23. Thập Phương Phật Tán ( : Mười phương Phật khen ngợi)

Phẩm này gồm ba ư chính:

1. Mười phương chư Phật khen ngợi.

2. Thâm ư những lời khen của chư Phật.

3. Công đức chẳng thể nghĩ bàn của nhất niệm tịnh tín.

Chánh kinh:

難,東 界,一 佛,各 相,放 光,說 言,稱 德。南 西 界,諸 是。四 界,諸 是。

Phục thứ A Nan! Đông phương Hằng hà sa số thế giới, nhất nhất giới trung như Hằng sa Phật, các xuất quảng trường thiệt tướng, phóng vô lượng quang, thuyết thành thật ngôn, xưng tán Vô Lượng Thọ Phật bất khả tư nghị công đức. Nam, Tây, Bắc phương Hằng sa thế giới, chư Phật xưng tán diệc phục như thị. Tứ duy thượng hạ Hằng sa thế giới, chư Phật xưng tán diệc phục như thị.

Lại này A Nan! Hằng hà sa số thế giới ở phương Đông, trong mỗi một thế giới, [các vị] Phật như cát sông Hằng, mỗi vị đều hiện tướng lưỡi rộng dài, phóng vô lượng quang, nói lời thành thực khen ngợi Vô Lượng Thọ Phật công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chư Phật trong hằng sa thế giới nơi phương Nam, Tây, Bắc cũng khen ngợi như thế. Chư Phật trong hằng sa thế giới ở bốn phương bàng, trên, dưới cũng khen ngợi như vậy.

Giải:

Trước hết nói đến phương Đông là thuận theo thế tục: Mặt trời mọc từ phương Đông. Các thế giới trong phương Đông nhiều như số cát sông Hằng (Hằng hà sa số). Trong mỗi một thế giới đều có Hằng hà sa số Phật. Mỗi đức Phật “các xuất quảng trường thiệt tướng phóng vô lượng quang, thuyết thành thật ngôn” (đều hiện tướng lưỡi rộng dài, phóng vô lượng quang nói lời thành thật).

“Quảng trường thiệt tướng” (Tướng lưỡi rộng dài) chính là một trong ba mươi hai tướng hảo. Lưỡi to, dài, mềm mại, đỏ tươi, mỏng mảnh, thè ra có thể che cả mặt đến tận mí tóc. Trong sách Viên Trung Sao, đại sư Cừ Am viết: “Hiện tướng lưỡi rộng dài nhằm biểu thị chẳng hư vọng. Từ vô lượng kiếp đến nay, miệng không phạm bốn lỗi nên cảm được tướng này”.

Sách Sớ Sao cũng nói: “Bởi Thế Tôn nhiều kiếp nói lời thành thật nên tướng lưỡi rộng dài khác lạ thường nhân. Nhưng [tướng lưỡi của Phật] lại có thường tướng và hiện tướng khác biệt. Nếu là thường tướng th́ ngậm vào vừa khít trong miệng, thè ra th́ che cả mặt đến tận mí tóc. Để làm cho ngoại đạo sanh ḷng tin, Phật đă từng hiện bày tướng như vậy. C̣n nếu là hiện tướng th́ có lớn, nhỏ sai khác”.

Kinh A Di Đà chép: “Như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (Hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở trong nước ḿnh hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức được hết thảy chư Phật hộ niệm này).

Kinh bảo: “Biến phú tam thiên đại thiên thế giới” (Che khắp tam thiên đại thiên thế giới), đấy chính là “hiện tướng” thù thắng. Đem so kinh này với Tiểu Bổn th́ Đại kinh chẳng nói “biến phú” (che khắp) nhưng nói “phóng vô lượng quang” th́ biết là tướng lưỡi này chính là quang minh ấy, quang minh ấy chính là tướng lưỡi này chẳng hai, chẳng khác. Kinh nói: “Phóng vô lượng quang” nên ta biết rằng pháp âm vang vọng vượt khỏi cả tam thiên đại thiên thế giới.

Sách Viên Trung Sao c̣n viết tiếp rằng:

“Kinh Pháp Hoa chỉ nói đến cao nhưng không nói đến rộng nên kinh ấy chỉ nói [pháp âm] thấu đến trời Phạm Thế. Kinh này nói về rộng nhưng chẳng nói đến cao nên bảo là ‘biến phú tam thiên đại thiên thế giới’. Cần biết rằng hai kinh nói giống nhau, chỉ v́ kinh văn giản lược nên chỉ riêng nêu một phương diện, nhưng đều cùng biểu thị chẳng hư vọng; hiện tướng này để làm cho người nghe sanh ḷng tin mà thôi.

Lại xét về nghĩa, th́ kinh Pháp Hoa nói đến việc vượt ra ngoài tam giới theo chiều dọc nên chỉ nói đến cao. Kinh này nói cách vượt ngang khỏi tam giới nên chỉ bàn về rộng; nhưng ngang chính là dọc, dọc chính là ngang, văn tuy giản lược, nhưng ư nghĩa tương đồng”. Giáo nghĩa này của sách Viên Trung Sao thật là tinh diệu khiến người khác sanh ḷng tin sâu xa.

Từ Ân pháp sư lại bảo: “Để chứng thực việc nhỏ th́ Phật hiện tướng lưỡi hiện che cả mặt đến tận mí tóc. Nay kinh đây nói che khắp đại thiên là để chứng thực đại sự”. Ngài c̣n bảo: “Bồ Tát đắc tướng lưỡi che mặt nên chẳng nói hai lời, toàn nói lời chân thật. Lưỡi mới chỉ che mặt th́ đă chẳng hư vọng, huống là che được cả đại thiên!” V́ vậy, bọn chúng ta phải nên sanh ḷng tin chân thật đối với lời khen ngợi của chư Phật.

Thuyết thành thật ngôn” (Nói lời thành thật): Nói lời chí thành, chân thật, chẳng dối. Sách Di Đà Sớ Sao nói: “Thành thật ắt là đáng tin v́ Thành () là chân thật, khẩn thiết, không trá ngụy. Thật  () là chắc chắn đúng, chẳng dối. Đó là sư tử hống, vô úy thuyết, dẫu ngàn vị thánh nhân xuất hiện cũng chẳng thể thay đổi được, muôn đời giữ lấy làm khuôn phép vậy”. Sách c̣n viết: “Thuần chân, dứt vọng, vạn kiếp vẫn như thế. Nói lời thành thật, c̣n ǵ hơn thế!” Như vậy, lời chư Phật khen “Vô Lượng Thọ Phật công đức chẳng thể nghĩ bàn” chính là lời cực chân, cực thật, ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thể biến cải, muôn đời tuân thủ chẳng thể trái nghịch; thuần là chân thật chẳng hề hư vọng. Do vậy, bọn chúng ta đều phải nên tin chắc, chớ ôm ḷng nghi.

Về chữ “bất khả tư nghị công đức” (công đức chẳng thể nghĩ bàn) xin xem lại lời giải thích trong phẩm mười một.

Kế đó, kinh nói mười phương hằng sa chư Phật cũng đều khen ngợi đức Di Đà như thế. Sách Hội Sớ nói: “Tuy chư Phật chứng đắc b́nh đẳng như một, nhưng cái lợi ích Niệm Phật được văng sanh là diệu pháp bất cộng của Phật Di Đà nên chư Phật nhượng đức, dạy quy về một đức Phật. Đấy là kết quả của lời nguyện mười bảy vậy”. Ư nói: Phật, Phật đạo đồng, chẳng có cao, thấp; nhưng pháp môn Niệm Phật Văng Sanh chính là diệu pháp bất cộng của Phật Di Đà nên cái lợi ích đó cũng là bất cộng. V́ vậy, chư Phật kính nhường phẩm đức của A Di Đà Phật, nhằm hiển thị công đức vô biên của hết thảy chư Phật đều quy về một đức Phật Di Đà, ngơ hầu mười phương chúng sanh đều nhập Di Đà nguyện hải, văng sanh thế giới Cực Lạc. Đấy chính là nguyện thứ mười bảy “chư Phật khen ngợi” được thành tựu. Mười phương Phật khen ngợi th́ danh hiệu mới có thể vang khắp mười phương, nhiếp trọn vô biên chúng sanh cùng quy hướng Cực Lạc.

Chánh kinh:

故?欲 生,聞 名,發 心,憶 持,歸 養。乃 信,所 根,至 向,願 國。隨 生,得 退 轉,乃 提。

Hà dĩ cố? Dục linh tha phương sở hữu chúng sanh, văn bỉ Phật danh, phát thanh tịnh tâm, ức niệm thọ tŕ, quy y cúng dường. Năi chí năng phát nhất niệm tịnh tín, sở hữu thiện căn, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tùy nguyện giai sanh, đắc Bất Thoái Chuyển, năi chí Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.

V́ sao thế? Muốn khiến cho tất cả chúng sanh trong các phương khác nghe danh hiệu đức Phật ấy phát tâm thanh tịnh, ức niệm, thọ tŕ, quy y, cúng dường, cho đến phát sanh được một niệm tịnh tín, [đem] tất cả thiện căn chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi kia, tùy nguyện đều sanh, đắc Bất Thoái Chuyển cho đến thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.

Giải:

Đoạn này giảng rơ nguyên nhân chủ yếu v́ sao chư Phật khen ngợi: V́ muốn cho chúng sanh nghe danh hiệu sanh ḷng tin, phát nguyện cầu sanh, ắt chứng Vô Thượng Bồ Đề.

Sách Hội Sớ nói: “Đây chính là nguyện mười tám được thành tựu. Chỗ quy thú của cả bộ kinh chỉ là ở điểm này. V́ sao vậy? Tuy cả bốn mươi tám nguyện đều thù thắng, nhưng Niệm Phật Văng Sanh là cốt yếu nhất. Tuy sự thành tựu của mỗi nguyện đều là khó thể nghĩ tưởng nổi, nhưng nguyện này thành tựu mới là bất cộng; v́ vậy chư Phật ngợi khen”.

Sách Giáo Hạnh Tín Chứng giảng câu “văn bỉ Phật danh” (nghe danh hiệu Phật ấy) như sau: “Chữ Văn () có nghĩa là chúng sanh nghe gốc ngọn sanh khởi của lời Phật nguyện mà chẳng có tâm nghi th́ đó mới là Văn”. Nghe danh hiệu được phước nên có thể phát sanh ḷng tin thanh tịnh. “Thanh tịnh tâm” chính là ḷng tin chẳng nghi, c̣n có nghĩa là ḷng tin trong sạch chẳng cấu nhiễm. Sách Thắng Man Bảo Quật, quyển thượng nói: “Thanh tịnh tâm là ḷng tin trong sạch, khởi tâm tin trong sạch, lại c̣n có nghĩa là tâm chẳng có phiền năo lẫn vào th́ gọi là tâm thanh tịnh”.

“Ức niệm thọ tŕ”: Thọ () là tin nhận, Tŕ () là giữ vững, Ức  () là nhớ đến công đức của Phật, Niệm () là niệm danh hiệu Phật. “Quy y” ( ) là thân tâm quy hướng, nương theo chẳng bỏ. “Cúng dường” là như sách Huyền Tán bảo: “Dâng tài, hạnh là Cúng (); giữ ǵn, giúp đỡ là Dường ()”. Chữ “tài, hạnh” chỉ hai thứ cúng dường:

1. Một là Tài Cúng Dường tức là cúng những vật như hương, hoa, thuốc men, tài vật, đầu, mắt, tủy, năo, núi, sông, đại địa…

2. Hai là Pháp Cúng Dường: Tu hành đúng như lời dạy để cúng dường.

Sách Di Đà Sớ Sao viết: “Thanh Lương đại sư nói: ‘Đại Hạnh ḥa thượng đời Cao Tề tôn sùng niệm Phật, dùng bốn chữ để dạy dỗ: Hai chữ ức niệm chẳng rời nơi tâm; hai chữ xưng kính chẳng rời nơi miệng”. Đấy chính là ư chỉ của câu “ức niệm thọ tŕ, quy y cúng dường” trong kinh này.

Sách Sớ Sao c̣n nói: “Để văng sanh Tịnh Độ phải có ḷng tin. Ngàn người tin, ngàn người sanh, vạn người tin, vạn người sanh. Tin vào danh hiệu Phật th́ chư Phật liền cứu, chư Phật liền hộ tŕ. Tâm luôn nhớ Phật, miệng thường niệm Phật, thân luôn kính Phật th́ mới gọi là thâm tín. Dù phát tâm sớm hay muộn cũng chẳng hề trụ vào pháp nào của cơi Diêm Phù Đề nữa. Cách thúc đẩy, phát khởi này là thiết yếu nhất”.

Đoạn kinh này lại đặc biệt nói tới “nhất niệm tịnh tín”“chí tâm nguyện sanh”; đấy đều là công đức tùy ḷng nguyện mà được văng sanh chẳng thể nghĩ bàn. Sách Hội Sớ giảng chữ “nhất niệm” như sau: “Nghĩa là chánh nhân văng sanh chỉ cốt ở ḷng tin trong mỗi niệm, chẳng nệ là niệm nhiều hay ít”. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng cũng nói: “Một niệm có nghĩa là tín tâm không nhị tâm nên bảo là ‘nhất niệm’. Đấy gọi là Nhất Tâm. Nhất tâm là cái nhân chân chánh của thanh tịnh báo độ, đạt được kim cang chân tâm, vượt ngang khỏi năm đường tám nạn, ắt đạt được mười thứ lợi ích ngay trong đời hiện tại: Một là được quỷ thần, thánh chúng thủ hộ, cho đến điều lợi ích thứ mười là nhập Chánh Định Tụ”.

Sách Di Đà Sớ Sao lại viết: “Tín chính là tịnh tâm. Thành Duy Thức Luận nói: ‘Tín là thật đức có thể nhẫn được dục lạc một cách sâu xa. Tâm tịnh là tánh. Sao lại bảo là tịnh tâm? Là v́ tâm thù thắng như thủy thanh châu lóng trong nước đục. Các nhiễm pháp lại đều có tự tướng. Chỉ do chẳng tin nên tự tướng bị vẩn đục, lại khiến cho tâm, tâm sở cũng bị vẩn đục như vật cực dơ đă tự khiến ḿnh dơ lại c̣n làm dơ vật khác. Tín có thể chuyển biến điều ấy nên tịnh là tướng’. Nay tu Tịnh Độ th́ tâm tịnh là điều cốt yếu nên Tín là nhiệm vụ cấp bách thật đă quá rơ vậy”.

Do đó, kinh A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà Ra Ni dạy: “An Lạc thế giới, sở hữu Phật pháp bất khả tư nghị, thần thông hiện hóa, chủng chủng phương tiện, bất khả tư nghị. Nhược năng hữu tín như thị chi sự, đương tri thị nhân bất khả tư nghị, sở đắc nghiệp báo diệc bất khả tư nghị” (Trong thế giới An Lạc, tất cả Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, thần thông biến hóa, các thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Nếu ai tin được những việc như vậy th́ nên biết là người ấy là chẳng thể nghĩ bàn, đạt được nghiệp báo cũng chẳng thể nghĩ bàn). Sách Yếu Giải cũng nói: “Chỉ có bậc đại trí mới có thể tin chắc thật”.

Sách An Lạc Tập dựa theo sách Luận Chú lập ra ba tâm: Một là Thuần Tâm tức là tín tâm sâu dày; hai là Nhất Tâm tức là tín tâm thuần nhất; ba là Tương Tục Tâm tức là tín tâm liên tục chẳng tạp các niệm khác, lại c̣n bảo: “Nếu có thể liên tục th́ chính là nhất tâm. Nếu có thể nhất tâm th́ chính là thuần tâm. Đủ cả ba tâm này mà lại chẳng văng sanh th́ quyết chẳng có lẽ ấy”.

Xét chung các kinh, luận: Sớ Sao bảo “Tín chính là tịnh tâm”, Cổ Âm Kinh bảo tin được những việc như thế là chẳng thể nghĩ bàn; Yếu Giải bảo tín chính là đại trí; An Lạc Tập bảo “đủ cả ba tâm ấy mà lại chẳng văng sanh th́ quyết chẳng có lẽ ấy”. Các thuyết trên cùng chỉ rơ tín tâm thanh tịnh là quư nhất.

Kinh này lại thêm hai chữ “nhất niệm” thành ra “nhất niệm tịnh tín” đủ thấy tín tâm này chính là “bách xích can đầu, hựu tấn nhất bộ” (nơi đầu sào trăm thước tiến thêm bước nữa), há có thể suy lường nổi ư! Câu: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm, ngôn ngữ bặt dứt, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai” trong sách Tín Tâm Minh của Tứ Tổ Thiền Tông thật có cùng một ư chỉ với kinh này.

Sách Hội Sớ bảo tâm tịnh tín là “chánh nhân để văng sanh”; sách Giáo Hạnh Tín Chứng xưng tụng tín tâm là “cái nhân chân thật của thanh tịnh báo độ”. Cả hai sách cùng bảo “nhất niệm chính là nhất tâm” (Sách Chỉ Quán, quyển năm bảo: “Nhất tâm có đủ cả mười pháp giới”. Do đó, nhất tâm chính là thật thể của vạn hữu mà cũng chính là Chân Như). Nhất tâm c̣n được gọi là kim cang tâm, có khả năng mở toang con mắt trí huệ trong tâm mỗi người. Ở đây, tôi không nói lôi thôi nhiều để tránh vẽ rắn thêm chân.

Trong câu “chí tâm hồi hướng nguyện sanh bỉ quốc” (chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi kia), chí tâm chính là tâm chí thành được nói trong Quán kinh. Sách Tứ Thiếp Sớ (Quán Kinh Sớ của tổ Thiện Đạo) nói: “Chí () là chân, Thành () là thật. Ư nói: Hết thảy chúng sanh khi tu các hạnh giải nơi thân, khẩu, ư nghiệp th́ đều phải thực hiện bằng tâm chân thật; chẳng được bề ngoài làm ra vẻ hiền, thiện, tinh tấn, bên trong ôm ḷng hư giả, tham, sân, tà ngụy, gian trá trăm chiều, ác tánh khó lay, sự như rắn rết. Tuy khởi tam nghiệp nhưng chỉ đáng gọi là sự lành tạp độc, cũng gọi là hạnh hư giả, chẳng thể gọi là nghiệp chân thật”.

“Hồi hướng” là đem hết thảy thiện căn chính ḿnh đă tu hướng đến chúng sanh cũng như hướng đến Phật đạo.

Tiếp đó, kinh nói: “Nguyện sanh bỉ quốc” (Nguyện sanh sang cơi kia) là hồi hướng tín hạnh của chính ḿnh để cầu văng sanh. Đây cũng chính là tâm hồi hướng phát nguyện trong ba tâm được nói trong Quán kinh. Kinh dạy: “Nhất giả chí thành tâm, nhị giả thâm tâm, tam giả hồi hướng phát nguyện tâm, cụ tam tâm giả, tất sanh bỉ quốc” (Một là tâm chí thành, hai là thâm tâm, ba là tâm hồi hướng phát nguyện. Đủ cả ba tâm, ắt sanh sang cơi kia).

Sách Hội Sớ nói: “Hồi hướng có tự lực hồi hướng và tha lực hồi hướng. Nếu đem nhân hạnh của chính ḿnh để hồi hướng đến cái quả trong mai sau th́ là tự lực. Chuyên cậy vào Phật nguyện, chẳng cậy đến sức lực của chính ḿnh th́ là tha lực; chẳng phải là phàm t́nh hồi hướng nên cũng gọi là bất hồi hướng” (Chẳng cậy vào tự lực, hoàn toàn dựa vào tha lực th́ phàm t́nh chẳng thể hiểu biết sự hồi hướng như thế nên gọi là “bất hồi hướng”). Kinh Đại Phẩm Bát Nhă nói: “Bồ Tát như thị hồi hướng, tắc bất đọa tưởng điên đảo, kiến điên đảo, tâm điên đảo. Hà dĩ cố? Thị Bồ Tát bất tham trước hồi hướng cố. Thị danh vô thượng hồi hướng” (Bồ Tát hồi hướng như vậy sẽ chẳng đọa vào tưởng điên đảo, kiến điên đảo, tâm điên đảo. V́ cớ sao? V́ Bồ Tát ấy chẳng tham đắm mà hồi hướng. Đó gọi là vô thượng hồi hướng). Phàm t́nh gọi đó là bất hồi hướng, nhưng thật ra chính là vô thượng hồi hướng.

Tịnh Độ là tha lực pháp môn, sáu chữ hồng danh Di Đà và Nhất Thừa nguyện hải đều là Tha Lực. Nương vào Phật nguyện hồi hướng văng sanh chính là vô thượng hồi hướng. V́ vậy, sanh được một niệm tịnh tín, đem tất cả thiện căn chí thành hồi hướng th́ “tùy nguyện giai sanh” (tùy nguyện đều sanh) như sách Hội Sớ đă khai thị: “Chỉ cốt tin được trong một niệm, chẳng nệ niệm nhiều hay ít”. Sách Yếu Giải cũng bảo: “Nếu tín nguyện kiên cố th́ dẫu khi lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết định được văng sanh. Nếu không tín nguyện th́ dù có tŕ danh đến mức gió chẳng thổi lọt, mưa chẳng ướt nổi, khác nào tường đồng vách sắt th́ cũng chẳng thể văng sanh nổi!”

Các bậc đại đức của Trung Hoa lẫn Nhật Bản đều xem tín nguyện là chánh nhân văng sanh, đều xem tín nguyện là con mắt của cả trời lẫn người. Sách Di Đà Sớ Sao cũng nói: “Chỉ có nguyện th́ không một người nào chẳng sanh. Đă biết là nguyện lực rộng lớn như thế th́ há đâu chẳng tin, lẽ nào chẳng nguyện!”. Người tu Tịnh nghiệp thật phải nên khắc cốt ghi tâm, chẳng chút tạm quên câu “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” của kinh này cũng như câu “tín nguyện tŕ danh” trong kinh Tiểu Bổn vậy.

Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận cũng bảo “nhất niệm” có cùng ư nghĩa với “chí tâm hồi hướng”. Luận bảo:

“Một niệm chí tâm hồi hướng liền được văng sanh. Hành giả nếu có thể một niệm chân thành tin nhận th́ cần ǵ phải bận tâm đến những thứ phụ trợ khác. Hết thảy chúng sanh nổi trôi trong sanh tử chỉ nghĩ đến một niệm này, không nghĩ ǵ khác; dẫu cho đến lúc ngộ được Chân Tánh, trở về nguồn gốc, thành Đẳng Chánh Giác vẫn chỉ có một niệm này không có niệm nào khác.

Đại Trí Độ Luận nói: ‘Hành Bát Nhă Ba La Mật Đa th́ trong một niệm có thể nghiền thành vi trần hết thảy đại địa, núi non trong các tam thiên đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng trong cả mười phương’. Sức của nhất niệm chẳng thể nghĩ bàn. Niệm Phật như vậy th́ tâm này chính là Phật, Phật chính là tâm, chẳng trong, chẳng ngoài, không trói buộc, không giải thoát, khắp cả núi, sông, đại địa, mười phương hư không chẳng một nơi nào dẫu nhỏ bằng hạt cải lại chẳng phải là chỗ đức Vô Lượng Thọ Phật hiện thân thuyết pháp, cho đến ly chính là phi ly, nhập ngay vào đại quang minh tạng của Như Lai”.