Phàm tu tịnh nghiệp,

phải lấy quyết chí cầu sanh Tây phương làm mục đích chính

(từ lăo ḥa thượng Hải Hiền,

 xét tín nguyện cầu văng sanh của chúng ta, tập 2)

 

Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú kỳ thứ 4 (tập 84 )

          25-9-2014 Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 02-042-0084

 

          Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú.

          Thích Tự Liễu soạn

          Ḥa thượng Tịnh Không giám định

          Bích Ngọc chuyển ngữ. Như Ḥa giảo duyệt

 

1. Chúng ta niệm Phật là v́ mong muốn điều ǵ? Mục đích của sự niệm Phật là ǵ?

          Có một vị đồng tu niệm Phật suốt bốn ngày bốn đêm chẳng ngủ, niệm suốt ngày lẫn đêm. Sau đó người ta hỏi v́ sao có thể tinh tấn như vậy? Người đó nói v́ muốn cho hộ khẩu của con gái được dời đến Quảng Châu. Những chuyện giống như vậy rất nhiều, niệm Phật cầu thân thể khoẻ mạnh, cầu thăng quan phát tài, cầu phước báo thế gian, tốt hơn nữa là cầu khai ngộ, cầu công phu thành phiến, cầu nhất tâm bất loạn.

Chúng ta niệm Phật nhằm cầu việc ǵ? Ấn Quang đại sư luận định một cách thẳng thừng: “Phàm tu tịnh nghiệp, phải lấy quyết chí cầu sanh Tây phương làm mục đích chính”. “Đạo lư căn bản của sự niệm Phật là mong người niệm Phật khởi sanh ḷng tin, phát nguyện cầu sanh Tây phương, liễu thoát sanh tử. Đừng chỉ cầu sự giàu sang vui sướng ở thế gian mà không cầu sanh Tây phương. Khi nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây phương cũng có thể tiêu diệt tai nạn thế gian. Chẳng phải là niệm Phật không thể tiêu diệt tai nạn đâu nhé”. Niệm Phật phải mong cầu văng sanh làm mục đích chính. Nhiều người niệm Phật suốt cả đời nhưng vẫn u mê, mù mờ. Hôm nay chúng ta sẽ đọc lời dạy của Ấn Quang đại sư để giải quyết vấn đề này.

 

2. Trích pháp ngữ trong Ấn Quang Văn Sao

Đức Phật mở ra pháp môn Niệm Phật là chỉ mong hết thảy chúng sanh văng sanh Tịnh Độ ngay trong một đời này. Nếu Như Lai không mở ra pháp này th́ chúng sanh đời Mạt pháp chẳng ai có thể liễu sanh tử.

Phải biết Phật pháp có vô lượng pháp môn, nếu nghiệp lực phàm phu muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, ngoài pháp môn ‘tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây phương’ đức Phật cũng không nói ra được pháp môn thứ hai nào cả.

Người ở ngoài cuộc phần đông là cầu khai ngộ, cầu được các thứ cảnh giới mà chẳng chú trọng quyết định cầu sanh [Tịnh độ], đó gọi là ‘bỏ gốc chạy theo ngọn’.

Nếu có ư niệm mong cầu sanh cơi trời, cơi người th́ Tây phương sẽ chẳng có phần của ḿnh. V́ tâm sanh tử quá quen thuộc, một sức lực bé tí có thể chống cự nổi sức mạnh ngàn cân của sanh tử sao?

Nếu không cầu sanh Tây phương, chỉ cầu tiêu tai và cầu chẳng mất thân người; làm vậy cũng giống như dùng một hạt châu Ma ni vô giá để đổi lấy cục kẹo. Người ấy là kẻ ngu si, đáng thương, hoàn toàn chẳng biết tốt xấu!

Pháp niệm Phật này là một đại pháp môn để đức Phật phổ độ hết thảy chúng sanh. Khi gặp nguy hiểm, niệm Phật gặp hung liền được hóa kiết. Niệm Phật lúc vô sự có thể tiêu tai, tăng phước. Nhưng nhất định phải cầu sanh Tây phương mới là lợi ích to lớn rốt ráo.

Niệm Phật nếu không cầu sanh Tây phương, dù sanh đến cơi trời Phi Phi Tưởng tôn quư nhất, đến khi phước trời hết vẫn phải luân hồi vào lục đạo trở lại. Nếu chí thành khẩn thiết niệm Phật, dù sắp đọa địa ngục A Tỳ cũng có thể nhờ Phật tiếp dẫn văng sanh Tây phương.

Ngày nay hạo kiếp trước mắt, mọi người đều nên nỗ lực niệm Phật cầu sanh Tây phương, chứ đừng cầu phước báo nhân thiên đời sau. Dù được phước báo cũng chỉ là tạm thời. Phước lớn sẽ tạo nghiệp lớn, đă tạo nghiệp lớn ắt chịu khổ lớn. Nếu sanh tây phương, sẽ vĩnh viễn xa ĺa các thứ khổ, chỉ thọ các niềm vui.

Nếu có một niệm cầu phước báo trời người trong đời sau, dù có tu tŕ tinh thuần cũng gọi là ‘trái nghịch lời Phật dạy’. Tuy có trồng thiện căn, nhưng liễu sanh thoát tử sẽ xảy ra vào năm con lừa, đáng thương biết mấy!

Phật dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây phương là nhằm cho chúng ta liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Nếu mong  cầu phước báo trời người đời sau chính là trái nghịch lời Phật dạy. Như đem một hạt châu báu vô giá để đổi lấy một viên kẹo, có đáng tiếc không? Người ngu niệm Phật chẳng cầu sanh Tây phương mà cầu phước báo trời người đời sau chẳng khác ǵ ví dụ hạt châu vô giá trên.

Pháp môn Tịnh Độ, dùng chân tín thiết nguyện niệm Phật, quyết định cầu sanh Tây phương làm tông chỉ. Nếu người niệm Phật chẳng nguyện cầu sanh Tây phương tức là trái nghịch lời Phật dạy. Ví như vương tử ở nhờ nước khác, chẳng tin chính ḿnh là vương tử, chỉ nguyện cả đời khất thực, chẳng đến nổi chết đói bèn măn nguyện. Tri kiến thấp hèn đó có thể làm cho người ta không thương xót hay sao?

Phải khởi ḷng tin, phát nguyện, cầu sanh Tây phương, ngàn vạn lần chẳng thể cầu phước báo đời sau. Nếu cầu phước báo đời sau chính là phá giới, trái nghịch pháp! V́ pháp môn niệm Phật là pháp môn dạy người cầu sanh Tây phương. Quư vị đă niệm Phật mà chẳng cầu sanh Tây phương, lại cầu phước đời sau là đă chẳng tuân theo lời Phật dạy. Đó là pháp mà Phật dạy người ta phải tuân theo, quư vị chẳng chịu tuân theo, do đó [quư vị đă] ‘phá giới, trá́ nghịch pháp’.

Muốn sanh Tịnh độ trước tiên phải nhận thức rơ ràng tông chỉ. Sự tu tŕ phổ thông chẳng có ai chẳng muốn khai ngộ. Nhưng chuyện khai ngộ không phải là chuyện dễ. Nếu biết tông chỉ của Tịnh độ, tuyệt chẳng dự định kỳ hạn khai ngộ. Nếu không chú trọng tín nguyện, dù khai ngộ vẫn khó liễu thoát. Nếu có thể nhất tâm niệm Phật, chẳng khai ngộ cũng có thể văng sanh.

Thật sự có thể niệm Phật, chẳng cầu phước báo thế gian nhưng tự nhiên được phước báo thế gian (như trường thọ, chẳng bịnh, gia tộc thanh thái, con cháu phát đạt, các duyên như ư, vạn sự cát tường…) Nếu cầu phước báo thế gian, không chịu hồi hướng văng sanh, phước báo thế gian có được sẽ lại thấp hèn. C̣n tâm không chuyên nhất th́ khó quyết định văng sanh được!

Phải nên phát tâm quyết định, lâm chung nhất định cầu văng sanh Tây phương. Đừng nói là chẳng mong cầu thân người hèn hạ tầm thường, dù cho thân vua cơi trời người, và thân người xuất gia cao tăng, nghe một hiểu ngàn, được đại tổng tŕ, đại hoằng pháp hóa, rộng độ chúng sanh, đều coi như sự độc hại, tội ác to lớn, tuyệt chẳng sanh một niệm muốn thọ thân ấy. Quyết tâm như vậy th́ tín nguyện hạnh ấy của chính ḿnh mới có thể cảm được Phật. Thệ nguyện của Phật mới có thể nhiếp thọ, cảm ứng đạo giao, mong Phật tiếp dẫn, thẳng lên chín phẩm, vĩnh viễn thoát ĺa luân hồi.

Pháp môn Tịnh Độ chú trọng ở Tín và Nguyện. Người chẳng biết chỉ cầu phước báo nhân thiên, hoặc cầu đời sau làm Tăng, hoằng dương Phật pháp, độ thoát chúng sanh. Phải bỏ hết những tâm niệm như vậy, nếu c̣n mảy may nào bèn chẳng thể văng sanh. Một khi văng sanh bèn siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nếu không văng sanh, dù cho một đời hoặc hai đời không mê, tuyệt đối khó được vĩnh viễn không mê. Khi mê th́ do phước tu tŕ sẽ tạo nghiệp [to lớn], rất đáng sợ. Đă tạo ác nghiệp th́ ác báo tự nhiên tới tấp, cầu mong thoát khỏi tam đồ sợ là chẳng bao giờ được.

Một pháp Niệm Phật quan trọng ở chỗ phải có chân tín, thiết nguyện. Có chân tín thiết nguyện, dù chưa được nhất tâm bất loạn, cũng có thể nương vào từ lực của Phật đới nghiệp văng sanh. Nếu chẳng có tín nguyện dù cho tâm không vọng niệm th́ cũng chỉ là phước báo nhân thiên.V́ chẳng tương ứng với Phật, cho nên phải chú trọng nơi tín nguyện cầu sanh Tây phương.

Chỉ biết niệm mà chẳng sanh khởi tín tâm, phát nguyện, dù được nhất tâm cũng chưa chắc được văng sanh. Nếu có đủ chân tín thiết nguyện, tuy chưa tới nhất tâm bất loạn cũng có thể nương vào từ lực của Phật mà văng sanh.

Dù có thể chấp tŕ danh hiệu, nhưng v́ không cầu thoát ly, bèn thành nhân quả trời người, thọ hưởng si phước. Do phước tạo nghiệp nên sẽ ch́m đắm trong ác đạo.

Những đoạn pháp ngữ nêu trên được trích lục từ Ấn Quang pháp sư Văn Sao. Mỗi chữ trong lời khai thị của Ấn Tổ đều là bến bờ trong đời Mạt pháp. Lời nào cũng là tấm gương quư báu cho [người tu] Liên tông. Lăo nhân gia tự khiêm tốn và nói

“Văn sao của Ấn Quang, lời văn tuy chất phát, mộc mạc, những ǵ nói trong đó đều là lời của Phật, Tổ, chẳng qua là lấy những ư đó [của Phật, Tổ] rồi tùy cơ nghi mà nói, chứ đâu phải do Ấn Quang tự ư bịa chuyện? Ấn Quang chỉ chuyển đạt lời nói làm cho kẻ sơ cơ dễ hiểu. Tuy v́ sơ cơ, nhưng nếu làm đến cùng cực th́ cũng không thể bỏ những điều ấy mà tu cách khác. V́ một pháp Tịnh Độ là pháp triệt trên thấu dưới”.  “Học thức của Ấn Quang nông cạn, chẳng phát huy ǵ to lớn, nhưng nếu có thể làm theo đó (chỉ lời dạy trong Văn Sao), quyết định có ích chứ không tổn hại. Chắc chắn có thể liễu sanh tử ngay trong đời này, sau khi văng sanh được hầu một bên đức Phật Di Đà.”

Ấn Quang đại sư có một đoạn khai thị kinh điển như sau, chúng ta nên ghi nhớ:

“Đức Phật chỉ muốn chúng sanh siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nhưng căn cơ của chúng sanh chẳng đồng, tâm nguyện mỗi người khác nhau. Có chúng sanh cầu phước, cầu thọ, cầu tài, cầu con…, chỉ cần dùng tâm thành mà cầu, có cầu ắt ứng. Đó tuy là pháp thế gian, nhưng tiếp dẫn hạ căn, dần dần trồng thiện căn đều được măn nguyện. Nếu luận theo bổn ư của Phật, đức Phật chỉ muốn chúng sanh nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây phương, nương nhờ từ lực của Phật lâm chung tiếp dẫn văng sanh Tây phương. Khi được văng sanh bèn thoát nỗi khổ luân hồi trong tam giới. Dần dần tiến tới đến khi thành Phật. Đó mới là thật nghĩa rốt ráo của sự niệm Phật”

 

3. Lần này Tịnh Tông Học Viện mở lớp Nghiên Cứu Giới Học. Lúc khởi đầu có một số người bị lay động, tín tâm đối với Tịnh Độ bị lay động. Đúng ra phải nói tín tâm nguyên thỉ của chúng ta đối với Tịnh Độ vốn chẳng kiên cố. Chẳng phải người khác muốn lay động chúng ta, mà là tín tâm của chúng ta đối với A Di Đà Phật quá mỏng manh, do vậy gió thổi nhẹ bèn lung lay, gió thổi mạnh bèn ngả rạp xuống. Chư vị có nhớ không sư phụ thượng nhân trong Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú tập 103 có nói “Chúng ta ở đây học Giới Luật, Giới Luật ở trong phạm vi của câu Phật hiệu, chứ chẳng ở ngoài câu Phật hiệu”.

V́ muốn kiên định ḷng tin của chúng ta đối với pháp môn Tịnh Độ, nên Thiện Đạo đại sư trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ có nói “Dù mười phương chư Phật, tận hư không trọn khắp pháp giới hiện thân phóng quang khuyên [chúng ta] bỏ Tịnh Độ, rồi sẽ dạy diệu pháp thù thắng cho chúng ta, chúng ta cũng chẳng chấp nhận”  Đây là lời thấu tận tim gan của tổ sư, đối với chúng ta thật đúng như câu nói ‘hận luyện sắt không thành gang”, bi tâm khẩn thiết.

Ấn Quang đại sư trong Văn Sao đă nhiều lần, nhắc đi nhắc lại và nhấn mạnh:

“Trong đời Mạt pháp muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này chỉ có một pháp môn Tịnh Độ mà thôi. Đây là con đường sống sót duy nhất của chúng ta”,

Và Hành Sách đại sư có nói:

“Nếu không chuyên niệm đức Phật đó (chỉ A Di Đà Phật), cầu sanh nước ấy (chỉ Cực Lạc thế giới), ắt sẽ tùy theo nghiệp mà lưu chuyển, chịu khổ vô lượng”.

Ngẫu Ích đại sư cũng đă nói hai câu mà chưa từng có ai nói qua:

“Tùy thuận lời dạy dỗ chân thật của chư Phật, quyết chí cầu sanh, càng không có nghi hoặc”.

Năm Ngẫu Ích đại sư năm mươi tuổi, Ngài nói với đệ tử của Ngài là pháp sư Thành Thời: “Đến lúc về già tôi niệm niệm đều muốn khôi phục tỳ kheo giới pháp, gần đây niệm niệm cầu sanh Tịnh Độ”. Pháp sư Thành Thời lúc đó không hiểu, sau này mới biết ư của đại sư Ngẫu Ích là: “Chỉ có sau khi tôi văng sanh về Cực Lạc thế giới, nhờ bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, tôi mới có khả năng trở về đây khôi phục giới pháp. Ở thế giới Sa Bà này nh́n thấy người xuất gia không giữ giới luật, thật sự là tâm có thừa mà sức không đủ, do vậy một ḷng hướng về Tây!” Tổ sư một ḷng hướng về Tây đáng làm cho chúng ta suy nghĩ. Đoạn này trích trong sách Ngẫu Ích Đại Sư Niên Phổ, do Hoằng Nhất đại sư soạn.

Hoằng Nhất đại sư là đại đức trong Luật tông, lăo pháp sư Đàm Hư đă từng mời Ngài đến chùa Trạm Sơn ở Thanh Đảo dạy giới luật. Hoằng Nhất đại sư trụ ở đó khoảng nửa năm, lúc gần ra đi nói với đại chúng lời khai thị cuối cùng cứ nhắc đi nhắc lại để khuyên người niệm Phật. Tứ chúng đệ tử tiễn đưa đại sư đến chân núi, Ngài nói có hai câu tặng đại chúng, Ngài lấy ra một miếng giấy nhỏ trên đó viết tám chữ “Thừa thử thời cơ tối hảo niệm Phật” (Nhân thời cơ này, tốt nhất là niệm Phật). Chuyện này được ghi trong cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục, rất cảm động.

Lăo ḥa thượng Hải Hiền thường nói: “Lăo Phật Gia (A Di Đà Phật) là gốc rễ (căn) của vị ḥa thượng già như tôi!” Câu này có ư nghĩa ǵ? Căn là mạng căn, chúng ta dùng một câu của Ấn Quang đại sư để giải thích cho dễ hiểu “Dùng một câu Phật hiệu này làm bổn mạng nguyên thần, phát lời thề cầu văng sanh. Dù lấy cái chết bức bách làm cho ḿnh thay đổi cũng không được”. Đó là ư nghĩa của chữ ‘căn’, A Di Đà Phật là mạng căn của chúng ta.

Chúng ta hăy xem Liên Tŕ đại sư nói như thế nào:

“Người đời nay không chịu niệm Phật, khinh thường Tây phương. Không biết sanh về Tây phương là chuyện làm của những người có phước lớn, đức dầy, đại trí đại huệ, đại thánh đại hiền. Chuyển Sa Bà thành Tịnh Độ, là nhân duyên rất đặc biệt. Quư vị hăy xem người trong kinh thành một ngày một đêm chết đi biết bao nhiều người? Đừng nói sanh về Tây phương, chỉ đếm người sanh lên trời, trong trăm ngàn người chưa được một ai. Những kẻ tự phụ là người tu hành chỉ là chẳng mất thân người mà thôi”

“Những kẻ tự phụ là người tu hành chỉ là chẳng mất thân người mà thôi”, đáng sợ hay không? “chỉ là chẳng mất thân người mà thôi”, đây là t́nh trạng thật sự, điều này là một tiếng chuông gơ nhằm cảnh giác cho chúng ta. Chúng ta tự phụ là người niệm Phật, cuối cùng có thể văng sanh hay không?

Ấn Quang đại sư tự xưng “là vị Tăng tự liễu chỉ biết cơm cháo, chẳng mộng làm việc hoằng pháp lợi sanh”. Ngẫu Ích đại sư cũng có hai câu khác điệu mà đồng âm:

“Đợi đến Tây Phương quay trở lại,

Trống pháp rền vang khắp đại thiên.”.

Thật ra tự liễu thật sự có phải là tự liễu hay chăng? Các vị tổ sư chẳng phải là kẻ tự liễu (chỉ lo cho ḿnh thoát ly sanh tử), cử chỉ hành động của các Ngài đáng để cho chúng ta suy nghĩ sâu xa!  Nhiều người chúng ta, tự ḿnh c̣n chưa liễu sanh tử, mà cứ bận bịu đi độ chúng sanh.  Một câu trong Di Đà Yếu Giải đă nói toạc ra “Năng tự độ tức phổ lợi nhất thiết” (Có thể tự độ tức là mang lại lợi ích rộng khắp cho hết thảy). Lăo ḥa thượng Hải Hiền chính là thí dụ điển h́nh, sự văng sanh của Ngài độ được vô số chúng sanh.

 

4. Đệ tử chẳng tu chẳng hành làm sao có tâm đắc? Chỉ là mang những lời khai thị của tổ sư chép ra, hy vọng dùng cái giảng đài trong lớp học này, giúp cho các đồng tu dựa vào lời khai thị của tổ sư mà củng cố tín nguyện niệm Phật cầu văng sanh của ḿnh. “Phàm những kẻ tu tịnh nghiệp phải dùng quyết chí cầu sanh Tây phương làm mục đích chính”. Niệm Phật duy chỉ cầu văng sanh! Con đường này đi đúng rồi, các thứ khác đều không mong cầu. Không phải lăo ḥa thượng Hải Hiền đă nói rồi sao? “Những thứ cảm ứng, lạ kỳ đều chẳng mong cầu, những ǵ tự nhiên mới tốt”. Công phu thành phiến cũng chẳng mong cầu, công phu thành phiến là tự nhiên thành tựu, chẳng phải do cầu mà được. Lăo nhân gia nói ‘Niệm Phật niệm đến một lúc nhất định nào đó, bất kỳ lúc nào cũng đang niệm Phật”, đó không phải là công phu thành phiến hay sao? Công phu thành phiến là tự nhiên thành tựu, chẳng do tạo tác làm ra.

Chư vị Tổ sư đều là những người tu hành từng trải, lời khai thị của các Ngài thấu tận tim gan, thổ lộ tâm huyết của ḿnh, câu nào cũng xuyên giấy [1], chẳng có nửa chữ nào dư thừa. Ngàn lời vạn ngữ chẳng ǵ không củng cố tín nguyện cầu văng sanh của chúng ta, Cực Lạc thế giới không đi không được! Tín nguyện của chúng ta phải vững chắc “đến mức gió thổi không lọt, mưa rơi không ướt, như tường đồng vách sắt” th́ văng sanh mới có hy vọng.

Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư nói “Muốn được tám gió thổi không lay động, cần phải khẳng định một câu cương tông”. Một câu tức là một câu A Di Đà Phật, “Dùng một câu A Di Đà Phật, giống như dựa một ṭa núi Tu Di, bất luận gặp phải cảnh giới thuận nghịch, khổ vui cũng vậy, tuyệt chẳng bao giờ đánh mất câu Phật hiệu này, đó mới là kiên tŕ chánh niệm”.

Lăo ḥa thượng Hải Hiền đă làm được rồi, tuy Ngài không biết chữ, chẳng có [tŕnh độ] văn hóa, nhưng những lời khai thị của Tổ sư đại đức nói trên Ngài đă thực hiện được hết, tín nguyện cầu văng sanh của Ngài vô cùng kiên cố, trời có sập cũng chẳng lay động được. Nếu quư vị hỏi Ngài khai thị về niệm Phật, Ngài sẽ nói với quư vị chẳng có ǵ để khai thị hết! Ngài chẳng giống Ấn Quang đại sư nói một tràng đại đạo lư. Nhưng bản thân của Ngài chính là một bộ Ấn Quang đại sư Văn Sao sống động, những đạo lư mà Ấn Quang đại sư dạy, Ngài đều thực hiện được viên măn, cho nên một câu Phật hiệu này Ngài đă niệm thành công. Ấn Tổ khai thị chúng ta

‘Một câu A Di Đà Phật chỉ cần niệm được thuần thục, thành Phật c̣n có dư. Chẳng học các pháp khác có ǵ hối tiếc?”

Lăo ḥa thượng Hải Hiền dùng cả đời của Ngài biểu diễn câu này đến mức tột cùng.

Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư có làm một đôi liễn, kính điếu tổ thứ mười ba của Tịnh Độ Tông là Ấn Quang đại sư. Ngài hội tập kinh văn dịch đời Tần và đời Đường của kinh A Di Đà. Đệ tử nghĩ rằng đôi liễn này nếu dùng để kính viếng tổ thứ mười bốn của Tịnh Độ Tông là Hải Hiền đại sư cũng rất thích hợp. Hai câu liễn như sau:

Pháp âm tuyên lưu[2] linh đắc thù thắng lợi ích an lạc[3]

Từ bi gia hựu[4], thành tựu như thị công đức trang nghiêm[5]

Làm một vị xuất gia, tôi có nghĩa vụ và có trách nhiệm. Trước khi kết thúc, dùng nhiều phương thức lập lại nhiều lần một câu nói trong Ấn Quang Văn Sao rồi nhấn mạnh thêm, ḥng nhắc nhở mọi người. Đương nhiên lời của Ấn Tổ là văn Văn Ngôn, đệ tử trực tiếp quy nạp, phiên dịch thành: “Thời kỳ Mạt pháp, muốn liễu sanh thoát tử ngay trong một đời này, duy nhất chỉ có một pháp môn đó là Tịnh Độ”. Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là niệm Phật cầu văng sanh, hạ công phu trên câu Phật hiệu này.

Sau cùng cúng dường mọi người thêm hai câu thơ, hai câu thơ này của Tỉnh Am đại sư biểu đạt chính ḿnh, mà cũng mô tả một cách chân thật lăo ḥa thượng Hải Hiền:

‘B́nh sanh chỉ hữu tây quy nguyện,

Khẳng vị tha duyên phụ thử tâm?

(B́nh sanh chỉ nguyện về Tây,

Chẳng v́ duyên khác đổi thay tâm này)

Hôm nay báo cáo tới đây, nếu trong quá tŕnh báo cáo có sai sót, kính xin sư phụ thượng nhân và các vị đồng tu phê b́nh, sửa đổi, chẳng tiếc ban cho lời dạy, mong đại chúng từ bi bố thí hoan hỷ.

A Di Đà Phật

Bất tiếu[6] đệ tử Thích Tự Liễu khấu tŕnh.

 

Lăo ḥa thượng:

Chúng ta c̣n ba mươi lăm phút, c̣n mấy bài nữa? C̣n hai bài. Tôi nghĩ chúng ta nghe xong [ai nấy] đều được lợi ích, thọ dụng. Pháp sư Tự Liễu chẳng phải tự liễu. Pháp sư giúp mỗi người, mỗi cá nhân chúng ta tự liễu. Hai chữ “Tự Liễu” này chẳng phải là của pháp sư chuyên dùng, mỗi người chúng ta ai cũng nên tự liễu. Những chuyện khác tôi sẽ không nói dài ḍng nữa, hăy nghe tiếp bài kế. Báo cáo của mỗi người đều hay, đều làm cho tôi sanh tâm hoan hỷ.

 

Trong quá tŕnh chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

         

///////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////

 

Vừa niệm Phật, vừa tăng trưởng ái căn sanh tử

(Từ lăo ḥa thượng Hải Hiền xét tín nguyện cầu văng sanh của chúng ta, tập 3)

          Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng Thọ Khoa Chú kỳ thứ 4 (tập 86 )

          30-9-2014 Tịnh Tông Học Viện Úc Châu 02-042-0086

 

          Báo cáo tâm đắc của học sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú.

          Thích Tự Liễu soạn

          Ḥa thượng Tịnh Không giám định

          Bích Ngọc chuyển ngữ. Như Ḥa giảo duyệt

 

          1. Mở bài.

Ấn Tổ khẳng định: “Phàm kẻ tu Tịnh nghiệp phải lấy quyết chí cầu sanh Tây phương làm mục đích chính”.

Xin hỏi, quư vị hạ quyết tâm cầu văng sanh hay chưa?

Nếu bây giờ xin hỏi đại chúng: “Quư vị muốn văng sanh hay không?”

Mọi người sẽ đồng thanh trả lời “muốn văng sanh”.

Nhưng quan sát cặn kẽ, phần đông chúng ta đều “Miệng niệm Di Đà, tâm luyến Sa Bà”. Một mặt th́ muốn đến Cực Lạc thế giới, mặt khác chuyện này ở Sa Bà này c̣n chưa buông bỏ được, chuyện kia cũng buông không nổi, vậy th́ không thể nào văng sanh được, đó chẳng phải là hạ quyết tâm cầu văng sanh.

Thật sự hạ quyết tâm cầu văng sanh là như thế nào?

Đối với Sa Bà thế giới hoàn toàn buông xuống, chẳng có tơ hào tham luyến, chẳng có việc ǵ buông không nổi, nhất định sẽ giống như lăo hoà thượng Hải Hiền, một câu Phật hiệu từng giây từng phút đều tranh thủ mà niệm, chưa hề buông bỏ. Chúng ta mới biết khoảng cách [giữa chúng ta và lăo ḥa thượng Hải Hiền] là bao lớn! Nguyện văng sanh chẳng phải là mỗi ngày đều đến trước bàn thờ Phật tụng câu ‘Nguyện sanh tây phương Tịnh độ trung’ mới gọi là nguyện văng sanh. Đây là lời trên đầu môi, c̣n nội tâm th́ sao? Trong tâm th́ vẫn tham chấp những chuyện Người, Sự, Vật trong luân hồi một cách cứng chắc. Cam tâm t́nh nguyện ch́m đắm trong biển ái dục, trên căn bản là chẳng muốn thoát ĺa. Đây là căn bịnh chung của phần đông mọi người, Hám Sơn đại sư có một toa thuốc hay nhằm đối trị căn bịnh này, đó là bài “Khai thị niệm Phật thiết yếu”. Chúng ta hăy cùng nhau học tập:

 

          2. Giới thiệu sơ lược về đại sư Hám Sơn.

Hám Sơn đại sư, Liên Tŕ đại sư, Ngẫu Ích đại sư, và Tử Bách đại sư được gọi là “Tứ đại cao tăng cuối đời Minh”; Hám Sơn đại sư lưu lại nhục thân bất hoại hiện được thờ phụng cùng với nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng tại chùa Nam Hoa ở Quảng Đông. Đối với Hám Sơn đại sư chúng ta c̣n xa lạ, nhưng Ngẫu Ích đại sư th́ chúng ta rất quen thuộc. Năm Ngẫu Ích đại sư hai mươi bốn tuổi một ḷng muốn lễ Hám Sơn đại sư làm thế độ ân sư, nhưng lúc đó Hám Sơn đại sư đang ở rất xa tại Tào Khê Quảng Châu, xa quá nên duyên chẳng chín muồi, Ngẫu Ích bèn xuất gia dưới ṭa của thiền sư Tuyết Lănh, tức là cao đồ của Hám Sơn đại sư. Ngẫu Ích đại sư là bậc như thế nào? Chúng ta có thể nghĩ mà biết Hám Sơn đại sư chẳng phải là người tầm thường. Hám Sơn đại sư tuy chẳng phải là tổ sư của Tịnh Tông, nhưng tổ thứ mười của Tịnh Tông là thân tái lai của Hám Sơn đại sư. Cha của Triệt Lưu[7] đại sư tên là Toàn Xương, ông là một nhà Nho ở Nghi Hưng và cũng là bạn của đại sư Hám Sơn. Ba năm sau khi Hám Sơn đại sư viên tịch, vào một đêm nọ, ông Toàn Xương nằm mơ thấy Hám Sơn đại sư bước vào pḥng ḿnh, sau đó Triệt Lưu đại sư được sanh ra đời, do vậy ông Toàn Xương mới đặt tên con là Mộng Hám.

Trong bài tán tụng chư tổ Tịnh Tông của Ấn Quang đại sư có câu:

“Hám Sơn túc nguyện thượng vị thù, cố phục thị sanh tác Triệt Lưu’

(Nguyện xưa của Hám Sơn chưa được tṛn, nên đời này thác sanh thành Triệt Lưu).

Thường người ta xưng tổ thứ Mười của Tịnh Tông là Ngu Sơn Phổ Nhân Hành Sách đại sư, đó chính là Triệt Lưu đại sư.

 

          3. Hám Sơn đại sư khai thị:

          a. Hám Sơn đại sư “Thị niệm Phật thiết yếu”, chúng ta hăy đọc hết bài này qua một lượt, sau đó mới nói đến những chỗ trọng yếu:

“Môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ vốn là nhằm đoạn dứt đại sự sanh tử, do đó gọi là [pháp môn] Niệm Phật liễu sanh tử. Con người ngày nay phát tâm v́ muốn liễu sanh tử nên mới chịu niệm Phật. Chỉ  nói niệm Phật có thể liễu sanh tử, nếu không biết gốc rễ sanh tử là ǵ th́ rốt ráo hướng đến đâu mà niệm. Nếu cái tâm niệm Phật đoạn chẳng nổi gốc rễ sanh tử, vậy th́ làm sao liễu được sanh tử. Gốc rễ sanh tử là ǵ? Người xưa nói:

Nghiệp chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà;

Ái chẳng đoạn chẳng sanh Tịnh Độ.

Do đó mới biết Ái căn chính là gốc rễ sanh tử. V́ hết thảy chúng sanh chịu cái khổ sanh tử, đều là lỗi lầm của ái dục vậy. Ái căn ấy chẳng phải đời này mới có, cũng chẳng phải là một, hai, ba, bốn đời trước đă có, mà là từ vô thỉ lúc mới có sanh tử tới nay, đời đời kiếp kiếp, xả thân thọ thân, đều do Ái dục lưu chuyển. Măi cho đến ngày nay, quay lại suy nghĩ lúc trước có từng bao giờ khởi lên một niệm tạm ĺa cái Ái căn đó không? Chủng tử ái căn đó tích lũy sâu dầy nhiều kiếp cho nên sanh tử chẳng cùng tận. Ngày nay mới phát tâm niệm Phật, chỉ vọng cầu sanh Tây phương, ngay cả cái danh tự Ái là gốc rễ sanh tử cũng chẳng biết th́ làm sao có một niệm đoạn dứt nó. V́ chẳng biết gốc rễ sanh tử là ǵ cho nên khi niệm Phật, vừa niệm Phật cái gốc rễ sanh tử cũng cùng nhau tăng lớn thêm. Niệm Phật như vậy chẳng liên quan ǵ tới sanh tử. Những người như vậy dù cho quư vị niệm như thế nào đi nữa, niệm tới lúc lâm chung, chỉ thấy ái căn sanh tử hiện tiền, đến lúc đó mới biết [công phu niệm] Phật của ḿnh hoàn toàn chẳng đắc lực, lại oán giận niệm Phật chẳng linh nghiệm, có hối hận cũng trễ rồi!

Cho nên nay tôi khuyên người niệm Phật  trước hết phải biết Ái chính là gốc rễ của sanh tử. Nay niệm Phật, niệm niệm đều phải đoạn dứt Ái căn ấy. Ứng dụng vào đời sống hằng ngày, lúc ở nhà niệm Phật, khi mắt ḿnh nh́n thấy con cái, cháu chắt, tài sản, gia duyên chẳng có một thứ nào chẳng là Ái, chẳng có một việc nào, chẳng có một niệm nào chẳng dẫn đến sanh tử, cũng như toàn thân đang kẹt trong hầm lửa. Chẳng biết chính trong lúc niệm Phật, ái căn trong tâm chưa từng có một niệm có thể buông xuống. Chính trong lúc niệm Phật, chỉ nói niệm chẳng thiết tha, chẳng biết Ái đang chi phối, niệm Phật chỉ niệm ở ngoài da. Niệm Phật như vậy càng niệm Ái càng tăng trưởng. Lúc cảm t́nh con cái khởi lên, hăy quay lại coi một câu Phật hiệu này có thể chống chọi và đoạn được Ái hay chăng? Nếu đoạn chẳng nổi th́ rốt cuộc làm sao vượt thoát sanh tử. Do ái duyên đă nhiều đời huân tập quen thuộc, c̣n niệm Phật chỉ mới phát tâm nên c̣n rất xa lạ, chẳng thiết thật, cho nên chẳng đắc lực. Nếu chẳng làm chủ được cảnh duyên Ái trước mắt th́ lúc lâm chung sẽ chẳng làm chủ nổi. Do vậy xin khuyên người niệm Phật, điều thứ nhất cần biết là phải có tâm tha thiết đối với sanh tử, tâm mong muốn đoạn sanh tử khẩn thiết, trong mỗi niệm phải đoạn dứt cội rễ sanh tử th́ mỗi niệm sẽ vượt thoát sanh tử. Cần ǵ phải đợi tới ngày Ba Mươi tháng Chạp mới vượt thoát, lúc đó đă quá trễ rồi! Đó là trước mắt đều là chuyện sanh tử, trước mắt đều thấu suốt sanh tử là không, như vậy mỗi niệm chân thật thiết tha, mỗi nhát đao đều thấy máu, dụng tâm như vậy nếu không vượt thoát sanh tử th́ chư Phật đều mắc tội vọng ngữ.  Do vậy hàng tại gia và xuất gia, chỉ cần biết tâm sanh tử thiết tha bèn là lúc vượt thoát sanh tử, đâu c̣n diệu pháp nào khác nữa”

Lời trung chánh khó nghe, thuốc hay đắng miệng; tổ sư từ bi vô hạn, đọc đến lời khai thị như trên chúng ta cũng như có được của báu tột cùng. Bài khai thị này có tên là Niệm Phật thiết yếu, danh phù hợp thật, nói đúng tới chỗ lợi hại! Đại sư đích thật là người tu hành tái lai, chỉ đúng ngay nguyên nhân cơn bịnh, lời nào cũng thẳng thắn. Bài khai thị này tuy không dài, chỉ có hơn bảy trăm chữ, nhưng vị trí và tầm quan trọng của nó trong Tịnh Tông chẳng nhỏ! Đối với sự chỉ dẫn chúng ta niệm Phật có nhiều chỗ rất thiết thực.

Xin mời đại chúng đặc biệt lưu ư tới hai điểm trong bài văn này.

Thứ nhất ‘cầu sanh Tây phương trống rỗng’ (cầu suông). Chúng ta cầu văng sanh chỉ là nói khơi khơi trên miệng, giống như hô khẩu hiệu vậy, người ta hô hào th́ ḿnh cũng hô hào theo, sự mong cầu của chúng ta chẳng có thấm nhuần, chẳng có thật chất, cho nên đại sư chẳng nể nang ǵ hết và nói đó là ‘cầu suông’, hét bể cổ họng cũng uổng công!

Quay lại coi lăo ḥa thượng Hải Hiền, sự cầu sanh tây phương của Ngài vô cùng chân thật! Ngài thật sự thiết tha phát từ nội tâm mong cầu A Di Đà Phật tiếp dẫn, cho nên Phật hiệu của Ngài liên tục ngày đêm chẳng ngừng. Nếu ngay bây giờ đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn chúng ta về Cực Lạc thế giới, đi liền ngay bây giờ, phần đông chúng ta đều sợ quá và chạy mất. Tôi muốn văng sanh, nhưng không phải ngay bây giờ. Tôi c̣n chuyện này chưa làm xong, c̣n chuyện kia phải làm …Tâm tham luyến thế gian này chính là chướng ngại văng sanh lớn nhất của chúng ta. Cho nên chuyện cầu văng sanh của chúng ta trống rỗng (có vỏ không có ruột), là gạt người, gạt người nói ḿnh cầu văng sanh, khi Phật thật sự đến đón, ḿnh lại chẳng nỡ xa ĺa cơi đời này mà ra đi.

Thứ hai ‘Ái là chủ tể, niệm Phật chỉ niệm ngoài da’. Hám Sơn đại sư chẳng nể t́nh ǵ mà nói toạc căn bịnh của chúng ta, người niệm Phật giả dối! Niệm Phật chỉ là công phu ngoài mặt, do vậy Phật hiệu vừa niệm, cội rễ sanh tử vừa tăng theo, giống như hai con đường song song, vĩnh viễn chẳng bao giờ cắt ngang nhau. Hiện nay bị phơi bày c̣n tốt hơn là lúc lâm chung tay chân cuống quưt mới bị phơi bày. Hiện nay bị phơi bày c̣n kịp. Chính ḿnh vốn chẳng có tâm muốn thoát ly, chẳng có chân tín thiết nguyện, mỗi ngày đều làm việc biểu hiện ra ngoài mặt, làm sao có thể văng sanh được? Chư vị Tổ sư đều nói với chúng ta pháp môn Niệm Phật là ‘vạn người tu vạn người văng sanh’, nhưng hiện nay vạn người tu chỉ có hai, ba người văng sanh. Vấn đề ở đâu? Một lời của Ấn Tổ đă chỉ thẳng ra: “Lời của ngài Vĩnh Minh nói vạn tu vạn người văng sanh là chỉ những kẻ có đầy đủ tín nguyện. Có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha th́ vạn người tu vạn người văng sanh; ḷng tin chẳng chân thật, nguyện chẳng thiết tha th́ vạn tu chỉ có hai, ba người văng sanh mà thôi. ”

Vấn đề chung của chúng ta là Tín, Nguyện, Hạnh chẳng đủ. Không thể nói là không tin, nhưng nửa tin nửa ngờ. Không phải là không có Nguyện, có nguyện nhưng c̣n do dự. Chẳng phải là không có Hạnh, nhưng ‘ba ngày đánh cá, hai ngày phơi lưới’. Thí dụ nói văng sanh cần có trăm phần trăm Tín Nguyện; c̣n chúng ta chỉ có mười phần trăm Tín và mười phần trăm Nguyện nên chẳng đủ để văng sanh. V́ sao Tín, Nguyện, Hạnh chẳng đủ? Nguyên nhân căn bản là chẳng có tâm muốn thoát ly. Tâm muốn thoát ly là tâm ‘chán ghét Sa Bà, vui cầu Cực  Lạc’. Người xưa nói

“Nguyện thoát ly Sa Bà như tù nhân trông mong có ngày thoát ngục,

Nguyện sanh Cực Lạc như kẻ nghèo hèn mong về cố hương”,

Chúng ta dù chỉ một tí ti nào cũng chẳng giống! Tâm muốn thoát ly là nội hàm của Tín Nguyện.

Hám Sơn đại sư khuyên chúng ta buông xuống, ngôn từ lời nói thống thiết, chẳng ǵ không mong khích động chúng ta. V́ chúng ta bị chai đá đă lâu, nên chẳng thiết tha ǵ tới chuyện thoát ly sanh tử. Mọi người ai cũng nói “Ôi chao, buông xuống sao mà khó quá, buông không nổi, buông không nổi”!

Thật ra đâu phải là buông không nổi! Mà là chúng ta chẳng nỡ buông, chẳng cam ḷng buông xuống! Hăy nghĩ coi đúng không? Chẳng nỡ buông xuống con cái, vẫn chẳng nỡ buông xuống cháu chắt, chuyện ǵ cũng muốn bận tâm; Chẳng nỡ xa ĺa số tiền ḿnh gởi trong ngân hàng; Chẳng nỡ xa ĺa những căn nhà mang tên ḿnh; Chẳng nỡ buông xuống những lời cung kính tán thán của người khác đối với ḿnh…Những thứ này đều là các sợi dây xích, trói chặt chúng ta trong lục đạo luân hồi. Chẳng nỡ buông xuống cho nên cội rễ sanh tử sẽ tăng trưởng theo, vô lượng kiếp rồi lại vô lượng kiếp trải qua, chẳng biết tới lúc nào mới có thể thoát ĺa. Đối với Ái chúng ta vướng mắc trong ḷng; đối với Hận chúng ta cũng nắm chặt trong ḷng, vậy th́ làm sao văng sanh cho được? Cho nên trong kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật cảm thán “Người ta bị vợ con, nhà cửa trói buộc c̣n sâu chắc hơn là bị ở tù. Bị giam trong ngục tù c̣n có ngày thoát ra, c̣n vợ con chẳng có ư niệm nào xa ĺa nổi”.

Mỗi ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, chúng ta hăy quay lại hồi tưởng một lát, trong hai mươi bốn giờ ấy, thời gian tâm chúng ta nghĩ tới Cực Lạc có được bao lâu? C̣n tâm nghĩ tới Sa Bà lại là bao lâu? Tâm nghĩ Sa Bà của chúng ta nhiều, tâm nghĩ Cực lạc quá ít ỏi! Ít tới mức đáng thương, thiệt là quá ít. Trong hai mươi bốn giờ đồng hồ có mười phút nghĩ tới chuyện văng sanh hay không? Tỷ lệ này quá chênh lệch! Đó là nói trong một ngày, nếu ngày nào cũng vậy, cứ như vậy mỗi một năm trôi qua, chúng ta lấy ǵ để văng sanh? [Nghĩ vậy] mới biết chúng ta nguy hiểm tới chừng nào! Lăo ḥa thượng Hải Hiền và sư phụ thượng nhân bất cứ lúc nào cũng mong văng sanh, đó mới là chân tín thiết nguyện.

Lăo ḥa thượng Hải Hiền thường cảnh cáo những người xung quanh Ngài “Hăy niệm Phật cho tốt, thành Phật là đại sự, ngoài ra những chuyện khác đều là giả hết”. Quư vị có thể dẫn khởi lời của ḥa thượng mà sách tấn. Nghe lời ngài nói như vậy, trong tâm nghĩ : Đúng rồi, tôi có tâm trạng và thái độ này, hết thảy đều là giả hết. Chỉ có niệm Phật thành Phật mới là thiệt. Đó là thật sự nghĩ tới Cực Lạc thế giới, khẩn thiết không thể đợi được nữa, quư vị cầu như vậy mới chẳng là nguyện suông, sẽ chẳng rơi vào Không. Hăy mau mau gia công, dụng hạnh.

Phần sau là một đoạn khai thị của Tổ thứ mười, Triệt Lưu đại sư chẳng sắp sẵn mà hợp với lời khai thị của ngài Hám Sơn “Thị niệm Phật thiết yếu”, giống như ra từ một vết bánh xe. Phần trên Ấn Tổ đă nói rằng Hám Sơn thị hiện sanh làm Triệt Lưu, hai người này là một chứ chẳng hai.

Triệt Lưu đại sư khai thị cho cư sĩ Đinh Canh Dă.

“Ví như con thuyền chở được cả vạn hộc, muốn đi đến nơi nào đó, dẫu cho cột buồm chẳng phải là không cao, bánh lái chẳng phải là không ngay, lương thực, vật dụng chẳng phải là không hoàn bị, ư chí ra đi chẳng phải là không nhất quyết, có cái thế nương gió căng buồm chớp mắt đi được cả ngàn dặm, nhưng nếu chưa chịu nhổ cây sào cắm thuyền lên th́ thuyền vẫn bị một sợi dây neo buộc chặt, dù đun đẩy đủ cách há thuyền có đi được chăng? Hiện tại, hành nhân Tịnh nghiệp suốt ngày niệm Phật, sám hối, phát nguyện, vẫn c̣n cách xa Tây Phương, khó chắc được văng sanh th́ không ǵ khác hơn là chưa nhổ được cọc Ái, chưa dứt được dây T́nh.”

Tổ sư cử một thí dụ: Một chiếc thuyền đă chuẩn bị đầy đủ mọi thứ, sắp sửa ra khơi, nhưng đầu thuyền bị một sợi dây neo buộc chặt [nên chẳng đi đâu được]. Đây là ví như người niệm Phật, suốt ngày niệm Phật nhưng Tây phương c̣n rất xa xôi, chẳng nắm chắc văng sanh. Nguyên nhân là ǵ? V́ chưa nhổ được cọc Ái, chưa dứt được dây T́nh. Đó tức là " chưa đoạn ái căn sanh tử ", là chướng ngại trí mạng như Hám Sơn đại sư đă nói trong phần trên. Tiếp theo đây, Triệt Lưu đại sư dạy chúng ta phương pháp đối trị:

“Nếu có thể xem chuyện ân ái cơi Sa Bà giống như nhai sáp, chẳng quản rảnh - bận, động - tịnh, khổ - sướng, buồn - vui, hăy dựa vào một câu Phật hiệu hệt như ngọn núi Tu Di, hết thảy cảnh duyên chẳng thể dao động; mỗi khi biết ḿnh mệt mỏi, biếng nhác, hoặc khi tập khí hiện tiền liền dũng mănh đề khởi nhất niệm như vung thanh trường kiếm Ỷ Thiên khiến cho phiền năo ma quân không nơi trốn núp, lại cũng giống như ḷ to lửa hừng, khiến cho vô thỉ t́nh thức cháy sạch chẳng sót th́ người ấy tuy đang sống trong cơi ngũ trược, nhưng toàn thân đă ngự trong cơi nước liên hoa, nào c̣n phải chờ Di Đà đưa tay, Quán Âm khuyên lơn, khen tặng, mới tin ḿnh sẽ được văng sanh nữa ư?”

Chúng ta niệm Phật đă bao nhiêu năm rồi, có nắm chắc văng sanh hay không? Chuyện này chẳng cần phải hỏi người khác, hăy hỏi chính ḿnh!

Ngẫu Ích đại sư có một tiêu chuẩn để đo lường: “T́nh đời lạt bớt một phần th́ Phật pháp sẽ có thêm một phần đắc lực. Sanh kế Sa Bà nhẹ bớt một phần, chuyện sanh Tây phương sẽ vững chắc thêm một phần. Chuyện này chỉ có thể tự hỏi tâm ḿnh, chẳng cần phải hỏi thiện tri thức nào khác. Thiện tri thức cũng chỉ khuyên coi nhạt t́nh đời, nhẹ bớt bôn ba sanh kế, chuyên tu t́m lối thoát mới là quan trọng”.

Trong tâm chính ḿnh phải rơ ràng, tiêu cực đối với thế giới này th́ mới tích cực đối với Tây phương Tịnh độ. Đối với Sa Bà càng có thể buông xuống được th́ đối với Cực Lạc mới có thể nhấc lên được. Đối với thế giới này cảm t́nh càng lợt lạt th́ đối với Cực Lạc thế giới cảm t́nh càng ngày sẽ càng thêm sâu đậm. Sanh kế Sa Bà nhẹ một phần, văng sanh Tây phương sẽ nắm chắc thêm một phần; Sanh kế Sa Bà nhẹ mười phần, văng sanh Tây phương sẽ nắm chắc mười phần. Từ nội tâm, quư vị sẽ đồng ư với lời nói của lăo ḥa thượng Hải Hiền: “A Di Đà Phật chính là cội rễ của tôi”

Tuy Hám Sơn đại sư chẳng phải là tổ sư của Tịnh Tông, sự cống hiến của Ngài đối với Tịnh Tông chẳng nhỏ. Ngài tham thiền đại triệt đại ngộ, thông Tông thông Giáo, khuyên người niệm Phật cầu văng sanh. Đại sư trước tác rất nhiều, cư sĩ Triệu Việt đời Thanh trích lục từ bộ Hám Sơn Đại Sư Toàn Tập ra hai mươi hai đoạn pháp ngữ khai thị cho người tập Thiền tu Tịnh, soạn thành sách với tựa đề là Hám Sơn Đại Sư Tịnh Tông Pháp Yếu. Năm 1950, cuốn sách này được người ta phát hiện trong đống sách cũ ở chùa Bảo Liên núi Đại Dự tại Hương Cảng nên đem in lại và lưu thông. Từ cuốn sách này chúng tôi xin trích ra ba đoạn cúng dường đại chúng tham khảo:

 

3. Hám Sơn đại sư khai thị cho cư sĩ Tịnh Tâm:

“Điều quan trọng nhất trong việc tu hành là tâm khẩn thiết v́ sanh tử. Nếu tâm sanh tử không khẩn thiết, làm sao dám nói tới niệm Phật thành phiến? Vô lượng kiếp tới nay chúng sanh niệm niệm vọng tưởng, t́nh căn cứng chắc che lấp. Như hiện nay ra đời, đă từng có một niệm thống thiết v́ sanh tử hay chăng? Cả ngày niệm niệm quay ṿng quanh chữ T́nh, chưa từng phản tỉnh. Muốn dùng tín tâm hời hợt để đoạn dứt sanh tử nhiều kiếp, giống như lấy giọt nước dập tắt đống củi lửa đang cháy, làm sao có lư được? Nếu tâm v́ sanh tử khẩn thiết, niệm niệm giống như cứu đầu đang bị cháy, lo sợ một khi mất thân người, trăm kiếp khó có lại được. Phải cắn chặt câu Phật hiệu ấy nhất định chống chọi vọng tưởng, trong hết mọi chỗ mọi niệm [câu Phật hiệu lúc] nào cũng hiện tiền, chẳng bị vọng tưởng che lấp, chướng ngại. Hạ công phu khổ cực tha thiết như vậy, lâu ngày thuần thục, tự nhiên sẽ tương ứng, làm được vậy dù chẳng cầu thành phiến cũng tự thành phiến. Chuyện này giống như người uống nước nóng lạnh tự biết, chẳng thể nói cho người khác biết, hoàn toàn phải do chính ḿnh nỗ lực. Nếu chỉ niệm Phật [hời hợt] ngoài da đến năm con lừa cũng chẳng thể nào thọ dụng được (trong mười hai con giáp chẳng có năm con lừa, tức là tận hết đời vị lai cũng không thể thọ dụng được). Phải dũng mănh [tinh tấn] càng không nên tŕ trệ nghi ngờ”

 

4. Hám Sơn đại sư khai thị Tu Pháp môn Tịnh Độ

“Niệm Phật ắt phải có tâm tha thiết v́ sanh tử, trước tiên nên đoạn dứt ngoại duyên, đơn độc đề khởi nhất niệm, dùng một câu A Di Đà Phật làm mạng căn của ḿnh, niệm niệm đều không quên, tâm tâm chẳng dứt, ngày đêm sáu thời, trong lúc đi đứng nằm ngồi, nhắc cái muỗng, nắm đôi đũa, cúi ngửa, động tịnh, rảnh rang, bận rộn, trong hết thảy thời chẳng ngu chẳng muội, chẳng có duyên nào khác. Dụng tâm như vậy lâu ngày thuần thục, thậm chí trong lúc nằm mộng cũng chẳng quên mất. Ngủ thức giống nhau th́ công phu miên mật trở thành một phiến, đó là lúc [công phu] đắc lực vậy”

 

5. Hám Sơn đại sư khai thị Đại Phàm thiền nhân thính diễn Lăng Nghiêm Tông Chỉ:

“Hăy đem cái tâm vọng tưởng phan duyên rong ruổi từ xưa đến nay một lượt thâu nhiếp và buông xuống. Hướng về một câu A Di Đà Phật, tiêu quy bổn mạng nguyên thần của chính ḿnh, niệm niệm chẳng rời, tâm tâm chẳng dứt. Vọng tưởng lúc trước là nhân ô nhiễm tạo sanh tử, nhất niệm niệm Phật là tịnh nhân thoát ĺa sanh tử. Nếu có thể đem cái tịnh niệm ấy hun đúc cái nhân ô nhiễm tạo khổ sanh tử trở thành chánh nhân tịnh độ, sẽ nhanh chóng làm cho nhân khổ quả khổ của vô lượng kiếp sanh tử trở thành nhân vui quả vui tịnh độ vậy”

 

Kết luận.

Niệm Phật chẳng có khô khan vô vị, Ấn Quang đại sư nói

“Niềm vui niệm Phật chỉ có người thật sự niệm Phật mới tự biết”.

Chúng ta chẳng nhận biết được niềm lạc thú của sự niệm Phật. Lăo ḥa thượng Hải Hiền đă biết được, càng niệm càng hoan hỷ. Lăo nhân gia đă niệm suốt chín mươi hai năm, nên Ngài tự tại văng sanh. Mỗi người chúng ta tự khoe là người niệm Phật, đă đến lúc nên tự ḿnh phản tỉnh triệt để, phản tỉnh tín nguyện của chúng ta, phản tỉnh công phu niệm Phật của chúng ta. Đừng tự gạt rồi gạt người, cũng đừng giả bộ làm dáng, đừng làm theo bề ngoài. Câu Phật hiệu A Di Đà Phật này, rốt cục tôi niệm được như thế nào? Đặc biệt là các đồng tu xuất gia, trong Mộng Du Tập, Hám Sơn đại sư đă nhiều lần nhắc nhở người xuất gia “Tam đồ địa ngục chưa phải là khổ, dưới chiếc ca sa mất đi thân người, đó mới là khổ”. Chúng ta phải biết nếu đời này không văng sanh, hậu quả chẳng thể lường nổi! Đúng như lời lăo cư sĩ Hạ Liên Cư đă nói

 Cước căn vô tuyến tự phiêu bồng,

tài xuất mê đồ hựu thất tông

(Dấu chân vô vết tợ gió bay bồng bềnh,

vừa mới thoát mê lại quên mất lối về).

Người xưa xuất gia đều v́ đại sự sanh tử, như câu “Đại sự chưa rơ như chôn cha mẹ”, như cứu đầu đang bị cháy. C̣n chúng ta hiện nay th́ sao? Đem đại sự sanh tử liệng tuốt lên chín tầng mây.

 

Lời phụ.

Thời gian trôi qua lẹ như thoi đưa. Lớp nghiên cứu Giới Học gần kết thúc. Lần này chúng ta tụ hội ở tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện; tương lai chúng ta sẽ tụ hội nơi Tây phương Cực Lạc thế giới, nơi đó là Liên Tŕ Hải Hội. Năm mươi năm sau, một trăm năm sau người ta hồi tưởng lại mùa thu năm 2014, lăo pháp sư Tịnh Không tại thắng hội Toowoomba, Úc Châu này cũng giống như hiện nay chúng ta hồi tưởng pháp hội giảng kinh của Thế Tôn ba ngàn năm trước vậy.

Đệ tử ngu muội chẳng biết dùng ngôn từ ǵ để h́nh dung sư phụ thượng nhân, sư phụ từ bi đến cùng tột, niệm niệm đều hy vọng chúng sanh sớm ngày thành Phật, chẳng bị kẹt ở lại trong lục đạo. Chỉ sợ chúng ta chẳng thể văng sanh, c̣n phải trở lại chịu khổ. Các bậc thượng căn, giống như căn tánh của lăo ḥa thượng Hải Hiền, bèn làm cho họ có thể một câu Phật hiệu niệm đến cùng, chẳng cong chẳng quẹo. Các bậc trung căn, bèn đau miệng rát ḷng giảng đạo lư cho họ, làm cho họ sanh tín, phát nguyện, niệm Phật, tranh thủ để đời này có thể văng sanh. C̣n bậc hạ căn, nghiệp chướng quá nặng, chẳng chịu niệm Phật, bèn t́m đủ mọi cách, đủ mọi thứ phương tiện thiện xảo dẫn dụ họ, hy vọng họ giữ ngũ giới thập thiện đời này có thể giữ được thân người, đời sau, đời sau nữa tiếp tục tu học, gặp duyên niệm Phật. Rốt cục đều mong chúng ta được về thế giới Cực Lạc, chẳng nỡ để chúng ta bị kẹt lại [và tiếp tục] ngoi ngóp trong lục đạo.

Đức Phật Thích Ca biểu diễn suốt đời dạy học cho chúng ta thấy. Sư phụ thượng nhân cũng biểu diễn suốt đời dạy học. “Một đời dạy học mông mênh như biển cả, chỉ có pháp môn Tịnh độ là pháp môn rốt ráo thỏa thích bổn hoài phổ độ chúng sanh của chư Phật”. Các pháp môn khác “tâm phổ độ chúng sanh của Như Lai c̣n uất ức chứ chưa thoả thích”, đây là lời của Ấn Quang đại sư. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni biểu diễn pháp môn Tịnh Độ rốt ráo thoả thích bổn hoài cho chúng ta, sư phụ thượng nhân cũng diễn lại cho chúng ta xem. Lúc đức Thế Tôn c̣n tại thế, trong thành Vương Xá có một phần ba người biết đến đức Phật Thích Ca, c̣n được trực tiếp nghe đức Phật thuyết pháp; lại có một phần ba người nghe nói có người tên là đức Phật Thích Ca, nhưng chưa bao giờ gặp Ngài, chẳng được nghe đức Phật thuyết pháp trực tiếp; lại có một phần ba người cả đời chưa từng nghe đến đức Phật Thích Ca, chẳng biết đến Phật pháp. [Do vậy] quư vị mới biết quư vị may mắn dường nào! Ngày nay Trung Quốc có dân số là mười bốn ức người, quư vị thuộc vào một phần ba nào? Phải là một phần ba mươi mới đúng! Sư phụ thượng nhân hiện nay c̣n tại thế, giống như ngày xưa lúc đức Thế Tôn c̣n tại thế vậy, quư vị c̣n có thể ở bên cạnh Ngài.

Trong Thích Ca Phổ h́nh như có một câu chuyện như vầy: Thích Đề Hoàn Nhân thỉnh đức Phật đến Đao Lợi thiên cung thuyết pháp. Đức Thế Tôn đồng ư một cách sảng khoái, Ngài nói: “Đi đi đi, phần lớn bốn chúng đệ tử của tôi rất giải đăi, làm biếng, chẳng nghe tôi giảng pháp. Bây giờ tôi không nói với họ tôi sẽ đi đâu, cũng không dẫn thị giả theo (ngay cả tôn giả A Nan là vị theo sát đức Phật cũng không cho đi theo) Để cho họ thưởng thức mùi vị ngưỡng khát Pháp” (ngưỡng khát Pháp nghĩa là ḷng mong cầu khao khát đối với Pháp giống như đang khát nước mà mong có nước uống vậy). Lúc đó Thế Tôn trong khoảnh khắc nhanh như co cánh tay liền đến Đao Lợi thiên cung. Đức Phật đi mất tung tích trong ba tháng, sau khi thuyết pháp ở Đao Lợi thiên cung xong, khi trở về thế gian liền nói với đại chúng chẳng lâu sau đó Ngài sẽ nhập diệt. Do vậy các đệ tử rất hối hận và sợ hăi, vô cùng đau khổ. Từ câu chuyện nhỏ này, quay lại đối chiếu với chúng ta, chúng ta có giống như đệ tử của Thế Tôn năm xưa hay không? Sư phụ thượng nhân gần chín mươi tuổi rồi, vẫn mỗi ngày đau ḷng rát miệng, chẳng hiềm phiền phức mỗi ngày giảng Tịnh Độ đại kinh cho chúng ta, nhưng chúng ta có trân quư hay không? Nếu vạn nhất có một ngày, sư phụ thượng nhân đột nhiên thị hiện vô thường, chúng ta sẽ làm sao? Có phải sẽ giống các vị đệ tử của Thế Tôn hay chăng, sẽ hối hận không kịp? Bi kịch sẽ không tái diễn hay sao. Chúng ta hy vọng sư phụ thượng nhân trụ thế lâu dài, không sai, nhưng chúng ta phải khởi lên hành động chứ. Mọi người có nhớ v́ sao lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam ra đi sớm hơn [dự định] không? V́ chẳng có người y giáo phụng hành! Cho nên muốn lưu giữ sư phụ thượng nhân, chúng ta phải y giáo phụng hành. Mọi người phải phát tâm, anh phát tâm, tôi cũng phát tâm, họ cũng phát tâm, người nghe, người thấy đều phát tâm, phát tâm làm ǵ?

Phát tâm làm người thật sự niệm Phật!

Phát tâm thật sự cầu văng sanh!

Sư phụ thượng nhân đă giảng pháp suốt một đời, không ǵ ngoài việc hy vọng mọi người chúng ta đều có thể văng sanh thành Phật hay sao? Đặc biệt là  các vị xuất gia phải dẫn đầu! Dẫn đầu việc niệm Phật cầu văng sanh. Đừng cho rằng quư vị c̣n trẻ tuổi, phải học đại kinh đại luận, phải xây chùa to, phải làm nên một sự nghiệp to lớn…. Quư  vị hăy tạm buông xuống những chuyện này, hăy nên làm và lo cho chuyện lớn sanh tử! V́ vô thường sẽ không đợi quư vị chuẩn bị đàng hoàng xong rồi mới từ từ đến. Ta có thể bảo đảm chúng ta sẽ sống đến già hay không? Vô thường sẽ xuất hiện mà không báo trước, khi tôi chết sẽ đi về đâu? Cũng đừng gấp gáp đi giảng kinh. Khi đạo nghiệp chưa thành mà đi giảng kinh, đó gọi là ‘tương tự lợi tha’, chẳng phải lợi tha thật sự. Đời này nhất định phải văng sanh Cực Lạc thế giới mới không uổng một phen xuất gia.

Sau cùng xin dùng một bài kệ của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư để kết thúc bài báo cáo hôm nay:

Nhược vấn như hà xuất Ái hà

Chỉ hữu Di Đà niệm đắc đa

Niệm thục phương năng đăng lạc độ,

Thượng sanh bất miễn đọa Sa Bà.

Muốn biết làm sao vượt Ái hà

Hăy nên sốt sắng niệm Di Đà

Niệm nhuần, thẳng bước sanh An Dưỡng

Thân sau mới khỏi đọa Sa Bà.

 

Trong quá tŕnh báo cáo nếu có ǵ sai sót, xin sư phụ thượng nhân và các vị thiện tri thức phê b́nh, sửa đổi, mong đại chúng từ bi, bố thí hoan hỷ.

          A Di Đà Phật,

đệ tử bất tiếu Thích Tự Liễu khấu tŕnh.

 

****************************************************

Lăo ḥa thượng giảng:

Chúng ta vừa nghe xong báo cáo của pháp sư Tự Liễu, cũng đă xem xong bài viết, đích thật cảnh tỉnh sâu xa đại chúng hiện diện. Pháp sư thay mặt Phật, thay mặt Tổ sư, đại đức giáng cho chúng ta một gậy lên đầu. Một gậy này có thể lay tỉnh chúng ta không? Hy vọng đă cảnh tỉnh được. Đương nhiên số người chưa tỉnh vẫn c̣n rất nhiều, từ đó mới biết nghiệp chướng của chúng sanh nặng đến cỡ nào. Quan trọng là phải quay lại nh́n chính ḿnh th́ mới được thọ dụng thực sự. Nếu không thể hồi quang phản chiếu, sự văng sanh Tịnh độ ngay trong đời này của chúng ta đích thật sẽ có vấn đề.

Trong quá tŕnh học tập chúng ta thường nhắc tới những thành tựu khoa học, v́ sao? Nó có thể giúp chúng ta quán chiếu, giúp chúng ta nh́n thấu, giúp chúng ta buông xuống. Tiến sĩ Phổ Lang Khắc (Max Planck[8]) người Đức cho chúng ta biết, ông ta suốt đời chuyên nghiên cứu vật chất là ǵ, bí mật của vật chất đă được ông ta phơi bày. Ông ta phát hiện Vi Trung Tử[9], khi Vi Trung Tử bị bắn bể tan ra sẽ không c̣n [vật chất ǵ] tồn tại nữa. Nói cách khác Vi Trung Tử chính là Cực Vi Sắc, Cực Vi Chi Vi[10] được nói trong kinh Phật, [đây là vật chất] đă đến mức nhỏ nhất, nó không thể bị cắt nhỏ nữa. Nếu bị cắt nữa th́ không c̣n ǵ hết. Ông đă t́m được ra rồi, vật chất bị cắt nhỏ đến mức không c̣n ǵ nữa, lúc đó sẽ thấy ǵ? Nh́n thấy hiện tượng ba động của ư niệm. Từ đó chúng ta sẽ hoảng nhiên đại ngộ (vỡ lẽ), vật chất có từ đâu ? Vật chất có từ ư niệm, vật chất chẳng phải thật sự tồn tại, đó là một huyễn tướng, giả tướng. Vật chất trên căn bản là không tồn tại, là thiệt như vậy.

Ngày nay chúng ta nh́n thấy hiện tượng vật chất chính là điều mà Di Lặc Bồ Tát và đức Phật đă từng nói qua. Đức Phật hỏi Di Lặc Bồ Tát, trong tâm phàm phu có ư niệm, ngày nay chúng ta khởi lên một niệm, một niệm ấy do bao nhiêu ư niệm vi tế tạo thành? Chúng ta mới phát hiện một niệm đầu (ư niệm), đơn độc một niệm ấy chắc chắn là không thể nào tưởng tượng nổi, quư vị chẳng có cảm giác ǵ hết. Bồ Tát Di Lặc trả lời (Di Lặc Bồ Tát là chuyên gia về Duy Thức, dùng cách nói hiện nay th́ Ngài là một chuyên gia về Tâm Lư Học Phật Giáo). Bồ Tát trả lời cho chúng ta biết: “Một khảy ngón tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm”, đây là nói về niệm đầu (ư niệm). Khi chúng ta khởi tâm động niệm, một niệm đầu có bao nhiêu tế niệm? Ba mươi hai ức trăm ngàn tế niệm. Trong thời gian bao lâu? Một khảy ngón tay. “Niệm niệm thành h́nh”, “h́nh” tức là hiện tượng vật chất. “H́nh đều có Thức”, mỗi hiện tượng vật chất nhỏ bé chính là cái mà khoa học gia gọi là Vi Trung Tử , Phật pháp gọi là Cực Vi Sắc, Cực Vi Chi Vi. Đó là Ngũ Uẩn được nói trong Tâm Kinh. Chúng ta niệm Tâm Kinh hết mấy mươi năm, căn bản là không hiểu Ngủ Uẩn là ǵ. “Quán Tự Tại Bồ Tát chiếu kiến ngũ uẩn đều là Không”. Ngũ Uẩn là Cực Vi Sắc, Cực Vi Sắc này do niệm đầu sanh ra, lại c̣n tồn tại. Ngày nay chúng ta dùng “giây [đồng hồ]” làm đơn vị đo lường thời gian. Mỗi giây có thể khảy ngón tay bao nhiêu lần? Có người nói, lúc trước tôi nghĩ đại khái chừng năm lần, tôi khảy trung b́nh là năm lần. Người trẻ tuổi hơn tôi, thể lực khoẻ hơn, sức mạnh mẽ hơn có thể khảy bảy lần. Một niệm đầu này, một khảy ngón tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Ba mươi hai ức nhân với trăm ngàn; trăm ngàn là mười vạn, ba mươi hai ức nhân với mười vạn tức là ba trăm hai mươi triệu. Một khảy ngón tay, ba trăm hai mươi triệu nhân với bảy là [số ư niệm trong] một giây đồng hồ, làm sao có vật ǵ tồn tại [trong thời gian ngắn như vậy]

Cho nên ông Planck kết luận: trong vũ trụ trên căn bản là không có vật chất tồn tại. Quư vị cho rằng có vật chất tồn tại, đó là hoàn toàn sai lầm. Lấy câu này đối chiếu với kinh Kim Cang, đức Phật nói “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, ông Planck đă chứng minh rồi đó. [Vật chất] là giả, chẳng thật. ‘Hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng’ giống như kinh Kim Cang đă nói. Nếu quư vị chấp trước nó th́ sai rồi; quư vị phân biệt nó là sai rồi; quư vị khởi tâm động niệm cũng sai luôn. Thật sự hiểu rơ đạo lư này, [người] hiểu rơ chân tướng sự thật này sẽ không đặt điều này trong ḷng, phá thân kiến sẽ không c̣n khó khăn nữa; thân kiến là cội gốc của hết thảy tội ác.

Bài báo cáo của pháp sư Tự Liễu nói cội gốc của phiền năo là Ái, cội gốc của Ái là Ngă (Ta). Đó là ǵ? Trong Duy Thức gọi đó là Thức Thứ Bảy, thức thứ Bảy chính là Ngă Kiến. Căn bản là chẳng có Ngă, lại cứ chấp trước có một cái Ngă, sau đó Ngă Ái, Ngă Mạn, Ngă Si khởi lên theo Ngă. Đó là ba gốc rễ của Tham, Sân, Si, phiền năo có sẵn từ đời trước. Từ một niệm bất giác, mê mất Tự Tánh biến thành A Lại Da, A Lại Da là do những thứ này tạo thành. Nghiệp Tướng của A Lại Da chứa đựng chủng tử, từ đó biến hiện thành Mạt Na, Mạt Na là thường tùy tướng của bốn phiền năo lớn, Mạt Na chính là bốn thứ: Ngă Kiến, Ngă Ái, Ngă Mạn, Ngă Si. Do vậy chúng ta phải biết, chúng ta đối phó với Tham như thế nào, phải buông bỏ Tham. Cốt lơi của Tham là Ái. Khi quư vị nh́n thấu suốt điều này, biết nó đều là giả rồi quư vị mới có thể buông xuống. Ái là phiền năo, chẳng phải là điều ǵ tốt đẹp, Ái là cội gốc của lục đạo luân hồi, nếu không trừ khử Ái sẽ không thể thoát luân hồi. Ngạo mạn là cội rễ của Sân giận. Hoài nghi là cội rễ của Ngu Si.

Chúng ta học tập lời dạy của thánh hiền, quan trọng nhất là không thể hoài nghi. Nhưng ngày nay chúng ta nuôi dưỡng hoài nghi thành thói quen. Khoa học đặt hoài nghi vào hàng đầu, điều đầu tiên khoa học dạy là hoài nghi, không hay không biết chúng ta đă nhiễm thói quen hoài nghi này. Cho nên v́ sao chúng ta không vào Thánh giáo được? V́ chẳng đoạn sạch tâm nghi ngờ. Chúng ta tin, chỉ tin chín mươi chín phần trăm, c̣n một phần hoài nghi. Không thể coi thường một phần trăm này. Thầy Lư thường nói với chúng tôi khi một phần trăm ấy khởi tác dụng sẽ hủy diệt toàn bộ công phu của quư vị. Chúng ta không khởi ḷng nghi đối với Thánh giáo là một việc quá khó. Người xưa th́ dễ hơn. Do vậy ngày nay chúng ta vô cùng cảm thán, v́ sao khó như vậy? Chẳng có giáo dục vun bồi cội rễ. Giáo dục vun bồi gốc rễ là sự truy cầu của người Trung Hoa đời xưa, bắt đầu từ thai giáo. Lúc người mẹ mang thai, mắt người mẹ không nh́n vật ác, tai không nghe lời dâm, miệng không nói lời ngạo mạn, người mẹ tŕ giới, v́ sao? Nếu người mẹ có thể làm như vậy th́ thai nhi sẽ b́nh thường[11]. Sau khi đứa bé sanh ra, mở mắt ra nó sẽ nh́n, tai nó lóng nghe, nó sẽ luôn học tập, tiếp thu. Cha mẹ phải chăm sóc nó cho đàng hoàng, những ǵ phụ diện (xấu ác) đừng để cho nó thấy nghe, đừng để cho nó tiếp xúc. Phải làm như vậy bao lâu? Phải chăm sóc như vậy đến lúc nó ba tuổi, tức là một ngàn ngày, đó gọi là giáo dục vun bồi gốc rễ. Cho nên trẻ con nhận được sự dạy dỗ như vậy, lúc nó lên ba bốn tuổi sẽ có thể phân biệt tà chánh, thị phi; những thứ bất chánh nó sẽ bài trừ, sẽ từ chối tiếp nhận. Người xưa có câu ngạn ngữ ‘Tam tuế khán bát thập’ [12](ba tuổi xem tám mươi). Cả đời sẽ chẳng thay đổi nhờ gốc rễ vun bồi được sâu dầy.

Ngày nay chúng ta chẳng có gốc rễ này. Một người học Phật, học Giới, đến cuối cùng không thể thọ tŕ, phá giới, phạm quy củ, chúng ta phải tha thứ người đó. V́ sao? Người đó không có gốc rễ. Giống như xây nhà lầu, khi xây xong nhưng nền tảng chẳng vững chắc. Trong kinh Vô Lượng Thọ đức Phật từ bi đă nói: “Người đời trước chẳng thiện, chẳng biết đạo đức, chẳng được ai dạy, đâu có ǵ lạ”. Phải đại từ đại bi tha thứ cho những người này, phải khuyến khích họ; quan trọng nhất là tự ḿnh phải làm gương tốt cho họ coi. Giống như lăo ḥa thượng Hải Hiền, cả đời làm gương cho người khác. Ngài cũng được đức Phật Di Đà dặn ḍ. Tôi tin thọ mạng của Ngài bất quá cũng chỉ là bảy, tám mươi tuổi mà thôi. Ngài sống tới một trăm mười hai tuổi. Đó là đức Phật A Di Đà gia tŕ, nhất định phải nhờ ngài tiêu biểu pháp. Sự tiêu biểu pháp cuối cùng là Ngài nhận được [cuốn sách có nội dung] ‘Tăng tán thán Tăng’, đó là ǵ? Đó là nhằm cứu văn Tịnh Độ. Hiện nay trong thời đại này những người hủy báng Tịnh Độ rất nhiều, sức mạnh quá lớn, trước giờ chưa từng có. Có một pháp sư tặng cho tôi 4 chữ ‘Đại nạn đại nạn’ nói với tôi rằng đích thật tôi [gặp nạn] như vậy. Tôi đổi chữ nạn thứ tư và viết lại thành ‘Đại nạn đại nhẫn’, phải tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, tôi có thể nhẫn chịu. Hoặc đổi thành ‘đại nhẫn đại nạn’. Hai chữ ‘nạn’ này, một chữ là nạn trong danh từ khốn nạn, một chữ là nạn trong danh từ tai nạn, chúng ta mới có thể vượt qua, nếu chẳng có Nhẫn Nhục Ba La Mật th́ sẽ thôi rồi. Không thể khởi tâm oán hận, phải khởi tâm thương xót, v́ sao họ làm như vậy? V́ chúng ta đă đánh mất văn hóa truyền thống hết hai trăm năm. Trong một trăm năm đầu sơ sót nên vẫn c̣n một chút dáng vẻ trong đó, chẳng có người làm thật sự. Một trăm năm thứ nh́, dáng vẻ cũng mất hết, cho nên rất khó khăn. Do vậy tôi hy vọng các đồng tu học Phật phải làm gương tốt, đó là phải thật sự hộ tŕ Phật pháp, làm cho xă hội đại chúng nh́n thấy h́nh tượng Phật. [Hiện nay] Phật chẳng c̣n nữa, những ǵ chúng ta biểu diễn chính là đại diện cho h́nh tượng Phật. Có phải là h́nh tượng của đức Phật Thích Ca năm xưa hay không? Khi Phật pháp hưng vượng, chúng sanh có phước, khi Phật pháp suy thoái, chúng sanh rất đáng thương. Chúng ta sanh tới thế gian này, được thân người, nghe Phật pháp, được biết đến Tịnh Tông, lại gặp được thiện tri thức chân chánh, đó là điều vô cùng may mắn!

Trước tiên, tôi thường khuyến khích mọi người phải phá bỏ thân kiến, đừng chấp trước cái thân này, đừng nghĩ tới ḿnh (Ngă). Tại sao? Khi thân kiến phá rồi, Biên kiến, Kiến Thủ kiến, Giới Thủ kiến, Tà kiến đều bị phá, lúc đó mới chứng Sơ Quả. Khi chưa chứng Sơ quả, trước khi chứng Sơ quả là chưa vào cửa Phật, chúng ta phải biết điều này. Chưa vào cửa Phật mà có thể có thành tựu [được không?] Được, đó là đức Phật A Di Đà từ bi vô tận đă mở ra pháp môn Niệm Phật này cho chúng ta, người chưa chứng Thánh quả cũng được văng sanh. Nói đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, nếu nói quư vị chẳng đoạn phiền năo mà chứng Bồ Đề, quư vị làm không nổi. Có pháp môn nào có chuyện đới nghiệp? Do vậy lúc tôi tám mươi lăm tuổi nh́n thấy việc này không được rồi, chẳng có kinh luận nào, chẳng có pháp môn nào có thể cứu tôi được, chẳng thể giúp tôi thoát ly luân hồi. Tôi quay đầu lại chuyên hoằng dương kinh Vô Lượng Thọ, chuyên niệm A Di Đà Phật, hoàn toàn buông xuống [các pháp môn và kinh luận khác].

Quư vị không làm, tôi làm, v́ sao? Tôi muốn thoát ly lục đạo luân hồi, chuyện luân hồi này quá khổ rồi. Trải qua cuộc chiến của các quân phiệt tranh giành đất đai, cuộc chiến Trung Nhật, và đại chiến thế giới lần hai, tôi đă đích thân chứng kiến. Đức Phật nói Tám Khổ, Ba Khổ chẳng sai chút nào. Tâm muốn xuất ly của tôi mạnh mẽ hơn của quư vị, tôi chịu khổ quá nhiều rồi, xuất gia cũng chịu khổ. Chuyện an ủi duy nhất là đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă làm gương tốt cho chúng ta. Năm xưa khi đức Phật c̣n tại thế, Ngài chỉ có ba y và một b́nh bát, tối ngủ dưới gốc cây, ngày ăn một bữa. Ngày nay tôi c̣n sướng hơn Ngài một tí, điều này đáng được an ủi. Khi nghĩ tới Thế Tôn th́ tâm tôi b́nh lặng xuống, Ngài đă làm một gương tốt nhất cho chúng ta, chúng ta phải học tập theo Ngài.

Đối với hết thảy thiện duyên xứng tâm vừa ư chúng ta không nên có tơ hào tham luyến, phải nên nh́n thấu. Hết thảy ác duyên, chúng ta không muốn gặp phải nhưng khi gặp phải cũng đừng khởi tâm sân giận. Xă hội hiện thực, từ sáng tới tối, lúc sáu căn chúng ta tiếp xúc tới người, sự, vật, chúng ta phải tu hành trong những lúc đó, hạ thủ công phu trên những thứ đó. Tu công phu ǵ? Trên căn bản những thứ đó đều là giả, vật chất là giả, ư niệm cũng là giả, chẳng có ǵ là thiệt. Khi quư vị nh́n thấu rồi, quư vị sẽ buông xuống được, quư vị sẽ không nắm chặt những thứ ấy nữa. Nắm chặt những thứ ấy làm ǵ? Nắm chặt những thứ ấy chính là lục đạo luân hồi. Nó tạo ra lục đạo luân hồi, tạo ra thập pháp giới. Chúng ta muốn thoát ra khỏi lục đạo, ra khỏi thập pháp giới, phải buông xuống những thứ đó. Làm sao buông xuống? [Phải biết] nó đều là giả, một khi hơi thở không hít vào được nữa, có vật ǵ là của quư vị không? Tôi thường khuyên người ta, quần áo chúng ta hiện đang mặc trên người là của chúng ta, khi không mặc trên người chẳng là của chúng ta nữa. Cái nhà mà tôi đang trú ngụ hiện nay, khi tôi ở đó th́ căn nhà ấy là của tôi. Khi tôi rời khỏi căn nhà, căn nhà ấy chẳng c̣n là của tôi nữa. Tiền tôi mang trong ḿnh là tiền của tôi. C̣n tiền trong ngân hàng không phải của tôi. Tại sao vậy? [Nghĩ vậy th́] rất dễ buông bỏ, chẳng vướng bận. Khi Phật đến muốn cho tôi đi, tôi sẽ lập tức đi theo ngài, chẳng có chuyện ǵ [vương mắc] hết. C̣n vướng bận chuyện ǵ nữa không? Không c̣n nữa, như vậy mới có thể ra đi một cách thư thái, an nhiên, tự tại. Cho nên không thể không biết, không thể không buông xuống. Tổ sư đại đức đau ḷng rát miệng [khuyên bảo chúng ta], chúng ta phải cảm ơn. Những chuyện xảy ra trong xă hội biểu diễn cho chúng ta thấy, bất kể là chánh diện hay phản diện, chúng ta đều cảm ơn, chúng đều cảnh tỉnh chúng ta trong từng giây từng phút. Hễ có duyên bèn làm, duyên đó tuyệt đối là đem lại lợi ích [cho chúng sanh, làm] cho chánh pháp trường tồn. Chuyện lợi ích cho chúng sanh chúng ta phải làm. Khi chẳng có duyên, chúng ta không khởi tâm, tùy duyên chớ không phan duyên, được vậy chúng ta mới được tự tại. Đó gọi là tâm an lư đắc; khi đạo lư hiểu rơ ràng hiểu rành rẽ rồi tâm bèn an ổn, tâm an sẽ chẳng khởi ư niệm nữa. Tiếp theo c̣n một bài nữa phải không? Tốt lắm.

 

Trong quá tŕnh chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

 



[1] nguyên văn "cú cú lực thấu chỉ bối": nói bóng bảy là câu nói có sức mạnh xuyên giấy từ mặt này sang mặt kia. V́ khi xưa, sách thường in thành một trang dài, rồi xếp thành trang, khâu gáy, nên một ‘trang sách’ khá dầy!

[2] lời trong bản dịch kinh A Di Đà đời Tần

[3] lời trong bản dịch kinh A Di Đà đời Đường

[4] lời trong bản dịch kinh A Di Đà đời Đường

[5] lời trong bản dịch kinh A Di Đà đời Tần

[6] bất tiếu nghĩa là người không có tài năng, người phẩm hạnh không tốt, không bằng cha ḿnh

[7] Triệt Lưu đại sư là tổ thứ mười của Tịnh Độ Tông

[8] Max Planck (1858-1947) nhà Vật Lư Học người Đức, công tŕnh nghiên cứu về Lượng Tử Lư Luận (Quantum Theory) của ông đă được trao giải Nobel năm 1918

[9] Vi Trung Tử chính là hạt meson

[10] Cực vi sắc và Cực vi chi vi là hai loại vi trần khác nhau. Cực vi sắc lớn hơn cực vi chi vi. Cực vi chi vi c̣n gọi là Lân Hư Trần, là hạt vật chất nhỏ nhất.

[11] b́nh thường nghĩa là tốt đẹp

[12] câu này nghĩa là đứa bé khi sanh ra tới ba tuổi nếu được dạy dỗ đàng hoàng, được giáo dục vun bồi gốc rễ như trên, thiện căn ấy đến tám mươi tuổi cũng sẽ không biến đổi