Thường
niệm chẳng dứt, sẽ đắc đạo nhanh
chóng
(Từ lăo ḥa thượng Hải Hiền,
xét tín nguyện
cầu văng sanh của chúng ta.
Tập 5)
Trích từ lớp học Kinh Vô Lượng
Thọ Khoa Chú kỳ thứ 5 (tập 93 )
Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
02-042-0093
Báo cáo tâm đắc của học
sinh lớp Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Chú.
Thích Tự Liễu soạn
Ḥa thượng Tịnh Không
giám định
Bích Ngọc chuyển ngữ.
Như Ḥa giảo duyệt
Lăo ḥa thượng Hải
Hiền niệm câu A Di Đà Phật đến khắc cốt
ghi tâm, thâm căn cố đế, từng năm, từng
tháng, từng phút, từng giây, chưa hề đánh mất.
Ngược lại, một câu A Di Đà Phật chúng ta cứ
thường đánh mất, thường gián đoạn.
Có khi đánh mất chẳng niệm hết mấy giờ
đồng hồ; có khi đánh mất cả mấy ngày cũng
chưa khởi niệm lại; quên mất câu Phật hiệu
này!
1.
Trích Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ của cụ Hoàng
Niệm Tổ:
“Thường niệm bất
tuyệt, tắc đắc đạo tiệp. Ngă pháp
như thị, tác như thị thuyết. Như Lai sở
hành, diệc ưng tùy hành. Chủng tu phước thiện,
cầu sanh tịnh sát” (Thường niệm chẳng dứt th́ đắc
đạo nhanh chóng. Pháp ta như thế, nói ra như thế,
cũng nên hành theo hạnh Như Lai hành, vun bồi phước
thiện, cầu sanh cơi tịnh).
“Thường niệm
bất tuyệt, tắc đắc đạo tiệp” Tám câu trên đây chính là lời
tổng kết của cả bản kinh Vô Lượng Thọ,
là cương yếu tu hành của Tịnh Tông. Toàn bộ phần
trường hàng do đức Thế Tôn nói ra trong pháp hội
này đến đây là hết. V́ thế, tám câu trên chính là
những lời nói tối hậu trong Tịnh Tông, là lời
kết thúc của toàn bộ kinh này. Tám câu ấy nêu trọn
cả Lư lẫn Sự, chỉ rơ chánh hạnh và trợ hạnh,
giăi bày trọn vẹn bí tạng của Như Lai.
Trước hết là “thường niệm bất tuyệt”
(thường niệm chẳng dứt). Thứ nhất,
“thường niệm” là
luôn niệm kinh này, nói một cách rốt ráo th́ “thường niệm bất tuyệt”
chính là niệm một câu danh hiệu này! “Bất tuyệt” là tịnh niệm tiếp nối.
Hành nhân nếu thật sự phát tâm chân thật, niệm Phật
chuyên ṛng, chỉ giữ mỗi câu Phật hiệu này cho
luôn liên tục trong mọi niệm th́ nhất định “như nhiễm hương nhân,
thân hữu hương khí” (như người nhiễm
hương, thân có mùi hương). Lúc lâm chung, Phật đến
tiếp dẫn, từ bi gia hựu, khiến tâm chẳng loạn,
quyết được văng sanh, chứng lên Bất Thoái,
sanh trọn vẹn cả bốn cơi Tịnh Độ, rốt
ráo Niết Bàn.
V́ thế, Phật từ bi khai thị:
“Thường niệm bất
tuyệt, tắc đắc đạo tiệp” (Thường
niệm chẳng dứt th́ đắc đạo nhanh
chóng). “Tiệp” là nhanh chóng,
mau lẹ, chẳng hạn như “tiệp kính” là con đường để đi
tắt cho nhanh. Ở đây, ư nói: Một pháp Tŕ Danh là
đường tắt tu hành, tŕ danh ṛng chắc sẽ
đắc đạo rất nhanh chóng. Đó là do pháp Tŕ Danh này
lấy “tâm này làm Phật, tâm
này là Phật”, lấy Quả Giác làm nhân để phát
tâm nên đắc đạo nhanh chóng. Ấy chỉ là v́
pháp Tŕ Danh Niệm Phật này phát xuất từ chính bổn
nguyện lớn lao của Phật Di Đà, cho nên thực hiện thật dễ
dàng, thành tựu rất dễ dàng. Bởi thế, nó
được gọi là pháp dễ hành, được
xưng tụng là con đường tắt nhất trong
các con đường tắt.
Đoạn văn này của cụ
Niệm Tổ quá hay, đă nói toạc bổn ư của Phật.
“Thường niệm bất
tuyệt” nghĩa là thường niệm kinh Vô Lượng
Thọ, cũng nghĩa là thường niệm A Di Đà Phật.
Chúng ta phải thường niệm chẳng dứt một
câu Phật hiệu này, phải thường niệm, chẳng
đánh mất cái tâm cầu văng sanh.
2. Thường niệm chẳng
dứt lúc lâm chung và trong giấc mộng
a. Lời khai thị của Tử
Bách đại sư về niệm Phật chẳng dứt
lúc lâm chung
Tử Bách đại sư, Liên
Tŕ đại sư, Ngẫu Ích đại sư, và Hám Sơn
đại sư được người đời sau
tôn xưng là Tứ Đại Cao Tăng cuối đời
Minh. Có một vị xuất gia đến thăm Tử Bách
đại sư, đại sư hỏi: “Ông xuất gia v́
mục đích ǵ?”
Đáp: “V́ muốn thoát khổ”
Đại sư hỏi: “Dùng pháp
nào để cầu thoát khổ?”
Đáp: “Tôi thuộc hạng độn
căn, chỉ niệm Phật”
Sư hỏi: “Ông niệm Phật
có thường gián đoạn không?”
Đáp: “Lúc nhắm mắt ngủ
bèn quên [không niệm]”
Sư nghiêm mặt, quở: “Nếu nhắm mắt liền
quên th́ niệm Phật như vậy dù có niệm một
vạn năm cũng vô ích! Từ nay trở đi, ông cần
phải trong lúc ngủ cũng niệm Phật chẳng gián
đoạn th́ mới có phần thoát khổ
được!
Nếu
trong giấc ngủ chẳng niệm Phật
được, quên mất đi, th́ khi mở mắt ra
liền buồn khóc, nhỏm dậy ngay, đến
trước đức Phật dập đầu
đến chảy cả máu, hoặc niệm ngàn tiếng,
vạn tiếng, dốc cạn hết sức chính ḿnh
mới thôi. Làm như thế chừng hai ba chục lần,
tự nhiên trong khi ngủ mê mệt, niệm Phật
cũng chẳng bị gián đoạn.
Người
đời niệm Phật hoặc là hai, ba chục năm,
hoặc suốt đời niệm Phật mà đến
lúc lâm chung lại thành vô dụng là do lúc ngủ nghỉ
chẳng hề có ư niệm nhớ đến Phật.
Người sống như đang tỉnh, người
chết như nằm mộng; bởi vậy, người
nào trong mộng vẫn niệm Phật, lúc lâm chung sẽ
tự nhiên chẳng loạn vậy!”
Tử Bách đại sư dạy chúng ta: “Lúc ngủ bèn quên Phật
hiệu, niệm Phật như vậy một vạn
năm cũng không thể văng sanh. Phải trong lúc ngủ
cũng niệm Phật không gián đoạn th́ mới có hy
vọng thoát khổ được”.
[Từ chỗ này] chúng ta mới biết vấn đề
nghiêm trọng cỡ nào! Đừng nói lúc ngủ Phật
hiệu đă gián đoạn, chúng ta ngay trong lúc tỉnh giấc
Phật hiệu cũng thường gián đoạn. Người
thế gian niệm Phật suốt cuộc đời, đến
lúc lâm chung không thể khởi câu Phật hiệu, đây là
v́ trong lúc nằm mộng chưa từng niệm Phật
bao giờ. Con người lúc sống cũng giống như
lúc tỉnh giác, lúc chết cũng giống như nằm mộng,
cho nên trong mộng có thể niệm Phật th́ lúc lâm chung gần
chết sẽ tự nhiên chẳng loạn.
Câu Phật hiệu này phải thường niệm chẳng
dứt, không chỉ là lúc tỉnh giấc mà ngay trong giấc
mộng cũng phải thường niệm chẳng dứt.
Thử hỏi mỗi sáng lúc chúng ta tỉnh giấc, ư niệm
đầu tiên có phải là nghĩ đến A Di Đà Phật
hay không? Cho nên lúc ngủ mở máy niệm Phật có một
lợi ích, nửa đêm tỉnh giấc [nghe tiếng niệm
sẽ] nhắc nhở chính ḿnh niệm Phật. Nghe nói người
có công phu thành phiến ngủ nghê rất ít; hơn nữa,
lúc họ ngủ, Phật hiệu vẫn miên miên mật mật
từng câu tiếp nối lẫn nhau, dường như đang
ngủ mà chẳng ngủ.
Chúng ta hăy b́nh tâm tỉnh táo, suy nghĩ thử coi: Ban đêm
lúc ḿnh đang ngủ, có thể làm chủ được hay
không? Lúc hoan hỷ vui cười, lúc sợ hăi, có thể v́
mộng cảnh kích thích làm cho tâm khởi lên câu Phật hiệu
hay không? Giả sử không thể làm chủ, th́ đến
ngày Ba Mươi tháng Chạp (ví dụ lúc lâm chung), vợ
con nhiễu loạn, bịnh tật hôn mê, phong đao cắt
thịt, đau khổ bức bách, thêm vào những sự kiện
trải qua lúc sanh tiền, và những trói buộc vương
vấn chưa dứt sau khi chết, mỗi thứ này đều
nổi dậy trong tâm, làm sao có thể làm chủ để
niệm Phật cầu sanh Tây Phương cho được?
Phải biết: Nếu ban ngày có thể làm chủ, lúc nằm
mộng làm chủ một nửa cũng không nổi. Dù lúc nằm
mộng có thể làm chủ, lúc chết làm chủ một nửa cũng không được. V́ lúc
nằm mộng là hôn mê một nửa,
lúc chết là hoàn toàn hôn mê!
Các vị đồng tu đă đích
thân thấy rất nhiều người niệm Phật lâu
năm, đến lúc lâm chung bị bịnh khổ quấy
nhiễu, chẳng thể niệm Phật, thậm chí không
chịu nghe tiếng Phật hiệu, hoặc chỉ nghĩ
nhớ người thân, không chịu nghĩ nhớ Phật,
niệm Phật, hoặc hôn mê bất tỉnh, chẳng thể
niệm Phật, nghe Phật. Nếu không nghĩ nhớ duyên
thế gian, bèn lưu luyến tài sản nhà cửa. Nếu
không lâm vào t́nh trạng bịnh khổ khó chịu, bèn hôn mê
chẳng tỉnh táo. Do vậy, tuy người ấy muốn
văng sanh, nhưng không biết lại lưu lạc sanh tử
đến chốn nào?
b. Lâm chung Di Đà 'từ bi gia hựu,
lịnh tâm bất loạn'
Pháp sư Linh Chi đời Tống
nói: “Phàm người lâm chung, thần
thức chẳng thể làm chủ. Hạt giống nghiệp
thiện hay ác, không ǵ chẳng phát hiện. Hoặc khởi
ác niệm, hoặc khởi tà kiến, hoặc sanh luyến
ái hệ lụy, hoặc phát ngông cuồng. Ác tướng
chẳng giống nhau, hết thảy đều là điên
đảo”.
Nghĩa là phàm phu lúc lâm chung, tâm chẳng
thể làm chủ, hạt giống thiện ác nghiệp tập
trong thức điền khởi lên tơi bời. Có người
khởi ác niệm, có người khởi tà kiến, chửi
bới Phật, phỉ báng Pháp. Có người tham luyến
tài sản, quyến thuộc, có người tâm thần phát
cuồng. Mọi thứ ác tướng này đều là
điên đảo. Người lúc b́nh sanh tạo trọng
tội, lúc lâm chung do ác nghiệp lực, thấy các ác tướng
khủng bố, lông tóc dựng đứng, tay chân bấn
loạn, không thể khống chế đại tiểu tiện,
tay quờ quạng vào hư không, hai mắt trắng bệch,
miệng sùi bọt... Hơn nữa, Tứ Đại phân
tán, đau khổ cùng cực, giống như con trâu sống
bị lột da, con rùa bị lột mai (con rùa bị lột
mai rồi bỏ vào nước đun sôi). Trong t́nh trạng
như trên, ai có thể tâm không điên đảo, chánh niệm
phân minh? V́ thế, đức Phật A Di Đà bố thí
đại từ bi. Trong khi [hành nhân] bị khốn đốn
lúc lâm chung, Ngài dùng Phật lực gia tŕ chúng sanh, làm cho tâm
người ấy không điên đảo, lại
được đại chúng vây quanh, khiến cho tâm
người đó được an ổn, trong niềm
hoan hỷ ấy bèn văng sanh cơi Cực Lạc.
Trong kinh Xưng Tán Tịnh Độ
Phật Nhiếp Thọ, đức Phật dạy: “Lúc mạng lâm chung, Vô Lượng
Thọ Phật và và vô lượng Thanh Văn đệ tử,
Bồ Tát chúng cùng đến, trước sau vây quanh, đến
trước người ấy, từ bi gia hựu khiến
cho người ấy tâm bất loạn”. Từ câu “từ bi gia hựu khiến cho
tâm người ấy bất loạn”, có thể thấy
những kẻ b́nh phàm lúc lâm chung đều nương cậy
Phật lực gia tŕ, khiến cho tâm người đó được
bất loạn, chánh niệm phân minh.
Sách Viên Trung Sao nói: “Tuy chúng sanh trong thế giới
Sa Bà có thể niệm Phật, nhưng Kiến Tư phiền
năo mạnh mẽ, mênh mông, chưa thể phục đoạn.
Lúc lâm chung có thể tâm chẳng điên đảo, vốn
chẳng phải do tự lực có thể an trụ, mà hoàn
toàn nhờ Phật Di Đà cứu bạt. Vốn chẳng
có chánh niệm, nhưng có thể sanh khởi chánh niệm;
do vậy, có thể tâm chẳng điên đảo, cho nên liền
có thể văng sanh ngay trong lúc ấy”.
Kinh Bi Hoa nói c̣n rơ ràng hơn,
đức Phật A Di Đà dạy: “Lúc người ấy lâm chung, ta và đại chúng
vây quanh, hiện ra trong tâm người văng sanh. Người
ấy thấy Ta đến tiếp dẫn, nội tâm hoan
hỷ. Lúc ấy, ta nhập Vô Ế Tam Muội, do tam muội
lực bèn ở trước người đó thuyết
pháp. Nhờ nghe pháp, người đó lập tức đoạn
hết thảy khổ năo, tâm sanh đại hoan hỷ, bèn
đắc Bảo Trí tam muội. Do sức tam muội ấy, khiến cho tâm
trụ trong chánh niệm và Vô Sanh Pháp Nhẫn, sau khi mạng
chung, ắt sanh về cơi nước của ta”.
V́ thế, chỉ có người
tu hành đầy đủ [công năng] đặc thù mới
có thể dựa vào tự lực để lúc lâm chung tâm bất
điên đảo, chánh niệm phân minh, như nhập Thiền
Định. Chuyện này hạng b́nh phàm nghiệp nặng
không có cách nào làm nổi, do v́ lúc ban ngày không thể làm chủ,
lúc nằm mộng bèn không thể làm chủ. Trong mộng không
thể làm chủ, lúc mang bịnh bèn không thể làm chủ.
Trong lúc bị bịnh không thể làm chủ, lúc chết sẽ
không thể làm chủ, v́ lúc chết nỗi thống khổ
sâu nặng nhất. Nhưng nương nhờ nguyện lực
thù thắng của Phật gia tŕ, hành nhân Tịnh nghiệp
lúc lâm chung tâm thức có thể thanh minh, an tường, chẳng
điên đảo, chẳng bấn loạn, chẳng trải
qua thân Trung Ấm, hóa sanh trong hoa sen nơi thế giới Cực
Lạc. Người tu Tịnh Độ được
nhiều an lạc! Lúc sanh ra đă an lạc, lúc chết c̣n
an lạc hơn, chẳng phải trải qua thân Trung Ấm.
Người tu hành tốt đẹp có thể biết trước thời giờ
[văng sanh], có thể ngồi, thậm chí đứng văng sanh.
Do nguyên nhân này, Phổ Hiền đại sĩ dạy đại
chúng trong thế giới Hoa Tạng phát nguyện:
“Nguyện ngă lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhất thiết chư
chướng ngại
Diện kiến bỉ
Phật A Di Đà,
Tức đắc
văng sanh An Lạc sát”
(Nguyện con lúc mạng sắp kết
thúc,
Diệt trừ hết thảy các chướng
ngại
Trông thấy đức Phật A Di Đà
Liền được văng sanh cơi An Lạc)
b. Nguyên nhân khiến cho Phật hiệu
bị gián đoạn
Người
ta ai cũng biết nói “một
câu Phật hiệu niệm đến cùng”, nhưng lúc
thật sự niệm bèn chẳng thể nào niệm đến
cùng, cứ thường bị gián đoạn, chưa đến
cùng đă bị gián đoạn. [Nguyên nhân Phật hiệu
gián đoạn gồm có]:
c1. T́nh chấp
Câu
Phật hiệu của chúng ta cứ thường bị t́nh
chấp cắt đứt, chẳng thể thường niệm
chẳng dứt. Đối với người [khác, chúng
ta] đương nhiên là có t́nh chấp, đối với sự,
đối với vật, chúng ta cũng có t́nh chấp.
Hành
Sách đại sư dạy:
“Nếu như sự nghiệp
Sa Bà vẫn c̣n vương vấn, một nóng mười lạnh,
tâm chẳng chuyên dốc, lúc gặp ngũ dục bèn như
keo, như sơn, khi gặp phải nghịch cảnh sẽ
kết oán nuôi hận, mà muốn lúc mạng chung đức
Phật đến tiếp dẫn, ắt chẳng thể
được cứu! Há chẳng phải là chuyện khó
ư?
Xét theo đó, pháp môn Tịnh
Độ là thuốc, nhưng tham ái Sa Bà là chất kỵ
thuốc ấy. Chúng sanh nghiệp bệnh tuân lời uống
thuốc của đấng Y Vương, vừa uống
thuốc ấy xong liền ăn no ứ chất kỵ thuốc,
có nên hay chăng? Lúc mạng sắp hết, tâm đặt nặng
vào đâu sẽ đọa về đó. Do tịnh nhân yếu
nhỏ, khó thoát khổ luân, bèn đổ ngược Y
Vương khiến người lầm lạc, Phật
pháp chẳng linh! Xót thay! Bọn họ điên đảo
đến cùng cực vậy! Sao chẳng nghĩ đến
pháp xă nơi núi Khuông Lư, mười tám vị cao hiền,
một trăm hai mươi ba người lưu hiện
điềm lành chép đầy trong sách vở. Cổ kim nhật
nguyệt, cổ kim sơn hà, họ đă là trượng
phu, sao ta chẳng được như họ? Phải biết
rằng ta chẳng được như họ chỉ v́
c̣n chưa buông xuống được những điều
ḿnh đặt nặng đó thôi!
Nhưng
tôi xem ra, hiện thời những kẻ phú quư, lanh lẹ,
thành đạt, th́ hoặc là tham mến thanh sắc thô tệ,
chẳng biết gốc khổ, hoặc tham luyến danh tiếng
nhỏ tí như cái sừng con ốc, chẳng biết là
hư huyễn, hoặc lại thích trồng trọt, buôn
bán kiếm lợi, toan tính kinh doanh. Phí hèn suốt cả
đời này, tương lai theo nghiệp lưu chuyển;
chẳng biết, chẳng nghe đến y báo, chánh báo trang
nghiêm thắng diệu trong cơi Phật kia, từ sống
đến chết chưa từng khởi một tâm niệm
hướng đến văng sanh, chẳng bằng kẻ tối
ngu, cùng quẫn, phần nhiều biết niệm Phật,
từ chỗ tối vào chỗ sáng, chuyển sanh vào nơi
thù thắng!
V́ thế, nay tôi kính khuyên
các bạn: Ai đă ghi danh vào Liên Xă, người ấy chính
là hoa Ưu Đàm trong nhà lửa, hăy nên đầy đủ
ư nguyện chân thật, phát tâm ưa - chán, coi tam giới
như lao ngục, coi vườn nhà như gông cùm, coi thanh sắc
như trầm độc, coi danh lợi như xiềng
xích, coi cảnh ngộ cùng quẫn - hanh thông trong mấy
mươi năm hệt như giấc mộng đêm qua,
coi một kỳ thọ báo trong cơi Sa Bà như nơi quán trọ,
ngủ qua một đêm liền bỏ đi, chỉ lấy
việc trở về nhà làm trọng. Như ư cũng
được, chẳng như ư cũng xong, bỏ
được [những chuyện chỉ tồn tại
trong] chốc lát, nhất tâm niệm Phật. Nếu thật
sự làm được như thế mà chẳng sanh Tịnh
Độ th́ chư Phật đều thành nói dối. Xin
hăy cùng gắng sức!”
c2. Ngoại duyên
Phật
hiệu của chúng ta cứ thường bị ngoại
duyên cắt đứt, chẳng thể thường niệm
chẳng dứt. Lúc trước, có một vị cư
sĩ, ông ta là một người rất tốt, tổ chức
rất nhiều Niệm Phật Đoàn, khuyên rất nhiều
người niệm Phật. Nhưng chính ông ta chẳng có
thời gian niệm Phật, mỗi ngày đều có
người đến mời ông sắp xếp công chuyện
ở đạo tràng, hoặc mời ông đi thăm bịnh
nhân, hoặc mời ông đi hoằng pháp lợi sanh. Cả
ngày chạy tới chạy lui, ngoại duyên quá nhiều,
thường bận rộn đến nỗi chẳng có
thời gian ngủ nghỉ. Lúc đó, có người cảnh
cáo ông ta: “Nếu ông không lắng ḷng niệm Phật, sẽ
chết rất khó coi!” Đợi đến khi ông muốn
từ chối các ngoại duyên, muốn đóng cửa
tĩnh tu, căn bản là không thể nào yên tĩnh
được. Có một lần, ông ngă bịnh, trong tâm
nghĩ thừa lúc dưỡng bịnh ở nhà an tĩnh mấy
ngày để niệm Phật, không ngờ điện thoại
từ sáng tới tối cứ reo hoài chẳng ngừng. Cắt
dây điện thoại liền có người gơ cửa kiếm
ông, nườm nượp chẳng dứt, ngoại duyên nhiều
đến nỗi chẳng thể nào cự tuyệt. Cuối
cùng, trong một lúc gặp tai nạn ngoài đường,
ông chết đột ngột. Lúc chết, chẳng có một
người thân hoặc đạo hữu nào ở kế
bên. Sau khi chết liền bị đưa đến pḥng
đông lạnh trong bịnh viện. Đợi đến
lúc người thân đến mở tấm vải che mặt
ông, thật đúng như lời người đă cảnh
cáo ông lúc trước “chết rất khó coi”.
Chuyện
này là một “tấm gương của chiếc xe đằng
trước bị đổ” rất sâu sắc, đáng cho
chúng ta suy gẫm, hy vọng chúng ta sẽ không đi theo dấu
vết xe trước. Rất nhiều người bận
rộn tối ngày, [họ không biết] chuyện ǵ mới
là chuyện lớn nhất, quan trọng nhất trong đời
này? Trong tâm chúng ta, tự ḿnh phải phân biệt rơ ràng.
Người thượng căn đương nhiên có thể
thường niệm chẳng dứt trong hết thảy các
cảnh duyên bên ngoài. Nhưng chúng ta là kẻ hạ căn,
nếu muốn thành tựu, tâm nhất định phải
kiên quyết, tạm thời phải cự tuyệt ngoại
duyên. Tốt nhất là chẳng có ngoại duyên, đừng
chủ động phan duyên! Một khi vướng vào các
ngoại duyên, nó sẽ làm cho quư vị chẳng có cách nào chạy
thoát.
Do
vậy, Tây Phương Xác Chỉ có đoạn chép: “Tám chữ 'cưỡng thuận
nhân t́nh, miễn tựu thế cố' (miễn cưỡng
thuận theo nhân t́nh, gượng ép thuận theo thế nhân),
đă lầm lẫn đại sự của đời bạn.
Đạo nghiệp chưa thành, vô thường đă
đến nhanh chóng. Hăy nên ẩn giấu tông tích, cất giấu
tài năng, nhất tâm hướng về đạo, không
thể lầm lẫn nữa”.
Lúc ngài Tỉnh Am
c̣n tại thế, cư sĩ Mao Tĩnh Viễn là một
vị thường được tán thán là một nhà
đại từ thiện. Tỉnh Am đại sư
viết một lá thơ khuyên ông niệm Phật [như
sau]:
“Cư sĩ dựng cầu
xong có thể nói là không công nào lớn hơn, nhưng tâm
cư sĩ ham làm lành không chán; vừa xong một việc
lành này, đă làm ngay việc lành khác, hay th́ hay đấy,
nhưng việc lớn sanh tử th́ như thế nào?
Nếu chẳng coi việc
lớn sanh tử là gấp, cứ cắm cúi làm lành, th́
sự lành dù to như núi Tu Di, cũng đều là
nghiệp duyên sanh tử, biết đến ngày nào xong?
Thiện sự càng lắm, sanh tử càng rộng! Một
niệm ái tâm, muôn kiếp trói buộc, có đáng sợ hay
chăng?
Cư sĩ tham cứu
thấu đạt công án thế gian từ lâu, đă tu
tập Tịnh nghiệp Tây Phương từ lâu, nhưng
cái tâm sanh tử chẳng thiết, gia duyên chưa buông
xuống được, tạ tuyệt nhân t́nh chưa
nổi, tâm niệm Phật chẳng chuyên là v́ sao? V́ gốc
lợi danh chưa đoạn đó chăng? V́ ái niệm
lôi kéo, ràng buộc đó chăng?
Đối với hai điều
ấy, ông hăy nên để tâm suy xét kỹ. Nếu như chẳng thể
chặt đứt hết thảy gia duyên, thế sự,
tận lực vâng giữ sáu chữ hồng danh mà mong thoát
khỏi Sa Bà, mong sanh về An Dưỡng th́ khó lắm
đấy!
Chẳng
sanh về An Dưỡng mà muốn thoát khỏi sanh tử,
đă chẳng thoát khỏi sanh tử mà muốn khỏi
bị đọa lạc, xét ra, càng khó hơn nữa! Ví dù
một đời, hai đời chẳng đánh mất
thân người, liệu có kham nổi măi không?
Than ôi! Cư sĩ huệ tâm
lanh lợi, sáng suốt như thế, gia duyên sung túc như
thế, con cháu hiền năng như thế, việc ǵ
cũng vừa ư, mà c̣n chẳng thể buông nổi vạn
duyên, nhất tâm niệm Phật th́ là trời phụ
người, hay người đă phụ trời vậy?
Chẳng lấy việc
niệm Phật làm gấp, chỉ lấy chút điều
lành nhỏ trong đời làm gấp, chẳng lấy
việc lớn sanh tử làm đầu, chỉ coi
phước báo nhân thiên là trọng, th́ là hạng chẳng
hiểu trước, sau vậy!
[Tuy cư sĩ chẳng
cầu phước, nhưng thường làm phước,
tuy muốn thoát sanh tử, nhưng lại bị trở vào
trong sanh tử, đều là do ông chẳng biết rằng
ḿnh đă lơ là cơi kia, coi trọng cơi này, đến
nỗi bánh xe đă xoay ngược mà vẫn cứ mong
tiến lên!]
Bây giờ, việc chính
của cư sĩ là hăy nên tạ tuyệt việc
đời, nhất tâm niệm Phật, kèm thêm hai chữ “tŕ
trai” th́ mới thật là tận mỹ!
Nói chung, chẳng thể dùng
tán thiện khơi khơi để đạt đến
cơi Phật Tây Phương, chẳng thể cậy vào
lười biếng để thoát khỏi vạn kiếp
sanh tử được! Vô thường nhanh chóng, ngày
đêm xảy tới ngay, há chẳng sớm lo liệu hay
sao?”
c3.
Vọng tưởng
Phật
hiệu của chúng ta cứ thường bị vọng
tưởng cắt đứt, chẳng thể
thường niệm chẳng dứt. Ấn Quang
đại sư dạy:
“Con người ở trong
thế gian chẳng thể siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử, đều do vọng niệm gây ra. Hiện
nay lúc niệm Phật hăy nghĩ là ḿnh đă chết và
chưa văng sanh. Trong mỗi ư niệm, hết thảy
những ư niệm t́nh chấp trong thế gian đều
gạt hết ra ngoài. Ngoại trừ một câu Phật
hiệu này, chẳng để cho có một niệm nào khác!
Làm sao có thể thực hiện điều này? Hăy nghĩ
ḿnh đă chết rồi, hết thảy vọng niệm
đều chẳng cần thiết. Nếu có thể
nghĩ như vậy, ắt sẽ có lợi ích lớn.
C̣n lúc thường ngày có
quá nhiều vọng tưởng, muốn có thần thông, có
danh tiếng, có pháp duyên, đắc đạo... Như vậy
là dùng vọng tưởng làm bổn tâm của ḿnh, càng dơng
mănh tinh tấn, các vọng tưởng ấy sẽ càng lớn,
càng nhiều. Nếu không giác chiếu dập tắt vọng
niệm ấy, sau này sẽ bị ma dựa phát cuồng,
đâu phải chỉ là vọng tưởng mà thôi! Do vậy,
phải gấp buông bỏ những vọng tưởng quá
mức ấy.
Phàm những lúc có ư niệm
phẫn nộ, dâm dục, háo thắng, uất ức t́nh cờ
khởi lên, lập tức hăy nghĩ: 'Ḿnh là người niệm
Phật, sao lại khởi lên những ư niệm như vậy?'
Khi ư niệm ấy vừa khởi lên liền bị dập
tắt, lâu ngày, phàm những ư niệm mệt óc, tổn thân
sẽ chẳng khởi lên nữa. Cả ngày do được
công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật
gia tŕ thân tâm, tôi dám bảo đảm, không đầy
mười ngày, liền thấy hiệu quả to lớn tức
khắc. Nếu lâu lâu mới niệm một câu, hai câu, mà
muốn có hiệu quả, đó là tự gạt ḿnh và lừa
dối người”.
Liên
Tŕ đại sư dạy: “Vọng
niệm là bịnh, niệm Phật là thuốc. Bịnh lâu
ngày, chẳng thể chỉ dùng một thang thuốc liền
trị lành được! Vọng niệm tích lũy lâu
ngày, chẳng thể dùng một ư niệm tạm thời mà
có thể diệt trừ, cùng một đạo lư! Đừng
để ư lo nghĩ về những vọng niệm lung
tung này, chỉ quư ở chỗ niệm Phật tinh tấn,
thiết tha. Từng chữ rơ ràng, từng câu nối tiếp
nhau, ra sức chấp tŕ th́ mới có phần xu hướng.
Tích lũy chân thật lâu ngày, đến một ngày nào
đó, hoát nhiên [thành tựu], ví như mài chày thành kim, luyện
sắt thành gang, nhất định sẽ chẳng sai. Nhập
đạo có nhiều cửa, chỉ có một cửa này
là đường tắt. Không thể chểnh mảng, coi
thường!”
c4. Hỷ nộ
Câu
Phật hiệu của chúng ta cứ thường bị cắt
đứt bởi hỷ nộ, không thể thường
niệm chẳng dứt. Chúng ta hăy coi một đoạn
khai thị của Tử Bách đại sư: “Pháp
môn Niệm Phật, giản dị, thuận tiện bậc
nhất. Nhưng người niệm Phật hiện nay
đều chẳng có ư chí quyết định. Do vậy,
trăm ngàn người niệm Phật, chẳng có một
hai người thành tựu! Một câu Phật hiệu này,
hết thảy Bồ Tát, hết thảy chư thiên, hết
thảy mọi người, phàm những người
được sanh Tây Phương, không ai chẳng nhờ
một câu A Di Đà Phật này mà được thoát khổ
hải. Nhưng tâm niệm Phật có chân thật hay không,
có thể khám nghiệm trong hai lúc hoan hỷ và phiền năo;
tâm ấy chân thật hay không, liền có thể nhận biết.
Người thật sự dùng chân tâm niệm Phật th́ lúc
hoan hỷ, phiền năo, vẫn niệm niệm không gián
đoạn. Phiền năo không thể khuấy động
người đó, hoan hỷ cũng không thể phá khuấy
người đó. Phiền năo và hoan hỷ đă không thể
động tâm, th́ khi gặp cảnh duyên sanh tử, sẽ
tự nhiên chẳng kinh sợ. Người niệm Phật
hiện nay khi gặp một chuyện hỷ nộ nhỏ,
câu A Di Đà Phật bèn ném ra ngoài sau ót, vậy th́ làm sao niệm Phật linh nghiệm
được? Nếu niệm như tôi nói, nếu quả
thật lúc yêu thích hay oán ghét cũng chẳng mất câu A Di
Đà Phật, mà hiện tại không đạt được
thọ dụng, lúc lâm chung chẳng thể văng sanh, th́
lưỡi tôi nhất định sẽ bị tan ră. Nếu
quư vị chẳng thực hành theo lời tôi nói, niệm Phật
chắc chắn sẽ chẳng linh nghiệm, lỗi ở
nơi quư vị, chẳng liên can ǵ đến tôi”.
d. Thường niệm bất tuyệt
chính là 'như con nhớ mẹ'
Ấn
Quang đại sư khai thị: Đại Thế Chí Bồ
Tát dùng ví dụ 'như con nhớ
mẹ'. Tâm đứa con chỉ nghĩ về mẹ, những
cảnh [duyên] khác đều chẳng để trong ḷng, cho
nên có thể cảm ứng đạo giao. Ví như con thơ
nhớ mẹ, cả ngày không lúc nào chẳng nghĩ nhớ
tới mẹ ḿnh. Dù lúc ngủ nghê, tắm rửa, làm vệ
sinh, sao có thể để tâm ḿnh hoàn toàn quên bẵng chuyện
niệm Phật cho được? Đă ghi nhớ chẳng
chướng ngại, trong tâm niệm thầm cũng chẳng
ngại. Người tu Tịnh Độ tùy phần tùy sức,
há cứ phải buông hết vạn duyên mới có thể
tu tŕ hay sao? Ví như hiếu tử nghĩ nhớ mẹ, kẻ
dâm mê gái đẹp, tuy trong hằng ngày trăm việc bận
rộn, một niệm này chẳng khi nào quên mất.
Người tu Tịnh Độ cũng vậy. Mặc cho
suốt ngày bận rộn, phiền toái, quyết chẳng
quên mất niệm Phật, như vậy là đă đạt
được điểm trọng yếu.
e. Tiểu kết
Nếu
quả thật tâm v́ sanh tử khẩn thiết, chỉ sợ
đọa vào ba đường ác, chịu khổ vô lượng,
mong thoát ra chẳng được, ắt sẽ thường
niệm chẳng dứt câu Phật hiệu này. Nếu quả
thật chua xót nghĩ tới vô thường giống
như cứu đầu đang bị cháy, lúc nào cũng
nghĩ đến lúc lâm chung, câu Phật hiệu này ắt
sẽ thường niệm chẳng dứt. Nếu quả
thật có chân tín, thiết nguyện, niệm niệm đều
cầu sanh Tịnh độ, một khắc cũng chẳng
chịu dừng lại [ở cơi Sa Bà này], câu Phật hiệu
này ắt sẽ thường niệm chẳng dứt.
Ngược lại, câu Phật hiệu này cứ thường
bị gián đoạn, thường quên mất, tín nguyện
của chúng ta đă có vấn đề, phải hạ thủ
công phu nơi chân tín, thiết nguyện. Nếu quả thật
có thể thường niệm chẳng dứt, ắt sẽ
đắc đạo nhanh chóng, giống như lăo ḥa
thượng Hải Hiền vậy.
Cuối
cùng xin cúng dường đại chúng một đoạn
văn của Liên Tŕ đại sư: “Người
xưa dạy thân cận minh sư, cầu thiện tri thức.
Nhưng thiện tri thức thật ra sẽ không miệng truyền,
tâm trao pháp môn bí mật, chỉ giúp người ta tháo dính mắc,
cởi trói buộc mà thôi, đó là bí mật. Ngày nay tám chữ
‘chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn’ chính là
pháp môn tháo dính mắc, cởi trói buộc, chính là con
đường lớn để thoát ly sanh tử. Sáng niệm,
tối niệm, đi niệm, ngồi niệm, niệm niệm
nối tiếp, sẽ tự thành tam muội, đừng
t́m nơi nào khác nữa”.
Báo
cáo tới đây, kính xin sư phụ thượng nhân và
chư vị thiện tri thức phê b́nh, đính chánh, chẳng
tiếc lời chỉ dạy.
A
Di Đà Phật.
Bất tiếu
đệ tử, Thích Tự Liễu khấu tŕnh
Lăo ḥa thượng giảng:
Các vị đồng học chúng ta đều
coi, đều nghe bài báo cáo này của pháp sư Tự Liễu,
hăy quay đầu lại ngẫm nghĩ, chúng ta có phải
là những người được nhắc đến
trong bài báo cáo này không? Trong sáu thời, có phải là câu Phật
hiệu thường bị đánh mất hay không? Đúng
là có lúc đánh mất cả mấy giờ đồng hồ,
vừa mất là mấy lần hai mươi tiếng
đồng hồ, đây là chuyện b́nh thường. Pháp
môn Tịnh Tông vô cùng thù thắng, câu [danh hiệu] vô cùng thù
thắng này, có phải là chúng ta đă thật sự hiểu
rơ rồi hay chưa? Nếu thật sự hiểu rơ, trong
sáu thời sẽ không bao giờ đánh mất câu Phật
hiệu này, giống như cổ đại đức
đă nói “ban đêm nằm mộng
cũng niệm Phật”. V́ sao lại đánh mất? Thật
ra, đối với pháp môn này, chúng ta chỉ hiểu phân nửa,
cần phải giáo dục từ chỗ này.
Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư hà tất phải
hội tập kinh này? Có cần thiết hay không? Nếu
người học Phật chúng ta, hiểu rơ ràng, hiểu
rành rẽ bộ kinh này một cách rốt ráo, đó là hiện
tượng ǵ? Tín tâm kiên định, nguyện tâm chẳng
đổi dời. Ngẫu Ích đại sư đă dạy:
Tín nguyện là điều kiện tiên quyết để
văng sanh Tịnh Độ, có tín có nguyện, nhất định
sẽ được văng sanh. C̣n công phu niệm Phật sâu
hay cạn, sẽ quyết định phẩm vị cao hay
thấp khi văng sanh thế giới Cực Lạc. Do đó,
có thể thấy chuyện quan trọng nhất của
người niệm Phật là chân tín, thiết nguyện, chúng
ta nẩy sanh vấn đề ở chỗ này! Lăo ḥa
thượng Liên Công[1] hội tập kinh
này, mục đích là ǵ? Mục đích là giảng rơ ràng, giảng
rành rẽ, giảng thấu suốt về hai thế giới
Cực Lạc và thế giới Sa Bà, để cho chúng ta lắng
ḷng tư duy, chọn lựa.
Thế giới Sa Bà, đặc biệt là
trong xă hội ngày nay, cả địa cầu động
loạn, chẳng yên ổn. Lần động loạn này
chưa hề có trong lịch sử thế gian, đă loạn
đến mức cùng cực rồi. Con người sống
trong thế gian giàu nghèo, sang hèn, có ai không khổ? Người
bần cùng đă khổ, người giàu sang càng khổ
hơn, có đáng để lưu luyến hay không? Niềm
vui của thế giới Cực Lạc, mỗi ngày chúng ta
đọc kinh đều nghe nói tới, v́ sao chẳng khẳng
định hạ quyết tâm mong muốn văng sanh? V́ bán tín
bán nghi: “Có thiệt hay không? Thật sự giống như
trong kinh diễn tả hay sao? Có thiệt không?” Vấn đề
ở chỗ này! V́ sao? Tuy chúng ta nghe kinh, niệm kinh rất
nhiều, vẫn hoài nghi chẳng dứt! Thiệt đó! Có
người suốt đời đến lúc gần chết
đều chẳng thể đoạn nổi. Lúc gần
chết niệm A Di Đà Phật, [lại nghĩ] “Phật
có thiệt hay không? Ngài sẽ đến tiếp dẫn tôi
sao?” Vẫn c̣n niềm nghi ngờ ấy. Do vậy, chữ
Tín này, khó lắm, khó lắm!
Tôi đă từng nói, hai năm sau khi xuất
gia, tôi mới thọ giới. Cả đời tôi tùy duyên,
duyên thọ giới [lúc đó] đă chín muồi. Sau khi thọ
giới xong, trở về Đài Trung đảnh lễ thầy
tôi, cảm ơn thầy đă dạy dỗ, vun bồi. Thầy
ở Thư Viện Từ Quang. Tôi đến Thư Viện,
vừa bước đến ngoài cổng, thầy ở
bên trong nh́n thấy, thầy lấy tay chỉ tôi: “Này con,
con phải tin Phật nghe!” Thầy nói câu ấy cả
mười mấy lần. Tại sao tôi học Phật hết
bảy năm, đă xuất gia rồi, xuất gia xong liền
đi dạy ở Phật Học Viện, đă dạy ở
Phật Học Viện hết hai năm, nay thọ giới
xong, về thăm Thầy, tại sao Thầy lại dạy
tôi phải tin Phật? Tôi rất ngạc nhiên, chẳng hiểu
v́ sao [thầy nói như vậy]. Tôi
bước vào bên trong, thầy bảo tôi ngồi xuống,
nói:
“Con có hiểu lời thầy hay không?”
Tôi
thưa chưa hiểu, suy nghĩ chẳng thông suốt. Thầy
bèn dạy:
“Có nhiều vị lăo ḥa thượng
tới lâm chung cũng c̣n chưa tin!”
Đó
là sự thật, chẳng giả, chứng tỏ niềm
tin rất là khó. Trong Tịnh Độ Tông, Tín là căn bản,
là điều thứ nhất trong ba tư lương. Nếu
chẳng có Tín, [Nguyện và Hạnh] ở phía sau sẽ chẳng
c̣n nữa, lấy đâu ra Nguyện và Hạnh? Nguyện tức
là cầu sanh Tịnh Độ, Hạnh tức là thật
thà niệm Phật. Câu Phật hiệu này cứ quên mất
hoài, chứng tỏ Tín Nguyện đă có vấn đề.
Chúng ta thiệt có phước, thiệt
có thiện căn, thiệt có duyên phận tốt đẹp,
v́ sao? Chúng ta có thể đọc bản báo cáo này, nghe những
âm thanh này, chẳng dễ dàng! Đây là bạn tốt của
chúng ta, thiện tri thức, giờ phút nào cũng có người
nhắc nhở chúng ta. Khóa giảng lần thứ tư
chúng ta dùng phương thức này, [học viên trao đổi
tâm đắc trong] lớp học tập, thực hiện
[những tâm đắc đă tiếp nhận trong] lớp
học tập này như thế nào? Làm thế nào để
thật sự thực hiện? Trong khi thật sự thực
hiện, sẽ xuất hiện nhiều vấn đề,
giải quyết những vấn đề ấy ra sao? Làm
thế nào để giúp cho chúng ta không đi đường
ṿng, không lạc vào đường tà? Đấy chính là
phước báo thật sự, đấy chính là đức
Phật A Di Đà gia tŕ. Trong nhóm đồng học, đích
thực là có những người có tâm đắc, họ
chia sẻ tâm đắc với chúng ta. Họ đạt
được thọ dụng, họ chẳng tự
tư tự lợi, chia sẻ thọ dụng của họ
với chúng ta, công đức ấy mới là viên măn, mới
rốt ráo. Hy vọng trong tương lai, chúng ta ở trong thế
giới của Phật A Di Đà, có thể họp mặt ở
thế giới Cực Lạc lần nữa, thành tựu
đạo nghiệp trong giảng đường của
Phật A Di Đà.
V́
thế, sau khi đă hiểu rơ ràng, chúng ta sẽ triệt
để buông xuống. Có buông xuống, công phu mới
đắc lực. Không buông xuống, công phu sẽ không
đắc lực. Tôi thấy vậy, rất đau ḷng, chỉ
có thể đau ḷng rát miệng hướng dẫn đại
chúng bằng những lời kinh. Trong các đồng học,
có người nghe xong đă hiểu rơ, hiểu rành rẽ,
bèn chia sẻ tâm đắc khiến cho chúng ta tăng
trưởng tín tâm, giúp cho nguyện tâm chúng ta thêm vững
chắc, thường niệm câu Phật hiệu chẳng
dứt. Thường niệm chẳng dứt, mới có thể
nắm chắc văng sanh bất thoái thành Phật trong đời
này.
Do
vậy, những bài báo cáo này, [tức là những] báo cáo tâm
đắc học tập, đều được
lưu giữ. Chúng ta sẽ chọn lựa, tuyển chọn
những bài quan trọng nhất rồi in thành sách, thường
cung cấp cho đồng tu tham khảo. Chuyện này rất
cần thiết. Đến cuối năm nay, mỗi
năm sẽ in một cuốn. Lần giảng thứ
tư này, v́ thời gian giảng kinh chỉ c̣n một nửa,
lúc trước đă giảng bốn giờ đồng hồ,
nay chỉ c̣n hai giờ. Khóa học kinh này viên măn phải mất
hai năm. Mức tiến triển này không thành vấn đề,
quan trọng nhất là kiên định Tín Nguyện, phải
học tới mức trong hết thảy thời, hết
thảy chỗ, đều có thể chẳng đánh mất
câu Phật hiệu giống như lăo ḥa thượng Hải
Hiền. Đối với chuyện thế gian, thậm
chí những Phật sự, tôi thường nói, đều
phải tùy duyên. Nếu hữu duyên, nếu chuyện ấy
có lợi ích thật sự đối với Chánh Pháp,
đối với chúng sanh, th́ phải làm, chẳng thể
không làm. Nếu không làm, sẽ chẳng có tâm từ bi. Nếu
làm, có chướng ngại chuyện niệm Phật hay
không? Không chướng ngại. Nếu [chuyện ấy] cần
suy nghĩ, hăy buông Phật hiệu xuống. Làm xong việc,
lại đề khởi Phật hiệu trở lại.
Như vậy là đúng, như vậy không tính là “đánh mất” Phật hiệu
(gián đoạn). Sự việc càng ít càng tốt, nhiều
một chuyện không bằng ít một chuyện, ít một
chuyện không bằng chẳng có chuyện ǵ, đừng
kiếm thêm chuyện!
Hiện
nay, chúng tôi cư trú ở Toowoomba. Cái duyên ở Toowooba này
h́nh như đă chín muồi, chỉ cần ra sức thêm một
chút, tất cả sẽ đi vào nề nếp, [cái duyên ấy]
chính là sự đoàn kết tôn giáo. Ư nghĩa đoàn kết
tôn giáo ở chỗ nào? Dùng sức mạnh của giáo dục
tôn giáo để giúp đỡ xă hội hóa giải xung
đột, thúc đẩy an định ḥa b́nh. Chỉ có
xă hội an định ḥa b́nh th́ mới có thể thành tựu
Phật pháp. Khi xă hội động loạn, Phật pháp
không thể vun bồi gốc rễ. Ngày nay, chúng ta chẳng
sánh bằng người xưa, nguyên nhân là ǵ? Nguyên nhân thứ
nhất, vào thời cổ, xă hội an định. Khi xă hội
an định, nhân tâm sẽ an định, thành tựu dễ
dàng. Ngày nay, xă hội bất an, rối loạn, tâm chúng ta
loạn theo, thành tựu rất khó. Cho nên [những ǵ] có thể
giúp cho xă hội an định, hài ḥa, chúng ta phải làm.
Đấy là tự lợi lợi tha, tự lợi là giúp
cho Phật pháp xây dựng, phát triển, lợi tha là hy vọng
đại chúng đều có thể ĺa khổ được
vui, trở về an định, ḥa hài. Phải quư tiếc
duyên phận của chúng ta! Quư vị hăy xem khi chúng ta gặp
tai nạn, gặp nghi hoặc, gặp xung đột, bèn có
người nhắc nhở chúng ta, đấy đều
là Phật lực gia tŕ, Phật Di Đà gia tŕ. Chúng ta
vĩnh viễn phải cảm ơn, cảm ơn đức
Thế Tôn, cảm ơn Di Đà, cảm ơn mười
phương chư Phật, cảm ơn hết thảy
thiện hữu.
Tốt lắm, chúng ta hăy xem bài kế
tiếp.
Trong quá tŕnh chuyển ngữ, chắc chắn không tránh
khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan
hỷ phủ chính cho.
4 tháng 9, 2016