Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao Tục Biên,
Quyển Thượng
Phần 6
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp
hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
142. Trả lời thư cư sĩ Niệm
Phật
(tức là cư sĩ X… ở Vĩnh Gia được nhắc đến trong Văn Sao Chánh Biên, [những lá thư này] được viết bắt đầu từ năm Dân Quốc 16 - 1927 đến năm Dân Quốc 26 - 1937. Sao lục đầy đủ)
Hôm qua nhận
được thư, khôn ngăn cảm khái, than thở.
Đă biết căn bệnh, lại biết thuốc chữa,
chẳng chịu uống ngay, lại c̣n hỏi han thuốc
men, há chẳng phải là vô sự sanh sự? C̣n như niệm
Phật cũng được, niệm Quán Âm cũng
được, cần ǵ phải lắm phen so đo thừa
thăi như vậy? Do nỗi khổ trong Mạt kiếp nặng
nề, đức Quán Âm ḷng bi sâu xa, nên Quang thường
khuyên người khác niệm kèm thêm [danh hiệu Ngài] để
mong mau được Ngài từ bi che chở. Niệm Phật
cũng chẳng phải là không được cảm thông,
mà niệm Phật cũng không phải là chẳng thể niệm
kèm [danh hiệu] Quán Âm! Chuyên niệm hay kiêm niệm đều
được, đức Phật cũng từng dạy
con người niệm [danh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát]. V́ thế, biết là hoàn toàn chẳng trở ngại
ǵ! Nếu niệm Di Đà cầu sanh Tây Phương, lại
niệm Dược Sư cầu sanh Đông phương
th́ không được; c̣n Di Đà và Quán Âm là cùng một sự,
nhưng đức Quán Âm bi sâu nguyện nặng nên thường
kiêm niệm để mong mau được cảm thông. Tất
cả những thứ nghị luận thừa thăi đều
là chẳng cần thiết! Cổ nhân nói: “Tuân kỳ sở văn, hành kỳ sở tri” (Tuân
theo điều đă nghe, hành điều đă biết).
Hai câu ấy chính là khuôn phép để tu tŕ chân thật vậy!
Quán Âm chính là quá khứ
Cổ Phật, làm bậc phù tá đức Di Đà. Niệm
Quán Âm cầu sanh Tây Phương vẫn có thể được
như nguyện, có ǵ là không được! So sánh những
công đức niệm Quán Âm, Địa Tạng, Di Đà
v.v… chính là nhằm khiến cho người ta phát tâm quyết
định niệm Phật, chẳng có ư niệm đổi
dời mà thôi! Nếu chấp chết cứng vào lời ấy,
chẳng hiểu được ư, sẽ trở thành oan uổng
cho đức Phật. Hiện thời, mọi người
đều đang trong cảnh hoạn nạn, hăy nên nói với
hết thảy mọi người “để giải trừ
hoạn nạn chỉ có một cách là sửa lỗi hướng
thiện, đôn đốc luân thường, chí thành, khẩn
thiết, xưng niệm danh hiệu Quán Âm”, ấy là diệu
pháp độc nhất vô nhị! Bất luận các sự
nguy hiểm như nước, lửa, đao, binh v.v… và bệnh
tật do oán nghiệp, thuốc men chẳng thể trị
được, nếu chịu tuân theo những điều
vừa nói trên đây, chắc chắn sẽ gặp dữ
hóa lành, gặp nguy thành an, và oán nghiệp tiêu diệt, không uống
thuốc mà lành bệnh. Nh́n vào thời cuộc hiện tại,
nguy hiểm muôn phần, nếu chiến sự xảy ra, cả
nước không một chỗ nào yên vui cả! Dẫu là chỗ
chưa bị chiến tranh lan đến th́ cái họa thổ
phỉ so với chiến tranh c̣n khốc liệt hơn nữa!
Hăy nên bảo hết thảy già trẻ, trai gái đồng
niệm “Nam-mô A Di Đà Phật” và “Nam-mô Quán Thế Âm Bồ
Tát”. Ngoại trừ cách này ra, không có cách tốt lành nào khác!
Đối với tai nạn nhỏ th́ sẽ gặp dữ
hóa lành. Dẫu cho mọi người đều cùng chết
sạch, người niệm Phật sẽ nương
theo Phật lực, hoặc sanh về Tây Phương, hoặc
sanh vào đường lành. Chớ nên nói “đă không thể
nào tránh khỏi cái chết th́ niệm Phật vô ích!” Chẳng
biết: Con người được thọ sanh làm
người đều do nhân duyên tội phước
đă gây trong đời trước tạo thành cái gốc
[để quyết định] sanh vào nhà phú quư hay bần
tiện. Người niệm Phật có tín nguyện sẽ
được văng sanh; dẫu không có tín nguyện cũng
chẳng đến nỗi đọa vào ác đạo, há có
nên chẳng niệm để tự ḿnh lầm, lầm
người ư?
Mọi chuyện phải
khéo suy nghĩ, chớ nên mặc t́nh làm bừa. Ngay như hành vi bố thí thường là
chuyện lành, nhưng đối với kẻ chẳng biết
hổ thẹn lại biến thành chướng ngại, cố
nhiên hăy từ chối, không chấp nhận! Nếu kẻ
[như vậy] đến xin, chỉ cho một chút, hắn
sẽ tự chẳng đến nữa, cũng chẳng
đến nỗi nổi nóng phát cáu, chỉ có cách mặc kệ
hắn là hay nhất. Gia Ngôn (lời dạy trong gia
đ́nh) của ông [Nhiếp] Vân Đài khá hay, muốn giúp
cho [tác phẩm ấy được] lưu truyền, có lẽ
hăy nên giúp tiền cho ông ấy để tùy ông ta làm sao cho
đôi bên đều không bị ngăn ngại!
Mua con vật đem
phóng sanh cũng giống như bố thí: Đều cần
phải khéo lập cách, đừng định kỳ hạn
nhất định, đừng bắt buộc ở một
nơi cố định, đừng bàn bạc phải thả
một loài vật nhất định, hăy tùy duyên mua rồi
đem phóng sanh th́ sẽ được lợi ích thật
sự. Nếu lập kỳ hạn nhất định, chọn
nơi nhất định, thả một loài vật nhất
định, sẽ thúc đẩy người khác săn bắt
nhiều [loại đó]. Mua trâu, dê, lợn đều phải
có khoản tiền cỏ, tiền thức ăn quanh
năm; đấy là một khoản tiền lớn.
Nhưng mỗi lần có người thả, nếu họ
chẳng đóng khoản tiền ấy th́ người lo
liệu phải mua giùm. Có lẽ nên đem tiền giao cho
người trông nom để họ tùy ư: Hoặc mua sinh vật,
hoặc mua cỏ, thức ăn cho thích hợp! Bài văn
khuyên người khác phóng sanh của Sư Thọ rất
hay, nhưng nên chú trọng khuyên người ta kiêng giết,
ăn chay, che chở, yêu tiếc sanh mạng loài vật th́
chẳng tốn tiền tài, chẳng tạo thành chuyện
đánh bắt nhiều, công đức ấy rất lớn!
Trước tượng
Tây Phương Tam Thánh không cần phải đắp
tượng Phật Thích Ca. Phàm những thứ đeo giắt
trên thân như chú Lăng Nghiêm v.v… khi nằm nghỉ, lúc
đại tiểu tiện nên cởi ra. Chỉ khi gặp
cảnh nguy hiểm cùng cực là có thể không cần tháo
ra. Nếu lúc b́nh thường không nguy hiểm vẫn không
bỏ ra, sẽ thành cái tội khinh nhờn không thể kể
xiết được! [Nếu] trong pḥng có kinh tượng
th́ hăy nên hết sức kính trọng! Hàn Sơn và Thập
Đắc[1] là do Văn Thù và Phổ
Hiền hiện ra, v́ thế phải thường giữ
ḷng kiêng sợ, chẳng dám phóng túng mới nên!
Đồ chay nơi những
quán cơm không sạch sẽ, người ăn chay nên
vĩnh viễn đoạn trừ những thứ ăn uống
giao tế ấy. Nếu người ta mời, bèn viện
cớ chẳng thanh khiết để từ chối, vừa
khỏi bị người ta mời vừa chẳng bị
phí tiền oan uổng mời lại người ta! Người
ta dùng cái lễ vô lư để mời, không đi đâu có
sao!
Dạy trẻ nhỏ
nên dạy cặn kẽ làm người phải tự lập
chí hướng, đừng nên quở trách nghiêm khắc ! Bởi
lẽ, những học thuyết hiện thời thường
đả phá quy củ cũ, nếu quở trách nghiêm ngặt,
[con cái] sẽ có thể bị kẻ vô tri dụ dỗ, mê
hoặc, sẽ từ ân biến thành oán. Tuổi nó đă
mười lăm, nếu có thể đem lẽ lợi - hại
nói với nó, ắt sẽ chẳng đến nỗi nó không
cảm động mảy may nào! [Làm] như thế mà chẳng
cảm động tức là giống như gỗ, đá
vô tri; nếu nghiêm khắc, đâm ra càng biến thành phản
đối. Những kẻ giết cha tự khoe công để
được khen thưởng đều là do từng bị
trói buộc, muốn phát tiết nỗi hận một phen,
chẳng biết sẽ vĩnh viễn bị hăm trong súc
sanh, địa ngục chẳng thể thoát ra!
Hăy nên đọc toàn bộ
Tứ Thư. Kinh Thư văn lẫn lư rất hay, cũng
nên đọc toàn bộ. Đại đạo nơi kinh Dịch
có thể để thong thả! Muốn thành học vấn
càng phải dốc sức vào nguyên lư “từ hiện tượng biết được
pháp tắc”. Phần Đại Tượng[2]
thuộc sáu mươi bốn quẻ của kinh Dịch có
thể gom thành một thiên, khắc thành bài minh đặt bên
chỗ ngồi, [nội dung bài minh ấy] cực rơ ràng, rộng
lớn, cực thân thiết. Chẳng biết tri kiến
lănh hội của những kẻ phế kinh như thế
nào? Kinh Thi có thể để từ từ, bởi nếu
không phải là người có tư cách đại thông minh
sẽ chẳng thể khéo hiểu được ư
nghĩa! Lễ Kư[3] và
Tả Truyện[4]
nên chọn đọc những phần có ích cho thân tâm và
quan hệ lớn lao đến sự giáo hóa trong cơi đời.
Trẻ nhỏ thích
ăn cắp đồ vật của người khác th́
hăy nên hằng ngày bảo nó: “Con người chẳng thể
làm chuyện ǵ khiến ḷng áy náy! Nếu làm chuyện khiến
ḷng phải áy náy, dẫu cho người khác từ đầu
đến cuối chẳng hay biết, nhưng trong tâm
chính ḿnh luôn ôm nỗi thẹn thùng. Huống chi thiên địa,
quỷ thần, Phật, Bồ Tát, không một vị nào chẳng
biết ư? Sao ngươi chẳng biết tự gắng
sức, làm chuyện hạ lưu như vậy? Từ rày,
nếu vẫn c̣n ăn trộm đồ của người
ta, chắc chắn ta sẽ dẫn ngươi đến
trước người ta rập đầu thú tội, trả
lại đồ cho người ta. Ngay cả vật chẳng
đáng một đồng cũng phải làm như vậy!
Lại c̣n yêu cầu người ta nếu có chuyện [ngươi]
lấy trộm đồ th́ phải tận lực đánh
đ̣n, đe nẹt, chớ nên v́ thể diện của ta
mà chẳng chịu nói, đến nỗi ngươi ngày
càng cảm thấy ăn trộm đồ vật chẳng
quan trọng, khẩn yếu chi, thường mong tưởng
ăn trộm!
Ngươi hăy suy
nghĩ xem: Ví như con người làm việc ǵ, nếu có
ai khen người đó giỏi, hắn sẽ vui vẻ;
chê hắn dở, hắn không vui. Sao ngươi lại làm
ra sự thể khiến cho người ta phải thóa mạ,
khinh bỉ? Nếu ta giấu diếm, che chở cho
ngươi, tức là ta dạy ngươi làm giặc. Sau
này, chắc chắn ngươi hoàn toàn chẳng thể
thành người được! V́ vậy, ta bảo với
ngươi, từ rày trở đi, nếu ngươi
ăn trộm đồ của ta, ta nhất định phải
đánh ngươi! Nếu ăn trộm đồ của
người khác, ta nhất định đem ngươi tới
chỗ người ấy rập đầu thú tội và
đem đồ vật trả lại cho người ta.
Chẳng những ngươi mất mặt mà thật ra ta
c̣n khó chịu hơn ngươi nữa! Do mong ngươi
thành người, bất đắc dĩ ta phải kiềm
chế ngươi như vậy. Ngươi biết lỗi
phải sửa đi, gắng sức học cho giỏi
để ai nấy đều kính trọng ngươi; do
vậy sẽ kính trọng tổ tông, cha mẹ
ngươi! Nếu ngươi vẫn không chịu sửa
đổi th́ cũng giống như ngươi hằng
ngày tự chửi bới tổ tông, cha mẹ vậy! Sấm
sẽ đánh ngươi! Đây là chỗ ta đại từ
đại bi yêu thương ngươi, nếu
ngươi biết tốt - xấu như vậy th́ may ra
có hiệu quả”.
Đối với chuyện
của đứa con gái lớn, chỉ nên khuyên nó sốt sắng
niệm Phật, những điều khác chẳng đáng bận
tâm đến. “Thiên định
giả thắng nhân, nhân định giả thắng thiên”.
Thật ra, khổ - vui, hên - xui mà người đời gặp
phải, quá nửa là do người ấy đă tạo! Có
mấy ai một bề giữ nguyên số mạng? Nói chung,
người làm ác [cuộc đời] chẳng thể [tốt
đẹp] đúng như số mạng th́ nhiều,
người tu thiện biến đổi số mạng
[xấu hèn] thành tốt đẹp th́ ít! Hai loại người
này đều là “nhân định
thắng thiên”. Người đời mỗi khi có ư niệm
thiện liền có thể chuyển được họa
thành phước, chuyển dữ thành lành; huống ǵ suốt
đời ăn chay, niệm hồng danh vạn đức
của Như Lai mà chẳng thể xoay chuyển tạo hóa
ư? Chỉ cần dạy họ thường giữ ḷng
kính sợ, phát tâm Bồ Đề th́ những điều ấy
c̣n có thể làm [phương tiện] dẫn đường
để siêu phàm nhập thánh, huống hồ những chuyện
phước nhỏ nhặt khác mà chẳng thể đạt
được ư? Phước và họa dựa dẫm
lẫn nhau, muốn thuần được phước chẳng
mắc họa th́ cũng chỉ do chính ḿnh nỗ lực tu
tŕ! Hôn sự của con gái ông, người nhà đă không bằng
ḷng, hăy nên châm chước, và hỏi con gái ông có ư kiến
quyết định hay không? Nếu con gái ông có ư kiến
quyết định th́ chẳng trở ngại ǵ. C̣n
như con gái ông không có ư kiến quyết định, sau này
có thể v́ chán ghét nghèo cùng, ghét bị trói buộc, lại
bị những kẻ ghét nghèo chê bai, oán thán, chắc sẽ
chẳng tốt lành ǵ! Chẳng thể không tính sẵn
điều này! Trước hết, hăy nên hỏi con gái ông
rồi hỏi Phật để quyết định.
Người thế
gian tính toán cho con cái phần nhiều đều mưu tính
trên gia tài, chứ không tính trên nhân phẩm. Con em nhà giàu chẳng
được mấy năm liền bị đói lạnh
chết đi, nào có hạn lượng? Kẻ nghèo trắng
tay nhẵn nhụi, thành gia lập nghiệp được
cả nước tôn sùng, há lại có hạn lượng
ư? (Đây là nói theo giới thương nghiệp,
bọn quân phiệt không tính vào đây).
Do ông đă nhắc đến, nên chẳng thể không bảo
cùng ông biện pháp thận trọng. Con gái ông gặp được
người thuộc gia đ́nh tốt đẹp như vậy
thật là may mắn lớn lao! Gặp năm tháng chẳng
vừa ư là tại trời, nhưng tu tŕ là tại ta, mạng
tự ta lập! Nếu có thể thường giữ ḷng
kính sợ, nhất tâm niệm Phật và niệm Quán Âm th́ không
nghiệp nào chẳng tiêu, không phước nào chẳng
đưa tới, đây chính là ư nghĩa lớn lao “nhân định thắng thiên”
vậy! Nếu cô ta lười nhác, biếng trễ, trong
tâm không đặt nặng chuyện năm tháng không vừa
ư, sẽ thành ra “thiên định
thắng nhân”. Xin hăy đem ư nghĩa “lập mạng tu
thân” lớn lao này nói với cô ta, ắt cô ta sẽ rửa
ḷng gột ư, dè dặt, chăm chú tu tŕ, siêu phàm nhập
thánh hăy c̣n dư, huống hồ khuyết điểm
năm tháng nhỏ nhặt ư?
Cô con gái thứ hai nếu
chưa hứa gả cho ai, hăy nên chọn một gia đ́nh
tin Phật để cho cô ta được xuất giá sớm
ḥng nhẹ trách nhiệm, khỏi phải lo lắng. Hăy nên
bảo cô ta: Hiện thời ḷng người chẳng
được như xưa, người ta càng phú quư càng
nguy hiểm, chớ nên không hiểu việc, cứ muốn
chọn gia đ́nh [giàu có] để mong hưởng phú quư
dài lâu! [Tuy] nhà [người ta] nghèo, chỉ cốt sao giữ
bổn phận là được rồi; nếu thời cuộc
biến động, cũng chẳng đến nỗi quá
thê thảm! Nếu là nhà phú quư, rất có thể cả thân
lẫn mạng đều chẳng giữ được!
Ai nấy đều có điều ưa thích, kẻ chuộng
danh xuông ắt sẽ chẳng chú trọng lợi ích thật
sự.
Bà nội kế của
ông tuy có mấy chục năm tu tŕ nhưng vẫn là một
kẻ phàm tục, đối với việc văng sanh sợ
rằng càng khó khăn hơn nữa. Nhưng cũng có thể
coi điều này như một mũi kim đâm vào đỉnh
đầu người niệm Phật: Cần phải
buông xuống hoàn toàn sự ham chuộng thể diện tốt
đẹp th́ mới là người thật sự niệm
Phật. Quang cũng chẳng phải là bậc thánh nhân [có
đủ] thần thông, chỉ có thể chí thành hồi
hướng cho cụ, chẳng thể làm cho cụ quyết
định được văng sanh! Bà nội kế của
ông hành tŕ đă quy về thuần nhất, nhưng trong lúc ấy,
nói đến sự lợi ích cầu sanh Tây Phương [th́
cụ] vẫn hơi hàm hồ, càng khó văng sanh. Do có chút
phước tu hành, chắc chắn đời sau bị
phước làm mê, sẽ rộng tạo ác nghiệp. Đă
tạo ác nghiệp, chắc chắn bị đọa măi
trong tam đồ ác đạo. Biết sự lợi - hại
này rồi, hăy chớ si tâm vọng tưởng, luyến tiếc
trần cảnh thế gian, chẳng nguyện văng sanh. Cụ
thành tựu được sự văng sanh sẽ có lợi
ích rất lớn cho ông và quyến thuộc.
Cư sĩ Chí Liên
đă ngoài bảy mươi tuổi, tháng ngày không c̣n mấy;
hăy nên khuyên cụ chuyên tâm dốc chí cầu được
văng sanh; muôn phần chẳng được có chút ư niệm
cầu phước báo nhân thiên trong đời sau, ngơ hầu
cụ quyết định được văng sanh. Thêm nữa,
lúc cụ lâm chung, càng phải khéo giúp đỡ, giữ ǵn,
đừng để v́ không khéo lo liệu mà cụ bị
phá hoại tịnh niệm, sự mất mát sẽ chẳng
nhỏ nhoi đâu! Thành tựu một người văng sanh
Tây Phương chính là thành tựu một chúng sanh thành Phật.
Vốn có thể văng sanh, nhưng v́ chẳng khéo lo liệu,
đến nỗi do bị đau đớn, sân tâm nổi
lên, hoặc v́ đau thương mà dấy tâm yêu mến.
Tâm sân hay tâm ái vừa khởi lên, tịnh niệm liền bị
vẩn đục, dao động, chuyện mong cầu văng
sanh kể như khỏi tính nữa! Từ công đức
thành tựu [một người văng sanh] mà nghĩ đến
lỗi phá hoại [sự văng sanh của người khác],
thật đáng sợ hăi lớn lao thay! Mạng sống của
con người trong thế gian chớp mắt đă qua, một
hơi thở ra không hít vào được nữa, chẳng
biết lại đi về đâu! Nếu chẳng biết
chắc chắn một pháp Tịnh Độ, thật
đáng sợ hăi đến cùng cực!
Ông Tào Tung Kiều kể:
Khi cha ông ta đi học, một bạn học là con nhà phú
ông, hết sức đần độn. Thầy giáo dạy
cho hắn, hắn c̣n chưa hiểu, cha ông Tào vừa nghe
liền thuộc được ngay. Gă con phú ông ấy chết
sớm, về sau thấy hắn đến [nhà ông Tào], rồi
chợt chẳng thấy nữa; Tào Tung Kiều bèn sanh
được một gái, nay đă ba mươi mốt tuổi,
cực thông minh, học hành hoàn toàn chẳng phải tốn
công. Thoạt đầu là con trai phú ông, [đời] sau làm
cháu nội gái của người bạn học. Con người
luân hồi, thật đáng sợ thay! Đây chỉ là thay
đổi h́nh tướng nam - nữ, chứ kẻ biến
đổi toàn thể th́ trong mười người đă
hết tám, chín. Buồn thay!
Tu hành chẳng si ngốc[5],
quyết khó thể thành tựu! Nhất tâm niệm Phật
chính là chánh niệm Chân Như lớn lao. Khi chuyện chẳng
ngờ trước xảy đến, dẫu là chuyện
chẳng thể thoái thác được, hăy nên b́nh tâm ḥa
khí, suy xét cẩn thận, đấy chính là “xét lời nói,
xem vẻ mặt” hết sức kỹ càng. Tâm gấp rút
chính là chướng ngại lớn cho người tu hành.
Buông được cái tâm này xuống th́ đương thể
sẽ thanh lương. Trong lúc cơi đời rối loạn
này, tuổi ông đă gần năm mươi rồi, nếu
chẳng chịu chết ḷng niệm Phật, do đọc
sách có chỗ không biết bèn muốn học Giáo. Suy tính kiểu
ấy, nếu đem hỏi vị pháp sư khác, chắc
[vị ấy sẽ bảo là] rất tốt. Nếu
đem hỏi Quang, [Quang sẽ bảo] đấy chính là
suy tính chẳng tuân giữ bổn phận! Kẻ ngu một
chữ không biết kia c̣n được văng sanh Tây
Phương, nhưng bậc đại thông gia thông Tông
thông Giáo sâu xa vẫn không được hưởng lợi
ích ấy! Sao ông lại xem đó là điều tiếc nuối?
Những cảnh tượng ông đă thấy trong mộng
rất tốt, hăy nên nỗ lực. Lâu dần sẽ tự
được không chướng ngại. Loại hiện
tượng ấy cố nhiên chẳng dễ dàng đạt
được, nhưng chớ nên vạch đất [tự
giới hạn] không tiến nữa; nếu không do những
chuyện ấy mà kiêu căng, khoe khoang, ắt sẽ có lợi
ích thật sự.
Niệm Phật tu tŕ
giống như uống thuốc. Nếu hiểu rơ giáo lư, giống
như biết cặn kẽ nguồn gốc căn bệnh,
dược tánh, mạch lư, rồi sẽ uống thuốc
th́ có thể gọi là “tự lợi, lợi tha”, không chi tốt
lành bằng! Nếu không được như thế,
trước hết chỉ chịu uống thuốc A Già
Đà[6]
đă được [đức Phật] thay ta bào chế
sẵn th́ bệnh cũng được lành. Cũng có thể
đem thuốc này cho hết thảy mọi người uống
để được lành bệnh. Chỉ mong sao lành bệnh,
không cần phải buồn ḷng v́ chẳng biết nguồn
gốc căn bệnh, dược tánh, mạch lư! Đoạn
trừ dâm niệm, sân niệm thật chẳng dễ dàng
ǵ. Nếu chẳng có sở chứng, quyết chẳng thể
rốt ráo thanh tịnh! Như mười hai câu trong sách Cảm
Ứng Thiên, “kiến nhân chi
đắc, như kỷ chi đắc” (thấy người
khác đạt được điều ǵ, giống
như chính ḿnh đạt được) v.v… nếu có thể
đối với mỗi chuyện đều có thể xét
soi tự tâm, dẫu [tâm] chưa thể thuần ngay, vẫn
có thể thường được như vậy. Nhan Tử
(Nhan Uyên) ba tháng chẳng trái nghịch điều nhân, nhưng
vẫn hơi bị gián đoạn, chưa thể hoàn toàn
ḥa lẫn thành một khối với ḷng nhân được.
Mong thành thánh thành hiền là do con người tự gắng
sức. Nếu phóng túng th́ sẽ chẳng thể nào diễn
tả được, giống như những kẻ “v́
nước v́ dân” hiện thời vậy! Chẳng đáng
buồn ư?
Người tu hành tâm
chớ nên lệch lạc. Nếu lệch lạc chắc sẽ
mắc bệnh. Thân thể yếu đuối hăy nên lắng
ḷng chánh niệm để tâm thần chẳng rong ruổi
theo bên ngoài, tâm tự quy nhất th́ thân cũng dần dần
được yên ổn, khỏe mạnh. Nếu muốn
được văng sanh mà tâm này kết chặt chẳng cởi
gỡ được, chắc sẽ dấy lên ma sự. Mặc
cho nghiệp đến - đi, chính ḿnh tự trấn
định. Nếu muốn được [thành tựu] ngay,
sẽ như dưa chưa chín đă hái trước, há c̣n dùng
được nữa hay chăng? Ông bạn X… nọ thần
kinh suy nhược, một là do tham sắc, hai là do quá mức
vọng tưởng muốn làm chuyện sức ḿnh không thể
làm được mà ra. Nếu cởi gỡ được
hai điều này, bệnh sẽ tự lành. Nếu không,
sau này bị mất trí phát cuồng cũng chẳng biết
chừng!
Căn bệnh của
Huệ Tịnh càng sâu nặng hơn, đáng than hết sức!
Người xưa nói: “Ninh khả
thiên sanh bất ngộ, vật giao nhất thời trước
ma” (Thà cho ngàn đời chẳng ngộ, chẳng để
ma dựa một lúc). Người thông minh tự kiêu, đa
phần phạm phải căn bệnh này. Do trước đó
tự tâm đă chứa sẵn chí khí phô trương, sai
trái, hung hăng này, ma bèn thừa cơ xen vào. Nếu chẳng
nông nổi, bộp chộp, tự kiêu, ma sẽ lánh xa! Ông
ta c̣n biết cầu Quán Âm, cầu cứu Quang. Đức
Quán Âm đại từ đại bi, ông ta sẽ được
Ngài từ bi che chở, Quang là nghiệp lực phàm phu chỉ
có thể khấn nguyện, hồi hướng cho ông ta, đâu
có thể như bậc thánh nhân thần thông chữa cho ông
ta lành bệnh từ xa được? Nay tính kế cho ông
ta, đem năm mươi đồng [ông ta đă cúng] gởi
sang Linh Nham Sơn Tự để họ lập một bài
vị Trường Sanh Liên Vị[7]
cho ông ta (sanh tử đều vô ngại, Trường
Sanh Lộc Vị chỉ thích hợp cho người sống), thờ trong Niệm Phật Đường.
Lại v́ ông ta tŕ chú Đại Bi hai ngày, mong cậy vào Phật
lực, Pháp lực, chúng Tăng lực, ắt sẽ
được lành bệnh.
Linh Nham cách thành Tô Châu
hơn hai mươi dặm, là một đạo tràng cổ;
hai mươi năm trước, giao về tay ḥa thượng
Chân Đạt, gần đây đổi thành [đạo
tràng] thập phương, ba mươi vị sống ở
đó chuyên tâm tu tập, niệm Phật suốt năm.
Cũng không có chuyện [khách thập phương lui tới]
cúng bái, cũng chẳng làm Phật sự, cũng không truyền
giới, công khóa rất nghiêm mật, cả tỉnh Giang Tô
không có đạo tràng nào như vậy! Huê lợi mỗi
năm chẳng quá một ngàn đồng, lập
chương tŕnh: [Nếu chi dụng] cho hai mươi
người sống ở đó không đủ, ḥa thượng
Chân Đạt sẽ bù thêm. Hai năm gần đây, do có
người đả Phật thất, nên số người
cũng đông hơn, nhưng vẫn vừa đủ chi
dụng. Phật thất vừa nói đó [mỗi lần cử
hành] đều viết thư thông báo, nhưng số
người trong vùng đến dự mười phần
chưa được một! [Chùa Linh Nham] chỉ niệm
Phật, ngay cả Diệm Khẩu cũng không thực hiện.
Đu đủ trừ
được phong thấp. Nếu muốn cho ấm, chẳng
ngại ǵ mua đu đủ tươi, rồi tạo
cách giữ cho nóng bằng cách buộc trên đùi, loại
tươi có tác dụng mạnh nhất. Quang do sợ lạnh,
nên dùng loại đu đủ khô cắt thành miếng. Cháu
ngoại gái của ông thiếu sữa hăy nên dùng sữa ḅ.
Con dâu trưởng của ông Vương Ấu Nông mất,
cháu nội là Tích Quan chưa đầy năm, liền cho
bú bằng sữa ḅ, chưa hề phải mướn
nhũ mẫu. Phàm mọi chuyện nên định lượng
lợi - hại, được - mất từ trên căn
bản, hăy cân nhắc nặng - nhẹ để chọn
cách thực hiện.
Bệnh lác[8] thật
khó trị nhất, dễ truyền nhiễm nhất. Thuốc
cao Thương Nhĩ[9] hiện
thời quả thật trừ khử được họa
hại, tăng phước lợi lớn nhất cho xă hội.
Tuy chẳng thể tránh khỏi tổn thương đến
sanh mạng loài trùng, nhưng [thuốc ấy có] lợi ích
lớn lao. Huống chi Quang c̣n bảo kẻ chế thuốc
cao và người uống đều niệm Quán Âm nữa
ư? Nếu theo như ư ông, cứ dẫn lời ông
Đào Ẩn Cư (viết sai là Quân) để rồi kiêng kỵ, sẽ làm
hại người bị bệnh lác, mặc cho người
ấy cứ mắc bệnh măi để rồi thường
truyền nhiễm ư? Mong hăy dứt khoát bỏ đi ư
nghĩ ấy!
Nói đến căn bệnh
của người bạn tên X… nọ, chẳng biết
ông ta có cho [những lời Quang nhận định] như
vậy là đúng hay không? Lúc này đúng nhằm lúc thời
cuộc từ ngàn xưa chưa hề có, nhưng ngay trong lúc
này, ông ta vẫn cứ buồn v́ đă năm mươi tuổi
mà chưa có con, chẳng biết đoạn nghiệp chủng
ấy để mai sau chẳng đến nỗi rộng
tạo ác nghiệp, di hại cho xă hội, con cháu, điếm
nhục tổ tông, cha mẹ th́ may mắn chi hơn?
Về sách Nhân Phổ,
trước kia ông Minh Đạo chỉ đem đến
một cuốn Nhân Phổ Loại Kư[10],
nói ông Đậu Tồn Ngă muốn ấn hành, lưu thông,
xin tôi khuyên, điểm câu văn[11] cho
dễ đọc. Đến cuối tháng, Minh Đạo
và Tồn Ngă đến cầm theo hai bộ sách trọn vẹn,
một bộ in theo lối chữ to, một bộ in thạch
bản chữ nhỏ. Như vậy là Nhân Phổ Chánh Biên
một quyển, chỉ gồm hơn một trang, và Nhân Phổ
Tục Biên quyển một và quyển hai, tổng cộng
là mười tám, mười chín trang[12].
Lời tựa mở đầu sách ấy đúng là đả
phá bài xích nhân quả báo ứng đến tột cùng. Văn
tự của họ Hàn, họ Âu dẫu nhiều đến
đâu đi nữa cũng chẳng quyết liệt bằng
bài tựa gần được bốn trăm chữ này!
Độc tánh của bài tựa ấy ắt sẽ khiến
cho kẻ khác giết cha hại mẹ chẳng hề do dự,
run sợ mảy may nào, xui khiến cho con người trong
cả đời đều biến thành cầm thú hết
mới thôi!
Cung cách giảng về
chánh tâm thành ư của những tiên sinh bên Lư Học như thế
chính là đả phá, bài xích cội nguồn của chánh tâm
thành ư chẳng tiếc sức chút nào. Họ chỉ muốn
làm cho con người tận nghĩa, tận phận,
nhưng chẳng biết: Đă phá bỏ nhân quả th́ thiện
không có ǵ để khuyên, ác không có ǵ để trừng phạt,
phóng túng không kiêng dè, không điều ác nào chẳng làm, chẳng
đáng buồn ư? Chất độc khiến cho đất
nước thoi thóp, dân không lẽ sống hiện thời
đều là do những vị tiên sinh Lư Học này đă hạ
độc từ trước, đến nay mới bắt
đầu phát tác mạnh mẽ. Do vậy, tôi bèn bảo
ông Tồn Ngă: “Muôn vàn chớ
nên lưu thông sách này. Chỗ tốt của nó th́ các thiện
thư đều có, c̣n chỗ sai lầm của nó đúng là
móc bỏ chánh nhăn của người đời sau trong
thiên hạ. V́ thế, hăy nên bỏ đi ư định ấn
hành. Những sách chú thích Công Quá Cách cũng chẳng phải
là sách thích hợp căn cơ, v́ con người hiện thời
phần nhiều chán nghe những chuyện nhân quả, luân
thường, chỉ có người chân tâm tu tŕ mới chịu
đọc mà thôi! Sách Lịch Sử Thống Kỷ bất
luận là người tin Phật hay báng Phật đều
chịu xem, bởi đó là những chuyện được
chép trong sách sử. Dẫu kẻ coi nhân quả là hư vọng,
phô phang trống rỗng, ưa tỏ vẻ là bậc đại
thông gia trước mặt người khác, nếu đọc
sách này, chẳng khỏi bị cảm hóa! So với hết
thảy các thiện thư th́ sách này là thiết yếu nhất
để đạt được lợi ích thật sự”.
Tiếc cho con người chẳng để ư. Nếu
để ư, kẻ ngu liền thành trí, kẻ cuồng bèn
thành thánh vậy.
Họ Trầm tâm cực
thành khẩn, nhưng lời lẽ phần nhiều thiên chấp,
tri thức cũng khó ngửi giống như Ngọc Phong;
trước đây, tôi đă nói với ông Úy Như [như
thế]. C̣n như lưu thông hay không, cứ mặc cho
người ta làm, không đả phá mà cũng chẳng tán
thành, tôi cũng chẳng dính vào hai chuyện ấy. Ông Hứa
Chỉ Tịnh lại c̣n sửa chữa, bổ sung đại
lược sách Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ,
những điều được [ông ta] thêm vào tuy đại
lược nhưng có tầm quan hệ lớn lao, nói chung
[thêm vào] hơn một vạn chữ. Cư sĩ Lư Kỳ
Khanh tính bỏ ra hai ngàn đồng để khắc in mộc
bản, phỏng chừng phải mất hai năm mới
in thành sách hoàn chỉnh. Thượng Hải lại cho tái bản,
hiện đă giao cho Quốc Quang Thư Cục đúc bản
kẽm mới, sẽ giao cho nhà in trong khoảng tháng Tám, chắc
có thể in thành sách trong năm nay. Hiện thời pháp diệt,
Nho và Thích đều như nhau; không có loại sách này th́ chẳng
có ǵ để uốn nắn ḷng người cho ngay thẳng,
duy tŕ thế đạo được. V́ thế, Quang vẫn
c̣n phải lo toan đôi chút. Đối với việc giảo
chánh, đối chiếu v.v... ở Giang Tây có một vị
Tăng tên là Đức Sâm tánh khá tỉ mỉ, chịu khó,
hiện đang trụ tại chùa Báo Quốc, giảo chánh
kỹ càng.
Muốn tụng Quán Âm
Viên Thông Chương[13],
hăy nên niệm trọn bài văn tiếp theo đó. Tuy [phần
kinh văn ấy] chẳng chuyên nói về phép Viên Thông của
đức Quán Âm, nhưng văn lẫn nghĩa thấu lư
tột cùng, viên diệu không ǵ bằng được! Nếu
lược bỏ đi không đọc cũng chẳng có
tội lỗi ǵ, nhưng đầu đuôi không được
toàn vẹn, trở thành cái bệnh chọn lựa! Nên tụng
cho đến hết phần sau bài kệ Chọn Lựa Pháp
Viên Thông của ngài Văn Thù, [tức là phần kinh văn
trường hàng] từ “Lúc bấy
giờ, A Nan và các đại chúng…” cho đến “vô lượng chúng sanh đều
phát Vô Đẳng Đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề Tâm”, [tụng như vậy] th́ một
đại sự nhân duyên viên thông của đức Quán Âm
mới được [tŕnh bày] trọn vẹn; hoặc
chuyên niệm phẩm Phổ Môn cũng được. Nếu
tụng phép Viên Thông của ngài Quán Âm th́ phải tụng
đúng như sách Quán Thế Âm Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
đă sao lục. Trước kia, ông Hứa Chỉ Tịnh
cũng đem phần kinh văn [trường hàng] sau [bài kệ]
ấy trích lược đôi chỗ, Quang cho sao lục toàn
bộ để đại sự ấy hoàn toàn không bị
khiếm khuyết th́ mới nên!
Kinh Kim Cang được
rất nhiều người chú giải, [muốn t́m một
bản] gọn ghẽ, thoáng đạt, dễ đọc
th́ hăy nên thỉnh bản chú giải của Tông Lặc[14]
để xem. Ư nghĩa kinh văn của phẩm Tịnh Hạnh[15]
pháp nào cũng viên thông, chớ nên chấp chết cứng
vào từng chữ, từng câu. Những đoạn như “được thức ăn
ngon, trọn thỏa ư nguyện, tâm không c̣n mong muốn”
đều bao gồm ư nghĩa đoạn Hoặc chứng
Chân trong ấy. Nếu chỉ hiểu là chuyện ăn uống
th́ hoàn toàn trái nghịch ư nghĩa của kinh mất rồi.
C̣n như [bài kệ] “Sở tác
giai biện, cụ chư Phật pháp” (việc làm đă
xong, đầy đủ Phật pháp), há chẳng bao gồm
ư nghĩa văng sanh Cực Lạc trong ấy hay sao? V́ thế,
đương nhiên phải tụng đúng theo kinh. Nếu
như ông nói, người niệm Phật đối với
mỗi bài kệ trong phẩm Tịnh Hạnh đều
nên sửa đổi, [làm như vậy] sẽ trở thành
làm chuyện sai quấy, trái nghịch kinh mất rồi. Quang
chưa rảnh rỗi để giải thích Triệt Ngộ
Ngữ Lục .
Nhất Sanh Bổ Xứ
là danh xưng chung để gọi những vị phá vô
minh, chứng pháp tánh, há có nên giải thích là số lần
sanh vào trong nhân gian? Các vị Bồ Tát ấy chứng Vô
Sanh sâu xa, trong khoảng một niệm cũng có thể thị
hiện sanh trong khắp các cơi. Tuy bao lượt thị hiện
giáng sanh, nhưng thật sự chẳng có tướng sanh
nào để đạt được cả; do vậy gọi
là Vô Sanh. Nếu chỉ hiểu “chẳng sanh” là Vô Sanh th́ có
khác ǵ hành tướng “khôi thân mẫn trí”[16] của
Tiểu Thừa đâu? [Các vị Nhất Sanh Bổ Xứ]
biến dịch sanh tử[17],
chứ không thật sự sanh tử. V́ tuy đă liễu
sanh tử nhưng vẫn c̣n Vô Minh Hoặc chưa thể
nhanh chóng đoạn sạch được, nên phải nhiều
lần đoạn Hoặc, nhiều lượt chứng
Chân. Ước theo ư nghĩa Sở Đoạn nên gọi
là Tử, ước theo ư nghĩa Sở Chứng nên gọi
là Sanh. “Địa vị Bổ Xứ Phật” và “đạt
đến địa vị Bổ Xứ” ư nghĩa chẳng
hai.
Ông cho rằng “thành Phật
chính là đạt đến địa vị Bổ Xứ”,
nhưng mỗi vị Phật thành Phật có cơ duyên
riêng, há nên chấp chết cứng? Chỉ cần phá vô
minh, chứng pháp tánh th́ hoặc là thành Phật ngay, hoặc
phải trải qua nhiều kiếp dài lâu mới thành Phật,
đều tùy thuộc cơ duyên của mỗi vị như
thế nào mà thôi! “Chúng sanh sanh
giả, giai thị A Bệ Bạt Trí” (Chúng sanh văng sanh [cơi
Cực Lạc] đều là A Bệ Bạt Trí). A Bệ Bạt
Trí và Nhất Sanh Bổ Xứ cũng đều thuộc
trong số ấy; nhưng để chỉ rơ những vị
thuộc vào địa vị sâu xa [số lượng] rất
nhiều nên [kinh Di Đà] lại nói: “Kỳ trung đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ”
(trong số ấy có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ).
Đừng luận định các vị thượng thiện
nhân cơi Cực Lạc bằng cách chấp chết cứng
vào giáo lư! Há nên dùng câu nói trên đây để kết thúc phần
nói về Tam Bất Thoái? Địa vị [Bất Thoái] thứ
ba là Niệm Bất Thoái, chính là những vị từ
Sơ Trụ cho đến Đẳng Giác trong Viên Giáo, chớ
nên giới hạn, đặt Tam Bất Thoái nằm ngoài số
những vị Nhất Sanh Bổ Xứ. Hăy nên nghiền ngẫm
kỹ chữ “giai” (đều)
và chữ “kỳ trung” sẽ
chẳng tự lầm lẫn tách rời [Tam Bất Thoái khỏi
Nhất Sanh Bổ Xứ].
Kinh A Di Đà nói giản
lược, nhưng công phu, công đức của mỗi
người văng sanh đều sai khác vô lượng, vô biên;
phẩm vị văng sanh cũng khác nhau vô lượng, vô biên!
Nói “chín phẩm” bất quá là nêu sơ lược đại
cương mà thôi. Nếu đạt đến nhất tâm
bất loạn th́ giống với [những người
văng sanh thuộc địa vị] Thượng Phẩm
Thượng Sanh như trong Quán Kinh đă nói. Người
chưa đạt nhất tâm và kẻ ác nghiệp nặng
nề sắp bị đọa [địa ngục] cố
nhiên giống hệt như [những vị văng sanh thuộc]
các phẩm Trung và Hạ trong Quán Kinh, chứ không phải là
kinh này chuyên tiếp dẫn người nhất tâm bất
loạn, những kẻ khác đều chẳng phải là căn
cơ được nhiếp thọ bởi kinh này! [Hiểu]
như vậy th́ cố nhiên ba kinh là một kinh! Nếu
không, chính là chấp văn trái ư, lỗi chẳng phải nhỏ!
Tịnh Độ hoành siêu có người viên chứng, có kẻ
chưa thể viên chứng ngay. Dù chưa thể viên chứng
nhưng đă liễu sanh tử, không c̣n có chuyện luân hồi
sanh tử nữa, vẫn ngay trong một đời này được
dự vào hàng Bổ Xứ, được thành Bồ Đề.
So với những kẻ cậy vào tự lực nhưng
chưa viên chứng th́ khác nào một trời, một vực!
Do vậy, cũng có thể gọi là “viên chứng”.
Ông cho rằng: “Nếu
sanh vào cơi ấy, chứng Phương Tiện, Thật Báo,
Tịch Quang có nhanh hay chậm sai khác; v́ thế, không một
ai hễ sanh bèn chứng ngay”. Đọc phần kinh văn
trong Quán Kinh dạy về chín phẩm văng sanh ắt biết
liền! Đối với những điều khác được
nêu bày trong phần kinh văn tiếp theo đó, ông hiểu
quá sai ư nghĩa! “Đoạn sạch
Kiến - Tư, ra khỏi Đồng Cư, vào cơi
Phương Tiện, đoạn sạch Trần Sa và phá một
phần vô minh bèn ra khỏi Phương Tiện, vào Thật
Báo. Đoạn sạch vô minh, ra khỏi Thật Báo, chứng
cơi Tịch Quang”: Đây chính là ước theo sở chứng
sâu hay cạn, ước theo điều đă đạt
được là thô hay diệu mà nói; đọc kỹ phần
luận về Bốn Cơi [Tịnh Độ] trong Di Đà Yếu
Giải sẽ tự biết. Hơn nữa, trong Văn Sao
từng nói Thật Báo và Tịch Quang vốn là một cơi.
Ước theo lư tánh bèn gọi là Tịch Quang, ước
theo quả báo gọi là Thật Báo. Cơi Tịch Quang không có
tướng, cơi Thật Báo có đủ các tướng thù
thắng trang nghiêm [với số lượng] nhiều
như số vi trần trong một cơi Phật. Phá một
phần vô minh bèn phần chứng Thật Báo, mà cũng chứng
một phần Tịch Quang. Vô minh phá sạch bèn rốt ráo
Thật Báo, rốt ráo Tịch Quang. Để dễ hiểu,
những người giảng giải quy kết Phần Chứng
vào Thật Báo, quy kết “rốt ráo” vào Tịch Quang. Cần
biết rằng: Thật Báo và Tịch Quang đều có Phần
Chứng, đều có Cứu Cánh (rốt ráo). Ông muốn tỏ
rơ lư viên măn của Tịnh Độ, nhưng đối với
ư nghĩa “viên chứng bốn cơi Tịnh Độ” lại
nêu lên ư nghĩa “viên xuất
cơi này” (thoát khỏi trọn
vẹn cơi này - tức cơi Phàm Thánh Đồng Cư) th́ đâm
ra ăn nói sai quấy mất rồi. Đoạn hết Kiến
Tư xong là ra khỏi Đồng Cư. Đoạn Trần
Sa, phá vô minh xong, chẳng c̣n phải đèo bồng Đồng
Cư nữa[18],
huống hồ là đă đoạn sạch vô minh, cần
chi phải thoát khỏi hai cơi Đồng Cư,
Phương Tiện nữa ư? Chẳng biết: Do phàm
phu được dự vào Bổ Xứ nên tại Đồng
Cư đă thấy trọn vẹn cả ba cơi trên! Đây
là đă chứng nhập địa vị sâu, há c̣n nói là “thoát
khỏi Đồng Cư, Phương Tiện v.v…” nữa
ư?
“Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc.
Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” là bốn câu khó lănh hội nhất. Lời
chú giải của mỗi tác giả đều dựa trên cái
thấy của chính ḿnh. Theo ngu kiến của Quang, bản
thể của Sắc chẳng thể đạt được,
há Không c̣n có thực tế để đạt được
hay sao? Hai câu sau nhằm giải thích thêm về ư nghĩa của
hai câu trước đó. Thật sự, ngay cả Không lẫn
Sắc đều chẳng thể đạt được,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như thế;
đấy chính là “chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không”. Ngũ Uẩn đều chẳng
thể đạt được, ấy chính là Thật
Tướng của Chân Không. V́ thế, gọi là “chư pháp Không tướng”
(tướng Không của các pháp). Do “chư pháp Không tướng” này bèn chẳng có sanh,
diệt, cấu, tịnh, tăng, giảm và Ngũ Ấm,
Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới,
Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ
và Trí Huệ cùng với Niết Bàn! (Niết Bàn là thật
tế của chữ Đắc). Chỉ
v́ trong Thật Tướng, chẳng có các pháp: thánh, phàm v.v…
ấy nên có thể tu nhân chứng quả từ phàm đến
thánh. Ví như nhà trống, người mới ở trong ấy
được. Nếu chẳng trống, làm sao con người
ở được? Do Không nên mới có thể chân tu thật
chứng. Nếu chẳng Không, sẽ chẳng có tác dụng
này! Chớ nên hiểu lầm! Hiểu lầm sẽ phá hoại
chánh pháp của chư Phật, coi Lư là Sự, đấy gọi
là “tà kiến”, chẳng gọi là “biết pháp”, hăy nên suy
nghĩ cặn kẽ! Thuyết này của Quang có chỗ chẳng
phù hợp ư kiến của cổ đức, nhưng ư
nghĩa tổng quát chẳng đến nỗi vô cùng trái
nghịch kinh Phật, cũng có thể xem như một thứ
kiến giải “thấy ngọn,
thấy rặng”[19] vậy!
Trong thư trả lời
cư sĩ Hương Nghiêm, Triệt Ngộ đại
sư [có viết] bốn câu: “Tâm
ngoại vô Phật, Phật ngoại vô tâm, toàn tâm tức Phật,
toàn Phật tức tâm” (ngoài tâm không có Phật, Phật
chẳng ở ngoài tâm, toàn tâm chính là Phật, toàn Phật
chính là tâm). Phía trên lại có câu “hăy
nên tin sâu, hiểu chắc chắn ngay vào đó”, đấy
chính là nói về lư. Ông bỏ không sao lục câu “hăy nên tin sâu hiểu chắc chắn
ngay vào đó”, nên mới suy lường loạn xạ công
phu “đă thành thục” hay “chưa thành thục”. Bốn câu
trước nói về lư, bốn câu sau nói về công phu ấy:
Hoặc là công phu trong một niệm hoặc niệm niệm
tương ứng với hiện tiền. “Tương ứng với hiện tiền” là nói
đến ư nghĩa của “tin
sâu, hiểu chắc chắn vào ư nghĩa của bốn câu
ngoài tâm không có Phật”. Người tu hành tâm mong mỏi,
hy vọng quá thiết tha, ắt sẽ gặp ma sự! Đoạn
trước của bức thư ấy nhằm dạy khắp
các hành nhân về một quy tắc chung để hết thảy
kẻ tu tŕ thật sự vâng giữ như khuôn phép, ngơ hầu
chẳng đến nỗi cầu lợi ích lớn lao, lại
đâm ra bị tổn hại lớn lao!
Đối với lớp
hậu sinh trong hiện thời, khi chúng nó vừa hiểu
chuyện đời, liền dạy chúng nó về đạo
giữ tinh, hộ thân. Nếu chúng nó biết tốt - xấu,
sẽ chẳng đến nỗi tự xem thủ dâm là vui,
để rồi mắc các nỗi họa như bị mất
tánh mạng, hoặc trở thành tàn phế, hoặc vĩnh
viễn truyền lại ṇi giống yếu ớt v.v… Với
đứa chưa hiểu chuyện đời, chớ nên
nói. C̣n đứa đă hiểu chuyện đời nếu
chẳng nói th́ trong mười đứa hết chín đứa
phạm phải tật này, đáng sợ vô cùng! Mạnh
Vũ Bá hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử dạy:
“Phụ mẫu duy kỳ tật
nhi ưu” (Cha mẹ chỉ lo về tật ấy). Những
tật khác đều không quan hệ lắm. Chơi bời
bừa băi, thủ dâm, tham ân ái, quả thật là chuyện
khẩn yếu, quan trọng nhất! V́ thế, Khổng Tử
mới nói đến điều này, nhưng người
chú giải chẳng chịu nói rơ chỗ tai hại nhất,
khiến cho lời của Khổng Tử cũng chẳng
có hiệu quả thật sự, đáng than thay!
Hiện thời Phật
giáo bị tai ách đến cùng cực, đúng là tới mức
không làm sao được nữa! Những vị đại
ḥa thượng mơ màng chỉ biết tham danh lợi, ham
quyến thuộc, chẳng nói đến chuyện chân tu thực
hành, chỉ mong thâu nhận đồ đệ tràn lan, truyền
giới tràn lan, cho tăng chúng cư ngụ tràn lan thật
đông, mong nhờ vào đó để phô trương thanh
thế đạo khí của chính ḿnh, đến nỗi có
hiện tượng như ngày nay! Em trai ông có gởi
thư đến kể về hiện tượng Lạc
Thanh. Ở vùng ông cũng nguy ngập hết sức, nếu
chẳng quan tâm đến th́ dường như thiếu
sót trách nhiệm hộ pháp! Nếu quan tâm th́ đúng là chẳng
có biện pháp ǵ! V́ thế, hăy nên xét kỹ t́nh thế, làm
được th́ làm, nếu không làm được mà vẫn
cứ làm th́ cũng vô ích! Kẻ đáng ngại nhất th́
một là người hoằng pháp, hai là kẻ trà trộn để
kiếm cơm đă ươm sẵn thành mối họa
này. Cho đến khi tai họa ụp xuống vẫn chẳng
biết hối cải, chỉ biết cầu người
khác, chẳng biết cầu Phật và cầu nơi chính
ḿnh, cũng đáng buồn thay! Do vậy, Quang giữ chặt
chủ nghĩa “chẳng lập đồ chúng” v́ quá chán
ngán những hành vi ấy, chẳng muốn giúp họ tạo
sóng gió để rồi cùng đi đến chỗ bại
hoại!
Nghe nói ở Nam Kinh
đă có [Tăng sĩ] cưới vợ, ở Bắc Kinh
đă tiến hành cướp đoạt tài sản. Những
kẻ đoạt tài sản vẫn không cấm người
khác tu tŕ. Sở dĩ như vậy là v́ họ muốn mượn
danh nghĩa khuếch trương giáo dục để mong
lèn đầy túi riêng. Chẳng hiểu nhân quả, chẳng
biết đạo làm người, chỉ lăm lăm cậy
mạnh nuốt yếu; đă thế, Tăng không có thật
đức, nên mới thành ra ác quả này, buồn thay! Hiện
thời, quân đội thường đóng quân trong nhà
người ta, huống chi là chùa miếu! Ông và vị Đầu
Đà tăng đều chẳng biết sự thể hiện
tại, cứ cầu cạnh người khác, đâm ra chuốc
lấy sự hủy nhục, phỉ báng. Chỉ có cực
lực tu tŕ, cầu Tam Bảo gia bị là thượng
sách! Bốn mươi, năm mươi năm trước
đây, Đại Bi Viện ở Thiên Tân hoàn toàn lọt
vào giữa trại lính, hồ tiên[20]
quậy phá, sĩ quan trong trại lính chẳng thể ở
được, thỉnh lăo Ḥa Thượng của Đại
Bi Viện đến liền lặng yên vô sự. Sĩ
quan rất tôn trọng, những chuyện quét dọn hằng
ngày trong Đại Bi Viện đều do các binh lính thuộc
doanh trại làm. Buổi tối, [Tăng chúng] ra ngoài phóng Diệm
Khẩu, trở về, kêu cửa, họ liền mở cửa
trại. Lại có vị đáp thuyền, thuyền cập
bến trong đêm cũng không bị ngăn cấm. Thị
trấn Mộc Độc (thuộc tỉnh Giang Tô) có đến
một ngàn lính đều đóng trong nhà dân. Nghe nói binh lính
gần đây vẫn c̣n hiền lành, chẳng ngang ngược
tàn bạo.
Trong lúc này, một là
dùng tu tŕ để cầu Tam Bảo gia bị, hai là dùng tu
tŕ khiến cho quan lẫn lính đều kính trọng. Hạ
viện chùa Linh Nham ở ngoài cửa Tây thành Tô Châu cũng
có bốn mươi, năm mươi tên lính ở, chúng c̣n
hiền lành, chẳng nấu đồ mặn trong chùa, đây
cũng là chuyện rất khó có vậy! Mong ông hăy nói với
vị Đầu Đà Tăng, từ rày chỉ nên cầu
Tam Bảo, đừng cầu cạnh người khác. Cầu
cạnh người khác chẳng những vô ích, ngược
lại c̣n bị mang tiếng nhục là bản thân thiếu
đạo đức! Kẻ quấy rối thần sẽ
gặp tai ương, chắc [điều ấy] cũng khiến
cho cái tâm của kẻ tàn bạo bị nguội lạnh,
cũng có thể dùng [điều này] để hướng
dẫn sự “dứt ác, bỏ bạo” vậy! Thân thích của
ông khoe khoang giàu có, chẳng mấy chốc sẽ tan cửa
nát nhà. Đang trong đời loạn này, vẫn chẳng
biết náu ḿnh, đúng là nằm yên trên đống củi
chất cao, phía dưới đă đốt lửa, vẫn
cứ lầm tưởng đang nhởn nhơ, cứ muốn
được trường thọ, an lạc, buồn
thay!
Hiện thời các xứ
đói kém, há nên biếu tặng Ngân Nhĩ? Một hộp Ngân
Nhĩ[21] ấy bằng tiền
ăn trong một tháng của mấy gia đ́nh, chúng ta
ăn xong, rốt cuộc có ích chi đâu? Danh tiếng của
Lô Sơn Học Đường, Quang đă nghe ông [Vương]
Ấu Nông nói đến từ lâu, cho rằng đây là do một
bậc đại thông gia thành lập. Nhưng trong thời
thế này, muốn thành tựu nhân tài thật sự mà mỗi
chuyện học sinh đều phải tự làm th́ thời
gian học hành sẽ ít, thời gian làm lụng lại nhiều;
đối với kẻ thượng căn th́ được,
đối với kẻ trung - hạ không khỏi khó thể
thành tựu! Đang trong thời thế này, học sinh chẳng
làm văn, mà muốn học thành tài xong, sẽ tự biết
khế lư, thích nghi, sợ rằng kẻ b́nh thường
chẳng thể mong chi thành công được. Lại nghe
Tích Quan[22] kể nhiều lần
[nhà trường] sai [học sinh] xuống núi gánh vải (vải
do nữ sinh dệt, gởi xuống tiệm nhuộm ở
dưới núi nhuộm cho đẹp, rồi đem về
cắt quần áo), đi về hơn
trăm dặm, chẳng cho tiền chi dụng. Lời này
dường như chẳng thật, nhưng qua điều
này cũng có thể thấy được t́nh trạng chẳng
thông cảm [cho nỗi vất vả] khi học sinh đi
ra ngoài. Tích Quan từng đưa một học sinh bị
bệnh trở về Nam Kinh, mà Tích Quan cũng đang bệnh
rất nặng. Do vậy, Thứ Bân[23]
giữ lại chẳng cho quay về trường nữa.
Dẫu có đến trường cũng chỉ học
thành lăo nông, lăo ngư phủ, c̣n chuyện đọc sách
làm văn muốn đào luyện cho thích hợp lại càng
là điều khó nhất trong những điều khó!
Vị hiệu trưởng
ấy v́ muốn uốn nắn thói tệ đương
thời, nhưng chấp nệ quy cách thời cổ, chẳng
biết xử sự linh động để trí óc, thân thể
và quốc gia đều được lợi ích! Nhưng
các trường học khác thường dạy [học
sinh] học theo nhân cách bại hoại, c̣n trong nhà trường
này chỉ có mỗi một việc ấy (tức vừa học
vừa làm) là c̣n đáng an ủi. Cổ nhân vừa cày vừa
học, người hiện thời ĺa nhà theo thầy, há
nên dùng cách vừa học vừa cày để vun quén nhân tài
hay chăng? Những chuyện nấu cơm, trồng rau,
đẵn củi, hăy nên để cho những kẻ hầu
làm, c̣n những chuyện khác học sinh tự làm th́ chẳng
phí thời gian mà cũng chẳng mệt nhọc quá mức,
miễn sao chẳng sanh kiêu căng phóng dật là được
rồi! Tiếc cho vị hiệu trưởng ấy chưa
thấy được điều đó, đến nỗi
một phen mang tâm sự tốt lành, hóa ra chẳng có thành tựu
ǵ! Đấy cũng là một t́nh trạng đáng
thương xót nhất trong đời Mạt!
Trong thư gởi lại
lần trước, ông nói ngày tháng Dương Lịch khác
với Âm Lịch, nên theo loại nào? Chưa chắc Âm Lịch
đă hoàn toàn biến mất. Dẫu hoàn toàn biến mất
nhưng trong Dương Lịch c̣n có ghi ngày Sóc, Vọng[24] của
Âm Lịch th́ vẫn có thể suy ra biết ngày tháng
được. Nếu hoàn toàn chẳng biết th́ chỉ
dùng cái tâm tiết dục, căn cứ theo Dương Lịch
mà thực hành[25],
cũng vẫn được lợi ích do bảo vệ
thân thể; bất quá ngày tốt - xấu, can chi của mỗi
ngày chẳng thể dễ ǵ biết được! Trong
thư trước, tôi quên mất không nhắc đến
chuyện này.
Ông gởi thư cho thầy
Đức Sâm, cho biết sau một năm rưỡi nữa
sẽ giao việc nhà cho vợ, sang đất Tô chuyên tâm tu
tŕ Tịnh nghiệp, Quang tuyệt đối chẳng cho
như vậy là đúng. Nếu vợ ông là người hiểu
rơ lư, khéo chăm sóc gia đ́nh, dạy con th́ cố nhiên chẳng
có ǵ là không được. Nhưng bà ta là hạng người
chẳng hiểu biết ǵ, ông lại đem hai đứa
con chưa được nuôi dạy nên người giao cho
bà ta trông nom, [tức là] ông đă đẩy hai đứa
con vào phường hạ lưu rồi đấy, thiếu
sót thiên chức của người làm cha quá lớn! Đối
với hai đứa con, ông thiếu ḷng từ; đối
với tổ tiên, cha mẹ, ông bất hiếu; đối
với Phật pháp ông trái nghịch Tam Quy, Ngũ Giới. Lục
Độ vạn hạnh trong Phật pháp và luân thường
xử thế cũng thuộc trong ấy. Ông ở nhà có thể
dẫn chúng nó trở về đường chánh, lắm
người trong làng lấy ông làm chuẩn mực. Tuy ông chẳng
thi thố lớn lao ǵ, vẫn có thể là bậc khuôn mẫu
cho cả làng. Có lẽ những vị pháp sư khác sẽ
ra sức tán thành cách ông làm như thế, chứ Quang chẳng
phải là loại nhân vật ấy, ông chớ có hiểu lầm!
Nếu ông quyết
định chẳng nghe theo lời tôi, tôi cũng không có
cách ǵ buộc ông phải nghe theo, nhưng chắc chắn
chẳng chấp nhận cho ông sống trong chùa Báo Quốc!
Có lẽ tôi có thể làm được chuyện này. Nếu
không phải như vậy, tôi trở về đất Thiểm
(Thiểm Tây) cũng chẳng ngại ǵ, chứ không nhất
định phải sống tại chùa Báo Quốc cho hết
kiếp thừa này! Mỗi người đều có thiên
chức, Quang chẳng trụ tại chỗ nào khác mà an trụ
tại Báo Quốc cũng là thiên chức vậy. Nếu
Quang là kẻ vọng động, vô tri, ắt sẽ sanh
ḷng kinh sợ lớn lao, khó thể nào an trụ được,
người hiểu lư ắt sẽ miệt thị Quang và
khinh mạn Phật pháp. Tuy tôi không có sức ngăn kẻ
ác, tôi vẫn c̣n có sức giữ yên người lành. Tôi
đi hay ở có quan hệ lớn với người ở
Tô Châu. Ông đi hay ở sẽ có quan hệ lớn đối
với hai đứa con. Tôi vốn chẳng muốn nói lời
này, v́ lo ông đánh mất thiên chức của người
cha nên mới nói đến chuyện hoàn toàn chẳng liên
quan đến thiên chức của tôi.
Niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, chẳng lạy Phật, lại lạy
Ngọc Đế, thật là điên đảo quá! Phật
cao siêu hơn Ngọc Đế, nào phải chỉ khác biệt
như trời với vực! Người kém hiểu biết
thường cảm thấy Ngọc Đế cao quư cùng cực
khôn sánh, đấy là căn bệnh chung của phường
ngu phu ngu phụ chẳng hiểu Phật pháp. Con người
có thể tự kiềm chế ḿnh, thường giữ
ḷng kiêng sợ, và nghĩ ḿnh chẳng bằng người
sẽ chẳng khởi lên ư niệm tranh chấp với
người khác. V́ thế, Phóng Ông[26]
do giữ tấm ḷng kiềm chế, kiêng sợ và nghĩ
ḿnh chẳng bằng người nên thành bậc thánh triết
vậy!
143. Thư gởi nữ sĩ Hoàng Châu
Phước Thuần
Thời
cuộc chẳng yên, cha bà trở lại, liền nhanh chóng
đưa bà về nhà. Chớ học theo kẻ si cho là cha
bà chẳng có ḷng yêu thương bà. Phải biết: Đấy
là ḷng yêu thương bà thật sự, hơn nữa là do
tôi dạy ông ta làm như thế. Bà phải khéo hiểu ư
tôi! Bà là một phụ nữ, do muốn học theo một
trường phái văn chương nào đó, bèn muốn
bái một đại văn gia làm thầy ư? Tôi dạy
bà một cách giản tiện nhất: Mỗi ngày bà chí thành
niệm Phật và niệm Quán Thế Âm, cầu Phật, Bồ
Tát gia bị cho bà nghiệp chướng tiêu trừ, thiện
căn tăng trưởng. Nếu được như
thế th́ vừa đọc sách của cổ nhân liền
hiểu đạo lư, hiểu cách viết văn, do vậy
chẳng cần phải bái sư học văn nữa! Hết
thảy kinh, hết thảy sách đều là văn
chương. Nếu tâm địa mở mang, lo chi chẳng
biết cách viết văn! Tâm địa chẳng mở
mang, dù có học cũng chẳng có thành tựu lớn lao!
Bà chí thành th́ chẳng những thông thạo văn
chương mà c̣n có thể sanh con. V́ sao vậy? Nữ nhân xem
có con là điều vinh hạnh. Tuy chồng bà ăn ở
có t́nh có nghĩa, không để ư [đến chuyện có
con hay không], rốt cuộc vẫn chẳng bằng có con
ḥng thỏa măn ư nguyện cưới vợ! Phẩm Phổ
Môn nói: “Nhược hữu nữ
nhân, thiết dục cầu nam, lễ bái, cúng dường
Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức
trí huệ chi nam” (Nếu có người nữ, ví như
muốn cầu con trai, lễ bái, cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát bèn sanh con trai phước đức, trí huệ).
Không bao lâu nữa tôi sẽ chết, do bà vừa là đồ
đệ vừa là đồ tôn của tôi, nên tính toán cho
bà tôi đều tính trên đại thể. Bà phải khéo hiểu
ư tôi, tự nhiên bà sẽ dùng được cả đời
vẫn chẳng hết!
144. Thư gởi nữ sĩ Châu Phước
Uyên
Con
người sống trong thế gian, cha mẹ, thọ mạng,
tướng mạo, học vấn, chồng vợ, con cái
đều do nghiệp đă tạo trong đời trước
chiêu cảm. Nếu có đại công đức, [đời
này] sẽ hơn gấp bội so với đời trước.
Nếu có tội lỗi lớn, sẽ kém hơn đời
trước bội phần. Do vậy, phải sốt sắng
tu tŕ để bù đắp nghiệp trước. Bà muốn
có một người chồng tốt có học vấn, có
tài năng, có phong thái đạo đức th́ sợ rằng
đời trước bà chưa vun bồi được
phước ấy nên tấm ḷng si dại của bà chưa
thể thỏa măn được đâu! Kinh Lăng Nghiêm
nói kẻ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát th́ cầu vợ
được vợ, cầu con được con. Cầu
vợ nơi Bồ Tát nghĩa là cầu Bồ Tát gia bị
để được vợ hiền, có trí huệ,
phước đức, bà cầu chồng cũng vậy
thôi. Dốc hết sức niệm Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ
được măn nguyện. Nếu không, dù lấy
được người chồng tốt, có thể ông
ta lại đoản mạng, lắm bệnh, gặp họa
hoạn v.v… Huống chi chưa chắc đă lấy
được người chồng tốt đó ư? Bà
chớ nên cậy xinh đẹp rồi khởi tâm kiêu ngạo.
Chẳng dứt được cái tâm ấy sẽ khó thể
được phước. Bà nghe kỹ lời tôi sẽ
được thọ dụng vượt xa hơn phước
đă vun bồi trong đời trước nhiều lần
lắm!
145. Thư gởi cư sĩ Châu Pháp Lợi (ba lá thư)
1) Xem
thư ông, những ǵ ông nói đều chỉ là do bày tṛ
đùa bỡn, hoàn toàn chẳng phải do từng trải
thật hành mà có! Thời cuộc hiện tại không tốt,
thương nghiệp suy kém, do chẳng thể kiếm tiền
nhiều, ông bèn chẳng muốn buôn bán, lại muốn theo
đuổi nghề Nho, nhưng trong thương trường
bẩn thỉu, bừa băi, chẳng nên dấn ḿnh vào sóng
gió để bị ch́m đắm. Nho và thương nghiệp
xét chung giống như nhau. Con buôn keo bẩn, bừa băi,
người ta dễ biết, chứ nhà Nho xấu xa, bừa
băi, vẫn được người khác ngưỡng mộ!
Nếu ông không có tri kiến lỗi lạc, ắt sẽ bị
hăm vào chỗ nước xoáy ấy. Ông chỉ học
được thói ăn nói lớn lối, chẳng biết
“đạo Nghiêu - Thuấn là
hiếu đễ mà thôi!” Đạo của quân tử nằm
trong ṿng con cái, bầy tôi, em, bè bạn.
Thấu hiểu cùng tận
lư của sự vật trong thiên hạ th́ tuy là bậc thánh
nhân vẫn chưa chắc đă làm được!
Nhưng trừ khử được món vật tư dục
trong tâm của chính ḿnh th́ sự lư của mọi sự vật
trong thiên hạ sẽ đều thấu hiểu cùng tận
(Tư dục trong tâm, nêu lên những thứ nặng nề
nhất th́ chính là tham, sân, si, tài, sắc, của cải,
thanh danh, quyền thế, địa vị. Hễ có điều
ǵ ham muốn đều là tư dục cả. Ngay như bọn
Lư Học nói lư trái lẽ là v́ tư dục quá lớn vậy.
Lúc này đất nước lắm tai nạn, nhân dân thống
khổ đều là v́ bọn Lư Học phá nhân quả rồi
thai nghén thành h́nh, chẳng thể không biết). Thánh nhân dạy người
phương pháp “cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề
gia, trị quốc, b́nh thiên hạ” chính là dạy con người
[tu dưỡng] từ gần đến xa, từ thân
đến sơ, sao cho tư dục trong ḷng người bị
trừ khử th́ lương tri sẵn có sẽ tự phát
hiện. Từ đấy, ư thành, tâm chánh, thân tu, gia tề,
nước trị, thiên hạ b́nh! Há có phải thấu hiểu
cùng tận lư của mọi sự vật trong thiên hạ rồi
mới có thể thành ư chánh tâm ư? Nếu nói như vậy
th́ kẻ chẳng đọc trọn khắp hết thảy
các sách thế gian và xuất thế gian, chẳng đi khắp
các nước sẽ chẳng có hy vọng “thành ư, chánh tâm” hay
sao?
Phải biết: Trừ
khử tư dục để thấu tỏ lương
tri ḥng thành ư chánh tâm th́ người tuy chẳng biết một
chữ vẫn có thể làm được! Nếu do thấu
hiểu cùng tận lư của mọi sự vật trong thiên
hạ để cầu đạt đến tột cùng, dù
có là thánh nhân vẫn chẳng thể làm được! Ông
chẳng biết họ Châu (tức Châu Hy) hiểu sai chữ
“vật” và chữ “cách” nên báng Phật, phá nhân quả, luân hồi;
lại c̣n ăn trộm cách tham cứu của Thiền Tông
để tự khoe tài, v́ thế nói: “Một mai bừng tỏ
liền thông suốt”. Nếu ông nghĩ giải thích chữ
“cách vật” theo kiểu của họ Châu là đúng th́ dẫu
ông “cách” suốt cả đời vẫn chẳng đạt
đến chỗ cùng tận, nói ǵ đến chuyện “bừng
tỏ, thông suốt”! Lời bàn luận dài ḍng lần này
quan hệ rất lớn; do vậy, tôi khuyên ông cũng nên
đưa cho cha ông đọc [thư này]. C̣n chuyện ông
theo đuổi nghề buôn bán hay nghề Nho, ông hăy tự suy
xét. Nếu đọc đến phần nói về căn bệnh
của ông trong đoạn thư trước chẳng sanh
ḷng cảm kích, trái lại sanh ra phiền năo th́ ông làm
thương nhân cũng sẽ là ngụy thương, làm
nhà Nho cũng là ngụy Nho! Theo đuổi việc dạy
dỗ người khác mà ĺa khỏi luân thường, nhân
quả th́ cũng chỉ rớt vào t́nh cảnh thật sự
là “tự lầm, lầm người” mà thôi! Sợ ông c̣n
mơ màng chẳng thấy được điều này,
nên phải nói sẵn! Nếu không tin tưởng, chẳng
ngại ǵ giữ lại [thư này] để sau này làm
gương [nhằm biện định] thành hay bại do tuân
theo hay chống trái.
Quốc Học Chuyên Tu
Quán ở Vô Tích do quan Hàn Lâm đời Thanh trước kia
là Đường Văn Trị sáng lập. Ông này hai mắt
không thấy đường. Bộ Thập Tam Kinh Độc
Bản do ông ta chú giải, ông Thi Tỉnh Chi bỏ ra mấy
vạn đồng khắc ván, in được hai trăm
bộ, cậy Quang viết lời tựa; nhân đó, Quang
xin gởi cho một bộ. Một bộ gồm hơn tám
mươi cuốn, không gắn dây đánh dấu, không in phần
thư căn[27],
hơn tám mươi cuốn sách ấy làm sao có thể kiểm
nghiệm cho được? Do vậy, biết họ chỉ
tuân theo lối cổ, chẳng biết làm lợi cho người
khác. Quang bận bịu lắm việc, chẳng thể nào
đọc hết được. Giở xem đại
lược, thấy ông ta chỉ ra những thiên Thuấn
Điển, Thái Giáp, Hàm Hữu Nhất Đức, Thuyết
Mạng v.v… trong kinh Thư đều là ngụy tạo;
đối với thiên Hàm Hữu Nhất Đức đều
lấy những “sách” đă dẫn [trên đây] để
làm chứng, chẳng nghĩ kẻ ngụy tạo có thể
dẫn những đoạn kinh văn thuộc phần sau
thiên Hàm Hữu Nhất Đức! Há những người
viết ra những sách[28] ấy
chẳng được trích dẫn phần trước của
thiên Hàm Hữu Nhất Đức ư? Do vậy, Quang sợ
quá; sau này gặp ông Thi Tỉnh Chi cho biết: Ông Đường
muốn làm bậc cao nhân đệ nhất từ ngàn
xưa tới nay, bèn làm ra vẻ lập dị ḥng lưu
danh cho đời sau, đến nỗi mắt của chính
ḿnh không thấy được ánh sáng mặt trời nữa,
chẳng đáng buồn ư?
2) Hôm trước
đă nhận được thư của ông đủ cả.
Ông đă lấy vợ, phải thường mang ư niệm
làm vui ḷng cha mẹ. Vợ chồng kính trọng lẫn
nhau, chớ nên v́ hiềm khích nhỏ nhặt mà đến
nỗi vợ chồng chẳng ḥa thuận khiến cho cha
mẹ đau ḷng. Sách Trung Dung nói: “Thê tử hảo hợp, như cổ sắt cầm,
huynh đệ kư hấp, ḥa lạc thả đam. Nghi
nhĩ thất gia, lạc nhĩ thê noa” (Vợ con vui vẻ
ḥa hợp như khảy đàn sắt, đàn cầm[29].
Anh em ḥa thuận, vừa yên vừa vui. Cửa nhà yên ổn,
vợ con vui vầy). Khổng Tử nói: “Phụ mẫu kỳ thuận hỹ hồ!” chính
là nói vợ chồng, anh em ḥa thuận th́ ḷng cha mẹ vui
sướng vậy! Nay làm phận con, không lâu sau lại sẽ
làm cha kẻ khác, nếu chẳng thực hành đạo khiến
cho cha mẹ vui sướng, ắt sẽ sanh con ngỗ nghịch,
bất hiếu! Ví như nước nhỏ giọt ở
mái hiên, từng giọt, từng giọt, giống hệt
như nhau. Quang già rồi, chẳng thể thường
răn dạy ông, ông chịu nỗ lực trọn hết
đạo làm con ắt sẽ có thể dự vào bậc
thánh, bậc hiền, tương lai văng sanh Tây
Phương, đấy chính là pháp lợi ông sẽ đạt
được! Vợ ông có pháp danh là Pháp Ích, chịu hành
theo pháp sẽ đạt được lợi ích chân thật.
Bệnh cùi[30]
là căn bệnh chẳng dễ ǵ trị được.
Năm ngoái do ông Bàng Tánh Tồn đi phát chẩn, t́m ra
được cách trị, nay gởi cho ông phương thuốc
ấy (tức là bài thuốc trị bệnh cùi ở
sau cuốn Sơ Cơ Tiên Đạo (hướng dẫn
cho người sơ cơ)), mong hăy
lưu hành rộng khắp. Nếu quư địa cũng có
căn bệnh này th́ chẳng ngại ǵ đề xướng
loại ngao cao[31]
này cho mọi người.
3) Ở
ngân hàng, trong hết thảy mọi lúc, ông phải chú tâm cẩn
thận, đừng học thói ăn nói lớn lối, chẳng
tích cực dốc ḷng vào mọi chuyện nhỏ nhặt. Phải
biết thái độ ấy là thái độ của kẻ
bại hoại, bởi chưa làm chuyện lớn đă
coi thường chuyện nhỏ, tưởng ḿnh tài
năng lớn lao, cớ ǵ phải ràng buộc bởi chuyện
này? Phải biết đấy là mầm mống của phường
hạ lưu dối ḿnh, lừa người. Phàm người
làm việc lớn, quyết chẳng chịu khinh thường
chuyện nhỏ. Phàm ai khinh thường chuyện nhỏ,
chắc chắn chẳng thể đảm nhiệm chuyện
lớn. V́ sao biết vậy? Do quân tử hành xử
đúng với địa vị. Ông thuộc địa vị
làm chuyện nhỏ, nhưng chẳng chịu trọn hết
chức trách và bổn phận, cho rằng ta cần ǵ phải
dụng tâm nơi chuyện này th́ khi được làm chuyện
lớn, kiêu căng, phóng túng, buông lung sẽ dấy lên, ấy
là v́ cội rễ chưa lập, do đâu mà cành nhánh
tươi tốt, tỏa rộng cho được?
Ví như một người
có chút tài mọn, cũng có đôi chút tu tŕ, trong tâm bèn cảm
thấy ta rất cao minh, tu tŕ dữ lắm. Do đó, cái
tâm ngạo nghễ, ngă mạn sẽ chiêu khởi những
oán gia đối đầu từng bị ta hăm hại
trong đời trước nhập vào thân tâm hiện thời,
đến nỗi tài chẳng thành ǵ, tu chẳng ra chi! Nếu
kẻ ấy khiêm cung hiếu thuận, do sức tu tŕ ấy
sẽ tiêu diệt được túc nghiệp, tăng
trưởng thiện căn, mai sau lâm chung sẽ văng sanh Tây
Phương, được lợi ích thật sự là
siêu phàm nhập thánh. So với những kẻ tự lầm
lạc ngạo nghễ, lợi - hại nào phải chỉ
khác biệt như trời với vực! Chuyện này
đương nhiên ông phải biết, ngơ hầu dùng
điều này làm hướng dẫn cho tương lai của
ông vậy!
146. Thư trả lời cư sĩ
Tăng Di Chi
Đọc
những ǵ ông Diêu Hà Sanh kể về mọi chuyện trong
lúc cha ông ta là Tiết Khanh lâm chung, [biết] đó là v́ lúc
b́nh thường quả thật cụ ấy chưa nhất
quyết muốn văng sanh. Nếu nhất quyết muốn
văng sanh, há lẽ nào bảo người nhà niệm Quán Âm
để cầu lành bệnh, đợi khi tắt thở
rồi mới niệm Phật ư? Người niệm
Phật bị bệnh liền nghĩ là sắp chết, nhất
tâm niệm Phật. Nếu tuổi thọ chưa hết,
sẽ đâm ra chóng lành. Nếu chỉ mong lành bệnh tức
là sợ chết. Có cái tâm sợ chết, sẽ khó cảm
được Phật! May là Tiết Khanh lâm chung có người
trợ niệm, Hà Sanh chẳng tiếc nuối v́ chưa kiệt
lực trợ niệm, lại ngược ngạo buồn
tiếc rằng thuốc thang chưa tinh tường đến
tột cùng, đúng là vô vị đến cùng cực! Cha sắp
chết, há c̣n cần phải mời thầy thuốc khám bệnh
(do chẩn trị càng thêm mù quáng),
há có nên sau đó lại nói những lời lẽ tệ hại
vô vị ấy hay chăng?
Dựa theo t́nh h́nh lúc Tiết Khanh lâm chung, phần nhiều là do sức người khác trợ niệm. Người trợ niệm nên hướng dẫn quyến thuộc cả nhà đều cùng niệm Phật. Trương cư sĩ há nên sợ phiền rồi chẳng hỏi đến con cái ông cụ? Những chuyện này cũng đều là v́ chẳng biết sự thể của việc trợ niệm, sau này phải chú ư, phải cực lực khuyên cả nhà hăy chuyên tâm niệm Phật. Nhờ sức trợ niệm nên Tiết Khanh lâm chung có tướng lành; thiêu xong, xương trắng sạch, lại có miếng xương đỏ như hoa sen. Ấy đều là do nhân duyên Phật pháp và thiện hạnh cảm thành. C̣n như nói xương Quán Âm đều là màu hoa sen đỏ, lời lẽ ấy phát xuất từ sách vở do ngoại đạo ngụy tạo, chẳng đáng tin cậy (Quán Âm chính là vị Cổ Phật trong quá khứ, ai thấy màu xương của Ngài như thế nào, quả thật kinh Phật chẳng hề nói đến).
Hà Sanh nói “do phạm lỗi
kê toa thuốc không khéo, và sau này, cha nhiều lần bị bệnh
trầm kha, không thể tiêu tan được mối tiếc
hận ấy” v.v… đều là nói nhảm nhí! Sao không suất
lănh người nhà ông ta bỏ ngủ quên ăn chí tâm niệm
Phật để nếu như cha chưa được
văng sanh bèn văng sanh ngay, nếu đă văng sanh sẽ tăng
cao phẩm sen? Quang mục lực, tinh thần đều
chẳng đủ, nhưng do [thấy] những điều
sai lầm của cha con Hà Sanh và Trương cư sĩ, không
thể không chỉ ra từng điều một, ngơ hầu
sau này ai nấy đều được văng sanh Tây
Phương!
147. Thư trả lời cư sĩ
Dương Huệ Phương
(ngày 18 tháng 10 năm Dân Quốc 28 - 1939)
Nhận được
thư khôn ngăn cảm thán, may là bưu phiếu bị
sai; nếu không, các ông sẽ tưởng chuyện sai lầm
là trợ niệm đắc lực (khoảng giữa
Hạ sang Thu năm nay, ôn dịch xảy ra dữ dội tại
huyện Độc Sơn, Quư Châu, có hai đệ tử nhiễm
bệnh dịch qua đời). Trần
Tông Từ sau cơn thổ tả nằm trên giường
niệm Phật, nhẹ nhàng qua đời, hoàn toàn không có
hiện tượng rên rỉ, khổ sở. Do tâm chính ḿnh
chẳng điên đảo, mọi người trợ niệm,
ắt được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây
Phương. Tông Tịnh sau cơn thổ tả, thần
thức rất thanh tịnh, vẫn muốn được
lành bệnh bèn niệm Quán Âm. Đây cũng là sự sai lầm
do ít đọc những sách Tịnh Độ và Văn Sao!
Hễ có bệnh liền nghĩ sắp văng sanh, niệm Phật
cầu văng sanh, nếu tuổi thọ trong cơi đời
chưa hết chắc sẽ mau được lành. Nếu
tuổi thọ trong cơi đời đă hết, chẳng
đến nỗi v́ cầu lành bệnh mà chẳng thể
cảm ứng đạo giao cùng Phật! May là ông ta tự
biết chẳng thể văn hồi được nữa,
bèn ngồi xếp bằng niệm Phật, dặn ḍ
người nhà. Câu đầu tiên bèn nói: “Ta chết rồi
đừng động đến di thể”; ấy là v́ muốn
ngồi qua đời để làm gương cho những
người cùng chí hướng. Tiếp đó, dặn
đừng sát sanh, chẳng dùng đồ mặn để
cúng bái v.v…và bảo báo cho ông biết để chuyển tin
cho Quang, rồi nhất tâm niệm Phật và dặn người
nhà trợ niệm.
Tông Khiết hoàn toàn chẳng
biết sự quan trọng của việc trợ niệm:
“Không động đến thân thể th́ tâm chẳng v́ bị
động mà không thể quy nhất. Hoặc nếu do thân
không có sức, lại do bị dời động sanh
đau đớn, tâm sân hận sẽ khởi lên”. [Tông Khiết]
lầm lạc đặt thân thể [của Tông Tịnh] nằm
xuống, ngay lập tức [Tông Tịnh] sân tâm bùng lên, cho
nên sắc mặt đỏ bừng. May là mọi người
tưởng lầm đă đến lúc văng sanh bèn lớn
tiếng niệm Phật, ông ta c̣n có thể mấp máy môi niệm
theo, vẫn chưa đến nỗi hỏng chuyện! Đến
khi tắt hơi rồi, một chân c̣n chưa duỗi ra là
v́ [Tông Tịnh] muốn nhỏm dậy nhưng lực bất
tùng tâm. Do vậy, Tông Khiết nói: “Cụ co được
một chân, bèn nhỏm dậy muốn ngồi, nhưng
không c̣n sức nữa, bèn nằm thẳng đờ qua
đời!” Nếu không bị Tông Khiết mù quáng quấy
rối, cảnh tượng lúc [Tông Tịnh] mất sẽ
là chuyện lạ được đồn đại cả
một vùng. Nhưng tắt hơi rồi, vẫn c̣n có những
chuyện như co chân, nhỏm dậy v.v… cũng là rất
không b́nh thường, chắc là ông ta cũng được
văng sanh.
Hiện thời, gởi
sách đến nơi xa rất khó khăn, trước đây,
tôi vốn muốn gởi sách, cho người hỏi
bưu cục, họ nói “không thể gởi được”.
Đợi đến lúc gởi được sẽ gởi
cho những sách thiết yếu. Công phu của Tông Tịnh
đủ để chứng tỏ ông ta vượt trội
bọn ta, trải qua một phen bị phá hoại như vậy,
sau khi tắt hơi vẫn c̣n hiện tướng co chân,
nhỏm dậy, cũng là chuyện trong trăm ngàn vạn
người hiếm có được một hai kẻ!
Đủ biết rằng: Người trợ niệm phải
theo chương tŕnh. Tuy Tông Khiết chẳng biết
chương tŕnh, há có nên chẳng y theo lời ông ta dặn
ḍ “mất rồi không động đến thân thể”
ư? Vẫn cứ tưởng ḿnh trợ đạo, chẳng
biết ḿnh đă phá hoại. Nhưng người sở
đắc sâu xa th́ vẫn chẳng đến nỗi chẳng
được hưởng lợi ích văng sanh vậy!
Hơn mười
năm trước, Trịnh Huệ Hồng ở huyện
thành Bảo Sơn tỉnh Vân Nam gởi thư xin quy y, rồi
khuyên cha mẹ niệm Phật. Năm Dân Quốc 22 (1933),
Huệ Hồng mất. Bà mẹ t́nh thương con quá
đậm bèn uống thuốc độc, ngồi xếp
bằng, chắp tay niệm Phật qua đời, vẻ mặt
tươi nhuận, so ra c̣n đẹp đẽ hơn lúc
sống. Người trong cả một vùng nghe chuyện, từ
đấy niệm Phật quá nửa! Cha Huệ Hồng
tên là Bá Thuần, pháp danh Đức Thuần, là kẻ
sĩ học rộng nhưng chẳng muốn ra làm quan,
trước đấy đă nghiên cứu kinh Dịch mấy
năm, rồi nghiên cứu kinh điển của thuật
luyện đan, sau đó nghiên cứu Thiền Tông. Huệ
Hồng buôn bán ở bên ngoài, gởi cho cha rất nhiều
sách Tịnh Độ khuyên tu Tịnh nghiệp, ông ta bèn
chuyên tu Tịnh nghiệp, đồng thời làm người
hướng dẫn cho cả vùng, nhưng người tin
theo rất ít. Do bà vợ ông ta uống thuốc độc,
ngồi xếp bằng, chắp tay niệm Phật qua
đời, kẻ không tin đều sanh ḷng tin. Người
phụ nữ đó chưa từng học hành, uống thuốc
độc xong có thể hiện tướng chẳng thể
nghĩ bàn ấy, đủ biết được lợi
ích của pháp môn này là rất khó có, hy hữu vậy!
Do loại tiền năm
cắc[32] (số tiền
gởi bằng mỗi tờ năm cắc tính gộp lại
là hai mươi hai đồng), [là
loại] chẳng thể dùng được, ông bèn gởi
bù, đây cũng là do sự mất mát nhỏ nhoi mà
được sự lợi ích lớn lao, sao lại nói là
“sự mất mát nhỏ nhoi”? Ông hoàn toàn chẳng biết
Quang là người như thế nào, trong ḷng cứ áy náy v́
bưu phiếu hai mươi hai đồng vô dụng, mong
[Quang] gởi trả lại để điều đ́nh
[với bưu cục] đổi cho [bưu phiếu khác]. Chẳng
biết Quang suốt đời chẳng dùng tiền sai quấy!
Hễ có tiền, nếu không dùng để in sách, tặng
sách, cũng dùng tiền đó để cứu trợ tai nạn,
giúp kẻ ngặt nghèo, chẳng thâu đồ đệ,
chẳng làm Trụ Tŕ chùa miếu, chẳng để lại
ǵ ḥng kỷ niệm sau khi mất, trừ quần áo bản
thân đang mặc ra, đều dùng làm chuyện công ích. Hai
mươi hai đồng dẫu vô dụng cũng giống
như đem cho nhà nước. Ông làm cách đó chính là dùng
thói trẻ nít đầu đường xó chợ để
xét Quang vậy. Nhưng nếu chẳng do chuyện này,
chưa chắc đă đặc biệt nói đến chuyện
của Tông Từ, Tông Tịnh. Do những chuyện này, mong
mọi người niệm Phật đều được
nhờ sức trợ niệm văng sanh, đấy là lợi
ích không chi lớn lao hơn được!
148. Thư trả lời cư sĩ
Lưu Huệ Dân (năm lá
thư)
(Ông này pháp danh là Đức Huệ. [Những lá thư này được viết trong khoảng thời gian] từ năm Dân Quốc 21 - 1932 đến năm Dân Quốc 28 -1939. Tập hợp những sao lục trích yếu)
1) Dùng “chắp mười ngón tay”
để xin quy y, há cơi đời có lẽ ấy hay
chăng? Kẻ [muốn học nghề] cạo đầu,
chữa chân, khi bái sư cũng phải ba lần quỳ,
chín lần dập đầu, huống chi quy y Tam Bảo,
muốn nhờ đó để siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử ư? Khinh mạn như thế, sao dám chấp
nhận để tự khinh ư? V́ thế đem nguyên
thư gởi lại, mong hăy kiếm vị minh sư khác!
2) Người
học Phật ắt phải giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều
lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương, tự hành, dạy người cùng tu Tịnh
nghiệp. Lúc niệm Phật cần phải thâu nhiếp tai
lắng nghe, từng chữ từng câu chẳng để
luống qua, lâu ngày chầy tháng, thân tâm sẽ quy nhất. Một
pháp Lắng Nghe đúng là pháp quan trọng trong [pháp môn] Niệm
Phật; bất luận là ai đều có lợi chứ
không có điều tệ, công đức rất sâu. Chẳng
như những pháp quán tưởng v.v… người biết
pháp sẽ được lợi ích, kẻ chẳng biết
pháp phần nhiều bị tổn hại. V́ thế, chẳng
thể dạy kẻ chẳng hiểu giáo lư, chẳng thông Tánh
Thể tu tập những pháp quán tưởng v.v… Ông muốn
quy y, bèn đặt pháp danh là Đức Huệ. Dùng pháp tín
nguyện niệm Phật để tự lợi ḿnh, lợi
người, công đức chẳng thể nghĩ bàn!
3) Hôm
trước nhận được khoản tiền mười
đồng do ông gởi, nay đă đem một trăm
đồng để phụ giúp hành động tốt
lành của một đệ tử thuộc thành phố
này, mười đồng của ông cũng nằm trong số
đó. Quang hễ có tiền bèn dùng ngay, hoặc là dùng để
in kinh sách, hoặc để cứu trợ tai nạn, ngơ hầu
những ai gởi biếu Quang đều được
quy công vào Thật Tế! Cho đến lúc chết, Quang chỉ
mang theo y phục tùy thân mà thôi để khỏi bị sau
khi chết đi, kẻ được hưởng tài vật
rủa xả là con quỷ tham lam.
4) Bệnh
của con gái lệnh hữu đă lành, cũng là do ḷng thành
của bà nội cảm nên. Phàm uống nước đă
được gia tŕ bằng chú Đại Bi, kẻ chí
thành sẽ thấy linh nghiệm, kẻ chẳng chí thành khó
thấy được hiệu quả. Sách do lệnh
sư soạn đă được tiên sinh Đinh Trọng
Hựu[33] khen th́ được
rồi! Quang mắt đă gần ḷa, ngay khi viết thư
này phải dùng cả kính lăo lẫn kính lúp, miễn cưỡng
g̣ gẫm. Cái thói sáo rỗng chưa thấy cuốn sách ấy
mà đă viết lời bàn luận, khen ngợi, Quang tuyệt
đối chẳng có gan viết! Nay mục lực ngày càng
suy, trí nhớ ngày càng kém, sách đă không thể đọc
được th́ lời tựa cũng chẳng thể
nào viết được! Hai thứ [sách] đề nghị,
yêu cầu [viết lời tựa, lời b́nh] đều gởi
lại bằng thư bảo đảm, từ rày đừng
gởi thư đến nữa, cũng đừng giới
thiệu người khác đến quy y do không đủ sức
để thù tiếp!
5) Ông là
người đề xướng th́ phải nên ăn chay
trường để làm gương. Quán Âm Điện nên
đợi thái b́nh rồi hăy xây cất để khỏi bị
kẻ khác nghĩ ông có tiền rồi nảy sanh ư xấu!
Mẹ ông đă ngoài sáu mươi, hăy nên nhất tâm niệm
Phật, cầu sanh Tây Phương, chớ có tâm cầu
phước báo nhân thiên đời sau. Tâm hễ có một
niệm cầu phước báo nhân thiên đời sau sẽ
chẳng thể văng sanh Tây Phương được! Bốn
pháp danh viết trong tờ giấy khác, gởi kèm theo
thư. Tiền hương kính không cần phải gởi
thêm. Hiện thời Quang chẳng có chuyện ǵ cần dùng
đến tiền, chỉ mong mọi người ai nấy
ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương; ngoài
ra chẳng mong cầu chi hết! Pháp sư Đức Sâm hiện
đang ở chùa Thái B́nh tại Thượng Hải đợi
giảo chánh các sách. Hiện tại bưu điện chẳng
thể gởi các bưu kiện theo đúng thời hạn
được, sợ bị lạc mất. V́ thế, thầy
ấy ở luôn tại đất Thân (Thượng Hải)
để giảo chánh cho ổn thỏa. Hoằng Hóa Xă do
giao thông hiện thời chẳng tiện, chuyện ǵ
cũng gian nan, phạm vi bị thu hẹp lại, ba người
tại gia đều từ biệt ra đi. Do thầy
Đức Sâm vẫn c̣n ở đất Thân, Quang phái một
vị Tăng tạm thời thay thế lo liệu. Phương
pháp “chiếu theo giá vốn, và nhận tiền xong mới
giao sách” do vấn đề thời cuộc, [sách gởi] bị
lạc mất giữa đường, nên không đủ sức
và [có sách] để gởi tiếp tục được.
Không phải chúng tôi khắc nghiệt mà do thời thế
xui khiến cho chẳng không làm như vậy được.
149. Thư trả lời đại
sư Thiện Giác
(Tháng Hai năm Dân Quốc 29 - 1940, đính kèm thư gởi đến)
Ấn Công lăo pháp sư từ bi
soi xét, ngưỡng mộ bậc Thái Sơn, Bắc Đẩu
đă lâu, hận chưa thể đích thân hầu hạ.
Đệ tử từ khi xuất gia đến nay đối
với pháp môn Tịnh Độ sanh ḷng tín nguyện sâu xa,
hành tŕ theo pháp này kể ra cũng đă lâu rồi. Gần
đây, do đọc cuốn Nghiên Cứu So Sánh Giữa Khoa
Học Và Phật Pháp, [thấy trong tác phẩm ấy] nữ
sĩ Lă Bích Thành gởi thư cho cư sĩ Vương
Quư Đồng[34], nói: Trong bốn
mươi tám nguyện có câu “chỉ trừ Ngũ Nghịch”,
nhưng Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh lại chấp
nhận cho kẻ Ngũ Nghịch được văng sanh,
[cho là hai kinh] mâu thuẫn lẫn nhau, ḷng tin bèn lui sụt,
ông Vương Quư Đồng trả lời chẳng thật
tường tận. Đệ tử chướng nặng
si nhiều, đối với điều này cũng sanh
nghi hoặc sâu đậm, lại sợ người khác
cũng sanh mối nghi này; v́ thế, riêng dâng thư này, rạp
ḿnh khẩn cầu thầy từ bi thương xót, khai thị
tường tận để đệ tử và hết thảy
chúng sanh trong hiện tại, vị lai đều được
trừ nghi sanh tín, cảm tạ khôn cùng. Thêm nữa, trong bốn
mươi tám nguyện, phía sau câu “chỉ trừ Ngũ Nghịch”
c̣n có bốn chữ “phỉ báng chánh pháp”, c̣n Quán Kinh không có,
chẳng biết có phải là do bốn chữ này nên [hai
kinh] chẳng mâu thuẫn lẫn nhau hay không?
Pháp môn Tịnh
Độ chính là pháp môn đặc biệt trong Phật
pháp, lợi ích khác biệt với những pháp môn thông
thường rất lớn. Xưa nay có nhiều người
cứ dựa theo những pháp môn phổ thông để luận
định pháp môn Tịnh Độ; do vậy, tự lầm,
lầm người, vẫn tự cho là ḿnh đă hoằng
pháp lợi sanh, nhiều không biết bao nhiêu mà kể!
Điều lầm lẫn trước nhất là do chẳng
suy xét sự lớn - nhỏ, khó - dễ giữa Phật lực
và tự lực. Đối với pháp môn cậy vào Phật
lực lại ương ngạnh muốn viện dẫn
pháp môn cậy vào tự lực để biện luận
nên mới bị lầm lạc như vậy. Nếu biết
Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể
dùng sức tu tŕ của kẻ phàm phu đầy dẫy triền
phược để b́nh luận th́ hết thảy những
tâm nghi hoặc, chẳng tin đều tiêu tan hết.
Những câu “năi chí thập niệm, hàm giai nhiếp
thọ, duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp”
(cho đến mười niệm đều được
nhiếp thọ, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ
báng chánh pháp) trong kinh Vô Lượng Thọ là luận theo
lúc b́nh thường, chứ không luận trên lúc lâm chung. Do kẻ
ấy đă có tội Ngũ Nghịch cực nặng, lại
kèm thêm tà kiến sâu nặng, phỉ báng chánh pháp, cho rằng
pháp “siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, và niệm
Phật văng sanh” do đức Phật đă nói đều
là căn cứ để dụ dỗ, gạt gẫm ngu
phu ngu phụ vâng thờ giáo pháp của Ngài, chứ thật
ra chẳng hề có chuyện ấy; do có tội chướng
cực nặng ấy, dẫu có thiện căn một niệm
hay mười niệm, nhưng v́ không có tâm hổ thẹn cùng
cực, tin tưởng cùng cực nên chẳng thể văng
sanh được! Chương Hạ Hạ Phẩm trong
Quán Kinh nói về những kẻ lúc sắp lâm chung, tướng
địa ngục A Tỳ hiện, tuy [Quán kinh] chẳng
nói [kẻ ấy] phỉ báng chánh pháp, nhưng đă là kẻ
Ngũ Nghịch Thập Ác, đầy đủ mọi
điều bất thiện, ắt không thể nào chẳng
phỉ báng chánh pháp! Nếu hoàn toàn không phỉ báng chánh pháp,
sao lại có thể giết A La Hán, phá ḥa hợp Tăng,
làm thân Phật chảy máu được?
Thường có kẻ
giải thích rằng trong trường hợp này (tức những
kẻ được nói trong Quán Kinh) th́ không báng chánh pháp,
trong trường hợp kia (tức những kẻ
được nói trong kinh Vô Lượng Thọ) là báng
chánh pháp, [thoạt nghe qua] cũng rất có lư, nhưng
đă không báng pháp, sao lại có thể làm ba sự đại
nghịch ấy cho được? Do vậy, biết rằng:
Bốn mươi tám nguyện là luận theo lúc b́nh thường,
c̣n chương Hạ Hạ Phẩm của Quán Kinh luận
theo lúc đă thấy tướng khổ cùng cực của
địa ngục, kẻ ấy hoảng sợ không thể
nào diễn tả được, vừa nghe danh hiệu Phật
bèn xót xa cầu xin được cứu giúp, trọn chẳng
có ư niệm nào khác, chỉ có ư niệm cầu Phật cứu
độ, hộ niệm! Tuy là vừa nghe liền niệm,
nhưng đă “toàn tâm là Phật,
toàn Phật là tâm, ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”,
cho nên tuy chỉ mười niệm hoặc chỉ một
niệm, vẫn được Phật từ lực tiếp
dẫn văng sanh! Bốn mươi tám nguyện là luận
theo lúc b́nh thường, chương Hạ Hạ Phẩm
của Quán Kinh nói về lúc lâm chung. Do thời gian, sự việc
khác biệt nên có sự nhiếp thọ hay không [nhiếp thọ]
sai khác. Cho đó là mâu thuẫn, tức là trở thành gă si ngốc[35] vậy!
150. Thư trả lời cư sĩ Tống
Huệ Trạm
(năm Dân Quốc 27 - 1938. Hoằng Hóa Xă tăng giá sách ba phần, đây là so sánh giá sách của năm 27 với năm 26 mà nói. Đến mùa Thu năm Dân Quốc 28 - 1939 trở đi, lại tăng giá gấp đôi, nhưng vẫn chưa tái bản sách được)
Quang thật
bội phục tâm nguyện của ông, nhưng Quang chẳng
nghĩ cách hành động của ông là đúng. Trong lúc
đại kiếp này, chỉ chú trọng khuyên người
niệm Phật và niệm Quán Âm, cần ǵ phải có cho nhiều
thứ sách khiến cho người đọc hoang mang,
không biết quay về đâu! Huống chi chiến sự vẫn
ngày càng thêm dữ dội, há có bảo đảm được
sau này không có chuyện ǵ phải trốn tránh nữa hay
chăng? Chuyện của Hoằng Hóa Xă là v́ nhân dân hiện
thời khốn khổ gian nan, những người giúp
đỡ tiền in trước kia hoặc phải lánh đi
xa, hoặc đă nghèo cùng, Quang vừa già vừa ḷa mắt,
chẳng hỏi đến được, [Hoằng Hóa Xă]
do thầy Đức Sâm đảm nhiệm. Quang bảo
thu hẹp phạm vi [hoạt động] lại, chỉ tuân
theo biện pháp lưu thông theo giá vốn. Hiện thời
giấy mắc thêm gấp ba, hễ thư gởi xuông liền
không trả lời, thư có kèm theo tiền thỉnh sách bèn
chiếu theo khoản tiền ấy giao sách, ắt chẳng
đến nỗi khó nghĩ cho đôi bên! Ông chỉ biết
đến biện pháp làm ra vẻ kẻ cả, ắt sẽ
tốn tiền nhiều, nhưng thâu được hiệu
quả ít ỏi. Nếu chuyên đề xướng niệm
Phật th́ hăy chuẩn bị đại lược các kinh
sách Tịnh Độ để cực lực đề
xướng sẽ ít tốn kém mà hiệu quả lại lớn.
Hơn nữa, đề
xướng cần phải có nơi chốn, tu tŕ vẫn nên
ai [tu] trong nhà nấy, cốt sao chẳng lỡ việc mà
cũng chẳng tốn sức, [đấy mới] thật
là một biện pháp hữu ích nhất. Bộ Văn Sao của
Quang kể từ năm Dân Quốc 15 (1926), Trung Hoa Thư Cục
ấn hành hoàn chỉnh bộ Tăng Quảng Văn Sao
xong, bất luận bản nháp nào cũng đều không giữ
lại, nhưng v́ thầy Minh Đạo tự lén sai
người sao chép lại rất nhiều, rồi sau
đó Đương Gia chùa Linh Nham là thầy Diệu Chân sai
người chép lại cho rơ ràng, cho sắp chữ, Quang mới
biết, bèn giảo duyệt từng bài một. Sắp chữ
xong, riêng phần thư tín cũng dày tới một cuốn,
những bài văn khác như Tự, Kư v.v… cũng được
một cuốn dày. Hai cuốn sách lần này, số trang bằng
khoảng ba phần năm bộ Văn Sao bốn cuốn [đă
in] lần trước. Cách sắp xếp căn cứ theo
y như bộ Văn Sao đă in lần trước. Ông
không cần phải băn khoăn, nếu là những lá
thư b́nh thường, phần nhiều sẽ đâm ra chuốc
lấy sự chán ghét của người khác; nếu là lá
thư thật sự hữu ích, có thể sao ra gởi sang
chùa Thái B́nh ở đường Bắc Thành Đô, Thượng
Hải, giao cho pháp sư Đức Sâm. Sau này thỉnh kinh
sách cũng nên tiếp xúc với thầy ấy.
Ông nên buông bỏ biện
pháp lớn lao, chỉ nên tu tŕ thiết thực, lấy thân
làm gương, sốt sắng đề xướng, [dùng
ḷng] chí thành cảm người, người ta sẽ vui vẻ
thuận theo. Quan giám ngục Cử Huyện là Lư Bính Nam
đề xướng chưa đầy hai ba năm,
người quy y tại Cử Huyện đă hơn một
trăm người, đều là những nam tử trong giới
sĩ, nông, công, thương, hay chánh trị gia. Ông muốn
Quang đại diện đề xướng quyên góp, ông chẳng
biết Quang chưa hề mở miệng kêu gọi chuyện
ấy. Hễ có ai tặng tiền cho Quang, liền dùng tiền
ấy làm công đức: Hoặc tặng kinh sách, hoặc cứu
trợ tai nạn hay giúp kẻ nghèo khó. Nếu có kẻ chuộng
thể diện đưa sổ vàng quyên góp bảo Quang
đứng ra quyên mộ, Quang cũng gởi trả lại
sổ vàng, chỉ tùy sức tôi giúp được bao nhiêu
th́ giúp, cũng chẳng viết tên vào sổ vàng ấy, lại
c̣n nói rơ nguyên do: Khi Quang xuất gia liền phát nguyện chẳng
làm chủ nhân chùa miếu, chẳng thế độ đồ
đệ, chẳng mộ duyên. Nay đă bảy mươi
tám tuổi rồi, luôn giữ được như vậy.
Sau hai ngày nữa là tṛn bảy mươi chín tuổi rồi,
trong sáng tối sẽ chết, cớ ǵ lại trái nghịch
ḷng ngay thực ban đầu? Đại họa lần này
xưa nay chưa hề nghe đến, quả thật là do
họ Châu, họ Tŕnh bài xích nhân quả ươm thành. Pháp
thế gian hay xuất thế gian đều dùng nhân quả
để duy tŕ, họ bảo “thật ra chẳng hề
có chuyện ấy”, nên khiến cho những kẻ tâm tàn
độc nhất càng thêm rất độc. Thật vậy,
quân tử chẳng thốt ra những lời nói chơi!
151. Thư trả lời cư sĩ Tào
Bội Linh
(Vợ chồng cư sĩ Bội Linh sanh liên tiếp năm đứa con gái. Sau khi quy y Phật pháp, tận lực làm chuyện lành, ăn chay niệm Phật, và cực lực đề xướng khuyến hóa, tự lợi, lợi người. Đến năm Dân Quốc 25 - 1936, ông cùng với các vị cư sĩ như Viên Lệ Đ́nh v.v… sáng lập Vô Tích Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xă, hướng dẫn nhiều cách, chẳng tiếc sức thừa. Mùa Đông năm ấy, sanh được một trai. Đến mùa Thu năm Dân Quốc 28 (1939), lại sanh được Đức Trừng. Do cảm kích ân Phật bèn đem một trăm đồng cúng dường cụ Ấn Quang. Lúc ấy, nhằm đúng lúc cư sĩ Đậu Tồn Ngô v́ hai đứa trẻ nghèo cậy Sâm thỉnh lăo nhân (tổ Ấn Quang) viết thư cho cư sĩ Hoàng Hàm Chi giới thiệu chúng được vào học miễn phí tại trung học Tam Dục. Lăo nhân bèn bảo đem một trăm đồng ấy giao cho Hoàng cư sĩ, thay v́ đóng góp để cứu chẩn, liền dùng [món tiền ấy] làm điều kiện giới thiệu cho hai đứa trẻ nghèo, cũng như để khỏi nhờ người khác nói giúp. Hoàng cư sĩ cũng nghĩ đến ḷng từ bi của lăo nhân mà lo liệu. Cư sĩ Bội Linh cảm kích trước hành động này của lăo nhân, [hành động ấy] chẳng chỉ hữu ích riêng cho pháp môn, v́ nếu ai nấy đều dụng tâm như vậy, hiền tài của đất nước sẽ dấy lên đông đảo là chuyện chính mắt sẽ thấy. Ông ta bèn đem thư này gởi cho Sâm, bảo đưa vào sách và lược thuật nguyên do đầu đuôi. Đức Sâm kính ghi)
Trước
kia, ông nhiều lần sanh con gái, nay đă nhiều lượt
sanh con trai. Có thể thấy là Phật, trời gia bị
người làm lành, khiến cho mọi việc như ư.
Pháp danh của lệnh lang là Phước Vĩnh, nhũ
danh là Đức Trừng. Chẳng biết Phước
Vĩnh có nặng hơn chị và anh hay không. Nặng
hơn th́ đặt pháp danh là Đức Trừng. Phật,
trời gia bị ông, ông hăy nên tích cực dạy dỗ
để nó trở thành chánh khí. Trong thế gian chẳng biết
bao nhiêu đứa con có thiên tư tốt đẹp, đều
bị những kẻ làm cha mẹ không biết dạy dỗ
nuôi thành phường bại hoại, khiến chúng vĩnh
viễn đọa trong A Tỳ địa ngục. Đấy
là một đại bất hạnh cho nước ta. Ông
hăy nên biến ḷng yêu thương thành khéo dạy th́ phước
thọ đều được dài lâu để làm bằng
chứng cho thấy tổ tông và ông đă tích đức.
Một trăm đồng
[ông gởi biếu Quang] sẽ dùng làm tiền pḥng hờ[36]
để giới thiệu hai đứa trẻ nghèo
được nhập học. Nếu chẳng thể [xin
nhập học] miễn phí được [sẽ dùng món tiền
ấy để đóng học phí], tôi sẽ làm công đức
khác, chắc là ông chẳng đến nỗi thất vọng.
Trong thời cuộc lúc này, chớ nên bày tiệc đăi
khách và dùng rượu thịt, hăy nên nghĩ đến nỗi
đói lạnh của những kẻ đói cơm, thiếu
áo, đừng dùng tiền hữu dụng để làm chuyện
tổn phước! Những kẻ si trong thế gian phần
nhiều như thế đó! Mong rằng ông chẳng đến
nỗi như vậy! Thà bị coi như thốt lời bậy
bạ, nhưng chẳng thể không nói. Nếu vẫn thuận
theo thói tục mà làm th́ sai lầm quá rồi!
152. Thư gởi ḥa thượng Quảng
Huệ
(tháng Giêng năm Dân Quốc 29 - 1940)
Bốn năm
năm qua, chưa được gặp gỡ, khôn ngăn
nghĩ nhớ. Mùa Thu năm ngoái, thầy Giám Viện là Pháp
Độ đến núi, cho biết thầy ấy tính qua
Nam Dương, Tân Gia Ba, xin Quang viết một bức thư
cho một hai người quen biết, để người
Nam Dương không sanh nghi ngờ. Sau khi chiến sự nổ
ra vào năm Dân Quốc 26 (1937), Quang trọn chẳng biết
đến t́nh h́nh trên núi, được thầy Pháp Độ
tận mặt tường thuật, khôn ngăn hoan hỷ.
Nhân đó, giao cho thầy Pháp Độ ba trăm đồng,
nhờ thầy Pháp Độ bẩm lại với tọa
hạ, không biết thầy Pháp Độ đă thưa lại
hay chưa? Ngũ Đài là đạo tràng ứng hóa của
ngài Văn Thù, xưa kia bậc cao nhân ở lại đấy
nhiều khôn kể xiết! Từ cuối đời Thanh
trở đi, quốc gia chẳng rảnh rỗi để
đề xướng, đến nỗi mang tiếng là
đạo tràng mà chỉ c̣n chùa miếu, muốn t́m một
vị Tăng giữ giới thanh tịnh cũng khó t́m
được!
Từ năm Quang Tự
33 (1907), hai vị Hằng Tu và Thừa Tham phát tâm Bồ
Đề, dựng thảo am Quảng Tế ở ngọn
Bắc Đài, Quang nghe tiếng, tâm cực khâm phục, nhưng
chưa thể tận mặt gặp gỡ chuyện tṛ.
Hai vị ấy mất đi, Quả Định Thượng
Nhân[37] kế
tục chí hướng trụ tŕ, từng gặp gỡ bốn
năm lần, nhưng chưa chuyện tṛ cặn kẽ.
Đến năm Dân Quốc 24 (1935), tọa hạ và Hồ
cư sĩ đến Tô Châu thăm viếng, lúc ấy nhằm
đúng khi mưa sa gió táp, mất - c̣n chưa định,
đúng là cứu văn sự mất mát c̣n không xuể, sao có
thể bàn đến chuyện ǵ khác được[38]!
May là đại sĩ Văn Thù gia bị khiến
được trở thành cơ nghiệp vĩnh viễn,
kiên cố, các cư sĩ nghe vậy, đều tính toán
phương châm hoằng pháp cho tương lai. Thầy Pháp
Độ đem chương tŕnh do ông Nhiếp Vân Đài tu
chỉnh, trong ấy có điều khoản gây quỹ chi dụng
cho tăng chúng muôn năm, Quang đọc xong khôn ngăn vui
vẻ, an ủi, bởi muốn chuyển pháp luân phải
nhờ vào thực luân. Nếu không có thực luân, nhờ
vào đâu để tu đạo cho được? V́ thế,
đấy là chuyện cấp bách.
Hiện thời Phật
pháp tại các tỉnh thuộc vùng Giang - Chiết tuy suy, do thiên
tai, nhân họa liên tục giáng xuống, hàng cư sĩ tại
gia đua nhau đề xướng niệm Phật. Tuy
dường như xâm phạm đến tài lợi [nhờ
làm] Phật sự của Tăng chúng, thật ra đấy
là phên giậu cho Phật pháp chẳng nhỏ nhoi đâu! Vào
đầu đời Quang Tự, các báo ở Thượng
Hải hằng ngày đăng tải những chuyện xấu
của Tăng sĩ. Tuy cũng có chuyện là sự thật,
nhưng quá nửa là bịa đặt, dựng chuyện.
Từ thời Dân Quốc đến nay, những tổ chức
tu tŕ của cư sĩ đâu đâu cũng có, các ṭa báo chẳng
dám hằng ngày đăng tải những lời đồn
đại bịa đặt để vu báng, miệt thị
Phật pháp nữa! Phật pháp trong thời gần đây,
luận trên phía cư sĩ th́ tợ hồ hưng thạnh
lớn lao, nh́n về phía Tăng chúng trọn chẳng có
tướng hưng thạnh! V́ sao vậy? Cư sĩ phần
nhiều lấy niệm Phật làm chánh, Tăng chúng th́ những
kẻ phải ứng phó kinh sám hằng ngày chỉ coi chuyện
niệm kinh bái sám cho người ta là chuyện chánh, gác bỏ
chuyện tu tŕ ra ngoài, những vị có chánh niệm th́ quy
về Tông môn. Chuyện tham thiền chẳng phải là chuyện
hành nhân căn cơ nhỏ nhoi có thể làm được!
Dẫu đạt đến địa vị đại
triệt đại ngộ nhưng chưa thể đoạn
hết sạch phiền năo th́ vẫn y như cũ, chẳng
thể thoát khỏi sanh tử!
Đừng nói chi con
người hiện thời, ngay như Ngũ Tổ Giới
đời Tống (Ngũ Tổ là tên chùa, Sư Giới
Thiền Sư trụ tại chùa Ngũ Tổ nên gọi là
Ngũ Tổ Giới), Thảo
Đường Thanh, Chân Như Triết, sở ngộ của
họ tiếng rền cả nước, nhưng Ngũ Tổ
Giới thân sau thành Tô Đông Pha. Tô Đông Pha thông minh tuyệt
đỉnh trong cơi đời, chẳng câu nệ tiểu
tiết, vẫn thường ra vào chốn ăn chơi, nhà
thổ. Đủ biết sở ngộ của Ngũ Tổ
Giới tuy cao, nhưng vẫn chưa chứng được
đạo Sơ Quả, bởi Sơ Quả đă đắc
giới tương ứng với đạo, tùy ư chẳng
phạm giới (“tùy ư” là tự nhiên) [nghĩa là] kẻ
chưa chứng Sơ Quả thường phải giác chiếu
mới có thể chẳng phạm, c̣n Sơ Quả th́ tự
nhiên chẳng đến nỗi phạm giới, như khi
họ cày ruộng, hễ họ cày chỗ nào, trùng bọ rời
khỏi [chỗ đó] bốn tấc, đạo lực khiến
cho tự nhiên [được như vậy]. Nếu không
xuất gia, họ cũng cưới vợ, nhưng dù có dùng
oai lực đe dọa tánh mạng để uy hiếp họ,
buộc họ làm chuyện tà dâm, họ thà mất mạng chứ
trọn chẳng thuận theo! Đông Pha đă từng ra
vào nhà thổ, cho thấy Ngũ Tổ Giới c̣n chưa
đắc đạo lực của bậc Sơ Quả,
nói ǵ đến chuyện liễu sanh tử nữa ư!
Hậu thân của Chân
Như Triết sanh vào chỗ đại phú quư, một
đời chịu nhiều ưu khổ, đă biết ông
ta sanh vào nhà phú quư, lại chẳng chỉ rơ ông ta là ai, há chẳng
phải là Tống Khâm Tông[39]
ư? Bị quân Kim lấn hiếp, Huy Tông “thiện vị”
(truyền ngôi - chữ Thiền 禪 đọc như chữ Thiện
繕, có nghĩa là truyền) cho Thái Tử (tức Khâm Tông), từ
đầu đến cuối [chỉ được] hai
năm, cả hai vua Huy Tông và Khâm Tông bị quân Kim bắt
đi, đều phải hướng về [triều
đ́nh nhà] Kim xưng thần (bầy tôi), chết tại
thành Ngũ Quốc. Do chỗ sở ngộ, Chân Như Triết
sanh vào nơi đại phú quư là hoàng cung, nhưng sự phú
quư ấy cũng chỉ là hư danh, cả đời chịu
nhiều ưu khổ vẫn là sự thật! Là hoàng đế
một nước lớn, bị người Kim bắt làm
bầy tôi nhà Kim, đáng thương muôn phần!
Hậu thân của Thảo
Đường Thanh là Tăng Lượng, năm
mươi tuổi làm Tể Tướng, được
phong là Lỗ Quốc Công, nhưng đối với Phật
pháp hết sức lợt lạt, chưa được
thông suốt như Đông Pha. Hải Ấn Tín[40]
cũng là một vị đại lăo trong Tông môn đời
Tống, thường được gia đ́nh Châu Pḥng Ngự
cúng dường (Pḥng Ngự là tên một chức quan
vơ). Một ngày nọ, nhà họ Châu
thấy Tín lăo nhân vào nhà, liền sanh được một
gái, sai người sang chùa Hải Ấn hỏi thăm th́
Sư viên tịch đúng vào lúc đứa con gái được
sanh ra. Chuyện này cả thành Hàng Châu đều biết.
Đến ngày đầy tháng, thiền sư Viên Chiếu
Bổn[41] đến nhà Châu
Pḥng Ngự, bảo ẵm đứa bé gái ra. Đứa bé
gái vừa thấy Viên Chiếu liền cười, Viên Chiếu
gọi: “Tín trưởng lăo! Lầm mất rồi!” Đứa
bé gái liền khóc thét lên rồi chết. Tuy là đă chết,
vẫn phải thọ sanh, nhưng chẳng biết lại
sanh về nơi đâu.
Tần Cối[42]
đời trước là một vị Tăng ở núi Nhạn
Đăng, do sự tu tŕ đời trước trở thành Tể
Tướng triều Tống, bị người Kim hối
lộ, mọi chuyện đều mưu tính cho quân Kim, giết
Nhạc Phi là người đă khiến cho quân Kim sợ
hăi. Phàm những ai không đồng mưu với gă th́ hoặc
là biếm trích (giáng chức đày đi xa), hoặc là tru lục.
Rốt cuộc chết đi vĩnh viễn đọa
trong địa ngục, nhưng mối hận của
trăm họ không cách nào tiêu được; v́ thế, người
ta dùng bột ḿ làm thành hai miếng (tượng
trưng cho Tần Cối và vợ)
cùng chiên lên ăn, đặt tên là “du tạc cối”[43] (Tần Cối
chiên dầu). Lại đúc tượng sắt quỳ
trước mộ Nhạc Phi, phàm những ai đến lễ
Nhạc Phi đều cầm thước gỗ đập
[tượng vợ chồng Tần Cối] tơi tả,
lại đái lên đầu, lên thân tượng cho vơi hận.
Sau này có kẻ mang họ Tần làm Tuần Phủ tỉnh
Chiết Giang, nói tượng người sắt ở
trước mộ Nhạc Phi bị người ta đái
vào khiến mộ Nhạc Phi bị ô uế, sai quăng xuống
Tây Hồ để mộ Nhạc Phi thường
được thanh tịnh. Từ đó, nước Tây Hồ
hôi thối, chẳng thể dùng để nấu ăn hay
uống được, thường thấy trong hồ lềnh
bềnh mấy xác chết, đến khi toan vớt lại
ch́m xuống. Do đấy, quan bèn ra cáo thị, sai dùng nhiều
thuyền bè vây quanh để vớt, th́ ra đó là tượng
Tần Cối, vợ hắn và tướng Ngột Truật[44]
nhà Kim đúc bằng sắt. Biết tội chướng của
chúng sâu nặng, bèn ra lệnh đem đặt trước
mộ để bị người ta đánh, đái. Năm
Dân Quốc thứ mười (1921), Quang đến viếng
mộ Nhạc Phi, [tượng của bọn Tần Cối]
vẫn bị đái y như cũ, hôi thối không sao chịu
đựng được nổi!
Ôi! Đạo đức
như Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh,
Chân Như Triết mà c̣n chẳng thể liễu sanh thoát tử,
nhưng làm bậc văn học lỗi lạc, làm Tể
Tướng đă kém xa đời trước. Đến
như cụ Triết làm hoàng đế, phải xưng thần
với triều đ́nh giặc, đáng thương đến
cùng cực! Kết quả của Tần Cối khiến cho
tâm can người khác phải nguội lạnh, đau
đớn. Do công phu Thiền Định nhiều năm,
đời sau làm Tể Tướng, vừa bị người
Kim hối lộ liền mê hoặc, trở thành gă si ngốc
chẳng biết thơm - thối, tốt - xấu, trung - gian,
đến nỗi tượng hắn bị đánh đập,
đái lên, thân bị chiên lên ăn, một ngàn trăm
năm qua vẫn chẳng thay đổi! Người tham
Thiền dùng Tông để tự hùng, chẳng chịu cậy
vào Phật lực để liễu sanh tử, nếu vừa
nghĩ đến kết quả này, há chẳng nói ngược
lại: “Cậy vào tự lực và cậy vào Phật lực
sai khác quá xa, sao bằng chuyên tu Tịnh nghiệp để
mong được liễu thoát ngay trong đời này há chẳng
tốt hơn ư?” Bậc tông tượng đại danh
ṿi vọi đời Tống thân sau c̣n phải kém hơn
đời trước, chẳng biết thân đời sau
nữa hành trạng sẽ lại ra sao?
Quang túc nghiệp sâu nặng,
sanh ra mới sáu tháng liền bị bệnh mắt, suốt
một trăm tám mươi ngày chưa hề mở mắt
được. Ngoại trừ lúc ăn, ngủ, cứ khóc
suốt đêm ngày, người già cho rằng chẳng thể
thấy mặt trời được, nhưng nhờ thiện
căn đời trước, may c̣n thấy được
ánh mặt trời, thật may mắn muôn phần! Đến
tuổi đi học, lại trúng phải chất độc
báng Phật của Châu - Tŕnh, may là chẳng có học vấn
như Châu - Tŕnh. Nếu không, đă sớm đọa vào
trong địa ngục A Tỳ ngay trong khi c̣n sống rồi!
Do vậy, bệnh tật triền miên, sống uổng mấy
năm. Do nghĩ đến Phật pháp truyền sang
phương Đông đă được bao nhiêu vua thánh tôi
hiền hộ tŕ, lưu thông; lời lẽ của Châu - Tŕnh
chẳng đáng làm căn cứ. Do vậy, bèn xuất gia
làm Tăng chuyên tu Tịnh nghiệp. Tiên sư dạy tham cứu,
liền thưa: “Đệ tử không có được thiện
căn ấy, nguyện chuyên niệm Phật để mong
đới nghiệp văng sanh”. Sáu mươi năm qua, sống
ơ hờ phí uổng, nay đă tám mươi, tâm c̣n
chưa tương ứng với Phật. Nếu chuyên cậy
vào tự lực th́ sự tự lầm ấy chẳng thể
tưởng tượng được đâu! Nhưng do
sáu mươi năm trải đời, lại xét kỹ
thiện căn của ḿnh lẫn người, kẻ cậy
vào Phật lực c̣n chẳng dễ ǵ chứng ngay được
tam-muội; người cậy vào tự lực ai cao siêu
hơn được Ngũ Tổ Giới, Thảo
Đường Thanh, Chân Như Triết?
Từ thời Dân Quốc
đến nay, đường lối cũ bị thay
đổi rất lớn: Phế bỏ kinh điển, gạt
bỏ luân thường, bỏ ḷng hiếu cho khỏi hổ
thẹn, thực hành chuyện biến con người thành
loài thú, cả nước như cuồng, tàn sát lẫn
nhau, hằng ngày theo đuổi chiến tranh. Kẻ có tri
thức sợ nhân đạo gần như dứt mất,
cho nên ai nấy lập phương cách cứu văn, nêu tỏ
nhân quả ba đời, xiển dương luân hồi lục
đạo, làm cho khắp già trẻ nam nữ đều cùng
niệm vạn đức hồng danh. Trong số ấy,
tuy không thiếu kẻ hùa theo sự náo nhiệt, nhưng quả
thật có những ngu phu ngu phụ đạt được
đại cảm ứng. Nay nêu lên hai [trường hợp]
để tỏ rơ dấu tích chẳng thể nghĩ bàn vậy.
Một là ông Trịnh
Huệ Hồng (đây chính là pháp danh quy y, tục danh
không nhớ) ở thành Bảo
Sơn tỉnh Vân
Như vị thiện
tri thức lâm chung, ngồi kết già, chắp tay niệm
Phật đă là chẳng tầm thường, huống chi
một bà lăo không có học vấn ǵ, uống thuốc độc
lại được như thế, nếu chẳng phải
là Phật lực gia bị, há được như thế
ư? Do vậy, biết Phật lực chẳng thể
nghĩ bàn, Pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, chúng sanh
tâm lực chẳng thể nghĩ bàn! Chúng sanh tuy sẵn có
tâm lực chẳng thể nghĩ bàn, nhưng chẳng được
Phật lực, pháp lực gia tŕ, vẫn chẳng thể
thọ dụng được! Do được Phật lực,
pháp lực gia tŕ khiến cho tâm lực của chúng sanh hoàn
toàn hiển hiện. V́ thế, chất độc chẳng
đầu độc được, hiện tướng
lạ lùng, đặc biệt, nhằm hướng dẫn
cả một vùng. Với tư cách ngu phụ, bà ta c̣n có thể
hiện được tướng lạ lùng, đặc
biệt như thế th́ vị tỳ-kheo tu mi trượng
phu đường đường cũng sẽ có thể
tự phấn chấn, quyết chí dốc sức tu tập.
Trường hợp thứ
hai là Lục Tử Khanh (pháp danh là Đức Siêu) ở Quật Cảng, Như Cao, tỉnh
Giang Tô, là một nông phu chỉ hơi thông chữ nghĩa,
vợ chồng con cái đều quy y. Con gái ông ta xuất
gia, nhưng vẫn ở nhà. Con ông ta xuất gia, chưa
được bao lâu đă chết. Quần áo xuất gia,
phí tổn thọ giới và tiền tống táng đều
do ông ta lo liệu. Ông ta tính bán sạch hết điền sản
để làm công đức ḥng khỏi phải bận tâm.
Ruộng đă bán rồi, anh ông ta biết, liền bắt
chuộc lại. Người anh thấy em không con trai bèn
cho con trai ḿnh làm người thừa kế, mưu tính đoạt
gia sản với khí thế thật dữ dội. Bất
đắc dĩ, ông ta phải t́m trưởng làng thưa
tŕnh chuyện ấy. Ruộng đă bán đi với giá quá
hời, trưởng làng không chịu cho chuộc lại.
Người ấy tiến thoái lưỡng nan, ra khỏi
nhà trưởng làng bèn nhảy xuống sông tự tử.
Xác ông ta đứng thẳng trong nước, ngoảnh mặt
về Tây chắp tay. Người nhà biết tin, ra vớt
xác về. Nhân đấy, gởi thư cho Đương
Gia chùa Linh Nham, xin lập một bài vị trong Niệm Phật
Đường, nên mới biết chuyện ấy. Đấy
là chuyện xảy ra vào mồng Tám tháng Chạp năm
ngoái. Trong đời, người đứng mất
cũng không nhiều, Đức Siêu gieo ḿnh xuống sông lại
đứng thẳng trong sông, so với người đứng
thẳng trên đất bằng thật là lạ lùng, đặc
biệt! Nếu không phải là toàn thân đă buông xuống hết,
quyết mong văng sanh, há có thể làm được như vậy
ư?
Ôi! Sở
ngộ của Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường
Thanh, Chân Như Triết tiếng tăm chấn động
cả nước, chết đi làm Tể Tướng, làm
hoàng đế, đạo lực đă thụt lùi, huống
chi là liễu sanh tử ư? Hai người trên đây dùng
tư cách ngu phu ngu phụ, lâm chung chết ngang, so với vị
thiện tri thức đắc đạo chẳng thua kém
tí nào! Đủ biết tự lực chẳng đủ
để trông cậy, Phật lực khó thể nghĩ
bàn! Những người làm Tăng trong cơi đời gần
đây, đều coi tham thiền là vô thượng thừa,
niệm Phật là cách tu tŕ của bọn ngu phu ngu phụ.
Nay nói: Thuở xưa, bậc tham thiền đại ngộ
đă chứng th́ thần thông đạo lực của các
ngài, cố nhiên phàm t́nh chẳng thể suy lường
được! Những vị đại ngộ nhưng
chưa chứng như Ngũ Tổ Giới v.v… có đạt
được cảnh tượng như hai người ấy
(tức mẹ ông Trịnh Huệ Hồng và Lục Tử
Khanh) hay không? Một đằng chuyên cậy vào tự lực,
một đằng kiêm nhờ Phật lực. Do vậy, bậc
thượng trí chẳng bằng được kẻ hạ
ngu, khéo quá hóa vụng! V́ thế, kinh Đại Tập dạy:
“Mạt Pháp ức ức nhân tu
hành, hăn nhất đắc đạo. Duy y niệm Phật,
đắc độ sanh tử” (Đời Mạt Pháp ức
ức người tu hành, hiếm một ai đắc
đạo. Chỉ có nương vào niệm Phật để
vượt thoát sanh tử). Bởi đó, từ thời
Nguyên - Minh trở đi, phàm là bậc tri thức nhà Thiền,
phần nhiều đều đề xướng niệm
Phật, như Trung Phong Bổn, Sở Thạch Kỳ v.v…
Ngài Liên Tŕ sau khi ngộ đạo bèn chủ trương Tịnh
Độ, ngài Triệt Ngộ ngộ đạo rồi
bèn bỏ tham cứu, chuyên niệm Phật. Do xét đến
căn cơ đương thời, không thể nào làm khác
được! Như mùa Hạ mặc áo mỏng, mùa
Đông mặc áo cừu, khát uống, đói ăn, chẳng
thể chấp chết cứng một pháp! Hành theo pháp thích
đáng sẽ được lợi lớn, không chút điều
tệ nhỏ!
Hơn nữa, pháp Tịnh
Độ lợi khắp mọi căn cơ, quả thật
là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp suốt một
đời đức Như Lai, lợi ích vượt trỗi
những giáo lư thông thường trong cả một đời
[giáo hóa của đức Phật]. Câu nói của cổ
đức: “Dĩ Quả Địa
Giác vi Nhân Địa Tâm, cố đắc nhân cai quả hải,
quả triệt nhân nguyên” (do dùng sự giác ngộ
nơi quả vị để làm cái tâm trong khi tu nhân nên
nhân bao trùm biển quả, quả thấu tột nguồn nhân),
có thể nói là khéo h́nh dung nhất, không c̣n ǵ hay tuyệt
hơn được nữa! Huống chi Liên Tông Tứ Tổ
là đại sư Pháp Chiếu đích thân gặp đức
Văn Thù dạy niệm Phật. Há có nên chẳng ngửa
tuân theo thánh ư chuyên chú niệm Phật, vẫn cứ muốn
cậy vào tự lực, vứt bỏ Phật lực, chỉ
mong chống đỡ môn đ́nh cho lớn lao, chẳng
tính đến chuyện có được lợi ích hay
không? Hâm mộ hư danh, khinh rẻ lợi ích thật sự,
sao lại mất trí điên cuồng quá mức như thế
vậy?
Theo tập ba của
Cao Tăng Truyện, trong truyện của Pháp Chiếu
đại sư có nói: Vào năm Đại Lịch thứ
hai (767), Sư trụ tại chùa Vân Phong ở Hành Châu, nhiều
lần thấy thánh cảnh hiện trong bát cháo, chẳng biết
là danh sơn nào. Có vị Tăng đă từng đến
Ngũ Đài, bảo đấy ắt phải là Ngũ
Đài. Về sau, Sư bèn đi triều bái. Năm Đại
Lịch thứ năm (770), Sư đến huyện
Ngũ Đài, nh́n thấy phía xa có ánh sáng trắng, lần
theo ánh sáng đi t́m, đến Đại Thánh Trúc Lâm Tự.
Sư vào chùa, đến giảng đường, thấy đức
Văn Thù ở phía Tây, đức Phổ Hiền ở phía
Đông, ngồi trên ṭa sư tử, thuyết pháp thâm diệu.
Sư lễ hai vị thánh, thưa hỏi: “Phàm phu đời
Mạt, thời gian cách thánh đă xa, tri thức ngày càng kém
cỏi, cấu chướng thật sâu, Phật tánh không do
đâu hiển hiện được! Phật pháp mênh mông,
chưa rơ tu hành pháp môn nào là thiết yếu nhất? Kính
mong Đại Thánh đoạn trừ lưới nghi cho
con”. Đức Văn Thù bảo: “Nay ông niệm Phật là hợp thời nhất. Các
môn tu hành không ǵ hơn được niệm Phật, cúng
dường Tam Bảo, phước huệ song tu. Hai môn này
nhanh chóng, quan trọng nhất. V́ sao vậy? Trong đời
quá khứ, ta do quán Phật, do niệm Phật, do cúng dường,
nên nay đắc Nhất Thiết Chủng Trí. Do vậy biết
Niệm Phật là vua trong các pháp. Ông hăy nên thường niệm
Vô Thượng Pháp Vương chớ để dừng
nghỉ”. Sư lại hỏi: “Nên niệm ra sao?” Ngài
Văn Thù nói: “Phía Tây thế giới
này có A Di Đà Phật, đức Phật ấy nguyện
lực chẳng thể nghĩ bàn. Ông hăy nên niệm liên tục
đừng để gián đoạn, sau khi mạng chung chắc
chắn văng sanh, vĩnh viễn không thoái chuyển”. Nói lời
ấy xong, khi đó hai vị Đại Thánh đều duỗi
cánh tay sắc vàng xoa đầu Sư thọ kư: “Do ông niệm Phật chẳng
bao lâu sau sẽ chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề. Nếu hàng thiện nam, thiện nữ nguyện
mau chóng thành Phật th́ không ǵ hơn niệm Phật, sẽ
mau chóng chứng Vô Thượng Bồ Đề”. Nói
xong, khi ấy hai vị Đại Thánh cùng nhau nói già-đà
(kệ). Sư nghe xong, hoan hỷ hớn hở, lưới
nghi đều trừ. Đây là đại sư Pháp Chiếu
đích thân đến Trúc Lâm Thánh Tự được hai
vị Đại Thánh khai thị.
Trong Thanh Lương
Chí bản cũ, [chuyện này] bị một Thiền
tăng vô tri sửa đổi lời khai thị, biến
thành thiền ngữ, thật đáng thống hận! Bộ
Sơn Chí được tu chỉnh gần đây đă sao
chép theo đúng truyện Pháp Chiếu Đại Sư trong
tập ba của bộ Cao Tăng Truyện. Tôi chẳng dẫn
Thanh Lương Chí v́ sợ người ta không biết, cứ
đọc theo bộ Sơn Chí cũ, sẽ đâm ra nghi
báng. Làm mù con mắt chánh pháp, đoạn thiện căn của
người khác, tội chẳng ǵ lớn hơn được!
Phần trước và phần sau đoạn trích dẫn
này đều lược đi, [sao lục] chỗ khai thị
chẳng sót một chữ nào, chỉ có với chữ “Chiếu”
là v́ thuận theo cách nói bèn viết là chữ Sư cho rơ. Ngũ
Đài chính là đạo tràng ứng hóa của ngài Văn
Thù. Văn Thù chính là thầy của bảy đức Phật,
tự nói: “Ta trong quá khứ do quán Phật, do niệm
Phật nên nay đắc Nhất Thiết Chủng Trí”.
Do vậy, hết thảy các pháp, Bát Nhă Ba La Mật, thiền
định rất sâu, thậm chí chư Phật đều
sanh từ niệm Phật. Quá khứ chư Phật c̣n sanh
từ niệm Phật, huống chi chúng sanh đời Mạt
Pháp nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu,
huệ cạn, miệt thị niệm Phật chẳng chịu
tu hành, ư muốn siêu thoát, vào thẳng địa vị
Như Lai, chẳng biết rằng [dù có muốn] nối
gót hít bụi của Ngũ Tổ Giới, Thảo
Đường Thanh vẫn c̣n chưa được nữa
ư?
Thiền Tông bắt nguồn
từ đời Lương, pháp ngữ nhằm dạy
người đích thân thấy tự tánh của họ tuy
cao siêu huyền diệu, nhưng mỗi câu c̣n ư nghĩa. Sau
thời Lục Tổ, hai vị tổ Nam Nhạc, Thanh
Nguyên liền dùng cơ phong chuyển ngữ, chỉ sợ
người ta tưởng hiểu nghĩa là ngộ, chẳng
thể thật chứng, nên dùng pháp này ḥng dứt bặt cái
tệ tưởng lầm là đă ngộ đạo. Nhưng
công phu tham cứu ấy chẳng dễ ǵ đạt
được, có nhiều kẻ mấy chục năm vẫn
chưa thể nào thấu hiểu triệt để
được! Ngài Triệu Châu tám mươi tuổi c̣n
tham khấu[45] khắp Bắc - Nam,
nên có câu nói: “Triệu Châu bát thập
do hành cước, chỉ vị tâm đầu vị tiêu
nhiên” (Triệu Châu tám chục c̣n hành cước, chỉ
bởi trong ḷng chửa rỗng rang). Đủ biết là bậc
hành nhân đại căn c̣n phải siêng nhọc như thế,
huống ǵ kẻ căn tánh hèn kém ư?
Đến đời
Tống, đạo Thiền vẫn hưng thịnh lớn
lao, kẻ thật chứng đă ít ỏi hẳn đi.
Ngay như Ngũ Tổ Giới vẫn chẳng phải là
kẻ tầm thường, Sư thuộc pháp hệ của
ngài Vân Môn Yển[46],
là pháp tổ của quốc sư Đại Giác Liên đời
Tống, môn đ́nh cao ngất như long môn[47],
kẻ học thường dơi nh́n vách đá [chót vót] mà chùn
bước, thuở đương thời danh vọng hiển
hách chi bằng! Nhưng một thứ Kiến Hoặc c̣n
chưa đoạn được, nói ǵ đến liễu
sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh nữa ư? Thân sau của
Giới công là Tô Đông Pha, Tăng - tục đều biết.
Lúc [họ Tô] giữ đất Hàng, vẫn chẳng cự
tuyệt kỹ nữ lui tới; đủ biết vẫn
là phàm phu đầy dẫy triền phược, ngay cả
Sơ Quả Tu Đà Hoàn vẫn chưa hề chứng
được. Người bây giờ ai có được
đạo lực như Ngũ Tổ Giới mà vẫn muốn
cậy vào tự lực để liễu sanh tử, lại
c̣n đề cao Thiền Tông, miệt thị Tịnh Độ,
là do cớ ǵ vậy?
Một là do ít đọc
kinh điển và kinh Hoa Nghiêm, hoặc từng đọc
qua nhưng hoàn toàn chẳng chú ư. Hai là do chẳng biết
tông chỉ của Thiền Tông, bất luận hỏi
đến Phật, hỏi đến pháp, dù hỏi đến
tất cả những thứ ǵ trong thế gian, khi đáp
đều chỉ về bổn phận, chứ tuyệt
đối chẳng luận trên Phật, trên pháp, và trên mặt
sự để đáp. Đó gọi là “hỏi tại nơi đáp, đáp tại nơi hỏi”,
nếu hiểu là nói về mặt sự th́ hoàn toàn hiểu
lầm mất rồi, nhưng người đời nay nghiệp
sâu huệ cạn, thường đem những lời trực
chỉ bổn phận giải nghĩa theo mặt văn tự.
Như ngài Triệu Châu nói: “Lăo
tăng niệm Phật một tiếng, súc miệng ba bữa”
và “một chữ Phật, ta chẳng
thích nghe”, ai nấy đều lầm tưởng là lời
nói thật, bèn coi niệm Phật là không ra ǵ, rồi miệt
thị! Chẳng biết sau câu “một
chữ Phật ta chẳng thích nghe” của ngài Triệu
Châu, có kẻ hỏi: “Ḥa thượng có c̣n v́ người
khác hay không?” Triệu Châu nói: “Phật, Phật” đó ư?
Có kẻ hỏi: “Ḥa Thượng được đại
vương cúng dường như thế (cha con vua
nước Triệu và Yên Vương đều cung kính
cúng dường), báo đáp như thế
nào?” Triệu Châu nói: “Niệm Phật!” đó ư? Lại
có ông Tăng hỏi: “Mười phương chư Phật
c̣n có thầy hay không?” Triệu Châu nói: “Có!” Hỏi: “Thế
nào là thầy của chư Phật?” Triệu Châu nói: “A Di
Đà Phật, A Di Đà Phật!” đó ư? Phàm “niệm Phật một tiếng,
súc miệng ba ngày” và “một
chữ Phật ta chẳng thích nghe” và “dùng Phật Phật để v́ người khác”,
“dùng niệm Phật để báo ân”, “lấy A Di Đà Phật
làm thầy của mười phương chư Phật”
đều là chuyển ngữ chỉ về bổn phận.
Nếu hiểu hai câu
trước là lời thật bèn thật hành theo (tức “niệm Phật một tiếng,
súc miệng ba ngày” và “một
chữ Phật ta chẳng thích nghe” ), ắt sẽ đến
nỗi báng Phật, báng pháp, báng tăng, vĩnh viễn
đọa trong ác đạo! Nếu coi ba câu sau (“dùng Phật Phật để v́
người khác”, “dùng niệm Phật để báo ân”, “lấy
A Di Đà Phật làm thầy của mười
phương chư Phật”) là lời thật rồi thật
hành, ắt sẽ được nghiệp tận t́nh không,
đời này chứng thánh, văng sanh Thượng Phẩm, dần
dần đạt đến thành Phật. Hai cách nói này các
sách Thiền đều cùng sao lục. Hai câu nói trước
ấy, hết thảy mọi người đều thường
đề xướng, ba câu nói sau, mấy chục năm
qua, tôi chưa hề thấy có một ai nhắc đến
một câu nào! Những câu nói trước và sau đều
quy về bổn phận. Đối với ba câu sau, dẫu
chẳng hiểu ư của ngài Triệu Châu, đem so với
chuyện hiểu được ư ngài Triệu Châu, lợi
ích vẫn lớn hơn! Bởi lẽ, không hiểu
được ư của tổ Triệu Châu, nhưng vẫn
là tuân theo lời Phật dạy chân thật phát xuất từ
kim khẩu của đức Như Lai. Đối với
hai câu trước, dẫu có hiểu ư của ngài Triệu
Châu cũng chẳng qua là khai ngộ mà thôi, c̣n cách liễu sanh
thoát tử xa lắm! Cớ sao đối với lời
nói của cùng một người, nếu không hiểu, coi
[hai câu trước] là lời đúng thật th́ họa hại
khôn lường, nhưng ai nấy đều đề
xướng; c̣n [ba câu sau] nếu không hiểu, coi là lời
nói đúng thật lại lợi ích vô cùng, nhưng cả cơi
đời chẳng ai thèm nghe?
Ấy là v́ thuở ban
đầu chưa hề gặp được thiện
tri thức thật sự, do bản thân chẳng ra sức nghiên
cứu, vừa nghe lời bài bác tưởng như hy hữu,
lạ lùng, trong tâm bèn vui sướng, thường xuyên
đề xướng. Chẳng biết đấy là lời
nói thẳng chóng nhằm dạy người khác đích thân
thấy được bản lai của cổ nhân, cứ
hiểu thành lời báng pháp dè bỉu, chê bỏ niệm Phật.
Trong đời Mạt, loại người như vậy
nhiều lắm! Trừ kẻ biết tự lượng,
có hàm dưỡng, quyết chẳng chịu coi cách suy
lường mặt chữ là tham cứu pháp Thiền th́ chẳng
mắc phải bệnh ấy. Nếu không, ắt sẽ là
kẻ tưởng “ngộ” (誤: hiểu lầm) là “ngộ”
(悟: ngộ
đạo), vẫn cứ noi theo lề lối ấy mà tu
hành, chẳng nghĩ đến sửa đổi chi cả!
Huống chi cư
sĩ các nơi, tâm hộ tŕ [chùa] Quảng Tế hết sức
sôi nổi. Nếu vẫn dùng cái danh Tham Thiền để
tự đề cao th́ c̣n được, chứ nếu do
cậy vào tự lực mà chẳng thể được
đại lợi ích th́ làm sao báo đáp nhiệt tâm của
các cư sĩ đây? Lại làm sao có thể thúc đẩy
mạnh mẽ đạo niệm của các cư sĩ
đây? Quang thẹn ḿnh hủ bại, không có tài đức,
nhưng do [kinh nghiệm] xuất gia từng trải sáu chục
năm, vốn chẳng dám đối trước hết
thảy mọi người mà nói, nhưng v́ Quả Định
Thượng Nhân và Ḥa Thượng đều để mắt
xanh đoái tưởng, lại thêm v́ tuổi đă tám
mươi, sống buổi sáng chẳng đảm bảo
được buổi tối, nếu chẳng đem
điều Quang hiểu biết dâng lên thường trụ
chùa Bích Sơn th́ thật chịu lỗi đến cùng cực.
Pháp môn Niệm Phật
chính là chỗ quy túc của các tông Luật, Giáo, Thiền, Mật,
là đường tắt thành Phật của trời,
người, thánh, phàm. Hết thảy các pháp môn không pháp nào
chẳng lưu xuất từ pháp giới này, hết thảy
các pháp môn không pháp nào chẳng trở về pháp này. Kẻ
tri kiến nhỏ nhoi cho [Niệm Phật] là pháp môn của
ngu phu, ngu phụ; nào biết trong hội Hoa Nghiêm, Thiện
Tài sau khi [chứng được] Thập Tín Hậu Tâm, vâng
lời ngài Văn Thù dạy, đi tham học với khắp
các thiện tri thức, hễ nghe dạy liền chứng.
Cuối cùng, đến chỗ Phổ Hiền Bồ Tát,
được Ngài gia bị, khai thị, sở chứng
ngang với Phổ Hiền và chư Phật. Đức Phổ
Hiền bèn v́ Thiện Tài xưng tán công đức thù thắng,
mầu nhiệm của Như Lai, dạy Thiện Tài phát
mười đại nguyện vương, dùng công đức
này hồi hướng văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới để mong viên măn Phật Quả, và khuyến
tấn trọn hết các Bồ Tát trong Hoa Tạng thế
giới hải nhất trí tiến hành cầu sanh Tây
Phương. Hoa Tạng hải chúng không một ai là phàm
phu, Nhị Thừa hay Quyền Vị Bồ Tát chưa phá
vô minh; [vị nào chứng ngộ] thấp nhất đă là
bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo. Vị ấy đă có thể
hiện thân làm Phật trong thế giới không có Phật, và
tùy theo mỗi loài hiện đủ mọi thân để
độ thoát chúng sanh. Sau đó, từ Nhị Trụ cho
đến Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, mỗi
địa vị càng thù thắng hơn. Các vị Bồ
Tát ấy đều dùng mười đại nguyện
vương cầu sanh Tây Phương, những kẻ kia
(tức kẻ phỉ báng Niệm Phật) là hạng
người nào mà dám chống đối các Ngài ấy?
Do vậy, biết pháp
môn Niệm Phật quả thật là pháp môn tổng tŕ
để mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh, thành thủy, thành chung. V́ thế, [pháp
này] được chín giới hướng về, mười
phương cùng khen ngợi, ngàn kinh cùng xiển
dương, muôn luận đều tuyên nói. Do pháp này dùng Quả
Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, nên liền được
“nhân trùm biển quả, quả
tột nguồn nhân”. Cúi xin Ḥa Thượng thương
xót ḷng ngu thành của Quang, quán sát thời cơ, bỏ tham
thiền để niệm Phật, tuân theo thánh huấn của
các vị Văn Thù, Phổ Hiền, noi theo dấu thơm của
các vị Triệt Ngộ, Liên Tŕ, ngơ hầu người theo
học đều được lợi ích liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này, khiến những vị
[cư sĩ] hộ pháp đều được dự
vào hội thượng thiện nhân ở Liên Tŕ, bi tâm của
tam thế chư Phật được xoa dịu lớn
lao nơi cơi Tịch Quang, chư tổ của năm tông
đều mỉm cười rạng rỡ nơi Chân Tế.
Ngũ Đài ṿi vọi, đă có bậc hoằng
dương đạo thành thủy thành chung, Phật tử
đông đảo sẽ đều tu đạo “tâm làm, tâm là”. Chẳng biết
Ḥa Thượng có chịu rủ ḷng nghe theo hay không? Nếu
nói: “Ai có chí nấy, sao lại cưỡng bức, ông giữ
pháp của ông, tôi hành đạo của tôi”, Quang cũng chỉ
tự thẹn cuồng vọng, chẳng dám khinh nhờn nữa!
Mong hăy đem thư này trả về Linh Nham để
đốt trước tượng Văn Thù Bồ Tát
trong đại điện ḥng tỏ lộ tấm ḷng khăng
khăng ngu thành của Quang đối với Ngũ Đài
mà thôi!
153. Thư gởi cư sĩ Hồ Tử
Hốt
(năm Dân Quốc 29 - 1940)
Từ
khi gặp gỡ đến nay, trước sau đă bảy
năm, thế giới tang thương, khôn ngăn cảm
thán! Thư của các hạ, mùa Thu năm ngoái do thầy
Pháp Độ đến núi, mới được chiêm
ngưỡng, do những năm trước thầy Pháp
Độ đến đất Hỗ (Thượng Hải)
liền đi ngay. Mùa Thu năm ngoái thầy Pháp Độ
đến đây, hỏi thăm các hạ và thường
trụ Bích Sơn, may là không mắc tai nạn lớn lao,
khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Quang nghĩ đạo
tràng Bích Sơn sẽ khôi phục được quang cảnh
cũ, pháp môn tu hành nên tùy thời nghi, đă đại
lược tỏ ư của Quang với thầy Pháp Độ.
Lại bỏ ra ba trăm đồng để làm khoản
chi tiêu trước. Tiếp đó, nghĩ Quang là loại
Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, dù
nói có ai chịu nghe theo, bèn thôi, không bàn đến nữa!
Nửa sau tháng Chạp,
pháp sư Đức Sâm gởi thư về hỏi: “Sao vẫn
chưa dâng thư lên ḥa thượng Quảng Huệ?” Quang
bảo: “V́ phận hèn, lời nhẹ, ắt khó được
nghe theo, v́ thế không bàn đến nữa!” Thầy Đức
Sâm bảo: “Chúng ta làm việc chỉ mong trọn hết
ḷng thành của chính ḿnh, cớ sao lại sợ người
khác chẳng thấy nghe, để rồi rốt cuộc
đạo tràng của đức Văn Thù không được
một phen nghị luận như thế này ư?” Do vậy,
tôi bèn quên ḿnh hèn kém, thô lậu, miễn cưỡng viết
hơn mười trang, tŕnh bày đại lược chuyện
“áo mỏng, áo cừu, ăn uống cần phải thích
nghi, sự tu tŕ thời Mạt Pháp cũng phải giống
như vậy”. Vẫn mong các hạ thương cho ḷng ngu
thành của Quang, ở trước mặt Ḥa Thượng
nhiều cách khen ngợi, nói vun vào, may ra chẳng đến
nỗi Quang bị sa chân chuốc nhục, hoàn toàn chẳng
có ích ǵ!
154. Thư trả lời cư sĩ
Dương Vĩ Chương
Hôm nay
đặt pháp danh, dùng Một Lá Thư Gởi Khắp
để khai thị. Gởi thư xong, đọc lại
thư ông, biết ông chưa biết tông chỉ Tịnh
Độ. Hăy nên y theo những ǵ đă nói trong Một Lá
Thư Gởi Khắp mà sanh ḷng tin thật sự, phát nguyện
thiết tha, chí thành khẩn thiết, niệm danh hiệu
Phật. Đừng dùng cách niệm quán tâm, hăy nên dùng cách niệm
nhiếp tâm. Trong kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ
Tát nói “nhiếp trọn sáu
căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma
Địa, ấy là bậc nhất”. Khi niệm Phật
trong tâm (ư căn) phải niệm
cho rơ ràng, rành rẽ, nơi miệng (thiệt căn) phải niệm cho rơ ràng, rành rẽ,
nơi tai (nhĩ căn) phải
nghe cho rơ ràng, rành rẽ. Ư, thiệt, nhĩ ba căn mỗi
mỗi đều nhiếp thủ Phật hiệu th́ mắt
cũng chẳng ngó Đông, ḍm Tây, mũi cũng chẳng ngửi
những thứ khí vị khác, thân cũng chẳng lười
trễ, biếng nhác, đó gọi là “nhiếp trọn sáu
căn”. Nhiếp trọn sáu căn để niệm tuy chẳng
thể hoàn toàn không có vọng niệm, nhưng so với kẻ
chẳng nhiếp [sáu căn để niệm] th́ trong tâm
thanh tịnh hơn nhiều lắm, v́ thế gọi là “tịnh
niệm”.
Nếu thường giữ
được tịnh niệm cho liên tục chẳng bị
gián đoạn, tâm sẽ tự được quy về một
chỗ. Ở mức cạn là đắc nhất tâm, mức
sâu là đắc tam-muội. Tam Ma Địa cũng là tên gọi
khác của Tam Muội, ở đây (Trung Hoa) dịch là Chánh
Định, hay c̣n dịch là Chánh Thọ. Chánh Định
nghĩa là tâm an trụ nơi Phật hiệu, chẳng c̣n
rong ruổi theo bên ngoài nữa. Chánh Thọ ngụ ư những
ǵ được nạp thọ (thâu nhận) trong tâm chỉ
là cảnh duyên công đức của Phật hiệu, hết
thảy cảnh duyên đều chẳng thể được!
Có thể thật sự nhiếp cả sáu căn để
niệm, chắc chắn nghiệp chướng tiêu trừ,
thiện căn tăng trưởng. Chẳng cần phải
quán tâm mà tâm tự thanh tịnh, sáng tỏ, sao lại đến
nỗi mắc bệnh tâm hỏa bốc lên nữa ư? Do
ông là phàm phu nghiệp lực cực nặng, lầm lạc
dùng pháp quán tâm nên mới đến nỗi như thế. Pháp
quán tâm chính là pháp tu Quán bên Giáo, chẳng thích hợp lắm
với người niệm Phật! Nhiếp trọn sáu
căn, tịnh niệm tiếp nối mới là vô thượng
diệu pháp thích hợp khắp hết thảy căn
cơ thượng, trung, hạ, cả phàm lẫn thánh.
Nên biết “nhiếp trọn” chú trọng
tại Nghe. Dẫu niệm thầm trong tâm cũng vẫn
phải nghe, bởi lẽ trong tâm khởi niệm liền
có tướng của tiếng. Tai chính ḿnh nghe tiếng
trong tâm của chính ḿnh, vẫn rành rẽ rơ ràng. Nếu có
thể nghe được từng câu, từng chữ rơ
ràng th́ sáu căn đều quy về một, so với tu những
pháp Quán khác là ổn thỏa, thích đáng nhất, ít tốn
sức nhất, khế lư, khế cơ nhất. Đă phát
tâm niệm Phật, ắt cần phải kiêng giết,
ăn chay, đoạn cả hút sách lẫn uống rượu.
Thanh tâm quả dục (tấm ḷng trong sạch, ít ham muốn),
cưới vợ chủ yếu để sanh con. Người
đời thường thường coi chuyện ân ái
như chuyện ăn cơm, uống trà thường ngày
trong nhà mà mong tưởng sanh được đứa con
tốt đẹp sẽ là chuyện khó nhất trong các sự
khó. Ông đă lầm lẫn, khiến cho [tánh mạng] nguy ngập
mấy lần, hăy nên đoạn dục một hai năm
để sanh được con. Đợi cho thiên quư (kinh
nguyệt) của vợ sạch rồi, lại cần chọn
ngày tháng tốt đẹp để ăn nằm, ắt
nhất định thọ thai. Từ đấy, vĩnh
viễn đoạn dục. Đứa con sanh ra chắc chắn
hiền thiện, khỏe mạnh. Lại cần phải
giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận,
dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều
ác, vâng giữ các điều lành, trong là gia đ́nh, ngoài là
những người cùng hàng, đều nên dùng điều
này để kính khuyên th́ sẽ là Phật tử thật sự
vậy. Nếu không, vẫn là kẻ tội nhân nơi danh
giáo, huống hồ c̣n muốn liễu sanh thoát tử, siêu
phàm nhập thánh mà được hay sao?
155. Thư trả lời cư sĩ
Chương Duyên Tịnh
Năm
Dân Quốc 16 (1927), tôi vốn muốn nhận lời thỉnh
của đệ tử ở Hương Cảng, nên trong
tháng Bảy năm Dân Quốc 17 (1928) liền rời Phổ
Đà. Năm sau, do ông Hứa Chỉ Tịnh vừa hoàn tất
bản thảo bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống
Kỷ, nên phải lo liệu [giảo duyệt] cho đến
khoảng cuối Thu đầu Đông. Trong tháng Ba [năm
sau] cho sắp chữ theo kiểu Tam Hiệu Tự,
được một bộ gồm bốn cuốn. Do học
sinh thích đọc chữ nhỏ, ông Nhiếp Vân Đài lại
cho in theo lối Tứ Hiệu Tự thành một bộ hai
cuốn. Trong tháng Ba, cho sắp chữ hai bộ sách này. Pháp
sư Đức Sâm chịu trách nhiệm giảo chánh lần
đầu, Quang chịu trách nhiệm giảo chánh lần
thứ hai. Hết đêm tới ngày, khá cực nhọc. Lo
xong việc, một đệ tử mời đến nhà
ông ta ăn cơm, do chẳng quen ngồi xe hơi, toát mồ
hôi bị trúng gió. Ra về, bảo họ gọi xe kéo, họ
không chịu, bèn bảo lái chậm một chút, đang chảy
mồ hôi mà lại ra gió, bị bệnh hơn mười
ngày.
Năm sau, Thái B́nh Chân
lăo (tức ḥa thượng Chân Đạt chùa Thái B́nh) khuyên
đừng về
Cư sĩ diễn giảng,
chỉ nên chuyên chú nơi một pháp Tịnh Độ, chớ
nên giảng tràn lan. Giảng tràn lan là chuyện của pháp
sư giảng kinh, cư sĩ há nên khơi ra đầu mối
ấy! Do pháp môn Niệm Phật thích hợp khắp ba
căn, bởi mọi người chẳng biết pháp môn
Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong Phật
pháp, hăy v́ họ nói Tín - Nguyện - Hạnh khiến cho kẻ
có trí huệ nhưng không hiểu biết ai nấy đều
chú trọng pháp này. Há nên chỉ mong khuếch trương
môn đ́nh, chẳng xét đến có khế cơ hành nhân
hay không. Thiền sư Đạo Xước đời
Đường cả đời giảng ba kinh Tịnh
Độ gần hai trăm lượt, vị này vẫn là
người thân cận ḥa thượng Thiện Đạo.
Sư thọ ngoài tám mươi, tính trên những khóa giảng
th́ mỗi năm Sư giảng ba bốn lượt. Hiện
thời trong Phật Thất đang đề xướng
giảng các kinh thuộc những tông khác, nếu đại
chúng trong pháp hội đối với Tịnh tông đều
hiểu biết sâu xa th́ c̣n được, chỉ sợ kẻ
thông suốt chưa được dăm ba người
trong trăm kẻ, người không thông suốt mười
phần hết tám chín. Những vị pháp sư giảng
kinh tràn lan kia c̣n có rất nhiều vị chẳng coi Niệm
Phật là đúng. Nay chẳng chú trọng pháp môn cậy vào
Phật lực để liễu sanh thoát tử ngay trong
đời này, nếu giảng Bát Nhă cho kẻ chẳng hiểu
Tịnh Tông tức là dạy họ chuyên tâm dốc chí
nơi phương diện khai ngộ, đâm ra làm cho đại
pháp “muốn cho phàm phu sát đất được liễu
sanh thoát tử” phát xuất từ ḷng đại từ bi của
đức Di Đà bị coi rẻ.
Người xin nghe giảng
đă không hay biết, sao người nhận lời giảng
không nói rơ nguyên do cho họ? Nếu họ không nghe, hăy nói:
“Tôi không phải là người giảng kinh, xin hăy mời vị
chuyên chú trọng giảng kinh đến giảng”. Cư
Sĩ Lâm tại thị trấn Đường Áp thuộc
thành phố Nam Thông (tỉnh Giang Tô) rất tích cực,
năm ngoái một thành viên của Cư Sĩ Lâm rất
thông minh, giảng kinh Địa Tạng một lần, từ
đấy những kẻ chẳng biết “pháp môn Niệm
Phật là pháp môn để phàm phu cậy vào Phật lực
ḥng liễu sanh tử trong đời này” quá nửa đều
chẳng niệm Phật, chuyên chú trọng nghe kinh. Lâm
trưởng thỉnh Quang nói với người giảng
kinh. Do vậy, bèn dạy vị ấy: “Phật pháp như biển cả, một giọt có
đủ vị của muôn sông. Phật pháp như lưới
kết bằng những hạt châu của Thiên Đế,
mỗi hạt châu có đủ ánh sáng của ngàn hạt
châu. Luận về phía bậc đại thông gia th́ lời
thô lẽ tế đều là Nhất Chân. Luận về
phía kẻ chưa về đến nhà, hăy nên chỉ
đường về nhà cho đỡ tốn sức. Huống
chi bậc đă chứng Đẳng Giác muốn viên măn Phật
Quả vẫn phải niệm Phật cầu sanh Tây
Phương; kẻ sắp đọa A Tỳ, mười
niệm thành công, có thể cao dự hải hội. Như
thuốc A Già Đà trị chung vạn bệnh; như ánh nắng
Xuân vừa chiếu đến, trăm loài cây cỏ sum xuê.
Lợi ích mầu nhiệm ấy ngoại trừ đức
Phật ra chẳng ai có thể biết được! Sao
chẳng từ những chỗ ấy phát khởi ḷng tín
nguyện cho bọn họ, ngơ hầu ai nấy đều
được văng sanh. So với những kẻ giải
thích từng chữ, từng câu để tạo thành thiện
căn đắc độ trong tương lai, khác biệt
như thể một trời, một vực! Hăy theo quy củ
thường lệ, đừng tạo ra hai đường
lối hành tŕ trong cùng một lâm!”
Pháp môn Tịnh Độ
chính là pháp môn đặc biệt trong Phật pháp, nếu nhóm
họp mọi người niệm Phật nhưng chẳng
đem nguyên do và phương pháp, lợi ích do tu tŕ pháp môn
này diễn thuyết cho đại chúng th́ v́ chẳng biết
tông chỉ, sẽ chỉ được phước báo trời
người, cô phụ ơn Phật rất sâu. Tăng hay
tục đều [diễn giảng] được, chứ
không riêng ǵ cư sĩ. Đây là luận trên phương tiện
diễn thuyết, chớ nên lấy lề lối giảng
kinh làm chuẩn mực. Nếu thỉnh người chuyên
giảng một thất, lần đầu nên đảnh
lễ Ḥa Thượng hoặc Lâm Trưởng, Xă Trưởng
và thành viên trong cư sĩ lâm, lạy khắp mọi
người một lạy. Sau đấy, đối
trước pháp ṭa, lễ Phật ba lạy, rồi lên ṭa
giảng. Hoặc giảng trích lược kinh văn, hoặc
giảng chung chung về pháp tắc niệm Phật và tâm hạnh
suy nghĩ, xử sự phải hợp với Phật. Giảng
xong, nói đại lược lời tạ lỗi, xin
chư vị rộng lượng dung thứ, liền xuống
ṭa, lễ Phật ba lạy là xong. Phía trên pháp ṭa nên thờ
tượng Phật. Hiện thời mọi thứ quá mắc
mỏ, chỉ nên đốt một cây hương, chẳng
cần phải thắp nến, đốt Đàn
hương[48]. Lên ṭa rồi, chẳng
cho người khác lễ bái để khỏi lâm vào t́nh cảnh
khó xử cho cả đôi bên. Nếu ngẫu nhiên được
thỉnh giảng một lần, liền lễ Phật ba
lạy, lên ṭa diễn thuyết, giảng xong, xuống ṭa lễ
Phật ba lạy là được rồi. Mở đầu
[buổi giảng] chẳng cần phải niệm kinh,
xướng kệ, đấy là phong cách của kẻ diễn
thuyết. Nếu cứ theo đúng như lề lối giảng
pháp, sẽ trở thành tiếm phận! (Hiện thời
đang là Mạt Pháp, tại gia cư sĩ nghiên cứu diễn
thuyết cùng đồng đạo, cố nhiên không có ǵ là
chẳng được. Nếu cứ chiếu theo nghi thức
giảng kinh, đấy chính là chuyện của pháp sư
xuất gia, cư sĩ làm theo đó chính là “tiếm việt”). Đứng diễn thuyết cũng
không thích hợp, rất mất ư nghĩa kính trọng pháp (trên
đây là lời đáp cho điều thứ nhất).
Phật gia hộ cho kẻ
nào đáng nên gia hộ; nếu là kẻ chẳng nên gia hộ
mà cứ gia hộ ắt kẻ ấy sẽ bị tổn
hại[49]. Nay chẳng luận
trên sự việc là giả hay thật, chỉ luận về
chuyện “do sự gia hộ sẽ bị tổn hại
hay hữu ích”. Phàm là người có sự hàm dưỡng
sâu xa, hễ tâm quang vừa phát ra, nhất định càng
thêm khiêm tốn tự náu ḿnh, nhất định sẽ từ
ngay nơi sự hiểu được lư. Người
như thế được gia hộ sẽ hữu ích. Nếu
[là kẻ] thiếu hàm dưỡng, chẳng chú trọng sự
tu, chuyên chú trọng nghiên cứu lư tánh, sẽ trở thành kẻ
cuồng huệ tự cao tự đại, tuy tợ hồ
có ích nhưng thật ra đối với hậu học và
pháp đạo ắt tổn hại lớn lao. V́ thế, hễ
được gia hộ bèn thâu liễm th́ sẽ lại
được gia hộ. Nếu sau này vẫn cứ
thường như thế, th́ hễ một phen được
gia hộ bèn được gia hộ măi măi. Nếu khi ấy
đúng là như thế, sau đấy lại y như
cũ th́ để pḥng ngừa hậu hoạn[50],
hăy bỏ [sự tham cứu] đi sẽ càng thêm ích lợi.
Chỉ sợ ông chưa có sự hàm dưỡng thuần
túy thâm trầm, có lẽ sau này sẽ coi niệm Phật chẳng
cao siêu, mầu nhiệm bằng tham cứu cái tâm. V́ thế,
hăy bỏ ngay [sự tham cứu] đi th́ c̣n có thể giữ
nguyên được thiện căn văng sanh của ḿnh lẫn
người. Bởi vậy, chẳng nên thêm [sự tham cứu
vào pháp Niệm Phật] (từ trên đến đây
là lời đáp cho điều thứ hai). Hiểu rơ lư tánh để liễu sanh tử,
phải là địa vị Thất Tín trong Viên Giáo mới
làm được, đủ biết rằng chẳng chú
trọng niệm Phật sẽ bị mất mát lớn lao
không ǵ có thể ví dụ được!
156. Thư trả lời thầy Tu Tịnh
Hết
thảy pháp môn đều cậy vào tự lực để
liễu sanh tử; pháp môn Niệm Phật cậy vào Phật
lực để liễu sanh tử. Cậy vào tự lực
để liễu sanh tử chẳng phải là chuyện
có thể thực hiện xong trong một hai đời. Bậc
chứng Sơ Quả c̣n phải bảy lần sanh trong cơi
trời và nhân gian, mới chứng Tứ Quả. Tứ Quả
là liễu sanh tử! Người chưa chứng Sơ Quả
thăng trầm bất định. Kẻ đời này tu
hành rất khá, đời sau tạo nghiệp lớn lao,
trong trăm kẻ có đến hơn chín mươi
người. Bậc chứng Sơ Quả, dẫu dùng oai lực
bức bách họ tạo nghiệp, họ thà chịu xả
mạng, chẳng chịu tạo những ác nghiệp giết,
trộm, dâm v.v… Nếu không xuất gia, cũng sẽ cưới
vợ. Nếu buộc họ tà dâm, họ thà chết chẳng
làm! Vị ấy tuy chưa liễu sanh tử, quyết
định chẳng bị đọa xuống, c̣n kẻ
chưa chứng Sơ Quả th́ không chắc! Dẫu một
đời, hai đời chẳng tạo nghiệp, chắc
chắn khó thể vĩnh viễn không tạo nghiệp. V́
thế biết: Cậy vào tự lực đoạn Hoặc
chứng Chân khó khăn như lên trời vậy!
Người niệm Phật
ắt phải sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện thiết
tha, quyết định cầu Phật gia bị trong đời
hiện tại, đến lúc lâm chung được Phật
tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Lúc b́nh thường
niệm Phật, phải [thành khẩn] như làm đám tang
cho cha mẹ, [phải tích cực] như cứu đầu
cháy; lại phải đem pháp môn này tùy phần tùy sức
nói với hết thảy mọi người; lại c̣n
đối với mọi chuyện đều phải trọn
hết bổn phận của chính ḿnh để được
măn nguyện.
Muốn xem kinh, trước
hết hăy nên đọc Tịnh Độ Ngũ Kinh. Muốn
đọc những sách nông cạn, gần gũi th́ hăy
đọc Ấn Quang Văn Sao, Ấn Quang Gia Ngôn Lục.
Lại muốn đọc những sách thiết yếu, hết
sức thâm diệu, vừa dễ lănh hội th́ hăy nên đọc
Tịnh Độ Thập Yếu. Muốn biết sự
tích văng sanh xưa nay, hăy đọc Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục. Hiện thời chẳng thể gởi
sách, hăy nên mượn xem từ chỗ của cư sĩ
Tạ Huệ Lâm ở số ba mươi hai phố
Đông Châu cửa Bắc [thành phố] Thành Đô, các kinh
sách ấy ông ta đều có, nhưng không thể tặng cho
người khác. Hơn mười năm trước
đây, Quang gởi mấy chục gói kinh sách các thứ cho
Trùng Khánh Phật Học Xă, chắc họ hăy c̣n. Hăy hỏi
các ông Vương Hiểu Tây, Thư Thứ Phạm,
Vương Thích Quân v.v… thuộc Phật Học Xă, có lẽ
họ sẽ có sách để tặng cho ông; nếu không,
th́ mượn xem. Ở chỗ ông Tưởng Đặc
Sanh tại ngơ Tam Nguyên Cung ở huyện Tam Đài chắc
cũng c̣n, nếu c̣n, sẽ gởi cho ông. Gởi sách cho Tứ
Xuyên, chỉ có Trùng Khánh Phật Học Xă là được
gởi nhiều nhất, kế đó là ông Tưởng
Đặc Sanh. Ở chỗ ông Tạ Huệ Lâm bất quá
[chỉ có thể] cho ông mượn đọc, chứ chẳng
thể tặng cho người khác được!
Pháp môn Niệm Phật
thực hiện dễ thành công cao, dùng sức ít được
hiệu quả nhanh chóng; đi, đứng, nằm, ngồi,
trong hết thảy mọi lúc, hết thảy chỗ,
đều có thể niệm. Nếu áo mũ tề chỉnh,
tay và mặt sạch sẽ, niệm ra tiếng hoặc niệm
thầm đều được. Nếu ngủ nghỉ
và áo mũ chẳng chỉnh tề, c̣n chưa rửa ráy,
súc miệng, hay đến chỗ bất tịnh, hoặc
lúc đại tiểu tiện, đều phải niệm
thầm, đừng niệm ra tiếng. Dù ngủ cũng
chẳng nên lơa lồ, hăy nên mặc quần áo, trong tâm
thường giữ ḷng kính sợ, chớ nên phóng túng.
Muốn thâu nhiếp vọng
niệm th́ điều thiết yếu bậc nhất là phải
giữ ḷng cung kính, thường [nghĩ] như thân đang
đối trước đức Phật, chẳng dám dấy
lên những thứ suy tưởng khác. Điều thiết
yếu thứ hai là từng câu, từng chữ trong tâm phải
niệm cho rơ ràng, rành rẽ, nơi miệng niệm cho rơ
ràng, rành rẽ th́ vọng tưởng sẽ dần dần
tiêu diệt. Dẫu niệm thầm cũng phải nghe, bởi
tâm vừa dấy niệm liền có tiếng. Tai chính ḿnh
nghe tiếng trong tâm của chính ḿnh, đương nhiên rơ
ràng, rành rẽ.
Trong kinh Lăng Nghiêm,
Đại Thế Chí Bồ Tát nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối, đắc Tam Ma Địa, đấy là bậc nhất”,
chú trọng ở nơi nghe. Sáu căn là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ư. Tâm là ư căn, miệng là thiệt
căn, nghe chính là nhĩ căn. Tâm niệm, miệng niệm,
tai nghe. Hễ ba căn này được nhiếp rồi
th́ mắt cũng chẳng thể ngó Đông ngóng Tây, mũi
cũng chẳng thể ngửi khí vị khác, thân cũng chẳng
dám buông lung, giải đăi, v́ thế gọi là “nhiếp trọn sáu căn”.
Nhiếp trọn sáu căn để niệm sẽ tự
không có vọng niệm ô tạp, nên gọi là “tịnh niệm”. Tịnh niệm
ắt phải thường thường tiếp nối chẳng
đoạn, v́ thế gọi là “tịnh
niệm tiếp nối”. Nếu tịnh niệm tiếp
nối, lâu ngày chầy tháng sẽ đắc Niệm Phật
tam-muội. Cách “nhiếp trọn
sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” này là diệu
pháp bậc nhất để đắc tam-muội. V́ thế
nói: “Đắc Tam Ma Địa,
đấy là bậc nhất”. Tam Ma Địa chính là tên
khác của tam-muội. Niệm như thế, chắc chắn
sẽ có ngày được “tịnh niệm thường
tồn tại, vọng niệm hoàn toàn không c̣n!”
Quang già rồi, mục lực lẫn
tinh thần đều chẳng đủ, đă từng cự
tuyệt hết thảy thư từ. Thương ḷng thành
của ông nên giảng cho ông về cách nhiếp tâm và biện
pháp thỉnh kinh sách, nhưng kinh sách đă lâu sợ rằng
chẳng c̣n nữa, dẫu mượn chẳng được
cũng có lợi ích. Nếu mượn được, hăy
hành theo đó th́ văng sanh sẽ là điều chắc chắn
đạt được!
Phụ Lục
1. Bài ca tụng nêu tỏ những ư
nghĩa ẩn kín của việc Tiền Vũ Túc
Vương[51] Giương
Nỏ Bắn Sóng Biển
(khi bản văn này gởi đến, bản in đă gần như sắp xếp xong, không xếp vào đâu được, liền chèn vào đây, cũng gọi là Phụ Lục)
Kính lễ
Vũ Túc Vương, từ trời thẳm giáng thần,
nhóm dân lập quân nghĩa dũng, diệt [Hoàng] Sào, giết
[Đổng] Xương[52],
công lao đại nghiệp lớn lao, cổ kim ít sánh bằng.
Được phong tại Ngô Việt, giúp nước chẳng
tai ương. Tính đắp đê ngăn biển, phát triển
nghề nông tang. Sóng to, nền khó vững, tế thần cầu
giáng phước, lại sai các tinh binh giương nỏ bắn
vệt sóng. Sóng rút, nền đê vững; [ruộng
nương] chẳng bị [sóng biển làm] hại, nên lợi
nhiều. Hễ ḷng thành ắt có cảm ứng. Bắn
sóng chỉ nhằm hư trương thanh thế, v́ sợ
tâm quần hùng vẫn muốn đến xâm lăng. Bắn
sóng, sóng rút đi, nhờ đấy, bọn cọp sói khiếp
sợ. Đời loạn mấy chục năm, [riêng cơi] Ngô
Việt ca tụng thái b́nh, yên ổn. Lo tính cho mọi
người, ư niệm thật sâu dài. Vào thời Ngũ
Đại[53] cuối đời
Đường, không xứ nào yên ổn. Nho và Phật giáo ở
Ngô Việt được xiển dương từ đời
Thịnh Đường. Lúc ấy, nếu không có xứ Ngô
Việt, cương thường đều diệt mất.
Bậc trung nghĩa xưa nay, không một ai chẳng tỏ
lộ, ban đức sâu xa đầy tràn cho dân, dân cả
nước ngưỡng vọng. Gă Vĩnh Thục[54]
tánh quái quỷ, báng Phật, giữ môn tường [đạo
Nho], dốc chí tu chỉnh hai bộ sử, tính làm kế
ngăn ngừa muôn đời. Gạt bỏ hết những
lời đệ tử Phật, vu báng, miệt thị vua
Ngô Việt, đến nỗi kẻ trung nghĩa ai nấy
đều ôm ḷng cảm thương. Xem bài biểu Lang
Cương[55] của ông ta, đức
của cha mẹ thật huy hoàng. Mặc t́nh riêng tư sửa
sử, thật chẳng hổ thẹn quá sức. Cương
lănh của sách Đại Học là “minh Minh Đức, cách vật trí tri”, trong ḷng ôm
tư dục, khó được kết quả tốt. Kính
khuyên các văn sĩ, khiêm tốn, kiềm chế, tự
suy lường, chớ kiêu căng, lập dị, phải
thuận theo lẽ trời. Khắc niệm cuồng thành
thánh, mất niệm thánh thành cuồng. Thông minh khắc chế
được ư niệm, lưu tiếng thơm muôn đời.
2. Lời Bạt
(một ngày mùa Thu năm Canh Th́n, Quảng Đức Tiền Văn Tuyển, Sĩ Thanh Phủ soạn tại chỗ cư ngụ ở Thượng Hải, lúc ấy tuổi đă sáu mươi bảy).
Ấn Quang pháp sư soạn
bài tụng nêu tỏ ư nghĩa ẩn kín của việc
Vũ Túc Vương bắn sóng, chỉ bày nguyên do thuở trước:
Do Vũ Túc Vương bắn sóng mà sóng lùi ra xa, ấy là v́
Thủy Thần cảm mộ đức hạnh bảo vệ
dân chúng của Vương, chứ hoàn toàn chẳng phải
v́ sợ oai thế giương nỏ của Vương! Đời
sau không có đức như Vương, toan bắt chước
Vương giương oai, chưa thể nào đạt
được như vậy. Trong tương lai in lại
Văn Tập, hăy nên đem ư này nêu cho rơ ràng mọi lẽ.
Pháp sư xiển minh những chân lư này, muôn đời chẳng
ṃn. Lại đọc ba điều quan trọng để
cầu con do pháp sư dạy, chỗ nào cũng là lập
luận từ trên căn bản, thật là lời văn
có công đối với thế đạo. Thế nào là ba
điều trọng yếu? Một là tiết dục để
làm căn cơ cho ṇi giống mạnh mẽ. Hai, tích đức
là đạo trọng yếu để phát khởi phước.
Ba là khéo dạy loài người tiến hóa. Nếu như
người trong nước thiết thực phụng hành,
dù đạt đến thái b́nh thịnh trị cũng chẳng
khó! Có kẻ cho rằng Phật giáo phần nhiều chỉ
cốt tốt đẹp cho riêng thân ḿnh, lấy văng sanh Tây
Phương về Tịnh Độ làm điều gắng
sức, dường như tiêu cực, hoàn toàn chẳng phải
là tích cực. Nếu nh́n từ bài văn này và bộ Văn
Sao của pháp sư, quả thật [Phật giáo] là tích cực,
chẳng phải là tiêu cực. Người đời nay
chẳng suy xét, thường cho Phật giáo là trống rỗng,
hư dối, đến nỗi Phật học chưa thể
xiển dương rộng lớn, rạng rỡ. Do vậy,
thế đạo suy vi, giang sơn mỗi ngày một
đi xuống, thật đáng cảm khái! Thử nh́n thuở
Phật học được xương minh, chính là lúc
nhân loại thái b́nh. Nh́n ngược lại thời Ngũ
Đại, thiên hạ đại loạn, kẻ giết
người [nhiều] như mè, nhưng xứ Ngô Việt
trong cả trăm năm nhân dân sống tới già chẳng
biết đến chiến tranh, quả thật là do đạo
nào mà đạt được như vậy?
Nếu nói “bởi Tiền
Vũ Túc Vương đắp đê ngăn biển, phát
triển nghề nông tang, khơi sông ng̣i, mở mang thủy
lợi khiến cho nhân dân giàu có, cho nên được
như vậy”; cố nhiên là như thế, nhưng đạo
căn bản vẫn chẳng nằm ở đó!
Đương thời, nhân dân chẳng biết đến
chiến tranh, quả thật là do công bảo vệ bờ
cơi, giữ yên dân chúng của Vũ Túc Vương. Bảo vệ
bờ cơi, giữ yên nhân dân chính là chẳng muốn so
gươm chọi giáo, rộng mở sự kiêng giết.
Muốn giảm thiểu sự tàn sát nhân loại, th́ phải
tôn sùng nguyên lư Phật giáo. Do một niệm chân thành ấy
nên chẳng có cái tâm tự đại của Tử
Dương[56], mà có điều
răn tri túc của nhà Phật. Vũ Túc Vương
được nguyên lư Phật giáo un đúc, nên có thiện
niệm bảo vệ bờ cơi, giữ yên dân chúng ấy.
Đấy là do tinh thần thường ngày hoằng
dương, tuyên thuyết sự giáo hóa của Phật mà
ra. Do vậy, La Ẩn khuyên vua đánh nước
Lương (tức [nước Hậu Lương của]
Châu Ôn), nói: “Nếu không thành công, vẫn
có thể lui về giữ được Hàng Việt, tự
xưng Đông Đế Vương”, Vương vẫn
chẳng nghe theo lời đó. Ấy là v́ sợ một mai
dấy binh chinh phạt phương Bắc, dân chúng sẽ
gặp cảnh lầm than. Để một nhà, một họ
được vinh hiển, cao sang, khiến cho người
trong cả thiên hạ đều chịu thảm họa
nước sâu lửa bỏng, lẽ nào đành nỡ? Tâm
nào đành yên?
Đến khi Tống
Thái Tổ thống nhất cả nước, Trung Ư
Vương[57] liền vâng theo di
huấn của Vũ Túc Vương nạp đất cho
triều đ́nh, xem bỏ nước như nhường
lại nhà, trọn chẳng khiến dân vùng Ngô Việt phải
chịu họa can qua. Đức của Vũ Túc
Vương chẳng thấm nhuần riêng ǵ dân Ngô Việt
thời ấy, mà phong thái tiếng vang truyền măi hơn
ngàn năm. Đến nay Hàng Châu vẫn c̣n mang danh xưng
là Phật Quốc, phong tục thuần hậu, con người
lắm thiện căn, vốn do lẽ này. Vũ Túc
Vương tin Phật, nhất tâm làm lành, nên tích đức
cho con cháu, liên tục dằng dặc, quấn quít chẳng
suy, bao đời tế lễ trọng thể, được
thờ phụng ngàn thu. Đây thật là quả báo do tin Phật.
Càng vào đời loạn, càng phải đề cao Phật
học khiến cho nhân loại đều có mỹ đức
nhường nhịn lẫn nhau, không có dă tâm tranh đoạt,
để tránh khỏi cái họa sát nhân, c̣n mong có ngày thái
b́nh. Nay lúc khí phận trời Âu đang hừng hực,
mưa Mỹ sắp ào tới, tương lai chết v́
đại bác, phi cơ, chẳng biết mấy ngàn
trăm vạn người! Nếu nhân sĩ Âu Mỹ triệt
ngộ được Phật lư Trung Hoa, buông dao đồ
tể, há chẳng thể thành Phật ư? Kiếp vận
này toàn do con người tạo ra. Nếu có thể như
Vũ Túc Vương tin Phật kiêng giết, một dạ
v́ dân dụng tâm, th́ đại chiến bên Âu Mỹ sẽ
ngừng, cái họa giết chóc sẽ tiêu. Chớ nói Phật
giáo thuộc về tiêu cực, chưa thể cứu đời!
Chuyện cũ của Vũ Túc Vương có thể lấy
làm chứng cớ rành rành; do nh́n từ chỗ này, Phật
học quả thật là mấu chốt để nhân loại
hướng lành đổi lỗi. Nói: “Đừng làm các
điều ác, vâng giữ các điều lành”, nào phải cốt
riêng tốt đẹp cho thân ḿnh, mà là thật sự làm cho
khắp thiên hạ đều cùng được tốt
lành. Công lao của Phật lư, há có thể nói sơ sài mà
tường tận được hết ư?
3. Nhất Thừa Quyết Nghi Luận
Thuyết của Triệt Ngộ thiền sư
Muốn
chẳng chuốc lấy nghiệp Vô Gián, đừng báng
chánh pháp luân của Như Lai. Đấy là lời ứa lệ,
đau buốt ruột gan thốt từ ḷng đại từ
bi của cổ đức. Bởi lẽ, đức Thích
Ca Như Lai ta v́ chúng sanh mà tu chứng pháp này trong vô
ương số kiếp, hành hết thảy pháp khó hành, bỏ
quốc thành, vợ con yêu thương, đầu mắt,
tủy năo, chẳng biết mấy ngàn vạn ức. Đến
khi thành đạo, vẫn dùng b́nh đẳng đại
bi, thuận theo nghĩa lư Tất Đàn[58]
để phô diễn. V́ thế, phàm mỗi câu, mỗi chữ
đều là đuốc báu trong đêm dài vô minh, là thuyền
Từ trong biển khổ sanh tử. Phàm là hữu t́nh không
ai chẳng được lợi ích! Nhưng các ông vẫn
nh́n theo lẽ thông thường, mặc sức chê trách,
chướng chánh pháp minh, làm mù con mắt của [người
học trong đời] tương lai, gây nghi lầm cho
chúng sanh, thật chẳng phải là chuyện nhỏ nhoi
đâu! Bảo là vô tội, há có lẽ ấy hay chăng?
Nay đem lư Nhất Thừa xẻo gọn mọi mối
nghi, đại pháp quang minh cắt thật nhanh ngay, quét cho
hết sạch mây mê, Phật nhật lại sáng tỏ rạng
ngời, quả thật là đại kim thang[59]
cho pháp môn vậy. Ngay trong lúc này, đối với thiên
nhăn, pháp chấp, nếu các ông đă thông, đă quên, sẽ
tự sanh được ḷng tùy hỷ sâu xa. Nếu như
chưa quên, chưa thông, nhất định sẽ mau chóng
đạt được lợi ích thù thắng. V́ thế,
biết: Soạn bài luận này, chẳng những chỉ hữu
ích cho pháp môn, mà thật ra c̣n hữu ích cho các ông. Chẳng
những chỉ có ích cho các ông mà c̣n hữu ích sâu xa cho những
người học đời sau trong thiên hạ. Xin hăy
lưu thông để rộng hành pháp thí.
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Tục Biên
Quyển Thượng hết
[1] Thời ấy, người Trung Hoa
thường hay tạo h́nh tượng Hàn Sơn và Thập
Đắc gọi là Ḥa Hợp Nhị Thánh trưng bày trong
nhà hay trong tiệm như một loại bùa cầu may, nên ở
đây Tổ dạy không được khinh nhờn tượng
hai vị này.
[2] Trong kinh Dịch, phần giải thích ư
nghĩa của sáu mươi bốn quẻ được
gọi là Tượng Truyện. Tượng Truyện
được chia thành hai phần: Đại Tượng
giải thích ư nghĩa tổng quát của mỗi quẻ, Tiểu
Tượng giải thích mỗi hào trong một quẻ.
[3] Lễ Kư là một bộ kinh điển
trọng yếu của Nho Giáo, Khổng Tử tự nhận
ḿnh chỉ biên tập, chỉnh lư chứ không phải là tác
giả. Vào thời Tần Thủy Hoàng, bộ sách này chịu
chung số phận bị hủy diệt với những
kinh điển khác. Đến thời Hán, dựa theo 130
thiên do Lưu Hướng thâu thập được, Đới
Đức liền rút gọn lại thành 85 thiên, và tác phẩm
này được gọi là Đại Đới Lễ
Kư. Về sau, Đới Thánh lại rút gọn bộ Đại
Đới Lễ Kư thành 46 thiên, thêm vào các chương Nguyệt
Lệnh, Minh Đường Vị và Nhạc Kư, thành 49
thiên. Bộ này chính là Lễ Kư được lưu truyền
đến hiện thời. Nội dung Lễ Kư rất
phong phú bao gồm các quy chế, điển chương, lễ
nghi cũng như những quan điểm đạo đức,
phạm trù triết học. Hai chương nổi tiếng
nhất là Đại Học và Trung Dung được tách
riêng ra, xếp vào Tứ Thư. Khái niệm “thế giới
đại đồng” cũng phát xuất từ Lễ Kư.
[4] Tả Truyện, gọi đủ là Xuân Thu Tả Thị Truyện, hoặc Tả Thị Xuân Thu, là một bộ biên niên sử nước Lỗ thời Xuân Thu Chiến Quốc, do sử quan nước Lỗ là Tả Khâu Minh biên soạn. Nội dung ghi chép những sự kiện lịch sử của nước Lỗ trải qua 12 đời vua từ Lỗ Ẩn Công (722-712 trước Công Nguyên) cho đến Lỗ Ai Công (494-468 trước Công Nguyên). Nho Gia xếp bộ sách này vào mười ba kinh (Thập Tam Kinh) bắt buộc phải học của Nho Sĩ.
[5] Ở đây không có nghĩa là người
ngu si, đần độn mới tu hành được,
mà có nghĩa là hành nhân phải hiểu ḿnh là phàm phu độn
căn, không tự kiêu, ngạo nghễ, không cậy ḿnh
thông minh, mà thật thà, chất phác tu hành, không mong ngóng trở
thành bậc thông gia diễn giảng Phật pháp hoạt bát
ḥng phô tài thế trí biện thông, đến nỗi không có
sự tu tập thật hạnh.
[6] A Già Đà (Agada), c̣n phiên là A Yết Đà hoặc A Kiệt Đà, có nghĩa là mạnh khỏe, trường sanh bất tử, không bệnh, trừ khử khắp mọi thứ. Đây là một loại thuốc theo huyền thoại Ấn Độ có tác dụng trị tất cả mọi bệnh, giá trị vô lượng.
[7] Trường Sanh Liên Vị, hơi khác với
Trường Sanh Lộc Vị, là một bài vị màu vàng,
ghi tên những người c̣n sống hay đă chết
trong một khung h́nh hoa sen, thường được bày
trong Niệm Phật Đường ở phía sau bàn Quán Âm
(nếu có thêm bàn thờ riêng Quán Âm ngoài bàn thờ chính thờ
tượng Tam Thánh), hoặc gắn lên vách tường bên
trái bàn thờ chánh (đối với người c̣n sống),
hoặc thờ sau bàn Địa Tạng (nếu người
ấy đă mất) nhằm đem công đức niệm
Phật hồi hướng cho những người ấy
hễ c̣n sống sẽ được tiêu trừ nghiệp
chướng, tăng trưởng phước huệ, nhất
tâm tu tŕ, khi lâm chung sẽ nhờ phước lực niệm
Phật của mọi người và sức tu tŕ của
chính ḿnh được văng sanh Cực Lạc. Trường
Sanh Lộc Vị thường có màu đỏ và không có h́nh
hoa sen, chỉ ghi tên người sống. Mục đích của
cả hai loại bài vị này là dùng công đức niệm
Phật huân tập tâm thức, hồi hướng, gieo thiện
duyên cho người được ghi danh.
[8] Nguyên văn là Đại Ma Phong (bệnh
cùi). Theo mạch văn ở đây, có lẽ là một loại
bệnh gây lở loét ngoài da, chứ bệnh cùi đến
nay vẫn chưa có thuốc trị, và không phải là
căn bệnh ai cũng bị lây. Hơn nữa, trong phần
dược tánh của lá Thương Nhĩ không thấy
nói chữa được bệnh cùi. Do vậy, chúng tôi tạm
dịch là “bệnh lác”.
[9] Thương Nhĩ (tên khoa học là Xanthi Sibiricum), c̣n được gọi là Quyển Nhĩ, Tước Nhĩ, Địa Quỳ, Dương Phụ Lai, Đạo Nhân Đầu, Tiến Hiền Thái, Dă Gia v.v… là một loại thảo mộc thuộc họ Cúc, thường mọc hoang, trổ hoa vào khoảng giữa Hạ sang Thu, có trái h́nh trứng, khắp thân cây mọc đầy gai rất cứng. Loại thực vật này có chất độc, đôi khi có thể gây ra tử vong. Theo Đông Y, Thương Nhĩ tánh ôn, vị cay và đắng, có tác dụng đi vào kinh Phế, thường dùng để chữa phong thấp, đau đầu do cảm mạo, trừ các chứng ghẻ lở, ngứa ngáy, mụn nhọt, ù tai… Tuy thế, liều lượng sử dụng phải hết sức cẩn thận. Trong khoảng 1960-1962, tại Trung Quốc đă có 30.119 trường hợp bị ngộ độc, trong số đó có 405 người chết v́ dùng Thương Nhĩ.
[10] Nhân Phổ và Nhân Phổ Loại Kư là hai
cuốn sách do Lưu Tông Châu soạn vào đời Minh. Nhân
Phổ gồm những phương châm nói về quan điểm
làm người, nêu rơ lỗi lầm và phương cách sửa
đổi lỗi lầm theo quan điểm Nho Gia. Bộ
Nhân Phổ Loại Kư tập hợp những giáo huấn của
thánh hiền bên Nho Học, chia thành từng loại với
mục đích giáo huấn hàng sơ học theo quan điểm
của Tống Nho. Cả hai bộ này đều được
đưa vào Tứ Khố Toàn Thư.
[11] Trước kia, người Trung Hoa viết
văn không chấm câu, nên có những tác phẩm khi tái bản
phải nhờ người học rộng cân nhắc kỹ
lưỡng rồi mới chấm câu để người
đọc khỏi tự chấm câu bừa băi, hiểu sai
ư tác giả.
[12] Ở đây chúng tôi dịch theo đúng
nguyên văn, nhưng vẫn sợ rằng nguyên bản chép
lầm, v́ cả một bộ sách được chia thành
ba quyển mà tổng cộng chỉ gồm 20, 21 trang (Chánh
Biên gồm hai trang, Tục Biên 2 quyển gồm 18, 19 trang)
th́ quá ít! Với số lượng trang quá ít như thế,
không ai chia thành ba quyển làm ǵ! Chúng tôi đoán có lẽ là
189 trang, nhưng vẫn tôn trọng nguyên bản nên không dám
sửa theo ư kiến riêng, chỉ xin ghi lại như một
điều tồn nghi!
[13] Quán Âm Viên Thông Chương tức là
đoạn kinh Lăng Nghiêm nói về pháp tu Viên Thông “phản
văn tự tánh” (xoay trở lại nghe nơi tánh) của
ngài Quán Âm.
[14] Tông Lặc (1318-1391) là một vị Tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào đầu đời Minh, người Thai Châu (nay là huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang), có hiệu là Toàn Thất. Năm tám tuổi, Sư đă đến xin học với ngài Tiếu Ẩn tại chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, 14 tuổi được xuống tóc, 20 tuổi thọ Cụ Túc. Do sở học tinh thâm, Sư cùng với sư Như Phi soạn Lăng Già Kinh Chú Giải, Bát Nhă Tâm Kinh Chú Giải và Kim Cang Bát Nhă Kinh Chú Giải. Sư c̣n soạn ra Tán Phật Nhạc Chương. Năm Hồng Vũ thứ 10 (1377), Sư qua Tây Vực cầu pháp, thỉnh được các kinh Trang Nghiêm Bảo Vương và kinh Văn Thù v.v… Khi về nước, Sư từng giữ chức Hữu Thiện Thế quản nhiệm Tăng Lục Ty, tức cơ quan quản lư Tăng sĩ cả nước thời ấy. Do triều thần ghen ghét, Sư bèn lui về ẩn cư tại Viên Thông Am cho đến khi mất. Bản chú giải được Tổ Ấn Quang nhắc đến ở đây chính là Kim Cang Bát Nhă Kinh Chú Giải.
[15] Tịnh Hạnh Phẩm là phẩm thứ 7 trong bản Bát Thập Hoa Nghiêm do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường. Trong phẩm này, Trí Thủ Bồ Tát hỏi Văn Thù Bồ Tát về phương pháp giữ cho thân - ngữ - ư đều thanh tịnh, thù thắng, không bị hủy hoại, không bị thoái chuyển, cũng như đắc các môn giải thoát tam-muội nhiễm tịnh trí lực, túc trụ niệm trí lực v.v… Nhân đó, Văn Thù Bồ Tát liền dạy phương pháp quán niệm trong mỗi hành động, chẳng hạn như: “Bồ Tát ở tại gia, nên nguyện chúng sanh, biết tánh của nhà là không, thoát khỏi bức bách, hiếu thuận cha mẹ, nên nguyện chúng sanh, khéo thờ đức Phật, bảo vệ, nuôi nấng hết thảy. Vợ con tụ tập, nên nguyện chúng sanh, oán thân b́nh đẳng, vĩnh viễn ĺa khỏi tham đắm…” Thậm chí trong những hành động nhỏ nhặt như xỉa răng, súc miệng, tắm rửa, đi vệ sinh, đều luôn quán tưởng. Những bài kệ trong Tỳ Ni Nhật Dụng đều trích từ phẩm Tịnh Hạnh. Ba câu Tự Quy Y trong kinh Nhật Tụng cũng trích từ phẩm Tịnh Hạnh này. Câu “được thức ăn ngon, trọn thỏa ư nguyện, tâm không c̣n mong muốn” được tổ Ấn Quang nhắc đến ở đây chính là một phép quán niệm trích từ phẩm Tịnh Hạnh.
[16] “Khôi thân mẫn trí” (nói phổ biến hơn là “khôi thân diệt trí”) là một từ ngữ diễn tả cảnh giới tịch diệt vắng lặng của thánh nhân Nhị Thừa, thân không c̣n bị ngũ dục lay chuyển, vắng lặng, không c̣n phiền năo, dục vọng, giống như tro nguội, trí không c̣n vọng tưởng lăng xăng, ch́m lặng trong cảnh tịch định. Gọi là “mẫn trí” hay “diệt trí” v́ trí của các vị thánh nhân Tiểu Thừa vắng lặng, nhưng không có công năng “quán chiếu, thấu hiểu mọi cảnh nhưng không chấp trước vào cảnh” như các vị đại Bồ Tát, tức là “tịch nhưng không chiếu”.
[17] Biến dịch sanh tử, c̣n gọi là
“vô vi sanh tử”, là sự sanh tử của hàng A La Hán, Bích
Chi Phật cho đến Đại Lực Bồ Tát. Do
dùng nghiệp phân biệt vô lậu làm nhân, dùng vô minh trụ
địa làm nhân để chiêu cảm báo thân thù thắng,
vi tế, mầu nhiệm. Do dùng đại nguyện đại
bi vô lậu để chuyển biến cái thân sanh tử có
hạn lượng (phần đoạn sanh tử) thành cái
thân vi diệu thù thắng, thân ấy do nguyện lực cảm
thành nên gọi là Biến Dịch (thay đổi). Do thân này
v́ nguyện lực cảm thành nên diệu dụng chẳng
thể nghĩ bàn, v́ thế c̣n gọi là “bất tư nghị
thân”. Do nguyện lực cảm thành nên khi thệ nguyện
đă măn, hoặc cơ duyên hóa độ đă hết bèn xả
thân, chứ không phải v́ nghiệp lực quyết định
thọ mạng; v́ thế, gọi là “biến dịch”, tức
thay đổi theo hoàn cảnh và căn cơ của người
được hóa độ.
[18] Do người đă đoạn Trần
Sa xong bèn chứng cơi Phương Tiện, đă đạt
đến cảnh giới ấy, sẽ không c̣n thấy có
cảnh giới Đồng Cư (sách Di Đà Yếu Giải
gọi là “thoát khỏi Đồng
Cư”), tức là không c̣n phân biệt nhân - ngă, thánh - phàm,
nên gọi là “thoát khỏi Đồng
Cư”; v́ thế, Tổ mới nói “chẳng cần phải đèo bồng Đồng
Cư nữa” (v́ không chấp vào cảnh Đồng
Cư nữa). Cư sĩ Niệm Phật lại tưởng
lầm bốn cơi tách biệt nhau, có cảnh giới để
lần lượt vượt thoát, nên mới lập luận
rằng những vị đă đoạn Trần Sa sẽ
thoát khỏi cơi Đồng Cư trọn vẹn. Do người
đă văng sanh, liền dự vào địa vị Bất
Thoái nên thấy được cả ba cơi trên, tức là
lănh ngộ, phần chứng được cảnh giới
thù thắng của ba cơi trên, nhưng chưa hoàn toàn thụ
dụng được, mới chỉ Ngộ, nhưng
chưa chứng, nên gọi là “thấy”, chứ chưa gọi
là “nhập”.
[19] Đây là một thành ngữ dựa theo câu nói “Trắc kiến thành phong, hoành kiến thành lănh, túng giai bất tận Lô Sơn chân cảnh” (Nh́n phía bên thấy đỉnh, nh́n ngang thấy thành rặng, vẫn chẳng thể trọn hết cảnh Lô sơn thật sự). “Thấy đỉnh, thấy rặng” hàm nghĩa là do nh́n từ những góc độ khác nhau, sẽ hiểu vấn đề khác nhau, nhưng vẫn không xa bản chất của sự vật.
[20] Hồ tiên: Hồ ly tinh
[21] Ngân nhĩ (Tremella Fuciformis Berk) là một
loại nấm màu trắng bạc, hơi trong, có độ
nhớt. Nấm mọc thành h́nh nhiều cánh trông từa tựa
như hoa cúc. Mỗi tai nấm to từ 3 đến 15cm,
thường mọc trên gỗ mục vào cuối Thu. Dân
gian Trung Quốc coi Ngân Nhĩ là một thứ hết sức
bổ dưỡng, có tác dụng kéo dài tuổi thọ,
cường thân kiện thể, trường sanh bất
lăo, nên rất mắc tiền. Thật ra, đây cũng chỉ
là ngoa truyền, chứ theo dược điển nó chỉ
có tác dụng chống bệnh thũng, nhuận gan, ích khí,
an thần, dễ tiêu.
[22] Tích Quan là cháu nội của Vương
Ấu Nông.
[23] Thứ Bân là con trai cả của
Vương Ấu Nông, cha của Tích Quan.
[24] Sóc: Mồng Một, Vọng: ngày Rằm.
[25] Đây là phương tiện tiết dục
được nói trong sách Thọ Khang Bảo Giám. Theo
đó, mỗi tháng có những ngày kỵ, vợ chồng
không được ăn nằm trong những ngày ấy
để khỏi bị đoản mạng, tổn
phước, sanh ra con cái si ngốc. Những ngày ấy nhằm
thánh đản của các vị Phật, Bồ Tát, thánh
nhân trong Tam Giáo, hoặc Lục Trai, Thập Trai.
[26] Lục Du (1125-1210), tự Vụ Quán, hiệu
Phóng Ông, là một thi nhân trứ danh đời Tống. Sống
vào thời Nam Tống đang bị quân Kim xâm lăng, ông
mang tấm ḷng ái quốc nồng nàn, tuy rất giỏi
văn chương, vẫn chú trọng học binh thư.
Trong khóa thi do Lễ Bộ tổ chức, do đạt
điểm cao hơn cháu Tần Cối, lại do viết
bài thi nhắc đến mối nhục đất nước
yếu hèn, chủ trương làm cho dân giàu nước mạnh,
giảm thuế, phát triển thương nghiệp, ông bị
Tần Cối đánh hỏng. Khi Tần Cối chết,
ông mới được triều đ́nh vời ra làm quan.
Do theo phái chủ chiến, ông bị phái chủ ḥa trong triều
đ́nh ghép tội “cấu kết bè lũ, khuấy động
thị phi, hùa theo Trương Tuấn dụng binh” nên bị
miễn chức, rồi lại phục chức. Đường
hoạn lộ của ông ch́m nổi tùy theo phe chủ chiến
hay chủ ḥa thắng thế. Cho đến tận khi chết,
ông vẫn đau đáu ôm ước vọng khôi phục
đất nước, đuổi sạch quân Kim ra khỏi
bờ cơi.
[27] Dây đánh dấu (thư thiêm - bookmark):
Cái thẻ để cài vào sách nhằm đánh dấu phần
đă đọc, hoặc sợi dây dẹp để
đánh dấu phần sách đă đọc đều gọi
là “thư thiêm”.
Thư căn: V́ không t́m được từ
tương ứng để diễn tả chữ này,
chúng tôi đành để nguyên không dịch. Trong cách in sách
chữ Hán, mỗi trang thường chừa một khoản
trống bên trái trang sách (tức phần “giáp lai”) để
ghi tên sách, số trang, số quyển cho tiện; nói cách
khác, nó tương ứng với phần header hay footer trong
Microsoft Word.
[28] Kinh Thư, gọi đầy đủ
là Thượng Thư, là một trong năm kinh của Nho
Gia. Theo Hán Thư, thiên Văn Nghệ Chí, sách này do Khổng
Tử chỉnh lư, biên tập, gồm một trăm thiên.
Đến thời Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học
tṛ, quan Bác Sĩ Phục Sanh (có thuyết nói là Phục Thắng)
lén đem giấu trong vách, khi Lưu Bang lật đổ
nhà Tần, lập ra nhà Hán, Phục Sanh t́m lại thấy
sách đă bị hư mất mấy chục thiên, chỉ
c̣n sót lại 29 thiên. Sau đấy, triều đ́nh nhà Hán
sai Tiều Thố đến nghe Phục Sanh giảng sách,
ghi chép lại thành bộ Thượng Thư hiện thời
(mệnh danh là Kim Văn Thượng Thư để phân
biệt với Cổ Thượng Thư do những
người khác sưu tập được, chẳng hạn
như bản của Khổng An Quốc – cháu đời thứ
11 của Khổng Tử). Nội dung của sách Thượng
Thư được chia thành bốn phần chánh, mỗi
phần gọi là Thư (sách), tức Ngu Thư, Hạ
Thư, Thương Thư và Châu Thư, chép các điển chế
từ thời Nghiêu Thuấn đến đời Tần
Mục Công thời Xuân Thu. Thuấn Điển, Thái Giáp, Hàm
Hữu Nhất Đức, Thuyết Mạng đều là
những thiên sách trong Thượng Thư. Đôi khi, người
ta cũng gọi mỗi thiên của Thượng Thư là
sách (điển hay thư). Ông Đường Văn Trị
cho những thiên vừa được nói trên đây đều
là ngụy tạo v́ thiên Hàm Hữu Nhất Đức trích
dẫn những câu trong những thiên trước. Tổ Ấn
Quang chỉ ra chỗ mâu thuẫn, khiên cưỡng trong lập
luận này: Kẻ ngụy tạo có thể dẫn cả
những phần nằm trước Hàm Hữu Nhất
Đức hay sau thiên đó, đâu có ǵ buộc họ chỉ
được quyền trích dẫn những phần nằm
trước mà thôi! Hơn nữa, khi viết sách, có ai cấm
tác giả không được trích dẫn những sách khác
hoặc những điều đă được nói trong
những chương trước!
[29] Sắt là một loại đàn cổ thường đặt nằm ngang khi diễn tấu, h́nh dáng tương tự như đàn Tranh, thân đàn làm bằng gỗ Tử, nhưng có 25 dây, mỗi dây có một trục đỡ (con sáo, hoặc con nhạn) có thể di chuyển được nhằm điều chỉnh độ căng của dây đàn. Loại đàn này thịnh hành cho đến cuối đời Đường th́ hầu như rất hiếm thấy sử dụng nữa! Cầm tức là cổ cầm (c̣n gọi là Dao Cầm, hoặc Thất Huyền Cầm), là một loại đàn hơi giống như đàn sắt, nhưng chỉ có bảy dây, thân bằng gỗ Ngô Đồng, âm thanh trầm ấm, lan xa, chứ không lảnh lót, réo rắt như đàn sắt. Hai loại đàn này thường được dùng để ḥa tấu chung với nhau, nên thường dùng để ví cho t́nh chồng vợ.
[30] Nguyên văn “ma phong”: Chúng tôi vẫn
băn khoăn không biết đây có phải thật sự
là bệnh cùi hay không, hay chỉ là một loại bệnh lở
loét ngoài da. V́ cho đến tận giờ, vẫn chưa
nghe thấy Trung Quốc đă t́m ra được thuốc
trị bệnh cùi. Xin ghi lại như một điều
tồn nghi.
[31] Ngao cao: Đây là một cách chế thuốc
cao trong y học cổ truyền Trung Quốc, dùng nước
hoặc rượu làm dung môi (chất ḥa tan) để ngâm
dược liệu vào, đun nóng từ từ cho chất
thuốc ngấm ra, rồi cô đặc lại. Một
cách khác là ép dược liệu lấy nước, rồi
cô đặc.
[32] Thời ấy, chính quyền Dân Quốc
đột nhiên đổi loại tiền năm cắc
thành một đồng, tăng lệ phí tem thư từ
hai cắc lên bốn cắc. Điều này khiến cho những
đồng năm cắc cũng như bưu phiếu
năm cắc đang lưu hành không dùng được nữa!
[33] Trọng Hựu chính là tên tự của
ông Đinh Phước Bảo, tác giả bộ Phật Học
Đại Từ Điển.
[34] Vương Quư Đồng (1875-1948) tự Tiểu Từ, là một cư sĩ kiêm khoa học gia, nguyên quán tại Vu Hồ, tỉnh An Huy, nhưng sống tại Tô Châu, được dạy dỗ theo truyền thống Nho Học, tốt nghiệp trường Đồng Văn Quán ở Bắc Kinh. Năm Quang Tự 28 (1903), ông hợp tác với Thái Nguyên Bồi và Uông Doăn Tông sáng lập tạp chí Nga Sự Cảnh Văn nhằm nêu rơ dă tâm xâm chiếm Trung Hoa của đế quốc Nga La Tư khi ấy. Cuối thời Quang Tự, ông Quư Đồng sang châu Âu du học, tốt nghiệp về ngành điện cơ tại Anh, từng học việc tại Đức, tham gia sáng chế máy biến áp đổi ḍng điện xoay chiều thành một chiều, viết luận văn về đề tài tính toán thiết kế mạng lưới phân bố điện bằng tiếng Anh rất được giới khoa học châu Âu khen ngợi. Đầu thời Dân Quốc, ông về nước, làm việc trong viện khoa học Trung Quốc, từng dạy học tại đại học Bắc Kinh, là đồng sự của những người nổi danh thời ấy như Hồ Thích, Cổ Hồng Minh v.v… Sau đó, ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong giới khoa học gia. Từ thời trẻ, ông Vương cho hết thảy tôn giáo đều là mê tín, măi cho đến khoảng 30 tuổi, do nghe cư sĩ Dương Nhân Sơn giảng thuyết Phật pháp, mới chú tâm nghiên cứu Phật pháp, rồi đặc biệt ham thích Duy Thức và Nhân Minh Học. Đến tuổi trung niên, ông chuyên tâm khán thoại đầu của nhà Thiền, lập Phật đường trong nhà, mỗi ngày tọa thiền hết một cây hương. Ông cũng từng viết lời tựa cho các sách Duy Thức Nghiên Cứu của Châu Thúc Ca, Phật Pháp Đích Khoa Học Quan (Phật Pháp dưới cái nh́n khoa học) của Uông Trí Biểu và nhiều bài nghiên cứu về Phật pháp, chủ trương dùng những danh từ khoa học để diễn giảng Phật pháp, ḥng chứng tỏ Phật pháp là một thứ siêu khoa học. Trước tác nổi tiếng nhất của ông chính là cuốn Nghiên Cứu So Sánh Giữa Khoa Học Và Phật Pháp.
[35] Nguyên văn “tạc
tử măo tử hán”, là một thành ngữ của Thiểm
Tây để chỉ kẻ si ngốc, khăng khăng cố
chấp, không hiểu biết ǵ. Có thuyết giải thích từ
ngữ này xuất phát từ câu chuyện có một gă khờ
thấy một con thỏ chạy đâm vào gốc cây bị
chết, bèn khoét lỗ nơi thân ấy, cứ đứng
đợi măi để chờ xem có con thỏ nào dại dột
đâm đầu vào ấy chết hay không. Xin ghi lại lời
giải thích này như một điều tồn nghi!
[36] Nguyên văn “lộng dẫn” (quà biếu).
Do tiếp đó có câu “nếu chẳng thể miễn phí
được” nên chúng tôi dịch theo ngữ cảnh là “tiền
pḥng hờ”.
[37] Tại Trung Hoa, Thượng Nhân (Purusarsabha) là danh xưng nhằm tôn xưng bậc cao tăng trí lẫn đức đều trọn vẹn, đầy đủ tư cách làm thầy của chư tăng lẫn mọi người. Sách Thích Thị Yếu Lăm, quyển thượng, giảng: “Trong có trí đức, ngoài có hạnh thù thắng, cao trỗi mọi người th́ gọi là Thượng Nhân”. Theo phẩm Kiên Cố Tâm trong quyển 17 kinh Đại Phẩm Bát Nhă, tiêu chuẩn Thượng Nhân lại cao hơn nữa: “Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể nhất tâm hành Vô Thượng Vô Đẳng Chánh Giác, hộ tŕ tâm chẳng tán loạn, th́ gọi là Thượng Nhân”. Tại Nhật Bản, Tịnh Độ Chân Tông cho rằng danh hiệu Thượng Nhân kém hơn Thánh Nhân, nên họ gọi sáng tổ Pháp Nhiên và sơ tổ Thân Loan của Tịnh Độ Chân Tông là Thánh Nhân, chư tổ kế thừa là Thượng Nhân. Vào thời xưa, triều đ́nh Nhật Bản c̣n coi đây là một tước vị dành riêng để phong tặng cho những vị sư.
[38] Trong năm ấy, theo đề nghị
của Thai Sảng Thu, tỉnh trưởng Giang Tô là
Vương Tiền San ban hành quyết định trưng
thu, sung công chùa miếu để biến thành trường
học.
[39] Tống Khâm Tông (1100-1156), tên thật là Triệu Hằng, là con trai của Triệu Cát (Tống Huy Tông). Huy Tông chỉ ham mê thư pháp, tranh vẽ, thi phú, và tu hành theo pháp luyện đan trường sanh bất tử của Đạo Giáo, tự xưng là Đạo Quân Hoàng Đế, việc triều chánh phó mặc cho gian thần Thái Kinh, Đồng Quán lộng hành. Khi chánh sự nát bét, quân Kim hai lượt uy hiếp Đông Kinh (Khai Phong), để trốn tránh trách nhiệm, Huy Tông bèn nhường ngôi cho con, trở thành Thái Thượng Hoàng. Khâm Tông lên ngôi, đổi niên hiệu là Tĩnh Khang, bèn lập tức biếm truất Thái Kinh, trọng dụng Lư Cương làm tể tướng. Tuy vậy, Khâm Tông là con người hồ đồ, vô tài, nghe lời gian thần sàm tấu, chẳng bao lâu sau liền cách chức Lư Cương, cầu ḥa với quân Kim. Năm 1127, nhằm đúng năm Tĩnh Khang thứ hai, quân Kim đại phá Đông Kinh, bắt giải cha con Huy Tông và Khâm Tông về đất Kim. Sử gọi sự kiện này là Tĩnh Khang Chi Biến, hoặc Tĩnh Khang Chi Nhục. Ngay trong năm ấy, Kim Thái Tông hạ lệnh giáng Huy Tông và Khâm Tông làm thường dân. Đến năm Tĩnh Khang thứ ba (1128), bị giải về Thượng Kinh của đất Kim, hai vua bị buộc mặc thường phục, đến trước miếu Kim Thái Tổ, quỳ lạy, cử hành lễ Khiên Dương (lễ dắt dê, một h́nh thức rất sỉ nhục, v́ những con dê để tế vốn chỉ do bọn tiểu thái giám dắt đến chỗ tế), rồi sang điện Càn Nguyên bái lạy Kim Thái Tông, xưng thần. Huy Tông được phong là Hôn Đức Công, Khâm Tông được phong là Trùng Hôn Hầu. Đến tháng Mười, hai vua bị đày đi Hàn Châu (nay là huyện Lê Thọ thuộc tỉnh Cát Lâm), rồi đến tháng Bảy năm Thiên Hội thứ tám (1130) bị đưa sang giam lỏng ở thành Ngũ Quốc (nay là huyện Y Lan tỉnh Hắc Long Giang) cho đến khi chết.
[40] Theo Tông Môn Vũ Khố, Hải Ấn
Siêu Tín là một vị Tăng đời Tống, nối
pháp ngài Lang Nha Huệ Giác, trụ tŕ chùa Định Huệ
ở Tô Châu. Hành trạng của vị này không được
biết đến nhiều, ngoại trừ câu chuyện
được nhắc đến trên đây, cũng
như một vài câu Thiền ngữ được ghi lại
trong bộ Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Tập (sách số
1295, quyển 65, Tục Tạng Kinh) và Thiền Lâm Loại
Tụ.
[41] Viên Chiếu Tông Bổn (1020-1099), quê ở
huyện Vô Tích, Thường Châu (nay là huyện Vô Tích, tỉnh
Giang Tô), có pháp tự là Vô Triết, năm mười chín tuổi
xin xuất gia với ngài Đạo Thăng chùa Vĩnh An ở
Tô Châu, khổ tu mười năm mới được
thầy cho chánh thức xuống tóc, thọ Cụ Túc Giới.
Sau đó, Sư đến học với Thiên Y Hoài Nhượng,
được khai ngộ. Về sau, Sư trụ tại
chùa Tịnh Từ, được tăng tục vùng Tô Châu
thỉnh hoằng pháp tại hai chùa Vạn Thọ và Long
Hoa, cả ngàn người nghênh tiếp Sư về chùa giảng
pháp. Năm Nguyên Phong thứ năm (1082), Sư được
Tống Thần Tông vời vào điện Diên Ḥa hỏi
đạo. Tống Triết Tông phong tặng Sư danh hiệu
Viên Chiếu thiền sư. Nguyên Hựu nguyên niên (1086),
Sư viện cớ già lăo, xin quy ẩn, những người
theo đưa tiễn nghe Sư giáo huấn lệ tuôn
như suối. Về già, Sư bế môn tại chùa Linh
Quang chuyên tu Thiền và Tịnh nghiệp. Sư thích diễn
giảng Hoa Nghiêm, được người
đương thời khen là đă thấu đạt sâu
xa chỗ huyền áo của kinh Hoa Nghiêm. Sư c̣n để
lại những trước tác như Quy Nguyên Trực Chỉ
(2 quyển), Huệ Biện Lục (1 quyển) v.v…
[42] Tần Cối (1094-1155), tự Hội
Chi, quê ở Giang Ninh (nay là thành phố Nam Kinh), đậu
Tiến Sĩ năm Chánh Ḥa thứ năm (1115) đời
Tống Huy Tông. Do cưới cháu ngoại của Tể
Tướng Vương Khuê, nên hoạn lộ thăng tiến
rất nhanh. Khi Tống Huy Tông và Khâm Tông bị quân Kim bắt
về Bắc, Tần Cối cũng bị bắt theo. Sau
khi được thả trở về
[43] Nguyên thủy từ ngữ này là “du tạc
cối” (Tần Cối chiên dầu, âm Quảng Đông là Dầu
Chá Quẩy), nhưng do vùng Quảng Đông đọc chữ
Quỷ cùng âm với chữ Cối nên dần dần bị
viết trại thành Du Điều Quỷ (âm Quảng
Đông là Dầu Cháo Quẩy), rồi thành Du Xao Quỷ.
[44] Ngột Truật (?-1148) họ Hoàn Nhan.
Do lấy theo tên họ người Hán là Vương Tông Bật,
nên đôi khi sử c̣n gọi là Hoàn Nhan Tông Bật, dân gian
thường gọi là Kim Ngột Truật. Ngột Truật
là con thứ tư của Kim Thái Tổ (Hoàn Nhan A Cốt
Đả). Ngột Truật rất giỏi dùng quân nên
được phong chức Đô Nguyên Soái, lănh Hành Đài
Thượng Thư Sự, chủ tŕ xâm lăng tiêu diệt
nhà Nam Tống. Ngột Truật từng đại bại
thê thảm dưới tay Nhạc Phi và Hàn Thế Trung.
Năm 1130, Nhạc Phi đại phá quân Ngột Truật tại
núi Ngưu Đầu khiến cho Ngột Truật phải
tháo chạy, lui về giữ Khai Phong, tính bỏ luôn cuộc
Nam xâm, phải chấp nhận kư ḥa ước với Nam Tống.
Do mua chuộc được Tần Cối, bày mưu cho Tần
Cối hăm hại Nhạc Phi và Hàn Thế Trung, Ngột Truật
đă dễ dàng đập tan sự kháng cự của Nam
Tống, biến Nam Tống thành chư hầu nhược
tiểu của nước Kim. Bởi vậy, Ngột Truật
bị người Hoa căm ghét không thua ǵ Tần Cối!
[45] Tham khấu: Đến tham học với
các bậc tôn túc đă ngộ đạo.
[46] Vân Môn Văn Yển (864-949) là sơ tổ
tông Vân Môn, quê ở huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết
Giang. Sư mang chí hướng xuất gia từ nhỏ, xin
thế độ với ngài Chí Trừng tại chùa Không
Vương ở Gia Hưng. Không lâu sau, được thọ
Cụ Túc, học rộng khắp các kinh điển, đặc
biệt nghiên cứu tinh tường Tứ Phần Luật.
Sau đó sang Mục Châu tham học với ngài Đạo
Minh, thấu hiểu Thiền chỉ. Rồi Sư tham học
với Tuyết Phong Nghĩa Tồn, được ấn
khả. Năm Càn Hóa nguyên niên (911), đến Tào Khê lễ
tháp Lục Tổ, tham học với ngài Linh Thọ Như
Mẫn, được nối pháp vị này. Do Sư trụ
tại chùa Quang Thái núi Vân Môn nên tông phong của Ngài
được gọi là Vân Môn.
[47] Long Môn c̣n gọi là Vũ Môn, là nơi
theo truyền thuyết con cá chép nào vượt ngược
sóng, nhảy qua được ba bậc của thác Vũ
Môn sẽ biến thành rồng.
[48] Đàn Hương (Sandalwood), tức Chiên Đàn, là một loại thuộc gỗ thơm, c̣n có tên là Bạch Đàn, vốn phát xuất từ Ấn Độ. Gỗ có sắc vàng, có mùi thơm ngát, dịu dàng nên thường được dùng để chế hương. Các loại Đàn Hương của Trung Quốc đôi khi chế bằng Giáng Đàn Hương, tức là một loài cây khác thuộc họ Đậu, sớ gỗ hơi hồng, có mùi thơm nhẹ hơn.
[49] Sự gia hộ được nói đến
ở đây bắt nguồn từ nghi vấn được
nhắc đến trong Giáo Quán Toát Yếu Luận: “Hàng Sơ Tâm thuộc Viên Giáo và
Biệt Giáo có được Phật gia hộ để
thấy được lư tánh hay không?” Theo luận ấy,
hàng Sơ Cơ Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm, nếu chỉ
dựa trên tự lực sẽ chẳng thấy được
lư tánh, do Phật lực gia hộ nên mới thấy
được tánh, mới hiểu được những
giáo nghĩa được giảng trong pháp hội Hoa
Nghiêm. Tổ nhấn mạnh người tham cứu tự
tánh sẽ được Phật lực gia hộ hay không
tùy theo sự hàm dưỡng của người ấy, nhắc
lại ư kiến chính của Giáo Quán Toát Yếu Luận là
Phật chỉ gia hộ cho những ai do thấy được
tánh rồi sẽ càng thêm khiêm nhượng, tấn tu, do tấn
tu sẽ ngày càng tăng tấn, do tâm càng thêm thanh tịnh
nên càng dễ cảm được Phật gia hộ. Tổ
dùng những ư này để đả phá kiến chấp của
ông Chương Duyên Tịnh cho rằng Niệm Phật phải
kèm thêm tham cứu cái tâm để được tăng
thêm phần gia hộ của Phật lực, chứ không lo
thật hành “tịnh niệm tiếp nối” ḥng giữ cho
cái tâm được thanh tịnh th́ tự nhiên cảm
được Phật gia hộ!
[50] Ư nói: Trong lúc tham cứu, được
Phật lực gia hộ nên thấy được tánh (tức
ngộ, nhưng chưa chứng), nhưng rồi không chịu
khiêm nhượng, tấn tu, vẫn giữ nguyên tập khí
cũ, sẽ dễ bị ma chướng, nên chẳng thà
không tham cứu, cứ chăm chú giữ cho tịnh niệm
tiếp nối mà niệm Phật sẽ được lợi
lạc hơn.
[51] Tiền Vũ Túc Vương tức Ngô Việt Thái Tổ, tên thật là Tiền Liêu (852-932), tự Cụ Mỹ (có sách ghi là Cự Mỹ), người huyện Lâm An, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, người sáng lập ra nước Ngô Việt vào thời Ngũ Đại. Vào cuối đời Đường, do theo tướng quân Đổng Xương dẹp yên loạn Hoàng Sào, Tiền Liêu lănh chức Trấn Hải Tiết Độ Sứ. Sau đó, Tiền Liêu đánh bại Đổng Xương, chiếm cứ mười ba châu huyện thuộc vùng Lưỡng Chiết (nay là toàn bộ tỉnh Chiết Giang, phần Đông Nam của tỉnh Giang Tô và phần Đông Bắc tỉnh Phước Kiến. Những vùng đất này thuộc lănh thổ nước Ngô và Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc, nên khu vực này được gọi chung là Ngô Việt), được phong làm Ngô Việt Vương. Tiền Liêu chú trọng phát triển nông nghiệp vùng Ngô Việt, cho đắp đê trên sông Tiền Đường từ năm 907 đến 932 để ngừa nạn lụt cũng như thiết kế mạng lưới thủy lợi nhằm điều ḥa mực sông. Chuyện bắn sóng để buộc thủy triều rút ra xa được tiến hành trong khoảng thời gian này. Nước Ngô Việt tồn tại từ năm 907 đến 978.
[52] Đổng Xương (?-896) là người
huyện Lâm An, tỉnh Chiết Giang. Năm Càn Phù thứ
hai (875) đời Đường Hy Tông, Vương Tŕnh dấy
loạn tại Giang Tây, Đổng Xương tự chiêu
mộ nghĩa quân chống lại. Sau khi đánh bại
Vương Tŕnh, Đổng Xương được
phong là Cảnh Trấn tướng quân. Năm Càn Phù thứ
sáu (879), Đổng Xương được sự phù tá
của Tiền Liêu, đánh bại loạn quân Hoàng Sào, giữ
yên được Hàng Châu, được thăng làm Thứ
Sử. Năm 883, Đổng Xương thừa cơ
đoạt binh quyền của Tiết Độ Sứ
Châu Bảo, trở thành một tay quân phiệt đáng gờm
ở vùng Chiết Giang. Năm 886, Đổng Xương
đem quân vượt sông Tiền Đường, đánh
bại Quan Sát Sứ vùng Chiết Đông là Lưu Hán Hoằng,
chiếm trọn Việt Châu. Do đút lót với triều
đ́nh, họ Đổng được phong làm Thái Úy,
Đồng Trung Thư Môn Hạ B́nh Chương Sự,
tước Lũng Tây Quận Vương. Năm Càn Ninh thứ
hai (895) đời Đường Chiêu Tông, do triều
đ́nh không phong cho họ Đổng làm vua vùng Ngô Việt,
y bèn làm phản, tự xưng là hoàng đế, đặt
quốc hiệu là Đại Việt La B́nh Quốc, lấy
niên hiệu là Thuận Thiên. Đổng Xương phong Tiền
Liêu làm Chỉ Huy Sứ, không ngờ Tiền Liêu khuyên họ
Đổng nên bỏ đế hiệu. Đổng
Xương không nghe liền bị Tiền Liêu trở giáo
làm phản đánh bại, rồi trúng kế giả chiêu
hàng của Tiền Liêu, bị giết chết tại
đô thành Việt Châu.
[53] Cuối đời Đường,
chính quyền trung ương suy vong, các tướng lănh quân
phiệt nổi lên cát cứ, tự lập quốc xưng
vương. Năm vương triều kế tục nhà
Đường trong thời gian trước khi Triệu
Khuông Dẫn thống nhất Trung Hoa lập ra nhà Tống,
được gọi chung là Ngũ Đại, gồm: Hậu
Lương (907-923), Hậu Đường (923-936) Hậu
Tấn (936-947), Hậu Hán (947-951) và Hậu Châu (951-960). Thịnh
Đường là thời gian Đường thi được
sáng tác phong phú, tuyệt diệu nhất trong đời
Đường, tức khoảng từ niên hiệu Khai Nguyên
cho đến hết niên hiệu Đại Lịch
(713-779), chứ không phải là thời gian nhà Đường
hưng thịnh nhất. Trong thời Thịnh Đường,
tuy văn chương thi phú rất hưng thịnh, chính sự
lại rất rối ren, điển h́nh là loạn An Lộc
Sơn xảy ra vào cuối niên hiệu Khai Nguyên của
Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng).
[54] Vĩnh Thục là tên tự của Âu
Dương Tu. Ông này rất nổi tiếng về những
bài văn đả kích, xuyên tạc Phật giáo. Hai bộ
Tân Đường Thư và Tân Ngũ Đại Sử của
ông ta có rất nhiều câu miệt thị những vua chúa
tôn sùng Phật giáo là mê tín, hủ bại, giả nhân giả
nghĩa, cũng như thẳng tay gạt bỏ những
nhân vật và sự kiện thuộc giới Phật giáo
đă chép trong hai bộ Cựu Đường Thư và Tân
Ngũ Đại Sử.
[55] Bài Lang Cương Biểu do Âu
Dương Tu viết vào năm sáu mươi bốn tuổi
để truy điệu cha, lời lẽ rất cảm
động, hết lời đề cao cha mẹ như những
con người nhân đức, ưa làm lành.
[56] Tử Dương là tên tự của
Công Tôn Thuật (?-36), người xứ Mậu Lăng (nay
là huyện Hưng B́nh, tỉnh Thiểm Tây) là một chính
trị gia thời Hán. Thoạt đầu được
phong làm Huyện Trưởng huyện Thanh Thủy (tỉnh
Cam Túc), giữ yên một phương thái b́nh, nên Công Tôn Thuật
rất kiêu ngạo, cho là ḿnh tài năng không ai hơn. Đến
khi Vương Măng soán đoạt ngôi vua từ tay nhà Tây
Hán, Công Tôn Thuật quy phục, được phong làm châu mục
Ích Châu. Khi Quang Vũ trùng hưng nhà Hán vào năm 25, Công Tôn
Thuật bèn tự xưng đế, đặt quốc hiệu
là Thành Gia, niên hiệu là Long Hưng. Năm Kiến Vũ 12
(36 Tây Lịch), Đại Tư Mă Ngô Hán tấn công Thành
Đô, giết sạch cả nhà họ Công Tôn, nước
Thành Gia diệt vong. Trong Hán Thư quyển 5, truyện Mă Viện,
có chép Mă Viện từng chê: “Tử
Dương (Công Tôn Thuật) là hạng ếch ngồi
đáy giếng mà vẫn lầm lạc tự tôn, tự
đại”; do đó mới có điển tích “Tử Dương tự đại
chi tâm”.
[57] Trung Ư Vương (929-988) tên thật là Tiền Thục, cháu gọi Vũ Túc Vương Tiền Liêu bằng ông, là vua thứ năm của nước Ngô Việt. Năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ hai (978) đời Tống, khi Tống Thái Tông thôn tính các nước chư hầu, Tiền Thục yếu thế, phải đến Biện Kinh. Để tránh cảnh tàn sát vô ích, Tiền Thục bằng ḷng quy thuộc nhà Tống. Trung Ư Vương là thụy hiệu được Tống Thái Tông phong tặng sau khi ông mất.
[58] Tất Đàn (Siddhānta), dịch nghĩa là Tác Thành Tựu, Tông, Lư v.v… nghĩa là sự giáo hóa của đức Phật có thể chia thành bốn loại tổng quát, tức “thế giới, mỗi chuyện đều v́ người khác, đối trị và đệ nhất nghĩa”. Theo Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa quyển một, chữ Tất Đàn là hợp dịch của tiếng Phạn và tiếng Hán, Tất là trọn khắp, Đàn là Đàn Na (dāna), tức bố thí. Đại Trí Độ Luận quyển một, giải thích chi tiết hơn về Tứ Tất Đàn như sau:
1. Thế Giới Tất Đàn: Tùy thuận pháp thế gian, nói ư nghĩa nhân duyên ḥa hợp. Nói cách khác là dùng những tư tưởng, ngôn ngữ của thế gian để thuyết minh chân lư duyên khởi.
2. Các Các Vi Nhân Tất Đàn (gọi tắt là Nhân Tất Đàn): Ứng theo căn cơ, năng lực sai biệt của từng chúng sanh mà nói ra những pháp thực tiễn để chúng sanh sanh khởi thiện căn. V́ thế, Tất Đàn này c̣n gọi là Sanh Thiện Tất Đàn.
3. Đối Trị Tất Đàn: Ứng theo từng phiền năo, từng chứng bệnh tham - sân - si của chúng sanh mà nói pháp đối trị. Do Tất Đàn này có tác dụng diệt trừ hết thảy phiền năo ác nghiệp, nên c̣n gọi là Đoạn Ác Tất Đàn.
4. Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn: Phá trừ hết thảy luận nghị, ngôn ngữ, trực tiếp thuyết minh lư Thật Tướng Đệ Nhất Nghĩa Đế, khiến cho chúng sanh thật sự khế nhập giáo pháp. Do vậy, Tất Đàn này c̣n gọi là Nhập Lư Tất Đàn.
[59] Kim thang là nói gọn của “kim thành thang tŕ”, tức thành
dày vững như sắt, hào sâu thăm thẳm như ao
nước sôi, không dễ ǵ vượt qua được.