Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao Tục Biên,
Phần 5
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Tịnh
nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
118. Thư trả lời cư sĩ Chiến
Đức Khắc (hai lá
thư)
(năm Dân Quốc 26 - 1937)
1) Pháp
danh của mười chín người quy y được
viết trong một tờ giấy khác. Khoản tiền gởi
đến bất luận là tiền hương kính hay tiền
quyên mộ để in sách đều dùng làm chi phí ấn tống
cuốn Kỹ Lộ Chỉ Quy. Hiện thời đă sắp
chữ xong, nếu bản [sắp chữ] cuối cùng gởi
đến, phải đợi sửa lỗi xong rồi mới
in ra sách. In trước ba vạn cuốn để gởi
cho những người có tín tâm xa gần. Lần này, tính
dùng hết hơn hai trăm ba mươi đồng để
gởi đến chỗ ông hơn hai trăm ba mươi
đồng tiền sách cho mỗi người đóng góp ấn
tống ấy, mỗi người bao nhiêu đó sách, c̣n
dư th́ tùy ư chia ra đem biếu.
Chuyện cầu cơ
phần nhiều là linh quỷ giả mạo danh nghĩa
tiên, Phật. Nếu người hầu cơ vốn sẵn
có học vấn th́ [lời giáng cơ] văn chương
rộng lớn, dài lê thê, nói đến đạo lư thế
gian c̣n thông suốt, chứ nếu luận về Phật
pháp là điều chúng nó không biết, nên sẽ coi chuyện
luyện đan, vận khí là Phật pháp, hoặc ăn trộm
nghĩa lư kinh Kim Cang, nói nhăng, nói cuội, không thể chỉ
ra con đường liễu sanh tử cho con người
được. Lại hoặc là bịa đặt đồn
thổi, dùng những lời lẽ loạn xạ thất
điên bát đảo, khiến cho kẻ vô tri tưởng
là bí quyết, há chẳng đáng buồn quá sức ư?
Đối với chuyện khuyên lơn quyên góp làm những
hành động tốt đẹp th́ cầu cơ có ích,
nhưng hỏi đến tu tŕ, nói đến Phật pháp
th́ lại có hại. V́ linh quỷ phần nhiều chẳng
thông hiểu Phật pháp nên mù quáng bịa chuyện, hoại
loạn Phật pháp, khiến chúng sanh bị lầm lạc,
nghi ngờ. Ông Tôn Thương ở Phụng Hóa, tự là
Ngọc Tiên (tuổi chừng tám mươi), rất mê cầu cơ. Bảy năm
trước, nói Ngọc Đế thoái vị, Quan Đế
là Ngọc Đế mới, đă mở khoa thi. Trạng Nguyên
là ông Châu X… ở Kim Hoa, Bảng Nhăn là Dương
Chương Phủ ở Vô Tích, Thám Hoa là ông Hứa Chỉ
Tịnh ở Bành Trạch. [Ông Tôn] gởi thư cho họ
Châu, họ Châu mừng lắm, tuổi đă cao, tám
mươi tuổi rồi vẫn tới Thượng Hải
họp mặt. Ông Dương cũng rất tin cầu
cơ, chẳng biết trả lời như thế nào, liền
gởi thư cho ông Hứa Chỉ Tịnh, ông Hứa trọn
chẳng trả lời một chữ nào. Ông ta nhiều lần
gởi những bài giáng cơ [cho ông Hứa], nhưng [ông Hứa]
trọn chẳng phúc đáp. Về sau, không làm cách nào
được, lại gởi thư nói: “Tôi đă nhiều
lần gởi sách, nhưng trọn chẳng trả lời,
chắc là nghe lời pháp sư Ấn Quang không tin cầu
cơ! Tôi từng hỏi Lă Tổ[1],
Lă Tổ nói: ‘Sắt ở đáy biển’, sao ông lại tin
lời thầy ấy?” Ông Hứa vẫn không trả lời
thư. “Sắt ở đáy biển”
là vĩnh viễn ch́m trong biển khổ, không có ngày ngoi lên
được. Ông Tôn đỗ Tiến Sĩ, cũng là
người ưa làm lành, tri kiến như thế đó,
chẳng thể dùng lư để khuyên dụ được.
Thư gởi đến,
đâu cần phải đặc biệt dùng giấy vàng,
chỉ chớ nên dùng giấy trắng ngần để khỏi
bị lóa mắt mà thôi! Nay đem hai danh sách người quy
y và cúng tiền viết vào mặt sau lá thư gởi lại,
mong rằng khi sách Kỹ Lộ Chỉ Quy gởi đến
hăy khéo chiếu theo số tiền, dựa theo ư muốn của
từng người để chia ra gởi tặng. Hiện
nay thời cuộc nguy hiểm, hăy nên dạy hết thảy
mọi người đều cùng niệm Phật và niệm
thánh hiệu Quán Âm để dự pḥng. Nếu chịu chí
thành thường niệm, ắt sẽ được gia
bị. Dẫu đại kiếp khó tránh, mọi người
đều chết sạch, người niệm Phật sẽ
sanh về Tây Phương. Hoặc nếu như tín nguyện
chưa đến mức chân thành, thiết tha, cũng phần
nhiều sanh vào đường lành. Chớ nên nói: “Chẳng
thể tránh khỏi số kiếp, niệm chỉ uổng
công thôi!” Phải biết sự sướng hay khổ phải
chịu trong đời này chính là do cái nhân thiện hay ác
đă tạo trong đời trước chiêu cảm. Cái
nhân đă gây trong đời này lại là cái nhân cho quả
báo thiện hay ác sẽ phải hứng chịu trong đời
sau! Lấy niệm Phật làm nhân th́ sanh về Tây
Phương; lấy giết, trộm, dâm làm nhân th́ đọa
trong tam đồ. Đấy chính là lư - sự nhất
định.
Sách Vật Do Như Thử[2]
(loài vật c̣n như thế) đă sửa đổi theo
thứ tự khác, sắp xếp thành một quyển,
mười bốn tấm gương [hiếu nghĩa của
loài vật] được xếp nối tiếp nhau,
đỡ tốn giấy rất nhiều. Sửa thành bản
chữ lớn “tam hiệu tự”[3], mỗi
trang mười hai hàng, mỗi hàng ba mươi hai chữ,
sẽ in ba vạn bản. Đợi đến khi in ra sẽ
gởi đến bao nhiêu đó gói sách. Đây là do một
đệ tử người huyện Vĩnh Xuân, tỉnh
Phước Kiến, đang buôn bán tại Tân Gia Ba gởi
về một ngàn sáu trăm đồng, phỏng chừng
số tiền ấy đủ cho chi phí ấn tống,
nhưng không đủ, phải bù thêm chút ít bao nhiêu đó tiền.
Sách này không nói về kiêng giết, nhưng thật ra là sách
trọng yếu về kiêng giết. Người có ḷng lo
cho người khác thấy loài vật hiếu hữu, trung
nghĩa, trinh liệt, từ ái v.v… ắt sẽ bị cảm
động, ai nấy trọn hết thiên chức của chính
ḿnh, lấy “giữ vẹn luân thường, trọn hết
bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” để
mong sao chẳng bị loài vật xem thường. Loài vật
c̣n như thế, há ta thua kém chúng? Phải gắng sức sốt
sắng thực hiện ngơ hầu khỏi bị hổ thẹn!
Đối với lư sâu trong Phật pháp, ông Từ Bạch
Phảng[4] tà - chánh chẳng
phân. Trong sách này chỉ chép những đức tốt hạnh
đẹp của loài vật, có ích lớn lao cho đời.
Quang có viết lời tựa, nếu chịu đọc kỹ
sẽ không mong cầu [mà tự nhiên] học thánh, học hiền,
học Phật, học Tổ vậy!
2) Thư hôm mồng Bảy
cho đến chiều ngày hôm qua là Mười Sáu mới nhận
được, do ở nơi có chiến tranh, giao thông bị
gián đoạn mà ra. Pháp danh của mười tám người
xin quy y được viết riêng trong tờ giấy khác,
mong hăy chia ra gởi đi. Hăy nên bảo bọn họ ai ấy
giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận,
dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều
ác, vâng giữ các điều lành, ăn chay, niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương. Chớ nên cầu phước
báo nhân thiên, phàm phu có phước ắt tạo sát nghiệp!
Đă tạo sát nghiệp, khó tránh khỏi sát báo (quả báo
do giết hại), huống chi kẻ có phước chẳng
phải chỉ tạo sát nghiệp ư? Do vậy, kẻ
cầu phước chính là cầu họa cho cả ḿnh lẫn
người! Người học Phật không thể không
biết nghĩa này!
Ông [Lư] Đức Minh xin
mọi người niệm Quán Âm, mỗi người niệm
mười vạn câu, phóng sanh một trăm vạn [sanh mạng]
để mong tiêu diệt sát kiếp. Đây cũng là công
đức không ǵ lớn hơn. Nhưng hăy nên thường
niệm Quán Âm suốt đời. Phàm những người
gia nhập hội ai nấy kiêng giết, ăn chay th́ mới
là biện pháp triệt để. Nếu không, bữa nay bỏ
tiền ra mua một số con vật đem thả,
nhưng hằng ngày lại mua sanh vật về tự giết,
hoặc là mua từ chỗ người ta giết đem
bán th́ vẫn là một bữa nóng, trăm bữa lạnh,
làm sao có thể tiêu trừ sát nghiệp đời trước
đời này của ḿnh lẫn người cho được?
Phóng sanh là cách để đề xướng kiêng giết,
ăn chay; nếu chẳng chú trọng kiêng giết, ăn
chay th́ số được thả có hạn, số bị
giết vô cùng!
Ngày Hai Mươi Tám
tháng Sáu, Quang gởi thơ cho các tờ báo, tạp chí tại
Thượng Hải cậy đăng quảng cáo Khuyên Khắp
Đồng Bào Toàn Cầu Cùng Niệm Thánh Hiệu Quán Âm, mỗi
tờ đăng mười ngày. Bản sao quảng cáo ấy
gởi kèm theo thư này, do chiến sự ngăn trở chẳng
biết ông đă thấy trên báo rồi hay chưa? Lại bảo
Tào Hà Kính in năm mươi vạn tờ truyền
đơn rộng bảy tấc, phát cho những cơ quan
Phật học các tỉnh, chiến sự đă nổ ra,
cũng khó thực hiện được ngay! Bài văn ấy
chẳng chỉ dùng riêng trong thời chiến mà trong hết
thảy mọi lúc đều dùng được! Ông nói
đến chuyện nêu rơ sự bắt nguồn của chiến
sự và đạo trọng yếu để tiêu diệt
[chiến sự] th́ Châu An Sĩ nói: “Nhân nhân tri nhân quả, đại trị chi đạo
dă. Nhân nhân bất tri nhân quả, đại loạn chi
đạo dă” (Người người biết nhân quả
là đạo để đạt thái b́nh lớn lao.
Người người chẳng biết nhân quả là
đường lối đại loạn vậy). Bởi
lẽ, biết nhân quả sẽ xử sự thuận theo
thiên lư, ăn nói thuận theo ḷng người, do đâu mà có
chuyện chiến tranh cho được?
Nếu khinh rẻ các
thứ hàng hóa của nước nhà, quư trọng các món hàng nhập
cảng, tiền tài của cả nước đều bị
chở hết ra ngoại quốc, đấy chính là “chẳng
noi theo thiên lư, chẳng thuận theo ḷng người” rất
lớn, khiến cho kẻ khác dùng tiền tài của chính ta
để chế tạo súng ống đánh ta! Do vậy, biết
rằng: Những kẻ ưa dùng hàng hóa ngoại quốc
đều chẳng thể không gánh lấy cái tội vời
người khác đến đánh ta! Từ nay trở
đi, hăy thống thiết sửa đổi lỗi
trước, học theo
Phải biết: Kẻ
hiểu nhân quả khi khởi tâm làm việc chỉ sợ
mắc phải tội khiên, ắt sẽ sốt sắng
hành tám đức “hiếu, đễ, trung, tín, lễ,
nghĩa, liêm, sỉ”, suy xét cùng tột tám việc “cách vật,
trí tri, chánh tâm, thành ư, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh
thiên hạ”, dẫu là trùng, kiến cũng chẳng dám giết.
Kẻ không biết nhân quả tự giết cha mẹ, c̣n
tự khoe công, cực lực đề xướng chuyện
biến con người thành loài thú, tính làm cho người
trong cả thiên hạ trọn chẳng khác ǵ cầm thú th́
tâm họ mới yên vui, sung sướng! Nhân quả chính là
phương tiện lớn lao để thánh nhân trị
thiên hạ, để Phật độ thoát chúng sanh. Nếu
bỏ nhân quả th́ thánh nhân, Phật, Bồ Tát cũng
không bày ra cách nào khác được! Hiện nay đă loạn
đến cùng cực, mong tưởng cứu văn th́ phải
chuyên chú nơi sự giáo dục trong gia đ́nh và nhân quả
báo ứng. Lúc con cái mới vừa hiểu biết, mới
bắt đầu học nói liền đem những sự
lư nhân quả báo ứng v.v… khéo léo khuyên dụ dần dần
để un đúc, ngơ hầu chúng sẽ tin sâu nhân quả
báo ứng chẳng sai sót mảy may. Đấy chính là
căn bản để đạt đến b́nh trị,
dứt trừ tai nạn vậy. Đừng cho đó là
chuyện viễn vông rồi coi thường th́ may mắn
lắm thay!
119. Thư trả lời cư sĩ
Giang Dịch Viên (bốn lá
thư)
(năm Dân Quốc 25 - 1936)
(Lúc ấy ông ta c̣n chưa mê tín chuyện cầu cơ. Đọc bốn lá thư này sẽ biết tŕnh độ Phật pháp của ông Giang. Lăo nhân (tức tổ Ấn Quang) đă khuyên lơn, chỉ dạy như thế mà vẫn chẳng thể lănh hội đôi phần th́ đủ thấy rơ ràng [tŕnh độ Phật học của ông Giang như thế nào rồi]! Người sao lục ghi)
1) Những
điều đă nói trong thư gởi đến thật
là thiết yếu, nhưng điều cần phải chú ư
từ đầu đến cuối là nhân quả, luân hồi
và giáo dục trong gia đ́nh. Giáo dục trong gia đ́nh th́ mẹ
dạy con là quan trọng nhất. Nếu lúc con cái vừa mới
hiểu biết, mẹ liền đem nhân quả báo ứng
và sự lư làm người ra giáo huấn, khi lớn lên sẽ
biết tốt - xấu, chẳng bị ác đảng, tà
thuyết mê hoặc, sẽ trở thành hiền nhân, thiện
nhân. Nếu lúc nhỏ mặc cho nó kiêu ngạo thành thói, lớn
lên không tự chủ được, sẽ ngả theo tà
thuyết, muốn quay lại đường chánh th́
trăm kẻ khó thể được một! Trong lúc hiện
nay, nếu chẳng lấy nhân quả báo ứng làm thuốc
chuyên trị để cứu nước cứu dân, dù có
làm ǵ đi nữa, vẫn chẳng có hiệu quả lớn
lao cho được! Do bọn họ chẳng chú trọng
thực hành, chỉ là dùng lời nói xuông bày vẽ cho xong
chuyện. Nhân quả chính là cách để trị cả gốc
lẫn ngọn. Phàm phu sơ phát tâm, Như Lai thành Chánh Giác
đều chẳng ra ngoài nhân quả. Kẻ cuồng coi
nhân quả là Tiểu Thừa rồi khinh miệt, tự tiện
buông lung, làm ác chẳng kiêng dè, và thơn thớt nói xuông những
lời lẽ lớn lối!
2) Sách Các
Xứ Giảng Diễn Lục[6] (Tập
sách ghi chép những bài diễn giảng tại các nơi)
nghe nói đă in rồi. Quang mục lực quá yếu, để
viết gởi đi và trả lời hai lá thư này, phải
dùng cả kiếng lăo lẫn kiếng lúp mới thấy
được lờ mờ; do vậy, chẳng thể can
dự vào [việc giảo duyệt] tập sách Giảng Lục
được! [Đối với danh vị] Xă Trưởng
Phật Quang Xă của Trương Sư Từ, Quang chỉ
mang tiếng xuông, chứ đối với việc giảng
diễn, đề từ, ghi lời bạt, sức chẳng
thể kham được! Bà tiết phụ họ
Trương dùng Đại Tạng Kinh làm pháp bảo trấn
môn để lợi sanh của Phật Quang Xă, công đức
ấy khiến cho chính bà được tăng cao phẩm
sen, cháu bà ta là Thận Tu liền được khỏi bệnh
đờm.
Nay gởi cho Thận
Tu và lệnh ái[7] Hữu Trinh mỗi
người một bao tro hương Đại Bi. Tro này
đă gia tŕ hơn ba tháng rồi. Mỗi ngày nếu ít th́ tụng
năm mươi biến, nhiều th́ bảy mươi
lăm biến. Đựng trong thùng bánh quy to, mỗi thùng
khoảng hơn mười cân[8]. Phỏng
tính đă tŕ tụng chú Đại Bi đến sáu bảy
ngàn biến. Một bao tro này có thể dùng để pha
nước được khoảng hai ba trăm lần.
Pha lần đầu nên dùng một phần hai mươi
[lượng tro ấy] bỏ trong chén lớn, dùng nước
sôi để ḥa, khuấy lên, đợi cho chất tro lắng
xuống, đem nước ấy đổ vào trong bầu
hay trong b́nh, mỗi ngày uống ba lần. Hăy nên ăn chay,
thường niệm thánh hiệu “Nam-mô Quán Thế Âm” ắt
sẽ có công hiệu thần diệu. Sau khi bệnh lành hẳn
rồi, nên pha ít đi, không cần phải uống một
phần hai mươi giống như trước nữa.
Nếu không tin, không chí thành sẽ vô hiệu!
Người phú quư lắm
bệnh, một là v́ chẳng chịu cất tay nhắc
chân làm chuyện ǵ, huyết mạch không thông suốt; hai là
v́ ăn nhiều các món huyết nhục, nếu gặp phải
món có chất độc th́ họa hoạn chẳng nhỏ,
không chừng bị mất mạng! Dẫu là con vật
không độc, nhưng do lúc nó bị giết, hận tâm kết
lại, nên [thịt nó] có độc tánh. Tuy chẳng có tác dụng
giết chết người ngay lập tức, nhưng chất
độc tích lại lâu ngày, ắt sẽ phát ra thành ghẻ,
thành bệnh. Bà Trầm nhà họ Trương chịu để
cho Thận Tu kiêng giết, ăn chay th́ bệnh đờm
sẽ được lành ngay! Số tro c̣n dư nên để
thờ ở phía dưới khám thờ Phật hoặc
treo nơi cao ráo, sạch sẽ, để pḥng khi bất
ngờ cần đến và tùy tiện dùng để cứu
giúp những chứng bệnh nguy hiểm, chớ nên khinh lờn!
Chất tro đă đem dùng để ḥa nước xong,
hăy nên trộn với nước trát lên nóc nhà để tỏ
ḷng kính trọng. Đây chính là “nước Đại Bi khô”[9] có
thể gởi đi phương xa, có thể giữ lâu
năm được. Ở chỗ ông, nếu không phải
là chứng bệnh cực nguy hiểm, đừng đem
cho!
Hàng tôi tớ phần
nhiều không biết tốt - xấu, làm lụng trong nhà
giàu có hay nhà người khác, chẳng biết quư tiếc gạo
thóc, vật dụng, đấy chính là chuyện hao phước,
tổn thọ, hằng ngày chẳng biết [làm như vậy]
bao nhiêu lần! Gần đây, nghe ông Tào Tung Kiều nói: “Có
một tiên nhân dựa vào thân người khác để chẩn
bệnh, một bà vú thuộc một nhà giàu có nọ, gần
như bán thân bất toại cũng đến xin xem bệnh.
Bà ta chưa đến trước mặt, tiên nhân đă nói:
‘Ngươi khỏi đến! Ngươi phung phí cơm
gạo, thức ăn của chủ nhân quá nhiều, chẳng
bao lâu nữa toàn thân sẽ điên cuồng, tê liệt mà chết!’
Nên đem lời này kể với hai cô con gái [Hữu] Trinh
và Chiêu Nga của ông để họ biết mến tiếc
đồ vật của chủ nhân, vun bồi phước
thọ của chính ḿnh, cũng như có thể đem công
đức ấy hồi hướng văng sanh.
Mấy hôm trước,
ông Phí Phạm Cửu tới đây, cho biết Hiếu
Nhược và con gái ông ta là Sán Vũ chết hết sức
thê thảm. Cư sĩ Dịch Viên khuyên nhà họ làm công
đức siêu độ, do đấy bèn bỏ ra bốn
trăm đồng, đem hai trăm đồng giao cho
Quang để in sách thí tặng giùm cho họ, hai trăm
đồng nhờ Linh Nham đả Phật thất. Ngay
khi ấy, liền bảo ông Trần Thự Đ́nh thuộc
Hoằng Hóa Xă hăy gởi thư cho Dịch Viên nói Quang đă
dùng hết số tiền hai trăm đồng để
gởi sách cho họ Giang ngơ hầu ông ta tùy cơ thí tặng.
Nên gởi loại sách nào nhiều, loại nào gởi ít,
đợi khi Giang cư sĩ gởi thư đến sẽ
gởi đi. Dùng tiền tài của nhà họ Trương
để làm lợi người làng họ Trương, vô
cùng ổn thỏa, chẳng biết thư đă gởi tới
hay chưa?
Đến tối,
Quang có ư lập cho Hiếu Nhược, Sán Vũ mỗi
người một bài vị, hai người tổng cộng
là một trăm đồng, dùng một trăm đồng
để đả Phật thất. Tính sáng hôm sau khi ông
Phí lên núi sẽ nói. Sau bữa điểm tâm sáng hôm sau, hỏi
đến th́ ông ta đă đi rồi, chẳng thể trở
về trong một hai ngày được, chỉ đành
để ông ta đi thôi. Bài vị ở Linh Nham đặt
trong Niệm Phật Đường, suốt năm được
Phật hiệu ngầm huân tập, so với những chỗ
khác thờ trong căn pḥng lạnh lẽo, hết sức
khác biệt! Tất cả mỗi người cúng dường
ba mươi lăm đồng, không cần gởi đến
nữa, hăy dùng để chi tiêu cho Phật Quang Xă. Quang mang
tiếng Xă Trưởng xuông, cũng chẳng thể không
đem công đức của người khác để thay
cho người khác làm chuyện công đức.
3) Thư
lần trước và một gói sách nhỏ đă nhận
được rồi. Ba mươi lăm đồng vốn
tính gởi về cho Phật Quang Xă chi dụng, hôm qua nhận
được thư và thông báo từ ngân hàng, mới biết
[thư từ trao đổi giữa] đôi bên đều đến
trễ quá! Tới chiều, ông Thành Dực Thanh đến,
nói Giang Tô bị thủy tai nặng nhất trong cả
nước. Ông này là môn sinh của Phùng Mộng Hoa,
Vương Ấu Nông, nhiều năm lo liệu việc
phát chẩn, khá có tiếng tăm. Quang bèn lấy ba
mươi lăm đồng đó, lại thêm vào năm
đồng, thành ra bốn mươi đồng, giao cho
ông Thành. Ông ta hỏi biên nhận đề tên ai, Quang nói:
“Giữa ông và tôi cần ǵ biên nhận?” Ông ta đáp: “Phải
giao cho hội tính sổ”. Quang nói: “Tùy ư ông đề tên Dịch
Viên hay Ấn Quang đều được!” Thư trước
cho biết Phí Phạm Cửu đă đi Linh Nham, chưa gặp
mặt Quang, ba hôm sau trở về, ngủ lại một
đêm, sáng sớm hôm sau hỏi đến, ông ta đă
đi rồi! Phàm mọi chuyện đều có nhân duyên, chẳng
thể miễn cưỡng. Hết thảy tùy duyên, chớ
nên bận ḷng v́ đó, bận ḷng sẽ đâm ra bị mệt
mỏi, cho nên chẳng bằng tùy duyên sẽ giải thoát
hơn!
4) Bài
Đại Học Tụng giải thích về Quán, về Chỉ
chẳng thích đáng lắm. Thầy Đức Sâm nói:
“Đối với Tục Đế trong Tam Đế và Giả
Quán trong Tam Quán dường như cư sĩ chưa hiểu
sâu xa”; do vậy liền mở trang đầu của sách
Giảng Diễn Lục đă in lần trước ra xem.
Những điều được nói [trong trang sách ấy]
tuy có đạo lư, cũng có thể dẫn dắt người
khác tiến vào chỗ thù thắng, nhưng đối với
thật nghĩa của Không và Giả, chưa hoàn toàn phù hợp
khít khao!
Tam Quán, Tam Đế
chính là cương yếu của Phật pháp. Nói theo lư tánh
th́ gọi là Đế, Đế tức là Lư. Nói theo mặt
tu tŕ th́ gọi là Tam Quán, Quán tức là Tu. Chân Đế: Một
pháp chẳng lập, Tục Đế: Vạn pháp trọn
đủ! Quán cái lư nơi Chân Đế th́ gọi là Không
Quán. Quán cái lư nơi Tục Đế th́ gọi là Giả
Quán. Không Quán chính là quán Chân Như Pháp Tánh “một pháp chẳng
lập”, điều này chính là cái Không “chẳng có cả
Không lẫn Hữu”. Đấy chính là tướng Không
trong “chư pháp Không tướng”
của Tâm Kinh. Chẳng những Sắc Không, Không Không, mà Bồ
Đề, Niết Bàn cũng không, nếu có một pháp nào
chẳng không sẽ chẳng thể gọi là Chân Không. Cái
không này của Không Quán trong Tam Quán sao có thể hiểu là “muôn
sự chẳng quan tâm, chẳng làm” cho được? Tục
của Tục Đế chẳng phải là tục theo kiểu
thô tục hay nhă tục, mà do v́ tạo dựng, đặt
bày nên gọi là Tục. Giả cũng chẳng phải là
giả trong Chân - Giả (thật - giả), mà cũng là cái
giả của sự tạo dựng, đặt bày. Phép
quán nhằm quán lư của Tục Đế được
gọi là Giả Quán v́ tánh thể của Chân Đế là “chẳng
lập một pháp” nhưng có công đức trọn đủ
sáu độ, vạn hạnh, các pháp toàn vẹn. Đây
chính là “chư pháp” trong câu “chư pháp Không tướng”
(tướng Không của các pháp) của Tâm Kinh, sao lại
coi đó là phàm phu cho được? Phàm phu thuộc về
hai đế Khổ và Tập, c̣n Không và Giả đây thuộc
đạo lư viên diệu của Viên giáo, Nhị Thừa c̣n
chẳng có phần, huống ǵ phàm phu?
Hơn nữa, trang ba mươi nói đến chuyện cậy vào tự lực, dùng tự lực để tu đạo, từ nhân gian sanh lên cơi trời cho đến Vô Sắc Giới Thiên, gọi đó là “thụ xuất tam giới” (vượt tam giới theo chiều dọc). Câu nói này cũng không trọn vẹn! Cậy vào tự lực th́ phải đoạn hết sạch Kiến Tư phiền năo trong tam giới, hàng lợi căn có thể đoạn được ngay trong đời này, c̣n độn căn th́ trước hết phải đoạn phiền năo trong Dục Giới, sanh lên Sắc Giới. Kế đó, đoạn phiền năo trong Sắc Giới, sanh lên Vô Sắc Giới. Măi cho đến khi đoạn hết sạch phiền năo trong Vô Sắc Giới, chứng Chân Đế Niết Bàn, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh vậy! Chư thiên trong tam giới ngoại trừ các vị đại Bồ Tát thuộc Đâu Suất Nội Viện (sanh về Nội Viện[10] đều là Pháp Thân đại sĩ) và tam quả thánh nhân thuộc năm tầng trời Bất Hoàn (Ngũ Bất Hoàn Thiên) là Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh th́ đều là người trong lục đạo luân hồi, chẳng thể coi sanh lên Vô Sắc Giới Thiên là đă thoát tam giới! Uất Đầu Lam Phất[11] tu Phi Phi Tưởng Định trong núi non, lũ chim làm ồn, chẳng thể đắc Định, dời sang bờ biển, cá lớn trong biển đánh nhau chẳng thể đắc Định; do vậy, sanh phẫn hận, có ư niệm giết sạch chim và cá. Về sau, [tu] Định thành tựu, sanh lên trời Phi Phi Tưởng, thọ tám vạn đại kiếp, sau khi hết phước trời, đọa làm con phi ly (chồn bay), vào rừng ăn chim, xuống nước ăn cá! V́ thế, phải phân biệt sự khác biệt giữa chuyện sanh lên trời do y theo Phật pháp tu tŕ đoạn Hoặc chứng Chân và chuyện sanh lên trời do tu phước thế gian hay tu Thiền Định thế gian để người đọc chẳng đến nỗi hiểu lầm! (Sách Giảng Diễn Lục hoàn toàn do Trần Thự Đ́nh giảo chánh, đối chiếu, lo liệu lưu thông)
120. Thư trả lời Huệ Không
đại sư
(năm Dân Quốc 25 - 1936)
Chiều
hôm qua nhận được thư Sư, đối với
chuyện Sư đến chùa Báo Quốc, Quang hoàn toàn quên
khuấy. Đọc thư Sư gởi đến, thấy
vẫn c̣n lấy tri kiến Tông Môn làm chủ, đối với
pháp môn Tịnh Độ vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng!
Do vậy, chỉ cầu tương ứng đến nỗi
ma cảnh dấy lên. Pháp môn Niệm Phật dùng tín nguyện
làm tiên phong. Nếu không có ḷng tin chân thật, nguyện thiết
tha, đừng nói “không tương ứng chẳng thể
văng sanh”, dù có tương ứng cũng chẳng thể quyết
định văng sanh được! Nhất tâm bất loạn
và Niệm Phật tam-muội cũng chẳng dễ ǵ
đạt được. Nếu có ḷng tin chân thật,
nguyện thiết tha, dẫu chưa được
tương ứng vẫn có thể văng sanh, huống ǵ
đă tương ứng! Sư chỉ biết cầu
tương ứng, hơi có chút khí phận tương ứng,
bèn sanh ḷng hoan hỷ tán thán, đấy cũng là hiện
tượng chẳng tương ứng, cho nên mới có tướng
lạ lùng hiện ra! Người tu hành kỵ nhất là
được chút ít đă cho là đủ. Được
chút ít đă cho là đủ bèn sanh ḷng thoái đọa, đấy
là lư nhất định! Mong Sư chỉ nên nhất tâm niệm,
đừng sanh nghi sợ “chẳng tương ứng sẽ
không được văng sanh!” Tất cả cảnh giới
đều chẳng quan tâm đến, cũng chẳng cần
biết người ta chết tốt đẹp hay khổ
sở; ngoại trừ chuyện niệm Phật ra, chẳng
để cho niệm thứ hai nào dấy lên. Có như vậy
th́ mới có thể đạt được lợi ích
quyết định văng sanh.
Nếu quá sợ lúc chết
gặp đủ mọi chướng ngại chẳng nên
có; do vậy, bèn tính nhịn đói đả thất th́
chuyện này nguy hiểm cùng cực. Ăn cơm no c̣n
chưa thể tương ứng, đến lúc đói gần
chết làm sao tương ứng cho được? Nếu
cứ muốn nhịn đói đả thất, xin hăy xuống
núi qua chỗ khác mà làm, Linh Nham nhất quyết chẳng chấp
nhận biện pháp này. Sư hoàn toàn noi theo lối ṃn vọng
tưởng để cầu tương ứng. Nếu
chịu buông toàn bộ hết thảy vọng tưởng
xuống, ắt sẽ bệnh lành, thân yên. Dẫu tuổi
thọ đă tận, cũng sẽ chánh niệm rỡ ràng,
theo Phật văng sanh. Người niệm Phật chẳng
được có ư niệm [mong mỏi] đời kế
tiếp, đời sau. Tâm văng sanh của Sư c̣n chưa
chuyên nhất th́ chắc chắn sẽ không thể không thọ
sanh trong lục đạo nơi thế giới này!
121. Thư gởi cư sĩ Quách Phụ
Đ́nh
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Hôm qua nhận
được thư, biết lệnh nghiêm đă về
Tây trong ngày Hai Mươi Tám tháng trước, khôn ngăn cảm
khái, than thở. Cố nhiên trong đời trước lệnh
nghiêm đă có vun bồi, nên trong đời này tay trắng
làm nên sự nghiệp, giàu có cự vạn, thọ quá tuổi
“cổ hy” (bảy mươi), con cháu đầy nhà, b́nh
sinh ưa làm lành không mệt mỏi, hộ tŕ Tam Bảo. Nếu
có tín nguyện sẽ văng sanh Tây Phương. Nếu không có
tín nguyện, chắc sẽ sanh lên trời, hoặc sanh
trong nhà đại phú quư cơi nhân gian để hưởng
đại phước. Nhưng phước thế gian chẳng
thường hằng, hăy nên bảo các hiếu quyến đều
cùng nhau chí tâm niệm Phật, để mong cụ chưa
được văng sanh liền được văng sanh,
đă văng sanh sẽ tăng cao phẩm vị, đấy mới
là ḷng hiếu có ích. Ai nấy hăy nên bớt đau
thương niệm Phật, đừng học theo người
đời chỉ cốt sướng tai khoái mắt
người khác, chẳng màng thần thức của cha mẹ
có được lợi ích hay chăng?
Hơn nữa, lúc lệnh
nghiêm c̣n sống đă tin vào Phật pháp, nay ma chay cho cụ,
theo đúng lư, hăy nên thuận theo chí của cụ lúc sinh tiền,
nhất loạt đừng dùng đồ mặn. Phàm tế
thần, cúng linh, đăi khách đều dùng món chay, điều
này đem so với phóng sanh, công đức càng lớn
hơn. Nếu chẳng dùng đồ chay th́ xong đám tang
này, số lượng sanh mạng bị giết quá nhiều.
Nỡ nào v́ bọn ta thể hiện ḷng hiếu mà khiến
cho cha mẹ ta phải kết sát nghiệp với vô số
sanh mạng ấy?
Năm Dân Quốc 13 (1924),
tiên sinh Châu Ngọc Sơn mất (vị này từng
làm Tổng Đốc Lưỡng Giang), con ông là Tập Chi quen biết với Quang, gởi
cho Quang một tờ cáo phó. Quang khuyên đừng dùng đồ
mặn. Do ông ta là quan chức có tiếng tăm rất lớn,
nếu dùng đồ mặn sẽ chẳng tránh khỏi
“làm cho cha nở mày nở mặt lại hóa thành gây lụy
cho cha!” Thư Quang gởi đến, ông Tập Chi chẳng
quyết đoán, bảo những người lo việc bàn
bạc. Những kẻ lo việc toàn là bọn tham ăn tục
uống, đều chẳng tán thành dùng món chay. Thiết lễ
điếu tang tại Thiên Tân, [khách viếng tang] ngồi
hơn bốn ngàn bàn. Năm sau, rước linh về đất
Hoàn (An Huy): Đến Nam Kinh làm lễ điếu tang, tới
Vu Hồ (thuộc tỉnh An Huy) lại làm lễ điếu
tang, về đến nhà lại thiết lễ điếu
tang. Con cháu ḍng trưởng làm lễ điếu tang tại
Dương Châu. Chỉ năm lần thiết lễ điếu
tang này, những sanh mạng bị giết đă chẳng
thể tính nổi số. Chôn cất xong, trở về
Thiên Tân, có kẻ cầu cơ, tiên sinh Ngọc Sơn giáng
đàn, đau đớn oán hận người nhà dùng
đồ mặn, nói công đức thuở làm quan khi c̣n sống
đă bị tiêu diệt hết mà vẫn chưa đủ
[để bù đắp cái tội ấy]!
Tập Chi quá sức hối hận nhưng không làm sao được, muốn lập một đại tùng lâm tại Thiên Tân để chuộc lỗi. Đă chọn được cuộc đất thỏa đáng rồi, gặp phải cuộc chiến ở Phụng Thiên - Trực Lệ[12] nổ ra, vẫn chưa thực hiện được, chỉ t́m cách kết những duyên nho nhỏ, ngơ hầu người lui tới có chỗ nghỉ ngơi mà thôi. Lệnh nghiêm khá có duyên với Quang, cư sĩ cũng có duyên với Quang. Trong lúc này, Quang chẳng v́ cư sĩ nói chuyện lợi - hại này th́ là thiếu sót t́nh bè bạn. Sợ cư sĩ có thể nghĩ là chuyện không quan trọng, khẩn yếu, nên dẫn đầy đủ chuyện của Châu Tập Chi để chứng minh. Đối với chuyện làm Phật sự, hăy nên coi niệm Phật là bậc nhất; những chuyện khác đều là bày vẽ bề ngoài cho dễ coi mà thôi. Trong khóa tụng sớm - tối, Quang đọc tên của lệnh nghiêm để hồi hướng trong hai mươi mốt ngày. Do đối với bạn thân thiết, Quang đều một mực chẳng làm theo lễ nghi thế tục, chỉ dùng niệm Phật để hồi hướng nhằm biểu lộ t́nh bạn mà thôi! (Cầu cơ là tác dụng của linh quỷ, trong ấy có khi là thật, nhưng Quang chẳng tán thành cầu cơ, xin đừng hiểu lầm)
122. Thư trả lời cư sĩ Trác
Nhân
(năm Dân Quốc 16 - 1927)
Nhận
được thư khôn ngăn mừng rỡ, an ủi.
Tự phản tỉnh được như thế th́
trong đời này, thật hiếm mấy ai! Nếu có thể
thẳng tiến chẳng lùi th́ cái đạo của lệnh
nghiêm, đạo của Khổng - Mạnh, đạo của
Phật, của Tổ, đều có thể đích thân thật
sự chứng được. Nhưng đối với
đồ ngọt, gịn, béo, nồng vẫn chưa thể
buông xuống được, nếu ước theo lư luận
bên Nho, vẫn chưa là chuyện khẩn yếu lớn lao;
nhưng nếu ước theo lư luận nhà Phật, đấy
chính là làm ác, chứ chẳng phải chỉ là ư ác! Năm
Dân Quốc thứ 10 (1921), Quang đến Nam Kinh, ông Ngụy
Mai Tôn (làm quan Hàn Lâm, lúc ấy đă sáu mươi tuổi) nói với Quang: “Đối với Phật
pháp, tôi cũng tin tưởng, cũng chịu niệm Phật,
sách Văn Sao của Sư tôi cũng đă đọc rồi,
nhưng ăn chay chưa được!” Quang nói: “Người
phú quư khó quên tập khí, ông muốn ăn chay xin hăy đọc
kỹ bài Sớ Quyên Mộ Lập Ao Phóng Sanh tại Nam Tầm,
hăy đọc nhiều lượt sẽ tự có thể
không ăn thịt”. Nói lời ấy vào ngày Mười Hai
tháng Tám, đến tháng Mười là ngày sinh nhật sáu
mươi tuổi của ông ta, sợ thương tổn
t́nh cảm người khác, ông qua Kim Sơn dự sinh nhật,
về nhà liền ăn chay trường.
Năm sau, lại đề
xướng mở chùa Pháp Vân làm đạo tràng niệm Phật
phóng sanh, nay ông ta đă sáu mươi sáu tuổi rồi,
nhưng đối với sự nghiệp từ thiện
chẳng hề tiếc tinh thần, cực lực đề
xướng, như lập Viện Mồ Côi, như thí cháo
mỗi năm, như trong hai năm gần đây, chiến
sự phát sanh, ông đă thâu gom những người già cả,
yếu đuối, phụ nữ về nuôi trong chùa Pháp
Vân, dựng mấy chục gian chái cho họ ở, nấu
cháo cho họ [ăn]. Chiến sự kết thúc, tùy theo họ
ở xa hay gần mà cấp lộ phí để họ quay
về. Lần đầu là hơn một ngàn người,
lần sau là hơn hai ngàn người. Mỗi ngày ăn
cháo xong, dạy họ ai nấy niệm Phật và niệm
Quán Âm. Ba bốn lần giao tranh, trọn không có một ai bị
thương, chẳng một ai đổ bệnh, cũng
có thể gọi là khó có!
Các hạ đang độ
tráng niên, lại có chí lớn, có thể tự phản tỉnh
suy xét, tự trách lỗi. Nếu có thể tự cường
chẳng ngơi th́ sống sẽ dự vào bậc thánh, mất
sẽ lên cơi Như Lai là điều chắc chắn! Đừng
coi đạt được điều nhỏ là đủ,
đừng nghĩ lỗi nhỏ không ăn nhằm ǵ! Đừng
coi “tự tánh Di Đà” là rốt ráo, rồi chẳng niệm
đức Phật Di Đà ở Tây Phương, đừng
chỉ cầu đức Phật thầm gia hộ rồi
đối với đức Phật do chính ḿnh cảm
được trong tâm chẳng sốt sắng tu hành, th́
đối với chuyện đạt được ba mối
đạo như Quang đă nói đó (tức đạo của
cha, đạo của Khổng Mạnh và đạo của
Phật, của Tổ), xin chúc mừng các hạ trước!
Hơn nữa, thời thế hiện nay đă bại hoại
đến cùng cực, nguyên do là v́ chẳng biết nhân quả
báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh. Muốn văn hồi
th́ hăy nên chú trọng hai pháp này, nhưng giáo dục trong gia
đ́nh cần phải chú trọng nhất vào nhân quả
báo ứng, v́ nhân quả báo ứng có thể chế ngự
được ḷng người. Ngoại trừ cách này ra,
thực hiện bằng bất cứ cách nào đều là
hết thuốc chữa, v́ tâm chẳng thay đổi thành
tốt lành th́ một pháp vừa lập, trăm điều
tệ chen chúc nhau nẩy sanh!
123. Thư trả lời cư sĩ Trần
Huệ Tân
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Công khóa
tu tŕ hăy tùy cơ mà lập, càng đơn giản càng hay. Nếu
đều là những người tu lâu th́ chẳng ngại
ǵ y theo Thiền Môn Nhật Tụng mà niệm. Nếu nhiều
kẻ sơ tâm th́ bất luận sáng hay tối đều
có thể niệm kinh A Di Đà, chú Văng Sanh, rồi niệm
Phật. Sáng tối đều như vậy, trong ban ngày niệm
như vậy cũng được. Nếu không niệm
kinh chú th́ có thể bắt đầu bằng kệ tán Phật
cũng được. Phải biết: Tất cả công
khóa đều lấy niệm Phật làm chủ, kinh chú là
khách! Biết nghĩa này rồi, lại phải căn cứ
theo khả năng của thành viên trong Cư Sĩ Lâm để
lượng định sao cho thích nghi, chứ Quang làm sao có
thể định riêng một chương tŕnh để
mọi người đều dựa theo được?
Tùng lâm trong thiên hạ đều chiếu theo Thiền Môn
Nhật Tụng, nhưng chùa Tây Phương thuộc xă Từ
Khê, [thành phố] Văn Khê, sáng tối đều niệm
kinh Di Đà; do vậy, chớ nên luận định một
cách chấp trước!
Điều không thể
chỉ có chút ít mà phải [hết sức] khuếch
trương chính là tông chỉ gồm ba món Tín - Nguyện -
Hạnh. Nếu dùng cách tham cứu của nhà Thiền “người niệm Phật là
ai?” th́ chính là tham Thiền cầu khai ngộ, hoàn toàn
đánh mất tông chỉ Tịnh Tông. Điều này quan hệ
lớn nhất, quan trọng nhất. Con người
thường hay mạo danh Thiền Tịnh Song Tu, nhưng
tận lực chú trọng tham cứu sẽ đạt
được lợi ích hữu hạn (niệm
đến chỗ cùng cực cũng sẽ khai ngộ), đánh mất lợi ích vô cùng, v́ chẳng
chú trọng tín nguyện cầu sanh sẽ chẳng thể
cảm ứng đạo giao cùng Phật. Dẫu có đích
thân thấy được “người niệm Phật là
ai” cũng khó được Phật tiếp dẫn văng
sanh Tây Phương, v́ không có cái tâm tín nguyện cầu sanh!
Lại chưa đoạn Phiền Hoặc nên chẳng thể
cậy vào tự lực để liễu sanh thoát tử.
Kẻ ưa ăn nói lớn lối đều do chẳng
biết nghĩa này. Pháp môn Tịnh Độ vượt trỗi
hết thảy các pháp môn ở chỗ cậy vào Phật lực;
những pháp môn khác đều cậy vào tự lực. Tự
lực há có thể sánh cùng Phật lực mà luận ư?
Đấy chính là một mấu chốt quan trọng nhất
trong pháp môn Tịnh Độ!
124. Thư trả lời cư sĩ Tống
Đức Trung hỏi đốt kinh là công hay tội
(năm Dân Quốc 20 – 1932. Đính kèm
nguyên thư)
Trong mục lục sách vở của
Phật Kinh Lưu Thông Xứ của Thượng Hải Công
Đức Lâm, nơi trang tám mươi ba có nói đến
tám công dụng của việc thiêu kinh Kim Cang viết bằng
chữ son. Đức Trung cho rằng những hành vi
được nói trong hạng mục này trái nghịch ư chỉ
đức Phật, công ít, tội nhiều, kính thỉnh
đại sư giải thích.
Kinh Phật
trọng nơi thọ tŕ, chưa từng nghe dạy
đem đốt đi! Dù bảo là đốt đi sẽ
có ích cho cô hồn và cho người đă khuất đang
được cầu siêu, vẫn là chuyện công chẳng
bù được lỗi, huống hồ là vô ích! V́ sao nói
như vậy? Phàm những kẻ thiêu kinh phần nhiều
đều thiêu trong dụng cụ để đốt giấy
vàng mă, tro ấy lại đem bán lẫn với tro giấy
vàng mă. Những kẻ mua tro đó đem về, gạt bỏ
sạch hết tro giấy đi, chỉ giữ lại tro
vàng mă. Như vậy th́ tro kinh chẳng thể không bị
quăng vào rác rưởi hay sao? Có ai chịu phí công lập
riêng một đồ đựng, phía dưới lót giấy
thiếc, đặt kinh vào giữa, phía trên lại bịt
những tờ giấy thiếc. Đốt giấy thiếc,
kinh sẽ cháy theo, do phía trên có bọc giấy thiếc nên
tro kinh chẳng đến nỗi bay lung tung ra ngoài. Đợi
đến khi cháy hết, đă nguội rồi, hốt tro
ấy bỏ vào trong túi vải mới, bỏ thêm cát sạch
hoặc đá sạch vào trong, may miệng túi lại. Nếu
có thân hữu hết sức đáng tin cậy đem ra biển,
hoặc đem ra sông lớn, tới chỗ sâu nhất gieo
xuống th́ chẳng mắc lỗi khinh nhờn. Nếu chiếu
theo cách đốt vàng mă b́nh thường, rồi lại
c̣n bán tro giấy, tôi sợ rằng mắc tội vô lượng,
công chẳng được mấy!
Phàm làm
các Phật sự đều phải làm bằng ḷng thành
kính th́ mới có sự cảm thông. Những kẻ thiêu kinh
kia chỉ biết thiêu mà thôi, có bao giờ nghĩ đến
chuyện này? Các kinh Đại Thừa đều khen ngợi
công đức biên chép, thọ tŕ, đọc tụng, chẳng
hề nghe khen ngợi thiêu kinh có công đức! Nếu thật
sự có công đức, vẫn chẳng nên duy tŕ phong tục
này; v́ rất có thể là kẻ vô tri hiểu lầm sẽ
chú trọng thiêu kinh, chẳng chú trọng thọ tŕ! Kinh Kim
Cang đă thiêu được, lẽ nào các kinh Đại
Thừa khác chẳng thể thiêu được? Kẻ giàu
có nhưng vô tri ắt sẽ tạo nghiệp thiêu kinh vô
cùng vậy! Chuyện này Bất Huệ hoàn toàn chẳng tán
thành, tuy nghe người ta nói có đại cảm ứng, vẫn
chẳng thốt ra một tiếng nào tán dương, bởi
sợ tạo thành mối tệ vô cùng!
Thế gian thường
hay đem chú Văng Sanh viết thành h́nh tṛn, đem khắc rồi
in ra, đặt tên là Văng Sanh Tiền, lắm kẻ đem
thiêu [tiền ấy] thí cho cô hồn. Năm Quang Tự mười
sáu (1890), tại chùa Long Tuyền ở Bắc Kinh, vào buổi
sáng sớm Quang ra ngoài cửa tam quan, thấy trong đống
tro giấy và tro vàng bạc của lễ Phóng Diệm Khẩu
hồi đêm có một xấp giấy Văng Sanh Tiền dày
hai tấc chỉ cháy một nửa. Nếu tôi không thấy
th́ người hầu quét dọn, sợ rằng cũng bị
quét vào đống rác luôn! Do vậy, biết được
rằng: Cái lỗi thiêu chú ấy không chỗ nào chẳng
có! Có vị Tăng phóng Mông Sơn, dùng ngân phiếu và tiền
giấy kẹp tiền Văng Sanh vào trong, xếp thành h́nh một
đầu to đầu nhỏ, đợi đến khi
Xuất Sanh[13] sẽ đốt.
[Khi lửa cháy] gần tới tay sẽ quăng xuống
đất. Trong ấy thường có chữ chưa cháy hết.
Dù cháy hết, tro ấy hoàn toàn bị quăng xuống
đất, há không có lỗi hay sao? Đây chính là điều
chính mắt Bất Huệ trông thấy.
V́ thế, biết rằng:
“Một pháp đă lập,
trăm mối tệ chen chúc nẩy sanh” chính là lời
chân thật vậy! Phàm mọi chuyện phải lo sao cho
lâu ngày về sau chẳng có điều tệ th́ mới tốt
lành, thỏa đáng được. Thiêu kinh dẫu có công
đức, chỉ sợ do kẻ chẳng cẩn thận
lo liệu th́ chuyện công đức đâm ra thành chuyện
tội lỗi, huống chi chưa chắc đă thật sự
có công đức ư? Bất Huệ hiểu biết
như thế đó. Đối với bậc đại
thông gia th́ hết thảy vô ngại, pháp nào cũng viên
thông, chứ đối với cái trí hèn kém, thấy biết
nhỏ nhoi của Bất Huệ th́ chẳng thể nào như
vậy được. Những ǵ Bất Huệ nói chỉ
là ước theo phân lượng của Bất Huệ
để làm chuẩn mà thôi!
125. Thư trả lời cư sĩ Kim
Ích B́nh (hai lá thư)
1) Muốn
quy y Phật pháp, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập
thánh, cần phải nên gắng sức trọn hết
đạo luân thường. Nếu chẳng thể giữ
vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng
giữ các điều lành th́ căn bản đă khiếm
khuyết, chẳng tương ứng với Phật, làm
sao có thể được Phật rủ ḷng từ tiếp
dẫn ḥng đới nghiệp văng sanh? V́ vậy, phải
nên hiếu với cha mẹ, kính bậc tôn trưởng,
đối với anh em trai, chị em gái, vợ chồng,
chủ tớ mỗi mỗi đều phải trọn hết
chức trách, bổn phận của chính ḿnh. Đối với
những điều đă được đề cao
đều trọn hết chức trách, bổn phận th́
chính là hiền nhân, thiện nhân trong thế gian. Người
hiền thiện niệm Phật sẽ dễ cảm
được Phật. Muốn liễu sanh tử, chẳng
thể không chú ư đến luân thường!
Lại phải nên dựa
theo những ǵ kinh điển Tịnh Độ đă dạy
để sanh ḷng tin, phát nguyện, chuyên tâm niệm Phật,
quyết định sanh về Tây Phương ngay trong
đời này, trọn chẳng khởi tâm cầu phước
báo nhân thiên trong đời sau. Phật xem hết thảy
chúng sanh như con một, hăy nên kiêng giết, ăn chay, yêu
tiếc sanh mạng loài vật, dùng điều này để
tự hành, lại c̣n dạy người. Phàm trong gia
đ́nh, cha mẹ, anh em trai, chị em gái, thê thiếp, con
cái, ngoài là xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu
đều nên nói cho họ biết về lợi ích niệm
Phật: Đời này tiêu trừ tai chướng, tăng
trưởng phước thọ, mạng chung sẽ
được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây
Phương. Gần đây thế đạo loạn đến
tột cùng, phàm những ai tin Phật, niệm Phật,
thường gặp dữ hóa lành. Họa hoạn hiện
thời có tránh cũng không thể tránh được, có ngừa
cũng không thể ngừa! Nếu có thể chí thành niệm
Phật, sẽ âm thầm chẳng gặp phải tai họa!
Có lợi ích to lớn như vậy, nỡ nào chẳng cho
cha mẹ, anh em v.v… của ta và hàng xóm, láng giềng v.v… biết
đến ư? Nhưng muốn cảm hóa người
khác th́ chính ḿnh phải thật hành mới được!
Nếu chính ḿnh tuy niệm Phật, nhưng đối với
chuyện giữ vẹn luân thường, tận hết bổn
phận, suy nghĩ, xử sự phần nhiều chẳng
đến nơi đến chốn, sẽ khó thể cảm
thông!
Nay đặt pháp danh
cho ông là Tông Thành. Tông là chủ, Thành là chân thật. Nếu
đối với mỗi chuyện ông đều có thể
lấy chân thành làm chủ th́ lâu ngày chầy tháng ai nấy
đều nh́n theo [bắt chước] nhau làm lành, đấy
gọi là “thành chi sở chí, kim
thạch vị khai” (ḷng thành đến cùng cực,
đá vàng cũng nứt), huống ǵ là người đồng
loại ư? Hăy nên thường xem Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giải[14], Gia Ngôn Lục, Cảm
Ứng Thiên Trực Giảng. Từ nhỏ đă dạy
cho con cái thường đọc Cảm Ứng Thiên. Bài
văn ấy mỗi ngày đọc dăm ba lượt, tối
thiểu phải đọc một lần. Đọc suốt
cả một đời này, lại đọc sách Trực
Giảng, hành theo đó sẽ tự có thể dự vào bậc
chánh nhân quân tử.
Quang già rồi, chẳng
nên thường gởi thư đến nữa. Muốn
xem những sách nào, hăy thỉnh từ Hoằng Hóa Xă, đừng
thuận tiện gởi thư cho tôi. Ông chịu hành theo Gia
Ngôn Lục, Văn Sao v.v… th́ cần ǵ một hai bức
thư nữa? Mùa Đông năm ngoái đă in ba toa thuốc
cai thuốc phiện, cực linh nghiệm, c̣n toa thuốc
trị bệnh sốt rét chẳng tốn một phân tiền
mà không ai chẳng trị được lành, nay gởi kèm
ba trang theo thư, xin hăy bảo với hết thảy mọi
người ngơ hầu con quỷ gây bệnh sốt rét chẳng
làm khó người ta nữa th́ lợi ích lớn lao thay!
2) Đă
biết hổ thẹn sám hối, cớ sao vẫn hành
động y như cũ, ác chẳng thấy giảm, thiện
chẳng thấy tăng vậy? Không có chi khác cả! V́ tâm
chẳng chí thành vậy! Nếu tâm lấy chí thành làm chủ,
lẽ nào biết rồi mà vẫn cố phạm? Biết
mà tâm vẫn cố phạm là v́ tâm thật ra chẳng có
ḷng thành khẩn, quyết định đổi lỗi
hướng thiện mà ra! Chính ông đă muốn làm hiền
nhân, thiện nhân th́ tự có thể xa ĺa tập khí ác. Kẻ
chẳng thể xa ĺa là v́ tâm chẳng quyết định;
nếu hời hợt, chơi vơi, chần chừ, khinh
mạn sẽ khó tránh khỏi quay về đường
cũ!
Từ rày, đừng
gởi thư đến nữa, ông chẳng chịu chân thật
khắc phục, trừ khử ḷng riêng tư của chính
ḿnh, dù tôi khai thị, rốt cuộc có ích lợi chi
đâu? Nếu ông chịu sốt sắng tự suy xét tội
lỗi của chính ḿnh, cần chi tôi phải nói nhiều? Nội
hai chữ Tông Thành đă bao quát sạch cả rồi! Con
người nếu tâm không hư ngụy, chắc chắn
chẳng đến nỗi không chịu sửa lỗi
hướng lành. Ví như ta thật sự biết kẻ
nào muốn hại ta, dù hắn có lắm lời ngon lẽ
ngọt dụ dỗ, chắc chắn chẳng để hắn
gạt rồi giao phó tánh mạng của ta. Chịu bị
lừa chính là kẻ chẳng biết tốt - xấu!
Đă có kẻ đối đầu lớn lao liên quan
đến tánh mạng, sao c̣n chịu để cho hắn
lừa? Đấy gọi là “cầu người khác nói ra phương
cách mầu nhiệm để bảo vệ thân mạng cho
ông” nào có ích ǵ đâu? V́ thế, chẳng muốn nhiều
lượt nói dông dài với ông!
************
126. Thư trả lời ba vị cư
sĩ Tống Lục Trạm, Trữ Liên Tịnh, và
Trương Tử Tịnh
(năm Dân Quốc 17 - 1928)
Đời
loạn tột bậc chẳng kham nói nổi! Xét đến
nguồn cội, nguyên nhân gần là trong ṿng một trăm
mười năm gần đây, hết thảy những kẻ
đọc sách làm quan chỉ biết tập luyện cử
nghiệp[15], cầu công danh, chẳng
biết đề xướng nhân quả báo ứng và giáo
dục gia đ́nh. Nếu luận đến cái nhân xa th́ quả
thật là do họ Tŕnh, họ Châu đả phá, bài xích nhân
quả báo ứng và sanh tử luân hồi mà ra! Do trọn chẳng
được gia đ́nh khéo dạy, lại chẳng biết
con người v́ sao làm người, lại quen nghe nói “chết
là diệt mất, trọn chẳng có đời trước,
đời sau!” nên vừa gặp gió Âu thổi tới, cảm
thấy thuyết “phế bỏ ḷng hiếu, phế trừ
luân thường, không hổ thẹn” ấy tự tại
vô ngại lắm, bèn nhất trí tiến hành. [Tạo ra] căn
bản gây lầm lạc cho con người không thể
không quy tội về các vị bên Lư Học. Quang nói lời
này đích xác tột bậc, biện định tột
cùng, chứ chẳng phải nói bừa đâu!
Phương kế lúc
này là phải sốt sắng đề xướng nhân quả
báo ứng, sanh tử, luân hồi và giáo dục trong gia
đ́nh, nhưng giáo dục trong gia đ́nh lại càng cần
phải chú trọng đến nhân quả báo ứng! Hai
pháp này duy tŕ lẫn nhau, mới có thể làm cho con cháu sau
này chẳng đến nỗi mấy chốc sống
như loài thú! Nếu không, dù có giáo dục cũng khó thể
giữ cho chúng nó chẳng bị xoay chuyển bởi thói
tà! Nói đến các phương pháp tu tŕ niệm Phật
th́ trong Văn Sao đă có nêu đủ. Nếu nói rơ sẽ
rất tốn bút mực. Dù [trong thư này] có giảng cặn
kẽ th́ cũng vẫn là những điều như trong
Văn Sao đă nói.
Nay tôi gởi cho các ông
Văn Sao, An Sĩ Toàn Thư, Gia Ngôn Lục, Di Đà Bạch
Thoại Giải, Quán Âm Bổn Tích Tụng, Cảm Ứng
Thiên Trực Giảng, Thọ Khang Bảo Giám, Cảm Ứng
Thiên Vựng Biên, Khuê Phạm[16]
v.v… mỗi thứ một phần. Nếu tôi có nhiều
sách sẽ kết duyên, nhưng v́ Văn Sao, An Sĩ Toàn
Thư đă gởi đi hết, c̣n chưa in ra [sách mới].
Gia Ngôn Lục một vạn cuốn đă gởi đi hết
rồi, hai ba vạn cuốn đều chưa in thành sách,
chẳng thể gởi nhiều. Do trong Gia Ngôn Lục
đă chia thành từng đề tài khác biệt, [nên đọc]
khá đỡ tốn tâm lực. Mong dùng đây để tự
hành, dùng đây để dạy người th́ chắc chắn
sẽ đích thân được siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử!
Nếu muốn tu tŕ Tịnh
nghiệp, phải giữ vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng
làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết,
ăn chay, bảo vệ, quư tiếc sanh mạng loài vật,
tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương.
Trong là cha mẹ, anh em trai, chị em gái, ngoài là thân thích, bằng
hữu, xóm giềng, làng nước đều dùng điều
này để kính khuyên. Bất luận họ có tin nhận
hay không, chớ nên chẳng làm cho họ được một
phen nghe biết!
Các ông đă muốn quy
y th́ nay đặt pháp danh cho mỗi người các ông: Tống
Lục Trạm pháp danh là Huệ Trạm, Trữ Liên Tịnh
pháp danh Huệ Tịnh, Trương Tử Tịnh pháp danh
là Huệ Trừng. Nếu có thể đoạn trừ vọng
tưởng, nhất tâm chánh niệm th́ gọi là Trạm
(trong lặng), là Tịnh, là Trừng (lắng trong), đấy
đều là những đức sẵn có trong tâm, chứ
không phải từ bên ngoài mà có. Nếu tâm niệm trần
lao th́ những đức Trạm, Tịnh, Trừng sẵn
có sẽ bị vọng tưởng khuấy động,
biến thành những tướng đục ngầu, bẩn
thỉu, ô uế. Đầu tháng Ba năm sau, Quang sẽ lại
sang Thượng Hải để hoàn tất chuyện in
sách. Sau mùa Thu năm tới sẽ rời khỏi Phổ
Đà, đi khắp Đông,
127. Thư trả lời Thiếu Niên Phật
Học Xă thuộc Phật Học Hội Vô Tích
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Hôm qua nhận
được thư và phương án nghiên cứu của
quư xă, khôn ngăn hổ thẹn. Quang là một ông Tăng tầm
thường, chẳng có mảy may tri thức ǵ, chỉ biết
học đ̣i ngu phu ngu phụ lễ bái, tŕ tụng để
cầu đới nghiệp văng sanh, sao có thể làm vị
thầy chỉ đạo cho quư xă được? C̣n về
chương tŕnh đơn giản, duyên khởi đă gởi
lần trước, quả thật không biết đến
chuyện ấy, chắc là do người trong chùa thấy
Quang cự tuyệt hết thảy, hơn nữa cũng
chẳng phải là chuyện khẩn yếu nên đă giao
cho Bính Đinh Đồng Tử[17]
thâu nhận rồi cũng không chừng! Quang tuổi đă
bảy mươi, tâm như trẻ nít vô tri, chỉ đợi
kỳ hạn chết; ngoại trừ niệm Phật ra,
không làm chi khác, huống là dám nhận lănh chức vị cao
cả trong quư xă để điều trần ư nghĩa,
tông chỉ kinh sách nghiên cứu ḥng [mọi người]
nương theo tu tŕ ư?
Tuy nhiên, [quư xă] đă tưởng
lầm gởi thư tới, tôi cũng chẳng thể
không thưa tŕnh sự hiểu biết của chính ḿnh. Thiếu
niên học Phật th́ phải giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận (tức là thật hành
hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ
v.v…), dứt ḷng tà, giữ ḷng thành,
đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều
lành, tin sâu nhân quả và luân hồi, tín nguyện niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều này
để tự hành, lại dạy cho người khác. Hễ
hành rồi mà vẫn c̣n thừa sức, sẽ nghiên cứu
hết thảy kinh luận Đại Thừa và những
trước thuật của các bậc cổ đức
Nho - Thích xưa nay. Lại phải hiểu biết, nắm
được cương tông, dùng điều đó để
hoằng dương sự giáo hóa của đức Phật,
tiếp nối đạo của Phật, Tổ, thánh hiền.
Đấy gọi là “do thực
hành nên học rộng, do học rộng nên hiểu
được điều cốt lơi”. Như thế th́
chắc chắn sẽ được dự vào bậc
thánh hiền trong đời này, lâm chung liền sanh vào cơi Cực
Lạc.
Nếu chẳng chú trọng
tận lực thực hành, chỉ mong biết nhiều, thấy
lắm, ắt sẽ đến nỗi kiêu căng, khinh
thường mọi thứ, bài bác nhân quả. Người
như thế thiên tư quả thật đủ để
kế thừa người trước, mở đường
cho người sau học theo, nhưng do bước đầu
tiên chưa từng kiểm điểm thân tâm của chính
ḿnh, từ đấy càng đi càng xa, sai chỉ hào ly, lạc
đi ngàn dặm, rốt cuộc thành kẻ phá hoại
đạo của Phật, Tổ, thánh hiền! Đấy
chính là chuyện đáng thương xót nhất của những
kẻ thông minh xưa nay! Chuyện này trong trăm người
hết tám chín mươi kẻ mắc phải, khiến
cho người khác phải đau ḷng tuôn lệ! Quang học
vấn quẩn quanh, nhưng nếu chẳng đem sự
từng trải bảy mươi năm dâng lên quư xă, một
mai chết đi sẽ giống như sống uổng chết
phí. Dùng một mảnh giấy này giăi tỏ tấm ḷng
thành, may ra có thể giúp cho quư xă trong chuyện “kế thừa
người xưa, mở mang đường lối cho
người sau”. Cũng nhờ vào công mọn này, Quang
được sanh về Tây Phương th́ cũng là
được thành tựu bởi quư xă, cảm kích biết
dường nào? Trân trọng trao lại lời phó thác, nếu
gởi thư đến nữa, quyết chẳng trả
lời.
128. Thư trả lời cư sĩ Viên
Đức Thường (bốn
lá thư)
(năm Dân Quốc 22 - 1933 và năm Dân Quốc 27 - 1938. Ông này vốn tên là Lệ Đ́nh)
1) Trước
kia, ông do mê muội tạo nghiệp, may là xưa đă có
thiện căn, nên do nhân duyên ác bèn được vào trong
Phật pháp. Đấy là sự may mắn không ǵ lớn bằng!
Nay hăy nên tận lực làm chuyện lành, từ tâm địa
thấu hiểu, chẳng để cho những ác niệm
trước kia nẩy sanh nữa! Hăy nên giữ cho cái tâm niệm
Phật và tâm tự lợi lợi tha chẳng hề bị
gián đoạn th́ sống sẽ là bậc thánh bậc hiền,
mất đi trở về Cực Lạc Phật quốc.
Đă đọc Văn Sao, hăy nên hành theo Văn Sao, cần
ǵ cứ phải hành cho giống với người khác?
C̣n như Đồng
Thiện Xă, đàn cầu cơ, tuy cũng mang tiếng là
tu thiện, nhưng người học Phật chớ nên
dính vào! V́ sao vậy? Sợ sẽ bị hiểu lầm,
tưởng những ǵ do bọn chúng nói là Phật pháp chân
truyền. Ví như mua đồ vật, chớ nên cứ dựa
xuông theo quảng cáo, cho đó là đúng, phải xét kỹ
hàng hóa coi xem thật - giả ra sao! Quang già rồi, tinh thần,
mục lực, công phu đều chẳng đủ. Lại
c̣n bị chuyện tu chỉnh ba bộ Sơn Chí của
Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa bức bách khôn cùng, Hăy nên
đọc Văn Sao, đừng đến đất Tô,
hễ tới chắc chắn sẽ phải than thở “gặp
mặt chẳng bằng nghe tên vậy!”
2) Cơm
Đại Bi chớ nên chắt nước. Nếu không
quen nấu cơm ráo không chắt nước, hăy nên lấy
nước cơm ấy để luộc rau, hoặc dùng
làm nước uống. Phàm những ai nấu cơm chắt
nước th́ phải dùng nhiều nước, tốn nhiều
củi. Chất cốt của gạo đều nằm
trong nước cơm, lại ngược ngạo vất
đi, chỉ giữ lại xác gạo, bỏ đi chất
bổ! Vừa tổn phước, vừa phí tiền, mà sức
bồi dưỡng con người cũng ít. Đối với
bệnh của mẹ và người em họ thứ hai của
ông, đều nên dùng tâm đại Bồ Đề để
cung cấp cho họ cơm rau Đại Bi suốt một
tháng. Nếu bệnh họ thật sự lành sẽ gieo
được đại thiện căn. Người em họ
thứ hai của ông nếu hồi tâm chuyển niệm sẽ
có thái độ khác hẳn.
Con người ai nấy
đều có thiên lương, nhưng khởi tâm, động
niệm, cư xử hoàn toàn chẳng thuận theo đạo
lư. Ông ta vẫn chê người khác chẳng tuân theo đạo
lư, c̣n ông ta th́ có đạo lư. Chỉ nội một niệm
này đă là chỗ thiên lương phát hiện đấy!
Đáng tiếc là không ai chỉ điểm, lại chẳng
phản tỉnh tự trách nên trở thành hạng cuồng
ngu. Nếu chịu hồi tâm tự vấn, ắt sẽ hổ
thẹn muốn chết, cảm thấy trong trời đất
không có chỗ nào cho ta dung thân! Từ đấy hằng
ngày biết là sai trái, hằng ngày sửa lỗi, sẽ
thành bậc thánh, bậc hiền. Nếu lành được
thân bệnh th́ tâm bệnh sẽ dần dần lành. Hằng
ngày ông hăy nên hồi hướng cho ông ta, cầu Tam Bảo
gia bị. Lại nương vào từ lực của đức
Quán Âm và diệu nghĩa của thần chú, ăn [cơm
Đại Bi] suốt một tháng ắt sẽ có hiệu
nghiệm dị kỳ. Nếu bệnh của mẹ và bệnh
của người em họ của ông được lành,
sẽ làm rạng rỡ tổ tông nhiều lắm. So với
những kẻ được lên chức, được
một tước quan, nhưng chẳng thể v́ nước
v́ dân th́ khác hẳn một trời một vực!
Tuy chẳng quen nấu
cơm ráo không chắt nước, nhưng lưu tâm làm thử
sẽ tự biết cách. Đấy cũng là tiếc
phước, sống hợp dinh dưỡng nhiều lắm!
Tại chùa Pháp Vũ ở Phổ Đà, vào năm Quang Tự
mười mấy, một vị sư Phạn Đầu[18]
dù nấu cơm cho một hai trăm người [ăn], vẫn
nấu cơm không chắt nước. Trong mấy năm,
vị ấy đă tiết kiệm củi lửa, mỗi
ngày chỉ cần một hai gánh củi, lại nấu
được nhiều cơm, cơm c̣n bồi bổ con
người. Vị Phạn Đầu kế tiếp
thường hay chắt cả mấy thùng nước
cơm, nước gần đầy thùng bèn đổ xuống
cống ngầm. Nhà kho, khách đường, chấp sự
đều chẳng hỏi đến. Đủ biết vị
Phạn Đầu ấy mỗi năm đă phí phạm củi
lửa, nước cơm của Thường Trụ, tội
ấy lớn lắm! Mong hăy đem nghĩa này nói với hết
thảy mọi người, đây cũng là chuyện quư tiếc
củi lửa, ngũ cốc lớn lao vậy!
3) Mẹ
ông ăn cơm Đại Bi đă có hiệu nghiệm,
nhưng chưa đủ để lành bệnh th́ hăy
ăn thêm một tháng nữa, chuyện này hoàn toàn chẳng
khó thực hiện. Nếu gạo ít th́ chẳng ngại ǵ
gởi ít, hễ thuận tiện lại gởi tiếp.
C̣n thái độ của người em thứ hai của
ông đă trở thành lương thiện, quả thật
là do ḷng thành của ông cảm được Tam Bảo gia
bị! Cổ nhân đă nói: “Chí
thành nhi bất động giả, vị chi hữu dă. Bất
thành vị hữu năng động giả ” (Chí thành
mà chẳng cảm động được th́ là chuyện
chưa hề có. Chẳng chí thành th́ chưa hề có chuyện
cảm động được). Ngày hôm nay vị
Đương Gia mới trở về, đă đưa
thư cho thầy ấy coi, ngày hôm sau nữa sẽ niệm
Phật cho ông. Người già bảy mươi tuổi mắc
bệnh nơi chân đă lâu, chẳng thể gấp gáp mong
cho lành ngay được! Nếu ăn thêm một tháng nữa
chắc có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Dẫu cho chẳng
lành, cũng chớ nên nói “ḷng thành chẳng có cảm ứng
ǵ, Phật pháp chẳng linh!”
Đối với
người em thứ hai của ông, càng phải nên dùng ḷng
thành để cảm, ngơ hầu tổ tông có được
đứa con cháu tốt lành, vinh diệu chi bằng? Lời
lẽ trong báo ở Vô Tích quá sức phô trương sáo rỗng,
người quy y gần một vạn, há nên nói là mấy
chục vạn? Dẫu thật sự là mấy chục vạn
cũng nên nói là mấy vạn thôi để khỏi mắc
họa bị tiểu nhân nghi kỵ. Cổ nhân có sự hàm
dưỡng “tuy có mà như không, có thật mà như dối”,
sao [nhà báo] lại quên tuốt, ngược ngạo phô phang
thanh thế trống rỗng vậy? Từ rày đừng
nên làm như thế nữa! Quang c̣n chưa lên đến
huyện (huyện Cáp Dương, tỉnh Thiểm
Tây) làm sao nhập học ở
trường huyện cho được?
Vào trường học
ở huyện hay không, nói chung chẳng khác ǵ nhau! Nhưng một
đằng thật, một đằng giả, chỉ khiến
cho người ta hổ thẹn không nơi lánh ḿnh, có ích
chi chăng? Quang làm người trong cơi thế không lâu nữa
đâu, một mai chết đi, muôn vàn chớ nên truyền
bậy điều ấy khiến cho người khác nghi
ngờ, cười chê! Đối với cha mẹ, sư
trưởng, Quang chẳng ghi chép một chữ, v́ sợ
bị hăm trong vực xoáy tiếng tăm hư vọng của
con người hiện thời, chuốc lấy tiếng dị
nghị của người khác. Chỉ mong chẳng nhục
lây cha mẹ, coi đó là chuyện rạng danh cha mẹ. Huống
chi người học Phật há có nên giống như trẻ
nít ngoài đường ngoài chợ cầu xin khắp những
người có danh vị tán tụng mới coi đó là hiếu
hạnh ư?
4) Soạn bài kệ Hồi
Hướng hay lắm, kẻ đứng bên ngoài ắt sẽ
chê là viễn vông, nhưng thật ra nó tương ứng với
tâm của bậc Đại Sĩ, dễ được cảm
thông. Ấy là v́ người ta dùng sự hung ác, ta dùng ḷng từ
thiện, như nước diệt lửa, nhưng mặt
trời làm tan băng. Nếu dùng t́nh kiến của chúng
sanh để cầu đảo sẽ trái nghịch tâm của
Đại Sĩ, dẫu có cảm thông nhưng nhỏ nhoi
thôi! Bài kệ như sau: “Nguyện
thử tụng tŕ thắng công đức, tức mông Đại
Sĩ thùy gia bị. Tiêu trừ tự tha túc hiện nghiệp.
Tăng trưởng ngă nhân thắng thiện căn.
Vĩnh kiếp hằng tồn Đại Sĩ tâm, biến
giới thường hành Đại Sĩ sự. Tận vị
lai tế tác nhiêu ích, phổ linh hữu t́nh vô họa hại!”
(nguyện do công đức tŕ tụng thù thắng này liền
được Đại Sĩ rủ ḷng gia bị, tiêu trừ
nghiệp trong hiện tại hay đời trước của
ta và người, tăng trưởng thiện căn thù thắng
cho ta và người. Bao kiếp luôn giữ tấm ḷng Đại
Sĩ, khắp mọi cơi thường làm chuyện của
bậc Đại Sĩ, đến cùng tột đời
vị lai tạo sự lợi ích, khiến cho khắp mọi
hữu t́nh chẳng bị họa hại).
129. Thư trả lời tiên sinh Phí Phạm
Cửu
Mấy
hôm trước, thư ông được chuyển từ
núi đến, biết tâm ông mộ đạo tha thiết,
tu tŕ cẩn thận, khôn ngăn mừng rỡ, hâm mộ,
nhưng do bận bịu công chuyện nơi đất Hỗ
(Thượng Hải), chưa thể trả lời ngay!
Ngày hôm qua do có việc sang đất Hàng tạm được
thong dong, liền viết đại khái. “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện
Nghiệp” là chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế
chư Phật. Ông đă hiếu thảo với cha mẹ,
tiết kiệm, chất phác, ắt chẳng đến nỗi
nhận tiền tài phi nghĩa, hạnh ấy, tâm ấy khá
hợp với Phật. Nếu lại c̣n dùng tín nguyện
niệm Phật cầu sanh Tây Phương ắt sẽ
được như nguyện. Đă làm con người
ta, làm cha người khác, hăy nên suy nghĩ ngọn nguồn
rốt ráo tới đường lối khiến cho cha mẹ
ta, con cái ta rốt ráo được an ổn, há chẳng tận
lực khuyên lơn cha mẹ và con cái ta cùng tu Tịnh nghiệp
hay sao? Đây là luận theo phía người thân, nhưng hết
thảy chúng sanh đều là Phật tử, ta đă biết
rồi, nỡ nào chẳng làm cho anh em trai, chị em gái, thân
thích, xóm giềng, hết thảy những người tiếp
xúc ai nấy đều được biết ư? Ông muốn
quy y để mong văng sanh, há chẳng phát ra hoằng thệ
để hành sẵn cái đạo tùy phận tùy lực
độ người hay sao?
Nay đặt pháp danh
cho ông là Huệ Mậu, nghĩa là dùng đại trí huệ
để hành đạo tự lợi lợi người.
Cái đạo tự lợi lợi người vừa nói
đó chính là bảo hết thảy mọi người
đôn đốc luân thường, nghiêm túc trọn hết
bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ
ḷng ham muốn của chính ḿnh để khôi phục cái lễ,
đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều
lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương. Trong Văn Sao đă nói nhiều lần, nay lại
nói nữa, v́ sợ có thể là chẳng chú ư, đến nỗi
lầm lỡ bỏ qua. Do vậy, chẳng ngại ǵ lại
nói nữa! Hơn nữa, thế đạo hiện thời
rối loạn, bày ra những chuyện chưa từng có.
Xét đến cội nguồn, nói chung là do trong gia đ́nh
không khéo dạy và chẳng giảng nhân quả báo ứng mà
ra! Thiên hạ chẳng yên, thất phu, thất phụ cùng
có trách nhiệm! Chú trọng giáo dục trong gia đ́nh và
nhân quả báo ứng th́ hiền tài tự nhiên sẽ khởi
lên đông đảo, thiên hạ sẽ dần dần thái
b́nh. Mong ông đối với hết thảy mọi người
đều dùng lời lẽ này khẩn thiết bảo
ban, đấy cũng chính là đại sự “sống
trong cơi trần học đạo (cư trần học
đạo), tuy ḿnh chưa đắc độ liền có
thể độ được người” quan trọng
nhất! Mong hăy sáng suốt xét soi th́ may mắn lắm, những
điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao,
ở đây không ghi chi tiết!
130. Thư trả lời cư sĩ Huệ
Đạo
(tức Dương Hán Công)
Thư ông đă nhận đủ cả, những chỗ ông trải qua đều được người tốt lành chiếu cố, chính là do Tam Bảo gia bị mà ra. Những đạo lư được nói ở cuối thư rất hay. Bí quyết “dùng sự khiêm tốn để thực hiện thành ư” nếu luận trên hạng thượng căn th́ được, c̣n đối với hết thảy những người thượng, trung, hạ căn mà luận, hăy nên dùng trí tri, cách vật mới là lời luận định khế lư, khế cơ tột cùng. Trí tri và cách vật theo kiểu họ Tŕnh, họ Châu đă nói muôn vàn chẳng thể nương theo được! Cần phải biết: Trí tri và cách vật chính là căn bản để mong thành thánh thành hiền, bởi tri kiến đă thiên lệch sẽ chẳng thể thành ư được. Tri kiến bị thiên lệch là do trong tâm có nhân dục (ḷng ham muốn của con người) riêng tư, lệch lạc! Trừ khử được ḷng nhân dục riêng tư, lệch lạc ấy th́ tri kiến sẽ tự chánh. Tri kiến đă chánh th́ ư sẽ thành, tâm sẽ chánh, tu được thân. Học vấn thật sự chẳng cần phải tỏ lộ nơi huyền diệu, chỉ cần làm cho hết thảy mọi người biết phải thực hiện nơi đâu, họ sẽ vui vẻ thuận theo (phần sau lược đi).
131. Thư trả lời cư sĩ Ông
Trí Kỳ (hai lá thư)
(vốn tên là Triệu Kỳ)
1) Đă
nhận được thư đủ cả. Chất
độc của họ Âu, họ Hàn c̣n nhỏ, chất độc
của họ Châu, họ Tŕnh mới lớn, v́ những nhà
Lư Học sau thời Tŕnh - Châu, không một ai chẳng xem trộm
kinh Phật, nhưng không một ai chẳng cực lực
báng bổ Phật pháp đến nỗi biến thành mối
đại loạn này, đều là v́ cái nh́n hạn cuộc
nơi môn hộ của các vị tiên sinh ấy mà ra! Quang
già rồi, chẳng thể viết khai thị cặn kẽ
được. Nay gởi cho ông hai gói sách, nếu chịu
lắng ḷng đọc kỹ, sẽ không có mối nghi nào
chẳng cởi gỡ được, có nguyện ǵ đều
đạt được.
Điểm quan trọng
trong việc học Phật là quư ở chỗ trọn hết
luân lư, học Phật như thế sẽ là đệ tử
thật sự của đức Phật. Nếu chẳng
trọn hết luân lư th́ chính là tội nhân trong Phật giáo.
Đức Phật gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu,
thiện pháp thế gian đều chẳng bỏ sót chi, chỉ
không chấp thuận cho con người luyện đan vận
khí. Ngoại đạo trong thế gian ăn trộm kinh Phật
để tự tạo kinh điển, ngược ngạo
báng bổ Phật pháp, cho là pháp của chúng mới chính là
pháp được truyền bởi Lục Tổ, từ
đấy các ḥa thượng đều chẳng có pháp nữa,
pháp trở về tay người tại gia bọn chúng. Dối
đời lừa dân, không chi hơn thế! Những điều
khác đă được nói tường tận trong mỗi
kinh sách, ở đây không viết cặn kẽ. [Ư nghĩa
của] pháp danh là Trí Kỳ được viết riêng
trong tờ giấy khác. Từ rày chỉ nên dựa theo kinh để
tu tŕ, đừng gởi thư đến nữa v́ tôi
không có sức để thù tiếp vậy!
2) Thư
và bài viết tường thuật hành trạng đều
nhận được đủ cả. Nay đặt pháp
danh cho Tịnh Nhàn là Trí Nghi, nghĩa là trước đă niệm
Phật, nay văng sanh thảy đều hợp thời nghi.
Bài tường thuật hành trạng nếu không phải là
nói thêm thắt, Quang một mực chẳng ưa khen ngợi
xằng bậy người khác, huống chi là đệ tử
càng chẳng nên khen ngợi! Nay soạn một bài tụng
để ca ngợi sự lợi ích cao siêu, thù thắng của
pháp môn Tịnh Độ[19]
ngơ hầu người thấy nghe cùng sanh tịnh tín, cùng
tu Tịnh nghiệp, cùng sanh Tịnh Độ. Dùng công
đức này bồi đắp thêm cho Trí Nghi, ngơ hầu bà
ta được cao thăng Thượng Phẩm, mau chứng
Vô Sanh, xin hăy sáng suốt suy xét. Cơi đời lại thường
hay đem h́nh ảnh của người đă mất, cậy
danh nhân viết bài ca tụng rồi in ra tặng cho người
khác, người ta hoặc xem qua một lần hoặc chẳng
đọc kỹ, liền quăng vào trong đống giấy
vụn, [người mất] bị khinh lờn như thế,
chẳng có ích ǵ cho ai! Chi bằng đem gởi cho Thượng
Hải Phật Học Bán Nguyệt San để hết thảy
mọi người đều được xem th́ chẳng
tốt hơn ư? Mong hăy châm chước lượng
định rồi thực hiện.
132. Thư trả lời cư sĩ Huệ
Long
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Đă nhận
được thư đầy đủ. Chuyện lánh nạn
sang đất khác là hành vi của đại phú ông, tôi chỉ
là một ḥa thượng nghèo khó, làm sao có thể hễ dự
tính liền tránh né được ngay? Nếu như chiến
tranh thật sự lan đến đất Tô, cũng không
phải là nhất định không tránh né, tránh né cũng dễ
thôi! Sao lại coi chuyện này quá trọng đại
như thế? Nếu có thể đ́nh chiến th́ nhà in
sách sẽ hoạt động, c̣n làm chuyện lớn
được. Nếu ĺa bỏ đất Tô đi xa, các sự
hoạn nạn sẽ ứng vào ngay. Con em của kẻ phú
quư phần nhiều chẳng làm chuyện ǵ, một mai gặp
họa loạn ắt sẽ đến nỗi không sao tự
lập được! Nay hăy hoàn toàn đừng sai bảo
đầy tớ, hăy đích thân nhắc chân động tay,
một là tập làm lụng cực nhọc cho huyết mạch
điều ḥa, hai là do ít nhàn rỗi sẽ tiêu được
các vọng niệm, đây thật sự là biện pháp
căn bản để yêu thương con cái, c̣n ǵ tốt
lành hơn?
Đạo Nho bị suy, nguyên do là v́ bọn Lư Học bài xích, đả phá nhân quả ba đời và lục đạo luân hồi, khiến cho thiện chẳng có ǵ để khuyến khích, ác không có ǵ để trừng phạt, những hiện tượng diễn ra trước mắt quả thật là do học thuyết của bọn Lư Học đă dẫn dắt ra. Muốn chấn hưng Nho Tông th́ phải tận lực chăm chú hành từ, hiếu, ḥa thuận, cung kính (thiên hạ loạn lạc đều là do những kẻ làm cha mẹ chẳng biết dạy dỗ con cái mà ra. V́ thế, một chữ Từ cả cơi đời chẳng biết được ư nghĩa thật sự. Nếu thật sự biết th́ cả cơi đời sẽ tự thái b́nh).
Lệnh nghiêm chẳng
sanh ḷng tin cũng là v́ bị học thuyết Lư Học sai
khiến, nhưng trong những năm gần đây, chiến
tranh xảy ra tại đất Hỗ (Thượng Hải),
sự tích của những người do niệm Phật
mà được những thứ cảm ứng chẳng
thể nghĩ bàn rất nhiều; sao không uyển chuyển
kể lể tường tận khiến cho cụ sẽ
do đó mà nẩy sanh ḷng tin? Nếu cụ đă biết rơ
chuyện này mà vẫn chẳng sanh ḷng tin th́ chỉ nên
hướng về Phật sám hối túc nghiệp thay cho cụ,
lại đem công đức niệm Phật của chính
ḿnh đều hồi hướng cho cụ, chắc sẽ
có ngày sanh ḷng tin phát nguyện. Nếu có thể sanh ḷng tin
tu tŕ Tịnh nghiệp để được văng sanh Tịnh
Độ th́ có thể gọi là “thờ cha mẹ đại
hiếu”. Cả nhà đều ăn chay, cố nhiên chẳng
cần phải lo riêng đồ mặn, chỉ cần nấu
đồ chay sao cho có mùi vị dễ ăn th́ cũng không
phải là không được. Nếu giết chúng sanh ḥng
thỏa thích miệng bụng của cha mẹ sẽ khiến
cho cha mẹ thật sự phải hứng chịu quả
báo giết hại trong đời sau! Ḷng hiếu ấy, nếu
hoàn toàn là v́ chẳng biết đến Phật pháp th́ c̣n
chấp nhận được! Nhưng đă chẳng có ư
sống đơn giản, chất phác th́ cần ǵ tâm phải
tự bất an như vậy? Nếu lũ con cái vẫn
ăn mặn như cũ, chứ không phải là cả nhà
đều ăn chay hết th́ cũng chẳng nên buộc
một ḿnh cụ già phải ăn chay; nhưng cũng chớ
nên mặc sức ăn để khỏi chồng chất
sát nghiệp cho cha mẹ ta vậy!
133. Thư trả lời cư sĩ Trịnh
Phỉ Kham
(năm Dân Quốc 26 - 1937)
Thời
cuộc nguy hiểm vạn phần! Trước hết,
hăy nên làm cho Trần Trọng Mỹ chú trọng ăn chay niệm
Phật, cầu sanh Tây Phương. Trong thời kỳ này,
chỉ nên sốt sắng tu tŕ, chớ nên nghiên cứu tràn
lan bởi “sống - chết, c̣n - mất” đă ở ngay
trước mắt! Nếu chỉ nghiên cứu tràn lan, về
mặt gieo thiện căn th́ có, nhưng nơi liễu sanh
tử th́ không. Ngoài niệm Phật ra, hăy niệm kèm thêm
thánh hiệu Quán Âm để cầu ngừng chiến, khỏi
nạn. Ắt cần phải có ḷng thành như cứu
đầu cháy th́ mới có cảm ứng được.
Dẫu vận nước chẳng thể xoay chuyển
được ngay, nhưng chính ḿnh chắc chắc
được Tam Bảo gia bị, gặp nguy hiểm vẫn
b́nh yên.
Ngoài những sách đă
nêu [trong danh mục xin thỉnh sách của ông], c̣n thêm
Văn Sao, Tức Tai Hội Khai Thị, Chân An Bút Kư, Khuyến
Niệm Quán Âm Văn, chắc là Trương Công Quán đă sớm
gởi rồi. Nay phụ thêm mấy trương, mong hăy
nói với những người tri giao: Tuy Tô Châu bị ném
bom nhiều lần, có người khuyên Quang đi chỗ
khác, nhưng Quang nghĩ sống chết có mạng, so với
chuyện bị kinh sợ trên đường đi, sao bằng
ở yên bất động, bị trúng bom chết yên vui?
V́ thế, nhất loạt dùng lư do này để từ
khước, hằng ngày chỉ niệm Phật, niệm
Quán Âm, niệm chú Đại Bi để làm căn cứ hộ
quốc, hộ dân, bảo vệ chính ḿnh. Nếu như
định nghiệp khó thể trốn tránh, bị trúng bom
chết sẽ liền văng sanh, đấy cũng là điều
mong mỏi vậy! Chỉ chán nghe lời khuyên bỏ sang
nơi khác, bởi đấy là đă khổ c̣n chồng
thêm khổ!
134. Thư trả lời cư sĩ Ngô
Hy Đạo
Con
người sống trong thế gian điều quan trọng
nhất là thân cận thầy lành bạn tốt. Có thầy
lành bạn tốt th́ sẽ có thể trở về chánh
đạo. Nếu không, bạn bè nhậu nhẹt tụ họp,
hằng ngày xen lộn với phường hạ lưu, bệnh
tật cũng do đó thường chẳng lành được!
Pháp môn Tịnh Độ không ǵ lớn lao ra ngoài được,
nhưng kẻ thiếu hiểu biết thường coi nhẹ.
Ông đă tŕ danh, nhưng tâm chưa quy nhất là v́ nghiệp
chướng sâu đậm vậy! Lúc niệm phải giữ
tấm ḷng kính sợ, niệm khởi từ nơi tâm, tiếng
phát ra từ miệng, âm thanh lọt vào tai, phải sao cho nghe
từng câu rơ ràng, từ sáng đến tối [lúc nào] không
phải dùng tâm để làm việc th́ thường niệm.
Niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm thầm
trong tâm đều phải nghe, bởi tâm vừa khởi niệm
liền có tướng của tiếng. Tai của chính ḿnh
nghe tiếng trong tâm của chính ḿnh là chuyện hết sức
rơ ràng. Sáng tối lập một công khóa, hoặc tụng một
biến kinh Di Đà, ba biến chú Văng Sanh, rồi niệm kệ
Tán Phật, niệm Phật, hoặc một ngàn hay tám
trăm câu, hay năm trăm câu, tùy theo mỗi người
mà lập ra công phu. Nếu quá bận th́ dùng cách sáng tối
Thập Niệm.
Ngoại trừ lúc thực
hiện công khóa sáng tối ra, đi, đứng, nằm, ngồi
đều phải niệm. Chỉ cầu tâm quy nhất,
chẳng nhất định phải cầu tướng
lành. V́ nếu tâm đă quy nhất sẽ khác với lúc tâm
phập phều, tán loạn. Nếu chẳng chú trọng tâm
quy nhất, thường mong thấy được tướng
lành, rất có thể ma sự khởi lên, chẳng thể
không biết! Chí thành khẩn thiết lắng nghe, chắc
chắc chẳng đến nỗi ma sự dấy lên! “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối” chính là cách niệm Phật mầu
nhiệm nhất. Phải thường xem Tịnh Độ
Ngũ Kinh, cần phải cung kính, chớ nên khinh nhờn! Đọc
Tịnh Độ Ngũ Kinh sẽ biết đại nguyện
của đức Di Đà, sự trang nghiêm của cơi Tịnh
Độ, và sự thích hợp trọn khắp của pháp
môn.
Những kẻ nói pháp
môn Tịnh Độ là Tiểu Thừa, là pháp tu của ngu
phu ngu phụ, th́ biết là họ trong đời trước
chưa từng gieo thiện căn Tịnh Độ, nên mới
nói nhăng nói càn như vậy. Trước hết hăy nên
đọc Gia Ngôn Lục, rồi xem Văn Sao, rồi xem Tịnh
Độ Thập Yếu, sẽ biết rơ đại
nghĩa Tịnh Độ. Nhưng cần phải tự lợi,
lợi tha, nên khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, con cái,
thân thích, bằng hữu, xóm giềng, làng nước đều
cùng ăn chay, niệm Phật, cầu sanh Tây Phương.
Ông tu tŕ được như thế th́ bảo đảm
thân thể ngày càng khỏe mạnh, tâm thần ngày càng định,
chuyện tiền đồ đều thuận lợi.
Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều
chẳng đủ. Gởi cho ông hai gói kinh sách đủ loại,
đấy chính là vô lượng vô biên thầy lành bạn tốt.
Từ rày chẳng nên gởi thư đến nữa,
cũng đừng giới thiệu người khác quy y,
v́ không có mục lực lẫn tinh thần để thù tiếp.
Thời cuộc hiện thời nguy hiểm muôn vàn, nếu
chẳng dùng niệm Phật để dự pḥng, lỡ
như chiến sự phát sanh, lấy ǵ để
nương cậy? Chiến sự hiện thời có trốn
cũng không được, đề pḥng cũng không
được. Nếu siêng năng niệm Phật sẽ
có thể gặp dữ hóa lành, mong hăy sáng suốt soi xét,
pháp danh quy y gởi kèm theo thư.
135. Thư trả lời cư sĩ
Dương Huệ Xương (ba lá thư)
(vốn có tên là Tự Xương)
1) Lệnh
nghiêm lâm chung thần thức sáng suốt, niệm Phật
qua đời, chắc là sanh về Tây Phương; nhưng
bất luận đă sanh về hay chưa, phận làm con cố
nhiên nên thường lễ bái, tŕ tụng để mong cụ
chưa được sanh sẽ sanh, đă văng sanh sẽ
tăng cao phẩm vị. Hơn nữa, sự lễ tụng
này không chỉ hữu ích riêng cho người đă khuất,
mà thật ra có lợi lớn lao cho người c̣n sống.
Do dùng cái tâm hiếu kính với cha mẹ để lễ tụng,
so với những kẻ chuyên v́ chính ḿnh lễ tụng, công
đức lớn hơn, bởi hiếu tâm chính là Bồ
Đề tâm vậy! Cha ông đời trước đă có
vun bồi rất nhiều, nên đời này ưa làm lành,
chuộng điều nghĩa, tin sâu Phật pháp, tu tŕ Tịnh
nghiệp. Trong một đời cụ bị lắm bệnh
ngặt nghèo, ấy là do nghiệp đời trước; v́
chuộng làm lành, tin Phật nên chuyển báo nặng đời
sau thành báo nhẹ trong đời này để giải quyết
cho xong. Ông đă muốn kế thừa chí cha, lại muốn
cha mẹ ông đều cùng được cao đăng phẩm
sen, tâm ấy tốt lành lắm, nay đặt pháp danh cho
ông là Huệ Xương, nghĩa là dùng trí huệ để
thừa kế chí cha, ắt sẽ quyết chí xương
minh pháp môn Tịnh Độ và khiến cho con cháu được
hưng thịnh.
Phàm là người quy y
Phật pháp, đối với luân thường đạo
lư đều phải tích cực phi thường để
trọn hết t́nh nghĩa và bổn phận, có vậy mới
đáng gọi là đệ tử thật sự của Phật.
Nếu luân thường bị khiếm khuyết, sẽ
khó thể cảm hóa những người cùng hàng. Nay cha mẹ
ông đă không c̣n, th́ càng phải chú trọng đến bổn
phận đối với anh em trai, chị em gái, thê thiếp,
con cái. Đời bây giờ đă loạn đến cùng cực,
cội nguồn là do những kẻ làm cha mẹ trong cơi
đời chẳng biết cách dạy con, chẳng biết
dùng đạo đức, nhân nghĩa, nhân quả báo ứng
để dạy con cái, chỉ nuông chiều, nuôi dưỡng
thói kiêu ngạo, đem mưu mẹo, mánh khóe dạy con. V́
thế, kẻ có thiên tư quen thói cuồng vọng, đứa
không có thiên tư quen nết ương bướng, ngu
độn, đến nỗi có chuyện vượt lễ,
trái phận thường thấy xảy ra. Nếu người
làm cha mẹ ai nấy trọn hết đạo dạy con
th́ thế đạo đâu đến nỗi như thế
này!
Trước kia nếu
không dạy dỗ con cái đàng hoàng th́ vẫn chưa khẩn
yếu lắm, bất quá chúng nó không hiếu thuận, không
ra giống ǵ mà thôi. Hiện thời, nếu không dạy con
cho đàng hoàng, mối họa quả thật chẳng thể
nào tưởng tượng được! Hăy nên đem lời
này nói với hết thảy mọi người. Về
chuyện đọc sách, do chính ông đă mang chức vụ,
chẳng được rảnh rỗi nhiều, chỉ
nên bắt đầu xem trước các sách Văn Sao, Gia
Ngôn Lục, rồi đến Tịnh Độ Tam Kinh,
Văng Sanh Luận Chú, Triệt Ngộ Ngữ Lục, Tịnh
Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục,
Tịnh Độ Chỉ Quy Tập[20],
Long Thư Tịnh Độ Văn, hăy nên đọc kỹ!
Những thứ khác như Thiền Tông hoặc bên Giáo
như Thiên Thai Tông, Hiền Thủ Tông, Từ Ân Tông và Mật
Tông hăy nên gác lại v́ không dư thời gian để xem
đến. Tu Tịnh nghiệp mà trước hết chẳng
nghiên cứu pháp môn Tịnh Độ cho rơ ràng th́ [giống
như] muốn về nhà nhưng chẳng biết
đường lối, những ǵ biết được
tuy vẫn có thể [dùng để] trở về nhà
được, nhưng quanh co, xa xôi lắm, thật giống
như một trời, một vực. Xin hăy sáng suốt suy
xét!
2) Thư
của ông và của các vị Vương, Lư, Uông, Châu đều
nhận đủ cả. Pháp danh của ba người ấy
được viết trong tờ giấy khác, mong hăy chuyển
giao. Tuy đại nguyện của ông Vương rất cao
đẹp, nhưng trong lúc thời cuộc nguy hiểm này,
chẳng biết quyết chí cầu sanh Tây Phương, vẫn
muốn đợi sau khi xuất gia sẽ tụng kinh chú bao
nhiêu đó để thỏa đại nguyện. Lại
mong tuổi thọ bằng với lời nguyện: Nếu
nguyện chưa xong, tuổi thọ cũng chưa chấm
dứt. Đúng là kẻ si nói chuyện mộng! Ông ta đọc
sách Tịnh Độ hoàn toàn chẳng nương theo ư
sách, tự lập chương tŕnh. Nếu chẳng kịp
thời tùy phận tùy lực tu tŕ, chẳng những sở
nguyện đều trở thành bánh vẽ hết, mà c̣n có
thể mắc bệnh rối loạn thần kinh! Bệnh
ấy rất dễ bị, nhưng rất khó lành! Quang già
rồi, một mực ḷng dạ thẳng băng, ăn nói
thẳng tuột, trọn chẳng dám thuận theo ư người
khác để vui dạ người ta. V́ thế, nói huỵch
toẹt ra để [ông ta] khỏi bị mắc bệnh.
Hai ông Uông và Lư chất
trực, không giả dối, khá tốt đẹp hơn.
Nay với mỗi người trong ba vị ấy đều
gởi cho một bộ Văn Sao, một cuốn Gia Ngôn Lục
và những tập sách nhỏ, tổng cộng là hai gói. Xin
hăy chia ra đưa tặng. Ông Châu Thái Nhiên trong thư chỉ
viết “hợp thập” (chắp
mười ngón tay), tôi chẳng dám chấp nhận cho ông ta
quy y, trân trọng trả lại bốn đồng tiền
hương kính cho ông ta. Tuy Quang chẳng thể hoằng
dương Phật pháp, quyết chẳng dám tự ḿnh
khinh mạn Phật pháp, cũng như chẳng để
cho người khác khinh mạn Phật pháp! Hăy nói với ba
người ấy, từ rày đừng gởi thư
đến nữa, gởi đến nhất quyết không
trả lời do mục lực lẫn tinh thần đều
chẳng đủ vậy!
3) Thư
ông và thư của Châu Thái Nhiên đă nhận được
cả rồi. Phải biết: Trong Phật pháp có trụ
tŕ thế gian pháp và có duy luận lư tánh pháp. Trụ Tŕ thế
gian pháp là nếu người khác chẳng hết sức chí
thành, sẽ chẳng v́ kẻ đó thuyết pháp. Nay thế
đạo suy vi, chẳng thể hoàn toàn hành đúng như
vậy. V́ thế, đối với những thư hỏi
pháp, mặc ḷng người ta [viết] như thế nào,
Quang cũng đều trả lời. Nếu quá ngạo mạn,
vẫn chỉ bày, trách móc lỗi ấy để khỏi
phụ ḷng kẻ đó gởi thư đến. Chỉ có
kẻ xin quy y, nếu chẳng dùng những chữ [tỏ
ư] tự nhún ḿnh, chắc chắc chẳng dám chấp thuận.
V́ chấp thuận như vậy tức là tự khinh Phật
pháp, mà cũng khiến cho kẻ ấy khinh thường Phật
pháp. Có thể là v́ kẻ ấy chẳng biết lễ nghi,
hoặc là do ngă mạn tự đại. Người tự
đại th́ làm sao dám nói với họ? Kẻ chẳng biết
lễ nghi th́ ắt sẽ làm cho họ biết, chứ
không phải mong được người khác cung kính, ấy
chính là chẳng khinh pháp và khinh người vậy! Nếu
chẳng duy tŕ như thế, Phật pháp sẽ chẳng thể
lưu truyền.
“Duy luận lư tánh pháp”
(pháp chỉ xét trên mặt tánh, trên lư, không luận trên h́nh
tướng, trên mặt sự) th́ phàm Tăng chẳng thể
làm được, chỉ có đại Bồ Tát và người
không có trách nhiệm duy tŕ pháp đạo làm như vậy sẽ
có lợi ích sâu xa. Phàm phu làm theo sẽ phá hoại chánh pháp của
Như Lai, tai hại chẳng cạn! Như trong kinh Pháp
Hoa, Thường Bất Khinh Bồ Tát hễ thấy tứ
chúng đều lễ bái, thưa: “Tôi chẳng dám khinh quư ngài, quư ngài đều sẽ
thành Phật!” Tứ chúng có kẻ dùng roi gậy, ngói,
đá đánh ném, bèn chạy ra xa đứng, rồi làm lễ,
tán thán rằng: “Tôi chẳng dám
khinh quư ngài, quư ngài đều sẽ thành Phật!” Sợ
ông chẳng biết nghĩa này rồi lầm lạc sanh ra
nghi ngờ, bàn bạc, nên mới nói đại lược.
Nếu là phàm phu Tăng, trọn chẳng thể
nương theo cách hành động ấy! Bậc đại
Bồ Tát trụ tŕ pháp đạo cũng phải y theo cách
hành động của phàm tăng. Như sư Tế
Điên chính là bậc cao nhân vượt ngoài khuôn khổ,
nhưng vẫn hành động trong chừng mực[21], ngài
Tế Điên chẳng giữ Thanh Quy, nhằm hiển lộ
đại thần thông. Nếu giữ Thanh Quy cẩn thận
mà hiển lộ thần thông th́ chẳng thể sống
trong thế gian được! Chỉ có mượn cách
điên điên khùng khùng làm cho người ta tin tưởng,
nghi ngờ lẫn lộn, ḥng ngầm giáo hóa khiến cho
người ta biết Phật pháp chẳng thể nghĩ
bàn hầu sanh tâm chánh tín. Những kẻ vô tri không biết
xấu hổ trong cơi đời học đ̣i theo đó,
sao chẳng học “ăn thứ chết vào, ói ra thứ sống”?
Sao chẳng học “uống rượu say ngủ vùi mấy
ngày, nhưng trăm ngàn cội gỗ to từ dưới
giếng trồi lên”, và “uống rượu say bét nhè, ói ra
vàng để thếp vàng tượng Phật trong cả
điện”? Thứ chuyện chẳng thể nghĩ bàn ấy
chỉ có hạng người ấy thực hiện th́
không trở ngại chi, chứ nếu người giữ
Thanh Quy cẩn thận mà làm, chắc chắn sẽ phải
qua đời ngay! Nếu không, ai nấy đều đến
t́m vị ấy, chẳng thể làm hết thảy mọi
chuyện được! Hăy chuyển thư cho Châu cư
sĩ và đem những lời này đưa cho ông ta xem,
Quang mục lực chẳng đủ, chẳng thể viết
nhiều. Pháp môn Tịnh Độ và pháp tắc tu tŕ đă
có các sách Văn Sao, Gia Ngôn Lục v.v… nhắc đến rồi,
nên cũng không nói tường tận [trong thư này]!
136. Thư trả lời cư sĩ X…
Đọc
thư gởi đến, biết ông thông minh nhưng
chưa triệt để! V́ thế mới coi nhân quả
của Nho - Phật giống như cách thưởng phạt
trong phép vua trong thế gian, tợ hồ có lư, nhưng thật
ra vô lư! Sự thưởng phạt trong thế gian ước
theo t́nh người mà định, c̣n nhân quả chính là do
tâm thức chiêu cảm. Nho và Thích không hai đạo! Ông cho
rằng đạo Nho có những điều chưa nêu tỏ
tức là [đạo Nho] chỉ dừng lại ở
đó, đấy cũng là một chứng cớ cho thấy
ông thông minh nhưng chưa triệt để. Phàm nhân quả
thiện hay ác đều do tự tâm chiêu cảm, người
đời không biết, đức Phật giảng cặn
kẽ, ông cho là đức Phật bày đặt ra, há có phải
là thông minh thật sự hay chăng?
Quả báo xảy đến
có khi là tức khắc, ngay trong đời này, có khi là trong
đời kế tiếp, đời sau, và nhiều đời,
nhiều kiếp. Ông hiềm quả báo xa xôi, muốn quả
báo xảy đến cho nhanh, là đă trở thành tà kiến
rồi! Phải biết: Quả báo siêu phàm nhập thánh liễu
sanh thoát tử cho đến thành Phật đều phải
là nhiều kiếp. Tuy nói: “Phóng
hạ đồ đao, lập địa thành Phật”
(buông dao đồ tể xuống, thành Phật ngay nơi
đó), nhưng thật sự chứng Phật Quả
cũng phải mất nhiều kiếp! Đừng cho rằng
“hễ ngộ được Phật Tánh liền thật
sự chứng được Phật Quả!” Nếu nói như
ông, trong cơi đời không một ai có thể liễu sanh
thoát tử, huống chi là thành Phật ư? Nếu ông biết
điều này, sẽ chẳng đến nỗi trách Phật
tàn ác, sẽ cảm được ḷng từ bi của
đức Phật, đau ḷng tuôn lệ bảo với những
kẻ cùng hàng.
Ông hiềm rằng chẳng
được quả báo nhanh chóng, nhưng chẳng biết
đến cái lợi lớn lao của việc không nhanh
chóng, chính là loài trùng mùa Hạ chẳng biết có băng, con
phù du[22]
chẳng thấy được ngày hôm sau, chẳng đáng
thương ư? Quả báo chậm hay mau đều do
nghiệp thức của chính ḿnh cảm nên, há nên đùn
đẩy cho đức Phật? Do ông thông minh, nên trong ư ông
vẫn mắc lỗi “có biết nhưng vẫn cố phạm”.
Đủ thấy, chuyện “giảm bớt lỗi” dẫu
là thánh nhân vẫn phải nỗ lực! Do vậy, Khổng
Tử tuổi đă bảy mươi, vẫn muốn trời
cho sống thêm năm hay mười năm nữa để
học Dịch ḥng tránh được lỗi lớn. Nhà
Nho thấy biết nông cạn, cho là thánh nhân quá khiêm tốn,
chẳng biết thánh đạo sâu xa, chẳng phải là “hễ
ngộ liền có thể thấu hiểu tột cùng
được”!
Những chuyện khác
khoan nói tới, chỉ lấy Viên Giáo để luận,
th́: Sơ Tín đoạn Kiến Hoặc, Thất Tín đoạn
Tư Hoặc, Bát Tín, Cửu Tín, Thập Tín phá Trần Sa Hoặc,
khuất phục vô minh. Thập Tín hậu tâm[23] lại
phá một phần vô minh liền chứng Sơ Trụ, trở
thành Pháp Thân đại sĩ. Từ Sơ Trụ cho đến
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác, trải qua bốn
mươi mốt địa vị vẫn chưa đạt
đến địa vị “hết sạch vô minh”. Đẳng
Giác lại phá một phần vô minh, tức là “Chân cùng, Hoặc
tận”, thành Phật quả viên măn Bồ Đề. Sự
xa xôi của thiện báo và ác báo cũng gần ngang nhau, huống
hồ tu nhân chứng quả cho đến lúc thành Phật
ư? Nếu mọi chuyện đều xong ngay trong một
chốc th́ sẽ trở thành hầm sâu đoạn diệt
“không nhân không quả”.
Chẳng thấy đạo
trời vận hành hay sao? Tiết Hạ Chí, Nhất Âm sanh
bèn nắng gắt, tiết Đông Chí, Nhất Dương
sanh bèn lạnh buốt[24].
Lập Xuân có khi trước Tết, có khi sau Tết[25],
mỗi mỗi đều chẳng thể cùng xong hết
trong một lúc được, nên mới thành năm tháng. Nếu
cùng một lúc xong hết th́ chẳng trở thành vận
hành, mà thành đoạn diệt! Đối với việc
thưởng phạt tội - phước, trong cơi Âm quả
thật có người chủ tŕ, nhưng chẳng phức
tạp như trong Dương gian, bởi án từ, sổ
sách đều tự hiện, tự tiêu, và cũng không có
người ghi chép, khóa sổ. V́ thế, cơi Âm không sai lầm.
Có chuyện người tên X… ở tỉnh kia bị bắt
v́ lầm với người cùng tên X… ở tỉnh này; ấy
chính là mượn chuyện người không đáng chết
này để tỏ rơ thật sự có những chuyện
địa ngục, h́nh phạt trong cơi Âm v.v… ngơ hầu
người đời sanh ḷng tin. Do vậy, thường
có chuyện bậc sĩ phu chánh trực trong thế gian tạm
thời xử đoán chuyện của vua Diêm La, người
b́nh thường trong thế gian làm sai nha cho cơi Âm, do bắt
lộn người nên bị đánh đ̣n, cách chức,
đều là “nhân cùng thố
đại” (do [nhờ vào] hoàn cảnh ép ngặt để
thực hiện sự giáo hóa vậy - “thố đại”
là “thực hiện đại sự tu tề trị b́nh”), bởi lẽ mắt chẳng thấy sẽ
không tin, lại c̣n mượn cớ báng Phật, cho nên
đặc biệt hiện ra chuyện ấy để tỏ
bày đại sự ḥng mở rộng tầm mắt.
Chuyện như vậy
rất nhiều, nêu lên một chuyện để ḥng biết
trọn. Trong Kiến Văn Lục của Ngẫu Ích đại
sư có chép chuyện một Sinh Viên[26] ở
Hồ Bắc nắm quyền xử lư dưới tay
Ngũ Điện Diêm La Vương[27].
Một đêm đến cơi Âm, thấy một cuốn sổ
chép vợ ḿnh giết trộm gà hàng xóm, kể cả lông
th́ nặng một cân mười hai lượng, nhân đó
bèn xé một góc trang sổ để đánh dấu. Tỉnh
dậy, ông ta hỏi vợ sao lại giết trộm gà
hàng xóm, bà vợ chẳng thừa nhận, ông ta nói: “Bà vẫn
cứ lừa dối tôi. Sổ sách trong cơi Âm đă chép bà giết
trộm gà hàng xóm, kể cả lông th́ nặng một cân
mười hai lạng”. Bà vợ kể: “Phơi thóc gạo
trong sân, gà hàng xóm đến ăn, dùng đồ vật
quăng nó, nó chết lăn quay, c̣n chưa động
đến!” Bảo đem gà cân lên, quả thật nặng
một cân mười hai lạng. Ông sai vợ đem gà và một
số tiền bằng giá một con gà đem trả, thưa
rơ đầu đuôi với người ta, xin đừng
quở trách. Đêm ấy, ông ta lại vào cơi Âm xem sổ,
góc trang sổ bị xé vẫn c̣n đó, nhưng không thấy
một chữ nào cả! Ông cho rằng h́nh phạt trong cơi
Âm là do đức Phật đặt chuyện, có thể
nói là đă cô phụ ơn Phật quá lắm!
Ông viết chữ nhỏ
xíu, mắt Quang quá mờ, lược nêu những điều
quan trọng để giải ḷng nghi của ông. Nếu
ông biết điều này sẽ nhất tâm niệm Phật
cầu sanh Tây Phương. Hăy nên biết rằng: Lợi
ích do ông đạt được bắt đầu từ
nơi con cái của ông, huống ǵ lợi ích sau khi sanh về
Tây cho đến khi viên măn Phật quả mới thôi. Nếu
chẳng tự lượng, từ đây nghiên cứu các
tông Tánh, Tướng, Thiền, Mật, chẳng chú trọng
niệm Phật th́ có thể trở thành một bậc
thông gia nửa vời, nhưng liễu sanh thoát tử sẽ
thành chuyện năm nảo năm nao! Quang già rồi, mục
lực chẳng đủ, từ rày đừng gởi
thư đến nữa, dù có cậy thầy Diệu hỏi
giùm cũng chẳng trả lời. V́ sao vậy? Do ông chẳng
phải là người hễ nêu ra một điều bèn hiểu
rơ ba điều, dù có dạy từng điều một th́
một vẫn là một, nên chẳng thể viên thông
được!
137. Thư trả lời cư sĩ
Trương Giác Minh (hai lá
thư)
(ngày 30 Tết năm Mậu Dần, đính kèm nguyên thư)
Sư tôn từ bi soi xét, con chẳng
được nghe lời giáo huấn từ bi đă
hơn một năm rồi. Nỗi niềm mong ngóng ngày
càng chất chứa. Tháng Mười mùa Đông năm ngoái
đệ tử tỵ loạn tại núi Mạc Can,
được đại thiện sĩ che chở, b́nh an
không bịnh tật. Trên núi hoàn cảnh thanh tịnh, niệm
Phật rất đắc lực. Bất cứ lúc nào, bất
cứ chỗ nào, nhắm mắt, mở mắt, đều
có thể tưởng thấy từ dung của Tam Thánh.
Tháng trước do thổ phỉ ŕnh rập nên chẳng thể
không xuống núi sang đất Hàng, ở tạm nhà người
bạn. Muốn trở về nhà th́ giao thông tắc nghẽn.
Muốn đến đất Thân (Thượng Hải) th́
tiền tiêu dùng chẳng đủ. Lẩn quẩn trong ngơ
rẽ, không biết theo ngơ nào. Mùa Đông năm ngoái, ông
Dượng cũng lên núi, tháng Ba mùa Xuân năm nay đă sang
đất Thân, ở nhà con rể, mọi chuyện b́nh yên,
tốt đẹp, rất yên dạ. Đệ tử ở
đây, tuy cũng xếp đặt tịnh thất, khóa tụng
sáng tối, nhưng do hoàn cảnh trần tục, con cái nặng
nề, lúc niệm Phật chẳng khỏi có tạp niệm!
Chỉ có mấy chuyện đáng kể, có người
bạn trong cảnh hoạn nạn là ông Hà, vốn là sinh
viên du học ở ngoại quốc, sùng tín khoa học vạn
năng. Năm ngoái, do bị bệnh mù mắt, khoa học
chẳng thể trị được. Đệ tử
khuyên ông ta nên tin Phật niệm Phật, và dùng bài thuốc
rửa mắt của sư tôn đă ấn tống để
điều trị, đă thấy được một
tia ánh nắng. V́ thế, gần đây ông ta yêu cầu
đệ tử mỗi ngày giảng giải kinh A Di Đà.
Lại có một con hồng tước do ông Hà nuôi, nó nói
được, cười được. Dạy nó niệm
Phật th́ thoạt đầu mười phần rất
chán ngán, nó không nói “không biết” th́ cũng nói “cái ǵ?” Thấy
đệ tử lễ Phật nó liền cười
điên cuồng không ngừng. Đệ tử vẫn nhẫn
nại, mỗi ngày dạy nó bốn chữ chân ngôn, nay
đă chịu niệm rồi. Có lúc nó niệm “A Di Đà Phật”
bốn chữ, có khi niệm “A Di Đà Phật A Di Đà” bảy
chữ, nhưng không chịu niệm nhiều.
Thêm nữa, đệ tử có hai đứa tớ
gái cùng lên núi tỵ nạn, đều bị bệnh nặng.
Đệ tử và con cái đích thân chăm sóc thuốc men,
chăm nom ăn uống. Sau khi chúng nó lành bệnh đều
cảm ngộ, ăn chay trường, tin Phật, niệm
Phật. Mai này sau khi giao thông được khôi phục,
tính đưa chúng nó đến quy y thọ giới, chẳng
biết có được hay không? Khi đệ tử ở
núi Mạc Can, từng cậy người gởi thư
đến chùa Báo Quốc xin bài thuốc trị bệnh khí
thống[28].
Về sau mới biết sư tôn hiện thời chẳng
đọc thư từ đến đi, nên họ
đưa trả lại. Hiện đệ tử đang
bị khí thống, đă được chữa lành bởi
bài thuốc này. Do vậy, kính dâng mười lăm đồng
để làm chuyện liên quan đến Phật pháp: Kính
dâng mười bốn đồng hương kính, một
đồng để giúp cho việc in bài thuốc khí thống,
cầu mong thầy hăy rộng ḷng thu nhận.
1) Hôm qua
nhận được thư biết cả nhà ông tỵ nạn
trên núi Mạc Can, đều yên vui vô sự, khôn ngăn mừng
rỡ, an ủi. Tai kiếp này do đồng phận ác nghiệp
của mọi người chiêu cảm. Ai có ḷng tin niệm
thánh hiệu Phật đều được gặp dữ
hóa lành, ấy là v́ biệt nghiệp của cá nhân do
được Phật gia bị nên [từ nặng] chuyển
thành nhẹ. Đang trong lúc đại kiếp phá tan hoang trời
đất từ xưa đến nay chưa từng có
này, kẻ nào chẳng sanh tín tâm, chẳng chịu niệm
Phật cầu Phật rủ ḷng gia bị th́ kẻ ấy
đáng xót thương thay. Ông Hà tinh tường khoa học,
biết khoa học vạn năng, nhưng chẳng biết
các nước tàn sát lẫn nhau chính là hiệu quả của
sự vạn năng ấy. Đến khi do bị bệnh
không thấy được ánh sáng, vạn năng vô hiệu,
mới do một pháp niệm Phật [trước kia] trọn
chẳng thèm chú ư đến và cách rửa mắt đă
được truyền thụ mà lại được
thấy ánh mặt trời. Do đấy, sanh ḷng chánh tín,
xin ông giảng kinh Di Đà, sẽ do nhân duyên này tu ṛng Tịnh
nghiệp, để mong cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương. Gần là liễu sanh thoát tử,
siêu phàm nhập thánh, xa là dần dần tấn tu, cho đến
viên măn Bồ Đề, thành vô thượng đạo!
Hết thảy chúng
sanh từ vô thỉ đến nay, đủ mọi tịnh
nhân, đủ mọi ác nhân, gặp phải ác tri thức
th́ ác nhân phát hiện, nhẹ là hủy báng, nặng là diệt
pháp. Gặp được thiện tri thức th́ tịnh
nhân phát hiện, thoạt đầu là tin nhận, đến
cuối cùng là văng sanh. Ông Trịnh Tuấn ở B́nh Lương,
tỉnh Cam Túc, tự là Triết Hầu, đỗ Cử
Nhân đời Thanh trước kia, trúng phải chất
độc của Âu, Hàn, Châu, Tŕnh rất sâu, trước
khi tṛn sáu mươi tuổi, thù nghịch Phật pháp.
Năm sáu mươi tuổi, đọc Văn Sao của
Quang, mới thẹn cho sự sai lầm trước kia, liền
ăn chay trường, niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, gởi thư xin quy y. Về sau (năm
Dân Quốc 24 - 1935), cùng với em
trai đích thân đến đất Tô và triều bái Phổ
Đà, tính thỉnh mấy vị Tăng niệm Phật
đến khai hóa ở quê ḿnh. Người phương
Người đă
như thế th́ vật cũng như thế! Con hồng
tước khuyên nó niệm Phật, nói “không biết”, nói “cái
ǵ?” thấy ông niệm Phật liền cười điên
cuồng. Đấy chính là ác tập khí hủy báng Phật
pháp. Đến khi hằng ngày dạy nó th́ nó chịu niệm.
Nếu có người thường niệm Phật, hằng
ngày thường niệm Phật theo nó, biết đâu nó sẽ
giống như con nhồng đời Tống, đứng
niệm Phật qua đời. Đem chôn, hoa sen mọc trên
mộ. Đào lên xem thấy gốc hoa sen mọc từ chót
lưỡi chim. Hai đứa tớ gái của ông bệnh
nặng, ông chăm sóc thuốc men, chữa trị. Ông cùng
con cái chăm nom miếng ăn thức uống, lành bệnh,
do cảm động chúng bèn ăn chay trường, đấy
gọi là “dùng đức khuất phục người” vậy.
Cổ nhân nói: “Dĩ ngôn giáo giả
tụng, dĩ thân giáo giả tùng. Quân tử cư
hương, dĩ thân suất vật, linh đức phục
nhân, tương quán nhi thiện” (dùng lời lẽ để
dạy th́ bị tranh căi, dùng thân để dạy th́
người khác thuận theo. Quân tử sống trong làng,
dùng thân để làm gương lôi kéo mọi người,
dùng đức khiến người khác khâm phục rồi
nh́n theo bắt chước làm lành) chính là nghĩa này vậy.
Tiếc rằng người
tin Phật trong cơi đời th́ ít, kẻ báng Phật lại
nhiều, cho nên rất nhiều kẻ đời trước
có thiện căn nhưng chẳng thể phát khởi tịnh
nhân đời trước, gội ân Phật sâu xa, để
được là kẻ phàm phu triền phược đầy
dẫy mà ngay trong đời này nương vào Phật từ
lực văng sanh Tây Phương liễu sanh thoát tử, siêu
phàm nhập thánh để dần dần đạt đến
viên thành Phật đạo! Quang già rồi, ngày mai tṛn bảy
mươi chín tuổi, sáng chiều sẽ mất, từ
rày không có chuyện ǵ quan trọng đừng gởi
thư đến bởi chẳng có mục lực, tinh thần
thù tiếp!
2) Trước
sau hai lá thư đă nhận đủ. Con người ông
Hà có hào khí sâu đậm, nhưng chưa từng nghe pháp của
thánh nhân Nho - Thích tu thân trị tâm, nên gặp phải cảnh
ngộ ấy. T́nh cảnh đó khá giống với t́nh cảnh
của ông Du Tịnh Ư[29],
nhưng họ Du vẫn chưa biết sâu xa về pháp môn
Tịnh Độ. Sao bằng chịu nghĩ “đă chết
đi sống lại”, đem hào khí trước đây sửa
đổi thành khiêm nhường, tự kiềm chế,
th́ sự thành tựu sau này c̣n cao siêu hơn ông Du! Ông ta do
thoạt đầu thấy Tăng phần nhiều hủ
bại, nên chẳng chịu quy y. Nay Quang cũng là ông
Tăng hủ bại, mà vẫn muốn quy y, quả thật
chẳng biết Tăng là người như thế nào?
So với hạng
Tăng ăn thịt uống rượu, Quang c̣n có chút
điểm tốt. Các vị đại Bồ Tát như
Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v.. và những
Quyền Vị Bồ Tát chưa chứng Pháp Thân, đă
đoạn Hoặc nghiệp trong tam giới và Nhị Thừa
thánh nhân đă chứng quả Duyên Giác, chứng quả A La
Hán đều thuộc về Tăng. Như Quang đây, kém
xa các vị tăng A La Hán khác nào sự cách biệt vời
vợi giữa trời với đất, huống ǵ là
[sánh với] các Quyền Vị Bồ Tát chưa chứng
Pháp Thân! Huống hồ lại [đem sánh với] các vị
Tăng như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền
ư? Ông ta chỉ biết các ông Tăng uống rượu
ăn thịt trong nhân gian th́ ngay cả những vị
Tăng giữ Thanh Quy cẩn thận (do chẳng chú ư
nên cũng sanh ư tưởng kém hèn không kham nổi này) trong nhân gian cũng chưa được
thấy nghe, huống ǵ là các vị Tăng đại thánh
nhân khác!
Quang là ông Tăng hèn kém
đến cùng cực mà ông ta vẫn muốn quy y th́ suy ra
đương nhiên cũng sẽ quy y với các bậc
thánh tăng khác. Do vậy, nói: Kết quả thù thắng
hơn ông Du, do biết được pháp môn Tịnh Độ,
được liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh
ngay trong đời này để dần dần tấn tu
viên thành Phật đạo. Đối với bệnh phổi
của vợ ông ta hăy nên kiền thành niệm thánh hiệu
Quán Âm sẽ tự lành. Mắt lắm khi tỏ, lắm khi
mờ, gốc bệnh là v́ gấp gáp, bộp chộp. Nếu
có hàm dưỡng, lại kiền thành niệm Phật và niệm
Quán Âm th́ một khi lành bệnh sẽ vĩnh viễn lành bệnh.
Xin hăy nói với ông ta!
138. Thư gởi hai vợ chồng ông
X…. (hai lá thư)
(đính kèm lá thư thứ hai của bà ta)
1) Nhận
được thư khôn ngăn than thở cảm khái. Cớ
sao bà mù quáng đơm đặt, nói Nhiên Đăng Cổ
Phật[30] giáng sanh trong nhà bà,
chưa đầy năm đă chết non? Chư Phật
sanh tử đă xong, quyết chẳng có lẽ nào thị
hiện giáng sanh rồi lại chết yểu! Nếu v́
độ chúng sanh, đức Phật bèn thừa nguyện
thị hiện giáng sanh, quả thật có chuyện ấy,
nhưng đă thị hiện giáng sanh, cũng chắc chắn
chẳng nói ta là vị Phật nào đó, đến khi
độ sanh xong xuôi, sắp thị hiện Niết Bàn, mới
tỏ rơ gốc tích. Chắc chắn không có chuyện thị
hiện giáng sanh, rồi chẳng làm Phật sự lớn
lao đă chết yểu ngay! Thanh Văn Sơ Quả đă
đoạn Kiến Hoặc, vẫn c̣n Tư Hoặc
chưa đoạn nên phải bảy lần sanh lên trời,
bảy lần sanh vào nhân gian mới đoạn được
Tư Hoặc, chứng Tứ Quả. Nhị Quả th́ một
lần sanh lên trời, một lần sanh trở lại
trong nhân gian rồi chứng Tứ Quả. (Bậc
Sơ Quả, Nhị Quả sanh trong nhân gian tuổi thọ
đều dài, ngắn bất định, hoặc mấy
tháng, mấy năm, mấy chục năm, chính là theo nghiệp
thọ sanh vậy). Tam Quả do
đă đoạn sạch Tư Hoặc trong Dục Giới,
vẫn phải ở trong Ngũ Bất Hoàn Thiên của Sắc
Giới trải qua nhiều kiếp mới có thể đoạn
sạch Tư Hoặc, chứng Tứ Quả. Tứ Quả
đoạn sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc, trọn
chẳng c̣n sanh duyên trong tam giới. Nếu phát hoằng thệ
nguyện thị hiện giáng sanh th́ có thể [giáng sanh trong
tam giới], kẻ theo nghiệp thọ sanh chẳng thể
sánh bằng [những vị này]!
Bà là nghiệp lực
phàm phu bịa chuyện đồn đại này, vu báng cổ
Phật, muốn được những kẻ mù mắt
trong thế gian cho rằng bà là cha mẹ của Phật. Nếu
nói với kẻ thông hiểu Phật pháp, nhất định
họ sẽ quở bà là dùng lời lẽ tà quái lừa dối
mọi người! Dẫu cho người trong cuộc
không rảnh rang hỏi đến, há cũng chẳng sợ
thiên lôi giết bà hay sao? Bà c̣n đến các nơi t́m
người họa thơ của bà. Nếu chẳng phải
là ngoại đạo không phân biệt được tà hay
chánh và là kẻ si chẳng biết thơm hay thối, ai chịu
chấp nhận lời nói ấy của bà là đúng? Bà hăy
nên thống thiết sửa đổi lỗi trước,
phàm đă gởi thư cho những ai đều hăy nên gởi
thư cho họ bày tỏ thẳng thắn cái tội ấy,
buồn đau cầu sám hối, ngơ hầu chẳng đến
nỗi đem phàm lạm thánh, vĩnh viễn đọa
vào địa ngục A Tỳ, chịu các nỗi khổ
cùng cực, vĩnh viễn không có ngày ra! Nếu chẳng
coi lời Quang là đúng th́ bà là quyến thuộc của
ma, chứ không phải là đệ tử của tôi! Sao bà
lại khổ sở mù quáng bịa chuyện, bị người
sáng mắt thóa mạ, bị thiên địa quỷ thần
tru diệt vậy? Do mong mỏi bà biết lỗi liền
sửa đổi, hối lỗi; nếu không, khi khổ
báo xảy đến, có hối cũng chẳng kịp; v́
thế, tôi không thể trọn hết bổn phận, nói
thẳng, quở trách gay gắt. Nếu bà chẳng nghe, chẳng
liên can ǵ đến tôi nữa!
Kính vâng lời dạy từ bi,
được nhận lời quở trách nghiêm khắc,
cung kính đọc đi đọc lại, cảm kích lẫn
hổ thẹn chen lẫn. Đứa con yêu quư bị chết
yểu, tâm chua xót muôn phần, nghiệp chướng sâu nặng,
làm thơ nói động đến cổ Phật, khơi
ra tội lỗi thật nhiều! Kiền thành sám hối, thống
thiết sửa đổi lỗi trước. Phàm phu tục
tử bẩm tánh ngu độn, lỗ măng, hoàn toàn cậy
vào ân sư khai thị, sáng tối suy nghĩ cặn kẽ,
tiền tŕnh nguy hiểm, thật đáng sợ quá! Do
nghĩ đến điều này, kính dâng thư bày tỏ,
cảm tạ, cúi mong ân sư rủ ḷng xót thương
như biển rộng. Nghiệp căn đă gieo từ
trước, pháp duyên thiếu sót đă lâu, dốc ḷng cầu
xin thầy thường ban pháp hối (sự dạy dỗ
về mặt pháp), ngơ hầu trong chốn lưới trần
âm u, được nhờ đuốc huệ soi sáng thông
suốt; trong biển khổ mịt mù, được nhờ
thuyền từ phổ độ.
2) Hôm
trước nhận được thư biết bà đă
nhận lỗi, xót xa xin sám hối, vốn muốn trả
lời ngay, nhưng không rảnh rỗi, nên chần chừ
đến nay. Con người sống trong thế gian, phải
giữ bổn phận. Y phục, đồ vật, danh
xưng đều chẳng nên quá tôn quư, chớ v́ [muốn]
đẹp mặt mà xưng hô bừa băi. Ví như thứ
dân xưng bừa là đế vương, tội ắt diệt
tộc, chẳng đáng sợ ư? Bà đem đứa
con chưa đầy năm bị chết yểu, xưng
bừa là Nhiên Đăng Cổ Phật thị hiện, muốn
được cái mỹ danh là cha mẹ của Phật, chẳng
biết cái tội khinh nhờn, miệt thị cổ Phật
cho đến hết đời vị lai cũng chẳng
có ngày thoát khỏi A Tỳ địa ngục! Nếu Quang
không nói toạc ra, bà vẫn cứ muốn đem bài thơ
đă soạn gởi cho khắp mọi người trong
nước, ngơ hầu kẻ vô tri cũng bắt chước
dẫm theo vết chân của bà th́ những kẻ gian tà “ngư
ông đắc lợi” đều coi đứa con chết
yểu là Cổ Phật Thị Hiện.
Thoạt đầu chỉ
mong được kẻ vô tri khen ngợi, kế đến
là dựng tháp, xây miếu, tom góp của cải để
làm giàu. Kế đến là những kẻ gian tà cùng nhau tụ
tập, bèn lập giáo môn, lừa dối, gạt gẫm kẻ
ngu tục. Lâu ngày dấu vết xấu xa lộ ra khiến
cho mọi người cùng chịu phép nước [trừng
phạt], nhưng trong số những kẻ gian tà
đương thời, có những kẻ ẩn nấp giấu
ḿnh chưa bị tru diệt, lâu ngày lại dấy lên, giống
như bọn Bạch Liên Giáo[31] cứ
lây nhây không ngừng, là mối hại cho thế gian. Kể
từ sau đó, bọn giáo đồ chỉ đổi
danh xưng, chẳng đổi bản chất. Lũ ngoại
đạo ấy đều chuộng bí mật, dẫu là
cha con, chồng vợ vẫn đều chẳng bảo
cho biết. Do điều bí mật ấy cố kết
trong tâm kẻ ngu nên bất cứ vị thiện tri thức
nào khai thị, chỉ dạy, họ đều chẳng chịu
tin theo, như con chó coi phẩn là thơm, không ăn không
được! Thường nói với người khác: Thầy
ta là vị Phật nọ, vị Tổ Sư kia xuất thế,
ta là vị Phật nọ, vị Tổ Sư kia xuất thế,
mù quáng bịa chuyện để mong được danh
văn, lợi dưỡng, chẳng tính đến chuyện
Phật pháp bị hoại loạn, khiến cho chúng sanh bị
nghi ngờ, lầm lạc, sống chịu phép nước,
chết đọa ác đạo từ kiếp này sang kiếp
khác, không có lúc thoát ra! Mối tệ ấy lưu truyền
chẳng thể kể xiết được!
Hành vi của bà nếu
chẳng thống thiết sửa đổi ắt sẽ
giống như bọn chúng, chẳng đáng sợ ư?
Hăy nên in một tờ thư sửa lỗi sám hối, phàm
trước kia đă gởi bài thơ đó cho những ai,
nay đều gởi [tờ thư ấy] ngơ hầu họ
biết tường tận. Cái huy hiệu có ba chữ Niết
Bàn Thất hăy đốt đi, những chuyện đă lầm
lạc tính làm trước kia thảy đều dẹp hết.
Dựa theo những điều đă nói trong Một Bức
Thư Gởi Khắp, sanh tín, phát nguyện, niệm Phật
cầu sanh Tây Phương. Nếu thật sự chịu
thật tâm bày tỏ sám hối, chắc chắn sẽ
được nghiệp tiêu trí rạng, chướng tận,
phước tăng, cậy vào Phật từ lực văng
sanh Tây Phương, lợi ích ấy há diễn tả
được chăng? Quang đă v́ bà có thể nói là tột
bực không ǵ hơn được nữa, tôi đă trọn
hết trách nhiệm, bổn phận của tôi. Nếu bà
đọc kỹ, nghĩ chín, ắt sẽ lâm vào t́nh cảnh
lệ ứa đầm đ́a không thể cầm
được!
139. Thư gởi nữ sĩ Ngô Huệ
Đức
(năm Dân Quốc 28 - 1939)
(Đính kèm lá thư của Tông Xước gởi đến)
Sư tôn từ bi soi xét! Nữ
sĩ Ngô Huệ Đức ở bến Á Sa Hán (Sungai Asahan)
thuộc đảo Tô Môn Đáp Lạp (Sumatra) tại Nam
Dương (Indonesia) trước kia gặp chuyện khốn
khó, tai ách, phát tâm thờ Phật đă được tám
năm. Trước kia, đệ tử là một trong
năm người đầu tiên phát tâm thờ Phật tại
thành phố Miên Lan (Medan), vốn nằm trong thuộc địa
Tô Môn Đáp Lạp của Hà Lan. Mẹ bà ta là cụ Ngô Trần
Thị, người huyện Đồng An, tỉnh Phước
Kiến, đồng thời được nghe pháp, không
lâu sau cũng phát tâm thờ Phật, pháp danh là Hiền Hạnh.
Mười năm gần đây, từ thành phố Dân Lễ
(Kota Binjai) ở Tô Đảo (đảo Sumatra) chuyển
sang sống ở Tân Gia Ba là thuộc địa của Anh,
qua đời vào ngày mồng Ba tháng Mười Một
năm nay. Những nét chánh trong cuộc đời cụ
đă được con gái cụ là Huệ Đức ghi
chép tường tận, xin sao lại trong tờ giấy
khác, đính kèm. Nữ sĩ Huệ Đức thường
từ Á Sa Hán đến tỉnh Tân Gia Ba thăm viếng song
thân. Mỗi lần lui tới đều đến chỗ
ở của đệ tử tại đảo Tân Lang (
Trước kia, đệ tử đă về nước,
lên núi triều bái, đến chùa Báo Quốc ở thành Tô
Châu lễ bái, thân cận sư tôn và có lần cùng với mấy
vị cư sĩ nam nữ từ Vô Tích đến Tô Châu
khấu kiến, được nghe lời dạy, tán thán tịnh
nghiệp đạo tràng Linh Nham, được trọng vọng
ở vùng Đông Nam. Có người phát tâm làm lễ cầu
siêu cho tiên linh, được tăng chúng chùa Linh Nham rủ
ḷng Từ thành tựu pháp sự cầu siêu, được
thọ ân lớn lao khó thể nghĩ bàn! Sau khi trở về
Nam, cũng đă từng tán dương, kể lể với
mấy vị tịnh lữ[32]. Nữ sĩ Huệ
Đức vốn hướng ḷng về thầy đă lâu.
Lần này, sau khi mẹ bà ta qua đời, tuy do thân hữu
kiều bào đất Mân (Phước Kiến) chủ
trương đă cử hành pháp sự cầu siêu tại
chùa Long Sơn thuộc Tân Gia Ba là chỗ trụ của
Tăng chúng quê ở đất Mân, Huệ Đức
đă bao lần hướng về cha và quyến thuộc
xưng tụng chùa Linh Nham là đạo tràng hy hữu. Nếu
có thể thỉnh cầu chùa làm pháp sự siêu độ
th́ có phước lớn lao chẳng thể sánh ví
được! Đă được người nhà đồng
ư, bà ta liền đến chỗ đệ tử, giao cho
hai trăm đồng tiền của nước nhà, dặn
tŕnh đầy đủ mọi lẽ với sư tôn, cầu
xin rủ ḷng Từ phương tiện, chuyển đạt
lời thỉnh ḥng thành toàn chuyện này, khôn ngăn ghi khắc cảm kích đến
cùng cực! Đệ tử Tông Xước kính cẩn khấu
đầu.
Nhận
được thư của nữ sĩ Tông Xước
giới thiệu bà xin cầu siêu cho mẹ, biết mẹ
con bà đă sớm được gội ân Phật giáo hóa,
tin sâu Tịnh Độ. Mẹ bà yêu tiếc đồ vật,
biến những thứ bị người ta bỏ đi
thành những món được người ta quư trọng,
tâm nhạy bén, bàn tay khéo léo ấy cũng do nhiều đời
vun bồi thành. Đến khi lâm chung, bà lại có thể bảo
cả nhà trợ niệm và thỉnh tịnh lữ trợ
niệm, nên cụ buông xuống được hết thảy,
chỉ nghĩ đến Phật, qua đời rồi
đỉnh đầu vẫn c̣n nóng bừng, vẻ mặt
tươi nhuận, có thể là tướng lành [chứng
tỏ cụ] đă văng sanh. Nay bà lại xin Linh Nham cầu
siêu th́ phẩm sen chắc sẽ tăng cao. Có thể nói là
bà là người đă báo được ân mẹ. So với
những kẻ bày vẽ mù quáng, coi giết hại mạng
sống loài vật, tụ họp bạn bè tiệc tùng là
sang, [chẳng biết đấy] chính là hành vi của những
kẻ đại bất hiếu “[cha mẹ] đă té xuống
giếng c̣n bị quăng đá” th́ khác biệt như một
trời, một vực vậy!
140. Thư trả lời đại
sư Tế Thiện
Nhận
được thư hôm trước, do chữ nhỏ, mắt
ḷa, trời lại âm u, nên chẳng trả lời ngay
được. Hôm nay trời quang mây tạnh, bèn dùng kiếng
lăo lẫn kiếng lúp hỗ trợ để đọc
và trả lời đại lược. Những tướng
trong mấy năm qua như thầy đă kể thật
nguy hiểm quá. May là chưa gặp được đại
thiện tri thức có cùng chí hướng, nên biết đấy
là cuồng vọng, chẳng đến nỗi do hoằng
pháp lại biến thành nghiệp diệt pháp! Nếu không,
nguy hiểm lắm thay! Đối với pháp tắc tu Tịnh
đă nói th́ đều vốn là lời thành thật của
chư Tổ, cố nhiên không có ǵ chẳng thích đáng!
Nhưng người căn tánh viên đốn thọ pháp
không pháp nào chẳng viên.
Vô Lượng Thọ
Kinh, Quán Kinh, A Di Đà Kinh tuy sai khác về mặt văn tự,
nhưng ư nghĩa dung thông lẫn nhau. Đức Phật v́
chúng sanh trong chín pháp giới nói ra, chúng ta há nên chẳng tự
lượng, cứ chuyên chú theo cái nh́n của bậc tối
thắng ư? Thân trượng sáu hay tám thước, đức
Phật đă từng giảng qua cho chúng ta. V́ kẻ Hạ
Phẩm trước khi đọa địa ngục rộng
mở pháp Tŕ Danh, đấy chính là Quán Kinh vẫn coi Tŕ
Danh là hạnh thiết yếu nhất. Vô Lượng Thọ
Kinh nói cặn kẽ thệ nguyện của Phật và những
tướng thanh tịnh, đấy chính là bí quyết quan
trọng cho người tu tập dựa theo kinh Tiểu Bổn
(kinh A Di Đà). Do hai kinh này sẽ biết văn tự của
kinh Tiểu Bổn chỉ là toát yếu. Do vậy, biết
rằng: Tuy y theo Tiểu Bổn, chớ nên nghĩ hai kinh
kia không khẩn yếu rồi coi thường!
Đối với sự
tu tŕ, nếu thật sự chí thành th́ một lần chiêm
ngưỡng, một lạy, một lượt xưng
danh đều tiêu diệt được vô lượng tội,
tăng vô lượng phước, chứ không phải là
nhất định phải tu theo một cách nào mới
được! Tâm địa thanh tịnh, thánh cảnh hiện
tiền, nhưng đấy vẫn là những ǵ ta sẵn
có. Há nên như đứa con nghèo nhặt được
vàng bèn mừng vui quá mức như điên như cuồng?
Đă có t́nh trạng ấy, hoàn toàn là tính cách của phàm
t́nh. Nếu chẳng suy xét phản tỉnh, khó khỏi bị
ma dựa! Xưa kia, đại sư Trí Giả tụng
kinh Pháp Hoa, đến chỗ “thị
danh chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường
Như Lai” (đấy gọi là chân tinh tấn, đấy
gọi là chân pháp cúng dường Như Lai) hoát nhiên đại
ngộ, lặng lẽ nhập định, đích thân thấy
một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan. Nếu
có tướng trạng mừng rỡ điên cuồng không
kiềm chế được th́ làm sao nhập định
cho được? Suy nghĩ điều này sẽ biết:
Thánh cảnh hiện bèn mừng rỡ như điên th́
đều là phàm t́nh, rất trái nghịch thánh trí. Nếu
chẳng tự lượng, cũng nguy hiểm lắm
thay! Một pháp Tịnh Độ chính là pháp môn Tổng Tŕ
thành thủy thành chung để mười phương tam
thế hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh, lắm kẻ muốn làm
bậc cao nhân đệ nhất xưa nay bèn coi thường,
hủy báng [pháp này]. Chúng ta nên lấy chư Phật, chư
Tổ làm thầy, chớ nên lấy những hạng cao
nhân ấy làm căn cứ, sẽ được
nương Phật từ lực văng sanh Tây Phương
ngay trong đời này. Nếu không, liễu sanh thoát tử
sẽ là chuyện lâu xa lắm!
141. Thư trả lời Trần Huệ
Cung và Tôn Huệ Giáp
Nhận
được thư khôn ngăn mừng rỡ, an ủi,
Quang do năm mươi tám năm trải đời, biết
một pháp Tịnh Độ là pháp môn Tổng Tŕ để
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh. Những pháp môn khác tuy cao sâu huyền diệu,
nhưng phàm phu sát đất ai có thể đích thân chứng
được ngay trong đời này để được
lợi ích thật sự? Chỉ có tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tây Phương là có thể cậy vào Phật từ
lực tiếp dẫn văng sanh. Đă văng sanh Tây
Phương bèn siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.
Kẻ thấp nhất đă bằng với Tứ Quả
A La Hán trong Tiểu Thừa và bậc Bồ Tát thuộc
địa vị Thất Tín trong Viên giáo. Do vậy, biết
pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt
trong các pháp môn do đức Phật đă nói ra trong cả một
đời Ngài, chớ nên dùng sự tu chứng của hết
thảy các pháp môn để so sánh, bàn định [pháp này].
Hiện thời có rất
nhiều kẻ đại thông minh, coi Tịnh Độ là
Tiểu Thừa, chẳng những chính ḿnh không tu tŕ, mà c̣n
lắm cách chê bai, bài bác, phá hoại sự tu tŕ của
người khác. Chẳng biết pháp này chính là pháp để
phàm lẫn thánh cùng tu: Kẻ phàm phu do nghiệp lực sắp
đọa địa ngục mà niệm được
danh hiệu Phật liền có thể lập tức văng
sanh. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát sắp thành Phật
đạo vẫn phải dùng công đức của mười
đại nguyện vương hồi hướng văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để
mong viên măn Phật quả.
Pháp môn Tịnh Độ
lớn lao thay! Đáng thương thay, những kẻ
đại thông minh chẳng những không tu tŕ lại c̣n
chê bai, bài bác! May mắn thay, ngu phu ngu phụ tín nguyện
tŕ danh được cùng với Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh
hải chúng làm bạn lữ. Những kẻ đại
thông minh kia dẫu có túc phước chẳng bị đọa
tam đồ ngay lập tức, nhưng mong được
kề vai sát cánh với ngu phu ngu phụ vẫn chẳng được!
Huống hồ đă báng pháp này, khó khỏi bị đọa
lạc! Những kẻ ấy mắc bệnh ham cao chuộng
xa, thật sự chẳng biết cội nguồn của
sự cao xa, nếu họ thấy chư vị trong Hoa Tạng
hải chúng nhất trí tiến hành, dùng mười đại
nguyện vương cầu sanh Tây Phương sẽ hổ
thẹn muốn chết, đâu dám coi pháp môn này là Tiểu
Thừa chẳng đáng để tu tŕ ư?
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Phần
5 hết
[1] Lă Tổ: Tên thật là Lă Nham, là một vị đạo sĩ nổi tiếng sống vào cuối đời Đường, đầu thời Ngũ Đại, được xếp vào Bát Tiên, hiệu là Thuần Dương Tử, tên tự là Động Tân. Tương truyền, ông sanh vào cuối đời Đường, từng đi thi nhiều lần, nhưng không đậu, trong quán trọ gặp được ẩn sĩ Chung Ly Quyền điểm hóa bằng cách cho một cái gối, bảo kê đầu nằm ngủ. Lă Nham nằm ngủ, mơ thấy ḿnh đậu Trạng Nguyên, làm quan đến tột phẩm, nắm quyền Tể Tướng, rồi về sau bị gian thần gièm pha, bị lôi ra pháp trường chém đầu, sợ quá tỉnh dậy th́ ra chủ quán đang nấu nồi cháo kê vàng vẫn chưa chín. Bao nhiêu chuyện xảy ra trong năm mươi năm, chỉ là một giấc mộng trong mấy phút (do truyền thuyết này nên có điển tích văn học “hoàng lương mộng”). Ông Lă tỉnh ngộ, theo Chung Ly Quyền tu tiên. Lă Đồng Tân đề xướng nhiều biện pháp tu Nội Đan quan trọng nên rất được Đạo gia đề cao. Đến đời Nguyên, năm 1269, Nguyên Thế Tổ sắc phong cho Lă Đồng Tân đạo hiệu Thuần Dương Diễn Chánh Cảnh Hóa Chân Quân, rồi Thuần Dương Diễn Chánh Phù Hựu Đế Quân. Do Vương Triết (tức Vương Trùng Dương), sáng tổ Toàn Chân Giáo, tự xưng ông ta đă được chính Lă Động Tân đích thân truyền đạo, xưng tụng họ Lă là Tổ Sư khai đạo, nên từ đó, Lă Động Tân thường được gọi bằng danh xưng Lă Tổ, hay Thuần Dương Tổ Sư. Tương truyền, sách Công Quá Cách cũng do Lă Tổ truyền dạy.
[2] Vật Do Như Thử là một tác phẩm
tập hợp những chuyện t́nh nghĩa, nhân ái, đạo
đức trong giới động vật như quạ biết
tha mồi về phụng dưỡng mẹ già v.v.. Tác phẩm
này do Từ Khiêm biên soạn vào đời Thanh.
[3] “Tam hiệu tự” là một lối in với
kích cỡ chữ khá lớn, tương đương với
font chữ size 32 trong bản in bằng máy vi tính hiện thời.
[4] Bạch Phảng là tên tự của Từ
Khiêm. Ông này cũng là tác giả cuốn Hải Nam Nhất Chước,
rất mê cầu cơ. Ông này đă được Tổ Ấn
Quang nhắc đến trong thư số 75, tức thư trả
lời cư sĩ Giang Cảnh Xuân
[5] Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) là một chính trị gia và lănh đạo tinh thần của Ấn Độ, có công hướng dẫn dân Ấn đấu tranh bất bạo động giành độc lập cho Ấn Độ từ tay Anh quốc. Ông thường được gọi là Mahatma Gandhi. Từng tốt nghiệp Luật Sư, ông đă áp dụng sự đối kháng ḥa b́nh vào cuộc đấu tranh tại Nam Phi. Trong vai tṛ lănh đạo đảng Quốc Đại Ấn Độ (Indian National Congress), với chủ thuyết bất bạo động, ông đă liên kết được mọi phần tử khác biệt chính kiến, tôn giáo, giai cấp trong xă hội Ấn Độ để chung sức tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Tuy thế, khi Ấn Độ giành được độc lập, do sự bất đồng chính kiến và tranh giành quyền lực giữa những phe phái tín đồ Ấn giáo và Hồi giáo, Pakistan đ̣i tách khỏi Ấn Độ. Một tín đồ Ấn Giáo cuồng nhiệt thuộc nhóm quá khích Ấn giáo Mahsabha là Nathuram Godse đă ám sát Gandhi v́ cho rằng chính ông ta đă nhu nhược nhượng bộ trước sự đ̣i hỏi phân ly của Pakistan. Gandhi từng chống đối hàng nhập cảng của Anh, nên đă hướng dẫn một đoàn người đi bộ ra tận biển khơi lấy nước biển làm muối khi thực dân Anh đánh thuế muối, cũng như tự quay xa, kéo sợi dệt vải lấy để khỏi phải dùng vải nhập từ Anh.
[6] Đây là cuốn sách tập hợp những
bài giảng về Phật pháp của Giang Dịch Viên, do
cư sĩ Thôi Chú B́nh ghi chép lại, Trần Thự
Đ́nh giảo chánh và ấn hành.
[7] Lệnh ái: Tiếng gọi con gái người
nhằm tỏ ư tôn trọng.
[8] Cân là một đơn vị đo
lường trọng lượng đă có từ thời cổ,
định lượng không đồng, mỗi đời
mỗi khác. Thời Hán một cân chỉ là 200 gr. Qua mỗi
đời, Cân nặng dần lên, đến đời
Thanh, một cân khoảng 590 gr. Hiện thời, Đài Loan
quy định một cân là 600 gr, tại Hoa Lục là 500 gr,
riêng Hương Cảng là 604,79 gr.
[9] Tổ Ấn Quang thường tŕ chú
Đại Bi vào nước, gọi là Đại Bi Thủy,
hoặc tŕ chú vào gạo cho người bệnh nấu
cơm ăn gọi là Đại Bi Phạn. Để tiện
gởi đi xa, Tổ tŕ chú vào tro hương, để
người nhận đem tro ḥa nước uống, giống
như uống Đại Bi Thủy vậy.
[10] Nội Viện chính là Thiện Pháp Đường của tầng trời Đâu Suất, do đại thần Lao Độ Bạt Đề kiến tạo, là trụ xứ của Bồ Tát Di Lặc. Tất cả các vị Phật thị hiện trong Sa Bà đều trụ tại Đâu Suất Nội Viện trước khi giáng sanh trong nhân gian. Các phàm thiên không thể nào thấy được Đâu Suất Nội Viện.
[11] Uất Đầu Lam Phất (Udraka Ramaputra), c̣n được phiên âm là Úc Đầu Lam Phất, hay Ưu Đà La Ca La Ma Tử, là một vị tiên nhân nổi tiếng, thành tựu Phi Phi Tưởng Định, đắc Ngũ Thông. Khi đức Phật vượt cung xuất gia từng đến tham học với ông này. Trong kinh Niết Bàn, đức Phật đă cho ông Tu Bạt Đà biết về kết cục của Uất Đầu Lam Phất: bị đọa làm con chồn bay sau khi hưởng hết phước trời.
[12] Cuộc chiến Phụng Thiên Trực Lệ xảy ra hai lần, sử thường gọi là Phụng Trực Chiến Sự, hoặc Trực Phụng Chiến Tranh. Lần thứ nhất kéo dài từ ngày Hai Mươi Tám tháng Tư đến ngày Năm tháng Năm năm 1922. Phe Tôn Trung Sơn liên minh với các quân phiệt Đoàn Kỳ Thụy và Trương Tác Sâm tại Phụng Thiên để triệt hạ thế lực của phe quân phiệt Tào Côn, Ngô Bội Phu tại Trực Lệ. Cuộc chiến rất khốc liệt v́ phe Tào Côn có đến bảy sư đoàn, năm lữ đoàn. Hai bên đều bị thiệt hại nặng nề, phải nhờ các giáo sĩ Tây Phương làm trung gian điều đ́nh ngưng chiến. Lần thứ hai xảy ra vào ngày Mười Lăm tháng Chín đến ngày mồng Ba tháng Mười Một năm 1924, Trương Tác Sâm đem năm mươi vạn quân từ Phụng Thiên kéo sang Trực Lệ rửa hận bại trận lần trước. Hai bên giao tranh khốc liệt tại Sơn Hải Quan. Tổn thất nhân mạng, tài lực trong lần thứ hai gần gấp đôi lần thứ nhất.
[13]
Xuất Sanh là một thuật ngữ thường dùng trong
Thiền Lâm: Khi chúng tăng đến trai đường
dùng bữa, vị Đường Chủ hoặc Trụ
Tŕ sẽ lấy ra một ít cơm (gọi là “sanh phạn”)
từ chén của ḿnh bỏ vào một đồ đựng
riêng (gọi là Xuất Sanh Đài hay Sanh Đài) để
thí cho Đại Bằng Kim Xí Điểu, chúng quỷ thần
Khoáng Dă, Ha Lợi Đế Quỷ Tử Mẫu v.v… Chữ
“sanh phạn” ngụ ư cơm này dùng để nuôi mạng sống
của chúng quỷ thần; do vậy, mới có từ ngữ
Xuất Sanh. Vị thị giả sẽ mang cơm ấy
ra phía ngoài trai đường, đặt nơi đất
sạch, trong bóng râm, đọc kệ Xuất Thực. Sở
dĩ phải thí thực cho chúng quỷ thần v́ khi đức
Phật hàng phục quỷ Khoáng Dă, Quỷ Tử Mẫu,
đă khuyên các loại quỷ thần ấy không nên ăn
máu thịt chúng sanh nữa, và hứa khi nào Phật pháp c̣n tồn
tại, Tăng chúng sẽ hằng ngày cúng dường thực
phẩm cho họ được no đủ. Không hiểu
v́ lư do ǵ, Phật giáo Trung Hoa, nhất là tại Hoa
[14] A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải
Thích là tác phẩm của ông Hoàng Hàm Chi (tự Khánh Lan, pháp
danh Trí Hải), nhằm chú thích những chữ khó trong kinh
và dùng lối văn Bạch Thoại “diễn tả” ư
nghĩa của những câu kinh vốn được viết
bằng cổ văn để người ít thông hiểu
cổ văn vẫn có thể hiểu được ư
nghĩa của kinh văn. Cụ Hoàng Trí Hải viết rất
nhiều cuốn Bạch Thoại Giải Thích cho các kinh Tịnh
Độ.
[15] Cái học chỉ nhằm mục
đích thi đậu ra làm quan, chú trọng luyện tập
văn chương sao cho phù hợp với yêu cầu làm bài
thi như văn sách, chiếu, biểu, thơ, phú v.v…, chứ
không chú trọng hiểu ư nghĩa giáo dục của thánh hiền
để tu dưỡng bản thân.
[16] Khuê Phạm là một tác phẩm do Lă
Khôn biên soạn dưới thời Vạn Lịch nhà Minh,
có nội dung hướng dẫn giáo dục phụ nữ
bồi dưỡng đức hạnh, nêu gương hiền
hiếu, giúp chồng dạy con, trọn hết bổn phận.
[17] Theo Dịch Học, hai can Bính Đinh
trong Thiên Can thuộc về hành Hỏa. Do vậy, người
ta thường gọi thần lửa là thần Bính
Đinh hay Bính Đinh Đồng Tử.
[18] Phạn Đầu là một vị chức vị thuộc về Thập Vụ trong tùng lâm, dưới quyền quản trị của vị Điển Tọa. Vị Phạn Đầu chuyên lo cơm cháo cho Tăng chúng, cũng như chịu trách nhiệm đảm bảo cơm nước, củi lửa đầy đủ, nồi niêu sạch sẽ, bát đũa tinh sạch.
[19] Xin xem bài Ca tụng pháp môn Tịnh Độ
thù thắng trong phần Tán Tụng của Ấn Quang pháp
sư Văn Sao Tục Biên, quyển hạ
[20] Tịnh Độ Chỉ Quy Tập do ngài Đại Hựu ở chùa Bắc Thiền thuộc Ngô Quận soạn. Nội dung được chia thành mười môn, nêu rơ sự thù thắng của Tịnh Độ, nhân duyên, quả đức, thệ nguyện của Phật Di Đà, các giáo nghĩa trọng yếu của Tịnh Độ như tướng quang minh, thọ mạng, bốn cơi Tịnh Độ, phương tiện thắng diệu, cũng như biện định sự khó dễ, lục tức thành Phật, nhất tâm tam quán, cách thức tu hành, những chứng nghiệm văng sanh, cũng như nêu rất nhiều kinh luận, điển tịch dẫn chứng pháp môn Tịnh Độ là “ngàn kinh muôn luận chỉ quy”. Nội dung rất phong phú và hữu ích cho những ai muốn chuyên tâm nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh Độ.
Ngài Đại Hựu (1334-1407), sống vào đời Minh, là cao tăng thuộc tông Thiên Thai, quê ở Ngô Huyện, tỉnh Giang Tô. Ngài c̣n có hiệu là Cừ Am, xuất gia năm 20 tuổi, thông thạo giáo nghĩa Hoa Nghiêm, Thiên Thai. Tuy vậy, ngài chuyên tu Niệm Phật tam-muội, từng giữ chức Tăng Lục Ty trong niên hiệu Hồng Vũ. Sư từng vâng chiếu biên tập kinh điển, trước tác khá nhiều bản chú giải như Bát Nhă Yếu Nghĩa, Di Đà Kinh Lược Giải, Kim Cang Kinh Lược Giải v.v…
[21] Nguyên văn “thằng
xu xích bộ”. Đây là một thành ngữ hàm nghĩa cử
chỉ, hành động tuân theo mực thước, khuôn khổ.
Thằng tức là dây làm mực, xích là thước đo, tức
hai dụng cụ chánh yếu của thợ mộc. “Thằng xu xích bộ” hiểu
theo nghĩa đen là noi theo dấu dây mực, bước
theo thước đă vạch.
[22] Phù du (đôi khi c̣n được gọi là “con vờ”) là tên gọi chung của hơn hai trăm loài côn trùng nhỏ thuộc họ Ephemeroptera, chuồn chuồn cũng thuộc họ này, nhưng tuổi thọ không quá ngắn ngủi như những con phù du. Đa phần những con phù du khá giống chuồn chuồn, nhưng nhỏ hơn. Loài ấu trùng của chúng (naiad) sống trong những vũng nước ngọt cả năm trời, đến khi lột xác bay lên thành phù du chỉ sống được vài giờ. Có loài như chuồn chuồn th́ sống được vài ngày.
[23] Thập Tín hậu tâm: Sau khi đă chứng
nhập viên măn mười địa vị thuộc Thập
Tín.
[24] Hạ Chí là một trong hai mươi bốn tiết khí của Âm lịch. Nhằm ngày đó, ngày dài nhất, đêm ngắn nhất tại Bắc Bán Cầu. Ngày này được coi như ngày mở đầu cho mùa Hạ. Hạ Chí thường rơi vào ngày 21 hoặc 22 tháng Sáu Dương lịch. Theo cách giải thích trong Dịch Học, Chí là cực điểm, Nhất Âm khởi đầu từ mùa Hạ (“Hạ chí, nhất âm sanh; Đông chí, nhất dương sanh”), hàm nghĩa: “Đến lúc này, khí Dương đă đạt đến cực điểm, bắt đầu suy vi, nên khí Âm lấn lên, Âm trưởng, Dương hao vậy!” Tương tự, Đông Chí bắt đầu vào ngày 21, 22 tháng 12, tượng trưng cho khí Âm đă đến cực điểm, bắt đầu suy vi, Âm hao, Dương trưởng!
[25] Tiết Lập Xuân dao động từ
mồng Ba đến mồng Năm tháng Hai Dương lịch,
ngày Tết thường rơi vào từ cuối tháng Giêng
cho đến cuối tháng Hai Tây, tùy theo cách tính năm nhuận.
[26] Vào thời Minh - Thanh, Sinh Viên chính là người đỗ cuộc thi khảo hạch tại phủ huyện, tức tương ứng với danh hiệu Tú Tài trong các đời trước.
[27] Diêm La Vương (Yama-rāja) chính là vị chủ tể cơi Âm. Theo Du Già Sư Địa Luận, Diêm La Vương do những vị Bồ Tát hóa hiện để giáo huấn tội nhân. Theo Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh, Đại Phương Quảng Thập Luân Kinh, Địa Tạng Bồ Tát cũng hóa hiện thân Diêm Vương để độ chúng sanh. Người Trung Quốc tin rằng: Diêm Vương giữ sổ sanh tử, người chết sẽ đến trước mặt Diêm Vương để bị xét xử tội lỗi. Có mười vị Diêm Vương cai quản địa ngục, tức Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Biện Thành Vương, Thái Sơn Vương, Đô Thị Vương, B́nh Đẳng Vương và Chuyển Luân Vương. Phật môn Trung Hoa cho rằng Đệ Ngũ Điện Diêm La Vương chính là hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát. Theo đó, người chết đến ngày thứ ba mươi lăm sẽ đến Ngũ Điện thuộc Khiếu Hoán địa ngục. Khi vong hồn những kẻ tích cóp tài sản, tham lam, bạc ác đến trước Ngũ Điện Diêm La Vương, sẽ được đưa lên Nghiệt Kính Đài (Vọng Hương Đài) cho thấy rơ t́nh h́nh của người thân c̣n sống đang phung phí, phá tán tài sản của người đă mất.
[28] Khí Thống là một chứng bệnh
thuộc về tiêu hóa, hơi sanh ra trong bao tử hay ruột
quá nhiều khiến người bệnh cảm thấy
đau nhói trong ngực, bụng.
[29] Du Tịnh Ư tên thật là Du Đô, tự Lương Thần, sống vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, học rộng tài cao, đỗ Tú Tài năm 18 tuổi. Đến tuổi trưởng thành, ông ta cùng mấy người bạn học lập ra Văn Xương Xă, tận lực thực hiện những thiện sự được dạy trong bài Âm Chất Văn của Văn Xương Đế Quân. Thế nhưng thi cử lận đận, măi không đậu được Cử Nhân, Tiến Sĩ, sanh được năm đứa con trai, bốn đứa chết yểu, đứa con thứ ba năm tám tuổi chạy chơi trong làng, bị lạc mất. Sanh năm đứa con gái, chỉ c̣n sống được một. Vợ khóc con đến nỗi mù cả hai mắt. Mỗi đêm cuối năm, cảnh nhà nghèo túng, quạnh quẽ thê lương, ông than thở ḿnh không có tội lỗi chi lớn, than là bị trời phạt bèn viết sớ tâu lên Táo Thần, cầu chuyển lên Thiên Đ́nh. Làm như vậy mấy năm, không thấy cảm ứng ǵ. Đến năm bốn mươi bảy tuổi, tối Giao Thừa, vợ chồng và con gái đang ngồi trong nhà, thấy một ông lăo đến xưng là họ Trương, đến hỏi chuyện, an ủi. Họ Du nhân đó kể lể nỗi niềm, ông Trương bèn cặn kẽ chỉ ra những khuyết điểm của họ Du: “Tuy làm lành, phóng sanh, nhưng chuộng hư danh, không thực chất, chỉ làm qua loa cho xong chuyện, cốt làm cho nhiều mà thôi, ăn nói bóng bẩy nhưng khắc bạc, gây thương tổn t́nh cảm người khác” v.v… rồi chỉ dạy cách ăn ở sao cho trọn vẹn t́nh nghĩa. Giảng giải xong, ông lăo đi ra sau bếp, họ Du chạy theo th́ ông lăo đă biến mất, do vậy mới biết là Táo Quân hiện thân chỉ điểm. Câu chuyện này được ghi lại thành Du Tịnh Ư Công Ngộ Táo Thần Kư.
[30] Nhiên Đăng Phật (Dīpamkara): Đôi khi c̣n được dịch âm là Đề Ḥa Kiệt La, hoặc Đề Hoàn Kiệt. Danh hiệu đức Phật này c̣n được dịch nghĩa thành Phổ Quang Phật, Định Quang Phật. Ngài là vị Phật trong quá khứ từng thọ kư cho đức Phật Thích Ca. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh, quyển thượng, thánh vương nước Đề Ḥa Vệ (Dīpavatī) tên là Đăng Thạnh, lúc lâm chung truyền ngôi cho thái tử Định Quang. Thái Tử biết cơi đời vô thường bèn truyền ngôi cho em trai rồi xuất gia làm sa-môn, sau thành Phật Quả. Lúc ấy, có đứa hầu trai của một vị Phạm Chí gặp được đức Phật Nhiên Đăng đang đi du hóa, bèn mua hoa cúng Phật, Phật thọ kư cho đứa hầu trai sẽ thành Phật trong tương lai, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật.
[31] Bạch Liên Giáo là một tà phái mạo danh Phật giáo trong lịch sử Trung Hoa. Vào năm Thiệu Hưng thứ ba (1133) đời Tống Cao Tông, Từ Chiếu Tử Nguyên (tức Mao Tử Nguyên) hâm mộ di phong của Sơ Tổ Huệ Viễn Tịnh Độ Tông bèn xướng suất dân chúng kết xă niệm Phật, tự xưng là Bạch Liên Tông. Nhưng rồi bị môn nhân là Tiểu Mao Xà Lê bóp méo giáo nghĩa, pha trộn các giáo thuyết của Minh Giáo (Bái Hỏa Giáo, tức Ma Ni Giáo, thường bị gọi miệt thị là Ma Giáo) và Di Lặc Giáo (thoạt đầu đây là một đoàn thể sùng bái Di Lặc Bồ Tát, nguyện văng sanh Đâu Suất, nhưng rồi bị các phần tử có dă tâm lợi dụng, tạo thành một thứ hội kín nhằm tạo phản). Họ có tổ chức khá quy mô, dự trữ vũ khí, chiêu mộ vũ sĩ. Vào thời Nguyên, giáo phái này tuyên bố Minh Vương Xuất Thế, Di Lặc Phật Hạ Sanh, rất có thế lực tại Hà Nam, Giang Hoài, và các nơi khác thuộc lưu vực Trường Giang. Năm Chí Đại nguyên niên (1308), do bị Nguyên Vũ Tông hạ chiếu truy nă, Bạch Liên Giáo rút vào hoạt động bí mật. Đến năm Chí Chánh 11 (1351), dưới danh xưng Hồng Cân Quân (quân khăn hồng), Bạch Liên Giáo dấy loạn nhiều nơi. Ngay cả Châu Nguyên Chương cũng phải dựa dẫm vào thế lực của Bạch Liên Giáo, nhất là phe Hàn Sơn Đồng, để khởi nghĩa chống Mông Cổ. Do vậy, sau khi đánh đuổi xong quân Mông, Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) bèn lập kế hoạch truy diệt Bạch Liên Giáo, quy định “thủ lănh bị xử giảo, tín đồ bị đánh một trăm trượng, đày đi ba ngàn dặm”. Tuy thế, Bạch Liên Giáo vẫn tồn tại trong ṿng bí mật, đội lốt dưới các tên khác như Niết Bàn Giáo, Hồng Dương Giáo, Hồng Phong Giáo, Lăo Tử Giáo, La Tổ Giáo, Nam Mô Giáo, Tịnh Không Giáo, Ngộ Minh Giáo, Đại Oai Vô Vi Giáo, Thiên Lư Giáo, Nhất Quán Đạo, Hồng Thương Hội… Đến đời Thanh, Bạch Liên Giáo vẫn c̣n tồn tại và chia thành nhiều phái nhỏ như Lăo Quan Trai, Bát Quái Giáo, Đại Thừa Giáo, Cửu Tiên Hội, Đại Đao Hội, Tiểu Đao Hội, Thiên Môn Hội, Vô Cực Hội, Kim Đan Đạo, Khoái Đạo, Phiến Tử Hội, Thiên Hoàng Hội, Báo Đức Môn, Vô Cực Lăo Mẫu Hội, Thập Tổ Môn, Kim Đan Hội, Tọa Công Hội, Hiền Thánh Giáo… Họ lại đề xướng phản Thanh phục Minh, nhằm lôi cuốn những người chống đối Thanh triều. Hai đợt bạo loạn lớn nhất của Bạch Liên Giáo là vào năm Càn Long 39 (1774) và cuộc biến loạn tôn giáo vùng Xuyên Sở (sử gọi là Xuyên Sở giáo loạn) thời Gia Khánh. Theo Lao Năi Huyên, tác giả cuốn Nghĩa Ḥa Quyền Giáo Môn Nguyên Lưu Khảo, đến cuối đời Thanh, Nghĩa Ḥa Đoàn (Quyền Phỉ) chính là hậu thân của Bạch Liên Giáo, nhưng thuyết này bị nhiều học giả nghi ngờ, phản bác.
[32] Tịnh lữ: Bạn thanh tịnh, tức
bạn cùng tu Tịnh Độ.