23. Thập Phương Phật Tán (十 方 佛 讚: Mười phương Phật khen ngợi)
Phẩm này gồm ba ư chính:
1. Mười phương chư Phật khen ngợi.
2. Thâm ư những lời khen của chư Phật.
3. Công đức chẳng thể nghĩ bàn của nhất
niệm tịnh tín.
Chánh kinh:
復 次 阿 難,東 方 恆 河 沙 數 世 界,一 一 界 中 如 恆 沙 佛,各 出 廣 長 舌 相,放 無 量 光,說 誠 實 言,稱 讚 無 量 壽 佛 不 可 思 議 功 德。南 西 北 方 恆 沙 世 界,諸 佛 稱 讚 亦 復 如 是。四 維 上 下 恆 沙 世 界,諸 佛 稱 讚 亦 復 如 是。
Phục
thứ A
Lại này A
Giải:
Trước hết nói đến phương Đông là thuận
theo thế tục: Mặt trời mọc từ
phương Đông. Các thế giới trong phương Đông nhiều
như số cát sông Hằng (Hằng hà sa số). Trong mỗi một thế giới đều có Hằng
hà sa số Phật. Mỗi đức Phật “các xuất quảng trường
thiệt tướng phóng vô lượng quang, thuyết thành thật ngôn” (đều hiện tướng lưỡi
rộng dài, phóng vô lượng quang nói lời thành thật).
“Quảng trường thiệt
tướng” (Tướng lưỡi rộng dài) chính là một
trong ba mươi hai tướng hảo. Lưỡi to,
dài, mềm mại, đỏ tươi, mỏng mảnh,
thè ra có thể che cả mặt đến tận mí tóc.
Trong sách Viên Trung Sao, đại sư Cừ Am viết: “Hiện tướng lưỡi
rộng dài nhằm biểu thị chẳng hư vọng.
Từ vô lượng kiếp đến nay, miệng không
phạm bốn lỗi nên cảm được tướng
này”.
Sách Sớ Sao cũng nói: “Bởi
Thế Tôn nhiều kiếp nói lời thành thật nên tướng
lưỡi rộng dài khác lạ thường nhân. Nhưng
[tướng lưỡi của Phật] lại có thường
tướng và hiện tướng khác biệt. Nếu là
thường tướng th́ ngậm vào vừa khít trong miệng, thè ra th́ che cả mặt
đến tận mí tóc. Để làm cho ngoại đạo
sanh ḷng tin, Phật đă từng hiện bày tướng như
vậy. C̣n nếu là hiện tướng th́ có lớn, nhỏ
sai khác”.
Kinh A Di Đà chép: “Như thị
đẳng Hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ
quốc, xuất quảng trường thiệt tướng,
biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết
thành thật ngôn: ‘Nhữ
đẳng chúng sanh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm Kinh” (Hằng hà sa số
chư Phật như thế, mỗi vị ở trong
nước ḿnh hiện tướng lưỡi rộng dài
che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời
thành thật: Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức được hết thảy
chư Phật hộ niệm này).
Kinh bảo: “Biến phú tam
thiên đại thiên thế giới” (Che khắp tam thiên đại thiên thế giới),
đấy chính là “hiện tướng” thù thắng.
Đem so kinh này với Tiểu Bổn th́ Đại kinh chẳng
nói “biến phú” (che khắp)
nhưng nói “phóng vô lượng
quang” th́ biết là tướng lưỡi này chính là
quang minh ấy, quang minh ấy chính là tướng lưỡi
này chẳng hai, chẳng khác. Kinh nói: “Phóng vô lượng quang” nên ta biết rằng pháp
âm vang vọng vượt khỏi cả tam thiên đại
thiên thế giới.
Sách Viên Trung Sao c̣n viết tiếp rằng:
“Kinh Pháp Hoa chỉ nói đến
cao nhưng không nói đến rộng nên kinh ấy chỉ
nói [pháp âm] thấu đến trời Phạm Thế. Kinh này nói về rộng nhưng
chẳng nói đến cao nên bảo là ‘biến phú tam thiên
đại thiên thế giới’. Cần biết rằng hai
kinh nói giống nhau, chỉ v́ kinh văn giản lược
nên chỉ riêng nêu một phương diện, nhưng đều cùng biểu thị
chẳng hư vọng; hiện tướng này để
làm cho người nghe sanh ḷng tin mà thôi.
Lại xét về nghĩa,
th́ kinh Pháp Hoa nói đến việc vượt ra ngoài tam giới
theo chiều dọc nên chỉ nói đến cao. Kinh này nói
cách vượt ngang khỏi tam giới nên chỉ bàn về
rộng; nhưng ngang chính là dọc, dọc chính là ngang,
văn tuy giản lược, nhưng ư nghĩa
tương đồng”. Giáo nghĩa này của sách Viên
Trung Sao thật là tinh diệu khiến người khác sanh
ḷng tin sâu xa.
Từ Ân pháp sư lại bảo: “Để chứng thực việc nhỏ th́ Phật hiện
tướng lưỡi hiện che cả mặt đến
tận mí tóc. Nay kinh đây nói che khắp đại thiên là
để chứng thực đại sự”. Ngài c̣n bảo:
“Bồ Tát đắc tướng
lưỡi che mặt nên chẳng nói hai lời, toàn nói lời
chân thật. Lưỡi mới chỉ che mặt th́ đă
chẳng hư vọng, huống
là che được cả đại thiên!” V́ vậy, bọn
chúng ta phải nên sanh ḷng tin chân thật đối với
lời khen ngợi của chư Phật.
“Thuyết thành thật ngôn” (Nói lời thành thật): Nói lời chí thành,
chân thật, chẳng dối. Sách Di Đà Sớ Sao nói: “Thành thật ắt
là đáng tin v́ Thành (誠) là chân thật, khẩn thiết,
không trá ngụy. Thật (實) là
chắc chắn
đúng, chẳng dối. Đó là
sư tử hống, vô úy thuyết, dẫu ngàn vị thánh
nhân xuất hiện cũng chẳng thể thay đổi
được, muôn đời giữ lấy làm khuôn phép vậy”.
Sách c̣n viết: “Thuần chân, dứt
vọng, vạn kiếp vẫn như thế. Nói lời
thành thật, c̣n ǵ hơn thế!” Như vậy, lời
chư Phật khen “Vô Lượng
Thọ Phật công đức chẳng thể nghĩ bàn”
chính là lời cực chân, cực thật, ngàn đức Phật
xuất thế cũng chẳng thể biến cải, muôn
đời tuân thủ chẳng thể trái nghịch; thuần
là chân thật chẳng hề hư vọng. Do vậy, bọn
chúng ta đều phải nên tin chắc, chớ ôm ḷng nghi.
Về chữ “bất khả
tư nghị công đức” (công đức chẳng thể
nghĩ bàn) xin xem lại lời giải thích trong phẩm
mười một.
Kế đó, kinh nói mười phương hằng sa
chư Phật cũng đều khen ngợi đức Di
Đà như thế. Sách Hội Sớ nói: “Tuy chư Phật chứng đắc b́nh đẳng
như một, nhưng cái lợi ích Niệm Phật
được văng sanh là diệu pháp bất cộng của
Phật Di Đà nên chư Phật nhượng đức, dạy
quy về một đức Phật. Đấy là kết quả của lời nguyện
mười bảy vậy”. Ư nói: Phật, Phật đạo
đồng, chẳng có cao, thấp; nhưng pháp môn Niệm
Phật Văng Sanh chính là diệu pháp bất cộng của Phật
Di Đà nên cái lợi ích đó cũng là bất cộng. V́ vậy,
chư Phật kính nhường phẩm đức của
A Di Đà Phật, nhằm hiển thị công đức vô
biên của hết thảy chư Phật đều quy về
một đức Phật Di Đà, ngơ hầu mười
phương chúng sanh đều nhập Di Đà nguyện hải,
văng sanh thế giới Cực Lạc. Đấy chính là nguyện
thứ mười bảy “chư
Phật khen ngợi” được thành tựu. Mười
phương Phật khen ngợi th́ danh hiệu mới
có thể vang khắp mười phương, nhiếp trọn
vô biên chúng sanh cùng quy hướng Cực Lạc.
Chánh kinh:
何 以 故?欲 令 他 方 所 有 眾 生,聞 彼 佛 名,發 清 淨 心,憶 念 受 持,歸 依 供 養。乃 至 能 發 一 念 淨 信,所 有 善 根,至 心 迴 向,願 生 彼 國。隨 願 皆 生,得 不 退 轉,乃 至 無 上 正 等 菩 提。
Hà dĩ cố? Dục linh tha
phương sở hữu chúng sanh, văn bỉ Phật
danh, phát thanh tịnh tâm, ức niệm thọ tŕ, quy y cúng
dường. Năi chí năng phát nhất niệm tịnh tín,
sở hữu thiện căn, chí tâm hồi hướng,
nguyện sanh bỉ quốc, tùy nguyện giai sanh, đắc
Bất Thoái Chuyển, năi chí Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề.
V́ sao thế? Muốn
khiến cho tất cả chúng sanh trong các phương khác
nghe danh hiệu đức Phật ấy phát tâm thanh tịnh,
ức niệm, thọ tŕ, quy y, cúng dường, cho đến
phát sanh được một niệm tịnh tín, [đem]
tất cả thiện căn chí tâm hồi hướng nguyện
sanh cơi kia, tùy nguyện đều sanh, đắc Bất
Thoái Chuyển cho đến thành Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề.
Giải:
Đoạn này giảng rơ nguyên nhân chủ yếu v́ sao
chư Phật khen ngợi: V́ muốn cho chúng sanh nghe danh hiệu
sanh ḷng tin, phát nguyện cầu sanh, ắt chứng Vô
Thượng Bồ Đề.
Sách Hội Sớ nói: “Đây
chính là nguyện mười tám được thành tựu.
Chỗ quy thú của cả bộ kinh chỉ là ở điểm
này. V́ sao vậy? Tuy cả bốn mươi tám nguyện đều thù thắng,
nhưng Niệm Phật Văng Sanh là cốt yếu nhất.
Tuy sự thành tựu của mỗi nguyện đều là
khó thể nghĩ tưởng nổi, nhưng nguyện này
thành tựu mới là bất cộng; v́ vậy chư Phật
ngợi khen”.
Sách Giáo Hạnh Tín Chứng giảng câu “văn bỉ Phật danh” (nghe danh hiệu Phật
ấy) như sau: “Chữ
Văn (聞) có
nghĩa là chúng sanh nghe gốc ngọn sanh khởi của lời
Phật nguyện mà chẳng có tâm nghi th́ đó mới là
Văn”. Nghe danh hiệu được phước nên
có thể phát sanh ḷng tin thanh tịnh. “Thanh tịnh tâm” chính là ḷng tin chẳng nghi, c̣n có
nghĩa là ḷng tin trong sạch chẳng cấu nhiễm. Sách
Thắng Man Bảo Quật, quyển thượng nói: “Thanh tịnh tâm là ḷng tin trong sạch,
khởi tâm tin trong sạch, lại
c̣n có nghĩa là tâm chẳng có phiền năo lẫn vào th́ gọi
là tâm thanh tịnh”.
“Ức niệm thọ tŕ”: Thọ (受) là tin nhận,
Tŕ (持) là giữ vững, Ức (憶) là nhớ
đến công đức của Phật, Niệm (念) là niệm danh
hiệu Phật. “Quy y” (歸 依) là thân tâm quy hướng,
nương theo chẳng bỏ. “Cúng
dường” là như sách Huyền Tán bảo: “Dâng tài, hạnh là Cúng (供); giữ ǵn, giúp
đỡ là Dường (養)”. Chữ “tài, hạnh” chỉ hai thứ
cúng dường:
1. Một là Tài Cúng Dường tức là cúng những vật
như hương, hoa, thuốc men, tài vật, đầu,
mắt, tủy, năo, núi, sông, đại địa…
2. Hai là Pháp Cúng Dường: Tu hành đúng như lời
dạy để cúng dường.
Sách Di Đà Sớ Sao viết: “Thanh
Lương đại sư nói: ‘Đại Hạnh ḥa thượng
đời Cao Tề tôn sùng niệm Phật, dùng bốn chữ
để dạy dỗ: Hai
chữ ức niệm chẳng
rời nơi tâm; hai chữ xưng
kính chẳng rời nơi miệng”. Đấy chính là ư
chỉ của câu “ức niệm
thọ tŕ, quy y cúng dường” trong kinh này.
Sách Sớ Sao c̣n nói: “Để
văng sanh Tịnh Độ phải có ḷng tin. Ngàn người
tin, ngàn người sanh, vạn người tin, vạn
người sanh. Tin vào danh hiệu Phật th́ chư Phật
liền cứu, chư Phật liền hộ tŕ. Tâm luôn nhớ
Phật, miệng thường niệm Phật, thân luôn kính
Phật th́ mới gọi là
thâm tín. Dù phát tâm sớm hay muộn cũng chẳng hề
trụ vào pháp nào của cơi Diêm Phù Đề nữa. Cách thúc
đẩy, phát khởi này là thiết yếu nhất”.
Đoạn kinh này lại đặc biệt nói tới “nhất niệm tịnh tín”
và “chí tâm nguyện sanh”;
đấy đều là công đức tùy ḷng nguyện mà
được văng sanh chẳng thể nghĩ bàn. Sách Hội
Sớ giảng chữ “nhất
niệm” như sau: “Nghĩa
là chánh nhân văng sanh chỉ cốt ở ḷng tin trong mỗi niệm,
chẳng nệ là niệm nhiều hay ít”. Sách Giáo Hạnh
Tín Chứng cũng nói: “Một
niệm có nghĩa là tín tâm không nhị tâm nên bảo là ‘nhất
niệm’. Đấy gọi là
Nhất Tâm. Nhất tâm là cái nhân chân chánh của thanh tịnh
báo độ, đạt được
kim cang chân tâm, vượt ngang khỏi năm đường
tám nạn, ắt đạt được mười thứ
lợi ích ngay trong đời hiện tại: Một là
được quỷ thần, thánh chúng thủ hộ, cho
đến điều lợi ích thứ mười là nhập
Chánh Định Tụ”.
Sách Di Đà Sớ Sao lại viết: “Tín chính là tịnh tâm. Thành Duy Thức Luận nói: ‘Tín
là thật đức có thể nhẫn được dục
lạc một cách sâu xa. Tâm tịnh là tánh. Sao lại bảo
là tịnh tâm? Là v́ tâm thù thắng như thủy thanh châu
lóng trong nước đục.
Các nhiễm pháp lại đều có tự tướng. Chỉ
do chẳng tin nên tự tướng bị vẩn đục,
lại khiến cho tâm, tâm sở
cũng bị vẩn đục như vật cực
dơ đă tự khiến ḿnh dơ lại c̣n làm dơ vật
khác. Tín có thể chuyển
biến điều ấy nên tịnh là tướng’. Nay tu Tịnh Độ th́ tâm tịnh
là điều cốt yếu nên Tín là nhiệm vụ cấp
bách thật đă quá rơ vậy”.
Do đó, kinh A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà Ra Ni dạy:
“An Lạc thế giới, sở
hữu Phật pháp bất khả tư nghị, thần
thông hiện hóa, chủng chủng phương tiện, bất
khả tư nghị. Nhược năng hữu tín như
thị chi sự, đương tri thị nhân bất khả
tư nghị, sở đắc nghiệp báo diệc bất
khả tư nghị” (Trong
thế giới An Lạc, tất cả Phật pháp chẳng
thể nghĩ bàn, thần thông biến hóa, các thứ
phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Nếu ai
tin được những việc như vậy th́ nên biết
là người ấy là chẳng thể nghĩ bàn, đạt
được nghiệp báo cũng chẳng thể nghĩ
bàn). Sách Yếu Giải cũng nói: “Chỉ có bậc đại trí mới có thể tin
chắc thật”.
Sách An Lạc Tập dựa theo sách Luận Chú lập
ra ba tâm: Một là Thuần Tâm tức là tín tâm sâu dày; hai là Nhất
Tâm tức là tín tâm thuần nhất; ba là Tương Tục
Tâm tức là tín tâm liên tục chẳng tạp các niệm
khác, lại c̣n bảo: “Nếu
có thể liên tục th́ chính là nhất tâm. Nếu có thể
nhất tâm th́ chính là thuần tâm. Đủ cả ba tâm này mà lại
chẳng văng sanh th́ quyết chẳng có lẽ ấy”.
Xét chung các kinh, luận: Sớ Sao bảo “Tín chính là tịnh tâm”, Cổ
Âm Kinh bảo tin được những việc như thế
là chẳng thể nghĩ bàn; Yếu Giải bảo tín
chính là đại trí; An Lạc Tập bảo “đủ cả ba tâm ấy mà lại
chẳng văng sanh th́ quyết chẳng có lẽ ấy”.
Các thuyết trên cùng chỉ rơ tín tâm thanh tịnh là quư nhất.
Kinh này lại thêm hai chữ “nhất
niệm” thành ra “nhất niệm
tịnh tín” đủ thấy tín tâm này chính là “bách xích can đầu, hựu tấn
nhất bộ” (nơi
đầu sào trăm thước tiến thêm bước nữa), há có thể suy lường
nổi ư! Câu: “Tín tâm bất
nhị, bất nhị tín tâm, ngôn ngữ bặt dứt, chẳng
phải quá khứ, hiện tại, vị lai” trong sách Tín
Tâm Minh của Tứ Tổ Thiền Tông thật có cùng một
ư chỉ với kinh này.
Sách Hội Sớ bảo tâm tịnh tín là “chánh nhân để văng sanh”;
sách Giáo Hạnh Tín Chứng xưng tụng tín tâm là “cái nhân chân thật của thanh tịnh
báo độ”. Cả hai sách cùng bảo “nhất niệm chính là nhất tâm” (Sách Chỉ
Quán, quyển năm bảo: “Nhất
tâm có đủ cả mười pháp giới”. Do đó,
nhất tâm chính là thật thể của vạn hữu mà
cũng chính là Chân Như). Nhất tâm c̣n được gọi
là kim cang tâm, có khả năng mở toang con mắt trí huệ
trong tâm mỗi người. Ở đây, tôi không nói lôi thôi
nhiều để tránh vẽ rắn thêm chân.
Trong câu “chí tâm hồi hướng
nguyện sanh bỉ quốc” (chí tâm hồi hướng
nguyện sanh cơi kia), chí tâm chính là tâm chí thành được
nói trong Quán kinh. Sách Tứ Thiếp Sớ (Quán Kinh Sớ của
tổ Thiện Đạo) nói: “Chí
(至) là chân, Thành (誠) là thật. Ư nói: Hết thảy chúng sanh khi tu
các hạnh giải nơi thân, khẩu, ư nghiệp th́ đều
phải thực hiện bằng tâm chân thật; chẳng được bề
ngoài làm ra vẻ hiền, thiện, tinh tấn, bên trong ôm
ḷng hư giả, tham, sân, tà ngụy, gian trá trăm chiều,
ác tánh khó lay, sự như rắn rết. Tuy khởi tam nghiệp nhưng chỉ đáng
gọi là sự lành tạp độc, cũng gọi là hạnh
hư giả, chẳng thể gọi là nghiệp chân thật”.
“Hồi hướng” là đem hết
thảy thiện căn chính ḿnh đă tu hướng đến
chúng sanh cũng như hướng đến Phật đạo.
Tiếp đó, kinh nói: “Nguyện
sanh bỉ quốc” (Nguyện sanh sang cơi kia) là hồi
hướng tín hạnh của chính ḿnh để cầu
văng sanh. Đây cũng chính là tâm hồi hướng phát nguyện
trong ba tâm được nói trong Quán kinh. Kinh dạy: “Nhất
giả chí thành tâm, nhị giả thâm tâm, tam giả hồi
hướng phát nguyện tâm, cụ tam tâm giả, tất
sanh bỉ quốc” (Một là tâm chí thành, hai là thâm tâm, ba
là tâm hồi hướng phát nguyện. Đủ cả ba tâm, ắt
sanh sang cơi kia).
Sách Hội Sớ nói: “Hồi
hướng có tự lực hồi hướng và tha lực
hồi hướng. Nếu đem nhân hạnh của chính
ḿnh để hồi hướng đến cái quả
trong mai sau th́ là tự lực. Chuyên cậy vào Phật nguyện,
chẳng cậy đến sức lực của chính ḿnh
th́ là tha lực; chẳng phải là phàm t́nh hồi hướng nên cũng gọi là
bất hồi hướng” (Chẳng cậy vào tự lực,
hoàn toàn dựa vào tha lực th́ phàm t́nh chẳng thể hiểu
biết sự hồi hướng như thế nên gọi
là “bất hồi hướng”). Kinh Đại Phẩm Bát Nhă
nói: “Bồ Tát như thị hồi hướng, tắc
bất đọa tưởng điên đảo, kiến
điên đảo, tâm điên đảo. Hà dĩ cố? Thị
Bồ Tát bất tham trước hồi hướng cố.
Thị danh vô thượng hồi hướng” (Bồ
Tát hồi hướng như vậy sẽ chẳng đọa
vào tưởng điên đảo, kiến điên đảo,
tâm điên đảo. V́ cớ sao? V́ Bồ Tát ấy chẳng
tham đắm mà hồi hướng. Đó gọi là vô thượng
hồi hướng). Phàm t́nh gọi đó là bất hồi
hướng, nhưng thật ra chính là vô thượng hồi
hướng.
Tịnh Độ là tha lực pháp môn, sáu chữ hồng
danh Di Đà và Nhất Thừa nguyện hải đều là
Tha Lực. Nương vào Phật nguyện hồi hướng
văng sanh chính là vô thượng hồi hướng. V́ vậy,
sanh được một niệm tịnh tín, đem tất
cả thiện căn chí thành hồi hướng th́ “tùy nguyện giai sanh” (tùy nguyện
đều sanh) như sách Hội Sớ đă khai thị: “Chỉ cốt tin được
trong một niệm, chẳng nệ niệm nhiều hay
ít”. Sách Yếu Giải cũng bảo: “Nếu tín nguyện kiên cố th́ dẫu khi lâm chung
mười niệm hay một niệm cũng quyết
định được văng sanh. Nếu không tín nguyện th́ dù có tŕ danh đến
mức gió chẳng thổi lọt, mưa chẳng ướt
nổi, khác nào tường đồng vách sắt th́
cũng chẳng thể văng sanh nổi!”
Các bậc đại đức của Trung Hoa lẫn
Nhật Bản đều xem tín nguyện là chánh nhân văng
sanh, đều xem tín nguyện là con mắt của cả
trời lẫn người. Sách Di Đà Sớ Sao cũng nói: “Chỉ có nguyện th́ không một
người nào chẳng sanh. Đă biết là nguyện lực
rộng lớn như thế th́ há đâu chẳng tin, lẽ
nào chẳng nguyện!”. Người tu Tịnh nghiệp
thật phải nên khắc cốt ghi tâm, chẳng chút tạm
quên câu “phát Bồ Đề tâm, một
bề chuyên niệm” của kinh này cũng như câu “tín nguyện tŕ danh” trong kinh
Tiểu Bổn vậy.
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận
cũng bảo “nhất niệm”
có cùng ư nghĩa với “chí tâm hồi
hướng”. Luận bảo:
“Một niệm chí tâm hồi
hướng liền được văng sanh. Hành giả nếu
có thể một niệm chân thành tin nhận th́ cần ǵ phải
bận tâm đến những thứ phụ trợ khác. Hết
thảy chúng sanh nổi trôi trong sanh tử chỉ nghĩ
đến một niệm này, không
nghĩ ǵ khác; dẫu cho đến lúc ngộ được
Chân Tánh, trở về nguồn gốc, thành Đẳng Chánh
Giác vẫn chỉ có một niệm này không có niệm nào
khác.
Đại Trí Độ Luận nói: ‘Hành Bát Nhă Ba La Mật Đa th́ trong một niệm có thể nghiền thành vi trần hết thảy đại địa, núi non trong các tam thiên đại thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng trong cả mười phương’. Sức của nhất niệm chẳng thể nghĩ bàn. Niệm Phật như vậy th́ tâm này chính là Phật, Phật chính là tâm, chẳng trong, chẳng ngoài, không trói buộc, không giải thoát, khắp cả núi, sông, đại địa, mười phương hư không chẳng một nơi nào dẫu nhỏ bằng hạt cải lại chẳng phải là chỗ đức Vô Lượng Thọ Phật hiện thân thuyết pháp, cho đến ly chính là phi ly, nhập ngay vào đại quang minh tạng của Như Lai”.