Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Phần 3
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
51. Thư gởi cư sĩ Cao Khế Lư
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Mẹ ông đă bảy
mươi mốt tuổi rồi, ngày tháng không c̣n nhiều
nữa. Hăy nên bảo quyến thuộc trong nhà: “Mọi
người hằng ngày hăy thay phiên nhau niệm Phật
trước mẹ”. V́ sao vậy? Do bọn họ lúc
thường ngày nếu không niệm Phật th́ tới lúc
mẹ ông sắp mất, họ cũng sẽ chẳng chịu
niệm. Lúc b́nh thường đă quen niệm, đến
lúc ấy sẽ niệm được. Phải thỉnh một
cuốn Sức Chung Tân Lương gởi về nhà cho bọn
họ đọc, ngơ hầu hiểu được người
đến lúc lâm chung phải nên [làm] như thế nào th́ mới
hữu ích, như thế nào sẽ bị tổn hại.
Đă biết những điều thế tục thường
làm đều là chuyện “đă
bị té xuống giếng c̣n bị quăng đá” sẽ
chẳng đến nỗi cứ nghĩ những chuyện
ấy mới là hiếu, khiến cho mẹ chẳng
được văng sanh, ngược lại càng bị đọa
lạc hơn.
Nay
đặt pháp danh cho mẹ ông là Đức Siêu, nghĩa
là: Do nhất tâm niệm Phật, liền có thể siêu xuất
tam giới, cao đăng chín phẩm sen báu. Hăy răn nhắc
[bà cụ] đừng cầu phước báo trời - người
trong đời sau. Nếu có cái tâm mong cầu cho đời
sau, chắc chắn chẳng được văng sanh Tây
Phương! Chuyện này khẩn yếu tột bậc! Giúp
cho cha mẹ được văng sanh thành công chính là giúp cho
cha mẹ thành Phật! Công đức ấy cực lớn,
không thể sánh tầy! Nếu phá hoại chánh niệm của
cha mẹ khiến cho họ chẳng được văng
sanh th́ tội lỗi ấy cũng cực lớn không thể
sánh tầy! Ông hăy dốc chí nhé!
52. Trả lời thư cư sĩ Lư Thọ
Đường
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Hôm trước, thư ông
được Bắc B́nh Khắc Kinh Viện chuyển
đến đây, [xem thư] biết ông khá có tín tâm. Nay
đặt cho ông pháp danh là Huệ Ấm, nghĩa là dùng trí
huệ để bẩm thọ pháp môn Niệm Phật của
đức Như Lai ḥng tự che chở, che chở cho
người, khiến cho những chúng sanh bị nhiệt
năo[1] bức
bách kia cùng được che rợp, được mát dịu
trong đời hiện tại, liễu sanh thoát tử ngay
trong đời này. Chỉ y theo Gia Ngôn Lục tu tŕ, chắc
chắn sẽ được lợi ích rốt ráo. Đừng
nên học theo những pháp luyện đan[2], vận
khí v.v… của ngoại đạo. Nếu trước kia
đă từng học, hăy hoàn toàn bỏ đi th́ mới có lợi
ích.
Lại
nên dạy bảo quyến thuộc trong nhà và hết thảy
những kẻ hữu duyên bên ngoài khiến cho họ đều
chí thành niệm Phật. Nếu chịu chân thật niệm
th́ trong đời này ắt gặp dữ hóa lành, lâm chung
quyết định văng sanh Tây Phương; lợi ích ấy
làm sao diễn tả được? Ai nấy lại cần
phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn
phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các
điều ác, vâng giữ các điều lành, đề
xướng nhân quả ba đời, luân hồi lục
đạo, khiến cho hết thảy mọi người
đều giữ tấm ḷng tốt lành, nói lời tốt
lành, làm chuyện tốt lành. Người niệm Phật làm
được như thế th́ là đệ tử thật
sự của Phật. Ông từ mấy ngàn dặm gởi
thư đến mà sao ghi địa chỉ vẫn viết
tháu, chẳng cẩn thận, đúng lề lối, có thể
làm hỏng chuyện vậy? Chỉ một chuyện này
đủ biết ông làm việc phần nhiều chẳng
nghiêm túc rồi!
53. Thư trả lời cư sĩ Phùng
Thiên Tây và Trịnh Viên Oánh
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Ba bốn hôm trước nhận
được thư và hối phiếu (money order) một
trăm đồng, đă nhận rồi, đừng lo.
Ngay hôm ấy, Hoằng Hóa Xă đă gởi hơn ba chục bộ
sách cho các vị, chắc là đă nhận được rồi.
Do bận bịu không rảnh rỗi nên chưa phúc đáp
được. Trộm nghĩ: Chúng sanh đời Mạt
Pháp căn cơ cạn mỏng, nếu không cậy vào Phật
lực, chắc chắc khó thể liễu thoát. Do vậy,
phải giữ chắc một môn “tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ” th́ mới có thể thoát khỏi
cơi Ngũ Trược này, lên cơi chín phẩm sen kia. Nếu lầm
lẫn cho ḿnh là cao quư, muốn cậy vào sức chính ḿnh
để tu các pháp môn Thiền, Giáo, Mật ḥng liễu sanh
tử th́ phần nhiều sẽ là “có nhân, không quả”. V́
sao vậy? Dù có thể triệt ngộ tự tâm, thâm nhập
kinh tạng, nhưng chưa đoạn hết sạch Phiền
Hoặc, chắc chắn chẳng có phần liễu sanh tử,
huống hồ kẻ chưa thể triệt ngộ tự
tâm và chưa thể thâm nhập ư? Mật Tông đề
xướng “thành Phật ngay trong thân này” cũng chẳng
phải là điều ai cũng có thể làm được!
Người học Mật Tông thường bị ma dựa,
đều là do chẳng biết tự lượng, lầm
lạc muốn đắc thần thông và thành Phật mà ra!
Quư
vị đă trọn đủ tín tâm, nên y theo pháp môn Tịnh
Độ mà Quang đă nói để tu. Nên biết: Pháp này
chính là pháp được hoằng dương bởi
chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện tri
thức, Quang bất quá dựa theo ư nghĩa của lời
chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện tri
thức mà truyền thuật lại. Đừng nói: “Ông là
hạng người ǵ mà dám bảo người khác bỏ những
pháp môn Thiền, Giáo, Mật do đức Phật đă nói
để chuyên y theo lời ông nói đó mà tu ư?” Nếu
nói như vậy chính là chẳng y theo lời Phật dạy,
bởi những ǵ Quang đă nói chính là những ǵ mười
phương ba đời chư Phật đều cùng nói.
Há có nên v́ Quang bất tài mà chẳng tin tưởng ư? Hiện
thời tà ma, ngoại đạo nhiều khôn kể xiết,
họ đều nói chính họ mới thật là bậc nhất.
Quư vị chớ bị những loài ma con ấy mê hoặc.
Nếu trước kia đă từng dự vào môn hộ của
chúng, hăy nên bỏ sạch hết đi. Chớ nói “lúc nhập
môn đă thề độc, sợ bỏ đi chắc sẽ
mắc họa!” Phải biết: Bỏ tà theo chánh, sao mắc
họa được? Chẳng những không mắc họa,
lại c̣n có công đức. Những điều khác đă
nói tường tận trong Văn Sao, ở đây không viết
chi tiết.
Những
sách đă gởi đến đó, cứ chiếu theo khả
năng của người ta mà trao ra, đừng nhất
định phải trao sách theo đúng số tiền
người ta đă trả. Nay tôi gởi một trang danh mục
sách của Hoằng Hóa Xă, nếu có ai thỉnh nhiều để
tặng cho người khác ḥng kết duyên th́ cứ dựa
theo giá tiền trong danh sách mà thỉnh. Nếu có gởi tiền
th́ trên bưu phiếu xin đề rơ là Bưu Cục ngơ
Dưỡng Dục, Tô Châu sẽ đỡ mất công nhiều
lắm. Nếu chỉ viết là Tô Châu th́ phải
đưa về Tổng Cục [bưu điện], cách
chùa Báo Quốc khoảng bốn dặm, gởi đi giao về
khá bất tiện. Sợ người đưa tiền
ghi tên [sách] không rơ ràng, xin hăy đem danh mục gởi lại
kèm theo thư để khỏi đến nỗi chẳng
thỉnh được sách rồi đâm ra nghi ngờ!
54. Trả lời thư cư sĩ Trầm
Di Sanh
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Nói đến chuyện làm câu
đối để treo hai bên chữ “Phật” lớn, nay
tôi soạn một cặp liễn, không biết có dùng
được hay không? “Mê ngộ
t́nh không chứng tự tánh. Thánh phàm kiến tận hiển
duy tâm” (Mê, ngộ, t́nh không, chứng tự tánh, thánh phàm Kiến[3] hết
tỏ duy tâm). Nếu viết theo lối tám chữ th́ là “mê ngộ t́nh không, viên minh tự
tánh; thánh phàm kiến tận, triệt chứng duy tâm”. Lối
văn tám chữ ư nghĩa cũng hay, tùy ư sử dụng. Phàm
phu đang mê, tam thừa tuy ngộ, nhưng chưa đạt
đến địa vị “mê lẫn ngộ đều mất”
cho nên chưa thể chứng tự tánh rốt ráo viên măn. Phàm
phu có t́nh kiến phàm phu, thánh nhân có t́nh kiến thánh nhân, chỉ
có đức Phật không có cả hai thứ kiến ấy.
Do vậy, [đức Phật] triệt để tỏ lộ
lư thể Duy Tâm.
Niệm
Phật nhắm mắt dễ bị hôn trầm. Nếu
không khéo dụng tâm rất có thể gặp cảnh ma! Chỉ
buông hờ mí mắt (tức
là như mắt các tượng Phật vậy) th́ tâm sẽ
lặng xuống, chẳng sôi động, cũng chẳng
bị hỏa bốc lên đầu. Nếu ông niệm Phật
mà trên đầu [dường như] có vật ǵ rờ
đụng, hoặc lôi kéo v.v… là v́ suy tưởng trong lúc
niệm Phật khiến cho sóng tâm thức dâng trào đến
nỗi tâm hỏa bốc lên. Nếu buông rủ mí mắt và
hướng tâm suy tưởng xuống phía dưới th́
tâm hỏa chẳng bốc lên, bệnh ấy sẽ mất
đi. Chớ nên lầm tưởng [hiện tượng]
ấy là công phu [đă đạt đến mức],
cũng đừng sợ đấy là ma cảnh, chỉ
chí thành nhiếp tâm mà niệm, và tưởng bản thân
đang ngồi hoặc đứng trên hoa sen, nhất tâm
tưởng ta đang ngồi hay đứng trên hoa sen th́
hiện tượng ấy sẽ tự nhanh chóng biến mất
(Nếu chẳng
dám tưởng đang ngồi hay đứng trên hoa sen, sợ
rằng có thể gặp ma sự, hăy chỉ nghĩ đến
phía dưới bàn chân th́ tâm hỏa lẫn hơi nóng trên
đầu đều chẳng phát sanh nữa). Hiện
nay tà ma ngoại đạo rất nhiều, chớ nên ôm
ḷng thăm ḍ, tu thử chút nào! Nếu có cái tâm ấy, ắt
sẽ bị chúng dụ dỗ. Hễ lọt vào tṛng của
chúng, ắt sẽ đến nỗi mất trí phát cuồng.
Nghe nói một vị pháp sư rất có tiếng tăm nay
đă tự ḿnh ăn thịt, dạy người khác
ăn thịt, lại c̣n dạy người khác hủy hoại
tượng Phật, ông ta đă hiện rơ tướng ma rồi
đấy!
55. Thư trả lời cư sĩ Hoàng Hàm
Chi
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Bài Tây Quy Tụng của Tử
Kiến Ông[4] gồm
một trăm sáu mươi chữ, ư nghĩa gần
như chấp nhận được, nhưng văn từ
c̣n vụng về, thiếu lưu loát, chỉ làm cho xong chuyện
mà thôi. Cư sĩ [Khuất] Văn Lục đă ăn chay,
trong khi tang ma, tế thần, đăi khách đều nên dùng
đồ chay để khởi nguồn phong hóa cho địa
phương. Muôn phần chớ nên thuận theo tục
cũ, phô trương bày vẽ, sát sanh, tấu nhạc, biến
đám ma thành tiệc tùng vui chơi, ngơ hầu đối với
cha mẹ, đối với chính ḿnh, đối với
khách khứa, đối với xóm giềng đều có lợi
ích. Hiện nay vận nước nguy ngập, bất luận
là ai đều nên niệm Phật, niệm Quán Âm để
làm kế dự pḥng. Ngoại trừ cách này ra, làm bất cứ
cách nào, chẳng lay chuyển được nghiệp nào,
chỉ thành uổng công nhọc nhằn mà thôi. Mong hăy
đem điều này nói với hết thảy những
người hữu duyên.
56. Thư trả lời cư sĩ Đàm
Thiếu Phủ
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Nhận được tin cáo
phó lần trước, tính nói gốc - ngọn cùng ông ngơ hầu
có ích cho cha mẹ, chẳng tổn hại chính ḿnh, nhưng
v́ bận bịu không rảnh rỗi, rốt cuộc
chưa thể trả lời thư được. Lần
này nhận được thư ông là do Vi Nghiễm gởi
từ chỗ anh ông ta tới, cũng đă gần mười
ngày rồi. Nên biết: Người trong thế gian chỉ
biết chú ư đến thân xác, đến nghi thức, chứ
đối với hai phương diện tâm thức và lợi
ích đều bỏ qua không xét đến. Dường
như là muốn làm chuyện lợi ích, nhưng thật ra
chỉ là làm chuyện sướng tai khoái mắt người
đời, chẳng làm v́ linh hồn của vong linh. Ông
đă quy y Phật pháp, hăy nên dốc cạn ḷng thành niệm
Phật, hồi hướng cho cha mẹ và dạy quyến
thuộc trong cả nhà đều nén đau thương niệm
Phật th́ đối với cha mẹ, đối với chính
ḿnh đều có lợi ích lớn.
Hiện
thời, vận đời nguy ngập, nếu có thể
chí thành niệm Phật, chắc chắn sẽ gặp dữ
hóa lành. Nếu không, họa hại trong hiện thời khác
hẳn khi trước, đúng là [muốn] tránh né nhưng không
thể nào tránh né được, [muốn] ngăn ngừa nhưng
không thể nào pḥng ngừa được, cuộc sống
người dân lúc này đáng thương đến cùng cực.
Hăy nên nói cặn kẽ với quyến thuộc th́ người
c̣n lẫn kẻ mất đều hưởng lợi ích.
Chùa miếu ở Quảng Châu đều bị hủy bỏ,
mà cũng chẳng có Tăng chúng rất chân thật tu hành;
gần đây càng thêm điêu linh th́ chẳng có cách nào t́m
được chân tăng! Chỉ có chính ḿnh đem ḷng chí
thành niệm Phật, so với việc thỉnh tăng
sĩ ăn thịt uống rượu đến niệm
kinh, bái sám, công đức lớn hơn nhiều lắm! Niệm
Phật là chuyện quan trọng nhất trong đời
người, không phải là v́ cha mẹ mất rồi mới
niệm, c̣n lúc b́nh thường chẳng niệm! Làm đám
tang cho cha mẹ [thoạt trông th́ dường như chỉ]
v́ cha mẹ, nhưng thật ra, chính do cái chết của
cha mẹ đă dẫn khởi các ông cùng chứng đại
sự “muôn kiếp chẳng chết” vậy. Phải biết
cảm ơn, hăy sốt sắng niệm Phật để
báo ân.
57. Thư trả lời cư sĩ
Trương Vân Lôi
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Trong lúc cơi đời loạn lạc
này, mọi việc nên đơn giản là hay nhất. Nếu
bày thêm chuyện phụ thuộc thừa thăi “có cũng
được mà không cũng chẳng sao” th́ sẽ gây phiền
phức lớn lắm. Quán Âm Linh Thiêm[5] rất
hay, nhưng nên cầu nơi chính ḿnh. Nếu chân thành, thiết
tha, không dối trá sẽ tự được Bồ Tát
gia bị. Nếu cái tâm cầu nơi chính ḿnh không chân thành,
Bồ Tát cũng khó gia bị được. Sách Lịch Sử
Thống Kỷ tôi đă bảo thầy Minh Đạo chiếu
theo [thư yêu cầu] gởi đi, lại c̣n bảo gởi
hai bộ Phổ Đà Chí, tổng cộng là bốn bộ.
Một bộ ông tự giữ, một bộ đưa cho
Hồ Phụng Trần, hai bộ kia tùy theo cơ duyên mà tặng.
Sanh
con không khó, dạy con rất khó. Rất nhiều kẻ chẳng
hiểu việc, không có con bèn cầu Bồ Tát, đến
khi có con chỉ biết quư báu; do đấy nuôi thành hạng
hư hỏng nhiều lắm. Ví như trồng lúa, chỉ
biết t́m hạt giống tốt và ươm cho lên mạ
rồi thôi, tất cả những chuyện trừ cỏ
dại, bón, tưới v.v… đều nhất loạt chẳng
ngó ngàng tới. Giống lúa ấy tuy tốt, c̣n mong chi thâu
hoạch được chăng? Như Quang hiểu biết,
đến chín mươi chín phần trăm những kẻ
không con và đông con đều là loại kết quả
này. Chỉ có ḿnh cha của Diêm Đan Sơ (Kính Minh) là
người thương yêu con bậc nhất từ
xưa đến nay. Cho nên nhờ các vị hương
thân trưởng thượng [kềm cặp] khiến cho
con ông được bổ vào Hàn Lâm, rồi làm quan to. Ông dạy
con nghiêm ngặt cũng là thiên hạ xưa nay chưa hề
có. Một mặt vun bồi đức hạnh, một mặt
tận lực dạy dỗ. Nguyên do là v́ yêu thương
con thật sự. Ḷng thương yêu của những kẻ
khác thường là c̣n tệ hơn giết con, bởi giết
con th́ chỉ có một người chết. Đứa con
không dạy dỗ sẽ chẳng nghiệp ǵ không làm,
vĩnh viễn đọa trong tam đồ ác đạo.
So với nỗi thảm khốc của một lần chết
nào phải chỉ khác biệt như trời với vực!
Sợ ông chẳng tránh khỏi [như vậy] nên tôi phải
nói toạc ra trước để đề pḥng!
58. Thư trả lời cư sĩ Từ
Thư Dung
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Nhận được thư
ông, biết đạo tâm chưa lui sụt, chí hướng
vẫn cao, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Hăy nên biết:
Học thánh, học Phật đều lấy “giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều
lành” làm gốc. Lại c̣n phải giữ phận khiêm
nhường, ẩn giấu tài năng, noi theo cổ nhân, tận
tụy dơi theo đường lối thực tiễn. Làm
được như vậy th́ học vấn lẫn phẩm
hạnh đều vượt trỗi những kẻ tầm
thường. Thông thường những kẻ thông minh
đều kiêu căng, khoe khoang, phô tài, chua ngoa, khắc bạc,
tâm hoàn toàn thiếu sự hàm dưỡng. Kẻ ấy nếu
không suốt đời trắc trở, ắt sẽ chết
yểu lúc trẻ! Ông đời trước nhiều may mắn,
vun bồi được thiện căn này, hăy nên dốc hết
sức vun bồi ngơ hầu có thành tựu.
Kẻ
thông minh dễ phạm nhất chỉ có sắc dục, nên
thường giữ tâm kiêng sợ, đừng để nẩy
sanh chút tà vọng nào. Nếu như ngẫu nhiên khởi lên
ư niệm ấy, liền tưởng: Mỗi một cử
động của chúng ta, thiên địa, quỷ thần,
chư Phật, Bồ Tát không vị nào chẳng biết hết,
thấy hết! Trước mặt người khác c̣n chẳng
dám làm quấy, huống ǵ là đối trước chỗ
Phật, trời nghiêm túc cẩn mật, lại dám ôm giữ
ư niệm tà vạy tệ hại và làm chuyện tà vạy tệ
hại ư? Mạnh Tử nói: “Sự
thục vi đại? Sự thân vi đại. Thủ thục
vi đại? Thủ thân vi đại” (Thờ ai là chuyện
lớn? Thờ cha mẹ là chuyện lớn. Giữ ǵ là
chuyện lớn? Giữ cái thân là chuyện lớn). Nếu
không giữ được cái thân, dù có phụng dưỡng
cha mẹ cũng chỉ là h́nh thức bề ngoài mà thôi, chứ
thật ra là coi rẻ di thể nhận từ cha mẹ,
đấy chính là bất hiếu lớn lắm! Do vậy,
Tăng Tử lúc sắp mất, mới nói: “Phóng tâm vô lự” (tâm thảnh thơi không lo lắng). Kinh Thi chép: “Chiến chiến cạnh cạnh, như lâm thâm uyên,
như lư bạc băng, nhi kim, nhi hậu, ngô tri miễn
phù” (Dè dặt, đề pḥng, như vào vực sâu,
đi trên băng mỏng, hiện thời, mai sau, ta biết
tránh khỏi). Chưa đến lúc ấy vẫn phải
giữ ḷng dè dặt, Tăng Tử c̣n như vậy, huống
ǵ là lũ phàm tục, tầm thường chúng ta ư?
Nay
gởi cho ông một bộ Lịch Sử Thống Kỷ,
hai cuốn Thọ Khang Bảo Giám, ba cuốn Gia Ngôn Lục.
Thống Kỷ th́ ông tự giữ để biết [cơi
đời] b́nh trị hay loạn lạc, biết
gương nhân quả. Thường xem Thọ Khang Bảo
Giám th́ chẳng đến nỗi phạm tà dâm và thủ
dâm v.v... tự hại cuộc đời, tự hao phước
thọ, chẳng bị tàn phế và chết chóc. Hăy nên tặng
một cuốn sách này cho ông Lư Hồng Nghiệp, c̣n Gia Ngôn
Lục th́ ông với ông Cổ, ông Lư, mỗi người một
cuốn. Y theo đó tu tŕ th́ pháp thế gian lẫn pháp xuất
thế gian đều biết được cương
lănh trọng yếu.
Cổ
Vệ Sanh, Lư Hồng Nghiệp đă muốn quy y th́ nay
đặt pháp danh cho Vệ Sanh là Huệ Sanh, nghĩa là
dùng trí huệ cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn chứng
đạo bất sanh bất diệt để tự bảo
vệ ḿnh, bảo vệ người, cùng được bất
tử. Đặt pháp danh cho Hồng Nghiệp là Huệ
Nghiệp, nghĩa là dùng trí huệ để đoạn trừ
ác nghiệp thế gian, tu tŕ Tịnh nghiệp văng sanh Tây
Phương. Sự nghiệp như thế mới là “hồng
nghiệp” (sự nghiệp vĩ đại). Tu thân lập
nghiệp cho đến thành thánh, thành hiền trong thế
gian nếu đem so với sự nghiệp văng sanh Tây
Phương, liễu sanh thoát tử th́ nhỏ bé vô cùng! Xin
hăy đem đoạn thư này chép lại cho hai người
ấy đọc, hoặc đem cả lá thư chép lại
cho họ xem. Dẫu họ đă đến tuổi hoa giáp
(sáu mươi) cũng được lợi ích, huống
chi họ là hàng hậu sinh vừa mới qua tuổi đôi
mươi!
59. Thư trả lời cư sĩ Kim Thiện
Sanh
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Trong đời trước, con
người nghiệp nào chẳng tạo? May mắn
được nghe Phật pháp, hăy nên sốt sắng tu tŕ
để mong tiêu trừ túc nghiệp, siêu độ oan gia.
Tất cả oan gia tuy khó cởi gỡ nhưng nếu chịu
phát tâm Bồ Đề và thành tâm siêu độ sẽ không có
[mối oán kết nào] chẳng cởi gỡ được!
Ông niệm Phật bị nghẹn hơi chẳng phải v́
thân thể yếu đuối mà là do nghiệp chướng
tạo ra, ông chỉ nên khẩn thiết, chí thành niệm. Nếu
niệm không được th́ tâm hăy thường tưởng
nhớ. Nếu niệm được th́ vẫn cần phải
dùng miệng để niệm, không thể niệm được
th́ chỉ tâm chuyển, tâm nhớ, lâu ngày nghiệp ấy sẽ
tiêu. Từ rày, phàm khởi tâm làm việc đều phải
hướng theo phương diện ăn ở cho có t́nh
nghĩa nồng hậu mà làm. Ăn ở trọn vẹn t́nh
nghĩa th́ thêm phước, ăn ở bạc bẽo th́
chẳng đạt được phước ǵ! Nếu
lại c̣n khắc nghiệt, hiểm độc, gian xảo
th́ giống như đảnh núi chót vót, mưa đẫm
cách nào cũng không nhận được, bất cứ
cây cỏ ǵ cũng không mọc được!
60. Thư trả lời cư sĩ Cát Chí
Lượng
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Hôm
trước nhận được thư, khôn ngăn mừng
- thẹn đến cùng cực. Vui là v́ dường như
cư sĩ đă có cơ chuyển biến, chẳng c̣n cậy
ḿnh thông minh như trước, nói bừa đạo lư, tôn
sùng khoa học, miệt thị Phật pháp. Thẹn là v́ tôi
là một ông Tăng vô tri vô thức, tầm thường chỉ
biết cơm cháo, nếu ai học theo tôi đều thành
thân phận ngu phu ngu phụ. Muốn làm bậc đại
thông gia, hăy nên bái một vị đại pháp sư dựng
cao tràng pháp để khỏi uổng cái tâm quy y. Nếu thờ
Quang làm thầy, sau này do Quang vô tri vô thức sẽ hối
hận, bỏ đi, hóa ra là một phen làm chuyện vô ích!
Nhưng Quang là kẻ thẳng tánh, ăn nói thẳng tuột,
ông đă lầm lẫn gởi thư cho Quang, cố nhiên Quang
không dám chấp nhận, nhưng cũng chẳng ngại
trao đổi mấy câu để giúp cho việc lập
thân hành đạo, liễu sanh thoát tử mai sau. Như kẻ
không chân chỉ đường, dẫu chẳng thể
đi được một bước, nhưng chẳng
ngại ǵ hỏi tới để nhờ đấy mà về
được nhà.
Những
ǵ ông nói đều toàn là cậy vào ư kiến của chính
ḿnh, chẳng lấy thật lư, thật sự làm chuẩn.
Nay ông đă biết sai, ắt phải cực lực đối
trị tập khí ấy. Không trừ được tập
khí ấy th́ mỗi một cử động đều có
thể tổn phước, chuốc họa. Câu nghi vấn
đầu tiên của ông chính là lời hủy báng, chứ
tuyệt đối chẳng phải là nghi vấn! [Dùng chữ]
“nghi vấn” chính là chơi chữ để che đậy.
So với chuyện nói thẳng thừng là không tin, lỗi lầm
ấy c̣n lớn hơn nữa. Nếu vẫn cứ giữ
thói ấy, chẳng biết sửa đổi ắt sẽ
có ngày bị ma dựa phát cuồng! Thuốc hay đắng
miệng, không biết cư sĩ có chịu uống hay
không?
61. Thư trả lời cư sĩ
Vương Tâm Thiền
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Mẹ ông đă có thể niệm
Phật th́ hăy nên bảo các cô con dâu cùng bầu bạn niệm
Phật với mẹ. Lại nên khuyên cụ ăn chay
trường để trợ thành đạo nghiệp cho
mẹ, đó là hiếu. Nếu chỉ nghĩ “đừng
niệm Phật, sợ nhọc nhằn tâm lực; đừng
ăn chay, sợ rằng chẳng hợp phép dinh dưỡng”
là hiếu th́ ḷng hiếu ấy giống như La Sát nữ
yêu thương con người vậy. Ḷng hiếu ấy
phá hoại đạo nghiệp của mẹ, khiến cho
cụ vốn có thể liễu sanh thoát tử lại đâm
ra ở măi trong sanh tử. Ḷng hiếu ấy chính là ḷng hiếu
“đă xô xuống giếng, lại c̣n quăng đá”, khiến
cho mẹ ông chẳng được siêu sanh, đọa lạc
suốt kiếp. Hiếu th́ có hiếu đấy, nhưng
chẳng biết [hiếu như vậy] hóa ra là ngỗ nghịch!
Ông đă làm công chức, về mặt h́nh tích chẳng cần
phải thể hiện vẻ tu tŕ, nhưng trong tâm địa
há chẳng thể thường ức niệm ư? Giống
như ông nhớ mẹ, ai cấm ông trong tâm thường
nhớ nghĩ mẹ? Ông nêu ra những sự trở ngại
ấy, hoàn toàn là luận trên h́nh tích, chứ không phải luận
trên tâm địa!
Hiện
nay thời cuộc nguy ngập như thế, nếu vẫn
chẳng chịu thầm niệm Phật trong tâm, chuyện
tương lai rốt cuộc chẳng biết giải quyết
ra sao? Ông đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục, những ǵ nói
trong ấy chẳng đủ để giải quyết mối
nghi [của ông], cứ cần phải có một lá thư
vài trăm chữ mới thỏa ḷng mong ngóng, đều là
do thường ngày chẳng chịu thể hội, quán sát
mà ra. Hăy nên dùng ḷng chân hiếu để khuyên lơn các nàng
dâu, và thường xuyên tự hành mật niệm (niệm
thầm) th́ lợi ích lớn lắm!
62. Thư trả lời cư sĩ Ngô Huệ
Di và La Huệ Chú
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Pháp môn Tịnh Độ chú trọng
nơi Tín - Nguyện, có kẻ chẳng biết cho nên hoặc
cầu phước báo nhân thiên, hoặc cầu đời
sau làm Tăng để hoằng dương Phật pháp,
độ thoát chúng sanh. Những loại tâm niệm ấy
đều phải trừ khử sạch sẽ; nếu có
mảy may sẽ chẳng thể văng sanh! Văng sanh là siêu phàm
nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Không văng sanh th́ tuy một
đời, hai đời chẳng mê, chắc chắn khó
ḷng vĩnh viễn chẳng mê. Hễ mê th́ do có phước
tu tŕ, bèn tạo nghiệp đáng sợ lắm! Ác nghiệp
đă tạo, ác báo tự xảy đến, cầu thoát
tam đồ chỉ sợ chẳng có ngày đâu!
Lại
nữa, người niệm Phật phải nên khuyên quyến
thuộc trong nhà cùng sanh tín tâm, cùng thường niệm Phật
để chuẩn bị cho cha mẹ và các quyến thuộc
trong nhà người ấy hễ có ai mạng chung liền
trợ niệm cho. Nếu không, chẳng những không thể
giúp cho [người sắp chết giữ được]
chánh niệm, mà trái lại c̣n làm cho [người ấy]
sanh khởi những tâm sân hận, ái luyến v.v… (tắm rửa sẵn,
thay áo làm mất chánh niệm. Nếu dời động khiến
cho [người sắp mất] bị đau đớn bèn
sanh sân hận. Sân hận th́ có thể đọa vào loài
độc trùng. Nếu đối trước [người
sắp mất] khóc lóc, người ấy liền sanh ái luyến.
[Những chuyện này] đều làm mất chánh niệm,
vĩnh viễn không mong chi được văng sanh, buồn
thay!)
Người không niệm Phật c̣n chẳng đến nỗi
bị tổn hại lớn, chứ người niệm
Phật hễ bị phá hoại, chánh niệm mất sạch,
muốn được văng sanh trọn không thể
được! Từ đấy luân hồi trong lục
đạo suốt kiếp dài lâu, đều là do bị bọn
quyến thuộc ấy gây nên.
Nếu
bọn họ chẳng phát tâm th́ nên đem chuyện thời
cuộc nguy hiểm, hễ chí thành niệm Phật chắc
chắc gặp dữ hóa lành ra khuyên lơn. Nếu là nữ
nhân mà chịu niệm Phật th́ chắc chắn không bị
đau khổ trong khi sanh nở. Nếu nữ nhân lúc b́nh
thường chẳng biết niệm Phật, khi sanh nở
hết sức đau khổ mà chịu chí thành niệm “nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát”, chắc chắn lập tức an
nhiên sanh nở. Điều này linh cảm tột bậc, hăy
nên nói với hết thảy bạn bè và những người
quen biết, khiến cho họ ai nấy đều
được sanh con tốt lành, lại c̣n làm cho cả mẹ
lẫn con đều được yên vui, cùng gieo thiện
căn. Có kẻ ít hiểu biết cho rằng lúc sanh nở
lơa lồ bất tịnh, hễ niệm sẽ bị tội,
chẳng biết đây là chuyện liên quan đến tánh mạng,
chớ nên đem nghi thức lúc b́nh thường vô sự
mà bàn. Ví như con cái té trong lửa, nước, vừa gọi
cha mẹ, cha mẹ liền đến cứu giúp ngay, chắc
chắn chẳng v́ [con cái] mũ áo không tề chỉnh, thân
thể chẳng sạch sẽ mà không cứu! Nếu do vậy
mà chẳng cứu th́ cũng chẳng đáng gọi là Phật,
Bồ Tát! Nếu là lúc b́nh thường, cố nhiên nên cạn
ḷng thành, tận ḷng kính, chẳng được lấy
chuyện trong khi sanh nở làm lệ.
Con
người chẳng có ai không yêu thương con cái, nếu
dạy con cái niệm Phật, niệm Quán Âm từ nhỏ,
sẽ tiêu trừ được nghiệp chướng,
tăng trưởng thiện căn mà chẳng hay chẳng
biết. Huống chi kẻ tự ḿnh thường niệm
Phật, lúc lâm chung ắt càng chẳng nên khuấy rối,
càng phải dùng niệm Phật để giúp đỡ ngơ
hầu [người ấy] quyết định văng sanh Tây
Phương. Trong hiện thời, niệm Phật, niệm
Quán Âm, gặp dữ hóa lành là điều chắc chắn.
Quang già rồi, tinh thần chẳng đủ, chỉ nên
đọc kỹ Văn Sao, y theo đó tu hành sẽ liền
được lợi ích, đừng nên thường xuyên
gởi thư để khỏi tự phiền, phiền
người!
63. Thư trả lời cư sĩ Thang Huệ
Chấn
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Người đang độ
thiếu niên nếu chẳng gặp được thầy
lành bạn tốt, ngày ngày qua lại với lũ bạn
nhậu nhẹt, tà vạy sẽ nguy hiểm muôn phần. Nặng
th́ không bao lâu sẽ chết, nhẹ th́ cũng thành yếu ớt,
hoặc thành tàn phế. Xét đến nguyên do, đều là
do chúng cứ nghĩ t́m hoa hỏi liễu là vui, chẳng biết
là chuyện thảm khốc, hoặc giống như giết
người, hoặc giống như giết hại con cháu
đời đời. Những kẻ ham ăn chơi
thường mắc bệnh phong t́nh, con cái sanh ra lúc nhỏ
c̣n chưa thấy ǵ, đến khi mười hai, mười
ba tuổi, tới lúc dậy th́ sẽ thấy rơ. Con lại
truyền cho con, cháu truyền cho cháu, chẳng đáng buồn
ư? Chẳng đáng đau đớn ư? Cha ông là Châu Tử
Quyền bán thân bất toại sợ rằng cũng là do
tham sắc mà ra. Chớ nên tham tà sắc, dẫu vợ chồng
sống với nhau cũng chớ nên tham đắm. Hễ
tham th́ sẽ bị một bề mất mạng hay sanh bệnh!
Người
ấy đă phát tâm muốn quy y, hăy nên chí thành niệm thánh
hiệu “nam-mô A Di Đà Phật” và “nam-mô Quán Thế Âm Bồ
Tát”, hết thảy tạp niệm trong tâm nhất loạt
chẳng cho khởi lên, sửa lỗi hướng thiện,
và kiêng giết, ăn chay. Cần phải vĩnh viễn dứt
bỏ chuyện ăn nằm; nếu chưa phải là khi
bệnh t́nh đă b́nh phục hơn một năm, muôn vàn
chẳng được gần gũi phụ nữ! Nếu
không, muôn phần khó lành bệnh được! Lại nên
dạy vợ con ông ta cũng nên niệm Phật và niệm
Quán Âm cho ông ta. Nếu thật sự chí thành sẽ mau
được lành bệnh. Nay đặt pháp danh cho ông ta
là Huệ Thoát, nghĩa là dùng trí huệ để thoát trừ
những tập khí xấu trước kia, lại do niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn thoát khỏi
nỗi khổ sanh tử luân hồi, thường hưởng
sự vui chân thường vô lậu, th́ do cơn bệnh ngặt
này mà được lợi ích lớn lao, vợ con người
ấy cũng nhờ đây mà cùng được thoát khổ
hưởng vui, may mắn lắm thay!
Ông
ta đă không thể cử động được th́ suốt
ngày dùng tâm chí thành niệm Phật, hoặc niệm lớn
tiếng, hoặc niệm nhỏ tiếng, hoặc niệm
thầm trong tâm đều được. Niệm ra tiếng
th́ có thể niệm sáu chữ, chứ niệm thầm
trong tâm th́ nhiều chữ quá sẽ khó niệm, nên niệm
bốn chữ. Bất luận niệm lớn tiếng hay
nhỏ tiếng, đều phải trong tâm niệm cho rơ
ràng rành rẽ, miệng niệm cho rơ ràng rành rẽ, tai nghe
cho rơ ràng rành rẽ. Tuy chẳng thể lễ bái, trong tâm
thường phải giữ ḷng cung kính như đối
trước Phật, như té vào lửa - nước cầu
xin cứu giúp, trọn chẳng dám khởi một tâm niệm
không chánh đáng. Từ sáng đến tối, ngủ th́
để mặc đó, thức dậy lại niệm tiếp.
Lấy niệm Phật làm bổn mạng nguyên thần của
chính ḿnh th́ sẽ có thể tiêu trừ nghiệp chướng,
tăng trưởng thiện căn, có thể hy vọng lành
bệnh yên thân. Lành bệnh rồi vẫn chẳng
được buông bỏ, [cứ tiếp tục niệm
Phật] ngơ hầu siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử,
văng sanh Tây Phương.
Hiện
thời là t́nh thế hoạn nạn, nếu chịu chí
thành niệm Phật liền có thể gặp dữ hóa
lành. Hàng nữ nhân trong nhà nếu chịu niệm Phật
chắc chắn chẳng mắc họa sanh khó. Dẫu là người
lúc b́nh thường chẳng niệm Phật, đến
khi sanh nở, sanh không được, chịu chí thành niệm
“nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” chắc chắn sẽ tức
khắc an nhiên sanh nở. Chớ nên nói “lơa lồ bất tịnh,
niệm sẽ mắc tội!” Trong lúc b́nh thường th́
cần phải cung kính, sạch sẽ. Nếu mũ áo không
tề chỉnh, thân thể chẳng sạch sẽ, hoặc
đang tắm rửa, tiêu tiểu, và khi ngủ nghỉ,
đều nên niệm thầm trong tâm, chớ nên niệm ra
tiếng. Chỉ khi sanh nở, nên niệm ra tiếng, đừng
nên niệm thầm. Những người săn sóc chung
quanh cũng niệm giúp cho người ấy th́ đôi bên
đều có công đức lợi ích. Nên đưa thư
này cho ông ta xem và làm cho hết thảy mọi người
đều biết th́ mới có lợi ích cho ông ta
được!
64. Thư trả lời sư Hựu Chân và
cư sĩ Giác Tam
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Người niệm Phật hăy
nên cung kính, chí thành, từng câu từng chữ trong tâm niệm
cho rơ ràng, rành mạch, miệng niệm cho rơ ràng rành mạch.
Nếu làm được như thế, dẫu chẳng thể
hoàn toàn không có vọng niệm, nhưng cũng chẳng
đến nỗi quá đáng. Có lắm kẻ chỉ mong lẹ,
mong nhiều, thuận miệng niệm ào ào, cho nên không có hiệu
quả! Nếu có thể nhiếp tâm th́ mới gọi là
người niệm Phật thật sự. Đại Thế
Chí Bồ Tát đă ví dụ “như con nhớ mẹ”, trong
tâm con chỉ nghĩ đến mẹ, những cảnh
khác đều chẳng phải là chuyện trong tâm chính ḿnh.
V́ thế có thể cảm ứng đạo giao. Lại
nói: “Đô nhiếp lục
căn, tịnh niệm tương kế, đắc Tam Ma
Địa[6],
tư vi đệ nhất” (nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma Địa
(tức tam-muội), ấy là bậc nhất). Nói “khiến cho tâm, miệng, tai
đều được rơ ràng” chính là pháp tắc nhiếp
trọn sáu căn vậy (Tâm là Ư Căn, miệng là Thiệt Căn). Tâm và miệng
niệm hợp cùng tai nghe th́ mắt, mũi quyết định
chẳng đến nỗi rong ruổi theo bên ngoài, thân
cũng chẳng đến nỗi láo xược, phóng túng.
Người đời nay niệm Phật phần nhiều
đều chẳng chịu nỗ lực nên không có hiệu
quả ǵ.
Lại
nữa, khi không niệm Phật, vọng tưởng tuy nhiều
nhưng không cách nào biết được, chứ không phải
là lúc không niệm th́ không có vọng tưởng! Ví như
đối với hư không trong nhà, dẫu mắt cực
tốt cũng không thể thấy được bụi bặm.
Nếu từ khe cửa sổ soi vào một tia nắng, sẽ
thấy bụi bặm trong tia nắng chao lên đảo xuống
không khi nào ngừng, khi ánh sáng chưa chiếu đến
nơi, vẫn chẳng thấy có bụi bặm! V́ thế,
biết rằng: Khi niệm Phật mà nhận biết có vọng
tưởng th́ đấy vẫn là cái hay của việc
niệm Phật. Lúc không niệm Phật, hoàn toàn bị vùi lấp
trong vọng tưởng cho nên không biết!
Lại
nữa, pháp Niệm Phật khẩn yếu nhất là có
ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha. Hễ có ḷng tin
chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt
đến nhất tâm bất loạn vẫn có thể cậy
vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh. Nếu
không có tín - nguyện, dẫu tâm không có vọng niệm th́ vẫn
chỉ là phước báo nhân thiên v́ chẳng tương ứng
với Phật. Do vậy, đương nhiên phải chú
trọng nơi tín - nguyện cầu sanh Tây Phương. Thật
sự có tín - nguyện, vọng sẽ tự hết. Nếu
lúc b́nh thường có vọng tưởng quá mức, muốn
đắc thần thông, được danh dự, được
duyên pháp, đắc đạo v.v… hoàn toàn lấy vọng
tưởng làm bản tâm của chính ḿnh như vậy th́
càng tinh tấn, dũng mănh, những thứ vọng tưởng
ấy càng nhiều càng lớn! Nếu chẳng giác chiếu
để dứt trừ vĩnh viễn những vọng
tưởng ấy th́ sau này vẫn bị ma dựa phát cuồng,
há nào phải chỉ có vọng tưởng mà thôi ư? V́
thế, phải miệt mài đoạn dứt những thứ
vọng tưởng quá mức ấy.
Thực
hiện công khóa th́ nên y theo chương tŕnh của công khóa.
Khi [đi kinh hành] niệm Phật xong trở về chỗ,
niệm thêm [danh hiệu] hai vị Phật Thích Ca, Dược
Sư cũng không ngại ǵ. Luận theo mặt lư th́ lễ
Phật trước khi chưa niệm chính là lễ Phật
Thích Ca. Người đời phần nhiều xử sự
theo t́nh cảm, không ai chẳng cầu tiêu tai, tăng tuổi
thọ; v́ thế, niệm thêm Phật Dược Sư. Thật
ra, oai thần công đức của A Di Đà Phật bằng
với oai thần công đức của mười
phương ba đời hết thảy chư Phật, chứ
không phải là niệm A Di Đà Phật chẳng thể
tiêu tai, tăng tuổi thọ!
65. Thư trả lời cư sĩ Trần
Kỳ Xương
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Xem bài văn phát nguyện đă
tu chỉnh, có thể nói là “đại nguyện”. Đối
trước Phật phát nguyện hăy nên bày tỏ giản
lược. Bài văn [phát nguyện] do các hạ đă soạn
chính là lời phát biểu trước người khác và lời
đề xướng, hướng dẫn, sao có thể gọi
là bài văn sánh bằng bài văn [phát nguyện] của ngài
Liên Tŕ, nào có hữu ích chi đâu? Hiện thời rơ ràng là một
ông Tăng phàm phu đối trước Phật phát nguyện
mà vẫn dùng hai chữ “thượng - hạ”[7]
th́ thật là thất lễ quá sức! Công khóa [do các hạ]
đă lập ra nếu tuyệt đối không có chuyện
ǵ th́ c̣n có thể thực hiện được, chứ nếu
có cha, mẹ, vợ, con, lại c̣n phải chữa trị
khắp các chứng bệnh, không ai mời mà từ chối
được; chỉ nội một chuyện này đă khó
thể ứng phó được, huống ǵ là công khóa sớm,
trưa, chiều ư? Các hạ và Quang hoàn toàn khác
đường, Quang một bề giản lược, các
hạ một mực phô trương, xin đừng lui tới
tốt hơn!
Sách
Long Thư [Tịnh Độ] Văn dạy niệm ba
mươi sáu vạn ức mười một vạn chín
ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di
Đà Phật, chuyện này nên luận trên phương diện
dụng công, chớ nên luận theo phương diện nhiều
hay ít! [Nếu đem so sánh] một câu này (tức câu niệm
“ba mươi sáu vạn ức
mười một vạn chín ngàn năm trăm đồng
danh đồng hiệu A Di Đà Phật”) với chuyện
chỉ niệm sáu chữ Phật hiệu th́ tuy mỗi ngày
niệm được mười vạn câu, niệm suốt
trăm năm, vẫn chẳng bằng được số
lượng [đức Phật trong] một câu này. [Tức
là số lượng đức Phật được niệm
bởi] kẻ niệm sáu chữ niệm suốt một
đời chẳng bằng [số lượng đức
Phật được] niệm [bởi] một câu này. Nhưng
kẻ niệm một câu này dẫu có tín nguyện vẫn chưa
chắc có thể được văng sanh[8],
c̣n kẻ niệm [sáu chữ] suốt đời nhưng có
tín nguyện th́ chắc chắn có thể văng sanh! Nên y theo
quy định do chư Tổ đă thành lập mà niệm
sáu chữ danh hiệu, đừng tính toán nhiều hay ít! Phải
biết: A Di Đà Phật là Pháp Giới Tạng Thân, tức
là một danh hiệu [A Di Đà Phật] này gồm trọn
danh hiệu của mười phương tam thế hết
thảy chư Phật, nào phải chỉ có ba mươi
sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm
trăm mà thôi ư? Ai nấy đều có tâm, có hạnh, có
chí [khác biệt]. Đă hỏi đến bèn chẳng ngại
ǵ nói thẳng. Đă khác đường lối, ắt chẳng
nên gặp gỡ. Quang là kẻ vô tri vô thức, nào đáng gọi
là bậc tông tượng[9] của
Tịnh Độ! Há chẳng khiến cho người ta hổ
thẹn không chốn dung thân ư?
66. Thư gởi cư sĩ Nguyễn Ḥa
Khanh
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Trước kia, ông Trần Dự
Đường gởi thư đến cho biết có sáu người
thiện nữ xin quy y, nhờ gởi thư về cho các hạ
để chia ra giao [cho những người ấy]. Lại
nói: bà Thích nhà họ Nguyễn quy y lần trước, pháp
danh Đức Chánh chính là phu nhân của các hạ. Biết
cư sĩ học Phật nhiều năm, người nhà
đều được cảm hóa, thật đáng bội
phục. Chẳng biết cư sĩ có tin tưởng chắc
chắn nơi pháp Tịnh Độ hoành siêu hay chăng?
Nay đă có nhân duyên này, chẳng ngại bày tỏ đại
lược nỗi ḷng. Suốt một đời đức
Như Lai đă nói ra vô lượng vô biên pháp môn, t́m lấy
pháp trực tiếp, nhanh chóng nhất th́ không ǵ hơn
được tham Thiền. Nếu là bậc thượng
căn, nghe một ngộ được cả ngàn, đắc
Đại Tổng Tŕ[10],
nhưng đấy vẫn c̣n là ngộ chứ chưa phải
là chứng! Người có thể thật sự đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh th́ trong đời
Mạt quả thật chẳng thấy được mấy
ai! Những kẻ khác phần nhiều đều là nhận
lầm tin tức. Cái được gọi là Ngộ
đó, phần nhiều đều là “thác ngộ” (lầm lẫn),
ít có kẻ ngộ thật sự! Dẫu thật sự ngộ
th́ vẫn c̣n cách xa chuyện liễu sanh tử nhiều lắm!
V́ tuy được khai ngộ, vẫn cần phải dùng
đủ mọi phương tiện để đối
trị phiền năo tập khí từ bao kiếp đến
nay khiến cho hết sạch không c̣n sót th́ mới có thể
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Nếu phiền
năo đă đoạn được chừng bao nhiêu đó,
nhưng vẫn c̣n mảy may chưa đoạn hết th́
vẫn cứ sanh tử y như cũ, không thoát ra
được!
Nếu
chỉ nghĩ “hiểu được tự tâm chính là
đạo”, ngoài ra không tu tŕ ǵ cả th́ sự hiểu lầm
ấy chẳng nhỏ đâu! Nếu hiểu biết,
[nhưng không thấy] có phiền năo nào để được
cả, th́ có thể gọi là “đắc đạo”,
người như vậy đă có thể chém đứt
căn bản sanh tử cho nên có thể liễu sanh thoát tử.
Nếu tuy hiểu biết, nhưng phiền năo chưa
đoạn th́ làm sao có thể liễu sanh thoát tử cho được?
So với kẻ chẳng nhận biết, tuy người ấy
cao trỗi hơn nhiều lắm, nhưng sanh tử chẳng
liễu th́ lại phải thọ sanh, hoặc đâm ra mê
muội, đáng sợ vô cùng! Đó là nói về người
thật sự khai ngộ đấy nhé, c̣n những kẻ
tưởng lầm là ngộ, càng khỏi cần phải
nói đến nữa! Ấy là v́ pháp Tham Thiền chính là
pháp môn cậy vào Tự Lực, cho nên đem so với pháp
môn Niệm Phật về mặt lợi ích th́ thật chẳng
khác nào một trời, một vực!
Pháp
môn Niệm Phật chính là pháp môn đặc biệt trong những
pháp môn [đă được giảng] trong suốt một
đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba
căn, gồm thâu lợi - độn. Bậc Thượng
Thượng Căn như các vị đại Bồ Tát
Văn Thù, Phổ Hiền chẳng thể vượt ra
ngoài pháp này, kẻ Hạ Hạ Căn như phường
đại tội nhân Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng có
thể dự vào trong ấy. Chỉ cần có đủ
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha th́ đều có thể
cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp văng
sanh. Nếu đă đắc tam-muội và đă đoạn
dứt phiền năo, hễ được văng sanh sẽ liền
dự vào địa vị đại Bồ Tát. Hết thảy
pháp môn đều lưu xuất từ pháp môn này, hết thảy
pháp môn đều quy hoàn pháp môn này (gọi là “văng
sanh Tây Phương để mong viên măn Phật quả”). Dường
như nông cạn nhưng sâu chẳng thể lường,
tợ hồ nhỏ nhoi nhưng lớn lao không ǵ chẳng
bao trùm. Mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh không vị nào chẳng cậy vào đạo
thành thủy thành chung này.
Sợ cư sĩ chưa gặp
được người thật sự biết Tịnh
Độ, chắc sẽ coi pháp này là thiển cận, bèn
chuyên dốc sức nơi pháp Thiền minh tâm kiến tánh,
cho rằng “hiểu biết được tự tâm là
đă giải quyết xong rồi”. Bởi thế, khôn
ngăn dông dài một phen. Nếu lời Quang chẳng đáng
tin, xin hăy đọc kỹ Tịnh Độ Thập Yếu,
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và bộ Văn Sao của
Quang sẽ chẳng nghĩ Quang sai lầm, bịa đặt.
Nếu thật sự biết sự hơn - kém giữa Phật
lực và tự lực, chắc chắn chẳng đến
nỗi vẫn c̣n chấp vào chuyện chỉ suy xét tự
tâm, cho rằng “hiểu được [cái tâm] chính là đạo,
chẳng cần phải niệm Phật cầu sanh Tây
Phương”. Cổ nhân như sư Viên Quán[11]
biết được quá khứ - vị lai vẫn chẳng
thể liễu thoát. Sở ngộ về Thiền của
Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh, người
đời nay há có bén gót được chăng, nhưng họ
vẫn phải thọ sanh trở lại! Do vậy, biết:
Phàm phu quyết định phải tu pháp môn đặc biệt
do đức Phật khai thị th́ bất luận căn
tánh như thế nào đều có thể liễu sanh thoát tử
do cậy vào Phật lực vậy. Nếu cậy vào Tự
Lực, sợ rằng có mộng cũng mộng không
được! Chẳng biết cư sĩ có chịu tin
lời này hay chăng?
67. Thư trả lời cư sĩ Trầm
Thọ Nhân
(năm Dân Quốc 20
- 1931)
Nhận được thư
ông từ ba hôm trước, biết lệnh lang[12] là
Hà Sanh đă niệm Phật văng sanh. Tuy về Thế Đế,
tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh, nhưng
văng sanh là đă siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn
lớn lao. Nên luận theo Thật Tế, đừng chấp
vào tướng thế gian rồi sanh bi cảm. Nay những
kẻ mù quáng, khuấy rối đều do cha mẹ họ
mong mỏi họ sẽ hưng gia lập nghiệp, vẻ
vang tổ tông, nhưng chẳng biết cách nuôi dạy, nên đều
trở thành những kẻ ác tự hại, hại người,
hại đời. Do vậy, con người phải mở
rộng tầm mắt để nh́n th́ trong tâm sẽ thản
nhiên, không lo lắng.
Chùa
Báo Quốc có tất cả bốn mươi hai vị
Tăng, ai nấy đều có chức trách, chẳng thể
làm Phật sự. [Với số tiền] một trăm
đồng ông đă gởi, tôi bảo chùa Linh Nham lập một
bài vị trong Niệm Phật Đường. Chùa Linh Nham
niệm Phật có thể coi là bậc nhất trong vùng Giang
- Chiết, công khóa mỗi ngày chẳng khác ǵ khi đả
Phật thất! Khi đả thất chỉ thêm ba lượt
hồi hướng sáng, trưa, tối. Chùa này thuộc
địa phương của Ḥa Thượng Chân Đạt
chùa Thái B́nh, gần đây đă đổi thành [đạo
tràng] thập phương, chuyên môn niệm Phật. Phàm những
chuyện như niệm kinh, bái sám, Phóng Diệm Khẩu,
làm đàn Thủy Lục, giảng kinh, truyền giới,
thâu nhận đồ đệ, truyền pháp v.v… đều
chẳng làm. Quanh năm niệm Phật, những tháng mùa Hạ
nếu thuận tiện sẽ giảng pháp môn Tịnh
Độ, chẳng chèo kéo người ngoài đến nghe.
Nhận
được thư ông th́ trong ngày hôm sau tôi đă bảo
Hoằng Hóa Xă đem những sách đă in trong một hai
năm qua gởi đi mỗi loại một cuốn, chắc
là ông đă nhận được rồi. Lại thêm do
người ta thường nhân dịp nghỉ Tết
đến thăm nhiều lắm, hiện thời không rảnh
rang, đợi đến tháng Giêng năm sau sẽ v́ Hà
Sanh niệm Phật suốt ba ngày hầu thỏa tâm nguyện
của ông. Mười đồng ông đă gởi sẽ
dùng vào chi phí in sách.
68. Thư trả lời cư sĩ Lư Đức
Minh
(hai lá thư)
(năm Dân Quốc 24 -
1935, ông này vốn có tên là Bỉnh
1) Ngạn ngữ có câu: “Thiên hạ bổn thái b́nh, duy nhân
tự nhiễu chi” (thiên hạ vốn thái b́nh, chỉ có
con người tự khuấy rối). Người trí dùng
trí để khuấy, kẻ ngu dùng dục để quậy.
Mối họa do ḷng dục khuấy nhiễu tuy khốc liệt,
nhưng người ta c̣n biết được. Sự
khuấy nhiễu của trí nếu chẳng phải là bậc
tri kiến vượt trội sẽ chẳng thể biết
được! Đă chẳng biết là khuấy nhiễu,
lại ngược ngạo coi đó là đức. Đấy
chính là cội nguồn gây nên đại loạn cho nước
ta từ thuở mới có trời đất đến
nay! Học thuyết gây lầm lạc cho con người thật
đáng sợ sâu xa. Văn Vương ân trạch thấm
đến xương khô không biết mấy trăm
năm, nhưng phong tục giết người để
tuẫn táng[14] phổ
biến khắp thiên hạ, Mục Công là vua hiền của
nước Tần c̣n giết một trăm bảy
mươi bảy người để tuẫn táng. Ba vị
họ Tử Xa[15]
cũng chẳng v́ là hiền thần của đất
nước mà được miễn! C̣n những kẻ chẳng
hiền bèn giết chóc nhiều hơn nữa, sao nỡ nói
đến!
Từ
khi Phật pháp truyền qua phương Đông, nêu thật
rành rẽ sự lư nhân quả luân hồi, những kẻ
“ngoảnh mặt về phía
Chuyện
ấy là chuyện nông cạn nhất trong đạo Phật,
nhưng lại là chuyện quan trọng nhất cho quốc
gia xă hội. Họ đă đề xướng nhân quả
luân hồi là hư vọng, sai lầm th́ thiện không có ǵ
để khuyên, ác không có ǵ để răn, khư khư ôm
xuông “chánh tâm thành ư” để làm cái gốc dạy dân, giữ
yên đất nước, chẳng biết nếu không có
nhân quả luân hồi th́ chánh tâm thành ư và không chánh tâm thành ư
có khác biệt chi đâu, bất quá chỉ là hư danh mà
thôi! Nếu đă thật sự là không có th́ c̣n ai bận
tâm đến cái hư danh ấy? Trong giới Lư Học từ
đấy trở đi, không kẻ nào chẳng lén lút xem
kinh Phật, nhưng không một ai chẳng bài bác Phật
pháp. Do chẳng đề xướng nhân quả nên ngược
ngạo coi căn bản để trị quốc, trị
dân, trị tâm là bàn xằng, thấy bậy!
Mấy
trăm năm qua vẫn c̣n duy tŕ được, vẫn c̣n
có lễ giáo trên h́nh thức. Đến khi gió Âu dần dần
thổi sang Đông, hoàn toàn ngả rạp theo gió Âu. Do không
có căn bản nhân quả luân hồi nên mới thành phóng
túng, quái quỷ, xa xỉ, tà vạy, không ǵ chẳng làm. Bản
tâm của họ Tŕnh, họ Châu thời ấy chính là [muốn]
nhờ chuyện hủy Phật để bảo vệ
đạo Nho, nhưng chẳng biết hủy Phật lại
trở thành hủy Nho. Như hiện nay, Ngũ Kinh, Tứ
Thư đă trở thành sách bị cấm đoán, trường
học dù lớn hay nhỏ đều không cho học [những
sách ấy]. Đấy là chứng cớ rơ ràng! Nho và Thích vốn
cùng nguồn, [bọn Lư Học] cho là tâm tánh khác hẳn với
thân h́nh, mưu tính diệt trừ tâm tánh nhưng thân h́nh bị
diệt trước! Nếu hai ông ấy có thiêng, sẽ chẳng
cho những ǵ chính ḿnh đă nói là đúng, sẽ hối hận
c̣n không kịp! Những lời lẽ ấy tợ hồ
xa cách nhưng thật ra rất gần gũi, người
đọc sách nếu không hiểu rơ ràng chỗ quan yếu
này th́ xem kinh Phật cũng sanh ḷng tín ngưỡng, đọc
những sách báng Phật bên Lư Học cũng sanh ḷng tín
ngưỡng, Lư và Dục đánh lộn trong cùng một
tâm, tự lợi và lợi tha bị chướng ngại
lớn lao! Do vậy, tôi nói đại lược mối tệ
ấy, mong ông hăy suy xét th́ những điều tương
tự sẽ đều hiểu hết.
Trang
Hậu Trạch tuổi đă sáu mươi lăm, muốn
thờ ông Tăng chỉ biết cơm cháo làm thầy, nên
đặt pháp danh [cho ông ta] là Đức Phù, nghĩa là:
Dùng nhân quả báo ứng, tín nguyện niệm Phật
để làm pháp tự giúp ḿnh, giúp người, khiến
cho hết thảy những người đồng hàng khi sống
làm bậc thánh hiền, mất đi sanh về thế giới
Cực Lạc. Ông Phương Trưởng Long, tên tự
là Hàn Tuyền, dùng tấm ḷng trong sạch không bon chen, cạnh
tranh để nhuần thấm hết thảy nên có pháp
danh là Đức Trạch.
Một
chữ Chiến quan hệ rất sâu, ranh giới giữa
ḷng ham muốn của con người và thiên lư nếu chẳng
tận lực chiến đấu th́ lư bị ḷng dục
che lấp, khiến cho lư ắt bị ẩn, ḷng ham muốn
tỏ rơ vậy. Khổng Tử [nói] “tứ thập [nhi] bất hoặc” (bốn
mươi tuổi không lầm lẫn) chính là [nói về]
lúc lư thắng, dục bị khuất phục. “Thất thập sở dục bất
du củ” (bảy mươi tuổi ḷng ham muốn chẳng
ra ngoài khuôn khổ) chính là thiên hạ thái b́nh, trọn không
có chiến sự vậy! Khổng Tử nói: “Ngă chiến tắc khắc”
(ta đánh trận ắt thắng). Khổng Tử suốt
đời chưa hề nắm binh quyền, sao dám nói “ta
đánh trận ắt thắng”? Đấy chính là ư chỉ
nhỏ nhiệm của Khổng Tử nhằm dạy con
người “chế ngự ư
niệm để thành thánh hiền” vậy! Do vậy,
đặt pháp danh là Đức Khắc. Thánh nhân rủ áo
khoanh tay trị thiên hạ, điều cốt yếu chỉ
là “vô dục”. Vô dục th́ không phải chiến đấu,
có dục th́ phải chiến đấu dài dài cho đến
khi ta lẫn người đều chết hết, tấm
ḷng mới chịu nguội lạnh. Nếu không, ắt sẽ
mong người khác chết để riêng ta c̣n sống,
quyết chẳng nghĩ đến sự thảm khốc
của chiến tranh để tạm ngừng.
Vu
Bái Lâm nếu biết “pháp môn Tịnh Độ của
đức Như Lai là trận mưa dầm cam lộ cho
chúng sanh trong chín giới”, có thể giữ vẹn luân
thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng
tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành, tự hành, dạy người th́ một
người xướng, trăm người ḥa, nh́n nhau [bắt
chước nhau] làm lành đông đảo lắm. V́ thế,
đặt cho [ông ta] pháp danh là Đức Lâm.
Ông
nói [bản thân] là người ở trọ, sợ không có
người kế thừa. Nay bốn người này chính
là những người có quê quán ở đấy, hăy nên bảo
họ đem pháp môn này truyền bá vĩnh viễn. Quang giúp
cho ông một tay, đem bốn mươi đồng tiền
hương kính[17] của
bọn họ hoàn toàn dùng làm chi phí gởi sách khiến cho
ông và bọn họ mỗi người có cái để bắt
chước theo, chuyện tự hành, dạy người sẽ
có căn cứ. Tôi sẽ liệt kê một danh sách [để
gởi sách đi], phàm những bộ sách lớn và nghĩa
lư sâu xa, hàm súc, bốn người [các ông] mỗi người
giữ một phần; phàm những sách người thông
thường cũng đọc được th́ tùy tiện
tặng cho người ta cũng như đem cho các tù nhân.
Nhưng phải thiết tha dặn họ cung kính, chớ
nên giống như người b́nh thường đọc
các sách Nho trọn chẳng cung kính tí nào, ngơ hầu
được lợi ích, chẳng đến nỗi chuốc
lấy tội khinh nhờn, ô uế. Chuyện này hăy xem
trong bài viết về “kính trọng sách, tiếc giấy chữ”,
ở đây không viết cặn kẽ.
2) Đă nhận được
thư của ông và Huệ Tu v.v…từ trước,
nhưng do Hoằng Hóa Xă nói: Có hai trăm cuốn Kỹ Lộ
Chỉ Quy[18] (chỉ
bảo đường rẽ) của ông Đức Khắc
c̣n chưa gởi tới nên chưa viết thư trả lời.
Ngày hôm qua, sách gởi ấy được gởi đến,
Quang mục lực không đủ nên xem sơ qua hai ba bài, cảm
thấy hay lắm bèn gắng sức xem ba bốn lần. Cả
cuốn sách đều hay, nhưng có ba chỗ lầm lẫn,
chẳng thể không nói rơ.
Trang
năm mươi tám, ḍng tám và chín, “Sức Chung Tân Lương, Hoằng Hóa Xă ở Tô
Châu tặng đọc”, đây là một cuốn sách nhỏ
nên cũng không phiền cho lắm. Trang sáu mươi hai,
hàng thứ hai: “Các sách Khuyến
Thế Bạch Thoại Văn, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp
Chỉ Nam, Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải Thích, Sức
Chung Tân Lương, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao v.v… Hoằng
Hóa Xă ở Tô Châu đều tặng đọc”. Những
sách này đều tặng đọc th́ chi phí in sách lấy
đâu ra? Hiện nay người học Phật thật đông,
nếu đều là tặng miễn phí th́ ai chẳng muốn
thỉnh? Sao không coi kỹ mà lưu thông theo giá vốn, cần
thỉnh bao nhiêu th́ giao cho bấy nhiêu. Lưu thông nửa
giá hoặc tặng không sẽ bị hạn chế. Nếu
đều là sách tặng xem th́ đừng nói không có nguồn
tiền để in sách, ngay cả thợ in sách và đóng
sách không biết phải dùng đến bao nhiêu người
mới giải quyết được chuyện này. Chuyện
này do thầy Minh Đạo lo toan, Quang hoàn toàn chẳng cho
chuyện lưu thông nửa giá hay hoàn toàn biếu tặng là
đúng! Có người có học vấn nhưng tương
đối khá giả, yêu cầu bao nhiêu bộ sách lớn ấy
th́ cũng chỉ tính nửa giá. Quyền biếu tặng
là tại nơi ta, chứ không phải nơi người,
tùy theo ư ta mà tặng. Nếu công khai mà c̣n có hạn chế,
người ta không đọc kỹ th́ cũng khó ứng
phó.
Nhưng
đấy vẫn là chuyện thuộc về phương
diện tiền bạc, nếu người ta trách móc,
cũng có thể rút lại chương tŕnh ấy, không
đáng phải bận tâm! Chỉ có trang ba mươi hai,
ḍng tám và chín, “từ Huệ Viễn
Đại Sư đời Tấn cho đến gần
đây nhất là Ấn Quang đại sư vẫn c̣n tại
thế”, mười hai chữ này tôi cảm thấy thật
quá thất cách. Đức Khắc [viết như vậy]
với dụng ư đề cao thầy, nhưng chẳng biết
đă dựng [cái đích] cho mọi mũi tên cùng bắn
vào. Mười hai chữ ấy nên đổi thành “Từ Huệ Viễn đại
sư đời Tấn cho đến Thiện Đạo,
Vĩnh Minh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích, Tỉnh Am, Triệt Ngộ
(Triệt Ngộ
chính là ngài Mộng Đông, hiện thời ở An Huy có
người tên Mộng Đông, cho nên chỉ dùng tên Triệt
Ngộ)
đều là những vị có
học vấn nhất”. Quang là một ông Tăng tầm
thường chỉ biết cơm cháo, dẫu biết lợi
ích của pháp môn Tịnh Độ, sao lại có thể kể
vào số những vị Tổ Sư trên đây! V́ chẳng
biết do ông Đức Khắc tự viết, người
hiện thời sẽ nói là ông ta làm theo ư Quang, người
ta ắt sẽ cho Quang mạo nhận là bậc thông gia, muốn
được kể ngang hàng với Sơ Tổ của
Liên Tông th́ Quang mắc tội lỗi về mặt nhân cách
chẳng thể tưởng tượng được!
May là nỗ lực xem hết cuốn sách, chứ nếu
không, sẽ không có cách ǵ thâu thập được.
Nhất
cử nhất động của chúng ta đều giữ
bổn phận, người ta sẽ không để ư hủy
báng. Nếu có chút khí phận khoe khoang, tiếm vị,
vượt phận th́ không những kẻ thổi lông t́m vết
sẽ đều cất giọng công kích, phê b́nh, mà ngay cả
bậc quân tử đức dầy cũng sẽ v́ chuyện
này mà coi thường. Xin hăy bảo với Đức Khắc
sửa đổi ba chỗ ấy, mà cũng không phải
thêm nhiều ḍng, chỉ là thêm vài chữ nơi ḍng tám và
chín trong trang ba mươi hai, bởi hàng kế tiếp c̣n
có mười một chỗ trống. Sách này được
lưu thông, thật sự có lợi ích lớn lao. Quang
cũng không phải là người khách trọ lâu ngày trong
cơi thế. Khi tôi mất rồi, phàm là đệ tử của
tôi chỉ nên y theo lời dạy tu tŕ, đừng liên miên
lan man, đem tôi là một bức tượng đất đi
thếp vàng ṛng, đấy là đem phàm lạm thánh, chính
ḿnh và Quang đều mắc tội lỗi. Hăy đọc
những bức thư gởi cho Phan Đối Phù và Mă Khế
Tây trong bộ Văn Sao.
69. Thư trả lời tiên sinh Trịnh Quán
Tịnh
(năm Dân Quốc 20 -
1931 – đính kèm nguyên văn thư hỏi)
Trước
kia con đọc bài văn “kính tiếc giấy chữ” [của
lăo pháp sư], văn từ, nghĩa lư chánh xác, quả thật
là phương thuốc mầu nhiệm để cứu
chữa thói tệ đương thời. Theo như trong
bài Công Quá Cách của Văn Đế (Văn Xương
Đế Quân) có nói: “Dùng giấy có chữ bọc kinh, lót
mơ, [phạm] năm mươi lỗi”. Trước kia, con gởi
thư hỏi tiên sinh Nhiếp Vân Đài: “Nếu dùng giấy
báo để tập luyện thư pháp, viết xong đốt
đi, có mắc tội khinh nhờn hay chăng? Có nên dùng
để bọc kinh điển hay không?” Tiên sinh lại dạy
rằng: “Bỉ nhân cũng không tránh khỏi, nhưng
cũng chẳng dám nói lời quyết đoán, xin hăy hỏi
bậc cao tăng đại đức” v.v… Lại nữa,
trước kia, cư sĩ Phạm Cổ Nông đă đáp
lời hỏi của bỉ nhân như sau: “Kính tiếc giấy
chữ th́ dường như là đối với những
văn tự trong báo chí, phải phân biệt xem có phải
là kinh truyện của thánh hiền, có đáng để tôn
trọng hay không v.v…” Những thứ giấy có chữ thông
thường dùng để bao kinh sách, tập luyện
thư pháp có được hay chăng? Kính xin lăo pháp sư
quyết đoán một lời.
Ngoài ra, trong bài Công Quá
Cách của Văn Xương Đế Quân có nói:
“Đưa con đi xuất gia phạm năm mươi lỗi”,
nhưng kinh Phật cực lực tán dương công đức
xuất gia thù thắng. Do Văn Xương Đế Quân
quy y, tin tưởng Tam Bảo, từng được Phật
thọ kư, sao lại nói lời ấy rất mâu thuẫn với
ư chỉ trong kinh như thế, cũng rất mong cầu
lăo pháp sư phán định.
Dùng giấy có chữ để
bọc kinh hay lót mơ chẳng những là khinh nhờn giấy
có chữ mà c̣n là khinh nhờn kinh điển, khinh nhờn
đạo tràng! Ông là người đọc sách mà c̣n phải
hỏi người khác chuyện này mấy lần ư?
Dùng giấy báo để luyện viết chữ cũng
không phải là không được, nhưng chớ nên viết
bừa xóa loạn. Viết bừa xóa loạn sẽ trở
thành thiếu ư thành kính. Ông Cổ Nông nói xét theo giá trị của
chữ viết trên báo cũng gần hợp lẽ,
nhưng ai dùng cái tâm ấy? Kinh truyện của thánh hiền
đâu có chữ nào đặc biệt không dùng đến
những chữ thông thường! Công Quá Cách nói “đưa con em đi xuất gia
mắc lỗi” là nhằm ngăn ngừa thói tệ “kẻ ác do ác tâm ruồng bỏ
con em mà vẫn muốn được tiếng tốt”,
chứ không phải là chuyện cha - con, anh - em cùng phát Bồ
Đề tâm đưa nhau đi xuất gia mà cũng bị
tội. Tri kiến của ông hạn hẹp, chẳng hiểu
biết viên dung, nên mỗi chuyện trong thế gian đều
phải hỏi người khác nhiều lượt mà vẫn
chẳng thể giải quyết được! V́ sao vậy?
Do có Ngă Chấp. Tuy người khác đă giải mối
nghi này cho ông, ông lại do lời giải thích mà sanh nghi, Ngă
Chấp chẳng bỏ th́ làm sao theo lời người ta
cho được? Mấy câu nói ấy người hiểu
rơ lư cố nhiên chẳng cần phải bận ḷng suy tính,
v́ vốn đă tự hiểu rơ rồi. Nếu ông dùng tâm tư
ấy để học Phật pháp th́ suốt đời
cũng chẳng thể vượt ra lối ṃn t́nh tưởng
phân biệt được!
70. Thư trả lời cư sĩ Du Hữu
Duy
(năm Dân Quốc 26
- 1937)
Đọc thư ông gởi
đến, văn từ lẫn ư nghĩa đều hay,
không thể thay đổi được, nên chẳng ghi lời
phê. Ông hai mươi mốt tuổi, biết làm văn làm
thơ, chính là đời trước có thiện căn,
nhưng hăy nên khiêm tốn náu ḿnh, đừng cậy thông
minh khinh người, học vấn càng rộng răi, càng cảm
thấy không đủ th́ sự thành tựu sau này sẽ
khó thể suy lường được! Mười
năm trước, pháp sư Đế Nhàn có một đồ
đệ tên Hiển Ấm là người cực thông minh,
xuất gia năm mười bảy, mười tám tuổi,
nhưng khí lượng quá nhỏ, không chịu thua kém một
chút nào! Lần đầu tiên giảng Tiểu Ṭa[19]
xong, lễ sư phụ, sư phụ trọn chẳng chê
ông ta giảng không hay, chỉ nói âm thanh quá nhỏ. Do một
câu nói ấy liền ngă bệnh, mà ngài Đế Nhàn là
người một mực làm cho ông ta thường sanh tâm
hoan hỷ. V́ thế, [Hiển Ấm] tánh kiêu ngạo
tăng trưởng hằng ngày, hằng tháng. Sau này, qua Nhật
Bản học Mật Tông, những bài viết nhằm hoằng
dương Mật Tông của ông đều gởi đăng
trên tờ lâm san của Thượng Hải Cư Sĩ Lâm.
Ông tự đặt ḿnh vào vị trí cao cả, cho rằng
chỉ có ta là cao. Sau đó về nước, đến
chùa Quán Tông[20]
thăm thầy. Ngài Đế Nhàn nói: “Ông thanh danh rất lớn,
tiếc là chưa thật sự dụng công, hăy nên bế
quan ba năm để dụng công th́ mới nên”. Ông ta vừa
nghe câu nói ấy như dao cứa tim, ngay bữa ấy liền
sanh bệnh. Ngày hôm sau ôm cơn bệnh đi qua Thượng
Hải Cư Sĩ Lâm, được hơn một năm
liền mất.
Ông
ta mất không lâu, Quang đến chùa Thái B́nh ở Thượng
Hải, một thành viên của Cư Sĩ Lâm là Châu Thạch
Tăng đến thăm, hỏi t́nh h́nh lúc Hiển Ấm
mất, [ông Châu] nói: “Hồ đồ! Phật chẳng niệm
được, mà chú cũng chẳng niệm được”.
Đấy chính là hạng đại pháp sư hiển mật
viên thông, tự cảm thấy trong đời không có ai sánh
bằng, do không tự lượng, cậy vào huệ
căn đời trước, thành ra mới hai mươi
hai, hai mươi ba tuổi đă đoản mạng, chết
thành con quỷ hồ đồ, chẳng đáng buồn
quá đỗi ư? Nếu như Hiển Ấm chẳng tự
cao, khiêm tốn náu ḿnh th́ những học giả Trung Quốc
chưa chắc trỗi hơn ông ta được! Quang
thương Hiển Ấm do đó mà chết nên lấy chuyện
xe trước [bị đổ] để làm gương
cho ông.
Hiện
thời, Quang đă khổ không thể nói nổi, mục lực
lẫn tinh thần đều không đủ, hằng ngày
đă có người đến [hỏi han], lại c̣n
thư tín bốn phương, đừng nói chi chuyện
trả lời, chỉ đọc [không thôi] cũng phải
mất nhiều công sức. Quang ở Phổ Đà từ
năm Quang Tự 19 (1893) cho đến năm Dân Quốc thứ
năm (1916), hơn hai mươi năm khá yên vui, suốt
năm không ai đến thăm, không một lá thư nào gởi
đến. Từ năm Dân Quốc thứ sáu (1917), ông
Vương Ấu Nông đem một lá thư in ra mấy
ngàn bản, ông Từ Úy Như đem ba lá thư in ra mấy
ngàn bản, rồi năm sau lại in Văn Sao. Từ
đấy, một người truyền hư, vạn
người truyền thật. Lại do chẳng tự
lượng, khắc in các sách để mong lợi người.
Hai mươi năm qua, đúng là chuyên bận bịu v́
người khác, nay đă già rồi, mong bế quan làm kế
lánh phiền. Đối với công khóa sớm tối, ngoài
việc theo cả chùa thực hiện công khóa ra, mỗi tối
niệm thêm chú Đại Bi năm mươi lượt,
hoặc hai mươi lăm lượt. Ngoài ra, hễ lúc nào
rảnh th́ niệm Phật, chẳng nhớ số, bởi
nhớ số tốn sức.
Ông
có thời gian rộng răi, sức lực mạnh mẽ, hăy
nên nỗ lực nghiên cứu, tu tŕ pháp Tịnh Độ.
Đây chính là đại pháp để phàm phu liễu sanh tử
ngay trong đời này. Pháp này nếu không có túc căn th́
đừng nói là người tầm thường không thể
thấu hiểu triệt để, ngay cả bậc cao
nhân lỗi lạc triệt ngộ tự tâm thâm nhập
kinh tạng cũng quá nửa là không thể thấu hiểu
triệt để được! Do họ chẳng biết
đây là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp, đều
cứ chiếu theo nghĩa lư của các pháp môn thông thường
nên chẳng chịu tin. Hoặc là có người tin,
nhưng sợ chuyên hoằng dương Tịnh Độ,
người ta sẽ coi thường ḿnh, v́ thế chẳng
chịu đề xướng. Phải biết: Tu bất
luận pháp môn nào, nếu Phiền Hoặc chưa đoạn,
chắc chắn không liễu được sanh tử. Chỉ
có một pháp này, chỉ cần đầy đủ tín
nguyện liền có thể cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương. Ông chớ nên coi qua loa, mà phải
đọc kỹ nghĩ chín mới biết lời Quang
không lầm!
Hiện
nay, người giảng kinh cũng không ít, nhưng mỗi
người tùy theo ư ḿnh, ông nên tự tu tŕ ở chỗ [cư
sĩ Giang] Dịch Viên, đến khi đă có chủ ư rồi,
chẳng ngại ǵ tùy hỷ [tham dự] giảng ṭa của
các pháp sư. Ông phải tự thương ḿnh, Quang mến
ông, nên chỉ có lần này là viết hai trang, sau này cũng
không rảnh rỗi để răn dạy nhiều lần
được nữa đâu!
71. Thư trả lời Niệm Tây đại
sư
(năm Dân Quốc 20 -
1931)
Nhận được thư,
thấy một mực dùng những lời lẽ “đem
phàm lạm thánh” để khen ngợi, khôn ngăn hổ thẹn,
nên để đó không trả lời. Thêm vào đó, công việc
bận bịu, tinh thần lẫn mục lực đều
chẳng đủ, nên dùng biện pháp [làm lơ] ấy. Tiếp
đó, nghĩ tọa hạ thiên tư thông minh, mẫn tiệp,
chẳng học Giáo mà chăm tu Tịnh nghiệp, ắt
tương lai có thể kế thừa được các tổ
sư Khuông Lô[21] để
lợi ích khắp các chúng sanh, v́ thế, viết thư trả
lời. Những câu hỏi trong thư nếu nói tường
tận th́ quá tốn bút mực. Do vậy, đối với
lá thư gốc liền ghi vắn tắt vài chữ bên cạnh,
nhưng mắt già ḷa quáng, làm bẩn tờ hoa.
Thứ
nhất, Bảo Vương Luận[22]
do pháp sư Phi Tích[23]
đời Đường trước tác. Liên Tông Bảo
Giám[24] ghi
chép theo những lời ngoa truyền. Bảo Vương Luận
chia thành ba quyển, trong nguyên bản mỗi quyển gồm
bảy môn. Hiện thời quyển trung chỉ có sáu môn là
v́ người mắt sáng đời sau đă lược bỏ
môn “niệm Phật ít được
lợi ích như niệm Phật nhiều” (Đây là tên gọi dựa
theo ư
tưởng[25]). Trộm
nghĩ pháp sư Phi Tích thông hiểu rộng răi kinh tạng
và các sách vở. Thời ấy, chắc có kẻ ngụy tạo
ra sách có thuyết ấy, pháp sư v́ ḷng đại bi
chưa xét tường tận nên trích dẫn. Người
lưu truyền [Bảo Vương Luận] sau này sợ kẻ
vô tri đâm ra hiểu lầm, nên đặc biệt lược
bỏ đi, thật là thích đáng đến cùng cực!
Liên Tŕ đại sư cũng bác thuyết ấy. Có ai niệm
[câu ấy] th́ vẫn có công đức, nhưng chẳng
được ngờ nghệch cho rằng niệm một
câu Phật hiệu ấy vượt trỗi công đức
của người khác niệm [sáu chữ danh hiệu Phật]
suốt cả đời, như thế là lầm lẫn lớn,
làm người khác bị lầm chẳng cạn! Nếu một
người mỗi ngày niệm mười vạn câu, niệm
trọn một trăm năm, cũng chẳng bằng số
lượng [các vị Phật] trong một câu ấy. Kẻ
ngu tưởng đấy là nghĩa lư chân thật, đâm
ra khơi gợi cái tâm mong ngóng, lười nhác, biếng trễ
của họ. Bỏ đoạn văn ấy đi có công
đức lớn lao! Những nghĩa khác chẳng cần
phải nói tường tận.
Bảo
Vương Luận nằm trong sách Tịnh Độ Thập
Yếu. Nay tôi đem bản được in trong năm
ngoái gởi đi, chắc là được đại lợi
ích vậy. Bản khắc gỗ từ trước đến
nay đều là bản trích lược do môn nhân của
ngài Ngẫu Ích đại sư là Thành Thời biên soạn.
Do văn quá nhiều khó lưu thông, nên đặc biệt
trích lược. Nhưng đại sư Thành Thời thông
minh hơn người, quá tùy tiện, đọc đến
đâu trích lược đến đó, cũng chẳng
duyệt lại, nên đến nỗi trong bản ấy
sai sót tầng tầng lớp lớp. Có chỗ từ ngữ
chẳng diễn tả được ư, có chỗ khẩu
khí sai lầm, tán loạn, có chỗ văn từ và ư
nghĩa hoàn toàn mâu thuẫn (trong Tây Phương Hiệp Luận, trang bốn
mươi, ḍng thứ sáu, bỏ mất hai chữ Dụng
th́ văn và nghĩa hoàn toàn trái nghịch. Trong kinh (tức
kinh Bát Châu Tam Muội) này, hễ dùng với nghĩa là
Dĩ th́ đều viết thành Dụng. Sư Thành Thời
không suy xét, bỏ chữ Dụng đi[26]). Nếu
chịu đọc lại lần nữa, quyết chẳng
đến nỗi để sai sót đáng tiếc như thế.
Hơn nữa, lược bớt quá nhiều, chỉ c̣n
được hơn hai phần năm [nguyên tác]. V́ thế,
lúc đầu Quang bảo ông Từ Úy Như t́m kiếm
để khắc in; sau này may mắn mười thứ[27]
[kinh luận đă được chọn vào Tịnh Độ
Thập Yếu] đều t́m được, nên đặc
biệt đem in ra một vạn bộ. Xin hăy đọc
lời Tựa của Quang sẽ tự biết.
Thứ hai, nguyên văn ghi: “Niệm lớn thấy Phật
lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”, cổ
đức giải thích: “Niệm
lớn tiếng th́ thấy được thân đức
Phật lớn; niệm nhỏ tiếng th́ thấy
được thân đức Phật nhỏ”, cũng
có thể giải thích là: “Niệm
với cái tâm lớn th́ thấy được thân đức
Phật lớn; dùng đại Bồ Đề tâm niệm
Phật th́ sẽ thấy được Ứng Thân thắng
diệu của Phật, hoặc Báo Thân” (đây là thuyết của
Quang).
Lời này trích từ sách khác, chứ không sao lục trực
tiếp từ kinh Đại Tập[28]
ra. Quang sanh ra liền bị bệnh mắt, ngoài bốn
mươi tuổi chẳng thể thường xem kinh. V́
thế, chưa thể đọc hết toàn bộ Đại
Tạng. Kể từ năm Dân Quốc thứ bảy
(1918) đến nay, suốt ngày bận bịu trả lời
thư, đúng là không rảnh rỗi để xem kinh. Nay mục
lực yếu đến tột cùng, có lúc c̣n phải thức
đêm để lo tiếp chuyện bút mực ban ngày, khổ
sở hết sức. Tính năm sau ẩn dật vĩnh viễn,
chuyên tŕ Phật hiệu cho hết tuổi thừa!
Pháp
Niệm Phật há nên chấp chặt vào lề lối nhất
định, cổ nhân lập ra phương pháp giống
như tiệm thuốc có đủ các loại thuốc.
Cách dùng của chúng ta là phải phù hợp với tinh thần,
khí lực và thiện căn xưa kia của chính ḿnh. Niệm
Phật lớn tiếng hoặc nhỏ tiếng, hoặc [niệm]
Kim Cang, hoặc niệm thầm, không cách nào chẳng
được. Hễ hôn trầm chẳng ngại ǵ niệm
lớn tiếng để đẩy lùi cơn hôn trầm tán
loạn th́ cũng được. Nếu thường niệm
lớn tiếng ắt sẽ đến nỗi bị bệnh.
Đừng nói người thông thường chớ nên
thường [niệm] như vậy, dẫu người hết
sức khỏe mạnh cũng chớ nên thường
như thế. Trong một ngày, hễ nóng th́ bỏ bớt
áo, lạnh th́ mặc thêm áo, há nên đối với một
pháp niệm Phật để liễu sanh tử lại chấp
chết cứng [vào một pháp] nhất định, chẳng
chọn lấy pháp thích nghi, há có c̣n được gọi
là “biết pháp” hay chăng? Lại c̣n có người đề
xướng lần chuỗi nhớ số, cách này vừa
có lợi vừa có điều tệ. Lợi là mỗi một
câu niệm, lần một hạt, chẳng dễ dăi lướt
qua th́ tâm dễ quy về một mối. Điều tệ
là khi tịnh tọa mà lần chuỗi th́ tâm ắt khó an
định được, lâu ngày sẽ thành bệnh.
Hơn
nữa, tinh thần con người mỗi người mỗi
khác, há nên chấp vào một pháp, chẳng biết điều
chỉnh theo mỗi việc ư? Phàm là mọi người
cùng nhau tu tŕ nên căn cứ theo tinh thần của mọi
người để liệu định riêng biệt. Cá
nhân tu tŕ cũng phải chiếu theo tinh thần của
chính ḿnh mà định. Đâu có pháp chết cứng buộc
mọi người đều phải tuân thủ ư? Sau
khi dùng tinh thần đến tột cùng rồi, nếu
không lui sụt, lười nhác, ắt sẽ đổ bệnh.
Lượng theo sức ḿnh mà làm sẽ có ích, không bị tổn
hại.
Hoằng
Hóa Xă ở tệ xứ mang tánh chất lo liệu thay cho
người khác, những kinh sách đă in đều tính giá
tiền theo giấy mực và công thợ in, những khoản
chi phí ấn loát khác và các chi phí cần dùng đều chẳng
tính vào [giá] sách, cũng có khi hoàn toàn biếu không hay tính tiền
một nửa, nhưng chỉ là một số ít. Nay
đem những sách quan trọng mới được in gần
đây gởi cho tọa hạ mỗi thứ một phần.
Sau này, nếu lại muốn thỉnh sẽ căn cứ
theo danh mục mà tính toán giá cả để thỉnh từ
Hoằng Hóa Xă, cũng đừng có thuận tay gởi
thư cho Quang nữa! Từ mùa Đông năm ngoái, phàm với
những thư gởi đến, Quang đều nói: “Từ
rày đừng nên gởi thư đến nữa. Gởi
đến nhất định không trả lời, cũng
chẳng chấp thuận việc giới thiệu người
khác [xin] quy y [với Quang] để khỏi nhọc nhằn
quá mức đến nỗi mù mắt và hao tổn tánh mạng”.
Xem những câu hỏi của tọa hạ, đa phần
là do chẳng biết suy xét tường tận mà ra. Nếu
suy xét kỹ càng hơn, ắt chẳng cần phải hỏi
người khác! Những lời [tọa hạ] trước
sau khen ngợi [Quang], đáng tiếc là văn chương tuy
hay nhưng dùng lầm chỗ vậy!
72. Thư trả lời cư sĩ Châu Bá Tù
Nhận được thư từ
hôm trước, nhưng gần đây công việc khá bận
rộn, nên trả lời thư trễ năi. May là cả nhà
ông vẫn tu tŕ như cũ, thật là mừng rỡ, an ủi
lắm. Mấy năm nay tai họa xảy ra quá thường
xuyên, thật đáng nguội lạnh cơi ḷng, nói chung là do
ḷng người ngày càng bại hoại mà ra! Những
phương cách giúp cho nạn nhân có cái để gầy dựng
lại cuộc sống về sau đều là các phương
cách quan trọng để cứu giúp trong lúc ngặt nghèo,
nhưng cách này không phải là thường có. Nay để làm chuyện thường
có, đặc biệt lập ra một pháp, mong hăy thường
truyền bá th́ lợi ích vô cùng. Hiện thời là lúc t́nh thế
đại hoạn nạn, bất luận phú quư hay nghèo
hèn, già, trẻ, trai, gái đều nên niệm thánh hiệu “nam
mô A Di Đà Phật” và niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ
Tát” để làm căn cứ pḥng ngừa tai họa. Phàm
đao binh, nước, lửa, ôn dịch, sâu rầy, hạn
hán, lụt lội, thổ phỉ, cường đạo,
và các tai họa ngoài ư muốn, bệnh tật do oán nghiệp,
oan gia gặp gỡ v.v… nếu có thể chí thành niệm Phật
và niệm Quán Thế Âm chắc chắn sẽ gặp dữ
hóa lành. Dẫu là do định nghiệp tạo thành,
cũng có thể giảm nhẹ, chẳng đến nỗi
khốc liệt quá mức. Những tai họa ấy chẳng
phân biệt phú quư hay nghèo hèn. Nhưng người phú quư xem
ra c̣n khó chịu đựng hơn kẻ nghèo hèn; do vậy,
chớ nên v́ ta phú quư rồi coi thường, [cũng
như] v́ ta nghèo hèn bèn mặc kệ, chẳng lập kế
đề pḥng sẵn.
Hơn
nữa, pháp Niệm Phật đối với chuyện sống
lẫn chết của con người đều có lợi
ích. Thế gian chỉ biết đến lợi ích của
việc trợ niệm khi lâm chung, chẳng biết cái lợi
ích khuyên niệm khi sanh nở, đến nỗi rất nhiều
mẹ con phải chịu vô lượng khổ, hoặc
đến nỗi mất mạng, không cách ǵ cứu
được! Nữ nhân nếu có thể thường niệm
thánh hiệu Phật và Quán Âm từ nhỏ th́ về sau chắc
chắn chẳng bị nỗi khổ gặp tai biến
trong khi sanh nở. Hoặc vừa cấn thai liền niệm,
hoặc ba bốn tháng trước khi sanh bèn niệm, hoặc
đang sanh nở mới bắt đầu niệm, đều
được an nhiên sanh nở. Nếu sanh khó đến
cùng cực và sắp mất mạng, chịu niệm nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát, chắc chắn lập tức
được an nhiên sanh nở. Đừng nói lúc ấy
lơa lồ bất tịnh, nếu niệm sợ mắc tội
lỗi! Phải biết Quán Âm Bồ Tát đại từ
đại bi tầm thanh cứu khổ. Ví như thấy
con cái té vào lửa, nước, hầm xí, gọi cha mẹ
để cầu cứu, cha mẹ quyết chẳng v́ chúng
nó y phục không chỉnh tề, thân thể chẳng sạch
sẽ mà bỏ mặc không cứu.
Tâm
cứu chúng sanh của Bồ Tát sâu xa thiết tha hơn
ḷng thương yêu con cái của cha mẹ trong cơi đời,
đúng là gấp cả trăm ngàn vạn ức Hằng hà
sa lần! Do vậy, phụ nữ khi sanh nở có thể
niệm rơ ràng danh hiệu của Bồ Tát chính là diệu
pháp tối thượng cực kỳ linh nghiệm, hữu
hiệu vậy. Chẳng những không có tội lỗi mà
c̣n khiến cho cả mẹ lẫn con đều được
gieo đại thiện căn. Nghĩa này do đức Phật
Thích Ca đă dạy trong kinh Dược Sư, chứ không
phải do Bất Huệ bịa đặt. Phàm những ai
có niệm th́ không một ai chẳng được an nhiên
sanh nở. Gần đây người bị sanh khó quá nhiều,
một phần là do nghiệp chướng đời
trước, một phần là do đời này chẳng biết
tiết dục mà ra. Bồ Tát cứu khổ cố nhiên chẳng
tính đến người ấy [bị nạn] do nhân
như thế nào, đều b́nh đẳng cứu giúp.
Lúc
b́nh thường niệm Phật, tuy đi - đứng - nằm
- ngồi đều có thể niệm, nhưng lúc ngủ
chỉ nên niệm thầm trong tâm, chớ nên niệm ra tiếng.
Nếu lúc tỉnh giấc, áo mũ hăy c̣n chưa chỉnh tề,
tay lẫn mặt c̣n chưa rửa ráy, súc miệng, và khi tắm
gội, tiêu tiểu, và đến những nơi ô uế chẳng
sạch, chỉ nên niệm thầm trong tâm, đừng niệm
ra tiếng. Trong những lúc, những chỗ ấy, công
đức niệm thầm giống với công đức
niệm lúc b́nh thường. Niệm ra tiếng chẳng hợp
nghi thức. C̣n lúc sanh nở nhất định phải niệm
ra tiếng rơ ràng, chớ nên niệm thầm trong tâm, bởi
niệm thầm sức cảm ứng nhỏ nhoi. Lại
v́ lúc ấy phải dùng sức đẩy đứa con ra,
nếu niệm thầm trong tâm, do v́ bế khí sẽ có thể
thành bệnh! Không riêng ǵ sản phụ phải niệm rơ
tiếng mà những người chăm sóc ở bên cạnh
cũng đều phải niệm rơ tiếng. Dẫu cho
người nhà ở chỗ khác cũng vẫn có thể niệm
cho sản phụ ấy. Nếu pháp này được truyền
bá, thế gian sẽ vĩnh viễn không có nỗi khổ
v́ sanh sản, và nỗi khổ cả mẹ lẫn con
đều chết v́ sanh nở.
[Phải]
biết Phật pháp lợi khắp hết thảy, Phật
là cha mẹ đại từ bi, là trời của các vị
trời, là bậc thánh của chư thánh, do tâm đại
Bồ Đề lợi khắp hết thảy chúng sanh nên
được viên măn thành tựu. Trong đời có kẻ
nói giọng cao xa “chán nghe chuyện nhân quả báo ứng và
pháp siêng gắng tu tŕ”, chỉ lấy “hết thảy đều
là không, hết thảy chẳng chấp” làm bùa hộ thân,
chẳng biết đă chấp “hết thảy đều
là không, hết thảy chẳng chấp” th́ đă chẳng
phải là ư nghĩa “hết thảy đều là không, hết
thảy chẳng chấp” rồi! Huống chi kẻ ấy
mượn cớ đó để lấp liếm dấu vết
lười nhác, biếng trễ, chẳng chuyên chú thật
tu, chỉ là “bàn xuông, tranh cao”, đến khi nghiệp báo đă
chín muồi, Diêm lăo (vua Diêm La) sẽ dâng đồ cúng
dường tối thượng cho kẻ “hết thảy
chẳng chấp, hết thảy đều là không” ấy.
Không biết trong lúc ấy, [kẻ đó] c̣n có thể “đều
là không, đều chẳng chấp” được hay
chăng? Chúng ta nên kính nhi viễn chi đối với những
kẻ ấy, để khỏi phải nhận sự cung
kính cúng dường tối thượng của Diêm lăo vậy!
73. Thư trả lời cư sĩ
Đường Năng Thành
Hôm qua nhận được
thư, biết nỗi thảm do thổ phỉ gây ra tại
Tứ Xuyên, khôn ngăn người ta phải than dài sườn
sượt. Tôi thường nói: “Nhân
quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân
trị thiên hạ, để Phật độ chúng sanh”.
Từ đời Tống, họ Tŕnh, họ Châu do đọc
kinh Đại Thừa nhà Phật, thân cận bậc thiện
tri thức Thiền Tông, biết đại khái nghĩa lư “toàn sự chính là lư, hết thảy
duy tâm”, liền chấp bừa vào ư kiến của chính
ḿnh, chấp lư bỏ sự để làm ra vẻ chính ḿnh
kiến thức cao siêu, quá sợ người đời
sau biết được [do đâu] họ có được
[kiến giải ấy] nên đem ḷng đen tối báng Phật,
nói nhân quả báo ứng, lục đạo luân hồi do đức
Phật đă dạy chính là căn cứ để lừa
dối bọn ngu phu ngu phụ tin thờ giáo pháp của
Ngài, chứ thật ra không có chuyện ấy. Con người
chết rồi, h́nh hài đă mục nát, thần hồn
cũng phiêu tán; dẫu có chém, chặt, xay, giă th́ lấy ǵ
để làm? Lại do thần hồn đă tiêu tan rồi,
có ai để thác sanh nữa đây? Từ đấy trở
đi, phàm là nhà Nho hễ kẻ nào hiểu biết cao xa th́
ai nấy đều lén xem kinh Phật, nhưng đều
cực lực báng Phật; kẻ hiểu biết thấp
kém bèn hùa theo người khác dấy lên kiến giải
điên đảo, từ sống đến chết chẳng
được lợi ích nơi Phật pháp, từ sống
đến chết thường tạo nghiệp báng Phật.
Học
thuyết của họ Tŕnh, họ Châu vừa được
lưu hành th́ Nho gia vâng giữ như khuôn vàng thước
ngọc, c̣n chuyện họ Tŕnh, họ Châu trái nghịch
tiên thánh (thánh
nhân Nho giáo) th́ cả cơi đời không ai chịu nói
đến! Sau này, nhà Nho nào nói ngược với Tŕnh, Châu
sẽ không thể đứng vững được trong
khoảng trời đất. Do vậy, nhà Nho chẳng dám
nói nhân quả luân hồi, nói ra sẽ bị người ta
công kích. Lại muốn sau này lỡ ra có thành tựu, muốn
được dự vào Hương Hiền Từ (miếu
thờ bậc hiền tài trong làng) hay trong Văn Miếu, nếu
nói đến nhân quả luân hồi th́ hai đằng đều
tuyệt vọng! Từ đấy, hoàn toàn thủ tiêu căn
bản trị quốc b́nh thiên hạ, cậy xuông vào “chánh
tâm thành ư” để trị [thiên hạ]. Phải biết: Nếu
có nhân quả luân hồi th́ kẻ chưa thể chánh tâm
thành ư vẫn gắng sức làm. Không có nhân quả luân hồi
th́ chỉ có bậc đại hiền mới có thể chánh
tâm thành ư; c̣n những kẻ khác do không có ǵ để sợ
hăi, không có ǵ để mong mỏi, lẽ đâu lại
khăng khăng chánh tâm thành ư hay sao?
Tŕnh
- Châu đề xướng chánh tâm thành ư là do học
được diệu nghĩa của Phật pháp, nhưng
để phô tỏ cái trí của chính ḿnh, bèn ngược
ngạo cực lực chê trách Phật. Như vậy là họ
đă chánh tâm thành ư nơi chỗ không quan trọng, khẩn
yếu, hoàn toàn chẳng mảy may nào chánh tâm thành ư nơi
chỗ quan trọng, khẩn yếu lớn lao! Dùng đây
để tạo thành cái danh cho chính ḿnh, di hại cho thiên hạ
đời sau. Gần đây tai họa liên tục xảy
ra, dân không lẽ sống, đều là do chất độc
của học thuyết Tống Nho bạo phát, ông có biết
hay chăng?
Niệm
Phật, tụng kinh th́ lấy sự chí thành làm gốc, có
xướng tán hay không chẳng quan hệ ǵ! C̣n với chuyện
tụng một quyển kinh Pháp Hoa, rất tốt, nhưng
đối với người bận bịu và già cả, hăy
nên thường tụng Tịnh Độ Ngũ Kinh th́ sẽ
hiểu biết đại lược nguyên do của pháp
môn Tịnh Độ. Niệm Phật th́ phải trong tâm niệm
cho rành rẽ, miệng niệm cho rành rẽ, tai nghe cho rành
rẽ, từ sáng đến tối niệm th́ từ sáng
đến tối nghe, so với những kẻ tham niệm
nhiều, tham niệm nhanh nhưng hồ đồ không rơ ràng,
công hiệu khác xa lắm! Nay gởi cho ông một gói Tịnh
Độ Ngũ Kinh, ai có ḷng tin, có thể cung kính th́ tặng
cho họ những cuốn c̣n dư ra. Chớ dùng cách đọc
sách Nho để xem kinh Phật th́ mới được lợi
ích, tránh khỏi tội khiên. Nếu không, cái tội khinh nhờn
sẽ lớn hơn công đức đọc tụng
đấy!
74. Thư trả lời cư sĩ Tịnh
Chi
(năm Dân Quốc 25
- 1936)
Buổi tối hôm trước
nhận được thư, do mục lực không đủ
nên chẳng xem được. Trong hai ngày nay lại do phải
lo toan chuyện khác không rảnh rỗi nên quên mất. Buổi
chiều, ngẫu nhiên kiểm thấy mới biết là muốn
thỉnh sách và có gởi chi phí cho Quang, liền bảo Hoằng
Hóa Xă gởi sách theo đúng số lượng. Ngoài ra c̣n [nhờ
họ] gởi giùm cho Quang thêm bốn gói sách nữa. Quang già
rồi, mục lực không đủ, một mực chẳng
quan tâm đến chuyện bên ngoài, cũng chẳng có môn
đ́nh pháp phái, mặc ai nói hay kể dở, Quang cũng chẳng
muốn quan tâm đến. Ông đă thờ Quang làm thầy,
chẳng ngại ǵ nói cách điều ḥa các pháp môn cho ông
nghe. Hăy nên dùng cái tâm chí công chí chánh, dùng ngôn ngữ chí công chí
chánh để khuyên dụ th́ là phước cho pháp môn vậy.
Nếu do sự kính yêu của chính ḿnh [mà làm] th́ hoàn toàn
không có chút ǵ đáng bàn nữa! Khiến cho người khác
bất măn hoàn toàn hủy báng thiện tri thức, tạo
nghiệp địa ngục th́ vốn nhằm ḥa hợp pháp
môn lại đâm ra trở thành kéo bè kết lũ những
người cùng ư kiến [với ḿnh] để công kích những
người khác ư kiến [với ta], đâm ra hộ pháp trở
thành hoại pháp, tâm tốt chẳng đạt được
quả báo tốt vậy! Nếu như vậy th́ ông thấy
người ta là kẻ đáng thương xót, người
ta cũng thấy ông là kẻ đáng thương xót, ngay cả
bậc cao tăng đáng tôn trọng chí cao vô thượng
tuyệt đối chẳng thể dị nghị ǵ
được cũng trở thành kẻ đáng
thương luôn!
Do
vậy, Khổng Tử dạy kẻ chánh tâm thành ư th́ phải
trí tri (thấu hiểu cặn kẽ), [muốn] trí tri th́ phải
cách vật (trừ khử vật dục). Không “cách vật”
th́ giống như đeo kính màu xanh, đỏ v.v… phàm những
màu được thấy đều chẳng phải là
màu thật sự của nó. Do có tư dục làm chủ nên
chết ch́m vào một bên, chẳng thấy chân lư của sự
việc, thấy điều đúng của người
khác trở thành sai! Phàm đối với những chuyện
trị thế tu đạo đều nên lấy lời
này làm khuôn phép, đừng coi là hủ bại rồi xem
thường!
75. Thư trả lời cư sĩ Giang Cảnh
Xuân
(hai lá thư)
(năm Dân Quốc 22
- 1933)
1) Cầu cơ[29]
chính là tác dụng của linh quỷ. Chúng xưng là vị
Phật này, vị Bồ Tát nọ, vị tiên kia đều
là giả mạo danh các ngài. Nếu chân tiên ngẫu nhiên
giáng cơ th́ sợ rằng trong trăm ngàn trường hợp
chẳng được lấy một, huống ǵ là Phật,
Bồ Tát! Dùng cầu cơ để đề xướng
Phật pháp tuy có lợi ích nho nhỏ, nhưng về
căn bản đă sai lầm! Người học Phật
chân chánh quyết chẳng nhờ vào cách này để đề
xướng Phật pháp, v́ sao vậy? V́ đấy là tác dụng
của quỷ thần. Nếu có linh quỷ thông minh th́ họa
may c̣n chẳng đến nỗi làm hỏng chuyện, chứ
nếu là một con quỷ hồ đồ giáng cơ, ắt
sẽ làm hỏng chuyện lớn! Người ta do lời
giáng cơ bị hỏng chuyện lớn liền nói Phật
pháp sai lầm, th́ đề xướng kiểu ấy
chính là đầu mối để phá diệt Phật pháp!
Ông cho là bị mất lợi ích, hỏi có tội hay không tội
th́ biết ông hoàn toàn chẳng biết chân nghĩa của
Phật pháp, đáng than thở quá đỗi!
Trong
thời Đạo Quang - Hàm Phong (1821-1861) nhà Thanh, tại phủ
Quảng Tín, tỉnh Giang Tây có một viên Hàn Lâm[30]
tên là Từ Khiêm, tự Bạch Phảng. Người ấy
sống đến chín mươi sáu tuổi, lúc mất
thiên nhạc vang lừng trên không, ấy là sanh lên trời vậy!
Ông ta không biết đến pháp môn Tịnh Độ, đối
với địa vị Phật, Bồ Tát, trời, hay tiên,
ông ta đều chẳng phân biệt rơ ràng! Một vị
lăo tăng ở Phổ Đà là môn nhân nhỏ tuổi nhất
của ông ta đă kể cho Quang nghe câu chuyện này thật
tường tận. Ông ta có trước tác cuốn Hải
Nam Nhất Chước (một giọt nước Hải
Nam), [trong sách ấy] coi quyển trung, quyển hạ ngụy
tạo của Tâm Kinh giống như Tâm Kinh, lại chép lời
giáng cơ cầu mưa ở Tứ Xuyên, [trong ấy] nói
Quán Âm quỳ trong điện Ngọc Đế[31] cầu
mưa. Đủ biết lời cơ nói xằng tán nhảm
và tri kiến của ông ta đều là tà - chánh chẳng
phân!
Ông
cho rằng “không cầu cơ sẽ đánh mất lợi
ích”, chẳng biết cái họa của việc ấy là có
thể đến nỗi diệt pháp ư? Từ Khiêm là
người chuộng điều thiện tin Phật,
nhưng thật sự chẳng hiểu rơ Phật lư, chẳng
thích làm quan, ở nhà dạy người làm lành, cũng tự
cầu cơ, dạy đệ tử của chính ḿnh cầu
cơ. Mọi người đều chẳng biết cội
nguồn của cầu cơ và cội nguồn của Phật.
Đương thời, một vị Cử Nhân ở Nam
Xương (tỉnh Giang Tây) cũng có hành vi giống
như Từ Khiêm. Môn nhân của ông Cử Nhân này cầu
cơ khám bệnh tại tỉnh thành rất linh. Mẹ
quan Tuần Phủ mắc bệnh, thuốc men vô hiệu,
có người thưa ông X… đó cầu cơ khám bệnh
linh lắm; do vậy, bèn mời đến thăm bệnh.
Kê toa, uống thuốc vào người bệnh chết ngay.
Vội vàng đem toa thuốc cho thầy lang coi, th́ ra trong ấy
có vị thuốc công phạt. Do vậy, bắt ông ta đến
hỏi. Ông ta thưa: “Đây chính là do thầy tôi là ông Y… dạy”.
V́ thế, quan Tuần Phủ bắt đền thầy ông
ta, bảo: “Ngươi dối đời hại người”,
giết chết thầy ông ta. Từ Khiêm nghe chuyện ấy,
răn dạy bọn môn đồ từ rày đừng cầu
cơ nữa!
Ông
cho “không cầu cơ th́ pháp thiếu duyên”, trong tâm chấn động
sôi sục, chẳng biết cái họa của cầu cơ
lớn tầy trời, công đức khuyên người của
nó chẳng thể bù đắp được! Bậc chánh
nhân quân tử quyết chẳng bước vào đàn tràng ấy.
Cuối đời Minh, ở Tô Châu có một người cầu
cơ, có bảy tám môn đồ. Một ngày nọ, cơ
giáng nói Phật pháp, khuyên người niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, so với những ǵ cơ đă nói
trước kia hoàn toàn khác hẳn. Sau đấy, lại giáng
cơ giống như vậy hơn hai mươi lần nữa,
sau cùng mới lại nói “cầu cơ chính là tác dụng của
quỷ thần, ta là vị X… đó, sau này sẽ không đến
nữa, các ông chớ nên cầu cơ nữa!” Chuyện ấy
được chép trong Tây Phương Xác Chỉ[32].
Năm
đầu Dân Quốc (1911), ở Hương Cảng có
người cầu cơ, nói là đại tiên Hoàng Xích Tùng
[giáng cơ] xem bệnh cực linh. Có kẻ trọn chẳng
c̣n lẽ sống, cầu vị tiên ấy dạy cho một
phương thuốc. Thuốc ấy cũng là tùy tiện
nói ra một loại nào chẳng quan trọng lắm,
nhưng hễ uống vào liền lành bệnh. Hoàng Tiểu
Vỹ hâm mộ đến học, học được
cách [cầu cơ] nhưng hễ vịn cơ, cơ liền
không chạy. Người khác hỏi th́ cơ dạy niệm
kinh Kim Cang bao nhiêu biến đó rồi lại vịn
cơ, làm theo th́ cũng rất linh. Nhân đó, thường
khai thị pháp môn Niệm Phật. Bọn ông Vỹ liền
muốn lập đạo tràng Niệm Phật, cơ dạy:
“Nên để ba năm nữa rồi mới lập”. Ba
năm sau, bốn năm người bọn họ lên
Thượng Hải thỉnh kinh sách, năm sau đến
quy y, lập ra Đa Đa Phật Học Xă, đem
chương tŕnh niệm Phật gởi cho tôi: Niệm Phật
xong, niệm Quán Âm, Thế Chí xong, lại niệm thêm một
vị tên là Đa Đa Ha Bồ Tát. Quang hỏi: “Làm sao có
được danh hiệu ấy?” Bọn họ bèn thuật
lai lịch, nói là trước kia cơ xưng là đại
tiên Hoàng Xích Tùng[33],
sau dạy tu pháp môn Tịnh Độ, đến cuối
cùng mới cho biết rơ gốc gác là Đa Đa Ha Bồ
Tát, lại răn vĩnh viễn không được cầu
cơ nữa.
Hai
chuyện này do một người đệ tử sưu
tập những pháp ngữ Tịnh Độ, [soạn
thành sách] đặt tên là Tịnh Độ Tập Yếu[34], Quang
bảo đem hai chuyện ấy ghi kèm vào đằng sau.
Nay gởi cho ông ba bản, đọc rồi sẽ tự
biết (với
Đa Đa Ha Bồ Tát, Quang bảo họ lập riêng một
điện để thờ phụng, chớ nên kèm thêm vào
nghi thức Niệm Phật để khỏi làm cho người
khác nghe rồi dị nghị). Dự vào liên xă niệm
Phật th́ một là phải bôn ba, hai là phải bỏ công
chuyện hiện thời. Ở nhà tùy phần tùy sức niệm
Phật, lợi ích rất lớn. Mỗi tháng một lần
hoặc hai lần, đề xướng diễn thuyết
trong liên xă khiến cho mọi người biết
được pháp tắc, lợi ích, c̣n lúc b́nh thường
cần ǵ cứ phải hằng ngày đến liên xă niệm
Phật? Đây chính là ư kiến chánh của Quang kể từ
khi lập Niệm Phật Lâm Xă đến nay.
Đệ
tử Phật há nên kỷ niệm những thánh đản
của Đạo Giáo? Nếu nói là [thói quen] thế tục
lưu truyền khó dứt th́ vẫn nên lấy niệm Phật
làm chánh. [Thần thánh trong] Đạo Giáo thuộc về
thiên, tiên, quỷ thần, là một trong ba thứ đó. V́
họ niệm Phật chính là để tăng trưởng
thiện căn xuất thế cho họ, tiêu diệt ác nghiệp
đời trước cho họ. Ông chẳng thấy trong lời
hồi hướng khóa sáng có câu: “Hồi hướng hộ pháp chúng long thiên, thủ hộ
già lam chư thánh chúng” (hồi hướng cho các trời
rồng hộ pháp, các vị thánh ǵn giữ, bảo vệ
nhà chùa) đó ư? Phương
Phật
pháp suy vi đều là do tục tăng chẳng biết Phật
pháp, dùng những kinh ngụy tạo như Huyết Bồn
Kinh, Thọ Sanh Kinh để làm đạo trọng yếu
nhằm cầu tiền tài. Từ đấy, những “Phật
sự” như phá huyết hồ, phá địa ngục,
hoàn tiền thọ sanh, gởi kho v.v… ngày thấy càng nhiều.
Tuy lừa được tiền của kẻ ngu,
nhưng lại khiến cho người có học vấn hiểu
rơ lư lẽ thế gian nhưng chẳng biết chân lư Phật
pháp hủy báng. Tục tăng chỉ cốt được
tiền, chẳng đoái hoài cái họa hoại diệt Phật
pháp sâu xa của những loại “Phật sự” ấy. Nếu
gặp kẻ có chân tri chánh kiến đem chi phí làm những
thứ “Phật sự” ấy để [dùng vào việc] niệm
Phật th́ lợi ích lớn lắm!
2) Thư chuẩn bị xong,
pháp danh của hai mươi bốn người mỗi tên
đều ghi ra giấy riêng. Quy y tuy dễ dàng, nhưng chớ
nên vẫn giữ chương tŕnh của ngoại đạo.
Quang mục lực lẫn tinh thần đều chẳng
đủ, chẳng thể khai thị nhiều. Nay gởi
hai mươi bốn cuốn Gia Ngôn Lục, mỗi người
một cuốn, ba mươi tờ “Một Bức Thư
Gởi Khắp”, mỗi người một tờ, số
c̣n dư tùy ư đem tặng, ba bản Tịnh Độ Tập
Yếu, ba cuốn Sức Chung Tân Lương, hai loại
này dùng để giúp cho việc đề xướng.
Hăy
nên bảo với bọn họ: Đă quy y Phật pháp làm
đệ tử Phật, ắt phải giữ vẹn luân
thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng
tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành, giữ tâm lành, nói lời lành, làm chuyện
lành, hành như vậy mới là đệ tử Phật thật
sự. Nếu miệng tuy niệm Phật, nhưng tấm
ḷng chẳng lành sẽ tương phản với khí phận
của Phật, chẳng thể được lợi ích
thật sự nơi niệm Phật! Hăy nên thường
xem Gia Ngôn Lục th́ tất cả lợi ích của pháp môn
sẽ đều biết rơ từng điều. Thêm nữa,
Một Lá Thư Gởi Khắp chính là nghi thức, quy cách
giản tiện để tu tŕ hằng ngày. Bài văn ấy
văn từ tuy thiển cận, nhưng lư thật thâm sâu,
hăy nên dùng làm của báu gia truyền vĩnh viễn. Những
điều khác đă nói tường tận trong Gia Ngôn Lục,
ở đây không viết cặn kẽ nữa.
76. Thư trả lời cư sĩ X…
Con người sống trong thế
gian, quư ở chỗ giữ bổn phận. Phàm hết thảy
những kẻ phát điên phát cuồng thậm chí thường
hay sanh ḷng bi quan, thường muốn tự sát, đều
là do chẳng tu thật hạnh, muốn được
đại hạnh phúc, mọi chuyện đều như
ư, tài, sắc, danh vị đều hơn người. Nếu
đời trước tu tŕ có si phước, được
thỏa ḷng mong mỏi ấy, bèn kiêu ngạo, xa xỉ, dâm
dật, không ǵ chẳng làm. Cái họa như thế so với
chuyện tự sát c̣n nặng gấp vạn lần! May là
chưa đạt được, nên c̣n chưa đến
nỗi khốc liệt như thế. Ông muốn tiêu phiền
năo ấy, hăy nên mọi chuyện đều giữ phận,
chẳng nên dấy lên mảy may vọng niệm nào muốn
vượt ngoài bổn phận!
Tùy
duyên làm việc, nếu làm tôi tớ của người
khác, ắt phải tận hết chức phận tôi tớ
của ta, chẳng lấy đó làm thẹn, và ôm giữ tấm
ḷng “ta vốn chẳng có tư cách làm tôi tớ, nay
được làm tôi tớ, ta phải tận hết chức
phận làm tôi tớ của ta”, chẳng sanh tâm hợm ḿnh
khinh người. Chủ nhân biết đến ta, ta
cũng chẳng vui. Chủ nhân không biết, ta cũng chẳng
bực. Ta trọn hết phận ta, biết hay không mặc
người! Tâm không so đo, ḷng không uất ức. Làm tôi
tớ như thế, chủ sẽ tôn kính như thầy,
chẳng dám coi như tôi tớ. Nếu v́ ta khéo tận hết
chức phận tôi tớ của ta, người khác chẳng
dám coi ta là tôi tớ, kính trọng ta như thầy, ta vẫn
chẳng khởi cái tâm tự cao tự đại, biết
tớ hay thầy đều là giả danh, tận hết
chức phận của ta mới là thật hạnh. Chỉ
sợ hạnh chẳng xứng với danh, mặc kệ
người ta đăi ngộ [như thế nào]. Bậc
đại nhân thời cổ tuy gặp lúc cùng quẫn chẳng
thể sống được, cũng chẳng có ư niệm
lo buồn, uất hận, dẫu cho sang quư như bậc
thiên tử, giàu trùm thiên hạ, vẫn giữ thái độ
như kẻ nông phu nơi rẫy bái. Đấy gọi là “phú quư bất năng dâm, bần
tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
(phú quư chẳng phóng túng, nghèo hèn chẳng đổi dời
[ư chí], oai vũ chẳng khuất phục), nên người
quân tử v́ vậy luôn thản nhiên, thảnh thơi! Nếu
không, kẻ tiểu nhân cứ thường phải lo
nghĩ!
Ông
muốn cầu Quang trừ căn bệnh của ông,
nhưng đối với những chữ [ông dùng] trong lá
thư này, đúng là phải dần dần châm chước
mà xem mới hiểu được đó là chữ ǵ, mới
hiểu thư nói về ư ǵ. Do vậy, Quang biết ông chí lớn,
ăn nói lớn lối, chứ tuyệt đối chẳng
chú trọng tận lực làm. Nếu yên phận chẳng
khoe khoang, nào chịu nêu ra yêu cầu lớn nhất, dùng những
chữ hết sức khó nhận biết này, khiến cho
người khác phải tốn khá nhiều tâm tư để
đọc thư của ḿnh, v́ ḿnh lập cách giải quyết
nỗi sầu muộn cho ḿnh! Nếu ông có địa vị
lớn th́ hết thảy những lời phê phán không biết
sẽ choáng lộn, cầu kỳ đến đâu! Như
chữ viết của ông Phùng Mộng Hoa, viết mười
bức thư có đến chín bức người khác chẳng
nhận biết được toàn bộ mặt chữ,
đến nỗi con chết, cháu chết, đứa cháu
nuôi để nối ḍng cũng chết, quá nửa là do chữ
viết vậy. Ông đừng coi đó là điều lạ
lùng, đặc biệt!
Phàm
viết chữ phải sao cho người ta vừa nh́n liền
hiểu ngay th́ mới là cái tâm của vị đại quân
tử vừa lợi người vừa tự lợi. Ông
Phùng gởi thư cho Quang, Quang phí rất nhiều công phu chỉ
nhận được [mặt chữ] tám phần. Quang viết
lại cho ông ta, nói: “Thư của ông Quang chỉ đọc
được tám phần, nhưng cũng hiểu ư. Nếu
là người không thông thạo mặt chữ cho lắm
th́ sẽ bị hư chuyện không ít! Mong từ rày đừng
dùng kiểu đó nữa để mong lợi khắp mọi
người”. Về sau, ông ta viết thư cho Quang, dùng lối
chữ Khải, Quang cho rằng ông ta đă đổi thói
quen. Hỏi tới người khác th́ ra ông ta vẫn giữ
nguyên thói cũ. Ông đă phẫn chí muốn tự sát, sợ
rằng những ǵ Quang nói ông chẳng cho là đúng!
Trước
kia một sĩ quan là người huyện Phiền Trĩ
tỉnh Sơn Tây, họ Tục, do quốc gia chẳng
được thái b́nh, đến lăng của Tôn Trung Sơn
(Tôn Văn) mổ bụng, được người khác
cứu nên chưa chết. Một đệ tử nghĩ
là ông ta do đau ḷng cho đất nước nên tự sát,
liền đặc biệt khuyên ông ta đến Tô Châu quy
y. Ông ta ở Tô Châu nhiều ngày, vợ con cũng đi
theo. Một bữa nọ, dẫn con gái và đứa hầu
đi theo, đứa con gái đă lên mười, đứa
hầu đă gần ba mươi. Ông ta tṛ chuyện với
Quang, đứa con gái và đứa hầu chơi giỡn.
Ông ta quở mắng, đứa con gái không nghe, liền nổi
giận quát mắng. Chúng hơi yên lặng được
một khắc, lại nghịch giỡn. Quang hiểu ông
ta chỉ biết uất đời, chứ hoàn toàn chẳng
có tài giữ yên cơi đời. Chỉ có một bé gái ở
chỗ Quang mà c̣n không kiềm giữ được, huống
chi là cầm quân! Chẳng thể dạy con cái làm sao huấn
luyện binh sĩ được? Nói chuyện này, sợ
ông chẳng cho lời Quang nói là đúng, nên mới nêu ra một
chứng cớ.
Nay
gởi cho ông một bộ An Sĩ Toàn Thư, một cuốn
Liễu Phàm Tứ Huấn (văn chương lẫn nghĩa lư đều
chu đáo đến cùng cực), một cuốn Gia Ngôn Lục,
một cuốn Tọa Hoa Chí Quả[36],
một cuốn Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, một
bộ Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, hễ lắng ḷng
đọc ắt sẽ mong thật hành. Đừng đọc
theo kiểu cưỡi ngựa vùn vụt xem đèn, th́ mọi
chuyện trước kia sẽ giống như đă chết
từ hôm qua, mọi sự từ rày sẽ giống như
được sanh trong hôm nay. Phàm những tập khí
trước kia chẳng để chớm lên trong tâm nữa,
ngơ hầu mong thành thánh thành hiền. Tiến thêm nữa là
niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ liễu sanh
thoát tử siêu phàm nhập thánh, măi măi ĺa các khổ, thường
hưởng pháp lạc.
Quang
già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều
không đủ, bất luận ông nghĩ là đúng hay sai
cũng đừng gởi thư đến nữa,
cũng như chẳng chấp thuận ông giới thiệu
người khác đến quy y. Nếu thỉnh kinh nơi
Hoằng Hóa Xă cũng đừng gởi kèm thơ cho Quang.
Gởi riêng hay gởi kèm đều chẳng trả lời
v́ chẳng có mục lực lẫn tinh thần để
thù tiếp. Cổ nhân nói: “Bậc
quân tử tận lực thực hành th́ được một
câu nói tốt lành sẽ thọ dụng suốt đời
không hết. Nếu chẳng chăm chú tận tụy thực
hành, dẫu đọc hết sách vở thế gian, đối
với chính ḿnh vẫn vô ích!” Như rồng thật hễ
được một giọt nước liền có thể
làm mưa khắp cả thế giới; rồng đất
dẫu ngâm trong nước cũng chẳng khỏi cái họa
táng thân!
77. Thư trả lời cư sĩ Giang Hữu
Bằng
Bài Đại Học Tán (ca ngợi
sách Đại Học) rất hay, nhưng Quang có mắt
như mù, sư Đức Sâm suốt hai ba năm lo việc
tài sản nhà chùa ở Giang Tây[37],
mệt nhọc đă thành bệnh, chẳng dám dụng tâm.
Người trong Hoằng Hóa Xă không có công phu học thức
ấy, chẳng thể đứng in giùm những trước
tác của cha ông được! Khi đă gom thành sách, hăy tự
đứng ra in. Nay đem bài tán này và những bản thảo
trước đây gởi lại để khỏi bị
thất lạc. Hữu Trinh giữ ḷng trinh, nhưng vẫn
c̣n chú ư đến thuốc men, đáng gọi là kẻ si!
Những hành động sợ hăi, băn khoăn cho sự
đói lạnh ấy đều là do vọng tâm “đang
hưởng phước mà không biết là có phước”
gây nên. Nếu chịu nghĩ: Giả sử ta sanh vào nhà
nghèo túng, suốt ngày quanh năm bận bịu cơm áo mà vẫn
khó được thỏa nguyện th́ chẳng muốn làm
người nữa hay chăng?
Cổ
nhân nói:
Tha kỵ tuấn mă,
ngă kỵ lư.
Tồn tế tư
lượng ngă bất như.
Hồi đầu hựu
kiến thôi xa hán.
Tỷ thượng bất
túc, hạ hữu dư
(Tạm
dịch:
Người
cưỡi ngựa, ta cưỡi lừa,
Xét
soi cho kỹ, ta thua xa người
Ngoảnh
đầu thấy gă đẩy xe,
Nh́n
lên thua kém, dưới ai bằng ḿnh?)
Đây
lời đề thơ cho bức tranh Hành Lạc. Trong bức
tranh ấy, phía trước là một người cưỡi
ngựa, ở giữa là một người cưỡi lừa,
phía sau là một người đẩy xe. Nếu Hữu
Trinh hiểu được ư này, nhất tâm cầu sanh Tây
Phương, sẽ lành bệnh si, chánh trí mở mang th́ mới
đáng gọi là Huệ Trinh. Nếu không, sẽ thành Si
Trinh! Trinh đă kèm theo si th́ sanh về Tây Phương cũng
chẳng dễ dàng đâu! Chịu uống phương thuốc
này th́ may mắn lắm!
Về
giấc mộng của ông th́ chính là do tâm ông biến hiện,
không dính dáng chi đến Quang! Quang là một ông Tăng tầm
thường chỉ biết cơm cháo, làm sao hiện trong
giấc mộng của người khác cho được?
Nghi vấn của Du Hữu Phương và những ǵ nói
trong mộng phù hợp với những ǵ đă được
viết trong thư Quang, đấy là Bồ Tát chỉ dạy
ông ta ḥng sanh chánh kiến. Kinh dạy: “Nên hiện thân nào để độ được,
liền hiện thân ấy để thuyết pháp”, núi,
sông, cây, cỏ, cầu, bến, đường, nẻo,
người, ngựa, binh, tướng, không ǵ chẳng tùy
cơ mà hiện! Nếu nói đấy chẳng phải là Bồ
Tát hiện mà chắc là do Quang hiện th́ núi, sông, cây, cỏ,
cầu, bến, đường, nẻo, người, ngựa,
binh, tướng cũng có thể hiện mộng cho
người, có lư ấy hay chăng? Ông đừng có si dại
tưởng là Quang. Nếu si dại cho là Quang sẽ thành
ra “đem phàm lạm thánh”, th́ ông lẫn Quang đều mắc
tội chẳng cạn đâu, nhớ kỹ nhé!
Căn
bệnh lắc đầu của cha ông chính là dấu vết
cho thấy chẳng thể lành bệnh, nhưng do niệm
Phật sẽ có thể được lành bệnh. Ông muốn
cụ được hết bệnh hoàn toàn th́ cũng có
cách. Ông cùng Huệ Trinh và vợ ông ba người chí thành niệm
Quán Âm cầu gia bị. Nếu thật sự chí thành, chắc
chắn cụ có thể lành bệnh v́ cha con có sẵn mối
liên quan bẩm sanh. Năm Dân Quốc thứ 10 (1921), ông
Hoàng Hàm Chi và vợ ăn chay trường, bà mẹ tám
mươi mốt tuổi, khuyên cụ ăn chay, cụ
không mở miệng. Dọn thức ăn chay, cụ không nuốt
thức ăn, chỉ ăn cơm trắng. Quang dạy họ
sám hối thay cho mẹ, chưa đầy một tháng, cụ
liền ăn chay trường. Do mối liên quan bẩm
sanh, hễ chí thành ắt sẽ cảm động
được Phật, Bồ Tát!
78. Thư trả lời cư sĩ Trác Trí Lập
Con người và trời đất
cùng xưng là Tam Tài, chẳng phải là chuyện xuông, mà ắt
phải có công tham dự, giúp đỡ sự sanh trưởng,
th́ mới chẳng thẹn! Nếu không, thịt đi thây
chạy, suốt đời ô uế trời đất, sao
có thể gọi là Tam Tài cho được? Nếu lănh hội
được ư này, đem [áp dụng vào việc] dạy dỗ
bọn trẻ, ắt sẽ có thể tận tâm kiệt lực,
đem tài năng ra dạy dỗ, trước hết lấy
đạo đức làm gốc, rồi mới đến
văn chương là ngọn. Thường luôn giảng nói
hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ,
khiến cho chúng nó biết đạo làm người, khởi
tâm, động niệm, cư xử, nói năng đều
thuần thiện, tạo thành cơ sở có thể dự
vào bậc thánh. Kinh Dịch nói: “Mông
dĩ dưỡng chánh, thánh công dă” (dạy cho bọn trẻ
nhỏ lẽ chánh, công lao [bằng với công lao] của bậc
thánh nhân vậy) tức là nói về điều này. Nếu
có thể dùng cái tâm này để dạy người th́ học
vấn lẫn phẩm đức của chính ḿnh ngày càng
tươi sáng, con người sẽ được cảm
hóa, chẳng đợi phải đốc thúc, quở trách
mong cho họ sẽ thuận theo. Thiên hạ chẳng yên, thất
phu có trách nhiệm. Hiện thời nước loạn, dân
khốn đốn, anh em cùng một nhà đánh nhau, tranh
đua muốn tàn hại lẫn nhau, dân không lẽ sống
đều do cha mẹ trong gia đ́nh không khéo dạy, thầy
giáo trong nhà trường không khéo dạy, đến nỗi
kẻ có thiên tư quen thói làm xằng, đứa không có
thiên tư cam ḷng làm kẻ giặc bướng bỉnh.
Ông
giữ được tấm ḷng “gốc chánh, nguồn
trong” để làm chuyện vun trồng nhân tài, tức là chẳng
có địa vị mà nắm quyền cai trị, chẳng
lên ṭa mà thuyết pháp vậy, c̣n vui nào hơn? Đối với
việc niệm Phật, nào có trở ngại chi? Sáng - chiều
tùy sức xưng niệm. Ngoài ra, [những lúc] chẳng cần
vận dụng tâm tư, hễ thuận tiện bèn niệm,
chỉ cần đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện
thiết tha sẽ tự được văng sanh. Nếu cứ
nói: “Bận rộn cày cấy sẽ dễ niệm Phật”,
chẳng biết lúc bận rộn cày cấy, do khổ sở
nên chắc chắn chẳng thể niệm được.
Ông nghĩ như vậy đều là chẳng chú trọng
tự phản tỉnh, là t́nh kiến “đứng núi này thấy
núi nọ cao hơn”, chứ không phải là chánh trí thấu
hiểu sâu xa tự tâm, hiểu thấu triệt để
nguyên nhân trong thế gian vậy. Ông chỉ nên “đừng
làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” kiêm dùng
tín nguyện tŕ danh để cầu sanh Tây Phương.
Dùng những điều ấy để tự hành, dạy
người, dẫu chẳng có thể thành tựu lớn
lao, nhưng cũng có thể chẳng thẹn làm người,
chẳng thẹn làm thầy, đội trời đạp
đất vậy!
79. Thư gởi cho cư sĩ Lư Huệ Trừng
bàn về chuyện [xử trí] tro thiêu hóa kinh và tiền văng
sanh
(năm Dân Quốc 23
- 1934)
Chuyện
đốt kinh [cũ rách] tuy có công đức, nhưng chúng
tôi chẳng dám đề xướng, bởi kẻ thô tâm
th́ nhiều, họ thường đốt lẫn với
tro giấy vàng mă. Tro giấy vàng mă đem bán cho người
buôn tro, họ sẽ lược tro giấy để giữ
lại những mảnh thiếc đem bán, chẳng khác ǵ
vứt tro kinh ấy vào đống rác hay chăng? Ai chịu
cẩn thận dùng riêng vật dụng khác để thiêu, rồi
đem tro ấy bỏ trong sông cái, biển cả hay
chăng? Quang lúc mới xuất gia thấy [khi nhà chùa làm lễ]
phóng Mông Sơn[38],
đốt ngân phiếu, trong ấy có kèm thêm tiền văng
sanh (in chú
Văng Sanh giống như đồng tiền nên gọi là Văng
Sanh Tiền). Lúc thiêu th́ đốt rồi cầm trên
tay, khi lửa cháy đến tay không cầm được
nữa bèn vứt đi, thường là chưa cháy hết,
mỗi tờ có nhiều chữ chưa cháy.
Năm
Quang Tự thứ mười sáu (1890), tại chùa Long Tuyền
ở Bắc Kinh, buổi sáng ra khỏi cửa chùa, thấy
trong đống giấy đă đốt để tiễn
cô hồn trong lễ Phóng Diệm Khẩu hồi đêm có xấp
tiền Văng Sanh dày độ hai tấc, chỉ cháy một
nửa, Quang nhặt lấy bỏ trong sọt đựng
giấy chữ. Nếu tro ấy bị kẻ hầu quét dọn
th́ có khác ǵ bị quăng trong đống rác hay chăng? Do
vậy, biết rằng: Bất luận cách nào cũng đều
cần phải có người cẩn thận để
làm. Nếu người phô trương làm th́ chưa
được lợi ích mà đă bị họa trước!
Mấy năm trước, chùa Thái B́nh bán giùm kinh Kim Cang viết
bằng chữ son[39]
cho Tô Châu Ẩn Bần Hội thuộc chùa Linh Ẩn ở
Tô Châu, ḥa thượng Chân Đạt nghe Quang nói bèn thôi, chẳng
bán nữa. Nếu có người tặng cho kinh Kim Cang viết
bằng chữ son, bất tất phải đốt trong
khi làm Phật sự, sợ rằng không có người chú
tâm cẩn thận để lo toan th́ sẽ mắc phải
tội trên đây!
Hăy
nên ở chỗ thanh tịnh trong nhà, dùng một cái nồi
lớn hoặc một cái chậu sắt Tây to, phía dưới
lót giấy thiếc, đặt kinh lên trên, phía trên lại
phủ giấy thiếc để khỏi bị bay lung
tung. Chờ khi lửa tắt, thu lấy tro ấy chứa
trong đăy vải mới, bên trong lại bỏ thêm cát sạch,
hoặc đá sạch, ngói sạch, bỏ nơi chỗ sâu
trong sông hay biển, để khỏi mắc lỗi. Nếu
chẳng bỏ thêm cát đá bên trong, [đăy tro] sẽ nổi
lên không ch́m, lại trôi tấp vào bờ, rốt cuộc bị
ô uế. Đốt kinh mà dụng tâm như vậy ắt
có công đức, ắt chẳng bị tội khiên. Nếu
không, tôi chẳng dám nói!
Những
kẻ đốt kinh kia, có ai không đốt lẫn với
giấy vàng bạc? Ở phương
Như
khăn vuông lót tay để lễ Phật của nữ
nhân ở phương Nam có in danh hiệu của Phật, Bồ
Tát, trên đó có đóng dấu các chùa, trải lên đất
để lễ Phật, hoặc dùng để lót ngồi.
Phong tục xấu xa này lưu truyền khắp xa gần.
Năm Quang Tự hai mươi mốt (1895), ở chùa A Dục
Vương, Quang thấy một phụ nữ dùng miếng
vải ấy để lót ngồi, do đấy, bèn nói với
vị điện chủ điện Xá Lợi, điện
chủ nói: “Đấy là phong tục của vùng này”, có ư cho
rằng Quang lắm chuyện! V́ thế, trong Phổ Đà
Chí có nói đến tội lỗi ấy, không biết có ai
chịu lưu tâm hay chăng?
Thế
gian chẳng biết có bao chuyện chẳng thể suy xét
đến tận cùng, do đă thành thói quen, ai cũng cho là
có lư. Như người ăn mặn cho kẻ ăn chay là
không tốt lành, bất lợi cho con cháu; nếu ăn chay
trường sẽ làm cho con cháu đoạn tuyệt! Rốt
cuộc có kẻ tin theo, chẳng bằng ḷng cho cha mẹ
ăn chay trường. Những lời ngoa truyền ấy
trọn khắp các nơi. Lại nữa, hễ có người
sanh nở th́ có kẻ niệm Phật trọn chẳng dám
gần. Lại có người chẳng nh́n người chết,
chẳng nh́n cô dâu mới cưới, cũng như phá
địa ngục, phá huyết hồ, trả tiền Thọ
Sanh. Những chuyện vô lư ấy, những ông sư phàm tục
v́ cầu lợi bèn làm cho người ta, kẻ vô tri v́
để tiêu tội bèn bỏ tiền mời người
làm, c̣n đối với pháp môn Niệm Phật thật sự
được lợi ích lại coi thường!
Vào
năm Dân Quốc 18 (1929), Long Tử Tu, Bộc Thu Thừa tính
dùng một ngàn sáu hay một ngàn bảy trăm đồng
để làm một hội Thủy Lục[40] tại
Bảo Hoa Sơn, nói với Quang. Quang bảo đem tiền
ấy để tổ chức Niệm Phật Thất, bọn
họ liền bỏ đi không làm, chỉ dùng mấy
trăm đồng để niệm Phật. Nếu Quang
tán thành họ làm đàn Thủy Lục th́ hai người [mỗi
người] đều phải tốn hơn tám trăm
đồng, đủ thấy người thế gian phần
nhiều thích chuyện náo nhiệt phô trương, chứ
không phải là chân thật cầu siêu cho người đă
khuất và phổ độ cô hồn! Giấy vàng bạc
cũng chớ nên bỏ, mà cũng không nhất định
phải thiêu bao nhiêu. Cần biết: Đây là thứ dùng
để cứu giúp cô hồn, chứ Phật Bồ Tát và
người văng sanh trọn chẳng dùng đến.
Cũng là nhờ Phật lực, pháp lực, tâm lực mà
biến ít thành nhiều. Nếu mỗi người đều
được một tờ th́ dù số đến ngàn vạn
vạn tờ cũng chẳng thể trọn khắp
được v́ cô hồn và quỷ thần trọn khắp
hư không vậy! Nếu biết nghĩa “biến ít thành
nhiều” th́ cái tâm cứu tế cô hồn cũng trọn hết,
mà cũng không mắc lỗi quá sức phung phí. Ấy là do
ḷng ai nấy chí thành làm th́ tâm lực trọn khắp, của
cải trong cơi âm cũng được trọn khắp
theo!
80. Thư giới thiệu sử dụng xà-pḥng
Tam Tinh làm bằng chất béo thực vật
(năm Dân Quốc 18
- 1929)
Nỗi thảm sát kiếp trong
cơi đời gần đây [đúng là] xưa nay chưa từng
nghe đến; xét đến cội nguồn, phần nhiều
là do sát sanh ăn thịt mà ra. Muốn cứu văn, nếu
không từ đề xướng nhân quả báo ứng khiến
cho hết thảy mọi người cùng phát cái tâm “dân
như người ruột thịt, vật giống hệt
như ta”, đều cùng kiêng giết ăn chay, sẽ không
thể có cách nào đạt hiệu quả cho được!
Ngoài chuyện ăn thịt ra, phàm với những chuyện
ǵ có thể dấy động cơ duyên giết chóc đều
phải lập cách sửa đổi. Như do từ chuyện
[chế biến] xà-pḥng mà sát sanh th́ cũng không thể kể
hết được số. Bởi lẽ, xà-pḥng dùng mỡ
[động vật] mới khử được hờm.
Những thứ chất béo khác không có tánh ngưng kết,
hoặc tuy có tánh ngưng kết nhưng đều mắc
quá. V́ vậy, đều dùng mỡ ḅ để làm. Ḅ là
loài gia súc có công lớn đối với con người;
do điều này, chúng bị giết không thể tính toán được,
thật là một chuyện đáng ngậm ngùi lắm!
Mấy
năm trước, cư sĩ Châu Văn Minh và một vị
Tăng ở Phổ Đà sáng chế một loại xà-pḥng
làm bằng dầu thực vật, Quang đă từng thuyết
minh căn cội của nó, báo với tứ chúng, hầu
như được hết thảy thiện tín tán thành,
chấp thuận. Tiếc là nguồn vốn không bao nhiêu, chẳng
đầy mấy tháng bèn lỗ vốn, phải đ́nh chỉ.
Sau này xưởng xà-pḥng và nến Nam Dương làm kèm thêm
xà-pḥng bằng dầu thực vật, do giá thành cao nhưng
lợi tức kém nên cũng lại đ́nh chỉ. Ba bốn
năm trước, thường có Phật giáo đồ từ
phương xa gởi thư hỏi Quang chỗ bán, muốn
mua về dùng. Cũng có người muốn đứng làm
đại lư bán lại. Quang thường đem chuyện ấy
ghim trong ḷng, mong có người phát tâm “cứu sanh mạng,
ngăn giết” lại làm xà-pḥng bằng chất béo thực
vật để cởi gỡ mối lo buồn kín đáo
của tôi th́ c̣n may mắn nào hơn!
Tháng
Mười năm ngoái, Tổng Lư (giám đốc) của
Trung Quốc Hóa Học Công Nghiệp Xă tại Thượng
Hải là Phương Dịch Tiên cùng mẹ và vợ đến
quy y. Quang hỏi: “Ông có làm xà-pḥng hay không?” Thưa: “Có làm ạ!”
Quang dặn nên làm xà-pḥng bằng chất béo thực vật.
Ông ta thưa: “Vâng”, chỉ nói: “Xà-pḥng bằng chất béo thực
vật giá thành khá cao. Nếu để giá cao, người
ta không chịu dùng. Do vậy, các xưởng chế tạo
xà-pḥng đều chẳng chịu làm. Đă vâng lời thầy
dạy, sẽ thỏa nguyện thầy, nhưng nếu
không nghiên cứu nhiều cách sẽ không thể được.
Khoảng giữa Xuân và Hạ năm sau sẽ có thể làm
ra được sản phẩm”. Đến đầu
tháng Ba năm nay, ông ta đến gặp Quang, nói: “Xà-pḥng bằng
chất béo thực vật th́ khuôn và đồ đựng
đều chế tạo ổn thỏa rồi, nhưng
pḥng xưởng chưa đủ dùng, hiện đang xây cất,
đến giữa tháng Tư sẽ có thể bán ra
được”. Quang nghe xong, khôn ngăn mừng rỡ.
Mạnh
Tử có nói: “Thỉ nhân khủng
duy bất thương nhân, hàm nhân duy khủng thương
nhân” (Người chế tạo mũi tên chỉ sợ
chẳng làm người khác bị thương, người
chế tạo áo giáp chỉ sợ người khác bị
thương). Cùng là kiếm lời, nhưng từ bi hay tàn
nhẫn, tội hay phước khác biệt lớn lắm!
Chỉ một hành động này không biết đă bớt
giết bao nhiêu sanh mạng. Đúng là “nghệ dă nhi tấn hồ đạo hỹ” (nghề
nghiệp là để tăng tấn đạo vậy).
Mong sao hết thảy mọi người cùng hàng với
tôi đều dùng loại xà-pḥng bằng dầu thực vật
này th́ hết thảy những xưởng chế tạo xà-pḥng
bằng mỡ động vật phải đổi sang
làm xà-pḥng bằng dầu thực vật ngơ hầu
được mọi người chiếu cố, quyết
chẳng v́ giá thành của xà-pḥng bằng mỡ động
vật rẻ hơn mà chẳng chịu thay đổi.
Quang già rồi, tinh thần ngày càng giảm, việc thù tiếp
ngày càng nhiều, sau Thu sẽ náu ḿnh ẩn kín măi măi. Sợ
rằng có lẽ các Phật giáo đồ đồng hàng với
tôi tại các tỉnh không biết nên tôi bảo ông ta in ra bảng
giá để mọi người đều biết.
81. Thư gởi cư sĩ Minh Quang
Pháp môn Tịnh Độ là pháp
môn b́nh thường nhất nhưng cao sâu nhất trong Phật
pháp. Nếu không phải đời trước sẵn
đủ huệ căn, quả thật khó thể sanh chánh
tín sâu xa. Đừng nói nhà Nho chẳng dễ sanh ḷng tin,
ngay cả bậc tri thức thông Tông thông Giáo cũng thường
dựa theo ư nghĩa trong Tông - Giáo để luận định,
phán đoán, đến nỗi đối với pháp “khiến
cho hàng phàm phu sát đất chưa đoạn Phiền Hoặc
mà được liễu sanh thoát tử siêu phàm nhập
thánh ngay trong đời hiện tại” chẳng thể
nghĩ bàn này họ chẳng những không chịu tự tu
mà c̣n chẳng chịu dạy người khác tu, v́ họ chẳng
biết pháp này chính là pháp môn đặc biệt trong Phật
pháp, cứ lấy giáo nghĩa của Tông - Giáo làm chuẩn,
nên mới phạm những lỗi lầm ấy. Nếu
thoạt đầu họ liền biết được
nghĩa này th́ lợi ích lớn lắm. Người thông
minh phần nhiều chú trọng “hiểu lư để ngộ
cái tâm”, chẳng biết niệm Phật chính là đường
tắt để hiểu lư ngộ tâm.
Nếu
có thể niệm niệm tương ứng th́ sẽ tự
hiểu được lư, ngộ được tâm. Dẫu
chưa làm được, bèn cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương, so với những kẻ “hiểu
được lư, ngộ được tâm, nhưng
chưa đoạn Phiền Hoặc, vẫn cứ luân hồi
sanh tử, trọn không có lúc thoát ra”, th́ [sự khác biệt
giữa] trời và đất đă chẳng đủ
để sánh ví sự hay và dở. Huống chi đă văng
sanh liền thân cận Phật Di Đà và thánh chúng, sẽ
đích thân chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, há nào
phải chỉ hiểu được lư, ngộ được
tâm mà thôi ư! Pháp môn Tịnh Độ chỉ có bậc Thượng
Thượng Căn và ngu phu ngu phụ mới được
lợi ích thật sự, c̣n kẻ thông minh thông Tông thông
Giáo phần nhiều do chí lớn, ăn nói lớn lối,
chẳng chịu cậy vào Phật từ lực, cứ dốc
chí cậy vào đạo lực của chính ḿnh, cam ḷng
nhường cho ngu phu ngu phụ sớm dự vào ḍng thánh!
Có lẽ trong quư ấp có kẻ mang kiến giải như
vậy cho nên tôi mới nói sơ lược nguyên do.
Đă
muốn quy y th́ nay đặt cho ông pháp danh là Khế Quang.
Tiếng Phạn “A Di Đà”, cơi này dịch là Vô Lượng
Thọ, hay cũng dịch là Vô Lượng Quang. Nếu có
thể nhất tâm niệm Phật, th́ chính là lấy Quả
Địa Giác làm Nhân Địa Tâm. Nếu có thể tâm tâm
tương ứng th́ nhân trùm biển quả, quả tột
nguồn nhân, cực b́nh thường nhưng cực huyền
diệu. Nếu có thể tin nhận th́ đáng gọi là bậc
đại trượng phu lỗi lạc. Quang do túc nghiệp,
sanh ra liền bị bệnh mắt, may c̣n được
thấy bầu trời hơn bảy mươi năm. Nay
th́ mắt hết sức yếu ḷa, cự tuyệt hết
thảy những chuyện thù tiếp bút mực. Sợ ông
bị dao động, bị thuyết phục bởi những
kẻ đề xướng hướng dẫn thuộc
những tông khác, nên đặc biệt nói đại lược
hai nghĩa đặc biệt và thông thường, ngơ hầu
chẳng đến nỗi biến khéo thành vụng, cầu
thăng lên đâm ra đọa xuống!
Hăy
nên thường xem Tịnh Độ Ngũ Kinh sẽ biết
pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Tổng Tŕ để
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh. Nếu vẫn chưa bị thuyết
phục, hăy nên thường xem Tịnh Độ Thập Yếu
th́ mọi thứ nghi ngờ sẽ tiêu tan, vầng trăng
nhất tâm rạng ngời. Văn Sao tuy ngôn từ vụng
về, chất phác, nhưng đă nêu tỏ đại
lược về duyên do của Thiền và Tịnh,
cũng như những điều có ích cho luân thường
trong cuộc sống hằng ngày, cũng có thể giúp cho việc
tự lợi, lợi tha.
82. Thư gởi cư sĩ Tự Giác
(năm Dân Quốc 16
- 1927)
Chuyện trong thiên hạ có lư nhất
định, chứ không có sự nhất định. Hăy nên
dùng lư để định đoạt sự, dùng sự
để luận lư, ngơ hầu phù hợp thiên lư, t́nh
người th́ mới nên. Mạnh Tử dạy: “
Kinh
nguyệt của nữ nhân là cố tật của quá nửa
đời người, xảy ra độ mấy ngày, sao
lại v́ thế liền ngưng niệm Phật? Lúc b́nh
thường ắt phải hết sức sạch sẽ,
chí thành, đến lúc ấy tuy thân thể chẳng thể
hết sức sạch sẽ th́ càng nên chí thành gấp bội.
Trong đồ lót phải chêm thêm vải lót dầy, đừng
để máu dơ chảy ra Phật đường. Hễ
tay sờ vào phần dưới thân ắt phải rửa
sạch. Nếu lễ bái không tiện th́ ít lễ bái. Đối
với việc niệm Phật, tụng kinh, cố nhiên
dùng tâm hạnh chí thành cung kính th́ công đức chẳng giảm
bớt so với lúc b́nh thường. Do Phật là cha mẹ
đại từ bi của hết thảy chúng sanh, trong lúc
bệnh ấy phát ra, nếu chí thành niệm Phật th́ Phật
sẽ càng sanh ḷng xót thương gấp bội!
Như
kẻ ngu chấp trước “hễ thân có bệnh chẳng
sạch như vậy th́ chẳng thể niệm Phật”,
[vậy th́] nếu con cái té trong hầm xí cũng chẳng
thể gọi cha mẹ cầu cứu, có lẽ ấy hay
chăng? Người niệm Phật nên đi, đứng,
nằm, ngồi, tâm thường nghĩ nhớ. Lúc b́nh thời
ở nơi sạch sẽ, hoặc lúc áo mũ chỉnh tề
th́ niệm ra tiếng hay niệm thầm đều
được. Chỉ lúc ngủ, đại tiểu tiện,
trần truồng tắm gội th́ nên niệm thầm, chớ
nên niệm ra tiếng. Nếu gặp tai nạn đao binh
nước lửa th́ ở bất cứ chỗ nào, trong bất
cứ trạng thái nào đều nên niệm ra tiếng, v́
niệm ra tiếng so với niệm thầm càng đắc
lực hơn. Nếu khi nữ nhân sanh con, nên niệm ngay từ
lúc chưa sanh và đến khi lâm bồn, tuy trần truồng
chẳng sạch sẽ, vẫn nên niệm ra tiếng. Lúc ấy
[là lúc] có liên quan đến tánh mạng, như té trong lửa
nước cầu được cứu giúp, chẳng thể
luận trên dáng vẻ chẳng đoan trang, ô uế, bất
tịnh v.v…
Nữ
nhân khó sanh chẳng phải là có oán thù với đứa con
sắp sanh mà chính là oan gia đời trước, gây trở
ngại hầu không sanh được, khiến cho bị đau
khổ. [Sản phụ] niệm Phật và những người
chăm sóc chung quanh đều cùng v́ người ấy niệm
Phật th́ những kẻ oan gia kia nghe tiếng niệm Phật
sẽ liền tháo lui, chẳng dám cản trở! Do vậy,
càng phải nên dạy con gái niệm Phật từ nhỏ ngơ
hầu diệt sẵn cái nạn này. Nếu là người
lúc b́nh thường luôn niệm Phật chắc chắn sẽ
chẳng đến nỗi có sự nguy nan này. Dẫu là
người lúc b́nh thường chẳng niệm Phật
mà [lúc ấy] có thể chí tâm niệm th́ chắc chắn cũng
được dễ sanh! Kẻ ngu chấp lư hẹp ḥi,
cho là hễ đàn bà trong nhà sanh con th́ cả nhà đều chẳng
được cúng Phật, cũng chẳng được
niệm Phật; nếu không, sẽ mắc tội! Đấy
là chấp chết cứng vào toa thuốc để trị
biến chứng, chỉ biết lẽ thường, chẳng
biết quyền biến, đáng thương vậy thay!
Ông
nên đem nghĩa này nói với những phụ nữ thân cận,
láng giềng, th́ công đức ấy lớn lắm, lại
chẳng tốn kém mảy may, có thể gọi là “cứu
người từ lúc chưa nguy”. Nhưng cần phải
phân biệt cặn kẽ, chớ nên cho rằng nữ nhân
sanh con trần truồng, ô uế không trở ngại ǵ, [do
vậy] lúc b́nh thường cũng trọn không kính sợ chi,
chẳng cần phải sạch sẽ, th́ lại chuốc
tội chẳng cạn! Lúc b́nh thường phải noi theo
lẽ thường. Lúc có kinh nguyệt và lúc sanh con chính là
lúc “biến lư” (lư thay đổi). Hăy xét kỹ thí dụ do
Mạnh Tử và Quang đă nói sẽ tự biết rơ.
Nay
gởi cho ông một bộ Văn Sao, một bộ An
Sĩ Toàn Thư, một bộ Quán Âm Tụng, hai cuốn Thọ
Khang Bảo Giám, xin hăy đọc kỹ. Văn Sao th́ chẳng
những tu tŕ Tịnh nghiệp có chỗ làm căn cứ
nương tựa, ngay cả những cách xử thế,
giữ thân, tề gia, dạy con v.v… đều có nêu rơ.
Trong đời hiện thời, ắt cần phải sốt
sắng đề xướng nhân quả báo ứng. Dạy
con cố nhiên là nhiệm vụ trọng yếu, nhưng dạy
con gái càng quan trọng hơn dạy con trai, bởi lẽ
con người lúc bé thường ở bên mẹ, nếu mẹ
hiền th́ con cái cũng tự nhiên sẽ hiền. Do
thường được un đúc nuôi dạy đă tập
quen thành thói, đến khi lớn lên được cha dạy
dỗ sẽ thuận chiều chỉ dạy, thật là dễ
dàng. Đời hiện tại loạn đến mức
như thế này đều là v́ không có hai thứ khéo dạy
trên đây mà nên nỗi! Quang không có sức cứu văn kiếp
vận, nhưng có tâm cứu đời, cho nên ở đây
mới dài ḍng một phen. Nếu chẳng cho lời bàn của
lăo tăng là viễn vông, hủ bại th́ may mắn lắm
thay!
83. Thư trả lời cư sĩ Lưu
Nhân Hàng bàn về chuyện hoằng dương nhân quả
Quang
là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, sao lại
khen ngợi quá mức khiến Quang hổ thẹn không chốn
nương thân! Thánh nhân thế gian lẫn xuất thế
gian dùng sự lư nhân quả để b́nh trị thiên hạ,
độ thoát chúng sanh. Người đời nay đa phần
chẳng cho như vậy là đúng, cứ làm riêng theo cách mới,
đến nỗi chú trọng cạnh tranh, xâm đoạt
để mong tăng lớn thế lực, mở rộng
lănh thổ của ta, tàn sát lẫn nhau, trọn không
ngưng dứt. Nhân họa đă khốc liệt, thiên tai lại
giáng xuống. Vận nước nguy ngập, dân không lẽ
sống, đều v́ chẳng coi nhân quả báo ứng là
đúng mà ra! Cái gốc họa này vấn vít kết lại
đă lâu, nay đă dần dần bộc phát. Nào phải do
một hai người tuyên truyền mà có thể văn hồi
được ư?
Nguyện
rộng sâu của các hạ Quang khâm phục cùng cực.
Nhưng Quang đă trở thành phế nhân, chẳng những
không thể tương trợ, mà cũng chẳng thể
khuyên người khác tương trợ. V́ sao vậy? Do
không có tinh thần ăn nói và không có mục lực để
viết chữ. Trộm cho rằng tuyên truyền trong lúc sắp
đánh nhau hay lúc sắp đánh nhau, cái tâm quyết liệt
của đôi bên hơi khó buông xuống ngay lập tức
được! Vừa uổng tiền tàu xe, vừa bị
nguy hiểm. Chẳng bằng dứt lo, quên duyên, nhất
tâm lễ tụng, cầu Tam Bảo ngầm rủ ḷng gia bị
khiến cho những kẻ có quyền lực trong các nước
diệt dứt ác niệm, phát khởi từ tâm. Nếu
được cảm ứng, lợi ích ấy lớn lắm.
Nếu chẳng thể cảm ứng nơi các nước
th́ cũng sẽ ngầm kết pháp duyên với người
các nước, lợi ích ấy cũng chẳng nông cạn
đâu!
84. Thư trả lời cư sĩ
Dương Phật Điển
Nhận được thư, biết
ông hằng ngày lễ tụng siêng năng, chuyên tinh, vui mừng,
an ủi không chi sánh bằng! Bóng đen ông đă nói đó chẳng
phải là bóng của Phật hay Bồ Tát mà cũng chẳng
phải là bóng của oán gia đối đầu hiện
ra. V́ Phật, Bồ Tát nếu đă hiện ắt sẽ
sáng tỏ, thấy được mặt, mắt v.v… c̣n
oan gia sẽ hiện tướng đáng sợ! Bóng ấy
chính là cô hồn đă có duyên [với ông] trong đời
trước, mong nhờ vào sức niệm Phật tụng
kinh để được siêu sanh vào đường
lành. Hăy nên sau khóa tụng v́ họ hồi hướng, lại
c̣n chuyên hồi hướng cho họ, khiến cho họ
tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện
căn, nương Phật từ lực văng sanh Tây
Phương th́ có ích cho họ, ngơ hầu chẳng phụ một
phen họ khổ sở hiện bóng.
Lại
nữa, phàm là người tu hành tâm phải có chủ ư, thấy
cảnh giới tốt chẳng sanh hoan hỷ, thấy cảnh
giới không tốt chẳng sanh sợ hăi. Được
như thế th́ các cảnh giới đă hiện đều
trở thành duyên trợ đạo. Nếu không, chúng đều
trở thành duyên chướng đạo. Thêm nữa, phàm là
người tu hành đều nên lấy chí thành cung kính làm gốc,
giữ ḷng từ bi khiêm tốn. Ḷng nghĩ, thân làm tuy chẳng
thể hoàn toàn tương ứng với Phật, nhưng
cần phải nỗ lực gắng công ngơ hầu chẳng
trái nghịch tâm hạnh của Phật, th́ mới đáng
gọi là người tu hành thật sự, là đệ tử
Phật thật sự.
85. Thư trả lời cư sĩ Thôi
Đức Chấn (năm lá thư)
(năm Dân Quốc 21
- 1932)
1) Hết thảy chúng sanh đều
sẵn có Tánh Đức, nhưng rất ít có Tu Đức.
Nay đă phát tâm học Phật là do từ Tánh Đức khởi
lên Tu Đức. Tuy có tâm ấy, nhưng nếu chẳng kiệt
thành tận kính tu tŕ th́ Tu Đức chẳng thể
tăng trưởng, Tánh Đức vẫn bị phiền
năo ác nghiệp gây chướng ngại như cũ, chẳng
thể hiển hiện được! Như mặt trời
trong mây, trọn chẳng thấy được tướng
sáng. V́ thế, phải phấn chấn tinh thần, giữ
vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng
giữ các điều lành, làm các điều lành trong thế
gian. Lại phải cạn ḷng thành, tột ḷng kính, sanh tín,
phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương
để tu pháp xuất thế gian. Trong thế gian, học
một tài, một nghề đều phải dốc hết
toàn bộ tinh thần th́ mới có thể thành được.
Nay
là phàm phu sát đất lại muốn ngay trong đời này
siêu phàm nhập thánh liễu sanh thoát tử, há chẳng phát
khởi mạnh mẽ chí hướng lớn lao nâng cao tinh
thần mà thành được ư? Ư nghĩa của chữ
Đức Chấn là như vậy đó. Nếu có thể
mạnh mẽ dẹp dứt th́ danh tương ứng với
thật. Nếu không, chỉ là hữu danh vô thật! Đấy
là do chính ḿnh phạm lỗi không thể mạnh mẽ dứt
dẹp, chứ không phải là Phật pháp chẳng thể
lợi người vậy!
2) Bệnh đă sắp phát ra,
do nhờ Đại Sĩ che chở nên được
lành, lẽ ra nên sốt sắng coi trọng việc ấy,
tu tŕ pháp môn Tịnh Độ trọng yếu bậc nhất
này, sao lại ơ hờ đi hỏi chuyện chẳng cần
kíp? Rốt cuộc, chẳng qua cũng là cùng một điệu
bộ với kẻ đi đường hỏi lối, [do
vậy tôi] biết ḷng tin các hạ đă nói ấy chỉ
là ḷng tin hời hợt bên ngoài, cái hạnh các hạ đă nói
đó chính là hạnh vui chơi. Nếu thật sự lấy
chuyện này làm chuyện bậc nhất trong đời
người th́ những ǵ được ẩn chứa
bên trong sẽ lộ tướng ra bên ngoài, thoạt nh́n là
biết ngay! Các hạ có câu hỏi th́ đă phúc đáp, có
yêu cầu [kinh sách] cũng đă gởi qua bưu điện.
Quang già rồi, tinh lực chẳng đủ, từ rày chớ
nên gởi thư tới nữa! Gởi đến sẽ
không trả lời, một là do không rảnh rỗi để
thù tiếp, hai là do bận bịu quá nhiều chuyện.
Thứ
nhất, Tâm Kinh[42]
(bản dịch của ngài Huyền Trang) chính là bản dịch
toát yếu, cho nên không có phần Chứng Tín Tự và phần
kinh văn lưu thông. Nhưng bản dịch của ngài
Bát Nhă[43]
và Lợi Ngôn[44]
đời Đường với bản dịch của
ngài Thi Hộ đời Tống đều có cả.
Thứ hai, hết thảy kinh
chú tuy có các loại do Phật nói hay Bồ Tát nói khác nhau, tuy
do Bồ Tát nói nhưng cũng đă được Phật
chứng minh th́ đều có thể gọi là “Phật thuyết”. Ông cho
đó là do đệ tử đức Phật trước
thuật (người
hỏi vốn dùng lầm chữ Trước thành chữ
Bút), sao
lại miệt thị kinh chú quá đáng vậy? Dùng cái tâm
này để tụng kinh chú chắc chắn chẳng có sự
cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!
Thứ ba, Tu La (Asura), cơi này dịch
là Phi Thiên, nghĩa là có phước báo trời nhưng không
có đức của chư thiên. Do họ có phước nên
cũng được xếp vào thiện đạo. Do họ
sân hận, kiêu mạn, tranh đấu nên cũng bị xếp
vào ác đạo, v́ thiện - ác, tội - phước xen tạp
vậy! Trong đời có kẻ tin Phật, nhưng thường
lầm lạc tự nẩy sanh ư kiến, ôm ḷng nghi báng.
Nói về phần được của người ấy
th́ có gọi là bậc chánh tín, nhưng nói về chỗ mất
của người ấy th́ cũng gọi là kẻ tà mê.
Thứ tư, Sa Bà (Sahā) là tên chung của tam thiên
đại thiên thế giới,
Thứ năm, “kết già phu tọa”
(ngồi kết già): Trước hết dùng chân phải
đè lên đùi trái, dùng chân trái đè lên đùi phải, gọi
là “già phu”. Chữ Già (跏) vốn viết
là chữ Gia (加), có nghĩa là hai
mu bàn chân đâu vào nhau. Phu (趺) là mu bàn chân.
Nhưng ngồi lâu th́ có thể thay đổi trái và phải
cho nhau, đừng chấp chặt phải luôn luôn như vậy.
Nếu chẳng thể xếp cả hai chân th́ chỉ cần
dùng chân trái đè lên chân phải là được rồi.
Cách này c̣n gọi là “bán gia” (thường đọc trại thành “bán già”).
Thứ sáu, “giường to cao rộng”
[được nói đến trong Bát Quan Trai Giới] chính
là giường dây của tăng nhân hành hạnh Đầu
Đà ở Tây Vực. Nước ta không theo cách này, chỉ
là chớ nên ngồi trên giường, sập quư trọng
hiếm đẹp mà thôi. Loại giường dây này giống
như bộ cương ngựa ngày nay, dùng dây bện thành,
có thể mở ra hay xếp lại được. Cao chẳng
quá một thước sáu tấc, rộng chẳng quá bốn
thước. Thước ở đây là thước đời
Châu, nhỏ hơn thước hiện thời hai tấc. Giường
này không phải là giường để ngủ, mà là
giường để tọa thiền.
Thứ bảy, “chỉ có
đường tắt tu hành”. Đây chính là giáo nghĩa, có
thể chiếu theo văn tự để hiểu. “Y theo như
cũ đi nhiễu”, đây chính là ư nghĩa trong nhà Thiền,
phải có chỗ ngộ th́ mới biết triệt để
được. Tào Lỗ Xuyên[45] tự
cho là bậc đại thông gia thông Tông thông Giáo c̣n hiểu
lầm ư này. Các hạ muốn tôi giảng ư nghĩa này,
đúng là lời hỏi giỡn chơi! Các hạ hăy buông
xuống hết thảy tri kiến thừa thăi, nhất tâm
niệm Phật, niệm cho đến khi tâm lẫn Phật
đều mất cả rồi, sẽ tự phát ra một
tràng cười to, hoàn toàn hiểu rơ. Khi chưa đạt
đến, dẫu người khác có giảng cho vẫn chẳng
biết được! Ví như đă đến điện
Hàm Nguyên[46], mọi thứ
trong điện ấy đều biết hết. Nếu
v́ người chưa đến đấy [mà nói] th́ dù có
nói rơ ràng, vẫn mờ mịt không biết y như cũ
Những
câu nói trong nhà Thiền đều nhằm dạy người
khác tham cứu. Nếu hiểu theo ư nghĩa văn tự
th́ chẳng những không được lợi ích, mà c̣n có
thể coi “hiểu lầm” là ngộ, tội ấy cực
lớn. Dẫu ngộ thật sự nhưng liễu sanh
thoát tử vẫn c̣n cách xa lắm! Do kẻ ấy chỉ
cậy vào tự lực, phải là sau khi đại ngộ
rồi, phiền năo, Hoặc nghiệp đoạn sạch
không c̣n sót ǵ th́ mới liễu được. Nếu
không, chẳng do đâu mà liễu được! Pháp môn Niệm
Phật nếu đầy đủ ḷng tin chân thật,
nguyện thiết tha, niệm Phật cầu sanh Tây
Phương th́ cậy vào Phật từ lực đới
nghiệp văng sanh. Căn tánh của các hạ cũng chỉ
có thể học theo cách tu tŕ của hàng ngu phu ngu phụ. Nếu
lầm lẫn bắt chước thân phận của Tào Lỗ
Xuyên th́ chẳng những liễu sanh tử trọn chẳng
có phần mà c̣n thật sợ rằng đọa lạc ba
ác đạo ắt đă sẵn phần! V́ sao vậy? Do “chưa
được bảo là được, do chưa chứng
nói là chứng”; do vậy, hoại loạn Phật pháp, khiến
cho chúng sanh lầm lạc, nghi ngờ.
Thứ tám, những sách như
Văn Sao v.v… gởi đi một gói, nếu chẳng hiềm
là hèn kém, dở tệ, xin hăy đọc kỹ, hành theo, ngơ
hầu chẳng uổng cuộc đời này và sự gặp
gỡ này. Nếu cho là chẳng đáng để vào mắt
th́ hăy đem cho người thiếu mắt. Từ rày, chỉ
nên bàn bạc, tŕnh bày với ông [Phí] Phạm Cửu, đừng
gởi thư cho Bất Huệ nữa, do tôi không đủ
tinh thần thù tiếp.
3) Chuyện trong thế gian, có
chuyện nên dùng lư để luận, có chuyện nên dùng
t́nh để luận. Ông nói về chuyện của vị
tên X… nọ cố nhiên nên dùng t́nh để luận, chớ
nên cố chấp vào lẽ thường để đoán
định. Sự việc xảy ra đă năm năm rồi,
cũng không sợ người ta thấy nghe. Người ấy
đă cùng với người tên Y… sống yên, chỉ nên
để mặc. Nếu thật sự có ḷng hiếu thảo,
ắt sẽ thay cho người ấy lễ Phật sám hối,
cầu cho người ấy giác ngộ. Lúc đến
thăm hỏi nên khuyên người ấy niệm Phật,
đây là dùng t́nh cảm. Nếu người ấy gặp khốn
khó th́ chẳng ngại ǵ châu cấp. Buôn bán trái lẽ để
sống, không thể khuyên can được th́ chuyện
này lấy t́nh mẹ con làm chuẩn, chẳng thể luận
theo lẽ thường! C̣n đối với ông Y… ấy cũng
chẳng được coi như kẻ oán cừu, kính nhi
viễn chi mới là hợp lẽ.
Về
phần cậu của ông, tôi đă bảo gởi Văn
Sao, Gia Ngôn, Thống Kỷ, An Sĩ, Chánh Tín v.v… cùng một
bưu kiện, nay sẽ gởi sách đi. Thư hôm trước
của ông tôi cũng đă nhận được rồi.
Cha mẹ ông đều một bề có tín tâm, nay hăy nên uyển
chuyển khuyên dụ họ, khiến cho tín tâm của họ
tăng trưởng, quả thật là ư nghĩa trọng yếu
để người làm con, người làm Phật tử
báo đền cội gốc vậy. Ông nói phần Biện
Thể và Lợi Ích Về Mặt Pháp Do Nghe Chim Hót trong sách
Di Đà Yếu Giải không rơ ràng, xin Quang giải thích; các
giáo nghĩa thấu đạt lư rất sâu ấy há kẻ
sơ tâm có thể hiểu rơ ngay được ư? [Nếu]
giải thích, [người nghe] cũng phải đă có mấy
phần hiểu rơ rồi th́ mới được. Nếu
không, phải tốn bao nhiêu bút mực mới có thể làm
cho ông hiểu rơ ràng từng điều một? Ông hăy nên nhất
tâm niệm Phật, sau hai ba năm, sẽ tự có cơ hội
hiểu rơ ràng. Nếu muốn gấp hiểu rơ ràng ngay, hăy
nên thỉnh một bộ Di Đà Yếu Giải Tiện
Mông Sao[47], lắng ḷng đọc,
họa chăng biết ngay. Nếu vẫn chưa thể
hiểu rơ ngay th́ cần phải trui luyện từ từ
mới biết được.
Vào
năm ngoái, Quang đă nhận lời cư sĩ Lư Viên Tịnh
tu chỉnh các bộ Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa Chí.
Năm ngoái đă nhờ ông Hứa Chỉ Tịnh lo đại
cương, c̣n phần tu chỉnh đều giao cho Quang.
Hơn một năm qua, do thư từ và các việc bộn
bề, một bộ cũng chưa thể sửa xong.
Trước kia chưa sắp chữ ngay nên có chậm trễ
cũng không sao, nay Thanh Lương Chí đă sắp chữ,
mà mới chỉ sửa được một nửa,
thường là mười mấy bữa chẳng rảnh
rỗi được một ngày. V́ thế, nay quyết cự
tuyệt hết thảy chuyện thù tiếp để làm
việc này. Nếu không, hai đằng đều chẳng
được lợi ích. Từ rày, bất luận chuyện
nào, người nào, cũng đều đừng gởi
thư đến. Gởi đến cũng không trả lời.
Nếu không, do chuyện này thúc bách cùng cực, khó được
như pháp. Lưu truyền những bộ danh sơn chí
trong thế gian há nên làm cho xong chuyện hay sao? Mong hăy
đem lời này nói với hết thảy người quen
biết, và cũng đừng giới thiệu người
khác đến quy y!
4) Đứa con gái ấy sanh ra
để đ̣i nợ, chết là xong nợ, không c̣n ngờ
ǵ! Chỗ có người đă bị chết đuối ấy
thường có người chết đuối, chính là chỗ
được gọi là “quỷ kiếm người chết
thay”. Hăy nên ở nơi ấy lập một cái mốc gỗ,
phía trên dùng một tấm sắt Tây trắng thật dày, khắc
sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Chữ phải to để
thấy được từ xa, phải tồn tại
được lâu ngày th́ sẽ dứt được cái họa
ấy. Do ḷng từ của người khắc những chữ
ấy sẽ cảm được từ quang của Phật
gia bị. Từ rày bảo đảm chắc chắn không
c̣n cái họa ấy nữa. Do đây có thể thấy
được sức từ bi của Phật chẳng thể
nghĩ bàn.
Cách
cầu siêu cho người đă khuất chỉ có niệm
Phật thật là bậc nhất. Thí Thực trong đời
nay đều là h́nh thức mà thôi; do vậy, chẳng bằng
thỉnh Tăng niệm Phật, buổi tối phóng Mông Sơn
sẽ có lợi ích thật sự. Kinh sám pháp sự của
Đạo Gia thường là trộm lấy những danh
nghĩa trong Phật pháp rồi bịa đặt ra!
Tăng thí thực c̣n khó được lợi ích thật
sự, th́ đạo sĩ thí thực há độ
được vong ư? Chẳng qua mượn chuyện
này để dối người mà thôi! Bị oán quỷ dẫn
đi, ước về sự th́ tợ hồ chịu khuất,
nhưng ước về nhân th́ chẳng phải là khuất.
Đối với những điều đă dạy trong quẻ
xăm, há nên chấp chặt? Bởi sự có muôn vàn biến
hóa, xăm chỉ có bấy nhiêu đó thôi! Ngay như lời
giáng cơ c̣n có khi chẳng ứng nghiệm, huống chi là
lời thơ trong quẻ xăm?
[Nếu]
vợ chồng ông bỏ con gái bên sông rồi đi về,
đứa con gái bị chết đuối th́ [vợ chồng
ông] có lỗi, chứ nó ở trong nhà, rốt cuộc tự
đến chết nơi sông, ông tự bảo đó là lỗi
ḿnh th́ thành nói xàm rồi! Thật vậy đó! Oán chớ
nên kết. Đời trước đă kết, đời
sau chịu quả báo. Con quỷ ấy há không có nhân ǵ lại
có thể lôi được đứa con gái ấy xuống
sông ư? Do vậy, có thể biết là nhân quả vĩnh
viễn không bị mất vậy!
5) Phật pháp viên thông vô ngại,
cố nhiên Mật Tông có chuyện “chẳng được
A Xà Lê truyền dạy [mà cứ tu học Mật pháp] th́ là
trộm pháp” chính là nhằm thể hiện ư tôn trọng
pháp đến tột cùng, chứ không phải nhằm
vĩnh viễn đoạn trừ Mật Tông. Nếu theo
như lời ông nói, chưa thọ Tam Muội Da Giới[48]
chẳng thể niệm Mông Sơn Thí Thực, th́ không riêng
ǵ Mông Sơn Thí Thực, ngay cả hết thảy chú cũng
đều chẳng được niệm, v́ chưa
được A Xà Lê truyền dạy! Nhưng từ
xưa đến nay, người b́nh thường niệm
các chú Đại Bi, Chuẩn Đề[49]
có cảm ứng rất nhiều! Thậm chí nhà Nho từ
bia, thiếp mà biết có Tâm Kinh, mắc bệnh sốt rét[50]
bèn gượng bệnh niệm kinh th́ con quỷ gây bệnh
sốt rét bèn tháo lui. Nếu đúng như ông nói th́ con quỷ
gây bệnh sốt rét sẽ càng thêm đắc thế[51]!
Nay
kể cùng ông một thí dụ. Ví như bậc quân tử
đức dầy lấy thân làm gương để d́u dắt
người khác, người trong một làng nghe theo sự
chỉ huy, thảy đều an phận giữ ḿnh. Người
ấy do lấy thân làm gương để d́u dắt
người khác, vượt hơn quan phủ phát ra hiệu
lệnh buộc dân thi hành. Chớ nói sự cảm hóa bằng
đức của người ấy trỗi hơn quan phủ!
Nếu bắt chước quan phủ phát ra hiệu lệnh
buộc người ta thi hành th́ mọi người đều
cho đó là phản nghịch. Chỉ [dùng tụng chú để]
tự tu tŕ th́ có ích, c̣n nếu tự tiếm mạo sẽ
có tội. Như thế th́ chẳng đến nỗi
đoạn diệt Mật Tông, mà cũng chẳng đến
nỗi phá hoại Mật Tông. Người thời nay phần
nhiều dùng t́nh kiến phàm phu để nói Phật pháp. V́
thế, khắp mọi nơi đều trở thành gai
góc, không chỗ nào để đặt chân bước
đi được!
“Tiếm
mạo”[52] là dối xưng A
Xà Lê. Tác pháp[53] nào có trở ngại
ǵ, vẽ chữ Phạn để quán tưởng đều
có thể chiếu theo nghi quỹ, nhưng chớ nên tự
xưng là đă được A Xà Lê quán đảnh. Ai biết
được nghĩa này th́ lời khuyên của Quang càng
thêm rơ ràng. Người thời nay học Phật đều
bằng cái tâm mù quáng khiến cho pháp nào cũng bị trở
ngại, pháp nào cũng chẳng thành, đáng than cùng cực!
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Phần
3 hết
[1] Nhiệt năo: Những sự khổ năo dày ṿ thân tâm, khiến chúng sanh bức rức, bồn chồn, đau đớn như bị nung nấu nên gọi là “nhiệt năo”. Phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm có câu: “Như chiên-đàn trắng nếu đem bôi lên thân sẽ trừ được hết thảy nhiệt năo, khiến cho thân tâm được mát dịu trọn khắp”.
[2] Luyện Đan: C̣n gọi là Ngoại Đan để phân biệt với Nội Đan. Nội Đan là tập luyện bằng các phương pháp dưỡng sinh, hít thở để hấp thụ tinh hoa của nhật, nguyệt, trời đất (thường được gọi là “vận khí” hay Khí Công), thiền định, quán tưởng để kết “thánh thai” nhằm biến đổi xác phàm thành tiên v.v.. Ngoại Đan là phương pháp dùng những dược vật, hóa chất nung luyện thành những loại thuốc tiên (kim đan) để uống vào sẽ thành tiên. Luyện đan có thể coi như tiền thân của ngành hóa học hiện đại. Phối hợp với quan điểm Âm Dương Ngũ Hành cũng như những đặc tính được Đạo Gia gán cho những kim loại nặng (chẳng hạn thủy ngân chính là mẹ của bạc, ch́ là mẹ của các kim loại), các nhà luyện đan thường nấu ch́, thủy ngân, vàng, lưu huỳnh… thành thuốc trường sanh bất lăo theo những phương cách bí truyền trong một ngày giờ nhất định, dĩ nhiên kiêm thêm tụng chú, ếm bùa, cầu đảo để thuốc tiên được linh nghiệm. Rất nhiều loại “tiên đan” chứa những chất cực độc nên người uống vào hộc máu chết tươi!
[3] Kiến ở đây là Kiến Hoặc.
[4] Tử Kiến Ông chính là cư sĩ Khuất
Tử Kiến. Trong phần Tụng của Ấn Quang
Văn Sao Tục Biên có lời đề từ cho bài Tây Quy
Tụng này do chính tổ Ấn Quang viết.
[5] Quán Âm Linh Thiêm (hay bị đọc trại
thành Quán Âm Linh Sâm, hay Quán Âm Linh Xăm) thường
được người Việt biết đến
dưới tên gọi Xăm Quán Âm, gồm một trăm
quẻ. Mỗi quẻ có h́nh thức như sau: Thứ tự
của quẻ, quẻ tốt hay xấu, thuộc cung nào
trong 12 chi, một điển tích trong văn học Trung
Hoa, rồi lời bàn. Chẳng hạn như: “Quẻ thứ hai, xăm Hạ
Hạ, cung Tư, Tô Tần hỏng thi, thơ rằng…” rồi
đến lời bàn và lời nhận định chung cho
toàn quẻ. Đây là một thứ h́nh thức bói toán bằng
cách rút thăm do người Hoa chế ra, hầu như bất
cứ vị tiên, thánh nào cũng đều có xăm,
như Quan Thánh Đế Quân Linh Thiêm, Thiên Hậu Linh Thiêm,
Đại Tiên Linh Thiêm, Tế Công Linh Thiêm, Lă Tổ Linh
Thiêm… Ở đây, dựa theo niềm tin tưởng phổ
biến vào sự bói toán, xin xăm của người Trung
Hoa, Tổ đă khuyên dạy “hăy nên chí tâm niệm Phật,
tận hết sức ḿnh để sửa đổi vận
mạng”.
[6] Tam Ma Địa (Samādhi), c̣n dịch là Tam
Muội, Tam Ma Đề, Tam Ma Đế. Dịch ư là Đẳng
Tŕ, Chánh Định, Định Ư, Điều Trực
Định, hay Chánh Tâm Hạnh Xứ, có nghĩa là xa ĺa hôn
trầm, lao chao, chuyên tâm trụ vào một cảnh. Do quá nhiều
ư nghĩa, chữ này thường được dùng dưới
dạng dịch âm, chứ không dịch nghĩa. Thông thường,
Tam Ma Địa được hiểu là quán tưởng
ngưng lặng cho trí huệ rạng ngời, để
đoạn trừ được hết thảy phiền
hoặc, ḥng chứng đắc chân lư.
[7] “Thượng - hạ” là cách tôn xưng
danh hiệu một vị Tăng, chẳng hạn, thay v́
nói sỗ sàng “kính bạch ḥa thượng Trí Tịnh”, ta
thường nói “kính bạch Ḥa Thượng thượng
Trí hạ Tịnh” để tỏ ḷng tôn kính. Ở
đây, ông Tăng tự xưng pháp danh của ḿnh mà
cũng thêm vào hai chữ “thượng - hạ” nên bị Tổ
chê là thất lễ.
[8] Sở dĩ có tín nguyện mà vẫn
chưa chắc được văng sanh là v́ tâm không chuyên nhất.
Thêm nữa, ỷ vào số lượng đức Phật
niệm trong mỗi câu rất nhiều sẽ rất dễ
nẩy sanh giải đăi, không miên mật tŕ danh hiệu Phật
nên vọng tưởng khó thể khuất phục
được!
[9] Tông tượng: Tượng là người
thợ. Bậc sư trưởng có thể đào tạo
các đệ tử thành tựu Giới - Định - Huệ,
phẩm đức kiêm ưu ví như người thợ
khéo chế tạo vật dụng tinh vi nên được
gọi là Sư Tượng. Vị thầy có thể hoằng
dương mạnh mẽ một Tông cũng giống
như vậy, nên được gọi là Tông Tượng.
[10] Tổng Tŕ (Dhāranī), c̣n dịch là Đà Ra Ni, Năng Tŕ, Năng Giá (có khả năng ngăn che), đều có nghĩa là huệ lực có khả năng ǵn giữ, ghi nhớ hết thảy vô lượng Phật pháp chẳng quên mất. Hiểu theo nghĩa rộng, Tổng Tŕ có nghĩa là khả năng ghi nhớ không quên mất. Từ một nghĩa, một pháp có thể liên tưởng, nhớ được hết thảy pháp, hết thảy nghĩa, không quên mất, không sai sót. Theo Đại Trí Độ Luận, Tổng Tŕ gồm có bốn loại là Văn Tŕ Đà Ra Ni (năng lực nghe không quên mất), Phân Biệt Tri Đà Ra Ni (năng lực phân biệt biết hết thảy tà - chánh, tốt - xấu), Nhập Âm Thanh Đà Ra Ni (khả năng nghe hiểu hết thảy mọi ngôn ngữ âm thanh, nhưng không đắm trước, sân hận), Tự Nhập Môn Đà Ra Ni (nghe những chú ngữ bí mật liền có thể thông đạt Thật Tướng hết thảy các pháp). Du Già Sư Địa Luận lại nêu lên bốn loại khác là Ngữ Đà Ra Ni, Chú Đà Ra Ni, Nhẫn Đà Ra Ni và Nghĩa Đà Ra Ni. Do có nhiều loại Tổng Tŕ nên kinh luận thường nói là “vô lượng tổng tŕ môn”. Đại Tổng Tŕ là thông đạt bốn môn Tổng Tŕ nói trên.
[11] Viên Quán (c̣n có tên là Viên Trạch) là một vị cao tăng đời Đường, không rơ sanh năm nào, quê quán tại đâu. Sư sống tại thành Lạc Dương, bẩm tánh hoạt bát, chất phác, thích nghiên cứu Phật học, nhưng cũng rất ưa tạo tác tài sản thế gian. Sư mua được nhiều ruộng đất, vườn tược, nên người đương thời gọi Sư là Không Môn Nông Mục Phú Nhân (phú nông chăn nuôi giàu có trong cửa Thiền). Sư rất giỏi âm nhạc. Một người bạn tri giao của sư là Lư Nguyên, do cha là Lư Trừng bị giặc thảm sát, bèn cúng hết gia sản vào chùa Huệ Lâm. Mỗi bữa theo tăng chúng Huệ Lâm chỉ ăn một bữa. Lư Nguyên ham học tiên thuật luyện đan nên bèn khẩn khoản yêu cầu sư Viên Quán cùng sang Tứ Xuyên triều bái các núi Thanh Thành, Nga Mi v.v… để cầu tiên dược. Viên Quán muốn từ Trường An đi theo ngơ Tà Cốc, nhưng Lư Nguyên muốn từ Kinh Châu đi vào Tam Hiệp. Hai người cứ dùng dằng tranh chấp cả nửa năm không quyết định được. Đến khi Lư Nguyên cho biết ông ta không muốn theo đường Lạc Dương hay Trường An là v́ không muốn chạm mặt những quan chức quen biết trong triều đ́nh. Viên Quán bèn đồng ư đi theo lối Kinh Châu. Khi thuyền vừa đến Nam Phố, gặp nước ngược phải cắm thuyền, trông thấy một phụ nữ mặc áo gấm đội một cái ṿ nhỏ ra sông lấy nước, Viên Quán trông thấy bèn cúi đầu buồn khóc: “Sở dĩ ta không muốn đi con đường này là sợ gặp bà ta”. Lư Nguyên hỏi: “Từ khi vào đến Tam Hiệp, những phụ nữ ăn mặc như thế này cũng không hiếm. Sao với chỉ ḿnh bà này, Sư lại khóc lóc?” Sư đáp: “Bà này họ Vương, sẽ là nơi ta thác sanh. Bà ta mang thai đă ba năm vẫn chưa sanh được, v́ ta không chịu vào bụng mẹ. Nay đă trông thấy không thể trốn tránh được nữa! Đợi đến khi ta sanh xong, ba ngày sau đến thăm ta, ta sẽ cười một tiếng làm tin. Mười hai năm sau, đêm Trung Thu lại hẹn gặp nhau ngoài chùa Thiên Trúc ở Tiền Đường, Hàng Châu”. Sư nói xong liền tịch. Sự việc sau này xảy ra đúng như lời Viên Quán đă nói. Khi trở về chùa Huệ Lâm, Lư Nguyên thấy Sư đă ghi chép sẵn việc này trong một trang giấy kẹp trong một cuốn kinh, mới biết Sư biết trước nhân quả nhưng vẫn không thể nào tránh né được.
[12] Danh xưng để gọi con trai
người khác nhằm tỏ ư tôn trọng.
[13] Vị này chính là lăo cư sĩ Lư Bỉnh
[14] Tuẫn táng: Đây là một phong tục
mê tín của cổ Trung Hoa, chôn người sống theo
người chết để người chết có
người hầu hạ, bảo vệ.
[15] Tử Xa là một họ rất cổ của đất Tần. Thời Tần Mục Công, có ba vị đại phu cùng được coi là hiền thần, cùng thuộc họ Tử Xa là Tử Xa Yểm Tức, Tử Xa Trọng Hành và Tử Xa Kiềm Hổ. Cả ba vị này đều bị vương thất nhà Tần hạ lệnh giết tuẫn táng theo Tần Mục Công.
[16] Tức Tŕnh Di và Châu Hy, những người
sáng lập ra Tống Nho, chủ trương Lư Học.
[17] Theo thông lệ, người xin quy y dâng
lên vị thầy truyền giới một món tiền cúng
dường gọi là “tiền hương kính” với ư
nghĩa cúng cho thầy có tiền mua nhang đèn thờ Phật.
[18] Kỹ Lộ Chỉ Quy là tác phẩm của
ông Chiến Đức Khắc, được tổ Ấn
Quang và cư sĩ Lư Bỉnh
[19] Giảng Tiểu Ṭa là một h́nh thức
tập giảng. Trong một buổi giảng Tiểu Ṭa chỉ
có thầy và các đồng học tham dự hầu rút kinh
nghiệm diễn giảng.
[20] Chùa Quán Tông thuộc thành phố Ninh Ba, vốn có tên là Thập Lục Quán Đường, được xây dựng vào thời Nguyên Phong (1078-1085) đời Bắc Tống, vốn là nơi tỳ-kheo Giới Nhiên tu quán tưởng Niệm Phật, quyên mộ dựng ra chùa này, gồm hơn mười sáu gian. Ngài Đế Nhàn trụ tŕ chùa này từ năm 1912, đổi tên chùa thành Quán Tông, biến thành một đạo tràng chuyên hoằng dương Thiên Thai Tông.
[21] Khuông Lô, c̣n gọi là Khuông Sơn, hay Lô Sơn, ở thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Theo truyền thuyết, vào thời Châu có bảy anh em họ Khuông đến ẩn cư tại đây, rồi về sau cùng thành tiên bay đi. Chỗ ở của họ bèn biến thành ngọn núi cao, nên núi mang tên ấy. Núi dài đến 36 km, bề ngang gần 20 km, mặt Bắc nh́n xuống sông Dương Tử, mặt Nam nh́n xuống hồ Thẩm Dương, ngọn cao nhất là Hán Dương cao đến 1.417 m. Do chung quanh là nước nên núi lúc nào cũng mờ mờ ảo ảo trong sương mù nên Phật giáo Trung Hoa thường dùng từ ngữ “Lô Sơn chân diện mục” để ví cho bản lai diện mục của tự tâm. Sơ Tổ Huệ Viễn đă mở liên xă tu Tịnh Độ trên ngọn núi này.
[22] Bảo Vương Luận, gọi đủ là Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận, do Phi Tích đại sư soạn vào năm Thiên Bảo nguyên niên (742). Sư coi Niệm Phật tam-muội là vua của các tam-muội cho nên gọi Niệm Phật tam-muội là Bảo Vương tam-muội. Nội dung bộ luận này đề xướng vạn thiện đồng quy, ba đời đều cùng tu Niệm Phật. Luận này dẫn chứng rất nhiều kinh sách Tịnh Độ, dung thông những tư tưởng của Pháp Hoa, Bát Nhă, Đại Bảo Tích, Đại Tập, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận v.v… Sách này được ngài Ngẫu Ích đưa vào trong Tịnh Độ Thập Yếu vào năm Vạn Lịch 36 (1608) đời Minh Thần Tông.
[23] Phi Tích (không rơ năm sanh, năm mất,
nguyên quán): Là một vị cao tăng đời Đường,
học vấn cao trỗi, kiến thức siêu việt,
thông hiểu các học thuyết Nho Gia, Mặc Tử, tinh
thông văn chương. Sư thường nghiên cứu Luật
tông, sau tu Mật giáo, chứng ngộ khá nhiều. Vĩnh
Thái nguyên niên (765) đời Đường Đại
Tông, Sư phụng chiếu cùng mười sáu vị
như Lương Phần v.v… tham dự đạo tràng dịch
kinh của đại hành giả Mật Tông Bất Không, dịch
được các kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă,
Mật Nghiêm Kinh... Tuy thế, Sư đặc biệt chú
trọng đề xướng Tịnh Độ nên đă
soạn luận Bảo Vương Tam Muội. Ngoài ra c̣n soạn
Thệ Văng Sanh Tịnh Độ Văn.
[24] Liên Tông Bảo Giám, tác phẩm của ngài Ưu Đàm Phổ Độ chùa Đông Lâm soạn vào đời Nguyên. Tác phẩm này c̣n có tên là Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám, Lô Sơn Ưu Đàm Bảo Giám, Lô Sơn Bảo Giám Niệm Phật Chánh Nhân, hay Niệm Phật Bảo Giám. Ngài Phổ Độ tự xưng là đồ tôn chánh truyền của Sơ Tổ Huệ Viễn, kế thừa tư tưởng Bạch Liên Tông của ngài Từ Chiếu Tử Nguyên đời Nam Tống. Sư thâu thập những kinh điển, sử truyện liên quan đến Niệm Phật tam-muội. Sư cảm thán trước hiện tượng quá nhiều người xưng là Liên Tông, nhưng chẳng hiểu được ư tổ Huệ Viễn cũng như lănh hội ư chỉ của tổ Tử Nguyên, hiểu biết tà vạy, diễn dịch sai lạc pháp môn Tịnh Độ. V́ thế, qua tác phẩm này, Sư muốn hoằng dương giáo nghĩa Tịnh Độ chân chánh, đả phá những tà thuyết, nhất là trong lúc ấy, tà giáo Bạch Liên cố ư lập lờ với Liên Tông nên pháp môn Tịnh Độ bị triều Nguyên cấm đoán. Sách chia ra nhiều chương, mỗi chương gồm lời nhận định chung, dẫn những kinh luận trọng yếu và hành trạng, ngôn giáo của các vị cổ đức. Tác phẩm này khi được dâng lên Nguyên Thành Tông, nhà vua đă đích thân duyệt xét và cho phép ấn hành.
[25] Đây là dị thuyết cho rằng nếu
niệm danh hiệu ba mươi sáu vạn ức mười một
vạn chín ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu
A Di Đà Phật th́ dẫu niệm ít vẫn có công đức
lớn lao không thua ǵ niệm liên tục sáu chữ hồng
danh Di Đà. Thậm chí không cần liên tục niệm Phật,
mỗi ngày chỉ niệm vài câu này là đủ rồi!
Chư Tổ Sư Tịnh Độ như các vị Liên
Tŕ, Ngẫu Ích đều bác thuyết này v́ nếu cứ
nghĩ như vậy sẽ sanh tâm phân biệt Phật nhiều,
Phật ít, không thể nhất tâm, cũng như sẽ
lười nhác không chịu niệm Phật liên tục chẳng
gián đoạn!
[26] Để dễ hiểu ư Tổ, xin trích nguyên văn Tây Phương Hiệp Luận của ông Viên Hoằng Đạo đời Minh: “Nhất Bát Châu Tam Muội kinh: Phật cáo Bạt Đà Ḥa Bồ Tát: Nhược sa môn, bạch y, sở văn Tây Phương A Di Đà Phật sát, thường niệm bỉ phương Phật, bất đắc khuyết giới, nhất tâm niệm, nhược nhất nhật trú dạ, nhược thất nhật thất dạ, quá thất nhật dĩ hậu, kiến A Di Đà Phật, ư giác bất kiến, ư mộng trung kiến chi. Thí như mộng trung sở kiến, bất tri trú, bất tri dạ, diệc bất tri nội, diệc bất tri ngoại, bất dụng tại minh trung cố bất kiến, bất dụng hữu sở tế ngại cố bất kiến. Như thị Bạt Đà Ḥa Bồ Tát, tâm đương tác thị niệm” (một là như trong kinh Bát Châu Tam Muội có nói: Phật bảo Bạt Đà Ḥa Bồ Tát: ‘Nếu hàng sa môn hoặc kẻ bạch y nghe nói về cơi Tây Phương của Phật A Di Đà, thường niệm đến đức Phật ở phương ấy, giữ giới chẳng được thiếu sót, nhất tâm niệm, th́ hoặc trong một ngày đêm hoặc trong bảy ngày bảy đêm, sau bảy ngày sẽ thấy Phật A Di Đà, nếu khi tỉnh không thấy th́ sẽ được thấy trong mộng. Ví như những ǵ được thấy trong mộng chẳng biết là ngày, chẳng biết là đêm, cũng chẳng biết bên trong, cũng chẳng biết bên ngoài, chẳng v́ ở trong tối tăm mà chẳng thấy, chẳng v́ bị che lấp ngăn ngại mà chẳng thấy. Như thế đó Bạt Đà Ḥa Bồ Tát, tâm nên niệm như thế’). Tổ Ấn Quang giải thích hai chữ “dụng” ở đây phải hiểu là chữ “dĩ”. Do không chú ư nên sư Thành Thời đă lược bỏ hai chữ Dụng này đi.
[27] Tịnh Độ Thập Yếu gồm mười tác phẩm gộp lại: A Di Đà Kinh Yếu Giải (của ngài Ngẫu Ích soạn), Văng Sanh Tịnh Độ Sám Nguyện Nghi, Văng Sanh Tịnh Độ Quyết Nghi Hạnh Nguyện Nhị Môn (hai cuốn này đều do ngài Tuân Thức đời Tống soạn), Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sơ Tâm Tam Muội Môn (do ngài Thành Thời soạn), Thọ Tŕ Phật Thuyết A Di Đà Kinh Hạnh Nguyện Nghi (cũng do ngài Thành Thời soạn), Tịnh Độ Thập Nghi Luận (do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy), Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận (của ngài Phi Tích đời Đường soạn), Tịnh Độ Hoặc Vấn (do ngài Thiện Ngộ đời Nguyên soạn), Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ (do ngài Diệu Hiệp soạn vào đời Minh), Tây Trai Tịnh Độ Thi (do ngài Phạm Kỳ đời Nguyên trước tác), Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận (do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh) và Tây Phương Hiệp Luận (do cư sĩ Viên Hoằng Đạo soạn vào đời Minh).
[28]
Kinh Đại Tập (Mahā-Samnipāta-Sūtra), có tên gọi đầy đủ là Đại
Phương Đẳng Đại Tập Kinh, chính là tổng
tập của các kinh thuộc hệ thống Đại Tập
Bộ. Vào năm thứ 16 sau khi thành đạo, đức
Phật tập hợp tất cả các Bồ Tát và long
thiên quỷ thần trong mười phương cơi nước,
giảng cho họ nghe pháp tạng thậm thâm về mười
sáu thứ đại bi, ba mươi hai thứ nghiệp
v.v… chủ yếu tuyên giảng về Lục Ba La Mật của
Đại Thừa và tánh Không của pháp, cũng như các
giáo nghĩa, đà-la-ni trong Mật giáo và những chuyện
hộ pháp của các vị Phạm Thiên, long chúng v.v… Ngoài
phương diện xiển dương tánh Không ra, kinh này
mang đậm sắc thái Mật giáo. Toàn kinh chia làm mười
bảy phẩm, gồm sáu mươi quyển. Từ phẩm
thứ nhất đến phẩm 11 do ngài Đàm Vô Sấm
dịch vào đời Bắc Lương, phẩm 12 do ngài
Trí Nghiêm và Bảo Vân cùng dịch vào đời Lưu Tống
(phẩm Bảo Kế Bồ Tát này c̣n có bản dịch
khác mang tên Vô Tận Ư Bồ Tát Kinh), phẩm 13 do ngài Đàm
Vô Sấm dịch, phẩm 14, 15, 16 do ngài Na Liên Đề Da
Xá dịch. Ba phẩm này c̣n được dịch với
các tên khác là Đại Thừa Đại Phương
Đẳng Đại Tập Nhật Tạng Kinh, Đại
Thừa Đại Phương Đẳng Đại Tập
Nguyệt Tạng Kinh, Đại Thừa Tu Di Tạng Kinh.
Phẩm 17 tập hợp những kinh về Lục Độ
do ngài An Thế Cao dịch. Ngoài ra, kinh này c̣n có nhiều bản
dịch khác tương đồng như: Phẩm 1 và phẩm
2 tương ứng với Đại Ai Kinh do ngài Trúc Pháp
Hộ dịch vào đời Tây Tấn. Phẩm 3
tương ứng với Bảo Nữ Sở Vấn Kinh
cũng do ngài Trúc Pháp Hộ dịch. Phẩm 5 tương ứng
với Hải Ư Bồ Tát Sở Vấn Tịnh Ấn Pháp
Môn Kinh do ngài Duy Tịnh dịch vào đời Bắc Tống.
Phẩm 6 tương ứng với Vô Ngôn Đồng Tử
Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch. Phẩm 8 tương ứng
với Đại Tập Hư Không Tạng Bồ Tát Sở
Vấn Kinh do ngài Bất Không dịch vào đời
Đường. Phẩm 9 tương ứng với Bảo
Tinh Đà La Ni Kinh do ngài Ba La Phả Mật Đa dịch
vào đời Đường. Phẩm 10 tương ứng
với Bảo Kế Bồ Tát Sở Vấn Kinh do ngài Trúc
Pháp Hộ dịch. Phẩm 11 tương ứng với A
Sai Mạt Bồ Tát Kinh cũng do ngài Trúc Pháp Hộ dịch.
[29] Nguyên văn là “phù cơ” (thường bị
đọc trại thành “pḥ cơ” ), tức là h́nh thức
“vịn cơ bút”. Cơ bút ở Trung Hoa thường
được làm có h́nh dáng giống như cái giỏ, trang
trí đẹp đẽ, trên thành giỏ có một cái mỏ
nhọn khắc h́nh chim loan, nên đôi khi c̣n gọi là “phù
loan”. Mỗi lần cầu cơ, hai người “phù
cơ” (thường gọi là “đồng tử” hay “thanh
đồng”) sẽ nâng hai bên cái giỏ, dịch chuyển
cho mỏ chim loan viết chữ xuống mâm gạo hay mâm
cát.
[30] Hàn Lâm Viện là một cơ cấu
được thiết lập từ thời Đường,
thoạt đầu chỉ nhằm tuyển chọn những
người có tài văn chương, nghệ thuật, tri
thức quảng bác làm cố vấn cho triều đ́nh.
Nhưng từ đời Đường Huyền Tông trở
đi, Hàn Lâm Viện trở thành một cơ quan trọng
yếu chuyên trách soạn thảo những chiếu chỉ,
chế văn cơ mật cho hoàng đế. Những
người làm việc trong cơ quan này được gọi
chung là Hàn Lâm Học Sĩ, hay gọi tắt là Hàn Lâm. Thật
ra, có hai loại: Hàn Lâm Học Sĩ chuyên soạn công
văn, chế, chiếu. C̣n Hàn Lâm Cung Phụng lo giữ sổ
sách và công việc hành chánh trong cơ quan. Chữ Hàn Lâm Viện
của cổ Trung Hoa có ư nghĩa hoàn toàn khác biệt với
chữ Hàn Lâm Viện hiện thời.
[31] Ngọc Đế, gọi đầy đủ là Ngọc Hoàng Thượng Đế, theo tín ngưỡng dân gian là một vị thần tối cao chưởng quản chư thiên và muôn loài trong toàn thể vũ trụ, thường được Nho Gia xưng tụng là Hạo Thiên Thượng Đế. Tuy thế, trong Đạo Giáo, Ngọc Đế vẫn thấp hơn Tam Thanh (Thái Thanh, Thượng Thanh, và Ngọc Thanh), v́ được coi như một vị tôn thần được Tam Thanh sanh ra để thay các Ngài chưởng quản vũ trụ. Theo Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập, vương tử của Quang Minh Diệu Quốc bỏ ngôi vua, tu theo đạo của Tam Thanh trong núi Hương Nghiêm trở thành chân tiên. Đạo Giáo xưng tặng Ngọc Đế mỹ hiệu “Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chân Ngọc Hoàng Thượng Đế”. Trong Phật pháp, Ngọc Hoàng Thượng Đế chính là Đế Thích trong Dục Giới. Như vậy, địa vị của Ngọc Hoàng Thượng Đế c̣n thấp hơn Đại Phạm Thiên Vương rất nhiều, có lẽ nào Quán Thế Âm Bồ Tát quỳ trong điện Linh Tiêu cầu Thượng Đế hạ chiếu làm mưa!
[32] Tây Phương Xác Chỉ là tập sách
ghi chép những lời giáng cơ của Giác Minh Diệu Hạnh
Bồ Tát, do Thường Nhiếp kết tập. Theo
đó, vào cuối đời Minh, bọn ông Tưởng Vô
Hủ gồm tám người thích tu Tiên thường tụ
tập lại cùng nhau cầu cơ. Một ngày nọ, có một
vị tiên giáng xuống, dạy họ niệm Nam Mô Phật,
họ bèn xưng Nam Mô Phật, vị ấy bảo niệm
Phật không phải chỉ niệm bằng miệng xuông
như thế, rồi dần dần chỉ dạy họ
tu pháp môn Tịnh Độ, trừ bỏ tâm ham muốn
trường sanh bất tử, cũng như đả phá
những thói hư tật xấu của họ. Tám người
này về sau đều thành những hành nhân Tịnh Độ
tinh tấn. Những lời dạy của Giác Minh Diệu
Hạnh Bồ Tát về Tịnh Độ hoàn toàn phù hợp
với giáo huấn của chư Tổ Tịnh Độ,
đả phá mạnh mẽ tệ nạn cầu cơ nên
rất được Phật môn Trung Hoa coi trọng. Tây
Phương Xác Chỉ cũng được đưa vào
Tục Tạng Kinh.
[33] Đại tiên Hoàng Xích
Tùng: Trong hệ thống thần thánh của Đạo Giáo
không thấy liệt kê tên vị này. Theo truyền thuyết,
năm Quang Tự 23 (1897), tại Hoa Nam, dân t́nh khốn khổ,
bệnh dịch lan tràn, nên các đàn cầu cơ cầu
tiên cho thuốc chữa bệnh rất thịnh hành. Có một
vị giáng cơ tự xưng tên là đại tiên Hoàng Xích
Tùng, thường cho thuốc rất linh nghiệm. Từ
đó, h́nh thành tín ngưỡng thờ phụng Hoàng Đại
Tiên. Do vị này tự xưng lúc sống là một thầy
lang nên tranh thờ thường vẽ một vị trung
niên mặc y phục theo kiểu thầy lang thời Măn
Thanh. Miếu thờ đầu tiên được thành lập
ở thôn Nẫm Cương, thuộc huyện Nam Hải,
tỉnh Quảng Đông, đặt tên là Phổ Độ
Đàn, rồi dần dần phổ biến sang
Hương Cảng và Đài Loan.
[34] Tịnh Độ Tập Yếu là một
tác phẩm do cư sĩ Khổ Hạnh biên soạn, cư
sĩ Phan Huệ Thuần và Thiệu Huệ Viên tu đính, Ấn
Quang đại sư giám định, được chia
thành ba phần: Phần đầu giải thích, biện
định pháp môn Tịnh Độ, phần thứ hai
trích thuật những pháp ngữ Tịnh Độ của
chư Tổ Sư đại đức, phần cuối
cùng là nghi thức niệm Phật và trích lục một số
kinh sách chủ yếu của Tịnh Độ.
[35] Kinh Ngọc Hoàng, c̣n gọi là Thánh Nguyên Giác Chân Kinh, hoặc chỉ gọi gọn là Hoàng Kinh, là một bộ kinh điển chủ yếu của Đạo Giáo, nội dung tán dương Ngọc Đế và thuật những sự tích xưa kia của ông ta.
[36] Tọa Hoa Chí Quả là một tác phẩm
tập hợp những chuyện về quả báo do
Vương Đạo Đỉnh (Tọa Hoa chủ nhân)
biên soạn vào thời Hàm Phong nhà Thanh.
[37] Do chánh quyền huyện Cám Châu (tỉnh
Giang Tây) toan biến chùa Thọ Lượng thành khu chợ
búa, rồi họ mượn tiếng xây dựng đường
xá, toan phá ngôi chùa này thành b́nh địa, nhân sĩ địa
phương cậy thầy Đức Sâm lập cách cứu
văn, do thầy Đức Sâm đă từng trụ ở chùa
Thọ Lượng một thời gian. Xin coi chi tiết
nơi bài Sớ Thuật Duyên Khởi Trùng Hưng Chùa Thọ
Lượng trong phần Tạp Trước và bài “So sánh sự
tổn hại và lợi ích giữa được và không
được trợ niệm” của thầy Đức
Sâm trong phần Phụ Lục, sách Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao Tục Biên, quyển Hạ.
[38] Mông Sơn Thí Thực là một khoa nghi thí thực cho cô hồn. Mông Sơn nay thuộc huyện Danh Sơn, tỉnh Tứ Xuyên. Vào đời Tống, có Bất Động Thượng Sư sống trên núi này, được thế gian xưng tặng là Cam Lộ đại sư. Để phổ tế cô hồn, Sư tập hợp những điểm chánh yếu trong khoa nghi Du Già Diệm Khẩu và các kinh phổ thí cô hồn trong Mật Tạng soạn thành khoa Mông Sơn Thí Thực. Khoa nghi này thường được các chùa tụng niệm vào khóa chiều một cách đơn giản, phẩm vật cúng thí thường chỉ là gạo muối hay cháo. Cận đại, Hưng Từ pháp sư đề xướng thêm vào đấy sáu phen khai thị, nên khoa nghi mới này được gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực để phân biệt với khoa nghi Mông Sơn thường dùng. Trong Đại Mông Sơn Thí Thực, phải lập pháp đàn, thờ tượng Phật, bày nhiều hương hoa, vật cúng, gạo trắng, nước trong, cung thỉnh vị Tăng có phẩm đức thuyết pháp khai thị. Trước đàn chánh bày đài cô hồn và thờ bài vị của các vong linh trong mười phương pháp giới. Sau khi dâng hương bèn dùng vải vàng bọc quanh đài cô hồn để quỷ thần tụ vào đó lễ bái, nghe pháp thọ thực, không bị chướng ngại. Giờ cử hành pháp sự thường vào hai giờ Tuất và Hợi.
[39] Đây là một tục lệ kỳ quặc
của Phật môn Trung Hoa vùng Hoa
[40] Thủy Lục là pháp hội thí thực cho ngạ quỷ cũng như hết thảy những sinh vật sống trên đất, dưới nước nhằm cứu bạt các loài quỷ. Theo Thích Môn Chánh Thống, quyển 4: “Gọi tên là Thủy Lục là do ư nghĩa ‘chư tiên đến ăn trong các ḍng nước, quỷ đến ăn nơi đất sạch”. Duyên khởi của pháp hội này là do Tiêu Diễn (Lương Vũ Đế) mộng thấy thần tăng dạy lập trai hội nhằm phổ tế quần linh trong lục đạo tứ sanh. Vua bèn cầu cao tăng đọc khắp các kinh điển, y theo chuyện A Nan gặp quỷ Diện Nhiên, thiết lập pháp hội thí thực b́nh đẳng, soạn ra khoa nghi. Theo Phật Tổ Thống Kư, pháp hội Thủy Lục đầu tiên được cử hành tại chùa Kim Sơn vào năm Thiên Giám thứ tư (505) đời Hậu Lương. Về sau khoa nghi này thất truyền. Đến niên hiệu Hàm Thuần đời Đường, pháp sư Đạo Anh chùa Pháp Hải tại Trường An được dị nhân chỉ điểm, t́m lại được khoa nghi bèn tổ chức và lưu truyền pháp hội này.
[41] Câu nói này xuất phát từ sách Mạnh
Tử, thiên Ly Số: “
[42] Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajñāpāramitā Hrdaya Sūtra), ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang ra, c̣n có sáu bản dịch nữa với tên gọi khác biệt: Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Đại Minh Chú Kinh (Cưu Ma La Thập dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Na Đề Kinh (Bồ Đề Lưu Chi dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Bát Nhă và Lợi Ngôn dịch), Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Pháp Nguyệt dịch), Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Trí Huệ Luân dịch), và Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (Thi Hộ dịch).
[43] Bát Nhă (734-?), là một vị cao tăng dịch kinh đời Đường, đôi khi c̣n được phiên âm là Bát Lạt Nhă (Prajñā), người nước Kế Tân ở Bắc Ấn Độ, họ Kiều Đáp Ma (Gotama), xuất gia năm bảy tuổi, năm 20 tuổi thọ Cụ Túc, năm 23 tuổi đến chùa Na Lan Đà ở Trung Ấn theo học với các vị Trí Hộ, Tấn Hữu, Trí Hữu v.v… chuyên nghiên cứu Duy Thức, Du Già, Trung Biên, Kim Cang Kinh, Ngũ Minh v.v… Năm Kiến Trung thứ hai (781) đời Đường Đức Tông, Sư đến Trường An. Năm Trinh Nguyên thứ tư (788), Sư dịch bộ Đại Thừa Lư Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh, năm sau lại dịch các ấn khế, chân ngôn, pháp môn từ trong Mật Tạng. Tháng bảy năm Trinh Nguyên thứ sáu (790), phụng chiếu đi sứ nước Ca Thấp Di La (Kashmir). Không lâu sau, Sư được sắc phong danh hiệu Bát Nhă Tam Tạng và được ban ca-sa tía. Sau đó, Sư dịch các bộ Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Tứ Thập Hoa Nghiêm, Đại Thừa Bản Tánh Tâm Địa Quán Kinh, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh v.v… Sư mất tại Lạc Dương, di thể chôn ở Tây Cương, Long Môn, không rơ thọ được bao nhiêu tuổi.
[44] Lợi Ngôn, không rơ năm sanh, là một
vị cao Tăng đời Đường, người xứ
Cưu Ty (Kuche) ở Tây Vực. Tên ngài c̣n được
phiên âm là Địa Chiến Thấp La (Chân Nguyệt). Khi
sa-môn Pháp Nguyệt từ Đông Ấn Độ sang
Cưu Ty, Sư được gặp gỡ, bèn theo ngài
Pháp Nguyệt học tập nội ngoại điển,
nghe giảng các bộ Đại Thừa Nguyệt
Đăng Tam Ma Địa Kinh, Lịch Đế Kỷ,
Du Già Chân Ngôn đều nhớ nằm ḷng. Năm Khai Nguyên
mười bốn (726), Sư được thọ Cụ
Túc, chuyên nghiên cứu học hỏi các kinh Đại Tiểu
Thừa, sách tiếng Hán, sách tiếng Phạn, cũng
như các phương ngôn ở Tây Vực. Năm Khai Nguyên
18 (730), theo thầy qua phương Đông, đến
năm Khai Nguyên 20 (732), thầy tṛ tới Trường An,
Sư làm người phiên dịch cho thầy, thường
vào cung, rất được Đường Huyền Tông
kính nể. Năm Khai Nguyên 24 (736), Sư trở về Tây Vực.
Lúc ấy nước Phùng Thức Nặc đang có quốc
biến, đường đi bị nghẽn, Sư bèn
sang Vu Điền. Sau khi ngài Pháp Nguyệt thị tịch,
Sư bèn trở về chùa cũ. Năm Thiên Bảo mười
ba (754), Sư lại sang phương Đông, đến
tháng Hai năm sau bèn tới ngụ tại các chùa Long
Hưng và Báo Ân, giúp ngài Bất Không dịch kinh. Năm Trinh
Nguyên thứ 4 (788), Sư chính thức giữ chức Dịch
Ngữ trong đạo tràng phiên dịch. Năm sau, lại
theo hầu Bát Nhă Tam Tạng, đảm nhiệm việc
phiên dịch kinh Na La Diên Lực Kinh. Không rơ Sư mất khi
nào. C̣n để lại những trước tác như Phạm
Ngữ Tạp Danh, Tây Minh Tự Viên Chiếu Thi Tập.
Ngoài ra những di cảo của Sư cũng được
môn nhân thâu thập thành Phiên Kinh Đại Đức Hàn Lâm
Đăi Chiếu Quang Trạch Tự Lợi Ngôn Tập.
[45] Tào Lỗ Xuyên là một vị cư
sĩ sống cùng thời tổ Liên Tŕ. Khi tác phẩm A Di
Đà Kinh Sớ Sao của đại sư Liên Tŕ
được phổ biến trong cơi đời, Tào Lỗ
Xuyên đôi ba phen cật vấn, cho là Tổ phế bỏ
Tam Tạng kinh điển, coi căn khí của mọi
người đều hèn kém như nhau, buộc tất cả
mọi người đều phải tu pháp thiển cận,
lên án Tổ coi thường kinh Hoa Nghiêm, đề cao kinh
Di Đà quá đáng, toan dùng pháp môn Tịnh Độ chèn ép
các tông khác, coi thường chư Phật, chỉ đề
cao riêng ḿnh Phật Di Đà v.v…
[46] Điện Hàm Nguyên là tiền điện
của cung Đại Minh thuộc kinh đô Trường
An (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây) của nhà
Đường. Căn cứ trên phế tích và những di
vật được khai quật, người ta biết
điện này hùng vĩ và tráng lệ hơn điện
Thái Ḥa thuộc Tử Cấm Thành Bắc Kinh đời
Minh rất nhiều. Do được dùng chủ yếu
để thiết đại triều, nên trong điện
Hàm Nguyên tập trung mọi thứ quư báu, hoa mỹ nhất
của đế quốc Đại Đường.
[47] Di Đà Yếu Giải Tiện Mông Sao
là tác phẩm giải thích bộ Di Đà Kinh Yếu Giải,
do sa-môn Đạt Mặc ở Hồng Loa viết lời
sao, tỳ-kheo Đạt Lâm tu đính. Hai vị này cùng sống
vào giữa đời Thanh.
[48] Tam Muội Da Giới: C̣n gọi là Tam Ma
Da Giới, tức giới pháp bí mật trong Mật Tông.
Theo giáo nghĩa Mật Tông, giới này lấy Bồ Đề
Tâm làm giới thể, lấy pháp giới vô lượng
đức viên măn làm hành tướng cho Bí Mật Chân Ngôn Giới.
Giới tướng của giới này là chẳng bỏ
chánh pháp, chẳng ĺa bỏ tâm Bồ Đề, chẳng
keo kiệt hết thảy pháp, chẳng hề không lợi
lạc chúng sanh. Đấy chính là bốn điểm trọng
yếu của giới này. Ngoài ra, c̣n có những điều
phải tuân thủ riêng khi thọ tŕ một bộ chú pháp
nào đó, chẳng hạn như không được ăn
một số thực phẩm nào đó, phải tẩy tịnh
trước khi vào đàn tràng theo một nghi thức chuyên
biệt v.v… cũng như phát thệ không tự tiện nói
cho người khác biết những ǵ ḿnh đă được
học, nhằm tránh tạo khẩu nghiệp báng pháp cho
người thiếu căn duyên với Mật pháp khởi
ḷng nghi rồi hủy báng. Trước khi vào đàn thọ
pháp Mật Tông phải thọ giới này. Nói chung, Tam Muội
Da Giới vẫn lấy Ngũ Giới làm căn bản,
những kẻ tự xưng là Mật Tông bí truyền không
vâng giữ Ngũ Giới đều là tà sư hoại loạn
Phật pháp!
[49] Chuẩn Đề (Cundī), c̣n được gọi là Chuẩn Chi, Chuẩn Nê, Chuẩn Đề Quán Âm, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn Đề, dịch nghĩa là thanh tịnh. Đây là một hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, đặc biệt bảo hộ chúng sanh đoản mạng và chiết phục oán quỷ. Thiền Tông đặc biệt tôn sùng vị Bồ Tát này, hầu như các tự viện tùng lâm lớn của Trung Hoa đều thờ ngài. Thai Mật của Nhật Bản xếp ngài vào một trong các vị Phật Mẫu thuộc Phật Bộ, c̣n Đông Mật Nhật Bản xếp ngài vào một trong số sáu vị Quán Âm thuộc Liên Hoa Bộ (Thiên Thủ Quán Âm, Thánh Quán Âm, Mă Đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm, Như Ư Luân Quán Âm). Đại Sĩ Quán Âm hiện thân này khi nói chú Chuẩn Đề. Ngài thường được tạc tượng có mười tám tay, mỗi tay cầm một món pháp khí, nhằm thể hiện phân thân hóa độ khắp cả lục đạo ứng với mười tám giới.
[50] Ngược bệnh: Chữ Ngược
ở đây không phải là bệnh sốt rét thông thường,
mà là bệnh do oán đối quỷ mị dựa vào khiến
cho bệnh nhân lên cơn sốt rét mỗi ngày, phải nhờ
vào chú lực hoặc kinh lực để giải trừ oán
kết th́ mới hết bệnh được. Chúng tôi vẫn
dùng chữ “bệnh sốt rét” cho dễ hiểu.
[51] Do cuối Tâm Kinh là một bài chú nên nếu
hiểu như ông Thôi Đức Chấn “chưa được
A Xà Lê truyền dạy sẽ không được niệm;
nếu tự tiện niệm sẽ mắc tội vượt
pháp”, những Nho sĩ do không được truyền dạy
mà khi bị bệnh Ngược cứ tự tiện niệm
Tâm Kinh sẽ mắc tội vượt pháp, phước
đức càng bị sút giảm, con quỷ gây bệnh
Ngược do đó càng được tăng thêm thế
lực.
[52] “Tiếm mạo” là vượt phận
và mạo nhận. Ư nói có những người tu Mật
Tông biết được một vài nghi quỹ, được
truyền thụ một vài Mật Pháp, nhưng chưa
đủ tư cách, giới hạnh của một bậc
đạo sư, chưa thấu hiểu Mật pháp, nhất
là chưa đủ sự hành tŕ, đă tự tiện lập
đàn truyền pháp, thâu nhận đệ tử, tự
xưng là A Xà Lê, rồi lập tông, lập phái.
[53] Đây là một thuật ngữ Mật
Tông, hành nhân vào đàn, quán tưởng, kết ấn, cúng
dường, tụng niệm, hỏa cúng dường (hộ-ma)
đều gọi chung là “tác pháp”.