Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Phần 4
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
86. Thư
trả lời cư sĩ Trầm Lai Vân
(năm Dân Quốc 21- 1932)
Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ
thành Phật, điều đáng lo là trái giác hợp trần,
chẳng chịu quay đầu th́ Phật không làm thế
nào được! Nếu chịu quay đầu th́ kẻ
trước kia trái giác hợp trần, mất niệm thành
cuồng nay sẽ trái trần hợp giác, chế ngự
được ư niệm, thành thánh vậy! Do tự tâm sẵn
có Phật Tánh, ḷng từ của Phật nhiều kiếp
thường rủ, huống chi di phạm (khuôn mẫu
để lại) của lệnh nghiêm, lệnh cô trượng[1] vẫn
c̣n, thật đúng là “hễ cầu bèn được”.
Quang đă già rồi, tinh thần chẳng đủ; v́ thế,
trốn sang chùa Báo Quốc ở Tô Châu. Chùa này đă không có
bất động sản mà cũng chẳng có chuyện
thù tiếp, chỉ có mấy người kết lều
tranh trú ngụ, suốt ngày đóng cửa sống qua ngày.
Nay do ḷng thành của ông muốn khai thị nhiều th́ sẽ
mệt nhọc khôn ngằn. Nay gởi cho ông Văn Sao, Gia
Ngôn Lục, mỗi thứ một bộ. Xin đọc kỹ
rồi hành theo đó th́ ông cũng sẽ đạt
được những ǵ lệnh nghiêm, lệnh cô trượng
đă đạt được.
Nhưng muốn sanh về
Tịnh Độ, ắt cần phải giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng
giữ các điều lành th́ mới được! Nếu
không, tâm trái nghịch với Phật, khó được lợi
ích thật sự! “Giữ vẹn luân thường” vừa
nói đó chính là tận lực hành hiếu, đễ, trung,
tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Cần phải thực hiện
thật sự giữa cha con, anh em, vợ chồng, bè bạn;
nhưng bổn phận làm con c̣n dễ trọn, dễ biết,
chứ bổn phận làm cha mẹ của người khác
th́ khó trọn, khó biết! Rất nhiều kẻ mù quáng quấy
rối ngày nay tuy là tội của bọn họ, nhưng
xét đến cội nguồn th́ đều v́ cha mẹ họ
chưa hề đem đạo lư làm người và sự
thật nhân quả bảo ban. Những ǵ họ được
dạy dỗ đều là chú trọng suy nghĩ mưu mẹo,
lường gạt, nên mới đến nỗi xấu
hèn như thế! Do vậy, nói rằng: “Nếu con người khéo dạy dỗ con cái th́ gia
đạo tự được hưng vượng, thiên
hạ thái b́nh!” Khi con cái vừa mới hiểu biết,
xin hăy đem ngay những chuyện con người nên làm và
những điều chứng nghiệm thật sự về
thiện - ác, nhân - quả thường
nói với chúng th́ con cháu nhiều đời về sau đều
trở thành hiền nhân, thiện nhân. Do vậy, đây là nguyên
do tại sao bổn phận của người làm cha mẹ
so với bổn phận của kẻ làm con cái khó thể trọn
hết được vậy!
87. Thư
trả lời cư sĩ Thái Tích Đỉnh ở Hải
Môn (ba lá thư)
1) Điều
ông chấp thuộc về Đoạn Kiến[2],
chẳng biết một niệm tâm tánh của con người
chúng ta chẳng phải thường, chẳng phải
đoạn! V́ sao chẳng phải đoạn? Trước
không có khởi đầu, sau không có kết thúc. Nếu có
khởi đầu và kết thúc là rớt vào Đoạn Kiến!
V́ sao chẳng phải thường? Bản tánh thường
nhiên bất biến, nhưng lại có ư nghĩa tùy duyên. Hễ
gặp duyên ngộ - tịnh, sẽ thành Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, Phật. Tuy viên thành Phật đạo
nhưng [tâm tánh] trọn chẳng tăng, chỉ bỏ hết
vọng tưởng, chấp trước, khôi phục tâm
tánh sẵn có mà thôi! Nếu gặp duyên mê - nhiễm bèn thành
trời, người, Tu La, quỷ, súc sanh, địa ngục.
Tuy luân hồi trong sáu nẻo, [tâm tánh] trọn chẳng bị
giảm, chỉ do vọng tưởng, chấp trước
che lấp bản tánh như mây che mặt trời nhưng mặt
trời vẫn y như cũ, không bị hao hụt! Thuở
ban đầu ông học phép Châu Thiên Đại Đạo[3],
đây chẳng những không phải là Phật pháp, mà
cũng chẳng phải là phép của Lăo Tử. Hăy thử
xem Đạo Đức Kinh của Lăo Tử có câu: “Ngô hữu đại hoạn, vị
ngô hữu thân” (ta có mối lo lớn là v́ ta có thân).
Ngoại
đạo đều chú trọng trường sanh bất
lăo và thành Đại La thần tiên. Nếu trở thành thần
tiên nơi cung Đại La[4],
xưng “thần” (bầy tôi) dưới ṭa của Ngọc
Đế, liền cho là vinh dự không chi hơn được!
Chẳng biết Ngọc Đế vẫn c̣n thuộc trong
lục đạo, huống ǵ những kẻ xưng thần
dưới ṭa Ngọc Đế! Hơn nữa, ông nói lúc
trời đất mở mang, chúng sanh từ đâu đến
ư? Chẳng biết trời đất giống như
nhà cửa. Khi dựng xong cái nhà mới th́ những người
ở trong căn nhà cũ bị phá [trước kia] đă
phải di cư sang nơi khác, nay theo như cũ trở về
chốn xưa. Đến khi nhà cửa sắp hư, sẽ
di chuyển [sang nơi khác] cũng giống như thế.
V́ vậy, kẻ có tội nghiệp sẽ di cư sang ác
đạo trong thế giới phương khác. Người
có công đức sanh vào Nhị Thiền Thiên[5].
Sơ Thiền[6] hoại bảy lần
th́ Nhị Thiền mới hoại một lần. Nhị
Thiền hoại bảy lần th́ Tam Thiền[7] mới
hoại một lần. Đây gọi là Tam Tai. [Cơi trời]
Tứ Thiền[8]
vĩnh viễn không bị hư hoại. Khi Tam Thiền hoại,
những chúng sanh có công đức đều sanh lên Tứ
Thiền.
Lại nữa, ông
đă tin vào pháp môn Tịnh Độ sao không sốt sắng
tu hành, lại cứ lầm lạc muốn trở thành bậc
thông gia hỏi những chuyện chẳng liên quan đến
phận ḿnh như vậy? Ông vốn mang tánh chất ngoại
đạo, coi ngoại đạo là Phật pháp, coi Phật
pháp là ngoại đạo. Những niềm tin hồ đồ
này lẽ ra chẳng nên trả lời, nhưng thật sợ
biết đâu ông có duyên với Phật, nhờ đây có thể
phản tà quy chánh cũng không chừng! V́ thế, khôn
ngăn dài ḍng một phen. Nếu tin được th́ cứ
chiếu theo Gia Ngôn Lục mà tu, ắt được lợi
ích lớn lao. Nếu muốn phô phang sự biện luận
mù quáng của chính ḿnh, cứ gởi thư tới thư
lui để hỏi han, chắc chắn tôi sẽ không trả
lời. V́ sao vậy? Đă chẳng thể lănh hội, vẫn
chấp mê là đúng, ai rảnh rỗi tâm tư để
biện luận cùng ông những chuyện chẳng liên quan
đến thân tâm, tánh mạng của chính ḿnh cơ chứ?
Tôi vốn muốn phê đại lược vào thư ông,
hiềm rằng ư nghĩa lời phê quá sơ sài th́ ḷng nghi
của ông vẫn chẳng thể giải quyết
được; v́ thế mới tiếp tục viết
hai trang.
2) Năm
ngoái đă phải giảo duyệt sách không rảnh rỗi,
sau đó lại bị bệnh không rảnh rang để sửa
sách, cho nên chỉ bảo Lư Viên Tịnh[9] gởi
pháp danh Đức Tịnh [cho ông] mà thôi! Những ǵ đă được
nói trong Văn Sao đều là khai thị, nhưng Gia Ngôn Lục
lại tom góp [những khai thị trọng yếu] vào một
chỗ, khá dễ lănh hội, cần ǵ cứ phải có một
lá thư trả lời trong lúc trăm chuyện bận bịu?
Những kẻ hoằng pháp hiện thời đa phần
tự khoe thượng căn lợi khí, lại c̣n dùng
[cung cách] thượng căn lợi khí để đối
xử với người khác nên chẳng chú trọng tŕ
danh cầu văng sanh, chỉ mong mỏi khai ngộ. Điều
này phải do chính bản thân người tu hành tự
lượng th́ mới nên! Nếu người ấy có thể
khai ngộ, hiểu giáo lư, lại có thể đoạn sạch
được Kiến Hoặc và Tư Hoặc th́ c̣n chi tốt
bằng? Nếu chẳng thể, lẽ đương
nhiên nên y theo tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương, đấy là sách lược quyết định
tốt đẹp có một không hai! Nếu không, về mặt
gieo thiện căn quả thật là có, nhưng với chuyện
liễu sanh tử sợ rằng khó thể dự đoán
được số kiếp [nào sẽ có thể liễu
thoát được]!
Ông ở trong hàng ngoại
đạo đă lâu, ông đă sanh ḷng chánh tín th́ phàm lời
ăn tiếng nói, xử sự chớ nên giống với
bọn họ, có lẽ sẽ chuyển được tà
chấp của họ. Điều cần thiết bậc
nhất là phải giữ vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng giữ các điều lành. Điều
cần thiết thứ hai là phải có đủ ḷng tin
chân thành, nguyện thiết tha, tŕ danh hiệu Phật, chẳng
để cho tâm danh lợi, và [cầu mong] phước báo
trời người chớm nẩy chút nào th́ có thể gọi
là Đức Tịnh. Tức là như kinh Duy Ma đă dạy:
“Dục sanh Tịnh Độ,
đương tịnh kỳ tâm. Tùy kỳ tâm tịnh, tắc
Phật độ tịnh” (Muốn sanh Tịnh Độ,
nên tịnh cái tâm. Hễ cái tâm đă tịnh th́ cơi Phật
sẽ tịnh). Tâm có ô uế, làm sao sanh về Tịnh
Độ cho được?
Nếu muốn hóa
độ người khác, quả thật chẳng cần
phải bày vẽ môn đ́nh, chỉ nên bảo mọi
người ai nấy ở trong nhà của chính họ tu tŕ
những điều vừa nói trên đây là được
rồi! Nếu muốn lập một tổ chức hẳn
ḥi th́ chỉ cần mượn một chùa miếu nào
đă có sẵn để làm chỗ đề xướng
mỗi kỳ (Mỗi kỳ tùy theo nhân sự để
hạn định, hoặc là mỗi tháng hai lần, hoặc
là mỗi tuần một lần, chớ nên lăng phí tiền
tài. Mọi chuyện phải lấy tiết kiệm làm
điều chánh yếu). Nếu muốn
xây cất ngay th́ trong lúc này thời cuộc gian nan, không những
khó thể thành tựu mà c̣n rất có thể chuốc lấy
những họa hoạn khác! Suốt đời Quang chẳng
ưa bày vẽ, cho nên suốt đời chẳng làm chủ
nhân, chẳng thâu đồ đệ, chỉ làm một ông
Tăng ăn nhờ ở đậu trong chùa người
ta. Mười mấy năm gần đây, do bên ngoài đồn
thổi, mọi người lầm nghe, tưởng Quang
là thiện tri thức đến nỗi bận bịu khôn
cùng! Nay đă bảy mươi rồi, làm sao có thể
thường bận bịu cho được? V́ thế muốn
gấp ẩn cư, cự tuyệt hết thảy chuyện
t́nh nghĩa qua lại. Tôi sẽ qua Thượng Hải ẩn
dật măi măi, từ rày đừng gởi thư tới nữa!
3) Đệ
tử Phật cúng tổ tiên, lẽ đương nhiên nên
lấy tụng kinh, tŕ chú, niệm Phật làm chánh. Đốt
giấy vàng bạc cũng chẳng nên bỏ, bởi chẳng
biết chắc [tổ tiên] đă được văng sanh
ngay [hay chưa?] Dẫu chắc chắn được văng
sanh ngay, cũng chẳng ngại ǵ giúp cho kẻ chưa
được văng sanh chi dùng. Người thọ Ngũ Giới
nên đắp mạn y[10]
là [loại y] có năm điều thẳng, chứ không phải
là [loại y] năm điều gồm một miếng dài,
một miếng ngắn. Nay th́ y năm điều một
dài một ngắn, y bảy điều hai dài một ngắn,
[hàng tại gia đệ tử] thường đắp loạn
xạ, thật là “tiếm việt” (lạm danh, vượt
phận). So với chuyện tiếm việt này, chẳng
thà không đắp y c̣n tốt hơn! Nếu muốn đắp
y th́ chỉ nên trong lúc lễ bái mới đắp, chẳng
nên thường đắp đến nỗi rối loạn
nghi thức, quy củ. “Cụ” vốn có tên là “tọa cụ”[11]
để dùng trong lúc ngồi, nước ta lại thường
dùng trong lúc lễ bái! Hễ theo đại chúng th́ không thể
chẳng dùng, c̣n tự hành th́ dùng hay không tùy ư ta. Tăng c̣n
như thế huống ǵ là cư sĩ ư?
88. Thư
trả lời cư sĩ Lương Huệ Đống
(năm Dân Quốc 21- 1932)
Quang già rồi,
không có tinh thần để khai thị. Do ông đề
xướng pháp môn Tịnh Độ nên nay gởi cho ông Tịnh
Độ Thập Yếu, Phật Học Cứu Kiếp
Biên và bức thư dài (tức Một Lá Thư Gởi Khắp).
Y theo đó tu tŕ sẽ tự được lợi ích thật
sự. Nhưng đă đề xướng Phật học,
ắt phải chú trọng đến pháp niệm Phật cầu
sanh Tây Phương. Nếu không, chỉ là gieo thiện
căn, chẳng thể liễu sanh tử ngay trong đời
này! Hơn nữa, tại quư địa, ngoại đạo
rất đông, bất luận là loại ngoại đạo
nào, đều chớ nên tu tŕ theo pháp của chúng. Nếu học
Phật mà vẫn tu pháp ngoại đạo sẽ trở
thành cái tội hoại loạn Phật pháp, gây lầm lạc,
nghi ngờ cho chúng sanh. Đă học Phật pháp ắt phải
giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận,
dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều
ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ
sanh mạng, tín nguyện niệm Phật, quyết định
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Dùng những điều ấy để tự hành, dạy
người, ngơ hầu trong là gia đ́nh, quyến thuộc,
ngoài là hết thảy những ai hữu duyên đều
cùng tu pháp này, cùng hưởng lợi ích này.
Nay đặt pháp danh
cho ông là Huệ Đống, nghĩa là dùng trí huệ của
Phật để làm rường cột cho cơi đời,
ngơ hầu những người cô đơn không nơi
nương tựa cùng được nương nhờ,
che chở dưới mái nhà Phật pháp lớn lao này. Nếu
chịu nh́n vào danh, nghĩ tới nghĩa sẽ chẳng bỏ
uổng đời này và dịp gặp gỡ này. Hơn nữa,
những điều nói trong bức thư dài đều là
những chuyện thiết yếu. Khi sanh nở niệm
thánh hiệu Quán Âm thật sự là chuyện quan trọng bậc
nhất trong đời người, hăy nên bảo với hết
thảy mọi người th́ sau này chẳng những không
phải chịu nỗi nguy hiểm đau khổ mà con cái
sanh ra c̣n được yên vui, không có các tai ương. Tiếc
rằng người đời không biết, nên đến
nỗi thường chịu khổ sở chẳng kham, hoặc
đến nỗi cả mẹ lẫn con đều chết,
đáng buồn thay!
Tịnh Độ Thập
Yếu là sách quan trọng nhất trong pháp môn Tịnh Độ.
Bản ấn hành lần này lại thêm vào mấy cuốn
sách quan trọng, mấy bài văn thiết yếu. Có
được cuốn sách này y theo đó tu tŕ, ví như mặt
trời rực rỡ giữa trời, đi trên đường
lớn của vua, tiến thẳng về phía trước,
trọn không lầm lẫn. Những kẻ đứng
ngoài cửa thường chẳng cho những điều đă
nói trong sách là đúng, liền cầu bí pháp “miệng truyền,
tâm trao”. Đây chính là quen thói nghe theo tà thuyết “phải là
miệng truyền tâm trao th́ mới có thể đắc
đạo” của ngoại đạo, rồi tưởng
lầm Phật pháp cũng giống như vậy, đáng
buồn, đáng đau, chớ nhiễm tà kiến ấy!
89. Thư
trả lời cư sĩ Vu Quy Tịnh
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Muốn
học Phật phải giữ vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng giữ các điều lành th́ mới
được. Chẳng thể làm hiền nhân, thiện
nhân trong thế gian, làm sao được lợi ích chân thật
nơi Phật pháp? Mẹ ông đă ăn chay trường
niệm Phật, hăy nên đem tông chỉ Tịnh Độ
và những nghĩa lư tu tŕ quan trọng kể cho mẹ ông
nghe, ngơ hầu mẹ lẫn con cùng sanh về Liên Bang. Lại
phải đem pháp này nói với khắp hết thảy bạn
bè hữu duyên, ngơ hầu mọi người cùng được
gội ân giáo hóa của Phật, cùng tu Tịnh nghiệp,
cùng sanh về Tây Phương. Ông đă tốt nghiệp,
trong cơi đời lúc này tuyệt đối chớ nên xuất
gia, huống chi mẹ ông lại không bằng ḷng! Ngay cả
bế quan cũng không cần! [Nay tôi] v́ ông tính kế, ông có
thể làm thầy giáo trong trường tư thục, hoặc
trông coi sổ sách cho công ty của người khác, đều
có thể nhận được một ít lương bổng
để sống qua ngày. Nhưng cần phải chuyên cần
đọc sách sao cho văn tự thông suốt th́ mới
nên, chớ có biếng trễ, lười nhác đến nỗi
chẳng có thành tựu ǵ!
Pháp danh [của ông] vốn
sẵn có hai chữ Quy Tịnh thật hay. Cổ nhân nói: “Túng nhiên sanh đáo Phi Phi Tưởng,
bất như Tây Phương quy khứ lai” (Phi Phi Tưởng
dẫu được sanh, chớ hề bằng được
trở về Tây Phương). Nếu có thể chất
phác niệm Phật th́ nương theo nguyện thuyền của
đức Di Đà, trở về quê hương Cực Lạc
Tịnh Độ là điều có thể đoán chắc.
Đây chính là điều ngàn kinh muôn luận, đâu đâu
cũng chỉ dẫn hướng về. Nếu chẳng
trở về đây, chắc chắn sẽ như đứa
con nghèo túng, chẳng biết quê cũ, chẳng nhớ cha
lành, cam phận lênh đênh quê người, lê la khe rănh. Nếu
chẳng so đo, chẳng bàn đi tính lại, cứ nhất
tâm quay về, mới biết tự tánh vốn sẵn thanh
tịnh, c̣n có chỗ nào để cầu tướng quay
về và tướng tịnh nữa ư? Cổ nhân lại
nói: “Tự thị bất quy,
quy tiện đắc. Cố hương phong nguyệt hữu
thùy tranh?” (Tự ḿnh chẳng về, về liền
được. Gió trăng quê cũ há ai giành?) Quy Tịnh
hăy trở về cơi tịnh, niệm tại đâu nghĩ
tại đó nhé!
90. Thư
trả lời cư sĩ Tông Thành
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Học
đường hiện thời đúng là một cái bẫy
hăm người, chẳng hăm trong đảng phái sẽ lại
hăm trong tự do luyến ái, mặc t́nh chơi bời bừa
băi. Phải biết: Con người chỉ là một loài động
vật cao năm sáu thước mà sánh cùng trời đất
xưng là Tam Tài th́ danh xưng Con Người cao quư không chi
bằng được! Danh đă tôn quư, ắt phải có
thực chất đáng tôn quư th́ mới có thể gọi là
Người! Nếu không, chính là loài cầm thú mặc áo
đội mũ, do chẳng có khí phận của con người
vậy! Tài chính là khả năng. Trời có thể sanh ra
muôn vật, đất có thể chở muôn vật, con
người có thể kế thừa bậc thánh đời
trước, giúp cho thế hệ tương lai học
theo, giúp cho [những chỗ] mà sự sanh thành, dưỡng
dục của trời đất chưa thấu tới,
nên cùng với trời - đất xưng là Tam Tài. Nếu
chỉ biết ăn uống, trai gái, chẳng biết hiếu,
đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ th́ c̣n kém hèn
hơn loài cầm thú, uổng một đời mang thân con
người, trọn chẳng có khí phận của con
người chút nào! Hễ một hơi thở ra không hít
vào được nữa, sẽ đọa vào địa
ngục trải trăm ngàn kiếp trọn chẳng có kỳ
ra. Muốn được làm cầm thú c̣n chưa thể
được, huống ǵ lại được làm
người ư?
Do ông thuở đầu
chẳng biết nghĩa này, nghe bạn ác dụ dỗ nên chơi
bời bừa băi, đến khi đă mắc bệnh phong
t́nh, đau đớn không kham nổi. Lành bệnh rồi lại
ăn chơi, lại phát bệnh, [lành bệnh xong] lại
phạm, cũng là kẻ chẳng biết tốt - xấu
quá đáng, quá thiếu chí hướng, khí tiết vậy!
Phải biết đàn ông chơi bời bừa băi và
đàn bà lén lút [tằng tịu] với người khác trọn
chẳng khác ǵ nhau! Người đời thường cho
đàn bà lén lút [tằng tịu] với người khác là
hèn hạ, nhưng đàn ông chơi bời bừa băi lại
chẳng bị chê trách. Đấy đều là v́ chẳng
biết ư nghĩa cái tên gọi Con Người nên mới có
tri kiến hèn kém ấy! May là ông đă nhiều lần chịu
khổ, mới biết quay đầu, cũng là do thiện
căn đời trước xui khiến, nhưng Quang lại
phải nói cặn kẽ nguyên do, v́ sợ cái tâm ông chưa
nguội lạnh, sau này có thể lại dẫm theo vết
xe ấy. Do vậy, muốn làm cho ông biết danh hiệu Con
Người tôn quư, chẳng đến nỗi tự ruồng
rẫy, tự vứt bỏ bản thân, và đem điều
này khuyên dụ hết thảy nam nữ thanh niên đều
cùng bẩm thụ danh xưng Con Người tôn quư, thực
hành những điều lành trong thế gian là giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng
giữ các điều lành.
Lại c̣n phát Bồ
Đề tâm, lợi khắp ḿnh lẫn người, đều
cùng sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm thánh hiệu Phật,
cầu sanh Tây Phương, để tu điều lành xuất
thế ngơ hầu đáng gọi là Người. Tuy chẳng
thể kế tục người xưa, nêu gương cho
đời sau, giúp vào quyền sanh trưởng, dưỡng
dục của trời đất như bậc cổ thánh
tiên hiền, cũng vẫn có chút công đức kế tục
người xưa, nêu gương cho đời sau, giúp vào
quyền sanh trưởng, dưỡng dục của trời
đất th́ danh xưng Con Người mới có thực
chất, chẳng trở thành chuyện nói xuông! Nay đặt
pháp danh cho ông là Tông Thành. Tông là chủ, là gốc, [Tông Thành] nghĩa
là dùng ḷng chân thật chí thành để tự hành, dạy
người, chẳng có chút nào hư giả mảy may và ư
niệm xấu hèn để đến nỗi cô phụ chữ
Người. Ngũ Giới có thể tự tŕ trước.
Khi đă tŕ thật sự lâu ngày rồi th́ lại [chánh thức]
thọ giới nào khó chi đâu? Nếu tâm vẫn c̣n do dự
th́ đáng gọi là tṛ trẻ con đùa bỡn, chẳng những
chính ông mắc tội lỗi, mà Quang cũng có tội lỗi
nữa đấy!
91. Thư
trả lời cư sĩ Hứa Huệ Phảng
(năm Dân Quốc 22 – 1933)
Bệnh
của ông là do trong đời trước hoặc trong
đời này đă làm chuyện hại đến tánh mạng
người ta. Nghiệp này chẳng tiêu, bệnh quyết
khó lành. Hiện thời uống thuốc vô hiệu th́ có thể
chẳng uống, chỉ lắng ḷng niệm Phật, niệm
Quán Thế Âm để mong siêu độ oán gia. Niệm Phật
tuy chẳng thấy hiệu quả nhưng vẫn có lợi
ích, chẳng thể xem như có cùng một tác dụng với
uống thuốc. Sinh kế trong nhà ông ra sao? Nếu không có
tài lực th́ tự ḿnh hăy chí thành khẩn thiết niệm
Phật. Hăy nên sanh ḷng hổ thẹn, chớ nên sanh tâm phẫn
hận. Sanh ḷng hổ thẹn th́ ḷng oán hận của oán
gia sẽ tháo gỡ được, nếu sanh tâm phẫn
hận th́ muốn tháo gỡ càng thêm kết chặt. Do
người ta ôm ḷng báo hận, ông lại ôm ḷng hận báo
thù người ta, nên càng kết sâu thêm, không cách nào [cởi
gỡ] được! Đấy chính là cách cởi gỡ
oán kết bậc nhất.
Nếu
sinh kế trong gia đ́nh dư dả th́ có thể đến
núi Linh Nham dự một Phật thất, hoặc thỉnh
mười lăm, hai mươi, ba mươi người
đều được. Linh Nham là chỗ sốt sắng
tu hành bậc nhất trong vùng Giang - Chiết, niệm Phật
quanh năm giống như lối đả Phật thất
thông thường[12].
Có thí chủ mời bao nhiêu người đả thất
th́ vẫn niệm Phật theo lệ thường, chẳng
qua là đối trước Phật, đối trước
bài vị, hồi hướng thêm ba lần mà thôi. Bất
luận đả thất hay không đả thất, đều
niệm giống hệt như nhau, chẳng qua là thỉnh
bao nhiêu đó người th́ sẽ được công
đức của bấy nhiêu đó người! Hiện
thời, Niệm Phật Đường có hơn ba
mươi người. Nếu đả thất sẽ lập
một bài vị Cởi Gỡ Oán Kết[13] bằng
giấy, ngày Phật thất viên măn sẽ đốt
đi. Nếu chính ḿnh lập một bài vị “trường
sanh lộc vị” th́ làm một bài vị bằng gỗ, thờ
vĩnh viễn trong Niệm Phật Đường th́ thêm
năm mươi đồng. Nếu không làm th́ cứ tính
mỗi người là mười đồng. Như mười
lăm người th́ là một trăm năm mươi
đồng; ba mươi người là ba trăm đồng.
Đây chẳng phải v́ Linh Nham mà tổ chức Phật Thất;
mà là do bệnh t́nh ông trầm trọng nên chẳng ngại
ǵ mà nói đến biện pháp này. Ông hăy tự châm chước,
nếu không có sức, chớ nên miễn cưỡng!
Nay tôi gởi cho ông hai
cuốn Tịnh Độ Ngũ Kinh, ông và vợ cùng
được thọ tŕ, có thể dùng làm kinh thường
tụng. Hơn nữa, năm ngoái Linh Nham đă trùng tu lớn.
Hiện thời bia đă khắc xong, đă rập [bài
văn bia ấy], nay gởi cho ông một tờ. Đọc
rồi sẽ biết đại khái về tu tŕ. Đối
với những điều Quang tùy tiện nói ra cần ǵ
phải sao chép, thâu thập? Văn Sao, Gia Ngôn Lục đă
đủ để làm khuôn mẫu rồi, sao lại phải
cầu cho nhiều? Đối với những sách ngụy
tạo của bọn ngoại đạo tên X… nọ, chúng
ta chỉ nên mặc kệ chúng, mỗi người đi
theo đường lối riêng. Nếu cùng với bọn
mù quáng không mắt ấy biện định trắng - đen,
chúng nó làm sao tự biết là sai, đâm ra lại chuốc
lấy sự phỉ báng của chúng! Ví như con chó ăn
phân, nó tự cho là thơm ngon. Nếu bảo với nó là tởm
thối, chắc chắn nó chẳng chịu tin, chê ngược
người vừa nói đó chẳng biết tốt - xấu!
Trong đời hiện thời, mọi người hoàn
toàn ở trong tăm tối, học vấn càng cao, càng hồ
đồ. Xưa kia, ông Tŕnh, ông Châu học vấn lẫn
nhân phẩm có thể nói rất rộng, rất cao,
nhưng lại cực lực bài xích nhân quả luân hồi,
cho là đức Phật mượn những chuyện ấy
để dối gạt bọn ngu phu ngu phụ! Lời lẽ
ấy chính là căn cứ lớn lao để đề
xướng phá hoại hiếu, đễ, trung, tín, lễ,
nghĩa, liêm, sỉ. Biết điều này sẽ càng thêm
nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Kẻ
có học vấn hiện thời c̣n đáng để nói nữa
ư?
92. Thư
trả lời cư sĩ Ân Đức Tăng
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Muốn
đọc tụng Đại Thừa để giúp cho Tịnh
nghiệp mà không thật sự có chánh tri chánh kiến hiểu
biết Tịnh Độ sâu xa sẽ không được.
Nếu không, sẽ coi những pháp môn cao sâu huyền diệu
trong kinh giáo là bậc thượng, hoàn toàn xem pháp môn Tịnh
Độ là sự tu tŕ của ngu phu ngu phụ. Gần
đây, những người giảng Hoa Nghiêm, giảng Pháp
Tướng, phần nhiều đả phá Tịnh Độ.
Ông X… ở Hồ Nam hiểu sâu Tịnh Độ và c̣n cực
lực đề xướng, do học Pháp Tướng
Tông, những ǵ ông ta nói về sau này đều là báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng. Ông đă phát cái tâm lớn lao này, khá là
khó có, nhưng chưa chắc đă không bị lay chuyển
bởi những tri thức từ kinh giáo. Chẳng bị
chuyển th́ đáng gọi là chân Phật tử. Hễ bị
chuyển th́ sẽ trở thành bỏ dễ chọn khó, hoặc
giống như ông X… ở Hồ
93. Thư
trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Hiện
thời thế đạo suy vi, tu hành tại gia tốt
hơn, xuất gia đâm ra bị nhiều chướng ngại,
con cái đừng nẩy sanh ư tưởng xuất gia. Trong
đời Kiếp Trược này, cha ông chẳng biết
nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, cứ
si dại muốn tham Thiền để minh tâm kiến
tánh. Nên biết: Những ǵ ông ta tham đó chẳng phải
là Thiền mà chính là văn tự tri kiến, có tham đến
già cũng chẳng ăn nhập ǵ tới Thiền! Dẫu
có được lợi ích minh tâm kiến tánh thật sự
nơi tham thiền th́ vẫn cách liễu sanh thoát tử rất
xa. Bởi lẽ, phiền năo Hoặc nghiệp chưa
đoạn, ngộ th́ ngộ đấy, sanh tử vẫn
sanh tử. Nếu nói minh tâm kiến tánh liền đạt
được không sanh tử th́ đấy là sự nhận
lầm lạc của gă đứng ngoài cửa và kẻ Cuồng
Thiền! Nhưng trong hiện thời ai là người minh
tâm kiến tánh đây?
Pháp môn Tịnh Độ
hoàn toàn cậy vào Phật lực. Hăy xem kỹ Gia Ngôn Lục,
Văn Sao, y theo đó tu hành, sẽ chắc chắn có thể
văng sanh Tây Phương. Mùa Thu năm ngoái đă in xong bộ
Tịnh Độ Thập Yếu; đây là bộ sách quan
trọng nhất của pháp môn Tịnh Độ. Cuối
năm, in xong cuốn Phật Học Cứu Kiếp Biên,
[nhà in] vẫn chưa gởi đến, đợi khi nào họ
gởi đến sẽ gởi cho ông dăm ba gói. Y theo
đó tu hành, so ra c̣n ổn thỏa thích đáng hơn thân cận
thiện tri thức. Nếu chẳng tự lượng,
đi tham phỏng khắp các bậc cao nhân trong vùng Giang - Chiết,
rất có thể là cuối cùng cái tín tâm ấy bị cao
nhân đả phá th́ Thiền đă trở thành vô vọng,Tịnh
lại chẳng tin, tiền đồ mờ mịt, biết
hướng về đâu?
Những người
muốn thân cận thiện tri thức hiện nay trước
hết phải biết nguyên do của Thiền và Tịnh.
Nếu không, mười người hết tám chín kẻ bị
thiện tri thức phá hoại thiện căn Tịnh
Độ mà vẫn cứ nhơn nhơn đắc ư, cho
là đă được chánh pháp, thật đáng đau ḷng
than thở! Năm nay Quang nhất quyết chẳng xuất
quan. Năm sau, nếu bốn bộ sơn chí của Thanh
Lương, Nga Mi, Cửu Hoa[15],
Linh Nham đă tu chỉnh xong, sẽ t́m một nơi không ai
hay biết để sống hết tuổi thừa. Xin
hăy nói với cha ông những lời lẽ này, hơn nữa,
hăy nên tích cực giáo huấn con thơ, đừng nuông chiều
quá khiến cho chúng quen thói kiêu ngạo.
94. Thư
gởi cư sĩ Triệu Phụng Chi
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Hôm qua nhận
được thư ông Trương Văn Lư cho biết
cư sĩ gần đây niệm Phật khá khẩn thiết,
vẫn lấy chuyện không gặp được Bất
Huệ làm điều tiếc nuối. Bất Huệ là
nghiệp lực phàm phu, dù gặp cũng vô ích, chịu y
theo Gia Ngôn Lục tu tŕ sẽ c̣n tốt hơn gặp mặt
nhiều lắm. Nay gởi cho cư sĩ Văn Sao, [Tịnh
Độ] Thập Yếu, Thánh Hiền Lục mỗi thứ
một bộ, Sức Chung Tân Lương, Chánh Tín Lục, mỗi
thứ một cuốn. Có được những sách này th́
tự hành, dạy người dư sức! Người
già sáu mươi bảy tuổi cũng chẳng cần phải
nghiên cứu những thứ kinh điển khác, chỉ nên
nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ tự
có thể cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp
văng sanh. Hết thảy các pháp môn khác đều cậy vào
tự lực để đoạn Hoặc chứng Chân mới
ḥng liễu sanh thoát tử; pháp môn Niệm Phật chỉ cần
đầy đủ tín nguyện liền được
văng sanh Cực Lạc thế giới. Sự khó - dễ giữa
chúng khác nào trời với vực!
Xin hăy sốt sắng
tu hành, lại hăy nên làm cho quyến thuộc cùng niệm. Hăy
dựa theo Sức Chung Tân Lương mà nói đến những
lợi ích do trợ niệm khi lâm chung, nỗi họa hại
do phá hoại [chánh niệm], khiến cho bọn họ đều
niệm quen, nghe quen, đến khi ông lâm chung th́ mọi
người đều có thể tương trợ. Nếu
không, chắc chắn mọi người sẽ cùng phá hoại
[chánh niệm của ông]. Quang già rồi, mục lực quá
suy; lại c̣n ba bộ Sơn Chí bức bách chẳng thể
tŕ hoăn được. Từ đầu tháng tôi đă cự
tuyệt hết thảy, từ rày đừng gởi
thư đến nữa. Văn Sao là sách nhập môn Tịnh
Độ, Thập Yếu là sách hết sức sâu xa, thiết
thực, [Tịnh Độ] Thánh Hiền Lục là
gương sáng của cổ nhân đă nêu. Có được
những sách ấy th́ c̣n thiếu thốn ǵ mà phải dùng
một lá thư để hỏi pháp nữa đây?
95. Thư
gởi cư sĩ Trần Huệ Cung
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Ḷng thành
đến cùng cực, đá vàng cũng phải nứt, huống
ǵ [cậy vào] sức Tam Bảo ư? Nếu cư sĩ có
thể thật sự đọc kỹ các sách, tương
lai sẽ có thành tựu. Nếu không, sẽ trở thành một
kẻ cuồng thiếu tấm ḷng thường hằng[16].
Kẻ tại gia niệm Mông Sơn có ǵ là không được?
Đây là [nghi thức] để kết duyên với khắp
các cô hồn. Nhỏ là Mông Sơn, trung là Diệm Khẩu, lớn
là Thủy Lục, cùng là một chuyện cả. Thường
kết duyên với cô hồn th́ thường được
sự tốt lành. Người ta chẳng dám niệm v́ sợ
sẽ vời quỷ đến, chẳng biết quỷ
và người sống lẫn lộn, không chỗ nào không
có quỷ! Dẫu không vời quỷ, nhà ai không có quỷ?
Quỷ đông hơn người trăm ngàn lần! Nếu
con người sợ quỷ, hăy nên tích đức làm lành
th́ quỷ liền kính trọng, bảo vệ. Nếu con
người làm chuyện ám muội, quỷ sẽ tranh nhau
quấy phá, cho nên khó thể tốt lành. Nếu con người
biết điều này, dẫu ở trong nhà tối cũng
chẳng dám khởi lên ư niệm xấu xa, huống chi là
chuyện xấu? Loại quỷ này chính là thiện quỷ,
người đến chúng bèn nhường, người
đi chúng lại chiếm khắp chỗ đất ấy.
Nếu quỷ dữ xuất hiện sẽ có chuyện chẳng
tốt lành lớn.
Phóng Mông Sơn nếu
chí thành, dẫu là loài quỷ dữ dằn cũng kính cẩn
vâng lời Phật sắc truyền, chẳng c̣n dữ dằn
nữa. Do vậy, phàm là các bệnh do oán nghiệp, thuốc
chẳng thể chữa lành, chí thành niệm Phật, niệm
Quán Âm sẽ liền được mau lành, do oán quỷ
được nhờ ơn niệm Phật, được
sanh vào thiện đạo. Có thể biết là trước
mặt mỗi người thường có rất nhiều
thiện quỷ hoặc ác quỷ. Người sợ quỷ
th́ nên giữ cái tâm tốt lành, nói lời tốt lành, làm
chuyện tốt lành th́ tất cả các quỷ đều
trở thành kẻ hộ vệ. Loại quỷ ấy chỉ
sợ không nhiều, chứ càng nhiều càng tốt, đâu
có sợ chi?
Vợ ông đă phát tâm
quy y, nay đặt pháp danh cho bà ta là Huệ Nhă; Nhă là chánh.
Có thể nhất tâm niệm Phật, chẳng sanh vọng
tưởng phước báo nhân thiên đời sau th́ mới
là chánh huệ nương theo trí huệ của Phật, nên
gọi là Huệ Nhă. Cô con gái thứ ba tên Phùng Xuân, pháp danh
là Tông Trinh; Tông là chủ, Trinh là chánh. Mùa Xuân đứng
đầu một năm, Trinh là kết thúc của Càn đức
(phẩm đức của quẻ Càn). [Trong kinh Dịch, phần
giảng về] quẻ Càn có ghi: “Càn,
nguyên, hanh, lợi, trinh”. Khổng Tử giải thích: “Trinh giả, sự chi cán dă”
(Trinh là cái cốt lơi của sự vật). Chữ Trinh này
nghĩa lư rộng sâu, chứ không phải chỉ [có
nghĩa] con gái giữ thân là Trinh đâu! Phàm hết thảy
mọi người, nếu mọi hành vi đều phù hợp
đại thể th́ đều gọi là Trinh. Nếu Phùng
Xuân có thể tận lực giữ tṛn bổn phận, dùng
tám chữ “hiếu, đễ,
trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” để sau này
giúp chồng dạy con ngơ hầu chồng lẫn con đều
thành hiền thiện, th́ mới đúng với ư nghĩa thật
sự của chữ Tông Trinh, mới hợp với Xuân là
mùa đứng đầu một năm, hợp với
đức Trinh của quẻ Càn, trở thành bậc thầy
khuôn mẫu cho nữ giới, là bậc mẫu nghi chốn
khuê khổn, vẻ vang sao diễn tả cho được?
Mong hăy sáng suốt suy xét, bảo với cô ta vậy!
96. Thư
trả lời cư sĩ Trương Thuần Nhất
Vợ chồng
lệnh hữu[17]
Trần Đôn Phục tận lực hành hiếu - hữu,
lại có thể dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, tu
ṛng Tịnh nghiệp, đúng là những kẻ hiếm thấy
trong đời nay. Nay họ muốn quy y và thọ Ngũ
Giới, ắt phải hiểu rơ tông chỉ pháp môn Tịnh
Độ, ngơ hầu có thể liễu sanh thoát tử, siêu
phàm nhập thánh ngay trong đời này. Phải biết: Pháp
môn Tịnh Độ lấy tín nguyện niệm Phật cầu
sanh Tây Phương làm tông chỉ. Người đời
thường nghĩ điều này là chuyện tầm
thường, không có chi kỳ lạ, bèn coi pháp tham cứu
trong nhà Thiền mới là thù thắng, chú trọng vào khai ngộ,
chẳng chú trọng tín nguyện cầu sanh. Đặt tên
hoa mỹ là Thiền Tịnh Song Tu, nhưng xét tới thực
chất th́ hoàn toàn là không Thiền, không Tịnh Độ!
V́ sao nói vậy? Do chẳng
đạt đến đại triệt đại ngộ
th́ chẳng gọi là “có Thiền”. Người tham Thiền
bây giờ ai thật sự đạt đến địa
vị đại triệt đại ngộ? Do chú trọng
vào tham cứu nên đem sự trang nghiêm của y báo, chánh
báo Tây Phương quy hết vào tự tâm, chẳng có mảy
may ư niệm tín nguyện cầu sanh. Tuy gọi là niệm
Phật nhưng thực chất là trái nghịch đạo
niệm Phật! Hoặc nói ra vẻ cao xa là “niệm Thật
Tướng Phật”. Tuy Thật Tướng là cái gốc
của các pháp, nhưng phàm phu nghiệp chướng sâu nặng
làm sao đạt đến được? Ra vẻ “quy Tông”
(quy kết mọi thứ về Thiền) nhưng Thiền
cũng không nương tựa được, mà Tịnh
cũng không nương tựa được luôn! Cậy
vào tự lực, dẫu đạt đến địa
vị đại triệt đại ngộ, nhưng v́ chưa
đoạn Hoặc nghiệp sẽ chẳng thể liễu
sanh tử được! Chưa ngộ đến mức
đại triệt [đại ngộ] th́ khỏi cần
phải bàn chi nữa! Cậy vào Phật lực, chỉ cần
đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha,
niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ mới
được. Do một mực đem Tây Phương Tịnh
Độ, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, mỗi
thứ đều quy hết vào tự tâm, nhưng tự
tâm chỉ là chấp xuông cái danh, chưa chứng được
cái thật, [cho nên] đức Phật ở phương
Tây do không cảm sẽ chẳng thể có ứng, đức
Phật nơi tự tâm do c̣n đang ở trong nhân nên không
có oai đức!
Những kẻ ham cao
chuộng xa trong cơi đời thường đều hay
trở thành biến khéo thành vụng, cầu thăng hóa
đọa, nhưng kẻ tri thức muốn được
người khác ca ngợi ḿnh là viên dung, vẫn trọn chẳng
chịu nói như vậy, đến nỗi đức
Như Lai do tâm đại từ bi muốn làm cho hết thảy
chúng sanh liễu sanh tử ngay trong đời này, nhưng họ
vẫn cứ y như cũ chẳng thể liễu
được! Đời này đă chẳng thể liễu,
tương lai may ra có thể liễu, nhưng vẫn phải
luân hồi trong lục đạo c̣n nhiều hơn số
lượng từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp
khác. Nếu thật sự hiểu được sự lợi
- hại này, lại lắng ḷng xem các kinh sách Tịnh Độ,
mới biết một pháp Niệm Phật cầu sanh Tây
Phương này không ǵ lớn lao ra ngoài được,
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh không vị nào chẳng nhờ vào pháp này
để thành tựu lúc khởi đầu, thành tựu
khi kết thúc!
Nay đặt pháp danh
cho Đôn Phục là Huệ Phục, nghĩa là dùng pháp môn Tịnh
Độ được nói từ trí huệ của Phật
để tự hành, dạy người, ai nấy đều
khôi phục được nguồn tâm sẵn có. Vợ ông
ta là Trịnh Hàm Chương, có pháp danh là Huệ
Chương, nghĩa là nương theo pháp môn Tịnh Độ
do đức Phật đă nói để tự hành, dạy
người, lại c̣n dạy dỗ con cái và hết thảy
các phụ nữ ngơ hầu đạo của hai bà Phi, ba bà
Thái, Vy Đề Hy đều được sáng tỏ rực
rỡ trong đời hiện tại. V́ vậy, có tên là Huệ
Chương. Tôi thường nói: “Quyền trị quốc, b́nh thiên hạ, hàng nữ
nhân nắm quá nửa”. Ấy là v́ mẹ hiền th́ con
cái đều hiền, trong thai bẩm thụ khí chất của
mẹ, lúc nhỏ th́ nh́n vào hành vi của mẹ, nghe lời
mẹ, đă được huân tập trước khi học
hành, đến khi đi học sẽ tận lực ứng
dụng mỗi điều ấy vào cư xử, cho nên là
hiền nhân, thiện nhân. Lại nói: “Dạy con là cái gốc để b́nh trị thiên hạ,
nhưng dạy con gái càng quan trọng hơn!” Do không có hiền
nữ sẽ không có hiền thê, hiền mẫu; do đó
cũng chẳng có hiền nhân!
Nay tôi không chỉ dạy
pháp môn Tịnh Độ mà lại bàn tràn lan sang điều
này, là v́ mong ai nấy đều biết chăm chú nơi bổn
phận. Cái gốc này đă được lập th́ hết
thảy đạo lư thế gian, xuất thế gian đều
được khôi phục, hiển hiện rơ ràng. Nay tôi gởi
cho họ hai bao kinh sách Tịnh Độ, hăy lắng ḷng
đọc. Sự lợi ích do tu pháp này cố nhiên Quang chẳng
cần phải nói nhiều. Bất luận đă thọ
Ngũ Giới hay chưa, đều phải nghiêm ngặt
ǵn giữ, do bốn điều đầu tức Sát,
Đạo, Dâm, Vọng gọi là Tánh Giới, tức là
người chẳng nghe đến tên của bốn giới
này, hễ phạm th́ vẫn bị tội lỗi, nhưng
thọ giới rồi c̣n phạm th́ thành ra [mắc tội]
hai tầng. Ngoài cái tội vốn đă phạm ra, c̣n thêm tội
lỗi phạm giới. V́ thế, nói: “Hết thảy mọi người đều nên ǵn
giữ nghiêm ngặt”. Uống rượu gọi là Giá
Giới (giới có tác dụng ngăn che), chưa thọ giới
mà uống th́ không mắc tội, thọ rồi vẫn uống
chỉ bị tội phạm giới. Mong hăy sáng suốt
suy xét và đưa cho vợ chồng họ đọc
thư này.
97. Thư
trả lời tiên sinh Từ Vĩnh Nghiệp ở Doanh Khẩu
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Đọc
thư biết tiên sinh là người có tấm ḷng lớn
lao, tiếc là ngài chưa đọc kỹ lời tựa[18] của
Quang nên đối với chuyện chẳng đáng nghi lại
sanh nghi. Lại như lấy Phổ Đà làm lệ,
cũng là chẳng đáng làm lệ mà lại lấy làm lệ.
Đất Phổ Đà tuy chẳng phải thuộc Nam Hải
nơi Thiên Trúc, nhưng Quán Âm cố nhiên là một đức
Quán Âm! Tiền nhân đều dùng chuyện Thiện Tài
đi về phương Nam tham học trong kinh Hoa Nghiêm để
nêu tỏ [ư nghĩa tên gọi của Phổ Đà Sơn],
há Quang lập dị cho như vậy là chẳng thể
được ư? Nếu nói như các hạ, ở bất
cứ chỗ nào có miếu thờ Quán Âm, nếu không phải
là sự tích nơi chỗ ấy th́ đều chẳng
được dẫn chứng ư? Trong phẩm Bồ
Tát Trụ Xứ[19] trước
hết nói đến bốn phương, rồi nói đến
bốn góc, ngay như phương Tây Nam [được nhắc
đến trong kinh], chẳng thể lấy đó làm chứng
cứ để bảo là phương Tây Nam của cơi Chấn
Đán[20] (Trung Hoa)! [Đối
với câu kinh] “hiện thời
có Bồ Tát tên là Hiền Thắng”, sao lại coi ngài Hiền
Thắng là đức Phổ Hiền? Chẳng biết phẩm
đức của Phổ Hiền, bất cứ chỗ nào
cũng đều có thể là đạo tràng; do vậy, chẳng
v́ trong kinh có nói rơ hay không [mà bảo chỗ nào đó chẳng
phải là đạo tràng của Bồ Tát]. Nếu cứ
ương ngạnh trích dẫn sai ngoa, đâm ra sẽ trở
thành vu báng kinh. Đây chẳng phải là khơi dậy
chánh tín mà là khơi dậy tà kiến cho người khác, do
đây họ sẽ nghi kinh, nghi thánh vậy!
Mong hăy lắng ḷng
đọc kỹ nguyên văn bài tựa, mọi mối nghi
sẽ tự tháo gỡ. Nếu cho là không đúng th́ tùy các hạ
nghị luận ra sao, Quang chẳng hỏi đến nữa!
Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều
chẳng đủ, đă từ tháng Mười Một mùa
Đông năm ngoái, đối với những câu đối,
những tin tức đăng tải, bản tin, bán nguyệt
san, các báo đều cự tuyệt hết thảy những
chuyện thư từ, nhờ cậy viết lách. Từ
rày xin đừng gởi thư đến nữa, gởi
đến nhất quyết không trả lời.
98. Thư
trả lời cư sĩ Úc Trí Lăng
Tục
ngữ nói: “Phú ông bất tri bần
nhân chi khổ, tráng phu bất tri lăo nhân chi khổ” (Phú
ông chẳng biết nỗi khổ kẻ nghèo, người
khỏe mạnh chẳng biết nỗi khổ của
người già). Ông cho rằng Quang cự tuyệt chẳng
qua là để tịnh tu mà thôi ư? Ông chẳng biết
thật ra là v́ mục lực lẫn tinh thần đều
chẳng đủ. Chỉ nội chuyện đọc
thư ông gởi đến và để viết thư trả
lời th́ kiếng đeo mắt lẫn kiếng cầm
tay (kính lúp) đều phải dùng đến hết, mới
xem, mới viết được! Giấy trắng ngần
lóa mắt, không viết được chữ nào. Niệm
Phật tam-muội cũng chẳng dễ ǵ đạt
được. Nếu chẳng tự lượng, rất
có thể bị ma dựa. Phải biết: Văng sanh Tịnh
Độ hoàn toàn cậy vào tín - nguyện. Có tín - nguyện,
dẫu chưa đắc tam-muội, chưa đắc nhất
tâm bất loạn, vẫn có thể văng sanh. Hăy đừng
chỉ lấy nhất tâm bất loạn và đạt
được Niệm Phật tam-muội làm chí hướng,
sự nghiệp, rồi chẳng dốc chí vào tín nguyện
và tịnh niệm (nhiếp trọn sáu căn mà niệm
là “tịnh niệm”. Lúc niệm Phật, thường nghe
âm thanh niệm Phật của chính ḿnh, tức là chỗ
để thực hiện việc “nhiếp trọn sáu
căn”. Hăy nên chú ư). Sợ rằng
chí lớn, ăn nói lớn lối, sẽ chẳng
được lợi ích thật sự v́ chẳng chú trọng
tín nguyện, chẳng thể cảm ứng đạo giao
cùng Phật, vẫn làm một chúng sanh khổ sở trong
đời ác Ngũ Trược này!
Đối với bài Cảnh
Sách của ngài Ngẫu Ích[21]
như ông đă nói đó, hăy nên thỉnh người viết
chữ đẹp viết bằng chữ to, ngay ngắn, cẩn
thận, treo trên vách trong sân để khơi gợi tín tâm
của hết thảy mọi người, đấy thật
là ư nghĩa quan trọng. C̣n chuyện ông xin soạn thêm bài
Cảnh Sách khác th́ những điều được nói
trong Văn Sao đều chẳng đáng để dùng làm
Cảnh Sách hay sao? Thời cuộc hiện tại nguy ngập
đến cùng cực, hăy nên khuyên mọi người già trẻ
trong nhà cùng niệm nam-mô A Di Đà Phật và niệm nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát để làm kế dự pḥng. Nếu
không, khi tai họa xảy đến, trốn lánh cũng
không được, đề pḥng cũng không xong, biết
làm sao được? Hăy nên đem lời này nói với hết
thảy những ai có sự hiểu biết, ngơ hầu những
ai nghe đến được gieo thiện căn xuất
thế. Sau này đừng gởi thư đến nữa,
phàm những chuyện viết lời tựa, ghi lời bạt,
giảo chánh đều nhất loạt chẳng thể thù
tiếp!
99. Thư
trả lời cư sĩ Tiêu Trường Hựu ở
Côn Minh
Lời
nói của nhà Phong Thủy[22]
sao đáng lấy làm căn cứ? Nếu đúng như họ
nói th́ người phú quư sẽ vĩnh viễn phú quư, há có
thường thấy con nhà cao sang bị chết đói nữa
ư? Người có thế lực nhất trong cơi đời
để chọn được cuộc đất tốt,
nơi làm nhà tốt, có ai bằng hoàng đế? Cớ sao
hoàng đế phần nhiều thường đoản thọ?
Từ đời Hán đến nay, chưa có triều đại
nào tồn tại hơn bốn trăm năm. Người
nghèo các nỗi khổ dẫy đầy, lại muốn
được chỗ ở tốt, huyệt mộ tốt
nhưng chẳng được, đấy là muốn khỏi
khổ lại tự lập ra cách để càng bị khổ
sâu xa hơn! Ông chỉ giữ tấm ḷng tốt lành, nói lời
tốt lành, làm chuyện tốt lành, nhất tâm niệm Phật,
lần lượt khuyên người, y theo Một Lá Thư
Gởi Khắp để khuyến hóa th́ nghiệp chướng
ngầm tiêu, thiện căn tăng trưởng. Quang sám hối
cho ông sao bằng chính ông cạn kiệt ḷng thành kính tự
sám hối có hay hơn không?
Người sắp chết
rất cần trợ niệm; người sắp sanh
cũng cần phải bảo sản phụ niệm Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát, những người săn sóc bên cạnh
cũng lớn tiếng trợ niệm th́ chắc chắn
chẳng gặp chuyện khó sanh đau khổ. Dẫu khó
sanh sắp chết, dạy sản phụ ấy tự niệm
và cả nhà hoặc ở trong pḥng sanh ở chỗ khác cùng
niệm th́ cũng chẳng bao lâu sẽ liền an nhiên sanh
nở. Ông muốn chuyển họa thành phước, nên
đem những chuyện trong Một Lá Thư Gởi Khắp
này gặp ai cũng nói, so với chuyện sửa sang nhà cửa,
di chuyển mộ phần tổ tiên sẽ có ích không tổn
hại. Người đời chẳng cầu phước
điền nơi tâm, cứ cầu phước điền
nơi ngoại cảnh, thường chôn vùi thiên
lương để mưu đoạt nhà cửa, đất
đai tốt đẹp của người khác, đến
nỗi nhà tan người chết, con cháu tuyệt diệt
đều là v́ bị lũ thầy Phong Thủy mê hoặc
mà ra!
Nếu thầy Phong Thủy
biết họa - phước đều do tâm tạo, mà
cũng do tâm chuyển, [Phong Thủy] sẽ trở thành
khuôn phép hữu ích cho cuộc đời. Hơn nữa, các
nhà Phong Thủy mỗi người một ư kiến khác
nhau, phàm với cách nh́n của người xưa, người
đời nay chưa chắc đă hoàn toàn tán đồng,
do muốn tỏ ra chính ḿnh hiểu biết cao siêu, chứ
thật ra quá nửa là dụng tâm của tiểu nhân, muốn
nhờ vào đó để dối đời trộm danh vậy!
Hăy thử nh́n vào những nhà Phong Thủy xem, có ai đại
phát đạt hay không? Họ có thể mưu tính cho người
khác, cớ sao chẳng mưu tính cho chính ḿnh? Quang già rồi,
mục lực suy yếu tột cùng, từ rày đừng
gởi thư đến nữa, gởi đến sẽ
nhất quyết không trả lời!
100.
Thư trả lời cư sĩ Hoàng Tụng B́nh ở
Tương Âm
Quang là một
ông Tăng chỉ biết cơm cháo mà thôi, một mực
chất phác, trọn chẳng chịu khen xuông người
khác, cũng trọn chẳng mong người khác khen xuông
chính ḿnh. Trang thứ nhất trong bài văn của các hạ
tôi chẳng muốn nghe đâu, bởi tôi không có thân phận
ấy, hóa ra c̣n ǵ nhục nhă lớn hơn? Bệnh do thân
sanh, thân do nghiệp sanh, hăy càng nên đau đáu sám hối
để tiêu túc nghiệp. Lại phải tận lực
kiêng chuyện ăn nằm để bệnh khỏi nặng
thêm. Bất luận bệnh ǵ, nếu chẳng kiêng ăn nằm,
chắc chắn khó thể lành bệnh! Khổng Tử
đă nói: “Phụ mẫu duy kỳ
tật chi ưu giả” (cha mẹ chỉ lo lắng về
cái tật ấy[23])
là v́ chuyện ăn nằm là căn bản của hết
thảy bệnh vậy. Lúc thân thể đang bệnh tật,
cớ ǵ phải tới Cư Sĩ Lâm để theo đại
chúng niệm Phật? Chỉ nên ở nhà, lắng ḷng tịnh
niệm th́ thật là tốt nhất!
C̣n nói tới chuyện
cùng với thiện tri thức nghiên cứu Phật lư th́
trong lúc thân đang mang bệnh nặng, chỉ nên nỗ lực
tu tŕ như chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm. Lúc này,
chớ nên nghiên cứu, nếu nghiên cứu một kinh sẽ
đâm ra trở thành lan man. Ví như mắc bệnh,
được một viên linh đan liền chăm chú uống
ngay, chớ có trước hết phải nghiên cứu xem
viên linh đan này do những thuốc ǵ chế thành, thuốc
nào chạy vào kinh mạch nào, trị bệnh ǵ, đều
mong cho hiểu rành mạch từng điều rồi mới
chịu uống thuốc ư? Ông trọn chẳng biết
nguyên do của chuyện học Giải và học Hành nên chẳng
được lợi ích chân thật!
Những danh mục của
ngoại đạo kể ra cả trăm cả ngàn,
nhưng nếu xét đến chuyện dụng công của
họ, nói chung chẳng ngoài luyện đan, vận khí! Dẫu
họ dạy người khác xem kinh niệm Phật,
cũng đều là phô trương bề ngoài, lẽ
đương nhiên họ chẳng coi đấy là đạo,
muốn đắc cái đạo của họ th́ phải
khẩn thiết tột bậc, ban đêm một ḿnh vào
trong thất, đóng chặt cửa cái, cửa sổ, phía
ngoài cắt người tuần pḥng, chỉ cho một
người vào thất. Trước tiên phải phát lời
nguyền cực ác, cực thảm: Nếu gây nguy hại
cho giáo phái của họ chắc chắn sẽ bị những
báo ứng thê thảm như thế ấy. Thề độc
xong, sẽ điểm khiếu chỉ huyệt cho người
ấy, hoặc trên đầu, trên mặt, hoặc ở
trong thân. Nếu là huyệt trong thân phải cởi bỏ
áo ngoài, áo quần lót phải vén lên để chỉ. Thật
ra, cách làm như vậy đều là bẫy rập mê hoặc
con người, nhưng hết thảy ngoại đạo
[đều tuyên bố] kẻ mới ban đầu [nhập
đạo] hễ được truyền đạo rồi
th́ “chẳng tu vẫn được thành!” Nếu bỏ
đi cách bí mật, dạy rơ cho người, chẳng phát
lời nguyền, cho người khác mặc t́nh vào đạo,
bỏ đạo, th́ ngoại đạo sẽ không có
căn cứ để tồn tại được!
Phật pháp không có chuyện
bí mật truyền dạy riêng tư, cũng chẳng buộc
người thề thốt. Tin th́ y theo đó tu tŕ, không tin
tưởng th́ để mặc người ấy bỏ
đi. Ông đă niệm Phật, c̣n tính muốn gia nhập
ngoại đạo, tức là ông hoàn toàn chẳng biết
Phật pháp và ngoại đạo chánh - tà [như thế
nào], chỉ dựa theo người khác mà sanh ḷng tin, quả
thật chưa phải là ḷng tin thật sự. Nếu sanh
ḷng tin chân thật, chỉ nên dốc sức tu tŕ, cần
ǵ phải lo ngoại đạo đông đảo có thể
bị sụp bẫy ư? Đă do túc nghiệp mắc bệnh
ngặt nghèo th́ hăy nên ăn chay niệm Phật, làm chuyện
siêu độ cho oán gia đời trước. Nói đến
siêu độ th́ cũng chẳng cần phải mời
Tăng làm Phật sự, chỉ là chính ḿnh khẩn thiết
chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm. Hơn nữa,
đừng cật vấn: “Chỉ niệm một đức
Phật, một vị Bồ Tát mà có thể lành bệnh hay
sao?” Phải biết: Niệm Phật là pháp thẳng chóng,
viên đốn nhất trong Phật pháp, lợi ích vượt
trỗi hết thảy pháp môn! Chỉ do tâm chí thành hay không
mà thành khác biệt, chứ không phải là Phật pháp có linh
nghiệm hay không?
101.
Thư gởi cư sĩ Trương Tịnh Giang
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Nghe
cư sĩ niệm Phật đă lâu, chẳng biết có
chú ư nơi tín nguyện cầu sanh Tây Phương hay
chăng? Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, bất luận
Đại, Tiểu, Quyền, Thật, hết thảy pháp
môn đều phải dùng Giới - Định - Huệ
để đoạn tham - sân - si cho hết sạch không
c̣n sót th́ mới có thể liễu sanh thoát tử. Điều
này khó như lên trời, chẳng phải là chuyện hàng
phàm phu sát đất đầy dẫy triền phược
như chúng ta mà ḥng mong mỏi được. Nếu dùng
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, cầu sanh Tây
Phương th́ bất luận công phu cạn hay sâu, công
đức lớn hay nhỏ, đều có thể cậy
vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương. Điều
này giống như ngồi chiếc tàu thủy to vượt
biển, chỉ chịu lên tàu liền có thể đến
được bờ kia, ấy là nhờ sức tàu chứ
chẳng phải bản lănh của chính ḿnh. Tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tây Phương cũng giống như
thế, hoàn toàn là Phật lực, chứ không phải đạo
lực của chính ḿnh.
Hễ đă sanh về
Tây Phương th́ sanh tử đă liễu, phiền năo chẳng
sanh, đă giống như người vận dụng công
phu tại nơi ấy đă lâu, đă đoạn sạch
phiền năo liễu sanh tử. V́ thế, niệm Phật
quyết định phải cầu sanh Tây Phương, chớ
nên cầu phước báo trời người trong đời
sau, chớ nên nương theo những kẻ rời ĺa tín
nguyện, chỉ dẫn người khác niệm Phật cầu
khai ngộ. Niệm Phật cốt yếu là nhiếp trọn
sáu căn. Trong lúc niệm Phật, nhiếp tai lắng nghe
kỹ, đấy chính là biện pháp để nhiếp sáu
căn. Có thể chí tâm lắng nghe kỹ th́ công đức
so với việc “chẳng lắng nghe, niệm tán loạn”
khác biệt rất lớn. Pháp này bất luận người
thượng, trung, hạ căn đều dùng được,
đều được lợi ích, chỉ có lợi,
không điều tệ. Hăy nên bảo hết thảy mọi
người tu đều tu theo đây. Tôi vốn muốn
nói cặn kẽ, nhưng do không có thời giờ, sợ
trễ tràng chuyến trở về của ông, nên chỉ viết
đại lược những nghĩa lư trọng yếu.
Những điều khác đă nói tường tận trong
Văn Sao, Gia Ngôn Lục, đọc rồi sẽ tự biết
hết.
102.
Thư trả lời ông Lư Thính Đào ở Hải Môn (bảy lá thư)
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
1) Qua bức
thư do Trần Huệ Sưởng chuyển đến, biết
ông tuổi chưa đến tráng niên, nhưng khá có tín tâm,
hằng ngày tụng vài quyển kinh Kim Cang để mong sám
hối túc nghiệp, quả thật là một đại sự
trong đời người. Nhưng cần phải chí
thành cung kính mới tốt. Nếu giống như cung cách
ông viết chữ nguệch ngoạc th́ lợi ích sẽ
thuận theo cái tâm phù phiếm bị giảm đi rất
nhiều. Ông lại muốn quy y, nay đặt pháp danh cho
ông là Huệ Tài. Ông vốn tên là Thông Tài, vừa thông minh vừa
có tài, sử dụng chánh đáng th́ có thể mong thành thánh,
thành hiền, tạo công lập nghiệp; nếu sử dụng
không chánh đáng sẽ tự lầm, lầm người,
đọa trong ba ác đạo! Thiên tai, nhân họa hiện
thời đại đa số đều do những kẻ
thông minh có tài tạo nên. Nếu do trí huệ, phân biệt
được tà - chánh, hiểu rơ nhân quả, xuôi theo
điều lành, tránh điều dữ sẽ thành tài đạt
đức. Có trí huệ th́ tài năng sẽ giúp cho đạo,
không có trí huệ th́ tài năng sẽ trái đức. V́ thế,
đặt tên cho ông là Huệ Tài.
Ông hăy nên nh́n vào cái tên
nghĩ đến ư nghĩa, trong khi khởi tâm động
niệm hăy thường suy xét xem có hợp trí huệ hay
không. Nếu hợp th́ mở rộng ra, chẳng hợp liền
tiêu diệt ngay, chẳng cho nó chớm nẩy nữa! Lại
phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn
phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các
điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Dùng những
điều này để tự hành, lại c̣n dạy
người. Người làm được như vậy
chính là đệ tử thật sự của Phật. Huống
chi nay đang là lúc t́nh thế hoạn nạn, phàm trong là gia
đ́nh, cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con, và tôi tớ,
ngoài là thân thích, bè bạn, và hết thảy những ai quen
biết, đều nên khuyên họ thường niệm
thánh hiệu A Di Đà Phật và niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát để làm căn cứ “gặp nguy thành an, gặp dữ
hóa lành” trong hiện tại, để làm phương cách
sao cho trong tương lai khi hết tuổi thọ sẽ
vĩnh viễn ĺa khỏi biển khổ sanh tử. Phương
pháp niệm và lợi ích chẳng dễ ǵ nói tường tận
trong chốc lát được.
Tôi đă bảo Huệ
Sưởng gởi cho ông Gia Ngôn Lục và những sách thích
hợp, hăy đọc sẽ tự biết. Muốn
được lợi ích thật sự nơi Phật pháp
th́ phải thực hiện với mười phần thành
tâm. Tŕ kinh và niệm Phật về mặt sự tuy giống
nhau, nhưng ḷng thành có sâu hay cạn, phù phiếm hay thiết
tha khác biệt, cho nên lợi ích càng khác biệt lớn lao!
Mọi chuyện trong thế gian đều phải do ḷng
thành để được thành tựu, huống ǵ tŕ
kinh, niệm Phật, muốn dùng cái thân phàm phu để liễu
sanh thoát tử, siêu lên cơi Phật, mà thiếu ḷng thành há có
được chăng?
2) Người
tu hành chỉ trọng thật hành, cần ǵ phải bày vẽ
phô trương, muốn chụp h́nh quá lố? Quang một
mực không thích chụp h́nh, gần đây trong tờ Phật
Hóa San của Hương Cảng Phật Học Hội có
đăng h́nh Quang, một đệ tử gởi đến
mười cuốn, nay gởi cho ông một cuốn.
Hơn nữa, trước kia ông Trương Thụy
Tăng khắc in kinh Dược Sư ở Dương
Châu có gởi cho một gói, nay gởi cho ông năm cuốn,
ngoại trừ một bản tự giữ, bốn bản
kia đưa cho những người xin quy y. Tiền “hương kính” của bọn
họ đă nhận đầy đủ.
Hăy nên nói với bọn
họ: Đă quy y Phật pháp, hăy chiếu theo pháp môn Tịnh
Độ trong Phật pháp để tu, đừng đèo
thêm những pháp luyện đan, vận khí v.v… của ngoại
đạo. Pháp này được ích lợi dễ dàng nhất
do cậy vào Phật lực. Ngoài ra, [những pháp khác] đều
cậy vào tự lực, cho nên khác với pháp này như trời
với vực. Luyện đan là pháp để hộ thân,
hộ khí, chẳng phải là pháp liễu sanh thoát tử! Ngay
cả các pháp tham thiền, nghiên cứu giáo nghĩa, và Mật
Tông cũng chẳng phải là pháp khế cơ. Pháp chẳng
khế cơ giống như thuốc không đúng bệnh.
Chỉ có mỗi ḿnh pháp Tịnh Độ thích hợp khắp
ba căn cơ thượng - trung - hạ, dù phàm hay thánh
đều nên tu tập, chớ nên nghe Thiền Tông, Mật
Tông cao siêu huyền diệu, rồi bỏ pháp này tu pháp kia,
đến nỗi vĩnh viễn không có ngày liễu sanh
thoát tử!
Hiện nay là t́nh thế
hoạn nạn, bất luận là ai đều nên niệm
Phật, niệm Quán Thế Âm để dự pḥng. Phàm những
nguy hiểm như đao binh, nước, lửa, ôn dịch,
sâu rầy, bệnh ngặt, oán gia, đối đầu
v.v… mà chí thành niệm th́ chắc chắn chẳng đến
nỗi không cởi gỡ được! Ngay cả nữ
nhân sanh nở, càng phải nên chí thành niệm thánh hiệu
Quán Thế Âm ra tiếng rơ ràng, chắc chắn không có các sự
đau khổ. Lúc ấy chớ nên niệm thầm trong tâm
v́ đang dùng sức để đẩy đứa con ra,
nếu niệm thầm có thể bị bệnh, quan trọng
lắm! Dẫu khó sanh đến cùng cực, đă sắp
mất mạng mà niệm cũng lập tức được
an nhiên sanh nở. Phải biết: Chịu niệm từ
nhỏ sẽ chẳng có chuyện khó sanh. Dẫu không khó
sanh, niệm vẫn có lợi ích lớn lao. Chớ v́ lơa lồ
bất tịnh mà chẳng dám niệm để đánh mất
lợi ích hoặc bị đau khổ, hoặc đến
nỗi cả mẹ lẫn con đều chết! Bản
thân sản phụ ấy niệm, những người
chăm sóc bên cạnh cũng niệm, người trong nhà ở
chỗ khác cũng có thể niệm giúp cho sản phụ ấy.
Nếu ai nấy đều biết điều này th́ thế
gian sẽ không có chuyện sanh khó và chết v́ sanh nở.
Ông Lưu Ôn Phủ
đă bảy mươi bốn tuổi, hăy nên toàn thân buông
xuống, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương. Nếu không, một phen lầm lỡ bỏ
qua chẳng biết đến kiếp nào mới có thể
gặp được pháp môn này? Những người khác
tuy chưa đến nỗi quá già, nhưng nhân mạng vô
thường, chẳng chắc ǵ sống đến già mới
chết! Những điều khác hăy xem trong bức thư
dài, ở đây không viết cặn kẽ. Mong ai nấy
đều thật hành th́ may mắn thay!
3) Người
có ḷng tin ở quư địa tuy nhiều, sợ rằng chưa
chắc đă chân thật tu tŕ theo Phật pháp. Hăy nên nói với
bọn họ Phật pháp và ngoại đạo khác nhau. Ngoại
đạo chuyên chú trọng bí truyền, dùng công phu luyện
đan, vận khí, tuyệt đối chẳng chú trọng
giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận.
Lại c̣n có chuyện “phù cơ giáng loan” (cầu cơ), tuy
cũng khuyên người làm lành, nhưng rốt cuộc là
linh quỷ giả mạo danh nghĩa tiên, Phật. Nếu
chẳng hiểu lư, tưởng lầm là chân tiên, chân Phật
giáng đàn, ấy là sai lầm lớn. Chẳng phải là
hoàn toàn không có một lần nào chân tiên giáng đàn, nhưng
vẫn là trong ngàn lần cũng khó có được một
dịp!
Cuối đời
Minh, Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát dùng cơ bút để
chỉ dạy Phật pháp, lúc bỏ đi, Ngài dạy
[đại chúng] vĩnh viễn bỏ cầu cơ! Mười
năm trước, tại Đa Đa Phật Học Xă ở
Hương Cảng [Đa Đa Ha Bồ Tát giáng đàn] cũng
giống như thế. Hai vị này đều là Bồ Tát
thật sự, nhưng đều cấm chỉ cầu
cơ, bởi những linh quỷ không có đạo lực
cao lắm cứ nói bừa khiến cho người ta bị
lầm lạc thật sâu. V́ thế, tuy Bồ Tát giáng
cơ nhưng cấm tuyệt cầu cơ! Trong bộ
Văn Sao của tôi đă từng có nói qua. Nếu có ai chẳng
chịu bỏ công phu ngoại đạo và sự nghiệp
cầu cơ, chớ nên cho người ấy quy y để
khỏi bị người đời nói “Phật pháp chẳng
khác ǵ ngoại đạo!”
4) Thư
trước đă bàn về cái tệ cầu cơ, người
học Phật chẳng nên dự vào chuyện này. Chuyện
ấy phần nhiều là do linh quỷ giả mạo, lâu
ngày ắt đến nỗi bị hỏng việc. Dẫu
chẳng hỏng việc, nhưng những điều chúng
nó nói phần nhiều giống với tri kiến của
người đời, thường hay mâu thuẫn đạo
lư chân chánh. Danh sách kê khai [tên họ người xin quy y] đừng
dùng giấy đỏ, mắt già nh́n không rơ, hết sức
tốn công! Sau này có ai đến cầu quy y, hăy nên nói với
họ: Nếu đă từng theo ngoại đạo và cầu
cơ th́ nên đem những đạo đă hành trước
kia hoàn toàn vứt bỏ đi. Nếu không, chẳng nên giới
thiệu, ngơ hầu chẳng đến nỗi coi ngoại
đạo là Phật pháp khiến cho kẻ vô tri tà - chánh chẳng
phân vẫn cứ xem tà là chánh. Nay đặt pháp danh cho mỗi
người quy y, xin hăy sao ra gởi đến họ.
Thêm nữa, những kẻ
yêu thương con cái trong cơi đời đều là hại
con cái. Chẳng chịu giáo huấn chúng học hành chăm
chỉ, một mực để mặc cho quen thói kiêu ngạo,
khiến cho những đứa có thiên tư tốt đẹp
đều trở thành phường ương bướng,
tầm thường, bại hoại. Thiên hạ do đây
mà loạn, đều là v́ những kẻ không biết cách
làm cha mẹ người khác nuôi dưỡng thành. Nay muốn
cho con cái hiền thiện, nên vào lúc chúng nó mới hiểu
biết liền dùng sự lư nhân quả báo ứng, sanh tử
luân hồi và hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa,
liêm, sỉ để giảng giải, bảo chúng nó thực
hành, th́ con cái chắc chắn sẽ là hiền nhân, thiện
nhân. Sự vinh hiển ấy đời đời vô cùng.
5) [Khi] con
trẻ chết yểu th́ thói đời sẽ thường
do t́nh cảnh ấy mà dấy ḷng oán hờn, đâm ra biếng
nhác. Phải biết đời người nhân quả phức
tạp, hễ có nhân ắt phải có quả, có quả chắc
chắn chẳng thể không có nhân. Biết “nhân trước,
quả sau” sẽ chẳng sanh oán hận, biết “đức
có thể cảm được trời”, ắt chẳng
đến nỗi gặp nghịch cảnh nhỏ nhoi bèn
biếng trễ tu tâm. Ví như lúc trời vừa mới nóng,
chợt rất mát, hoặc thoạt đầu trời
đang mát, chợt nóng hừng hực, đấy là sự
biến động tạm thời, chứ không phải luôn
thường như vậy. Chỉ tận hết tấm
ḷng ta tu tập, chẳng cần biết t́nh cảnh hiện
thời là thuận hay nghịch. Nếu ai thường làm
được như thế ắt sẽ vĩnh viễn
được nhiều phước. Nếu do chuyện
nghịch ư nhỏ nhoi liền nói “tu tŕ vô ích” th́ đấy
chính là tri kiến của kẻ vô tri vô thức! Dẫu cho
cả đời không chuyện ǵ chẳng như ư cũng
khó đạt đến địa vị “vui theo mạng
trời!”
Nếu
có thể tu tŕ không lười biếng, ắt sẽ sanh
được đứa con trường thọ, vẹn đức.
Nếu chẳng luận tốt - xấu, chỉ cốt sao
nó chẳng chết yểu, nó sẽ vét sạch mỡ màng của
bá tánh, đem khoản tiền ấy gởi vào ngân hàng ngoại
quốc, khi một hơi thở hắt ra không hít vào
được, [tiền ấy] hoàn toàn về tay người
ngoại quốc, [như vậy th́] đứa con yêu quư
không bị chết yểu có may mắn chi đâu! Đứa
con chẳng ra ǵ ấy nếu bị chết yểu chính là
do đức lớn cảm vời, v́ nếu nó chẳng chết
yểu sẽ khiến cho nhân dân cả nước lầm
than! Nếu ngày nay những kẻ như vậy đều
chết yểu hết sạch th́ nước ta đâu
đến nỗi không có thuốc chữa, chỉ đợi
diệt vong mà thôi? Chỉ nên lắng ḷng niệm Phật hầu
tiêu tội nghiệp, chuốc lấy điều lành.
6) Ngữ
Lục của lệnh tổ[24]
không liên quan ǵ đến Sơn Chí. Nếu là bài minh đề
trên tháp, hoặc truyện th́ có lẽ sẽ có chỗ cần
dùng đến. Đối với chuyện h́nh ảnh th́
các vị cổ đức nhiều đời đều
không có thờ ảnh, nếu gởi đến cũng chẳng
tiện sắp xếp, v́ Linh Nham ngày nay hoàn toàn chẳng thừa
kế Linh Nham xưa kia, do sau khi bị đốt phá trong
chiến tranh, chỉ c̣n sót lại một cái tháp đổ
nát, những thứ khác đều bị đốt trụi.
Huống chi nay chùa theo pháp môn Tịnh Độ, lệnh tổ
chính là bậc tri thức trong Thiền Tông; luận trên
phương diện chùa miếu th́ không phải là kế thừa,
luận trên pháp đạo th́ chính là môn đ́nh khác. Ví
như thuyền dưới nước, xe trên bộ,
đưa về đến nhà rồi th́ hoàn toàn giống
nhau, nhưng trên lộ tŕnh th́ mỗi thứ mỗi khác. Con
người hiện thời chẳng phải là đại
thông gia, trọn chẳng thể nói lời viên dung, chỉ
ưa nghe nói ngọt đến nỗi không có lợi ích thật
sự. Trữ Công[25]
chính là đệ tử khá nhất của sư Hán Nguyệt
Tạng[26]. Hán Nguyệt muốn
làm cao nhân bậc nhất xưa nay, hết sức ḱnh chống
tổ Thiên Đồng Mật[27].
Bọn Hoằng Nhẫn, Cụ Đức v.v… đều
là phường khinh miệt tổ, chỉ có Trữ Công là
chẳng có thứ tập khí ấy, đáng là người
khiến cho hậu thế khâm phục, kính ngưỡng vậy.
7) Nhiều
lần gặp mộng lành chính là túc nhân được cảm
vời bởi ḷng khẩn thiết trong hiện tại. [Mộng
thấy] đại tự viện chính là pháp hội Hoa
Nghiêm, nhưng do chưa phá được Phiền Hoặc
nên chỉ thấy tướng kém cỏi, chẳng thấy
tướng thù thắng, nhưng cũng chẳng dễ ǵ
thấy được cảnh giới ấy. Đối
với chuyện trưởng giả lấy nước ban
cho uống, ấy chính là Văn Thù Bồ Tát đem cam lộ[28]
ban cho ông. Hăy nên thường gắng sức để chẳng
phụ ân đức một phen gia bị. Bởi lẽ
phàm phu sát đất phần nhiều bị cảnh chuyển,
nên Tăng Tử lúc sắp mất mới đọc
thơ rằng: “Chiến chiến
cạnh cạnh, như lâm thâm uyên, như lư bạc băng,
nhi kim, nhi hậu, ngô tri miễn phù” (Dè dặt kinh sợ,
như vào vực sâu, đi trên băng mỏng, hiện tại,
mai sau, ta biết thoát rồi). Chưa đến lúc lâm chung
c̣n sợ có thể bị sa xẩy, chẳng dám nói lời
lớn lối ấy. Nay những người thích ăn
nói lớn lối, đều là những kẻ cuồng trọn
chẳng dụng công nơi cơ sở. Lệnh hữu miệng
lưỡi không nhanh nhạy chính là do túc nghiệp. Tụng
Pháp Hoa đương nhiên là tốt, niệm Phật, niệm
Quán Âm cũng có thể tiêu nghiệp, tăng huệ. Chớ
nên cố chấp cho rằng chỉ có tụng Pháp Hoa mới
được! Niệm Phật nếu thật sự chí
thành c̣n có thể siêu phàm nhập thánh, há lẽ chỉ có thiệt
căn nhạy bén mà thôi ư?
103.
Thư trả lời cư sĩ Trí Lạc
Văng sanh
chẳng ở chỗ biết chữ hay không biết chữ,
mà chỉ tại nơi có tín nguyện hay không! Có tín nguyện
chắc chắc văng sanh; không tín nguyện chắc chắn
chẳng được văng sanh. Mẹ ông chẳng thể
niệm kinh chú, hăy nên khuyên cụ nhất tâm niệm Phật.
Hăy nên ăn chay trường, đừng nghĩ đem máu
thịt dâng lên cha mẹ là thể hiện ḷng hiếu.
Đấy chính là thói mê tín của kẻ không biết Phật
pháp. Chúng ta đă biết ăn thịt của chúng nó,
tương lai cũng sẽ đem thân mạng đền
trả, cho nên hiếu dưỡng kiểu đó chính là làm
cho cha mẹ đời đời kiếp kiếp bị
người khác mổ xẻ. Ḷng hiếu ấy chính là ḷng
hiếu đời đời kiếp kiếp hại cha mẹ,
chẳng đáng buồn ư?
Nếu muốn cho mẹ
được văng sanh, hăy nên thiết tha khuyên anh em trai, chị
em gái, thê thiếp, con cái đều cùng hằng ngày bầu
bạn bên cha mẹ niệm Phật. Nếu chẳng quây quần,
cũng nên bảo họ thường niệm. Nếu
đă quen niệm, đến khi cha mẹ lâm chung sẽ tự
nhiên biết niệm. Lại phải nói cặn kẽ lợi
ích của việc trợ niệm, họa hại do phá hoại
[chánh niệm] th́ mới được lợi ích nơi trợ
niệm, chẳng mắc cái hại bị phá hoại. Những
điều khác đă nói cặn kẽ trong Một Lá Thư
Gởi Khắp và sách Sức Chung Tân Lương. Nếu không
có, hăy thỉnh từ Hoằng Hóa Xă.
104.
Thư gởi cư sĩ Hồ Tác Sơ
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Mấy
hôm trước, lệnh điệt[29]
Thôi Chú B́nh gởi thư đến, và cũng gởi kèm
theo thư của các hạ gởi cho anh ta, xin Quang gởi các
loại sách cho các hạ. Quang đă bảo người gởi
đi rồi. Các hạ một mực có tín tâm, nhưng
chưa gặp được người thông suốt nên
vẫn tu tŕ những pháp luyện đan, vận khí của
ngoại đạo. Bọn họ tự khoe “tánh mạng
song tu”[30], cho là đă đắc
chân truyền của Lục Tổ, chứ thật ra chỉ
là pháp ǵn giữ cái thân, trọn chẳng có khí phận liễu
sanh tử chi cả! Bọn họ nào biết ư nghĩa của
tánh và mạng! Nhưng người đời không biết
chánh pháp nên chẳng thể do đâu phân biệt, chọn lựa
chân và ngụy, khó tránh khỏi mù quáng đi theo. Pháp luyện
đan, vận khí của bọn họ dùng đúng cách th́
huyết mạch châu lưu, thân thể khỏe mạnh. Dùng
sai cách, Khí bị ngưng trệ, không thông suốt, tai hại
chẳng nhỏ! Có khá nhiều người dự vào Đồng
Thiện Xă để ngồi luyện công đến nỗi
trở thành si ngốc, tê bại, thân thể mất cảm
giác, đều là do pháp ấy chẳng lành, mong dưỡng
thân đâm ra trở thành hại thân, chẳng đáng buồn
ư?
Xét kỹ căn bệnh
của các hạ là do một mực ham chuộng cao xa nên
thường hay bị bệnh v́ Khí, đây là một chuyện.
Hơn nữa, do thiên tánh thông minh, v́ vậy vướng lấy
tập khí của người thông minh, đối với
chuyện nữ sắc chẳng thể hạn chế, lại
thêm lửa phẫn nộ thường nổi lên không
đúng lúc. Ví như hai lưỡi ŕu cùng đốn một
cái cây lẻ loi, nguy hiểm tột cùng! Lại thêm do dùng
cách tịnh tọa không tốt lành của Đồng Thiện
Xă tạo thêm trợ duyên cho bệnh khổ, đến nỗi
đủ mọi hiện tượng đều do đấy
mà sanh. Nếu nay chịu hành theo pháp “thanh tâm quả dục”
(giữ ḷng thanh tịnh, giảm bớt ham muốn), nhiếp
tâm niệm Phật th́ lâu ngày chầy tháng túc nghiệp sẽ
tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng, hết thảy
các chứng mất ngủ, nghẹt mũi, rung cơ v.v… sẽ
đều dần dần tiêu diệt.
Trước hết, hăy
nên xem phương pháp tu tŕ trong Gia Ngôn Lục, một câu “Nam-mô
A Di Đà Phật” miên miên mật mật tŕ niệm lâu dài.
Hễ mỗi khi những ư niệm phẫn nộ, dâm dục,
háo thắng, bộp chộp v.v… ngẫu nhiên chớm sanh,
bèn lập tức nghĩ rằng: “Ta là người niệm
Phật, há nên dấy lên những tâm niệm này?” Niệm vừa
dấy lên bèn dứt, lâu ngày, hết thảy những ư niệm
hao tổn tinh thần, mệt nhọc thân xác đều
không cách chi dấy lên được! Suốt ngày dùng công đức
chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật để
gia tŕ thân tâm, dám bảo đảm chẳng cần đến
mười ngày sẽ liền thấy hiệu quả lớn
lao. Nếu chỉ thỉnh thoảng niệm một hai câu liền
muốn thấy hiệu quả th́ là dối ḿnh, lừa
người, tuy vẫn có công đức, nhưng muốn
nhờ vào đấy để lành bệnh th́ chắc chắn
chẳng thể được! Phàm mọi chuyện đều
phải lấy ḷng thành làm gốc, há có thể nào tu tŕ chẳng
bằng ḷng thành mà muốn hưởng lợi ích lành bệnh
diệt khổ ư?
Lại nữa, nếu
tập khí sâu dầy, tốt nhất là nên chuyên niệm Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát, do tâm Bồ Tát cứu khổ thiết
tha. Nay gởi kèm theo Một Lá Thư Gởi Khắp, hăy
đọc, sẽ tự biết. Hiện thời Quang có
chuyện hết sức gấp rút, sau này chẳng cần
phải gởi thư cho Quang nữa. Nếu có ǵ cần
bàn định nên gởi thư cho Chú B́nh, nhưng cũng
đừng nên để Chú B́nh gởi thư đến [cho
Quang] nữa. Chẳng qua anh ta biết được
đường nẻo, hiểu rơ ràng hơn các hạ
đôi chút!
105.
Thư gởi cư sĩ Trang Huệ Cự ở Tuyền
Châu
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Hiện
thời khắp cả thế gian đều có ngoại
đạo. Do Phật pháp sâu xa, nhiệm mầu con người
không thể nào biết được, bọn chúng bèn trộm
danh Phật pháp, nhưng chẳng biết nghĩa lư, bèn coi
pháp luyện đan, vận khí để giữ ǵn cái thân
là pháp liễu sanh thoát tử. Hơn nữa, bọn chúng chẳng
biết sanh tử do đâu mà có, nên mù quáng bịa đặt
đồn thổi, nói: “Luyện
Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần hoàn
Hư, lại hợp nhất một chỗ là đắc
đạo”. Thật ra, hoàn toàn là dùng thức thần
để tu tập, tuyệt đối chưa thể mộng
thấy được lư thể của Chân Như Thật
Tế nơi tâm tánh mà vẫn tự phụ: “Lục Tổ loạn truyền
pháp, pháp quy tại gia nhân, Tăng gia vô hữu pháp” (Lục
Tổ truyền pháp loạn xạ, pháp trở về với
kẻ tại gia, Tăng chúng chẳng có pháp). Lời lẽ
này chẳng chỉ nói ra miệng mà c̣n viết thành sách, dùng
giả để hủy chân, lấy tà làm chánh, kẻ vô tri
vô thức bèn bị chúng mê hoặc.
Ngoại đạo có
thể truyền khắp trong cơi đời là nhờ có hai
pháp đắc lực:
1. Một là bí truyền,
tức là bảo hễ được minh sư chân truyền,
chẳng tu vẫn thành. V́ thế, bèn nói một cách thần
thánh hóa rằng: “Chuột nghe thấy, chuột cũng
đều thành đạo! Chim sẻ nghe thấy, chim sẻ
đều thành đạo!” V́ thế, lúc truyền đạo
phải ở trong mật thất, khẽ tiếng nói th́ thầm,
bên ngoài c̣n sai phái người tuần tra, sợ có kẻ
nghe trộm!
2. Hai là bày ra lệnh cấm
nghiêm ngặt, dẫu thân thiết như cha con, vợ chồng
đều chẳng được nói cho nhau biết. Nói ra
sẽ bị trời hành! V́ thế, trước khi
được truyền đạo, trước hết buộc
[kẻ ấy] thề thốt: “Nếu sau này phản đạo
sẽ bị quả báo thê thảm như thế nào đó!”
Thề thốt rồi mới được truyền
đạo. Sau này, dẫu người nào biết là sai,
nhưng v́ sợ ông thần canh lời thề nên thà chết
chẳng dám rời bỏ đạo ấy để học
Phật pháp.
Giả sử ngoại
đạo bỏ bí truyền để công khai, làm cho khắp
mọi người cùng nghe, cũng chẳng buộc người
khác thề thốt, th́ người trong khắp cơi đời
có mấy ai chịu vào đạo của chúng? Cố nhiên bọn
chúng chẳng có đạo, trộm lấy cái danh liễu
sanh tử của Phật pháp để thực hành chuyện
luyện đan, vận khí, giữ ǵn thân thể. Dẫu có
khiến cho tâm hạnh thanh khiết th́ cũng bất quá là
thành tiên mà thôi! Địa vị của tiên c̣n kém xa trời,
huống ǵ là [đem địa vị Tiên so với] các
địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát ư? Ông
đă quy y Phật pháp, hăy nên triệt để vứt những
pháp ngoại đạo đă tu trước kia ra ngoài biển
cả Đông Dương, nhất tâm niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, ngơ hầu chẳng uổng cuộc sống
này và dịp gặp gỡ này!
106.
Thư gởi y sĩ Mă Tinh Tiều
Đức
Phật là Đại Y Vương, trị khắp các bệnh
nơi thân và tâm của chúng sanh. Y sĩ trong thế gian chỉ
trị được cái thân, dẫu cho y thuật cao siêu, xét
đến kết quả th́ trọn chẳng có ích ǵ cho thần
thức của người bệnh ấy. Ông đă quy y
Tam Bảo, phát Bồ Đề tâm, trị bệnh cho
người, th́ trong lúc trị thân bệnh, hăy nên kèm vào cách
trị tâm bệnh. V́ sao nói vậy? Phàm những bệnh ngặt
nghèo nguy hiểm, phần lớn là do sát nghiệp trong đời
trước hay trong đời này tạo thành, nhưng
người có bệnh ắt phải đoạn tuyệt
chuyện ăn nằm mới chóng lành bệnh. Muốn giảm
sát nghiệp trong đời trước hay trong đời
hiện tại, phải kiêng giết ăn chay. Lại c̣n
phải chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm, ắt bệnh
sẽ mau được lành, vừa vun bồi đức,
vừa gieo thiện căn. Nếu là bệnh do oán nghiệp
th́ ngoại trừ cách này ra, chắc chắn khó thể lành
bệnh. Người ấy và cha mẹ, vợ con trong nhà
do tâm gấp rút mong được lành bệnh, chưa chắc
không chịu hành theo. Nếu chịu hành theo, sẽ gieo
được thiện căn xuất thế. Từ
đây sanh tâm chánh tín, sau này biết đâu do đây sẽ liễu
sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh th́ đối với
người ấy, đối với ông đều có ích lợi
lớn lao.
Đối với chuyện
đoạn dục, hăy nên coi đó là cách trọng yếu bậc
nhất để trị bệnh. Bất luận nội
chứng hay ngoại chứng, bệnh chưa được
lành lặn vẹn mười, muôn vàn chớ nên dính đến
chuyện ăn nằm. Hễ nhiễm vào chuyện ăn nằm,
bệnh nhẹ sẽ thành nặng, bệnh nặng có thể
bị chết ngay, hoặc chẳng chết liền
nhưng đă trở thành cái nhân ắt phải chết. Muốn
chẳng bị chết, cũng thật khó khăn lắm!
Dẫu cho không chết, chắc là trở thành kẻ bấy
bớt, tàn phế, chắc chắn khó thể giữ
được sức khỏe. Chẳng biết là do chính
ḿnh chẳng khéo dưỡng sức, lại đổ hô “y
sĩ chẳng có bản lănh thật sự!” Bất luận
nam hay nữ (đối với gái trinh và bà góa th́ chẳng
nên nói, c̣n những người khác th́ không ngại ǵ), đều nên thẳng thừng, đanh
gọn, nói rơ chuyện lợi - hại để bệnh họ
dễ được lành, nhờ đấy cái danh của
ông cũng được rạng rỡ. Thường là y
sĩ chỉ biết trị bệnh, chẳng nói đến
chuyện kiêng kỵ cho căn bệnh, huống là chịu
dạy người ta sửa lỗi hướng thiện
để vun đức tích phước ư? Đấy
chính là tâm hạnh của kẻ bán hàng rong chỉ mong cầu
lợi ngoài đường, ngoài chợ, chứ không phải
là tâm hạnh cứu vớt người, khiến cho cơi
đời đều được sống lâu, huống
hồ là có thể khiến cho người ta do bệnh tật
sẽ được vô thượng lợi ích “sống
th́ dự vào bậc thánh hiền, mất đi trở về
cơi Cực Lạc” ư! Cổ nhân nói: “Bất vi lương tướng, tất vi
lương y” (chẳng làm vị tể tướng giỏi
th́ làm thầy thuốc giỏi). Do vậy, gọi vị y
sĩ là “đại quốc thủ”.
Trong thế gian, y sĩ danh phận đă cao tột bậc,
nếu kiêm dùng Phật pháp, nhờ vào đó để độ
chúng sanh, hành Bồ Tát đạo, thật là nghiệp quan
trọng nhất trong hết thảy các nghiệp. Do con
người trong khi bệnh hoạn, được nghe một
y sĩ chẳng chuyên cầu lợi, có chí mong lợi
người, phát Bồ Đề tâm bảo ban, ắt có thể
khiến cho bệnh được lành th́ tự ḿnh chẳng
thể sanh ḷng chánh tín hành theo ư?
Muốn gây ḷng tin
nơi người khác, chớ nên tính toán [bệnh nhân sẽ]
tạ lễ nhiều hay ít rồi sanh phân biệt. Nếu
với kẻ giàu bèn tích cực chữa trị, với
người nghèo chỉ đăi bôi cho xong chuyện, lâu ngày
người ta sẽ v́ y sĩ hám lợi mà khinh thường,
dẫu có nói những câu lợi ích kẻ khác, người
ta cũng chẳng tin theo. Lại hăy nên gặp cha nói từ,
gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng ḥa,
vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành và nhân quả
báo ứng thấu suốt ba đời (quá khứ, hiện
tại, vị lai), sanh tử luân hồi
trong sáu nẻo. Có thể nói được với ai th́ chẳng
ngại ǵ hữu ư vờ như vô ư nhàn đàm, khiến cho
người nghe dần dần mở mang tâm địa, biết
sanh tử luân hồi đáng sợ, may là có pháp để
liễu sanh thoát tử! Người làm được
như vậy th́ thật sự có thể gọi là “dùng pháp
thế gian để hành Phật pháp, dùng trị bệnh
nơi thân để chữa bệnh nơi tâm!” Nay hiện
đang là t́nh thế hoạn nạn, thiên tai, nhân họa
thường xuyên giáng xuống. Bất luận gặp phải
những tai ương, hoạn nạn như nước,
lửa, đao binh, đói kém, ôn dịch, sâu rầy, châu chấu,
hạn hán, lụt lội, oán gia đối đầu v.v…
chỉ chịu chí thành khẩn thiết thường niệm
danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chắc chắn có thể
gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành hên.
Hơn nữa, nữ nhân khi sanh nở niệm Quán Thế Âm chắc chắn sẽ an nhiên sanh nở, không bị đau khổ. Dù đă lâu chưa sanh được, sắp chết, nếu chịu niệm th́ sẽ lập tức sanh được (phải niệm ra tiếng, chớ nên niệm thầm trong tâm. Do lúc ấy, cần phải dùng sức để tống đứa con ra. Nếu niệm thầm ắt sẽ bị tổn thương thành bệnh. Những người săn sóc chung quanh cũng niệm thay cho người ấy. Những người trong nhà không ở trong pḥng sanh cũng nên niệm giùm. Bất luận ở trong pḥng sanh hay ở ngoài, hễ niệm đều có lợi ích. Lúc b́nh thường khi ngủ nghỉ, và khi áo mũ không chỉnh tề, và chưa rửa ráy, súc miệng, tắm gội, tiêu tiểu, đến chỗ không sạch sẽ, đều nên niệm thầm. Niệm thầm công đức vẫn giống hệt [như niệm ra tiếng]. Niệm ra tiếng [trong những lúc ấy, tại những nơi ấy] không hợp nghi thức, chứ hoàn toàn chẳng phải là không thể niệm!) Người đời vô tri coi chuyện này là chuyện đáng sợ, dẫu b́nh thường là người có tín tâm cũng chẳng dám dạy người khác niệm, cho là lơa lồ bất tịnh, hễ niệm sẽ bị tội. Chẳng biết lúc ấy liên quan đến tánh mạng của cả mẹ lẫn con, Bồ Tát chỉ chuyên chú độ sanh, lúc ấy chỉ dốc ḷng thành, lơa lồ bất tịnh chính là chuyện bất đắc dĩ, không thể so với chuyện cố ư không cung kính làm ra như vậy! Chịu niệm th́ đứa con liền sanh, chẳng những không có tội lỗi mà c̣n làm cho cả mẹ lẫn con cùng gieo thiện căn (điều này thấy từ kinh Dược Sư, chứ không phải là Quang bịa chuyện).
Nếu lúc b́nh thường
cần phải hết sức kiền thành, thật sạch
sẽ, chẳng thể dẫn lúc [sanh nở] ấy để
làm lệ được, khinh mạn bất kính th́ tội
lỗi ngập trời! Phàm những ai là người niệm
Phật đều không biết chuyện này; trước
kia, Quang chẳng biết đến sự sai lầm trong tập
tục, cho nên trong Văn Sao hoàn toàn chẳng nhắc tới.
Về sau, do hiểu sâu xa, nên thường nói với hết
thảy mọi người, những kẻ y theo không một
ai chẳng được hiệu nghiệm ngay. Đây là một
đầu mối để lợi người vậy.
107.
Thư trả lời cư sĩ Trần Huệ Ḥa (hai lá thư)
(năm Dân Quốc 18 - 1929)
1) Do Huệ
Hồng chuyển thư đến, biết ông sẵn có
túc nhân, vừa nghe Phật pháp liền sanh chánh tín. Nhưng
người học Phật ắt phải dốc ḷng giữ
vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận,
dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ḷng ham muốn
xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục cái lễ,
đừng làm các điều ác, vâng hành các điều lành,
kiêng giết, ăn chay, tín nguyện niệm Phật, dùng những
điều này để tự hành, lại c̣n dạy
người. Kẻ làm được như thế chắn
chắn trong hiện đời có thể dự vào bậc
thánh hiền, lâm chung lên thẳng cơi Cực Lạc. Nay đặt
pháp danh cho ông là Huệ Ḥa, nghĩa là dùng trí huệ để
điều ḥa thân tâm, chẳng cho chấp lệch lạc
vào các thứ kiến chấp Không - Hữu, tham - sân - si v.v…
Lại c̣n dùng Giới - Định - Huệ, từ bi, hỷ
xả v.v… ḥa hợp ḥng làm căn cứ tự lợi, lợi
tha, ngơ hầu chẳng dẫm theo vết bọn cuồng
đồ tự phụ cao minh trong mấy lúc gần
đây, mà cũng chẳng rớt vào bọn ngu phu kém hèn, tự
yên phận.
2) Con
người sống trong thế gian nguy hiểm muôn vẻ,
một hơi thở ra không hít vào được, chẳng
biết sẽ lại có h́nh dạng như thế nào. Ông
đă đầu thai vào loài người, may là tâm địa
sáng suốt, một niềm hiếu thuận, nhân từ,
khôi phục được bản thể. Nếu như mê
muội, sẽ khó quay về! Phải biết: Đây vẫn
c̣n là tin tức tốt lành nhất, nếu đầu thai
vào dị loại th́ càng nguy hiểm hơn. Do vậy, biết
rằng: Chúng sanh trong lục đạo đều không có
giống nhau hay khác biệt, đều theo nghiệp thọ
báo, không sanh ở chỗ nào nhất định. Ông đă
trải qua nạn ấy, tâm hăy nên quyết định cầu
sanh Tây Phương, ngơ hầu do cơn nguy hiểm này sẽ
vĩnh viễn hưởng yên vui. Tịnh Độ Thập
Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Triệt Ngộ
Ngữ Lục đă thỉnh được. Lại c̣n các
sách đă in gần đây đóng thành sáu gói gởi đi,
mong hăy xem xét, thâu nhận. Chuyện ăn chay là do chẳng
biết con người và súc vật luân hồi, sanh ra lẫn
nhau, giết hại lẫn nhau, lầm lẫn cho rằng
con người nên ăn chúng nó, chúng nó [sanh ra là] để
cho con người ăn. Đến khi đầu thai vào
loài ấy mới biết những suy tính trước kia là
sai lầm.
Ông đă trải qua một
phen nguy hiểm ấy, cố nhiên hăy nên gắng sức tu học,
ăn chay. Nếu ở hàng quán, thật khó tự do [ăn
chay theo ư muốn] th́ cũng nên sanh tâm bất nhẫn, sanh
tâm độ thoát, bớt ăn một chút th́ tốt lắm.
Nếu có thể tự do, hăy chớ nên ăn. Lại nữa,
tu hành pháp môn Tịnh Độ đương nhiên chẳng
phải ở chỗ xuất gia hay không! Ông trên có mẹ
già, dưới có vợ con, nếu bỏ mặc không hỏi
tới, tự cầu yên vui th́ đối với Phật
pháp lẫn thế pháp đều mắc tội lớn, v́
chẳng thể tận hết t́nh nghĩa, trọn hết
bổn phận. Dù có tu tŕ, công khó địch lại tội,
huống ǵ chẳng thể tu tŕ ư? Quán Kinh dạy rơ Tịnh
nghiệp chánh nhân của tam thế chư Phật: Thứ
nhất là “hiếu dưỡng
cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng
giết, tu Thập Thiện Nghiệp”. Cách tu này
được chư Phật khen ngợi. Người tại
gia tu hành hiện thời so với bốn mươi
năm trước kia đông đảo gấp mấy chục
lần, đâu có bao giờ nghe nói người tại gia chẳng
tu hành tốt đẹp đâu? Ông chỉ y theo những
điều đă nói trong các sách Văn Sao, Gia Ngôn Lục của
tôi mà tu, chắc chắn sẽ có thể cùng với cha mẹ,
vợ con ông cùng được “sống th́ làm bậc thánh
hiền, mất đi dự vào Liên Tŕ Hải Hội”, mới
biết lời tôi quyết chẳng dối gạt ông!
108.
Thư trả lời cư sĩ Trạch Phạm
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Những
người đàn bà niệm Phật ở vùng Giang - Chiết,
thảy đều là tin nhận lư lẽ vô lư của ngoại
đạo, chỉ biết cung kính, khiết tịnh, chẳng
biết luận định theo sự việc, cho nên mới
có cái thuyết mù quáng ấy gây hại trong thế gian khiến
cho người ta bị lầm lẫn chẳng cạn. Trước
kia, Quang chẳng biết đến những thứ tà thuyết
ấy nên trong Văn Sao tuyệt chẳng nhắc đến.
Sau này mới biết rơ tệ nạn ấy, nên thường
nói với hết thảy mọi người. Có ai khó sanh
hăy y theo đó mà niệm th́ không một ai chẳng lập tức
được an nhiên sanh nở. Người niệm Phật
đi, đứng, nằm, ngồi đều khéo niệm,
nhưng lúc ngủ nghỉ và khi mũ áo không chỉnh tề,
tay chưa rửa, miệng chưa súc, cùng lúc tắm gội,
tiêu tiểu cũng như khi đến chỗ ô uế,
đều nên niệm thầm trong tâm, chớ nên niệm ra
tiếng. Niệm thầm công đức vẫn chẳng giảm
bớt, chứ niệm ra tiếng th́ không hợp nghi thức.
Nếu đàn bà gặp
khi sanh nở, chỉ nên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát (do
Quán Thế Âm Bồ Tát bi nguyện sâu nặng, chứ không
phải là chẳng được niệm Phật chỉ
được niệm Quán Âm, chớ có hiểu lầm) do đức Quán Âm tâm cứu khổ sâu
nặng, nhưng phải niệm ra tiếng rơ ràng, trọn
chớ nên niệm thầm trong tâm. Niệm thầm trong tâm
th́ so ra sức yếu hơn, hiệu quả cảm thông
cũng nhỏ. Hơn nữa, lúc ấy phải dùng sức
tống đứa con ra; nếu đang dùng sức tống
đứa con ra lại niệm thầm sẽ bị tổn
khí thành bệnh. Chính sản phụ tự niệm ra tiếng
rơ ràng, những người trông nom trong pḥng sanh cũng niệm
ra tiếng rơ ràng, người nhà ở pḥng khác cũng nên
niệm cho sản phụ ấy. Chớ nên bảo “lơa lồ
bất tịnh, nếu niệm sợ bị mắc tội
lỗi!” Phải biết: Lư cố nhiên có nhất định,
nhưng sự biến đổi, chứ không phải chỉ
có một! Chỉ nên dựa theo sự để luận
lư, đừng luận theo kiểu chấp lư hẹp ḥi. Ví
như con cái lỡ dại té vào hầm xí, nước, lửa,
kêu cha mẹ để cầu cứu, cha mẹ nghe tiếng
liền đến cứu ngay, trọn chẳng đến
nỗi v́ thân thể của chúng nó không sạch sẽ, áo
mũ không chỉnh tề mà chẳng chịu cứu vớt,
mặc kệ cho chúng nó chết! Phẩm đức của
Bồ Tát sâu xa hơn cha mẹ vô lượng vạn vạn
lần. Khi chúng sanh bị khổ cầu cứu Ngài, [Bồ
Tát] chỉ có ư niệm cứu khổ, trọn chẳng có ư
niệm so đo h́nh dạng!
Hơn nữa, lúc ấy
là lúc không làm sao khác được, chẳng thể biểu
thị sự cung kính, sạch sẽ, đành lơa lồ, bất
tịnh! Nếu có thể [cung kính, sạch sẽ] mà không
làm sẽ thành có tội. Nếu chẳng thể tỏ lộ
vẻ cung kính th́ chỉ nên luận theo ḷng thành quy hướng
trong tâm, đừng bàn đến chuyện lễ mạo,
nghi thức nơi h́nh tướng. Bồ Tát không khổ
nào chẳng cứu, không nạn nào chẳng cứu, lẽ
đâu lại bỏ rơi sản phụ? Tuy trong kinh
chưa nói đến rơ ràng, nhưng hăy nên suy tưởng
cái tâm “cứu khổ mong dứt bặt nỗi khổ lớn
lao trong đời người để thỏa từ tâm”
của Bồ Tát! Huống chi trong kinh Dược Sư, đoạn
kinh đức Phật dạy sản phụ niệm Phật
Dược Sư như sau: “Nếu
có nữ nhân đang lúc sanh nở, chịu nỗi khổ
cùng cực, nếu có thể chí tâm xưng danh, lễ bái,
tán thán (xưng danh th́ sản phụ làm được,
c̣n lễ bái, tán thán, cung kính, cúng dường chính là chuyện
của người nhà, chứ sản phụ không thể làm
được), cung kính, cúng dường đức Như Lai ấy,
mọi nỗi khổ đều trừ” (“Mọi
nỗi khổ đều trừ” th́ chẳng bị khổ
ǵ! Đứa con sanh ra được lợi ích lớn lao
không thể diễn tả được! Sản phụ
niệm th́ được lợi ích lớn lao như thế,
lẽ nào người niệm Phật vừa bước
vào pḥng bà đẻ th́ công đức niệm Phật
thường ngày liền hoàn toàn bị mất sạch hay
sao? Kẻ vô tri tự lập hạn định, tự lầm,
lầm người. Tội há thể cùng tận, đáng
thương thay). Đứa con sanh
ra thân thể trọn vẹn, h́nh sắc đoan chánh, ai thấy
đều hoan hỷ, lợi căn thông minh, an ổn ít bệnh,
không bị phi nhân đoạt mất tinh khí. Có thể biết
rằng lúc sanh nở chịu niệm th́ chẳng những
vô tội mà cả mẹ lẫn con đều an toàn,
được lợi ích lớn lao, gieo đại thiện
căn. Sản phụ c̣n như vậy th́ những người
khác [cứ suy ra] ắt biết được.
Ông Mă Thuấn Khanh ở
Hồ Nam (trong Văn Sao có nhắc đến tên ông
này) là người Hồi Hồi[31] (người
Hồi Hồi quy y chỉ có một gia đ́nh này), vợ chồng họ và năm đứa
con đều gởi thư xin quy y. Mùa Thu năm Dân Quốc
18 (1929) gởi thư cho biết: Vợ ông ta sanh năm
đứa con, hai lần đầu c̣n b́nh an, lần thứ
ba liền băng huyết, lần thứ tư thứ
năm càng nguy ngập hơn. Nay chẳng bao lâu nữa sẽ
sanh, nếu bị băng huyết lần nữa, chắc
sẽ mất mạng, xin chỉ cách cứu vớt. Quang bảo
họ chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, lúc đang
sanh nở tuy lơa lồ, bất tịnh, chớ nghĩ v́ lẽ
đó chẳng thể niệm được! Lại cần
phải niệm ra tiếng, chớ nên niệm thầm. Ông
ta lại xin đặt sẵn pháp danh cho thai nhi. Thư
Quang gởi đến, vợ chồng ông ta cùng xem, vợ
ông ta niệm liền. Ngày hôm sau liền sanh, trong lúc đang
sanh vẫn niệm, được an nhiên không khổ sở!
Ông ta liền viết thư phúc đáp cho biết chuyện
vượt ngoài ư nghĩ, Bồ Tát thật có thể nói là
đại từ đại bi vậy! Từ mùa Thu năm
Dân Quốc 15 (1926) trở đi, Tăng Quảng Văn Sao in
xong, bất luận văn tự nào đều nhất loạt
chẳng giữ lại bản nháp để khỏi uổng
tiền ấn loát. Do gần đây biết sâu xa thói tệ
này, luôn thường nói chuyện lợi - hại với hết
thảy mọi người, mong họ lan truyền điều
này để cứu vớt sẵn nỗi hoạn nạn
và tánh mạng của sản phụ cùng đứa con. Dẫu
có ai không thông cảm, cho là Quang ưa nói chuyện bà đẻ
cũng chẳng tiếc ǵ, chỉ mong cứu văn thói ác này
khiến cho mọi người cùng sanh chánh tín mà thôi!
109.
Thư trả lời cư sĩ Châu Đức Đại
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Pháp môn Niệm
Phật chú trọng tín nguyện, có tín nguyện nhưng chưa
được nhất tâm cũng có thể văng sanh. Đắc
nhất tâm nhưng không có tín nguyện, vẫn chẳng
được văng sanh! Người đời phần nhiều
chú trọng nhất tâm, chẳng chú trọng tín nguyện, tức
là đă đánh mất cái quan trọng cốt lơi nhất. Nếu
lại c̣n sanh khởi mối nghi “chưa đắc nhất
tâm, sợ rằng chẳng được văng sanh” th́ hoàn
toàn trái nghịch với ḷng tin chân thành, nguyện thiết
tha mất rồi! Kiểu suy nghĩ này tợ hồ là suy
nghĩ tốt, nhưng thật ra, nếu do đây càng
tăng thêm tín nguyện để đạt đến nhất
tâm th́ đó là cách suy nghĩ tốt; c̣n nếu do chưa
được nhất tâm bèn thường nghĩ chẳng
thể nào văng sanh được th́ sẽ trở thành cách
suy nghĩ xấu, chẳng thể không biết! Muốn
được nhiếp tâm quy nhất, điều quan trọng
nhất là tâm thiết tha v́ sanh tử, điều thứ
hai là khẩn thiết chí thành, điều thứ ba là phải
chân thật niệm từ trong tâm, miệng đừng lem
lém đọc qua. Nếu vẫn chẳng thể quy nhất,
hăy nên dựa theo cách Thập Niệm Kư Số trong Văn
Sao, ắt sẽ dễ dàng tự đạt được
quy nhất.
110.
Thư trả lời cư sĩ Sa Dung Chi
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Làm phận
con, đạo làm vẻ vang cha mẹ là tận lực thực
hành Tu Đức ngơ hầu hết thảy mọi người
đều do kính trọng ta mà nghĩ đến đấng
sanh ra ta, đấy mới là phương pháp thiết yếu
nhất. Thường hay thấy người đời,
sau khi cha mẹ khuất núi rồi bèn đi khắp nơi
t́m những người có danh tiếng, có địa vị
để nhờ viết lời tán tụng, chứ chẳng
chú trọng tự ḿnh gắng công tu đức, làm điều
nhân nghĩa khiến cho cha mẹ được vang danh.
Tôi thường nói: “Người
đời phần nhiều chuộng danh ghét thật, đặc
biệt muốn phô trương một chốc, chẳng
nghĩ tới chuyện kỷ niệm suốt đời!”
Ông đă tin nhận Phật pháp, cha ông cũng đă biết
nghĩa lư “tâm sẵn có đầy
đủ, tâm tạo, tâm làm, tâm là”. Phàm ma chay, chôn cất,
kính thần, đăi khách, mọi chuyện đều nên y
theo sự chế định của đức Phật, chẳng
dùng rượu thịt, ngơ hầu xướng suất cả
làng [noi theo gương tốt đẹp ấy].
Quang già rồi, tinh thần,
công phu, mục lực đều chẳng đủ. Chỉ
soạn mười sáu câu tụng, chẳng thể viết
bài kư Sanh Tây. Ông hăy tự viết, hoặc xin bậc cao nhân
khác viết. Gần đây, những chuyện bút mực do
người khác nhờ vả Quang đều nhất loạt
thoái thác, chẳng phải do không muốn nhọc công v́
người khác, mà v́ sức chẳng kham nổi! Trong
thư ông hoàn toàn chẳng nhắc đến danh tự của
cha ông, nên trong phần đầu chỉ đành để
trống chỗ hai chữ, xin hăy đề thêm vào. May là cha
ông đă được văng sanh, mẹ ông vẫn c̣n, cố
nhiên nên khuyên chỉ sẵn, ngơ hầu cụ chết sạch
cái tâm [mong cầu] hết thảy phước báo nhân thiên vinh
hiển hư huyễn trong thế gian, lấy quyết chí
văng sanh ḥng siêu phàm nhập thánh làm chí hướng sự
nghiệp th́ lợi ích lớn lắm. Phàm làm những Phật
sự trong khi tang lễ đều nên lấy niệm Phật
làm chánh. Nếu niệm kinh, bái sám, làm đạo tràng Thủy
Lục th́ ít được lợi ích thật sự vậy!
111.
Thư trả lời cư sĩ Trương Hải Kiều
ở
(năm Dân Quốc 25 - 1936)
Trong lúc vận
nước nguy ngập, dân không lẽ sống này, gặp
lúc chuyện tương lai chẳng thể suy tính
được này, đă là hạng phàm phu sát đất,
đầy đủ Hoặc nghiệp, chẳng thể
chuyên tâm dốc chí học Phật, lại cứ muốn
ngay trong đời này sẽ giải quyết được
đại sự sanh tử vốn chẳng thể giải
quyết xong trong trăm ngàn vạn ức kiếp, mà nếu
chẳng lấy chuyện cầu sanh Tịnh Độ làm
chí hướng, sự nghiệp th́ sợ rằng chỉ
có nhân, chứ không thể do đâu đạt được
cái quả! Quang tự lượng là phận độn
căn, lúc mới xuất gia liền quy y nơi Tịnh
Độ. Lại do hơn năm mươi năm trải
đời, tuy chẳng hiểu rành Phật pháp chi hết,
nhưng đối với pháp Tịnh Độ cố nhiên
do [đă sẵn] cái chí từ thuở ban đầu nên chưa
hề lầm lẫn! Đối với hết thảy những
ai hữu duyên đều dùng [pháp này] để kính khuyên.
Biển sanh tử sâu
thẳm, đường Bồ Đề xa vời, muốn
trong đời này giải quyết xong đại sự này
mà bỏ một pháp Tịnh Độ, đừng nói chi không
thông suốt hết thảy pháp môn, dù có thông cũng chẳng
thể rốt ráo được hưởng lợi ích thật
sự! V́ sao vậy? Do hết thảy pháp môn đều cậy
vào tự lực để đoạn Hoặc chứng
Chân ḥng liễu sanh tử; c̣n pháp môn Tịnh Độ nếu
đầy đủ tín nguyện, niệm danh hiệu Phật,
cầu sanh Tây Phương liền có thể cậy vào Phật
từ lực văng sanh Tây Phương. So sánh hai pháp th́ sự
khó - dễ khác biệt vời vợi như trời với
vực! Huống chi đương lúc đại kiếp
đón đầu này, vẫn cứ muốn nghiên cứu
kinh luận sâu thẳm, chẳng lấy pháp “hễ siêu bèn
vào thẳng địa vị Như Lai” này làm chí hướng,
sự nghiệp th́ sợ rằng khó thể măn nguyện mà
sẽ thành ra than dài sườn sượt “mười người hết chín kẻ chần chừ”!
Nay đặt pháp danh
cho ông là Huệ Độ, nghĩa là quy y pháp môn Tịnh
Độ được nói ra bởi trí huệ của Phật
để tự hành, dạy người, ngơ hầu
nương theo Phật từ lực vượt thoát sanh tử,
nên có tên là Huệ Độ. Ông biếu Quang tám đồng,
Quang bèn gởi cho ông tám đồng kinh sách. Nếu chịu
lắng ḷng đọc tụng những kinh ấy, mở
xem các thứ trước thuật, sẽ tự có thể biết
cái nh́n của Quang không lầm! Lại cần phải biết
nay đang là đời loạn đă đến mức tột
cùng, không có thuốc chữa! Nguyên nhân đều là do học
thuyết Tống Nho bài xích nhân quả, luân hồi
ươm mầm từ tám chín trăm năm trước,
đến nay liền bộc phát! Nay muốn văn hồi thế
đạo nhân tâm, nếu chẳng nêu rơ cái gốc họa
này, dù có muốn văn hồi cũng khó thể được,
v́ nhân quả là phương tiện lớn lao để
thánh nhân trị thiên hạ, để Phật độ
chúng sanh, là pháp để trị bệnh cả gốc lẫn
ngọn vậy. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần
đều chẳng đủ, từ rày chỉ nên y theo những
kinh sách đă gởi mà tu, chẳng cần gởi thư
đến nữa để đôi bên khỏi mất công
nhọc nhằn!
112.
Thư trả lời cư sĩ Địch Trí Thuần
(năm Dân Quốc 27 - 1938. Ông này vốn có tên là Văn Tuyển)
Thư của
ông và thư của Liên Phương đă nhận đủ
cả rồi. Ông có thể tŕ được kinh Lăng
Già, có thể nói là xưa đă có thiện căn. Pháp ấn
tâm chẳng phải chỉ hạn cuộc tại chỗ ấy.
Nếu có thể tuân theo [lời dạy của Bồ Tát]
Đại Huệ[32]
trong phẩm Đoạn Nhục, phàm thấy hết thảy
những sinh vật đều coi như cha mẹ, anh em
trai, chị em gái, vợ con, quyến thuộc th́ môn ấy
sẽ rộng mở, không pháp nào chẳng nhập
được! Nếu thật sự nhập được
môn này (tức “tưởng hết thảy sinh vật
như ruột thịt, không ăn thịt chúng nó”) dẫu
chưa đạt được pháp ấn tâm, so với
những kẻ đă đắc pháp ấn tâm kia nhưng
chưa chịu nhập môn này th́ công đức cách biệt
như trời với vực! Bởi lẽ, một đằng
là hiểu xuông nhưng chẳng có tâm đại Bồ
Đề, một đằng là thật hành đạo Bồ
Đề.
Vả nữa, đừng
cho lời tôi là sai. Dẫu chưa đạt được
tâm ấn của Phật, của Tổ, nhưng đem công
đức này hồi hướng văng sanh, hễ được
văng sanh liền lên thẳng [địa vị] Bất Thoái,
thân cận Di Đà và thánh chúng, sẽ đích thân chứng
được tâm của Phật, của Tổ. Chúng sanh
đời Mạt muốn liễu sanh tử, chẳng lấy
tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương làm
chí hướng, sự nghiệp, tuy sở ngộ giống
như Ngũ Tổ Giới (Ngũ Tổ là tên chùa.
Sư Giới thiền sư từng làm Trụ Tŕ chùa Ngũ
Tổ ở Hoàng Mai nên cơi đời gọi ngài là Ngũ Tổ
Giới), Thảo Đường
Thanh cũng chỉ được kết quả [thân sau trở
thành] Tô Đông Pha, Tăng Lỗ Công[33].
Đường sanh tử xa xôi, đời sau, đời
sau nữa, chẳng biết kết quả lại như thế
nào? Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp đặc biệt
khế lư khế cơ trong cả một đời giáo hóa
của đức Phật, dưới là từ Ngũ Nghịch,
Thập Ác, trên đến Đẳng Giác Bồ Tát đều
nên tu tập, đều có thể siêu phàm nhập thánh ngay
trong đời này. Tất cả hết thảy những
pháp cao sâu huyền diệu khác phần nhiều khế lư,
nhưng trọn chẳng thể khế hợp khắp cả
ba căn cơ thượng, trung, hạ. Chúng ta từ vô thỉ
cho đến tận đời này vẫn c̣n lưu chuyển
trong luân hồi, đều là v́ trong những đời
trước do ngu muội nên chẳng dám gánh vác, hoặc do
cuồng dại nên hoàn toàn chẳng tin nhận mà ra!
Quang nói điều này
[v́] sợ ông vẫn để chí nơi kinh Lăng Già, lấy
chuyện đắc tâm ấn của Phật làm chí hướng,
sự nghiệp th́ kết quả sẽ giống hệt
như Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh
mà thôi! Ông đừng học theo bậc đại thông gia,
hăy chết ḷng trọn ư, tuân theo [lời dạy trong] phẩm
Đoạn Nhục tu Tịnh nghiệp th́ chắc chắc
có thể sanh về Tây Phương được! Quang mục
lực chẳng đủ, chẳng thể viết tường
tận. Trong mùa Xuân, một đệ tử ở Vô Tích
đă in cuốn Đồng Mông Tu Tri[34], một
nửa phía sau in kèm theo Phật Pháp Cảm Ứng cũng
như mấy bài văn của Quang, cũng có thể giúp
cho việc tự lợi, lợi tha. Sách Tang Tế Tu Tri (những
điều cần biết trong ma chay, cúng tế) cũng là
đạo trọng yếu để dứt tai, trừ họa,
tôn trọng cha mẹ, mến yêu cha mẹ. Mỗi thứ gởi
hai bản, một để tự giữ, một bản
tặng cho người khác xem. Đấy cũng là những
sách trọng yếu để người học Phật
thay đổi phong tục vậy.
113.
Thư trả lời cư sĩ Đậu Trí Duệ
(năm Dân Quốc 27 - 1938. Ông này vốn có tên là Liên Phương)
Đức
Phật dạy: “
114.
Thư chỉ dạy cư sĩ Sài Dă Ngu
(pháp danh là Trí Thao)
Ai
cũng đều có thể làm Nghiêu, Thuấn, ai nấy
đều có thể thành Phật. Chỉ là “thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc
chế được ư niệm sẽ thành thánh. Hễ mê th́ Phật là chúng sanh, hễ
ngộ th́ chúng sanh là Phật”. Hăy cầu theo đó, mấu
chốt tại ta. Do vậy, cố nhiên hăy nên trên kính mộ
chư thánh, dưới coi trọng linh tánh của chính ḿnh,
dè dặt, kiêng sợ, gắng sức, phẫn chí tu tŕ. Sốt
sắng vâng giữ luân thường, nghiêm túc trọn hết
bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành, sáng dậy tối ngủ chẳng khiến
người sanh ra ta phải hổ thẹn. Người
làm được như thế chính là hiền, là thiện,
chẳng đến nỗi nhơ nhớp trời đất.
Lại c̣n sanh tín phát nguyện tŕ danh hiệu Phật, cầu
sanh Tây Phương để mong đích thân chứng
được Phật Tánh sẵn có, viên thành vô thượng
Bồ Đề mới thôi.
Đại trượng
phu sanh trong thế gian, nếu chẳng biết đại
thể, chỉ biết ham mê ăn uống, nam nữ, tham cầu
thanh sắc, của cải, lợi lộc th́ có khác ǵ các dị
loại, nỡ để tư cách “có thể trở thành
Nghiêu - Thuấn, có thể thành Phật” biến thành căn
cứ để luân hồi kiếp số dài lâu trong lục
đạo, chịu đủ mọi nỗi khổ, chẳng
đáng buồn ư? Ông đă phát tâm quy y Tam Bảo, hăy nên
lấy “niệm niệm đối
trị phiền năo tập khí làm gốc, dứt ḷng tà, giữ
ḷng thành, đánh đổ ḷng ham muốn xằng bậy của
chính ḿnh để khôi phục cái lễ, sửa ác tu thiện,
giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận,
tu ṛng Tịnh nghiệp” để tự hành, dạy
người, ngơ hầu trong là cha mẹ, anh em, vợ con,
quyến thuộc, ngoài là họ hàng, bè bạn, xóm giềng,
làng nước đều cùng được tưới gội
bởi sự giáo hóa của Phật, cùng trở thành người
lành th́ mới chẳng uổng cuộc đời này và dịp
gặp gỡ này.
Sách Trung Dung nói: “Nhân giai viết dư trí, khu nhi nạp
chư cổ, hoạch hăm tịnh chi trung, nhi mạc chi tri
tỵ dă” (Con người ai cũng tự cho là ḿnh thông
minh, nhưng nếu thân bị hăm vào lưới rập, sụp
hầm bẫy, chẳng biết tránh né ra sao)[35].
Do chỉ biết hướng ra ngoài theo đuổi, chẳng
biết hồi quang phản chiếu nên mới tai hại
như thế. Nếu có thể phản chiếu tự tâm,
ẩn giấu cái trí để mong tự chiếu th́ sẽ
có thể học thánh, học hiền, học Phật, học
Tổ, ắt c̣n sống th́ dự vào bậc thánh hiền,
mất sẽ lên cơi Cực Lạc. Đấy chính là đại
ư của cái tên Quang đặt cho ông vậy. Lại chỉ
v́ “thánh đánh mất ư niệm
bèn thành cuồng, cuồng khắc chế được ư
niệm bèn thành thánh, mê th́ Phật là chúng sanh, ngộ th́
chúng sanh chính là Phật”. Bốn câu này nếu chẳng
khéo hiểu chắc sẽ đến nỗi nẩy sanh nghi
ngờ, bàn luận sai lầm. Nay sẽ giải thích đại
lược: Thoạt đầu nói đến thánh hay Phật
đều là ước theo bản thể của tự
tâm mà nói, chứ không phải là đă thành thánh hay thành Phật!
Kế đó, nói đến “đánh mất ư niệm, khắc
chế ư niệm, mê, ngộ” chính là luận trên sự tu
tŕ, rèn luyện thuận hay nghịch. Cuối cùng, nói “thành
cuồng, thành thánh, tức là chúng sanh, tức là Phật”
chính là nói đến hiệu quả ước theo sự
tu tŕ nghịch hay thuận. Nếu chẳng biết Phật
và Thánh được nói trong phần đầu là nói theo bản
thể của cái tâm, sẽ tưởng là đă thành thánh, thành
Phật lại c̣n trở thành cuồng, thành chúng sanh th́ tai
hại lớn lắm! Do vậy, chẳng thể không giảng
đại lược cho ông. Những điều khác hăy
đọc kỹ trong Văn Sao, tự đọc sẽ biết
hết!
115.
Thư trả lời cư sĩ Ngu Tăng
Chuyện
phóng sanh vốn là để cảm phát cái tâm kiêng giết,
bảo vệ sanh mạng của đồng nhân, thực
hành ư niệm bất nhẫn trắc ẩn của chính ḿnh
mà thôi. Người đời đông đúc, tâm hạnh mỗi
người mỗi khác. Tuy chẳng thể cảm động
toàn bộ mọi người, dầu chỉ cảm động
được một người th́ suốt một đời
kẻ ấy đă bớt giết bao nhiêu sanh mạng, huống
chi chẳng phải chỉ có một người [bị cảm
động mà thôi]!
Nếu
nói “cá nhỏ bị cá lớn ăn, dẫu có thả trong
sông to cũng khó khỏi sa lưới rập” th́ kiểu
suy tính này tợ hồ có lư, nhưng thật ra đă ngăn
trở thiện niệm của người khác, giúp người
ta tạo sát nghiệp. Kẻ ấy may mắn được
làm người, bản thân có lẽ chẳng đến nỗi
bị giết chóc nên mới nêu ra lư lẽ vô lư đó để
tỏ ra ḿnh có trí ḥng khuất phục kẻ phóng sanh. Nếu
kẻ ấy là cá và là các sanh mạng lúc sắp bị giết,
chắc chắn sẽ chẳng chịu khởi lên thứ ư
tưởng ấy, chỉ mong có người cứu mạng
cho ḿnh, chẳng hề có ư tưởng “dù có được
loài khác cứu, vẫn sợ sau này lại bị loài vật
khác ăn thịt hay bị người khác bắt
được”, chỉ nguyện cam tâm bị giết
để sau này khỏi gặp tai ương nữa! Nếu
trong lúc ấy mà khởi lên được ư niệm ấy
th́ vẫn chưa đủ để tranh căi! Huống chi
muôn vàn phần là trong lúc ấy chẳng thể nào khởi
lên được ư niệm ấy! Trong lúc không bị dính
dáng đau đớn, lại thốt ra lời ấy
ngăn trở thiện niệm của người ta, dấy
động cơ duyên giết chóc của người ta! Nếu
kẻ ấy trong đời sau chẳng tự thọ lấy
quả báo ấy th́ mặt trời, mặt trăng sẽ
[từ phương Tây] xoay sang phương Đông, trời
đất sẽ đổi ngôi vậy! Há nên thốt lời
xằng bậy ư?
Cá lớn nuốt cá nhỏ
cố nhiên có chuyện ấy, đă thả ra rồi bị
bắt lại cũng chẳng thể không có chuyện ấy.
Nếu nói cá nhỏ bị cá lớn ăn sạch không c̣n sót
ǵ th́ chẳng hề có sự lư ấy! Những con vật
được thả đều bị người ta bắt
lại hết cũng chẳng hề có sự lư ấy! Sao
lại lo lắng quá đáng như thế? Ví như cứu
giúp dân chúng bị nạn th́ cho [người ta] một manh
áo hoặc một bữa ăn, họ cũng chẳng
đến nỗi phải bị chết ngay. Trong lúc ấy
bèn nói: “Một manh áo, một bữa cơm này sao có thể
no ấm suốt đời được? Cho họ có ích
lợi chi đâu, chẳng thà để họ chết rét,
chết đói th́ sẽ chẳng bị chết đói, chết
rét lâu dài ư?” Lại như cường đạo cướp
bóc người ta, [nếu được] kẻ có sức
mạnh chống cự, kẻ ấy (tức nạn nhân) sẽ
nói: “Nếu ông có thể chống cự suốt cả
đời th́ tốt lắm, chứ chỉ chống cự
được một chốc, có ích ǵ đâu? Đâm ra chẳng
bằng cứ mặc kệ cho nó cướp sạch hết
đi, sau này sẽ chẳng lại bị cướp
đoạt nữa th́ hay hơn!” hay sao? Cha mẹ thường
nuôi nấng vỗ về con cái, nhưng mẹ hiền chẳng
thể nuôi nấng, vỗ về thân đời sau của
đứa con, nó sẽ nói: “Chẳng thể nuôi nấng, vỗ
về, chẳng thà giết đi th́ hơn!” hay sao?
Quân tử tu đức,
chẳng v́ điều thiện nhỏ mà không làm, chẳng
v́ điều ác nhỏ mà làm. Những kẻ cứ mong muôn
điều chẳng sót một điều nào rồi mới
chịu thực hành phóng sanh sẽ làm cho người trong cả
cơi đời dẫu sống hết tuổi thọ đều
chẳng thực hiện chuyện kiêng giết, phóng sanh,
trong tương lai ắt họ sẽ lâm vào cảnh “muôn
người không một ai có thể cứu cho ḿnh khỏi
chết được!” Buồn thay, đau đớn
thay, khôn ngăn dài ḍng bày tỏ!
116.
Thư trả lời cư sĩ Thiệu Huệ Viên
Ngày hôm
qua nhận được thư cho biết trong số những
vị hương thân nơi chỗ ông có Phan Trọng Thanh ở
Trương Gia Khẩu gởi thư đến muốn
được quy y. Người này tánh chất chân thành, chất
phác, về mặt học vấn cũng có nghiên cứu. Ông
ta đă phát tâm, Quang chỉ nên tùy duyên. Nay đặt pháp
danh cho ông ta là Huệ Thuần, do hết thảy chúng sanh
đều sẵn đủ Phật Tánh, tức là đều
sẵn đủ Phật Huệ; nhưng do tham - sân - si
v.v… xen tạp vào trong nên Phật Huệ bèn trở thành tri
kiến của chúng sanh. Nay đă biết Phật Huệ vốn
sẵn có, bèn chú tâm kiểm điểm nơi khởi tâm
động niệm, xử sự, chẳng để cho
tri kiến tham - sân - si v.v… phát sanh. Lại hăy nên dùng ḷng tín
nguyện sâu để tŕ danh hiệu Phật, kiêng giết,
bảo vệ sanh mạng, yêu tiếc sanh mạng loài vật,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành,
tự hành, dạy người cùng tu Tịnh nghiệp th́
Huệ ấy sẽ dần dần thuần. Nếu giữ
được điều này chẳng để mất
th́ văng sanh Tây Phương sẽ vừa thuần vừa dễ.
Đến khi Phiền Hoặc hết sạch, phước
trí viên măn th́ Huệ sẽ thuần đến tột bậc,
viên thành Phật đạo. Người đời thường
lầm lạc bảo ḿnh có trí huệ, chẳng biết trí
huệ là vàng c̣n trong quặng, hoàn toàn chưa sử dụng
được, cần phải luyện ṛng khiến cho những
chất xỉ quặng (những tạp chất) hoàn toàn
tiêu hết th́ mới được lợi ích. Đại
ư là như vậy, mong hăy chuyển [những ư nghĩa này]
đến cho [ông ta]. Người học Phật chú trọng
vào việc tận tụy thực hành. Con người hiện
thời phần nhiều mong sao miệng lưỡi nhạy
bén, [tức là] kể tên những món ăn thật hay, thật
đẹp, nhưng vô ích cho cái bụng rỗng tuếch,
đáng buồn thay!
117.
Thư gởi cư sĩ Ngụy Mai Tôn[36] (mười sáu lá thư)
(năm Dân Quốc 11 - 1922. Ông này vốn tên là Gia Hoa, Mai Tôn đến năm Dân Quốc 18 (1929) mới quy y, lúc này c̣n coi như là bè bạn)
1) Mùa
Đông năm ngoái, [Vương] Ấu Nông gởi thư
đến nói các hạ tín tâm chân thật, thiết tha. Quang
nói: Biết rơ hết thảy chúng sanh đều sẵn có
Phật Tánh, nhưng chưa thôi ăn thịt được,
tức là “phú quư học đạo
nan” (giàu sang học đạo khó). Nào ngờ chưa
đầy ba bốn tháng, các hạ liền thôi ăn thịt.
Ấu Nông lại gởi thư tường thuật đầu
đuôi, do ḷng tinh thành cảm vời ra đó chăng? Hay chỉ
là chuyện phù hợp ngẫu nhiên? Người học
đạo muốn đoạn được tập khí cần
phải có nghị lực, nếu chần chừ thoái thác sẽ
tiếp tục lâu dài, trọn không khi nào dứt được!
Các hạ đă trừ được tập khí phú quư, cố
nhiên dễ dàng thành tựu Tịnh nghiệp! Mai sau cao
đăng Thượng Phẩm, chứng Vô Sanh Nhẫn, hầu
đức Di Đà dài lâu, đích thân theo gót hải chúng, sẽ
lại phân thân hiện bóng trở vào đời ác Ngũ Trược
này độ thoát chúng sanh, đều do nghị lực ấy
làm cơ sở, may mắn nào hơn?
Do một người
bạn khuyến khích, Quang bèn in An Sĩ Toàn Thư dạng thâu
nhỏ ngơ hầu phổ biến rộng khắp để
mong văn hồi thế đạo nhân tâm, nhưng người
thưa đức bạc, người nghe theo [sự
xướng suất này] ít ỏi, đến nay mới chỉ
quyên mộ in được hai vạn hai ba ngàn bộ sách mà
thôi. Năm ngoái đă muốn gởi thư các hạ mong giúp
đỡ quyên mộ ấn hành; nhưng do bận bịu
giảo chánh và các việc khác không rảnh rang nên để
trễ năi đến nay. Ông Trương Quư Trực ở
Thông Châu buôn bán phát đạt, giàu có dư dả, nhiệt
tâm làm chuyện công ích. Trộm nghĩ: Quang lưu hành An
Sĩ Toàn Thư chính là mưu tính lợi lạc cho quốc
dân, biện pháp làm chuyện này trọn chẳng tệ hại.
Nếu ông ta biết được, cũng sẽ bỏ
ra một khoản tiền lớn để mong làm chuyện
cứu nước cứu dân không lưu lại dấu vết,
nhưng Quang trọn chưa hề gặp gỡ, chẳng
tiện gởi thơ khuyên. Nếu các hạ xót
thương tấm ḷng ngu thành của Quang hăy nên gởi
thư kính khuyên. Nếu ông ta chịu phát đại tâm in mấy
vạn bộ, hoặc mấy ngàn bộ thí cho quốc dân
th́ may mắn chi hơn? Dẫu cho ông ta chẳng phát tâm th́
ḷng nhiệt thành của các hạ đối với quốc
dân cũng đă phát lộ, thành tựu Tịnh nghiệp cố
nhiên là vừa sâu vừa rộng.
2) Các hạ
túc căn sâu dầy, nên có thể từ lời dạy của
Triệt Ngộ Lăo Nhân liền sanh ḷng cảnh tỉnh lớn
lao, đấy chính là “thời tiết nhân duyên gặp
đúng lúc, trọn chẳng phải là ngẫu nhiên!” Do kính
trọng ngài Triệt Ngộ, bèn khen ngợi Quang quá mức
khiến người ta thẹn thùng khôn ngằn! Sách An
Sĩ [Toàn Thư] đă quyên mộ được hơn ba
vạn bốn ngàn bộ, cũng tạm thỏa ư nguyện
ngu muội [của Quang]. Tiên sinh Quư Trực hứa sau này sẽ
theo đuổi chuyện ấy, thật là công đức
không chi lớn hơn, sớm hay muộn cố nhiên chẳng
khác ǵ nhau! Nay tai họa chiến tranh sắp xảy ra, bầu
không khí chiến tranh tràn ngập. Cư sĩ Vưu Tích Âm
đă đăng tải trong các báo ở Trực Lệ, Phụng
Thiên, Bắc Kinh, Tân (Thiên Tân), Lỗ (Sơn Đông), Biện
(Khai Phong) cho giới quân nhân biết để họ gởi
thư thỉnh An Sĩ Toàn Thư hầu mong tiêu diệt kiếp
họa. Trách nhiệm gởi sách đều giao cho những
người tại các tỉnh ấy lo liệu chuyện gởi
tặng. May là các cư sĩ ở những tỉnh [nhận
trách nhiệm] biếu sách lo năm ngàn bộ, tự ḿnh chỉ
phải lo hơn một ngàn bộ, hơn bốn ngàn bộ
kia để tùy tiện kết duyên.
Thoạt đầu,
Quang muốn gởi cho Đốc Quân, Tỉnh Trưởng
các tỉnh mỗi người một trăm bộ. Chỉ
ḿnh Tỉnh Trưởng Thiểm Tây là chịu trách nhiệm
một ngàn bộ, Đốc Quân tỉnh Chiết Giang
năm trăm bộ, Tỉnh Trưởng [tỉnh ấy]
một trăm bộ, chẳng gởi nữa th́ vẫn có
dư sách. Do ông Tích Âm lo cái họa chiến tranh sắp xảy
ra nên càng gấp rút, phân tán hết số sách ấy trong giới
quân nhân mấy nơi. Hơn nữa, ông Tích Âm có một
trăm bộ, Quang có khoảng năm sáu trăm bộ, và
ông Lưu một trăm bộ, ông Hoàng hai trăm bộ, và
ba bốn người bạn nữa của Quang giữ tổng
cộng hơn một ngàn bộ, gộp lại cũng
được hơn hai ngàn bộ. Tính dùng hơn sáu ngàn bộ
sách ấy làm công cụ tiêu diệt tai họa chiến
tranh. Nếu Phật, trời gia bị, chắc sẽ chuyển
biến ngấm ngầm. Dẫu như Quang chẳng có
đức hạnh khó thể cảm thông th́ cũng giảm
bớt được sự khốc liệt! Quang thường
nói: “Nhân quả là phương
tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất
thế gian dùng để b́nh trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh”. Nay nước loạn, dân khốn cùng,
t́nh h́nh sau này khó thể tưởng tượng được
đều là do những người đang cầm quyền
chẳng biết nhân quả mà ra! Kế sách trong hiện thời
ngoại trừ việc đề xướng cho nhân quả
được sáng tỏ th́ dẫu là thánh nhân cũng chẳng
biết [xoay sở ra] làm sao, huống ǵ bọn vô tri vô thức
chúng ta? V́ thế, đem những lời khuôn phép của tiền
nhân để làm hướng dẫn cho tương lai của
cơi đời này, tuy chẳng thể khiến cho mọi
người đều tuân theo, cũng chẳng đến
nỗi không một ai chẳng chịu nương theo. Chỉ
có cách này là có thể ngầm giúp cho quốc kế, dân sanh.
Đây là chuyện ông Tích Âm và Quang miệt mài cầu viện
các bậc quân tử, mong được tán thành, hỗ trợ
để cuối cùng có hiệu quả thật sự.
Các hạ gương
trí treo cao, chẳng tiếc hơi sức khuyên lơn, phát
khởi, do công đức ấy sẽ văng sanh Thượng
Phẩm, hầu hạ đức Từ Phụ Di Đà, kề
cận Quán Âm, Thế Chí, cùng vào Sa Bà tùy loại hiện thân
để độ thoát hết thảy! Quang nói lời này
chẳng phải là dối trá, các hạ chỉ nên giữ vững
mười sáu chữ của ngài Triệt Ngộ (“thật v́ sanh tử, phát Bồ
Đề tâm, dùng tín nguyện sâu, tŕ danh hiệu Phật”) th́ ngàn phần ổn thỏa, vạn phần
thích đáng vậy!
3) Năm
xưa, ông Tiền đến núi này, được một
phen gặp gỡ. Mùa Xuân năm ngoái Văn Sao in xong, tôi gởi
thơ nhờ Trương Vân Lôi tặng cho ông ta một bộ.
Sau đấy, nhận được thư của Vân Lôi
báo ông ta đă mất rồi, khôn ngăn than thở cảm
khái! Mạng người vô thường, phải tính sẵn
kế quay về chắc chắn! Ông ta đă phát tâm in tặng
Nhất Hạnh Cư Tập[37],
chắc là do thiện tâm ấy sẽ văng sanh Cực Lạc.
Nếu không, chủng tử Tịnh nghiệp đă gieo sâu
rồi, khi tái sanh chắc chắn sẽ thâm nhập pháp môn
này! Các hạ túc căn sâu dầy, có thể đem phú quư, học
vấn, tập khí trên toàn thân bỏ hết xuống
được, hằng ngày dùng sáu chữ hồng danh Di
Đà để làm cảnh buộc tâm, lại dùng Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, Phát Bồ Đề Tâm
Luận của ngài Thiên Thân v.v… để phấn chấn
tinh thần, mở rộng chí nguyện, trong hiện tại
đă hiểu tâm đạt gốc, lâm chung mau chóng lên
Thượng Phẩm là điều đương nhiên có
thể đoán trước được! Vô thỉ luân hồi
đến nay chấm dứt. Một đằng do vui, một
đằng do sợ nên chẳng tiếc sức hiện
thân thuyết pháp để phổ độ hết thảy
những kẻ hữu duyên. Bộ An Sĩ Toàn Thư do ông
Giang Khiêm đề xướng có thể được
lưu truyền rộng khắp cũng là do ḷng chân thành tán
dương của các hạ cảm vời ra.
4) Hiện
thời, Tăng phần nhiều ngu muội, tầm thường,
chẳng thể hoằng dương, xiển phát sự nhiệm
mầu của đạo khiến cho hết thảy kẻ
gian muốn mượn công để lợi tư, mưu
đoạt Tăng sản. Họ đặc biệt mượn
cớ mở trường học ḥng hủy chùa đuổi
tăng, đến nỗi người suốt đời
cẩn thận là ông Vương Thiết San[38]
thuận theo lời cầu thỉnh của họ, thốt
lời khen ngợi là [làm như vậy] chẳng hại ǵ
đến pháp, lại hợp t́nh mọi lẽ, đă cẩn
thận suy xét châu đáo, thỏa đáng, thật đáng
khâm phục, ra lệnh cho các huyện trong cả tỉnh Giang
Tô tuân hành xử lư. Chẳng ngờ ông Thiết San lại lầm
lẫn, ngạo ngược đến tột cùng như
thế! Nếu thi hành lệnh ấy, chắc chắc các tỉnh
sẽ đua nhau bắt chước theo. Đốt cả
rặng Côn Luân,[39] ngọc
lẫn đá đều cháy, có khác ǵ đời Tam Vũ[40]
diệt Phật đâu? Nhưng trong đời Tam Vũ,
cao nhân như rừng, dẫu gặp cảnh nguy ách tạm
thời, rốt cuộc lại phục hưng lớn lao!
Nếu nay thực hành theo lệnh ấy th́ Phật pháp diệt
vong chỉ c̣n là chuyện thời gian!
Cư sĩ túc nguyện
rộng sâu, hạnh trong hiện đời thuần dốc,
gặp phải chánh sách sai lầm này, dám mong chẳng tiếc
hơi sức, nêu cặn kẽ lẽ lợi - hại với
Đốc Quân, Tỉnh Trưởng và [chỉ ra] điều
lệnh do Đại Tổng Thống đă ban hành năm
ngoái. Nếu thủ tiêu được lệnh này th́ may mắn
chi bằng! Nếu họ không nghe, vẫn mong ông khẩn cầu
lệnh sư là tiên sinh Phùng Hao Am[41]
và tiên sinh Trương Quư Trực cùng ra tay cứu viện
ngơ hầu [lệnh ấy] chẳng trở thành sự thật.
Quang một là không có môn đ́nh, hai là không quyến thuộc,
lại do tuổi xế bóng rất gần, có ǵ mà phải
lo lắng, nhưng v́ trong lúc này ḷng người ch́m đắm
đă đến cực điểm, đạo đức,
nhân nghĩa xem nhẹ như mảy lông, pháp luật, h́nh phạt,
chánh lệnh trọn chẳng kiêng nể! Nếu có thể
xương minh đạo nhân quả luân hồi báo ứng
ba đời của đức Như Lai th́ dù là kẻ
đại gian cực ác cũng chẳng đến nỗi
trọn chẳng có một niệm kiêng sợ quả báo
đời sau, gột rửa cái tâm khi trước. Quang
thường nói: “Nhân quả là
phương tiện lớn lao để thánh nhân thế
gian lẫn xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh”.
Đời lắm kẻ
có cái nh́n thiển cận, phải biết: Từ địa
vị phàm phu cho đến khi thành Phật đều chẳng
ra ngoài nhân quả. Nếu hiểu sâu nhân quả th́ người
bậc thượng liền minh tâm kiến tánh, đoạn
Hoặc chứng Chân, kẻ bậc hạ cũng có thể
sửa lỗi làm lành, mong thành thánh, thành hiền, có ích lớn
lao cho thế đạo nhân tâm! Trong lúc chế độ
quân chủ bị phế bỏ, Nho giáo suy vi này, chẳng
dùng Phật pháp để giúp cho việc cai trị là đă
đánh mất thời cơ, huống hồ lại miệt
mài lấy chuyện hủy chùa đuổi Tăng làm nhiệm
vụ cấp bách? Họ bèn nói: “Tăng đều tầm
thường, ngu muội, hoàn toàn vô ích cho nước, cho
dân”, nào biết một khi lệnh ấy được thi
hành, dù có vị Tăng chân tu thực sự tu tập
cũng sẽ bị xếp vào loại đáng xua đuổi.
Ấy là muốn giữ ǵn mạng mạch của quốc
gia, nhưng lại đoạn mạng căn trước!
Cái tội của Vương Thiết San ngập tràn hư
không mười phương. Kẻ do lệnh của Thiết
San mà làm chuyện này th́ tội cũng chẳng khác ǵ Thiết
San! Một kẻ đui dẫn lũ mù kéo nhau vào hầm lửa,
chính là nói về Thiết San đấy!
5) Nhận
được thư, khôn ngăn cảm kích, an ủi. Lời
các hạ nói hoàn toàn phù hợp lời của ông Ấu Nông.
Nghe nói đă phái ḥa thượng Diệu Liên liên lạc các
vị Tăng thủ lănh các nơi để bẩm báo,
tŕnh bày. Nói lư hăy nên thấu triệt, giọng điệu
đừng nóng nảy, kích động, quả thật là lời
bàn định chí lư! Quang cũng đă tŕnh bày đại
lược ư này với ngài Diệu Liên. Phàm mọi chuyện
đều nên ngăn ngừa thói tệ lưu hành trước
khi nó được tiến hành. Các hạ nói mượn
chùa làm trường học th́ mỗi năm phải trả
tiền thuê, cách ấy rất hay, nhưng chẳng biết
cái tệ sẽ vô cùng! Đầu đời Nguyên, đạo
sĩ ở nhờ chùa Tăng, phong trào ấy đă dấy
lên th́ gần như không sao cấm đoán được (vùng
phụ cận kinh thành, đạo sĩ chiếm hơn ba
trăm ngôi chùa, những nơi xa càng nhiều nữa). Về sau, do Tăng tâu lên phản bác,
[Thanh] Thế Tổ (Thuận Trị) hạ lệnh bắt
trả lại, chỉ trả được một nửa,
nhưng sản nghiệp phần nhiều đă bị họ
trộm sẵn mất rồi! Có thể lấy đó làm
gương!
Nói chung, kẻ làm chuyện
ấy, trước hết đă sẵn ḷng mưu mô chiếm
đoạt tài sản của Tăng, kết bè kéo đảng
những kẻ đồng ḷng để đánh phá người
khác ư kiến, do muốn được lợi riêng nên thế
lực mạnh mẽ khôn ngăn! Chữ Mượn và chữ
Đổi, tuy danh khác nhưng quả thật là cùng
nghĩa! Các hạ là bậc quân tử đức dầy,
chưa xét kỹ người đời nay ngụy kế
đa đoan. Nhưng pháp đạo hưng thịnh hay suy
vong cố nhiên có số vận nhất định, đương
nhiên Quang và các hạ phải tận hết phận sự
của con người trước, rồi sau hăy nghe theo mạng
trời!
6) Nhận
được thư khôn ngăn cảm kích. Nếu thi hành
chuyện ấy ắt pháp đạo bị diệt mau
chóng. Nếu không do các hạ, Trúc Trang, Ấu Nông v.v… dốc
hết sức chống đỡ sẽ không thể nào
tưởng tượng được! Bọn Viên -
Đường[42]
chắc là bè lũ muốn diệt Phật pháp xưa kia, nhưng
do cao nhân như rừng, không cách ǵ ra tay tàn độc ḥng
thỏa ác nguyện, do nguyện lực xưa kia nên mới
có cử chỉ ấy. Nhưng Phật trí soi xét thời
cơ, biết có kẻ muốn diệt Phật pháp, nên bèn
sắp đặt sẵn khiến cho những vị phá hoại
ma lực kia sanh nhằm thời này. Chẳng những pháp
đạo không bị ngăn trở, lấn át, mà có thể
c̣n chuyển được tâm ma của chúng, bèn tin tưởng
hướng theo Phật pháp, ḥng chúng tự biết Phật
Tánh sẵn có, do v́ trái trần hiệp giác khiến cho chính
ḿnh bị tổn hại. Nay đă biết rồi th́ trái trần
hiệp giác, chuyển ḷng mong muốn tự hại trước
kia thành tự vệ th́ ở mức độ nông cạn
sẽ là đổi ác tu lành, gieo phước nhân thiên, c̣n ở
mức độ sâu xa th́ sẽ đoạn Hoặc chứng
Chân, đích thân đạt được quả Niết
Bàn. Như câu nói: “Phật pháp
như Chiên Đàn hương, hoặc phụng tŕ, hoặc
tiễn đạp, giai đắc hương khí sở
huân, nhi đồng nhất khí vị dă” (Phật pháp
như hương Chiên Đàn, dù nâng niu hay giày xéo đều
được mùi thơm ướp đượm, có cùng
một khí vị). Quang nguyện khi ba vị thành Phật, sẽ
đích thân làm hàng đệ tử hộ pháp phụ chánh tồi
tà[43]
[cho ba vị] ḥng báo đáp ân đức ngày nay. Ngay khi họ
Viên, họ Đường thành Phật, [Quang cũng nguyện]
giống như thế ngơ hầu toàn bộ ma giới biến
thành Phật giới, cùng chứng Chân Như Pháp Tánh, cùng trọn
vẹn Chủng Trí mới thôi!
7) Hôm qua
nhận được thư của ngài Diệu Liên và lời
phê của Tỉnh Trưởng, biết chuyện ấy bị
tiêu diệt triệt để, cảm động, hổ
thẹn khôn sánh. Trộm nghĩ chuyện này nếu không có
các hạ và ông Trang (Tư Giam),
Tưởng (Trúc Trang),
Vương (Ấu Nông) ba vị
dốc hết sức duy tŕ, sợ rằng chẳng triệt
tiêu được! Hôm qua đă gởi thư cho Trang cư
sĩ, gởi kèm theo lời phê, mong giao cho Bộ Trưởng
Nội Vụ lưu hành. Sau này, nơi khác có sự t́nh
như vậy tŕnh lên bộ th́ mong hăy căn cứ vào Điều
Lệ Quản Lư Chùa Miếu để bác đi, không chấp
thuận, ngơ hầu chẳng đến nỗi nếu không
có người chống đối sẽ trở thành sự
thật! Dẫu có người chống đối nhưng
do vậy cũng phải uổng phí tâm lực. Pháp vận
thông suốt hay bế tắc chắc chắn đă có số
vận nhất định, nhưng chư Phật, Bồ
Tát đă sớm biết sẵn. V́ thế, khiến cho các vị
ở đúng vào địa phương này, gặp đúng
dịp này dốc sức duy tŕ, ngơ hầu ngọn lửa
đốt đồng liền bị dập tắt ngấm!
Nguy hiểm cùng cực, may mắn cùng cực!
8) Vụ án của hội
Giáo Dục đă giải quyết xong trọn vẹn toàn là
nhờ các hạ, và Trúc Trang, Ấu Nông ba vị ra sức xoay
chuyển khiến cho Tỉnh Trưởng và bộ Nội
Vụ đều tuân theo Điều Lệ Quản Lư Chùa Miếu
để thực hiện sự bảo vệ. Lời phê
của Tỉnh Trưởng đă xét đến cả hai
mặt, trọn chẳng tổn thương đến
phương diện t́nh cảm của hội Giáo Dục lại
c̣n tận lực lập cách ngăn ngừa, đề
pḥng để họ khỏi vượt luật được!
Có thể nói dốc trọn thâm tâm hộ pháp khiến cho
người khác cảm kích, bội phục vô ngằn!
9) Các hạ đặt
tên chùa là Pháp Vân, dụng ư rất sâu. Trộm nghĩ Pháp Vân
Tự đă trở thành đạo tràng từ thiện bậc
nhất của Giang
10) Tiên sinh Trần Kiếm
Đàm tin nhân quả, tính muốn nêu rơ [nhân quả],
nhưng lại không chịu niệm Phật, ấy chính là
tập khí của văn nhân! Thuở trước, tổ Huệ
Viễn do thấy Đào Uyên Minh[46] bụng
dạ trống rỗng, khoảng khoát, có thể học
đạo, liền mời dự vào Liên Xă. Nhưng ông ta lấy
rượu làm tánh mạng, biết Phật môn cấm
rượu, chẳng dám nhận lời mời, nên nói: “Cho
tôi uống rượu th́ tôi đến”. Tổ Huệ Viễn
tâm đại từ bi bèn chấp nhận. Ông ta đến
niệm Phật được ba ngày, cau mày bỏ đi,
do chỉ có thể buông xuống, chẳng thể đề
khởi. Như bọn ông Kỷ Văn Đạt, Viên Tử
Tài[47]
đều cùng một bệnh. Họ Kỷ, họ Viên khá
tin tưởng nhân quả, thường hay ghi chép sự thật
cảm ứng trong Phật pháp, nhưng đều chưa
từng lắng ḷng nghiên cứu, nên những lời luận
định phần nhiều đều là bàn về chuyện
thực hành bề ngoài. Ông Viên thoạt đầu báng Phật,
về sau lại tin Phật, tuy tin nhưng chẳng thể
nghiên cứu, tu tŕ, đó gọi là “thông minh văn tự
chướng”. Ông Trần sẽ có ngày thiện căn phát
hiện, chưa chắc đă suốt đời như thế.
Nay đă có lá thư gởi
cho cư sĩ Cố Hiển Vi hồi năm ngoái (đă
chép trong Văn Sao Chánh Biên, quyển hai), ṭa soạn báo Chi Giang in ra, đem gởi đến,
xin hăy xem để làm tṛ cười. [Sở dĩ có] lá
thư ấy là v́ bạn ông Cố là Phan Thừa Ngạc (hai
vị đều là người Tô Châu, ông Cố là Tây Tân[48] của
ông Hoàng Đạo Doăn ở Ninh Ba, quy y với pháp sư
Đế Nhàn), rất thân với
ông Cố; ông Cố khuyên ông Phan niệm Phật, ông ta viết
thư vặn ngược lại, bảo rằng chẳng
thể sanh ḷng tin, càng thêm ngờ vực! Ông Cố gởi
thư ấy cho Quang, xin Quang hăy đả phá. Quang đem
thư gởi lại, bảo đừng giao thư [cho ông Phan
xem]. Ông Cố liền gởi thư [cho ông Phan]: “Lời em chẳng thể khiến
cho anh tin được, chẳng thể đoạn ḷng
nghi của anh; do vậy, đă xin được thư của
vị pháp sư X... Thư ấy đă gởi tới,
nhưng lời lẽ [trong thư] chẳng khiêm tốn mảy
may, nói thẳng tuột không úp mở, chẳng hề kiêng kỵ,
sợ sẽ gây đụng chạm, nên chẳng dám gởi”.
Ông ta nói: “Bệnh tôi đă sâu, chẳng phải là thuốc
hung bạo như cọp sói sẽ chẳng trị
được. Càng chẳng kiêng dè càng hay, hăy gởi gấp
đi”. Ông Cố liền gởi đi, tâm ông Phan bội phục,
bèn quy y với pháp sư Đế Nhàn, nhưng sợ Quang
ăn nói thẳng thừng nên trọn chẳng dám gởi
thư thăm hỏi! Chuyện ông Trần nhập đạo
hăy để từ từ chớ gấp. Ví như nhuộm
vải, vải càng dày chắc, nhất định khó bén
màu. Nếu bỏ trong ṿ thuốc nhuộm hơn mười
ngày, dẫu chẳng muốn thành màu xanh đậm cũng
không thể được!
11) Văn của Quản
Đông Minh[49] quả thật là
thuốc để trị đúng căn bệnh cho đời
hiện tại. Người đọc bài văn ấy sẽ
mửa ra chất độc bác nhân quả của bọn
Tŕnh - Châu, mà cũng có thể làm chứng cớ cho Ấn
Quang đề xướng nhân quả. Cách nói của Tŕnh -
Châu là chỉ mong cho cao, chẳng tính đến lợi - hại.
Chẳng hạn như làm lành th́ coi chuyện “không làm ǵ mà
làm” chính là làm lành, hễ có làm ǵ để làm lành th́ chính là
ác! Nếu “không làm ǵ mà làm” là thiện th́ đấy chính là
thân phận của bậc đại thánh nhân. Nếu không
phải là thánh nhân, chỉ giữ lấy “không làm ǵ”, c̣n “những
ǵ có làm” sẽ đều chẳng chịu làm! Như vậy
là đă mâu thuẫn với tông chỉ “tự cường bất tức, triêu càn tịch dịch”[50] vậy!
Chịu hiểu rơ lời ông Quản rồi phá ṿng vây hăm[51]
th́ quân tử lẫn tiểu nhân đều được
lợi ích lớn lao. Nếu các hạ không chép ra lời
chân thật cứu đời ấy th́ trong Phật pháp nhiều
kẻ chẳng tin, trong đạo Nho nhiều kẻ chẳng
suy xét, tiền đồ sẽ nguy hiểm. V́ thế, Quang
đặc biệt chép thành phần phụ lục của
Văn Sao để lợi chung cho người hữu
duyên.
12) Hôm qua
nhận được thư, khôn ngăn kinh dị! Ông
Phương Tuấn Sanh có thể gọi là người
đă bỏ được điều khó bỏ, tuy nhiên,
vẫn cần phải tính toán cho cuộc sống sau này của
ông ta. Xin các hạ hăy mời ông ta đến Quán Âm Am, cùng
các ngài Diệu Liên, Tâm Tịnh v.v… hỏi cặn kẽ xem
ông ta c̣n bao nhiêu ruộng đất. Nếu [tất cả
số ruộng đất c̣n lại ấy] có thể nuôi sống
gia đ́nh th́ số ruộng nương do ông ta đă phát
tâm cúng cho chùa Pháp Vân sẽ dùng để làm công đức
cho ông ta. Nếu tất cả số ruộng [c̣n lại] ấy
chẳng đủ để nuôi sống [gia đ́nh] th́ hăy
nên coi số ruộng [đă cúng cho nhà chùa ấy] như ruộng
cho chùa Pháp Vân thuê để cấy rẽ, mỗi năm
trích ra tiền huê lợi ra bao nhiêu đó [cho nhà chùa], mặc
ḷng Pháp Vân trồng trúc, gỗ, ngũ cốc, hay rau dưa,
coi như là cơ sở sản xuất của Viện Mồ
Côi. Như vậy th́ đôi bên mới đều trọn hết
đạo, đôi bên đều được lợi ích.
Nếu ông ta do bỏ ra những ruộng ấy mà không
đủ sống th́ quả thật trong tâm chúng ta hết
sức chẳng thoải mái, vui sướng cho lắm!
Tuy khế ước
[chủ quyền những thửa ruộng] ấy đă
giao, phải nên thương nghị như vậy th́ mới
chẳng phụ họ Phương một phen thực hiện
nghĩa cử tốt lành. Nếu ngoài số ruộng ấy,
ông ta vẫn c̣n có đủ ruộng để chi dụng
th́ sẽ trở thành vị đại công đức chủ
bậc nhất của chùa Pháp Vân. Cần phải thỉnh đôi
ba vị có đức hạnh trọng vọng đến
chứng minh. Người ta đă lo lắng cho ḿnh sâu đậm,
thiết tha, ḿnh cũng chẳng thể không lo sâu đậm,
thiết tha cho người ta!
13) Những
chuyện báo ứng của việc sát sanh đă sao lục
quả thật có thể khiến cho kẻ hiếu sát nguội
lạnh cơi ḷng, nhưng các tướng lănh, sứ quân hiện
thời chưa chắc đă chịu đọc! Nếu dự
tính dành cho mai sau và những chỗ hiếu sanh, ghét giết
chóc th́ dường như lại quá hạn cuộc, bởi
những chuyện ấy chuyên để nói với những
hạng tướng lănh, sứ quân, có lẽ hạng dân
đen sẽ cho là chuyện chẳng liên quan ǵ tới chính
ḿnh. Hơn nữa, hàng tướng lănh, sứ quân bạo
tàn chắc sẽ nghĩ ta châm chích họ bèn căm ghét.
Theo như ngu kiến của Quang, có lẽ nên dùng cuốn
Nhị Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục của
ông Bành Lan Đài[52],
in dưới dạng chữ nhỏ rút gọn, lại thêm
vào mấy bài văn đau ḷng rơi lệ để lưu
truyền khắp công lẫn tư th́ lợi ích lớn lắm.
Mấy đầu sách của ông Đinh Phước Bảo
những loại nào có thể đưa vào phần Phụ Lục
hăy nên in kèm vào đó th́ quan chức, sứ quân, kẻ
sĩ, dân chúng đều biết được những tấm
gương tốt lành, mà không bị khuyết điểm
bài xích rơ rệt kẻ đương quyền, ngầm khuất
phục được cuồng tâm của con cái [của họ].
Những kẻ đang
nắm đại quyền phần lớn đều là do
lúc nhỏ chưa nghe thấy những chuyện nhân quả
báo ứng, nên trong tâm họ chỉ biết có chính ḿnh, chẳng
biết có người khác, chỉ cầu lợi ích cho
chính ḿnh, chẳng sợ hại người. Nếu như
họ từ lúc bé đă biết hại người c̣n tệ
hại hơn hại chính ḿnh, v́ người khác rốt cục
sẽ quy về chính ḿnh, chắc chắn họ chẳng chịu
do những chuyện nhỏ nhặt như ư kiến [khác biệt],
danh lợi v.v.. mà làm cho vận nước nguy ngập, dân
không lẽ sống. Ư của Quang là như thế đó,
mong các hạ hăy châm chước. Cũng có thể ấn
hành trước ba mươi bảy điều này để
cứu văn cái họa cháy mày. Để sau này đợi khi
yên ổn rồi sẽ lại in Nhị Thập Nhị Sử
Cảm Ứng Lục để làm sách khiến cho mọi
người đều được lợi ích, khuyên khắp
đồng nhân vậy.
14) Nếu
chịu bổ sung, biên tập tường tận bộ Nhị
Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục tạo thành một
bộ toàn thư th́ thật là may mắn cho quốc gia, nhân
dân. Trước kia, ông Đinh Phước Bảo nói ở
chỗ ông ta có sáu bảy loại Nhị Thập Nhị Sử
Cảm Ứng Lục, hăy nên mượn về, phàm những
chuyện không có trong cuốn sách này, đều nên sao lục
bổ sung vào. Lại nữa, phần cuối cuốn Dục
Hải Hồi Cuồng của bộ An Sĩ Toàn Thư có
chép chuyện người biến thành súc vật và chuyện
người sanh lên trời, trời trở thành người
trích từ Nhị Thập Nhị Sử, cũng nên ghi vào
th́ những kẻ tri kiến hẹp ḥi, câu nệ xem thấy
ắt sẽ giật ḿnh một phen, c̣n kẻ tin sâu nhân quả
sẽ nhờ đây mà siêu thoát, bước thẳng vào
Như Lai địa.
Khổng Tử soạn
kinh Xuân Thu để khen - chê ḥng khiến cho loạn thần,
tặc tử sợ hăi. Nhưng loạn thần, tặc tử
thật ra đâu có sợ lời khen chê, bởi chỉ là một
lời gán cho cái danh xuông, rốt cuộc ta đâu có bị tổn
thương ǵ? Nếu đem những chuyện nhân quả
cảm ứng và sự tích người và súc vật chuyển
biến lẫn nhau trong Nhị Thập Nhị Sử mỗi
chuyện đều sao chép ra, kèm theo lời luận định
th́ kẻ sẵn tánh chất làm loạn, làm giặc xem thấy,
há chẳng sợ hăi dựng cả lông tóc, buốt thấu
cả xương, rồi từ đấy, xoay chuyển
ư niệm mưu tính cho phước báo về sau ư?
Như vậy th́ chuyện các hạ tiếp nối tâm pháp
khen - chê của Khổng Tử để giáo hóa thiên hạ
hậu thế, có ai bảo là không đúng?
15) Trong
niên hiệu Đồng Trị - Quang Tự, pháp sư Ngọc
Phong hoằng dương Tịnh Độ, chẳng tiếc
sức thừa, nhưng Ngài thường hay nói những lời
cố chấp, ương bướng, khiến cho người
đọc phải đau ḷng. Trước kia, ông Tâm Bạch
biên tập những câu nói trong Tịnh Tông (tức sách
Tịnh Độ Lương Đạo) cũng có tuyển những lời của pháp sư,
Quang hoàn toàn gạt bỏ [những câu ấy] đi, v́ sợ
người ta cho pháp sư Ngọc Phong là tay cự phách
trong Tịnh Tông th́ di hại chẳng nhỏ. Trong Văn
Sao, nơi lá thư tính phúc đáp cho vị cư sĩ X…,
người gởi thư dẫn lời của bốn vị
Linh Phong, Thành Thời, Triệt Ngộ, Ngọc Phong,
nhưng trong lời đáp, tôi chẳng đề cao Ngọc
Phong mà cũng chẳng chê trách, cũng là v́ ư này. Trong lúc Mạt
Pháp này, muốn cực lực đề xướng Tịnh
Độ th́ hăy nên tỏ rơ tường tận về sự
lớn - nhỏ, khó - dễ giữa Phật lực và tự
lực, cũng như nêu rơ nguyên do “thích hợp khắp ba
căn, gồm thâu lợi độn” ngơ hầu chẳng
đến nỗi toan khuyên người mà lại đâm ra
làm cho người ta sanh hủy báng. Tiên sinh Cốc Nhân
chuyên căn cứ theo Sự để hoằng
dương, nhưng thường vướng khuyết
điểm coi Sự là Lư, như giảng [câu kinh Vô Lượng
Thọ] “lưu kinh lại một
trăm năm” là người ta thọ một trăm tuổi,
ấy là chỉ cho chúng sanh giới tận, kinh này mới
diệt! [Giảng như vậy] tợ hồ cao thâm,
nhưng thật ra làm cho người khác bị lầm lạc.
Đấy gọi là “sự - lư rối loạn”, chẳng
những không thể phát khởi cái tâm “Phật pháp khó gặp
gỡ” cho người ta, mà rất có thể c̣n dập tắt
cái tâm dũng mănh tinh tấn của người khác. Nếu
muốn lợi người th́ có thể nói sách Di Đà Yếu
Giải mỗi một chữ là một hạt châu!
16) Gần đây cả
nước như cuồng, bàn luận chuyện ly kỳ.
May là các cư sĩ ở Thượng Hải nhiệt tâm
hộ pháp tái lập duy tŕ. Chuyện ở Pháp Vân tôi đă
biết đại khái, nhưng do thời cuộc bức
bách, rốt cuộc chẳng biết kết quả ra sao? Hiện
thời các cư sĩ, sa-môn, bàn bạc chỉ định
mười bốn người lên Ninh Ba thỉnh nguyện.
Do Hội Giáo Dục đề nghị “chú trọng phế
bỏ tài sản của chùa miếu để mở
trường học”, sợ rằng mọi người
đều muốn phát tài, chẳng chịu thỏa hiệp
th́ Phật pháp toàn quốc ắt sẽ bị tiêu diệt!
Nếu pháp đạo chẳng đáng bị diệt ngay, ắt
sẽ có Phật, Bồ Tát hiển hiện oai linh lớn
lao để có thể duy tŕ mạng mạch nhà Phật. Nếu
không, đối với Ngũ Luân của Khổng Tử họ
c̣n chịu hoàn toàn gạt bỏ, huống chi là Phật giáo
đồ hoàn toàn không có thế lực, há có thể chống
đỡ chẳng bị diệt vong ư?
(Xét đến vụ án phế bỏ tài sản của chùa miếu để mở trường học là do Thai Sảng Thu thuộc giới giáo dục huyện Đan Đồ tỉnh Giang Tô đề nghị vào năm Dân Quốc 17 (1928) chuyện này đă do v́ [tăng chúng, cư sĩ] thỉnh nguyện nên bị thủ tiêu. Năm Dân Quốc 27 (1938), người sao lục ghi chú).
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Phần
4 hết
[1] Lệnh nghiêm: Tiếng gọi cha người
khác một cách tôn kính.
Lệnh cô trượng: Dượng (chồng
cô)
[2]
Đoạn Kiến (Uccheda-Drsti): C̣n gọi là Đoạn Diệt
Luận, phản nghĩa với Thường Kiến.
Đây là tà kiến cho rằng rốt cuộc thế gian và
ta đều mất hết, không c̣n nữa, hay nói
đơn giản là chấp rằng chết đi là hết!
Do vậy, kẻ chủ trương Đoạn Kiến
không tin vào nhân quả, báo ứng. Quan điểm tà kiến
có thể thấy rơ nhất qua cách nói của ngoại đạo
Phú Lan Na Ca Diếp được ghi trong kinh Đại Bát
Niết Bàn: “Không thiện, không
ác, cũng không có quả báo thiện - ác”.
[3]
Châu Thiên là một thuật ngữ của Nội Đan
trong Đạo Giáo. Trong ư nghĩa nguyên thủy, Châu Thiên là
sự chuyển vận tuần hoàn của trời đất.
Từ ư nghĩa này, các nhà Dịch học đă gán cho mỗi
quẻ trong kinh Dịch một con số, gọi là Châu Thiên
Số, chẳng hạn quẻ Khôn khởi từ số 6,
6 lần 6 là 36, đấy chính là số thành của Âm. Quẻ
Càn khởi từ số 9, 6 lần 9 bằng 54, chính là số
thành của Dương. Từ đó, các nhà Nội Đan
đi xa hơn, cho rằng 9 và 6 cộng thành 15 là số của
Nhất Khí (tức Âm Dương hợp nhất). Do vậy,
họ cho rằng thân thể con người là một Tiểu
Thiên Địa. Một hơi thở hít vào, thở ra chính
là một ṿng Tiểu Châu Thiên giống như sự tuần
hoàn của Âm - Dương trong ṿng trời đất. Thở
ra hít vào đủ 360 lần là một Đại Châu Thiên.
Tuy vậy, sau này, dưới ảnh hưởng của
Khí Công, Đại Châu Thiên và Tiểu Châu Thiên được
hiểu khác hẳn đi. Đại Châu Thiên và Tiểu Chân
Thiên là cách vận công hít thở theo hai mạch Nhâm và Đốc,
tùy theo đường vận chuyển của Khí mà gọi
là Đại hay Tiểu Châu Thiên. Châu Thiên Đại Đạo
là một phái luyện Nội Đan thịnh hành ở Trung
Hoa thời đó, trá xưng là Phật giáo chánh truyền
để thu hút tín đồ. Do phép vận khí này do các
đạo sĩ đời sau chế ra, gán cho Lăo Tử,
nên Tổ Ấn Quang nói “phép này
cũng chẳng phải là của Lăo Tử”.
[4] Đại La Cung là chỗ ở của
Ngọc Đế theo truyền thuyết Đạo Giáo.
Câu nói quen thuộc của đạo sĩ là: “Tam Thanh thượng, viết
Đại La” (phía trên Tam Thanh là Đại La). Theo các
đạo sĩ, chỗ cư trú trên thiên giới có ba
mươi sáu nơi, chỗ cao nhất gọi là trời
Đại La. Cung Đại La nằm trên tầng trời
Đại
[5] Nhị Thiền là tầng trời thứ hai trong Sắc Giới, là chỗ ở của những người đă chứng Nhị Thiền. Tầng trời này thật ra gồm ba cơi: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên và Quang Âm Thiên. Do chư thiên trong tầng trời không c̣n Tầm, Tư, nhưng vẫn c̣n ư niệm Hỷ - Lạc nên vẫn không tránh khỏi đại thủy tai.
[6] Sơ Thiền Thiên chính là tầng trời đầu tiên trong Sắc Giới. Đây chính là chỗ những người đă đắc Sơ Thiền sau khi mạng chung sanh về nên gọi là Sơ Thiền Thiên. Chư thiên trong tầng trời này đă viễn ly những ác pháp trong Dục Giới, sanh cảm thụ Hỷ và Lạc, nên tầng trời này c̣n gọi là Ly Sanh Hỷ Lạc Địa. Theo Câu Xá Luận, quyển 8, quyển 28 và Chánh Lư Luận quyển 21 th́ chúng sanh trong tầng trời này lại chia thành ba loại:
1. Đại Phạm Thiên (Mahā-brahman): Nơi ở của Đại Phạm Thiên Vương (Mahā-brahmaraja), tức chúa tể thế giới Sa Bà này.
2. Phạm Chúng Thiên (Brahma-pārisadya): Nơi ở của tất cả những chúng sanh được thống lănh, giáo hóa bởi Đại Phạm Thiên Vương.
3. Phạm Phụ Thiên (Brahma-purohita): Các đại thần, thị vệ của Đại Phạm Thiên Vương.
Theo kinh Trường A Hàm, quyển 20, ngoài ba loại thiên chúng kể trên c̣n có một loại nữa mệnh danh là Phạm Thân Thiên (Brahma-kāyika). Do đây là chỗ ở của những vị tu phạm hạnh thanh tịnh nên c̣n gọi là Phạm Giới (cơi thanh tịnh) hoặc Nhị Tịnh Xứ.
[7] Tam Thiền Thiên là tầng trời thứ ba trong Sắc Giới, c̣n gọi là Đệ Tam Tịnh Lự. Do chư thiên cơi này ĺa được Hỷ trong Nhị Thiền nhưng lại sanh ư niệm Lạc tịnh diệu nên tầng trời này c̣n gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc Địa, tâm tư tương ứng với hai cảm thụ Lạc và Xả. Tầng trời này gồm ba tầng nhỏ là Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh và Biến Tịnh.
[8] Tứ Thiền Thiên (Caturdhyānabhūmi) c̣n gọi là Đệ Tứ Tịnh Lự Thiên, Đệ Tứ Tịnh Lự Xứ, Tứ Sanh Tịnh Xứ, Sanh Tịnh Xứ, là tầng trời cuối cùng trong Sắc Giới, là nơi những người đắc Tứ Thiền sanh về sau khi mạng chung. Tầng trời này thật ra bao gồm tám tầng trời nhỏ: Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến, Sắc Cứu Cánh Thiên. Ư thức của chư thiên cơi này chỉ tương ứng với hai cảm thụ Hữu và Xả.
[9] Lư Viên Tịnh (1894-1950) tên thật là Vinh Tường, Viên Tịnh là pháp danh. Ông là người huyện Tam Thủy, tỉnh Quảng Đông, từng tốt nghiệp về ngành văn chương tại đại học Phúc Đán ở Thượng Hải, quy y với ngài Đế Nhàn, chuyên tu Tịnh Độ. Thoạt đầu vốn ham học rộng nghe nhiều, thông thạo các bộ kinh lớn của Đại Thừa. Về sau bị bệnh phổi, phải sang Nhật chữa trị. Nhân đọc Văn Sao bèn lănh ngộ, tự nguyện làm môn nhân của Tổ Ấn Quang, dốc chí xiển dương Tịnh Độ. Ông chính là tác giả biên soạn Gia Ngôn Lục. Ngoài ra, c̣n viết những tác phẩm khác như Phật Pháp Đạo Luận, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Thích, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Khoa Văn Biểu Giải, Hộ Sanh Thống Ngôn, Sức Chung Tân Lương, Đại Thừa Tông Yếu, Lăng Nghiêm Kinh Bạch Thoại Giảng Yếu, Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn Hội Thích v.v… Ông cùng các vị Tưởng Duy Kiều, Hoàng Hàm Chi v.v… tổ chức Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao Biên Ấn Hội để hiệu chỉnh, ấn tống bộ Hoa Nghiêm Đại Sao Nghĩa Sớ của ngài Thanh Lương Trừng Quán cũng như tham gia công tác vĩ đại là ấn tống bộ Phổ Huệ Đại Tạng Kinh (đây là Càn Long Đại Tạng Kinh đă được giảo duyệt cẩn thận và do cư sĩ Phổ Huệ bỏ tiền ấn tống nên được gọi là Phổ Huệ Đại Tạng Kinh).
[10] Mạn y (patta), dịch âm là Bát Tra, là một
trong các loại y của Tăng chúng. “Mạn” nghĩa là y
trơn, không có điều, tức là không gồm nhiều mảnh
vải nhỏ may ghép lại. Thông thường Mạn Y
được mặc bởi những vị Sa Di, Sa Di Ni,
do họ chưa thọ Cụ Túc, chưa đủ tư
cách làm bậc Ứng Cúng nên y để đắp không cắt
thành h́nh thửa ruộng (phước điền y) như
y của chư Tăng. Ở Trung Hoa, cư sĩ cũng
đắp y, nhưng y không có điều. Lại nữa,
loại mạn y này để nguyên cả khổ vải
để may, chỉ viền mép y, c̣n y của Sa Di th́ gồm
hai mảnh vải may đâu lại, may thành sọc ở
chính giữa để phân biệt với y của chư tỳ-kheo
và cư sĩ. Khi xưa, do khổ vải hẹp, đôi
khi mạn y cũng gồm nhiều mảnh vải nhỏ
(mỗi miếng ấy được gọi là Điều)
ghép lại, như trong lá thư trên, Tổ có nói đến
loại Mạn Y gồm năm miếng dành cho cư sĩ,
nhưng để phân biệt, năm miếng đó có chiều
dài bằng nhau, chứ không cắt thành miếng dài, miếng
ngắn may ghép lại như y của người xuất
gia. Hiện thời, ngoại trừ trong một số
đạo tràng như Phật Quang Sơn chẳng hạn,
cư sĩ thọ Ngũ Giới thường đắp
y khi tụng niệm, trong các đạo tràng khác, chỉ
cư sĩ đă thọ Bồ Tát Giới mới đắp
y trong khi làm lễ tụng giới, chứ không đắp
y thường xuyên trong các buổi tụng kinh.
[11] Tọa
cụ (Nisīdana), thường được phiên là Ni
Sư Đàn, hoặc Ni Sư Đát Na, Nĩnh Sử Na Nẵng,
dịch nghĩa là phu cụ, phố cụ, tọa cụ,
tọa y, tùy tọa y v.v… đều có nghĩa là đồ
trải ra trên mặt đất để ngồi hay nằm
với mục đích tránh các loại côn trùng ḅ lên cắn
chích thân thể, và giữ cho ba y khỏi bị lấm
dơ. Giống như ba y, tọa cụ chỉ dùng hoại
sắc, tức những màu úa. Tọa cụ thường
may như một tấm chăn to, dùng vải cũ viền
quanh mép, may thành hai ba lớp, hay được chế từ
y cũ. Theo luật định, kích thước của tọa
dài chừng 4 thước tám tấc, rộng ba thước
sáu tấc (thước Tàu). Tuy thế, khi đạo Phật
truyền xuống
[12] Nguyên văn “phổ thông Phật thất”:
Gọi như vậy để phân biệt với Tinh Tấn
Phật Thất. Tinh Tấn Phật Thất là niệm Phật
suốt 24 tiếng đồng hồ, ai mệt hoặc
đuối sức cứ lui ra, khi nào khỏe sẽ lại
theo đại chúng niệm Phật, nhưng không được
viện cớ để trốn tránh, biếng nhác. C̣n Phổ
Thông Phật Thất chỉ chia một ngày thành sáu thời
niệm Phật, có công khóa sáng tối, có định giờ
cho đại chúng nghỉ ngơi. Khi đă nói đến
Phật Thất là phải cử hành niệm Phật tối
thiểu bảy ngày (Thất là bảy ngày, chứ không có
nghĩa là cái nhà, cái thất như trong chữ Nhập Thất).
Nếu chỉ niệm Phật một hai ngày, không thể gọi
là Phật Thất được! Nếu như chỉ cử
hành ba ngày hay một ngày, người Trung Hoa sẽ gọi
là Phật tam, hoặc Phật nhất, hoặc chỉ gọi
là Niệm Phật Cộng Tu.
[13] Đây là một bài vị viết “Phật Quang chú chiếu, phục
vị tín chủ mỗ giải oán thích kết, hồi
hướng siêu độ oán gia chi vị” (Phật Quang
tưới gội, bài vị kính v́ thí chủ… cởi gỡ
oán kết, hồi hướng siêu độ cho oán gia).
[14] Ngũ Hương Đậu là một món ăn vặt nổi tiếng của Hoa Nam, nổi tiếng nhất là Đậu Ngũ Hương ở miếu Thành Hoàng, Thượng Hải. Món này dùng đậu ván tẩm hồi hương, quế, muối, đường, và một số hương liệu nữa rồi chiên bằng bơ.
[15] Núi Cửu Hoa nằm ở phía Tây
[16] Nguyên văn “vô
hằng chi cuồng nhân”: Chữ Vô Hằng xuất phát từ
sách Luận Ngữ, Khổng Tử nói: “Nhân nhi vô hằng, bất khả tác dĩ tác vu y”.
Sách Tập Giải Trịnh Chú giảng: “Con người không có cái tâm thường hằng
(tức cái tâm kiên quyết không thay đổi chủ ư dễ
dàng) sẽ chẳng thể làm
đồng cốt hay thầy thuốc được”.
Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích thêm: “Thầy thuốc
hay đồng cốt cần phải có sức chú ư, không dễ
bị dao động, không dễ bị phân vân, bối rối
th́ mới hành nghề được!” Cổ nhân thường
mượn chữ “vô hằng” để chỉ những
người không có chủ ư nhất định, dễ bị
chao đảo.
[17] Tiếng gọi tỏ ư tôn trọng bạn
người khác.
[18] Đây là bài tựa của Tổ Ấn Quang cho bộ Phổ Đà Sơn Chí (Ấn Quang Văn Sao Chánh Biên, quyển 3, trang 826), trong ấy có câu: “Đạo tràng ứng hóa của Ngài cố nhiên không phải chỉ một chỗ. Như Nam Ngũ Đài Sơn, Đại Hương Sơn ở Thiểm Tây, Thiên Trúc Sơn ở Chiết Giang v.v… là những nơi cảm ứng rơ ràng, hương đèn nhộn nhịp, nhưng chỉ có Nam Hải Phổ Đà Sơn thật là bậc nhất do tên chỗ này được ghi trong kinh Hoa Nghiêm, năm xưa Thiện Tài đích thân tham học [tại đây]”. Ông Từ Vĩnh Nghiệp dựa vào đó, bắt bẻ Tổ viết sai, v́ Phổ Đà Lạc Già (Potalaka) thật ra nằm trong Nam Hải của Ấn Độ.
[19]
Đây là phẩm thứ 32 trong Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh, giảng
về những trụ xứ (chỗ ở) của các vị
Bồ Tát. Xin trích một đoạn: “Lúc bấy giờ Tâm Vương Bồ Tát Ma Ha Tát ở
trong chúng hội bảo các vị Bồ Tát rằng: - Phật
Tử! Phương Đông có nơi tên là Tiên Nhân Sơn, từ
xưa đến nay, các vị Bồ Tát sống ở trong
ấy. Hiện đang có vị Bồ Tát tên là Kim Cang Thắng
và các quyến thuộc là những vị Bồ Tát gồm
ba trăm người thường sống trong ấy, diễn
thuyết pháp. Phương Nam có nơi là Thắng Phong
Sơn, từ xưa đến nay, các vị Bồ Tát sống
ở trong ấy, hiện đang có Bồ Tát tên là Pháp Huệ
cùng với quyến thuộc là những vị Bồ Tát
thường sống trong ấy diễn thuyết pháp…
Phương Đông Bắc có chỗ tên là Thanh Lương
Sơn, từ xưa đến nay, các vị Bồ Tát sống
ở trong ấy. Hiện đang có vị Bồ Tát tên là
Văn Thù Sư Lợi và các quyến thuộc là những vị
Bồ Tát gồm một vạn người thường sống
trong ấy, diễn thuyết pháp… Phương Tây Nam có chỗ
tên là Quang Minh Sơn, từ xưa đến nay, các vị
Bồ Tát sống ở trong ấy. Hiện đang có vị
Bồ Tát tên là Hiền Thắng và các quyến thuộc là những
vị Bồ Tát gồm ba ngàn người thường sống
trong ấy, diễn thuyết pháp”.
[20] Ông Từ Vĩnh Nghiệp chấp
phương Tây Nam được nói đến trong đoạn
kinh văn trích dẫn ở trên đây là phương Tây Nam
của Trung Hoa v́ trong kinh đă nói ở phương
Đông Bắc có đạo tràng Thanh Lương Sơn của
ngài Văn Thù Sư Lợi (Núi Ngũ Đài nằm ở
phương Đông Bắc Trung Hoa và cũng có tên là Thanh
Lương). Do Nga Mi nằm ở phương Tây Nam Trung
Hoa, ông Từ bèn chấp Hiền Thắng Bồ Tát chính là
ngài Phổ Hiền!
[21] Tức bài Bệnh Khởi Cảnh Sách Kệ
của ngài Ngẫu Ích trong Linh Phong Tông Luận.
[22] Nguyên văn “Kham Dư”, Kham có nghĩa là khám xét, quan sát, Dư có nghĩa là cỗ xe, hàm ư chuyên chở, đi khắp lănh thổ. Hiểu theo ư nghĩa hẹp, chữ Dư chỉ la bàn dùng trong Phong Thủy. Do vậy, Kham Dư có nghĩa là quan sát tướng đất, dùng la bàn để trắc định hướng đất. Kham Dư Thuật là tên gọi khác của Phong Thủy.
[23] Thông thường chữ Tật ở
đây thường được các nhà chú giải hiểu
là những thói hư tật xấu như không giữ luân
thường, lễ nghĩa; riêng Tổ giải thích chữ
Tật ở đây phải hiểu là thói tham mê t́nh dục
quá đáng. Tổ giảng rất rơ về ư nghĩa này
trong lá thư 141, tức lá thư gởi cho cư sĩ Niệm
Phật.
[24] Tiếng gọi ông nội của
người khác một cách tôn trọng.
[25] Trữ Công ở đây chính là Hoằng
Trữ (1605-1672). Sư thuộc tông Lâm Tế sống vào cuối
đời Minh, đầu đời Thanh, người
Thông Châu, Giang Nam, pháp tự Kế Khởi, pháp hiệu Thoái
Ông. Thuở nhỏ gia đ́nh gặp cảnh tai biến,
được bà nội đem về nuôi dưỡng.
Sư tuy chăm học nhưng không ham công danh, chí mộ Phật
pháp, thích đạo Thiền, lănh hội Phật pháp.
Năm 25 tuổi, Sư xuất gia với Hán Nguyệt Pháp
Tạng, siêng tu nhọc nhằn, đắc ngộ tâm pháp.
Sư thông hiểu học thuyết của bách gia chư tử,
học vấn tinh thâm, tư cách đoan nghiêm, khiến
đại chúng rất ngưỡng mộ. Sư tưởng
nhớ nhà Minh, thường mong khôi phục. Khi quân phản
Thanh phục Minh dấy lên ở vùng Ngô - Việt, Sư nhiều
lần ám trợ, từng bị bắt giam, sau được
nghĩa sĩ cứu ra. Mỗi năm vào ngày vua Sùng Trinh tuẫn
tiết, Sư đều mặc tang phục, lễ bái,
khóc lóc. Suốt hai mươi tám năm đều giữ
đúng lệ như vậy. Đệ tử nổi tiếng
dưới ṭa có cả hằng trăm người. Sư
thị tịch năm Khang Hy mười một, thọ sáu
mươi tám tuổi. Sư c̣n để lại các trước
tác như Ngữ Lục (100 quyển), Nam Nhạc Kế Khởi
Ḥa Thượng Ngữ Lục (10 quyển), Nam Nhạc Lặc
Cổ, Linh Nham Kư Lược.
[26] Hán Nguyệt Pháp Tạng (1573-1635) là đệ tử của ngài Mật Vân Viên Ngộ, sống vào cuối đời Minh, xuất gia từ năm 15 tuổi. Năm Thiên Khải thứ tư (1624) đến chùa Kim Túc, yết kiến ngài Mật Vân, được ấn khả. Sư cực thông minh, rất có biện tài, nhưng lại lập ra dị thuyết, soạn ra bộ Ngũ Tông Nguyên, chỉ trích mạt sát nặng nề tông Tào Động, coi bốn tông kia là đọa lạc, đều không hiểu tông chỉ nhà Thiền, chỉ ḿnh tông Lâm Tế là nắm được yếu lănh của Lục Tổ. Luận thuyết của Sư khiến cho thiền đức các tông thời ấy tranh luận ồn ào. Ngài Viên Ngộ nhiều lần gởi thư khuyên răn Sư hăy bỏ luận thuyết dị kỳ ấy, nhưng Sư không thèm nghe theo. Sư thị tịch năm Sùng Trinh thứ tám, thọ 62 tuổi. Tác phẩm Ngũ Tông Nguyên gây nên tranh luận kéo dài măi đến đời Thanh, vua Ung Chánh phải viết Ngự Chế Giản Ma Biện Dị Lục vạch ra những điểm sai lầm trong cuốn sách nói trên và hạ lệnh cấm tuyệt lưu hành Ngũ Tông Nguyên, nhưng do đồ đảng của Hán Nguyệt đến lúc ấy vẫn c̣n rất đông nên cuốn Ngự Chế Giản Ma Biện Dị Lục không được đưa vào Đại Tạng. Hoằng Nhẫn và Cụ Đức đều là đệ tử của Hán Nguyệt. Hoằng Nhẫn c̣n cực đoan, đả phá các tông phái Thiền khác gấp mấy lần Hán Nguyệt.
[27] Mật Vân Viên Ngộ (1566-1642) là cao tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào đời Minh, thụy hiệu là Huệ Định Thiền Sư. Ngài là con nhà nông, do t́nh cờ đọc Lục Tổ Đàn Kinh bèn ham chuộng pháp Thiền. Một ngày nọ đang chất củi bỗng tỉnh ngộ, bèn xuất gia với ngài Huyễn Hữu Chánh Truyền tại chùa Long Tŕ. Năm Vạn Lịch 30 (1602), ngài Chánh Truyền lên kinh đô, giao cho Sư làm giám viện chùa Vũ Môn. Một hôm, trong khi đi ngang qua núi Động Quan, ngài chợt khai ngộ. Năm Vạn Lịch 39 (1611), được ngài Huyễn Hữu trao y bát. Ngài lần lượt làm trụ tŕ nhiều đạo tràng Thiền Tông nổi tiếng, do thời gian ngài làm trụ tŕ chùa Thiên Đồng lâu nhất nên thường được gọi là Thiên Đồng Mật. Ngài được coi là người có công trung hưng tông Lâm Tế, đệ tử đến hơn ba vạn người. Sư thị tịch năm Sùng Trinh 15 tại chùa Huyền Thông, thọ 70 tuổi.
[28] Cam Lộ (Amrta): Đôi khi c̣n được phiên âm là A Mật Lư Đa, A Mật Lật Đa, dịch nghĩa là Bất Tử, Bất Tử Dịch, Thiên Tửu, nghĩa đen là thuốc tiên bất tử, rượu thiêng của cơi trời. Theo kinh Vệ Đà, cơi trời có rượu thiêng Tô Ma (Soma) uống vào sẽ sống măi chẳng già chẳng chết, vị ngọt như mật nên gọi là Cam Lộ (sương ngọt). Phật Giáo dùng chữ “cam lộ” để ví cho pháp vị của Phật pháp có tác dụng mát lành nuôi dưỡng Pháp Thân huệ mạng vĩnh viễn cho chúng sanh. Chữ Cam Lộ ở đây là chỉ pháp thủy, trí huệ thủy khiến cho người uống vào phiền năo tiêu diệt, trí huệ tăng trưởng chứ không phải là thuốc tiên của cơi trời. Ngoài ra, Cam Lộ chính là một trong ba tên của đức Phật A Di Đà (Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Cam Lộ) nên đôi khi Phật Di Đà c̣n được gọi bằng danh hiệu là Cam Lộ Vương Như Lai. V́ lẽ đó, chú Văng Sanh đôi khi c̣n gọi là Thập Cam Lộ Chú v́ có nhắc đến chữ Amrta mười lần.
[29] Tiếng gọi cháu trai của người
khác. Điệt là con của anh hay em trai, nếu là con của
chị hay em gái sẽ gọi là Sanh.
[30] Bọn luyện đan vận khí cho rằng
họ tu tập để bảo tồn cái thân bất hoại,
trường thọ, đó là tu Mạng. Đồng thời
tu luyện để trở thành tiên, thành thánh, đó là tu
Tánh. V́ thế, họ tự xưng là “tánh mạng song tu”.
[31] Hồi
Hồi, c̣n gọi là Hồi tộc, Hồi Hột, là một
danh từ chung để chỉ những người theo
đạo Hồi ở Trung Hoa. Trước kia, danh từ
này được dùng với nghĩa rộng hơn để
chỉ chung tất cả giáo đồ Hồi giáo và các quốc
gia theo đạo Hồi. Từ đời Thanh trở
đi, chữ Hồi Hồi được dùng để
chỉ riêng những dân tộc thiểu số theo đạo
Hồi tại Trung Hoa, như dân Duy Ngô Nhĩ (Uigur) ở
Tân Cương, dân Đông Hương Hồi ở Cam Túc,
dân Tán Lạp ở Thanh Hải, dân Hồi Cương,
Đột Quyết sống dưới chân Thiên Sơn chẳng
hạn. Dân Hồi Hồi có nguồn gốc từ Trung Á
như Ả Rập hoặc
[32]Đại Huệ (Mahāmati) là vị Bồ
Tát thượng thủ, đương cơ của kinh
Lăng Già.
[33] Tăng Lượng (1019-1083), tự Tử Nhân, người xứ Kiến Xương, Nam Phong (nay là huyện Nam Phong, tỉnh Giang Tây), là một nhà văn nổi tiếng thời Bắc Tống, được xếp vào Đường Tống Bát Đại Gia (tám văn gia, thi sĩ nổi tiếng thời Đường Tống). Từ năm 18 tuổi, do theo cha du ngoạn, ông viết bài Du Tín Châu Ngọc Sơn Tiểu Nham Kư, rất được giới văn sĩ thời ấy tán thưởng. Năm 20 tuổi, ông ngao du khắp Trung Hoa, giao du rộng răi với những danh nhân đương thời như Vương An Thạch và Âu Dương Tu. Ông đỗ Tiến Sĩ năm 1057, làm quan đến chức Trung Thư Xá Nhân, chuyên trách biên soạn sử liệu cho triều đ́nh. Theo truyện kư, mẹ ông vốn là phu nhân của Tể Tướng Tăng Dịch Chiêm, là một tín đồ rất hâm mộ Phật pháp, thường cúng dường ḥa thượng Thảo Đường Thanh rất trọng hậu. Khi Tể Tướng Tăng Dịch Chiêm cáo lăo hồi hưu rất vinh hiển, Thanh Thảo Đường sanh tâm hâm mộ, bèn nói: “Lăo tăng nguyện làm con của phu nhân”. Nói xong, không lâu sau bèn viên tịch năm 70 tuổi, liền đầu thai vào nhà họ Tăng. Khi đó, phu nhân nhớ lại lời Thanh Thảo Đường, cho người sang chùa hỏi th́ quả nhiên ḥa thượng mất đúng vào lúc Tăng Lượng được sanh ra.
[34] Đồng Mông Tu Tri (trẻ nít cần
biết) là một cuốn sách dạy nhi đồng, do Lư Dục
Tú biên soạn vào đời Thanh, nội dung dạy những
điều cần thiết về phép ứng xử và bổn
phận làm người của đứa con trong gia
đ́nh. Về sau, ông Giả Tồn Nhân cũng sống vào
đời Thanh, tu chỉnh, nhuận sắc, đổi tên
sách này thành Đệ Tử Quy.
[35] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải
của Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích. Theo sách ấy,
chữ
[36] Ông Ngụy Mai Tôn (1862-1933), tên thật là
Gia Hoa, tự là Mai Tôn, hiệu Trinh Sĩ, người xứ
Giang Ninh, đỗ Tiến Sĩ thời Quang Tự, từng
làm quan đến chức Hàn Lâm Biên Tu, rồi Tri Phủ
Đông Xương tỉnh Sơn Đông, quan tước
đến Tam Phẩm, rất nhiệt thành hộ vệ Phật
pháp và làm chuyện từ thiện như mở viện mồ
côi tại chùa Pháp Vân trên sông Tam Xoa, lập ao phóng sanh... Ông
này được Tổ nhắc đến rất nhiều
lần trong Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên. Trong lần
khai thị tại pháp hội Hộ Quốc Tức Tai ở
Thượng Hải, Tổ có nhắc đến chuyện
ông Ngụy Mai Tôn hỏi Tổ xin dạy cách đoạn trừ
thói quen ăn thịt, Tổ khuyên nên đọc kỹ bài
văn khuyên kiêng giết phóng sanh trong Văn Sao (tức bài Sớ
Quyên Mộ Tu Bổ Ao Phóng Sanh ở Nam Tầm).
[37] Nhất Hạnh Cư Tập: Tác phẩm của Bành Thiệu Thăng, nội dung bao gồm những nhận định, văn chương nhằm phát huy yếu chỉ Tịnh Độ Tông rất tinh diệu của ông Bành. Năm Càn Long 50 (1785), ông Bành ngụ tại Văn Tinh Các ở Tô Châu, tu Nhất Hạnh tam-muội, chuyên tâm niệm một đức Phật, do vậy gọi chỗ ḿnh ở là Nhất Hạnh Cư. V́ thế, tổng tập những trước tác có liên quan đến Phật giáo của ông được đặt tên là Nhất Hạnh Cư Tập.
[38] Vương Thiết San là tỉnh
trưởng tỉnh Giang Tô thời ấy.
[39] Côn Luân là một rặng núi lớn ở
phía Tây Trung Quốc, dài đến 2.500 km, chạy từ cao
nguyên Pamir đến tận tỉnh Thanh Hải. Núi vừa
cao vừa rộng, nên được người Trung Hoa
thần thánh hóa, coi như là chỗ thần tiên ở,
vương cung của Tây Vương Mẫu (bà chúa tiên) nằm
trên ngọn núi này. Tương truyền, trên núi có rất
nhiều ngọc quư ẩn ngầm trong đá.
[40] “Tam Vũ diệt Phật” là ba lần chánh quyền hủy diệt Phật giáo trong lịch sử Trung Hoa do Bắc Ngụy Thái Vũ Đế (408-452), Châu Vũ Đế (543-578) và Đường Vũ Tông (840-846) chủ trương. Về sau này lại c̣n Châu Thế Tông (921-959) nhà Hậu Châu hủy diệt Phật pháp một lần nữa nên sử thường gọi là “Tam Vũ Nhất Thế chi họa”. Nghe lời Tư Đồ Thôi Hạo và đại sĩ Khấu Khiêm Chi, Ngụy Thái Vũ Đế đàn áp Phật giáo. Năm Thái B́nh Chân Quân thứ bảy (446), vua hạ lệnh xử tử các sa-môn ở Trường An, phá hoại hết thảy kinh tượng. Không lâu sau vua bệnh chết, con là Văn Thành Đế lại phục hưng Phật giáo. Châu Vũ Đế nhà Bắc Châu tin lời sàm tấu của các đạo sĩ Trương Tân và Vệ Nguyên Tung, có ư phế Phật. Lúc ấy các vị Chân Loan, Đạo An, Tăng Miễn ra sức biện hộ nên chưa phế bỏ. Đến năm Kiến Đức thứ hai (573), vua hạ lệnh phế bỏ cả Đạo giáo lẫn Phật giáo, hủy hoại kinh tượng, buộc tăng sĩ, đạo sĩ hoàn tục, chỉ giữ lại hai trăm đạo sĩ có danh tiếng ở Trường An. Năm Kiến Đức thứ sáu (577) vua băng, Phật giáo mới lại phục hưng. Thời Đường Vũ Tông, bọn Tể Tướng Lư Đức Dụ v.v... chủ trương bài Phật. Nghe lời sàm tấu của bọn chúng, cũng như do tham lam, muốn chiếm đoạt Tăng sản, năm Hội Xương thứ năm (845), vua hạ chiếu chỉ giữ lại bao nhiêu đó chùa và chừng ba trăm Tăng, c̣n lại đều hủy bỏ, buộc Tăng ni hoàn tục, đem tượng Phật, chuông, khánh đúc thành tiền đồng, nông cụ… Sử gọi là Hội Xương Pháp Nạn. Năm sau, vua chết, Tuyên Tông lại phục hưng Phật giáo. Trong số những ông vua bạo ác này, Châu Thế Tông (Sài Vinh) nhà Hậu Châu là hung hăng nhất. Năm Hiển Đức thứ hai (955), vua thực hành chánh sách bài Phật để có tiền trang trải chiến tranh. Vua hạ chiếu phế bỏ tất cả tự viện (sử ghi là ba vạn ba trăm ba mươi sáu ngôi chùa), hủy hoại tượng Phật, tịch thâu chuông, khánh, bạt, linh để đúc tiền, sung công toàn bộ điền sản của nhà chùa. Lúc ấy, ở Trấn Châu có tượng Quán Âm bằng đồng rất linh thiêng, nên tuy chiếu chỉ ban xuống, không ai dám phá hủy. Vua nghe vậy, đích thân đến chùa, cầm búa đập vào ngực tượng Phật, mặc cho người xem run sợ. Năm Hiển Đức thứ sáu (959), vua lên miền Bắc đánh nhau, tự nhiên ngực mọc ra mụn nhọt độc rất to, đau đớn không chịu nổi, mất trên đường hành quân. Triệu Khuông Dẫn thừa cơ chiếm binh quyền lập ra nhà Tống, nhà Hậu Châu diệt vong.
[41] Phùng Hú (1843-1927), tự là Mộng Hoa, hiệu Hao Am, về già thường xưng là Hao Tẩu, hay Hao Ẩn, người huyện Kim Đàn, tỉnh Giang Tây, đỗ Tiến Sĩ năm 1886, làm quan đến chức Án Sát Sứ tỉnh Tứ Xuyên và Tuần Phủ tỉnh An Huy. Sau Cách Mạng Tân Hợi (1911), ông về sống tại Thượng Hải, chuyên tâm về văn chương, tham dự biên soạn bộ Giang Nam Thông Chí, trước tác nổi tiếng nhất là bộ Mông Hương Thất Từ. Do có danh phận và đạo đức, ông rất được những người có chức quyền tỉnh Giang Tô thời ấy coi trọng.
[42] Viên ở đây là Viên Thế Khải,
Đường là Đường Thiệu Nghi. Họ Viên
từng làm Tổng Lư Nội Các Đại Thần của
nhà Thanh. Về sau, khi nhà Thanh bị lật đổ, nhờ
mưu mẹo, ông ta nắm giữ quyền lực lớn,
trở thành Đại Tổng Thống, rồi sau đó, tự
xưng là hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Hiến.
Họ Đường là bạn thân của họ Viên, từng
giữ chức Quốc Vụ Tổng Lư (gần như Thủ
Tướng). Do ông ta được đào tạo từ
trường đại học Tin Lành của Mỹ nên mang
tư tưởng bài xích Phật giáo rất mạnh, c̣n họ
Viên th́ sẵn ḷng gian manh, giảo hoạt, muốn thừa
cơ chiếm đoạt tài sản của Phật giáo
để thực hiện những mưu đồ
đánh gục đối thủ chính trị, rốt cục,
ông ta vẫn bị lật đổ.
[43] Phụ chánh tồi tà: Giúp cho điều
chánh, đập tan điều tà.
[44] Thế Độ: Thế là cạo tóc,
xuống tóc. Thế Độ tức là thâu nhận đệ
tử xin xuống tóc, xuất gia làm tăng. Truyền pháp ở
đây có nghĩa là thâu nhận môn đệ xuất gia tạo
thành pháp phái, môn đ́nh riêng.
[45] Ư nói: Chọn người có tuổi hạ
(Tăng lạp) cao, đạo cao đức trọng làm Trụ
Tŕ chứ không truyền theo thế hệ truyền thừa.
Chẳng hạn, khi một vị Trụ Tŕ đă mất
hoặc xin thoái hưu, sẽ chọn trong số những vị
có tăng lạp cao, có đức hạnh làm vị Trụ
Tŕ kế tiếp, chứ không chọn trong số những
vị xuất gia tuổi tuy c̣n trẻ, nhưng do là đệ
tử của sư phụ những vị trưởng lăo
trong chùa nên thuộc thế hệ trên, đứng vào hàng
sư thúc, sư bá của những vị tôn túc lớn tuổi
ấy.
[46] Đào Uyên Minh (365-427), tên thật là
Đào Tiềm, Uyên Minh là tên tự. Có thuyết lại nói
ông ta vốn tên thật là Uyên Minh, tên tự là Nguyên Lượng,
sau sang đất Tống bèn đổi tên thành Đào Tiềm.
Từ đời Đường, do kỵ húy Đường
Cao Tổ (Lư Uyên, cha Đường Thái Tông) nên Đào Uyên Minh
thường bị viết trại thành Đào Thâm Minh hoặc
Đào Tuyền Minh. Ông Đào tự xưng hiệu là
Ngũ Liễu Tiên Sinh, vốn là người xứ Tầm
Dương (nay thuộc huyện Cửu Giang, tỉnh Giang
Tây) là một nhà văn học lỗi lạc thời Tấn,
có rất nhiều bài thơ được truyền tụng
trong đời.
[47] Kỷ Văn Đạt
(1724-1805), tên thật là Kỷ Quân, tự Hiểu Lam, thụy
hiệu là Văn Đạt, người huyện Hiến,
tỉnh Hà Bắc, rất thông minh, văn tài lỗi lạc,
làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng Thư
Hiệp Biện Đại Học Sĩ thời Càn Long, rất
được vua hâm mộ. Ông chính là người làm công
tác Tổng Toản Tu (tổng biên tập) bộ Tứ Khố
Toàn Thư Hội Yếu.
Viên Tử Tài (1716-1797), tên thật là Viên
Mai, hiệu Tử Tài, bút hiệu Tùy Viên Lăo Nhân, người
Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Từng ra làm quan, nhưng do
tính t́nh phóng khoáng bèn từ quan, trở về sống trong
núi Tiểu Thương thuộc Nam Kinh, lập ra vườn
cảnh, đặt tên là Tùy Viên để xướng họa,
ăn nhậu, trước tác và nghiên cứu ẩm thực.
Ông làm thơ rất hay, văn chương rất ưu
nhă. Ông lại soạn riêng một cuốn sách ghi chép những
món ăn ngon và cách nấu nướng chúng đặt tên là
Tùy Viên Thực Đơn. Cuốn sách này cho đến tận
giờ vẫn được coi là một trong những tác
phẩm nổi tiếng về nghệ thuật ẩm thực
cổ Trung Quốc. Thậm chí, người Nhật c̣n cho
dịch ra Nhật ngữ và tái bản nhiều lần.
Cũng giống như Kỷ Hiểu Lam, họ Viên rất
thông hiểu và hâm mộ đạo Phật, nhưng do quen
thói phóng túng, thích ngâm vịnh, ăn uống, xướng họa,
thù tạc nên rốt cuộc cả hai ông đều không thể
nào tu tập được
[48] Tây Tân (vị khách ngồi ở phía Tây),
c̣n gọi là Tây Tịch, chính là tên gọi khác của vị
giáo sư trong gia đ́nh. Theo Lễ Kư, trong thời cổ,
khi tiếp khách, chủ nhà ngồi ở phía Đông, khách ngồi
ở phía Tây. Để tỏ ḷng trọng vọng thầy
có công dạy dỗ cho con em ḿnh, gia chủ thường
dùng lễ đăi thầy như khách quư viếng thăm nên
từ đó chữ Tây Tân hay Tây Tịch được dùng
để chỉ vị giáo sư của gia đ́nh.
[49]
Quản Đông Minh (1537-1608),
tên thật là Chí Đạo, tự Đăng Chi, người
huyện Đại Thương, tỉnh Giang Tô, là một
cư sĩ hữu danh cuối đời Minh, thâm hiểu sâu xa đạo Phật.
Ông từng được Hám Sơn Đại Sư khen ngợi
qua lá thư gởi cho Ngô Vận Sứ trong cuốn Mộng
Du Tập. Ông viết nhiều về Phật giáo, thường
khéo léo dẫn dụng những tư tưởng của
Nho Gia để chứng minh Nho Học chỉ ngang với
nhân thiên thừa trong Phật giáo, hướng dẫn giới
Nho Sĩ hướng về Phật giáo. Bài văn
được nói đến ở đây chính là Đa Tích
Âm Đức (tích lũy nhiều âm đức).
[50] “Tự cường bất tức” là một thành ngữ, dựa theo câu giải thích về tánh chất của quẻ Càn trích từ kinh Dịch: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”. Hán Điển Thành Ngữ giảng: “Trời vận hành tự nhiên, có sức mạnh mẽ, quân tử phải nên bắt chước theo đạo trời, không ngừng cầu tiến, chẳng lười nhác trong bất cứ thời khắc nào”.
“Triêu càn tịch dịch” cũng là một
câu giải thích về tánh chất của quẻ Càn trích từ
kinh Dịch: “Quân tử chung nhật
càn càn, tịch dịch nhược lệ, vô cữu”.
Sách Hán Điển Thành Ngữ giảng: “Càn càn là không ngừng gắng sức. Tịch dịch
nhược lệ là trời đă tối rồi, người
quân tử vẫn ôm ḷng đau đáu kiêng dè, kinh sợ
như luôn bận tâm v́ c̣n có chuyện ǵ chưa xong. Cả
câu có ư nói: Người quân tử luôn gắng sức hướng
thượng, tâm luôn chú ư cẩn thận, tận lực tu
tâm dưỡng tánh th́ mới không phạm lầm lỗi”.
[51] Nho gia tin tưởng mù quáng vào lời dạy
của Tŕnh - Châu phỉ báng Phật giáo, tuy chưa hề
đọc kinh Phật, nên Tổ ví họ giống như bị
Tŕnh - Châu nhốt chặt, không cho thoát ra ngoài nh́n trời
cao đất rộng.
[52] Bành Lan Đài tên thật là Hy Tốc, Lan Đài là hiệu. Ông là cháu của Bành Thiệu Thăng, gọi Bành Thiệu Thăng bằng chú, cũng quê ở Tô Châu, thích ăn chay từ nhỏ, đến tuổi thiếu niên bèn ăn chay trường suốt năm năm. Về sau do bệnh nặng, y sĩ buộc ăn thịt. Do bệnh vẫn không thuyên giảm, ông bèn phát tâm nghiên cứu Phật pháp, giữ Lục Trai, tụng kinh Hoa Nghiêm, công khóa hằng ngày luôn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chưa hề thiếu khoát. Ông Bành Thiệu Thăng thấy tác phẩm Văng Sanh Tập của Liên Tŕ Đại Sư quá giản lược nên muốn tiếp tục bổ sung những chuyện văng sanh mới. Ông Bành Hy Tốc vui vẻ đảm nhiệm chuyện này, thường cùng vợ là Cố Thị khêu đèn biên chép, tạo thành chín quyển, đổi tên thành Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Ngày mồng Ba tháng Năm năm Càn Long 50 (1785), ông vừa bị sốt rét vừa bệnh lỵ, từ pḥng ngủ đến thăm mẹ, hoàn toàn không đả động chuyện nhà, chỉ khuyên mẹ chăm chỉ niệm Phật, hẹn sẽ gặp lại mẹ nơi Tây Phương. Trước đó, ba ngày ông đă cho người thỉnh Trừng Cốc ḥa thượng đến tận giường bịnh truyền Ngũ Giới, sám hối, phát nguyện. Sáng ngày 13, ông sai gia nhân treo tượng Phật, xoay giường về phía Tây, bảo Đăng Cốc: “Phiền thầy trợ niệm cho con”. Đến chiều, ông lâm râm niệm Phật rồi nằm bên hông phải qua đời, mùi hương lạ ngập thất, thọ được 33 tuổi. Vợ ông là Cố Uẩn Ngọc, đă qua đời trước đó, thọ 29 tuổi, trong khi bị bệnh bà đă ngồi niệm Phật qua đời.
Nhị Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục là một tác phẩm trích lục từ hai mươi hai bộ sử trọng yếu của Trung Quốc nhằm thuyết minh chuyện nhân quả báo ứng. Nhị Thập Nhị Sử gồm Sử Kư Tư Mă Thiên, Hán Thư, Hậu Hán Thư, Tam Quốc Chí (xin đừng lầm với tiểu thuyết chương hồi Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung. Bộ Tam Quốc Chí được nhắc đến ở đây do Trần Đào biên soạn vào đời Tây Tấn), Tấn Sử, Tống Thư, Nam Tề Thư, Lương Thư, Trần Thư, Ngụy Thư, Bắc Tề Thư, Châu Thư, Tùy Thư, Nam Sử, Bắc Sử, Cựu Đường Thư, Tân Đường Thư, Cựu Ngũ Đại Sử, Tân Ngũ Đại Sử, Liêu Sử, Kim Sử. Bành Hy Tốc sống vào đời Thanh, nếu sử dụng những chuyện vào thời Minh và thời Nguyên sẽ dễ bị kết tội “yêu thư, yêu ngôn” theo luật Đại Thanh nên ông chỉ sử dụng hai mươi hai bộ Sử nói trên để biên soạn tác phẩm này.