Tâm
sanh tử không tha thiết.
Nếu
thật sự chẳng khởi tâm vì sanh tử,
hết
thảy khai thị đều là hý luận
(Từ lão hòa
thượng Hải Hiền, xét tín nguyện cầu vãng sanh của chúng ta)
Trích từ
lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú kỳ thứ 4 (tập 83 )
23-9-2014
Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 02-042-0083
Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng
Thọ Kinh Khoa Chú.
Thích Tự Liễu soạn
Hòa thượng Tịnh Không giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ. Như Hòa giảo
chánh
A. MỞ BÀI
Trung
Phong thiền sư nói nguyên nhân người đời nay tham thiền không linh nghiệm vì chẳng
cho rằng sanh tử vô thường là một sự kiện trọng đại. Cùng một lý ấy, nguyên
nhân [khiến cho] người niệm Phật không linh nghiệm cũng vậy, chẳng coi trọng
sanh tử vô thường, tâm vì sanh tử chẳng tha thiết. Tâm sanh tử không tha thiết
là một vấn đề lớn, nhưng phần đông mọi người đều không coi trọng.
B. NÊU RA VẤN ĐỀ
1. Hiện tượng phổ biến: công phu niệm Phật
chẳng đắc lực.
Nhiều
người niệm Phật mười năm, hai mươi năm công phu chẳng đắc lực, chẳng nắm chắc
vãng sanh, nguyên nhân là gì?
Khi dự
Phật thất, lúc ban đầu dường như niệm giỏi lắm, rất tinh tấn, nhưng dần dần
càng niệm càng cảm thấy khô khan, chẳng mùi vị, càng niệm càng chán, chẳng muốn
niệm tiếp, nguyên nhân là gì?
Khi bế
quan niệm Phật, lúc bắt đầu thì 3 giờ sáng thức dậy niệm Phật, vài ngày sau 5
giờ mới thức; qua một thời gian sau 8 giờ mới thức, sau cùng ngủ miết chẳng muốn
thức sớm nữa!
Mọi người
đừng cười, quý vị cũng có thể lâm vào tình trạng này. Phần đông mọi người thường
có tình trạng như sau: khi niệm Phật nếu không khởi vọng tưởng thì ngủ gục. Dù
biết rõ pháp môn Tịnh Độ thù thắng, biết công đức danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn,
nhưng câu Phật hiệu này càng niệm càng chẳng có hứng thú gì, càng niệm càng chẳng
có động lực, cuối cùng chịu thua, bỏ luôn, nguyên nhân là gì?
2.
Nguyên nhân căn bản là tâm vì sanh tử chẳng tha thiết. Chúng ta tìm trong các
trước tác của tổ sư đại đức nhiều đời trước, rốt cuộc tìm ra câu trả lời cho những
vấn đề nêu trên, nguyên nhân căn bản là tâm sanh tử chẳng tha thiết, đây là một
vấn đề lớn, rất phổ biến của chúng ta hiện nay. Do vậy niệm Phật lâu năm, thậm
chí niệm cả đời, công phu cũng chẳng đắc lực, chẳng nắm chắc vãng sanh. Chúng
ta hãy khoan nói có nắm chắc vãng sanh hay không, ngay cả chuyện không đọa tam
ác đạo cũng chẳng nắm chắc, có đúng không?
3. Tâm
sanh tử là cơ sở nhập đạo. Bài báo cáo này trích một lời dạy của Triệt Ngộ đại
sư: “Nếu chẳng khởi tâm thật sự vì sanh tử,
hết thảy khai thị đều là hý luận”
làm đề tài. Nếu tâm sanh tử không tha thiết, có nói nhiều với họ cũng là dư thừa,
vô ích. Ngược lại nếu thật sự tâm sanh tử tha thiết, chẳng cần khai thị [thì
người đó] cũng tranh thủ từng phút từng giây, ngày đêm chẳng gián đoạn để niệm
câu A Di Đà Phật giống như hòa thượng Hải Hiền vậy. Tâm sanh tử là cơ sở nhập đạo,
xin trích dẫn nguyên văn một đoạn khai thị của
đại sư Triệt Ngộ:
“Hết thảy những nỗi khổ trong thế gian chẳng
vượt hơn nỗi khổ sanh tử. Nếu không liễu sanh tử thì sanh rồi chết, chết rồi
sanh, sanh sanh tử tử. Vừa xuất một bào thai này lại nhập một bào thai khác; vừa
thoát một đãy da liền khoác lên một đãy da khác, khổ chẳng nói nổi. Huống chi
chưa thoát luân hồi khó tránh khỏi đọa lạc. Bào thai heo, bào thai chó, chẳng
có chỗ nào không vào. Đãy da lừa, đãy da ngựa chẳng chừa thứ nào. Được làm thân
người là khó có nhất, nhưng rất dễ đánh mất. Chỉ sai sót một niệm liền đọa vào
ác thú. Tam đồ dễ vào khó ra, địa ngục thời gian dài nỗi khổ nặng nề. Qua bảy
thời đức Phật [ra đời, một bầy kiến] vẫn còn mang thân kiến. Tám vạn kiếp sau
chưa thoát thân bồ câu. Thời gian trong cõi súc sanh dài lâu, thời gian ở cõi
ngạ quỷ, địa ngục còn lâu dài gấp nhiều lần. Trải qua nhiều kiếp dài đăng đẳng
tới lúc nào mới dứt, mới thoát. Vạn nỗi khổ nung nấu, chẳng thoát được, chẳng cứu
vớt được. Mỗi lần nhắc đến lông tóc dựng đứng. Mỗi lần nghĩ tới, ngũ tạng như
đang bị thiêu như đang bị đốt”.
Ấn
Quang đại sư đánh giá đoạn văn trên của Triệt Ngộ đại sư như sau: “Đoạn khai thị này tinh túy thiết tha đến
cùng cực, [mọi người]hãy nên đọc cho nhuần nhuyễn”.
C. PHÂN TÁCH VẤN ĐỀ
1. Sanh tử đại sự. Lúc còn trẻ Liên Trì
đại sư đã viết bốn chữ ‘Sanh Tử Sự Đại” (Sanh Tử là chuyện lớn) để trên bàn
hòng tự sách tấn và khích lệ chính mình tinh tấn dụng công. Nếu quý vị cho rằng
bốn chữ này chẳng liên quan gì tới mình, vậy thì xin lỗi, quý vị còn là người ở
ngoài cuộc. Khi tâm thật sự vì sanh tử chưa khởi lên, tu hành còn chưa bước vào
cửa, niệm Phật cũng chưa bước vào cửa.
Ấn
Quang đại sư dạy “Người ta sanh ở trên đời,
chẳng có chuyện nào không sắp đặt kế hoạch sẵn, chỉ có một chuyện sanh tử lại
ngược ngạo không chịu để ý. Đợi đến khi báo[1] hết, mạng sống chấm dứt,
thì tùy theo nghiệp mà chịu quả báo. Chẳng biết một niệm tâm thức ấy sẽ đến cõi
nào thọ sanh. Cõi trời người là quán trọ. Tam đồ (ba đường ác) là quê nhà. Một
khi thọ báo ở tam đồ là trăm ngàn kiếp, chẳng biết tới bao giờ mới sanh trở lại
cõi trời, cõi người được. Do vậy phương pháp liễu sanh tử chẳng thể không gấp
rút tìm cầu”.
Đời này chúng ta chết rồi sẽ sanh tới cõi nào? Tôi có thể sanh về đâu?
Đây là việc trọng đại của mỗi người chúng ta, đó gọi là sanh tử đại sự. Chúng
ta có nỗ lực, thận trọng suy xét hay chăng? Đời sau chúng ta có nắm chắc sanh tới
cõi nào hay chăng? Còn tiếp tục luân hồi hay chấm dứt luân hồi? Người xưa thường
nhắc chúng ta sanh tử sự đại (sanh tử là việc lớn) nhưng tình trạng hiện nay của
chúng ta là như thế nào? Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn nói “Người đời tranh nhau những chuyện không đâu,
chẳng cần thiết”, cả ngày chúng ta bận bịu những sự việc chẳng cần thiết, đảo
lộn gốc và ngọn, đối với những chuyện chẳng liên quan tới sanh tử thì tranh
giành hơn thua, chưa hề coi trọng việc lớn sanh tử, và cũng chẳng sợ nỗi khổ
luân hồi trong lục đạo, càng chẳng nghĩ tới sau khi chết sẽ sanh về đâu. Hoặc
lâu lâu cũng nghĩ tới việc đó một lần, hoặc có lúc nhìn thấy người thân hoặc bạn
bè đột nhiên qua đời, lúc đó xúc động trong chốc lát, nhưng chẳng lâu sau lại bị
những chuyện thế gian chẳng cấp bách che lấp mất. Miệng tuy cũng niệm được vài
câu Phật hiệu, niệm xong có thể vãng sanh hay không? Chỗ này [chúng ta phải] đặt
một câu hỏi lớn.
2. Ý nghĩa ghi chặt ẩn kín trong chữ Tử (Chết).
Chúng ta nghe câu chuyện về người thợ vá nồi, một câu Phật hiệu niệm mệt bèn
nghỉ ngơi, nghỉ xong lại tiếp tục niệm. Chúng ta rất ngưỡng mộ, rất muốn học
theo và bắt chước ông ta, người xưa miêu tả
“Bách bát luân châu lục tự kinh, tiêu ma tuế
nguyệt độ quang âm” (Trăm lẻ tám hạt
châu [dùi mài câu] kinh sáu chữ,
Tiêu
mòn ngày tháng [chẳng uổng] thời gian trôi qua).
Nhưng
lúc thật sự làm chuyện này, chúng ta làm chẳng nổi. Lúc vừa khởi đầu thì rất
tinh tấn, dần dần trở nên giải đãi. Giải đãi, cứ thường giải đãi, cuối cùng thất
bại không phấn chấn khắc phục được nữa. Đối với chuyện thường giải đãi, Ấn
Quang đại sư có dạy:
“Lý do quý vị giải đãi vì chẳng suy xét cho kỹ
sự khổ trong tương lai, nếu có thể cân nhắc và suy xét cho kỹ sẽ chẳng đến nỗi
giải đãi hoài”,
Đó là
vì tâm sanh tử chẳng tha thiết, chẳng suy xét cho kỹ, nếu chẳng vãng sanh, sự
thống khổ đời sau khi đọa vào ba đường ác [sẽ dễ sợ vô cùng]. Do vậy Ấn Quang đại
sư dạy cho chúng ta bí quyết niệm Phật: dán
một chữ Chết trên trán.
Chữ Chết
này có ý nghĩa ẩn kín vô cùng sâu sắc. Người xưa có câu “Chưa thấy quan tài chưa rơi lệ”. Người đời nay nhìn thấy quan tài
cũng không rơi lệ, chẳng sợ chết, chẳng sợ luân hồi. Đồng tu chúng ta thường đi
trợ niệm cho người ta, nhìn thấy tình huống đau khổ của người sắp lâm chung,
thường có tâm cảnh giác, âm thầm hạ quyết tâm 'lần này về nhà tôi nhất định sẽ buông xuống vạn duyên, niệm Phật đàng
hoàng'. Nhưng rồi qua vài hôm sau tật cũ cứ hiện ra, đáng nên bận rộn những
chuyện không đâu thì vẫn bận rộn những chuyện ấy. Kết quả ra sao? Chết đi đáng
luân hồi như thế nào thì vẫn luân hồi như thế ấy. Do vậy tổ sư dạy chúng ta
dùng chữ "Chết" này để tự nhắc nhở chính mình sanh tử là chuyện lớn.
Lão nhân gia dạy chúng ta ngắn gọn như sau:
"Muốn tâm chẳng tham đắm chuyện bên
ngoài, hãy chuyên niệm Phật. Chẳng thể chuyên, phải bắt nó chuyên. Niệm không
được, phải ép cho nó niệm được. Không thể nhất tâm, ép cho nó nhất tâm... Cũng
chẳng có phương pháp gì đặc biệt. Chỉ lấy một chữ "Chết" dán lên
trán, dán rủ lên mi. Trong tâm thường nghĩ 'Chúng ta từ vô thỉ kiếp cho đến
nay, tạo ra các ác nghiệp vô lượng vô biên. Giả sử ác nghiệp đó có thể tướng,
mười phương hư không cũng chẳng thể dung chứa. May mắn làm sao, đời này được
thân người, lại được nghe Phật pháp, nếu không nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây
phương, khi một hơi thở ra không hít vào được nữa, nhất định sẽ rơi vào lò
than, vạc dầu, rừng kiếm, núi đao trong địa ngục chịu khổ chẳng biết trải qua
bao nhiêu kiếp. Lúc ra khỏi địa ngục rồi lại phải đọa vào cõi ngạ quỷ, bụng to
như biển, cổ họng nhỏ như kim, đói khát nhiều kiếp, cổ họng thiêu đốt, chẳng
nghe đến danh từ 'tương hay nước', hiếm có khi nào được no lòng. Từ cõi ngạ quỷ
thoát ra lại phải làm súc sanh, để cho người ta cỡi hoặc cho người ta nấu nướng.
Dù cho có được thân người cũng ngu si, vô tri, chỉ biết tạo nghiệp, chẳng biết
tu thiện, chẳng được mấy mươi năm lại phải đọa lạc trở lại. Trải qua số kiếp
nhiều như cát bụi, luân hồi trong lục đạo. Tuy muốn thoát lìa nhưng không thể
được'.
Nếu có thể nghĩ như vậy, những gì mong
cầu nói trên liền có thể được"
3. Gương
của lão hòa thượng Hải Hiền. Phần trên có nhắc tới người thợ vá nồi, đệ
tử của lão pháp sư Đế Nhàn là tấm gương điển hình cho người niệm Phật vãng sanh.
Pháp sư Oánh Kha đời Tống, người thợ vá nồi, và gần đây nhất là lão hòa thượng
Hải Hiền, thật ra bao gồm hết những người vãng sanh có chép trong Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục, họ đều có một điểm giống nhau; lý do họ niệm Phật thành công đều ẩn
kín một đại tiền đề dễ bị mọi người coi thường. Chúng ta coi kinh nghiệm của họ,
chuyện nào cũng có chung một điểm, đó là tâm sanh tử của họ đều khẩn thiết. Nếu
tâm sanh tử khẩn thiết, nhất định là tâm cầu mong vãng sanh cũng rất khẩn thiết.
Nếu tâm cầu vãng sanh khẩn thiết, nhất định sẽ mong cho mình sớm có ngày được
vãng sanh. Thế giới này khổ không nói nổi, tôi còn muốn ở lại nơi đây làm gì? Tốt
nhất là vừa nhắm mắt, đức Phật A Di Đà liền tiếp dẫn tôi đi, dù một khoảnh khắc
cũng chẳng muốn lưu lại, không thể chờ lâu được. Lão hòa thượng Hải Hiền là như
vậy, đó gọi là chân tín thiết nguyện.
Chúng
ta đọc thơ của người xưa bèn có thể hiểu được tâm trạng này. Mọi người đều rất
quen thuộc với quốc sư Trung Phong, Ngài nói:
"Dù cho thành Phật hôm nay,
Lạc bang hóa chủ cũng chê trễ rồi,
Nếu còn bàn luận khơi khơi,
Luân hồi giữ chặt đến đời nào buông
".
Lại xem bài thơ của Nhật Quán đại sư trong tập Hoài An Dưỡng có ghi:
"Trong mộng khóc thưa Phật,
Nguyện sớm được vãng sanh,
Đóa sen nho nhỏ nở,
Vĩnh viễn thoát tử sanh".
Ý bài này là nói dù trong mộng,
tôi cũng không ngừng khóc trước đức Phật A Di Đà cầu xin cho tôi sớm được vãng
sanh, sớm thoát lìa thế giới Sa Bà. Không cần nói chi cao xa, chỉ cần đóa hoa
sen nhỏ của tôi nở ra, từ lúc đó liền siêu thoát sanh tử, được giải thoát vĩnh
viễn. Qua mấy câu này liền thấy nguyện vọng lớn nhất của Ngài là vãng sanh Cực
Lạc thế giới, dùng chân tâm cầu nguyện vãng sanh.
Chúng
ta coi hai đoạn nguyên văn của lão hòa thượng Hải Hiền:
"Nay tôi đã hơn trăm tuổi, muốn vãng
sanh tới thế giới Cực Lạc tây phương, Lão Phật Gia (tức đức Phật A Di Đà) là
cái cội gốc của tôi! Tôi đã cầu xin Lão Phật Gia mấy lần, muốn đi theo Phật,
nhưng Lão Phật Gia chẳng cho tôi đi theo, [Phật] nói tôi tu tập tốt đẹp, phải sống
thêm hai năm nữa, làm một tấm gương cho mọi người thấy",
"Tôi phải gấp rút niệm Phật, cầu
A Di Đà Phật đến tiếp dẫn tôi".
Mọi người
đừng coi thường những lời nói này. Chúng ta hãy thật lòng tự hỏi, cả đời mình
có mấy lần đã thật sự từ đáy lòng phát nguyện muốn vãng sanh? Lại có bao nhiêu
câu Phật hiệu là niệm ra từ chân tín thiết nguyện. Do vậy niệm Phật chẳng thể
vãng sanh là một vấn đề vô cùng nghiêm túc trước mắt, và cũng là một vấn đề rất
phổ biến.
Ấn
Quang đại sư dạy: "Người vãng sanh
ít ỏi, lý do thật sự là vì tín nguyện chẳng chân thật, chẳng thiết tha mà ra. Nếu
tín nguyện chân thật, thiết tha, dù lúc lâm chung mới bắt đầu niệm cũng được
vãng sanh".
Lão hòa
thượng Hải Hiền cả đời chỉ trì niệm sáu chữ hồng danh, từng giờ từng phút, từng
ngày từng tháng, từng năm chưa hề gián đoạn. Vì sao Ngài có thể làm được như vậy?
Đừng nói ngày nay chúng ta niệm Phật từ đầu năm tới cuối năm, ngay cả niệm Phật
chỉ một ngày thôi chúng ta cũng niệm không được tốt đẹp. Lúc tinh thần tỉnh táo
bèn khởi vọng tưởng, lúc tinh thần uể oải bèn ngủ gục. Niệm được một lát bèn
không chịu niệm tiếp, không muốn niệm nữa, có đúng như vậy không? Vì sao lão
nhân gia có thể niệm hai mươi bốn giờ đồng hồ không gián đoạn? Nguyên nhân là
vì lão nhân gia có tâm sanh tử khẩn thiết. Có tâm sanh tử khẩn thiết, nhất định
tâm cầu vãng sanh sẽ khẩn thiết. Có tâm mong cầu vãng sanh khẩn thiết, nhất định
sẽ niệm miết câu Phật hiệu này ngày đêm không ngừng, không thể nào ngừng được.
4.
Gương tu hành của người xưa:
Chúng
ta hãy xem những người chân tâm tu hành đời xưa, ngày đêm tinh tấn:
Hoài Ngọc
pháp sư cả đời thường ngồi chẳng nằm, tụng kinh Di Đà ba mươi vạn biến, mỗi
ngày niệm Phật năm vạn tiếng.
Bảo Tướng
pháp sư mỗi ngày tụng kinh A Di Đà bảy biến, niệm Phật sáu vạn tiếng.
Đạo Xước
đại sư mỗi ngày niệm Phật bảy vạn tiếng.
Tư Chiếu
pháp sư đời Tống mỗi ngày canh tư (từ 1 tới 3 giờ sáng) thức dậy bắt đầu niệm
Phật, ba mươi năm như một ngày.
Liên
Tông thập nhất tổ, Tỉnh Am đại sư đời Thanh, từ khi ngài thọ Cụ Túc giới năm
hai mươi bốn tuổi, suốt đời mỗi ngày ăn một bữa, đêm ngồi không nằm. Đến cuối đời
mỗi ngày niệm Phật mười vạn tiếng. Ngài viết một bài minh[2] Thốn
Hương Trai đặt trong phòng tiếp khách
như sau:
“Tôn khách tương phùng, vật đàm thế đế
Thốn hương vi kỳ, duy đạo thị ngữ
Bất cận nhân tình, bất câu tục lễ
Tri ngã tội ngã, thính chi nhi dĩ”
(Khi tiếp khách đừng bàn chuyện
đời
Hạn chế một tấc hương, chỉ nói
chuyện đạo
Chẳng cận nhân tình, chẳng nệ
lễ tục
Hiểu tôi hay trách tôi, chỉ im
lặng nghe mà thôi. )
Vì sao người xưa tu hành có thể
ngày đêm dụng công chẳng ngừng, chẳng nghỉ? Vì tâm sanh tử của họ khẩn thiết.
Nghĩ tới sanh tử là việc lớn, nghĩ tới vô thường nhanh chóng, một tích tắc cũng
không chịu buông lỏng. Lý do chúng ta muốn bắt chước theo người thợ vá nồi chẳng
được, niệm Phật không được lâu, Phật hiệu thường bị gián đoạn giữa chừng,
nguyên nhân chính là vì tâm sanh tử không tha thiết.
D. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Những lời khai thị về tâm sanh tử tha
thiết của Ấn Quang đại sư:
a. Niệm Phật [phải niệm] như mình đang bị rơi vào nước, đang bị lửa cháy,
như cứu đầu đang bị thiêu đốt thì chẳng có nghiệp chướng và ma chướng gì mà
không bị tiêu diệt.
b. Yếu quyết muốn cầu thoát khổ chỉ là mỗi niệm phải sợ chết, khi chết
liền bị đọa vào tam đồ ác đạo, được vậy thì niệm Phật tự nhiên sẽ thuần, tịnh
nghiệp tự nhiên thành tựu. Hết thảy trần cảnh chẳng thể đoạt mất chánh niệm ấy.
c. Niệm Phật phải thường nghĩ mình sắp chết, nghĩ mình sắp đọa địa ngục,
thì không khẩn thiết cũng sẽ khẩn thiết, không tương ứng cũng sẽ tự tương ứng.
Dùng tâm sợ khổ để niệm Phật chính là diệu pháp đệ nhất để thoát khổ, cũng là
diệu pháp đệ nhất để tùy duyên tiêu nghiệp.
d. Niệm Phật tâm chẳng quy nhất là vì tâm sanh tử chẳng khẩn thiết. Nếu
nghĩ mình đang bị nước cuốn, bị lửa thiêu chẳng có cách nào cứu chữa nên gần sắp
chết, hoặc nghĩ mình gần bị đọa địa ngục thì tâm tự quy nhất, chẳng cần phải
tìm diệu pháp nào khác.
e. Niệm Phật không hôn trầm thì tán loạn, đó là hiện tượng dùng tâm qua
quýt làm cho lấy có, làm cho xong chuyện [để niệm Phật]. Nếu [nghĩ mình đang] bị
rơi vào nước lửa, gặp giặc cướp, tâm mong cầu mau được cứu vớt thì sẽ hết những
khuyết điểm nêu trên.
f. Khi họa hại bức bách thì thành khẩn, tha thiết. Khi nhàn rỗi vô sự
thì khoan thai, thong thả. Đó là căn bịnh chung của phàm phu. Trong thời thế hiện nay, tình hình đời đạo như đang nằm
yên trên đống củi, phía dưới đã bốc lửa mạnh chưa đốt đến thân, nhưng chớp mắt
liền cháy lan ra khắp toàn thể, trọn pháp giới không chỗ nào trốn được, vậy mà
vẫn còn lơ là, vẫn coi thường để ngày tháng trôi qua, chẳng thể chuyên chí cầu
cứu nơi một câu Phật hiệu thì cái tri kiến đó thiển cận quá mức vậy!
Từ
những câu đối mà Ấn Tổ tự họa cũng có thể thấy tâm sanh tử khẩn thiết của lão
nhân gia.
a. Đạo nghiệp chưa thành sao dám
để tâm tán loạn.
Hạn chết gần kề, tạ tuyệt hết thảy
khách khứa.
b. Bảy mươi năm luống qua, chẳng
còn mấy chốc, giống như tù nhân đi ra pháp trường, mỗi bước gần kề cái chết.
Tạ tuyệt hết thảy, chuyên tu Tịnh
độ, nếu ai xét thấy lòng ngu thành là liên hữu thật sự.
c. Ngươi gần chết, hãy mau niệm
Phật, tâm chẳng chuyên nhất, quyết đọa địa ngục, ngạ quỷ súc sanh còn khó được,
đừng vọng tưởng phước quả trời người.
Ngươi gần chết, hãy mau niệm Phật,
nếu chí chân thành bèn dự hội Liên Trì, Thanh văn Duyên giác còn chưa trụ, nhất
định khắc chứng Đẳng Diệu Viên Thừa.
2. Tỉnh Am đại sư khai thị về nỗi khổ sanh tử.
Ấn
Quang đại sư tán thán bài văn Khuyến phát tâm Bồ Đề [của Tỉnh Am đại sư] như sau
‘Kế vãng thánh, khai lai học,
kinh thiên địa, động quỷ thần, quả năng y nhi hành chi, khẳng định năng phủ tạ
Sa Bà, cao đăng Cực Lạc’
(Kế
thừa thánh hiền đời trước, mở đường cho hậu học đời sau, kinh động thiên địa quỷ
thần. Nếu có thể y theo đó mà làm, chắc chắn có thể từ tạ Sa Bà, vãng sanh Cực
Lạc) .
Trong
đó có một đoạn văn miêu tả rõ ràng nỗi khổ sanh tử, đây là trạng huống đời đời
kiếp kiếp của chúng ta ở trong lục đạo luân hồi:
“Ta và chúng sanh, từ nhiều kiếp
tới nay luôn luôn ở trong luân hồi sanh tử, chưa từng được giải thoát.
Trên cõi trời và người, thế giới
này và thế giới phương khác, ra vào vạn lần, thăng trầm phút chốc.
Lúc thì ở cõi trời, lúc thì cõi
người, lúc thì địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.
Hắc môn sáng ra chiều về, hang sắt
tạm lìa rồi lại nhập.
Lên núi đao, khắp mình không còn mảnh da lành.
Trèo cây kiếm, từng tấc thịt xương đều rách nát.
Sắt đỏ không thể đỡ đói lòng, hễ
nuốt vào ruột gan đều nhừ nát.
Đồng chảy khó uống cho đỡ khát, uống
vào xương thịt đều nát tan.
Cưa sắc xẻ thân, đứt rồi lại nối.
Gió nghiệp vừa thổi, chết rồi bèn sống lại .
Trong thành lửa cháy, không nỡ
nghe tiếng gào thảm thiết.
Trên mâm chưng
nướng chỉ nghe được tiếng kêu thống khổ.
Băng lạnh đông lại thì hình trạng
[tội nhân] như sen xanh kết nhụy.
Máu thịt nứt nẻ thì thân thể [tội
nhân] như sen đỏ nở hoa.
Một đêm trong địa ngục chết sống
đã trải muôn lần.
Một sáng thống khổ nhân gian đã
qua trăm tuổi.
Nhiều phen phiền ngục tốt vất vả,
ai tin lời răn dạy của Diêm Vương.
Lúc chịu tội biết khổ, tuy hối hận
cũng trễ rồi.
Vừa thoát lại quên, vẫn cứ gây
nghiệp ác như xưa.
Đánh con lừa ra máu, ai hay mẹ ta
đau đớn?
Xua con heo vào lò, đâu biết cha
ta rên xiết.
Ăn thịt con mà không biết, Văn
vương còn vậy,
Ăn thịt cha nào có ai hay, hàng
phàm nhân cũng vậy mà thôi.
Năm xưa ân ái, nay thành oan gia.
Ngày xưa oán cừu nay thành ruột
thịt.
Đời trước là mẹ mà nay thành vợ;
Đời trước là cha mà nay lại là chồng.
Có túc mạng thông biết được thì xấu
hổ biết bao.
Có thiên nhãn thông thấy được thì
thật nực cười đáng thương.
Lẫn trong bọc phân, mười tháng nằm co tù túng.
Hết còn chịu nổi, qua đường ngập máu.
Một phen chúi xuống, thương thật là thương!
Nhỏ dại biết chi, chẳng gì biết rõ.
Lớn khôn dần hiểu, tham dục bèn sanh.
Loáng thoáng mới đó mà già bệnh đã tìm tới.
Thình lình xuất hiện vô thường lại hỏi thăm.
Gió lửa trong lúc giao tranh, thần thức tơi bời rối loạn.
Khí huyết bên trong vơi cạn, xương thịt bên ngoài teo
khô.
Không một kẽ chân lông nào không bị kim đâm,
Không một khiếu huyệt nào không bị dao cắt.
Rùa già đem nấu, lột được vỏ ra, tưởng e còn dễ,
Thần thức sắp đi, phải lìa khỏi xác, khó gấp bội phần.
Tâm là ông chủ vô thường, giống chú lái buôn rày đây mai
đó.
Thân là cái hình vô định, khác nào phòng ốc rày đổi mai
thay.
Như mảy bụi ở cõi ba ngàn, thân nọ quay cuồng qua lại vô cùng
tận.
Nhấp nhô như sóng bốn biển, nước mắt ly biệt trào tuôn, kể
sao cho xiết!
Cao quá núi cao chất ngất xương chồng.
Dày hơn đất dày, thây sắp tràn mặt đất.
Giả sử không được nghe lời Phật dạy, việc ấy ai thấy ai
nghe.
Không được xem kinh Phật, lý đó ai hay ai biết?
Vậy mà có kẻ
vẫn tham luyến như xưa, si mê không bỏ.
Chỉ e ngàn đời
muôn kiếp mới được làm người.
Một lầm hai lỡ
dây dưa trăm kiếp.
Thân người
khó được mà dễ mất, vận may dễ qua mà khó tìm.
Ðường đời mờ
mịt, ly biệt dài lâu.
Ác báo ba đường,
rồi phải tự thọ.
Khổ hết chỗ
nói, ai chịu thay đây?
Nhân hứng mà
nói dông dài, đến đây thấy lòng mình giá buốt.
Cho nên phải
dứt dòng sanh tử, vượt thoát biển ái dục,
Mình người
cùng thoát, bờ giác cùng lên.
Công lao muôn
kiếp, chính được bắt đầu từ buổi hôm nay."
3.
Kinh Phật, lời Tổ dạy
về nỗi khổ sanh tử:
Từ vô
thỉ kiếp đến nay, chúng ta ở trong sanh tử luân hồi chịu khổ vô lượng. Nếu suy
nghĩ theo nội dung của Kinh Trừ Ưu, có thể làm cho tâm mình vô cùng chán ghét
luân hồi sanh tử, đó là những nỗi khổ mỗi người chúng ta đã từng hứng chịu
trong luân hồi:
"Số lượng nước đồng nung chảy mà chúng
sanh trong địa ngục đã uống, tuy lượng nước trong biển cả cũng chẳng sánh bằng.
Khi sanh làm loài chó heo, những thứ bất tịnh mà chúng ăn còn nhiều hơn Tu Di
Sơn Vương. Số giọt nước mắt khóc khi thân bằng quyến thuộc xa lìa, chỉ có biển
cả mới chứa hết. Số đầu người bị chém trong những lúc đấu tranh nếu xếp lại sẽ cao
hơn tầng trời Phạm Thiên. Số đất phẩn mà những con trùng đói ăn chất lại nhiều
như biển[3], cao như núi"
Những bài
thơ của các vị tổ sư, đại đức đời xưa cũng có thể giúp chúng ta khởi lên tâm
sanh tử tha thiết. Ưu Đàm đại sư đời Nguyên có bài thơ như sau:
Ủy hài hội thị tích như sơn
Biệt lệ phiên thành tứ hải lan
Thế giới đáo đầu chung hữu hoại
Nhân sanh đạn chỉ hữu hà hoan
Thành nam tác nữ kinh thiên biến
Đái giác phi mao lịch vạn đoan
Bất hướng thử sanh sanh tịnh độ
Đầu thai nhất thác hối thời nan
(Tạm dịch
Nhìn lại
núi thây cao chót vót,
Bốn biển
đong đầy lệ biệt ly,
Thế giới
mai sau hư hoại hết,
Đời người
thoáng chốc có vui gì?
Làm
thân nam nữ hơn ngàn lượt,
Mang đội
sừng lông đã vạn kỳ,
Đời này
chẳng quyết sanh Tịnh Độ,
Lầm lạc
đầu thai hối kịp chi! )
Tỉnh Am
đại sư có bài thơ như sau:
Nhất tự Sa Bà hệ nghiệp nhân
Đa sanh lưu chuyển thật toan tân
Tu du xuất ốc hựu đầu ốc
Tấn tốc xả thân hoàn thọ thân
Tằng tác vương hầu tranh quốc ấp
Kỷ vi lâu nghĩ táng ai trần
Giá hồi nhược
bất tư quy khứ
Y cựu tùng
tiền thọ khổ luân.
Tạm dịch
(Nghiệp nhân trói buộc
cõi Sa Bà,
Lưu chuyển nhiều đời quá xót xa,
Khoảnh khắc thoát ra, liền trở lại,
Xả thân thoáng chốc lại đầu thai.
Từng làm vua chúa giành non nước,
Mấy lượt cát lầm[4]
phận kiến hôi!
Lần này chẳng tưởng về An Dưỡng,
Như cũ vùi đầu khổ mãi thôi! )
Trên đây
là lời khai thị của tổ sư đại đức, vun bồi tâm sanh tử khẩn thiết cho chúng ta.
Kế tiếp là một thí dụ và câu chuyện giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tâm sanh tử.
4. Từ
thí dụ, chuyện kể để hiểu rõ về tâm sanh tử khẩn thiết.
Đại sư
La Thập có kể một câu chuyện như sau: 'Thí dụ có người gặp giặc cướp đến sắp giết
hại. Người ấy muốn mau vượt qua sông để chạy thoát. Lúc đó trong tâm người ấy
chỉ có một niệm là [bằng hết mọi cách phải] vượt qua sông, chỉ có một niệm này,
không có niệm nào khác. Ý niệm vượt qua sông ấy chính là nhất niệm. Chỉ có niệm
này, không có tạp niệm nào khác'. Đây chính là hình dáng của tâm sanh tử khẩn
thiết, chỉ có một niệm [muốn vượt thoát], ngoài ra không có niệm nào khác. Lão
hòa thượng Hải Hiền dùng ngay tâm này để niệm Phật, mỗi niệm đều là A Di Đà Phật,
do vậy nên Ngài có thể thành công. Người có tâm sanh tử tha thiết, trong tâm chỉ
có A Di Đà Phật, chẳng có tâm niệm nào khác.
Thêm một
câu chuyện giúp chúng ta hiểu được tâm sanh tử tha thiết. Lương Võ Đế mời thiền sư Bảo Chí Công coi hát.
Lúc vãn tuồng, Lương Võ Đế hỏi thiền sư: "Hôm nay tuồng hát diễn hay không?"
Thiền sư
đáp: "Tôi không biết. "
Vua lại
hỏi: "Hôm nay đào kép hát hay không?"
Thiền sư
cũng đáp: "Tôi không biết".
Nhà vua
cảm thấy vô cùng kỳ lạ, thiền sư rõ ràng ngồi ở đó coi hát, làm sao không biết?
Thiền sư
đáp: "Này Bệ hạ, ngày mai hãy mời họ hát thêm một tuồng nữa, đồng thời dẫn
một tù nhân sắp bị tử hình đến xem. Ra lệnh cho tù nhân ấy bưng một thau nước
[gần tràn đầy] quỳ trước khán đài để coi hát. Hãy nói với người ấy rằng: "Ngươi
quỳ xem hát đến hết tuồng, nếu bưng thau nước này một giọt cũng không văng xuống
đất thì vua sẽ xá tội cho ngươi khỏi chết; nếu có giọt nước văng xuống, lập tức
đem ngươi chém đầu".
Tuy vua
không hiểu dụng ý nhưng cũng làm theo lời của thiền sư.
Hôm
sau, lúc coi hết tuồng hát, một giọt nước trong thau cũng không văng ra ngoài.
Ngài Bảo
Chí Công hỏi tội nhân: "Tuồng hát hay không? "
Đáp: không
biết.
Ngài Bảo
Chí Công lại hỏi: Giọng hát hay không?
Đáp: không biết.
Ngài Bảo Chí Công hỏi: Ngươi
quỳ trước khán đài xem hát, nghe hát, tại sao lại không biết?
Đáp: Tôi lo cho thau nước để nó
đừng tràn ra ngoài còn không xuể, đâu còn tâm tình gì để coi hát, để nghe hát!
Lương Võ Đế nghe xong mới vỡ lẽ,
không quan tâm đến tuồng hát thì có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng chẳng biết
[hát gì]. Tâm của Bảo Chí Công đặt trên việc lớn sanh tử, chẳng quan tâm đến tuồng
hát, làm sao biết tuồng hát hay hoặc dở! Nếu tâm chúng ta đặt trên việc lớn
sanh tử, trên việc lớn vãng sanh, vậy thì câu Phật hiệu này tự nhiên sẽ chẳng
gián đoạn, dù cho người ta cấm không cho quý vị niệm, trong tâm quý vị cũng sẽ
miên miên mật mật, niệm câu này xong lại sang câu kế. Giống như lão hòa thượng
Hải Hiền, trong thời Cách Mạng Văn Hóa người ta cấm không cho hòa thượng niệm
Phật, trong tâm Ngài vẫn niệm thầm, chưa từng buông bỏ câu Phật hiệu trong tâm.
E. KẾT LUẬN
Ấn Quang đại sư bế quan ở chùa
Pháp Vũ núi Phổ Đà hơn ba mươi năm, trụ tại Tàng Kinh Lầu. Ngài duyệt Đại Tạng Kinh
nhiều lần, tổng kết thành hai câu dạy chúng ta
"Quy căn kết đảnh cao thâm xứ, chỉ
tại hồng danh nhất cú trung"
(Trở về
cội nguồn quy kết tới đảnh cao nhất, chỉ ở tại một câu hồng danh).
Lão hòa
thượng Hải Hiền âm thầm chấp trì câu hồng danh này suốt chín mươi hai năm, Ngài
đã tự tại vãng sanh. Từ bản thân của hòa thượng Hải Hiền, chúng ta có nên phản
tỉnh tín nguyện của mình, tín nguyện cầu vãng sanh của chúng ta hay chăng?
Chân tín
thiết nguyện của Ngài đạt đến trăm phần trăm, còn chúng ta đạt tới mức nào? Có đủ
điểm hay không?
Tâm
sanh tử không khẩn thiết thì tìm đâu ra chân tín thiết nguyện? Không có chân tín thiết nguyện, làm sao vãng
sanh được?
Bất luận
là người tại gia hay xuất gia, chúng ta cần phải phản tỉnh một phen, chúng ta gặp
được pháp môn Niệm Phật lúc hai mươi mấy tuổi. Năm nay chúng ta đã hơn ba mươi
tuổi, bốn mươi tuổi, hơn năm mươi tuổi rồi, ...., đã bao nhiêu năm trôi qua, thể
lực ngày càng xuống dốc, chúng ta vẫn chẳng thành tựu được việc gì, đạo nghiệp
chẳng ra gì! Bôn ba bận bịu suốt cuộc đời, giống như La trạng nguyên đã viết
trong bài thơ Tỉnh Thế:
Tân khổ đáo đầu hoàn tân khổ
Bôn ba nhất thế uổng bôn ba
(Cực khổ
đến cuối cùng vẫn cực khổ,
Bôn ba cả đời cũng uổng bôn ba).
Người xưa nói
"Cử thế tận tùng mang lý lão, thùy nhân khẳng hướng tử tiền hưu”
(Cả đời già đi trong bận rộn, có ai chịu nghỉ hưu trước
khi chết).
Mọi người ai cũng già thêm
trong cuộc đời bận rộn, chẳng ai nghĩ tới cái chết, chẳng ai biết buông bỏ chuyện
thế gian sớm hơn. Cứ như vậy thì lúc lâm chung chúng ta sẽ sanh về đâu? Thật sự
giống như Ấn Quang đại sư đã dạy "Quyết
đọa địa ngục, ngạ quỷ súc sanh còn khó được, đừng vọng cầu phước báo nhân
thiên".
Chẳng thể niệm vài câu Phật hiệu
một cách qua loa hời hợt mà có thể giải quyết được chuyện lớn sanh tử từ vô lượng
kiếp đến nay. Đó gọi là 'bôi thủy xa tân'
(một ly nước chẳng thể cứu nổi cả xe chở củi đang cháy bừng). Phật hiệu của chúng
ta thường xen tạp, thường đánh mất, thường gián đoạn. Người thật sự muốn đời này
được vãng sanh, phải hạ thủ công phu trên tín nguyện cho tốt đẹp, hạ công phu
trên chân tín thiết nguyện. Muốn tăng trưởng tín nguyện trước hết phải có tâm
sanh tử khẩn thiết, thật sự vì sanh tử.
Nhân dịp
tham gia lớp nghiên cứu Giới Luật tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, xin trích một
đoạn khai thị của Liên Trì đại sư cúng dường đại chúng, cùng nhau khích lệ.
"Giới Định Huệ chính là pháp môn Niệm
Phật. Vì sao vậy? Giới có nghĩa là phòng ngừa những điều sai trái. Nếu có thể
nhất tâm niệm Phật, chẳng dám làm ác, đó là Giới. Định có nghĩa là trừ tán loạn,
nếu nhất tâm niệm Phật, tâm chẳng duyên theo cảnh bên ngoài, đó chính là Định.
Huệ nghĩa là chiếu soi rõ ràng, giống như quán tiếng niệm Phật, từng chữ phân
minh rõ ràng. Và quán năng niệm sở niệm đều chẳng thể được, đó chính là Huệ. Niệm
Phật như vậy chính là Giới Định Huệ".
Liên Trì
đại sư có viết một đôi liễn đặt trong Niệm Phật Đường. Ấn Quang đại sư khen đôi
liễn này hay quá, nhưng chưa thấy người ta phổ biến nên Ấn Quang đại sư thường
chép lại đôi liễn này tặng người ta. Dùng đức của đại sư để cảm động người chắc
chắn sẽ sâu dầy. Đôi liễn đó như sau :
Chủ Cực Lạc lục bát đại nguyện chi từ tôn,
tuyệt hạn lượng thọ mạng quang minh, bất ly đương xứ
Quá Sa Bà vạn triệu Phật bang chi Tịnh
Độ, diệu trang nghiêm lầu đài trì chiểu, nguyên thị ngô hương
(Bốn mươi
tám lời nguyện của đấng Từ tôn nơi cõi Cực Lạc, thọ mạng quang minh vô lượng chẳng
rời nơi đây
Cõi Tịnh
Độ cách Sa Bà vạn triệu cõi Phật, lầu đài ao báo vi diệu trang nghiêm vốn là quê
cũ của ta)
Cuối cùng,
thật ra bài báo cáo này chẳng phải do tôi viết, mà chỉ là gom lại các lời pháp
ngữ của tổ sư đại đức liên quan đến tâm sanh tử, dùng phương thức báo cáo để cúng
dường đại chúng. Sau đó xin thỉnh sư phụ thượng nhân giảng giải, khai thị. Những
pháp ngữ này thật ra quá trọng yếu, như mỗi mũi kim đều đâm thấy máu, có thể giúp
cho chúng ta niệm Phật [được tốt đẹp hơn]. Trong quá trình báo cáo nếu có gì
sai sót, xin sư phụ thượng nhân và các vị đồng tu phê bình, sửa đổi cho đúng,
mong đại chúng từ bi, bố thí hoan hỷ.
A Di Đà
Phật,
Đệ tử bất tiếu Thích Tự Liễu khấu
trình.
Lão hòa
thượng giảng:
Chúng
ta coi bài báo cáo này. Đức hiệu của pháp sư chẳng phải là Tự Liễu, nếu là Tự
Liễu thì pháp sư sẽ chẳng soạn ra bài báo cáo này. Pháp sư viết bài này thật sự
là cúng dường đại chúng, phổ độ chúng sanh, đào bới tận gốc [để chỉ rõ] những căn
bịnh của người tu hành, nói chẳng sai tí nào. Những đoạn trích dẫn kinh điển, có
một số người trong chúng ta đã đọc qua những lời khai thị này của các vị đại đức
đời xưa, [nhân dịp này] ở đây ôn lại. Thật sự là phải ôn lại, vì sao? Chúng ta đã
quên mất hết. Ai chưa đọc qua những lời khai thị này, hôm nay ở đây cũng có thể
đọc được. Trong kinh đức Phật khai thị, tổ sư đại đức nhắc nhở chúng ta, sự việc
hạng nhất trong đời người đích thật chính là việc lớn sanh tử. Nhưng con người [ngày
nay] đều mê hoặc, mức độ cảnh giác đối với việc này của người xưa cao hơn chúng
ta, ngày nay chúng ta hoàn toàn quên mất. Vì sao lại quên mất? Vì suốt ngày bận
rộn trong cái thế giới phồn hoa này, [tất cả đều] un đúc làm cho chúng ta mê hoặc
tới mức này, quên sạch sành sanh chuyện lớn sanh tử. Tuy có người nhắc nhở, mỗi
ngày nhắc đi nhắc lại mười mấy lần cũng uổng công, vì sao? Vì chúng ta chẳng đặt nó ở trong tâm. Nhưng [vấn
đề này] quan hệ rất lớn, nếu chẳng thể giải quyết ổn thỏa trong đời này, đời
sau nhất định sẽ trầm luân, một khi trầm luân sẽ đáng sợ vô cùng.
Lúc thầy
Lý còn tại thế, đặc biệt là những năm cuối, Ngài vô cùng từ bi, thường nhắc nhở
chúng tôi. Chúng tôi đối với những chuyện này nghe rất quen tai, nhưng như thế
nào? Chẳng thật sự làm, chẳng có biện pháp đoạn hết các duyên. Duyên có thiện
duyên và ác duyên, chúng ta có khả năng phân biệt thiện duyên, xa lìa ác duyên.
Nhưng thiện duyên, đặc biệt là thiện duyên có lợi ích cho chúng sanh, chúng ta
không thể không làm. Nếu không có duyên, nhất định chẳng phan duyên. Tuy có duyên
chúng ta tận tâm tận lực, làm một chút chuyện tốt cho chúng sanh đang chịu khổ
nạn, quyết định đừng để nó trong tâm. Nếu để trong tâm sẽ chẳng tương ứng với
Tam Không Tam Muội, [vậy thì sẽ] biến thành gì? Biến thành phước báo nhân thiên.
Nếu không để nó trong tâm thì sẽ tương ứng, tức là Vô Tác Vô Nguyện. Vô tác vô
nguyện chẳng phải chẳng làm mà là thật sự có làm. Làm mà chẳng làm, thân làm,
khẩu làm, tâm chẳng làm (nghĩa là chẳng đặt, chẳng ghim việc đó vào tâm), trong
tâm sạch sẽ chẳng nhiễm mảy trần. Vì sao? Tâm đó là chân tâm, do vậy hành động
là chánh hạnh, lời nói là chánh ngữ, ba nghiệp đều 'chánh'. Dù 'chánh' nhưng cũng đừng chấp trước tướng
'chánh', đừng có ý niệm này, có ý niệm này lại biến thành phước báo, chẳng có ý
niệm này thì đó là công đức. Công đức và phước đức khác nhau ở chỗ này, trong tâm
có ý niệm thì là phước đức, chẳng có ý niệm thì là công đức. Công đức giúp chúng
ta liễu sanh tử thoát khỏi tam giới, phước đức chỉ cho chúng ta hưởng thọ phước
báo nhân thiên.
Chúng
ta phải hiểu rõ ràng, hiểu rành rẽ những lời khai thị này của đức Phật. Chúng
ta từ sáng đến tối khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác tương ứng với công đức
hay phước đức, công đức hay phước đức đều tốt. Nếu tương ứng với ác nghiệp, tương
ứng với tham sân si mạn, tương ứng với tự tư tự lợi, thì vấn đề sẽ rất nghiêm
trọng, đó là gì? Đó là tạo nghiệp của địa ngục, của ba đường ác, đáng sợ vô cùng.
Vì sao? Rốt cuộc chúng ta chưa có khả năng thật sự phân biệt thị phi thiện ác.
[Tiêu chuẩn] thị phi thiện ác của chúng ta ngày nay là do chúng ta [đặt ra] cho
rằng như vậy, sai khác rất nhiều so với những gì nói trong kinh giáo. Đó là gì?
Chúng ta chẳng khiêm tốn, chúng ta ngạo mạn, thậm chí còn có đố kỵ, chúng ta thật
ra chẳng y giáo phụng hành. Đại căn đại bổn trong lời dạy của đức Phật chính là
Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện. Đại thừa tám vạn tế hạnh cũng là khai triển từ
chỗ này mà ra. Ba ngàn oai nghi của Tiểu thừa quy nạp lại chính là Tam Quy, Ngũ
Giới, Thập Thiện, khai triển quy nạp chẳng giống nhau, mở ra thành vô lượng vô
biên hạnh môn, quy nạp lại bèn thành mấy câu này. Chúng ta có tìm hiểu chúng
cho thấu đáo, rõ ràng, cho có tương ứng hay không? Điểm này rất quan trọng.
Pháp sư
soạn bài báo cáo xong; chúng ta coi bài báo cáo này [có thể thấy] pháp sư chẳng
phải là tự liễu, ngài đến đây là nhằm cứu độ chúng sanh, quảng độ chúng sanh.
Người tu hành chân chánh, thật sự mong thoát khỏi [Sa Bà] trong đời này, muốn thoát
lìa lục đạo luân hồi, thoát ra khỏi biển khổ sanh tử hãy nên coi nhiều lần, hãy
nên nỗ lực học tập. Tôi rất coi trọng bài này, chẳng thua kém gì sự tiêu biểu
pháp của lão hòa thượng Hải Hiền. Do vậy chúng ta phải cảm ân, cảm tạ pháp sư
[Tự Liễu]. Hôm nay thời giờ đã hết, chúng ta học tập đến đây.
Bích Ngọc chuyển ngữ.
Nếu có gì sơ sót xin chư vị thức giả
hoan hỷ cải chính cho.