạp nhục” (thịt muối). Cắt một lát thịt muối đến biếu thầy, biểu thị ḷng tôn kính đối với thầy, ngoài ra không có ǵ khác nữa. Thầy dạy học hết sức nghiêm túc, đâu biết đến học phí! Bởi thế, người dạy học cuộc sống rất thanh bần, bởi chính ḿnh chẳng theo đuổi sự nghiệp có lời, học tṛ cung phụng thầy rất đơn bạc. Cuộc sống vật chất của người thầy rất khổ, nhưng cuộc sống tinh thần rất thoải mái, rất sung sướng, được hưởng niềm vui giáo dục những bậc anh tài trong thiên hạ. Đấy là sự sung sướng bậc nhất trong thế gian.

Thầy có học vấn, có trí huệ, có năng lực, có thể sống đời sung sướng hơn một chút, v́ sao cam chịu sống bần cùng? Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy tốt, cả đời khất thực, thân giáo đấy! Con người nếu cam tâm t́nh nguyện sống cuộc đời khổ sở như thế th́ xă hội này an định, thế giới ḥa b́nh. Điều đó nói lên điều ǵ? Không cần tranh giành! Đâu đâu cũng phải học lùi bước, nhường nhịn chính là nhân tố thực sự khiến cho xă hội an định, thế giới ḥa b́nh. Nếu chẳng biết nhường nhịn, lùi bước, đâu đâu cũng phải cạnh tranh th́ thế giới này vĩnh viễn chẳng thể ḥa b́nh được, có ḥa b́nh cũng là giả, không thật! Muốn thực sự đạt đến ḥa b́nh th́ nhất định phải sống cuộc đời thanh bần, sống hết sức sung sướng. Chỉ cần ăn no, mặc ấm là đủ, chớ nên cầu xa xỉ quá phận. Mong cầu xa xỉ quá phận sẽ gây rắc rối cho xă hội. Mọi người hăy nghĩ đi: Quư vị muốn bất cứ chỗ nào, bất cứ điều ǵ đều đạt được, th́ người khác cũng mong như thế. Tài nguyên trên địa cầu là hữu hạn, ai nấy đều tranh giành, thèm muốn, sẽ biến thành đấu tranh, biến thành chiến tranh. Phải hiểu đấu tranh và chiến tranh là đôi bên kết mối oán cừu, mối oán cừu ấy chẳng thể giải quyết xong trong một đời, đời đời kiếp kiếp vẫn chưa xong.

Hiện nay trên mạng Internet cũng có đăng tải những tin tức như vậy: Ở ngoại quốc đă chứng minh con người sau khi chết đi quả thật có linh hồn tồn tại. Ở ngoại quốc cũng đă có bác sĩ làm thí nghiệm: Đại đa số là những người bị bệnh tim phát ra đột ngột, chết đi, bác sĩ tuyên bố người ấy quả thật đă chết, ngưng trị liệu. Nào ngờ một hai hôm sau, người ấy tỉnh lại, mọi người cảm thấy hết sức kinh ngạc. Người bệnh tỉnh rồi bèn hỏi: “Lúc ông chết rồi c̣n có hay biết ǵ không? Thấy được những ǵ?” Tra vấn như vậy, có hơn sáu mươi trường hợp như thế, có khoảng bảy tám người trong số hơn sáu mươi người tỉnh dậy đó hiểu biết rất rơ ràng. Kinh nghiệm của mỗi người khác nhau, nhưng có cùng một điểm là họ đều thấy ánh sáng, thấy người nhà quyến thuộc toàn là những người đă mất từ lâu đến chỉ dẫn họ; có người c̣n thấy thiên sứ (angel).

Từ những cuộc khảo sát chứng thực ấy, ta thấy người chết đi không phải là hết, khiến cho những bác sĩ và các nhà khoa học càng nghiên cứu sâu hơn nữa. Hiện tại, báo cáo của những cuộc nghiên cứu như vậy ở ngoại quốc rất nhiều. Đời trước, đời này! Rất nhiều người nghiên cứu, nay họ thực sự tin tưởng con người có thân thể, có tâm, nhưng cái tâm ấy thật ra là Duyên Lự Tâm. Họ c̣n nói có “linh” (spirits), linh là quỷ thần, thuộc vào những chiều không gian khác. Tuyệt đối chẳng phải là con người chết đi th́ hết thảy đều hết. Không phải vậy, quả thật là có quá khứ, có vị lai. Đă có quá khứ, vị lai th́ tư tưởng, ngôn hạnh trong một đời này chẳng thể không cẩn thận, chớ nên đắc tội với người khác. Người khác đắc tội với ḿnh, ḿnh phải tha thứ cho họ, quyết định chẳng ghim trong ḷng, phải hóa giải oán kết ấy, chớ nên đối lập, chớ nên oán hận.

Phật, Bồ Tát, thánh hiền dạy chúng ta: “Oan gia nghi giải, bất nghi kết” (Oan gia nên cởi, không nên buộc), ngàn vạn phần chớ nên kết oán cùng người khác. Người khác xử tệ với ḿnh, ḿnh không có thần thông, chẳng biết chuyện đời quá khứ, nếu ḿnh biết được quá khứ, sẽ hiểu v́ sao kẻ ấy lại có thái độ như thế đối với ḿnh? V́ sao họ chẳng có thái độ ấy đối với người khác? Trong ấy, nhất định phải có nguyên nhân. Nếu hiểu rơ ràng, minh bạch nguyên nhân rồi, chẳng phải là cười kh́ cho qua chuyện hay sao?

Hiện tại, người Tây phương dùng phương thức phổ biến nhất là thôi miên. Thôi miên ở một mức độ sâu; trong lúc bị thôi miên, sẽ nói ra những chuyện trong quá khứ. Có rất nhiều trẻ nhỏ (chúng tôi đọc những báo cáo ấy) sợ tiếng nổ, nghe tiếng nổ bèn bất an, kinh hoảng hết sức, hoảng sợ trầm trọng. Có đứa sợ nước, trông thấy nước sợ điếng. Khi được thôi miên ở một mức độ sâu, chúng bèn nói ra: Sợ nước là v́ trong quá khứ đă bị chết đuối. Đứa sợ tiếng nổ, nghe tiếng nổ kinh hoảng là v́ trong quá khứ từng là binh sĩ, chết trên chiến trường. Bởi thế, nghe tiếng súng nổ liền hoảng sợ, là do mối quan hệ với đời trước như vậy.

Sau khi chúng nó hiểu rơ những chuyện như vậy rồi, những nỗi sợ không c̣n nữa, tiêu trừ hết. T́m được nguyên nhân thực sự, nguyên nhân từ đời trước chứa trong ư thức, người hiện tại gọi là “tiềm ư thức” (subconcious, ta thường nói là Tiềm Thức). Thôi miên ở một mức độ sâu, lôi hết những ǵ trong tiềm thức ra, khiến cho người ấy tự nói ra, dùng máy ghi âm thâu lại, đợi đến lúc người ấy tỉnh, mở cho người ấy nghe, tự ḿnh đă nói, tự ḿnh sẽ hiểu rơ; từ đấy trở đi bèn khôi phục b́nh thường. Những chuyện này cho chúng ta biết một chuyện quan trọng nhất, một chân tướng sự thật là: Ai nấy đều có đời sau. Quan hệ giữa người và người, quan hệ giữa mỗi người và hết thảy chúng sanh đều là mối quan hệ đời đời kiếp kiếp, không phải ngẫu nhiên! Trong thế gian nhất định chẳng có chuyện ǵ phát sanh ngẫu nhiên; nói chung, chẳng ngoài những nhân tố trong đời trước và đời này tạo thành.

Giáo học nhà Phật cũng chẳng có ǵ khác cả, chỉ nhằm khiến cho quư vị liễu giải chân tướng sự thật, thuật ngữ nhà Phật gọi là “Thật Tướng của các pháp” (chư pháp Thật Tướng), nói theo cách hiện thời là hiểu rơ chân tướng sự thật của hết thảy pháp. Thông thường, nhà Phật chia chân tướng sự thật thành sáu hạng mục để thuyết minh:

1) Tánh - tướng: Tánh là tánh của hết thảy pháp, tức bổn tánh; Tướng là hiện tượng.

2) Lư - Sự: Lư là đạo lư của hết thảy các pháp, dần dần h́nh thành. C̣n tác dụng của các hiện tượng được sanh ra, đều thuộc về Sự.

3) Nhân - quả: Tiền nhân, hậu quả. Hậu quả lại biến thành cái nhân hiện tiền, nhân ấy cảm thành cái quả trong đời sau. Nhân quả liên tục, nhân quả tuần hoàn. V́ thế mới nói “nhân quả bất không” (nhân quả chẳng không). Nhân có thể biến thành quả, quả lại có thể biến thành nhân, chuyển biến chẳng không, tuần hoàn chẳng không, tiếp nối chẳng không, phải hiểu đạo lư này! Hiểu được đạo lư này th́ quư vị mới thực sự liễu giải ư nghĩa của việc tu hành, quư vị mới có thể thực sự thực hiện được. Nếu quư vị chẳng tích cực tu hành, đó là v́ quư vị chưa hiểu rơ chân tướng sự thật! Bởi thế, trong thời đại hiện tại, đặc biệt là đối với kinh giáo Đại Thừa, nếu không giảng kỹ, nếu không tích cực nghiên cứu th́ tín - nguyện - hạnh đều có vấn đề, cũng có thể nói là công phu không đắc lực!

Hiện tại, chúng tôi đến rất nhiều nơi ở Trung Quốc và ngoại quốc, cũng tiếp xúc với rất nhiều đồng tu, tợ hồ chuyện linh quỷ dựa vào thân thấy càng ngày càng nhiều. Bị quỷ dựa thân, nếu là báo oán, hoặc đến đ̣i nợ th́ đau khổ không thể chịu đựng nổi! Bị vùi dập mà! Chứng trạng ấy không có cách ǵ trị liệu được, bó tay hết cách! Siêu độ cũng không hiệu quả, siêu độ là ǵ? Là làm trung gian để thương thuyết, vô hiệu! Trên thực tế, v́ sao vô hiệu? Người siêu độ không có một phần thành ư nào cả. Cổ đại đức thường dạy chúng ta: “Chí thành cảm thông”, chúng ta không đủ chí thành. Nếu thực sự chí thành sẽ hóa giải, an ủi kẻ đó, chỉ dạy kẻ đó, giúp cho kẻ ấy nâng cao cảnh giới.

Trong các buổi giảng chúng tôi thường nói: “Hóa địch thành bạn, chẳng cần đối địch, hóa oán thành thân. Mọi sự đều phải hóa giải, chẳng được đối lập”. Thủ đoạn hóa giải trọng yếu nhất là phải thường giao lưu, phải thường gặp gỡ, chẳng thể không qua lại với nhau. Không qua lại với nhau th́ mâu thuẫn ngày càng sâu, phải qua lại nhiều! Giao lưu nhiều! Vấn đề ǵ cũng hóa giải được hết! Sợ nhất là chẳng qua lại với nhau. Giống như quư vị làm thí nghiệm [phản ứng của thực vật và thức ăn đă nói trong phần trên], quư vị dùng thiện ư hay ác ư đối đăi là có qua lại. C̣n về căn bản không quan tâm đến, không qua lại, [những thức ăn] hết sức dễ bị mục nát, tệ hại nhất là không qua lại! Cự tuyệt qua lại chính là sự việc đáng sợ nhất! Nhưng chúng ta phải biết: Chúng ta không có cách ǵ ép buộc người khác được, chính ḿnh phải giữ tấm ḷng giao thiệp cùng hết thảy mọi người. Người khác cự tuyệt ta là chuyện của người ta, cửa nhà ḿnh vĩnh viễn mở rộng đối với người đó. Người ta đóng cửa là chuyện của họ; chúng ta cứ đợi đến lúc họ mở rộng cửa. Nay đă đến giờ rồi!

 

Tập 24

 

6.3.3. Chỉ rơ pháp chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh

 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần tiếp theo “Chánh hiển thị tŕ danh hiệu dĩ lập hạnh”, chúng ta đọc kinh văn một lượt:

 

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc.

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn.

利弗。不可以少善根福德因緣。得生彼國。舍利弗。若有善男子。善女人。聞說阿彌陀佛。執持名號。若一日。若二日。若三日。若四日。若五日。若六日。若七日。一心不亂。

(Này Xá Lợi Phất! Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cơi kia.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói đến A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn)

 

Lại xem tiếp:

 

Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.

Xá Lợi Phất! Ngă kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn: ‘Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ’.

人臨命終時。阿彌陀佛。與諸聖眾。現在其前。是人終時。心不顛倒。即得往生阿彌陀佛極樂國土。舍利弗。我見是利。故說此言。若有眾生。聞是說者。應當發願。生彼國土。

(Kẻ ấy lúc mạng sắp hết, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện trước mặt người ấy. Người ấy lúc mất, tâm không điên đảo, liền được văng sanh về cơi Cực Lạc của A Di Đà Phật.

Này Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên nói lời sau: “Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, phải nên phát nguyện sanh về cơi kia”).

 

Đoạn kinh văn này dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng tôi chia đoạn này thành chín tiểu đoạn. Đoạn kinh lớn này hết sức quan trọng! Chúng ta đă biết Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng rồi, nhưng làm thế nào th́ mới có thể văng sanh? Đoạn kinh này dạy chúng ta phương pháp Tŕ Danh Niệm Phật. Trước hết, đức Phật dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cơi kia). Nói cách khác, thiện căn, phước đức, nhân duyên phải đầy đủ. Chúng ta thảo luận những vấn đề được nêu trong đoạn thứ nhất này.

[Sách Yếu Giải viết]: “Bất đắc sanh giả, thiện căn, phước đức lực bạc” (Kẻ chẳng được văng sanh là do sức thiện căn, phước đức kém). Thiện căn là ǵ? Phước đức là ǵ? Trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư giảng: Thiện căn là “Bồ Đề chánh đạo”,“thân nhân” (cái nhân gần gũi, thân thiết), “Nhị Thừa nhân thiểu” (hàng Nhị Thừa có ít ỏi), chẳng nói là không có, mà là ít! Đă ít th́ sức kém, chẳng thể khởi tác dụng. “Phước đức” là bố thí, tŕ giới và hết thảy các pháp trợ đạo, đều thuộc về trợ duyên. “Nhân thiên thiểu” (hàng nhân thiên ít [thiện căn, phước đức]), do vậy, sức cũng kém; v́ thế, chẳng thể văng sanh. Văng sanh phải có nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên (tương phản của ít là nhiều), nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên! Chúng ta thấy lời tiểu chú viết: “Nhị Thừa đản cầu tự lợi, đắc thiểu vi túc, bất phát Bồ Đề tâm, cố thiện căn thiểu” (Nhị Thừa chỉ cầu tự lợi, được chút ít đă cho là đủ, chẳng phát Bồ Đề tâm, nên thiện căn ít). Đấy là nói bậc Nhị Thừa chẳng cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu có cầu cũng không có cách ǵ cầu được, v́ điều kiện không đầy đủ. “Nhân thiên (ngộ đáo Đại Thừa liễu) tuy tu Lục Độ, đản cầu nhân thiên phước lạc, vị liễu vô vi, vị đắc vô lậu, cố phước đức thiểu” (Nhân, thiên (gặp được Đại Thừa), dẫu tu Lục Độ, nhưng chỉ cầu phước lạc trời người, chưa trọn vô vi, chưa được vô lậu, nên phước đức ít). Hai loại này đều chẳng được sanh về Tịnh Độ. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă giảng về thiện căn, phước đức như vậy.

Tôi thường khuyên đại chúng tu học pháp môn Niệm Phật, so ra tôi nói đơn giản hơn, ai nấy đều dễ hiểu. Thiện căn là ǵ? Phước đức là ǵ? Thiện căn là chúng ta có thể tin, có thể hiểu pháp môn này; tôi nói đấy chính là thiện căn. Có thể nguyện, có thể hành th́ người ấy có phước, chịu phát nguyện cầu sanh về Tịnh Độ, chịu niệm A Di Đà Phật, y giáo phụng hành là người ấy có phước. Chúng tôi thuyết pháp đơn giản như vậy, chắc mọi người đều hiểu. Nói cách khác, quư vị gặp được pháp môn này, là quư vị đầy đủ nhân duyên (ba điều kiện là thiện căn, phước đức, và nhân duyên), nhân duyên đầy đủ mới được gặp. Gặp được là do thiện căn và phước đức của quư vị, thiện căn là có thể tin, có thể hiểu. Quư vị đọc kinh hiểu rơ, hoặc là nghe giảng bèn hiểu rơ, đó là quư vị có thiện căn. Hiểu minh bạch rồi, thực sự phát nguyện. Đem hai thế giới so sánh, thế giới Cực Lạc rất thù thắng, c̣n sự vui trời người ở nơi đây là vui như thế nào? Là hưởng thụ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần; thử hỏi xem, quư vị có thể hưởng được mấy ngày? Thời gian rất ngắn ngủi!

Mọi người học Phật chúng ta, rất ít người sanh trong gia đ́nh phú quư. Nói cách khác, đại đa số thuộc gia đ́nh từ trung lưu trở xuống. Lúc trẻ tuổi, nếm đủ mùi cay đắng, toàn là siêng khổ phát phẫn, đến tuổi trung niên cuộc sống mới dần dần dư dả. Thực sự được hưởng thụ niềm vui ngũ dục, lục trần, nói chung phải từ sau tuổi ba mươi. Chúng tôi thấy rất nhiều người hầu như đến tuổi bốn mươi mới được như vậy. Bốn mươi tuổi rồi th́ hưởng được bao năm? Cứ tính là quư vị sống đến bảy mươi tuổi th́ hưởng được ba mươi năm. Đó là nếu quư vị thực sự có thể hưởng thụ, thực sự có phước báo, quư vị mới có thể hưởng thụ ba mươi năm. Thế nhưng trong ba mươi năm hưởng phước ấy, quư vị có phải trả giá hay không? Phước chẳng dễ hưởng! Từ xưa đến nay, có người hưởng phước nào mà chẳng phải trả giá nghiêm trọng hay không? [Trả bằng] tinh thần, thể lực, thời gian, nếu chú tâm tính toán kỹ, cái được chẳng bù nổi cái mất! Bởi thế, quả đúng là chẳng sánh bằng người xuất gia ẩn cư trong núi thẳm (đây là nói chuyện thời xưa, chứ không phải hiện tại), đúng là thực sự có phước báo, hưởng phước thanh tịnh, thân và tâm đều thanh thản.

Quư vị thấy con người trong xă hội hiện tại có địa vị, có quyền thế, có của cải th́ thân họ phải chịu áp lực trầm trọng. Họ có một bác sĩ chuyên môn và y tá để chữa trị mỗi ngày. Áp lực về mặt tinh thần lại càng nặng nề hơn, v́ sao? Lo được, lo mất. Phước báo ấy đem tặng cho tôi, tôi cũng chẳng muốn tiếp nhận, v́ sao? Phải gánh vác nặng nề quá! Tôi thấy rất nhiều rồi! Bởi thế, nếu quư vị lắng ḷng quan sát kỹ, quư vị mới biết thế nào là hưởng phước: Thân lẫn tâm đều không có chuyện ǵ, tôi thường nói đọc một cuốn sách ḿnh thích, làm việc ḿnh yêu thích, đấy mới đúng là có phước báo. Những người đại phước báo trong thế gian, những việc họ làm chẳng thấy vui thích ǵ, nhưng chẳng vui thích cũng phải làm, chẳng thể không làm được. Không có thời gian đọc một cuốn sách ḿnh yêu thích thực sự, mỗi ngày phải xem biết bao giấy tờ thương lượng, do công việc bắt buộc phải xem những văn kiện ấy, c̣n thời gian đâu nữa!

V́ thế, người có học thời cổ đọc sách rất hay, đúng là hiểu rơ lư lẽ, họ không làm việc mà ẩn cư! Gia Cát Lượng, như các vị biết đó, đúng là người có đức hạnh, có học vấn, chẳng muốn ra làm việc, ẩn cư trong làng cày ruộng; tự ḿnh cày cấy, bạn thân quây quần, lúc nhàn hạ bèn du sơn ngoạn thủy, sung sướng vô cùng. Kịp đến khi Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời ra giúp sức, thịnh t́nh khó từ, chẳng thể không ra. Khi đă ra rồi, cúc cung tận tụy đến chết mới thôi. Đó là nghĩa khí của một người có học, tôi không đáp ứng th́ thôi, hễ đáp ứng th́ nhất định phải tận tụy với công việc.

Thế nào là phước báo? Thiện căn, phước đức, chúng ta phải thực sự hiểu rơ. Trong Phật pháp, nhất là trong Tịnh tông, thế nào là phước báo lớn nhất? Niệm Phật trong Niệm Phật Đường là phước báo lớn nhất, nghe kinh trong giảng đường ḥng tăng trưởng thiện căn. Đạo tràng nhỏ bé sẽ có hai “đường”: Một là giảng đường, hai là Niệm Phật Đường, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta có thể giác ngộ hay chăng? Giác tri! Quư vị có thể giác ngộ hay không? Có thể hiểu được hay không? Muốn đạo nghiệp thành tựu, trong một đời này quyết định văng sanh th́ chớ nên ly khai đạo tràng, [hễ chẳng rời khỏi đạo tràng], công phu nhất định chẳng bị gián đoạn. Xưa kia, Huệ Viễn đại sư là một vị nhất đại tông sư trong Tịnh tông chúng ta, dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, các đạo hữu đồng tham chí đồng đạo hợp đều là những người nhất tâm chân chánh lập chí, mong được văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, gồm một trăm hai mươi ba người. Họ dựng một Niệm Phật Đường, bên ngoài có một cái khe nước nhỏ gọi là Hổ Khê, lấy Hổ Khê làm giới tuyến, quyết định chẳng vượt qua cái khe nước nhỏ ấy. Mọi người nghiêm ngặt tuân thủ, nên ai nấy đều thành tựu.

Bên ngoài vừa động, tâm bèn loạn, công phu bị gián đoạn, lúc ấy quư vị có thể thành tựu hay chăng? Chỗ này có người khải thỉnh, chỗ kia có người khải thỉnh, tợ hồ pháp duyên rất thịnh. Không sai! Pháp duyên rất là thịnh, nh́n bên ngoài rất thịnh, nhưng trên thực tế lại là tướng suy, chẳng phải tướng hưng thịnh. V́ sao? Không thể văng sanh! Không thể văng sanh mà tính là pháp duyên thù thắng cái nỗi ǵ? Sự thành tựu trong đạo tràng của chúng ta phải là trong đạo tràng có bao nhiêu người văng sanh, coi đó là thành tựu, chứ chẳng phải đạo tràng náo nhiệt đến mức nào, nhang đèn nhộn nhịp, không phải thế đâu! Trong đạo tràng này có bao nhiêu người khai ngộ, có bao nhiêu người đắc Thiền Định, có bao nhiêu người minh tâm kiến tánh, có bao nhiêu người văng sanh. Đó mới là thành tựu thực sự. Trong những thành tựu ấy, văng sanh là thành tựu bậc nhất. Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh đều chẳng bằng Hạ Hạ Phẩm văng sanh, điều này có thể lấy kinh làm chứng.

Trong kinh Hoa Nghiêm, bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh là Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo. Niệm Phật văng sanh dẫu là Hạ Hạ Phẩm văng sanh cũng đă là A Duy Việt Trí Bồ Tát, Sơ Trụ Bồ Tát kém người ấy một khoảng xa. A Bệ Bạt Trí, tổ sư đại đức chẳng giảng khác nhau, đều cùng nhất trí: Từ Thất Địa trở lên, phải tính từ Thất Địa. Từ Sơ Trụ Bồ Tát đến Thất Địa sai khác bao nhiêu địa vị? Ba mươi địa vị thuộc Tam Hiền; từ Tam Hiền lên đến Thất Địa là bảy địa vị nữa. Nói cách khác, kém hơn ba mươi sáu cấp. Người đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh so với người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới kém hơn ba mươi sáu cấp. V́ thế, niệm Phật văng sanh là thù thắng bậc nhất. Tổ sư đại đức, như Ngẫu Ích đại sư trong sách Yếu Giải nh́n thấy người thế gian tu hành, vô cùng cảm thán: Pháp môn thù thắng như thế đó, lúc họ gặp được, nhưng thiện căn ít, phước đức ít. Thiện căn ít là ǵ? Nửa tin, nửa ngờ. Lúc phước đức ít, sẽ chẳng chịu thực sự tu hành, tu hành như đùa, chẳng hề nghiêm túc. Làm như vậy chỉ có thể kết duyên cùng Tây Phương Cực Lạc thế giới, đời này chẳng được về. Đời này chẳng được về, chắc chắn phải luân hồi lục đạo. Luân hồi trong lục đạo phải hứng chịu nỗi khổ.

Đừng nói ǵ khác, nội chuyện oan oan tương báo không thôi đă rất phiền phức rồi. Trong một đời này, chúng ta đă kết mối oan cừu cùng bao nhiêu chúng sanh, quư vị có biết nổi hay không? Quư vị dẫm chết một con kiến, giết một con gián đều là kết mối oan cừu với chúng, phải đền mạng cả đấy! Giữa người với người quá chi ly không kể, cứ nói đơn giản giữa người và động vật thôi! Quư vị ăn thịt những động vật nào, trong kinh Đại Thừa đức Phật chẳng nói dối đâu! Quư vị ăn nửa cân thịt của chúng, đời sau chúng đ̣i quư vị trả đúng tám lạng[4]. Lúc tôi chưa học Phật không biết điều này, không biết đă ăn bao nhiêu nữa! Học Phật rồi mới biết chuyện này, chẳng dám ăn thịt nữa, chọn cách ăn chay, bỏ hẳn ăn thịt. Thường xuyên phóng sanh để chuộc tội! Trong quá khứ ngu muội vô tri, sát hại bao nhiêu chúng sanh như thế!

Bởi thế, ta hữu ư hay vô ư kết mối oan cừu với hết thảy hữu t́nh chúng sanh, kể cả động vật! Chỉ có một phương pháp là trong một đời này phải thực sự buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ, thân cận Phật Di Đà. Tất cả hết thảy oán thân trái chủ đời trước đời này, đợi đến lúc tôi về Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu rồi, tôi sẽ trở về độ các ngươi thành Phật. Thực sự hoàn nguyện, báo ân! Từ nay trở đi, chẳng có ác niệm nữa, chẳng có ác hạnh nữa, cũng chẳng nói lời ác, ba nghiệp thân - ngữ - ư thuần thiện, thuần tịnh. Người thế gian truy cầu chân - thiện - mỹ - huệ, tận thiện tận mỹ được thực hiện trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, thực sự thực hiện. Chúng ta hăy xem đoạn thứ hai.

“Duy dĩ tín nguyện” (chỉ dùng tín nguyện), tŕ danh niệm Phật, đó là ba tư lương: Tín - Nguyện - Hạnh, chấp tŕ danh hiệu, “tắc nhất nhất thanh, tất cụ đa thiện căn, phước đức, tán tâm xưng danh, phước thiện diệc bất khả lượng, huống nhất tâm bất loạn tai!” (th́ mỗi một tiếng [niệm Phật] đều có nhiều thiện căn và phước đức. Tán tâm xưng danh th́ phước thiện cũng chẳng thể lường được, huống hồ là nhất tâm bất loạn ư?) Cách tu thiện căn, phước đức, nhân duyên như thế nào? Ở đây, Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: “Chân tín”, không hoài nghi một chút nào, “thiết nguyện” [tức là] nguyện chân thật, nguyện vọng khẩn thiết. Chân tín, thiết nguyện (ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha) th́ thân, tâm, thế giới sẽ tự nhiên buông xuống được hết. Hễ c̣n điều ǵ chưa buông xuống được là ḷng tin chẳng chân, nguyện chẳng thiết. Tin chân thành, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh hiệu, một câu danh hiệu ấy quyết định không gián đoạn, nguyện khẩn thiết chẳng xen tạp, ḷng tin kiên cố chẳng hoài nghi. Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, chấp tŕ danh hiệu không gián đoạn, đó là phương pháp Niệm Phật do Đại Thế Chí Bồ Tát đă dạy trong kinh Lăng Nghiêm! Phương pháp Niệm Phật của lăo nhân gia là như vậy đó!

Ngài niệm như thế nào? “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối); ở đây, Ngẫu Ích đại sư gọi là “tín nguyện tŕ danh”, ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với lời dạy của Đại Thế Chí Bồ Tát. Nhiếp trọn sáu căn bao gồm cả tín, nguyện. Nếu quư vị không tin, không có nguyện, th́ lục căn suốt một ngày từ sáng đến tối rong ruổi trong cảnh giới sáu trần, không quay đầu. Nay thực sự tin tưởng Tịnh Độ, thực sự nguyện văng sanh, thân cận Phật Di Đà, thâu hồi cái tâm lại, sáu căn chẳng c̣n vịn nắm cảnh giới sáu trần bên ngoài, buông xuống cả rồi. Buông xuống không có nghĩa là mắt không thấy, tai không nghe! Sáu căn vẫn khởi tác dụng “thấy, nghe, hay, biết”, nhưng như thế nào? Quyết định chẳng ghim trong ḷng! Cơi ḷng thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần, mắt chẳng nhiễm sắc trần, tai chẳng nhiễm thanh trần, mũi chẳng nhiễm hương trần, lưỡi chẳng nhiễm vị trần, hết thảy đều tùy duyên. Thứ ǵ cũng tốt, không hề có tính toán, so đo ǵ! Cái ǵ tốt th́ rất tốt; cái ǵ không tốt cũng rất là tốt!

Xưa kia, Hoằng Nhất đại sư ở Nam Dương (Indonesia), Ngài là bạn thân của pháp sư Quảng Hiệp, bạn đồng tham cũ với nhau. Ngài đến Tân Gia Ba ngụ tại viện Chiêm Bặc của pháp sư Quảng Hiệp, đạo tràng không lớn, chúng tôi đă từng đến đó. Tôi nghe các đồng tu Tân Gia Ba kể lại. Họ nói Hoằng Nhất đại sư không hề cằn nhằn ai tí nào, đối xử hết sức ḥa ái đối với mọi người. Ăn thứ ǵ, cho ăn cái ǵ cũng ngon hết. Thức ăn quá mặn, Sư cũng bảo không hề ǵ, mặn có vị riêng của mặn. Quá nhạt, cũng không ăn nhằm ǵ, nhạt có vị riêng của nhạt! Cái ǵ cũng tốt hết, không phân biệt, chấp trước mảy may! Đương nhiên chủ nhân lẫn người tiếp đăi đều tận tâm tận lực chăm sóc pháp sư, luôn trông chừng xem pháp sư thích ǵ, cần ǵ, nhưng pháp sư hết thảy tùy duyên, hết thảy đều miễn sao thuận tiện th́ thôi, thế nào cũng tốt, “miễn sao thuận tiện cho quư vị là tôi vui rồi!”, không mảy may gây phiền phức thêm cho người ta. Pháp sư tâm đặt nơi đạo, đă buông thế gian này xuống rồi, một ḷng gởi nơi Tịnh Độ.

Chúng ta biết Hoằng Nhất đại sư chuyên tu Tịnh  Độ, Ngài  không  y

vào kinh A Di Đà, cũng chẳng y kinh Vô Lượng Thọ. Khóa tụng mỗi ngày của Ngài là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Đó là trong năm kinh một luận, tức sáu môn khóa của Tịnh Độ, Ngài chuyên tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Ngài tụng thuộc ḷng Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, công khóa sáng tối đều niệm Hạnh Nguyện Phẩm, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Bởi vậy, Ngài niệm Phật, tín nguyện tŕ danh, niệm Phật là tịnh niệm tiếp nối. Lúc niệm dùng cái tâm thanh tịnh để niệm, tâm thanh tịnh đương nhiên không có bất cứ thứ ǵ xen tạp. Hễ xen tạp, tâm quư vị sẽ không thanh tịnh; cũng chẳng thể hoài nghi, tâm hoài nghi th́ cũng không thanh tịnh. V́ thế, trong chữ Tịnh không có xen tạp, không hoài nghi. “Tương kế” (tiếp nối) là không gián đoạn, ở đây gọi là “chấp tŕ”, Tŕ () là giữ ǵn cho không gián đoạn, Chấp () là cầm nắm. [Chấp tŕ] chính là nắm giữ danh hiệu A Di Đà Phật, cái ǵ khác cũng không màng, đều buông bỏ hết.

Niệm Phật như thế th́ “nhất nhất thanh, tất cụ đa thiện căn, phước đức” (mỗi một tiếng niệm đều có nhiều thiện căn, phước đức). V́ sao? Giới, Định, Huệ đều gộp trong ấy, một câu A Di Đà Phật đồng thời trọn đủ Giới - Định - Huệ, trong một câu niệm viên măn chẳng thể nghĩ bàn! Giới là ǵ? “Pḥng phi chỉ ác” (ngăn ngừa điều sai trái, dứt điều ác) là giới Tiểu Thừa. Khi quư vị nhất tâm niệm Phật, trong tâm một ác niệm nào cũng không có, cũng chẳng thể có hành vi ác, đó là “pḥng phi chỉ ác”. Trong giáo pháp Đại Thừa, vâng làm các điều thiện, niệm A Di Đà Phật là điều thiện bậc nhất trong các điều thiện, không có ǵ thiện hơn được nữa! Quư vị hăy nghĩ xem: Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành) đă đầy đủ chưa? Đó là Giới học! Trong một câu niệm Phật, Giới viên măn, giới Đại Thừa lẫn giới Tiểu Thừa đều bao gồm trong ấy. Lúc niệm Phật, tâm thanh tịnh, nhất tâm bất loạn là tâm thanh tịnh vậy! Thanh tịnh là Định. Phật hiệu sáu chữ hoặc bốn chữ, từng chữ phân minh, rơ rệt rành rẽ, chính là ǵ vậy? Là Huệ! Ấy là Căn Bản Trí. V́ thế, một câu Phật hiệu, Giới - Định - Huệ đều đầy đủ cả, đều viên măn cả, há chẳng phải là nhiều thiện căn, nhiều phước đức ư? Nếu chúng ta hiểu được, sẽ nhất tâm xưng niệm.

Phần kế đó nói: Dù quư vị chẳng thể nhất tâm, mà là tán tâm, “tán tâm xưng danh, phước thiện diệc bất khả lượng” (tán tâm xưng danh th́ phước thiện cũng chẳng thể lường được), huống chi nhất tâm bất loạn! Nhất tâm xưng niệm c̣n đến như thế nào nữa? Kinh Vô Lượng Thọ nói “nhất hướng chuyên niệm” (một dạ chuyên niệm), một mục tiêu, một phương hướng, chuyên niệm, phước đức chẳng thể nghĩ lường! Ở đây nói “tán tâm”, chứ không phải là tán loạn tâm. Tâm tán loạn niệm Phật, phước đức đương nhiên cũng chẳng thể nghĩ lường; nhưng cổ đức nói “rách toạc cuống họng cũng uổng công” là nói về cái tâm tán loạn đấy! Tâm tán loạn là ǵ? Trong tâm khởi vọng tưởng. Ngoài miệng niệm A Di Đà Phật, trong tâm khởi vọng tưởng, như vậy là trật rồi!

“Tán tâm” ở đây là chưa nhất tâm, nhưng cũng không được khởi vọng tưởng, cũng không có vọng tưởng, th́ gọi là “tán tâm”. Nếu như quư vị không có cách ǵ tập trung ư chí tinh thần được, th́ lúc niệm Phật nên làm sao? Nghĩ đến tượng A Di Đà Phật, nghĩ đến tượng ấy, thêm vào sự quán tưởng Phật, hoặc tưởng hoa sen, đấy đều là những phương cách (quư vị không tưởng không được nghe! Không tưởng bèn có vọng tưởng liền). Tưởng tướng bạch hào hay hào quang của Phật đều được. Tâm lực không thể tập trung th́ dùng phương pháp ấy. Niệm Phật như thế, thiện căn và phước đức cũng chẳng thể nghĩ lường! Đương nhiên, tốt nhất là nhất tâm bất loạn, nhưng khó lắm, rất ư là khó! Bởi thế, kinh Vô Lượng Thọ dạy “một dạ chuyên niệm”, một phương hướng, một mục tiêu, chuyên niệm A Di Đà Phật, vậy là đúng!

Tiểu đoạn thứ ba là “hiển thị chánh hạnh Tŕ Danh Tam Yếu” (chỉ rơ ba điều quan trọng của chánh hạnh Tŕ Danh). Đoạn này quan trọng, hết sức quan trọng! Niệm Phật theo cách nào? Ba điều quan trọng là Tín, Nguyện, Hạnh, tức ba điều kiện trọng yếu để được văng sanh thế giới Cực Lạc; cổ nhân nhắc tới “ba tư lương”. Nay nói “tư lương” người hiện thời không hiểu, người hiện tại gọi là “điều kiện”; ba tư lương là ba điều kiện. Trước hết, nói đến tín - nguyện, “tín nguyện đầy đủ”, đầy đủ hai điều kiện tín và nguyện, điều kiện thứ ba là “chấp tŕ danh hiệu”. Với ba điều kiện ấy ở đây dùng tám chữ, nếu tám chữ ấy thảy đều có đủ, tức là “tín nguyện cụ túc, chấp tŕ danh hiệu” (tín nguyện đầy đủ, chấp tŕ danh hiệu) th́ ngay trong hiện tại, quư vị đă không c̣n là chúng sanh của thế giới Sa Bà nữa. V́ sao? Đă báo danh ghi sổ ở Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, nhưng c̣n chưa đi, giống như quư vị đă cầm sẵn hộ chiếu và thẻ thông hành của Tây Phương Cực Lạc thế giới, muốn đi lúc nào th́ đi. Quư vị không c̣n là phàm phu luân hồi trong lục đạo của thế giới Sa Bà nữa, mà đă là một trong các vị thượng thiện nhân của thế giới Cực Lạc rồi!

Phần kế đó là lời giải thích về “tín nguyện đầy đủ”: “Thường tu nhị khóa thời, tinh tấn kết thất thời” (Lúc thường tu hai thời khóa công phu, lúc tinh tấn kết thất). Phương pháp tu học chẳng được gián đoạn, hai khóa sáng tối b́nh nhật, sáng tối đều niệm Phật. Thông thường hai khóa sáng tối đều phải niệm một quyển A Di Đà Kinh, niệm kệ Tán Phật, rồi niệm Phật hiệu. V́ sao phải niệm một quyển kinh, niệm kệ Tán Phật? Để nhiếp tâm, tức là nhiếp trọn sáu căn, dụng ư ở chỗ này, nhằm để quư vị một dạ chuyên niệm. Thậm chí, khi mọi người cùng tụng công khóa sáng tối, trước đó c̣n niệm bài Tán Hương, tụng kinh, niệm kệ Tán Phật đều nhằm để định tâm. Nói cách khác, đó là những công phu dự bị trước lúc niệm Phật để thâu nhiếp cái tâm. Nếu cái tâm này định, trong mười hai thời không tán loạn, đều không có vọng tưởng th́ những thứ vừa nói trên đây đều không cần thiết: Hương Tán, tụng kinh, xướng kệ Tán Phật đều chẳng cần đến nữa. Những người như vậy hiếm hoi, người một ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung th́ nhiều. Nếu như đă thêm vào Hương Tán, lại c̣n tụng kinh, lại c̣n xướng kệ Tán Phật, niệm A Di Đà Phật mà vẫn khởi vọng tưởng th́ không c̣n cách nào hết, ư chí vẫn không tập trung. V́ thế, từ đây chúng ta phải lănh hội sâu xa: Niệm Phật không phải là chuyện dễ, chớ nên xem nhẹ! Bởi thế, Tinh Tấn Phật Thất là một phương pháp tốt.

Nhưng trong thời đại hiện tại này, trên thực tế, Tinh Tấn Phật Thất có chỗ khó khăn, thật đấy, không giả đâu! Thực sự đả Phật thất, rất có thể chúng ta chưa từng gặp một ai cả, tôi cũng chưa từng thấy một ai hết! Tôi thường nghe thầy Lư giảng về Phật Thất: Tinh Tấn Phật Thất th́ nhất định những người cùng tu một chỗ chẳng thể nhiều hơn mười người, đó là Tinh Tấn Phật Thất. V́ sao? Từ mười người trở lên, Chủ Thất Sư không có cách ǵ trông nom được, trông nom không xuể! Bởi thế, đả Phật Thất nhưng người tham gia Phật Thất công phu có thể thành tựu hay không th́ vị Chủ Thất Sư quan trọng nhất!

Ai mới có thể làm Chủ Thất? Đều là người có kinh nghiệm trong Niệm Phật Đường, chẳng những thông thạo nghi quy, mà trạng huống của mỗi người niệm Phật vị ấy đều hiểu rơ. Bởi thế, trong Niệm Phật Đường, chẳng những vị ấy phải thường thời thời khắc khắc cảnh tỉnh mọi người, mà c̣n đốc thúc, ngăn ngừa ma chướng. Tinh Tấn Phật Thất ma chướng rất nhiều. Thầy Lư bảo tôi: Thầy ở tại Đài Loan ba mươi tám năm, chỉ đả Tinh Tấn Phật Thất hai lần, về sau không dám mở nữa. Tôi hỏi v́ sao? Gây nên chuyện, ma chướng nổi lên. Chỉ cần một người khởi ma chướng là đă phiền lắm rồi, cụ phải mất từ mười tháng đến một năm để chữa lành cho người ấy, chữa cho người ấy b́nh phục rất khổ sở.

Phật Thất như chúng ta thường thấy là pháp hội Phật Thất, chứ không phải thật tu. Thật tu ắt có ma chướng, chẳng phải chân tu, ma không thèm nh́n tới. Quư vị tu giả, chứ không tu thật, nó không cần gây chướng ngại! Quư vị đâu có thoát khỏi luân hồi; nó sẽ c̣n có ngày báo thù quư vị. Chứ nếu quư vị thật tu, thực sự tu tập, muốn thoát khỏi luân hồi lục đạo, nó sẽ ở bên cạnh gây tai chướng liền: “Ngươi thiếu mạng ta, vẫn chưa đền mạng; ngươi thiếu nợ ta, nợ vẫn chưa trả”. Quư vị muốn đi, nó bèn đến đ̣i. Nó ở bên cạnh thấy rất rơ. Nếu quư vị tu giả, tu đùa bỡn, quư vị không văng sanh được! Nó ở bên cạnh, cười h́ h́, không đếm xỉa tới.

Bởi thế, Phật Thất niệm Phật gần như là niệm Phật công phu kha khá, cũng đă hiểu khá rơ, đă nhận thức đạo lư Tịnh tông, chính ḿnh thực sự phát nguyện, nhất tâm niệm Phật. Trong Niệm Phật Đường có thể nhận biết điều này. Người nào thật thà, quy củ, vâng giữ pháp, khiêm hư, cung kính đối với người khác, không có vọng tưởng, không phân biệt, không chấp trước, người đó thực sự niệm Phật. Vọng niệm nhiều, phân biệt lắm, tạp tâm chuyện gẫu th́ là giả tu, chứ chưa tu thật. Chân chánh tham gia Phật Thất, tức Phật Thất thông dụng, tâm luôn thanh tịnh, quyết định chẳng bàn tán chuyện gẫu! Niệm Phật trong Niệm Phật Đường, ra khỏi Niệm Phật Đường vẫn niệm Phật, công phu không gián đoạn. Đoạn tiếp là “khả y Tây Phương Xác Chỉ biện pháp, thị Vô Hủ tiết” (có thể dựa theo biện pháp nói trong sách Tây Phương Xác Chỉ, phần dạy ông Vô Hủ). Ta có thể tham khảo đoạn sách ấy. A! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

 

      Chư vị đồng học!

      Chúng ta xem tiếp tiểu đoạn “chấp tŕ danh hiệu”. Chấp tŕ danh hiệu là “thiện trung thiện, phước trung phước” (điều lành bậc nhất trong các điều lành, phước bậc nhất trong các phước). Những ư nghĩa này tôi đă nói trong phần trên rồi. “Thiện trung thiện, phát Bồ Đề tâm, cụ túc ngũ chủng Bồ Đề tâm” (Điều lành bậc nhất trong các điều lành là phát Bồ Đề tâm, đầy đủ năm thứ Bồ Đề tâm). Năm thứ Bồ Đề tâm này được nói trong Đại Trí Độ Luận, luận ấy nói có năm thứ Bồ Đề tâm:

      1) Thứ nhất là “phát tâm Bồ Đề”. Nay ta nói là “tín nguyện tŕ danh”, phát tâm cầu thoát khỏi tam giới, cầu sanh Tịnh Độ, tự độ, độ người, đó là “phát tâm Bồ Đề”. Người ấy mới vừa phát tâm, giác ngộ.

      2) Thứ hai là “phục tâm Bồ Đề”. Phục () là hàng phục, Tâm là tạp niệm và vọng niệm trong tâm. Lúc chúng ta chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng, phân biệt và chấp trước chẳng khởi. Lúc ấy, tinh thần và ư chí hoàn toàn tập trung, có thể chế phục phiền năo. Bồ Đề (Bodhi) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là giác ngộ, chế phục được phiền năo là giác ngộ vậy.

      3) Thứ ba là “minh tâm Bồ Đề”, thứ bậc ngày càng cao hơn! Trong minh tâm Bồ Đề có Huệ, chế phục tâm là Định, dùng phương pháp Niệm Phật để chế phục phiền năo, chế phục lâu ngày bèn sanh trí huệ, trí huệ dần dần mở mang. Đó là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, tức là Phật hiệu quư vị đang niệm đó và cái tâm niệm Phật tương ứng với Tự Tánh Giác. Tự Tánh Giác rất khó hiểu, nó tương ứng với Tự Tánh Di Đà. Hoặc có thể nói rơ ràng hơn, dễ hiểu hơn một chút cho mọi người hiểu được, th́ minh tâm là niệm niệm tương ứng với tâm - nguyện - hạnh - giải của A Di Đà Phật. Nói như vậy dễ hiểu hơn, minh tâm là như vậy đó. Rất rơ ràng, minh bạch! Lấy tâm nguyện của A Di Đà Phật làm tâm nguyện của chính ḿnh, lấy giải hạnh của A Di Đà Phật làm giải hạnh của chính ḿnh. Đó là minh tâm Bồ Đề.

      4) Thứ tư là “xuất đáo Bồ Đề”. E rằng cả đời này chúng ta khó thể đạt được. V́ sao? Xuất đáo Bồ Đề là chứng quả vậy. Kinh Vô Lượng Thọ nói một, hai, ba thứ Nhẫn, nếu theo như kinh Đại Thừa thường nói th́ đó là cảnh giới của bậc Địa Thượng Bồ Tát. Kinh Vô Lượng Thọ giảng là Âm Hưởng Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn, Vô Sanh Pháp Nhẫn. Âm Hưởng Nhẫn là Sơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa; Nhu Thuận Nhẫn là Tứ Địa, Ngũ Địa, Lục Địa; Vô Sanh Nhẫn là Vô Sanh Pháp Nhẫn, là [cảnh giới của] Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Xuất đáo Bồ Đề là như vậy! Do đó, nói thật ra, công phu Niệm Phật của chúng ta chỉ có thể đạt được minh tâm Bồ Đề là đă khá lắm rồi! Minh tâm Bồ Đề là Sự nhất tâm bất loạn; phát tâm Bồ Đề và phục tâm Bồ Đề là công phu thành phiến, có thể đới nghiệp văng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Đạt đến minh tâm Bồ Đề là Sự nhất tâm bất loạn, sanh vào Phương Tiện Hữu Dư Độ, xuất đáo Bồ Đề bèn sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ, chẳng phải là hạng người tầm thường vậy!

      5) Cuối cùng là “vô thượng Bồ Đề”, vô thượng Bồ Đề là Phật Quả, thành Phật. Bởi thế, Bồ Đề có năm thứ, chúng ta hăy nên hiểu như thế. Đầy đủ năm thứ Bồ Đề tâm, năm thứ ấy có từng giai đoạn. Tối thiểu, chúng ta phải đạt được một thứ, đạt được thứ thấp nhất là phát tâm Bồ Đề. Thực sự có cái tâm thoát ĺa tam giới, hiểu rơ tam giới lục đạo, không thể trụ trong ấy nữa, nhất định phải giải quyết vấn đề này. Chúng ta được văng sanh sẽ có năng lực độ những người có duyên với ḿnh trong lục đạo, kinh Đại Thừa thường nói: “Phật bất độ vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ kẻ không có duyên). Có duyên với ḿnh là có ân, có oán, có dính líu trách nhiệm, nợ đ̣i phải trả, có duyên với ḿnh là như vậy đấy! B́nh thường chúng ta phải vui vẻ kết duyên với người khác, gặp người lạ, chào hỏi, mỉm cười với họ đều là hữu duyên, chẳng thể không quan tâm đến, không quan tâm đến là không có duyên.

      Đă hai ngày qua tôi được nghe biết, người ta đem đến rất nhiều tài liệu cho tôi đọc. [Theo những tài liệu đó], ở Đài Loan có rất nhiều học tṛ Tiểu Học làm thí nghiệm, dùng thiện ư hay ác ư để đối xử với thực vật hoặc phẩm vật, xem chúng biến hóa ra sao. Quư vị dùng thiện ư là hữu duyên, dùng ác ư cũng là hữu duyên, chẳng quan tâm đến bèn không có duyên. Nhất định phải có duyên, rộng kết pháp duyên! Đến khi ḿnh văng sanh rồi, chẳng cần phải đợi đến khi thành Phật, cứ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là đă có năng lực ấy, được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, quư vị biết: Học một ngày ở nơi ấy là đă phi phàm rồi! Chúng ta học trong nhân gian cả vạn năm cũng chẳng bằng được người ta học một ngày [trong thế giới Cực Lạc]. Quư vị thấy người ta học trong một ngày bèn có thể thân cận mười phương hết thảy chư Phật Như Lai, mỗi đức Phật giảng cho ḿnh một câu pháp đă thật là phi phàm rồi! Phân lượng ấy vượt xa Đại Tạng Kinh của chúng ta, tuyệt quá phải không? Dẫu chưa minh tâm kiến tánh, nhưng được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, do vậy bèn khởi tác dụng, không khác người minh tâm kiến tánh cho lắm! Quư vị có sức hiểu biết rất cao, có sức ghi nhớ, hằng ngày huân tập ở nơi ấy, tuyệt vời quá! Huân tập mấy ngày, thả chiếc bè Từ trở lại độ hết chúng sanh không sót; trí huệ, phước đức, và phương tiện thiện xảo không có ai sánh kịp! Đương nhiên thời gian sống tại Cực Lạc càng lâu th́ trí huệ và đức năng càng cao, tiến bộ càng nhanh!

      “Kinh vân: Nhất xưng Phật danh, dĩ thị thiện căn, nhập Niết Bàn giới” (Kinh dạy: Vừa xưng danh hiệu Phật th́ do thiện căn ấy mà nhập Niết Bàn giới). Đây là chứng cứ do chính đức Phật nói. “Phước trung chi phước, cụ túc vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, bách hạnh tề tu” (Phước bậc nhất trong các phước, đầy đủ vạn đức, nhất tâm niệm Phật, trăm hạnh cùng tu). Tu một thứ là tu hết thảy, “bách” ở đây không phải là con số một trăm trong Toán Học, mà là tượng trưng cho viên măn. Tu một pháp môn là tu hết thảy pháp môn qua một môn này, chớ nên coi thường một môn, môn nào cũng như nhau. Chúng ta đều phải nên nhớ kỹ kinh Hoa Nghiêm đă giảng: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (Một tức hết thảy, hết thảy tức là một). Trong pháp môn tu hành cũng giống như vậy; chúng ta tu hành, chọn lấy một pháp môn. Pháp môn này đầy đủ hết thảy pháp môn; hết thảy pháp môn dung nhập trong một pháp môn này của chúng ta. Pháp môn Niệm Phật có đủ hết thảy các pháp môn, quư vị chỉ cần coi Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm và một chương tỳ-kheo Đức Vân sẽ thấy (nếu coi bản Tứ Thập Hoa Nghiêm th́ xem chương Cát Tường Vân).

      Tỳ-kheo Cát Tường Vân dạy Thiện Tài đồng tử pháp môn Niệm Phật, nói đến hai mươi mốt pháp môn Niệm Phật. Con số hai mươi mốt nhằm biểu thị ư nghĩa về mặt pháp! Trong Mật Tông, gọi là “đại viên măn”. Mật tông dùng con số mười sáu hoặc hai mươi mốt để biểu thị đại viên măn. Một môn này có đủ hết thảy pháp môn, một chính là hết thảy, hết thảy chính là một. Một ở đây không phải là chuyên nhất, không phải là độc nhất, mà là bất cứ một pháp môn nào! Bất cứ pháp môn nào cũng có đủ hết thảy các pháp môn. Chẳng hạn như tham Thiền cũng là đầy đủ hết thảy các pháp môn, cũng bao gồm pháp môn Niệm Phật trong ấy. Tŕ giới cũng bao hàm hết thảy các pháp môn, Thiền và Tịnh cũng gộp trong ấy, Mật cũng gộp trong ấy, quyết định chẳng thể thiếu một môn nào. Một chính là hết thảy, hết thảy chính là một! Kinh cũng giống như vậy: Trong một bộ kinh có đủ hết thảy các kinh, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lư này. Đó là viên dung vô ngại, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại.

V́ sao vô ngại? Đều từ Chân Như Tự Tánh lưu xuất, Chân Như Tự Tánh pháp vốn là như vậy. Chân Như tự tánh vĩnh viễn viên dung, vĩnh viễn viên măn, chắc chắn không thể nói Chân Như tự tánh biến hiện ra vật ǵ mà vật ấy bị khuyết hăm, không hề có! Ở đây, nói thật ra, chỉ có mê hay ngộ; mê th́ tợ hồ có khuyết hăm, trên thực tế không hề khuyết hăm. Chính tự ḿnh mê, chứ đức năng vốn chẳng hề khuyết hăm, phải hiểu đạo lư này! Có vậy, quư vị mới có thể thực sự tin tưởng, trong một câu Phật hiệu này đầy đủ “vạn đức hồng danh”, chữ “vạn” này cũng không phải là con số mà là tánh đức viên măn.

      “Kinh vân: Văn Vô Lượng Thọ Phật danh (Vô Lượng Thọ Phật tựu thị A Di Đà Phật), nhất tâm tụng tŕ, thử nhân đương đắc vô lượng chi phước” (Kinh dạy: Nghe tên đức Phật Vô Lượng Thọ (Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật), nhất tâm tụng tŕ, người ấy sẽ được vô lượng phước). Niệm một câu A Di Đà Phật có phước báo lớn ngần ấy ư? Đúng vậy, không sai! Vậy sao tôi niệm vẫn không có phước báo ǵ? “Nhất tâm”! Quư vị không nhất tâm. Nếu quư vị nhất tâm niệm, phước báo sẽ phi phàm! Quư vị đâu có nhất tâm! Do đó, quư vị thấy: Đầy đủ vạn đức cũng là nhất tâm niệm Phật, được vô lượng phước vẫn là nhất tâm niệm Phật, nhất tâm chẳng dễ dàng! Nhất tâm là thực sự thực hiện, không hoài nghi, không gián đoạn, đó gọi là “nhất tâm”. Ngoài miệng Phật hiệu có gián đoạn , nhưng trong tâm không hề gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật). Niệm là ǵ? Niệm là trong tâm có, “kim tâm”[5]: cái tâm hiện tại, trong cái tâm hiện tại thực sự có th́ gọi là Niệm Phật. Miệng niệm nhưng trong tâm không có, trong tâm vẫn khởi vọng tưởng th́ chẳng thể gọi là niệm Phật, mà thật ra là “miệng niệm Di Đà tâm tán loạn”, trong tâm quư vị không hề có!

      Ở trên đă nói đến “tán tâm xưng danh”. Ngoài miệng có Phật, niệm Phật; trong tâm lúc có lúc không th́ gọi là “tán loạn”. Có lúc nghĩ đến Phật, có lúc khởi vọng tưởng, tưởng đến những thứ khác th́ gọi là “tán tâm”. Tâm tán loạn là ǵ? Ngoài miệng có Phật, trong tâm hoàn toàn khởi vọng tưởng, không có chút hiệu quả ǵ! Chúng tôi nói về kiến thức thực dụng trong pháp môn Niệm Phật như vậy. Tín, Nguyện, Hạnh đều thuộc trong một câu Phật hiệu, một câu Phật hiệu đủ cả ba điều kiện, niệm như vậy mới có thể văng sanh. Đoạn tiếp theo nói:

“Thiện nam nữ giả (thiện nam tử, thiện nữ nhân), bất luận tại gia, xuất gia, quư tiện lăo thiếu, lục thú, tứ sanh” (Thiện nam nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân), bất luận tại gia hay xuất gia, sang, hèn, già, trẻ, sáu đường, bốn loài), phạm vi bao quát rất lớn. “Lục thú” là lục đạo, “tứ sanh” là nói về cách thức được sanh ra: Noăn, Thai, Thấp, Hóa, tức Noăn Sanh, Thai Sanh, Thấp Sanh, Hóa Sanh; tất cả hết thảy hữu t́nh chúng sanh đều gồm trong đây. “Đản văn Phật danh, tức đa kiếp thiện căn thành thục, Ngũ Nghịch, Thập Ác giai danh thiện dă” (Chỉ nghe được danh hiệu Phật, tức là thiện căn trong nhiều kiếp đă chín muồi, dẫu Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng đều gọi là lành cả), chẳng dễ dàng đâu! Câu này ư nói tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo, đương nhiên là có chúng ta trong ấy, những kẻ được gọi là thiện nam nữ trong đó là những người đàn ông tốt lành, những người đàn bà tốt lành trong loài người, tại gia cũng được, xuất gia cũng được, giàu, nghèo, sang, hèn, nam, nữ, già, trẻ, bất luận quư vị thuộc thân phận nào, bất luận đang sống cuộc đời ra sao, thậm chí tất cả hết thảy chúng sanh trong lục đạo, chỉ cần quư vị hữu duyên nghe được danh hiệu A Di Đà Phật th́ thiện căn trong nhiều kiếp của quư vị đă chín muồi. Kẻ Ngũ Nghịch Thập  Ác  nếu  nghe  được

danh hiệu A Di Đà Phật th́ cũng là do thiện căn chín muồi.

Thiện căn chín muồi th́ trong một đời này có thể văng sanh hay không? Không nhất định. V́ sao? Văng sanh phải đầy đủ ba điều kiện: thiện căn, phước đức, và nhân duyên! Chỉ có ḿnh thiện căn mà không có phước đức th́ chẳng thể văng sanh! Thiện căn đă chín muồi, nhưng trong ấy lại có sâu đậm hay mỏng nhẹ, tức là như ở phần trên đă nói là “ít thiện căn”. Thiện căn của kẻ ấy chín muồi, nhưng ít ỏi, không nhiều, quư vị có thể tin, nhưng tin không sâu. Quư vị cũng có nguyện, nhưng không thiết tha, chưa buông hết thảy danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, nhất là người nhà quyến thuộc, thân t́nh trong thế gian xuống được! Hễ c̣n một sự chưa buông xuống được sẽ đều trở thành chướng ngại. V́ sao không buông xuống được? V́ thiện căn chưa đủ sâu, phước đức chẳng đủ dầy! V́ thế, trong kinh đă nói rất khéo: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được văng sanh cơi kia).

Duyên phải nhiều! Nhân duyên phải nhiều! Trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát có hai điều, một là “thỉnh chuyển pháp luân”, hai là “thỉnh Phật trụ thế”. Hai điều nguyện thứ sáu và nguyện thứ bảy là nhiều nhân duyên. Đó là lư do v́ sao kinh luận thường dạy, thường nhắc nhở chúng ta phải thân cận thiện tri thức: là v́ nhiều nhân duyên! Thân cận thiện tri thức th́ thiện căn, phước đức, nhân duyên dẫu ít ỏi cũng không sợ, v́ sao? Lúc thân cận thiện tri thức, thiện căn và phước đức của ḿnh được nâng cao. Hằng ngày quư vị được khuyên dạy, hằng ngày cùng đại chúng huân tu, tiến bộ rất nhanh. Nếu như ḿnh có thiện căn, phước đức, nhưng không có nhân duyên th́ cũng chẳng dễ thành tựu. V́ sao? Quư vị không thường nghe pháp, không có ai cùng tu với ḿnh, sẽ bị hoàn cảnh ảnh hưởng! Tự nhiên sẽ có bạn bè thân thiết hằng ngày bồi tiếp quư vị vui chơi, phổ biến nhất là chơi mạt-chược, khiêu vũ, thích xem tuồng, hiện thời lại c̣n thích đá banh, có rất nhiều cái được gọi là “hoạt động”, các cuộc họp mặt để quư vị đến tham gia. Những thứ đó hoàn toàn chẳng ăn nhập ǵ với thiện căn và phước đức của quư vị cả; duyên thế gian quá nồng, nhất định sẽ chướng ngại đạo, chướng ngại quư vị chẳng thể văng sanh trong một đời này!

Bởi thế, mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát chính là trong vô lượng hạnh nguyện, chỉ nêu lên mười cương lănh đó thôi, “thỉnh chuyển pháp luân” quan trọng lắm! Thỉnh chuyển pháp luân là thỉnh thiện tri thức đến giảng kinh, thuyết pháp, khiến cho mọi người giác ngộ. Thỉnh thiện tri thức ở một chỗ lâu dài th́ nơi ấy có phước báo. Trong Phật pháp thường nói, chúng ta chẳng thể không tin: Thiện tri thức chân chánh, người tu hành chân chánh, người có đạo tâm trụ tại nơi nào, nơi ấy chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hựu, ít tai ít nạn.

Người Trung Quốc và người Ấn Độ thời cổ đều hiểu “thiện nhân là báu vật của đất nước”. Thiên Thai đại sư nói hết sức rơ ràng, hết sức minh bạch, Ngài chính là Trí Giả đại sư, cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều truyền ngôn Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật tái lai. Nếu lời truyền tụng ấy là đúng, th́ lời của Trí Giả đại sư chính là lời của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài dạy chúng ta: “Năng thuyết bất năng hành, quốc chi sư dă” (Nói được nhưng không làm được là thầy cả nước), quư vị thấy đó: Ngài rất tôn trọng vị ấy! Quư vị giảng kinh điển rất thấu triệt, không giảng sai, hoàn toàn giảng được ư Phật, nhưng bản thân hoàn toàn chưa làm được, quư vị có thể chỉ dạy người khác, người khác chiếu theo lời quư vị làm sẽ được thành tựu. Đấy chính là: “Thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (màu xanh phát xuất từ màu chàm, nhưng vượt trỗi màu chàm). Tức là học tṛ theo học với một vị thầy giỏi, tuy vị thầy tốt ấy không có thành tựu lớn lao ǵ, học tṛ có thành tựu vượt trỗi thầy. Thầy dạy chính xác, nhưng chính bản thân thầy hoàn toàn chưa thể làm được, nhưng học tṛ làm được. Thầy như vậy là quốc sư đấy! Phải thỉnh vị đó chuyển pháp luân, phải thỉnh Ngài trụ thế.

Nếu “năng thuyết hựu năng hành, quốc chi bảo dă” (Nếu vừa có thể nói lại vừa có thể hành th́ là quốc bảo), là bảo vật của đất nước! Lúc Cưu Ma La Thập đại sư c̣n tại thế, Ngài là quốc bảo của nước Khưu Từ (Kuche, Quy Tư, Cưu Ty) ở Tây Vực. Phù Kiên là vua nước Tần, có thế lực, nghe nói ở Tây Vực có một vị đại trí huệ như thế, bèn phái Lữ Quang suất lănh bảy vạn đại quân sang Khưu Từ. Phù Kiên bảo Lữ Quang: “Xuất binh lần này chẳng v́ lư do nào khác, chỉ là để thỉnh Cưu Ma La Thập đại sư sang nước Tần ta. Mục đích là như vậy. Nếu họ chịu để cho đại sư đi th́ lập tức lui binh, nếu họ không bằng ḷng, chúng ta sẽ đánh rát, v́ một người mà thôi!” Nước Khưu Từ nhỏ, chống không nổi bảy vạn quân của nước Tần, cũng hết sức phiền năo. Cưu Ma La Thập đại sư khuyên quốc vương: “Trận này đánh không nổi, có đánh cũng không thể thắng, thương vong bao nhiêu người rồi rốt cuộc vẫn phải để cho tôi đi”. Vua nước Khưu Từ bèn giao đại sư La Thập ra, nước Tần không đánh nữa, triệt thoái quân đội. Cưu Ma La Thập đại sư đến Trung Quốc là như vậy đó.

Người Trung Quốc biết là của báu, của báu th́ người ta không chịu nhả, làm cách nào đây? Bức người ta không nhả ra cũng không được! Nhưng khi La Thập đại sư đến Trung Quốc, quư vị phải biết Ngài từ chỗ nay là khu vực phía Nam rặng Thiên Sơn thuộc Tân Cương đến Trường An phải đi mất mấy tháng. Lúc trở về, Lữ Quang đi đến Lương Châu (nay là tỉnh Cam Túc), từ Trường An đưa tin tới, Phù Kiên đă mất rồi. Phù Kiên đă mất, họ Lữ không trở về Trường An nữa. Lúc ấy, đất nước của Phù Kiên phát sanh chánh biến (biến cố chánh trị): Đại tướng Diêu Trành gây chánh biến, trở thành hoàng đế, cũng đặt quốc hiệu là Tần, tức nhà Diêu Tần. Diêu Trành và Lữ Quang cùng là tướng quân, Lữ Quang không phục. Bởi thế, họ Lữ chiếm cứ vùng Lương Châu, tự xưng là Lương Vương. Cưu Ma La Thập đại sư lại ở Tây Lương mấy năm. Lữ Quang không biết dùng Ngài, cũng giống như Ngài bị giam lỏng ở nơi ấy vậy. Họ Lữ biết Ngài rất tài hoa, rất thông minh, cũng chẳng thả cho Ngài trở về [nước Khưu Từ], mà cũng chẳng giao Ngài qua nước Tần.

Đến khi Diêu Trành chết, Lữ Quang cũng chết, đến đời sau, lúc Diêu Hưng tức vị, mới thỉnh đại sư La Thập đến Trường An, lúc đó Ngài đă già. V́ thế, đại sư La Thập chỉ theo đuổi việc dịch kinh ở Trung Quốc được bảy năm bèn viên tịch, nhưng ảnh hưởng của bảy năm ấy thật phi phàm! Từ chỗ này, quư vị hăy chú tâm lănh hội: Thiện căn đúng là có, dù có, nhưng nhiều hay ít khác nhau. Phù Kiên và Diêu Trành thiện căn không nhiều, đến đời con kế thừa ngôi vua, Diêu Hưng khá lắm. Ông ta thực sự là người hữu tâm. Lúc ấy, đất nước của họ Diêu rất cường thịnh, Lữ Quang đă chết, cháu là Lữ Long kế vị, sức nước nhà suy nhược, địch không lại nước Tần. Bởi thế, phải giao đại sư La Thập ra, đưa đến Trường An. Quư vị thấy những người đó trong thuở ấy đều là có thiện căn, nhưng nhiều hay ít khác nhau, phước đức lớn hay nhỏ cũng sai khác.

Trong mấy năm ngài La Thập dịch kinh, họ Diêu ở phương Bắc hưng vượng nhất. Ngài thực sự có trí huệ, không những có tu hành, mà c̣n là một vị cao tăng đắc đạo, đúng là quốc bảo, chúng ta phải hiểu điều này! Nếu chúng ta có duyên phận gặp gỡ [một vị như thế], nhất định phải biết “thỉnh Phật trụ thế”. Dẫu Ngài chẳng phải là Phật, chỉ là thiện tri thức, chúng ta cũng phải thỉnh Ngài sống lâu nơi đây, đến dựng đạo tràng, trường kỳ giảng kinh, thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh.

Trong quá khứ, chúng tôi sống ở Đài Loan, cụ Lư Bỉnh Nam hiện thân cư sĩ; người Đài Trung có thiện căn, có phước đức, nên lăo nhân gia trụ tại Đài Trung. Ngài giáo hóa rất nhiều năm dường ấy, các địa phương thuộc Nam Bắc Đài Loan đều biết đến Ngài, cũng đều muốn thỉnh Ngài, Ngài không đi, cứ ở Đài Trung. Dùng phương pháp ǵ để lưu lại được? Không có ǵ khác cả! Ngài không cần danh, cũng không màng lợi, bởi thế, cái lưu giữ Ngài không phải là danh lợi, mà là ǵ? Hiếu học! Người Đài Trung thân cận Ngài, thực sự học tập theo Ngài. Người hiếu học nhiều như thế, Ngài không thể đi được!

Tuyệt đối chẳng v́ lợi dưỡng! Nếu v́ lợi dưỡng th́ khắp Nam Bắc như Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Nam, chắc chắn đời sống vật chất khá hơn ở Đài Trung gấp bội, chắc chắn là như vậy! Nhưng trong những đô thị ấy, tâm t́nh học tập không được như thế. Kinh Phật thường nói: “Phú quư tu đạo khó”. Điều kiện sinh hoạt vật chất nơi đô hội cao, mọi người đều tranh danh đoạt lợi, đều hưởng thụ ngũ dục, lục trần. Dù có muốn học Phật th́ ư nguyện và đạo tâm học Phật vẫn chẳng bằng người nơi nghèo khổ, lạc hậu. V́ thế, thiện tri thức chẳng nói “quư vị tiếp đăi tôi tốt đẹp như thế nào”! Không phải vậy! Có bao nhiêu người thực sự học, thực sự thực hành, mới thực sự giữ Ngài lại được. Thỉnh Phật trụ thế không phải là ta đăi ngộ tốt đẹp như thế nào, không phải vậy! Thực sự chịu học, Ngài bèn đến; thực sự chịu học, người khác muốn thỉnh cũng không được. Chúng ta phải hiểu đạo lư này! Gặp được một vị chân thiện tri thức, làm sao giữ được Ngài, tuyệt đối không phải là điều kiện vật chất! Các Ngài coi nhẹ những thứ ấy, mà [quan trọng] là có người thực sự học theo Ngài hay không!

Người thực sự học không cần nhiều, từ ba đến năm người, tám người, mười người là quư lắm rồi. Ở chỗ ấy, Ngài có thể truyền thọ đạo nghiệp, người thế gian chúng ta gọi [chuyện này] là “hương hỏa đại đại tương truyền” (hương hỏa lưu truyền đời đời), phải như vậy đó! Dẫu chỉ có một người, Ngài cũng không thể vứt bỏ; trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai! Người ấy đâu phải người học Phật tầm thường, người học Phật tầm thường chẳng thể thành tựu. Người ấy là ai? Là một người có thể thực sự thành tựu, người như vậy không thể bỏ được! Người ấy có thể truyền pháp! Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc gặp Huệ Khả, một người thôi, chỉ một người là được rồi! Ngài truyền được pháp, truyền đến đời thứ sáu là Huệ Năng đại sư, duyên chín muồi, xiển dương rộng lớn! Xiển dương rộng lớn, phổ độ chúng sanh không nhất định nằm trong tay ḿnh, bản thân không có duyên phận, không có duyên phận là do phước đức không nhiều. Giáo hóa chúng sanh phải có phước đức. Phước đức, nhân duyên đấy nhé!

Bởi thế, chúng ta phải biết đạo lư này, biết vô lượng vô biên phước báo ấy. Do quư vị thỉnh chuyển pháp luân, quư vị phải biết vị pháp sư, đại đức, thiện tri thức ấy giảng một bộ kinh ở đây, chẳng nề hà thời gian dài hay ngắn, hễ duyên chín muồi, người ta nghe kinh khai ngộ, giác ngộ, minh bạch. Duyên chưa chín muồi, thiện căn chưa chín muồi th́ cũng đă gieo thiện căn, bao nhiêu người được lợi ích! Được lợi ích như thế nào? Quư vị thỉnh vị thiện tri thức ấy đến giảng kinh, quư vị đă gieo phước đức rất lớn. Ngoại trừ những người ấy ra, con mắt thịt của chúng ta chẳng thấy quỷ thần cũng được lợi ích càng nhiều hơn nữa, chúng ta mắt thịt không thể thấy được! Chúng sanh trong chín pháp giới đều được lợi ích. Quư vị thấy như trong phần trên đă nói là “lục thú, tứ sanh”, có bơ công không chứ?

Nếu nói lưu thiện tri thức ở lại một chỗ nào, th́ ở chỗ ấy thực sự phải có mấy người thực sự học theo Ngài, chẳng phải miệng nói xuông đâu! Thực sự là ở nơi đó có mấy người có thể tin, có thể hiểu, có thể hành, thực sự có thể y giáo phụng hành. Không nghi hoặc, nghe có thể hiểu được, có thể lư giải, thực sự thực hành, nếu quư vị thỉnh vị thiện tri thức ở lâu tại nơi đó sẽ không có vấn đề ǵ, Ngài nhất định đáp ứng. Chẳng phải chỉ nhằm thành tựu mấy người đó, mục đích không phải chỉ có vậy, mà nhằm thành tựu mục đích khiến cho đại pháp được tồn tại lâu dài trong thế gian. Đại pháp muốn tồn tại lâu dài trong thế gian phải có truyền nhân, ở nơi này quả thật có người truyền pháp, trong tương lai Ngài ra đi, sau này có người thay thế. Quả thật có một người th́ Ngài chẳng buông bỏ; nhất định Ngài có duyên với nơi này. Thỏa điều kiện ấy, Ngài rất vui thích ở lại đây. Nếu quả thật nhận thấy có người như vậy, dù nơi ấy thiếu điều kiện, ngoại duyên bất hảo, Ngài vẫn khuyên người như vậy đến học tập với Ngài, ta thường gọi là “nhiếp thọ chúng sanh”, Ngài chẳng vứt bỏ.

Đương nhiên, nhân tố trọng yếu nhất ở đây chính là thầy tṛ cũng phải có duyên phận, không có duyên không được! Thầy và tṛ có duyên, học tṛ và thầy có duyên th́ mới có thành tựu. Nếu thầy là vị thầy tốt, học tṛ cũng là học tṛ tốt, nhưng không duyên, miễn cưỡng cũng không được. Chuyện ấy chỉ có thể gặp gỡ, chứ không thể cầu, quả thật chẳng dễ đâu! Học tṛ mong t́m được một vị thầy giỏi khó lắm! Vị thầy giỏi muốn t́m được một đứa học tṛ để có thể truyền đạo nghiệp của chính ḿnh càng khó hơn nữa, t́m ở chỗ nào? Trong Phật pháp thường gọi điều này là “duyên phận”. Không có duyên phận, lắm vị thiện tri thức sau khi văng sanh, đạo nghiệp bị thất truyền, không có ai truyền hết! Chuyện như vậy từ xưa đến nay rất nhiều, làm cách nào đây? Trước kia, các vị bèn viết sách. Ta không có học tṛ để truyền cái pháp của ta th́ ta soạn sách lập thuyết, hy vọng dùng sách vở truyền lại, truyền cho người đời sau hữu duyên. Sau này kẻ có duyên đọc được  trước  tác  của  vị  ấy,

khai ngộ, thậm chí chứng quả, dùng phương pháp ấy.

Trong Nho Gia, Mạnh Tử được truyền pháp của Khổng Tử cũng theo phương pháp ấy. Trong thời Mạnh Tử, Khổng Tử đă qua đời rồi, Mạnh Tử t́m được trước tác của Khổng Tử, làm “tư thục đệ tử”[6] của Khổng Tử, hoàn toàn y giáo phụng hành. Ngài thực sự học thành công, trở thành truyền nhân của Khổng Tử. Khổng Tử và Mạnh Tử chưa hề gặp nhau. Trong nhà Phật chúng ta, thí dụ rơ ràng nhất là Ngẫu Ích đại sư và Liên Tŕ đại sư. Liên Tŕ đại sư ra đời sớm hơn, khi ngài Ngẫu Ích quy y học Phật, Liên Tŕ đại sư đă văng sanh. Ngài Ngẫu Ích đọc trước tác của Liên Tŕ đại sư. Hiện nay, trước tác của Liên Tŕ đại sư ở chỗ chúng ta cũng có. Liên Tŕ Đại Sư Toàn Tập hiện tại gồm bốn cuốn, đóng b́a cứng. Ngài học theo Liên Tŕ đại sư, thực sự học thành công, trở thành nhất đại tổ sư của Tịnh Độ Tông, là tư thục đệ tử của ngài Liên Tŕ. Cổ nhân dùng phương pháp ấy!

Hiện tại, khoa học phát đạt, thuận tiện hơn trước kia nhiều lắm, hiện tại làm cách nào? Không có truyền nhân th́ có thể thâu h́nh, có thể thâu âm, dùng băng thâu âm, thâu h́nh để lưu truyền ḥng đợi hậu nhân. Sau này người có duyên xem đến, học tập từ đấy th́ cũng có thể thành tựu. Trước kia chỉ nhờ vào sách, tức văn tự. Nay có những máy móc ấy, tiện hơn nhiều lắm. Bởi thế, hiện tại khoa học tiến rất xa, trước kia không có cách ǵ! Khoa học tiến triển tạo thuận lợi cho con người hiện tại, công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn! Bây giờ đă hết giờ rồi.

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 8 hết

 



[1] Lưu ư, ở đây Ngẫu Ích đại sư dùng chữ Tiển ( :ít ỏi) chứ không phải là chữ Tiểu bị phiên âm sai.

[2] Chi quang ở đây có hai cách hiểu:

1. Đơn vị đo cường độ ḍng điện cần thiết để bóng đèn cháy sáng, tức là Watt (c̣n phiên âm là Ngơa Đặc nhằm tránh nhầm lẫn với khái niệm thứ hai).

2. Đơn vị đo cường độ ánh sáng, c̣n gọi là “chúc quang” (dịch chữ Candela). Đây là đơn vị đo lường quốc tế nhằm đo đạc lượng ánh sáng tỏa ra từ một nguồn sáng theo một hướng nhất định. Đôi khi, nó c̣n được gọi thông dụng là candle (do vậy, thuở xưa, người Việt thường nói là “đèn sáng mấy nến”).

[3] Tức “mằn thầu”, một loại bánh bao không nhân. Vùng Hoa Bắc thường dùng để ăn thay cơm.

[4] Theo hệ thống đo lường cổ của Trung Hoa (vẫn c̣n sử dụng ở Hương Cảng và Đài Loan), một Cân gồm mười sáu Lạng. Một Cân tương đương 604,8 gram. Ở Hoa Lục, một Cân chỉ là 500 gram và được chia thành 10 Lạng. Để khỏi lầm lẫn, đơn vị Cân của Hoa Lục được gọi là Thị Cân.

[5] Chữ Niệm () gồm hai chữ Kim () và Tâm () ghép lại.

[6] Tư thục: Ở đây, chữ Thục () thuộc bộ Thủy, khác với chữ Thục () bộ Thổ (chữ Tư Thục với bộ Thổ có nghĩa là trường tư), từ điển Từ Hải giảng: “Vị thân thọ nghiệp nhi tư tâm cảnh ngưỡng hiệu pháp đích ư tứ” (có nghĩa là: Chưa đích thân theo học với thầy, tự ư kính ngưỡng, học theo). Gọi là “tư thục đệ tử” v́ Mạnh Tử ra đời, Khổng Tử đă mất, không thể đích thân học với Khổng Tử, nhưng thầy Mạnh hâm mộ giáo pháp của Khổng Tử nên học theo và xiển dương rực rỡ giáo thuyết của Khổng Tử, nên Nho Gia tôn xưng Mạnh Tử là Á Thánh.