Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao Tục Biên,
Quyển Thượng
Phần 2
22. Thư trả lời cư sĩ
Dương Huệ Xương (hai lá thư. Ông này vốn tên là Tự Xương)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
1) Ông
Lưu Hán Vân có thể nói là xưa đă có thiện căn, nhưng
đă tin tưởng Phật pháp nhiều năm, lẽ ra
phải sớm ăn chay, sao lại đợi đến
tuổi hoa giáp (sáu mươi) mới phát tâm vậy? Do đây
biết rằng: Thói quen thế tục chẳng dễ thay
đổi! Nay đă đổi được, cũng
đáng gọi là có nghị lực mạnh mẽ. Ông ta
đă thường xem Văn Sao th́ cố nhiên tâm đă hiểu
rơ ràng phương pháp tu tŕ. Điều quan trọng nhất
là phải quyết định cầu đến khi lâm
chung được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây
Phương. Muốn sanh Tây Phương th́ thường
ngày phải dốc sức nơi tin sâu, nguyện thiết,
chí thành niệm Phật, ưa thích sự tịnh diệu của
Tịnh Độ, nhàm chán sự trược ác cơi Sa Bà. Tự
hành như thế mà dạy người cũng giống
như thế. Chẳng được có một tâm niệm
cầu mong đời sau được hưởng
phước báo nhân - thiên, ắt sẽ có thể cảm ứng
đạo giao cùng Phật, quyết định có thể cậy
vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương, siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử. Nay tôi đặt cho ông ta pháp
danh là Huệ Vân, nghĩa là dùng vầng mây đại trí huệ
tuôn trận mưa pháp cam lộ để nhuần
đượm cả ḿnh lẫn người (đấy
chính là “huệ vân pháp vũ”), tức là “thật
v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tin sâu, nguyện
thiết, tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây
Phương”.
Ông ta lại từng
thương xót siêu độ những cô hồn chết v́
băng huyết khi sanh nở. Nhưng đối với hết
thảy nữ nhân, cũng nên lập cách sao cho họ vĩnh
viễn không bị băng huyết khi sanh nở, khiến cho
họ được ĺa khổ hưởng vui ngay trong
đời này. Cách đó ra sao? Phàm là con gái th́ từ bé hăy nên
niệm Phật và niệm Quán Thế Âm để cầu
tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng
phước thọ. Nếu b́nh thời thường niệm
sẽ tự có thể tiêu diệt được tai nạn
trong khi sanh nở này. Như đang lúc sanh nở, vẫn
nên chí thành khẩn thiết niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” chắc chắn sẽ
dễ sanh, chẳng phải chịu khổ. Nếu lúc b́nh
thường hoàn toàn chẳng niệm Phật và niệm
Quán Âm, nhưng lúc sanh nở chịu niệm th́ cũng nhất
định được sanh nở b́nh an. Nếu có ai khó
sanh, hăy dạy kẻ ấy niệm và những người
săn sóc chung quanh cùng nhau niệm cho người ấy,
cũng quyết định liền được sanh nở
b́nh an.
Chớ nói “đang khi
sanh nở lơa lồ, ô uế, niệm [danh hiệu Bồ
Tát] sẽ bị tội!” Phải biết: Đấy là lúc
liên quan đến tánh mạng, chẳng thể dùng đạo
lư lúc b́nh thường để luận định được.
Lúc b́nh thường, phàm là người niệm Phật nếu
áo mũ không chỉnh tề, hoặc ngủ nghỉ, tắm
giặt, đại tiểu tiện v.v… chỉ nên niệm
thầm trong tâm, chẳng nên niệm ra tiếng rơ ràng. C̣n
khi sanh sản, chớ nên niệm thầm trong tâm, mà phải
niệm ra tiếng rơ ràng, bởi niệm thầm sức yếu,
nếu trong tâm gắng sức sẽ rất có thể bị
bệnh. Niệm rơ tiếng th́ hơi thở thông suốt,
hết sức hữu ích, chớ nên nói “niệm sẽ mắc
tội!” Phải biết: Bồ Tát xem hết thảy chúng
sanh đều giống như con ruột. Nếu con cái ngă
vào nước - lửa, cầu cứu cha mẹ, cha mẹ
nghe thấy liền cứu ngay, quyết chẳng v́ lư do áo
mũ không chỉnh tề, thân thể không sạch sẽ mà
chẳng cứu! Nếu lúc b́nh thường cũng niệm
giống như khi [v́ chẳng đặng đừng mà phải]
lơa lồ ấy th́ tội chẳng nhỏ. Cần phải
luận theo sự, đừng chấp chết cứng! Có
kẻ chẳng hiểu lư, hễ trong nhà có người sanh
nở, họ bèn lánh đi nơi khác hơn cả tháng mới
dám quay về, cho rằng hễ bị huyết tanh xông nhằm
th́ những kinh, chú, Phật hiệu đă niệm từ
trước đều trở thành không có công đức
ǵ! Những kẻ ngu ấy đáng thương xót tột
bậc! Hăy nên đem lời Quang bảo với khắp mọi
người, ắt sẽ chẳng c̣n ai bị chết v́
sanh sản nữa!
2) Nội
công (công phu tu hành bên trong) là tự tu; ngoại công là rộng
hành các phương tiện, như: giúp đỡ kẻ ngặt
nghèo, cứu người khốn đốn, cứu giúp tai
nạn v.v… Đấy gọi là Trợ Đạo. Những
điều này nên dựa theo sức lực, khả năng
của chính ḿnh [mà làm]. Nếu không có sức th́ hoặc dùng
lời nói để chỉ điểm cho kẻ mê, hoặc
dùng lời lẽ khuyên lơn đại chúng, khiến cho mọi
người đều thành tựu chuyện của họ.
Nếu do được người ta thỉnh mà niệm
kinh, niệm Phật th́ phần nào vẫn là kẻ lười
nhác, mang hành vi dựa dẫm vào Phật để kiếm
sống. Sao ông lại chen lẫn vào đó, chẳng sợ
đánh mất phẩm cách của chính ḿnh hay sao? Chỉ có
một sự đáng làm, nhưng ông đă có nghề nghiệp,
nên cũng chẳng thuận tiện lắm; [tức là] hễ
[gặp lúc] có người thường ngày niệm Phật,
hoặc con cháu người ấy tin Phật, khi người
ấy lâm chung, thỉnh các vị cư sĩ đến trợ
niệm, lợi ích ấy rất lớn. Hăy xem sách Sức
Chung Tân Lương sẽ tự biết.
Người niệm Phật
hăy thường đối trước cha mẹ của
chính ḿnh và những quyến thuộc khác nói cho họ nghe [lợi
ích của sự trợ niệm], để đến khi
có người mạng chung, quyến thuộc trong nhà đều
cùng niệm Phật th́ người [sắp mất] ấy ắt
nương theo Phật lực sanh về Tây Phương. Dẫu
chẳng sanh Tây Phương, ắt cũng sanh vào đường
lành, có lợi ích rất lớn, chẳng tổn
thương mảy may! Nếu chẳng biết điều
này, khi chưa chết đă lo tắm rửa, thay quần
áo sẵn, nếu do bị dời động mà đau
đớn, sân tâm liền nổi lên. Dẫu chẳng đến
nỗi nổi sân, nhưng qua một phen dời động,
tâm cũng chẳng được thanh tịnh. Nếu là
người b́nh thời niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, trải qua một phen như thế, chắc
chắn bị mất chánh niệm, chẳng được
văng sanh! Nếu chưa chết đă khóc lóc trước khiến
cho người [sắp mất] ấy sanh tâm ái luyến th́
cũng là lôi kéo khiến cho người ấy bị đọa
lạc. Một cửa ải lâm chung khẩn yếu tột
bậc, do vậy phải nên trợ niệm. Người
trợ niệm cần đọc kỹ sách Sức Chung Tân
Lương, bảo con cái quyến thuộc trong nhà đều
tuân theo chỉ dạy của người trợ niệm,
mới ḥng chẳng đến nỗi do tâm hiếu lại
đâm ra làm cho cha mẹ phải chịu nỗi khổ
đọa lạc! Ngoài việc trợ niệm ra, mọi
chuyện đều chẳng nên làm. Nếu phong cách này (tức
cách ứng phó này) được
lưu hành th́ chuyện thiện nam tín nữ niệm Phật
chẳng trở thành một nếp xử sự phổ biến
hay sao? Người hiểu lư chọn lấy chuyện tốt
lành để làm, người không hiểu lư chỉ thấy
lợi bèn theo, người có nghề nghiệp lỡ làng
công việc, kẻ lười nhác bèn dựa vào đó để
cḥng ghẹo, chẳng những gây trở ngại cho Tăng
chúng mà c̣n gây trở ngại cho chính tang gia.
23. Trả lời thư cư sĩ Thang
Văn Huyên (hai lá thư)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm qua thầy
Minh Đạo đem thư ông tới. Đọc những
lời ông phát lộ sám hối, có thể gọi là bậc
hữu chí, nhưng hằng ngày phải mở rộng [cái
tâm sám hối ấy] ra, ngơ hầu chẳng đến nỗi
biến sức công đức Phật tánh thành căn cứ
để tạo ác nghiệp chịu sự khổ cùng cực.
Tội lớn tầy trời chẳng thể cự lại
một chữ Hối. “Thánh mất
niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được
niệm bèn thành thánh”. Tâm Nghiêu, Thuấn, Phật, Bồ
Tát và tâm chúng ta có cùng một giác thể; nhưng do chúng ta
nghịch tánh mà tu nên ch́m đắm trong loài chúng sanh nghiệp
khổ. Ông đă biết sai, hăy nên tận lực sửa lỗi.
Đối với mọi chuyện, đều có thể tận
lực sửa đổi sẽ đạt đến chỗ
không c̣n lỗi lầm. Nếu chỉ sanh ḷng hổ thẹn
tạm thời, rồi cứ lần chần chẳng tự
tu tŕ th́ vẫn lặn hụp trầm luân trong biển tội
nghiệp y như cũ, không thể thoát ra được!
Xin hăy đọc cặn kẽ các sách th́ sẽ lần lần
đạt đến chỗ khá hơn, ngơ hầu chẳng
đến nỗi sống uổng chết phí, sống như
gỗ, đá, cầm thú trong ṿng trời đất, sống
đă vô ích cho người, mà lại c̣n có hại cho người!
Về chuyện quy y,
hăy để thong thả. Nếu ông vẫn chẳng thay
đổi lề thói cũ th́ quy y lại trở thành tội
lỗi. V́ sao vậy? Chẳng quy y th́ khi tạo nghiệp
chẳng mắc lỗi hoại pháp. Quy y xong vẫn tạo
nghiệp, ắt người ta sẽ dựa vào chuyện
đă quy y rồi mà vẫn tạo nghiệp, do đó họ
sẽ phỉ báng Phật pháp là tệ hại. Hơn nữa,
ông muốn quy y lại hoàn toàn chẳng chịu nhún ḿnh, làm
sao thỏa măn ư nguyện của ông cho được?
Người đi đường hướng về
người khác hỏi lối, c̣n phải chắp tay để
biểu thị ư cung kính. Nay muốn quy y Tam Bảo vẫn chẳng
chắp tay kính trọng, tức là tập khí tự cao tự
đại vẫn chưa chiết phục được
mảy may nào, làm sao cho ông quy y được? Nếu
đích thân đến xin quy y, [pháp sư] lên ṭa nói pháp quy y,
[người xin quy y] phải dập đầu ba bốn
mươi lần, quỳ lâu chừng một giờ. Dẫu
nói dễ dăi cũng phải dập đầu mười
mấy cái! Ai dám tự chuốc lấy tội khinh pháp
để cho ông quy y? Quy y giống như bái sư trong thế
gian, há những kẻ bái sư trong đời cũng chẳng
theo lễ nghi chắp tay hay sao? Nếu luận từ đằng
gốc th́ hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ
trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, lễ bái,
cúng dường c̣n chẳng xuể, nào dám trách ai thiếu lễ!
Nếu luận trên h́nh tích duy tŕ pháp đạo, phàm những
kẻ chẳng chịu tự nhún ḿnh mà cứ cho họ quy
y th́ chính ḿnh cũng mắc tội lỗi rất nặng!
2) Ai
cũng có thể là Nghiêu, Thuấn, ai cũng đều có
thể thành Phật. Những kẻ chẳng thể là
Nghiêu, Thuấn, chẳng thể thành Phật là v́ chẳng lập
chí mà ra. Không có chí sẽ chẳng sanh hổ thẹn, yên phận
phàm ngu, luân hồi trong tam đồ lục đạo cả
kiếp dài lâu, không thể thoát được! Ông đă
phát ḷng hổ thẹn, phát tâm mong thành thánh, thành hiền, học
Phật, học Tổ, cố nhiên là do thiện căn
đời trước tạo thành. Hăy nên “mỗi ngày một
mới” để hoàn toàn vứt bỏ mọi ư nghĩ,
hành vi chẳng chánh đáng trước kia. Một nhát dao chặt
đứt làm đôi, chớ có “dẫu ĺa ngó ư c̣n
vương tơ ḷng”, vương vấn, do dự, ắt
đến nỗi chẳng mấy chốc lại quay về
nẻo cũ, vùi lấp trong mười thứ ác nghiệp
y như cũ, khiến cho Phật tánh “sáng tỏ Minh Đức”
sẵn có đều bị chướng lấp chẳng thể
hiển hiện, dùng tư cách thành thánh, thành Phật để
nằm tù Diêm La, đối diện ngục tốt[1],
chẳng đáng buồn ư?
Nay đặt pháp danh
cho ông là Huệ Chấn, nghĩa là dùng trí huệ đánh
động, dẹp dứt, ngơ hầu ḿnh lẫn người
đều siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử,
thoát khỏi đời ác ngũ trược, vượt
lên cơi sen chín phẩm. Những sách đă gởi lần
trước đều có thể nương theo đó
để tu tŕ, nhưng Văn Sao, Gia Ngôn Lục là trọng
yếu nhất. So với Văn Sao, Gia Ngôn Lục đọc
đỡ mất công hơn, xin hăy lắng ḷng đọc th́
phương pháp tu tŕ thế gian và xuất thế gian sẽ
đều hiểu trọn vẹn, ở đây không viết
chi tiết nữa! Quang già rồi, tinh thần chẳng
đủ, chẳng nên thường gởi thư đến,
hễ gởi đến sẽ chẳng phúc đáp. Đại
cương của pháp môn Tịnh Độ là ba món Tín -
Nguyện - Hạnh, cốt lơi tu tŕ là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối”, không cần phải nói nhiều. Nương
theo đó tận lực thực hành sẽ đích thân đạt
được lợi ích. Nếu muốn làm một vị
đại thông gia chắc sẽ đến nỗi gạt
pháp liễu sanh thoát tử ngay trong đời này qua một
bên th́ đáng thương xót lắm thay!
24. Thư trả lời cư sĩ Ngô
Thương Châu (ba lá
thư)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
1) Bệnh
dịch đang lan truyền, vợ con đều mắc bệnh,
hăy dạy bọn họ ai nấy đều chí thành niệm
Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu ông có thể niệm
chú Đại Bi th́ hăy gia tŕ nước Đại Bi cho họ
uống, sẽ tự được lành bệnh, không cần
phải miệt mài chữa trị. Những điều ông
nói tợ hồ nắm được đại ư,
nhưng chỉ là nói xuông, hoàn toàn chẳng dùng được
mảy may ǵ! Phật pháp có vô lượng pháp môn, nhưng đều
phải tu đến khi nghiệp tận t́nh không th́ mới
có thể liễu sanh thoát tử! Nếu không, dù có sở
đắc, vẫn cứ y như cũ, chẳng làm ǵ
được sanh tử! Như trong hiện thời, sợ
rằng khắp cơi đời cũng khó được một
hai người đạt đến địa vị nghiệp
tận t́nh không! Chỉ có một pháp Niệm Phật nếu
đầy đủ tín chân, nguyện thiết, chí thành niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, dù toàn thân là nghiệp lực,
vẫn đều có thể cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương, ấy gọi là “đới nghiệp
văng sanh”. Hễ sanh về Tây Phương th́ liễu sanh
thoát tử, siêu phàm nhập thánh. V́ thế, thiện tri thức
đời Mạt phần nhiều đều chuyên chú Tịnh
Độ; bởi lẽ Tịnh Độ thực hiện
dễ, thành công cao, dùng sức ít, đạt được
hiệu quả nhanh chóng.
Thường có những
kẻ thông minh, hơi hiểu giáo nghĩa, hoặc biết
đôi chút lẽ Thiền, bèn tự cho ḿnh là bậc thông suốt,
miệt thị niệm Phật, cho niệm Phật là chuyện
để bọn ngu phu, ngu phụ làm! Đấy đều
là những kẻ chẳng biết tự xét, là hạng cuồng
đồ, cứ tưởng “hiểu nghĩa lư theo
văn tự chính là thật chứng”, chắc chắn là hạng
“nói không, làm có”, dùng thân báng pháp, tương lai ắt đọa
tam ác đạo, được những ngu phu, ngu phụ
niệm Phật văng sanh Tây Phương thương xót
nhưng chẳng thể cứu vớt! Ông đă nguyện
quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Thương, ngụ
ư: Đổi tên chẳng đổi thể[2],
nhưng chữ Thương trước kia (tức chữ
Thương trong tên thật) có nghĩa là cả ḿnh lẫn
người đều ch́m đắm mênh mông, nay
nương theo Phật pháp tu tŕ, liền trở thành cả
ḿnh lẫn người đều được lợi lạc
mênh mông. Tuy cùng [có nghĩa] là mênh mông, nhưng sự khác biệt
giữa nguyên do [của hai thứ] mênh mông ấy cố
nhiên nào phải chỉ giống như [sự khác biệt]
giữa trời với vực!
Phương pháp tu tŕ niệm
Phật cùng với giữ vẹn luân thường, tận
hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện v.v… th́
Văn Sao, Gia Ngôn Lục đều đă nói đầy
đủ cả rồi, ở đây không viết cặn kẽ.
Đă thấy h́nh chụp của ông, c̣n h́nh chụp của
Quang [dĩ nhiên là] chẳng có! V́ Quang một bề chẳng
thích phô trương. Phàm những chuyện tŕnh diễn, phô
phang sáo rỗng đều chẳng thích làm. Ông nói xưa kia
ở chỗ của Hám Sư Trưởng[3]
t́m được tiểu sử của Quang, lời ấy
cũng chẳng phải là chuyện thật. Ông Hám cố
nhiên tin Phật, nhưng chưa từng hỏi Quang câu nào,
e rằng ông ta nghe được mấy câu từ nơi
Trần Đại Tâm, nhưng Quang một mực chẳng
kể cùng người khác những chuyện trước
kia. Những lời ông ta nói chắc là chuyện gần
đây. Nếu là chuyện trước khi xuất gia th́
đều là thêm thắt. Gần đây, do phát chẩn[4]
[ông ta] đến thôn tôi th́ những tiểu sử do
người trong thôn chép lại cho ông ta cũng không đích
xác, bởi Quang rời nhà đă năm mươi hai
năm, những kẻ hậu sinh nghe nói lại chỉ biết
được một hai chuyện. Ông ta bảo Quang bổ
túc, Quang nại cớ kỳ chết đă gần, chẳng
muốn lưu tiếng xuông cho đời nên chẳng bổ
túc. Về sau, ông ta lại viết thư bảo bổ túc,
Quang gởi cho ông ta một gói sách, nhưng vẫn chẳng
trả lời thư ấy. Tôi nói với ông điều
này v́ ông nói là ông biết tiểu sử của Quang vậy.
2) Quư quyến
đều chịu niệm Phật, có thể nói là xưa
đă có duyên với Phật, cho nên mới được
làm quyến thuộc với nhau. Ông nói chẳng bao lâu nữa
sẽ cùng lệnh phu nhân đến đất Tô, trộm
cho rằng không cần thiết. Nếu có thể chí thành khẩn
thiết niệm Phật th́ nào có thiếu sót ǵ! Dẫu
không gặp Ấn Quang cũng hoàn toàn chẳng mất mát ǵ
cả! Dẫu gặp mặt, ngoài Văn Sao ra, há c̣n có diệu
pháp “khẩu truyền, ngầm trao” nào nữa ư? Nếu
thật sự có diệu pháp “khẩu truyền, ngầm
trao” th́ kẻ ấy chính là ma vương, ngoại đạo,
nên tránh xa c̣n không kịp, huống là lại muốn cầu
pháp đó nơi kẻ ấy ư? Huống chi, nay đang
lúc đói kém, nếu những người chủ chốt
trong nhà đều đi xa mấy ngày, rất có thể kẻ
nhỏ nhen, tệ hại sẽ thừa cơ trộm cắp.
Nếu vạn nhất có chuyện ấy, chẳng những
vợ chồng ông bị người ta chê là mê tín, mà người
ta c̣n nói Quang thiếu đức khiến cho người
khác mắc họa!
Cư sĩ Triệu
Vân Bằng quy y với pháp sư Ứng Từ[5], cực
hay, cực tốt; cần ǵ phải quy y với Quang nữa?
Nếu cứ nhất quyết muốn quy y, nào có danh hay
không danh để nói đây? Năm Dân Quốc thứ bảy
(1918), ông Từ Úy Như và Quang chưa từng gặp mặt
lần nào, nhưng do trong năm đầu Dân Quốc
(1911) thấy Phật Học Tùng Báo đăng tải mấy
bài của Thường Tàm (đây không phải là tên
tôi, chỉ là tên tùy tiện dùng v́ chẳng muốn người
khác biết tên vậy), chẳng biết
là Tăng hay tục, nên thường nghe ngóng. Đến
năm Dân Quốc thứ năm (1916), đă nghe biết được
rồi, bèn cậy bạn ngỏ lời muốn thư từ
qua lại thưa hỏi, Quang cự tuyệt không bằng
ḷng. Đến năm Dân Quốc thứ bảy (1918),
đem hơn hai mươi thiên văn sao in thành sách. Ông ta
theo mẹ đến Phổ Đà, xin quy y, Quang dạy ông ta
quy y với ngài Đế Nhàn (ông ta rời núi, bèn thỉnh
pháp sư Đế Nhàn lên kinh đô giảng kinh). Năm Dân Quốc 17 (1928) gởi thư
đến nói: “Trước kia con muốn quy y, thầy dạy
quy y với ngài Đế Nhàn, mười năm qua trong
ḷng vẫn trọn cảm thấy không thỏa ư, vẫn
xin thầy chấp nhận cho con quy y”. Quang trả lời
ông ta: “Ông quyết ư muốn quy y, thôi th́ cũng được,
nhưng pháp danh th́ vẫn dùng pháp danh do ngài Đế Nhàn
đă đặt[6], cần
ǵ phải đặt pháp danh khác?’
Ông Triệu đă quy y
với sư Ứng Từ, nếu vẫn muốn thờ
Quang làm thầy th́ hăy nên luận theo phương pháp tu tŕ
Quang đă nói, chứ đừng luận trên pháp danh! Pháp
được thầy Ứng nói chính là pháp Đại Thừa,
c̣n pháp Quang đă nói chẳng phải Đại, chẳng
phải Tiểu, vừa là Đại, vừa là Tiểu, là
pháp mà trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới
đến phàm phu sát đất đều cùng tu cùng chứng,
cố nhiên phải nên chú trọng pháp này. Nếu hời hợt
coi nó giống như hết thảy các pháp Đại Thừa
th́ chuyện liễu sanh thoát tử chắc là lâu lắc lắm!
Ông nói “vứt bỏ hết để được độ
thoát”, xét đến cùng là chỉ lợi ích cho một
người, là mặc kệ ba đứa con. V́ thế,
hăy nên thong thả đă!
3) Phàm phu
chưa từng đích thân chứng được Phật
Tánh, tất cả công đức của Tự Tánh hoàn toàn
chẳng được phát hiện và thọ dụng, nên hết
thảy phải thuận theo nghiệp. Cái sắc thân trong
đời hiện tại gọi là Báo Thân, tức là quả
báo của những điều thiện hay ác đă tạo
trong đời trước. Người niệm Phật
tuy không c̣n tạo nghiệp sanh tử nữa, nhưng túc
nghiệp chưa hết, làm sao có thể được
văng sanh ngay lập tức? Nếu tâm nhàm chán thế gian thiết
tha, kiệt ḷng thành, tận ḷng kính, chuyên chí niệm Phật,
cầu Phật rủ ḷng từ sớm đến tiếp
dẫn th́ cũng có người [sớm được văng
sanh]! Nếu tự hủy hoại mạng sống để
mong văng sanh liền thành uổng tử quỷ (quỷ chết
oan)! Do người ấy công phu chưa đạt mà tự
hủy mạng th́ khi đang hủy mạng, tâm đă mất
chánh niệm, huống chi nỗi khổ do tự hủy mạng
không thể thí dụ được! Tâm mất chánh niệm
th́ làm sao tương ứng với Phật, được
Phật tiếp dẫn? Thứ tà kiến này tự lầm,
lầm người, gây hại tột bực! Chớ nói lời
ấy để kẻ vô tri khỏi bị hại!
Người có quyền
lực th́ cứu người cứu đời dễ
dàng, mà hại người hại đời cũng dễ
lắm! Nếu dùng quyền lực có được do hại
người hại đời để mong cứu người
cứu đời th́ dĩ nhiên chẳng bằng dốc ḷng
từ thiện, tùy phận tùy sức để cứu
người cứu đời, sẽ có ích, không bị tổn
hại! Nếu hâm mộ quyền lực, muốn có quyền
lực để cứu người cứu đời, xin
hăy suy xét kỹ: Có thể nào đạt được quyền
lực lớn lao ấy mà không phải trả giá hay
chăng? Nếu tâm chân thật tu hành, dù không có quyền lực
vẫn có thể cứu người, cứu đời, chỉ
không thể rộng lớn như [người] có quyền
lực mà thôi! Nếu có quyền lực lại có thể
làm chuyện cứu người, cứu đời, chỉ
muốn chuyên chú nơi đạo, chẳng tạo ác nghiệp
th́ hiện nay không có hạng người ấy đâu! Phú
quư làm cho con người mê hoặc đáng sợ vô cùng!
Người b́nh thường nếu tiền chuyển giao
qua tay, tuy c̣n chưa phải là vật của chính ḿnh, mà tâm
niệm đă biến đổi, làm các điều ác, huống
chi thật sự có quyền lớn lao mà tâm chẳng thay
đổi th́ có được mấy ai? Chớ nên hiểu
lầm th́ chính ḿnh may mắn lắm, mà Phật pháp cũng
may mắn lắm vậy!
25. Thư trả lời cư sĩ Ninh
Đức Tấn
(năm Dân Quốc 20 - 1931, ông này vốn
có tên là Chí Vũ)
Lễ Phật, Bồ Tát, trong tâm
thầm niệm, hoặc xưng niệm ra tiếng đều
được. Niệm Tâm Kinh trước hay sau kinh Di
Đà cũng đều được. V́ mở đầu
kinh bèn niệm “Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát” ba
lượt cho nên niệm kinh Di Đà, chú Văng Sanh xong rồi
mới niệm Tâm Kinh. Chữ Đỏa (埵) đọc
giống chữ Đóa (朵), Hoạch (獲) là được.
Vô
Sanh Nhẫn là đối với hết thảy cảnh giới
thiện - ác, phàm - thánh, trọn không có một niệm “sanh
tâm động niệm có tướng để đạt
được”. Kinh Kim Cang dạy: “Tam tâm liễu bất khả đắc, tức thị
Vô Sanh Nhẫn” (ba tâm trọn chẳng thể được
chính là Vô Sanh Nhẫn) chính là phần cước chú cho Vô
Sanh Nhẫn. Cũng đừng nói “đối với hết
thảy cảnh giới trọn chẳng có một niệm
sanh tâm động niệm sẽ thành cây khô, tro lạnh”. [“Đối với hết thảy
cảnh giới trọn chẳng có một niệm sanh tâm
động niệm”] hàm ư: Vắng lặng bất động,
giống như gương sáng trống không chẳng có vật
ǵ, nhưng hễ cảm bèn thông, giống như
gương sáng hễ có h́nh bèn hiện bóng. Ngay trong lúc có
h́nh bèn hiện bóng ấy vẫn rỗng rang không có vật
ǵ. Chỉ v́ “rỗng rang không có vật ǵ” nên “hễ có h́nh
liền hiện bóng”. Vô Sanh Nhẫn hơi giống như vậy,
mong ông hăy khéo hiểu. Chứng được điều
này sẽ dự vào địa vị Đại Bồ Tát,
chẳng phải là điều ông và tôi có khả năng
đạt được.
Nhiễu
Phật nên giống như mặt trời, mặt trăng
từ phương Đông sang Nam, qua Tây, lên Bắc, đừng
từ Đông lên Bắc, qua Tây, xuống Nam, v́ thuận nhiễu
(nhiễu theo đúng chiều) có công đức, nghịch
nhiễu mắc tội lỗi. Tây Vực coi trọng nhất
cách “vi nhiễu” (đi nhiễu quanh), họ coi vi nhiễu
tương đương với lễ bái, mang ư nghĩa
tùy thuận đức Phật. Lúc niệm Phật bèn niệm
Quán Âm luôn, không cần phải bắt đầu niệm
bài Quán Âm Tán riêng. Niệm Phật hiệu xong liền niệm
tiếp Quán Âm là được rồi. Đại Sĩ[7]
chính là biệt hiệu của Bồ Tát, hết thảy Bồ
Tát đều có thể gọi là Đại Sĩ, chứ
không riêng ǵ đức Quán Âm.
Thường
dạy bảo, trọn chẳng có ích ǵ! Thường có thể
suy xét, thấu hiểu th́ một câu cũng lợi ích có thừa;
không thể suy xét, thấu hiểu th́ đem kinh giáo trong
Đại Tạng viết hết cả ra cũng vô ích!
T́nh thế bây giờ chẳng phải là t́nh thế như trước
tháng Sáu năm nay. Giang
26. Thư trả
lời các cư sĩ Lưu Hán Vân và Dương Huệ
Xương
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Gặp phải lúc tai nạn lớn
lao xảy ra này, nên tùy theo sức ḿnh lập cách cứu tế
ḥng trọn hết thiên chức của chính ḿnh th́ lợi
ích lớn lắm. Quang một mực chẳng làm ǵ, phàm tất
cả những tiền của được [người
khác] bố thí đều đem in sách, hoặc dùng để
cứu trợ tai ương. Tháng Sáu năm nay, Hán Khẩu
xảy ra thủy tai trước tiên, thầy Minh Đạo
lên Thượng Hải, thay mặt quyên tặng một
trăm đồng. Về sau, nước càng dâng cao, lại
quyên tặng một trăm đồng nữa. Một
đệ tử do vùng Vu Hồ bị thủy tai, gởi
thư [xin Quang đứng ra tổ chức] lạc quyên cứu
trợ. Quang trả lời ông ta: Quang một mực không
quyên mộ, huống ǵ đang lúc bế quan, ông đă nguyện
mỗi năm cho tôi hai trăm đồng để làm tiền
chi dụng, xin hăy đem món tiền ấy cứu trợ,
sau này vĩnh viễn không cần phải cho tiền tôi nữa!
Tùy ông quyên tặng hai trăm cũng được, mà bốn
trăm, sáu trăm, tám trăm hay một ngàn cũng
được hết. Sau đấy, một đệ tử
là ông Tào Tung Kiều lên Giang Bắc cứu trợ tai ương,
đánh điện khuyên Quang đóng góp, Quang gởi một
ngàn tiền in sách để cứu trợ. Ông Cao Hạc
Niên gởi thư xin cứu trợ tai nạn, Quang sai
người giao cho ông ta hai trăm ba mươi đồng.
Năm nay đă đóng góp cứu trợ tai ương như
thế, Quang nói lời này không phải là tự khoe công, mà
là muốn cho các vị đều cùng phát tâm, tùy phận tùy
sức cứu tế. Có sức ra sức, không có sức th́
dùng lời nói khuyên người có sức, đấy
cũng là chuyện tốt lành.
Lại
nữa, nữ nhân hiện thời, đồ trang sức
trên đầu, xuyến đeo tay, hoa tai, nhẫn đều
chớ nên đeo, hễ đeo sẽ chuốc họa. Nếu
để lại cho con cái sẽ gieo họa cho con cái. Nếu
chết đi chôn theo ắt sẽ gặp nông nỗi
đào mồ lộ thây, nhục lắm! Nếu chịu
[đem những món trang sức ấy] cứu trợ tai nạn
th́ chính là “đưa họa đi, đón phước tới”
vậy. Xin hăy bày tỏ ư nghĩa này với hết thảy
mọi người. Nếu hàng phụ nữ chịu bố
thí như vậy th́ khoản tiền ấy lớn lắm.
Đừng cho lời tôi là viễn vông, mà đây là lời
chí lư chí t́nh. Những người giàu có ở Cao Bưu, Thiệu
Bá[8]
trước kia có lúc nào chẳng nghĩ đến con cháu,
chẳng chịu [bố thí] cứu tế chút nào, nước
lũ dâng lên, nhà cửa, đồ đạc, người
nhà đều tan đàn xẻ nghé, mười phần chẳng
c̣n được một! Mỗi thôn mấy chục nhà t́m
một cái nồi, một cái ḷ cũng không ra. Ông Tào Tung Kiều
ở Dương Châu mua nồi, bếp, gạo, củi, cứ
mấy chục nhà biếu một cái nồi, dùng thuyền
to chở đến. Trong mỗi thôn dùng thuyền nhỏ
để đưa tới. Nói đến [chuyện này]
khiến người ta rơi nước mắt. Có nhà
chưa sập th́ rắn lẫn rết đều cuộn
đầy bên trên, người ta có muốn vào nhà cũng chẳng
dám vào. Trên cây cũng vậy, đáng thương vô cùng! Nếu
những phụ nữ vẫn muốn giữ những vật
chuốc họa, chẳng chịu dùng để cứu tế,
e rằng đời sau họ cũng gặp phải tai họa
này, không có ai chịu cứu vớt!
27. Thư trả
lời cư sĩ Lưu Đức Hộ
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Lệnh chánh[9]
đă biết cầu Tăng niệm Phật hầu tăng
tuổi thọ, hăy nên tự ḿnh thường niệm Phật
để cầu văng sanh. Nếu chỉ dựa vào người
khác để cầu sống lâu, chẳng biết cầu A
Di Đà Phật để khi tuổi thọ của chính
ḿnh chấm dứt được tiếp dẫn văng sanh
th́ chính là “thấy điều nhỏ, đánh mất chuyện
lớn”. Nếu chịu chí thành niệm Phật, cầu
sanh Tây Phương th́ lúc c̣n sống và mất đi đều
có lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Hôm qua, một nữ
đệ tử đến đây, đem giùm những thứ
thức ăn của một nữ đệ tử họ
Uông [gởi biếu cho Quang], kể: Họ Uông hai tháng
trước đây, một hôm mới vừa xẩm tối,
đột nhiên hơn hai chục tên cường đạo
đều cầm súng đến cướp. Trong căn
nhà lầu ấy, tầng trên, tầng dưới có [tổng
cộng] bảy gia đ́nh cư ngụ. Họ [Uông] ở
trên lầu, do vậy, bèn tắt đèn điện đi, vợ
chồng họ quỳ trước Phật cầu nguyện,
nhưng đèn thắp trước bàn Phật dường
như có ai thổi tắt đi. Bọn cường đạo
đập cửa không mở được, bèn không đập
nữa. Sáu nhà kia đều bị cướp, chỉ ḿnh
họ chẳng mất vật ǵ. Đủ biết: Người
niệm Phật lúc b́nh thường c̣n có thể gặp dữ
hóa lành, huống ǵ lúc lâm chung! Lợi ích văng sanh Tây
Phương so với chuyện này c̣n lớn lao gấp bội
lần, chẳng thể nói trọn h́nh tướng
được. Nên khuyên bà ta thường niệm th́ may mắn
lắm thay!
28. Thư trả
lời một cư sĩ ở Diêu Duy
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Mỗi người nhập
đạo đều có nhân duyên. Nếu duyên đă đến
sẽ có sự cơ cảm mầu nhiệm không thể diễn
tả được. Quang là một ông Tăng vụng về,
yên phận, chỉ biết cơm cháo, xuất gia từ
năm Quang Tự thứ bảy (1881) đến nay, chỉ
muốn tự giải thoát mà thôi, trọn chẳng có một
niệm dám có ḷng tạo điều lợi cho người.
Từ năm Quang Tự thứ mười chín (1893) đến
Phổ Đà chẳng làm chuyện ǵ, chỉ làm một ông
Tăng ăn cơm chùa Pháp Vũ. Nếu ngẫu nhiên
được sai khiến làm chuyện ǵ dính đến
bút mực, trọn chẳng dùng hai chữ Ấn Quang. Ngay cả
chuyện do chính ḿnh tự làm cũng dùng tên khác. V́ thế,
hơn hai mươi năm khá được yên vui, suốt
năm không một ai đến thăm, không một lá
thư nào gởi đến.
Đến
năm đầu Dân Quốc (1911), ông Cao Hạc Niên đem
mấy bản thảo đăng trên Phật Học Tùng Báo,
nhưng không dùng tên thật nên cũng không ai biết. Trong
khoảng thời gian ấy, có một hai kẻ đa sự
nghe ngóng. Đến năm Dân Quốc thứ năm (1916),
ông Từ Úy Như đă biết tới, muốn gởi
thư, cậy người bạn dọ ư, Quang chẳng bằng
ḷng. Đến năm Dân Quốc thứ sáu (1917), [ông Từ]
đem ba lá thư của Quang gởi cho bè bạn in ra mấy
ngàn bản để biếu tặng. Năm sau, lại
sưu tập được hai ba chục lá thư, đem
in ở Bắc Kinh, đặt tên là Ấn Quang Pháp Sư Văn
Sao. Từ đấy, cái tên Ấn Quang thường gai mắt
trái tai người ta, hạnh phúc tự tại trước
kia hoàn toàn bị mất đi! Từ ấy, thư từ
ngày một nhiều, thậm chí có tháng đến hơn
trăm lá, nhưng Quang một mực chẳng muốn nhờ
vả người khác, cứ bóc ra, viết, bỏ vào phong
b́, dán lại, hoàn toàn tự làm. Huống chi lại c̣n chuyện
t́nh nghĩa qua lại, cảm thấy khá khổ sở. V́
thế, năm trước đă chấp thuận lời
thỉnh của mấy đệ tử ở Hương
Cảng, quyết ư muốn đi qua đó, do ngôn ngữ chẳng
thông, lánh ḿnh nơi hải đảo ḥng được
yên vui cho xong kiếp thừa! Do Phổ Đà Sơn Chí
chưa được biên soạn hoàn thành, bạn bè cực
lực giữ lại, liền bế quan ở Tô Châu.
Năm
ngoái, lo in riêng Lịch Sử Thống Kỷ bản Tăng
Tu, nay đă in xong, chắc là ông đă thỉnh được
rồi. Phổ Đà [Sơn] Chí sắp được in,
khoảng chừng tháng Mười sẽ in xong. Hiện thời
có sách Chánh Tín Lục đă in xong. Sách này đả phá tà kiến
hẹp ḥi, câu nệ. Nay lại c̣n in nguyên văn Tịnh
Độ Thập Yếu, so với bản trích tuyển của
Thành Thời đại sư[10]
nhiều hơn hai phần năm, lại c̣n kèm thêm mấy
bài văn quan trọng để bổ túc cho Thập Yếu
rất nhiều. Ước chừng mùa Xuân năm sau sẽ
in xong.
Quang
b́nh sinh chất phác, giữ phận ngu, trọn chẳng dám
ăn nói lớn lối phô trương rỗng tuếch để
lầm ḿnh, lầm người. Những ǵ được
nói trong Văn Sao đều là những điều ai
cũng có thể làm được, lại c̣n tự
được lợi ích thật sự ngay trong đời
này. Nếu ai chê Quang vô tri vô thức, chỉ đem chuyện
ngu phu, ngu phụ [có thể] làm được để dạy
người th́ cũng chẳng tiếc! Nhưng có người
cho là hợp với cơ nghi của chính ḿnh, do đây sanh
ḷng tin tu tŕ, [những người như vậy] cũng chẳng
thiếu.
Phải
biết: Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, muốn
nương theo [những pháp môn ấy] để tu tŕ ḥng
liễu sanh thoát tử, ắt phải đạt đến
địa vị “nghiệp tận, t́nh không” th́ mới
được. Nếu không, có mộng cũng mộng chẳng
được! Chỉ có pháp môn Tịnh Độ, nếu
đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha,
lại thêm chí thành khẩn thiết niệm Phật bèn có thể
nương theo Phật từ lực đới nghiệp
văng sanh. Hễ được văng sanh là đă liễu sanh
thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Nếu chẳng
nương vào pháp này, tu những pháp môn khác th́ chắc chắn
khó thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này.
Đời này đă gặp được pháp này mà chẳng
chú ư, tương lai há thể lại được gặp
pháp này để liền chú ư tu tŕ hay sao? Do vậy, hăy nên sớm
chú ư nơi pháp này.
Pháp
môn Tịnh Độ chẳng trở ngại hết thảy
sự vụ thế gian, chỉ cần ai nấy tận hết
bổn phận, như cha từ, con hiếu, anh nhường,
em kính, chồng ḥa, vợ thuận, chủ nhân từ, tôi tớ
trung thành là được rồi! Ông là kẻ tại gia,
tu hành rất hợp, thường giữ tấm ḷng “trừ
bạo an lương” (trừ khử kẻ bạo tàn, khiến
cho người lương thiện được an vui),
coi nhân dân như người nhà của chính ḿnh, coi binh
sĩ như anh em của chính ḿnh, ắt sẽ mong mỏi
anh em bảo vệ người nhà. Hễ đi đến
đâu đều răn nhắc binh sĩ giữ tấm
ḷng trung hậu, khoan thứ, chẳng được cướp
bóc, gian dâm chút nào. Dẫu con người không biết, nhưng
thiên địa quỷ thần ghi công chép tội! Hoặc
trong đời này, hoặc trong đời sau, quyết
định phải chịu quả báo thiện hay ác, quyết
định chẳng thể “có nhân, không quả”!
Năm
Dân Quốc thứ tám, thứ chín (1919-1920), một quân nhân họ
Dương là người hết sức trung hậu,
ưa điều thiện, làm sĩ quan trong quân đội
trấn giữ Tung Huyện của đất Thiểm Tây,
ăn chay trường, tụng thuộc ḷng kinh Kim Cang, mỗi
ngày niệm mấy biến. Trong quân ngũ mười
năm, giao tranh hơn bốn trăm trận, khắp thân
chưa hề mang một vết thương lớn hay nhỏ.
Thoạt đầu, ông ta muốn xin giải ngũ; do
Lưu Trấn Hoa, Hám Ngọc Côn đều là đồng
hương, chẳng cho ông ta giải ngũ. Một năm
nọ, do kéo quân sang Hà
Pháp
niệm Phật th́ trong Văn Sao đă có [giảng] cặn
kẽ, ở đây không viết chi tiết nữa. Với
quyến thuộc trong nhà đều nên dạy họ chí
thành niệm Phật, lợi ích ấy lớn lắm. Đời
có kẻ ngu chẳng biết v́ sao Phật là Phật,
thường chấp chết cứng lẽ cung kính, chẳng
biết biến - thông, [chẳng hạn] như ăn mặn
th́ chẳng dám niệm. Lại như nữ nhân khi có kinh
nguyệt hoặc sanh nở bèn chẳng dám niệm. Phải
biết: Ăn chay là tốt nhất, nhưng ăn mặn
cũng vẫn niệm được. Có kinh nguyệt th́ thường
rửa ráy sạch sẽ, đừng dùng tay bẩn chưa
rửa chạm vào kinh, tượng và thắp hương
v.v… Hễ rửa ráy sạch sẽ th́ chẳng ngại ǵ.
Nữ nhân khi sanh nở phải niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” ra tiếng, chắc
chắn chẳng đến nỗi bị sanh khó. Dẫu bị
sanh khó mà chịu chí thành niệm cũng chắc chắn
sanh ngay. Điều này trước kia Quang không nói, sau này
nghe rất nhiều người hoặc mấy ngày mới
sanh được, hoặc phải mổ, hoặc do sanh nở
mà chết, nên thường nói với hết thảy mọi
người: Nếu khi sanh nở mà niệm th́ không ai bị
khó sanh!
Lúc
b́nh thường ắt phải cung kính, khiết tịnh;
lúc ấy lơa lồ bất tịnh vốn là chuyện bất
đắc dĩ, [là chuyện] có liên quan đến tánh mạng.
Chỉ cần trong tâm chí thành, chẳng cần phải luận
trên h́nh tướng bề ngoài. Nếu là lúc b́nh thường,
ắt cần phải mũ áo tề chỉnh, tay lẫn mặt
đều sạch sẽ th́ mới được niệm
ra tiếng. Nếu không, chỉ niệm thầm trong tâm th́
công đức vẫn giống hệt như vậy. V́ thế,
lúc ngủ nghỉ, tắm rửa, tiêu tiểu, hoặc
đến chỗ không sạch sẽ, đều niệm
thầm trong tâm. Chỉ khi nữ nhân đang sanh nở th́ cần
phải niệm ra tiếng v́ niệm trong tâm th́ sức yếu,
khó thể cảm thông. Nếu lại gắng sức, sợ
bị thương tổn. V́ thế, nên niệm ra tiếng.
Ông đă muốn quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Tông Từ.
Tông là chủ, lấy tâm từ bi làm chủ để làm
chuyện tự lợi, lợi tha th́ mới không uổng
kiếp sống này, chẳng phí dịp gặp gỡ này.
Gần
đây, người ta thường ưa ham cao chuộng xa,
hơi thông minh bèn học Thiền Tông, Tướng Tông[12],
Mật Tông, phần nhiều coi niệm Phật là vô dụng.
Họ chỉ biết sự huyền diệu của cơ
ngữ[13] nhà Thiền, sự
tinh vi của pháp tướng trong Tướng Tông, oai thần
rộng lớn của Mật Tông, nhưng chẳng biết:
Thiền dẫu đạt đến địa vị
đại triệt đại ngộ, nhưng nếu
chưa hết sạch Phiền Hoặc th́ vẫn sanh tử
y như cũ, chẳng thể liễu thoát được!
Với Tướng Tông th́ nếu không phá sạch Ngă Chấp
và Pháp Chấp, dù có hiểu rành rẽ đủ mọi danh
tướng[14], cũng giống
như “kể chuyện ăn, đếm của báu”, rốt
cuộc có ích ǵ đâu! Với Mật Tông th́ tuy nói là có thể
“thành Phật ngay nơi thân hiện tại”, nhưng quyết
chẳng phải là chuyện của hạng phàm phu sát đất
có thể thành tựu được! Phàm phu lầm sanh ư
tưởng ấy bèn bị ma dựa phát cuồng, mười
người hết tám chín người [bị như vậy].
Do vậy, hăy nên chuyên chí vào một môn Niệm Phật là
pháp tắc vô thượng bậc nhất ngàn phần ổn
thỏa, vạn phần thích đáng vậy!
29. Thư trả
lời cư sĩ Vương Hiểu Hy
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Thủy tai năm nay từ
xưa đến nay chưa hề nghe thấy. Tiền
đồ nguy hiểm vạn phần, nếu ông đắc
thần thông của Đại Lạt Ma th́ chẳng cần
phải lo. Nếu không, hăy nên chí thành niệm Phật và niệm
Quán Thế Âm để làm kế dự pḥng. Một pháp Mật
Tông thật sự chẳng thể nghĩ bàn, nhưng tiểu
trượng phu dùng đến chưa chắc được
lợi ích mà sẽ bị tổn hại trước. Xin
đừng vói quá cao, may ra sẽ tự được lợi
ích thật sự. Nếu không, hơi bị nguy hiểm
đấy! Sư Hiển Ấm[15]
được chân truyền của Mật Tông, lại
thông hiểu [giáo nghĩa] tông Thiên Thai, đă là bậc Quán Đảnh
Đại A-xà-lê hiển mật viên thông[16].
Phàm ai được thọ quán đảnh từ nơi
sư đều có thể thành Phật ngay trong thân này,
nhưng Hiển Ấm khi mất rất hồ đồ (Sư chết tại Cư
Sĩ Lâm, một đệ tử đích thân chứng kiến), chú cũng chẳng
niệm được, mà Phật cũng chẳng thể
niệm, cho nên biết: Pháp ấy chẳng bằng pháp Niệm
Phật ổn thỏa, thích đáng hơn nhiều!
30. Thư trả
lời cư sĩ Mẫn Tông Kinh
(năm Dân Quốc 20 - 1931. Ông
này vốn có tên là Vĩnh Liêm)
Đọc
thư ông gởi cho thầy Minh Đạo, biết rơ tấm
ḷng v́ dân, v́ pháp, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Phàm khi
phán xử kẻ phạm pháp, nên chiếu theo tội trạng
và phải cân nhắc khả năng của hắn. Nếu
hắn không có tài lực, phạt quá nặng th́ hắn do
trót sa chân sẽ vĩnh viễn không ngoi lên được[17],
cũng chưa khỏi thương tổn đạo
nghĩa [của một người] “làm cha mẹ của
dân”. [Kẻ phạm tội] có tài lực th́ [có thể phạt
nặng] được, không có tài lực th́ răn đe
mà thôi, sao cho ổn thỏa đôi đàng. C̣n về chuyện
xoay hướng cửa chùa, dựng điện thờ khác,
tượng đá của đức Bổn Sư trong
điện cũ chẳng dời được, cần
ǵ phải lo nghĩ? Chánh điện đă thờ Bổn
Sư th́ điện phụ há chẳng thể thờ Bổn
Sư nữa hay sao? Cố nhiên, chẳng cần quá lo
nghĩ về chuyện này! Ông đă từ chức, nếu
cấp trên không bằng ḷng th́ cố nhiên nên sửa sang theo
lề lối cũ, chỉ cần giữ sao cho giản dị,
chất phác, đừng chuộng hoa mỹ. Chỉ mong mọi
người thật ḷng tin tưởng thật sự tu
hành, chẳng cần phải lập bất cứ kiến
trúc, hay bầy vẽ bất cứ quang cảnh nào.
Một
pháp Tịnh Độ ai ai cũng tu được, hễ
tu đều có cảm ứng. Người thời nay phần
đông ham cao chuộng xa, đến nỗi có thể là v́ bầy
vẽ bề ngoài mà đâm ra gây trở ngại cho lợi
ích thật sự. Con người bây giờ hễ ra công
[tu hành] liền nói đến chuyện xây dựng trước,
chẳng biết duyên do của Tịnh Độ, lại
muốn nghiên cứu rộng khắp kinh luận Đại
Thừa, hoặc hâm mộ sự huyền diệu của
Thiền Tông, hoặc hâm mộ sự tinh vi của Tướng
Tông, hoặc hâm mộ thần thông của Mật Tông, xem
pháp “cậy vào Phật lực để liễu sanh tử”
như chuyện vô ích. Thiền Tông dù có ngộ, nhưng ai
đạt đến địa vị nghiệp tận
t́nh không? Tướng Tông dẫu có thể nhớ rơ ràng danh
tướng, nhưng ai có thể thật sự phá
được Ngă Chấp và Pháp Chấp? Thần thông của
Mật Tông và “hiện thân thành Phật” (thành Phật ngay
trong thân này) th́ quả thật cũng có chuyện ấy,
nhưng chẳng phải là chuyện để hạng
căn tánh như ông và tôi mong mỏi được. Nếu
muốn được thần thông, muốn được
thành Phật ngay, th́ do đấy bị ma dựa phát cuồng
rất nhiều! Sư Hiển Ấm đă thông hiểu [giáo
nghĩa] tông Thiên Thai lại được chân truyền của
Mật Tông, đă là bậc Quán Đảnh Đại A-xà-lê.
Phàm ai được ông ta quán đảnh đều có thể
thành Phật ngay trong thân này. Đến lúc ông ta chết th́
chú cũng chẳng niệm được, mà Phật
cũng không niệm được. Trong lúc b́nh thường,
qua ư tứ của những lời Sư nói, trong ḷng Sư
thường nghĩ ta là bậc Pháp Thân Đại Sĩ.
Đến lúc lâm chung, c̣n thua bà cụ già một chữ
không biết nhưng thật thà niệm Phật có thể
an nhiên niệm Phật qua đời nhiều lắm!
Ở
Thành Đô có Lưu X… lầm tưởng một người
nữ đă chứng quả nên chỉ nghe lời một
ḿnh người nữ ấy. Hễ ai bài bác, liền tuyệt
giao không gởi thư nữa. Một lạt-ma[18] ở
Trùng Khánh nói là nương theo pháp của ông ta trong bảy
ngày sẽ được văng sanh. Hễ văng sanh liền
thành Phật, trọn chẳng cần phải tu tập nữa.
Những thứ tri thức ấy nên kính nhi viễn chi,
đừng thân cận ngơ hầu khỏi đến nỗi
chưa được lợi ích ấy mà đă bị tổn
hại trước! Nếu không, chỗ bị tổn hại
là điều chắc chắn, c̣n chỗ lợi ích sợ
rằng tại năm nảo năm nao! Nếu năm sau là
năm nảo năm nao th́ cũng c̣n may mắn lắm, sợ
rằng năm sau cũng vẫn chưa phải, chắc sẽ
đến nỗi tuyệt vọng!
31. Thư trả
lời sư Truyền Đức
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hiện thời là lúc t́nh thế
nguy hiểm nhất. Ông phát tâm bế quan, nhưng theo tôi thấy,
chẳng bằng không bế quan hay hơn! Ông ở trong quan
pḥng chẳng thể lo liệu việc bên ngoài. Nếu có
cường đạo đến trộm hoặc cướp,
ông làm như thế nào đây? Nay các nơi lụt lội,
dân bị thiên tai lưu lạc bốn phương, không biết
là bao nhiêu (nỗi nguy
hiểm sau này nào phải chỉ có thế, sợ rằng sẽ
c̣n có cuộc chiến tranh lớn nữa). Bên trong có bọn
giặc th́ khó tránh khỏi có thứ hành vi sai trái ấy. Nếu
bế quan, gặp phải chuyện ấy, sẽ dàn xếp
như thế nào đây? Ví như lại do bế quan cho nên
mời mọc thí chủ đến [dự lễ] khóa cửa
quan pḥng, một cổng lại khóa nhiều lần, bọn
cướp ắt cho là ḥa thượng đang bế quan
này có tiền, ắt sẽ nẩy sanh ư niệm bất
lương. Các ổ khóa ở cánh cổng quan pḥng chính là
căn cứ để chuốc họa đấy!
Ông đă thiếu học vấn,
chỉ nên chí thành khẩn thiết, sáng chiều tụng niệm.
Ngoài ra, lập ra mấy thời niệm kinh (tùy theo khả năng của
chính ḿnh).
Đối với việc niệm Phật, có thể chiếu
theo thời mà niệm cũng được. Nếu không,
suốt ngày thừa dịp thuận tiện [mà niệm], chẳng
luận đi - đứng - ngồi - nằm (hễ nằm th́ nên niệm
thầm, chớ nên niệm ra tiếng). Nói chung, lấy
niệm Phật làm chánh. Nhưng cần phải sanh ḷng tin,
phát nguyện, cầu sanh Tây Phương, vạn phần chớ
nên cầu phước báo đời sau. Nếu cầu
phước báo đời sau th́ chính là phá giới trái pháp,
v́ pháp môn niệm Phật chính là pháp môn dạy người
cầu sanh Tây Phương. Ông đă niệm Phật, chẳng
cầu sanh Tây Phương, lại muốn cầu đời
sau, tức là chẳng tuân lời Phật dạy. Đấy
là pháp Phật dạy người như thế, phải nhất
định tuân theo, ông chẳng chịu tuân theo, nên gọi
là “phá giới, trái pháp”. Nếu đời này c̣n có tu tŕ,
đời sau chắc chắn có phước thế gian
để hưởng. Hễ hưởng phước, chắc
chắn phải tạo ác nghiệp (nay cơi đời loạn lạc đến như
thế, quá nửa là do những kẻ đời trước
tu si phước ươm thành). Đă tạo ác nghiệp th́ khổ
báo về sau chẳng nỡ nói ra. Quang nói như vậy,
nghe theo hay không tùy ông. Sau này đừng gởi thư đến
nữa v́ Quang già rồi, chẳng thể thù tiếp
được!
32. Trả lời
thư cư sĩ Ninh Đức Hằng và Ninh Đức
Phục
(năm Dân Quốc 20 - 1931. Hai
người này đều là em trai ông Đức Tấn)
Thế đạo nhân tâm hiện
thời bại hoại đến cùng cực. Phàm đạo
đức, nhân nghĩa, hiếu, từ, liêm khiết, tiết
nghĩa do thánh hiền truyền thuật đều bị
vứt bỏ. Phàm những chuyện xưa kia chẳng nỡ
thấy nghe, chẳng chịu nhắc đến, [bây giờ]
đều cực lực đề xướng, mong sao nhất
trí tiến hành. Những nơi chốn hay nhà trường
để cho nam nữ tự do luyến ái, lơa thể ôm
nhau khiêu vũ chẳng biết nổi con số! Trong
trường đại học vẽ h́nh lơa thể để
mong mỹ thuật tiến bộ. Mỹ thuật cố
nhiên tiến bộ, nhưng hoàn toàn chẳng lo nhân đạo
thụt lùi, súc sanh đạo tiến bộ ư? Các con
đều đang độ tuổi thiếu niên, phải
biết tốt - xấu, chớ trúng phải độc khí
của những thứ tà thuyết diệt luân diệt lư ấy,
th́ sau này c̣n có thể tự lập trong ṿng trời đất,
không hổ thẹn. Nếu không, dẫu tài cao học rộng,
đối với ḿnh, đối với người nào có
ích chi?
Các
con phải biết nhân quả báo ứng trọn không sai xẩy.
Tuy nhất thời chưa thể thấy được,
nhưng sau mấy chục năm, chắc chắc không ǵ chẳng
thấy! Huống chi chết đi, đời sau và những
đời kế tiếp phàm phu có biết được hay
chăng? Ngày nay thế đạo bại hoại là v́ Nho
gia phần nhiều chẳng tin nhân quả báo ứng và sanh
tử luân hồi. Những nhà Lư Học ấy trộm lấy
ư nghĩa trọng yếu trong kinh Phật để hoằng
dương Nho tông, ngược ngạo coi đạo phổ
độ chúng sanh của đức Phật là mê hoặc
ngu xuẩn bọn phàm tục ngu ngốc, chê bai, bài bác đến
nỗi hễ là nhà Nho th́ chẳng chịu dùng nhân quả
báo ứng, sanh tử luân hồi để khuyên dạy, mọi
người đều cho là [nhân quả, luân hồi] dường
như có, dường như không. V́ vậy, thế đạo
ngày càng tệ bạc! Những kẻ trọn đủ khí
khái đội trời đạp đất chẳng bị
xoay chuyển bởi thói phàm tục th́ chẳng được
mấy người. Một cơn gió Âu vừa thổi tới,
hùa nhau theo gió biến đổi tận gốc càng dữ dội
hơn. Bởi vậy, thế đạo ngày nay, t́nh người
như nước, lễ pháp như đê; bỏ cái đê
lễ pháp đi há ngăn được ḷng ham muốn của
con người hoành hành?
Ḷng
ham muốn của con người đă tung hoành th́ sẽ ra
sức trừ bỏ lễ pháp. Do vậy, [ḷng ham muốn
dữ dội của con người] cảm vời nước
lũ dâng khắp nơi, đê đập trên sông ng̣i
nơi nơi bị vỡ, biết bao nhân dân bị chết
ch́m. Những kẻ chưa chết th́ không áo, cơm, chỗ
ở, than lạnh, rên đói, chẳng nỡ thấy nghe! Dẫu
có bậc chuộng điều thiện ra sức quyên góp,
nhưng v́ người đông, khoản đóng góp ít, khó thể
giúp trọn khắp được! Nhưng càng phải nên
quyên góp nhiều hơn để tu bổ đê đập
trên sông ng̣i. Nếu không tu bổ th́ từ nhỏ sẽ
thành lớn, nước tràn dâng khắp cùng. Nếu tu bổ
th́ thật sự không có được tài lực ấy.
Huống chi giặc cướp bạo tàn,
Hai
đứa tụi con tuổi c̣n trẻ, hăy nên tận lực
vâng giữ nếp đạo đức cũ. Tám chữ “hiếu, đễ, trung, tín, lễ,
nghĩa, liêm, sỉ” chính là quy củ, mực thước
để làm người. Nếu ai chẳng tận sức
nơi tám chữ ấy chính là đă mất đi tám chữ.
Tám chữ đă mất th́ là loài cầm thú đội
mũ mặc áo! Người tuổi c̣n trẻ th́ cái khó chế
ngự nhất là t́nh dục. Thế đạo hiện thời
chuyên lấy việc hướng dẫn khêu gợi dâm dục
làm mục đích. Các con tuy có âm đức của tổ
tiên, chẳng đến nỗi sa đà lắm, nhưng cần
phải dè dặt tự giữ ǵn mới ḥng chẳng thẹn
với cha ông. Nếu chẳng dốc sức tạo lập
phẩm hạnh, bị dâm dục khống chế, sau này
quyết định chẳng có thành tựu, hoặc đến
nỗi đoản mạng mà chết. Nay ta gởi cho các con
hai bộ Lịch Sử Thống Kỷ – đây là những
chuyện nhân quả báo ứng rơ ràng trích từ hai
mươi bốn bộ sử ra, hai cuốn Gia Ngôn Lục
– đây chính là đạo trọng yếu để học
Phật, là quy củ thường hằng để tu thân,
hăy nên đọc kỹ!
Câu
“nam-mô A Di Đà Phật” như đă nói chính là diệu pháp
để tiêu nghiệp chướng, chuyển phàm thành
thánh, nếu có thể thường niệm th́ tâm địa
tự nhiên mở mang, thông suốt, tri kiến tự trở
về chánh lư, học hành, làm việc đều có lợi
ích lớn. Huống nay đang lúc thế đạo hoạn
nạn, niệm Phật sẽ có thể gặp dữ hóa
lành, gặp nạn thành chuyện may, lợi ích chẳng thể
nói trọn hết, các con hăy nên hành theo Gia Ngôn Lục. Đọc
Thọ Khang Bảo Giám, Thanh Niên Bảo Thân v.v… th́ chẳng
đến nỗi buông lung theo t́nh dục hoặc thủ
dâm. Thiếu niên hiện thời quá nửa mắc chứng
thủ dâm. Đấy thật sự là một con dao thật
sắc giết hại cái thân vậy, hăy nên đau đáu
răn dè.
Anh
các con là Đức Tấn mong mỏi các con sẽ do Phật
pháp mà giữ vẹn hạnh nhà Nho, đă sớm xin Quang viết
thư khuyên lơn các con. Quang sợ các con bị nhiễm
theo trào lưu thời thượng, trái nghịch Phật
pháp, uổng phí tâm ta, vô ích cho các con, nên không viết thư
ngay. Nay các con đă biết tấm ḷng sâu đậm của
anh ḿnh, gởi thư xin dạy dỗ, nên ta chỉ nói những
điều khẩn yếu. Những điều khác hăy tự
ḿnh chịu tận lực thực hiện, lâu ngày sẽ chẳng
khó ǵ mà dần dần biết được! Phải biết
con người và trời đất cùng xưng là Tam Tài. Trời
đất cao dầy ai có thể biết được; con
người với tấm thân sáu thước sao lại có
thể cùng trời cao đất dầy khôn lường
cùng xưng [là Tam Tài] cho được? Ấy là v́ con
người có thể kế tục bậc thánh đời
xưa, mở lối cho hàng hậu học đời sau, dự
phần vào cuộc sanh thành, dưỡng dục của trời
đất vậy. Con người không thể giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng
làm các điều lành th́ đă mất cái danh nghĩa con
người, huống hồ kẻ chuyên ôm ḷng mưu mẹo,
dối trá, ỷ mạnh nuốt yếu ư? Người
như thế c̣n thua kém sài lang, hổ, báo, rắn độc,
rết dữ nữa, c̣n có thể gọi là người
được ư?
Thường
nghĩ đến lời ta đừng quên th́ sẽ dần
dần tự có thể dự vào bậc thánh, hưởng
được phước nhân từ, sống thọ. Cuốn
sách Chánh Tín Lục chuyên v́ những Nho sĩ câu nệ mà viết
ra, nay cũng gởi đến, mong hăy đọc kỹ.
Chịu tin sâu, tận lực làm th́ sẽ chẳng thẹn
với trời đất quỷ thần, làm người
hoàn toàn trong thế gian. Công danh phú quư vốn chẳng mong mà
trời thường v́ người lành, chắc cũng chẳng
đến nỗi trắc trở, khốn khó. Các con hăy khéo
suy nghĩ th́ chẳng uổng cuộc đời này, uổng
dịp gặp gỡ này!
33. Thư trả
lời cư sĩ Phan Trọng Thanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Năm ngoái Huệ Viên đến
đây nói ông tu tŕ không lười nhác, tôi mừng vui, an ủi
vô cùng. Nay nhận được thư, biết Hồ
Chỉ
mong ông ta có thể giữ vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, đề
xướng nhân quả báo ứng, lục đạo luân hồi,
ngơ hầu những kẻ phóng túng không kiêng nể sẽ biết
báo ứng thiện ác như bóng theo h́nh: Hoặc đời
này làm thiện hay làm ác sẽ hưởng phước mắc
họa ngay trong đời này, hoặc đời này làm thiện
tạo ác, đời sau mới chịu thiện báo hay ác
báo. Hoặc ba đời, năm đời, mười
đời, trăm đời, ngàn vạn ức đời
mới chịu quả báo ấy! Lư Học vay mượn những
nghĩa uyên áo của Phật pháp để hoằng
dương đạo Nho, sợ người đời
sau đều theo vào cửa Phật, liền bài bác xằng
bậy, bảo nhân quả ba đời và lục đạo
luân hồi do đức Phật đă nói đều là lời
lẽ dối trá lừa gạt thế tục ngu độn,
nào thật sự có cái gọi là luân hồi ư? Do h́nh chất
đă hư diệt, thần hồn cũng phiêu tán, c̣n ai
để chịu khổ, c̣n ai để luân hồi nữa
ư? Từ đấy, quân tử lười tự tu, tiểu
nhân dám tạo nghiệp! Do Nghiêu hay Kiệt đều cùng
chết sạch, cần ǵ phải suốt ngày miệt mài gắng
sức tu tŕ để cầu cái tiếng xuông sau khi chết
đi? Do vậy, nhà Nho phần nhiều đều coi nhân
quả luân hồi là chuyện hoang đường, quái
đản. Dẫu có người biết là thật sự
có, cũng chẳng dám đề xướng, sợ người
khác chê là tục nho, trái nghịch bậc tiên triết!
Lại
hoặc là có người có chút thành đạt đáng dự
vào Văn Miếu, nếu đề xướng chuyện ấy
th́ chuyện được dự vào Văn Miếu sẽ
trở thành tuyệt vọng. Do vậy, mọi người
nếu chẳng cực lực bài bác th́ cũng trọn chẳng
nhắc đến. Cho đến gần đây, gió Âu dần
dần thổi sang Đông, ngả rạp theo gió, biến
đổi tận gốc càng thêm dữ dội, chỉ sợ
con người khác với cầm thú, chỉ sợ con
người lỡ có kẻ hiểu biết luân thường,
đạo lư! Xét đến cội nguồn hiện tượng
ấy quả thật bắt nguồn từ học thuyết
“bài xích nhân quả ba đời, lục đạo luân hồi”
của bọn Lư Học. Họ mong mỏi dùng chuyện “tận
hết t́nh nghĩa, tận hết bổn phận, chánh tâm
thành ư” để làm căn cứ ḥng giáo hóa dân chúng, tạo
thành phong tục, nhưng đă hoàn toàn phế bỏ rồi
lại c̣n hủy báng, chê trách [nhân quả, luân hồi] là
phương tiện khiến cho hết thảy mọi
người chẳng thể không trọn hết t́nh
nghĩa, bổn phận, chánh tâm thành ư! Ví như sông cái
Trường Giang, do có đê đập nên chẳng ngập
lụt. Tánh t́nh con người như nước, sự lư
nhân quả ba đời luân hồi lục đạo
cũng giống như đê. Sông cái Trường Giang mà bỏ
đê đập đi, chắc chắn sẽ ngập lụt.
Tánh t́nh con người nếu không có nhân quả luân hồi
mà vẫn c̣n dùng lễ để tự ràng buộc th́ trong
ngàn vạn người, khó được một hai kẻ!
Trừ bậc thượng trí ấy ra, ai chẳng nghĩ
buông lung t́nh ư là vui? Do vậy, hiện tại muốn cho
thiên hạ, quốc gia tốt đẹp mà không đề
xướng nhân quả luân hồi sẽ chẳng
được! Điều này không phải là chuyện sức
chúng ta không thể làm được, trong gia đ́nh nên cực
lực đề xướng, ngơ hầu dần dần
được lưu truyền rộng răi, cũng như
ngừa cho con cái khỏi bị những tư tưởng
cuồng vọng dụ dỗ, mê hoặc, mong hưởng
thụ hết thảy phước tự do.
Nghĩa
lư “thật sự v́ sanh tử
phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu
Phật, dùng đấy để tự hành lại c̣n dạy
người” đă ghi chép tường tận trong
Văn Sao, ở đây không viết chi tiết. Nay đặt
pháp danh cho Ngô Thiệu Di là Huệ Di, ngụ ư: Dùng Phật
pháp để tự hành, dạy người. Đặt
pháp danh cho Bành Đức Tôn là Huệ Tôn, ngụ ư: Dùng pháp
môn Tịnh Độ để khiến cho dù ḿnh hay người
đều cùng siêu phàm nhập thánh. Đặt pháp danh cho La
Viễn Chú là Huệ Chú, ngụ ư: Dùng mưa pháp cam lộ “một
đời thành Phật” để thấm nhuần khắp
hết thảy thiện căn của ḿnh lẫn người.
Sợ rằng những sách [Lịch Sử Cảm Ứng]
Thống Kỷ loại mới, Chánh Tín Lục mới
được in gần đây ba vị ấy chưa
được xem, nên nay tôi gởi bốn bộ Thống
Kỷ, ông tự giữ một bộ, những bộ khác
gởi cho ba người ấy. Chánh Tín Lục hơn
mười cuốn, hăy ước lượng mà gởi.
Sách này phá được những kiến giải lệch
lạc, câu nệ của họ mạnh nhất. Ở chỗ
ông nếu có sao chép [thư này] th́ nên bảo [người
chép] sao [toàn văn] cho Thiệu Di, hai người kia chỉ
sao chép những điều thông thường, chỉ sao lục
lại [ư nghĩa] của pháp danh và gởi sách mà thôi. Sự
nguy hiểm hiện thời giống như trứng chồng,
bất luận là ai đều nên chí tâm niệm “nam-mô A Di
Đà Phật” và “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” để
làm kế dự pḥng. Nếu có thể khẩn thiết chí
thành ắt sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ
bàn vậy!
34. Thư gởi
cư sĩ Tạ Dục Hoài
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm qua nhận được
thư ông Phan Trọng Thanh nói ông và mẹ cùng em gái đều
muốn quy y. Đă phát tâm quy y th́ hăy nên sốt sắng niệm
Phật cầu sanh Tây Phương. Lại do mẹ ông tuổi
cao, nên tích cực khuyên cụ buông xuống hết thảy,
nhất tâm niệm Phật. Như tới lúc lâm chung, chớ
nên làm theo cách làm của thế tục. Nên đọc kỹ
Sức Chung Tân Lương ḥng khỏi đến nỗi
làm hỏng đại sự văng sanh của cụ. Ông và cô em
gái cũng nên lấy chuyện văng sanh Tây Phương làm trọng,
đừng chỉ cầu phước lạc hiện
đời và phước báo đời sau! Nay đặt
pháp danh cho mẹ ông là Huệ Kính, đă Kính lại thêm Huệ
th́ có thể mau đoạn được phàm t́nh. Phàm t́nh
chẳng dấy th́ chánh niệm rỡ ràng, chắc chắn
có thể văng sanh Tây Phương! Đặt pháp danh cho ông
là Huệ Tịnh, nghĩa là dùng Huệ để tưới
tắm th́ ư niệm trần tục tiêu diệt, chánh niệm
thanh tịnh. Đặt pháp danh cho em gái ông là Huệ Hinh, ngụ
ư: Tâm giữ chánh niệm, thơm sạch, vi diệu như
hoa sen. Nên đọc kỹ Gia Ngôn Lục th́ phương
pháp tu tŕ và giáo huấn con cái cùng đạo lư “giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận” sẽ tự
hiểu rơ.
Sách
Sức Chung Tân Lương nói về lợi ích của việc
trợ niệm khi lâm chung. Lời tựa cho Đạt Sanh
Thiên[21]
nêu rơ chuyện niệm Quán Thế Âm khi sanh nở. Do hai chuyện
sanh và tử là chuyện lớn nhất trong đời
người, nhưng nỗi khổ sanh nở quả thật
là nỗi khổ lớn nhất của nữ nhân. Trước
kia, Quang chẳng nói đến chuyện này, sau này do biết
chuyện khó sanh rất đáng thương, nên đề
xướng rộng răi (Lúc sanh nở phải niệm ra tiếng. Nếu niệm
thầm trong tâm, chẳng những sức yếu khó thể
cảm thông mà c̣n sợ rằng có thể v́ gắng sức
mà đến nỗi bị tổn thương). Phàm những ai
tuân theo mà niệm th́ không một ai chẳng được
an nhiên sanh nở. Nguyện các vị dạy hàng nữ nhân
thường ngày niệm Phật sẽ tự không bị nỗi
khổ ấy. Dẫu là người chẳng niệm,
nhưng lúc đang sanh nở chịu niệm th́ cũng liền
thấy hiệu nghiệm lạ lùng. Lúc ấy chỉ nên
chí thành, chớ đừng v́ lơa lồ bất tịnh mà ngại
ngần, cũng chớ nên nghi bị tội mà chẳng dám
niệm th́ cả mẹ lẫn con đều hưởng
lợi ích không ǵ lớn hơn!
35. Thư gởi
cư sĩ Quách Vũ Tam
(năm Dân Quốc
20 - 1931)
[Ngôi vị] Thành Hoàng[22]
chính là do người thông minh chánh trực trong cơi đời
đảm nhiệm. Luận theo Phật pháp th́ họ vẫn
thuộc trong số những kẻ bị đọa lạc,
nhưng nh́n theo thế tục, họ đă rất phi
thường rồi. Ông buồn v́ [nghĩ Thành Hoàng] chẳng
được kể tên vào tế điển[23]
là điều bất hạnh ư? Hết thảy thánh hiền
đạo đức đều bị gă cuồng kia phế
bỏ, lẽ nào thánh hiền đều trở thành kẻ
khốn cùng không nơi nương tựa hay sao? Cha ông bẩm
tánh rất thật thà, e rằng vẫn chưa hiểu sâu
xa nguyên do của pháp Niệm Phật. Nếu biết sâu xa,
ắt sẽ chẳng đến nỗi có chuyện trở
thành Thành Hoàng! Nếu cụ là Thành Hoàng th́ há lẽ nào v́ bị
kẻ cuồng trong đời phế bỏ mà do đó
không có chức vị, trách nhiệm của Thành Hoàng nữa
hay sao? Thành Hoàng có lớn, có nhỏ, giống như các quan
địa phương ở tỉnh, phủ, huyện. Do
họ hưởng huyết thực[24],
nắm quyền thưởng phạt, nên người biết
Phật pháp quyết chẳng chịu làm. Nếu huệ lực
sâu th́ c̣n có thể tiến tu, nếu huệ lực cạn
th́ chẳng phải là điều tốt lành cho lắm v́
phàm phu trọn đủ Hoặc nghiệp, do tâm sân khuể
nặng nề nên chẳng thể gọi là chuyện tốt
đẹp được!
Nếu
ông có thể chí tâm niệm Phật hồi hướng cho
cha khiến cho cụ chưa nhận chức Thành Hoàng liền
sanh về Tây Phương, c̣n nếu đă nhận chức
Thành Hoàng th́ khi măn chức sẽ văng sanh, đấy mới
là thờ cha mẹ đến mức rốt ráo. Phải biết
văng sanh Tây Phương c̣n vượt trỗi chư thiên
cơi trời Phi Phi Tưởng[25]
bao nhiêu lần chẳng thể tính được, huống
ǵ là Thành Hoàng? Hễ văng sanh bèn siêu phàm nhập thánh, c̣n Thành
Hoàng chỉ là một chức vụ nắm quyền thưởng
phạt trong quỷ thần đạo mà thôi, vẫn ở
trong Dục Giới! Chức vụ đă măn th́ hoặc là
được thăng chức, hoặc sanh lên trời, hoặc
sanh vào nhân gian, đều tùy theo nghiệp lực mà thọ
các thứ quả báo cao hay thấp vậy!
36. Thư trả
lời cư sĩ Trần Phụng Ngô
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Đời người khổ
nhất là từ thuở bé không gặp được thầy
lành bạn tốt, đến nỗi mặc t́nh buông lung,
gây các ác nghiệp, như câu nói: “Duy
thánh vơng niệm tác cuồng dă”, có nghĩa là: Tâm tánh về
bản thể có thể làm bậc thánh, nhưng do không tu tỉnh,
nên trở thành cuồng ngu! Nay ông đă biết năm mươi
sáu năm qua, ba nghiệp thân - miệng - ư đều chẳng
thanh tịnh, nhưng ư nghiệp nặng nề hơn cả.
Ấy là v́ ư nghiệp làm chủ, do ư nghiệp dấy lên
cái niệm thiện hay ác nên thân - miệng bèn nói những lời
thiện - ác và làm những chuyện thiện - ác. Nay đă
biết hổ biết thẹn, muốn quy y Phật pháp
để làm căn cứ cho tiền đồ tu tŕ th́ cố
nhiên phải nên tích cực giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, sanh ḷng tin, phát nguyện niệm danh hiệu Phật,
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ
bèn có thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.
Có
câu: “Duy cuồng khắc niệm
tác thánh dă” (Cuồng mà chế ngự được ư niệm
bèn thành thánh). Thành cuồng hay thành thánh chỉ do đánh mất
ư niệm hay chế ngự được ư niệm mà thôi.
Từ nay trở đi, hăy nên đau đáu tự ǵn giữ,
phàm ư niệm bất hảo vừa dấy lên liền sanh
ḷng hổ thẹn lớn lao, hệt như lơa lồ
trước bao người đông đúc, hổ thẹn
muốn chết! Lâu ngày như thế th́ ư niệm xấu sẽ
tự nhiên chẳng dấy. Ư nghiệp được tịnh
th́ thân - miệng cũng tịnh theo. Ba nghiệp thanh tịnh
niệm danh hiệu Phật, công đức ấy càng rộng
lớn chẳng thể diễn tả được!
Nhưng ba nghiệp chưa tịnh th́ càng phải hết sức
chí thành niệm Phật để cầu được
thanh tịnh. Chớ nên hiểu lầm, cho rằng ba nghiệp
chẳng tịnh th́ niệm Phật không có công đức
chi cả! Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Tịnh, ngụ
ư: Dùng niệm Phật để đối trị ba nghiệp
thân - miệng - ư cho được thanh tịnh, để
mong nghiệp chướng hiện đời tiêu diệt,
phước huệ tăng trưởng, lâm chung cậy vào
Phật từ lực văng sanh Tây Phương ḥng khôi phục
Chân Như Phật Tánh sẵn có! Đă hành như thế rồi
lại càng phải dùng điều này khuyên dạy hết
thảy, trong là quyến thuộc, ngoài là bạn bè. Công
đức khuyên người khác sẽ thành tựu đạo
nghiệp cho chính ḿnh. Ông hăy nên gắng lên nhé!
37. Thư gởi
cư sĩ Trần Ngạn Thanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Gần đây chắc là thân thể
ông đă lành mạnh lắm rồi. Tuổi ông đă già
suy, con cháu thật đông, hăy nên đem chuyện nhà, chuyện
tiệm giao cho lũ con trông nom, c̣n chính ḿnh làm một
người nhàn tản chẳng bận tâm một việc
ǵ, ngày đêm trong tâm thanh tịnh niệm “nam-mô A Di Đà Phật” và “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, chắc chắn sẽ
được thân tâm an lạc trong hiện tại, lâm
chung văng sanh Tây Phương. Chuyện nữ sắc c̣n gây
trở ngại cho tuổi thanh niên, huống chi tuổi
đă già suy? Ông đă quy y Phật pháp, muốn siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử, hăy nên đoạn ái dục! Bất
luận vợ già hay hầu non đều coi như bạn
đạo, trọn chẳng nghĩ như vợ chồng,
dạy họ hằng ngày bầu bạn niệm Phật
cùng ông th́ ông chính là vị thầy hướng dẫn của
bọn họ, mà họ cũng là bạn hữu ích cho ông.
Đôi bên giúp đỡ nhau, lợi ích rất lớn.
Tương lai cùng sanh về Tây Phương, cùng thân cận
A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại
Hải Chúng Bồ Tát. Lại c̣n cùng chứng Chân Như Diệu
Tánh, cùng phổ độ các chúng sanh trong thế giới,
may mắn nào bằng!
Lại
nữa, nếu như khí lực suy yếu, hăy nên bảo vợ
cả, vợ lẽ, và con, dâu, cháu, hễ rảnh rỗi
bèn chia ban bầu bạn niệm Phật với ông. Mỗi
người niệm một giờ, cũng chẳng nhọc
nhằn đâu! Ông niệm theo được th́ niệm
theo. Nếu không, nghe tiếng họ niệm. Chẳng những
ông được hưởng điều lợi ích ấy
mà khắp cả bọn họ cũng được tiêu
trừ tai chướng, tăng trưởng phước
thọ. Huống chi hiện tại đang nhằm t́nh thế
hoạn nạn, nếu dùng pháp này khiến cho bọn họ
ai nấy đều hành hiếu thuận để gieo
căn lành lớn, th́ đó mới là đạo lư yêu
thương con cháu và quyến thuộc chân thật. Đấy
là thân ông tuy bệnh nhưng thật ra lại hướng
dẫn cho cả nhà không bệnh, yên vui! Những lời này
chính là lời chí lư, chí t́nh. Nếu chẳng tin tưởng,
xin hăy sốt sắng làm thử xem, sẽ tự biết là
lời chân thật vậy!
38. Thư trả
lời cư sĩ Vương Thận Trai
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Chồng bà Triệu Lănh Cô bỏ
vợ mê gái làng chơi, luận theo t́nh cảm thế gian
th́ số mạng Lănh Cô mỏng manh, bất hạnh; c̣n luận
theo Phật pháp th́ thật là may mắn lớn! Nếu chồng
chẳng ruồng rẫy th́ t́nh ái vợ chồng, con cái
ràng buộc, suốt ngày bận bịu, càng khó niệm Phật
cầu sanh Tây Phương. Nay do chồng bỏ mà
được chuyên tâm niệm Phật, để đến
lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn liền
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Lợi ích ấy
hoàn toàn do bị chồng bỏ, hăy răn nhắc bà ta
đừng sanh ḷng oán hận, mà hăy nên sanh ḷng cảm kích. Lại
nên đem công đức niệm Phật của chính ḿnh hồi
hướng cho chồng, khiến cho ông ta mau thoát khỏi nẻo
mê, mau t́m lối giác. Có ḷng dạ như vậy th́ hai ḷng
yêu - ghét đều chẳng thể sanh, niệm Phật
càng được hiệu quả lớn lao.
Nay
đặt pháp danh cho bà ta là Huệ Băng, ngụ ư nên giữ
tấm ḷng như băng thanh khiết, trọn không bị
trần lụy. Hăy nên đem những pháp luyện đan vận
khí trước kia hoàn toàn vứt bỏ đi hết, nhất
tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương th́ chẳng uổng
đời này và dịp gặp gỡ này. Đối với
pháp Niệm Phật, nếu bà ta đọc được
sách th́ nên bảo xem Gia Ngôn Lục và những sách dễ hiểu,
gần gũi. Nếu không, hăy giảng đại lược
cho bà ta. Hiện tại, vận nước nguy ngập,
thiên tai, nhân họa liên tiếp giáng xuống. Hăy nên khiến
cho hết thảy mọi người cùng niệm Phật
hiệu và niệm danh hiệu Quán Thế Âm để làm kế
dự pḥng.
39. Thư trả
lời cư sĩ Hùng Huệ Dực
(năm Dân Quốc 20 -1931)
Sách Lễ Kư chép: “Nghĩ nhân tất ư kỳ
luân” (Nếu là con người ắt phải trọn
luân thường), huống ǵ là bậc thánh nhân Trung Quốc
tái lai ư? Kiểu ăn nói ấy sau này chớ nên sử
dụng nữa! Hễ dùng đến th́ đôi bên đều
bị lỗi, ông phải cẩn thận! Cha mẹ ông tuổi
đă cao, đúng là lúc nên mềm mỏng khuyên họ ăn
chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Đă biết
đến pháp môn này, nỡ nào để cha mẹ ta chẳng
được hưởng lợi ích hay sao? Hăy nên làm cho
anh em trai, chị em gái, thê thiếp, con cái, họ hàng, bạn
bè và hết thảy những người quen biết cùng tu
Tịnh nghiệp. Đem công đức ấy hồi
hướng cho cha mẹ ông, chắc chắn họ có thể
cao đăng chín phẩm. Ông muốn quy y, nhưng ở chỗ
kư tên, tuyệt chẳng thấy một chữ nào nhún ḿnh!
Chiếu theo lư, quyết chẳng thể chấp nhận, bởi
chấp thuận sẽ tạo thành cái tội mạn pháp
(khinh thường pháp) cho cả đôi bên. Phải biết:
Quy y giống như bái sư trong thế gian. Thế gian bái
sư há chỉ nói “cẩn khải”
(kính xin) là xong ư?
Xưa
kia, Thanh Thế Tổ gởi thư cho môn nhân của Ngọc
Lâm Quốc Sư là Lữu Khê [Hành] Sâm[26]
c̣n ghi: “Pháp đệ Hành Si (tức pháp danh của Thế
Tổ) ḥa-nam”. Ông ta là hoàng
đế gởi thư cho đồng môn mà c̣n như thế
đấy! Ông muốn quy y mà chỉ nói “cẩn khải” với vị thầy mà ông tính
quy y th́ thất lễ đến cùng cực! Đi
đường hỏi lối c̣n phải chắp tay, hoặc
vái chào, huống chi muốn nhờ vào [chuyện quy y] này
để liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, mà chỉ
“cẩn khải” rồi
thôi, há có được ư? Người thật sự
tin tưởng Phật pháp thấy hết thảy các vị
Tăng c̣n kính lễ, huống ǵ đối với vị thầy
quy y ban đầu ư? Nếu đích thân [đến] quy
y, phải dập đầu mấy chục lượt, quỳ
hơn một tiếng đồng hồ. Dẫu nói dễ
dăi, không thăng ṭa[27] th́
cũng phải dập đầu mười mấy lượt.
Nhưng
xem thư ông lời lẽ khá kiền thành, nên bỏ qua,
nhưng vẫn phải nói rơ cho ông, chứ không phải mong
được ông cung kính, mà là muốn cho ông biết Phật
pháp tôn quư, ngơ hầu ông tự được lợi ích thật
sự. [Tượng] đức Phật bằng đất
nặn, gỗ khắc, nếu cung kính như đức Phật
thật th́ liền có thể siêu phàm nhập thánh. Nếu
coi là đất - gỗ y như cũ th́ tội ấy chẳng
kham nói được! Muốn được lợi ích thật
sự nơi Phật pháp, nên hướng đến sự
cung kính mà cầu. Ông có thể hành theo đây th́ lợi ích ấy
chỉ có đức Phật biết được. Nay
đặt cho ông pháp danh là Huệ Dực, nghĩa là vốn
sẵn Phật Tánh, nhưng không có Huệ sẽ không sao biết
được[28].
Nếu thường dùng trí huệ để giúp sức th́
sẽ dần dần đoạn được phiền
năo, dần dần hiển hiện được Phật
Tánh. Nhưng muốn đoạn, muốn hiển, chỉ có
một pháp Niệm Phật là thẳng chóng nhất. Nên
đọc kỹ Gia Ngôn Lục, Văn Sao v.v… th́ sẽ tự
biết được cách tu tŕ.
Phải
biết: Muốn học Phật th́ trước hết phải
bắt đầu từ giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện. Nếu việc làm, tâm tư trái nghịch với
Phật, dẫu suốt ngày niệm Phật, lợi ích rất
nhỏ! Như gieo hạt lúa tốt nơi đất cát mặn,
khó trúng mùa lớn. Nhưng thường niệm Phật sẽ
trọn chẳng có nuối tiếc ǵ. Cơi đời hiện
thời nguy hiểm tột bực, nếu chí tâm thường
niệm Phật hiệu và niệm kèm thánh hiệu Quán Âm, thảy
đều gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành may. Chịu
lắng ḷng đọc Văn Sao v.v… th́ cũng có thể hiểu
đạo tu tŕ một cách đầy đủ vậy!
40. Thư trả
lời cư sĩ Châu
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Chú Đại Bi nếu khẩn
thiết, chí thành niệm sẽ có cảm ứng chẳng
thể lường được! Nếu hướng
đến người học Mật Tông để cầu
cách đọc th́ cũng chẳng phải là không được,
nhưng người học Mật Tông phần nhiều chẳng
chú trọng niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chỉ
sợ bị họ đoạt mất chí hướng văng
sanh trong đời này, để mong “được thành
Phật ngay nơi thân này”. Thành Phật ngay nơi thân này,
nói dễ dàng sao! Nếu cho là điều ấy [bản
thân ông] chắc chắn thật sự làm được, sợ
rằng c̣n chưa thành Phật mà đă thành ma trước
rồi. Những kẻ đem phàm lạm thánh, bộp chộp,
lầm lạc, khoe khoang rỗng tuếch, phần nhiều
phạm phải căn bệnh này, chẳng thể không biết!
Bế quan tu hành tuy tốt, nhưng tại gia cố nhiên
nên tùy duyên tùy phận, tự hành dạy người là hợp
với căn cơ nhất, cần ǵ coi trọng bế
quan? Nếu vướng bận gia đ́nh mà cứ cưỡng
muốn bế quan, sẽ đâm ra trở thành chướng
ngại.
Nếu
nói “ban sẵn thứ quư báu, bí mật” [tức là] chẳng
biết pháp môn Tịnh Độ trọn chẳng có ǵ là bí
mật! Nếu có bí mật “truyền miệng, trao [ngầm]
bằng tâm” (“cạn
ḷng thành, tận ḷng kính” chính là bí pháp vô thượng để
học Phật, hăy nên nói với mọi người! Chẳng
nỗ lực nơi pháp này chính là bỏ gốc theo ngọn
vậy)
liền thành tà ma, ngoại đạo, chẳng phải là
con Phật. Mật Tông th́ có bí truyền, nhưng chẳng
thẳng, chóng, ổn thỏa, thích đáng bằng Tịnh
Độ! Ông chớ lấy những lời lẽ lớn
lối “thành Phật ngay nơi thân này” làm điều tự
mong, mà phải cậy vào Phật từ lực đới
nghiệp văng sanh. Nếu muốn thành Phật ngay nơi
thân này, sợ rằng Phật chẳng thể thành, mà
cũng chẳng được văng sanh, đôi đằng
đều thành không, đáng lo lắm!
Trâu
Hoa Lệ, Hoa Tùng đă dốc sức tu Tịnh nghiệp,
đấy là trước đă có thiện căn Tịnh
Độ. Nay đặt pháp danh cho hai người ấy:
Hoa Lệ pháp danh là Huệ Vinh, Hoa Tùng pháp danh là Huệ
Trinh. Trí huệ sáng rạng th́ có thể tự lợi, lợi
tha, trí huệ kiên trinh th́ chắc là chẳng đến nỗi
bị những tư tưởng khác lạ dời động.
Người thông minh trong thế gian phần nhiều chẳng
tự lượng, coi pháp môn Tịnh Độ là lười
nhác, muốn nương theo các pháp môn thâm diệu cậy
vào tự lực ḥng được lợi ích lớn lao, rốt
cuộc chỉ biết giáo nghĩa, chưa thể tâm đắc!
Dẫu có tâm đắc, cũng chẳng thể thực hiện
trọn khắp. Bỏ dễ cầu khó, biến khéo thành vụng,
người thông minh mười kẻ hết chín phạm phải
tâm bệnh này! Chẳng bị xoay chuyển bởi những
thứ tri kiến ấy, lại c̣n giữ vẹn luân
thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng
tà, giữ ḷng thành, không làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện, chính là đệ tử thật sự
của đức Phật, chắc chắn có thể liễu
sanh thoát tử trong đời này. Xin đem lời này
đưa cho họ xem.
41. Thư trả
lời cư sĩ Lư Tự Sơ
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Ông đă thọ giới, đă
có Văn Sao, Gia Ngôn Lục, hăy nương theo đó tu tŕ mới
ḥng khỏi phụ bạc cuộc đời này, cần ǵ
phải hỏi đạo nơi minh sư chi nữa? Phải
biết: Phật pháp ví như biển cả, ai có thể một
bước đạp đến tận đáy, một miệng
hút sạch được? Chỉ nương theo Tín - Nguyện
- Hạnh trong pháp môn Niệm Phật th́ chắc chắn sẽ
có thể cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp
văng sanh. Hễ được văng sanh th́ đă được
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Pháp này chính là
vô thượng đại pháp để đức Như
Lai phổ độ hết thảy dù phàm hay thánh. Nếu
chẳng chuyên tu pháp này mà muốn liễu sanh tử bằng
các pháp môn như Thiền, hay Giáo, hay Mật, hay Luật,
đừng nói là đời này chẳng được liễu
thoát, thật sợ rằng ngàn đời vạn kiếp vẫn
khó liễu thoát! Do các pháp môn ấy đều phải
đoạn hết sạch phiền năo th́ mới có phần
được liễu sanh tử.
Ông
nói “gởi thư qua lại ḥng được chỉ dạy
rơ ràng con đường chánh cho hết thảy chuyện tu
hành” th́ Văn Sao, Gia Ngôn Lục há chẳng phải đă chỉ
ra con đường rồi ư? Chỉ cần
nương theo đó mà tu là được rồi, cần
ǵ phải dùng thư từ để chỉ đi dạy
lại nữa? Các sách như Văn Sao v.v… ông c̣n chẳng y
theo, làm sao có thể dùng thư từ để hỏi lại,
nói lại được? Hóa ra ông chỉ chịu
nương theo lời nói ít ỏi nhất! Nếu ông y theo
Văn Sao tu hành, đảm bảo văng sanh Tây Phương
ngay trong đời này! Nếu ngoài pháp này ra mà muốn đạt
được lợi ích liễu sanh thoát tử thật sự,
dù có mơ cũng mơ chẳng được! Ông chịu
tuân theo lời tôi tức là chẳng khác ǵ quy y, cũng không
cần phải đặt pháp danh mới là quy y vậy.
Phàm nêu tên người trên, do chẳng dám gọi thẳng
[tên họ người ta ra] nên mới nói là “thượng
X… hạ Y…”. Ông tự xưng pháp danh mà cũng nói là “thượng
Thường hạ Lạc” th́ thành ra ăn nói nhảm nhí,
tự cao tự đại, không thể không biết [điều
này]! Quang đă già rồi, chẳng thể thường trả
lời thư ông, chớ thường gởi thư đến
nữa! Nếu muốn đọc kinh sách, nên thỉnh
nơi Hoằng Hóa Xă.
42. Thư gởi
cư sĩ La Thế Phương
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Giữa tháng Tám, đại
sư Liễu Nguyện từ Phước Châu đến,
nói cư sĩ là con em nhà giàu có, tuổi chớm đôi
mươi, chẳng bận ḷng về thanh sắc, của
cải, khá thích Phật pháp, tiếc chưa gặp
được bậc tri thức chân thật, xin tôi gởi
thư cũng như gởi cho ông tất cả những sách
quan trọng đă được lưu thông, ngơ hầu ông
hiểu được đường nẻo, Quang bằng
ḷng. Rồi nghĩ người ta chưa từng viết thư
cho ḿnh, ḿnh gởi thư ngay cho người ta, chắc họ
sẽ nghĩ ḿnh tính dựa dẫm nên chưa gởi. Gần
đây, thầy ấy từ Thượng Hải đến
nói ông cho thầy ấy biết: Quang chưa gởi thư
cho ông, lại c̣n xin Quang gởi thư. Do vậy, chẳng
thể không viết thư cho ông. Người quy y ở
Phước Châu có ba bốn chục vị, Quang tuyệt
đối chẳng vô cớ gởi thư cho họ,
cũng chẳng quyên mộ họ làm công đức. Chỉ
có La Khanh Đoan nhiều lần thỉnh sách, là có gởi
thư qua lại. Ngoài ra, đều chỉ là [do họ] xin
quy y, Quang bèn gởi thư trả lời dặn ḍ mà thôi.
Con
người đức hạnh sung măn, lập được
sự nghiệp, đầu mối là do lúc thiếu niên có lập
được chí hay không? Ông sanh trưởng trong nhà giàu
có, nên hết ḷng bỏ sạch tập khí phú quư th́ mới
có phần học đạo liễu sanh tử. Nếu
không, thanh, sắc, của cải, bạn bè ăn nhậu,
tà vạy thừa cơ chen vào. Tuy mong thành thánh, thành hiền,
học Phật, học Tổ, nhưng chẳng thể
được! Muốn học Phật pháp, trước hết
phải tận hết chức trách, bổn phận của
chính ḿnh. [Nếu] không thể giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
lành, dù có học Phật pháp cũng khó được lợi
ích lớn lao, bởi tâm địa chưa được
lương thiện vậy! Nếu làm được [những
điều] như vừa nói trên đây th́ gọi là “thiện
nhân”. Như nền tảng kiên cố, lầu cao vạn
trượng mặc ḷng xây cất, chắc chắn chẳng
bị sụp đổ. Chúng sanh đời Mạt căn
cơ kém hèn, toan dùng tự lực để ngộ hiểu
tâm tánh, đoạn sạch Phiền Hoặc, ḥng liễu
sanh tử, ngàn người chưa được một!
Hăy nên y theo pháp môn Tịnh Độ, tín nguyện niệm
Phật, cầu sanh Tây Phương, cậy vào Phật từ
lực đới nghiệp văng sanh. Đấy là pháp môn “vạn người tu, vạn
người đến” thẳng chóng, ổn thỏa,
thích đáng nhất!
Trước
hết, phải thấu hiểu được nguồn cội
của pháp môn này, tâm hiểu cho rơ ràng. Nếu thừa sức,
sẽ lại nghiên cứu hết thảy kinh luận, các
pháp môn đều có thể giúp cho pháp môn này. Nếu chưa
hiểu rơ nguyên do của pháp môn này, lại tùy ư nghiên cứu
các kinh luận khác và thân cận tri thức các tông để
làm bậc đại thông gia và gieo thiện căn cho đời
vị lai th́ quả thật là có như thế, nhưng muốn
liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, sợ rằng
có mộng cũng mộng chẳng được! Quang một
mực nói thẳng, ḷng dạ thẳng tuột, mong sao có
ích cho người, cũng chẳng sợ người khác
nói tôi vô tri vô thức, chỉ biết niệm Phật! V́ thế,
với kẻ hữu duyên đều bảo họ như vậy.
Tuy không quen biết ông, nhưng do thầy Liễu Nguyện
đôi ba lượt cầu xin, nên cũng nói với ông
[như vậy].
Nay
tôi bảo Hoằng Hóa Xă gởi cho ông những sách đă
lưu thông mỗi thứ một bộ. Ông bằng ḷng xem
th́ giữ lại để tự xem. Nếu không,
đưa cho người có học vấn biết cung kính
xem th́ cũng rất tốt, chẳng ép ông phải xem! Nếu
muốn thỉnh để tặng cho người khác th́
cũng có thể tự thỉnh từ Hoằng Hóa Xă. Những
sách do Hoằng Hóa Xă đă thỉnh từ bên ngoài, chỉ
tính tiền giấy và tiền công thợ in, hết thảy
chi phí khác đều chẳng tính vào đó. Nếu không biết,
hăy hỏi Khanh Đoan sẽ tự biết rơ. Gần
đây tai họa khôn lường, nếu có thể chí tâm niệm
Phật và niệm Quán Âm, chắc chắc sẽ có thể gặp
dữ hóa lành. Mong đem những lời này nói với hết
thảy mọi người th́ lợi ích lớn lắm!
43. Thư trả
lời cư sĩ Quách Giới Mai (hai lá thư)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
1) Nhận được
thư và bộ Vụ Bổn Tùng Đàm[29]
biết các hạ có ḷng với thế đạo nhân tâm,
khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Nói đến những
chuyện ngoa truyền trong cơi tục, nói chung là do thiện
căn cạn mỏng, ác nghiệp sâu nặng mà ra. Người
cơi tục trong làng quê vô tri, chỉ muốn chết đi chẳng
chịu tội, có tiền xài, đến nỗi có kẻ tục
Tăng không hiểu giáo lư, ngụy tạo kinh Thọ Sanh khớp
với điều họ ưa chuộng, thành ra những kẻ
vốn sẵn ḷng hèn kém tham tiền và chỉ cầu tự
lợi, bèn chẳng tiếc nhiều tiền bạc để
trả nợ tiền Thọ Sanh! Lại c̣n gởi kho
để mong chết đi được thọ dụng,
chẳng biết thọ sanh tùy thuộc nghiệp thiện
hay ác, há có thể nhờ tiền để chuộc mạng
nơi các quan ở âm tào ư? Lúc c̣n sống chịu tu thiện
th́ chết đi sẽ tự được thọ dụng.
Nếu chẳng tu thiện, dẫu con cháu v́ người
[đă mất] ấy đốt y phục, tiền tài,
cũng chẳng thọ dụng được, sẽ bị
kẻ mạnh bạo có sức mạnh cướp đoạt
mất. Đây là nói về người b́nh thường chẳng
biết niệm Phật.
Nếu
là người niệm Phật, lúc sống nhất tâm niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, lâm chung sẽ tự được
Phật tiếp dẫn văng sanh Tây Phương, liễu sanh
thoát tử, siêu phàm nhập thánh, sao chẳng cầu sanh Tây
Phương, chỉ mong chết đi làm quỷ vậy?
Đúng là chẳng biết tự trọng, toan tính làm chuyện
thấp kém, muốn vĩnh viễn ở trong biển khổ
sanh tử, chẳng muốn thoát ĺa, sao mà ngu cùng cực
đến như thế?
Lại
nữa, hàng nữ nhân thường nghi sanh sản là có tội,
hàng Tăng sĩ kém cỏi, vô tri bèn ngụy tạo Huyết
Bồn Kinh, Huyết Bồn Sám. Nữ nhân nghe vậy, mừng
rỡ quá đỗi, ai nấy đều muốn niệm
Huyết Bồn Kinh, lạy Huyết Bồn Sám, phá huyết
hồ. Đúng là lấy tṛ đùa của trẻ con để
làm căn cứ diệt tội, thoát khổ, đáng than quá
đỗi! Cái tội của nữ nhân là [ở chỗ] phạm
lỗi “chẳng hiếu với cha mẹ và bố mẹ
chồng, chẳng kính trọng chồng, chẳng đối
xử nhân hậu với tôi tớ, chẳng dùng thiện
đạo để dạy con, và chẳng tắm rửa
đúng lúc”. Nếu do chí thành, cung kính niệm Phật để
mong tiêu diệt nghiệp xưa, tẩy ḷng, rửa ư, chẳng
tạo tội khiên về sau nữa, do Sa Bà dấy động
lắm tội khiên, bèn quyết chí văng sanh Tây Phương,
đấy mới là chánh lư. Sao chẳng sám hối tội lỗi
trong tự tâm mà chuyên dựa vào ngụy kinh để sám diệt
tội lỗi vậy?
Đă
tin Phật là bậc cứu độ, sao chẳng niệm
kinh Đại Thừa do đức Phật đă nói
như Kim Cang Kinh, Di Đà Kinh, Tâm Kinh, Đại Bi Chú, Văng
Sanh Chú và Pháp Hoa Kinh, Lăng Nghiêm Kinh v.v… để mong diệt
tội tăng phước? Diệm Khẩu[30]
là pháp trọng yếu để cứu vớt cô hồn, lại
ngược ngạo chẳng tin, xúm nhau phá huyết hồ,
phá địa ngục, coi đó là những “Phật sự”
không thể không làm! Chính ḿnh chẳng được lợi
ích chân thật, đâm ra làm cho kẻ hiểu lư thế gian nhưng
không biết Phật pháp tưởng đó chính là Phật
pháp. Do đó, nẩy sanh đủ mọi lời lẽ
báng pháp bừa băi, c̣n tự cho là đúng. Những kẻ mù
quáng đâm ra tuân phụng [những ư kiến sai lạc ấy],
coi như khuôn thước. Như trong Cổ Văn, qua bài
văn “Thư Lưu Vũ Trù Hành Hiếu Truyện Hậu”
(Viết Cuối Sách Hành Hiếu Truyện của Lưu
Vũ Trù) của Lưu Bá Ôn[31] ,
đủ thấy kẻ ngụy tạo Huyết Bồn
Kinh tội lớn ngập trời!
Đối
với người niệm Phật, khi lâm chung mọi
người đồng thanh niệm Phật, khiến cho
[người ấy] chánh niệm rỡ ràng, liền
được theo Phật văng sanh. Cần ǵ phải đối
trước thần Thổ Địa dâng cơm ba ngày
để mong họ đối xử nương tay [với
người chết], chẳng trị tội khắc nghiệt?
Đúng là trở thành kẻ si vậy! Như người
đă được Đại Tổng Thống tuyển
dụng, người ta có c̣n phải hướng về cảnh
sát cầu xin rộng ḷng hậu đăi hay chăng, há chẳng
phải là lời lẽ tức cười đó ư?
Chúng sanh nghiệp nặng chướng sâu, phàm là pháp do Phật,
Bồ Tát, thiện tri thức đă nói th́ phần nhiều
chẳng tín phụng, c̣n những pháp do tà ma ngoại đạo
nói th́ lại như ruồi bâu theo hơi thối, [xúm xít]
như kiến bu, chim đậu ùa nhau hùa theo. Xét đến
kết quả, nếu được phước báo nhân
thiên nhỏ nhoi đă là muôn vàn may mắn rồi! Phần
nhiều coi tà đạo là Phật pháp, chê Phật pháp là tà
đạo, dẫu trong đời này chẳng vướng
phép nước th́ chết đi sẽ vĩnh viễn
đọa trong địa ngục, vạn người chẳng
sót một ai, chẳng đáng buồn ư? Nguyện các hạ
lớn tiếng kêu gào để họ được tỉnh
giấc mộng.
2)
Giở sách xem qua loa, chưa thể đọc kỹ,
[đă thấy] trong ấy cũng có lắm chỗ lầm
lẫn, c̣n những điều khác tôi chưa để ư
đến. Nơi trang hai mươi hai, trong ḍng ba và ḍng bốn
ở cuối trang, viết chữ T́nh (情) của
từ ngữ “t́nh trạng” thành H́nh (形) là đă bỏ gốc
chạy theo ngọn vậy! “T́nh” là tâm thức, c̣n “trạng”
là h́nh tướng. Đây có lẽ là v́ không nhớ rơ mà ra. Lại
nữa, trong trang ấy và trang kế đó, chữ Hồi (迴) trong luân hồi (輪迴) phần nhiều
bị viết [sai] thành Huưnh (迥)[32] (ở đây là do người
sắp chữ không chú ư, người giảo chánh cũng
không duyệt kỹ), nên giảo chánh lại, sửa cho đúng th́ in lần
sau mới có lợi ích hơn.
Hơn
nữa, phàm là trong văn Bạch Thoại, hễ dẫn
kinh Phật hay sách Nho, trước hết nên trích nguyên
văn, rồi mới dùng từ ngữ Bạch Thoại
để diễn giải th́ có căn cứ rơ ràng, người
đọc dễ lănh hội. Nếu dùng ngay văn Bạch
Thoại để nói tuy vẫn có lợi, nhưng người
ta khó ḷng chấp nhận. Do vậy, mới nói: “Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn”[33] (nói năng không có sắc thái văn
chương th́ không lan truyền được xa). Gần đây,
Quang bị đủ mọi chuyện bận bịu, chẳng
thể v́ các hạ nhọc công ḍ theo từng hàng mực
được[34],
nhưng cái tâm giảo chánh cố nhiên là ân cần thiết
tha, v́ thế tŕnh bày đại lược một hai
điều vậy!
44. Thư trả
lời cư sĩ Tề Dụng Tu
(năm Dân Quốc 20 -1931)
Bài văn của Phật Quang Xă
ư nghĩa dường như chấp nhận được,
nhưng văn từ hơi vụng về, chưa trau chuốt,
thầy Dịch[35]
và ông đều cho là hay, chắc là v́ t́nh người yêu mến,
dù văn không hay nhưng vẫn cho là hay đó chăng? C̣n
như nói đến chuyện quy y, rất sợ sau này ông
sẽ hối hận, nên chẳng dám chấp thuận. Nay
tôi lại nói: Chỉ đành đem lầm lạc đáp tạ
lầm lạc, đến khi biết kỹ càng là lầm lạc
th́ chẳng ngại ǵ coi nhau như người đi
đường, hoặc chống đối lại vị
thầy đă từng theo đuổi cũng chẳng sao cả[36]!
Nay
đặt pháp danh cho ông là Huệ Mậu, nghĩa là dùng trí
huệ để tự cố gắng, khích lệ người
khác cố gắng, mong sao giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, sanh ḷng tin phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, cầu
sanh Tây Phương. Nếu thật sự làm được
như thế th́ chẳng cô phụ sự giáo hóa của
đức Phật, chẳng phụ bạc tánh linh của
chính ḿnh, là bậc hướng đạo trong một làng,
làm kim chỉ nam cho hàng hậu học, may mắn nào hơn!
45. Thư gởi
tiên sinh Thích Hữu Khanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm trước Trần Dự
Đường gởi thư cho biết hai cha con ông đều
muốn quy y, xin đặt pháp danh và dạy pháp tắc tu
hành. Lại nói ông giỏi nghề y và Địa Lư[37],
bẩm tánh nhân hậu. Con gái ông giữ ḷng trinh lương
tu hành, nay con gái ông đă đón ông đến am cô ta tu hành.
Ông đă bảy mươi, tháng ngày chẳng c̣n nhiều,
hăy nên sốt sắng sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm thánh
hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương. Phàm những
chuyện lo toan trong gia đ́nh và chuyện của con cháu
đều nên gác ra ngoài. Giả sử ta ngoài sáu mươi
liền chết th́ không phải là con cháu ấy vẫn sống
b́nh thường hay sao? Nay ta chỉ quan tâm niệm Phật
để liễu sanh tử, bọn họ đă chẳng
thể liễu sanh tử thay cho ta được, ta há có
nên v́ họ mà làm hỏng đại sự của ta chăng?
Nếu nghĩ được như vậy, tự nhiên sẽ
có thể nhất tâm niệm Phật. Con gái ông là Mai Cúc, giữ
ḷng trinh tu hành, đón ông về am, đôi bên giúp đỡ
nhau cùng tu Tịnh nghiệp ngơ hầu cùng sanh Tây
Phương.
Phải
biết: Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, nhưng
đều phải đạt đến nghiệp tận
t́nh không mới có thể liễu sanh thoát tử, khó cũng
như lên trời. Hiện thời trên cả thế giới,
sợ rằng cũng khó có mấy người làm
được! Nếu chí thành khẩn thiết niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương, bất luận là ai đều
chắc chắn được văng sanh Tây Phương, liễu
sanh thoát tử. Chỉ có kẻ chẳng sanh ḷng tin, chẳng
phát nguyện là không thể văng sanh! Nếu có ḷng tin thật
sự, nguyện thiết tha, không một ai chẳng
được sanh! Một pháp này chính là hoàn toàn cậy vào
Phật từ lực gia bị, tiếp dẫn vậy. Ví
như ngồi chiếc tàu thủy to vượt biển,
nhờ vào sức tàu, chứ không phải là bản lănh của
chính ḿnh. Hai cha con ông nên thuận theo lời tôi th́ chẳng
uổng đời này và dịp gặp gỡ này.
Nay
đặt pháp danh cho ông là Đức Khánh. Ông tên là Dư
Khánh (điều vui mừng có thừa), ấy chính là điều
vui mừng trong thế gian. Nay niệm Phật cầu sanh
Tây Phương tức là lấy Phật đức để
nương về, đấy là điều vui mừng mà
ngoài đức Phật ra chẳng ai tuyên nói được.
Mai Cúc có pháp danh là Đức Tịnh, nghĩa là dùng ba nghiệp
thân - miệng - ư thanh tịnh để niệm Phật,
mong văng sanh Tịnh Độ, vĩnh viễn ĺa các nỗi
khổ, chỉ hưởng các niềm vui. Ấn Quang
Văn Sao, Gia Ngôn Lục, chắc là có người đă tặng
cho ông, hăy nên đọc kỹ, y theo đó mà tu. Nếu không
có, nên gởi thư sang Hoằng Hóa Xă của chùa Báo Quốc
ở [góc đường] Hộ Long và Xuyên Tâm để thỉnh.
Nay tôi gởi kèm theo một bản danh sách để ông tự
xem, hoặc cho người khác xem.
Lại
nữa, bà họ Thích nhà họ Nguyễn[38],
chắc cũng là em gái ông, nay đặt pháp danh cho bà ta là
Đức Chánh, nghĩa là quyết định niệm Phật
cầu sanh Tây Phương, ấy là con đường
chánh đại quang minh nhất để liễu sanh thoát
tử, đừng nghe những tà tri tà kiến “luyện
đan, vận khí, cầu trường sanh” và “trả nợ
tiền Thọ Sanh, gởi kho, cầu làm quỷ” của kẻ
thiếu hiểu biết để rồi uổng mất công
phu, đánh mất lợi ích thật sự. Những lời
vừa nói trên xin hăy bảo cho bà ta biết. “Nhân sanh thất thập cổ lai hy”[39] (Người
sống được bảy mươi tuổi xưa
nay hiếm) chính là câu nói vào thời Đường từ hơn
một ngàn năm trước. Người bảy
mươi tuổi, đừng coi thường, hờ hững
chuyện niệm Phật th́ mới có thể quyết
định được văng sanh.
46. Thư trả
lời cư sĩ Tập Hoài Tân
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Ông đă biết lợi ích của
việc niệm Phật th́ từ rày hăy nên gắng công
hơn để tự được nhất tâm. Nhưng
một pháp niệm Phật chú trọng vào ba pháp Tín - Nguyện
- Hạnh, chỉ biết niệm nhưng không sanh ḷng tin,
phát nguyện, dù có đắc nhất tâm cũng chưa chắc
được văng sanh. Nếu đầy đủ ḷng tin
chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt
nhất tâm bất loạn, vẫn có thể cậy vào Phật
từ lực để văng sanh. Những người tu
hành ngoài ŕa phần nhiều cầu giác ngộ, cầu
được các thứ cảnh giới, chẳng lấy
chuyện quyết định cầu sanh làm chánh yếu,
đấy gọi là “bỏ gốc chạy theo ngọn” vậy!
V́ sao? V́ ngộ đến cùng cực, nhưng nếu
chưa đoạn hết sạch Phiền Hoặc, vẫn
là kẻ luân hồi trong lục đạo. Nếu
được văng sanh, so với chuyện ngộ đến
mức cùng cực nhưng chưa đoạn Phiền Hoặc,
lẽ cao - thấp khác biệt dường như trời
với vực! Ông muốn sớm biết cái nhân mầu nhiệm
th́ cũng là cái tâm tốt lành, nhưng cũng là do chẳng
hiểu sâu xa pháp môn Tịnh Độ, nên nói chuyện tu
hành ngoài ŕa. Ông hăy chết ḷng trọn ư niệm đi, sẽ
tự được lợi ích chân thật. Nhưng chính
ḿnh đă may mắn nghe được pháp này, nỡ nào chẳng
làm cho cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con, bè bạn,
và hết thảy mọi người đều cùng nghe,
cùng tu, cùng được văng sanh ư?
Cư
sĩ Giáp Tam, xưa có huệ căn, vừa nghe ông nói đến
Tịnh Độ và đọc Văn Sao, An Sĩ Toàn
Thư, liền có thể tin nhận phụng hành, nhưng vẫn
lấy chuyện chưa gặp được Quang làm
điều tiếc nuối. Đấy vẫn là hiện
tượng tin đạo nhưng chưa chuyên dốc vậy.
Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn vừa cực khó vừa
cực dễ. Nói là khó th́ [là do v́] bậc đại triệt
đại ngộ thâm nhập kinh tạng c̣n chẳng tin
được. Nói là dễ [là do v́] ngu phu, ngu phụ chí
thành khẩn thiết niệm, liền có thể lúc lâm chung
hiện tướng lành, văng sanh Tây Phương. Những vị
đại triệt đại ngộ, thông hiểu sâu xa
kinh luận kia c̣n chẳng mong ngang vai bằng lứa với
họ! Ấy là v́ một đằng bỏ Phật lực,
chuyên cậy vào tự lực; một đằng chuyên cậy
vào Phật từ lực, lấy Phật lực dẫn
phát tự lực. Do Phật lực, pháp lực, sức sẵn
có trong tự tâm, ba pháp khế hợp, nên được
siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.
Pháp
này quan trọng nhất là Tín - Nguyện. Có Tín - Nguyện sẽ
chắc chắn chịu tích cực tu tŕ. Chịu tu tŕ liền
được lợi ích văng sanh. Chẳng giống như
Thiền Tông, Mật Tông phải thường có thiện
tri thức chỉ dạy. Nếu không, sợ rằng sẽ
đi vào đường ma, ngay cả đức Phật
cũng khó cứu! Nhưng hành theo lời Quang đă nói, chắc
chắn chẳng bị nguy hiểm và chẳng lo không
được lợi ích thật sự. Nếu [cư
sĩ Giáp Tam] tuổi trẻ, nhà giàu, thời cuộc thái
b́nh th́ xuôi
47. Thư trả
lời cư sĩ Hồ Phụng Trần
(năm Dân Quốc 20 - 1931. Ông
này c̣n có tên là Sư Viễn)
Người học Phật nên
thấy xa trông rộng. Nếu chỉ biết chuyện thuộc
phạm vi ba thước trước mắt th́ không khỏi
đường cùng nẻo tận. Nước ta suốt
hai mươi năm tàn sát lẫn nhau, rốt cuộc ai là
giặc, ai chẳng phải là giặc? Giết người
ta, há người ta mặc kệ cho ông giết ư? Hy
sinh tánh mạng dân, quân đôi bên ḥng giành cái danh xuông “v́
nước, v́ dân”! Người khác đều như thế,
ta cũng như vậy, c̣n quư báu ǵ mà học Phật nữa
cơ chứ? Nước ta tàn sát lẫn nhau, vẫn c̣n là
[nh́n từ] mặt ngoài, chứ thật ra là tự chặt
chân tay và đầu sọ của chính ḿnh mà c̣n hiềm rằng
chưa giúp cho được lẹ làng hơn nữa kia!
Danh th́ vang rền, kinh tai cơi tục, nhưng bản chất
th́ đau buốt tan nát ḷng trời! Chớ nên hùa vào giúp cho
chuyện náo nhiệt này!
C̣n
như nói “thổ phỉ nhiều như lông, nếu chẳng
trang bị [vũ khí], chẳng thể sống yên được”
th́ có thể bảo người trong vùng hợp thành một
đoàn tự vệ. Phàm những người tuổi trẻ
mạnh dạn, đều dạy cho họ biết đây
là chuyện nhằm phô trương oai thế để thổ
phỉ nghe tiếng không dám đến. Nếu hăng máu giết
thổ phỉ ắt sẽ kết thành mối thù sâu; sau
này chúng nó ắt sẽ tàn sát thôn chúng ta, đào tung phần
mộ tổ tiên mỗi nhà trong làng ta. Bất luận già -trẻ
- trai - gái đều thường niệm Quan Thế Âm Bồ
Tát để mong được ngầm che chở. Nếu
mọi người biết tốt - xấu, chịu tuân
theo biện pháp này th́ đề pḥng giặc cướp
chính là tu đạo, công đức lợi ích há thể
nghĩ bàn? Nếu mọi người đều dùng tâm
sân, thủ đoạn độc ác ḥng mong vui sướng
một chốc th́ dẫu muốn khóc cũng chẳng thể
ứa lệ được! Quang có ư kiến như thế,
chẳng biết cư sĩ nghĩ như thế nào? Sau
này đừng gởi thư bàn bạc chuyện này, bởi
người ngoài cuộc làm sao có thể bày kế hoạch
cho người khác ư [với ta] cho được?
“Bất hiếu hữu tam, vô
hậu vi đại” (bất hiếu có ba điều,
không có con nối dơi là [điều bất hiếu] lớn).
Đây chính là nói về kẻ chẳng trọn hết phận
sự con người vậy. Nếu đă lấy vợ,
nhưng không sanh nở được, cố nhiên chẳng
phải là “không trọn hết phận sự con người”.
Một vị cư sĩ ở quê tôi không con, cầu khấn
nhiều cách đều chẳng thỏa nguyện, bèn
cưới một người thiếp, nhưng thê thiếp
bất ḥa, nẩy sanh xích mích, vẫn không có con. Một
người bạn bày kế, tính sang làng xa cưới một
người thiếp nữa, chẳng rước về
nhà, mỗi năm người ấy qua lại một đôi
lượt để mong sanh con. Đem chuyện ấy thưa
với Quang, Quang nghe xong khôn ngăn than thở cảm khái.
Gần đây ḷng người bại hoại đến
cùng cực, trai gái tự do luyến ái gần như trở
thành công khai. Một cô gái tuổi nhỏ, ở một ḿnh
ngoài mấy trăm dặm, cô gái ấy chẳng sanh chuyện
bên ngoài th́ chính là bậc đại hiền, sợ rằng
trong trăm ngàn người, cũng khó được mấy
kẻ! Huống chi cô gái ấy tự sống thành một
nhà, lại cần phải thuê đầy tớ, phí tổn
cũng khá. Nếu may mắn sanh được con th́ kẻ
ưa gièm pha ắt sẽ có kẻ nói xấu miệt thị
là làm chuyện ám muội. Nếu chẳng may vẫn không
sanh được con th́ cô gái ấy suốt đời cô
đơn quạnh quẽ, người chồng phải
chu cấp suốt đời, đúng là tự gieo ḿnh vào
lao ngục, làm nô lệ cho cô gái ấy, chẳng đáng buồn
ư? Kế hoạch ấy nói chung là v́ cái danh mà bày ra, v́
cho rằng không con là thiếu đức, có con th́ người
ta chẳng nói ḿnh thiếu đức. Cái danh gây lụy cho
con người đến nỗi như thế đấy!
Ta
chỉ trọn hết phận ta, hết thảy [những
chuyện khác] không tính đến th́ mới là “biết vui theo mạng trời”.
Số mạng vốn không có con th́ phải tích đức
mà cầu, cầu không được th́ có ǵ tiếc nuối
đâu? Nay [những kẻ] đả đảo giềng mối
“cha - con, vợ - chồng” để tự do luyến ái,
nam nữ lơa lồ ôm nhau khiêu vũ, chẳng phải là những
đứa con do cha mẹ sanh ra hay sao? Không có những đứa
con như thế th́ tốt hơn! Anh em Quang ba người,
Quang bé nhất, hai anh đều không con, ḍng họ tuyệt
tự. Quang nghe xong, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi, bởi
sau này chẳng c̣n có con cháu tạo ác nghiệp làm nhục tổ
tiên nữa! Chuyện như vậy, đâu phải chỉ
riêng quê tôi mới có, có lẽ có người mang cảm giác
đồng t́nh với quê tôi, cũng có thể giải bớt
nỗi lo buồn vậy! Huống chi, người tu hành chẳng
mong huyết mạch được tiếp tục. Bàng
cư sĩ con trai chẳng lấy vợ, con gái chẳng gả
chồng. Ông Bành Nhị Lâm suốt đời hoằng pháp
tu Tịnh nghiệp, vợ sanh được hai con gái,
không có con trai cũng chẳng cưới thiếp, cũng
chẳng nuôi cháu nối ḍng, do ông chí tại văng sanh Tây
Phương, chẳng muốn tiếp tục dâm dục
ḥng sanh con đẻ cháu. Chúng ta dù chẳng dám vói cao, [muốn
được như] Bàng cư sĩ, nhưng gương
thơm của Bành Nhị Lâm chúng ta nên tự giữ. Cần
ǵ phải lập ra kế hoạch cực nguy hiểm ấy
để mong đạt cho được vậy?
Nếu
nói: “Ông nói như vậy, quá bất cận nhân t́nh, nỡ
để phần mộ tổ tiên không người lễ
bái, quét dọn, cúng tế ư?” th́ thưa: “Do lấy thiếp
mà bị người gièm pha là làm chuyện ám muội, sao bằng
đến viện mồ côi, ẵm lấy một đứa
bé mũm mĩm, trông có phước phận về làm con th́
tốt đẹp đôi bề, không ai nuôi nó, ta nuôi làm con,
tức là cứu mạng nó, nó cũng có thể thay thờ
phụng tổ tiên, mà cũng làm cho tổ tiên của nó chẳng
đến nỗi đau ḷng v́ con cháu bị vùi lấp nơi
khe rănh vậy. Nghĩa cử ấy người ta cho là
nuôi ṭ ṿ, nhưng nuôi ṭ ṿ có thẹn ǵ cơ chứ?
48. Thư trả
lời cư sĩ Bào Xung Sĩ
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Tai họa, bệnh tật trùng
trùng, nói chung là do ác nghiệp đời trước sâu
đậm, do hành vi hiện thời chẳng cẩn thận
mà ra. Đời người muốn được không bệnh
khỏe mạnh ắt phải cực lực tiết dục.
Hễ lắm dục sự th́ đủ mọi bệnh tật
đều phát sanh. Người đời cho làm chuyện
dâm dục là vui, chẳng biết vui chỉ trong khoảng
khảy ngón tay, khổ cả đời thường chịu!
Ông nên lắng ḷng niệm Phật và niệm Quán Âm, coi thê
thiếp của chính ḿnh như bạn đạo, kính trọng
như khách, chẳng để một dục niệm dấy
lên. Lâu ngày như thế th́ các chứng bệnh đều
được lành hẳn. Nếu đă lành bệnh hoàn
toàn, vẫn chẳng nên ăn nằm ngay. Phải là sau khi
khỏe mạnh hoàn toàn rồi, v́ để có kẻ nối
dơi th́ vừa chung đụng nhau ắt sẽ có con, [đứa
con] lại mũm mĩm, thông minh, không mắc các bệnh tật,
do Tiên Thiên[40] được vun
bồi vậy. Nếu không biết nghĩa này th́ thê thiếp
của chính ḿnh và con cái sanh ra đều chẳng được
hạnh phúc mạnh khỏe, không bệnh hoạn. Cũng
nên nói với thê thiếp lời này, đây chính là “cầu
nơi chính ḿnh vậy”, c̣n như niệm Phật là cầu
nơi chư Phật. Chính ḿnh không tiết dục, Phật
cũng chẳng dễ ǵ gia hộ được. Chính ḿnh
chịu tiết dục, lại thêm chí thành niệm Phật
th́ chắc chắn các bệnh chẳng sanh.
Nói
về ăn chay th́ vốn là thương chúng nó đau khổ,
nuôi dưỡng ḷng nhân từ của ta. Mỡ và thịt
nào có phân biệt chi, nước súp thịt cũng chớ
nên ăn. Nhưng chúng sanh căn tánh khác nhau, nếu ăn
chay trường được th́ dạy họ trường
trai. Nếu không, dạy họ giữ Thập Trai, Lục
Trai, ăn những món rau ở cạnh thịt[41].
Đấy chính là pháp phương tiện cho [những ai]
không ăn chay trường được, chứ không phải
là thật nghĩa! Ông đă khổ v́ bệnh, hăy nghĩ
thương nỗi khổ của chúng sanh, nên ăn đồ
chay thanh tịnh, đừng để miệng bụng làm
lụy tâm tánh. Phàm những thứ có tri giác đều chẳng
nên ăn. Tuy không có tri giác nhưng có mầm sống như
các loại trứng cũng không nên ăn. Uống sữa ḅ
th́ không trở ngại ǵ, nhưng sữa cũng là lấy chất
bổ béo của ḅ để bồi bổ thân thể ta; do
vậy, cũng không nên dùng. Đậu nành, dầu đậu
nành có nhiều chất bổ nhất, hăy nên thường
dùng. Trong cháo ăn điểm tâm nên bỏ thêm đậu
nành đă xay vỡ. Với loại dầu để
thường ăn th́ chuyên dùng dầu đậu nành, so với
mỡ heo, [dầu đậu nành] có nhiều chất bổ
hơn, sao lại khổ sở đem tiền chuốc họa
để mong được bồi bổ ư? (bởi ăn thịt sẽ mắc
nợ giết chóc, nên nói là “chuốc
họa”). Người ăn mặn nếu chịu ăn chay chắc
chắn ít bệnh, khỏe mạnh, bởi ăn thịt
gây trở ngại cho phép dưỡng sinh, ăn chay có tác dụng
dưỡng sinh.
Mắm
tôm độc nhất, muôn vàn chớ có ăn, v́ lúc làm,
người ta đào một cái hố to bên bờ biển,
trong ṿng năm sáu tháng, đánh bắt các loài tôm và những thứ
cá nhỏ, đổ vào trong hố, phơi dưới nắng
gắt, cả hố trở mùi, thối suốt mấy dặm[42].
Những loài ruồi, kiến, rắn v.v… ưa mùi đó
đều tự gieo ḿnh chết ngủm trong hố. Đến
khi mắm đă ngấu, bèn cà nhuyễn, đựng trong sọt
đem bán. Người ăn mặn coi như món hàng quư báu,
đáng thương quá chừng! Đây là do một vị
Tăng trông thấy cách làm kể cho Quang nghe. Ông đă
ăn chay, nếu chẳng thể làm cho cả nhà ăn chay
th́ bảo họ hăy bớt ăn [mặn] đi, chớ mua
con vật c̣n sống về giết trong nhà, trong nhà hằng
ngày giết chóc sẽ trở thành chỗ giết hại,
xui xẻo lắm đấy!
49. Trả lời
thư của cư sĩ Dương Thọ Chi (bốn lá
thư)
(năm Dân Quốc 20 -1931)
1) Quang chẳng có hành trạng
ǵ, năm Quang Tự thứ bảy (1881) ĺa khỏi nhà
đến nay đă là năm mươi năm, vẫn là
cái tôi y hệt như cũ: Nghiệp chướng chưa
tiêu, đạo nghiệp chưa thành, không mặt mũi nào
quay về quê cũ. Tuy trước kia được hai Đốc
Soái Trần Bá Sanh và Lưu Tuyết Á[43] gởi
thư khuyên nên về lại đất Tần (Thiểm
Tây), nhưng tự thẹn quả thật chẳng kham nổi,
chẳng đành vâng lệnh. Thậm chí phần mộ tổ
tiên và phần mộ cha mẹ đều chưa thể lễ
bái lần nào. Cái tội bất hiếu quả thật
không thể sám hối được. Mỗi phen nghĩ
đến, mồ hôi đẫm lưng. Cư sĩ ôm tấm
ḷng đau đáu cứu tế, hành pháp hạnh b́nh đẳng,
chẳng khinh rẻ nhà tôi nghèo khó, một mực chăm nom,
có thể nói là “ḷng thành
thương đến cả loài quạ làm tổ trong nhà”[44],
lại c̣n trông coi mộ tổ của Quang, có thể nói “lăo ngô lăo dĩ cập nhân chi lăo”[45] (tôn kính cha mẹ, người bề trên
của chính ḿnh rồi mở rộng ra thành ḷng tôn kính cha mẹ,
người bề trên của kẻ khác). Quang đọc
đến đây, khôn ngăn ứa lệ, thảm thiết
hồi lâu. Nhưng Quang làm người trọn chẳng muốn
lưu hư danh làm bẩn tai gai mắt người khác, chỉ
mong lâm chung nương vào Phật từ lực văng sanh là
thỏa nguyện rồi. Đối với những sự
từng trải [của chính ḿnh] nào đáng tốn bút mực
[để ghi chép lại], mà cũng chẳng hề trước
thuật.
Văn
Sao là do ông Từ Úy Như sau khi đem in xong, bèn tùy thuận
ḷng người mà lưu truyền. Từ năm Dân Quốc
15 (1926), Trung Hoa Thư Cục in bản Tăng Quảng
Văn Sao hoàn chỉnh. Từ đấy trở đi, tất
cả những viết lách tùy tiện để trao đổi
đều nhất loạt chẳng giữ lại bản
nháp. Những người cùng quê với tôi đều mất
cả rồi, Triệu Sĩ Anh là kẻ thuộc lớp
sau, chỉ nghe lời đồn đại, mà bài kệ “nhất phiến minh nguyệt
chiếu cửu châu” (một vầng trăng sáng soi chín
châu) cũng chẳng phải do Quang viết. Quang làm người
chẳng kiêu ngạo, chẳng siểm nịnh, coi hết
thảy người có thế lực và người không thế
lực đều hệt như nhau. Bài kư của Triệu
Sĩ Anh do cư sĩ đă chép nay tôi cũng gởi lại,
cũng chẳng sửa đổi, v́ chẳng muốn
lưu dấu tích xấu xa ấy lại cho đời. Nếu
đem bài ấy xé nát đi, lại sợ cư sĩ nói
tôi “bất cận nhân t́nh”.
Con
người hiện thời thường cầu các bậc
danh nhân soạn các truyện kư cho cha mẹ của chính ḿnh
và bản thân để mong lưu danh sau khi chết đi,
Quang coi đó là chuyện xấu hổ! Không những Quang chẳng
cầu cạnh người khác viết về ḿnh, mà ngay đến
cha mẹ Quang, Quang cũng không tự viết, huống là cầu
cạnh người khác ư? Dù danh trùm thiên hạ th́ có dùng
chuyện ấy để liễu sanh tử được
hay không? V́ thế, tấm ḷng cầu danh của Quang nguội
lạnh cùng cực. Hễ thấy những kẻ cầu cạnh
người khác soạn văn, ḷng liền bức rức,
cho nên thường nói: “Người thế gian phần nhiều
đều là chuộng danh ghét thật”. Nào có phải là Quang
ghét danh đâu? Mà là v́ cái danh mà không có thực chất th́ thật
là đại nhục, cho nên chẳng muốn có cái danh xuông ấy.
2) Phàm mọi việc nên chiếu
theo chức trách, bổn phận của chính ḿnh để
suy tính. Đă biết rơ điều ǵ không nên làm mà cứ
thường muốn làm, há chẳng phải là vô sự sanh
sự, luống nhọc tâm thần, có ích ǵ chăng? Chuyện
ông hỏi ông đă tự biết là chẳng thể, sao c̣n
hỏi tôi chi nữa? Há tôi có nên vượt lư để bảo
ông [cứ làm] hay chăng? Huống chi hiện nay học Phật
hết sức thuận tiện, chẳng giống như
thuở xưa: “Nếu không xuất gia bèn khó được
nghe pháp tu hành!” Hiện nay bưu điện rất thuận
tiện, kinh ở mọi nơi đều có thể thỉnh
được, tri thức trong thiên hạ đều có thể
thỉnh giáo, cớ ǵ phải xuất gia mới tu hành
được?
Phải
biết xuất gia ngày nay, đâm ra chẳng hữu ích bằng
cư sĩ tại gia. Do pháp yếu ma mạnh, ác đồ
tà đảng thường ôm ḷng khi dễ Tăng, chiếm
đoạt tài sản. Nếu sống ở chỗ núi rừng
vắng lặng th́ tiểu nhân chỉ v́ đoạt mấy
thưng gạo, mấy chiếc áo, mấy đồng tiền
mà đánh giết, sự nguy hiểm ấy xưa kia chẳng
hề có! Nếu ở tại thành thị cũng khó tránh
chuyện qua lại với người ta. Ai có thể không
làm chuyện ǵ mà nhận cúng dường yên ổn ư? Do
Quang là kẻ không có khả năng ǵ, ở Phổ Đà
hơn hai mươi năm, chỉ theo đại chúng
ăn cơm mà thôi! Từ năm Dân Quốc thứ bảy
(1918), sau khi Từ Úy Như in Văn Sao, cũng là suốt
ngày bị người khác làm rộn. Ông tưởng xuất
gia là không có chuyện ǵ hết ư? Chẳng biết xuất
gia mà nếu phải duy tŕ đạo tràng, hoằng
dương Phật pháp th́ công việc càng nhiều nữa.
Nếu là kẻ chỉ lo tự giải thoát th́ cơm áo cần
dùng đều phải lo toan. Ba bữa cơm mỗi ngày
đều phải lo liệu. Nếu chẳng tu tŕ, c̣n nhàn
hạ lắm, chứ nếu siêng năng tu tŕ th́ bận rộn
không rảnh được chút nào.
Ông
muốn được quy y, nên đối trước Phật
lễ bái tự thọ. Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ
Mậu, nghĩa là dùng Phật pháp để tự ḿnh cố
gắng, khiến người khác cố gắng, mong giữ
vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, chẳng
trái nghịch Nhân Thừa, Thiên Thừa do đức Phật
đă dạy, tín nguyện niệm Phật, thực hành pháp
môn Hoành Siêu của Phật dạy. Dẫu cho Phật, Bồ
Tát hiện thân, cũng chẳng chịu ĺa khỏi hai con
đường này, tu pháp nào khác. Tuy chưa thể đạt
được Phật tâm, nhưng đă thật sự cậy
vào Phật từ lực. Chúng sanh đời Mạt chẳng
dùng tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, khó liễu sanh tử vạn phần! Lại nữa,
đừng coi chuyện không thể nghiên cứu trọn khắp
kinh luận Đại Thừa, thông suốt trọn khắp
Thiền, Giáo, Luật, Mật là điều thiếu sót! Nếu
bỏ một pháp Tịnh Độ, dẫu có hiểu sâu
xa trọn khắp các kinh luật, thông suốt trọn khắp
các pháp môn, chỉ e chuyện liễu sanh thoát tử vẫn
là chuyện chẳng biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp
trong vị lai [mới có thể xảy ra]! Đừng nói
cha mẹ chấp nhận hay không, Quang một mực chẳng
tán thành người khác xuất gia. Huống chi hiện nay
là đời loạn lạc, quá nửa đều là kẻ
tục dối làm Tăng ư?
Đối
với chuyện thọ giới, cũng chẳng ngại
ǵ đối trước Phật sám hối cho nhiều, tự
thệ thọ giới như đă nói trong lá thư gởi
cho bà [Từ] Phước Hiền trong bộ Văn Sao. Nhưng
bất luận thọ giới hay không thọ giới,
đă quy y Tam Bảo, ắt phải giữ năm chuyện
ấy, chẳng dám vi phạm th́ mới là đệ tử
chánh tín của Phật. Nếu do chưa thọ giới mà
đối với năm giới ấy chẳng cần chú
ư đến th́ c̣n chưa đáng là bậc chánh nhân quân tử,
huống là đệ tử Phật? “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, hết thảy thiện pháp đều nên tu, hết
thảy ác pháp đều nên đoạn” chính là giới
kinh đại lược do Phật dạy. Thế đạo
hiện thời suy bại đến cùng cực v́ thuyết
“bài xích nhân quả ba đời, lục đạo luân hồi,
cho Phật pháp là lừa dối kẻ ngu, người tục”
của nhà Nho. V́ thế, nhà Nho đều chẳng lấy
nhân quả ba đời, lục đạo luân hồi
để giáo huấn, đến nỗi điều thiện
không được khuyến khích, điều ác không bị
trừng phạt. Đến khi gió Âu thổi qua đều
ùa nhau theo. Nếu mọi người đều biết có
sự lư nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo
th́ đâu đến nỗi tàn sát lẫn nhau, đến nỗi
sát kiếp vĩnh viễn không có lúc chấm dứt. Ô hô, buồn
thay!
3) Anh ông là Lập Điền
thiên tư thật tốt, tiếc là chưa học nên
đă hơn nửa đời người rồi mà không
thể thành tựu. Chỉ nên nhất tâm niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương. Ông ta vọng tưởng quá lớn,
muốn tu hành một hai năm liền đắc Ngũ
Nhăn, Lục Thông, lại muốn biết cha mẹ rốt
ráo sướng hay khổ. Lời lẽ ấy tuy do tấm
ḷng một niềm mộ đạo báo ân, nhưng nếu
không nói cho tan biến [cái tâm ấy] đi, sau này chắc sẽ
bị ma dựa, đáng sợ cùng cực! Ông ta đă muốn
báo ân cha mẹ, hăy nên nhất tâm niệm Phật, thay cho cha
mẹ sám hối nghiệp chướng, cầu Phật gia
bị, khiến cho thiện căn được tăng
trưởng, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây
Phương. Tự ḿnh lại nên nhiều cách kính khuyên, hai
thứ minh (tức
là cầu đức Phật gia bị), hiển (tức sự khuyên lơn của
chính ḿnh),
tâm chân thành, lời lẽ chân thành, ngơ hầu cha mẹ sanh
ḷng tin niệm Phật. Chịu niệm Phật cầu sanh
Tây Phương th́ lúc lâm chung cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương, tức là đă siêu phàm nhập thánh,
liễu sanh thoát tử rồi! Chẳng biết v́ cha mẹ
mưu tính như vậy, mà cứ muốn biết khổ -
vui để tính toán th́ làm sao lo liệu trước khi mất
cho được? Người thật thà chỉ nên làm
cư sĩ tại gia, tùy phần tùy sức tu tŕ. Nếu
xuất gia th́ càng chẳng thể tu tŕ. Mong hăy nói tường
tận với ông ta!
Nay
đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Úc, Úc cũng là gắng
sức. Dùng những chuyện như giữ vẹn luân
thường v.v… và tín nguyện niệm Phật v.v… để
tự gắng, thúc đẩy người khác cố gắng,
công đức lợi ích ấy vô lượng vô biên. Chớ
nên vọng tưởng đắc đạo, đắc
thần thông, chỉ nhất tâm niệm Phật rồi lại
dùng điều này khuyên người, th́ tuy chẳng đắc
đạo mà c̣n hơn đắc đạo! Do lợi ích
đạt được bởi văng sanh lớn hơn
đắc đạo nhiều, huống chi tu mù luyện
đui phần nhiều bị ma dựa phát cuồng đó ư?
Mong hăy tích cực nói kỹ với ông ta. Nếu không, chắc
là sẽ có nguy hiểm đấy!
4) Thời thế Mạt Pháp, tà
ma ngoại đạo nhiều vô kể. Gă ma con họ Hàn ấy
chẳng cần biết hắn tu tŕ ra sao, chỉ nội bốn
chữ “Ngũ Giáo Đại Đồng” liền biết
tận ruột gan rồi! Ngoại đạo đều cậy
vào huyễn thuật để lừa đời dối
người, những kẻ có mắt không tṛng thấy chúng
thần thông rộng lớn bèn dốc thân mạng quy y. Nếu
là người thật sự biết đạo lư sẽ
tránh xa c̣n không kịp, huống c̣n vui thích, hâm mộ, hoài
nghi muốn quy y hay sao? Đây chính là mười loại ma
thuộc về Tưởng Ấm trong kinh Lăng Nghiêm vậy.
Kẻ ngu chốn quê cho chuyện có thể thấy
được thần, thấy được quỷ là
hiếm lạ, chẳng biết hắn làm những tà thuật
đó để mê hoặc người ta. Ông c̣n muốn hỏi
chuyện đời trước nơi gă ma con ấy, tức
là ông bị hắn thu hút rồi. Những ǵ Hoàng Quan nói
cũng là ma nói dối. Ông đă từng theo Hoàng Quan, sao từ
đầu chẳng ưa thích chuyện tu luyện của
gă? Ông nên biết yêu ma quỷ quái đều có “thần
thông” (tức là yêu
thông (thần thông của ma quái), chứ không phải là thần
thông chân chánh). Kẻ ngu thấy hắn có thần thông, liền cho
hắn là Bồ Tát, bèn sa vào lưới rập ma của hắn.
Đă là thật sự có thần thông, th́ sao người
theo học với hắn lại sanh bệnh cuồng
như vậy? Huống chi những ǵ hắn nói và những
danh từ do hắn lập ra đều chẳng có trong Phật
pháp. Hắn nói [pháp của] hắn thật sự là Phật
pháp, chính là căn cứ chung cho hết thảy ngoại
đạo dùng để lừa dối người. Nói lời
ấy đủ biết hắn chính là ma!
Phật
nói vô lượng pháp môn, pháp nào cũng đều thật.
Thiện tri thức tùy theo sở tri sở đắc của
chính ḿnh mà đề xướng, chỉ là phù hợp
căn cơ hay không. Nếu nói “pháp của ta là thật, các
pháp khác đều chẳng thật”, không hỏi cũng biết
kẻ ấy là ma! Trong tâm ông quả thật chẳng có chủ
ư, may là bọn chúng đă hiện tướng xấu mà
trong tâm vẫn c̣n ngờ vực chẳng quyết đoán
được! Nếu kẻ học [đạo] ấy chẳng
hiện tướng xấu xa, há ông chẳng bái kẻ ấy
làm thầy, muốn đạt được thần thông
diệu đạo của hắn ư? Thầy X… đă học
viên dung, dạy người khác ăn thịt, đánh Phật,
cho đó là viên dung, tức là dạy người ta ăn thịt
của chính ḿnh, đánh chính ḿnh, cũng là do sức ma phát
hiện. Huống chi loài bị giết kia cũng chẳng
chịu nói như vậy (ăn thịt ta, đánh ta) đó ư? Phải biết:
Người truyền bá, hoằng dương Phật pháp
phải nương theo cấm giới của Phật,
đă chẳng tŕ giới làm sao dạy người khác tu
tŕ?
Hắn
thấy Chí Công, Tế Điên đều có chuyện ăn
thịt, nhưng Chí Công, Tế Điên chưa từng mang
chức trách hoằng dương Phật pháp, chẳng qua gặp
cảnh chạm duyên, đặc biệt chỉ dạy, thị
hiện sự lư cảnh giới chẳng thể nghĩ
bàn trong Phật pháp, nhưng người giữ nhiệm vụ
[hoằng dương] pháp đạo muôn vàn chớ nên học
theo! Hơn nữa, họ ăn vào thứ chết, ói ra thứ
sống, c̣n bọn X… kia ăn thứ chết vào, ngay cả
từng miếng từng khối c̣n nguyên dạng vẫn chẳng
thể ói ra được. Ham học xằng lại c̣n dạy
người khác nữa ư? Người duy tŕ Phật
pháp, nếu chẳng y theo những điều Phật chế
định th́ chính là loài ma! Huống chi, gă ma con kia là quyến
thuộc của ma vương, hoàn toàn chẳng phải là
Phật pháp đó ư? Nay loại này đâu đâu cũng đều
có, nhưng kẻ không có mắt như ruồi bu theo hơi
thối, dẫu không vui cũng chỉ có thể đi theo
chúng. V́ sao vậy? Bọn chúng thế mạnh người
đông, nếu nói ra sự thật th́ chẳng mắc họa
rơ ràng ắt cũng mắc họa ngầm. Khuyên người
cũng chỉ có thể khuyên ai có thể khuyên được
mà thôi! Hắn đă mất trí phát cuồng, khuyên lơn sẽ
bị cắn lại. Nếu ông đọc mười loại
ma thuộc Tưởng Ấm trong kinh Lăng Nghiêm (cảnh Ngũ Ấm Ma chỉ
có Tưởng Ấm nhiều nhất, là chuyện bọn
ma con đời sau sẽ làm) th́ đối với những cảnh
tượng do gă ma con ấy hiện ra, há nào có chuyện
động tâm hoài nghi nữa ư? Nhưng ông cũng có khí
phận của ma, chẳng trừ khử khí phận ấy
th́ sau này cũng sẽ phát sanh ma sự!
Một
là tánh tự thị, ông viết công văn cho người
khác, viết những chữ [khiến cho] khá nhiều
người kém học vấn đều chẳng nhận
được mặt chữ, đấy có c̣n là tâm hạnh
lợi người lợi vật nữa chăng? Nếu
tôi không nói toạc ra th́ sẽ suốt đời cứ
như thế, chẳng biết phải hỏng bao nhiêu chuyện!
Dẫu chẳng hỏng chuyện nhưng khiến cho
người khác phải phí hết tâm tư để suy
đoán th́ chính ḿnh cũng đă tổn phước rồi
phải không? Ông Phùng Mộng Hoa là một vị cựu Thám
Hoa[46],
từng làm đến chức Tuần Phủ[47] tỉnh
An Huy, về sau chuyên lo cứu tế tai nạn. Những chữ
ông ta viết, người tầm thường chẳng hiểu
được một nửa. Một năm kia viết
thư cho tôi, tôi liền nói toạc lỗi ấy ra. Sau này,
viết thư cho tôi, [ông ta] toàn dùng lối chữ Khải[48],
nhưng hỏi đến người khác th́ [khi viết
cho người khác, ông ta] vẫn cứ y như cũ.
Người ấy khá chăm đạo hạnh, nhưng
con cháu đều chết sạch, đứa cháu nuôi để
nối dơi cũng chết luôn. Ông ta tám mươi bốn tuổi
mới mất, lúc mất đứa chắt mới được
ba bốn tuổi. Cả một đời muốn dùng chữ
nghĩa để ra vẻ ăn trên ngồi chốc, lại
c̣n nhiều năm lo phát chẩn, rốt cuộc chỉ c̣n
lại một nhà năm sáu bà góa, chỉ có một đứa
chắt ba bốn tuổi, chẳng đáng buồn ư?
Hai là ngă mạn kiêu căng. Trước
kia, ông viết thư xin quy y cho anh của ông, kư tên cuối
thư chỉ ghi là “cẩn khải”
(kính thưa). V́ sao coi nhẹ chuyện quy y như chuyện
chẳng đặng đừng, chẳng đáng tỏ vẻ
cung kính, rồi đâm ra tỏ thái độ thua cả sự
lễ phép của người đi đường hỏi
lối như vậy? Người đi đường hỏi
lối c̣n phải ṿng tay thưa hỏi. Ông thay mặt xin
quy y, chỉ viết “cẩn khải”,
hệt như hỏi đường không ṿng tay, chỉ
nói “xin hỏi” mà thôi! Đấy chính là coi chuyện quy y và
người thầy để ta quy y dẫu một đồng
cũng chưa đáng! Nay đem chuyện của gă ma con ra
hỏi, lại là “cẩn khải”. Nếu tôi không nói toạc
ra, suốt cả đời ông cứ ngă mạn, ngạo
nghễ, mà vẫn chẳng biết là sai. Lâu ngày chầy
tháng, ắt đến nỗi bị ma dựa! Ông lễ
phép, tôi chẳng thêm được ǵ; ông vô phép, tôi cũng
chẳng suy suyển ǵ! Nhưng do ông đă thờ tôi làm thầy,
há nhẫn tâm chẳng trị bệnh cho ông, thiếu sót
trách nhiệm của tôi ư? V́ thế, nói như vậy. Nếu
nghĩ là tôi muốn được cung kính nên quở trách
ông th́ ông sẽ bị ma dựa chẳng lâu lắc ǵ nữa
đâu! Thư này đừng để cho người khác
xem để bọn đồ đệ ma khỏi tạo
khẩu nghiệp (đây
là thư trả lời cho lá thư đầu tiên).
50. Thư trả
lời cư sĩ Lư Ấn Tuyền
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Buổi sáng hôm qua thư
đưa đến, vừa bóc ra xem qua, liền viết
thư phúc đáp ngay và đóng năm gói sách đưa cho
người đem thư đến. Sau đó đem sách của
ông gởi trả lại mới biết bên trong có h́nh ông. Quang
nghĩ hai chữ Xuyên Tâm rất hay. Nếu đổi thành
Truyền Tâm, tuy ư nghĩa có lẽ hay hơn, nhưng Quang
cho là tự phụ, vọng tưởng ḿnh là người
truyền tâm ấn của Phật th́ đâm ra không c̣n tốt
đẹp nữa! Điều Quang thiếu sót chính là tâm bị
nghiệp chướng, trọn chẳng thể xuyên
được. Nếu có thể xuyên được th́
xuyên chính ḿnh và c̣n làm cho hết thảy mọi người
đều xuyên theo, lại c̣n không có dấu vết. Nếu
ông ham cái nghĩa ấy th́ tôi cũng không có chỗ nào để
chơ miệng vào cả!
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Tục Biên,
Quyển Thượng
Phần 2 hết
[1] Ngục tốt: cai ngục, lính canh ngục.
Ở đây là các quỷ sứ canh giữ địa ngục.
[2] Vị cư sĩ này tên là Thương
Châu, Tổ dùng ngay chữ Thương trong tên để
đặt pháp danh nên nói: “Đổi
tên chẳng đổi thể”.
[3] Hám Sư Trưởng ở đây chính
là ông Hám
Ngọc Côn, người cầm đầu sư đoàn trấn
giữ Tung Huyện ở Thiểm Tây (đoàn quân này thường
được gọi tắt là Trấn Tung Quân).
[4] Phát chẩn: Đi cứu trợ, tặng
phẩm vật cứu tế cho nạn nhân thiên tai, chiến
cuộc.
[5] Pháp sư Ứng Từ (1873-1965), quê ở
tỉnh An Huy, pháp tự Hiển Thân. Năm Quang Tự 24
(1898), xuất gia tại Tam Thánh Am ở Nam Kinh. Bốn
năm sau thọ Cụ Túc Giới tại chùa Thiên Đồng
ở Triết Giang do ngài Bát Chỉ Đầu Đà làm Ḥa
Thượng Truyền Giới. Sau Sư theo học với
ngài Dă Khai ở chùa Thiên Ninh. Năm Quang Tự 34 (1908), cùng với
Nguyệt Hạ pháp sư được truyền pháp bởi
Dă Khai Ḥa Thượng. Về sau, Sư được ngài
Nguyệt Hạ giao nhiệm vụ lănh đạo Pháp Giới
Học Viện. Năm Dân Quốc 12 (1923), Sư yểm quan
tại chùa Bồ Đề ở Hàng Châu, không lâu sau đứng
ra mở Thanh Lương Học Viện. Sư suốt
đời lấy việc hoằng dương kinh Hoa Nghiêm
làm chí nguyện, lấy Thiền làm tâm tông, đề xướng
khắc in ba thứ bản dịch kinh Hoa Nghiêm cũng
như các tác phẩm chú giải kinh Hoa Nghiêm như Hoa Nghiêm
Ngũ Giáo Chương của ngài Pháp Tạng, Hoa Nghiêm
Đại Sớ Diễn Nghĩa Sao của ngài Trừng
Quán, và các bản sớ giải của kinh Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm, Lăng Già v.v… Sư thị tịch năm Dân Quốc
54 (1965) tại Thượng Hải, thọ 93 tuổi. Khi Tổ
Ấn Quang viết lá thư này th́ pháp sư Ứng Từ
đă 58 tuổi.
[6] Ông Từ Úy Như tên thật là Văn
Úy, Úy Như là pháp danh do pháp sư Đế Nhàn đặt
cho ông.
[7] Đại Sĩ chính là dịch nghĩa chữ Ma Ha Tát (Mahasattva). Theo Pháp Hoa Văn Cú, do Bồ Tát tự lợi lợi tha, có đại nguyện, đại hạnh, nên được xưng tụng là Đại Sĩ. Đôi khi, theo một số kinh, như trong Tạp A Hàm, quyển 48, chữ Đại Sĩ được dùng để dịch chữ Mahāpurusa (thường dịch là Vô Thượng Sĩ), nghĩa là bậc sĩ phu tối thắng, tức một trong mười tôn hiệu của đức Phật.
[8] Cao Bưu, Thiệu Bá đều là những
thành phố nằm ở phía Nam Trường Giang (sông
Dương Tử), thuộc địa phận tỉnh
Giang Tô.
[9] Lệnh chánh: Danh xưng tỏ ư tôn trọng
vợ cả (chánh thất) của người khác.
[10] Thành Thời (không rơ năm sinh, mất năm 1678), là cao tăng đời Minh, người huyện Hấp, Huy Châu, pháp hiệu Kiên Mật. Sư thuở nhỏ học Nho, xuất gia năm 28 tuổi. Thoạt đầu học Thiền và Giáo, sau y chỉ ngài Trí Húc Ngẫu Ích, sống trong Ngưỡng Sơn, các loài mănh thú đều quy phục. Sư tự soạn Trai Thiên Pháp Nghi (nghi thức cúng dường chư Thiên). Về sau, Sư qua Giang Ninh trụ tích tại chùa Thiên Giới, hoằng dương Pháp Hoa, siêng tu Tịnh nghiệp. Công khóa mỗi ngày dù nóng hay lạnh, bận hay rảnh đều chẳng hề biếng trễ. Sư san khắc Tịnh Độ Thập Yếu cho lưu truyền rộng răi, khuyên người thật tu, lại c̣n tự viết lời tựa. Sư thị tịch vào tháng Mười năm Khang Hy 70 (1678), không rơ tuổi thọ. C̣n để lại những trước tác như Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sơ Tâm Tam Muội Môn, Thọ Tŕ Phật Thuyết A Di Đà Kinh Hạnh Nguyện Nghi...
[11] Triệu Thích là một gă quân phiệt thời
Dân Quốc, chiếm lănh tỉnh Hà
[12] Tướng Tông: Gọi đủ là
Pháp Tướng Duy Thức Tông. Do tông này chú trọng nghiên cứu
tướng trạng của các pháp, phân chia các trạng thái
tâm thức tỉ mỉ, nên gọi là Tướng Tông.
[13] Cơ ngữ: Gọi tắt của
cơ phong chuyển ngữ, tức những câu đối
đáp thuận theo căn cơ, nhằm giúp cho người
hỏi kiến tánh, chẳng hạn như “Phật là ǵ?”
Thiền Sư bèn đáp “con mèo trèo lên cây cột”.
[14] Danh là tên gọi của sự vật,
Tướng là h́nh trạng của sự vật. Dùng danh
xưng để nêu rơ tướng trạng của sự
vật nên gọi là “danh tướng”. Một cách giải
thích khác: Những ǵ nghe được th́ gọi là Danh, thấy
được th́ gọi là Tướng. Danh và Tướng
đều không có thật thể, chỉ là giả lập
để tiện giáo hóa.
[15] Hiển Ấm (1902-1925), pháp tự Đại Minh, người huyện Côn Minh, tỉnh Giang Tô, là đệ tử xuất gia của ngài Đế Nhàn. Thiên tư thông mẫn, thông suốt kinh tạng, văn chương lỗi lạc. Do có tài văn chương, Sư từng giữ các chức vụ biên tập các tờ nguyệt san của Cư Sĩ Lâm, đăng rất nhiều bài viết trên tờ Hải Triều Âm. Năm Dân Quốc 12 (1923), Sư vượt biển sang Nhật đến Thiên Đức Học Viện trên Cao Dă Sơn (Koyasan) để học Mật Tông và được truyền Quán Đảnh. Năm Dân Quốc 14, Sư trở về Hàng Châu truyền thọ Mật Pháp, nổi danh lừng lẫy. Tháng Năm cùng năm đó, Sư mất, chỉ hưởng thọ được 24 tuổi! Do quá thông minh, Sư thường có những bài viết đề xướng Mật Tông là pháp vô thượng, chê bai tất cả các pháp môn khác, cũng như nêu lên rất nhiều ư kiến cực đoan, vơ đoán. Sư Đế Nhàn cũng không tán thành quan niệm của Hiển Ấm, nhưng không làm ǵ được!
[16] A Xà Lê (Acarya): Dịch nghĩa là Giáo Thọ,
có nghĩa là vị thầy có đủ giới đức,
hành vi đoan nghiêm có thể dạy dỗ học tṛ đúng
khuôn phép. Trong Mật Tông, vị sư đầy đủ
giới đức có sự hiểu biết uyên thâm về
mật pháp, thông hiểu đàn pháp, ấn khế, đă
được quán đảnh và tu tŕ, đủ tư cách
để truyền dạy Mật Pháp cho người khác mới
được gọi là A Xà Lê. Tiêu chuẩn để
được xưng là A Xà Lê trong Mật Tông được
giảng rất rơ trong phẩm A Xà Lê của kinh Tô Tất
Địa. Theo đó, những điều kiện để
xứng danh là một vị Mật Tông A Xà Lê rất khó và rất
cao. Hiển Mật viên thông là Hiển giáo lẫn Mật
giáo đều thông hiểu sâu xa, viên dung.
[17] Nguyên văn “nhất
quyết bất chấn” là một thành ngữ, ngụ
ư: Do bị vấp ngă, phạm sai lầm một lần,
không cách nào hồi phục được nữa.
[18] Lạt Ma là dịch âm của chữ Lama trong tiếng Tây Tạng. Lạt Ma có nghĩa là Thượng Sư, Thượng Nhân. Có lẽ đây là cách dịch chữ Uttara hoặc Guru của tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Thoạt đầu, tại Tây Tạng danh xưng này chỉ dùng để tôn xưng bậc Trưởng Lăo hay Thượng Tọa trong nhà Phật, sau trở thành tiếng gọi chung các tăng lữ.
[19] Nhân Sanh Chỉ Tân là một tác phẩm
do ông Nhiếp Vân Đài biên soạn, bao gồm những
hướng dẫn về thái độ, quan niệm sống
cũng như những nguyên tắc đại cương
để sống trọn vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận.
[20] Tương là tên riêng của tỉnh Hồ
Nam, do sông Tương nằm trong cương vực tỉnh
này nên Hồ Nam c̣n gọi là đất Tương. Ngô là
vùng Giang Tô, do đất này thuộc lănh thổ nước
Đông Ngô thời Tam Quốc nên c̣n gọi là Ngô.
[21] Đạt Sanh Thiên là một thiên sách nói về cách đoạn dục để dưỡng thai do cư sĩ Cức Trai biên soạn, xin xem chi tiết trong Lời tựa tái bản hai thiên sách Đạt Sanh và Phước Ấu được đánh số 37, trong phần Tự của Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, quyển Hạ.
[22] Theo nghĩa gốc, Thành Hoàng là một vị thần có nhiệm vụ bảo vệ một thành tŕ. Về sau, được hiểu là một vị thần chưởng quản cơi Âm lẫn cơi Dương của một vùng. Dưới vị thần này có nhiều viên công sai chuyên ghi chép những chuyện thiện - ác, họa - phước của người dân địa phương để tŕnh tấu thiên đ́nh. Thành Hoàng có nguồn gốc từ thần Thủy Dung thời cổ. Thoạt đầu Thành Hoàng chỉ được thờ trên một nền đất đắp, sau phát triển thành miếu thờ tráng lệ, trang nghiêm. Phong tục thờ Thành Hoàng thạnh hành nhất ở Hoa Lục, Đài Loan và Tân Gia Ba.
[23] Tế điển: Sách ghi tên các vị
thần được triều đ́nh công nhận và quy
định cúng tế hằng năm.
[24] Huyết thực: Theo lệ xưa, các vị
thần thường được cúng bằng heo ḅ làm thịt
để nguyên con chưa nấu nướng dâng lên tế.
Hiểu theo nghĩa rộng, do thần thánh thường
được cúng tế bằng động vật nên gọi
là “hưởng của huyết thực”.
[25] Phi Phi Tưởng Thiên, gọi đầy đủ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Naiva-samjñānāsamjñāyatan), đôi khi c̣n dịch là Vô Tư Tưởng Diệc Vô Tư Tưởng Thiên, Hữu Tưởng Vô Tưởng Trí Thiên, hay Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ Thiên, là tầng trời cao nhất trong Vô Sắc Giới. Tên tầng trời này được gọi theo môn Thiền Định của chư thiên trong tầng trời ấy. Định tâm của họ cực kỳ vi diệu, không c̣n có thô tưởng nữa nên gọi là Phi Tưởng, nhưng vẫn c̣n những Tưởng vi tế, nên gọi là Phi Phi Tưởng. Do tầng trời này cao nhất trong Tam Giới nên đôi khi c̣n gọi là Đảnh Thiên.
[26] Hành Sâm (1614-1677) là cao tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người huyện Bác La (Quảng Đông), hiệu là Lữu Khê, biệt hiệu là Từ Ông. Mẹ ngài sắp đến ngày sanh, nằm mộng thấy ánh sáng trắng chiếu vào bụng, tỉnh dậy bèn sanh ra ngài. Sư dáng mạo hùng vĩ, tuấn tú. Năm bảy tuổi, bị bệnh, đang nằm dựa vào gối, chợt nghe tiếng trống liền nhận biết túc căn bèn quyết chí xuất gia với ngài Tông Bảo, rồi tham học với ngài Tuyết Kiểu Viên Tín của tông Vân Môn. Sau ngài yết kiến Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư Ngọc Lâm Thông Tú, được thấu hiểu tâm yếu. Ngài Ngọc Lâm thường sai Sư thay mặt ḿnh thuyết pháp, tiếp dẫn hải chúng. Quốc sư c̣n phó chúc truyền thừa pháp hệ. Năm Thuận Trị mười bảy (1660), ngài Ngọc Lâm vâng thánh chỉ vào kinh, Sư theo hầu, rất được vua Thuận Trị coi trọng, thậm chí xưng tụng Sư là Đại Thông Phật. Vua nhiều lần toan hạ chiếu phong tước hiệu, nhưng Sư đều t́m cách khéo léo từ chối. Sau khi từ núi Ngũ Đài trở về, xin vua cho phép được ẩn cư tại Long Khê Am ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vua bèn hạ chiếu biến Long Khê thành Viên Chiếu Tự, ân sủng rất hậu. Năm Khang Hy 16 (1677), Sư thị tịch tại chùa Hoa Nghiêm thuộc Ngô Sơn, thọ 64 tuổi. Năm Ung Chánh 11 (1733), hoàng đế lại sắc phong cho Sư thụy hiệu Minh Đạo Chánh Giác Thiền Sư. Những câu nói của sư được thâu thập vào Ngự Tuyển Ngữ Lục quyển thứ 11. Quyển này về sau được lưu hành riêng trong cơi đời với tên gọi Lữu Khê Sâm Thiền Sư Ngữ Lục.
[27] “Thăng ṭa” ở đây có nghĩa là vị
pháp sư truyền giới lên ṭa, trước hết dạy
người muốn quy y sám hối, phát nguyện quy y Tam Bảo,
đảnh lễ cầu giới, phát nguyện thọ giới.
[28] Dực có nghĩa là giúp đỡ.
[29] Vụ Bổn Tùng Đàm là một cuốn
sách do ông Quách Giới Mai biên soạn với nội dung khuyến
cáo những người làm cha mẹ chú trọng vun bồi
đức hạnh, luân thường của chính bản
thân rồi áp dụng vào việc giáo dục con cái, cũng
như những điều cần tránh để tạo
thành những thói xấu cho trẻ.
[30] Đây là một khoa nghi thí thực cho cô hồn ngạ quỷ dựa theo lời dạy trong kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh. Theo kinh đó, ngài A Nan nhập định trong rừng, thấy một ngạ quỷ mặt bốc lửa bừng bừng, h́nh hài khô kháo, đầu tóc rối bù, bụng to như trống, họng bé như kim, nên có tên là Diệm Khẩu. Quỷ cho biết kiếp trước keo kiệt, tham lam không biết chán đủ nên bị đọa vào loài ngạ quỷ. Quỷ cũng báo trước A Nan sau ba ngày nữa sẽ chết, đọa làm ngạ quỷ. A Nan kinh sợ vội chạy đến cầu cứu đức Phật. Nhân đó, Phật dạy cách thí thực, vận tâm từ bi, quán tưởng và chú lực để thí khắp hằng hà sa số ngạ quỷ và chư tiên, công đức vô lượng, tăng trưởng thọ mạng, thoát báo ngạ quỷ. Nguyên tắc chủ yếu là dùng đồ chứa sạch sẽ, đựng nước ăn, chút ít thức ăn dùng tay phải đè lên trên, tụng chú bảy biến, xưng danh hiệu thất Phật (Đa Bảo, Diệu Sắc Thân v.v…) rồi rải khắp bốn phương, khảy ngón tay bảy lần. Đem món ăn ấy đổ xuống chỗ đất sạch để ngạ quỷ hưởng dụng. Về sau, khoa nghi nguyên thủy được biên soạn dựa theo Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Nghi Quỹ Kinh (do ngài Bất Không dịch) đă chịu ảnh hưởng nhiều của Mật Tông Tây Tạng nên trở thành dần dần quá phức tạp, rườm rà. V́ thế, để thuận tiện cho việc hành tŕ, cao tăng các đời đều lưu tâm chỉnh lư. Hiện thời, khoa nghi Diệm Khẩu phổ biến nhất là bản Thiên Cơ Diệm Khẩu (tức Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi do ngài Thiên Cơ đời Minh tu chỉnh các khoa nghi Diệm Khẩu sẵn có từ trước). Bản Thiên Cơ lưu hành hiện thời đă được tổ Liên Tŕ tu chỉnh tạo thành Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (nhưng vẫn quen gọi là Thiên Cơ Diệm Khẩu). Kế đến là bản Hoa Sơn Diệm Khẩu do ngài Đức Cơ núi Bảo Hoa tu chỉnh bản của ngài Liên Tŕ một lần nữa, đặt tên là Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Tập Yếu.
[31] Lưu Bá Ôn (1311-1375), tên thật là
Lưu Cơ, tự là Bá Ôn, thụy hiệu Văn Thành,
người Nam Điền, huyện Văn Thành, Ôn Châu, là một
nhà quân sự và chính trị gia lỗi lạc đồng thời
là một thi nhân nổi tiếng cuối đời Nguyên,
đầu đời Minh. Ông rất giỏi về binh pháp
và sách lược, phù tá Châu Nguyên Chương sáng lập
cơ nghiệp nhà Minh. Ông được hậu thế
xưng tụng “tài trí vượt hẳn Gia Cát Lượng!”
Châu Nguyên Chương từng khen ngợi: “Ông là Tử Pḥng
(Trương Lương) của ta”. Do ông quá tài giỏi,
trong dân gian đă lưu truyền nhiều truyền thuyết
tô vẽ Lưu Cơ như một bậc đạo
sĩ tu chứng trên thông thiên văn, dưới đạt
địa lư, thấu hiểu huyền cơ, có thể thấy
trước vận mạng đất nước vài
trăm năm!
[32] Tuy tự dạng khá giống nhau,
nhưng hai chữ này ư nghĩa khác nhau rất xa. Hồi (迴) là quay trở về, c̣n Huưnh (迥) là xa cách. Do
đó, viết luân hồi (輪迴) thành luân huưnh (輪迥) vừa sai âm vừa sai nghĩa
quá nhiều.
[33] Đây là một câu thành ngữ vốn trích
từ một bài hát cổ mang tên Giác Điệu Khúc trong những
ca từ do Yến Tạ soạn. Cả câu là “ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn,
nghĩa nhi vô lập, cần tắc vô thành” (nói năng
không có sắc thái văn chương th́ không lan truyền
được xa, nghĩa không được lập, dù có
siêng năng cũng chẳng thành công). Chúng tôi dịch câu này
theo cách giải thích của Hán Điển Thành Ngữ.
[34] Ư nói: Ḍ theo từng ḍng chữ để
giảo chánh.
[35] Tức cư sĩ Giang Dịch Viên, ông
Tề Dụng Tu là môn sinh của Giang Dịch Viên.
[36] Ở đây, Tổ đă thấy trước
thầy tṛ Giang Dịch Viên về sau mê man cầu cơ, tin
theo ngoại đạo, chống đối những lời
dạy của Tổ.
[37] Địa Lư ở đây là thuật xem
hướng mộ phần, chọn đất an táng để
mong con cháu được vinh hiển, phú quư.
[38] Đây là cách gọi các phụ nữ
đă có chồng khi xưa. Bà này họ Thích, về làm dâu họ
Nguyễn nên được gọi là “Nguyễn môn Thích thị”.
[39] Đây là một câu thơ trích từ bài thơ Khúc Giang của Đỗ Phủ đời Đường. “Tửu trái tầm thường hành hữu xứ, nhân sanh thất thập cổ lai hy” (nợ nần chè rượu thường luôn thấy, sống đến bảy mươi dễ kiếm đâu!) Về sau, câu thơ này trở thành một thứ ngạn ngữ phổ biến trong dân gian để nói về sự hiếm hoi của những người sống thọ trên bảy mươi.
[40] Tiên Thiên ở đây là những ǵ
được bẩm thụ từ cha mẹ. Những ǵ
có được do nuôi dưỡng sau khi đẻ ra th́ gọi
là Hậu Thiên.
[41] Ở đây, Tổ Ấn Quang nhắc
lại chuyện Lục Tổ Huệ Năng do bị truy
đuổi trong vấn đề giành giật y bát
được truyền thừa từ Ngũ Tổ đă
phải trốn tránh, sống lẫn trong đám thợ
săn. Đến mỗi bữa ăn, Tổ đem các thứ
rau bỏ vào nồi rồi chỉ gắp ăn những lá
rau ấy, chứ không ăn thịt.
[42] Đây là cách người Tàu làm mắm.
Người Việt làm mắm hơi khác, nhưng cũng
theo một nguyên tắc dùng muối để làm cho cá, tôm
phân hủy, lên men, và dĩ nhiên các lu khạp làm mắm
cũng không được giữ ǵn sạch sẽ.
[43] Trần Bá Sanh là một tướng quân
phiệt, chiếm giữ tỉnh Thiểm Tây dưới
thời Dân Quốc, Lưu Tuyết Á là tỉnh trưởng
Thiểm Tây, cũng là một gă quân phiệt thời ấy.
[44] Nguyên văn “ốc
ô thôi thành”: “Ốc ô” là loài quạ làm tổ dưới
mái nhà, c̣n “thôi thành” là một thành ngữ được rút
gọn từ “thôi thành trí phúc”
(vận dụng ḷng thành đến tận tâm can), đôi
khi c̣n nói là “thôi tâm trí phúc”,
có nghĩa là dùng ḷng chân thành đối xử với
người khác.
[45] Đây là câu nói trích từ sách Mạnh Tử. Mạnh Tử sang nước Tề, gặp vua nước ấy là Tuyên Vương. Tuyên Vương thấy kẻ hầu sắp giết một con trâu để cúng tế, con trâu sợ hăi, run lẩy bẩy, bèn hạ lệnh thả trâu, dùng dê để tế. Mạnh Tử khen ngợi vua dùng vương đạo để trị dân. Nhân đó, vua hỏi đến cách thực hiện vương đạo cho thập phần mỹ măn. Mạnh Tử khuyên: “Lăo ngô lăo dĩ cập nhân chi lăo, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu” (tôn kính cha mẹ, người bề trên của chính ḿnh rồi mở rộng thành ḷng tôn kính cha mẹ, người bề trên của kẻ khác, yêu thương con cái của chính ḿnh thành ḷng yêu thương con cái của người khác). Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của sách Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích.
[46] Thám Hoa là danh xưng của người đậu Tiến Sĩ hạng thứ ba trong cuộc thi Đ́nh. Người đỗ đầu gọi là Trạng Nguyên, người đậu hạng nh́ gọi là Bảng Nhăn. Theo các nhà nghiên cứu, danh xưng này bắt nguồn từ đời Đường, các ông tân tiến sĩ được vua đăi yến và đi thăm Thượng Uyển, gọi là “thám hoa viên” (thăm vườn hoa), nhưng danh hiệu này cho đến tận đời Bắc Tống vẫn chưa có. Vào thời Bắc Tống, người đỗ đầu gọi là Trạng Nguyên, người đậu thứ hai và thứ ba đều gọi là Bảng Nhăn với hàm ư: Hai người này là tả hữu của Trạng Nguyên, giống như hai con mắt trên khuôn mặt vị Thủ Khoa. Măi đến cuối đời Tống, mới gọi người đậu Tiến Sĩ hạng thứ ba là Thám Hoa.
[47] Tuần Phủ là một chức quan xuất hiện từ khoảng năm 1371 thời Minh. Dưới đời Minh, do Tể Tướng Hồ Duy Dung cấu kết các thế lực địa phương định làm phản triều đ́nh nên chức Tể Tướng bị phế bỏ, đồng thời Châu Nguyên Chương phân tán quyền hành các quan mỗi tỉnh để tránh nguy cơ các quan địa phương phản loạn. Do đó, lập ra chức Tuần Phủ làm người đứng đầu tỉnh lănh đạo ba ty trực thuộc là Đô Chỉ Huy Sứ Ty (coi về binh bị), Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty (coi việc nội trị và trị an), và Đề H́nh Án Sát Sứ Ty (coi việc xét xử, kiêm nhiệm cai quản nhà tù). Chức trách nhiệm vụ chủ yếu của quan Tuần Phủ là thâu thuế, lo việc trị an, chứ không trực tiếp cầm quân, tuy có thể điều động quân binh trong tỉnh nếu cần. Đến đời Thanh, cả nước Trung Hoa chỉ có 16 chức Tuần Phủ.
[48] Khải Thư là một trong bốn lối viết chữ Hán (Hành, Khải, Triện, Thảo). Khải Thư c̣n được gọi là Chân Thư. Đặc trưng của lối viết này là vuông vắn, ngay ngắn, đầy đủ nét, rơ ràng, không viết tắt, được coi là lối viết chữ Hán tiêu chuẩn bắt buộc trong các công văn. Theo các nhà nghiên cứu, Khải có nghĩa là “khải mô” (khuôn phép, mẫu mực). Các lối chữ Hành, Triện, Thảo đ̣i hỏi phải dụng công nghiên cứu và tập quen mới đọc được do nét chữ tung hoành, bớt nét, phá thể, nhiều khi khác hẳn tự dạng trong lối chữ Khải.